<?xml version="1.0" encoding="UTF-8"?><rss version="2.0"
	xmlns:content="http://purl.org/rss/1.0/modules/content/"
	xmlns:wfw="http://wellformedweb.org/CommentAPI/"
	xmlns:dc="http://purl.org/dc/elements/1.1/"
	xmlns:atom="http://www.w3.org/2005/Atom"
	xmlns:sy="http://purl.org/rss/1.0/modules/syndication/"
	xmlns:slash="http://purl.org/rss/1.0/modules/slash/"
	>

<channel>
	<title>nguyễn xuân hòang &#8211; T.Vấn và Bạn Hữu</title>
	<atom:link href="https://t-van.net/tag/nguyen-xuan-hoang/feed/" rel="self" type="application/rss+xml" />
	<link>https://t-van.net</link>
	<description>Văn Học và Đời Sống</description>
	<lastBuildDate>Thu, 12 May 2022 17:27:48 +0000</lastBuildDate>
	<language>en-US</language>
	<sy:updatePeriod>
	hourly	</sy:updatePeriod>
	<sy:updateFrequency>
	1	</sy:updateFrequency>
	<generator>https://wordpress.org/?v=6.7.7</generator>

<image>
	<url>https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2022/02/t-van-favicon.png?strip=all&#038;resize=32%2C32</url>
	<title>nguyễn xuân hòang &#8211; T.Vấn và Bạn Hữu</title>
	<link>https://t-van.net</link>
	<width>32</width>
	<height>32</height>
</image> 
	<item>
		<title>Nguyễn Xu&#226;n H&#242;ang: Bụi v&#224; R&#225;c</title>
		<link>https://t-van.net/nguyen-xun-hang-bui-v-rc/</link>
					<comments>https://t-van.net/nguyen-xun-hang-bui-v-rc/#respond</comments>
		
		<dc:creator><![CDATA[TV và BH]]></dc:creator>
		<pubDate>Wed, 24 Sep 2014 23:47:28 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[đọc lại Nguyễn Xuân Hòang]]></category>
		<category><![CDATA[nguyễn xuân hòang]]></category>
		<category><![CDATA[đọc lại NXH]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://7076e870b2.nxcli.io/?p=19284</guid>

					<description><![CDATA[Giới Thiệu : Tác phẩm Người Đi Trên Mây của nhà văn Nguyễn Xuân Hòang có lẽ là tác phẩm được nhắc đến nhiều nhất mỗi khi người ta nói hoặc viết về Nguyễn Xuân Hòang. Thậm chí, bản thân nhà văn còn được gọi là “Người đi trên mây&#8221; và có người còn quả [&#8230;]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<p><a href="https://t-van.net/wp-content/uploads/2014/09/clip_image00221.jpg"><img fetchpriority="high" decoding="async" style="background-image: none; float: none; padding-top: 0px; padding-left: 0px; margin-left: auto; display: block; padding-right: 0px; margin-right: auto; border: 0px;" title="clip_image002" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2014/09/clip_image002_thumb14.jpg?strip=all&fit=304%2C469" alt="clip_image002" width="304" height="469" border="0" /></a></p>
<p><strong>Giới Thiệu :</strong> <em>Tác phẩm Người Đi Trên Mây của nhà văn Nguyễn Xuân Hòang có lẽ là tác phẩm được nhắc đến nhiều nhất mỗi khi người ta nói hoặc viết về Nguyễn Xuân Hòang. Thậm chí, bản thân nhà văn còn được gọi là “Người đi trên mây&#8221; và có người còn quả quyết rằng nhân vật chính trong truyện – Trần Lâm Thăng – là bản sao của tác giả. Sau Người Đi Trên Mây (1987), nhà văn Nguyễn Xuân Hòang cho ra đời Bụi Và Rác (1992) còn được gọi là Người Đi Trên Mây 2. Tin đồn rằng nhà văn đã hòan tất xong quyển sách thứ ba, tác phẩm này sẽ cùng với Người Đi Trên Mây, Bụi Và Rác, hợp thành bộ Trilogy để đời của ông, nhưng định mệnh đã xui khiến ông lỡ tay nhấp một cái “nhấp chuột chết người&#8221;(delete) và thế là tác phẩm thứ ba biến vào hư không mà không để lại chút dấu vết nào. Trong một dịp trò chuyện (qua điện thư), tôi có hỏi nhà văn về “tin đồn” này thì không được ông trả lời. Tôi không rõ ông không muốn trả lời câu hỏi hay chỉ đơn giản im lặng để tùy người đời suy đóan. Cho đến hôm nay, sau khi ông nằm xuống được một tuần, người ta có thể chắc chắn một điều là không có tác phẩm thứ ba. Có lẽ rồi đây, khi nỗi buồn vắng ông lắng xuống, thân nhân, thân hữu của nhà văn sẽ giúp chúng ta có câu trả lời chính xác. Còn bây giờ, để tưởng niệm một nhà văn quan trọng của văn học miền Nam (và Việt Nam), cách hay nhất là đọc lại văn Nguyễn Xuân Hòang, nhất là hai tác phẩm Ngừơi Đi Trên Mây và Bụi Và Rác.</em></p>
<p><em>Về ấn bản điện tử của hai tác phẩm này, hiện lưu hành trên mạng tòan cầu chỉ có bản đăng từng kỳ (100 kỳ cho NĐTM và 100 kỳ cho BVR) do Người Việt Online thực hiện, được rải rác đây đó vài trang Web các cựu học sinh của nhà văn đem về nối kết (link) như một cách tưởng nhớ đến người thầy của mình. Trong tinh thần đó, TV&amp;BH xin phép báo Người Việt Online được đăng tải lại tác phẩm NĐTM và BVR, sau khi đã gom những kỳ đăng tải rời rạc thành một bản văn và đối chiếu lại với bản in (giấy) mới nhất của nhà xuất bản Người Việt năm 2014, để gởi đến độc giả Việt Nam – trong và ngòai nước – bản điện tử trang trọng xứng tầm với vị trí của tác giả và  hai tác phẩm tiêu biểu về một giai đọan lịch sử đau thương nhất của đất nước mà không ai trong chúng ta được quyền không biết đến và không ai trong chúng ta được phép quên lãng.</em></p>
<p><em>Kính mong được sự lượng thứ và cho phép của Cô Trương Gia Vy – phu nhân nhà văn NXH- về việc làm này của T.Vấn &amp; Bạn Hữu.</em></p>
<p><strong>Ngày 19 tháng 9 năm 2014</strong></p>
<p><strong>T.Vấn</strong></p>
<p>&nbsp;</p>
<h2><span style="font-weight: bold;">Nguyễn Xuân Hòang</span></h2>
<h2><span style="font-weight: bold;">Bụi và Rác </span></h2>
<p><strong>Chương Một</strong></p>
<p>Những trái pháo đầu tiên từ vùng ven đô nã vào thành phố rơi trúng ngay xóm nhà lá trong khu Mã Lạng nơi tôi và Quỳnh đã dọn về sống chung từ hơn hai năm nay.<br />
Cây kim dạ quang trên chiếc đồng hồ đeo tay của tôi chỉ ba giờ rưỡi sáng. Tôi quơ chân dưới gậm giường tìm đôi dép. Và ngay khi vừa đỡ Quỳnh đứng dậy tôi nghe thấy tiếng chân người chạy rầm rập, tiếng la khóc inh tai, tiếng gọi nhau thất thần ơi ới. Tôi bật công tắc đèn, nhưng điện đã mất. Ði qua phòng khách đến cửa lớn, tôi nhấc cây đà ngang mở ra, hơi nóng thổi ào vào cùng với luồng khói khét mùi cao su thốc tới làm Quỳnh ho sặc sụa. Con ngõ hẹp trước nhà tôi chật ních những người trong xóm tụ tập chỉ trỏ đám khói đang bốc lên trong xóm nhà tôn. Quỳnh ôm cánh tay tôi, nói mệt nhọc:</p>
<p>“Em sợ! Em sợ quá!”</p>
<p>Tôi nắm bàn tay Quỳnh, trấn an:</p>
<p>“Không sao đâu! Không sao đâu!”</p>
<p>Thật ra tôi cũng đang lo sợ. Sợ lắm.</p>
<p>“Pháo trúng nhà Tư Chơi, cậu Thăng ơi!,” chị Sáu trong xóm tay xách nách mang đứng giữa sàn nhà mếu máo tiếp, “Nhà tôi cháy rồi!”</p>
<p>“Tư Chơi có sao không? Nhà chị cháy? Còn anh Sáu đâu? Bọn nhỏ đâu?”</p>
<p>“Trời ơi là trời!.” Chị Sáu khóc to lên.</p>
<p>“Chị Sáu!” Quỳnh nắm tay chị. Tôi giật mình:</p>
<p>“Em ở đây với chị Sáu, anh chạy vô trong xóm nghe.”</p>
<p>Tôi bước ra sàn nước sau nhà xách cái xô nước chạy về phía đám cháy. Bác Tư và bác Tốt chạy theo tôi. Mỗi người xách một xô.</p>
<p>“Có ai bị gì không?”</p>
<p>“Không biết! Không biết ai sống ai chết!”</p>
<p>Cả xóm Mã Lạng bên trong nằm chen với mồ mả. Những mái nhà lợp tôn, vách cũng bằng tôn. Khói bốc ngụt lên, nhưng lửa chưa bén.Tôi nghe tiếng anh Sáu la to:</p>
<p>“Mền đâu? Chiếu đâu? Quần áo đâu?”</p>
<p>“Chi vậy?” Có người hỏi.</p>
<p>“Nước không đủ đâu. Lấy mền chụp lên đi. Quần áo chụp lên đi! Trời ơi! Ðâu rồi? Ðâu hết rồi?”</p>
<p>Tôi đổ xô nước xong chạy ngược lại nhà quơ đại mấy cái mền. Con nhỏ Tám giúp việc chạy theo tôi cầm tấm ra trải giường. May quá, chỉ còn khói bốc lên ở nhà Tư Chơi&#8230; Trái pháo đâm xuống ngôi mả bên hông nhà. Không ai bị gì. Nhưng căn nhà Tư Chơi cũng trống trơn. Tư Chơi đi suốt mấy ngày nay chưa về. Có thể nói xóm Mã Lạng là một trong những xóm nghèo nhất của Sài Gòn. Nghèo đến độ nếu cứ để nó cháy hết đi cũng chẳng sao, vì đâu có tài sản gì mà phải cứu ngoài những tấm tôn, tấm thiếc, đống giẻ rách và nền nhà là đám mồ mả không ai thừa nhận.</p>
<p>Sài Gòn hấp hối. Cả một thành phố hoảng hốt với dòng người ngược xuôi, quần áo xốc xếch, mặt mũi thất thần, di động trên đường phố như những hình nộm.</p>
<p>Ngày hôm qua khi đứng ở đầu hẻm tôi đã thấy những người chạy ngược trên đường Võ Tánh từ rạp chiếu bóng Khải Hoàn về phía rạp cải lương Quốc Thanh đổ xuống Chợ Lớn, những người lính đã cởi áo trận, vất bỏ nón sắt, thân thể bị băng bó vội vàng, người đầy máu và bùn, những đôi mắt không còn sinh khí trên những khuôn mặt hốc hác&#8230; Họ chạy nhưng rõ ràng là không biết mình đang chạy đi đâu, về đâu. Bến Chương Dương, bến Bạch Ðằng, xa cảng Miền Tây, rừng núi, chiến khu mới&#8230;</p>
<p>Người ta chờ đợi “ông tướng hoa lan” Dương Văn Minh lên tình hình sẽ thay đổi hẳn. Bởi vì tin đồn Mặt Trận Giải Phóng chỉ muốn nói chuyện với Minh Cồ. Ngoài Minh ra họ không muốn nói với nhân vật nào khác. Và nếu đúng là Tướng Minh lên thật, có lẽ Sài Gòn sẽ vẫn là Sài Gòn. Trận mưa bom sẽ không dội xuống đầu bốn triệu con người sống trong nỗi kinh hoàng đang bị ám ảnh trước một biển máu. Nhưng tại Dinh Ðộc Lập sau khi run rẩy đọc bài diễn văn bàn giao trách nhiệm cho tướng Dương Văn Minh, ông giáo Hương bước xuống đã vấp chân vào một bậc thềm như một điềm gở. Và sau những câu trong bài diễn văn dũng cảm của tướng Minh “Hỡi người anh em phía bên kia, tôi thành thật muốn hòa giải, và các bạn biết rõ điều ấy&#8230;” là những trái hỏa tiễn của “người anh em phía bên kia” đua nhau rớt xuống Sài Gòn như một câu trả lời. Hà Nội không muốn nói chuyện với bất cứ một người nào, dù nhân vật đó là Minh Cồ.</p>
<p>Quỳnh suốt ngày đi ra đi vào, xem lại đống giấy tờ và hình ảnh của tôi, cái nào nghi ngờ có thể rắc rối là cô đốt bỏ vất hết vào xọt rác. Những tấm ảnh thời học quân sự chín tuần ở Quang Trung, với quần áo treillis, nón sắt, với khẩu M-79, chụp làm cảnh kỷ niệm cũng bị Quỳnh xé nát liệng vào cầu xí.<br />
Tôi chịu không nổi cái cảnh bó gối ngồi trong rọ. Bao nhiêu gia đình đã tìm đường chạy khỏi Sài Gòn và đã chạy được khỏi Việt Nam. Tại sao tôi không làm như họ?<br />
Người đại diện hãng CAL hứa cho Quỳnh hai chỗ trên chuyến bay cuối. Nhưng lời hứa như gió đã bay đi. Tôi chở Quỳnh đến tòa đại sứ Hoa Kỳ, cả một rừng người chen chúc ngoài cổng sắt. Tại bến Bạch Ðằng tôi không thấy chút dấu hiệu nào có chuyến tàu sắp nhổ neo. Quỳnh thì bụng mang dạ chửa, không biết sinh nở nay hay mai. Tôi không thể nào đẩy Quỳnh vào cái dòng người cuồn cuộn chen lấn xô đẩy, giẫm lên nhau để tìm cái sống. Cái cảnh di tản ở miền Trung làm tôi ghê sợ quá. Tôi không muốn mình là nạn nhân của một cuộc vượt thoát lối đó. Tôi tìm những lý lẽ riêng để biện minh cho sự an toàn của bản thân nếu Hà Nội chiếm Sài Gòn.<br />
Tôi không biết mình sẽ làm gì trong những ngày tới. Tôi lo sợ. Rồi lại tự giam mình trong nhà, tự an ủi không nên ra đường vì phải canh cho Quỳnh chờ đưa cô đi nhà Bảo Sanh Từ Dũ. Tôi quanh quẩn ra vào trong căn nhà hẹp. Quỳnh thì lo xa kiểu đàn bà: trữ sữa, gạo, đường, muối mắm cho cái gia đình ba người có thể sống vài tháng nếu chẳng may không còn chợ búa.<br />
Giống như một người tử tội chờ đợi bản án thi hành, tôi lo sợ và hồi hộp. Tôi hình dung ra một tương lai đầy đe dọa và hồi tưởng một quá khứ không có đầu đuôi. Tôi rảnh rang một cách bận rộn. Tôi cố đọc sách để quên nỗi khắc khoải của một thứ thời gian không phải tâm lý mà cũng không phải vật lý, nhưng tôi hoàn toàn thất bại.<br />
Tôi đến ở trong cái khu xóm Mã Lạng nghèo nàn này của Sài Gòn ngay sau khi Quỳnh quyết định hủy bỏ chuyến đi Âu Châu do hãng hàng không CAL đài thọ.<br />
Tôi nhớ lại buổi tối sinh nhật của Uyên ở nhà ông bà Phan. Cái ngả đầu của Quỳnh trên vai tôi ngay giữa đường phố Saigon trong đêm giới nghiêm sau cùng khi chúng tôi vừa bước qua cánh cổng sắt nặng nề của nhà ông Phan như bản hôn thú của tôi và Quỳnh. Ở căn nhà này chừng một tháng sau, tôi và Quỳnh đã có dịp đón bà Phan và Uyên đến thăm chơi, khi cả hai chuẩn bị lên đường đi Mỹ.<br />
“Nhà cửa gì mà như cái lỗ mũi!” Tôi nhớ bà Phan đã kêu lên như vậy. “Tài xế phải đậu xe tuốt ngoài kia.”<br />
Bà Phan và Uyên kêu cũng phải. Họ đến thăm tôi đúng vào hôm con hẻm ngập nước mưa. Ngồi trong chiếc ghế mây ở phòng khách nhìn mực nước đục ngầu ngấp nghé tận thềm cửa, bà Phan và Uyên ngó tôi ngao ngán. Hôm đó bà đã nói với tôi điều gì? Bà tiếc rẻ chuyện tôi từ chối cái học bổng bên Mỹ. Bà cười khi nhìn thấy Quỳnh đứng sau lưng tôi mặc chiếc áo bà ba màu nâu, tóc bím đuôi sam ngắn, có gắn một chiếc hoa tỉ muội màu trắng. Phần Uyên, cô không nói với tôi lấy một lời. Cô đứng bên Quỳnh, cười cười nói nói với Quỳnh như hai người bạn thân lâu năm và xem tôi như thể một người chưa hề quen biết bao giờ. Trước khi ra về bà Phan nói “rất tiếc nếu hôn nhân đối với cậu như một nhà tù thì cậu đang trốn từ nhà tù này tự trói tay chui vào nhà tù khác.”</p>
<p>Bà Phan và Uyên đã đi Mỹ đúng vào sáng Thứ Bảy, Hăm Bảy Tháng Giêng, Bảy Ba. Tôi còn nhớ rõ số ngày tháng này bởi vì Hăm Bảy Tháng Giêng, Bảy Ba là ngày chấm dứt cuộc chiến tranh dài nhất thế kỷ. Chấm dứt trên lý thuyết thì đúng hơn. Bởi vì trong ngày đó &#8211; mà sau này đọc trên tờ Chính Luận tôi mới biết thêm rằng trong khi Tổng Thống Nixon mở đầu bài diễn văn gửi nhân dân Mỹ bằng câu “một kỷ nguyên mới của hòa bình cho nhân loại bắt đầu&#8230;”; khi mà tại căn cứ Tân Sơn Nhất các phi công Mỹ xô nhau tung mũ phi hành lên trời, vỗ vào lưng nhau, chuyền cho nhau chai rượu Cognac để tu và vừa cười vừa la lên: Chiến tranh hết rồi, chúng ta trở về nhà&#8230;; khi mà tại Sài Gòn hàng chục ngàn tín đồ Phật giáo và Thiên Chúa giáo đến chùa chiền và thánh đường cầu nguyện cho hòa bình&#8230; thì con đường quốc lộ từ tỉnh về thủ đô Sài Gòn bị cắt trên ba chục cây số, và cả chục xe vận tải đụng phải mìn,&#8230; tại Tây Ninh cuộc đụng độ kéo dài ba mươi tiếng đồng hồ đã khiến quân Bắc Việt để lại trên chiến trường ba trăm xác chết,&#8230; tại cửa bể Sa Huỳnh, tại vùng đồng bằng gần Ðồng Tháp và rừng U Minh, tại đồn Ban Hét&#8230; nơi nào cũng có chạm súng. Chỉ hai ngày sau cuộc ngưng bắn chính thức được loan báo quân cộng sản đã mở ba trăm ba mươi bốn cuộc tấn công.<br />
Sau ngày bà Phan và Uyên bỏ Việt Nam ra đi hơn hai năm trời nay, tôi chỉ nhận được có hai lá thư viết từ tiểu bang Virginia thuộc thành phố có tên là McLean. Tôi không có dịp trả lời. Và sau đó tôi cũng không có dịp nhận thêm một dòng chữ nào khác.<br />
Buổi sáng đầu tiên của một Sài Gòn vừa chết, cái thói quen mở radio đã làm tôi giật thót. Một âm điệu hoàn toàn khác lạ chói tai buốt óc vang lên. Tôi có cảm tưởng như mình đang nghe một ca khúc Trung Hoa được người Tàu hát bằng tiếng “Việt chệt”. Nó lơ lớ ngọng ngọng. Nó là một bài ca của kẻ chiến thắng đòi người thua phải trả bằng máu, và xương, và thịt.<br />
Tất cả đều đã đổi khác.<br />
Ðường phố đầy người. Tù chính trị cộng sản, thân cộng, thiên cộng đã được thả hết, nhưng cùng lúc tù hình sự cũng tuôn ra theo. Ở nhiều ngả đường những người tù hình sự có thể cúi xuống nhặt một khẩu súng. Và họ tự đeo lên cánh tay một băng vải đỏ, lấy một chiếc xe jeep nào đó nằm ở lề đường, lái nghênh ngang giữa phố bóp còi inh ỏi. Họ tự cho mình là dân quân cách mạng và họ cướp bóc, dọa dẫm người khác.<br />
Thiếu người cảnh sát công lộ, các đường phố trở nên hỗn loạn, mạnh ai nấy đi. Những ngọn đèn lưu thông xanh-vàng-đỏ ở các ngã tư tắt ngúm như một người câm.<br />
Tôi đến trường theo thông cáo trên đài phát thanh. Cửa đóng kín. Nhưng bên trong lúc nhúc những người bộ đội xúng xính trong những bộ quần áo màu xanh, những quần áo quá mới không vừa cỡ, khiến người ta có cảm tưởng như họ được phát chỉ để mặc trong ngày này do sự chuẩn bị đã được tính toán từ trước.<br />
Tôi không đứng một mình. Sau tôi còn một số đồng nghiệp cũng vừa kéo tới. Bác Phẩm, người cai trường, mọi khi vẫn mở cổng cho giáo sư vào, hôm nay đã biến mất. Một người bộ đội trẻ đang mang súng đứng gác. Thấy chúng tôi tập trung trước cổng càng lúc càng đông, anh ta xốc súng đến cổng hỏi giọng trống trơn:<br />
“Muốn gì?”<br />
Anh Lương, giáo sư môn Công Dân, người đồng nghiệp lớn tuổi nhất trường, nói nhỏ nhẹ:<br />
“Chúng tôi là giáo sư nhà trường. Ðài phát thanh thông báo chúng tôi có buổi họp sáng nay.”<br />
“Sao không nói!”<br />
Anh ta xẵng giọng, kéo chốt cửa hông, đứng qua một bên để chúng tôi từng người một xuống dắt xe vào.</p>
<p>Gần như toàn thể thầy giáo của nhà trường tập trung đầy đủ ở phòng giáo sư.<br />
Mọi người lặng lẽ ngồi xuống ghế hình vòng cung quanh bàn. Tôi có cảm tưởng trong cách ăn mặc của mọi người có một điều gì như khác trước đây. Không khí trầm lắng, thiếu tiếng cười và những câu pha trò buổi sáng mà tôi vẫn thường nghe quanh ấm trà.</p>
<p>Giải phóng rồi<br />
Cách mạng thành công rồi<br />
Hòa bình rồi<br />
Từ nay đất nước đã sạch bóng quân thù<br />
Mỹ đã cút, ngụy đã nhào.<br />
&#8230;</p>
<p>Một ông to béo nói giọng Nam tự giới thiệu là đại diện Sở Giáo Dục của cách mạng đến nói với chúng tôi bằng những từ ngữ kiểu loại đó.<br />
Giữa những người gọi là “cách mạng” gầy yếu mỏng và nhẹ tênh, ông đại diện này có phần nặng ký. Mới đi Tiệp về, chuyên ngành giáo dục. Và cũng trong phần nói chuyện đó, ông cán bộ béo mập trân trọng giới thiệu Lê Hiên, tân hiệu trưởng nhà trường cách mạng và Trần Nguyên, giáo sư phụ trách môn Vạn Vật của nhà trường từ nhiều năm nay, sẽ là người phụ tá cho Lê Hiên.<br />
Lê Hiên trước kia là thầy giáo dạy môn Pháp Văn, nhưng do hoạt động cộng sản nên bị bắt và đưa đi Côn Ðảo. Tôi không quen Hiên, anh ta bị bắt trước khi tôi được bổ nhiệm về trường này. Lê Hiên là người vừa về từ Côn Ðảo. Còn nhân vật Trần Nguyên vốn là người ít nói, ít cười, tính tình hiền lành, nghiêm nghị. Tuy vậy anh ta có dáng đi tất bật vất vả. Người anh gầy và mỏng như Lê Hiên. Và cũng giống như Lê Hiên, một con người nói năng từ tốn, chậm rãi, khoan thai, Nguyên không có cái vẻ của một tên xu thời hùa theo tình thế để hù dọa anh em. Lê Hiên nói đã chậm, nhưng có lẽ anh ta suy nghĩ còn chậm hơn.<br />
Nghe và nhìn Lê Hiên nói người ta có cảm tưởng như anh đo lường cân nhắc từng chữ, từng lời, từng động tác. Có những câu bị cắt nửa chừng vì chưa tìm ra được chữ thích hợp, tôi thấy Lê Hiên loay hoay với điếu thuốc: vấn, châm lửa, hít, thở khói&#8230; tìm ra chữ rồi mới nói tiếp.<br />
“Ở Ðông Ðức khi cách mạng thành công,” Lê Hiên nói, “người ta không cần thầy giáo giỏi. Người ta cần một người trung kiên có lý tưởng cách mạng hơn là người có chuyên môn. Tôi lấy thí dụ thế này cho dễ hiểu. Nếu chẳng may người giáo viên có viết chữ Bát Hồ “T” chớ không phải Bác Hồ “C” thì cũng chẳng sao. T hay C để tính sau, trung thành với cách mạng trước đã.”<br />
“Hôm nay các anh chị có thể ra về, nhưng kể từ ngày mai nhà trường sẽ vẫn mở cửa như thường lệ. Cách mạng muốn thông báo cho các anh chị em biết để yên tâm. Cách mạng sẽ xét từng trường hợp và lưu dung các anh chị. Các anh chị nhớ cho, lưu dung chớ không phải lưu dụng đâu. Cách mạng dung tha các anh chị về tội đào tạo một thế hệ phản động duy tâm, duy linh. Cách mạng thừa người, không bắt buộc phải dụng các anh chị đâu.”<br />
Rời phòng họp, không về nhà ngay, tôi đi dọc hành lang vắng nhìn sân trường không một bóng học sinh, tôi thấy mình bơ vơ. Những người bộ đội ngồi tựa lưng vào tường dãy phòng hành chánh bên phải, quân trang quân dụng đặt dưới chân. Cuối hành lang trái, tôi dừng lại. Cánh cửa lớp hé mở. Như bị một sức hút. Tôi đẩy nhẹ cửa bước vào. Trên tấm bảng màu xanh tôi thấy tên một tác phẩm của một nhà triết học Tây phương viết bằng phấn trắng. Chính là nét chữ của tôi. Tôi nhớ ra rồi. Bài giảng cuối cùng của một môn học trong những nhà trường xứ sở tự do.<br />
“Thưa thầy!&#8230;”<br />
Bất ngờ tôi nghe một giọng nói từ dãy bàn cuối lớp. Tôi giật mình quay lại. Những dãy bàn trống, ánh nắng chiếu qua cửa sổ lá sách không sáng lắm nhưng tôi có thể nhận ra ngay, một học sinh đang ngồi ở đầu bàn chót. Ðứng bên cửa sổ, tiện tay tôi vặn chốt mở tung cửa. Ánh sáng tràn vào trên một khuôn mặt trẻ trung ràn rụa nước mắt.<br />
“Kiệt!”</p>
<p>Tôi kêu lên, nhận ra ngay người học sinh xuất sắc nhất của lớp học. Tôi đi giữa hai dãy bàn ghế. Kiệt chậm rãi đứng dậy.</p>
<p>“Thầy Thăng, thầy nghĩ sao?”</p>
<p>“Ngồi xuống đi, Kiệt.” Tôi ấn vai người học sinh và ngồi xuống bên anh.</p>
<p>“Nghĩ sao là sao? Mà tại sao em khóc?”</p>
<p>“Ba em chết rồi!”</p>
<p>Kiệt chùi nước mắt, hàm răng cậu bé nghiến lại, giọng nói lạnh tanh.</p>
<p>“Ba em tự tử hồi tối hôm qua.”</p>
<p>“Sao? Ba em tự tử?”</p>
<p>“Thưa thầy, phải. Ba em là một sĩ quan Dù, ông bất chấp lệnh ngừng bắn của ông Minh, nhất định chiến đấu tới cùng. Và bắn đến viên đạn cuối cùng ba em tự sát&#8230;”</p>
<p>Tôi lặng người ngồi im nghe Kiệt kể. Cái lớp học này, nơi gần như ngày nào tôi cũng có mặt, từ niên học này đến niên học khác. Cái ngôi trường này, nơi tôi đã từng mặc áo trắng quần xanh ôm sách đến bao nhiêu năm thời tuổi nhỏ. Nó là nhà của tôi, gia đình của tôi. Bây giờ tôi mới biết không phải vậy.</p>
<p>“Thầy Thăng, em phải làm sao bây giờ?”</p>
<p>Tôi biết phải làm sao bây giờ. Chính tôi, tôi cũng không biết mình phải làm sao khi nghe tin Tướng Minh bị bộ đội đẩy lên xe jeep lái tới đài phát thanh bắt đọc lời kêu gọi quân đội ngưng bắn, bởi vì giao tranh vẫn còn tiếp tục ở khắp nơi quanh Bộ Tư Lệnh Cảnh Sát, gần Tân Cảng, trước trung tâm truyền thông Phú Lâm, trong Chợ Lớn và ở các vùng ven đô. Tôi choàng tay qua vai Kiệt. Tôi biết bất cứ lời nói nào của tôi trong lúc này cũng là thừa, huống chi là tôi không có lời nào để nói. Tôi nghe miệng mình đắng chát. Tôi ứa nước mắt. Kiệt gục đầu xuống vòng tay khoanh trên mặt bàn. Tôi thấy hai vai cậu bé rung lên bần bật. Không lâu, tôi nghe có tiếng người gọi tên tôi. Tiếng kêu vang dọc dài theo hành lang.</p>
<p>“Thôi Kiệt về đi, chiều tôi sẽ ghé qua nhà.” Tôi vỗ về Kiệt.</p>
<p>Tôi biết những cánh cửa vất vả và khổ nhục đang mở ra trước mặt chúng tôi. Nhưng vất vả khổ nhục như thế nào thì tôi không rõ. Phải đợi đến nửa tháng sau tôi mới biết viên thuốc độc đầu tiên họ cho và bắt chúng tôi uống là lòng hoài nghi. Nó là một thứ “sinh tử phù.” Nó mở đầu cho một mùa nghi hoặc. Và nạn nhân đầu tiên chính là tôi.</p>
<p><strong>Chương Hai</strong></p>
<p>Người ta gọi các giáo sư có họp sáng nay ra sân sau phòng giám thị phân chia nhu yếu phẩm, gồm gạo nước mắm, đường và thịt. Những miếng ăn đầu tiên tưởng thưởng cho những kẻ ngoan ngoãn. Tôi nhìn thấy các nữ đồng nghiệp xinh đẹp của chúng tôi đang xăn tay áo cắt và chia ra từng phần. Và chúng tôi, những người đàn ông không đến nỗi bệnh tật, đang mở to mắt nhìn vào những thứ mà mới hôm nào chúng tôi không hề xem nó là hàng đầu của đời sống, những thứ đó đang bắt chúng tôi nghĩ rằng nó đang là hàng đầu của nỗi khổ nhục. Túm tất cả những thứ nhu yếu phẩm kia để dưới chân xe, tôi bần thần trở về nhà. Nhưng cái hình ảnh người học sinh ngồi cô đơn trong lớp học nói về cái chết của người cha là một chiến sĩ, nó càng làm cho những thứ nước mắm, đường, tiêu, cá, thịt dưới chân tôi thổi ngược lại trong thân thể và trí óc tôi sự hèn mọn. Hèn mọn? Chữ đó có đủ nghĩa chưa? Ti tiện, nhỏ nhoi, thấp kém, tầm thường, bạc nhược, khiếp nhục&#8230; có lẽ gần gũi hơn với thịt cá muối dưới chân tôi&#8230;</p>
<p>Cái chết của người sĩ quan dù, ba của Kiệt, câu chuyện bốn người lính dù trang bị đại liên và bazooka đã bắn đến viên đạn cuối cùng trước khi lập thành vòng tròn tự sát bằng lựu đạn ở ngã tư Hồng Thập Tự-Lê Văn Duyệt&#8230; Những hình ảnh đẹp đẽ và hào hùng ấy tôi rất ngưỡng mộ. Nhưng tôi đã không biết cách lựa chọn. Tại sao? Tại sao? Tại sao?</p>
<p>Căn nhà “nhỏ như cái lỗ mũi” của tôi sau cùng không phải chỉ chứa có hai người là Quỳnh và tôi, mà còn thêm một cháu bé mới chào đời cùng với mười người nữa. Một đứa cháu trai tên Dũng là đại úy cảnh sát chưa lập gia đình; thằng Hùng, em của Dũng, là trung úy Quân Tiếp Vụ; Khiết, em rể, trung sĩ an ninh quân đội chạy từ Phan Thiết vô dẫn theo vợ và hai con; sau cùng là ông anh cả tôi, trung tá Biệt Ðộng Quân bị thương trong một trận đánh, bán thân bất toại phải ngồi xe lăn, cùng bà chị dâu và hai cháu gái!</p>
<p>Chừng ấy con người chia nhau một căn phòng mười sáu thước vuông, nghẹt thở vì thiếu không khí giữa một thành phố cũng chẳng còn không khí đâu để thở nữa.</p>
<p>Một buổi sáng Chủ Nhật, Tuấn &#8211; luật sư &#8211; đến thăm Quỳnh. Hắn bỏ áo sơ mi ngoài quần, chân đi dép râu, tay xách túi vải kaki. Chỉ có chiếc kính cận tròn nhỏ kiểu John Lennon là còn nguyên màu sắc Saigon trên mặt hắn, phần còn lại cho tôi thấy một Tuấn khác, rất khác với cái vẻ diêm dúa của hắn trước đây.</p>
<p>“Cháu tao đâu?” Hắn hỏi tôi khi mới vừa đặt chân lên thềm cửa. Và không đợi tôi trả lời, Tuấn đi thẳng vào buồng trong. Cả nhà nằm la liệt dưới đất. Lúc đó Quỳnh đang bế con ngồi trên chiếc giường độc nhất trong phòng.</p>
<p>“Trời đất! Nhà gì mà đông dữ vậy? Quỳnh, em có khỏe không?” Hắn hãi hùng ra mặt trước cảnh tượng nhà tôi.</p>
<p>“Cám ơn anh, em khỏe!” Quỳnh trả lời chậm rãi. Nhưng tôi thấy mắt cô ngó chăm vào quần áo và dép râu của Tuấn như nhìn một người từ hành tinh khác xuống.</p>
<p>“Anh làm cái gì vậy?” Quỳnh hỏi không kềm được ý nghĩ trong đầu.</p>
<p>“Tao làm cách mạng!” Hắn trả lời nhanh, gọn, tỉnh bơ như không.</p>
<p>“Hồi nào vậy?” Quỳnh hỏi tiếp. Tôi thấy cô cười nửa miệng.</p>
<p>Tuấn không trả lời. Hắn quay sang tôi:</p>
<p>“Thăng, mày có nghe tên ông Mười Tân không?”</p>
<p>“Không. Mà chi vậy?”</p>
<p>“Mười Tân là con ông bác tao. Ảnh làm lớn lắm. Tao làm việc cho ảnh từ hồi Hòa đàm Paris tới giờ. Sao? Mày thấy tao có giống cán bộ không?”</p>
<p>“Giống, giống lắm!” Tôi nói cho qua chuyện.</p>
<p>Tuấn bỗng đập mạnh lên vai tôi, liếc mắt nhìn ông anh và bà chị và đám cháu tôi ra dấu hỏi.</p>
<p>“Ông anh tôi và gia đình từ miền Trung mới chạy vào. Còn hai đứa cháu tôi là sĩ quan vừa mới rã ngũ.” Tôi giới thiệu.</p>
<p>Tuấn gật gù, nói giọng lên lớp.</p>
<p>“Tôi khuyên các anh nên đi trình diện ngay. Cách mạng vừa ban hành chính sách khoan hồng cho ngụy quân, ngụy quyền. Trình diện sớm, an tâm sớm. Rồi còn về nhà mà làm ăn sinh sống chớ!”</p>
<p>Cả nhà không ai nói tiếng nào. Mấy đứa cháu tôi nghiêm mặt lại. Ông anh tôi trở mình, đổi thế ngồi. Tuấn thở dài.</p>
<p>Tuấn thở dài. Cả một nhà ngụy rặt thế này thì làm sao&#8230;”</p>
<p>“Ông là loại người gì vậy?” Ðột nhiên thằng cháu tôi đứng bùng dậy bước thẳng tới trước mặt Tuấn hỏi.</p>
<p>“Ðừng Dũng!” Tôi ngăn. Nhưng Dũng đã nắm cổ áo Tuấn.</p>
<p>“Dép râu hả? Nói thêm một tiếng nữa, tôi không tha đâu.”</p>
<p>“Ðừng Dũng!” Tôi lập lại.</p>
<p>Dũng thả cổ áo của Tuấn ra, phủi hai tay vào nhau, trở lại chỗ ngồi. Quỳnh vẫn bế con ngồi trên giường, mắt mở lớn nhìn cảnh tượng bất ngờ. Tuấn vuốt lại cổ áo, sửa gọng kính trên mũi, mặt tái xanh.</p>
<p>“Anh về nghe Quỳnh.” Hắn từ giã cô em gái giọng ngọt ngào. Và trước khi bước ra khỏi phòng, hắn nói trống trơn.</p>
<p>“Xin chào!</p>
<p>Tôi kéo chốt cổng nhường lối đi cho Tuấn, nhưng hắn không bước ra ngay.</p>
<p>“Mày cấp bậc gì trong quân đội?” Tuấn bất ngờ hỏi tôi.</p>
<p>“Chi vậy?”</p>
<p>“Hỏi cho biết vậy thôi!”</p>
<p>“Tôi chỉ là khóa sinh dự bị sĩ quan học chín tuần ở Quang Trung, rồi được biệt phái về bộ!”</p>
<p>“Biệt phái?” Hắn chặc lưỡi. “Khó dữ. Sĩ quan tác chiến thì còn đỡ, chớ mà biệt phái thì gay lắm&#8230;”</p>
<p>“Tại sao?” Tôi hỏi.</p>
<p>“Sĩ quan thì chỉ biết đánh nhau thôi. Chớ còn biệt phái là dòm ngó người ta, là tình báo, là CIA&#8230; Tao sợ mày bị qui vào thành phần có nợ máu nhân dân&#8230;”</p>
<p>Tôi đứng cứng người. Gần nửa tháng nay, kể từ ngày Saigon đổi chủ, tôi có nghe người này người nọ nói điều này điều kia, phần lớn là suy giải chớ không có cái lối chĩa vào mặt như thế.</p>
<p>“Ðừng lo, tao biết. Thứ người đi trên mây như mày thì CIA cái chó gì. CIA thứ thiệt cũng chẳng ngu gì xài mày. Thôi tao về. Bữa nào tao đưa đồng chí Mười Tân tới thăm Quỳnh.”</p>
<p>Trời ơi đồng chí hắn làm tôi ngộp thở.</p>
<p>Bước xuống hẻm, hắn cúi đầu mở khóa xe đạp rồi leo lên yên nhún nhún.</p>
<p>Hắn làm tôi ngạc nhiên thêm một lần nữa. Chiếc xe Volswagen đời 75 của hắn đã giấu biến chỗ nào. Hắn làm tôi nhớ một truyện ngắn của nhà văn Tchekov có tựa đề là Con Kỳ Nhông, con vật có khả năng đổi màu da tùy thuộc vào nơi nó ẩn nấp. Tuấn giống con kỳ nhông cách gì.</p>
<p><strong>Chương Ba</strong></p>
<p>Nhà trường mới không biết phải cho các giáo sư Triết dạy môn gì. Sau cùng người ta họp bàn có thể cho chuyển sang dạy Sinh ngữ hoặc Việt văn. Nhưng giáo sư Sinh ngữ quá thừa, người ta cho tôi phụ trách môn Việt văn.<br />
Chúng tôi chia tổ ra họp nhau làm giáo án trước giờ đứng lớp. Bài giảng phải có “mấy bước,” bước đầu nói gì, làm gì, “bước kế” hỏi gì, giảng gì&#8230; Nói chung là phải chuẩn bị bài giảng như một sinh viên Sư Phạm mới ra trường lần đầu tiên đứng trên bục gỗ, run rẩy không biết mình phải nói gì, nên phải có dàn bài cho yên tâm. Trong cuộc đời đi học chúng tôi chưa bao giờ tốn nhiều giấy và mực như thế! Giáo án, đó là giấc mộng hài hước của người dạy học sau “cách mạng.”</p>
<p>Chưa đầy một tháng sau, trường bắt đầu nhận “học sinh gái” và nhận thêm một số thầy cô giáo từ Bắc gởi vào tăng viện. Giữa giờ đổi lớp sáng Thứ Bảy, Lê Hiên gọi tôi lên văn phòng nhận thư. Tôi không hiểu tại sao việc nhận thư phải do ông hiệu trưởng cho người gọi. Trước kia thư từ của giáo sư nhà trường để trong một hộp giấy đặt ở phòng thư ký, và mỗi buổi sáng ai đi ngang qua đấy tạt vào xem có thư mình thì nhận. Hiệu trưởng không phụ trách chuyện lặt vặt này. Dù sao tôi đã lên văn phòng. Người thư ký “cũ” chỉ tôi vào phòng hiệu trưởng. Tôi gõ cửa.</p>
<p>Lê Hiên ngồi ở bàn làm việc. Y trầm lặng, chững chạc, từ tốn. Tôi ngồi xuống nhưng chẳng hiểu gì hết.</p>
<p>“Tôi có chuyện muốn nói với anh. Một là anh có cái thư riêng. Ðây, anh cầm lấy.” Y đưa thư cho tôi. “Hai là trong việc khai báo lý lịch để lập hồ sơ lưu dung những giáo sư của Saigon cũ anh khai thiếu và thừa&#8230;”</p>
<p>Tôi cầm lá thư trên tay, chữ đề ngoài phong bì rõ nét, trau chuốt&#8230; Tôi lật sau lưng bì thư và nhìn kỹ phần trước thư không để tên người gửi. Tôi không mở thư vội. Tôi xếp đôi bỏ vào túi áo.</p>
<p>“Xin lỗi, anh có thể cho tôi biết khai thiếu và thừa chỗ nào?”</p>
<p>“Thừa là vì anh không cần phải khai cha anh đi lính Pháp, vì không cần phải khai có cha nuôi là lính Lê Dương chết ở Ðiện Biên Phủ, cũng không cần phải khai cha vợ trước của anh làm tổng giám đốc ngân hàng. Mấy thứ này chúng tôi biết hết&#8230; Còn thiếu là vì anh không khai anh có cô em gái là trung úy cảnh sát đã di tản đúng một tuần lễ trước ngày Saigon được giải phóng&#8230;” Ngừng một lát, Hiên tiếp, “Vả lại tôi được biết anh có liên hệ khá nhiều với tên Phan một tay đại ngụy hiện ở Mỹ mà không thấy anh ghi trong lý lịch&#8230;<br />
Ðây, anh cầm lấy xấp giấy này về khai lại.”</p>
<p>Hiên đẩy mấy tờ giấy về phía tôi, nhưng đột nhiên y kéo lại.</p>
<p>“Có chỗ yêu cầu này xin anh lưu ý: anh nên ghi rõ là lưu dung chớ không phải lưu dụng, không có dấu nặng. Cách mạng khoan hồng người của chế độ cũ lưu lại và dung tha họ, chớ không phải lưu lại và dụng họ vì tài năng gì đâu. Cám ơn anh!”</p>
<p>Ra khỏi phòng Lê Hiên, tôi đi như một người vừa bị ai cầm dao khoét sâu vào một vết thương đang mưng mủ.</p>
<p>Ngồi một mình trong phòng giáo sư tôi bóc thư ra đọc. Thư ngắn, chữ viết nắn nót. Ðại khái nói không lâu đâu chế độ Cộng sản chắc chắn sẽ sụp đổ, cần nhất là mọi người &#8211; cụ thể là tôi &#8211; phải quyết tâm không hợp tác với chế độ mới. Người nhận thư cũng nên nói với các đồng nghiệp cũ lời nhắn nhủ này. Thư không ký tên. Tôi đọc đi đọc lại lá thư. Tôi cất vào túi áo. Rồi tôi lại lấy ra đọc. Tôi cầm trên tay, rồi nhét vào cặp. Tôi đi vào phòng vệ sinh xem lại một lần nữa. Tôi ra phòng giáo sư đúng vào lúc chuông reo đổi giờ. Tôi bỏ lá thư vào túi. Tôi có giờ.</p>
<p>Tôi bước vào lớp. Lớp vẫn là lớp cũ, nhưng không khí hôm nay khác lạ như thể lần đầu tiên tôi đặt chân lên bục gỗ. Tôi nhìn quanh. Kiệt vắng. Một số học sinh cũ không có mặt. Một vài cậu từ trường khác chuyển đến dồn hết lên mấy bàn đầu.</p>
<p>Ngồi riêng một mình ở bàn thứ nhất là một học sinh gái. Cô bé ăn mặc không phải kiểu các nữ sinh Saigon. Chiếc áo ngắn may theo kiểu nửa sơ mi nửa bà ba làm cô khác hẳn. Cô có đôi mắt sắc sảo và một giọng nói rất đặc biệt, khác với giọng nói của những người miền Bắc di cư năm 54. Cô tên Nhị Hà. Tôi ngồi xuống ghế, mở rộng những trang giáo án đã được soạn sẵn. Tôi không quên đặt bên cạnh cuốn sách giáo khoa Việt Văn do nhà xuất bản Giáo Dục ấn hành ở Hà Nội. Cuốn sách này tôi đã phải cậy cục mãi mới mượn được của một chị giáo viên cấp ba miền Bắc mới chuyển vào, từ nay không được gọi là giáo sư trung học như ta vẫn gọi trước 75 mà phải gọi là giáo viên thôi.</p>
<p>Tôi xem cuốn sách đang có như một thứ cẩm nang. Bởi vì tôi vốn mù tịt về môn Việt Văn &#8211; mặc dù trong tủ sách tôi gần như không thiếu tác phẩm nào của các nhà văn tiền chiến và hiện đại &#8211; tôi đâu phải là người được nhà trường đào tạo để phụ trách môn này. Vả lại, người giảng dạy môn Việt Văn của nhà trường ngoài Bắc tôi được biết trước hết phải là người có nắm trong tay một số nguyên lý căn bản về nền văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa. Tôi làm gì có được thứ ấy. Tôi chưa được đọc một cuốn truyện nào của một tác giả nào “ngoài đó.” Những nhà văn, nhà thơ thời kháng chiến chống Pháp mà tác phẩm của họ tôi có từng nghe qua như Màu Tím Hoa Sim của Hữu Loan, Tây Tiến của Quang Dũng, Nhà Tôi của Yên Thao&#8230; thì nay không thấy trong chương trình. Còn những tác giả khác cũng ở “ngoài đó,” mà sau này tôi được biết qua vụ Nhân Văn Giai Phẩm như Phan Khôi, Trần Dần, Phùng Quán, Lê Ðạt&#8230; thì đương nhiên lại càng không thể có trong chương trình.</p>
<p>Tôi lo sợ cũng là phải thôi.</p>
<p>Bài giảng hôm nay là một đoạn trích trong tiểu thuyết Cái Sân Gạch của người viết ký tên là Ðào Vũ. Cả tên tác phẩm lẫn tên tác giả đều hoàn toàn xa lạ với tôi. Tôi đã đọc trước phần tóm lược lẫn phần giải thích ở nhà, nhưng không sao chia sẻ được những suy nghĩ của tác giả. Ðây là một vấn đề thuộc nông thôn miền Bắc sau Hiệp định Genève. Nó không phải là vấn đề mà Bùi Hiển đưa ra trong Nằm Vạ, hoặc Nam Cao trong Chí Phèo hoặc Ngô Tất Tố trong Tắt Ðèn. Tài liệu cho biết Lão Am, nhân vật chính trong Cái Sân Gạch có những nét điển hình của tầng lớp trung nông trên cánh đồng miền Bắc.</p>
<p>Tôi nói như đọc, mắt vừa nhìn vào giáo án vừa ngó xuống những con mắt phía dưới. Tôi dừng khá lâu trên mắt Nhị Hà muốn biết phản ứng của cô bé về những gì tôi đang nói đang đọc.</p>
<p>“Ðây là một nhân vật có nội tâm phong phú,” tôi đọc, “phức tạp và có cá tính khá độc đáo. Trong vấn đề vào hợp tác xã của Lão Am, Ðào Vũ không chỉ phân tích mặt quyền lợi vật chất mà còn đề cập đến vấn đề tình cảm, thói quen và nhiều ràng buộc linh tinh khác trong đời sống của người nông dân. Lão Am đã có những suy nghĩ riêng khi phải vào hợp tác xã: Lão vào nhưng trong tâm hồn vẫn còn cái gì u uất chưa nguôi. Xuất thân là một cố nông làm thuê, Lão Am đã từng bỏ làng ra mỏ Ðông Triều bảy năm, sau đó trở về lại với cái túi rỗng và hai lỗ mũi đầy những bụi than. Lão từng làm phó lý, tậu được một ít ruộng vườn và trong đợt cải cách ruộng đất, lão bị qui là phú nông cường hào. Lão là người trọng nho học và những lời dạy của thánh hiền&#8230;”</p>
<p>“Ai có ý kiến?” Tôi hỏi ngay khi vừa chấm dứt phần sơ lược. Cả lớp im lặng. Mấy cậu học trò cũ ngồi ở bàn chợt nhìn tôi bằng những đôi mắt thương cảm. Từ Socrates, Platon, Aristote&#8230; tôi không nhảy tới Heidegger, Sartre mà nhảy qua Marx, Engels một cách khó hiểu. Rõ ràng là tôi nói không suông sẻ lắm. Có lẽ tôi giống như một người đọc diễn văn do một người khác viết. Tôi là cây kim đồng hồ quay một góc một trăm tám mươi độ chăng? Tôi nhìn Nhị Hà. Mắt cô ngó thẳng vào mắt tôi. Tôi thấy cánh tay cô nhúc nhích. Rất chậm rãi, cô từ từ đưa tay lên.<br />
Cô không đưa một ngón tay kiểu Sài Gòn. Cô đưa cao nguyên cả bàn tay.<br />
“Thưa thầy, em có ý kiến!”<br />
Tôi gật đầu.<br />
“Thưa thầy, em nghĩ rằng nhân vật trong Cái Sân Gạch là một nhân vật lạc hậu&#8230;”<br />
Tôi cúi xuống nhìn lại trang giáo án. Ðúng, tôi quên nói cái chính trong bài giảng là phải nhìn cho ra tính cách lạc hậu trong nhân vật lão Am.<br />
“Phải. Cám ơn Nhị Hà.” Tôi liếc qua trang sách giáo khoa tiếp tục nói như đọc “Cái ưu điểm của Ðào Vũ là đưa ra được một nhân vật có nội tâm phong phú, có cá tính &#8211; tôi biết mình lặp lại điều đã nói &#8211; nhưng viết về phong trào hợp tác hóa nông nghiệp mà lại chọn một trung nông sống bằng nghề thủ công làm nhân vật trung tâm thì không thuận lợi cho việc thể hiện tư tưởng chủ đề của tác phẩm&#8230;”<br />
Cả lớp im lặng, lạnh lẽo. Mấy học sinh cũ lắc đầu. Các học sinh mới cũng không khá hơn. Nhị Hà cúi xuống cuốn tập đã xếp.<br />
“Thưa thầy!”<br />
Có tiếng nói từ cuối phòng. Người đưa tay lên, chỉ một ngón thôi, là Hiệp, bạn của Kiệt, một trong những học sinh giỏi của tôi.<br />
“Em không hiểu gì hết! Ông nhà văn này viết những điều chẳng ăn nhập gì đến đời sống của chúng ta hết. Hợp tác hóa là gì? Tại sao lại phải vào hợp tác xã?”<br />
“Em có ý kiến!” Nhị Hà lại giơ nguyên cả bàn tay lên. “Em không đồng ý với phát biểu của anh gì gì đó”, cô quay đầu lại nhìn về phía Hiệp. “Nhà văn Ðào Vũ viết những điều rất liên hệ đến nông thôn miền Bắc. Có thể nông thôn miền Nam chưa có cảnh này, nhưng nông thôn miền Bắc vào những năm sáu mươi nó là như thế.”<br />
“Em xin có ý kiến.” Hiệp đưa tay lên.<br />
Tôi đưa mắt ra dấu cho Hiệp cứ nói.<br />
“Tôi muốn hỏi chị vậy chớ bây giờ ngoài Bắc vấn đề ấy ở nông thôn còn không?”<br />
Nhị Hà không trả lời ngay. Một lúc, chị đưa cả bàn tay lên, nhìn tôi xin nói. Tôi gật đầu.<br />
“Tôi nghĩ là vấn đề đó vẫn còn.”<br />
Tôi nhìn đồng hồ. Còn mười phút nữa đến giờ đổi lớp. Tôi ra dấu cho cả lớp ghi chú những điều cần làm ở nhà cho kỳ tới. Tôi cố ý không giải quyết vấn đề. Tôi xếp mấy trang giáo án và cuốn sách giáo khoa lại, buồn bã ngó xuống lớp học. Tôi chờ tiếng chuông đổi lớp, nhưng thời gian hình như đã ngừng lại ngay khi tôi không còn chút chữ nghĩa nào trong đầu để nói thêm về bài học trên. Tôi lẩn thẩn tự hỏi không biết mình sẽ làm gì trong những ngày sắp tới, nhưng tôi biết chắc chắn công việc đứng trên bục gỗ này không còn thuộc về tôi nữa. Bao lâu tôi còn đứng ở chỗ này, tôi sẽ còn tiếp tục nói dối. Nói dối đã là điều đáng khinh, nếu tất cả những điều dối trá ấy lại được thốt ra trong sự thành thật của tôi thì sự khinh bỉ ấy không biết cách nào đo lường được. Tôi đi tới dãy bàn cuối phòng, ngồi xuống chỗ ghế trống của Kiệt.<br />
Tôi hỏi Hiệp:<br />
“Em có gặp Kiệt không?”<br />
“Thưa thầy có!”<br />
“Sao Kiệt không đi học?”<br />
“Kiệt nói với em sẽ theo má về dưới quê.” Hiệp ngập ngừng tiếp. “Mà thầy có biết là cha của Kiệt đã tự tử không?”<br />
“Có, có!” Tôi nói.<br />
&#8220;“Thầy thấy ba của Kiệt đúng hay sai?”</p>
<p>Tôi nhìn thẳng vào mắt Hiệp. Ba của Hiệp là sĩ quan Biệt Ðộng Quân, bạn của ông anh tôi. Thời đảo chính Ngô Ðình Diệm ông là một trong những sĩ quan có công lớn. Cũng như Kiệt, Hiệp là người ít nói và là học sinh xuất sắc.<br />
“Theo em thì sao? Ba Kiệt chọn cái chết là đúng hay sai?” Tôi hỏi ngược.<br />
“Em không biết. Em muốn nghe thầy nói.”<br />
“Tôi cũng không biết. Có nhiều điều mới xảy ra đây, tôi không biết gì hết.”<br />
“Tại sao thầy không đi?” Ðột nhiên Hiệp hỏi tôi.<br />
“Tại sao mình không đi?” Câu hỏi ấy đâu phải đặt ra cho một mình tôi. Câu hỏi ấy đặt ra cho hằng triệu con người&#8230; ở Sài Gòn và cả miền Nam. Những người của tháng Tư, Quỳnh chuẩn bị sinh con đầu lòng.<br />
Một tuần lễ trước ngày Sài Gòn thất thủ, một người bạn ở tòa đại sứ Úc hứa cho hai vé và cho điểm hẹn. Tôi chở Quỳnh đến nơi đúng giờ, nhưng điểm hẹn không một bóng người. Quanh tôi người ta bắt đầu hôi của. Bàn ghế, rượu, xe, đàn dương cầm, gạo&#8230; ở mấy căn nhà bị kéo ra sân. Người ta ngang nhiên chở đồ đạc nhà người khác đi như một kiểu dọn nhà công khai. Quỳnh ôm bụng ngồi yên sau chiếc Lambretta. Ðôi mắt Quỳnh thất thần, sợ hãi. Suốt buổi chiều chờ đợi không thấy bóng dáng tăm hơi, tôi đành chở Quỳnh trở về. Người ta bảo xuống bến Bạch Ðằng. Tôi chở Quỳnh đi qua đường Tự Do. Cả dãy phố đóng cửa. Bến tàu đầy người chen chúc nhau. Quỳnh hỏi tôi có nhớ vụ di tản miền Trung không. “Chắc em chết. Chắc hai mẹ con em chết.” Tôi hiểu nỗi lo sợ của Quỳnh. Tôi buồn bã quay xe trở về. Quỳnh đóng cửa, mở cuốn album của tôi ra và xé đốt tất cả những ảnh tôi chụp hồi ở quân trường Quang Trung.<br />
“Còn gia đình em? Ba má em có tính gì không?”<br />
Tôi không muốn trả lời trực tiếp câu hỏi của Hiệp. Trước Ba Mươi Tháng Tư nhiều lần trong lúc giảng bài, tôi hay đưa ra thái độ vô chính trị của mình. Ðối với tôi chế độ nào mở được nhiều nhà trẻ, nhà thương, nhà trường, dẹp bỏ được nhà tù, nâng cao được mức sống văn hóa và vật chất người dân, chế độ ấy là tốt. Trong khi giảng bài, có lần tôi nhắc đến Niccolo Machiavelli qua cuốn Le Prince, Sứ Quân, và tôi nói tôi rất sợ thủ đoạn trong chính trị. Tôi đọc truyện Bác Sĩ Zhivago và tôi khó lòng chịu nổi nhân vật đối đầu, một Komarovski thủ đoạn và một Pacha Antopov khi đi theo cách mạng. Tôi ca ngợi Lara, người tình tuyệt vời của Zhivago. Khi vào quân trường Quang Trung, không có giờ nghỉ nào mà tôi không nghĩ ngợi đến Lara. Tôi cho rằng để bảo vệ một chế độ người ta phải dùng bạo lực và bạo lực không thể không đi kèm với nhà tù, chiến tranh và đổ máu. Nó có tính cách nhất thời và tiêu vong. Chỉ có tình yêu mới làm cho con người hạnh phúc và tồn tại. Người ta có thể sống mà không cần chiến tranh nhưng không ai có thể sống mà thiếu tình yêu được.<br />
“Gia đình em đi hụt. Suốt ngày chờ trên sân thượng của một điểm hẹn nhưng không có chiếc máy bay trực thăng nào đáp xuống cả.”<br />
“Nhà em bây giờ ra sao?”<br />
“Ba em đã đi học tập cải tạo. Ổng có vẻ tin tưởng là sẽ được sớm trở về. Ổng tin chính sách hòa hợp hòa giải dân tộc.”<br />
“Còn em?”<br />
“Em không rõ. Em không biết làm thế nào là đúng trong lúc này? Có lẽ&#8230;” Hiệp ngập ngừng. Nhưng có tiếng chuông đổi lớp bất ngờ reo lên đã chấm dứt câu nói của Hiệp. Tôi đứng dậy đặt nguyên bàn tay lên người học sinh. Tôi nghe câu hỏi của Hiệp dội lại lồng ngực tôi, reo lên như một hồi chuông.</p>
<p><strong>Chương Bốn</strong></p>
<p>Ở phòng giáo sư, mấy đồng nghiệp của tôi đang bàn tán về sự vắng mặt của Ký, Sum, và Tích. Ký, giáo sư Việt văn, tác giả tập thơ Sầu Ở Lại, tay nhậu không mỏi mệt của Chợ Ðủi. Sum phụ trách môn Sử Ðịa, người mập mạp tròn trịa, vui nhộn. Khi nghe có tiếng cười ở đâu biết là có Sum ở đó. Tích dạy Pháp văn, vừa mới đổi về trường được năm nay. Ký đóng Ðại Úy, còn Sum và Tích mang cấp Trung Úy.<br />
Cả ba đều bị gọi đi học tập cải tạo. Ở góc phòng, cô giáo Sâm, người luôn luôn có cặp kiếng đen trên khuôn mặt lạnh lùng đang nói chuyện với cô Thiên Hương về việc mua nhu yếu phẩm. Tôi đã bắt đầu quen nhìn cái cảnh chiều chiều ra sân sau, các thầy các cô chia nhau mấy con cá, con tôm, rau muống. Gần đó là Duy, một trong những giáo sư dạy toán giỏi nhất cấp trung học Sài Gòn, cựu giám học nhà trường, trước Bảy Lăm bị tù vì tội tiết lộ đề thi Tú Tài, nay vừa trở về trường cũ, đang ngồi chụm đầu nói chuyện với Trần Nguyên, người nằm vùng và Vũ Anh Tuấn, người tập kết từ miền Bắc mới về. Y luôn miệng nói giáo viên ngoài Bắc nghỉ giữa giờ chỉ ăn cam chứ không thèm uống nước trà. Và học sinh miền Bắc luôn đứng đầu trong các kỳ thi toán quốc tế.<br />
Tôi kéo ghế ngồi xuống cạnh Minh và Danh. Minh là hiệu trưởng cuối cùng của ngôi trường này trước khi Sài Gòn thất thủ. Minh có dáng người hơi thấp nhưng da thịt đen nâu chắc nịch. Danh, giáo sư Ðức ngữ của Trung Tâm Văn Hóa Ðức, đồng thời anh cũng là giáo sư Triết của một số lớp. Hồi ở Ðà Lạt, Danh học khóa I còn tôi khóa II. Danh đang là đề tài tranh luận tại các trường học sau ngày Ba Mươi.<br />
Mới tuần trước, nhà trường tổ chức buổi họp bất thường. An ninh vô cùng chặt chẽ. Cổng trước, cổng sau, công an bộ đội đóng chặt không kẽ hở. Người đến thăm được giới thiệu là một ủy viên cao cấp của Bộ Chính Trị, nhưng khi vào phòng họp người ta biết là ông Tổng Bí Thư đảng Cộng Sản Việt Nam. Sau phần nói chuyện về cái gọi là tình thương và thù hận trong việc giáo dục học đường, ông ta mời mọi người tự do đưa ý kiến.<br />
Chính trong lúc không ai chờ đợi và ngờ đến, Danh đưa tay xin nói. Lê Hiền ngó Danh. Y thật sự lo ngại. Y đã chuẩn bị cho Nguyên sẽ là người nói đầu tiên và sau đó là Vạn, một giáo sư “ngụy” nhưng “giác ngộ sớm”. Nhưng thật là bất ngờ, Danh đứng dậy:<br />
“Từ hồi giải phóng tới giờ, đúng là lần đầu tiên, tôi được gặp một người cộng sản thứ thiệt&#8230;”<br />
Cả phòng “ồ” lên. Minh lo lắng nhìn tôi. Tôi lo sợ nhìn Danh. Hiên ngồi yên cắn ngón tay trỏ ngó lên bàn chủ tọa. Danh vẫn tự nhiên như không. Anh xin được phép phát biểu hai điều. Trước hết anh nhắc đến quan niệm giáo dục của nhà triết học Ðức Emmanuel Kant. Anh nói giáo dục trước hết là tình thương, nếu không có tình thương người ta không thể đào tạo được con người tốt cho xã hội. Tình thương không phải chỉ là vũ khí chinh phục một tâm hồn, nó còn là điều kiện thiết yếu để xây dựng một tâm hồn. Thứ hai, Danh tiếp, một số bạn bè tôi hiện đang nằm trong các trại học tập cải tạo cùng với các sĩ quan, công chức chế độ cũ. “Tôi nghĩ đó là một việc làm vô ích. Tôi không tin rằng công việc cải tạo này đem lại kết quả. Bởi vì nó thiếu tình thương, thiếu cái hòa hợp hòa giải dân tộc.” Tôi nhớ in hình như lúc đó người đứng đầu đảng cộng sản Việt Nam nói rằng: Ông là người Mác Xít và người duy vật Mác Xít không chia sẻ được lập trường duy tâm của Kant là một lẽ đương nhiên. “Còn những người bạn của đồng chí”, ông ta gọi Danh là đồng chí. Tôi không hiểu tại sao, “ai bảo đảm rằng họ không phải là CIA? Tôi có một người cháu đeo lon đại úy ngụy và hiện nó đang học tập ở Phan Thiết. Tôi cho rằng đó là một biện pháp cần thiết của chế độ khi lấy được chính quyền trong tay.”</p>
<p>Sau vụ này, người hiệu trưởng mới không nói gì với Danh. Y là người thâm trầm, kín đáo. Không ai nghĩ mình có thể chờ đợi một người chiến thắng như thế.</p>
<p>“Có gì lạ không ông?” Tôi hỏi Danh.</p>
<p>“Sao không? Bây giờ tôi phụ trách việc sửa tất cả bàn ghế hư của nhà trường.”</p>
<p>“Sao? Ông làm thợ mộc?”</p>
<p>“Mà tại sao không chớ! Không chừng sắp đến lượt ông mà ông không hay!”</p>
<p>Minh rót trà vào ly, uống một ngụm, ngó ra sân. Anh nói khá nhỏ:</p>
<p>“Tôi nghĩ là mấy ông ít nói đi thì hay hơn.”</p>
<p>Tôi nhìn Minh không hiểu. Tôi ngó ra cửa lớn nối liền hành lang với phòng hành chánh. Lê Hiên đang bước rất chậm về phía bàn nước.</p>
<p>Y hơi gật đầu chào chúng tôi, xong từ tốn kéo ghế ngồi xuống. Nhấc điếu thuốc ra khỏi môi, đặt lên cái gạt tàn, Hiên rót nước trà, uống chậm rãi. Tôi chờ Hiên nói, sau cùng đốt gần tàn điếu thuốc, Hiên mới mở lời:</p>
<p>“Tôi muốn gặp anh Thăng có chút việc riêng. Anh có rảnh không?”</p>
<p>Tôi nhìn Minh và Danh. Không ai nói gì. Tôi gật đầu.</p>
<p>“Xin lỗi hai anh.” Hiên đứng dậy. Tôi bước theo.</p>
<p>Tới trước cửa phòng giáo sư, Hiên đi chậm lại chờ tôi cùng bước song song.</p>
<p>“Ông bà Phan liên hệ thế nào với anh?”</p>
<p>“Ông bà Phan?” Tôi giật mình.</p>
<p>“Phải, ông Phan. Lâu nay anh có được tin tức gì của ổng không?”</p>
<p>“Không. Tại sao tự nhiên anh hỏi chuyện ông Phan?”</p>
<p>“Anh Thăng nên nhớ là không có việc gì trên đời này mà cách mạng không biết. Anh là người có cuộc sống như thế nào trước khi cách mạng về, chúng tôi đã rõ. Hôm qua tôi có được gặp đồng chí Mười Tân.”</p>
<p>Hiên nhắc ông Mười Tân làm tôi nhớ lại hôm Tuấn đến nhà thăm Quỳnh mới sanh. Quỳnh nói ông Mười Tân là con ông bác và cho đến nay “em vẫn chưa gặp ảnh lần nào. Nghe nói ảnh đi theo Việt Minh hồi nhỏ, làm tới chính ủy trung đoàn, rồi từ đó không được tin tức gì cho tới nay.”</p>
<p>“Tại sao hồi đó anh ở trong nhà ông Phan?” Lê Hiên hỏi tiếp. “Ðâu có phải ai cũng vào nhà ông Phan ở được phải không?”</p>
<p>“Nếu anh muốn biết chuyện ông Phan thì đó là một câu chuyện dài.”</p>
<p>“Không. Biết thì cách mạng đã biết hết rồi. Nhưng vấn đề ở đây là tôi muốn anh thành khẩn kể ra.”</p>
<p>“Anh muốn tôi kể ra hay viết ra?”</p>
<p>“Theo tôi, anh nên viết thì tốt hơn.”</p>
<p>Tôi nhìn kỹ Hiên. Y có gương mặt xanh mướt, hai gò má nhô xương, đôi mắt thỉnh thoảng nhấp nháy như người sợ ánh sáng, hai cánh tay dài lòng thòng. Cách phát âm từng chữ từng tiếng chậm rãi nhẹ nhàng của Hiên làm tôi sợ.</p>
<p>“Còn một điều nữa, tôi muốn nói với anh.”</p>
<p>Hiên nhìn thẳng vào mắt tôi. “Tôi biết anh đang gặp khó khăn về việc đứng lớp. Xin anh cứ nói thẳng để tôi tìm cách giải quyết.”</p>
<p>Tôi không ngạc nhiên gì về điều Hiên nói. Anh ta phải biết điều đó thôi.</p>
<p>“Cảm ơn anh. Tôi muốn xin anh giúp một điều.”</p>
<p>“Anh cứ nói. Ðiều gì có thể làm được tôi sẽ không từ chối.”</p>
<p>“Tôi muốn xin nghỉ dạy. Tôi muốn tìm một nghề khác để sống.”</p>
<p>Hiên nhìn tôi bàn tay trái của y giơ lên gãi gãi mép tai.</p>
<p>“Tại&#8230; sao? Mà tại sao mới được chớ?”</p>
<p>“Tôi thấy quay một vòng tới một trăm tám mươi độ khó quá!”</p>
<p>“Tôi không nghĩ như vậy đâu. Cách mạng sáng rỡ như mặt trời. Có gì mà quay đến một trăm tám mươi độ. Ðọc Sử anh không biết Ngô Thì Nhậm sao? Không ai nói Ngô Thì Nhậm quay tới một trăm tám mươi độ. Ngô Thì Nhậm là một kẻ sĩ tức thời&#8230;”</p>
<p>“&#8230;”</p>
<p>“Tôi nghĩ là anh bất mãn với chế độ mới. Ðể tôi gặp đồng chí Mười Tân đề nghị<br />
đồng chí ấy trao đổi với anh.”</p>
<p>Câu trả lời làm tôi chán ngán. Tôi giơ tay xem giờ.</p>
<p>“Xin lỗi. Có lẽ tôi phải xuống lớp.”</p>
<p>“Chuông chưa reo mà!” Hiên nói, “Nhưng thôi, cũng được.”</p>
<p>Khi tôi bước chân ra tới cửa, Hiên gọi giật lại:</p>
<p>“Anh Thăng, dù sao anh cứ viết đơn. Tôi sẽ chuyển cho anh. Ðồng chí Mười Tân là thủ trưởng của tôi, chắc anh biết rồi phải không?”</p>
<p>“Xin cảm ơn!” Tôi trả lời như một cái máy.</p>
<p>Trên hành lang trở về phòng giáo sư, tôi đi như một người bị thương. Mùi khói thuốc của Hiên như theo đuổi tôi tận chỗ ngồi giữa Danh và Minh.</p>
<p><strong>Chương Năm</strong></p>
<p>Người đầu tiên cho tôi hay rằng tôi đã được Sở Giáo Dục thành phố cho phép “thôi việc” là Sự, “hiệu phó” của Hiên. Sự người Nam, tập kết ra Bắc từ năm Năm Tư, lấy vợ Bắc.<br />
Cả hai đều là giáo viên cấp ba. Chồng dạy toán vợ dạy Việt văn. Sự nói tiếng Nam trăm phần trăm, giọng không lơ lớ như những người tập kết đã “sống ngoài Bắc hai mươi nhăm năm.” Chị Tâm thì khác hẳn chồng. Chị là người Bắc rặt, Hà Nội thứ thiệt. Chị là cháu cụ Ngô Tất Tố: Chậm rãi, nhỏ nhẹ, dịu dàng, chị biết lắng nghe người khác nói và cũng biết nói điều gì khi cần nói. Sự thì xốc vác, năng động, cởi mở.</p>
<p>“Ðơn xin thôi của anh đã được chị Sáu Nỡ, giám đốc Sở Giáo Dục chấp thuận. Anh nghĩ sao mà xin thôi?”</p>
<p>Tôi nhìn Sự dò xét ý nghĩa câu hỏi của anh ta. Tôi chưa biết trả lời sao. Có nên nói rằng tôi không thể là loại người làm công việc xoay một vòng một trăm tám mươi độ trên chính nơi bục gỗ mà trước kia tôi đã từng làm chủ? Có nên nói rằng trước kia tôi chỉ là một người dạy học bất đắc dĩ, giờ đây việc đó còn bất đắc dĩ hơn, một triệu bất đắc dĩ hơn trước chăng? Phải chi tôi là người dạy Toán, Lý Hóa, Sinh vật, thì có thể tôi sẽ dễ dàng hơn khi đứng nói trước mặt các em những điều trắng mà mới hôm qua mình còn nói là đen?</p>
<p>Ðứng ở lan can hành lang, chúng tôi cùng ngó ra sân trường. Tôi thấy mình sao quá xa lạ ngay giữa khung cảnh quen thuộc từ bao nhiêu năm nay. Từ sau ngày Ba Mươi Tháng Tư đến nay, lòng tôi không bao giờ yên, trái tim tôi không bao giờ ngưng lo âu hồi hộp. Tôi sợ những câu hỏi, và tôi thấy mình lúng túng khi tìm câu trả lời.</p>
<p>“Mừng quá phải không?” Sự hỏi tiếp khi thấy tôi lặng thinh hơi lâu.</p>
<p>“Cảm ơn anh đã cho biết tin. Nhưng bao giờ thì tôi được chính thức nghỉ?”</p>
<p>“Giấy đã về chỗ ông Hiên rồi. Có lẽ nội sáng nay ông Hiên sẽ đưa cho anh. Và từ ngày mai anh có thể&#8230; có thể&#8230;”</p>
<p>Sự không nói hết câu. Tôi không hiểu ý anh ta muốn gì. Tôi quay lại, nhìn Sự. Sự hơi thấp hơn một người Việt Nam trung bình. Da mặt anh đen sạm, hai con mắt sáng, giọng nói rổn rảng.</p>
<p>“Có một điều tôi muốn nói với anh, ông Hiên đã làm một bản báo cáo về anh cho sở. Bản báo cáo không tốt về anh, nhưng có lẽ nhờ đó anh đã được cho nghỉ việc theo ý muốn của anh.”</p>
<p>Bất ngờ, Sự mở cặp đưa cho tôi tờ “pelure” của bản lót giấy than đại khái viết rằng tôi là một người “phóng đãng”, cuộc sống của tôi không thể thích ứng với một nhà giáo, và càng không thể thích hợp với một nhà giáo xã hội chủ nghĩa trong chế độ cách mạng. Nhà trường cách mạng không cần một nhà giáo kiểu Trần Lâm Thăng. Bản báo cáo còn ghi sự liên hệ của tôi với gia đình ông Phan, một nhân vật phản động của chính trị tại miền Nam. Tôi không chờ đợi những lời tốt đẹp của Hiên viết về tôi. Tôi hiểu tôi là “thứ” người gì. Nhưng tôi không ngờ y viết về tôi kiểu đó.</p>
<p>“Nếu không ở được thì nên tìm cách đi đến một chỗ tốt hơn.”</p>
<p>Sự nắm cánh tay tôi giật giật rồi bước đi.</p>
<p>Tôi nhìn theo anh không biết có phải thật là chính Sự nói những lời đó không. Tôi ngó xuống tay mình. Tờ giấy pelure vẫn còn đó.</p>
<p>Thật tình tôi có mừng khi hay tin được nghỉ việc, nhưng đồng thời tôi cũng cảm thấy lòng mình xót xa, như thể có một con dao nào khá bén lịm đang cứa từ từ một phần thân thể mình.</p>
<p>Tôi đi chậm rãi dọc theo hành lang, trở lại phòng giáo sư. Tôi ngồi xuống chiếc ghế sát bên cửa hông. Ðám đất nhỏ vừa được mấy thầy cô giáo xới lên trồng rau. Một chuồng heo vừa mới được rào giậu. Những cái đó thật xa lạ với ngôi trường mà tôi đã từng có mặt hơn mười lăm năm nay, từ một đứa “học trò nhưng không sách cầm tay” ngồi ở dưới bàn học kia, đến lúc đứng trên bục gỗ này nhìn lại tuổi trẻ của mình.</p>
<p>Hai câu đối trước cổng trường, cây phượng trong sân che mát trạm của người gác dan, nơi có chú Phẩm hiền lành cục mịch như một củ khoai mở cửa cho chúng tôi mỗi sáng. Phòng y tế nơi có bác Thử làm việc người gầy nhom gầy nhách, nhưng lúc nào cũng tươi cười chăm lo sức khỏe cho cả trường. Thầy Ái dạy Pháp văn ăn nói lưu loát hoạt bát, ông Tổng giám thị Chương ưa nói chuyện thời sự, và còn bao nhiêu kỷ niệm đang quanh quẩn ở góc sân, ở vòm cây, ở mái ngói, ở đợt nắng sắp vào hè, ở cơn mưa dầm, ở khói lựu đạn cay tỏa đầy sân trường khi các em xuống đường.</p>
<p>Không, có thể tôi không phải là một người dạy học hội đủ những điều kiện của một người thầy tốt theo quan niệm Khổng Tử, nhưng tôi chắc chắn là lòng tôi tràn đầy niềm yêu mến công việc của tôi. Tôi hiểu tôi phải làm gì khi đứng trên bục gỗ. Tôi biết tôi cung cấp điều gì cho học sinh của tôi: những kiến thức tối thiểu cho việc thi cử và những bất đồng giữa trang sách và đời sống. Tôi yêu các bạn đồng nghiệp của tôi, các em học sinh mà tôi chỉ gặp mỗi năm một lần rồi đi qua ngưỡng cửa vào đại học, rất ít khi ngoái đầu lại. Chắc chắn các em đã mang theo trong lòng những điều đồng ý và bất đồng ý với tôi qua những gì tôi trình bày. Nhưng điều đó có hề gì. Ðiều mà lòng tôi muốn gửi đến các em là con người và những giới hạn của nó: sự đau khổ, nghèo đói, dốt nát, bệnh tật và nhất là cái chết. Tôi muốn các em chia sẻ cùng tôi bài học làm người. Bài học ấy chúng tôi cùng học, không ai dạy ai.</p>
<p>Nhưng mà tôi vui, vì tôi biết rằng từ nay tôi sẽ không còn phải đứng trên bục gỗ nói những điều hoàn toàn trái nghịch với những gì tôi đã từng nói trước đây cũng trên cái bục gỗ ấy. Tôi sẽ không còn phải đêm đêm chong đèn biên chép cái gọi là “giáo án” để sáng mai vào lớp đọc từng chữ như một học sinh không thuộc bài. Tôi sẽ không còn phải,&#8230; không còn phải,&#8230; không còn phải&#8230;</p>
<p>Ở lớp ra, tôi không về thẳng nhà như mọi khi. Danh biết tôi được nghỉ việc, hẹn tôi ra quán cà phê, uống mừng một ly. Quán cà phê vỉa hè lúc sau này, mọc khắp đường phố Saigon. Ở đường Trần Quý Cáp trước trường Tư thục Tân Văn, Danh hỏi tôi:</p>
<p>“Này, ông định làm gì?”</p>
<p>“Tôi chưa biết làm gì bây giờ. Có lẽ tôi sẽ về quê. Tôi muốn nhân dịp này thăm ông anh hiện bị bệnh nặng.”</p>
<p>“Tôi thì không về quê. Gia đình tôi không còn ai ở dưới. Tất cả bây giờ đều tập trung ở nhà tôi. Tôi đã liên lạc được với tòa Ðại Sứ Tây Ðức. Tôi đang hy vọng sẽ được đưa cả gia đình đi Ðức. Tôi tin tưởng và chờ đợi.”</p>
<p>“Thật tình là tôi chưa biết mình sẽ làm gì. Về quê thì được, nhưng sống bằng cách nào? Từ trước tới giờ tôi có nghề ngỗng gì đâu ngoài cái nghề đứng trên bục gỗ! Ông có khuyên tôi được gì không?”</p>
<p>“Tôi không dám khuyên ông điều gì đâu. Nhưng tôi nghĩ, sống ít lâu ở vùng biển cũng là điều hay. Ðó là nơi dưỡng sức lý tưởng.”</p>
<p>Tôi hiểu ý Danh. Người Saigon bây giờ không ai là không mơ ước một chiếc ghe, một người tài công giỏi và một “bãi đổ quân” an toàn.</p>
<p>Tôi nghĩ đến điều đó. Nhưng tôi không thể không nghĩ đến Quỳnh và đứa con chúng tôi hãy còn quá nhỏ. Tôi cũng chờ đợi những tờ giấy bảo lãnh từ Pháp và từ Mỹ. Quỳnh bắt liên lạc với một người làm ở tòa Tổng Lãnh Sự Pháp mua tờ khai sanh và cái thẻ của một công dân Pháp &#8211; đã chết &#8211; để ra vào tòa lãnh sự cho dễ. Chúng tôi muốn đi Pháp theo ngả có “giấy tờ của người đã chết” này nhiều hơn.</p>
<p>Tờ khai sanh tôi mua là của một người mang tên Jean Francois Didier có cùng tuổi tôi, con của bà Trần Thị Ba và ông Maurice Didier nào đó khá mơ hồ và không có chi chắc chắn. Tôi chờ đợi để xin vào tòa lãnh sự, dù chỉ một lần thôi. Công an áo vàng đứng đầy ở cổng, còn chặt chẽ hơn bức tường cao có những mảnh ve chai nhọn. Người bán khai sanh bảo chúng tôi nên chờ. Chờ đến bao giờ? Không thấy nói.</p>
<p>Chúng tôi ngồi như vậy khá lâu và không biết nói gì thêm. Ly cà phê đen đã hết, chúng tôi được châm cho một bình trà. Ðến sẩm tối, chúng tôi chia tay.</p>
<p>“Coi như kể từ ngày mai, ông không bước chân tới trường nữa, phải không?” Danh leo lên xe đạp hỏi tôi câu cuối cùng.</p>
<p>Tôi gật đầu. Tôi lên xe. Tôi may mắn chưa bán chiếc Lam màu bạc. Quỳnh nhất định bắt tôi phải giữ lại để làm chân chạy chỗ này chỗ nọ. Nhưng lên xe rồi tôi vẫn chần chờ. Tôi không muốn trở về nhà. Tôi chạy ngang qua Chợ Ðũi. Dựng xe ở dưới gốc cây. Chợ Ðũi tối tăm lạnh lẽo. Chợ Ðũi đã không còn như xưa. Tôi không thấy cái bàn quen thuộc của chúng tôi: Nhật đã đi học tập cải tạo. Cả Ký và Lộc nữa. Chỉ còn Nghĩa, nhưng từ hôm Saigon mất đến nay tôi chỉ gặp Nghĩa có một lần trong một quán cà phê vỉa hè trên đường Tự Do. Nghĩa dạy môn Kinh tế ở trường Luật và bây giờ chuẩn bị thất nghiệp. Tôi không gặp lại Giang, nhưng hôm Saigon vừa mới bị tiếp thu tôi có nghe một ca khúc của anh vang qua làn sóng điện. Ðình vẫn ốm yếu bệnh tật, và mặc dù chỉ gặp có một lần tôi thấy mình càng yêu Ðình hơn. Tôi thèm nghe vô cùng giọng nói của anh qua chương trình nhạc chủ đề mỗi tối Thứ Năm.</p>
<p>Tôi chỉ gặp lại Tâm và Phùng. Vẫn Tâm khuôn mặt sạm đen, vẫn Khô-Khốc-Thiền-Sư, vẫn thở thuốc lá đen như ống khói tàu&#8230; Còn Phùng vẫn đôi kính cận màu nâu nhạt, vẫn giọng nói gấp gáp đuổi nhau từ tiếng này sang tiếng khác. Chúng tôi chỉ là thứ lính chín tuần ở Quang Trung. Chúng tôi không là sĩ quan, nên chúng tôi không phải đi học tập cải tạo. Hai người cháu trai tôi, một trung úy, một đại úy, cậu em rể thiếu tá bị thương ở chân, tất cả đã bị bắt đi trại tập trung, trừ ông anh trung tá Biệt Ðộng Quân “may mắn” bị bán thân bất toại được nằm nhà chờ chết khỏi phải trình diện.</p>
<p>Tôi lại lên xe, tiếp tục chạy quanh thành phố. Quán Cái Chùa trên đường Tự Do đã trở thành tiệm ăn. Givral cửa kính dầy vẫn có khách ngồi, nhưng tôi biết không còn đám bạn của tôi trong đó. Tôi chạy xuống bờ sông Sài Gòn. Ðêm lạnh lẽo. Chiếc phà chở người về Thủ Thiêm vừa tách bến. Tôi đến ngồi trên chiếc ghế đá nhìn ra chiếc tàu đang bỏ neo. Ước gì gia đình mình được một chỗ trên tàu kia. Tôi thấy trước mặt tôi một bóng đen, một người đàn bà đang tỳ hai tay trên sợi xích sắt, nhìn xuống mặt nước đen. Hình như tôi nghe cả tiếng khóc. Hai bờ vai bóng đen rung lên.<br />
Tôi vẫn ngồi yên, không nghĩ ra cách nào để can thiệp nếu người kia nhảy xuống nước. Tôi cúi xuống, ngó dưới chân mình. Tôi biết mình đang làm một cử chỉ vô nghĩa. Nhưng tôi phải làm gì bây giờ? Tôi nhìn quanh quất. Bến tàu thưa người. Tay tôi bỗng chạm một túi vải, như là một túi đựng quần áo. Tôi rụt tay lại. Hình như phía trên còn có một mảnh giấy. Tôi cầm lên, nhưng ánh sáng mờ của ngọn đèn công cộng trên cao phía xa không soi rõ chữ. Tôi cầm tờ giấy trên tay phân vân không biết nên để lại trên túi vải kia hay mang đến chỗ sáng đọc xem trong đó viết gì. Sau cùng, tôi quyết định cầm đến chỗ đèn sáng.<br />
Tờ giấy viết:</p>
<p>Chồng tôi đã bỏ đi.<br />
Con tôi đã chết.<br />
Tôi không muốn sống.<br />
Xin cho ba má tôi ở địa chỉ&#8230; đường Cống Quỳnh, quận nhì, Sài Gòn biết.<br />
Con bất hiếu,<br />
Trần Thị Lan</p>
<p>Tôi chạy trở lại chỗ ngồi. Bóng đen vẫn còn đứng tỳ tay trên sợi xích sắt.<br />
Tôi bước tới. Tôi đặt tay lên vai người đàn bà:<br />
“Chị Lan!” Tôi kêu tên người đàn bà nhưng thầm mong chị ta không phải là tác giả bức thư trên. Nhưng bóng đen đã quay phắt lại:<br />
“Ông&#8230; là ai?”<br />
“Có phải chị là chị Lan không? Chị đừng làm như vậy!”<br />
Tôi nắm chặt tay người đàn bà kéo về phía chiếc ghế xi măng.<br />
Người đàn bà mềm như sợi bún.<br />
“Tại sao chị phải làm như vậy?” Tôi biết mình hỏi một câu hỏi thừa.<br />
“Trời ơi, sao tôi khổ thế này?” Người đàn bà vật vã khóc, hai tay vồ lấy túi vải ôm chặt vào lòng. Tôi đứng nhìn chị, nhưng chị không buồn nhìn tôi. Lưng người đàn bà tựa vào thành ghế, nghiêng về một phía như một thân cây bị bão thổi dạt theo chiều gió.<br />
“Nhà tôi ở gần chỗ nhà chị. Chị có muốn tôi đưa chị về không?” Tôi nhận ra đường Cống Quỳnh này gần góc Nguyễn Cư Trinh, nghĩa là gần khu Mã Lạng với khu nhà tôi.<br />
“Cám ơn! Ông đi đi. Tôi không có nhà có cửa gì hết.” Chị nói thều thào như một người hết hơi, kiệt sức.<br />
Chắc chị không biết là tôi đã đọc lá thư trên túi vải của chị.<br />
Tôi quay ra mặt đường, muốn tìm một chiếc xích lô đạp. Ðường vắng. Một chiếc xích lô đang nằm dưới trụ đèn đường. Một vài chiếc xe đạp đang đi ngược trên đại lộ Tự Do, nay là đường Ðồng Khởi. Tôi bước đến trụ điện. Người phu xích lô đang ngồi trong xe đọc báo. Ánh sáng chiếu rõ tờ tạp chí Lettres Soviétiques. Tôi dụi mắt. Lettres Soviétiques là một tập chí văn học của Nga viết bằng tiếng Pháp. Tôi rụt rè:<br />
“Ông&#8230;, xin lỗi, ông có nhìn thấy người đạp xích lô đi đâu không?”<br />
“Ông đi đâu?”<br />
“Tôi muốn tìm người đạp xích lô!”<br />
“Là tôi đây!” Ông nói nhẹ nhàng.<br />
“Xin lỗi&#8230;” Tôi ấp úng.</p>
<p>Người “phu xe” xếp cuốn tạp chí lại. Tôi thấy một khuôn mặt xanh mướt. Chiếc kính cận che một đôi mắt khá sắc sảo. Ðó là một khuôn mặt quen, hình như tôi đã gặp đâu đó một đôi lần. Một khuôn mặt rất trí thức.<br />
“Ði đâu?” Người “phu xe” leo lên yên, sau khi đã đặt cuốn sách dưới nệm ghế ngồi.<br />
“Tôi muốn nhờ ông đưa giùm một người đến đường Cống Quỳnh, góc Nguyễn Cư Trinh.” Tôi trả lời, nhưng mắt vẫn không ngưng nhìn ông ta.<br />
“Mời ông lên!” Người “phu xe” giục.<br />
“Không phải tôi! Ông có thể đi vào phía trong một chút được không?”<br />
Tôi đi trước, người đàn ông đạp xe theo sau. Tôi thấy ông ta rướn lên khi nhấn chân trên bàn đạp, dù xe không có ai ngồi. Ðến chỗ ghế đá có người đàn bà, tôi nói:<br />
“Ông làm ơn đưa giùm người này về địa chỉ&#8230; ở đường Cống Quỳnh&#8230;” Người “phu xe” nhìn người đàn bà nằm rũ trên túi vải.<br />
“Tôi muốn gửi tiền trước. Từ đây tới đó bao nhiêu?”<br />
Người “phu xe” bước xuống, không trả lời câu hỏi của tôi.<br />
“Chuyện gì vậy?”<br />
“Tôi không biết. Tôi nghĩ rằng người đàn bà này đang đau khổ cùng cực. Tôi sợ bà ấy đi tìm cái chết.”<br />
Tôi đến bên ghế, đặt tay lên vai người đàn bà. Tôi có cảm tưởng như tôi đang sờ một xác chết.<br />
“Ông là gì của bà này?” Người “phu xe” hỏi.<br />
“Không, tôi không là gì của bà ta hết. Ông giúp giùm tôi được không?” Tôi đưa lá thư tuyệt mệnh cho người “phu xe.”<br />
Ông cầm đến chỗ có ánh đèn đường chăm chú đọc, xong lặng lẽ xếp bỏ vào túi.<br />
“Tôi biết chỗ này. Thôi để tôi đưa bà ta về cho. Ðừng nói chuyện tiền bạc.”<br />
Ông ta đứng sau ghì yên cho xe khỏi chỏng gọng khi tôi đỡ người đàn bà lên chỗ ngồi. Không còn cách nào khác, tôi cho máy xe nổ, chạy thật chậm sau chiếc xích lô. Ðường phố vắng, rất nhiều bóng tối.<br />
Tiếng máy xe của tôi, vang vang trong sự im lặng chết chóc làm tôi sợ. Tôi ước phải chi mình đang đi một chiếc xe đạp. Sự lặng lẽ nhiều khi cũng cần thiết. Như chiếc Lambretta nặng nề của tôi với tiếng nổ ầm ĩ của nó càng đi tốc độ chậm tiếng kêu càng to. Ðôi lúc tôi phải chạy phóng về phía trước một quãng, dừng lại, chờ cho chiếc xích lô đi qua, rồi mới lại chạy tiếp. Tôi thấy mình không thể nào để người đàn bà kia ở giữa đường. Chẳng thà mình không nghe, không thấy, không biết, đằng này&#8230; đi ngang qua những “kiosques” bán hoa đường Nguyễn Huệ, tôi thấy cửa đóng then cài. Vòng trái đường Lê Lợi, còn một vài xe bán bánh mì đêm với ngọn đèn leo lét. Và chợ Bến Thành, bùng binh có tượng Quách Thị Trang, tôi thấy sao mà lạnh lẽo. Trạm ga xe lửa ở đường Lê Lai vẫn đầy những người ngủ trên thềm xi măng. Một vài túp lều dựng sơ sài vội vàng bên hông hãng xe Vespa. Băng qua một đường rầy xe lửa đường Võ Tánh. Rạp Khải Hoàn đang chiếu một cuốn phim có cái tên kỳ lạ: Sáu Người Từ Trên Trời Rơi Xuống. Bên kia là chợ Hòa Bình. Còn một chiếc xe mì xực tắc của người Tàu. Lòng chợ tối om. Quẹo trái là Cống Quỳnh. Tôi chạy trước dò đường. Số chẵn bên trái. Tôi đếm từng số nhà.<br />
“Ðây rồi!” Tôi dựng xe trước một căn nhà có cửa sắt, chờ chiếc xích lô.<br />
“Có phải nhà này của chị không?” Tôi bước tới nghiêng đầu hỏi, trong khi người đạp xích lô rướn mình kéo cần thắng.<br />
Người đàn bà mở mắt, ngồi thẳng dậy, ngó chăm vào mặt tôi, không buồn trả lời. Tôi không hiểu cái nhìn đó có ý nghĩa gì. Bà ta bước xuống. Ðến trước cửa sắt, bà ta luồn tay vào trong bấm cái nút chuông.<br />
Và không lâu, tôi nghe tiếng lách cách, cánh cửa trong mở ra, một cái đầu tóc bù xù bạc trắng ngó người đàn bà:<br />
“Trời ơi! Trời ơi!&#8230;” Tiếng kêu nhỏ run rẩy, hai bàn tay của người già cũng run rẩy loay hoay với chiếc chìa khóa.<br />
“Má ơi! Má ơi!&#8230;”<br />
Sau cùng tôi nghe tiếng người đàn bà thảng thốt.<br />
Tôi cảm thấy có một bàn tay ai đặt lên vai tôi. Tôi quay lại, người đạp xích lô nhìn thẳng vào mặt tôi:<br />
“Tôi tên là Nam.”<br />
“Tôi tên là Thăng.” Tôi trả lời như một phản xạ tự nhiên đến nỗi tôi không hiểu tại sao mình đã nói nhanh như vậy.<br />
Và chúng tôi chia tay.</p>
<p><strong>Chương Sáu</strong></p>
<p>Khi tôi về đến đầu ngõ, cả khu Mã Lạng bỗng tắt điện bất ngờ. Tôi nghe tiếng người nói ồn ào ở rạp Quốc Thanh. Hồi sáng, khi chạy xe ngang, tôi thấy rạp dựng bảng đoàn kịch Kim Cương trình diễn vở “Dưới Hai Màu Áo.”<br />
Có lẽ khán giả đang bực mình vì vở diễn bị ngưng nên túa ra trong vòng cửa sắt hút thuốc, uống nước, tìm chút không khí. Tôi tắt máy xe, dắt bộ xuống con hẻm. Hai dãy nhà ngó mặt nhau trong đêm với những cánh cửa sổ như được mở đồng loạt kiến tôi có cảm tưởng là mình bị những cặp mắt vô hình dòm ngó, soi mói. Dựng xe ở hiên nhà, tôi ngạc nhiên thấy cửa không đóng. Phòng khách tối, nhưng bên trong, nơi được dùng làm phòng ăn và buồng ngủ, tôi thấy ánh sáng leo lét của một ngọn đèn dầu.</p>
<p>“Ảnh về đó kìa!” Tôi nghe tiếng Quỳnh nói. “Vô đây anh.”</p>
<p>“Chào chú mày!” Tôi nghe tiếng nói của một người đàn ông, giọng cứng và lạnh.</p>
<p>Tôi đến cửa hông, dừng lại.</p>
<p>“Chào ông.” Tôi trả lời, hơi bỡ ngỡ không hiểu người đó là ai.</p>
<p>“Anh Mười. Ðây là anh Thăng, chồng em.” Quỳnh giới thiệu tiếp, “Anh Mười Tân, bữa trước em có kể anh nghe rồi!”</p>
<p>“Thưa anh.” Tôi chào thêm lần nữa, bối rối.</p>
<p>“Ði đâu cả ngày bây giờ mới về, mậy?”</p>
<p>Bất ngờ, tôi nghe tiếng nói của Tuấn. Hắn ngồi trong ghế sát cửa sổ, mở ra sàn nước, nhưng vì ngọn đèn dầu không đủ ánh sáng, nên tôi không nhìn ra hắn.</p>
<p>“À, đi lăng quăng&#8230;” Tôi trả lời.</p>
<p>Ông Mười Tân vẫn ngồi yên, chỉ có đốm lửa đỏ trên đầu điếu thuốc sáng rực lên và dịu xuống từng lúc.</p>
<p>“Thời này không phải như hồi trước đâu, đừng có la cà theo bọn phản động, có ngày tù rục xương, chết không kịp ngáp!” Tuấn nói, vẫn cái giọng lên lớp.</p>
<p>Tôi đến chỗ Quỳnh nằm, bế con lên. Ðứa bé trở mình khóc. Cả thân thể nó nóng hâm hấp. Tôi ôm con vào lòng. Thuốc men hồi này khan hiếm. Hoặc giả nếu có thì đã quá hạn kỳ, hoặc tủ lạnh mất hơi vì thiếu điện nên không giữ được dược tính của thuốc.</p>
<p>“Tại sao xin nghỉ dạy?” Ông Mười Tân hỏi tôi một câu trống trơn.</p>
<p>Tôi ngồi xuống mép giường. Quỳnh đưa tay bế con. Tôi chưa biết trả lời sao cho ông Mười Tân rõ. Tôi biết người đang nói chuyện với tôi là một đảng viên Cộng sản, một cán bộ cao cấp của chế độ mới. Tôi cũng biết, theo như cách nói của Hiên, hiệu trưởng của nhà trường “cách mạng.” Mười Tân là “thủ trưởng của thủ trưởng” của y nữa kia. Có lẽ, Mười Tân đã được báo cáo về trường hợp xin nghỉ của tôi, theo một cách nào đó như kiểu tờ trình của Hiên gửi lên Sở Giáo Dục Thành Phố mà Sự đã cho tôi một bản sao. Tôi không nghĩ là ông ta đang nói như một người anh họ của người đàn bà đang sống với tôi. Ông Mười Tân đang nói như chính cái chế độ của ông nói:</p>
<p>“Thưa anh,&#8230;” tôi chậm lại, “Tôi thấy công việc dạy học không thích hợp với tôi.”</p>
<p>“Không thích hợp tại sao trước đây chọn nó?” Mười Tân tiếp tục hỏi trống trơn, giọng nhẹ nhàng.</p>
<p>“Chắc mày dạy cái môn triết lý bá láp này cũng hơn mười năm rồi phải không?” Tuấn chen vào, giọng đắc thế. “Duy Tâm! Duy Tâm! Hỏng hết!”</p>
<p>“Em không hiểu sao anh Tuấn hồi này nói năng lung tung quá!” Quỳnh đứng dậy đặt con vào nôi, vừa buông màn vừa nói, “Ở đời ai chẳng chọn lựa, chọn sai thì đổi, có sao đâu!”</p>
<p>Mười Tân không nhìn tôi. Ông vừa liếc mắt về phía Quỳnh vừa châm một điếu thuốc. Có vẻ ông là người hút thuốc nhiều.</p>
<p>“Em có biết là cái thái độ xin nghỉ việc của thằng Thăng trong tình hình củng cố và xây dựng chính quyền cách mạng là một thái độ mang ý nghĩa phản kháng chế độ này hay không?” Mười Tân nói giọng nhỏ nhẹ mềm mỏng hơn, mặc dù nội dung không phải là như thế. “Vả lại,” Mười Tân tiếp, “rồi tụi bây sẽ làm gì để sống trong những ngày sắp tới?”</p>
<p>“Em sẽ đi buôn bán như hồi má em còn sống!” Quỳnh trở lại giường, ngồi sát chỗ tôi.</p>
<p>“Hừ! Buôn bán! Chế độ này không có chỗ cho cái bọn con buôn cân thừa bán thiếu đâu. Bây giờ mà má còn sống, má cũng phải dẹp tiệm chứ đừng nói em!” Tuấn nói như một nhà cách mạng thứ thiệt.</p>
<p>“Chớ anh quên cái bọn con buôn cân thừa bán thiếu kia lâu nay nuôi anh ăn học nên người như thế này à? Chớ anh tưởng ba đang được tự do như anh với tôi, với anh Thăng à?” Quỳnh bất ngờ xẵng giọng.</p>
<p>“Quỳnh!” Tôi nắm tay vợ, chận không muốn cô nói nữa.</p>
<p>“Anh theo cách mạng hồi nào vậy?” Quỳnh tiếp tục nói, “bộ anh là con kỳ nhông sao đổi màu mau quá vậy?”</p>
<p>“Thôi em!” Tôi choàng tay qua vai Quỳnh.</p>
<p>“Thì anh cũng để em nói với ảnh một lần cho ảnh biết chớ!”</p>
<p>“Thôi em!” Tôi ôm chặt Quỳnh. Bàn tay tôi bóp bóp vai vợ. Tôi biết là mình không thể ngăn chặn được điều Quỳnh nói.</p>
<p>Khi mới quen Quỳnh, tôi không mấy rõ về gia đình cô. Tôi lấy Quỳnh chớ tôi đâu lấy gia đình của Quỳnh. Tôi chỉ biết Quỳnh có ông anh là Tuấn. Hắn là bạn học cũ của tôi. Khôn vặt. Láu cá. Ranh mãnh. Tuấn là đứa ưa gây mâu thuẫn giữa bạn bè, rồi làm ra vẻ người tốt đứng ra dàn xếp hòa giải đôi bên.</p>
<p>Tôi chưa bao giờ gặp ba Quỳnh, ngay cả khi chúng tôi đã chung sống với nhau. Tuy vậy, tôi biết rõ trong gia đình của Quỳnh, không một người nào muốn cô lấy tôi. Nhưng mọi người đều biết là không ai có thể ngăn cản được Quỳnh một khi cô đã quyết định, nên đành để mặc cô chọn con đường cô muốn đi. Chúng tôi sống với nhau, dọn vào ở chung với nhau, vì thấy không còn con đường nào khác.</p>
<p>Hãng hàng không Trung Hoa CAL cho Quỳnh nghỉ có lương vì lúc đó chờ ngày sinh, không ngờ Tháng Tư đổ ập xuống, CAL cũng đóng cửa luôn và Quỳnh thất nghiệp. Nhưng làn sóng đỏ trước khi tràn ngập Saigon vào Tháng Tư, nó đã cuốn qua miền Trung từ Tháng Ba. Gia đình Quỳnh có một tiệm bán thuốc tây và trong cơn hỗn loạn, bọn hôi của đã dọn sạch thuốc men không còn để lại một thứ gì ngoài căn nhà trống. Ba Quỳnh sau đó bị bắt đi học tập cải tạo vì thuộc thành phần tư sản. Hơn nữa việc ông quen biết lớn trước Bảy Lăm cũng làm ông mang thêm cái tội giao du “toàn bọn đầu sỏ phản động.”</p>
<p>Mười Tân ngồi im lặng khá lâu, bập bập điếu thuốc trên môi. Tôi thấy ông hết nhìn Quỳnh lại nhìn Tuấn. Khi Quỳnh nói xong, mắt ông ngó xuống mặt bàn, những ngón tay ông gõ nhịp đều đặn trên thành gỗ. Tôi có dịp nhìn kỹ ông. Một mái tóc gần như đã bạc trắng. Một khuôn mặt nhô xương. Hai con mắt vẫn còn sáng. Một vết sẹo lớn trên trán kéo xuống tận mắt trái chẻ ngang đường chân mày.</p>
<p>“Về trường hợp của chú,” ông Mười Tân ngừng lại một lúc, “Anh muốn nói ba của mấy đứa, việc học tập cải tạo là rất cần thiết. Ðồng chí bí thư Tỉnh Ủy Phú Khánh là bạn của anh, nhưng anh không muốn can thiệp vụ này. Muốn làm việc lớn người ta phải biết đặt tình cảm cá nhân qua một bên. Vả lại đối với cách mạng chú còn nhiều lợn cợn cần phải làm cho sạch. Chánh sách nhà nước là luôn luôn khoan hồng đối với những ai biết nhận ra lẽ phải&#8230;” Tiếng nói ông Mười Tân dịu mà mạnh. Tôi thấy rõ mắt ông tiếp tục chiếu thẳng về phía Quỳnh.</p>
<p>“Vậy theo anh Mười thì điều anh Tuấn nói là đúng hay sao? Buôn bán là một tội lỗi à? Cả cái thế giới này đều là tội lỗi hết trơn hết trọi sao? Còn mấy người trong sạch sống với ai?” Quỳnh nói trong tiếng khóc. Tôi nghe tiếng cô gọi rất nhỏ. Ðầu Quỳnh tựa lên vai tôi.</p>
<p>“Tất nhiên buôn bán không phải là cái tội. Nhưng vấn đề là buôn bán như thế nào, buôn bán cái gì, ai buôn bán, buôn bán với ai, thì mới có thể nói là có tội hay không có tội. Dù sao tư sản đã là có tội. Nhưng thôi&#8230;” Ông Mười Tân ngập ngừng, “Chẳng lẽ anh phải nói là chính các em cũng nên đi học tập cho thông suốt đường lối chính sách của nhà nước.”</p>
<p>“Em đã vào sinh hoạt trong Hội Trí Thức Yêu Nước. Em tin là em hiểu rõ đường lối chính sách của đảng và nhà nước.” Tuấn nói chen vào giọng kể lể, “Còn mày, Thăng, tại sao tao không thấy mày xuống hội sinh hoạt với anh em?”</p>
<p>“Tôi à?” Tôi cố nhướng to mắt nhìn xem Tuấn nói với một vẻ mặt như thế nào, nhưng bóng tối đã cho hắn chiếc mặt nạ quá tốt. “Bộ anh nghĩ tôi xứng đáng là một người trí thức sao?”</p>
<p>“Ðây không phải là lúc để cãi nhau.” Ông Mười Tân ngừng gõ tay lên mặt bàn, lấy điếu thuốc ra khỏi môi.<br />
“Anh nghĩ là Tuấn chưa biết gì về chính sách đảng và nhà nước ta đâu. Chính mấy ông chủ tịch và phó chủ tịch của hội cũng cần phải sinh hoạt nhiều mới nắm được đường lối chính sách của đảng ta. Nhưng thôi&#8230;,” đột nhiên ông Mười Tân đổi giọng, “Hôm nay anh đến đây cốt để thăm Quỳnh, để xem mấy đứa bây sinh sống ra sao. Anh mừng vì thấy Quỳnh không dính líu gì với chế độ ngụy, không phản động, không có nợ máu với nhân dân&#8230;”</p>
<p>Ngừng một đỗi lâu, Mười Tân tiếp, “nhưng trường hợp Thăng tôi muốn nói một điều&#8230;” ông đổi giọng, bất ngờ xưng là tôi, tôi nhận rõ điều đó, “đời sống của Thăng là không tốt. Tôi biết rõ tên Lý, cha vợ trước của Thăng là một tay tư sản mại bản có cỡ. Tôi cũng có trong tay báo cáo đầy đủ về những liên hệ gia đình tên Phan, một trong mấy tay phản động gộc của ngụy quyền. Tôi không nghi ngờ hành vi của Thăng. Một người như cậu Thăng đây không làm được cái tích sự gì ngoài cái thẩm mỹ học của cậu đâu&#8230;”</p>
<p>Tôi không hiểu ông Mười Tân ám chỉ điều gì khi nói đến chữ thẩm mỹ học, “Tuấn có nói với tôi về đám bạn bè văn nghệ của Thăng. Thật tình, tôi không hiểu tại sao Thăng đi dạy học mà chỉ chơi với đám văn nghệ là thế nào? Toàn một bọn phản động đồi trụy. Dù sao tôi muốn nói với Thăng một điều: xã hội mới này không dung nạp cách sống phóng đãng đó đâu. Cải tạo lại nếp sống cũ là điều rất tốt!” Ông Mười Tân bất ngờ đứng dậy ngay khi vừa dứt câu, “Có lẽ tôi phải đi. Tôi có một buổi nói chuyện ở Thành đoàn.”</p>
<p>Tuấn cũng đứng dậy đi theo ông Mười Tân. Tôi thấy Tuấn mặc sơ mi trắng bỏ ngoài quần, cái “mốt” khá thịnh hành sau ngày Ba Mươi Tháng Tư. Tôi nhắm mắt cũng biết thêm là Tuấn đi dép râu.</p>
<p>“Tao phải theo anh Mười.” Tuấn nói tự nhiên.</p>
<p>“Anh không cần nói tôi cũng biết mà!” Quỳnh mỉa mai. Cô đứng dậy kéo tay tôi, tiễn ông Mười Tân ra cửa.</p>
<p>Cả khu Mã Lạng vẫn còn chìm trong đêm Saigon thiếu điện.</p>
<p>Khi đặt chân xuống con hẻm, ông Mười Tân quay lại phía chúng tôi.</p>
<p>“Rất tiếc! Rất tiếc!”</p>
<p>Và ông quày quả bỏ đi. Tuất lọt tọt theo sau. Ngay lúc đó, tôi thấy có hai bóng đen ở cuối ngõ hẻm đi nhanh tới, một người lách ra trước ông Mười Tân, và một người đi sau lưng ông. Như một yếu nhân của một chế độ, Mười Tân được bảo vệ quá cẩn mật. Và bỗng nhiên chữ “rất tiếc!” của Mười Tân vọng lại làm tôi nổi da gà. Tôi mơ hồ hiểu những gì sẽ chờ đợi tôi.</p>
<p>“Thôi mình vào đi em!” Tôi ôm vai Quỳnh.</p>
<p>Tóc Quỳnh đã dài, khá dài. Tôi nghe mùi bồ kết tỏa ra từ mái tóc quen thuộc của người đàn bà đã chia sẻ cùng tôi da thịt. Hai tay Quỳnh vòng qua lưng tôi. Chúng tôi ôm lấy nhau quấn quít như ngày mới quen nhau. Tôi nghe tiếng âm nhạc bay trong gió. Có lẽ rạp Quốc Thanh đã có điện riêng và vở diễn lại tiếp tục. Chúng tôi hôn nhau dưới một bầu trời đêm của Saigon đổi đời. Nhìn sâu vào mắt Quỳnh tôi như thấy lại tất cả cái khu phố nghèo nàn này. Bên tay trái tôi, sâu trong hẻm Mã Lạng này, trước kia chui rúc một số con người nghèo khổ, lợp nhà trên những nấm mồ vô chủ, giờ đây những con người còn cùng cực hơn chen chúc nhau trong những căn nhà che bằng những tấm tôn lỗ chỗ những đầu đinh tựa lên những tấm ván ép nát, cất tạm bợ trên những mồ mả không người thừa nhận. Mấy đứa bé con anh chị Sáu sửa xe đạp đầu hẻm, bụng ỏng ở trần chạy dưới mưa, lội bì bõm trong nước đục bẩn thỉu, thứ nước vọt lên từ những ống cống thành phố.</p>
<p>Chị Tư bán xôi, trốn từ vùng kinh tế mới về, không “hộ khẩu,” sống bất hợp pháp trong một túp lều lưu động. Bảy Thẹo, du đãng chợ Cầu Muối, được thả ra sau ngày Saigon thất thủ, cũng đang chiếm một chỗ trong nghĩa địa của những người sống.</p>
<p>Ðầu hẻm là nhà một ông tên Tòng, sau Ba Mươi Tháng Tư, y sống bằng nghề bán tivi, radio, cát-sét đủ loại. Người ta nói trước Bảy Lăm, y tốt nghiệp đại học khoa học Sài Gòn nhưng sống bằng nghề thi tú tài mướn. Mặc dù chỉ nhận tiền khi nào đương sự có tên trên bảng những thí sinh trúng tuyển, y cũng có một đời sống khá giả. Bây giờ y sống bằng nghề bán chợ trời. Y quen lớn nhiều cán bộ, từ cấp phường đến cấp quận, cấp thành. Y chả có bà con nào làm cách mạng, nhưng y biết cách mua những người cán bộ nào y cần mua, tất nhiên là có giới hạn thôi. Y nói muốn mua cán bộ nào “tôi chỉ cần đến nhà gắn cho hắn một cái tivi hay một máy cát xét bốn loa là xong.” Tòng sống có phần thoải mái hơn xưa và hơn hẳn nhiều người.</p>
<p>Bên cạnh nhà tôi là gia đình chị Tuyết, giáo sư trường Trưng Vương. Anh Bằng chồng chị là giáo sư Ðại Học Khoa Học đi tu nghiệp bên Pháp trước 75 hiện đang làm giấy tờ bảo lãnh cho chị và hai cháu đoàn tụ, chéo nhà tôi là bác Kỳ, công chức Bưu Ðiện hồi hưu, bác Kỳ là người Hà Nội, vào Nam làm việc đâu từ những năm Bốn Lăm, gặp bác gái ở Mỹ Tho. Hai người có hai cậu con trai nói tiếng “Nam rặt,” không pha chút giọng Bắc nào.</p>
<p>Ngay đối diện nhà tôi là gia đình bác Tốt, nhân viên ngân hàng. Tên y như người. Bác Tốt không làm mích lòng bất cứ một ai trong cái xóm nhỏ bé này. Bên cạnh nhà bác Tốt là gia đình ông bà Ngô, chạy từ miền Trung vào. Cũng như bác Kỳ, ông bà Ngô có hai cậu con trai. Cả hai đều học trường Pháp. Ðó là những thanh niên có chí và thuần hậu như cha mẹ. Quỳnh và tôi yêu nhất ông bà Ngô. Chúng tôi thương yêu hai ông bà như cha mẹ. Chúng tôi coi hai cậu trai như hai đứa em ruột mình. Và chúng tôi được che chở đùm bọc như thể mình là những đứa con được nuông chiều, nhưng vì đã lớn, được dựng vợ gả chồng nên phải ra riêng.</p>
<p>Ðó là cái thế giới của Quỳnh từ khi cô về sống với tôi trong cái xóm nghèo nàn ổ chuột ngay giữa thành phố đầy những sự giàu có này. “Em thương cái xóm Mã Lạng này quá!” Nhiều lần Quỳnh nói với tôi khi chúng tôi dự tính dọn đi một nơi khác. Bởi vì mùa mưa Saigon luôn luôn là một cực hình của chúng tôi. Ðang nửa đêm mà Saigon giáng một trận mưa thật to điều đó có nghĩa là cả khu xóm chúng tôi sẽ phải đồng loạt thức dậy, mở toang cửa ra, bước xuống giường và tát nước. Hôm nào đi xi nê, quên bỏ giầy dép lên kệ, mà gặp trận mưa to, coi như bữa đó nhà cửa lềnh bềnh những đồ vật giữa một biển nước. Nhưng mà Quỳnh yêu cái xóm ấy. Tôi cũng vậy. Tôi yêu vô cùng cái khu phố nghèo khốn này. Căn phòng sang trọng trong nhà ông Phan làm sao bằng được căn nhà chung vách chung mái này khi chúng tôi có nhau.</p>
<p>Tôi ôm Quỳnh. Thân thể của một người đàn bà, sau khi sanh nở đứa con đầu lòng, tròn hẳn ra. Quỳnh rúc đầu và ngực tôi:</p>
<p>“Em lo cho anh quá!”</p>
<p>“Ðừng lo! Anh sẽ không làm sao đâu!”</p>
<p>“Em sợ những ngày sắp tới của anh!”</p>
<p>“Bao nhiêu bạn bè của anh, trừ một số đồng nghiệp, còn tất cả đều đã phải đi cải tạo hết. Anh được tự do không bị tù tội như thế này em còn lo sợ gì chớ.” Tôi an ủi Quỳnh.</p>
<p>“Em sợ, dù em không hiểu mình sợ cái gì. Em không biết chính trị, không ưa chính trị, nhưng em biết anh và em, chúng ta không thích hợp với đời sống này, với cái xã hội mới này.”</p>
<p>Quỳnh nhắc lại chuyện tối qua, khi cả xóm bị khích động bởi tiếng kêu la giữa khuya của căn nhà đâu lưng bên kia hẻm. Một phụ nữ và một thanh niên bị trói thúc ké dẫn về đồn công an. Cả hai không một mảnh vải che thân.</p>
<p>Người ta nói công an đã xông vào nhà bắt khi hai người này đang làm tình, vì họ không phải là vợ chồng. Chế độ mới nhân danh đạo đức, bài trừ tệ đoan xã hội, nhưng người ta nói chính tên công an áo vàng theo tán tỉnh người phụ nữ kia không được, nên quyết tâm theo dõi tìm cách trả thù người đàn bà này.</p>
<p>Quỳnh nhắc lại chuyện tuần trước khi tôi chở hai mẹ con đi bác sĩ bị một tên công an bắt ngừng xe lại trình giấy tờ chỉ vì tôi là người đeo kính. Trình giấy tờ xong vẫn bị “lên án” vì sao dám đeo kính trong khi nói chuyện với người nhà nước. Chờ cho hắn ngưng nạt nộ, Quỳnh hỏi tại sao xét giấy chúng tôi, tên công an trả lời giản dị: “Bởi vì anh chị có vẻ ngụy quá!”</p>
<p>“Ngụy quá!” Ðó là lý do đủ để chận xe một gia đình có con ốm phải chạy nhanh đến bệnh viện!</p>
<p>Tôi nghe hơi thở rất nhẹ của Quỳnh. Mùi bồ kết trên tóc Quỳnh tỏa ra thanh khiết. Tôi nhớ mẹ tôi. Mùi bồ kết thơm giản dị như cuộc sống của bà, cuộc sống của một phụ nữ ít học nhưng trong sạch như bầu trời không một gợn mây. Trong lúc này, lòng tôi cảm thấy cần bà biết là chừng nào. Tôi nhìn lên bầu trời đêm không một ánh sao. Ðêm Saigon im lặng đầy bóng tối. Tôi ước gì trời mưa một trận lớn thật lớn để được nghe tiếng gọi nhau của cả xóm ra tát nước.</p>
<p>Tôi không nhìn thấy chút ánh sáng nào trong cuộc sống của chúng tôi vào những ngày sắp tới.</p>
<p><strong>Chương Bảy</strong></p>
<p>“Cậu Thăng! Cậu còn nhớ em không?”</p>
<p>Cô gái đứng trước mặt tôi đặt cái bọc lớn xuống thềm nhà, lột chiếc khăn rằn quàng cổ cầm tay.</p>
<p>“Tám phải không? Em đi đâu mà biệt tăm biệt tích vậy?”</p>
<p>Tôi nhận ra ngay cô gái ở Cái Sắn từng giúp việc nhà cho chúng tôi gần một năm trời từ khi Quỳnh về sống chung với tôi ở khu Mã Lạng này. Tôi không nhớ ai đã giới thiệu Tám cho Quỳnh, chỉ biết một hôm ở sở về, tôi thấy một cô gái nhỏ nhắn, sạch sẽ đang dọn cơm.</p>
<p>“Anh, em mới mượn được Tám đến phụ em.” Quỳnh giới thiệu.</p>
<p>“Chào cậu.” Cô gái nhỏ thó mặt tròn bầu, hai con mắt sáng, lễ phép.</p>
<p>“Chào Tám.” Tôi chào và có phần ngạc nhiên vì trước đó không hề nghe Quỳnh có ý mượn người giúp. Vả lại, nhà nhỏ như một ngón tay út thế này thì còn chỗ đâu cho một người nữa.</p>
<p>“Tám ở dưới Cái Sắn. Bà Sáu xóm trong thấy em nặng nhọc nên tìm giùm em. Dì Út của Tám là bạn của bà Sáu.”</p>
<p>Quỳnh tóm tắt mấy nét về lai lịch của cô gái nhỏ này. Tôi không hiểu gì mấy ngoài bà Sáu có bà bạn là bà Út, dì của một cô bé tên là Tám.</p>
<p>Ðối với tôi, Tám là một người giúp việc sạch sẽ gọn gàng, ngăn nắp. Tôi coi Tám như một đứa em trong nhà. Bởi vì công việc không có chi nhiều ngoài việc giặt giũ, nấu nướng và sắp xếp cho khỏi luộm thuộm trong một căn nhà nhỏ, quá nhỏ, của hai người vừa mới lấy nhau, nên Tám có nhiều thì giờ rảnh rỗi. Thỉnh thoảng tôi thấy Tám đọc sách, những cuốn mà đám bạn tôi ký tặng mỗi khi in xong. Nhiều lần tôi hỏi Tám có muốn đi học lớp đêm không, cô gái từ chối.</p>
<p>Suốt trong thời gian đó, tháng nào Tám cũng nhờ tôi hoặc Quỳnh mua giùm thuốc tây nhiều loại, đặc biệt là trụ sinh, nói là gửi về dưới quê vì có người nhà bị bệnh cần. Tôi còn nhớ đâu vào khoảng gần Tết ta, đầu năm Bảy Lăm, Tám nhờ Quỳnh mua một số lượng thuốc trụ sinh khá lớn, nói là nhân dịp về quê ăn Tết mang một lần cho bõ công. Sau đó không bao giờ Tám quay lại. Chúng tôi không biết tin tức gì, mà hỏi bà Sáu thì bà cũng mù tịt nói không biết đâu mà lần.</p>
<p>“Cậu, cô có khỏe không?”</p>
<p>“Vào đây Tám. Cô có em bé rồi!” Tôi mở rộng cánh cửa cho Tám vào.</p>
<p>“Em mang gạo lên cho cô và cậu.” Tám ngăn khi tôi cúi xuống kéo cái bọc. “Ðừng, cậu để em.”</p>
<p>“Trời ơi! Tám đó hả?”</p>
<p>“Cô Quỳnh!”</p>
<p>Hai người phụ nữ ôm chầm lấy nhau.<br />
“Cô có khỏe không? Em bé tên gì vậy cô? Em dễ thương quá!” Tám ẵm bé lên, áp má mình vào má bé.<br />
“Trời ơi, nó giống cô cách gì!”<br />
“Tám lên đây hồi nào?” Quỳnh hỏi.<br />
“Em vừa mới lên. Em cứ sợ cô cậu đã đi mất tiêu rồi. Em mừng thấy cô cậu vẫn còn ở đây.”<br />
“Vậy chớ Tám tưởng là tụi này đi đâu?” Tôi làm bộ hỏi.<br />
“Em tưởng cô cậu đã đi Mỹ. Trên này nhiều người đi Mỹ lắm mà!”<br />
“Ừ, thì cũng có người đi, cũng có người không.” Bỗng nhiên tôi khựng lại. Tôi cảm thấy có gì khác lạ nơi cô gái nhỏ nhắn này.<br />
Sau ngày Sài Gòn thất thủ, nhiều gia đình không còn người giúp việc. Bà tổ trưởng dân phố trong một buổi họp nói rằng chế độ này không chấp nhận cảnh “người bóc lột người,” “không có chủ và tớ,” không còn “chủ nhân và nô lệ,” muốn ăn thì phải lăn vô bếp, không ai được phép ngồi một chỗ chỉ tay năm ngón sai khiến người khác. Bà tổ trưởng nhà ở đầu xóm, cũng là dân Sài Gòn, trước đây làm nghề móng tay.<br />
“Tám ở trên này chơi với em bé mấy bữa được không?” Quỳnh hỏi.<br />
“Dạ!” Cô gái ngập ngừng, “em cũng muốn lắm, nhưng bà chị em làm việc ở dưới quận Năm bắt em phải về với chỉ.” Tám nói nhỏ nhẹ.<br />
“Bà chị của Tám làm việc gì ở quận Năm?” Quỳnh hỏi lại giọng ngạc nhiên.<br />
“Chị Hai em làm chủ tịch quận. Với lại em cũng không ở trên này lâu được. Em có việc ở dưới quê. Nghỉ lâu lúc này không được. Em sợ bị kiểm điểm lắm!”<br />
“Như vậy Tám cũng là cán bộ?” Tôi biết mình hỏi một câu hỏi thừa.<br />
“Dạ&#8230; Em&#8230; đem gạo lên cho cô cậu. Gạo ngon lúc này hiếm. Chắc lâu lâu khi nào có dịp em sẽ lên thăm em bé.” Tám nói lảng sang chuyện khác. “Mà cậu vẫn đi dạy phải không?”<br />
“Không. Tôi đã nghỉ dạy lâu rồi.”<br />
“Vậy cậu có tính làm gì không?”<br />
“Chưa. Bây giờ thì chưa, nhưng có lẽ đầu tháng này tôi sẽ đi Sóc Trăng. Tôi sẽ làm việc ở một công trường dưới đó.”<br />
“Còn cô? Cô mà đi làm nữa thì ai coi em bé?”<br />
“Tôi chưa tính được. Nhưng có lẽ cũng phải kiếm việc chi làm, chớ ở không thế này cũng đâu có được.” Quỳnh nói.<br />
Tám đặt bé xuống nôi, lấy gạo trong bao ra trút vào khạp.<br />
“Trời ơi, khạp không còn một hột gạo. Cô chưa mua gạo lấy gì nấu cơm?” Tám ngạc nhiên kêu lên.<br />
“Thì tôi cũng định đi chợ sáng nay đó chớ. Từ hồi cậu nghỉ dạy đâu còn mua được nhu yếu phẩm của cơ quan nữa.”<br />
“Em thấy cô có vẻ mệt. Ðể em nấu cơm cho cô một bữa. Chiều em xuống chị Hai cũng được.” Tám nói nhanh nhẹn.<br />
Tám làm cơm giỏi, chỉ một loáng là đâu ra đó. Tôi biết bữa ăn đạm bạc đâu có gì phải nấu nướng lâu lắc chi, nhưng dù sao “con bé này giỏi thật,” tôi nghĩ vậy.<br />
Trong suốt bữa ăn, Tám ngồi xới cơm và kể chuyện dưới quê. Hồi còn giúp việc nhà cho Quỳnh, Tám vẫn ăn cơm cùng lượt với chúng tôi, chớ không mâm trước mâm sau gì cả.<br />
“Em làm cán bộ mà tới chức gì lận?” Quỳnh ngừng đũa hỏi Tám.<br />
“Ối, không có gì đâu cô,” Tám có vẻ mắc cỡ “thì mấy chú, mấy bác, mấy ảnh biểu sao em làm vậy mà. Em có biết ất giáp gì đâu.”</p>
<p>Tôi cố tin là Tám nói thật. Cô bé chưa kịp lớn để có một suy nghĩ độc lập, tất cả những gì Tám làm là cho “mấy ảnh, mấy chú, mấy bác” sắp đặt.<br />
“Chừng nào cậu đi Sóc Trăng?” Tám vừa xới cơm cho Quỳnh vừa hỏi.<br />
“Chưa biết, có thể đầu tháng tới.”<br />
“Mà cậu sẽ làm cái gì ở dưới đó?”<br />
“Tôi lái xe ủi đất ở công trường An Biên.”<br />
“Cậu mà lái xe ủi đất?” Tám hỏi giọng ngạc nhiên.<br />
“Ừ, lái xe ủi đất thì đâu có gì khó.”<br />
“Nhưng mà&#8230; sao cậu không tìm cái việc gì khác trên này mà làm, thiếu giống gì việc làm, sao lại đi lái xe ủi đất?”<br />
“Thôi đừng bàn chuyện đó nữa.” Quỳnh cắt ngang “Tám nhất định không chịu ở chơi vài bữa phải không?”<br />
“Không được đâu cô! À, mà có tiếng ai gõ cửa kìa cô!” Tám đứng dậy bước ra phòng khách. Tôi cũng có nghe tiếng động như có ai bước hẳn vào trong nhà.<br />
“Xin lỗi ông hỏi ai?”<br />
“Tôi muốn biết đây có phải nhà ông Thăng không?” Giọng một người đàn ông.<br />
“Dạ phải. Xin mời ông ngồi.”<br />
Tám quay vào bàn ăn. Không cần hỏi khách là ai, gặp tôi có chuyện gì. Tám nói.<br />
“Cậu có khách, cậu à?”<br />
“Ai vậy?” Quỳnh hỏi.<br />
“Em không rõ.”<br />
Tôi đặt bát cơm xuống, đứng dậy, bước ra. Tự nhiên cảm thấy có một cái gì nôn nao khác lạ.<br />
“Chào ông!” Tôi nói với người khách lạ.<br />
“Ông là ông Thăng?” Khách hỏi.<br />
“Dạ phải, tôi là Thăng!” Tôi nhìn khách.<br />
Ðó là một người đàn ông gầy ốm, khuôn mặt nhô xương, quần áo đúng là của bộ đội, màu vàng do bị nắng và mưa làm phai nhạt đi, mép áo đã sờn. Ông cầm chiếc nón cối trên tay, xoay qua xoay lại. Cả quần lẫn áo đều nhăn nhúm. Ðôi dép ông mang làm bằng một thứ nhựa trong màu vàng đục.<br />
“Tôi tên là Phú.” Khách tự giới thiệu.<br />
“Chào ông Phú.” Tôi nhắc lời chào thêm một lần nữa và vẫn chưa hiểu khách là ai. “Xin mời ông ngồi.”<br />
Tám tự động mang bình trà và rót hai ly để trên bàn. Khách đã yên chỗ.<br />
“Tôi chờ đợi.”<br />
“Tôi là bạn của anh Thúc.” Khách nói.<br />
Thúc là anh tôi.<br />
Năm Bảy Hai, anh Thúc tôi đóng lon thiếu tá Thủy Quân Lục Chiến. Anh bị thương nặng trong một trận đụng độ với Việt Cộng ở Ðông Hà. Ở Tổng Y Viện Cộng Hòa ra, anh được lệnh giải ngũ. Anh Thúc ngồi xe lăn, không nói được, muốn trò chuyện với ai phải ra dấu hoặc viết xuống mặt giấy, mà phải viết bằng tay trái, chữ lăn quăn rất khó đọc. Bạn bè đồng đội anh khá đông. Nhiều người đến thăm anh.<br />
Phần lớn tìm cách giúp chị và các cháu. Sau Bảy Lăm, con trai lớn anh đóng lon đại úy, bị bắt đi học tập cải tạo. Thằng kế đóng lon trung úy, cũng bị đưa đi trại tập trung. Anh liệt giường, thuốc men lúc có lúc không. Ðôi khi có thuốc thì không đủ tiền mà mua.<br />
Khi chạy vạy được tiền thì thuốc không có. Chị Thúc vừa nuôi chồng, vừa bới xách quà thăm nuôi hai đứa con trai ở hai trại cách xa nhau hàng mấy trăm cây số. Chị đầu tắt mặt tối, tất tả ngược xuôi như một bà già, mặc dù tuổi tác chị chưa đến nỗi nào như vậy. Tháng trước chị biên thư cho tôi nói bệnh tình anh Thúc bây giờ hết thuốc chữa. Anh đau đớn lắm. Cả nửa thân người tê liệt, trăn trở không được, da thịt bị tấy lên, hôi thối. Cả nhà thương anh và khổ vì anh. Anh nói anh chỉ muốn chết cho xong, không phải phiền lụy ai. Tôi có bàn với Quỳnh có lẽ mình phải về quê một chuyến thăm anh chị Thúc.<br />
“Anh là bạn anh Thúc?” Tôi hỏi lại.<br />
“Vâng, tôi là bạn học của anh Thúc từ hồi nhỏ kia. Tôi tập kết ra Bắc Năm Năm Tư&#8230;” Khách nói, mắt chiếu thẳng vào mắt tôi. “Hơn hai mươi năm tôi mới gặp lại anh ấy. Tôi vừa đi thăm anh Thúc trên đường vào Sài Gòn. Chị Thúc nhờ tôi đến gặp chú.” Khách đổi cách xưng hô, “cho chú hay là cô chú cố gắng thu xếp về thăm anh Thúc một lần cuối.” Khách ngập ngừng, “có lẽ anh Thúc không qua khỏi.”</p>
<p>Tôi ngồi nghe, lặng người. Tôi biết tình trạng sức khỏe của anh tôi kéo dài từ Bảy Hai đến nay đã là những ngày nằm chờ chết. Có lẽ anh đã chết từ những ngày Sài Gòn vừa mất, khi các con anh bị bắt đi học tập cải tạo, và cả chính anh cũng bị chính quyền mới cho người đến tận nhà điều tra xem bệnh thật hay giả, có đủ sức đi học tập cải tạo không.<br />
“Tôi nói vầy sợ không phải, nhưng chú nên hiểu, anh Thúc thế là may. Nếu anh ấy không bị bán thân bất toại, nằm chờ chết trong nhà bên cạnh vợ con, thì có lẽ anh ấy cũng nằm chờ chết trong một trại cải tạo nào đó ngoài Bắc.”<br />
Tôi nhìn khách, không rõ lắm ý anh ta. Anh nói như vậy là đứng từ góc độ nào ngó về cái sống và cái chết của anh Thúc. Bệnh tình như chỉ mành treo chuông, không biết đứt lúc nào mà vẫn còn may(?)Hóa ra có những cái còn tồi tệ hơn cái chết sao.<br />
“Tại sao chú không đi?” Khách đột ngột hỏi. Và đó là lần thứ hai trong ngày tôi nghe câu hỏi này.<br />
Tôi chưa biết trả lời sao. Tôi chưa hề quen người khách lạ này, mặc dù tôi biết rõ chắc chắn một trăm phần trăm khách là cán bộ. Chiếc nón cối đã cũ, vải bị tưa ra ở mép, bộ quần áo vàng bạc màu, đôi dép nhựa trong, khách đã có sẵn nơi anh ta tấm lá chắn mà người Sài Gòn phải dội lại khi trò chuyện.<br />
“Tôi có người em tên Quý, nó mang cấp bậc đại úy Hải quân, đã đi được rồi. Cũng may, nếu nó còn kẹt lại, coi như vô phương cứu chữa.”<br />
Tôi có hiểu ý nghĩa thật lời nói của người khách. Tôi bưng ly trà lên uống một ngụm. Khách cũng bưng ly nước lên môi. Và tôi nhìn kỹ ông ta một lần nữa. Ông khá gầy, người nhỏ thó, xương hàm bạnh ra, hai gò má hóp. Tôi thấy ông ngó chăm về phía trái tôi, phía có một kệ sách. Sau vụ gọi là tịch thu “văn hóa phẩm phản động và đồi trụy” của chế độ cũ, tôi còn giữ lại được một số sách, loại khảo cứu. Thật ra lúc đến xét nhà, những người Ba Mươi Tháng Tư đồng loạt tịch thu hết, bất cứ ấn loát phẩm nào do Sài Gòn in lẫn sách của Tây phương, nhưng do trong nhóm này có một học sinh cũ của tôi, tôi được cho lại một số. Những cuốn sách này tôi vừa muốn giữ lại vì tiếc nuối, vừa muốn thải đi vì thân mình còn không giữ được nói gì những cuốn sách.<br />
“Chú có nhiều sách quý quá!”<br />
Khách vừa nói vừa đứng dậy bước gần kệ, mắt dán sát vào các gáy sách. Ngón tay rà lên từng đề tựa, thỉnh thoảng dừng lại ở một cuốn. Bất thình lình, khách rút ra một quyển, lật từng trang, ngó chăm chú vào một tấm ảnh rồi xếp sách lại, đặt vào chỗ cũ.<br />
“Anh có thích những cuốn này không?” Tôi hỏi.<br />
“Có nhiều cuốn tôi thích lắm. Quyển tự điển những nhà văn Pháp viết bằng tiếng Pháp, đây là quyển tôi rất cần.”<br />
“Nếu anh muốn xin anh cứ tự nhiên.” Tôi nói<br />
“Chú cho tôi mượn được chừng bao lâu?”<br />
“Anh cứ lấy và giữ luôn cũng được.” Tôi nói dửng dưng.<br />
“Cảm ơn chú Thăng! Cảm ơn chú Thăng! Trời ơi, tôi định đi chợ trời kiếm mấy cuốn này đấy. Xin cảm ơn chú!”<br />
Phòng khách tôi vốn đã quá nhỏ, cái kệ sách choán hết chỗ, có lẽ dọn quách đi trống chừng nào đỡ chừng đó, để còn có chỗ cho con bò quanh quẩn.<br />
Có tiếng đứa bé khóc. Tôi nghe tiếng Quỳnh lắc lắc chiếc nôi. Tôi sực nhớ bữa cơm ăn dở chừng. Tôi nói với khách.<br />
“Gặp bữa, xin mời anh dùng cơm với tụi này.”<br />
“Cảm ơn chú. Tôi cũng đang đói quá. Ði bộ từ ga xe lửa tới đây. Tôi chưa kịp ăn gì.” Khách tự nhiên.</p>
<p>Tôi xấu hổ vì quên mời khách. Tôi đứng dậy, khách đứng lên theo.<br />
“Em, đây là anh Phú, bạn của anh Hai. Và đây là Quỳnh nhà tôi.” Tôi giới thiệu khách.<br />
“Chào cô! Cô chú có căn nhà xinh xắn quá!”<br />
“Không dám. Xin chào anh.” Quỳnh ngẩng đầu lên, tay vẫn không ngừng lắc lắc chiếc nôi cho thằng bé ngủ.<br />
Khách ngồi xuống ghế.<br />
Tám dọn bàn ăn, đặt bát đũa mới cho chúng tôi.<br />
“Hình như cô Quỳnh có ông anh là đồng chí Mười Tân?” Khách hỏi, mắt hướng về phía Quỳnh.<br />
“Dạ phải. Anh Mười Tân là con của ông bác tôi.” Quỳnh trả lời bình thường, không hăng hái lắm.<br />
“Ðồng chí Mười Tân là người trong mặt trận, một cán bộ lãnh đạo cao cấp lắm, cô chú có biết không?”<br />
“Không. Tụi em đâu biết gì. Hôm trước ảnh có ghé thăm, nhưng không nghe ảnh nói gì.” Quỳnh nói.<br />
“Ở ngoài Hà Nội, chúng tôi thỉnh thoảng có đọc bài của đồng chí Mười Tân. Theo tôi, đồng chí ấy là một người rất sâu sắc và rất cực đoan” khách ngừng một lúc, ngó tôi rồi tiếp “đồng chí Mười Tân là một người không biết đi lui&#8230;”<br />
Cả Quỳnh và tôi bỗng rụt lại, im lặng chờ nghe khách nói.<br />
“Trung ương không đánh giá cao đồng chí Mười Tân. Tính cực đoan quá khích của đồng chí ấy khiến nhiều khi cánh cửa của Ủy Ban Trung Ương vừa mới mở ra định cho đồng chí ấy vào, đã phải đóng lại.”<br />
“Tôi không hiểu gì hết.” Tôi nói, tay cầm đũa lên mời khách.<br />
“Rồi cô chú sẽ hiểu thôi. Liên hệ ruột thịt với đồng chí Mười Tân có thể là cái may, cũng có thể là cái rủi, dù cô chú sống ở đâu.” Khách tiếp, “Mời chú!” Khách cầm đũa lên.<br />
Khách ăn tự nhiên, ăn nhiều, món nào khách cũng khen ngon.<br />
“Chú tính bao giờ thì về quê thăm anh Thúc?” Khách ngừng đũa.<br />
“Tình hình này chắc tôi phải đi ngay. Quỳnh có cháu bé chắc đi xe lửa không tiện. Tôi sẽ đi một mình.”<br />
“Có lẽ em cũng phải đi, mang con theo. Nếu chẳng may anh Thúc qua đời, em sợ bị gia đình anh trách.” Quỳnh quay lại nói.<br />
“Theo tôi cô chú nên đi về một chuyến. Nha Trang là thành phố có biển. Cũng tiện đôi ba bề.” Khách nhắc nhở một câu mà tôi cho là đầy ẩn ý.<br />
Tôi cầm đũa tiếp khách, nhưng không cách nào nuốt nổi chén cơm. Chỉ trong một ngày tôi tiếp hai người. Một cô bé nằm vùng, cứ cho là như vậy đi, và một ông cán bộ tập kết. Người nào cũng hỏi một câu tại sao không đi, tại sao chưa đi. Ði hay ở? Ở lại trong sự ngột ngạt. Ra đi trong sự mơ hồ. Ở khắp nơi người ta gạt gẫm nhau. Toàn là những người quen hoặc có quen biết chút ít gạt mình chứ đâu có ai xa lạ. Màu áo vàng của người công an khu phố luôn luôn là một ám ảnh tôi. Tiếng gõ cửa ban đêm làm vỡ toang lồng ngực. Những giọt nước mắt của Kiệt báo tin cho tôi biết là ba cậu đã tự tử vẫn còn đọng lại trong trí nhớ của tôi. Ði đâu khi mà đứa bé chưa đầy tuổi tôi, thuốc men thiếu thốn. Biển cả mênh mông, ghe thuyền như hạt cát, công an đầy dẫy như ruồi muỗi. Hôm qua, tôi nhớ, gặp Tâm &#8211; Khô Khốc Thiền Sư &#8211; ở quán nước bên chái nhà bà Luật Sư Ðại, thấy bạn gầy càng gầy hơn. Hai con mắt sâu hoắm, yết hầu lộ ra, những ngón tay vàng khói thuốc, nhìn tôi như nhìn vào khoảng không. Hai đứa uống với nhau ly nước trà để giữ lại, không, đúng hơn là để đánh tan cái “hậu” của cà phê đã bắt đầu pha trộn cơm rang và nước vỏ măng cụt. Ðắng nghét như cuộc sống trước mặt. Nhật đã bị bắt đi mất tích. Ðình và Phùng phải xuống hội Văn nghệ học tập, một hình thức cải tạo tại chỗ. định thủy quân lục chiến, sau ngày bị chế độ mới tống ra khỏi Tổng Y Viện Cộng hòa với vết thương ở chân chưa điều trị xong đã phải chống gậy đi tập trung cải tạo. Xung quanh tôi là một bầu không khí đầy những “hơi gió” nghi ngờ. Mặt nạ! Mặt nạ! Mặt nạ!<br />
“Tại sao không đi?”</p>
<p>Trước những câu hỏi loại đó giữa một bầu không khí ngờ vực, người ta thường phải trả lời, “đi chi, đi đâu, đất nước đã hòa bình thống nhất, ở lại xây dựng tổ quốc chớ,” hoặc “tôi xuống tàu rồi mà trở lên vì thấy dầu sao quê nhà vẫn hơn&#8230;” vân vân và vân vân.</p>
<p>Và trong lòng thì trời ơi, tôi muốn đi biết là chừng nào, nhưng không tìm ra lối. Những nơi đi được thì đã nghẹt người, đành quay lại. Tôi đã chờ trước tòa Ðại Sứ Mỹ suốt một ngày trời. Tôi đã leo lên sân thượng của một ngôi nhà bỏ trống mà người ta đồn là sẽ có máy bay trực thăng của Ðệ Thất Hạm Ðội đáp xuống. Tôi đã chạy quanh chạy quẩn như con chuột chạy trong một cái hộp. Tôi đã làm mọi cách, nhưng vô ích, nơi nào tôi ghé vào tạt qua cũng gặp một rừng người chen chúc xô đẩy nhau, đạp lên nhau. Ðó là lúc Quỳnh đi đứng nặng nề, chờ giây phút sanh nở.</p>
<p>Giá mà Quỳnh không có cái bụng bầu. Ừ, giá mà Quỳnh không có cái bụng bầu thì dễ cho tôi biết là bao nhiêu. Có lẽ chúng tôi đã xuống tàu, đã lên máy bay, đã ở một nơi nào khác không phải ở đây. Không phải ở lại đây, để thở một bầu không khí lo sợ, ngột ngạt, để chờ đợi một điều không may đổ ụp xuống bất cứ lúc nào, để như một người mua vé số hồi hộp chờ đợi cái lô độc đắc là một chỗ tại một nông trường cải tạo. “Giá mà&#8230;” không, không giá với hành gì hết. Ý nghĩ ấy dù chỉ thoáng qua óc tôi thôi, tôi cũng không đáng giá một đồng xu teng, chứ đừng nói chi một đồng bạc cắc. Sao tôi lại không nghĩ rằng giá mà không có tôi, có lẽ Quỳnh đã đi khỏi đất nước này từ lâu. Giá mà không có tôi, Quỳnh đã không xé cái tấm vé máy bay của hãng hàng không CAL ngay giữa một Saigon giới nghiêm, một Saigon chênh vênh bên bờ vực của một cuộc chiến sắp hạ màn?</p>
<p><strong>Chương Tám</strong></p>
<p>Chúng tôi đến nơi không kịp. Anh cả tôi đã qua đời, khi chiếc xe đò thổ tả chở chúng tôi nằm bẹp dí ở Phan Thiết. Dù sao chúng tôi cũng còn được nhìn mặt anh trước khi liệm. Ngôi nhà đó, nơi ba lần trở về tôi đã làm ba cuộc chia tay với những người thân yêu nhất đời tôi. Cha tôi chết trong cơn say. Mẹ tôi qua đời khi đứng giữa sân vươn tay hái chùm nhãn. Giờ đây ông anh cả tôi nằm chết ngay trên chiếc giường cha tôi đã nằm. Cả ba lần trở về quê, không lần nào tôi kịp nắm tay những người ruột thịt ấy nghe được một lời trối trăn.</p>
<p>Còn có gì thê thảm hơn nhìn một người chết. Và còn có gì đau xót hơn nhìn một người thân yêu nằm đó nhưng đã mất sự sống. Khuôn mặt ông anh tôi lúc này sao giống hệt khuôn mặt cha tôi ở cái ngày ra đi vĩnh viễn.</p>
<p>Tôi không khóc, không cách nào khóc được. Xung quanh tôi mọi người rì rầm sụt sùi. Ngôi nhà tràn ngập không khí lạnh lẽo. Mùi tử khí xông tận mũi tôi. Người chị dâu tôi hai con mắt đỏ hoe nhưng bình tĩnh. Hai đứa con trai lớn vẫn còn trong trại học tập chắc là chưa kịp hay tin cha các cháu đã qua đời.</p>
<p>Tôi ngồi xuống chiếc ghế đặt cạnh cửa sổ. Bên kia hàng rào là ngôi trường nữ tiểu học đâu lưng với ngôi trường nam tiểu học, nơi mà tôi từng cắp sách đến đó trong suốt thời thơ ấu. Sân cát sủi bụi mù trời trong những giờ ra chơi. Bọn con trai bên này, bọn con gái bên kia. Chúng tôi lớn dần lên, lớn dần lên mỗi ngày mà không biết. Một thầy giáo già chết. Một cô giáo qua đời. Một ông hiệu trưởng đổi đi. Tôi lớn lên mỗi ngày nhìn bao nhiêu biến cố tấp giật rồi tan biến, không khác nào những cơn sóng biển cứ đánh vào bờ cát dưới kia.</p>
<p>Ðó là một ngôi nhà không mấy khang trang. Chỉ có cái sân trước là coi được nhờ mấy cây mãng cầu, hai cây nhãn lồng và những tấm gạch thẻ màu đỏ. Tôi lớn lên rồi đi xa, nhưng cây cối trong sân nhà sao vẫn cứ như vậy hoài. Những tấm gạch thẻ màu đỏ trong sân có mòn đi, bóng lưởng, nhưng ngôi nhà kia mỗi ngày một nhỏ đối với tôi. Lần trở về này, tôi thấy hình như nó còn nhỏ và chật hơn những lần trước.</p>
<p>Quỳnh đốt nén nhang đưa tận tay tôi ra dấu lạy trước quan tài người anh cả. Tôi thấy mắt Quỳnh ướt sũng đỏ hoe.</p>
<p>Ðám tang ngoài tiếng khóc chỉ là sự im lặng. Chị dâu tôi chít khăn cho cả nhà, xếp đặt từ đầu đến đuôi. Còn tôi, cứ ngồi đó. Tôi thấy mình đã kiệt. Như máu không còn chảy trong cơ thể tôi. Trong nhiều năm nay, tôi coi ông anh cả tôi như là người cha. Mặc dầu anh chị còn có cả một đàn con, và mặc dầu tôi có công ăn việc làm, nhưng tôi không làm gì mà không hỏi anh. Và nếu anh có làm điều gì trái ý anh, chỉ là vì tôi. Anh rộng lượng bao dung, anh hào phóng như một công tử. Khi chưa bị bệnh, anh là một sĩ quan mà không một thuộc hạ nào ghét. Anh yêu những người lính của anh như yêu anh em ruột thịt mình. Bạn bè anh mỗi lần gặp tôi đều nói tôi là người may mắn có một ông anh khí khái. Anh phản ứng nhanh trong tình cảm, nhưng anh là người nguội lạnh nhanh trong giận dữ. Anh yêu tất cả mọi người. Ðám em của anh, trong đó có tôi, chẳng đứa nào bằng gót chân anh về tính bao dung. Trong đám con cái anh, chẳng có đứa nào bằng móng tay anh về lòng quảng đại.</p>
<p>Ðám tang anh tuy vậy mà đông người đưa ngoài sức tưởng tượng của tôi. Những bà bạn của chị dâu tôi chiếm chật sân nhà, đám bạn học nhỏ của mấy đứa con anh bu quanh dưới gốc cây nhãn. Không có một đồng đội nào của anh đến tiễn đưa. Tất cả đều nằm ở một nơi nào đó trong lao tù của chế độ mới.</p>
<p>Ngôi mộ anh nằm trên lưng chừng một ngọn núi đá thấp ngó ra biển xanh. Gió biển tạt vào mát lạnh. Quỳnh ôm cánh tay bà chị dâu tôi. Tôi bước sang ngôi mộ bên cạnh, ngồi lên một tảng đá ngó xuống con đường phía dưới. Tôi có cảm tưởng như thiên nhiên cũng đang chết trong sự quạnh hiu. Cả mặt biển xanh đằng xa kia cũng đứng lại như trong một bức tranh, và con đường không bóng xe như một nét vẽ vô tình của người họa sĩ bị rơi một vệt màu sáng trên nền thẫm kéo dài thành một con đường bất ngờ. Ðến như ngọn gió cũng đông lại không còn thổi nữa. Tôi bứt một cọng cỏ cho vào miệng. Ngọt. Tôi có cảm giác ấy. Trời ơi! Tôi nghe tiếng kêu của chính tôi, và tôi thấy mình khóc.</p>
<p>“Không được! Không được!” Tôi nghe trong tôi có tiếng ai đó nói, “Ðừng khóc! Ðừng khóc!” Tôi khám phá ra những lời căn dặn ấy trong đầu tôi. Nhưng mà nước mắt tôi cứ ứa ra, ràn rụa, ướt đẫm mặt mũi tôi. Như một người đứng bên trong cửa kính ngó ra, cảnh vật bên ngoài dưới một trận mưa tầm tã, tôi thấy chị dâu tôi lăn lộn bên mộ chồng. Hai tay chị cào cấu đất cát như muốn đòi anh lại, đòi lại con người đã từng ăn nằm với mình bao nhiêu năm tháng, đã từng chia ngọt sẻ bùi với mình, đã từng cho mình những đứa con, đã gửi máu xương mình vào một cuộc chiến tranh không biết bao giờ mới kết thúc và lao tù của chế độ mới đang giam giữ những hòn máu của chị, kể cả đứa con rể của mình, một giới chức hành chánh của chế độ cũ, chỉ để lại cho gia đình một nhà toàn đàn bà con gái. Tôi thấy bóng Quỳnh nhòa nhạt cúi xuống ôm cánh tay chị. Bên cạnh là cháu Thùy, con gái lớn chị, cũng đang ôm chặt lấy mẹ. Cả ba người đàn bà bên một ngôi một mới đắp, dưới một bầu trời chiều chập chùng mây, trên lưng chừng một ngọn đồi ngó ra biển ngoài kia vẫn xanh như đã từng xanh&#8230; Nhưng tất cả đều như bị mềm nhũn, gẫy ra, tan thành những lượn sóng.</p>
<p>“Không phải! Không phải!”</p>
<p>Tôi đưa tay chùi nước mắt. Không có trận mưa nào đang xối xuống đám tang của anh tôi. Chỉ là một chút nước trong ly làm sóng sánh đại dương. Chỉ là một hạt bụi hóa thân làm thành một kiếp nhân sinh tàn lụi. Tôi đứng dậy, đến gần bà chị dâu, đặt tay lên vai chị. Tôi biết mọi lời nói của mình lúc này là thừa thãi.</p>
<p>“Mở cửa! Mở cửa mau!” Tôi nghe tiếng kêu cửa dồn dập, có cả tiếng đập khá mạnh vào mặt gỗ. Cả nhà đang ngồi quanh phòng khách, nơi mà hồi sáng đây còn chiếc quan tài của ông anh tôi đặt ở giữa. Bà chị dâu tôi đang nhắc tới những kỷ niệm của chồng, những nỗi khổ đau mà anh đã để lại cho chị trong suốt những tháng năm làm vợ của một người đàn ông hào sảng. Chị kể lể những lỗi lầm của người chồng với một giọng tha thứ chua xót.</p>
<p>Tiếng đập cửa khiến không khí ngừng lại.</p>
<p>Tôi đứng dậy, đến áp tai vào mặt gỗ.</p>
<p>“Ai đó?” Tôi hỏi.</p>
<p>“Công an đây. Mở cửa kiểm tra hộ khẩu.”</p>
<p>Tôi kéo chốt cửa, mở hé, nhìn ra ngoài, nhưng một bàn tay đã xô mạnh làm bật tung cánh cửa. Ba người bước vào nhà. Ngoài sân có tiếng người nói chuyện. Mấy đốm sáng của đầu điếu thuốc lập lòe dưới gốc cây nhãn.</p>
<p>“Chú Hòe! chuyện gì vậy chú Hòe?”</p>
<p>Bà chị dâu tôi đứng dậy tiến đến gần một người đàn ông nhỏ con, da xanh mướt.</p>
<p>“Trước hết, chúng tôi đến chia buồn với gia đình.”</p>
<p>Người đàn ông tên Hòe giọng không chút tình cảm, hai tay y chắp lại thả xuôi. Hai người đứng bên cạnh, mặt lạnh như tiền, ngó quanh phòng, quan sát.</p>
<p>Cả nhà bỗng nhiên, không ai bảo ai, đồng loạt đứng dậy. Cháu Thùy nói vào tai tôi:</p>
<p>“Nó là công an khu vực đấy.”</p>
<p>Quỳnh ôm con đứng sát vào chị Thúc.</p>
<p>“Xin cám ơn!” Chị Thúc trả lời. “Mời chú Hòe và các ông ngồi!”</p>
<p>Chị nói nhưng nhìn quanh phòng khách không thấy có chiếc ghế nào. Tất cả đều được dời ra phòng sau để lấy chỗ cho mọi người họp gia đình và ngủ luôn trên sàn nhà.</p>
<p>“Không sao!” Hòe trả lời. “Chúng tôi đứng cũng được. Tôi muốn hỏi anh chị này là ai?” Hòe hướng ánh mắt về phía tôi và Quỳnh.</p>
<p>“Ðây là chú Thăng và vợ con chú, Thăng là em ruột nhà tôi.” Chị Thúc trả lời, giọng bình tĩnh.</p>
<p>“Sao chị không khai báo với công an là nhà có khách?” Y quay về phía tôi, “Anh chị cho coi giấy đi đường!”</p>
<p>Tôi nhìn Quỳnh đang ôm chặt con vào lòng. Quỳnh cũng đang nhìn tôi. Chúng tôi đi gấp quá, không kịp xin giấy đi đường. Chúng tôi mua vé xe đò chợ đen. Ðể xin được cái giấy đi đường, thường phải chờ một ngày. Và lại xin giấy đi đường cho cả gia đình về miền biển, công an phường còn phải điều tra, có khi phải đưa lên công an quận xét mới cấp được. Như vậy làm sao tôi về nhà cho kịp.</p>
<p>“Tôi không có giấy đi đường.” Tôi ngập ngừng thú nhận.</p>
<p>“Vậy anh chị đi bằng cách nào? Có phải anh chị là người ở thành phố Hồ Chí Minh không?” Hòe hỏi dồn.</p>
<p>“Phải.” Tôi trả lời.</p>
<p>“Hiện nay anh chị công tác ở cơ quan nào?” Hòe hỏi tiếp.</p>
<p>“Tôi dạy học, nhưng nay đã chuyển ngành.” Tôi không muốn nói là mình xin nghỉ. Tôi không hiểu tên Hòe này muốn gì.</p>
<p>“Tôi hỏi hiện nay anh đang công tác ở cơ quan nào?” Hòe không buông tha tôi.</p>
<p>“Tôi lái xe ủi đất ở một công trường dưới Minh Hải.” Tôi nói.</p>
<p>“Cho tôi coi giấy tờ?” Người đàn ông mặt lạnh như tiền đứng bên cạnh Hòe chìa tay về phía tôi.</p>
<p>Tôi cho tay vào túi tìm cái bóp.<br />
“Ðây mà anh!” Quỳnh đưa cái xách tay cho tôi. “Giấy tờ anh trong đó!” Tôi nhớ cái thẻ công nhân viên do Công cấp. Ông Công là một nhà thầu xây cất trước Bảy Lăm. Khi Sài Gòn mất, ông mang tất cả các dụng cụ máy móc xe cộ hiến cho chế độ mới, nghĩ rằng sẽ được yên thân. Tại Bạc Liêu, một nhà thầu xây cất chung cư dang dở đã xuống thuyền ra khơi. Tỉnh ủy khuyến cáo ông Công nên tiếp tục công việc mà người thầu trước bỏ dở. Cả gia đình ông kêu gọi người quen, người có nghề hay người không nghề, họp nhau lại &#8211; xuống Bạc Liêu tìm chỗ nương thân. Trước khi tôi xin nghỉ dạy, Quỳnh đã tìm cho tôi chỗ tá túc này. Ðầu tiên là mua một thẻ công nhân viên qua một trung gian giá một trăm sáu chục đồng, tiền của chế độ mới. Kế đó là cầm thêm trong tay tờ giấy đi đường Sài Gòn &#8211; Bạc Liêu, ghi sẵn là thành phố Hồ Chí Minh &#8211; Minh Hải. Ông Công thường tổ chức cho bọn công an ở đây ăn nhậu. Ông chuẩn bị những chuyến vượt biển, lúc đầu hơi e dè và sau gần như là công khai. Ông chia chác với bọn chúng, đúng ra ông đã mua gần như tất cả bọn biên phòng. Tuy vậy cũng có nhiều chuyến ông bị trở mặt. Hai đứa con ông bị bắt trong một chuyến được coi là an toàn nhất. Ông Công đã chạy vạy khắp nơi vay vàng chuộc cả đám. Tôi đi hụt hai chuyến, và đó là những chuyến ông Công cho thấy tài tổ chức tuyệt vời của ông.<br />
Tôi mở xách tay của Quỳnh lấy tấm thẻ công nhân viên đưa cho tên đứng cạnh Hòe. Y cầm lấy nhưng không buồn ngó đó là giấy tờ gì, Tôi càng ngạc nhiên khi thấy y bỏ tấm thẻ của tôi vào túi.<br />
“Tôi cần kiểm tra lại giấy tờ của anh chị. Ðến mai mời anh chị xuống công an phường làm việc.” Ngừng một giây, không cần đợi phản ứng của tôi, y tiếp: “Thay mặt tỉnh ủy, tôi xin thông báo cho chị Thúc biết là kể từ hôm nay, ngôi nhà này được đặt dưới quyền quản lý của nhà nước.”<br />
Hòe đứng lui về phía sau. Bà chị dâu tôi hơi rùng mình. Hai tay chị bám lên vai Quỳnh như sắp ngã.<br />
“Trời ơi!” Tôi nghe tiếng kêu thảng thốt của chị.<br />
“Chú Hòe, sao có chuyện gì lạ vậy?”<br />
Tôi bỗng nghe thấy chị gượng lại không đầy một tích tắc. Chị đứng sững.<br />
Tên cán bộ đứng bên Hòe lên tiếng.<br />
“Hồ sơ bên công an gửi lên Sở Nhà Ðất cho biết ngôi nhà này do chồng chị, một sĩ quan ngụy, đã bóc lột, tham nhũng hối lộ của nhân dân xây cất lên. Tài sản của nhân dân phải trả lại cho nhân dân. Lẽ ra khi cách mạng về, nhà nước đã phải tịch biên ngôi nhà này, nhưng do chủ trương khoan hồng của đảng và nhà nước ta trong tình hình bệnh tật của chồng chị, chúng tôi đã để yên cho anh chị có chỗ tá túc.<br />
Bây giờ anh ấy đã chết, ngôi nhà này cần phải được thu hồi để trả lại cho nhân dân.”<br />
“Ông nói cái gì của nhân dân? Nhân dân nào?”<br />
Chị dâu tôi hỏi, mặt tái đi vì giận. “Mấy ông có biết vợ chồng tôi lấy nhau, làm việc trong bao nhiêu năm trời mới mua được miếng đất này không? Mấy ông có biết bao nhiêu năm dành dụm chúng tôi mới cất được cái phòng khách này, căn bếp kia không? Mấy ông có biết các con tôi, mỗi đứa đã nhịn ăn nhịn mặc như thế nào để góp cho chúng tôi mua từng viên gạch lót nhà này không? Mấy ông đuổi mẹ con tôi ra khỏi cái nơi do mồ hôi và nước mắt của gia đình tôi đổ xuống để dựng lên mà nói là của nhân dân hả? Nhân dân nào?&#8230;” Chị Thúc nói, mắt ráo hoảnh, hai bàn tay nắm chặt.</p>
<p>“Chị nên nhớ, cả gia đình chị là một ổ phản động. Chồng chị và hai con trai chị đều là sĩ quan ngụy, có nợ máu với nhân dân. Rể chị, chồng của cô Thùy đây là một viên chức ngụy quyền. Làm tới phó quận mà không hối lộ tham nhũng à? Con chị làm tới đại úy cảnh sát mà không ác ôn à? Nhưng chị không thấy là chính quyền cách mạng đã khoan hồng hay sao khi để cho chồng chị một sĩ quan ngụy mang cấp tá mà không phải đi học tập lấy một ngày?”<br />
“Khoan hồng?” Chị hỏi. “Bộ mấy ông muốn khiên một người sắp chết, tay chân tê liệt, không cử động được đưa vào tù mới là đúng sao? Bộ mấy ông giam cả những người tù hấp hối sao?”<br />
“Chị Thúc!” Tiếng Hòe kêu, “Chị có im đi không! Có phải chị muốn chống lại chính quyền cách mạng không?”<br />
“Mấy ông nói như vậy là thế nào?” Tôi hỏi.<br />
“Anh không được quyền phát biểu.” Tên cán bộ giữ tấm thẻ công nhân viên của tôi trong túi nói như ra lệnh. “Chúng tôi sẽ làm việc với anh sau.”<br />
“Nhưng gia đình chúng tôi có tội tình gì chứ?” Quỳnh hỏi, hai tay ôm chặt con vào lòng.<br />
“Một gia đình phản động chưa đủ là cái tội sao?” Hòe nói.<br />
“Trời ơi! Trời ơi!” Tôi nghe tiếng bà chị dâu rên rỉ.<br />
“Nhà nước có đuổi gia đình chị ra đường đâu mà chị kêu trời. Chúng tôi đã tìm cho chị một căn nhà nhỏ dưới chợ. Tạm thời chị cứ dọn về đó. Ngày mai phường sẽ mang giấy tờ lại cho chị ký. Còn anh chị đây,” y tiếp, mắt nhìn về phía tôi, “Mai xuống công an phường làm việc. Chúng tôi muốn biết anh chị có ý đồ vượt biên hay không?”<br />
Cả ba quay lưng bước ra cửa sai khi Hòe chấm dứt lời đe dọa.<br />
Tôi đứng ở cửa ngó ra sân đêm. Những đốm lửa của đầu điếu thuốc dưới gốc cây nhãn đã biến mất. Tiếng nói cười của đám công an cán bộ xa dần tan loãng ngoài mặt đường.<br />
Bên trong nhà mấy ngọn bạch lạp cháy bập bùng. Mọi người đã tắt tiếng khóc. Không khí chùng hẳn xuống như thể một chiếc bong bóng bị xì hơi.<br />
Những người chết đã chết.<br />
Những người sống đang phải cúi xuống gánh tiếp những tai ương còn đầy rẫy trong một thời đại của “chủ nghĩa.”<br />
<strong>Chương Chín</strong></p>
<p>“Hỏi ai?” Tên công an áo vàng chận tôi ở cửa khi thấy tôi lớ ngớ chưa biết có nên bước vào hay bỏ đi.<br />
“Tôi muốn gặp ông Hòe!” Tôi trả lời.<br />
“Ðồng chí Hòe đi công tác ở quận rồi. Có chuyện gì tôi giải quyết.”<br />
“Ông Hòe có hẹn với tôi sáng nay.”<br />
“Chuyện chi?” Tên công an hỏi dấm dẳng.<br />
“Tôi không rõ. Hôm qua ông ấy đến nhà tôi và hẹn tôi sáng nay đến đây.”<br />
“Nhà ở đâu?” Y hỏi giọng trịnh thượng.<br />
Tôi nói địa chỉ. Tôi cũng cho y biết là tôi từ Sài Gòn ra. Tôi đưa đám ông anh tôi.<br />
“Tôi biết! Tôi biết.” Y tiếp, “Xin mời anh vào đây!”<br />
Y đưa tôi vào bên trong kéo ghế ngồi xuống.<br />
Trước mặt y là một tờ giấy màu vàng xỉn mỏng.<br />
“Có phải anh là Trần Lâm Thăng?”<br />
“Phải.”<br />
“Ðồng chí Hòe nói anh cư trú bất hợp pháp, không có giấy đi đường và có ý đồ vượt biên. Anh có biết vậy không?”<br />
“Tôi về đây là để làm đám tang cho ông anh tôi.”<br />
“Tôi biết. Nhưng có gì bảo đảm anh không có ý đồ vượt biên.”<br />
Tôi có nghĩ đến chuyện vượt biên nhưng dù sao cũng chỉ là trong ý nghĩ thôi. Tôi chưa hiểu ý tên này muốn gì.<br />
“Anh mang theo chuyến này bao nhiêu lạng vàng?”<br />
“Tôi không có vàng.”</p>
<p>Tôi trả lời thật nhanh. Tôi bỗng nhớ Quỳnh trước khi đi có mua được năm chiếc nhẫn vàng để đóng góp trong chuyện ma chay với bà chị dâu, luôn tiện, nếu mà gặp chuyến đi, Quỳnh nói thòng, “anh cứ đi trước, em ở lại với con tính sau.” Bà chị dâu tôi mấy lần biên thư đều cho biết có tổ chức đưa người đi, đến nơi rồi chừng nào có tin về, người nhà mới phải chồng tiền, như vậy không phải bị gạt.<br />
Trạm công an buổi sáng vắng. Tên công an hỏi chuyện tôi còn khá trẻ, nhưng hút thuốc dữ, chưa hết điếu này đã châm ngay điếu khác. Y ngồi kiểu nước lụt, hai chân bỏ cả trên ghế, hai đầu gối sát nách, đầu chồm về phía trước.<br />
“Không có gì qua mắt được chúng tôi đâu. Anh có quen biết thằng Tư xích lô Mã Vòng không?” Y hỏi một câu bất ngờ.<br />
Tư Xích Lô Mã Vòng là ai? Tôi chưa nghe bao giờ. Gần mười lăm năm trời xa quê, tôi chỉ về nhà có đôi ba lần. Mỗi lần về là để đưa tiễn người thân ra đi vĩnh viễn. Thành phố này chỉ còn trong trí nhớ tôi như một kỷ niệm. Nó là tuổi thơ tôi. Biển xanh. Rừng dương xanh. Những bụi cây dọc ven đường từ nhà bưu điện xuống Cầu Ðá cũng xanh. Bầu trời xanh.<br />
Thành phố này chứa trong tôi cái thời xanh xao vàng vọt của một đứa bé bị hất hủi. Tôi muốn quên nó đi. Tư xích lô Mã Vòng? Không, tôi không thể nào nhớ ra một cái tên kỳ lạ như vậy.<br />
“Tôi không biết ai là Tư xích lô Mã Vòng.”<br />
“Nhưng mà Tư xích lô Mã Vòng biết anh thì sao?<br />
Mã Vòng. Tôi nhớ ra ngôi nhà lợp mái dừa của dì tôi nằm trên một con đường hẹp gần chùa Nha Trang. Mã Vòng là đầu con đường vào thành phố. Nơi tôi đã sống với dì tôi, một người đàn bà luống tuổi, ăn mặc nâu sồng, sống khắc khổ, không bao giờ đụng đến chất tanh. Bữa cơm của dì chỉ có rau, rau và rau. Có lần tôi ngồi nhìn dì ăn, trước mặt là hai con thằn lằn bò quanh những hột cơm dì rải xuống.<br />
Thỉnh thoảng tôi nghe tiếng dì nói như thể đang trò chuyện với một người nào đó nhưng tôi không nhìn thấy ai. Ngoài hai con thằn lằn. Những hột cơm rải trên mặt bàn. Một tô rau luộc. Một hũ chao. Hai con thằn lằn. Ðó là tất cả cuộc đời dì tôi. Một lu nước mưa đằng sau nhà, dưới một cây khế ngọt. Cây chùm ruột sai quả phía trước sân. Hàng rào là những bụi dâm bụt. Những chùm hoa tỉ muội trắng và nhỏ như chiếc bông tai của các cô gái quê, hương thơm ngào ngạt. Sau lưng nhà dì tôi là một ngọn đồi, trên cao là Tháp nước của thành phố. Con đường leo lên Tháp đi lòng vòng theo trôn ốc. Một vài ngôi mộ, có lẽ của người Chàm, dọc theo đường đi với những lùm cây dại. Ðó là Mã Vòng thời tuổi nhỏ của tôi. Thơ mộng. Tôi nghĩ như vậy. Ðó là thời kỳ tôi quen Goering, Lưu, Lân, Trung, Odette Bouquet, Marthe Thúy, Bạch Mai&#8230; Có buồn cười không? Nhưng mà Tư xích lô Mã Vòng là ai? Tôi không cách nào biết được, nhớ ra được.<br />
“Chúng tôi vừa bắt được một tổ chức vượt biên. Tư xích lô Mã Vòng khai có tên anh và gia đình sẽ đi trong chuyến này.”<br />
Tư xích lô Mã Vòng là ai? Không. Tôi chắc chắn là không bao giờ có một tên người như thế, hay gần gần như thế, trong mối quen biết tôi.<br />
Tên công an cúi xuống tờ giấy màu vàng xỉn mỏng đọc những hàng chữ nhỏ li ti. Tôi có cảm tưởng như hắn đang xem tờ cẩm nang vẽ cách bức bách tôi như thế nào cho có hiệu quả. Một lúc, không lâu lắm, hắn ngửng mặt lên:<br />
“Anh nên khai báo thành thật, chuyến vượt biên này, gia đình anh đóng cho Tư Mã Vòng mấy lượng?”<br />
“Không. Tôi không biết Tư Mã Vòng là ai cả. Tôi về đây là để làm lễ chôn cất ông anh tôi. Tôi không có vượt biên.”<br />
“Ông Thăng. Ông tưởng ông ngoan cố, chúng tôi không làm gì ông được hay sao?”</p>
<p>Hắn bỗng đổi cách ngồi, thả một chân xuống ghế, mặt chồm về phía tôi. Hơi thở hắn nồng nặc mùi thuốc lá nặng.</p>
<p>“Cái thẻ công nhân viên của ông là thẻ giả. Chúng tôi đã hội ý với nhau tối hôm qua. Ðồng chí bên Ban Kiểm Tra đi với trưởng công an quận và đồng chí Hòe đều nhất trí thẻ công nhân viên của ông là thẻ do bọn phản động ngụy tạo nhằm phá rối cách mạng. Ông Thăng, nếu ông nhất định không khai báo số vàng mang theo, chúng tôi được lệnh trên bắt ông.”</p>
<p>“Bắt tôi?” Tôi ngạc nhiên. “Tôi phạm tội gì?”</p>
<p>“Ông thật tình không biết tội gì à? Di chuyển ra thành phố miền biển mà không có giấy phép đi đường. Cư trú bất hợp pháp vì không khai báo công an khu vực. Xài thẻ giả do bọn phản động cấp! Tổ chức cho người khác vượt biên để lấy vàng và bản thân có ý đồ sẽ vượt biên. Sao? Từng đó đủ tội chưa? Ông có muốn tôi kể thêm vài thứ nữa không? Mà ông có biết vượt biên là phản quốc không?”</p>
<p>Tôi giận run lên, nhưng cố đè nén cơn tức xuống. Hai bàn tay tôi đan chặt vào nhau. Tôi là người có miệng mà cũng như không. Lúc đầu hắn nói tôi có ý đồ vượt biên, bây giờ hắn gán thêm cho tôi cái tội tổ chức vượt biên. Tuy nhiên hắn trói tôi bằng một sợi dây tội lỗi mà không phải là hắn không có vài chút sự thật để bám vào. Không có giấy đi đường? Ðúng quá chớ còn gì nữa. Thành phố này là nơi có nhiều người tìm đường vượt biên. Ðúng chớ có sai đâu. Nhưng mà ý đồ vượt biên? Ai mà chẳng có. Tôi cũng có ý đồ đó thật, Quỳnh chẳng bàn với tôi trong ngày lên đường hay sao? Bất giác tôi nhìn ngó xung quanh. Ðồn công an phường này là một ngôi nhà khá rộng nằm ở góc ngã tư đường, có lẽ đây là biệt thự của một người di tản trước ngày quân cộng sản lấn tới vào Tháng Ba Bảy Lăm. Chỗ tôi ngồi là phòng khách. Hai bên là phòng ngủ. Một dãy ghế sắt xếp được đặt dọc sát tường, đã có khách ngồi chờ. Tôi thấy mấy ông già bà già kẻ ngồi người đứng, trên tay người nào cũng cầm một tờ giấy. Thỉnh thoảng cánh cửa phòng bên mở, một người bước ra với khuôn mặt buồn thảm, đầu cúi thấp. Một tiếng gọi tên người từ bên trong vọng ra. Một người bên ngoài nhổm dậy, hấp tấp đi vào. Tôi thấy mình như một thằng câm. Tôi ngó tên công an áo vàng. Hắn ngó tôi. Sau cùng hắn đứng dậy ra lệnh:</p>
<p>“Ði theo tôi!”</p>
<p>Hắn làm gì mình đây? Hắn muốn gì mình chớ?</p>
<p>Hắn bước lên cầu thang. Mặt gỗ xỉn đen. Tay vịn nhớp nhúa. Hắn đưa tôi vào một căn phòng nhỏ trống trơn. Không bàn ghế giường tủ. Cửa sổ lá sách có khóa. Ngọn đèn bóng giữa trần nhà chiếu cái ánh sáng vàng vọt xuống mặt sàn một vòng tròn. Hắn đưa cho tôi một tờ giấy mỏng vàng xỉn, như tờ hắn đọc ở nhà dưới, và một cây bút bic đã nhòe mực.</p>
<p>“Viết lời khai báo vào tờ này. Cần giấy thêm cứ gõ cửa tôi đưa thêm. Nếu thành thật sẽ được trên xét khoan hồng.”</p>
<p>Và hắn bỏ đi. Cánh cửa sau lưng khép lại. Tôi nghe tiếng tra chìa vào ổ khóa. Tiếng kêu lách cách của một vòng quay. Tôi đứng ngay giữa phòng, dưới ngọn đèn bóng tròn vàng vọt, cầm trên tay một cây bút và một tờ giấy cũng vàng như ngọn đèn, như màu tường, như những tháng ngày tôi đang sống.</p>
<p>Tôi ngó lên trần nhà. Trần nhà thấp quá. Tôi đặt tờ giấy và cây bút xuống sàn gạch bông. Tôi thọc hai tay vào túi quần. Tôi ngó xuống đôi dép dưới chân. Tôi không hiểu mình sẽ phải làm gì. Tôi không hề chờ đợi chuyện sẽ xảy ra sáng hôm nay. Tôi không tìm ra lý lẽ để cắt nghĩa những diễn biến mà tôi đang phải đương đầu. Tôi khai gì? Tôi có gì mà khai? Những ngọn đèn bạch lạp còn cháy trên bàn thờ người anh tôi. Tiếng đọc kinh của những nhà sư còn vang đọng trong trái tim tôi. Tiếng khóc của bà chị dâu tôi và các cháu gái tôi còn thổn thức trong lồng ngực tôi. Những giọt nước mắt của Quỳnh khi thấy bọn ruồi nhặng hoạch họe xông vào nhà đang có tang chay. Tôi thấy tôi hèn nhát. Sách vở trong bao nhiêu năm chỉ cung cấp cho tôi một mớ kiến thức “lùn tịt.” Sách vở không làm cho một kẻ hèn nhát trở thành cam đảm. Nếu tôi là người nằm trong nấm mồ kín, và anh Thúc là người đứng đây, cái gì sẽ xảy ra? Ừ, cái gì sẽ xảy ra? Tôi chưa biết, nhưng tôi tin là nó sẽ không xảy ra giống y cái cảnh tượng mà tôi đang chịu đựng. Cha tôi đã chết. Mẹ tôi đã chết. Anh tôi đã chết. Tôi có cần sống không?</p>
<p>Dù sao tôi không thể đứng đây như trời trồng được. Tôi đi dọc đi ngang, đếm từng viên gạch dưới chân. Tôi đi xéo đi xiên, đếm từng bước nhỏ. Tôi tính nhẩm những bài toán cộng trừ. Rồi tôi chia, tôi nhân.</p>
<p>Tôi không biết cả nhà đang nghĩ gì. Cả nhà có biết là tôi đang bị giam trong trạm công an khu vực này không? Tôi không biết Quỳnh sẽ ra sao khi tôi biệt tích. Tôi thấy nhiều hình ảnh đang chiếu trên tấm màn trí tưởng tôi. Tuấn luật sư, nhà cách mạng Ba Mươi Tháng Tư, thầy giáo Nguyên “nằm vùng,” Hiên hiệu trưởng của chế độ mới, cô nữ sinh Nhị Hà từ Bắc vào&#8230; Tôi cũng thấy Kiệt, người học sinh xuất sắc nhất lớp, hai con mắt đỏ hoe báo tin cha cậu đã tự tử, Tâm “khô khốc thiền sư” ngồi uống ly cà phê với tôi ở lề đường Nguyễn Du, nói về vợ con đã mất tích trên biển nhưng phải viết một bản “thu hoạch” chính trị phản tỉnh về những gì mình đã cầm bút trước đây. Tôi cũng thấy khuôn mặt Mười Tân lạnh lùng sắt thép. Rất tiếc! Rất tiếc! Như một lưỡi dao đe dọa không ngừng lơ lửng trên đầu tôi. Những tên công an áo vàng gọi tôi là “ngụy” không cho phép đeo kính cận khi nói chuyện với chúng. Cả một thời phong kiến trước đây trong các tác phẩm của Ngô Tất Tố, Bùi Hiển, Nam Cao&#8230; bây giờ đang sống lại một cách rực rỡ như chưa từng thấy, Ðời sống mới mẻ minh họa cho những trang tiểu thuyết của xã hội trước năm Bốn Mươi Lăm. Cai tổng, lý trưởng, ông cò, thầy đội&#8230; tái sinh trong những bộ quần áo mới, ngôn ngữ mới.</p>
<p>Tôi mỏi chân. Tôi ngồi bệt xuống sàn gạch bông, thứ gạch bông đã từ lâu không được lau chùi đang rít nháp xỉn đen cáu bẩn. Tôi thấy thèm một điếu thuốc. Tôi nghe thoảng mùi cà phê. Tôi đứng dậy bước đến cửa cầm tay nắm vặc thử, Cửa đã khóa trái. Tôi đi về phía cửa sổ. cửa lá sách có chấn song, nhưng đã lốc bằng một ổ khóa. Tôi hé ngó xuống phía dưới mặt đường. Bất ngờ tôi ngó thấy Quỳnh đứng bên cạnh chị dâu tôi và cháu Thùy. Cả ba người đàn bà đang chụm đầu vào nhau. Tôi biết chỗ họ đứng là trước cửa trạm công an. Tôi muốn kêu to lên cho Quỳnh biết là tôi đang ở đây, Tôi muốn đập bể cánh cửa sổ này ra, nhảy xuống phía dưới kia “Không được! Không được! Phải bình tĩnh! Rất bình tĩnh!” Tôi nghe tôi tự nói với mình như vậy.</p>
<p>Tôi bước lại giữa phòng, cúi xuống lấy tờ giấy và cây bút trên sàn. Phải cho Quỳnh biết ngay là tôi ở đây. Tôi viết nguệch ngoạc mấy chữ:</p>
<p>“Q. Anh đang ở trong căn phòng ngay trên chỗ em đứng.”<br />
“T.”</p>
<p>Tôi xếp tờ giấy làm tư, đến bên cửa sổ, nhìn xuống. Cả ba người đàn bà vẫn còn đứng đó. Ba cái đầu không còn chụm vào nhau. Cả ba khuôn mặt đều nhìn về một phía cánh cửa chính của đồn công an khu vực. Tôi đẩy tờ giấy qua kẽ lá sách. Tờ giấy mỏng chao lượn trong không làm trái tim tôi cũng chao lượn theo. Rất chậm, nó đáp xuống gần chân của bà chị dâu tôi. Ðó là lúc cả ba cái đầu vừa chụm lại. Không ai nhìn thấy tờ giấy tôi vừa thả xuống. Một đỗi lâu, cả ba mái đầu mới rời ta. Quỳnh sửa thế, quả quyết bước thẳng. Bà chị dâu tôi và cháu Thùy theo sau. Tôi thấy chân bà chị giẫm lên tờ giấy của tôi.</p>
<p>“Cả thế giới này đã bỏ quên tôi rồi.”</p>
<p>Tôi nghĩ trong đầu như vậy. Hai tay tôi nắm chặt. Tôi muốn đập nát cánh cửa này. Tôi vò đầu vò tóc. Tôi đi qua đi lại, đếm từng viên gạch. Tôi đi xéo đi ngang, đếm từng bước chân. Tôi ngó lên trần nhà. Tôi ngồi bệt xuống sàn. Tôi thấy mình như một con thú bị cái bản năng chật chội hành hà. “Bình tĩnh! Bình tĩnh!” Tôi nhớ lại lời nói của Giáo sư Linh mục Alexis Cras ở Viện Ðại Học Ðà Lạt. Ba năm trời học với Cha, tôi nghiệm ra một điều: môn Siêu hình học mà Cha dạy bọn tôi có thể đã trôi tuột như nước chảy qua kẽ bàn tay, nhưng cái dáng điệu khoai thai, trầm tĩnh, từ tốn của cha, cái cách nhìn mọi vấn đề dưới con mắt không chút thành kiến của một tấm lòng bác ái như Cha Cras, vẫn còn đọng lại mãi trong trí nhớ tôi. Thật ra bình thường nó có vẻ như đã tan chìm biến mất trong tôi, nhưng vào một lúc nào đó, những biến cố đến với tôi như một cây kim chọc thủng cái trí nhớ mưng mủ kia, làm vọt ra những điều không thuộc về tôi: Cái dáng điệu khoan thai trầm tĩnh của Cha Cras trước mọi vấn đề là bài học mà tôi sẽ phải thuộc lòng và giữ gìn mãi. Cha Cras thuộc dòng Ða Minh, áo chùng trắng, tóc trắng thưa, nụ cười hiền. “Ông Cố đạo,” cha hay tự gọi mình như vậy, giảng triết học hiện sinh rất hay, nói chuyện Hồn Bướm Mơ Tiên của Khái Hưng như một nhà phê bình văn học chính cống, đọc Truyện Kiều giọng Tây, bình thơ Ðỗ Phủ, kể chuyện Esope theo một tác phẩm Con cáo và chùm nho của một kịch tác gia Nam Mỹ. Esope trong vở kịch là một người nô lệ nhưng đồng thời cũng là một nhà ngụ ngôn.</p>
<p>Theo Cha Cras, ngụ ngôn không phải là một câu chuyện bịa đặt. Ngụ ngôn là chân lý. Mà chân lý là mục tiêu duy nhất chúng ta sống vì nó, chết cũng vì nó. Ðó là một bài giảng rất hay của Cha về nô lệ và tự do.<br />
Trong vở kịch, người “nô lệ” Esope bị buộc tội vì đã giấu cái chén vàng trong bọc của mình. Theo luật pháp Hy Lạp, nếu kẻ phạm tội là người tự do thì sẽ bị đưa lên núi cao đẩy xuống nơi vực thẳm sâu nhất. Nếu kẻ phạm tội là nô lệ thì người chủ sẽ cân nhắc tội phạm mà trừng phạt. Người chủ của Esope muốn cứu tính mạng của ông, muốn xác nhận “giả vờ” ông là người “nô lệ,” mặc dù người chủ này đã biên giấy cho Esope “tự do” rồi. Nhưng, Esope nói, “Ðối với tình yêu và đời sống ta còn trẻ quá, còn xanh non qua. Nhưng đối với tự do thì ta đã chín rồi. Vực thẳm mà các ông đã chọn sẵn cho người tự do ở đâu? Ở đâu? Ở đâu?” Người ta thường chỉ nhớ Esope với chuyện ngụ ngôn cái lưỡi là món ngon nhất cũng là món dở nhất. Người ta cũng thường nhớ Esope với chuyện Con Cáo thấy Chùm Nho trên dàn cao, muốn hái nhưng không với tới bèn nói “Nho hãy còn xanh,” nhưng ít ai nghe nói Esope và tự do.</p>
<p>Tôi không phải và không bao giờ là Esope. Tôi thấy mình hèn nhát. Tôi lo sợ. Một mình giữa bốn bức tường. Cái mụt nhọt mưng mủ đã bị phá. Cái trí nhớ đã được phục hồi. Nhưng tôi không đủ trầm tĩnh để cái đầu tôi có phút giây yên ổn. Như một trận động đất lớn cả một đất nước sụp xuống, sụm xuống, lún xuống, chìm xuống. Và ngôi nhà tôi ở cũng bị chôn vùi trong lòng đất. Cha mẹ tôi lần lượt qua đời. Các cháu tôi bị đưa vào trại cải tạo. Anh tôi vừa nằm xuống. Cả gia đình vừa đưa anh ra nghĩa địa về đã bị đuổi nhà. Và tôi bị giữ ở đây, gán ghép cho tôi một thứ tội mới chỉ nhú trong đầu tôi. Cả một dân tộc không ai nghĩ một điều gì khác hơn là con thuyền và biển cả. Làm mồi cho cá mập, làm nạn nhân cho bọn hải tặc Thái, làm người tù trong các nông trường&#8230; hoặc là đến bến bờ tự do! Trời ơi, tôi hiểu ra rồi, cả một đất nước chúng ta đầy những Esope. Thời cổ Hy Lạp có một Esope, còn thời đại của chúng ta biết bao nhiêu là Esope. Tự do hay là chết! Không phải người ta bỏ nước ra đi vì muốn làm một cuộc phiêu lưu. Người ta phải ra đi vì người ta không thể ở lại. Ði hay là ở? Câu hỏi ấy là câu hỏi lớn nhất chiếm đầy đầu óc mọi người.</p>
<p>Cánh cửa bỗng bật mở. Tên công an áo vàng đứng ở ngưỡng cửa.</p>
<p>“Ông Thăng. Có người nhà muốn gặp.” Hắn nói.</p>
<p>Tôi đứng dậy. Tôi biết là ai rồi.</p>
<p>“Theo tôi!”</p>
<p>Hắn đi trước, bước từng bước xuống cầu thang.</p>
<p>Quỳnh, bà chị dâu tôi và Thùy đã ngồi sẵn quanh bàn làm việc của hắn.</p>
<p>“Ngồi xuống đây!” Hắn ra lệnh cho tôi.</p>
<p>Hắn ung dung châm một điếu thuốc, ngồi xuống chiếc ghế phía sau bàn. Hắn hết nhìn bà chị tôi, đến nhìn Quỳnh rồi nhìn tôi. Sau cùng hắn đẩy cây bút và tờ giấy trước mặt hắn về phía chị.</p>
<p>Chị Thúc nhìn tờ giấy và nhìn tên công an như thể mắt chị đang đo lường cái chiều dài của hai sự vật. Rồi chị nhìn tôi và nhìn Quỳnh, cái nhìn như hỏi phải làm sao bây giờ. Chị cầm cây bút lên, xoay qua xoay lại, xong đặt cây bút xuống.</p>
<p>“Như đã nói với chị&#8230;” Tên công an có vẻ sốt ruột, “Tình trạng của anh Thăng đây hoàn toàn tùy thuộc vào một chữ ký của chị. Nếu chị không đồng ý giao trả căn nhà chị đang ở cho nhà nước quản lý thì trước sau gì nhà nước sẽ quản lý nhà chị thôi. Chị phải khẩn trương lên, tôi còn phải giải quyết biết bao nhiêu là công chuyện. Nếu chị ký sớm sẽ có hai điều lợi: Thứ nhất là anh Thăng đây sẽ được trở về ngay, nếu không chúng tôi buộc lòng phải giải anh lên quận để trên làm việc và giải quyết. Thứ hai là chị có thể được trên cấp cho một chỗ ở dưới Chợ Ðầm, nếu không&#8230;” &#8211; hắn ngập ngừng &#8211; “trong tình hình nhà đất khan hiếm như hiện nay, mặc dù rất nhiều người phản quốc bỏ nước ra đi, vẫn không đủ nhà đất cung cấp cho cán bộ đang còn xếp hàng dài chờ đợi&#8230;”</p>
<p>Hai tay đặt lên trên mặt bàn, chị Thúc nhìn chăm vào tờ giấy. Tôi có cảm tưởng như chị không còn nghe thấy gì ngoài những dòng chữ trên tờ giấy đã viết sẵn kia đang ám ảnh đầu óc chị.</p>
<p>“Rồi mẹ con tôi phải sống làm sao đây?” Chị nói rất nhỏ.</p>
<p>Tôi nghiêng người qua vai chị Thúc. Tay tôi nắm tay chị.</p>
<p>“Chị không nên ký. Nhà của chị thì chị cứ ở. Phần em, em thấy mình không có tội gì, không việc chi mà chị sợ cho em.”</p>
<p>“Thăng không nên nói như vậy!” Quỳnh chen vào. “Ðể chuyện này cho em và chị Thúc giải quyết.”</p>
<p>Tên công an đứng bật dậy. Hắn dụi điếu thuốc đang hút giữa chừng xuống cái gạt tàn. Hắn cầm tờ giấy và cây bút, kéo hộc bàn bỏ vào trong đóng lại.</p>
<p>“Ðược thôi. Chị và cô đây có thể về. Công an chấp pháp quận sẽ làm việc với ông Thăng. Phận sự của tôi tới đây coi như là xong.”</p>
<p>Chị Thúc vẫn ngồi yên. Quỳnh đứng dậy, vòng ra sau lưng chị.</p>
<p>Tôi nhìn chị Thúc.</p>
<p>“Ðừng ký. Không việc gì mà chị phải ký.”</p>
<p>“Anh làm gì mà nóng nảy vậy. Chuyện đâu còn có đó. Anh có để yên cho chị Thúc và em giải quyết được không?”</p>
<p>“Tôi muốn coi lại tờ giấy!” Chị Thúc nói.</p>
<p>Tên công an chống hay tay lên mặt bàn, chồm về phía chị, gay gắt:</p>
<p>“Tôi muốn nghe câu trả lời dứt khoát của chị là ký hay không ký. Vậy thôi. Tôi có nhiều việc phải giải quyết.”</p>
<p>“Tôi ký!” Chị Thúc trả lời nhanh đến nỗi tôi không kịp phản ứng.</p>
<p>“Ðừng, chị Thúc, đừng!”</p>
<p>Tôi nói cho đủ một mình chị nghe, nhưng chị Thúc dường như không muốn nghe tôi.</p>
<p>Tên công an kéo hộc tủ, lấy tờ giấy và cây bút đẩy về phia chị:</p>
<p>“Chị ký vào đây!” Ngón tay hắn trỏ một chỗ phía dưới trang giấy.</p>
<p>Chị Thúc chụp cây bút nguệch ngoạc mấy nét. Và chị đứng dậy quày quả bỏ đi như chạy trốn.</p>
<p>Tên công an cầm tờ giấy lên săm soi sát mặt. Tôi thấy hắn mỉm cười xếp tờ giấy làm bốn bỏ vào túi áo. Bàn tay phải của hắn đập nhẹ vào túi có tờ giấy! Và khi hắn đụng vào mắt tôi, tôi nghe tiếng hắn hét lên:</p>
<p>“Anh kia, sao chưa đi về đi còn chờ đợi gì nữa? Hay là muốn tôi giải anh lên quận làm việc?”</p>
<p>“Cám ơn!”</p>
<p>Tôi không hiểu tại sao tôi nói cám ơn với cái tên vừa mới ăn cướp ngôi nhà của anh chị tôi.</p>
<p>Tôi bước ra khỏi trạm công an. Quỳnh đang ôm chị Thúc đứng chờ tôi trước cửa. Tôi nhìn thấy khuôn mặt bà chị dâu tôi ràn rụa nước mắt:</p>
<p>“Chú Thăng ơi, sao đời tôi khổ quá!”</p>
<p>Tôi không dám nhìn chị. Tiếng nói của chị như những mũi tên bắn vào trái tim tôi. Tôi nghe như thể trăm ngàn con dao chém xuống da thịt tôi.</p>
<p>Tôi ngước mắt nhìn lên căn phòng mà mấy phút trước đây tôi bị giam giữ trên đó.</p>
<p><strong>Chương Mười</strong></p>
<p>Sau cùng chúng tôi cũng trở lại được Saigon, trở lại căn nhà trong khu Mã Lạng, con hẻm hẹp hôi hám và nhớp nhúa.</p>
<p>Chuyến về thăm nhà của tôi để đưa người anh đến nơi an nghỉ sau cùng không ngờ là chuyến đi đầy nước mắt.</p>
<p>Khi đưa tôi lên xe đò, chị Thúc nói:</p>
<p>“Chú đừng buồn, không có chú, nó cũng lấy nhà tôi, nó nhắm lâu lắm rồi, trước sau gì nó cũng chiếm thôi.”</p>
<p>Tôi nghĩ là chị an ủi tôi. Quỳnh thì không nói năng chi. Suốt những ngày còn lại ở Nha Trang, cô bế con ra biển ngồi trên bờ cát nhìn màu xanh của trời và nước. Lần đầu tiên khi Quỳnh nói muốn đi biển, tôi theo cô thả bộ xuống bãi. Tôi chỉ cho Quỳnh biết những nơi ngày xưa tôi thường hay đến. Cây dừa này hình như lúc nào cũng vậy, không có vẻ gì như bị già đi vì năm tháng. Những lùm cây này cũng vậy hình như mới vừa hôm qua tôi chui vào trong đó núp trốn những thằng bạn học ở trường về réo gọi tên tôi vì bị thầy giáo nhắc trong lớp học. Nhà “dây thép” này thì có vẻ như nhỏ hơn, cọ đơn nữa. Nó đứng một mình. Xung quanh trống trơn không thấy nhà cửa cây cối nào để che đỡ. Sau lưng là biển. Trước mặt là con đường trải hắc ín vắng tanh. Tôi nói cho Quỳnh nghe những kỷ niệm của tôi về cái quán ăn mang tên Fregate, nơi tôi và Bouquet Odette chui dưới gậm bàn nhìn những người lớn nhảy nhót. Và bụi dương, cái khách sạn Hotel Beau Rivage này, trường hải quân, Cầu Ðá, hải học viện, Ðồng Ðế&#8230; chỗ nào tôi cũng thấy có chút dấu vết tôi&#8230; Quỳnh đã nghe tôi nói với một nỗi lạnh lùng mà trước đây chưa bao giờ tôi nhìn thấy. Những lần sau Quỳnh đi biển một mình. Tôi để cô tự do với thiên nhiên. Quỳnh nói đứng bên bờ biển tâm hồn mình rộng lượn hơn.<br />
Cô trầm lặng suốt những ngày còn lại ở Nha Trang cho đến khi trở về. Chúng tôi như bị ngăn lại bởi một tấm màn voan mỏng. Tại sao? Tôi chưa hiểu. Tôi đi tìm ông Công. Tôi muốn xuống Bạc Liêu xem tình hình ra sao. Bác Ngô trước nhà cho biết ông Công có đến tìm tôi mấy lần. Có lẽ sắp có chuyến đi. Ông Công có hứa với tôi là bao giờ ông cho hai đứa con ông đi, ông sẽ dành cho gia đình tôi một chỗ thôi, số còn lại cứ đóng vàng tính theo đầu người.<br />
Tôi ra quán cà phê vỉa hè trước nhà bà Luật Sư Ðại. Nơi đây tôi chắc chắn thế nào cũng sẽ gặp mấy “đệ tử” của ông Công. Nhưng khi đến nơi, tôi mới biết là không có đứa nào cả, mặc dù quán vẫn đông khách như thường lệ. Những người trẻ và cả những người sồn sồn mỗi người trước mặt một ly cà phê đang nói về những người khác hiện đã đến được bến bờ tự do. Một người kể chuyện tiếu lâm thời đại. Ông ta nói nhỏ cho vừa đủ mấy bàn nghe. Và cả đám cười. Những câu chuyện tôi đã từng được nghe, nhưng lần nào nghe lại cũng phải cười cay đắng. Mỗi lần tôi như thấy câu chuyện có thay đổi thêm bớt. cắt xén đôi chút&#8230; nhưng nội dung thì vẫn là một. Ðại khái một đoàn xe chở đám cán bộ cao cấp trong đó có Thủ Tướng Phạm Văn Ðồng trên đường đi Long An, Gần tới cầu Bến Lức thì thấy một người nằm giữa đường xe không cách nào lách qua được. Công an áo vàng xách súng chạy tới, kể cả đám du kích đang gác cầu, dí súng vào đầu người đàn ông nằm giữa đường bắt tránh cho xe thủ tướng đi. Nhưng người kia sau khi ngước mắt lên nhìn mấy tên công an và đoàn xe, lại gục đầu xuống bám chặt chân tay lên mặt đường.<br />
“Con người là vốn quý nhất! Phải trọng con người!” Thủ tướng thường dặn cán bộ công nhân viên như vậy. Không ai dám làm mạnh người nằm dưới đường kia. Sau cùng tên công an xếp sòng đến bên xe Phạm Văn Ðồng: “Báo cáo đồng chí thủ tướng, chúng tôi đã nói hết lời nhưng tên phản động kia không chịu đứng dậy đi. Xin đồng chí thủ tướng cho phép dùng “bạo lực cách mạng” để triệt tiêu bọn phản động dám ngăn cản con đường tiến lên xã hội chủ nghĩa của chúng ta.” Thủ Tướng Ðồng, sau một hồi trầm ngâm suy nghĩ, mở cửa xe bước ra, từ từ đến chỗ người đàn ông nằm. Và mọi người ngạc nhiên không hiểu thủ tướng nói gì mà người đàn ông vụt đứng dậy chạy một mạch băng qua ruộng, xuống dưới chân cầu, mất hút. Tên xếp sòng công an ngơ ngác. Sau khi mở cửa xe cho thủ tướng ngồi vào, hắn hỏi: “Báo cáo đồng chí thủ tướng, xin đồng chí thủ tướng cho biết đã nói gì khiến tên phản động phải bỏ chạy?” Thủ Tướng Ðồng ngó và mặt tên công an cười: “Tôi nói nếu anh không đứng dậy đi tôi coi như kể từ nay anh đã chính thức được kết nạp vào đảng cộng sản Việt Nam.”</p>
<p>Tôi ngồi nhâm nhi ly cà phê. Tôi nhớ lại mấy ngày ở Nha Trang. Cái chết của ông anh tôi. Bọn ruồi xanh ruồi vàng nhảy vào chiếm đoạt ngôi nhà của một người vừa mới nằm xuống. Chị dâu tôi và chữ ký trên tờ giấy viết sẵn của tên công an. Từ sau ngày mẹ tôi khuất núi, chị như một bà mẹ.<br />
Tôi biết chị lo sợ tôi bị tù tội. Nếu không có chuyện tôi bị bọn công an bắt làm con tin, chắc gì chị đã chịu thua. Nhưng chị cứu tôi mà chị không nghĩ là chị còn ba đứa con đang nằm trong các trại cải tạo. Những giọt máu của chị đang sống trong cảnh tù đầy và bầy con nheo nhóc của chị đang chờ ăn từng bữa.<br />
“Thưa thầy.”<br />
Một người trẻ tuổi dựng vội chiếc xe đạp ở lề đường gọi chào tôi.<br />
“Kiệt! Trời ơi, lâu dữ. Sao nghe nói em về dưới quê? Ngồi xuống đây!”<br />
Kiệt kéo ghế ngồi cạnh tôi. Mới có mấy năm mà Kiệt đã lớn hẳn.<br />
“Em ở dưới mới lên chừng tuần nay. Em vượt biên bị bắt ngã Mỹ Tho. Bị giam cả sáu tháng trời.”<br />
“Rồi lên trên này em ở đâu?”<br />
“Em ở nhà dì em, ở khu Nancy . Mà lâu nay thầy có vô trường không?”<br />
“Không. Tại sao?”<br />
“Em cũng không vô trường, nhưng đứa em con bà dì của em nói trường cũng đã thay đổi thêm mấy đợt. Nhiều thầy, cô đã xin nghỉ hoặc vượt biên. Ông Hiên hiệu trưởng cách mạng cũng thôi rồi, thấy có biết không?”<br />
“Ông Hiên bị mất chức sao?” Tôi ngạc nhiên.<br />
“Dạ không. Người ta nói ông Hiên đã đổi ngành xin làm công tác sở giáo dục quận.”<br />
“Cô Loan dạy sử địa là em ông Hiên có chồng làm tới đại úy quân lực Việt Nam Cộng Hòa đã vượt biên với cả nhà. Người ta nói ông Hiên che chở cho chồng cô Loan khai gian không học tập, bây giờ trốn luôn.”<br />
“Thiệt vậy sao?”<br />
“Ðó là người ta nói vậy. Chớ em thì em nghe bà dì em nói bà vợ ông Hiên mới đây đã tự tử. Thành ra ông<br />
Hiên tuyệt vọng, không còn tha thiết cách mạng nữa.”<br />
“Tự tử. Bà vợ ông Hiên tự tử?”<br />
“Dạ, dì em nói bả tự tử vì bên thành ủy được bên công an báo cáo rằng trong thời gian ông Hiên bị tù Côn Ðảo, bà Hiên ra vô Tổng Nha Cảnh Sát khai báo điềm chỉ chỗ ở của cán bộ nằm vùng để mong cứu chồng ra sớm. Hồ sơ đó vẫn còn nguyên trong Tổng Nha nên bên công an nắm được. Bà Hiên nói đó là vu cáo. Và bà tự tử. Ông Hiên bị hạ tầng công tác.”<br />
“Không thể hiểu nổi!”<br />
Tôi nhớ lại cái hình ảnh Hiên gọi tôi vào văn phòng hiệu trưởng. Ðó là một người đàn ông trung niên gầy ốm xanh xao. Hiên có dáng đi của một người lúc nào cũng như sắp ngã. Ðôi mắt luôn luôn nhấp nháy như sợ ánh sáng. Bàn tay trái hay sờ lên lỗ tai. Hút thuốc nhiều và không biết cười. Hiên thuộc loại người có cái bề ngoài đau khổ. Tiếng nói nhỏ gần như mất hết sức sống. Ðiểm đặc biệt: y là người trầm tĩnh.<br />
Tôi nhớ lời phê của Hiên trên tờ giấy xin nghỉ của tôi mà sau này vô tình hay cố ý Sự đã cho tôi một bản.<br />
Hiên xem tôi là một người phóng đãng trong một xã hội đồi trụy và phản động. Phóng đãng không phải là phóng khoáng. Tôi hiểu điều đó.<br />
“Hạ tầng công tác?” như vậy là hạ tầng công tác sao?<br />
Phóng khoáng hay phóng đãng, trắng hay đen, rốt cuộc rồi cũng vậy thôi.<br />
“Chừng nào Kiệt về dưới?”<br />
“Thưa thầy, cuối tháng.”<br />
“Em có tính đi nữa không?”<br />
Kiệt mở to mắt nhìn tôi dò hỏi. Ði hay ở là chuyện bình thường của người Sài Gòn. Vấn đề là có nên nói thật chuyện này với người đối diện hay không mới là điều đáng suy nghĩ. Bất cứ thứ gì ở Sài Gòn lúc này cũng có thể xảy ra. Người ta yêu nhau vội vàng, sống vội vàng, giành giựt vội vàng&#8230; Người ta tố nhau, lường gạt nhau, đâm chém nhau&#8230; chỉ vì một lý do rất tầm thường. Người ta sống như thể chút nữa đây người ta không còn có mặt trên cõi đời này. Những lời trăn -&gt; trăng trối không nói ra nhưng ai cũng hiểu.<br />
“Thưa thầy,” Kiệt hơi ngần ngừ, “em có chuyến đi vào cuối tháng, ngõ Rạch Sỏi, Thầy có muốn đi với em không?”<br />
“Tôi cũng đang tính. Một người quen hứa cho một chỗ. Ngã Bạc Liêu. Nhưng mấy hôm nay không gặp ông ta. Ðiều kiện trong chuyến đi của Kiệt ra sao?”<br />
“Em nghĩ là em có thể dành cho thầy một chỗ được. Nếu cô và em bé cùng đi thì em có thể bàn với chủ ghe. Có thể không đòi hỏi gì thêm đâu. Em bảo đảm mà!”<br />
Kiệt ngập ngừng bưng ly cà phê lên uống ực một hơi như uống nước lạnh.<br />
“Có lẽ em phải đi mua thêm mấy thứ lặt vặt. Thầy suy nghĩ. Chủ nhật em sẽ đến nhà thầy.”</p>
<p>Kiệt đứng dậy. Tôi đưa tay bắt. Kiệt nói đúng. Tôi cần phải suy nghĩ giữa hai chuyến đi. Ông Công hay Kiệt? Tôi sẽ lựa chọn nơi nào tôi tin hơn cả, và tất nhiên là phải rẻ hơn. Chuyến đi Nha Trang, Quỳnh đã mất hết mấy chỉ vàng phụ giúp cho chị Thúc. Quỳnh và tôi cũng đã thăm nuôi ông ngoại của con tôi. Ông gầy hẳn, da xanh mướt. Tôi ít có dịp gặp gỡ và nói chuyện với ba của Quỳnh. Trước khi lấy nhau đã thế, sau ngày lấy nhau tôi càng ít gặp ông hơn. Có vẻ như ông không ưa tôi. Phần tôi, tôi cũng không mặn mòi gì với ông lắm. Nhiều khi tôi tự hỏi là tôi có biết rằng mình có một gia đình và Quỳnh cũng đang có một gia đình không. Có chớ. Tôi có chữ trả lời, nhưng không có ý nghĩ trả lời. Tôi tự xa lánh mọi người trong ý nghĩ của mình. Kiểm điểm lại tôi thấy hình như mình luôn luôn sai trong mọi quyết định. Thành ra như một cách tự biện hộ tôi cứ để cho mọi việc lấp lửng. Thế mà hay! Không quyết định thì không bị sai gì cả.<br />
Tôi cứ nghĩ lan man như thế vì không biết mình sẽ làm gì cho hết ngày hôm nay. Cà phê đâu có ngon lành gì. Chỗ ngồi tuy thoáng mát, nhưng cũng đâu có an toàn.<br />
“Không nơi ẩn nấp.” Tôi bật cười khi nhớ tới tên cuốn tiểu thuyết của Hà Nội in hiện đang bày bán ở các tiệm sách. Ðể giết thì giờ trong những ngày theo ông Công đi công trường Bạc Liêu, thỉnh thoảng tôi có mua một số tiểu thuyết mới của Hà Nội in. Nói chung cuốn nào cũng như cuốn nấy, giống như thuốc lá hiệu Phù Ðổng vậy, giấy vấn và cọng thuốc rời rạc, bập một hơi đã thấy trống rỗng.<br />
Tiểu thuyết quanh đi quẩn lại chỉ khai thác rặt đề tài “Chống Mỹ Cứu Nước,” đến như Nguyễn Tuân, tác giả Vang Bóng Một Thời, Chùa Ðàn, mà cũng chỉ viết được “Hà Nội Ta Bắn Mỹ Giỏi”&#8230; Thơ tình thì không mấy khi gặp được một bài hay trên báo. Nếu có thì đó là thứ thơ tình chiến đấu. Chỗ nào cũng vậy:<br />
Chiến đấu! Chiến đấu! Và chiến đấu! Thơ văn đầy sắt, thép và máu. Tôi có cảm tưởng như nếu đem toàn bộ đống thơ văn ấy mà giũ xuống thế nào cũng làm được vô số súng ống xe pháo tàu chiến&#8230; “Ê, Thăng.<br />
Chờ ai vậy?”<br />
Tâm “khô khốc Thiền Sư” kéo ghế ngồi cạnh tôi.<br />
“Ông đến hồi nào mà tôi không biết?”<br />
“Tao ngồi đằng kia. Mày đi đâu biến mất cả tuần nay?”<br />
“Tao đi Nha Trang.”<br />
“À, à, tao nhớ rồi. Ông anh mày bệnh phải không?”<br />
“Phải. Nhưng mà xong rồi. Chỉ có người sống là không khá thôi.”<br />
Tâm không nói. Anh cúi xuống, cầm cái muỗng quậy quậy ly cà phê của tôi. Tôi chợt nhận ra khi mình nói về cái chết của anh Thúc vô tình đã làm Tâm nhớ lại sự ra đi không vọng lại chút tăm hơi nào của vợ con anh.<br />
Một lúc, Tâm ngẩng đầu lên:<br />
“Tao ngồi đằng kia với đám thằng Ðình. Tao vừa viết xong một truyện ngắn.”<br />
“Mày viết truyện? Ðăng ở đâu? Ở đâu đăng truyện mày?”<br />
Tôi ngạc nhiên thật sự. Một phần vì Tâm trước đây là tay chuyên viết phê bình văn học chớ không phải là tay sáng tác; phần nữa báo chí của chế độ cộng sản Hà Nội vốn là một công cụ của chính quyền, đâu phải ai cũng viết mà đăng được. Ai viết? Viết cái gì? Ðó là những câu hỏi cửa ải, coi vậy mà khó qua nổi.<br />
“Mày không hiểu gì hết. Tao viết trong đầu tao chớ đâu phải viết ra giấy. Ðứa nào muốn biết thì tao kể cho nghe, chớ khỏi đọc. Mày muốn biết không?”<br />
“Thì cứ kể nghe coi!”<br />
“Uống cà phê mà kể chuyện thì chán chết. Tụi mình tới quán Cây Lý lai rai đi. Tao mới bán được mấy trăm cuốn sách.”<br />
“Mày kêu thằng Ðình đi luôn thể.” Tôi nhắc.<br />
“Không. Thằng Ðình chỉ cà phê thôi. Rượu là không có nó. Mày quên rồi sao?”</p>
<p>Quán nhỏ, kê chừng bốn cái bàn thấp. Tất cả dựa lưng vào vách. Sàn nhà gạch, nhưng mặt vách bẩn. Khách ngồi chật. Tâm đi thẳng vào bên trong tự nhiên như người nhà, bê ra một chiếc bàn nhỏ.</p>
<p>“Mày lấy ghế đi!” Tâm chỉ tôi một chồng ghế ở sát chân quầy.</p>
<p>“Sao mày rành chỗ này quá vậy?”</p>
<p>“Thì ngày nào không đóng góp với chủ nhà này mà không rành.”</p>
<p>“Mày với thằng Ðình mà bỏ đi thì quán Cái Chùa coi như Chùa Bà Ðanh rồi còn gì!”</p>
<p>Tâm không trả lời. Tôi nhìn bạn. Trước kia Tâm vốn đã xanh xao gầy nhom gầy nhách. Giờ đây anh còn tệ hơn nữa. Mặt sạm đen. Hai con mắt sâu. Mái tóc xơ xác. Những ngón tay gầy khẳng khiu. Quần áo nhớp nhúa tả tơi. Người chủ quán mang ra hai xị rượu, hai cái ly, một dĩa òng và nước chấm.</p>
<p>“Ông uống với tụi này một ly!” Tâm mời người chủ giọng thành thực.</p>
<p>“Tôi làm mấy trận rồi ông ơi. Cha nào tới đây cũng bắt tôi làm một ly. Sức đâu mà uống. Thôi cám ơn. Bữa nào tôi đóng cửa tiệm nhậu riêng với ông một bữa&#8230;”</p>
<p>“Rượu bất khả ép!” Tôi nói.</p>
<p>“Thằng cha này tên Thăng. Nó là bạn thân của tôi. Còn ông này là ông Cường, chủ quán.”</p>
<p>Tôi bắt tay người đàn ông.</p>
<p>“In hình tôi đã gặp ông ở đâu một lần rồi.” Người chủ quán nói.</p>
<p>“Tôi cũng vậy. Anh trông quen lắm. Chắc là mình có gặp nhau ở đâu rồi.”</p>
<p>“Ê, ông chủ, cho mấy xị nữa coi!”</p>
<p>Tiếng một người khách gọi. Người đàn ông cầm tay tôi lắc lắc.</p>
<p>“Xin lỗi! Xin lỗi!”</p>
<p>Và ông ta quay vào nhà trong lấy rượu.</p>
<p>“Tay này uống dữ lắm!” Tâm giới thiệu.</p>
<p>“Bằng mày không?”</p>
<p>“Tao thì nhằm nhò gì. Cỡ Tạ Ký, Lê Tấn Lộc chớ không phải tay vừa đâu.”</p>
<p>“Mày nhắc tao mới nhớ. Thằng Lộc bây giờ ở đâu?”</p>
<p>“Ở đâu? Nó bị đi cải tạo từ hồi nào tới giờ. Bộ mày không biết hả?”</p>
<p>“Sao không biết. Ký và Lộc bị gọi đi trình diện từ đợt đầu mà. Nhưng tao tưởng thầy giáo thì ra sớm chớ!”</p>
<p>“Thì cũng tại hai chữ biệt phái. Mấy tay quân quản cho rằng biệt phái là ghê gớm lắm. Chắc là nhân viên đặc biệt phái tới để theo dõi cô giáo thầy giáo trong trường nên phải giam lâu.”</p>
<p>“Bộ mày với tao không phải là đám biệt phái sao?”</p>
<p>“Thì cũng biệt phái, nhưng tụi mình binh nhì. Học quân sự chín tuần ở Quang Trung thì đâu được sĩ quan. Thằng Lộc và ông Ký đi Thủ Ðức, đều lên đại úy cả. Mà mày chưa nhận được giấy thăng cấp binh nhất à?”</p>
<p>“Hồi nào?”</p>
<p>“Tao nhận giấy đúng đầu năm bẩy lăm.”</p>
<p>“Trường tao không thấy đưa. Mà như vậy là sao?”</p>
<p>“Là sao? Binh nhì hay binh nhất thì ăn nhậu cái mẹ gì. Cho nên mấy chả lờ. Chớ sĩ quan như Lộc với Ký thì nó ghim. Mà sĩ quan gì kiểu Lộc và Ký chớ. Có bao giờ được bóp cò súng đâu. Ít nhất cũng đụng trận vài ba lần chớ, đằng này&#8230;”</p>
<p>“Mày có hiểu đạo đức mới là gì không?”</p>
<p>“Sao tự nhiên nói chuyện đạo đức?”</p>
<p>“Tao nhiều lúc ngẫm nghĩ trong khi bạn bè mình thằng nào cũng tù tội, biệt tích, mà mình lại nhởn nhơ như thế này, thiệt là vô đạo đức.”</p>
<p>“Tao cũng nghĩ vậy, nhưng có thiệt là mình đang nhởn nhơ không. Nhiều khi tìm cớ ngụy biện cho lương tâm yên ổn. Cứ cho là tụi nó ở trong một nhà tù nhỏ, còn bọn mình chẳng phải ở trong một nhà tù lớn sao? Cũng chỉ là tù, mà tù trong hay tù ngoài. Thế thôi!”</p>
<p>“Ờ, thì nói để mà nói vậy thôi. Bây giờ mày làm gì?”</p>
<p>“Tao lái xe ủi đất dưới Bạc Liêu. Còn mày?”</p>
<p>“Tao làm ở xưởng phim.”</p>
<p>“Mày biết mẹ gì phim ảnh mà làm.”</p>
<p>“Vợ con tao mày biết đã mất tích ngoài biển rồi. Ông già bà già tao cũng đã chết. Sách vở là tài sản của tao đã đem hết ra đường Bùi Quang Chiêu bán đổ bán tháo&#8230; Nếu tao có thể làm nghề chợ trời&#8230;”</p>
<p>“Nhưng mày biết mẹ gì phim ảnh mà làm.”</p>
<p>“Thì cũng nhờ người này người nọ quen biết trong đó giới thiệu. Không biết cầm máy quay phim thì cũng xách đèn chiếu cho thằng ca-mê-ra-men. Nó hỏi tao viết truyện phim được không. Tao nói được. Nhưng mày biết được là được thế nào?”</p>
<p>“Vậy mày được cái gì?”</p>
<p>“Tao được phiếu mua gạo và nhu yếu phẩm hàng tháng. Bả đi còn để lại tao một đứa. Nhiều bữa hai cho con nhìn nhau chỉ có cơm và nước mắm kho quẹt.”</p>
<p>“Tụi nó nói là hồi này mày nhậu dữ lắm. Phải không?”</p>
<p>“Tụi nó đãi. Phần tao chỉ biết uống. Chớ mày nghĩ tao phải làm sao bây giờ?”</p>
<p>Phải làm sao bây giờ? Tôi nghe câu hỏi ấy của Tâm sao mà giống câu hỏi trong đầu của tôi quá chừng chừng. Phải làm sao bây giờ? Nhìn trước, nhìn sau, nhìn quanh, nhìn quẩn, tôi thấy mình như một con heo trong rọ. Nhưng con heo còn có thể đem cân bán, chớ nhu mình quá không đáng một xu. Tôi chợt nhớ tới câu chuyện Tâm hứa sẽ kể. Tôi nhắc:</p>
<p>“Mày kể chuyện cái truyện gì của mày coi.”</p>
<p>“À. Kể thì kể. Nhưng dzô cái đẹp mắt coi.”</p>
<p>Rượu thuốc đục ngầu. Mùi khó thở. Tôi nhắm mắt uống ực như uống thuốc. Tâm cười.</p>
<p>“Mày nhất định không chịu bỏ nghề sao?”</p>
<p>“Bỏ nghề gì? Tao nghỉ dạy rồi mà!”</p>
<p>“Bỏ nghề phá-mồi. Bộ mày tưởng thời buổi này dư dả lắm sao mà chỉ phá-mồi?”</p>
<p>“Thôi cha. Kể chuyện nghe coi.”</p>
<p>“Ờ, chuyện thì chuyện. Theo mày thấy thì lúc này làm nghề gì dễ sống nhất?”</p>
<p>“Sao mày cứ nói lảng?”</p>
<p>“Thể thao và văn nghệ. Ðúng không?”</p>
<p>“Ðúng. Nhưng nói rõ thể thao là đá banh, còn văn nghệ là âm nhạc.”</p>
<p>“Ừ. Coi bộ lái xe ủi đất mà cũng rành sáu câu dữ. Tao viết một truyện ngắn về âm nhạc.”</p>
<p>“Âm nhạc? Càng ngày càng làm tao chới với. Hết làm phim, bây giờ lại làm nhạc. Mày học nhạc hồi nào?”</p>
<p>“Thôi, đừng có giả mù sa mưa cha. Truyện tao viết đại khái vầy: Có một thằng cha đó năm nay bốn mươi hơn. Tóc đã bắt đầu muối tiêu. Thằng chả giàu nhờ mở một nhà hàng ăn bên bờ sông. Khách khứa ra vào nườm nượp. Ðời chả chỉ biết tối tối đếm tiền. Càng giàu, càng đổ tật. Không biết mắc chứng gì mà chả mê âm nhạc. Chả thích chơi hồ cầm. Thích đứng giữa một dàn đại hợp xướng trên sân khấu. Chả suy đi tính lại, nhất quyết phải trở thành một tay hồ cầm có cỡ. Bạn bè nghe chả nói ý định ai cũng can. Lớn rồi, học nhạc phải học từ nhỏ, chớ từng tuổi, tay chân cứng đơ, âm nhạc gì. Chả không nghe, ghi danh đi học. Tiệm ăn thiếu người trông coi, mỗi ngày một mất khách, sa sút dần. Ðến khi chả ra trường thì tiệm ăn coi như sụp. Không còn tiền bạc, không còn tài sản, chả bán nhà bán cửa, đi lang thang, cố xin một chân trong ban đại hòa tấu. Nhưng ở đâu người ta cũng từ chối. Nói là ngón đàn chưa ngọt, không đủ điêu luyện để hòa nhập vào ban đại hòa tấu. Cuộc sống chả ngày càng thê thảm. Chả rách rưới nghèo khổ, bẩn thỉu, lang thang, lếch thếch như một hành khất. Nhưng tấm lòng yêu âm nhạc của chả là thực. Chả cứ lui tới ở mấy nơi có các ban đại hòa tấu lớn chơi. Chả xin việc. Người ta nói ban nhạc đã đủ người. Sau cùng để thỏa lòng yêu âm nhạc, chả xin làm người dắt chỗ cho khách thưởng ngoạn&#8230;”</p>
<p>“Nhân viên dẫn chỗ ngồi?”</p>
<p>“Ừ, đúng. Chả làm nhân viên dẫn chỗ ngồi. Nhưng mà đừng tưởng làm nhân viên dẫn chỗ ngồi là dễ đâu nghe!”</p>
<p>“Mày muốn nói cái gì vậy?”</p>
<p>“Mày thông minh có thừa. Mày dư biết tao muốn nói gì rồi. Tuổi tụi mình đâu phải là tuổi bắt đầu đi làm cách mạng. Phải không? Vả lại&#8230;”</p>
<p>Tôi hiểu tâm sự bạn.</p>
<p>Tôi cầm đũa gắp một miếng lòng. Mùi rượu thuốc làm tôi khó chịu.</p>
<p>Tâm tựa lưng vào vách. Khuôn mặt anh bỗng nhiên nguội lạnh bất ngờ hai con mắt ướt như sắp khóc. Anh lặng thinh, bất động như một bức tượng.</p>
<p><strong>Chương Mười Một</strong></p>
<p>Chiếc xe đò đi Rạch Giá chật ních người. Kiệt đã lấy cho tôi một chỗ khá tốt: ghế đầu ngồi cạnh bác tài. Trong túi tôi đang có một tấm giấy công tác giả do ông Công cấp, ghi là tôi đi công trường An Biên nghiên cứu đào giếng.<br />
Trước mặt tôi, trên đùi tôi, là tờ báo Quân Ðội Nhân Dân mô tả một trận đánh ở vùng biên giới Việt Nam-Cam Bốt. Tôi đọc thấy lời khai của một ten Khmer Ðỏ: nay mai người Khmer sẽ chiếm lại Saigon, vì Saigon là của dân tộc Khmer. Thế là thế nào? Khmer Ðỏ là cộng sản, Hà Nội cũng là cộng sản. Trên một tờ báo ảnh của Hà Nội mà tôi tình cờ đọc thấy sau ngày mất Saigon có hình Pol Pot bắt tay Trường Chinh, trang trước đó nữa Sihanouk ôm hôn Phạm Văn Ðồng&#8230; Thế là thế nào? Tôi xếp tờ báo lại. Tôi không cách nào hiểu được thời sự thời thế thời cuộc. Ðối với tôi, những thứ ấy luôn luôn làm tôi rối trí. Bao giờ trong đầu tôi cũng nghĩ đến một chuyến đi. Ði để trốn thoát cái không khí trước đây vốn không cho tôi đủ khí trời để thở, và giờ đây phải đi vì không khí ngục tù và rờn rợn. Tôi mơ hồ cảm thấy có một tấm lưới lớn đang từ từ chụp xuống những con người Saigon, không khí không những đang bị rút dần mà sự đe dọa vô hình in hình như mỗi lúc một gần hơn, nặng nề hơn. Saigon đối với tôi giờ đây chỉ là những quán cà phê vỉa hè, những chiếc ghế bằng gỗ tạp thấp tè đóng vội vàng, và cơm nguội bắp rang, vỏ măng cụt trộn lẫn với cà phê tạo nên một thứ mùi kỳ quái. Chúng tôi sống trong thế giới của những tin đồn. Người đang bị tù thì tưởng đã đi rồi. Còn người đi rồi đôi khi cứ tưởng như còn lẩn quẩn đâu đây.</p>
<p>“Thầy nên đi coi ghe trước khi quyết định.” Kiệt đã nói với tôi như vậy. Và cậu đã lấy vé chợ đen cho tôi, vẽ địa điểm sẽ gặp nhau ở chợ Rạch Giá, “ăn cái gì rồi mình đón xe Lam đi Rạch Sỏi, ghe ở đó.”</p>
<p>Tôi nói với Quỳnh có lẽ tôi sẽ đi trong ba ngày: một ngày đi, một ngày coi ghe, một ngày về.</p>
<p>Buổi sáng dậy sớm, tôi bỏ theo trong túi xách một bộ quần áo, bàn chải và kem đánh răng, một cuốn sách&#8230; và lên đường một mình. Ðó là lần đầu tiên tôi đi Rạch Giá.</p>
<p>Xếp tờ báo lại, để dưới chân, tôi hỏi người lái xe bao giờ thì sẽ đến bến. Ông ta nhìn tôi cười khi tay vừa đẩy cần sang số:</p>
<p>“Vượt biên sao mà nôn nóng dữ cha nội!”</p>
<p>“Ðừng nói giỡn, tù mọt xương ông à!”</p>
<p>“Thì nói giỡn mà! Ðất nước độc lập thống nhất rồi ai ngu dại gì bỏ đi đâu chi cho nó cực.” Ông ta vừa nói vừa nheo mắt nhìn tôi cười mỉm. “Nè, tui hỏi thiệt,” giọng ông nhỏ hẳn lại, “đi Rạch Giá chi vậy?”</p>
<p>“Tôi đi công trường An Biên, đào giếng.”</p>
<p>“Bộ ông là cán bộ à?”</p>
<p>“Không&#8230;” Tôi ấp úng.</p>
<p>“Tướng ông khó làm cán bộ lắm. Nhưng&#8230;” Ông ta lại cười.</p>
<p>Tôi thấy ông có chiếc răng cửa bị gẫy, khuôn mặt sạm đen, da sần sùi, chiếc cổ bạnh, bàn tay đặt trên vô lăng to bè. Tôi không muốn nói chuyện với ông ta. Tôi đoán ra ông ta định ám chỉ cái gì, nhưng tôi không tin lắm. Tốt hơn hết là đừng nói, kệ ông ta muốn gợi chuyện gì thì gợi. Ai biết đâu có công an giả dạng thường dân ngồi ở mấy ghế sau. Tôi đưa mắt lơ đãng ngó cảnh tượng trước mắt đang bị chiếc xe nuốt dần. Và tôi chợt thấy cái vẻ đẹp kỳ lạ vô cùng giữa thiên nhiên và con người. Cả một cánh đồng lớn đang chạy lùi dần là những ngôi mộ và trên mỗi ngôi mộ là những tờ giấy (hay vải?) ngũ sắc cắt dài như những cái tua bay phất phới.</p>
<p>Một bức tranh hoành tráng với những màu nóng phơi dưới một mặt trời chiều đỏ ối. Nơi yên nghỉ của người chết cũng đẹp đâu thua gì lâu đài của những người sống. Tôi nghĩ vậy. Ðẹp. Trời ơi, sao tôi cứ bị cái đẹp theo đuổi hoài.<br />
Nhưng mà đẹp thì giải quyết được cái gì chớ? Bỗng nhiên tôi nhớ Ðăng và Mai. Tôi đã đồng ý ký giấy để mẹ chúng nó được phép mang cả hai đi Pháp. Cho đến khi Saigon thất thủ, mẹ chúng nó vẫn còn giữ quốc tịch Pháp và bây giờ bà ta đang làm thủ tục xin hồi hương. Nếu tôi không vượt biên được, coi như từ nay vĩnh viễn không bao giờ cha con tôi sẽ gặp lại nhau. Chưa bước chân xuống thuyền mà sao tôi cứ tưởng cô em út tôi ở Virginia đang chờ tôi ở phi trường, Tôi tưởng như thấy tay mình đang vốc từng nụm tuyết tung lên trời, há cổ nuốt cái lạnh lẽo chỉ thấy trong tiểu thuyết. Tôi nghe tiếng hành khách trong xe chộn rộn. Xe đã vào bến. Tôi mở cửa bước xuống, Lẫn phía sau những người phu xích lô đón khách, tôi thấy Kiệt đưa tay ngoắc tôi.</p>
<p>“Ðể em đưa thầy đến nhà chú Chín, ngủ qua đêm. Chú Chín người miền Trung nhưng làm nghề biển, theo gia đình vào Nam sống gần chục năm nay. Chú có ghe nhưng không tính vượt biên. Chú nói còn làm ăn được, nên không vội. Chú đã giới thiệu em với một người chủ ghe khác. Ghe đó hiện ở Rạch Sỏi. Sáng mai anh Hiệp tài công sẽ gặp mình ở quán này, rồi cả ba người sẽ đi Rạch Sỏi.”</p>
<p>Có lẽ hàng quán ở bến xe đò nơi nào cũng giống nhau. Cái vẻ tạm bợ thấy rõ trên từng tấm bạt căng trên các “cọng” cây xiêu vẹo. Một tấm phản làm bàn kê trên mấy hòn gạch nung. Chén bát ly tách bẩn thỉu bụi bặm. Người đàn bà chủ quán pha cà phê bít tất đổ vào cái ly nhựa màu ngà sần sùi. Tôi hớp một ngụm, ho sặc sụa. Tôi đói bụng. Tôi muốn tìm cái gì để ăn. Kiệt nói cậu cũng đói. Và cậu dẫn tôi đi luồn ra bến xe, băng qua một chiếc cầu làm bằng xi măng. Chiếc cầu nhỏ có lan can. Nước dưới cầu có vẻ cạn, chảy nhẹ nhàng lấp lánh chút màu vàng ối của mặt trời sắp lặn. Chúng tôi bước vào thành phố. Những tiệm buôn nhỏ. Tiệm thuốc Bắc, tiệm vàng, tiệm vải. Kiệt kéo tôi vào một tiệm mì.</p>
<p>“Coi ghe xong, tuần tới là mình đi. Thầy tính sao?” Kiệt châm thuốc, thở khói sau câu hỏi.</p>
<p>Tôi nhìn cậu học trò xuất sắc nhất trong lớp của năm cuối cùng trong đời dạy học. Tôi không thể tưởng tượng Kiệt đã thay đổi và trưởng thành nhanh chóng đến như vậy. Khuôn mặt Kiệt không còn cái vẻ thư sinh mà tôi từng thấy. Tóc Kiệt hơi quăn, cắt ngắn sát da đầu, hai con mắt sáng nhìn thẳng, gò má nhô xương, da sạm đen vạm vỡ, mạnh khỏe, vai ngang, tay gân guốc.</p>
<p>“Em làm ruộng.” Kiệt nói khi nhìn thấy mắt tôi đang ngó chăm cậu.</p>
<p>“Làm ruộng thì đã sao?” Tôi hỏi lại.</p>
<p>“Nếu đi được, chắc em sẽ tiếp tục học cho xong. Em thích khoa học hơn&#8230;”</p>
<p>“Tôi thì không thấy chút hy vọng nào về chuyện đi hay ở. Ði, tôi không biết cái gì đang chờ đợi tôi, mà ở, tôi cũng không thấy một đốm sáng nào trong cuộc đời đen tối của tôi.”</p>
<p>“Em thì khác. Ðối với em chỉ có sự đi chớ không có sự ở. Em nhìn thấy tương lai em ở bên kia bờ biển. Còn ở đây không có chỗ cho em.”</p>
<p>“Nghĩa là&#8230;?”</p>
<p>“Nghĩa là em chỉ có một con đường là đi. Năm mươi phần trăm thoát, năm mươi phần trăm cho cá mập hay đồn công an, em biết vậy, nhưng mà&#8230; thà bị chết còn hơn là tự giết mình lần mòn trong cái lý lịch của mình. Em không thấy ba em sai. Em không bao giờ nghĩ rằng ba em đã sai. Em hãnh diện có một người cha chọn cái chết cao cả của một quân nhân bại trận. Sống cũng như chết, ba em đều để lại cho em cái hình ảnh hào hùng của một con người.”</p>
<p>Tôi nhìn chăm vào mắt Kiệt. Tôi đọc được sự cương quyết đến dứt khoát của người trẻ tuổi. Tôi thấy mình như già hẳn đi. Tôi bối rối, mơ hồ. Tôi muốn đi nhưng không biết mình sẽ đi về đâu. Tôi sợ ở, nhưng lòng lo âu trong sự tù túng nên lúc nào cũng thấp thỏm muốn đi. Tôi như người đứng giữa hai lằn đạn. Xoay bên này, trở bên kia, tôi luôn luôn bị những cây kim nhọn châm vào. Tôi nghĩ đến Quỳnh, đến đứa con của chúng tôi. Ðăng và Mai được mẹ nó đưa đi Pháp. Bản đại tự do tòa án Sài Gòn cấp cho phép tôi giữ Ðăng, nhưng vì tương lai của cháu, tôi đã đành phải ký giấy để cháu theo mẹ. Tôi không biết mình phải làm gì. Mẹ cháu còn giữ quốc tịch Pháp, mặc dù thẻ do tòa lãnh sự Pháp cấp từ lâu đã không còn. Quỳnh đã may sắm và dồn bao nhiêu là quần áo cho hai cháu. Cô không biết, và tôi cũng không hề nghĩ là những thứ ấy dân Paris đâu cần. Mặc kệ. Giấy tờ đã có, nhưng làm sao để có tên sớm trên danh sách chuyến bay. Người đàn bà nói với Quỳnh, “chị cần năm cây.” Quỳnh chạy khắp nơi, gõ cửa những người quen, đứng ra vay nợ, mang đến để cho bà hối lộ bọn làm giấy tờ.<br />
Quỳnh mở cánh cửa đón người đàn bà trước kia, đã từng thuê du đãng kéo cô lên taxi xé quần áo toan làm nhục cô, nhưng cũng may Quỳnh đã thoát nhờ mấy người lính uống bia bên kia lề đường, nhảy vào can thiệp. Tôi cũng có dịp lại được đối diện nhiều lần với người đàn bà đã mướn người thanh toán tôi ở bến tàu. Nhưng lòng tôi đã không còn hận thù. Tôi mừng cho người đàn bà ấy sắp thoát khỏi được một nơi chốn mà ai cũng chờ chực để ra đi. Dù sao tôi cũng yên tâm biết là Ðăng và Mai sẽ đến một nơi tôi từng muốn đến. Và chúng sẽ được sống bên một người mẹ mà tôi tin là “biết yêu con.” Cái còn lại nơi tôi là Quỳnh và đứa con của chúng tôi. Quỳnh đã mua một tủ kiếng bán áo thun có vẽ hình và chữ, kiểu như Saint-Germain des Prés, Paris, New York,&#8230; Quỳnh hai mươi bảy tuổi, đã sống với tôi những năm tối tăm, đã cho tôi một đứa con, đã chia sẻ cùng tôi những nỗi buồn, nỗi lo.<br />
“Nếu không đi được, em sẽ làm gì?” Tôi hỏi Kiệt.<br />
“Nếu không đi được, em sẽ tạm tiếp tục làm ruộng.”<br />
Kiệt nhìn tôi, hơi ngập ngừng:<br />
“Em không biết là có một tổ chức kháng chiến nào không. Em muốn&#8230;”<br />
Tôi đưa tay nắm bàn tay Kiệt. Bàn tay cậu có những ngón tay chai cứng. Chắc đã lâu Kiệt không cầm bút.<br />
Tám, Hiệp, Kiệt và tôi gặp nhau ở bến xe Lam. Buổi sáng trời nắng vừa. Chiếc xe chờ đủ khách mới đi.<br />
Bốn chúng tôi ngồi bốn góc làm như những người không hề quen nhau. Hiệp là tài công. Tám, thư ký trường đại học Bách Khoa Phú Thọ, đón khách lo thực phẩm. Kiệt có công tìm hải bàn, và tìm khách. Tôi được Kiệt giới thiệu tham dự chuyến đi&#8230;<br />
Chạy đến Rạch Sỏi, xe thả chúng tôi xuống một bến chợ nhỏ. Mỗi người tảng lờ đi rời rạc sau Hiệp và Kiệt. Chợ loe hoe mấy người đàn bà ngồi xổm bán cá, tôm còn tươi rói. Mặc đường hẹp, nước sệt bùn đen quánh, trơn trợt. Hiệp đi băng qua chợ, không dừng lại chỗ người bán cá. Tôi theo chân Kiệt bước xuống bến sông. Kiệt nhảy lên một chiếc ghe, nhẹ nhàng như con rái cá. Tôi nhảy theo, chiếc dép da đứt quai, bùn dưới chân đặt quánh, tôi ngã xuống bờ sông, hai tay chống xuống nước, chỏng gọng. Tôi nghe chân đau nhói. Nước mấp máy đến cằm tôi. Tôi nghẹt thở. Kiệt từ trên ghe nhảy xuống, ôm chầm lấy tôi.<br />
“Thầy có sao không?”<br />
Tôi không trả lời. Tôi không thể trả lời được. Tôi đau.<br />
Kiệt dìu tôi lên bờ.<br />
Tôi nằm bệt xuống mặt đất, nghe mùi bùn thoảng lên tận mũi. Tôi nghe đau nghiến từng cơn.<br />
“Thầy có sao không?” Kiệt nắn nắn chân tôi.<br />
“Không, không sao.” Tôi biết tôi đang nói dối.</p>
<p>Tôi đau nhức như thể có người cầm dao thọc vào thịt xương tôi. Tôi bẹp dí như cái bong bóng bị kim đâm. Bùn với nước bết vào tóc tai tôi, quần áo tôi. Tôi lăn trở đau đớn.</p>
<p>Có gì đâu! Chỉ là một cái sẩy chân, tại sao tôi có thể bị chấn thương như vậy.</p>
<p>Tôi ngó lên. Bầu trời xanh với những đám mây trắng xốp đứng sững. Không một chút gió. Không một cánh chim.</p>
<p>Tôi nhìn quanh. Nhiều khuôn mặt chụm lại, cúi xuống. Tôi không phân biệt được ai là ai. Những con mắt hau háu. Những bộ mặt giả nhân giả nghĩa. Những mái tóc xù. Những hàm răng nhọn.</p>
<p>“Anh kia, đứng dậy.” Có tiếng nói như ra lệnh.</p>
<p>Kiệt cúi xuống sát mặt tôi, hai tay vẫn nắn chân tôi.</p>
<p>“Bể rồi, thầy ơi!”</p>
<p>Tôi nhìn lên. Tất cả những khuôn mặt vừa chụm lại ngó xuống bỗng giãn ra. Bầu trời lại xanh. Ðám mây trắng vẫn bất động. Tôi thấy mấy cánh tay dài chìa xuống xốc nách Kiệt.</p>
<p>“Cả tên này nữa!”</p>
<p>Một tiếng nói khác. Một khuôn mặt khá trẻ. Hai cánh tay dài phóng xuống chụp lấy vai tôi.</p>
<p>“Ðứng dậy!” Tiếng nói ra lệnh.</p>
<p>“Nè, đừng làm dzậy. Người ta bị gãy chân rồi!” Tiếng nói lẫn trong đám đông. Nhiều tiếng xì sầm.</p>
<p>Người ra lệnh vừa rồi luồn tay dưới lưng tôi, gần như đẩy tôi đứng lên.</p>
<p>“Ðau quá!” Tôi nghe tiếng mình nói rất nhỏ.</p>
<p>“Anh đã bị bắt!” Người thanh niên nắm cổ áo sau ót tôi.</p>
<p>Tôi không thấy sợ, nhưng chân tôi khuỵu xuống, tựa hồ như cái bản lề ở đầu gối và mắt cá bị sút ốc.</p>
<p>“Xin đồng bào giải tán. Bắt bọn vượt biên phản quốc chớ có gì đâu mà coi!”</p>
<p>Người nói là một trung niên tóc bạc, gầy ốm, nhỏ thó, đang đứng trước mặt tôi.</p>
<p>Ðám đông tản ra một số. Còn lại một vài con mắt tò mò.</p>
<p>“Trói lại!” Hắn nói.</p>
<p>Tôi ngạc nhiên khi nhìn thấy không có một tên nào ăn mặc đồng phục công an hay bộ đội. Tất cả đều thường phục. Tên đang trói tôi có khuôn mặt trẻ hơn là lúc đầu tôi tưởng.</p>
<p>“Các anh có biết vượt biên là phản quốc, là liếm gót giày bọn tư bản không?”</p>
<p>Người trung niên nói. Y mặc áo ca rô bỏ ngoài quần rộng thùng thình, dép da kiểu dân Sài Gòn. Tôi bị trói ngoặt hai cánh tay tréo sau lưng. Tôi nhìn thấy Kiện cũng bị trói thúc ké. Hiệp và Tám không có mặt.</p>
<p>“Ðưa họ về trụ sở trước. Tôi sẽ làm việc với họ sau.” Người trung niên ra lệnh.</p>
<p>Ðán đông mở ra. Một tên đi trước. Kiệt bước theo. Tôi không giở chân lên nổi. Tên còn trẻ đẩy chúi tôi.</p>
<p>Tôi khuỵu chân, ngã xuống. Tôi đau muốn tắt thở.</p>
<p>“Có sao không thầy?” Kiệt quay lại quì hai chân hỏi.</p>
<p>Tôi ngã sấp xuống mặt đất. Bùn sệt và nhão ướt.</p>
<p>“Tôi đi không nổi đâu.” Tôi nói với Kiệt.</p>
<p>“Thầy phải cố lên!” Kiệt đứng thẳng dậy, mắt vẫn nhìn chăm vào mắt tôi.</p>
<p>Tôi nghe hơi lạnh của bùn thấm vào gò má và tai tôi. Tôi gượng dậy. Tôi lết đi trên một chân.</p>
<p>Trạm công an không xa chợ nhưng tôi tưởng mình khó mà tới nổi. Nó đứng giữa cánh đồng lúa vừa gặt, trơ trọi. Bên trong chỉ có một cái bàn mấy cái ghế xộc xệch, ọp ẹp.</p>
<p>Tôi thấy Tám, Hiệp và một đám khác ngồi lố nhố bên trong. Trừ mấy đứa bé còn nắm tay mẹ, số còn lại đều bị trói thúc ké.</p>
<p>Tôi và Kiệt bị ấn ngồi bệt xuống.</p>
<p>Nền nhà bằng đất chỗ lồi chỗ lõm. Tôi nhận ra không phải mình chỉ đau ở chân mà còn nghe tức cả ngực nữa.</p>
<p>Tên trẻ tuổi dùng ngón tay trỏ chỉ vào từng đầu người lẩm nhẩm đếm. Tôi nghe tiếng một đứa bé khóc. Bà mẹ bị trói, đứa bé bò quanh chân. Mấy người ngồi trước mặt nói chuyện bằng tiếng Tàu.</p>
<p>Tôi nhớ Quỳnh. Tôi như nghe tiếng khóc của con tôi. Trạm công an ở Nha Trang. Phòng giam nhỏ trên lầu. Tờ giấy ký nạp nhà. Cái chết của anh Thúc. Hai đứa cháu của anh còn nằm trong trại tù tập trung sĩ quan cải tạo. Ðăng và Mai đang chuẩn bị theo mẹ chúng đi Pháp. Những lời dặn dò của Quỳnh trước khi ra đi. Những tờ giấy ngũ sắc trải dài trên các ngôi mộ dọc đường xuống Rạch Giá. Chiến tranh biên giới Cam Bốt. Pol Pot bạn hôm qua của Hà Nội, kẻ thù ngày nay của Việt Nam. Cuộc chiến vừa chấm dứt Tháng Tư, Tháng Năm đã nổ ra những tiếng súng bên giới. Nếu tiếng súng ngừng nổ thì cái gì sẽ xảy ra trên đất nước này?</p>
<p>“Tất cả nghe đây!” Tên trung niên tóc bạc, gầy nhom, nhỏ thó bước vào giữa phòng.</p>
<p>“Ðồng chí Bảy Ca. Ðồng chí cởi trói mấy ông bà này giùm tôi.”</p>
<p>Tên còn trẻ từ cửa hông bước vào. Y đi chậm rãi tới trước mặt từng người một, cúi xuống, tháo gút. Y trạc tuổi Kiệt, nhưng có vẻ khắc khổ hơn. Da mặt đen, hai cánh tay dài, mắt nhỏ.</p>
<p>“Tất cả nghe đây!” Tên trung niên đứng giữa phòng nói, “Theo thứ tự trước sau, mọi người ai có đồng hồ mắt kiếng, tiền bạc giấy tờ mang lên đây nộp theo lệnh gọi. Nghe chưa?”</p>
<p>Một người ở hàng đầu bỗng đưa tay lên.</p>
<p>“Anh kia, muốn gì?” Tên trung niên hỏi.</p>
<p>“Tôi muốn đi tiểu.” Người bị bắt nói giọng lơ lớ.</p>
<p>Cả đám tù bật cười.</p>
<p>“Đứng dậy. Ra chái sau.” Tên trung niên nói, “Nhưng…Thôi anh đi đi…”</p>
<p>Anh đưa mắt nhìn tên trẻ tuổi.</p>
<p>Tên này đi trước dẫn đường cho người tù đi tiểu.</p>
<p>Nhiều người đã lần lượt đứng dậy bước lên tháo bỏ đồng hồ, tiền bạc và giấy tờ lên mặt bàn.</p>
<p>Tên trung niên cầm từng chiếc đồng hồ lên săm soi. Những tờ giấy bạc y lùa sang một bên làm như không thèm để ý. Tôi ngạc nhiên thấy y không hề liếc mắt trên những tờ giấy đi đường.</p>
<p>Sau Kiệt, tôi đứng lên tháo chiếc đồng hồ Seiko đặt trước mặt y. Tôi móc hết tiền trong túi ra. Tôi lấy tờ giấy công tác do Công cấp chậm rãi mở ra, cố ý cho y nhìn.</p>
<p>“Tôi không phải người vượt biên.” Tôi nói mắt nhìn thẳng vào mắt y.</p>
<p>Y cũng nhìn tôi ngạc nhiên.</p>
<p>“Anh không vượt biên?” Y hỏi. “Vậy chớ anh đi đâu dưới này? Mà anh là ai?”</p>
<p>“Tôi đi công tác ở An Biên. Đào giếng.” Tôi nói y như những gì ông Công dặn.</p>
<p>“Giấy công tác đâu?”</p>
<p>“Đây!” Tôi đặt tờ giấy nhỏ có đóng mộc xuống mặt bàn ngay trước mặt tên trung niên. Y cầm lên, nhìn chăm hồi lâu, rồi vất sang đống giấy tờ đủ loại.</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>“Giấy giả!”</p>
<p>“Không phải. Giấy công tác của tôi là thứ thiệt mà!” Tôi cãi.</p>
<p>“Tôi nói giả là giả! Anh xuống trở lại chỗ ngồi đi. Tôi sẽ làm việc với anh sau!” Dừng lại một phút, y đổi giọng: “Bảy Ca! Đồng chí Bảy Ca!”</p>
<p>Tên trẻ tuổi từ sau bước lên.</p>
<p>“Làm gì dưới đó mà lâu quá vậy?” Tên trung niên hỏi.</p>
<p>Bảy Ca không trả lời. Hắn đến sát bên lưng tên trung niên cúi xuống nói rất nhỏ vào tai tên này. Y gật đầu mắt sáng lên nhìn tứ phía.</p>
<p>“Ai là bà con nhà Lâm Diệp đứng dậy!”</p>
<p>Chừng hơn một chục con người ríu rít đứng thẳng lên. Kiệt khều tay tôi. Tôi có cảm giác như có tiếng cười trong đám người đang xí xô xí xào kia.</p>
<p>“Tất cả theo tôi!” Bảy Ca nói và dẫn đầu bước ra chái sau, theo ngã mà người tù tên Lâm Diệp vừa xin đi tiểu tiện khi nãy.</p>
<p>Số người còn lại sau khi nộp tiền, tháo đồng hồ, bỏ lại hết mọi thứ giấy tờ trên bàn, đang ngồi bệt xuống nền đất, chờ đợi. Tám, Hiệp, Kiệt và tôi đưa mắt nhìn nhau.</p>
<p>Tôi tìm giải đáp cho cuộc ruồng bắt ngày hôm nay. Rõ ràng là chúng tôi không đi vượt biên. Vậy tại sao? Có thể chúng tôi là những người lạ mặt trong một vùng đất thưa người mà ai ai cũng nhận ra nhau chăng. Có lẽ vùng này bọn công an biên phòng được tăng cường vì có nhiều phương tiện và điều kiện thuận lợi cho người vượt biên? Cũng có thể chúng tôi lộ liễu quá, đi băng qua chợ cá, giữa một đám người lam lũ mà chúng tôi vẫn còn rất Sài Gòn chăng?</p>
<p>“Bảy Ca! Bảy Ca!” Tên trung niên bỗng gọi to.</p>
<p>Không có tiếng trả lời.</p>
<p>Y đứng dậy, phân cái đống “chiến lợi phẩm” làm ba phần: giấy tờ, tiền bạc, và đồng hồ. Y dùng ngón tay út của bàn tay phải hất mấy chiếc đồng hồ để có thể nhìn rõ mặt từng chiếc. Sau cùng y chọn một chiếc màu vàng, đeo vào cổ tay, đưa sát mặt ngắm ngía. Tôi thấy y hất chiếc Seiko của tôi qua một bên. Y có vẻ khinh chiếc đồng hồ của tôi ra mặt. Rồi y nhìn đống giấy tờ. Y bốc một miếng màu vàng chăm chú đọc.</p>
<p>“Võ Anh Kiệt. Ai là Võ Anh Kiệt?”</p>
<p>“Có tôi!” Kiệt vừa lên tiếng vừa đứng dậy.</p>
<p>“Bước qua bên tay phải tôi!”</p>
<p>“Ngô Lập Khải. Ai là Ngô Lập Khải?”</p>
<p>Một người đàn ông đứng dậy. Ông ta có một khuôn mặt buồn, hai con mắt một mí nhìn tên công an như nhìn vào khoảng không.</p>
<p>“Bước qua bên phải tôi, xếp hàng!” Y rít lên.</p>
<p>Người đàn ông có tên Ngô Lập Khải đứng yên không nhúc nhích. Tôi thấy hai con mắt ông nhìn chằm vào tên công an. Tất cả mọi người trong phòng giật mình, quay mặt hẳn về phía người tù. Ngô Lập Khải vẫn đứng như trời trồng.</p>
<p>Một người ngồi gần chỗ ông ta, cầm cổ chân ông lắc lắc.</p>
<p>“Đi! Đi!”</p>
<p>Khải như cây đinh đã đóng vào tường.</p>
<p>“Ngô Lập Khải. Ông có phải Ngô Lập Khải không?”</p>
<p>Tên trung niên cúi xuống tờ giấy, rồi ngửng mặt lên hỏi.</p>
<p>Ông ta tiếp tục lặng thinh.</p>
<p>“Bảy Ca! Bảy Ca!” Tên trung niên kêu to.</p>
<p>Tên trẻ tuổi từ chái sau chạy vụt lên.</p>
<p>“Báo cáo đồng chí, mọi việc tốt đẹp.” Bảy Ca nói.</p>
<p>“Đồng chí đưa tên này vào phòng trong, tôi làm việc ngay bây giờ.” Tên trung niên chỉ tay vào mặt Ngô Lập Khải.</p>
<p>Bảy Ca bước tới.</p>
<p>“Khoan!” Tên trung niên đưa tay chận lại. “Đồng chí trói nó lại.”</p>
<p>Bảy Ca đến góc phòng, nơi lúc nãy hắn vừa vất một đống day đủ loại, lấy một sợi dài. Hắn trói thúc ké Ngô Lập Khải. Người đàn ông đứng yên để Bảy Ca bẻ gập hai cánh tay ra sau.</p>
<p>“Đi!” Hắn đẩy người tù về trước.</p>
<p>Hắn mở một cánh cửa bằng tre đan sau lưng chỗ tên trung niên ngồi. Tôi không ngờ còn có một căn phòng riêng trong ngôi nhà này.</p>
<p>“Có xe chở tù về trại giam chưa?” Tên trung niên hỏi.</p>
<p>“Báo cáo đồng chí, tôi đã liên lạc rồi.”</p>
<p>“Tốt! Đồng chí có thể đi.”</p>
<p>Bảy Ca xoa hai tay, bước ra chái sau.</p>
<p>Tên trung niên cúi xuống đống giấy tờ, bốc lên một mảnh:</p>
<p>“Trần Lâm Thăng. Ai là Trần Lâm Thăng?”</p>
<p>“Có tôi!” Tôi đứng dậy, không đợi hắn nhắc, bước sau lưng Kiệt.</p>
<p>Những người được gọi tên kế tiếp lần lượt nối đuôi nhau. Tôi không nghe y gọi tên Lâm Diệp. Cả những người trong nhà của Lâm Diệp cũng không thấy trở lại.</p>
<p>Sau cùng tôi thấy Bảy Ca từ chái sau bước ra.</p>
<p>“Báo cáo đồng chí, xe chở tù sắp đến!”</p>
<p>Tên trung niên đứng bật dậy.</p>
<p>“Đồng chí kiểm kê rồi làm biên bản ghi hồ sơ mọi thứ giấy tờ, tiền bạc, tài sản này và đem vào phòng tôi. Sẽ trình lên công an tỉnh khi giao tù.”</p>
<p>Bảy Ca cúi xuống chân bàn, lấy cái ba lô bộ đội mở túi và gạt tất cả đồng hồ tiền bạc và hình như cả vòng vàng vào, đặt xuống đất. Đúng lúc đó tôi nghe rõ có tiếng động cơ xe rống lên trước sân.</p>
<p>“Tất cả đi hàng một ra xe!” Bảy Ca nói, hắn cầm gọn trên tay đống giấy tờ.</p>
<p>“Nó đưa mình đi đâu vậy?” Tôi khều Kiệt.</p>
<p>“Có lẽ nó giải về nhà lao Kiên Giang.” Kiệt nói rất nhỏ.</p>
<p>Xe xịt khói mù trời. Hai tên công an áo vàng từ sau xe tháo chốt đẩy nắp xuống. Đây là loại “poa-lua” chở trâu bò.</p>
<p>“Ê, Tư, sao lâu vậy?” Bảy Ca nói với tên đứng trên xe. “Giấy tờ đây. Bữa nay hơi ít cá. Cà phê đưa sau.”</p>
<p>Tên công an áo vàng cúi gập mình thò tay cầm xấp giấy. Tên kia nhảy xuống xe ôm theo một mớ giây.</p>
<p>“Mọi người xếp hàng lại cho trật tự. Nghe tôi điểm danh tên ai người đó mới được lên. Nghe rõ chưa?”</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>Cả đám lục tục xếp hàng. Kiệt đứng sau lưng tôi. Tám và Hiệp đứng ngay hàng đầu.</p>
<p>“Nguyễn Văn Tám!” Tên công an trên xe đọc.</p>
<p>“Có tôi!” Tám vừa trả lời vừa bước về phía xe.</p>
<p>“Chưa đâu!” Tên công an dưới đất chận lại. “Đưa mượn hai cánh tay.”</p>
<p>“Ồ!” Cả đám kêu đồng loạt.</p>
<p>Lại trói thúc ké từng người một, và hai tên công an bắt những người tù chưa bị trói đẩy từng người tù bị trói lên xe.</p>
<p>“Trần Lâm Thăng?”</p>
<p>Tôi bước tới. Không tôi lê tới. Bỗng nhiên tôi nhớ ra là chân tôi bị đau. Cả mấy tiếng đồng hồ ngồi trong ngôi nhà kia tôi quên là mình bị đau, bây giờ khi tên công an gọi tên tôi để cho hắn “mượn hai cánh tay” tôi mới nhớ ra là chân tôi hình như sắp bị gãy. Tôi nghe nhức buốt tới óc. Tôi cảm thấy Kiệt đỡ tôi khi tên công an đá vào cái chân bị thương của tôi khiến tôi ngã quỵ xuống dưới mặt đường xỉn bụi.</p>
<p>&nbsp;</p>
<p><strong>Chương Mười Hai</strong></p>
<p>Nhà tù Kiên Giang buổi tối. Những cánh cửa sắt mở ra đóng lại vội vàng. Cả đám người bơ phờ, bụng đói, tay không đồng hồ, chân không giày dép, đầu óc hoang mang lo lắng sợ hãi ngồi chồm hổm giữa sân nhà giam.</p>
<p>Ðêm đang xuống.</p>
<p>Thấp thoáng bên trong một ngọn đèn điện bóng tròn màu vàng. Tôi không thấy Kiệt đâu. Cả Tám và Hiệp cũng bị đẩy về một phía nào. Tôi tự hỏi cái gì đang chờ đợi tôi. Ðêm tối ám, tôi không thấy rõ mặt người.</p>
<p>Cả đám ngồi lổn nhổn như những hòn đá. Một ngọn đèn vàng hắt xuống từ một mái nhà trước mặt chiếu sáng vừa đủ ba chữ “Cải Hối Thất.”</p>
<p>Chúng tôi ngồi đợi như vậy khá lâu không tên công an nào đến ngó. Một vài bóng đen đi lướt qua, lặng lẽ.</p>
<p>Mưa lất phất vừa đủ ướt mặt. Người ngồi trước quay lại hỏi tôi:</p>
<p>“Bị bắt ở đâu vậy?”</p>
<p>“Rạnh Sỏi.” Tôi trả lời cho xong chuyện.</p>
<p>“Xuống ghe chưa?”</p>
<p>“Chưa. Còn ông?” Tôi hỏi lấy lệ.</p>
<p>“Ôi! Tôi hả?” Tôi lên xuống như cơm bữa.” Rồi ông ta quay hẳn mặt lại: “Lần đầu hả?”</p>
<p>“Lần đầu.” Tôi trả lời.</p>
<p>“Ðừng sợ. Ông tên gì?”</p>
<p>Có cần nói tên mình cho người lạ mặt này nghe không? Tôi thoáng nhớ lại những lời dặn dò của ông Công. Ði có giấy công tác cứ nói thật, cứ khai địa chỉ chỗ làm việc. Phần còn lại để ổng lo. Tôi cũng nhớ lời dặn của Tâm Khô-Khốc-Thiền-Sư. Mày phải khai tên giả, địa chỉ giả, lý lịch giả. Tụi nó không cách nào điều tra được. Phải nhớ mày là dân ít học, làm nghề chân tay, trốn quân dịch, có cảm tình với cách mạng&#8230; Càng ở gần tận cùng đáy của xã hội càng tốt. Tôi hiểu lời dặn dò của Tâm. Cái đáy vực của chế độ này là đỉnh cao của chế độ kia và ngược lại. Nhưng đó có phải là chân lý không?</p>
<p>Tôi không tin một sự đổi đời và lộn ngược đời như thế. Xấp-Ngửa. Trắng-Ðen. Phải-Trái. Tôi đã nhìn thấy những điều đó đang diễn ra quanh tôi. Cái hôm qua được coi là đạo đức, bữa nay đã bị coi là tội lỗi.</p>
<p>Một ngôi nhà to, một chức tước cao, một địa vị lớn, một sự quen biết rộng&#8230;của bữa trước, rất là bất lợi cho bữa nay. Mới hôm qua còn là “ông,” bây giờ đã là “thằng.”</p>
<p>Còn “thằng” hôm qua có là “ông” hôm nay không thì không rõ.</p>
<p>Tội ác như một thứ ruồi nhặng mà những người cầm quyền mới cố gắng dán lên đầu những con người đầy danh vọng của chế độ cũ, tưởng chừng như&#8230;</p>
<p>Nhưng mà những con người cùng khổ của hôm qua, sau mấy năm dưới chế độ mới cũng vẫn không thơm tho gì hơn. Căn nhà bằng bìa cạc-tông, mái lợp tôn hay fibro xi măng bữa trước ra sao bây giờ vẫn vậy.</p>
<p>Có đổi mới chăng là xiêu vẹo hơn, và vô phương cứu chữa hơn. Người cùng khổ vẫn sống, tiếp tục sống dưới đáy xã hội. Chỉ có những kẻ khốn nạn hôm qua mới chiếm được một chỗ sạch sẽ dưới ánh đèn ấm cúng trong một ngôi nhà mới. Vậy thì tôi có cần nói tên tôi cho người lạ mặt này không. Nhưng mà tôi là cái thá gì chớ! Nói thì sao. Ðã sao?</p>
<p>“Thăng. Tôi tên Thăng. Mà ông hỏi chi vậy?”</p>
<p>“Hỏi vậy thôi. Tôi tên Bình. Tôi bảo đảm là trước sau gì ông cũng nhớ đến tôi!”</p>
<p>“Im lặng! Im lặng!” Tù không được nói chuyện.” Bất ngờ một giọng nói vang lên rất gần chỗ tôi.</p>
<p>Tôi ngước mắt nhìn chưa kịp ngạc nhiên về lời nói của người bạn tù, thì cái bóng đen lướt qua choán trước tầm ngó của tôi.</p>
<p>“Anh kia tên gì?” Bóng đen hỏi.</p>
<p>“Thăng.” Tôi trả lời gọn.</p>
<p>“Cái gì Thăng.”</p>
<p>“Trần Lâm Thăng.”</p>
<p>“Bị bắt vì tội gì?”</p>
<p>“Không biết.”</p>
<p>Tôi không biết thật. Tôi chỉ gặp Kiệt để xem ghe. Tôi mới chuẩn bị vượt biên chớ đâu đã vượt biên.</p>
<p>“Không biết?” Bóng đen hỏi lại.</p>
<p>“Không biết.” Tôi lặp lại.</p>
<p>“Ðứng dậy!” Hắn ra lệnh.</p>
<p>Tôi chống hai tay dưới mặt sân ướt. Tôi nghe cải hai chân tôi tê điếng.</p>
<p>“Anh biết tại sao tôi bắt anh đứng dậy không?”</p>
<p>“Không biết.”</p>
<p>“Anh theo tôi. Cần phải nhốt anh ở một chỗ riêng. Anh biết tại sao không?”</p>
<p>“Không biết.”</p>
<p>“Anh có biết là ngồi trong đám tù này anh đã cao hơn nhiều người tù khác không?”</p>
<p>“Không biết.” Tôi bắt đầu ương ngạnh.</p>
<p>“Vậy bây giờ biết rồi. Theo tôi!”</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>Bất thình lình hắn đẩy chúi tôi về phía trước. Tôi tưởng mình bị ngã sấp xuống. Cái chân đau của tôi bị nhói thấu xương.</p>
<p>Chỉ mấy bước ngắn hắn xô tôi qua một bên tra chìa khóa vào cánh cửa gỗ mở toang ra.</p>
<p>Một mùi hôi nồng nặc xông lên. Tôi đang chần chờ. Hắn đập mạnh vào ót tôi bằng một vật cứng. Tôi ngã xuống.</p>
<p>Tôi không nhớ mình nằm dưới mặt đất ẩm hôi hám này trong bao lâu, nhưng khi tôi tỉnh dậy, bắt đầu quen bóng tối, tôi thấy lờ mờ còn có một người tù khác đang ngồi tựa lưng vào tường. Phòng chật, tôi nghĩ vậy, bởi vì chân tôi đụng vách và tay tôi chạm vào chân một người. Không, nói đúng hơn tôi chạm vào sợi xích sắt buột vòng cổ chân người tù kia. Có lẽ ông ta còn thức, bởi vì thỉnh thoảng tôi nghe thấy tiếng khua động của sợi xích. Bọn cán bộ đang điểm danh tù bên ngoài. Xà lim tối om.</p>
<p>“Có thuốc lá không?” Bất ngờ ông ta hỏi.</p>
<p>“Không.” Tôi trả lời thật nhanh.</p>
<p>Tôi không phải là người nghiện thuốc lá. Có thì hút phì phà mấy sợi khói chơi, còn không có thì thôi. Vả lại ở Rạch Sỏi, hai tên công an biên phòng đã thu hết mọi thứ trên người tôi, giấy tờ tùy thân của tôi, kể cả gói thuốc, và cái hộp quẹt zippo.</p>
<p>“Mới hả?”</p>
<p>“Mới.”</p>
<p>“Tội gì?”</p>
<p>“Tình nghi vượt biên.”</p>
<p>“Tình nghi?”</p>
<p>“Phải. Tình nghi.”</p>
<p>“Vậy, chắc sẽ ở lâu.”</p>
<p>“Tại sao?”</p>
<p>“Tình nghi thì phải ở lâu, tại vì có biết tội gì mà buộc mà xử.”</p>
<p>“Vậy có tội thì về sớm sao?”</p>
<p>“Tùy tội chớ. Lâu hay mau là tùy tội nặng hay là nhẹ.”</p>
<p>“Còn ông, ông tội gì?” Tôi hỏi.</p>
<p>“Không phải chuyện vượt biên đâu.”</p>
<p>Ông ta nói chưa hết câu, tôi chống tay ngồi dậy, dựa lưng vào vách chờ đợi ông nói tiếp. Tôi có cảm tưởng như ông sắp nói thêm một điều gì nữa. Nhưng ông ta vẫn im lặng. Tôi duỗi chân. Căn phòng này không thể giam quá một người, không khí khó thở. Mùi hôi mỗi lúc một nồng nặc.</p>
<p>Tại sao tôi đến chốn này? Ban đêm thì tối, ban ngày thì đen.</p>
<p>Tôi tuyệt vọng.</p>
<p>Tôi như một người đi trong đường hầm. Hầm thì hun hút tối tăm đi hoài không dứt. Còn tôi thì giống như người bị chặt hết hai tay và hai chân, chỉ còn có cái đầu và thân hình bị lăn lông lốc trong đường hầm trơn trợt.</p>
<p>“Nè, người anh em&#8230;” Người tù bỗng gọi tôi.</p>
<p>Tôi không lên tiếng. Tôi chờ đợi.</p>
<p>“Bao nhiêu tuổi?”</p>
<p>“Bốn mươi.” Tôi trả lời.</p>
<p>“Tứ thập nhi bất hoặc! Ông nhỏ hơn tôi một con giáp.”</p>
<p>Tôi vẫn có cảm tưởng như ông chưa nói điều ông định nói. Một đỗi lâu, người tù tiếp:</p>
<p>“Ông có biết trong tù người ta dùng một người tù khác để điều tra khai thác một người hiện bị giam gọi là gì không?”</p>
<p>“Không!” Tôi trả lời, vì thật sự tôi không hiểu gì cả.</p>
<p>“Nó gọi là đặc tình.”</p>
<p>“Ðặc tình?”</p>
<p>“Phải. Nó gọi là đặc tình&#8230; Ông có phải là đặc tình không?”</p>
<p>Câu hỏi của ông làm tôi sửng sốt.</p>
<p>Vậy là sao? Trong tù còn có đặc công nằm vùng sao? Chốn nào là chốn nương thân? Tôi chồm về phía trước, nhướng to mắt nhìn chằm chằm người đối diện. Tôi không cách nào thấy rõ mặt ông ta. Tôi muốn biết sắc diện ông ra sao khi hỏi tôi và tôi cũng muốn biết phản ứng của ông khi tôi trả lời. Chịu thôi.</p>
<p>“Ông nghĩ tôi là đặc tình sao?”</p>
<p>“Tôi không nghĩ ngợi gì hết. Tôi nói trước để đề cao cảnh giác.”</p>
<p>“Ông khỏi cần đề cao cảnh giác. Tôi tên Trần Lâm Thăng, bị bắt ở Rạch Sỏi&#8230;”</p>
<p>Tôi nói một hơi. Thật tình trong thâm tâm tôi, tôi muốn mở lòng mình ra cho người cùng tù biết tôi không phải là chó săn. Tôi căm thù bọn chó săn.</p>
<p>“Thôi, thôi&#8230; không phải khai. Tôi đâu phải công an chấp pháp. Ðủ rồi! Tôi không phải là người dễ tin đâu.”</p>
<p>Người tù nói giọng nhỏ, chậm, đã bớt hoài nghi.</p>
<p>“Nè, người anh em. Cần phải bình tĩnh. Ở đâu cũng vậy. Cần bình tĩnh, luôn luôn bình tĩnh. Không sợ hãi. Không căm thù&#8230;”</p>
<p>Tôi không hiểu ông ta muốn nói gì. Tôi chợt thấy toàn thân ê ẩm mệt mỏi. Tôi nhắm mắt lại, nghe rõ hơi thở của mình bắt đầu đều đặn.</p>
<p>“Rượu đã rót ra rồi phải uống, uống cho đến cặn.”</p>
<p>Tôi tưởng chừng nghe tiếng một người nào đó nói bên tai tôi một câu gần như vô nghĩa, chẳng ăn nhập gì với câu chuyện của tôi cả.</p>
<p>Những tia sáng của mặt trời chiếu qua song khung cửa nhỏ đánh thức tôi dậy.</p>
<p>Suốt đêm tôi đã ngủ theo kiểu duỗi chân và lưng tựa tường. Người cùng tù cũng ngủ theo cách đó. Nếu không có thêm một người thứ hai có thể ông ta đã nằm co gối ngủ được. Tôi thấy ông đang nhìn mình. Hai con mắt thụt sâu vào như hai cái hố. Cả khuôn mặt như cái đầu lâu của người chết nếu bóc đi làn da nhăn nheo. Ðầu ông ta không có lấy một sợi tóc. Tôi bốn mươi tuổi. Ông năm mươi hai. Hơn nhau một con giáp, ông ta nói như vậy đêm qua, nhưng nhìn ông tôi tưởng đó là người của trăm năm. Hay đúng hơn, một người đã chết vừa đội mồ đứng dậy. Hai cánh tay khẳng khiu da bọc xương của ông xếp lại đặt lên bụng, cả hai bàn tay ấp lên sợi xích sắt. Ông mặc quần đùi. Hai ống xương chân như hai cây que. Và một sợi xích sắt khác buộc vào sát cổ chân. Mùi hôi từ thân thể ông ta bốc ra cùng với cái thùng nhỏ bằng nhựa đặt ở phía tay phải tôi.</p>
<p>“Nè, người anh em&#8230;” Người cùng tù nói.</p>
<p>Tôi nhìn thấy quai hàm ông cử động. Quả thật đêm qua tôi đã hình dung ông ta khác hẳn con người bằng xương &#8211; chớ không bằng thịt trước mắt tôi.</p>
<p>“Không sợ hãi. Không căm thù.” Ông ta tiếp, “Rượu đã rót ra rồi phải uống, uống cho đến cặn.” Ông ta lặp lại những lời tôi đã nghe đêm qua.</p>
<p>Nhưng mà tôi không hiểu gì hết. Tôi nhớ Quỳnh, nhớ con tôi, nhớ khuôn mặt của Tâm khô-khốc-thiền-sư khi nhắc đến chuyện vợ con đã bị làm mồi cho biển cả trong chuyến vượt biên. Cái hình ảnh Nhật đứng với tôi trên con đường nhỏ trước một ngôi nhà ở Phú Nhuận, dưới chân đầy những sổ thông hành, bỗng nhiên hiện ra trong trí tôi. Năm năm rồi, Nhật đã bị chế độ mới bắt nhốt giam giữ tù đày ra tận miền Bắc. Những tin tức vọng về cho biết Nhật luôn luôn dũng cảm. Bố là đảng viên trung kiên không thuyết phục được Nhật “phản tỉnh” về những gì anh đã viết. Bố anh không cứu được anh, hay không dám cứu anh. Mà Nhật cũng chẳng cần kêu cứu. Sự can đảm của người trong tù luôn luôn là liều thuốc khích lệ những kẻ ngoài tù. Kỳ lạ không, chính những con người như tôi đã sống bằng hy vọng của những người đang bị giam hãm. Ký cũng đi tù chỉ để bên ngoài mối “sầu ở lại.” Lộc trình diện bọn quân quản mang theo những kỷ niệm tình ái của Sorbonne Paris, những đêm say ngất trời Chợ Ðũi. Yvonne, Denise, Catherine, Rosalie, Dominique&#8230; tóc vàng sợi nhỏ&#8230;, hắn mang tuốt luốt theo vào nhà giam. Nghĩa biến mất. Phùng biệt tăm. Ðình thu mình vào khu làng báo chí Thủ Ðức. Những chuyến vượt biên hụt, những lời nói mở ra đóng lại, hoài nghi cả người thân ruột thịt&#8230; Kiệt đâu? Tôi chợt nhớ đến người học trò đã đưa tôi đi xem ghe. Tôi lo cho Kiệt. Tôi sợ chú nhỏ không chịu nổi những nhục nhằn. Nỗi đau khổ về cái chết của người cha chưa nguôi trong trái tim chú, bây giờ chính chú gánh thêm trên vai những điều đau đớn khác. Những điều tôi từng giảng trong lớp học, tôi nghiệm ra chưa đủ giải tỏa cho tôi, liệu nó có giải tỏa được gì cho Kiệt. Ðau khổ sẽ tăng lên nếu nó đi sau một hạnh phúc. Niềm vui lúc nào cũng lớn sau một điều bất hạnh. Hạnh phúc chỉ là khoảnh khắc, và tình yêu cũng không là vĩnh cửu. Và Noccolo Machiavelli? A, tôi nhớ ra rồi, “kẻ thiết lập một nền độc tài mà không giết Brutus, thì chắc chắn ba bảy hai mươi mốt ngày&#8230;” Nhưng nó là cái gì. Chế độ mới nó là bá đạo hay vương đạo? Vương thế nào được! Machiavélisme.</p>
<p>Cánh cửa phòng bỗng xịch mở. Mở hé thôi. Một bàn tay đẩy vào hai chén cơm. Cơm không, không có thứ gì khác. Cánh cửa đóng lại. Bây giờ tôi mới nghe tiếng khóa. Tôi bưng chén cơm đưa cho người cùng tù. Ông ta không buồn cầm. Hai con mắt ông ngó chén cơm, chân phải ông co lại, duỗi ra, sau đó chân trái ông làm một động tác y như vậy. Tôi nhìn ông, đặt chén cơm xuống đất. Tôi thấy đói, đói lắm. Tôi dúm tay bốc cơm. Tôi ăn bằng những ngón tay. Tôi nghe vị ngọt ở đầu lưỡi. Những hột cơm đi qua cuống họng, sau khi đã bị răng nghiền nát, thơm như mùi chả ram. Tôi cảm thấy như vậy. Tôi không hề cảm tưởng. Mắt tôi, cả thân thể tôi chằm chằm vào chén cơm. Tôi đói như chưa bao giờ đói như thế.</p>
<p>Bỗng nhiên có một cái gì đó nhói trong đầu tôi. Tôi ngước nhìn lên, người tù già đang nhìn tôi. Hình như, tôi ngượng. Tôi đặt chén cơm xuống đất. Những ngón tay tôi còn dích những hột cơm. Tôi không biết để vào đâu bàn tay của mình.</p>
<p>“Ông không đói sao?”</p>
<p>“Không.” Ông ta lắc đầu. “Chưa tới giờ ăn của tôi.” Ông tiếp tục nhìn tôi đỗi lâu, tiếp, “Mà người anh em chưa ăn uống mấy bữa rồi?”</p>
<p>Tôi nhớ lại lúc bước chân xuống xe lam ở Rạch Sỏi. Hình như hai ngày tôi không có gì bỏ bụng. Tôi có được uống nước, nhưng ăn thì không.</p>
<p>Tôi không muốn trả lời người tù già. Tôi thấy đói. Tôi đang đói. Người ta không chỉ sống bằng bánh mì. Ai nói vậy? Người ta đâu chỉ sống bằng cơm gạo. Ðúng vậy. Nhưng không có bánh mì, cơm gạo thì trước hết người ta sống bằng cái gì? Tôi cúi xuống vét tiếp những hột cơm còn thừa trong chén. Tôi làm sạch không còn một hột. Tôi xòe bàn tay ra. Tôi gặm những ngón tay còn vướng cơm. Tôi biết người tù già đang nhìn tôi. Mặc kệ. Tôi phủi tay, tựa lưng vào vách nhà giam. Tôi thở.</p>
<p>“Nè, người anh em&#8230;” Người tù gọi.</p>
<p>Tôi nhìn ông. Chiếc đầu không sợi tóc của ông như cái đầu lâu. Những hốc mắt, hố mũi, hố miệng, răng. Một xác chết biết nói.</p>
<p>“Kêu tôi là Tư Long.”</p>
<p>Tư Long kể ông ta là đảng viên, là cựu thành viên Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng. Tư Long hoạt động nội thành, làm nghề lái tắc xi. Trong vụ tổng tấn công Tết Mậu Thân, quân “giải phóng” bị bại nặng khi quân lực Việt Nam Cộng Hòa phản công mạnh. Bộ đội vừa đánh vừa tháo chạy. Nhiều tên lạc đường bị bắt. Lúc đó Tư Long phụ trách một đường dây. Tư Long chở hai người bộ đội bị thương đi “ém” ở một địa điểm gần xã Bình Chánh. Tư Long quen một bác sĩ quân y Saigon. Tư Long đến than với người y sĩ là vợ mình bị bệnh nặng sắp chết. Người y sĩ bị cấm trại, vừa xếp đặt với một đồng nghiệp về thăm nhà mấy tiếng đồng hồ, thấy tình cảnh đáng thương của Tư Long nhận lời.</p>
<p>Tư Long chở ông ta đến chỗ ém mấy người bộ đội bị thương, bắt điều trị. Sau khi Tư Long đưa bác sĩ quân y trở về, một người bộ đội được cứu đưa ra bưng trở lại. Người kia đang hấp hối. Khi người bác sĩ quân y trở về anh ta cũng vừa tắt thở. Tư Long đành chôn người bộ đội tại chỗ. Tư Long bị nghi là cấu kết với “sĩ quan ngụy” giết bộ đội. Tư Long bị gọi vô bưng, bị bắt giam một nơi trong rừng. Nhà tù của “quân giải phóng” là một cái hầm sâu trên ba thước, bên trên được đậy bằng một tấm phên tre và phủ bằng các nhánh cây. Ban đêm tù nhân bị còng dính chung vào một thanh sắt dài và nặng, không cách nào đứng dậy được. Muốn tiểu tiện gì phải “đi” tại chỗ. Phần ăn mỗi ngày một bữa, khoai mì và muối. Ðói là căn bản. Cho nên ban ngày hay ban đêm, bất cứ lúc nào vồ được con nhái, con cào cào là bỏ ngay vào miệng ngấu nghiến. Tư Long bị tù từ trong rừng tù ra. Tư Long nói tù ở đây sướng hơn tù ở rừng. Mặc dầu cơm chỉ được ngày một bữa, nhưng là cơm chớ không phải khoai mì. Vả lại tuy bị cùm chân còng tay, nhưng là cùm chân một mình chứ không phải cùm chung bằng một thanh sắt dài. Tư Long nói có lần đau khổ quá không chịu nổi, Tư Long buột miệng niệm Phật Quán Thế Âm Bồ Tát, tên bộ đội canh giữ tình cờ nghe được đập cho một báng súng AK. Tư Long bị quy thêm tội tư sản, lạc hậu, mê tính, dị đoan!&#8230;</p>
<p>Người ta muốn đem Tư Long ra xử, nhưng không biết xử như thế nào cho phải. Tư Long có thành tích cách mạng, có tuổi đảng, nhưng Tư Long chỉ có một tội là bị tình nghi. Lúc đầu Tư Long lý luận mình không có làm gì sai trái, trước sau chi rồi “đảng” cũng sẽ rõ, sẽ thấu, sẽ trả tự do cho mình, sẽ được minh oan. Cá nhân mình có phải gánh chịu một vài đau khổ thì có sá gì với nỗi khổ đau của cả dân tộc. Tư Long lý luận kiểu đó để an ủi mình nhưng dần dà niềm tin được ngọn đèn “công lý cách mạng” chiếu rọi bị lung lay. Tư Long nhiều lần nói với người coi tù xin được đưa ra tòa án xét xử.</p>
<p>Nhưng lời kêu xin của ông như những hạt bụi rơi vào khoảng không. Có lần Tư Long nài nỉ xin được tờ giấy cây bút, Tư Long làm đơn gửi lên trên xin sớm được đem ra xét xử. Nhưng một lần nữa tiếng kêu của ông không hề được vọng lại. Tư Long mòn mỏi chờ, mỗi ngày thêm một tuyệt vọng. Tư Long bắt đầu chửi, chửi từ trên xuống dưới. Tư Long đem tên tuổi tất cả lãnh đạo đảng ra phỉ báng.</p>
<p>Có lần Tư Long đánh người coi tù đưa cơm, vì “câm miệng hến” nhất định không trả lời bất cứ câu hỏi nào của Tư Long. Tư Long bị cùm tay cùm chân, nhốt riêng. Ít lâu sau Tư Long không chửi nữa. Người ta tháo cùm cho Tư Long. Tư Long bóp cổ người coi tù. Tư Long vượt ngục hụt. Tư Long bị cùm cả tay chân trở lại. Tư Long đang chết mòn trong chờ đợi thứ ánh sáng công lý mà có lúc Tư Long tin tưởng.</p>
<p>Tôi hiểu tại sao Tư Long nói với tôi “tội tình nghi” chắc là sẽ ở lâu.</p>
<p>Tư Long hỏi:</p>
<p>“Nè, người anh em&#8230; ở đâu vậy?”</p>
<p>“Saigon.”</p>
<p>“Ðường nào?”</p>
<p>“Ðường Võ Tánh. Khu Mã Lạng.”</p>
<p>“Gần rạp Quốc Thanh phải không?”</p>
<p>“Sao ông rành vậy?”</p>
<p>“Trời, dân tắc-xi mà!”</p>
<p>Ông nhắc thời kỳ chạy tắc-xi ở Saigon. Nghề tắc-xi có nhiều kỷ niệm.</p>
<p>“Tội nghiệp cái ông đại úy bác sĩ có lần bị tôi gạt. Không biết ổng có đi vượt biên được không?”</p>
<p>“Nếu đi không được cách mạng cũng phải đền ơn đáp nghĩa ổng chớ! Ổng đã từng cứu người của cách mạng mà!”</p>
<p>“Mà ai làm chứng là ổng có cứu người của cách mạng? Người nào? Ở đâu? Hồi nào?”</p>
<p>“Thì ông làm chứng.”</p>
<p>Tư Long khua sợi xích sắt cười không ra tiếng.</p>
<p>“Nè, người anh em&#8230; Tổ mẹ nó tui như vầy tôi còn làm chứng cho ai!”</p>
<p>Tôi không ở lâu với Tư Long. Một tuần sau tôi được cho ra ngoài. Chân tôi đã hết đau từ hôm nào tôi cũng không rõ. Tôi có một chỗ nằm bên rãnh nước chảy từ nơi rửa chén của cái giếng giữa nhà giam. Tôi hít thở được khí trời. Thỉnh thoảng trong đêm tôi nghe tiếng xích sắt khua trong xà lim của Tư Long.</p>
<p>Tôi không biết bao giờ mình được đem ra xét xử. Tôi không biết Quỳnh và con bây giờ sống chết ra sao. Tôi ở đây cứ cho là yên thân đi. Tôi thấy mình lo cho người thân ở ngoài hơn là lo cho chính bản thân tôi.</p>
<p>Cũng như Tư Long, tôi chờ đợi.</p>
<p>Tôi không phải chờ đợi lâu. Một tuần sau khi được đưa ra nằm bên rãnh nước rửa chén, tôi bị tên coi ngục đánh thức đi “làm việc” vào lúc nửa khuya về sáng. Người công an chấp pháp ngồi trước mặt tôi khá quen. Cô tên Nhị Hà.</p>
<p><strong>Chương Mười Ba</strong></p>
<p>Tôi biết chắc người ngồi trước mặt tôi là Nhị Hà, cô học sinh những ngày đầu tiên của một Saigon vừa thất thủ. Có tất cả ba người tù cùng ngồi với tôi trên băng ghế dài chờ hỏi cung. Nhị Hà thì ngồi với một công an áo vàng. Chính Nhị Hà cũng mặt quần áo công an. Cô đang chăm chú đọc một tờ giấy, thỉnh thoảng cô quay sang người công an bên cạnh, đã trọng tuổi, trao đổi điều gì đó rồi lại tiếp tục cúi xuống tờ giấy. Tôi nhìn người tù bên cạnh. Tôi không quen. Tôi cúi xuống nhìn hai bàn tay tôi.</p>
<p>Những ngón gầy ốm, đen đúa. Những móng tay dài cáu bẩn, gớm ghiếc. Tôi nhìn xuống chân tôi. Hai bàn chân không dép còn đen đúa hơn cả hai bàn tay. Khi bắt đầu đi chân không, tôi nhói lên khi giẫm phải một viên sỏi, nhưng bây giờ chỉ một thời gian ngắn, tôi thấy gan bàn chân tôi đã quen với các vật cứng nhọn. Da chân đã tương đối dày đủ để chống với sức nóng mặt đường và những hòn sỏi cứng. Tôi chợt nhớ tới lớp học những buổi đầu sau ngày Ba Mươi Tháng Tư. Nhị Hà hồi đó ngồi một mình ở bàn đầu, mặt áo may theo kiểu nửa sơ mi, nửa bà ba, hai con mắt sắc, giọng nói đặc biệt của những người Bắc bảy lăm. Bài giản là một đoạn trích trong tiểu thuyết “Cái Sân Gạch” của Ðào Vũ,&#8230; Và tôi đã giảng bài như một con vẹt. Nhị Hà hồi đó giống như cái phong vũ biểu của tôi. Tôi nhìn mắt của cô bé này để đo lường bài giảng tôi chính xác đến mức độ nào. Tôi không nghĩ là cô ta giỏi, nhưng tôi tin là cô bé thuộc lòng quan điểm chính trị mà bố cô có lẽ là một đảng viên và cô đang là một đoàn viên. Cái cánh đưa tay lên xin phát biểu ý kiến của Nhị Hà cũng khác cách đưa tay của các em học sinh Saigon.</p>
<p>Tôi nhớ Nhị Hà nói, “Thưa thầy, em nghĩ rằng nhân vật trong Cái Sân Gạch là một nhân vật lạc hậu&#8230;” Hồi đó tôi luôn luôn nhận biết là không cách gì còn có thể đứng nổi trên cái bục giảng nữa.</p>
<p>Bục giảng đã không còn là của tôi. Những học sinh Saigon của tôi không làm sao có thể chấp nhận được thứ ngôn ngữ hay lập luận của một người thầy mà mới vừa hôm qua còn là xanh mà hôm nay đã là đỏ. Còn những học sinh từ ngoài Bắc vô hay từ chiến khu về, chắc cũng chẳng thể nào chấp nhận được cái ngọng nghịu ngượng ngập của một người thầy mà mỗi lần nói cứ phải cầm chặt lấy tờ giáo án, soi rọi từng chữ, từng nghĩa, lo lắng trước từng phản ứng của từng ánh mắt người học trò để xem mình có nói đúng hay sai quan điểm, lập trường. Nhị Hà luôn luôn nhìn vào mắt tôi khi tôi giảng bài. Tôi có cảm tưởng cô như một người được chỉ định để theo dõi tôi. Mỗi lớp học cần có một đoàn viên “nắm” những ông thầy và cô ngụy, nhất là những người “có vấn đề.”</p>
<p>Hình như có lần một đồng nghiệp cũ nói với tôi như vậy.</p>
<p>“Nè, có phải ông tên là Thăng không?” Người tù ngồi bên thúc cùi chỏ vào hông tôi làm tôi giật mình.</p>
<p>“Phải! Sao?” Tôi nhìn ông ta.</p>
<p>“Công an gọi ông kìa!” Ông ta hướng mắt về phía Nhị Hà.</p>
<p>Tôi thấy cô không ngồi chỗ cũ nữa. Cô đang đi về phía tôi, trên tay vẫn còn cầm tờ giấy và cây bút. Nhị Hà đi chậm rãi. Mái tóc cô uốn quăn, chải khéo, khiến khuôn mặt cô có vẻ trẻ hơn hồi năm Bảy Lăm. Tuy nhiên, bộ quần áo công an màu vàng làm cho Nhị Hà có cái dáng vẻ của một người bộ đội khi mới vào Sài Gòn hơn là của một cô gái đã ở thành phố hơn năm năm.</p>
<p>“Có phải là thầy không? Thầy Thăng?” Nhị Hà hỏi vừa khi đứng sát cạnh tôi.</p>
<p>Tôi nhìn thẳng vào mắt Nhị Hà. Tôi nói:</p>
<p>“Phải. Tôi là Trần Lâm Thăng.”</p>
<p>“Thầy không nhận ra em sao?” Nhị Hà hỏi rất nhỏ. “Thầy theo em. Em muốn nói chuyện với thầy.” Cô quay lưng, đi thẳng đến một bàn trống ở góc nhà.</p>
<p>Tôi đứng dậy bước theo. Tôi không nghĩ là có điều gì tốt cho tôi, nhưng tôi cũng không nghĩ là tôi đang gặp điều gì xấu.</p>
<p>“Ðây là tờ giấy để thầy khai. Thầy cứ điền vào chỗ trống trả lời các câu hỏi. Chỗ nào không rõ xin thầy cứ hỏi em.” Nhị Hà nói giọng nhỏ nhẹ.</p>
<p>Tôi cúi xuống tờ giấy, bản khai của người tù, tôi đọc lướt qua. Quá nhiều mục. Tôi bắt đầu điền vào những chỗ trống. Ngắn và gọn. Tôi không hỏi Nhị Hà. Tôi cứ thế mà ghi. Tôi chờ xem. Ở mục học lực, tôi ghi là biết đọc biết viết. Ở chỗ liên hệ với gia đình cách mạng, tôi ghi không. Ở chỗ lý do bị bắt, tôi viết tình nghi vượt biên. Tôi trả tờ giấy lại cho Nhị Hà sau khi ký. Tôi ký bằng một chữ ký khác với chữ ký tôi vẫn dùng. Nhị Hà cầm lên đọc bằng mắt. Có một đôi chỗ cô dừng lại, hơi nhíu mày. Nhìn mắt cô, tôi đoán ra được, cô đang ngừng lại ở đâu. Biết đọc biết viết, chắc cô không muốn như vậy. Nghề nghiệp: lái xe ủi đất đào giếng ở công trường An Biên. Ðây chỗ này cũng làm cho Nhị Hà dừng hơi lâu.</p>
<p>Khi đặt tờ giấy xuống mặt bàn, Nhị Hà hỏi:</p>
<p>“Sao thầy không khai là có liên hệ với đồng chí Mười Tân?”</p>
<p>Câu hỏi của Nhị Hà làm tôi giật mình. Tôi không nghĩ là cô sẽ hỏi tôi câu đó. Mười Tân? Tôi đã gặp ông ta ít nhất là một lần khi ông đến thăm Quỳnh, ngay sau ngày Sài Gòn vừa mất. Nhưng tôi có nhiều dịp nghe nói về ông ta. Những buổi nói chuyện của ông ở Thành Ðoàn lôi cuốn một số đông người nghe, những người trẻ tin tưởng vào lý thuyết của chế độ mới, những người trí thức khuynh tả, những người hôm qua bị đè nén áp bức, những người lo sợ chế độ mới sẽ làm mình mất đi những gì mà mình đã tạo ở chế độ cũ. Các bạn tôi, ngồi ở quán cà phê, vẫn thường nhắc đến ông Mười Tân, lúc đầu với một thái độ nể sợ, về sau với một thái độ lo lắng. Kết buộc, lên án, đanh thép&#8230; gần như là toàn bộ luận điệu trong những bài nói của Mười Tân. Người ta nói Mười Tân của miền Nam cũng giống như Tố Hữu của miền Bắc.</p>
<p>Trong thơ văn của hai ông này có chứa đựng những độc tố. Người ta luôn nhắc tới một bài nói chuyện của ông Mười Tân hơn một tháng sau khi Sài Gòn bị mất. Ðó là một bài nói lên án văn nghệ Sài Gòn trước Bảy Lăm, nền văn nghệ mà đồng loạt cả Hà Nội lẫn trong “bưng” ra gán cho cái tên là phản động và đồi trụy. Văn chương chống cộng thì gọi là phản động và văn chương viết về tình yêu thì bị gọi là đồi trụy. Cách nào thì cách, không có một chỗ đứng nào cho nền văn nghệ này. Dữ dằn, quá khích, cố chấp, thiên kiến&#8230; Mười Tân như một ông thần hung bạo chỉ hạ búa chứ không cầm bông hoa. Có lần Mười Tân nói với Quỳnh rằng thằng chồng mày cũng là một chướng ngại vật của cách mạng, nói với nó cứ im đi thì sống còn ngo ngoe là không tồn tại đâu. Ðừng nói chi xa, tên nào vượt biên thì vài tháng về, còn nó cứ cầm chắc bốn chục năm cho phải lẽ.</p>
<p>Cách nói của Mười Tân cho người nghe hiểu rằng tất cả cái gì thuộc chế độ cũ đều xấu xa và đáng phải bị tiêu diệt, đặc biệt là nền văn học nghệ thuật miền Nam. Mười Tân là người ưa dùng thứ ngôn ngữ thậm xưng và cường điệu trong khi nói nhằm khích động người nghe theo cách mà ông ta muốn.</p>
<p>Tôi còn nhớ tháng trước tình cờ gặp nhạc sĩ Nguyễn Giang ở một quán cà phê vỉa hè nhà bà Luật Sư Ðại, Giang vô tình nhắc đến tên Mười Tân khi anh hỏi tôi có bao giờ nghe những ca khúc mới của anh không.</p>
<p>Giang nói mặc dù âm nhạc của anh luôn luôn được quần chúng ưa thích, nhưng Mười Tân đã có lúc cho người gọi anh đến và nói rằng âm nhạc của anh chẳng qua là thứ “nhân đạo chủ nghĩa.” Ðó là một loại hình văn học “kết án chiến tranh mà không cần phân biệt loại chiến tranh nào, kết án bạo lực mà không cần hiểu xuất xứ, tính chất mục đích của mỗi thứ bạo lực.”</p>
<p>“Âm nhạc của anh,” Mười Tân nói: “có chứa đựng những lời than thở phản chiến nhưng nó cũng làm đảo lộn mọi thứ, nó lẫn lộn trắng đen, trung và nịnh, yêu nước và cướp nước. Coi chừng âm nhạc của anh cũng là một hình thức tiếp tay với bọn phản loạn.” Nguyễn Giang rùng mình khi nhắc lại chuyện trên. Lúc đó tôi nhìn thấy hai bàn tay Giang run giật lên như người mắc kinh phong. “Ông ta làm cho mình có cảm tưởng chỗ nào cũng tội lỗi, cái gì cũng tội ác. Cõi tạm. Mình phải xem đời sống này chỉ là cõi tạm, trăm năm chẳng qua cũng chỉ là kẻ ở trọ của ngàn năm thôi.”</p>
<p>Con chim ở đậu cành tre,<br />
Con cá ở trọ trong khe nước nguồn<br />
&#8230;&#8230;..<br />
Tôi nay ở trọ trần gian<br />
Trăm năm về chốn xa xăm cuối trời<br />
&#8230;&#8230;..</p>
<p>hoặc</p>
<p>Em đi qua chuyến đò<br />
Thấy con trăng đang nằm ngủ<br />
Con sông là quán trọ<br />
Và vầng trăng tên lãng du.<br />
&#8230;&#8230;</p>
<p>Ừ thì cũng chỉ là trọ thôi. Có lúc Giang thở ra, “Tôi như đứa trẻ tìm nơi nương tựa mà sao vẫn cứ lạc loài&#8230;. Ðừng tin tôi nhé, vì tiếng cười.” Ðó là những lúc tôi thấy khuôn mặt Giang vốn nhỏ và nhô xương, hai con mắt sâu núp dưới đôi kính trắng, tối sầm lại. “Dường như quanh đây có điều gì tuyệt vọng.” Giang nói lửng lơ. Tôi hiểu bạn.</p>
<p>“Thầy Thăng!” Tiếng gọi tên tôi làm tôi giật mình.</p>
<p>“Thầy có sao không?” Nhị Hà hỏi tiếp.</p>
<p>“Không. Không có gì!”</p>
<p>“Em muốn hỏi sao thầy không ghi có liên hệ gia đình với đồng chí Mười Tân?”</p>
<p>Tôi nhìn thẳng vào mặt Nhị Hà. Tôi không trả lời.</p>
<p>“Thầy tốn bao nhiêu vàng trong chuyến vượt biên này?”</p>
<p>“Không tốn một xu.”</p>
<p>“Thầy là người tổ chức hay sao?”</p>
<p>“Không.”</p>
<p>“Thế thì ai là người tổ chức. Thầy ghi vào đây, chỗ này.”</p>
<p>Nhị Hà đặt tờ giấy xuống mặt bàn, để thuận chiều về phía tôi.</p>
<p>“Ðó là cách duy nhất để thầy sớm được khoan hồng.”</p>
<p>“Tôi không biết.”</p>
<p>“Tại sao?” Phải có người tổ chức vượt biên thì mới vượt biên được chứ!”</p>
<p>“Tôi không vượt biên. Chuyến đi Rạch Sỏi này là đi công tác đào giếng ở công trường An Biên.” Tôi nhắc lại những lời của ông Công dặn.</p>
<p>Nhị Hà không nói thêm. Cô lật lật mấy tờ giấy, trong đó có cái thẻ công nhân viên của tôi do ông Công cấp.</p>
<p>“Thầy không biết cái ‘Tổ Hợp Kiến Tạo’ của ông Công này là một tổ hợp ma chuyên bán giấy đi đường cho người vượt biên sao?”</p>
<p>“Không.” Tôi vẫn nhìn vào mặt Nhị Hà.</p>
<p>“Tại sao cô không đi chuyến này với thầy?”</p>
<p>“Tôi không đi vượt biên. Nhà tôi vẫn còn buôn bán làm ăn ở Sài Gòn .”</p>
<p>“Nhưng hồ sơ công an xã ghi thầy đi với một nhóm người Hoa, bị bắt vừa lúc xuống ghe mà.”</p>
<p>“Không. Tôi không hề đi với nhóm người Hoa nào. Tôi đi một mình.”</p>
<p>Nhị Hà cầm tờ khai trước mặt tôi:</p>
<p>“Thầy không gặp Kiệt sao?” Giọng cô nhỏ nhẹ, nhưng giống như cái búa đập lên đầu tôi, làm tôi ngã lăn<br />
ra.</p>
<p>Tôi quên khuấy chuyến đi có Kiệt, quên khuấy Kiệt là bạn học của Nhị Hà, dù chỉ là bạn học của một tháng.</p>
<p>“Kiệt đâu rồi?” Cả tuần nay tôi không thấy cậu ấy đâu cả!”</p>
<p>“Kiệt đã được đưa xuống Kinh Làng Thứ Bảy lao động cải tạo trong tuần lễ thầy bị biệt giam.”</p>
<p>Tôi nhìn Nhị Hà. Tôi không đọc được tình cảm trong mắt cô khi cô nói đến việc một người bạn cùng lớp bị bắt. Kiệt đã bị đưa đi cải tạo. Còn tôi tại sao tôi còn ở đây? Người tù tên Bình bữa hôm qua mon men đến chỗ nằm của tôi gợi chuyện, hỏi là tôi có muốn về sớm hay không? Tôi hỏi lại muốn thì sao. “Dễ ợt. Ði hai cây thì về cũng hai cây.” Tôi nghi ngờ. Bỗng nhiên tôi giật mình nhớ đến lời hắn nói ngay trong đêm đầu tiên ngồi xếp hàng trong cải hối thất Kiên Giang. “Tôi bảo đảm là trước sau gì ông cũng phải nhờ đến tôi.”</p>
<p>“Thầy nên khai vượt biên bị bắt thì sẽ tính được ngày thả, nếu không&#8230;”</p>
<p>“Tôi muốn nhắn với gia đình tôi là tôi hiện bị giam ở đây. Tôi không vượt biên.”</p>
<p>Nhị Hà nhìn tôi lắc đầu. Cô xấp xấp mất tờ giấy cho đồng đều rồi đứng dậy.</p>
<p>Tôi đứng dậy, hai tay thọc túi quần, đi len qua dãy ghế. Cánh cửa hông nhà giam núp dưới hàng rào kẽm gai. Tên công an theo sau tôi ra dấu tên lính trên chòi gác mở cửa. Tôi bước chân qua thanh gỗ nằm chắn lối đi mà tôi không thấy. Tôi ngã chúi. Ðầu tôi va mạnh lên nền đất.</p>
<p>Ðêm lạnh lẽo.</p>
<p>Tôi nằm đó, hơi thở của đất trời làm tôi hồi sinh dần. Tôi nhìn thấy lại những ngày đầu của một Sài Gòn lửa đạn. Ðám cháy trong khu Mã Lạng. Quỳnh bế con đứng chờ tôi trong căn nhà ngập nước. Những chiếc guốc nổi lềnh bềnh trong nhà. Mùi hôi của cống rãnh tràn ngập cả con hẻm. Tuấn luật sư mang dép râu, chỉ còn thiếu cái nón cối. Ông Mười Tân, hai con mắt giật giật, giọng nói hằn học, lên án, buộc tội, ra lệnh. Tôi nhớ Ðăng và Mai, hai đứa con tôi không biết chúng đã theo mẹ đi Pháp chưa? Tôi tưởng tượng thấy Paris, thành phố ấy là đốm lửa đốt cháy trong tôi chút hy vọng nhỏ nhoi. Nhớ quán Cái Chùa nơi sáng nào cũng gặp Ðình, Nhật, Tâm,&#8230;. Nhớ chợ Ðủi. Ký, Lộc, Nghĩa&#8230; Tôi thấy những hình ảnh lộn xộn tràn ngập trong trí não tôi.</p>
<p>Bỗng nhiên tôi rùng mình. Một cơn lạnh thấu xương vừa thổi qua trong tôi. Cả khu trại giam còn chìm trong bóng đêm. Tôi chống hai tay trên mặt đất lồm cồm bò dậy. Tôi đi đến bên giếng nước, thả chiếc gầu bằng nhôm xuống, kéo sợi dây buộc ở cây xà ngang. Nước buổi sáng lạnh tanh. Tôi chùi cả hai tay vào ngực áo. Tôi đi vào căn nhà giam, dò dẫm từng bước giữa những người cùng tù đang say ngủ. Tôi tìm ra chỗ nằm của tôi gần rãnh nước. Vị linh mục bên phải tôi, hình như không chợp mắt từ khi tôi bị gọi lên chấp pháp “làm việc,” ông trở mình nhường chỗ cho tôi:</p>
<p>“Sao? Họ hỏi anh cái gì?”</p>
<p>“Thưa cha, cũng chung chung vậy thôi.”</p>
<p>“Mà anh gặp tên công an đàn ông hay đàn bà?”</p>
<p>“Thưa cha, một nữ công an.”</p>
<p>“Thưa cha phải. Mà sao cha biết tên cô ta Nhị Hà?”</p>
<p>“Ở đây ai mà không biết cô ta. Gặp cô này đỡ hơn là gặp thằng Sáu Phận.”</p>
<p>Sáu Phận là tên công an hung dữ nhưng có bộ mặt của một thanh niên đẹp trai. Hắn đi đứng nói năng từ tốn, hơi có phần lễ phép nữa là khác. Linh mục Minh cho tôi biết Sáu Phận là một tay chuyên sưu tập đồng hồ. Hắn luôn luôn thay đổi các loại đồng hồ tùy theo đợt người vượt biên bị bắt. Ðối với hắn sự chính xác của giờ giấc ăn uống, nghỉ ngơi và “làm việc” rất là quan trọng. Ai bị hắn gọi lên nửa đêm “làm việc” mà đến trễ quá năm phút, coi như người có hồ sơ xấu. Ðiều đó có nghĩa là Sáu Phận sẽ tự động phê vào hồ sơ người tù những tội mà người này không hề có. Và hắn sẽ bỏ quên luôn người mà lẽ ra hắn đã phải thẩm vấn và xét xử. Theo lời cha Minh nói, có lần Sáu Phận đứng giữa đám tù hát bài Vàm Cỏ Ðông, ở tận sông Hồng, em có biết, quê hương anh cũng có dòng sông&#8230; Hắn hát hay như một ca sĩ nhà nghề.</p>
<p>Và sau mỗi lần hắn hát như vậy là thế nào cũng có người được hắn “tuyển chọn” cho biệt giam, hoặc chia một chỗ nằm với Tư Long.</p>
<p>Sáu Phận đã từng “bỏ quên” một người tù tên Ayakawa, một thương gia Nhật Bản, không hiểu vì sao sau Bẩy Lăm còn lạc lõng dưới Rạch Giá, bị bắt vì một cớ nào không rõ.</p>
<p>Ông Ayakawa chừng bốn mươi tuổi, người gầy và cao để ria mép. Một đêm Sáu Phận gọi ông lên. Nghe người bên cạnh đập dậy ra dấu đi “làm việc” Ông Ayakawa từ từ xếp lại chỗ nằm, ra giếng múc nước rửa mặt, đánh răng, chải tóc thay quần áo. Ông lên trình diện Sáu Phận. Nhưng không lâu, chỉ chừng năm phút sau, ông trở về chỗ nằm. Người bạn tù bên cạnh hỏi sao nhanh vậy, Ayakawa lắc đầu. Chuyện đó xảy ra hồi năm Bảy Sáu. Bốn năm sau Ayakawa vẫn cứ ở một chỗ. Ông con cháu của Thái Dương Thần Nữ này hoàn toàn bị rơi vào quên lãng. Trường hợp của cha Minh cũng là một “tác phẩm” của Sáu Phận. Hắn lễ phép với cha y như chính hắn là một con chiên ngoan đạo. Tuy vậy có lần hắn hỏi cha một câu giữa bữa ăn trưa của tù là “Chúa có biết rằng cha đang ở tù không? Và Chúa có ý định gì khi đưa cha vào tù?”</p>
<p>“Còn Nhị Hà thì sao thưa cha?” Tôi tò mò.</p>
<p>“Khá hơn. Có vẻ có học. Nhưng cũng cùng một guộc thôi.”</p>
<p>“Suỵt! Tù không được nói chuyện.”</p>
<p>Bất ngờ có tiếng người nói rất gần. Tôi quay nhìn. Như một bóng ma, người nói là Bình, nhân vật đã ngồi cạnh tôi ngoài sân khám Rạch Giá đêm đầu tiên tôi bị giải về đây.</p>
<p>“Nhà anh có được tin là anh bị biệt giam ở đây chưa?”</p>
<p>“Chưa.”</p>
<p>“Anh có muốn gia đình anh biết là anh hiện ở đây không?”</p>
<p>Câu hỏi của anh ta nhắc tôi nhớ là cả tháng nay tôi không được thăm nuôi. Gần như mọi người trong tù tuần nào cũng có người thăm nuôi. Tôi không biết Quỳnh bây giờ ra sao. Hai mẹ con sống như thế nào? Căn nhà ở khu Mã Lạng. Mùa mưa. Ông Mười Tân hai con mắt giật giật. Tuấn luật sư dép râu, áo bỏ ngoài quần. Mai và Ðăng. Biệt tăm.</p>
<p>“Nếu tôi muốn thì sao?” Tôi hỏi anh ta.</p>
<p>“Chẳng có làm sao làm siết gì hết. Anh muốn thì tôi giúp cho. Thế thôi!”</p>
<p>“Anh làm ơn&#8230;” Trời chưa sáng hẳn nên tôi không nhìn rõ lắm khuôn mặt của anh ta. Tôi nóng lòng gặp lại Quỳnh và con tôi biết chừng nào.</p>
<p>“Anh cứ biên mấy chữ kèm tên bà chị và địa chỉ nhà ở Saigon tới giờ cơm tôi lấy.” Anh ta nói xong đứng dậy đi ngược ra phía giếng nước.</p>
<p>“Thưa cha&#8230;” Tôi ngập ngừng.</p>
<p>“Anh muốn biết ông Bình này là loại người gì phải không?”</p>
<p>Cha Minh hỏi tôi giọng chậm rãi.</p>
<p>“Thưa cha, phải. Ông ta chẳng có vẻ tù chút nào hết. Mà chả lẽ ông ta là cán bộ?”</p>
<p>“Hiểu sao cũng được. Tù cò mồi của Sáu Phận đó mà.”</p>
<p>Cha kể chuyện tên Bình này ra vào nhà tù như đi chợ. Tù lâu năm ở đây ai cũng nhẵn mặt anh ta. Anh ta làm tiền cho Sáu Phận bằng cánh chuyển thơ của tù mới bị giam về cho thân nhân. Anh ta là trung gian giữa Sáu Phận và người tù. Phần bên ngoài như liên lạc với thân nhân người bị giam thì Sáu Phận lo. Nhiều người bị bắt đợt hai, đợt ba, cho biết gia đình bị Sáu Phận làm tiền trắng trợn. Cái yếu điểm của hắn là đồng hồ. Hắn say mê đồng hồ hơn mê gái. Có lần một người làm nghề sửa đồng hồ ở Saigon vượt biên bị bắt được Sáu Phận đặc biệt ưu đãi, kể lại với cha là nhà Sáu Phận có nhiều đồng hồ đến nỗi có thể mở một chớ hai cửa tiệm cũng được. Người ta đồn Nhị Hà và Sáu Phận yêu nhau. Nhưng tình yêu đó cứ trắc trở vì mấy cái đồng hồ của Sáu Phận. Trời có vẻ sáng hơn. Tôi không dám nằm xuống. Tôi sợ giấc ngủ sẽ bắt tôi nằm bẹp luôn. Tôi tựa lưng vào vách, duỗi dài hai chân, nhắm mắt, thở. Bỗng nhiên tôi nhớ mấy câu thơ của Bùi Giáng mà Ký đã đọc ở Chợ Ðũi, những câu thơ làm tôi tức cười đến nôn ruột.</p>
<p>“Người con gái lội qua khe<br />
Bàn chân với nước lạnh đè lên nhau<br />
Nỗi niềm tưởng lại xưa sau<br />
Bàn chân với nước cùng nhau lại đè!”</p>
<p>Ðó là lúc tôi nghe tiếng kẻng ở giếng nước vang lên. Tù đang thúc nhau dậy xếp mùng màn và chiếu. Cha Minh đặt tay lên vai tôi, vỗ vỗ mấy cái. Tôi nhìn thấy hai mắt cha hấp háy dưới chiếc kính cận dày. Một ngày tù bắt đầu như mọi ngày.</p>
<p><strong>Chương Mười Bốn</strong></p>
<p>Suốt một tuần lễ trời mưa tầm tã. Chỗ nằm của cha Minh và tôi bị nước tạt ướt, phải di chuyển ép sát vào bên trong. Ban đêm nghe tiếng nước chảy liên tiếp từ cái rãnh bên hè xà lim xuống ống cống ở cuối nhà giam.</p>
<p>Thời tiết thay đổi. Lạnh bất ngờ. Tôi nằm ngủ hai chân co lên, đầu gối áp sát vào ngực. Buổi sáng thức giấc bỗng thấy chiếc áo chùng của Cha Minh đắp lên tôi từ hồi nào. Tất cả những người tù bị giam trong “nhà mưa” &#8211; đó là một phòng chật, thấp, lợp tôn, tù ở trần trùng trục, chỉ có thể đứng và ngồi chớ không thể nằm, ngày cũng như đêm, mồ hôi vã ra như tắm &#8211; gặp cơn mưa thứ thiệt của trời đất đã có dịp được mặc quần mặc áo.</p>
<p>Tôi bị bệnh thật sự. Tôi nghe lạnh từ trong xương lạnh ra. Tôi không có cách nào để giữ cho hai chiếc quai hàm đừng đập vào nhau. Tôi thấy diễn ra trước mặt mình vô số hình ảnh. Người quen, kẻ lạ. Cảnh tượng thiên đàng. Bóng dáng địa ngục. Phố xá người đông đúc chen nhau đi. Những quán cà phê. Khách hàng ra vào tấp nập. Những đốm sáng bay ngược chiều thổi vào mắt tôi với tốc độ của chiếc máy bay phản lực. Tôi thấy khuôn mặt Quỳnh nhạc nhòa nước mắt. Tôi nghe tiếng con tôi khóc trong nôi giữa căn nhà ở hẻm Lê Văn Mùi khu Mã Lạng ngập nước. Những chiếc dép cao su, những tờ giấy trôi lềnh bềnh. Tôi thấy hai con tôi, Ðăng và Mai, đứng ở một góc đường phố Paris đón xe buýt đến trường, đã cao lớn hẳn, mạnh bạo, tin tưởng.</p>
<p>Chiếu qua màn ảnh trí nhớ tôi còn là một người đàn ông tên Trần Lâm Thăng, chạy chiếc xe Lambretta màu bạc, sau lưng ông ta là một cô gái tên Quỳnh, gầy nhom, cao, hai con mắt dân Mông Cổ. Trời mưa to. Xe chết máy trên đường Lê Lai gần nhà ga xe lửa, nơi ống cống bị nghẽn khiến con đường đã trở thành như một dòng sông. Cả hai ướt như chuột lột. Chiếc áo mưa nhà binh mặc ngược trước ngực người đàn ông không che nổi những giọt nước thổi xuống da thịt cả hai. Rét lạnh. Co ro. Saigon trở lại trong trí nhớ tôi, không phân biệt đâu là thời điểm sau và trước Tháng Tư Bẩy Lăm.</p>
<p>Tuấn-Luật-Sư mặc áo bỏ ngoài quần nói giọng cách mạng. Ông Mười Tân với hai con mắt giật giật, những ngón tay gõ nhịp trên mặt bàn, điếu thuốc luôn luôn gắn trên môi, bộ quần áo kaki màu bộ đội, tóc bạc cắt ngắn sát da đầu. Ðó là một con người quá khích, quá độ, cực kỳ thiên kiến. Một con người rất “chủ nghĩa”. Yêu, ghét rạch ròi như thể ngoài hai màu trắng và đen ra trên đời này không còn một màu sắc nào khác, như thể đời sống chỉ là một bài toán chỉ có hai đáp số, nếu không trung thì nịnh, nếu không gian thì ngay, nếu không là thế này thì phải là thế kia, không thể vừa là cái này vừa là cái kia. Rạch ròi. Rạch ròi. Tôi thấy tôi như một con nhện đi trên những sợi thừng do con người giăng. Tôi nhớ&#8230;</p>
<p>Từ chỗ nằm, tôi có thể nhìn thấy cái vòm cửa nhỏ của chiếc xà lim nhốt một người nữ tù. Thấp thoáng hai con mắt dại đi vì bóng tối. Tiếng xích sắt của Tư Long khua không còn vang đến tai tôi, nhưng tôi vẫn nghe rõ mồn một, in như thể tôi đang nằm bên ông. Mộng mị. Chiêm bao. Tưởng tượng. Bệnh tưởng. Tôi nhìn thấy cả quá khứ và tương lai.</p>
<p>Quá khứ của tôi? Những ngày dài buồn chán kể từ một tuổi thơ bơ vơ lạc lõng trong một gia đình ly tán, cho đến tuổi một thanh niên học hành lỡ dở đầu óc tràn ngập thứ mặc cảm tự ti, và một cuộc hôn nhân phản trắc đi theo một tình yêu cay đắng&#8230; Như một người đứng bên lề cuộc đời, tôi câm điếc đui mù trước cảnh sống ngột ngạt của một thành phố sa đọa. Tiếng đại bác đêm đêm vọng về như một người quen gọi tên mình, nhưng tôi cứ giả điếc làm ngơ nhất định không nghe.</p>
<p>Tôi chạy trốn những giọt nước mắt và máu. Lựu đạn nổ ở ngã tư đường, bom trong rạp hát, mìn claymore trên một nhà hàng nổi ở bến tàu&#8230; Chiến tranh không thập thò ở ngưỡng cửa thành phố, chiến tranh đã hòa tan trong không khí với hơi lựu đạn cay, với những bánh xe nhà binh bị đốt cháy nằm giữa mặt đường. Ðể tự trấn an mình, tôi lý luận cho riêng tôi rằng ở ngoài chiến trường dẫu sao vẫn dễ hơn là ở thành phố. Một nơi người ta có thể nhận diện kẻ thù, còn một nơi người ta không biết ai là ai. Bịt mắt trước ánh sáng tung tóe của những trái hỏa châu soi xuống những vùng ven đô, tôi đã sống trong cảnh đui mù của một con người tàn phế.</p>
<p>Chiến tranh ở đâu? Bao nhiêu bè bạn tôi đã bị bắt buộc phải làm người sát nhân để rồi sau đó làm nạn nhân? Cũng có đứa chưa kịp cầm lấy khẩu súng, cây gậy giết người, đã phải làm ngay nạn nhân thời chiến. Chiến tranh ở đâu, khi cha tôi bị bắt phải bước qua cái nghĩa địa đầu mồ mả của những người trong gia tộc, để rồi sau rốt đành lấy những giọt rượu làm người tri kỷ đốt cháy những ngày cùng tháng tận.</p>
<p>Chiến tranh là gì khi người anh tôi khoác cây súng lên vai đi khắp bốn vùng chiến thuật, để cuối đời về nằm bẹp dí trên giường bệnh chờ chết mà không nhận được một lời thăm hỏi. Anh đã là một người “chiến sĩ vô danh” được “tổ quốc ghi ơn” khi hãy còn thở. Khi bà chị dâu tôi sanh ra đứa con đầu lòng tưởng rằng chiến tranh đã hết đặt tên cháu là Ðình Chiến, Trần Ðình Chiến, nhưng chiến tranh vẫn cứ hiên ngang tồn tại, chờ cho Ðình Chiến kịp đến tuổi động viên thi hành quân dịch vào quân trường, súng trên vai đi bốn vùng chiến thuật với vết thương trên vai trên ngực, để rồi cuối cùng cũng còn kịp thời giờ chán để cháu bước vào trại cải tạo như một tù binh&#8230;</p>
<p>Tôi đâu phải là thiền sư, sau bao nhiêu năm sống trong cảnh tăm tối vật vờ, bây giờ nằm trong nhà giam nghe tiếng mưa rơi trên mái tôn, ngửi mùi hôi thối của cống rãnh chảy cạnh chỗ nằm, bỗng giật mình thấy ánh sáng&#8230; Nhưng tôi biết rằng ánh sáng đó là một điều có thực. Tôi nghiệm ra cuộc đời không đến nỗi bi thảm như tôi nghĩ, tôi tưởng. Những quả chuối xanh treo lủng lẳng ở cửa sổ phòng giam của người phụ nữ bị bắt vì “tội phản động dám chống lại chính quyền cách mạng” mới hôm qua còn xanh nay đã vàng chín. Từ chỗ nằm của tôi, tôi đã có lần thấy mấy tên công an áo vàng dẫn chị đi “làm việc” ngang qua rãnh nước. Tôi thấy chị cười khi người tù cắt tóc đang cạo trọc nửa đầu một người tù khác. Nụ cười của người tử tội dạy cho tôi biết bao nhiêu điều. Với cái vẻ đẹp ở đâu cũng có, vấn đề là mình có nhìn thấy nó và biết chia sẻ với nó không.</p>
<p>Tôi nhớ lại những ngày nằm chung xà lim với Tư Long. Công thần hãn mã như Tư Long mà còn bị cái chế độ Tào Tháo giam nhốt không biết ngày ra thì cái thứ người như tôi có gì để mà lý đến. Tôi nghĩ đến Sáu Phận, tên coi tù mà nào có khác chi người tù, có khác chăng chỉ là cái không gian của hắn rộng hơn, chân cẳng của hắn ít quẩn hơn. Và hai người học sinh của tôi; Kiệt đã chọn cho mình một quyết tâm riêng sau ngày cha cậu tự sát. Hoặc đi vào chiến khu chống lại chế độ mới hoặc vượt biển đến Mỹ học cho thành tài chờ ngày trở lại quang phục quê hương.</p>
<p>Và tôi không quên được cái hình ảnh mới nhất của Nhị Hà. Một khuôn mặt đằm thắm trong bộ quần áo công an. Cái nhìn lạnh lùng, những câu hỏi dửng dưng. Nhị Hà, người học sinh mà có lần Kiệt báo động cho tôi biết đừng bao giờ nói điều hớ hênh gì với cô gái ấy. Cô ấy có “bồ” là một người Nam tập kết, nhưng rất căm thù dân Nam Kỳ. Năm 54, khi tập kết ra Bắc, ông họa sĩ Ðặng Thanh Chánh chia tay vợ và con trai lúc đó mới tám tuổi, hẹn hai năm sau đất nước thống nhất trở về đoàn tụ. Nhưng ai ngờ, hai năm rồi hai năm, đất nước vẫn chia lìa. Năm 58, ông họa sĩ tập kết, người chuyên vẽ những bức tranh ca ngợi “lính cụ Hồ” được Ðảng cho phép lập gia đình với một nữ văn công trong đoàn kịch nói Hà Nội. Nhị Hà ra đời. “Bố” là họa sĩ, mẹ là văn công, Nhị Hà ưa thích văn học cũng là một lẽ dễ hiểu. Bà Chánh ở Saigon khổ nhọc nuôi con, không nhận được một tin tức nào của chồng. Bà gá nghĩa với một người thầu khoán người Bắc di cư. Ngoài đứa con trai riêng với ông Chánh, bà còn có thêm ba cô con gái với người chồng sau. Tháng Tư Bẩy Lăm, ông cán bộ họa sĩ trở vào Saigon. Ông thầu khoán bị chế độ mới bắt đi tù cải tạo vì thuộc thành phần tư sản mại bản. Ông Chánh tìm gặp lại được người vợ cũ. Nhưng có lẽ lương tâm ông đắn đo có nên gặp lại người xưa không, cũng có lẽ lập trường chính trị của ông bị chao đảo. Ông đứng thập thò giữa biên giới đảng và vợ cũ. Ðứa con trai của ông đã trình diện đi học tập cải tạo vì là sĩ quan của chế độ cũ.</p>
<p>Bà Chánh khóc lóc xin ông tìm cách cứu giọt máu riêng của hai người và nếu có thể cứu người chồng mới đã có ba mặt con với bà. Ông Chánh không nhận lời cũng không nói thẳng là từ chối. Nhưng rõ ràng là ông không làm gì để cứu người con là sĩ quan biệt đông trong quân lực Việt Nam Công Hòa. Người ta nói ông Chánh đã tìm cách chinh phục người vợ cũ &#8211; bỏ mẹ con Nhị Hà không ngó ngàng đến, và sau đó dọn về ở hẳn trong biệt thự của người vợ trước.</p>
<p>Nhị Hà có lần nói thẳng với mấy bạn trai, những học sinh của Saigon cũ, rằng cô rất ghét người Saigon, “giống dân bạc tình bạc nghĩa, chỉ biết chạy theo vật chất mà quên cái phần tinh túy là tâm hồn.”</p>
<p>Nhị Hà là một trong số những đoàn viên thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh “cực tả” trong thành đoàn. Không một chiến dịch nào do Thành ủy và Ủy nan Nhân dân thành phố mở ra đánh vào dân Saigon mà không có sự tham dự của Nhị Hà. Các vụ đánh tư sản, đổi tiền, tịch thu văn hóa phẩm gọi là phản động và đồi trụy, tấn công nhạc vàng, ruồng ốp sách báo cũ&#8230; đâu đâu cũng thấy Nhị Hà đi hàng đầu. Sau cùng Nhị Hà vào ngành công an. Cô thấy không ngành nào thích hợp cho lòng thù hận của cô bằng ngành này.</p>
<p>Còn tương lai?</p>
<p>Ừ, tương lai thì sao?</p>
<p>Tôi cần gì tương lai. Hiện tại tôi sống chưa xong, chưa hết việc gì tôi tìm kiếm tương lai!</p>
<p>Tôi nhớ lại nụ cười của người nữ tù. Một mái tóc rối bù, một khuôn mặt xanh xao, một bộ quần áo màu đen, bạc mốc. Nhưng nụ cười ấy đã làm ấm lại cái mùa đông tù ngục của hiện tại. Nụ cười ấy làm tan đi trong tôi những ý nghĩ đen tối chết chóc suốt bao nhiêu ngày nay. Tôi nhớ Tư Long, sợi xích sắt nặng nề buộc vào hai cườm tay, hai cổ chân, khua động rên xiết; hai sợi xích còn nặng hơn cả tấm thân toàn da với xương khẳng khiu còi cọc; tên cuồng tín chủ nghĩa, sau cùng đã thốt lên:</p>
<p>“Tôi phải sống để nhìn cái lũ đó chết, chớ tôi đâu có dại gì chết trước cái lũ đầu trâu mặt ngựa đó.”</p>
<p>“Anh Thăng!”</p>
<p>Bất ngờ có người gọi tên tôi và tôi cảm thấy có một bàn tay lay lay bả vai tôi.</p>
<p>Tôi mở choàng mắt dậy. Người đàn ông ngồi chồm hổm ngay chỗ nằm tôi là một cai tù. Tôi biết chắc như vậy, bởi vì tôi thấy y có đeo đồng hồ.</p>
<p>“Anh có phải là Trần Lâm Thăng không?”</p>
<p>“Phải.”</p>
<p>“Hôm nay có thăm nuôi, sao anh không ra sân chờ nghe tên?”</p>
<p>“Tôi bị bệnh. Mà tôi không chắc là nhà tôi biết tôi đang ở đây đâu.”</p>
<p>“Không nên bi quan như vậy. Nên rửa mặt rửa mũi đi. Tôi chắc hôm nay anh có người nhà thăm mà!”</p>
<p>Tôi ngồi dậy. Tên cán bộ cai tù còn trẻ. Y trạc ba mươi. Da trắng, khuôn mặt y đẹp trai một cách cải lương. Chiếc đồng hồ trên cổ tay y thuộc loại đắt tiền. Hiệu Longines, mỗi con số là một hột xoàn. Dây đeo màu vàng tựa như được đánh ra từ vàng khối.</p>
<p>“Ðồng chí Hà nói với tôi là anh là thầy học của đồng chí. Ðúng vậy không?”</p>
<p>Tôi gật đầu, mắt vẫn nhìn y.</p>
<p>Tôi biết y là ai rồi. Y chính là người sưu tập đồng hồ. Y là Sáu Phận. Giọng nói của y làm tôi nhớ lại tên cai tù ra lệnh cho tôi ngay đêm đầu tiên tại nhà tù này phải vào xà lim nằm chung với Tư Long.</p>
<p>Tôi hiểu được rằng điều này có nghĩa là người tù tên Bình và tên cai tù Sáu Phận quả có mối liên hệ như lời cha Minh nói. Nhưng tôi chưa kịp hiểu vì sao y không để tên Bình nói chuyện với tôi mà y lại đích thân làm việc này. Thật ra tôi chưa cần tìm hiểu. Tôi đang mong gặp Quỳnh. Tôi tưởng tượng thấy khuôn mặt vợ tôi đầm đìa nước mắt bế con đứng bên kia song sắt, dưới chân là một giỏ đựng thức ăn và đủ thứ linh tinh mà một người tù được phép nhận. Tôi tưởng tượng Quỳnh sẽ đứng đó không nói lời nào cho đến khi bị tên cai tù đuổi đi vì hết giờ thăm nuôi. Tôi như thấy lại chiếc răng khểnh của Quỳnh, đôi mắt màu nâu mã não, trên khuôn mặt thơ ngây, không bao giờ ngừng thơ ngây, đã chiếm hết chỗ trong trái tim tôi.</p>
<p>Tôi nhìn ra sân. Trưa nắng. Tiếng đọc tên người được thăm nuôi vang lên ơi ới, truyền miệng nhau, tên này chồng lên tên kia.</p>
<p>“Ðồng chí Nhị Hà đã lấy phép về thành phố Hồ Chí Minh thăm gia đình&#8230;”</p>
<p>Xong y đứng dậy, bàn tay phải y trùm lên chiếc đồng hồ ở cườm tay trái như muốn che đậy sự sang trọng. Y bước đi, không ngoảnh lại. Ðúng lúc đó, cha Minh vào xách theo một giỏ quà thăm nuôi. Ngồi xuống chỗ nằm của mình, cha Minh bày thức ăn ra trên mặt báo, những thức ăn đã bị mở tung ra để kiểm soát trước khi tù đưa về chỗ nằm.</p>
<p>“Sao anh không ra ngoài chờ nghe coi có người nhà thăm nuôi không?”</p>
<p>“Cha nói đúng cái câu mà một người vừa mới nói với tôi.”</p>
<p>“Ai vậy? Phải cái ông Bình cò mồi không?”</p>
<p>“Thưa cha, không.”</p>
<p>“Vậy thì cái ông có đeo đồng hồ vàng. Phải không?”</p>
<p>“Sao cha biết?”</p>
<p>“Tôi đoán chừng thôi. Mà có đúng vậy không?”</p>
<p>Tôi gật đầu.</p>
<p>“Vậy thì cứ ra ngoài sân đi lòng vòng chỗ cửa sắt coi. Sáu Phận nói chuyện gì khó tin chớ chuyện thăm nuôi là tin được.”</p>
<p>Tôi đứng dậy ra giếng múc nước đánh răng rửa mặt. Tóc tôi đã cắt ngắn ngay trong ngày đầu vừa bước vào tù nay đã lởm chởm dài.</p>
<p>Tôi dội nguyên một gầu nước lên đầu. Hai tay tôi chà xát thật mạnh vào mái tóc đã được cắt ngắn. Tôi muốn tìm chiếc gương soi lại mặt mũi tóc tai của tôi. Tôi không muốn để Quỳnh thấy tôi bạc nhược, tả tơi, thê thảm. Không, người trong tù phải giúp cho người bên ngoài tù yên tâm, tin tưởng, lạc quan mà sống. Phải như thế. Tôi đánh răng thật kỹ. Tôi không bịnh. Tôi không bịnh. Tôi không bịnh. Tôi là người khỏe mạnh. Tôi&#8230; lặp đi lặp lại nhiều lần trong đầu các câu nói đó. Và tôi vuốt lại bộ quần áo độc nhất đã mặc từ ngày vào tù. Bộ quần áo ấy tôi đã giặt hai lần vào những buổi tối.</p>
<p>Hai lần tôi được cha Minh cho mượn chiếc áo chùng của cha để ngủ chờ quần áo khô. Tôi yên tâm thấy quần áo tuy có nhàu nát nhưng không hôi hám. Tôi tưởng tượng tôi đang có bộ mặt vui vẻ. Tôi đi vòng ra phía cửa sắt. Tôi đứng sau lưng những bạn tù đang lao nhao chờ đọc tên mình. Tôi kiễng chân lên cố nhìn những thân nhân của người tù bên kia song sắt. Tôi hy vọng Quỳnh đang có mặt. Tôi hy vọng Nhị Hà đã báo cho Quỳnh biết. Tôi hy vọng Sáu Phận đã đưa thư tôi cho Quỳnh. Tôi tưởng chừng thấy Quỳnh đang bế con, giỏ thức ăn dưới chân dáo dác tìm kiếm tôi bên trong song sắt. Tôi chắc chắn Quỳnh sẽ khóc khi ôm tôi, dụi cái mái tóc ngắn ngổ ngáo vào ngực tôi. Tôi chắc Quỳnh sẽ cười nói rằng “ngu lắm, không khóc nữa đâu.”</p>
<p>Tôi tưởng&#8230; nhưng không, không có gì hết. Người tù có vẻ đông hơn đám nhân thân ngoài kia. Chừng mười người đàn bà, có người bế con, có người dắt con, có người còn trẻ, có người đã già, ăn mặc đủ kiểu, đủ loại. Tên công an coi tù đứng giữa, trên tay cầm tờ giấy. Tôi thấy hắn đọc khó nhọc, như thể hắn đang bị hành xác. Tôi nhìn quanh quất thêm một lần nữa đám thân nhân bên ngoài. Cố tưởng tượng Quỳnh mặc bộ bà ba đen, đang tay xách nách mang, lỉnh cà lỉnh kỉnh những thứ thăm nuôi tù.</p>
<p>Không. Không có Quỳnh. Có một người đàn bà trẻ đang đứng khóc. Dưới chân chị là một giỏ quà nhỏ. Có tiếng mấy người tù bên trong nói truyền nhau. “Cam Duy Nghĩa bị đưa đi rồi!” Người đàn bà trẻ vẫn đứng yên. Những giọt nước mắt chảy ròng ròng trên hai gò má xanh xao. Một bà lão da mặt nhăn nheo, hai gò má tóp lại, vịn tay lên song sắt, cả khuôn mặt bà áp sát vào cửa, tưởng như bà muốn chui vào trong tù. “Thằng Sanh đâu? Tui muốn gặp thằng Sanh, cháu tui!” Không ai trả lời. Tên công an coi tù gỡ những ngón tay của bà ra khỏi song sắt, “Bà đi về đi! Ở đây không có ai tên Sanh mà! Bà về đi!” Bà lão vẫn nhất định không nghe, những ngón tay bà bám chặt hơn vào song sắt, cả chiếc đầu nhỏ bé của bà với chiếc miệng móm, hai con mắt sâu, mái tóc bạc trắng thưa thớt như chui hẳn vào giữa hai thanh sắt. “Tui muốn gặp thằng Sanh. Nó là cháu tui. Nó có làm gì đâu mà mấy người bắt nó, nhốt nó. Trả thằng Sanh cho tui.”</p>
<p>Giữa những tiếng kêu của bà lão là tiếng la mừng rỡ của một người tù khác nghe xướng đúng tên mình có người nhà thăm nuôi. Tiếng cười của người tù, tiếng khóc của người bên ngoài cửa sắt.</p>
<p>Tôi không thấy Quỳnh đâu, nhưng tôi vẫn hy vọng. Có thể mẹ con nó được tin tức mình quá trễ, chưa kịp mua sắm gì thăm nuôi chồng. Có thể thư tôi chưa đến tay Quỳnh. Có thể Nhị Hà không muốn cho nhà tôi biết. Có thể Sáu Phận có âm mưu gì đây. Có thể tên Bình cò mồi muốn ếm tôi để Sáu Phận làm tiền. Có thể&#8230; có thể Quỳnh sắp tới, Quỳnh đang tới. Bao nhiêu điều “có thể” đang nhảy múa trong đầu tôi.</p>
<p>“Trần Lâm Thăng! Ai là Trần Lâm Thăng?”</p>
<p>Tôi nghe có người gọi tên tôi. Tôi nhìn chăm vào miệng tên công an đứng bên cửa sắt. Không, hắn không đọc tên tôi. Hắn đang xếp tờ giấy bỏ vào túi. Ðám tù bắt đầu rã hàng. Bà lão bên ngoài cửa sắt đang quỵ xuống. Một cô gái bênh cạnh bà cúi xuống đỡ bà.</p>
<p>“Trần Lâm Thăng! Ai là Trần Lâm Thăng?”</p>
<p>Tiếng kêu tên tôi lặp lại một lần nữa. Tôi quay ra phía sau. Một phản ứng rất tự nhiên tôi giơ tay lên.</p>
<p>“Anh là Trần Lâm Thăng hả?” Tên coi tù, tay đeo đồng hồ, chống nạnh hỏi giọng bực bội. “Anh có điếc không?”</p>
<p>“Không.” Tôi trả lời gọn.</p>
<p>“Không điếc, sao không lên tiếng?”</p>
<p>“Tôi tưởng có người nhà thăm nuôi”</p>
<p>“Tưởng cái gì? Ði theo tôi!” Hắn ra lệnh và quày quả bỏ đi.</p>
<p>Mấy người tù trong sân ngó tôi ái ngại. “Làm việc!”</p>
<p>“Sao làm việc ban ngày?” Tôi nghe tiếng cha Minh nói bên tai tôi khi cha đi ngược chiều tôi. “Cẩn thận!”</p>
<p>Băng qua bờ giếng, chui qua cánh cổng nhỏ nằm dưới chòi canh, tường lởm chởm mẻ chai và kẽm gai, tên công an dẫn tôi đến một căn phòng rộng. Giữa phòng là một cái bàn và hai cái ghế. Một người đang ngồi quay lưng về phía tôi. Mái tóc bạc trắng, những ngón tay đang gõ gõ trên mặt bàn, khói thuốc bay lên.</p>
<p>Tên công an đến gần đứng thẳng người.</p>
<p>“Báo cáo thủ trưởng, Trần Lâm Thăng đã đến!”</p>
<p>“Cám ơn!” Người ngồi trên ghế không buồn quay mặt lại.</p>
<p>Tôi lặng người. Tôi biết người đàn ông tóc bạc kia là ai rồi. Tôi không ngờ. Tôi thật không ngờ. Người đang chờ tôi là Mười Tân.</p>
<p>Tên công an coi tù đã bỏ đi.</p>
<p>“Mời cậu Thăng ngồi. Lâu quá phải không?”</p>
<p>&nbsp;</p>
<p><strong>Chương Mười Lăm</strong></p>
<p>Thật tình là tôi bị bất ngờ. Tôi đang nóng lòng chờ đợi Quỳnh và con. Tôi không hề nghĩ là sẽ có ngày gặp lại Mười Tân, nhất là ở đây trong hoàn cảnh này. Dù sao&#8230; sự thể đã như vầy. Tôi đi vòng ra trước mặt Mười Tân, kéo ghế ngồi xuống.</p>
<p>Những ngón tay của bàn tay trái Mười Tân vẫn gõ nhịp trên mặt bàn. Ðiếu thuốc vẫn còn trên môi. Tôi có cảm tưởng Mười Tân đang nhìn tôi cái nhìn xoi mói, muốn đọc những gì đang đi qua đầu óc tôi.</p>
<p>Tôi không biết cái thời gian im lặng nặng nề đó kéo dài trong bao lâu, nhưng rõ ràng Mười Tân là người mở lời trước.</p>
<p>“Tôi được người quen cho biết là cậu hiện đang ở đây. Từ một tuần trước kia. Nhưng bây giờ tiện dịp xuống dưới này làm việc với bí thư tỉnh ủy, nên tôi ghé thăm cậu.” Mười Tân bắt đầu nói sau khi nhấc điếu thuốc ra khỏi môi, dụi đốm lửa xuống cái gạt tàn, dí dí đến gãy cái điếu thuốc còn gần phân nữa.</p>
<p>Tôi vẫn im lặng. Tôi có cảm tưởng Mười Tân sẽ hỏi một câu gì đó. Tôi không chờ một câu nói vô thưởng vô phạt. Và tôi không phải chờ lâu.</p>
<p>“Có biết vượt biên là phản quốc không?”</p>
<p>Mười Tân hỏi cũng bất ngờ như sự xuất hiện vừa rồi của ông. Tôi không trả lời câu hỏi trống không của ông. Mười Tân lấy điếu thuốc bật diêm, châm lửa. tôi có cảm tưởng như ông đang dằn cơn tức để nói. Ðiếu thuốc chưa bập được hai hơi Mười Tân đã dập xuống gạt tàn. Những ngón tay lại gõ trên mặt bàn. Sau cùng ông đứng dậy, hai tay thọc trong túi quần, đi qua đi lại, rồi dừng hẳn trước mặt tôi, ông nói:</p>
<p>“Có biết loại người nào trong xã hội mới này bỏ nước ra đi không? Ðó là bọn ma cô đĩ điếm, bọn ăn không ngồi rồi, bọn sống bám trên mồ hôi lao động của người khác, bọn không có xương sống, không đầu óc, không biết suy nghĩ. Tại sao đi theo bọn đó? Tại sao?”</p>
<p>Tôi biết mình trước sau gì cũng sẽ nghe những lời nói đó, những câu hỏi loại đó. Bây giờ Mười Tân đã nói:</p>
<p>“Không phải đi học tập cải tạo như những tên có nợ máu với nhân dân sao không đội ơn lượng khoan hồng của chế độ mà còn giở trò vượt biên. Có biết hành động này không phải chỉ là hành động phản quốc mà thậm chí còn là hành động vô đạo đức nữa không?”</p>
<p>Mười Tân lại ngồi xuống ghế, rút thêm một điếu khác, mồi lửa, thở khói.</p>
<p>“Bỏ vợ bỏ con một mình lén lút ra đi, trốn chạy trách nhiệm với tổ quốc, trốn trách nhiệm với gia đình, phải đánh giá một con người vô trách nhiệm như thế ra sao?&#8230;”</p>
<p>Tôi vẫn ngồi im. Tôi cúi xuống nhìn hai bàn chân không giày dép của tôi. Tôi đan chéo hai bàn tay vào nhau. Tôi thấy những móng tay mình đã dài, cáu bẩn, đen đúa. Tôi nhìn chiếc áo mình đang mặc, nhiều chỗ đã ố vàng. Tôi thèm được uống một ngụm nước. Tôi muốn chui xuống cuống họng điều mà tôi đang ngậm đắng nuốt cay.</p>
<p>“Không đóng góp được gì tốt đẹp cho tổ quốc đã là một con người xấu, bỏ tổ quốc ra đi theo bọn phản động, còn làm cho mình trở nên tồi tệ&#8230;”</p>
<p>Tôi nhìn Mười Tân nói năng cử động như một người đang lên đồng.</p>
<p>“Tôi đã nói với Quỳnh, ngay sau ngày giải phóng là nó đã lấy một thằng đàn ông không ra gì. Một gia đình cách mạng xấu hổ khi để lọt một người như cậu bước vô.”</p>
<p>Tôi ngó lên trần nhà. Tôi nhìn quanh nhìn quất. tôi nhớ ra nơi chốn này tôi đã đến một lần. Cô học trò công an tên Nhị Hà ngồi ở chỗ mà Mười Tân vừa ngồi để lấy lời khai của tôi. Tôi không biết giờ này Quỳnh đang làm gì. Con tôi có khỏe mạnh không. Nếu có bị bệnh tật ốm đau làm sao có thuốc men mà chạy chữa, mặc dù gia đình của Quỳnh có cả một tiệm thuốc tây. Tôi nhớ có lần<br />
Tâm-Khô-Khốc-Thiền-Sư nói về Mười Tân rằng đó là một con người có tài ăn nói, nhưng là người cực đoan chủ nghĩa về tất cả những gì mà ông theo đuổi một cách mù quáng. Những người trí thức bị chất mua túy của chủ nghĩa Mác-xít cuốn hút, những người chán ngấy cái xã hội Sài Gòn mà họ đã sống, những người trẻ tuổi bị bế tắc trước tương lai, những người sợ hãi trước chế độ mới&#8230; đều là những người hết lời ngợi ca Mười Tân. Những bài nói chuyện của ông lôi cuốn đám đông ấy trong một không khí sôi sục đến thần thánh, gần như sẵn sàng bùng nổ. Phải nói ông Mười Tân là một diễn giả tài giỏi và sức thuyết phục của ông trước một tình hình chính trị mới mẻ, trong một chế độ cai trị bằng bạo lực, thật là to lớn. Có lần tôi nghe được hay đọc được ở đâu đó rằng Mười Tân đã bỏ nhà ra đi làm cách mạng năm mới mười sáu tuổi. Năm mười tám tuổi, ông đã là chính ủy một đại đội đặc biệt. Mười Tân không phải chỉ là người can đảm, kiên cường, hoạt bát, lý luận giỏi, ông còn là một người chọn văn chương nghệ thuật như một vũ khí để minh họa cho con đường cách mạng của ông.</p>
<p>Cái tiểu sử của Mười Tân được thêu dệt bằng nhiều câu chuyện kể hơn là bằng chữ viết. Mười Tân trong thời kỳ cao điểm của cuộc chiến Việt Nam dám đứng khơi khơi giữa vùng phi cơ oanh tạc trong chiến khu mà không bị một mảnh đạn nào ghim tới, trong khi Trần Văn Trà chạy nhủi xuống địa đạo như con cút đất không dám ló mặt.</p>
<p>Mười Tân ra vô Saigon như cơm bữa mà tình báo của chính phủ từ thời ông Diệm đến ông Thiệu coi như bó tay. Người ta nói khi mà Nam Bộ hát bài “Mùa Thu rồi, ngày hăm ba, ta đi theo tiếng kêu sơn hà nguy biến&#8230;” Mười Tân đã là một cán bộ cao cấp trong Xứ Ủy Nam Bộ. Mười Tân, hồi còn là học sinh đã chinh phục được một tướng cướp lừng danh tên Ba Công. Ba Công người cao lớn vạm vỡ, mặt đỏ như Quan Công. Ba Công lấy chữ Ba, vì như ông ta vẫn thường giải thích với đám thuộc hạ là “tao không muốn làm anh Hai thằng nào hết, nhưng thằng nào muốn làm anh Hai tao là không được.” Ba Công theo Việt Minh thời kỳ đầu, nhưng đám lâu la bộ hạ của Ba Công vẫn nằm nguyên trong đại đội của ông. Nhiều lần Việt Minh muốn phân tán cái đám đàn em của Ba Công ra mà không được. Ba Công là người trọng nghĩa khinh tài, đúng là loại người “giữa đàng thấy chuyện bất bình mà tha.”</p>
<p>Lính vệ binh của Ba Công có lúc lên đến vài ba trăm. Ðến lúc đó thì Ba Công gặp được đại diện của Việt Minh Nguyễn Bình. Vệ binh Ba Công gia nhập Việt Minh làm đại đội trưởng trong một đại đội mà hầu hết lính của ông ta là những người đã từng “vào sanh ra tử” trong các trận cướp suốt một vùng Mỹ Tho-Chợ Gạo. Mười Tân, mười tám tuổi làm chính ủy trong đại đội do Ba Công làm đại đội trưởng, biến một tướng cướp thành một con người bình thường. Người ta nói Mười Tân là người tổng chỉ huy trong trận đánh Tết Mậu Thân sáu tám tại Saigon. Và trận đánh thất bại vì Mười Tân đặt nặng sức mạnh vào vai trò của trí thức sinh viên học sinh mà lại xem nhẹ vai trò của công nhân, nên thất bại là lẽ thường tình. Mười Tân bị hạ tầng công tác.</p>
<p>Cuộc đời “làm cách mạng” của Mười Tân không suôn sẻ, nhưng cái quan trọng là Mười Tân luôn luôn tự xem mình như là người cộng sản thứ thiệt. Sau bảy lăm, Mười Tân vẽ ra cho dân Saigon cái hình ảnh Vùng Kinh Tế Mới, vùng đất lưu đày của những người mà chế độ mới gọi cái tên chung là “Ngụy”, rằng đó là vùng đất lý tưởng, chỉ cần năm năm sau là nhà cửa vườn tược được điện khí hóa đến nơi đến chốn. Rồi con kinh đào nước trong xanh chảy qua. Ðêm trăng, bầu trời trong đầy sao. Mười Tân nói hay đến nỗi, trừ những người bị cưỡng bách đi vùng kinh tế mới thì chẳng nói làm gì, có người đang đủ điều kiện sống ở Saigon cũng bỏ ra đi. Năm năm đã qua. Cái cảnh con kinh xinh xinh, cánh đồng, vườn tược, tiếng hát, tiếng cười của trẻ thơ mà Mười Tân vẽ ra chỉ là những hình ảnh trên trang giấy.</p>
<p>Người đi kinh tế mới lũ lượt kéo nhau về Saigon, sống tạm bợ ở các vỉa hè, sống chui rúc trong những khu xóm tối tăm, ngay cả nghĩa địa cũng đầy những người sống. Mười Tân đề cao một thứ đạo đức mới của người cộng sản là “trung với nước, hiếu với dân, nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng.” Các bài viết nào của Mười Tân cũng nhắc đi nhắc lại câu thơ của Nguyễn Ðình Chiểu “chở bao nhiêu đạo thuyền không khẳm, đâm mấy thằng gian bút chẳng tà.”</p>
<p>Mười Tân gọi mấy thằng gian này là đám cán bộ bắt đầu tham nhũng hối lộ, muốn lấy cái công lao kháng chiến làm công hãn mã để ăn ngon mặc đẹp, ăn trên ngồi trước. Ðám này phải được trừng trị, dạy cho bài học làm người. Nhưng, thêm một lần nữa, Mười Tân bị hạ tầng công tác. Bộ Chính Trị trung ương đảng nói Mười Tân làm cách mạng bao nhiêu năm mà chưa thuộc bài học tư tưởng Mác xít Lê-nin-nít. Kẻ thù số một của cộng sản Việt Nam trong giai đoạn này là cái bọn ở Trung Nam Hải Bắc Kinh, còn kẻ thù cơ bản thì vẫn là “đế quốc Mỹ,” chớ còn “mấy cái thằng gian” kia dù sao cũng là đồng chí anh em, những người đã từng nằm gai nếm mật, những người đã từng “áo anh rách vai, quần tôi có hai miếng vá, miệng cùng cười buốt giá chân không giày&#8230;” Cây bút của Mười Tân đâm sai chỗ. Mười Tân chưa bao giờ được đưa vào chức ủy viên trung ương, chớ đừng nói chi được vào Bộ Chính Trị, trong khi những người được Mười Tân giới thiệu vào đảng, cất nhắc, bao che, lần lượt chiếm những chỗ mà bất cứ một đảng viên cộng sản nào cũng ao ước đạt tới.</p>
<p>Mười Tân có lần đến thăm nhà của Quỳnh. Ông cụ còn nằm trong trại cải tạo cộng sản. Ðứa em trai của Quỳnh, cựu học sinh Taberd Saigon bị ma túy hành. Mười Tân rút khẩu súng ngắn ra đặt trên bàn nói với giọng lạnh lùng: một là gởi thằng này vào trại phục hồi nhân phẩm, hai là tôi bắn nó ngay tại chỗ này.</p>
<p>Ðứa em trai của Quỳnh tên Dũng đi vào trại phục hồi nhân phẩm ba tháng sau trốn trại. Một tên công an khu vực bắt được Dũng khi cậu lần mò về nhà trong một đêm tìm thứ gì có thể bán được để mua thuốc. Dũng chống cự và bị tên công an đánh đập tàn nhẫn. Dũng chết ngay trong đêm đó. Mười Tân nói cái chết của Dũng là một điều hay. Xã hội này không có chỗ đứng cho loại người chẳng những vô tích sự mà còn ăn bám như Dũng.</p>
<p>Ðó là Mười Tân.</p>
<p>Mười Tân cứ tiếp tục nói. Hai con mắt ông nhấp nháy, thỉnh thoảng giật giật như bị kích thích. Những ngón tay gõ nhịp trên mặt bàn. Khói thuốc bốc lên tỏa ra căn phòng hỏi cung không ngừng khi ông nói. Tôi nhìn ông. Dần dần tôi thấy ông như một diễn viên kịch câm trên sâu khấu thành phố. Tôi nhớ Quỳnh. Tôi nhớ con tôi. Tôi nhớ Saigon. Chẳng lẽ Mười Tân biết tôi ở đây mà Quỳnh không biết? Chẳng lẽ Quỳnh đã quên tôi? Chẳng lẽ Quỳnh đang gặp chuyện không may? Chẳng lẽ&#8230;? Không. Tôi không được nghĩ ngợi như vậy. Tôi tin Quỳnh. Cái hình ảnh Quỳnh trong đêm sinh nhật của Uyên tại nhà ông Phan trước ngày Saigon thất thủ vẫn còn trong trí nhớ tôi. Làm sao tôi quên được cái đêm giới nghiêm sau cùng của thành phố, Quỳnh xé chiếc vé máy bay của hãng CAL và quyết định ở lại với tôi. Tôi yêu Quỳnh. Chính trị, chế độ là cái sẽ đi qua. Tình yêu là cái còn lại vĩnh viễn.</p>
<p>Mười Tân tin tưởng vào những điều ông ta làm, say mê những điều ông ta nghĩ. Có lẽ suốt đời Mười Tân không biết thế nào là tình yêu. Nhưng những gì mà ông ta làm và nghĩ tưởng chừng như là lớn lao, thật ra dưới mắt tôi cũng chỉ là con số lẻ của một bài toán.</p>
<p>Tôi đã có lần gặp chị Mười Tân. Ðó là một phụ nữ bình thường, ốm yếu, bệnh tật. Hơn thế nữa, chị là một phụ nữ lạnh lùng. Tôi không thấy chị cười bao giờ. Khuôn mặt chị giống như được đắp bằng sáp. Chị ít nói đến độ tôi có cảm tưởng sự băng giá ấy đã làm đông cứng trái tim chị.</p>
<p>Người ta nói tại hội nghị La Celle-Saint-Cloud ở Pháp, Nguyễn Thị Bình là cái bề mặt còn chính chị Mười Tân mới là người quyết định những phát biểu của Bình. Chính những ngày dự hội nghị ở Paris, chị Mười Tân đã có một hành động làm rúng động tới Praha về tận Hà Nội.</p>
<p>Trong một buổi tiếp tân của chính phủ Pháp khoản đãi các phái đoàn bốn bên, trong đó có các đại sứ và phu nhân của nhiều quốc gia tham dự. Bà đại sứ Ấn, mặc quốc phục để hở rốn &#8211; một chuyện bình thường &#8211; nhưng một tên đại sứ của Hà Nội từ Praha, Tiệp Khắc đến đã bất kể lịch sự tối thiểu cứ nhìn chằm chằm vào bụng người phụ nữ Ấn. Cái nhìn láo liên mất dạy của hắn không qua được mắt của chị Mười Tân. Trong bữa ăn sáng ngày hôm sau, giữa các thành viên trong phái đoàn, chị Mười Tân nhắc lại thái độ không đúng đắn của tên đại sứ. Hắn cho là chị đùa. Hắn vẫn cứ tiếp tục cười nói: “Ối, đàn bà có cái rún đẹp để cho đàn ông ngó. Mất mát hao mòn gì đâu mà phê bình!”</p>
<p>“Ðồng chí nói sao?” Chị Mười Tân hỏi lại.</p>
<p>“Thì tôi nói đàn bà có cái rún đẹp&#8230;”</p>
<p>Tên đại sứ chưa nói hết câu, chị Mười Tân bỏ dao nĩa xuống, xô ghế đứng dậy, chồm qua mặt bàn, tát một cái thẳng cánh vào mặt tên đại sứ.</p>
<p>Xong, chị cầm cái khăn ăn chùi tay ngồi xuống ăn tiếp bữa. Chuyện đó người ta đồn rùm lên. Tôi nghe anh Phú, một cán bộ tập kết, người bạn cũ của anh Thúc tôi, kể lại như vậy.</p>
<p>Chị Mười Tân có yêu Mười Tân không? Tôi không biết. Nhưng cái mà tôi thấy bên ngoài giữa hai người là sự lạnh lẽo, cô đơn không có gì gắn bó.</p>
<p>Trong ngôi nhà to lớn giữa Saigon, chị treo một chiếc võng, nằm đọc báo. Chiếc võng đu đưa, đu đưa. Thỉnh thoảng chị lấy chiếc kính ra khỏi mắt, đặt tờ báo đọc dở lên bụng, hai bàn tay xếp lại ngó lên trần nhà cao. Chị nghĩ gì? Khó có ai đọc được những suy nghĩ trong đầu chị, kể cả Mười Tân. Chị là người khôn khéo trong giao tế với Bắc Bộ Phủ. Tất cả những tay lãnh đạo Hà Nội đều ưu ái chị. Chính Mười Tân khi có những hành xử quá mức, vượt ngoài quyền hạn mà Hà Nội cho phép, đã được chị cứu gỡ. Mười Tân trong khu, chị Mười Tân ở nước ngoài. Hai người ở “hai đầu công tác.”</p>
<p>Một lần đi với Quỳnh tới thăm chị, tôi biết thêm chị là người ăn nói nhỏ nhẹ dịu dàng, nhưng xa cách.</p>
<p>Tôi có cảm tưởng chị không muốn gia đình chị liên hệ họ hàng gì đến gia đình Quỳnh. Chị đối xử đúng đắn, phải lẽ, nhưng không thân thiết. Một gia đình cách mạng, không thể dính dáng đến cái bọn tư sản &#8211; như gia đình Quỳnh &#8211; lại càng không thể liên hệ được với một gia đình có quá nhiều điều còn cần phải xét lại như gia đình tôi &#8211; quen ông Phan là một tội, chơi bời với đám văn nghệ sĩ tự do phóng túng là một tội, đứng bên lề một cuộc chiến mà không tham gia Mặt Trận là một tội, Cha đi lính Tây là một tội, anh vào lính Việt Nam Cộng Hòa&#8230; là vô số tội&#8230; Ðó là mẫu số chung duy nhất giữa ông Mười Tân và chị.</p>
<p>“Cậu có nghe tôi nói không?”</p>
<p>Tôi giật mình. Tôi đã để Mười Tân nói một mình quá lâu.</p>
<p>“Dạ&#8230; có!”</p>
<p>“Sao cậu không đi chơi với thằng Giang mà giao du chi với đám thằng Ðình, thằng Tâm?”</p>
<p>“Anh nói nhạc sĩ Nguyễn Giang phải không?”</p>
<p>“Chớ còn ai! Một tài năng âm nhạc như thế mà còn đứng về phía cách mạng, điều đó nghĩa là gì, cậu biết không? Cả cái Saigon này, cả cái miền Nam này, cả cái nước Việt Nam này, ai mà không biết Nguyễn Giang. Một tâm hồn lớn như thế đã thấy được đâu là con đường phải đi, đã biết chọn ánh sáng bỏ bóng tối. Còn cậu? Cậu là cái gì? Một thứ thầy giáo hạng bét. Dạy một môn học bá láp. Ðồ cái thứ triết lý duy tâm không tưởng. Cậu tưởng là ghê lắm phải không? Cái thứ triết lý trên trời trên mây đó chỉ để cho bọn ăn không ngồi rồi, bọn trà dư tửu hậu, bọn no cơm rửng mỡ, bọn làm đầy tớ phục vụ đế quốc tư bản đọc&#8230;”</p>
<p>Dụi điếu thuốc hút dở xuống cái gạt tàn. Mười Tân ngừng nói, rút một điếu khác châm lửa. Tôi thấy ông nhìn tôi cái nhìn dò xét.</p>
<p>“Cậu có biết cái câu ngưu tầm ngưu mã tầm mã không? Tại sao chưa lần nào gặp Nguyễn Giang mà tôi thấy có mặt cậu cả vậy? Trước giải phóng là bạn thân mà, đúng không?”</p>
<p>“Dạ&#8230; không.”</p>
<p>Tôi ngập ngừng. Thật ra tôi không biết có thể nói Nguyễn Giang là bạn thân hay bạn sơ. Anh ấy là một trong những nhạc sĩ mà tôi ưa thích nhất. Chúng tôi quen biết nhau khá lâu, nhưng đi lại với nhau không phải là nhiều. Tôi phục anh. Ngôn ngữ trong âm nhạc Nguyễn Giang gần gũi với chúng tôi, với cả một thế hệ chúng tôi. Cùng lứa tuổi, Giang lớn lên ở Huế, tôi sinh trưởng ở Nha Trang. Chúng tôi gặp nhau, quen nhau ở Saigon.</p>
<p>Âm nhạc của anh làm tôi nhức nhối. Nó luôn luôn làm tươi lại những bông hoa tình yêu đầu tiên của một đời người. Những ngày tháng yêu Quỳnh, tôi vẫn để băng nhạc anh tặng trên máy nghe ở đầu giường. Ngày Chủ Nhật buồn, nằm trên căn gác đìu hiu&#8230; Tôi đã là như vậy khi ly dị với “người đàn bà trong căn nhà có cây trứng cá,” sau đó đi thuê một căn gác nhỏ trong cư xá Ðô Thành. Những ngày Chủ Nhật buồn, đầy dẫy trong tôi thời gian đau đớn. Một buổi tối Quỳnh đến thăm tôi, cãi nhau về chuyện giữa tôi và Uyên, cô giận dữ bỏ về lúc nửa đêm, âm nhạc của Giang cũng đầy trong đầu tôi. Tôi lo sợ tình yêu ấy sẽ tan mất. Từ lúc đưa em về là biết xa nghìn trùng. Tôi rất yêu những ca khúc của Nguyễn Giang, nhưng có lẽ tôi chưa là bạn thân của anh. Và tôi nghĩ là anh cũng chẳng thân tôi. Có lẽ cái cơ hội để chúng tôi gần nhau khá hiếm hoi, nên sợi dây bạn bè không đủ siết chúng tôi lại gần nhau. Vả lại tôi chỉ là một thứ người vô danh trong xã hội đầy danh vọng kia, tôi có gì để đến với anh. Tôi chơi với Nguyễn Giang qua các bạn Ðình, Nhật, Phùng, Tâm của tôi. Chúng nó viết văn làm báo. Chính tác phẩm của đứa này kéo đứa kia đến gần với mình và ngược lại. Một lần, theo các bạn Nhật, Tâm, Phùng, Ðình đến dự buổi ra mắt sách của một nhà văn nữ, tôi gặp lại Nguyễn Giang. Ðó là thời gian cuộc chiến Việt Nam đang ở cao điểm, và hôm đó Nguyễn Giang đã hát một ca khúc làm tôi thật sự rung động.</p>
<p>“Ðại bác đêm đêm vọng về thành phố<br />
Người phu quét đường dừng chổi đứng nghe.”</p>
<p>Giọng anh khàn và đục, anh không phải là ca sĩ nhà nghề, nhưng tiếng hát của anh diễn tả ngôn ngữ âm nhạc của chính anh viết ra có một sức thuyết phục kỳ diệu. Nó khác với những lần nghe nữ ca sĩ Mai Khanh hát nhạc anh.</p>
<p>Tiếng ca ma túy của chị lôi cuốn người nghe theo một cách khác. Nhưng giờ đây, sau Tháng Tư Bảy Lăm, người nữ ca sĩ ấy đã ra đi. Ngày đầu tiên Saigon bị cưỡng chiếm tôi nghe tiếng hát Nối Vòng Tay Lớn của Nguyễn Giang trên đài phát thanh Saigon. Và mấy năm sau tôi nghe những ca khúc mới của anh. Em ra đi, nơi này vẫn thế. Có phải là một lời nhắn nhủ Mai Khanh rằng Saigon vẫn như xưa hay tâm hồn anh vẫn không có gì thay đổi, dù vật đã đổi, sao đã dời. Tôi không tin rằng nơi này vẫn thế. Tôi nhìn thấy mọi vật hoàn toàn đảo ngược. Tôi không phải là một người bị đe dọa mạng sống như các bạn tôi, tôi cũng không phải là những người có tài sản bỗng một sớm một chiều trắng tay, tiêu tan sự nghiệp, tôi cũng không phải là người mà hôm qua tràn ngập danh vọng nay bị đẩy xuống đáy thứ dân. Tôi chỉ là một tên dạy học quèn, sống ở một căn nhà quá nhỏ đâu mặt với những căn nhà cũng quá nhỏ khác trong một con hẻm ngập nước cống, rất gần với một nghĩa địa chen chúc những túp lều của đám người nghèo nhất của một thành phố có bốn triệu dân. Có lẽ những con người nghèo khổ cùng cực kia có quyền nói câu “Em ra đi nơi này vẫn thế” hơn là Giang, tôi nghĩ vậy.</p>
<p>“Sao Giang nói với tôi là cậu thân với Giang?”</p>
<p>“Dạ, mà phải!” Tôi ngập ngừng, “Nhưng lâu rồi không gặp.”</p>
<p>“Ngày nào Giang không có mặt ở Hội Văn Nghệ&#8230;” Mười Tân ngừng lại, bập một hơi thuốc, tiếp, “Vậy chớ những ngày trước khi vượt biên bị bắt làm gì, ở đâu?”</p>
<p>Mười Tân hỏi giọng gay gắt. Câu hỏi đó nghe quen, tôi trả lời không khó:</p>
<p>“Dạ, vẫn lái xe ủi đất ở công trường dưới Minh Hải.”</p>
<p>“Lái xe ủi đất? Cậu làm cái nghề này từ hồi nào vậy? Sao con Quỳnh nó không cho tôi biết?”</p>
<p>“Lâu rồi anh. Khi được giấy cho phép nghỉ dạy là chuyển ngành ngay.”</p>
<p>“Cậu có biết là tôi có đủ quyền hạn để cho cậu ngồi tù rục xương không?”</p>
<p>Tôi không trả lời.</p>
<p>Tôi biết điều đó.</p>
<p>Tôi thấy mình chưa đến nỗi rục xương lúc này, nhưng biết bao nhiêu người quanh tôi xương cốt đang bắt đầu mục rã. Người ta có cảm tưởng như cánh cửa nhà lao của chế độ mới chỉ rộng mở để đón người vào chứ không phải hé mở để cho người ra. Nhà giam của chế độ cộng sản là một nơi để người ta bỏ quên những sinh vật mà xã hội của những người tự xưng là “làm cách mạng” không muốn nhớ tới.</p>
<p>“Sáu Phận! Sáu Phận đâu!”</p>
<p>Sau cùng tôi nghe tiếng Mười Tân kêu lên hối hả.</p>
<p>“Thôi, tôi phải đi đây!”</p>
<p>Ông không chờ Sáu Phận đến. Ông bước ra cửa đúng lúc tôi nghe tiếng chân chạy ngược lại.</p>
<p>Mùi khói thuốc của Mười Tân khét nghẹt. Và tôi vẫn ngồi yên trên ghế.</p>
<p>Tôi không biết mình chờ đợi gì.</p>
<p>&nbsp;</p>
<p><strong>Chương Mười Sáu</strong></p>
<p>Suốt một tuần sau bữa gặp Mười Tân, tôi thấy mình không còn chút hy vọng chi ngày ra tù. Tôi mất ăn mất ngủ. Tôi thấy lại cái hình ảnh Tư Long trong đêm đầu tiên đến nhà giam sau khi tôi đã bị Sáu Phận đẩy vào nhốt chung trong căn xà lim nhỏ xíu. Cha Minh nằm cạnh tôi nhắc chừng tôi phải ăn uống.</p>
<p>“Ai mà chẳng có lúc bị ngã, vấn đề là có biết đứng dậy để đi tiếp hay không?”</p>
<p>Cha làm tôi nhớ tới Linh Mục Alexis Cras. Cha không bao giờ nói chuyện đạo với tôi. Cha cũng chẳng hỏi tôi đạo gì. Ðưa tay chỉ cho tôi thấy một người tù đang đứng bên lu nước, Cha nói nhìn kỹ coi có gì lạ không. Tôi quan sát người cùng cảnh ngộ và thấy không có chi lạ. Ðó là một người đàn ông đã lớn tuổi chừng năm lăm sáu mươi. Ðầu hói, mắt xếch, mặt ngạnh, trán dồ, cặp môi xệ, gầy gò xanh xao, hậu quả của sự thiếu ăn như mọi người tù khác. Ông ta đang vịn tay lên lu nước, mắt ngó chăm vào trong lu như thể đang tìm kiếm một thứ gì bị mất trong đó. Tôi nhìn lại cha Minh.</p>
<p>“Ông Ba đó!”</p>
<p>“Thưa Cha, ông đó là ai?”</p>
<p>“Ông Ba Trương Phi.”</p>
<p>“Sao lại Ba Trương Phi?” Tôi hỏi lại cha, ngạc nhiên đến quên mất lời thưa gửi.</p>
<p>“Ổng là cán bộ hưu trí nhưng bị chính quyền cách mạng buộc tội quản quốc, cấu kết với tình báo CIA chống nhân dân, chống đảng. Trong tù người ta đồn như vậy.”</p>
<p>Ông Ba Trương Phi, cha Minh kể, theo kháng chiến đánh Tây rồi sau đó đi tập kết ra Bắc. Năm Sáu Hai, vượt Trường Sơn vào Nam, chiếm đấu ở miền Ðông cho đến ngày Sài Gòn thất thủ. Năm Bảy Lăm, ông Ba Trương Phi về làng cũ ở Long Ðiền thì cả nhà ông không còn một ai sống sót! Ba Trương Phi không phải là tên của ông mà là tên của vợ ông. Bà tên thật là Ngô Thị Ba. Bà này cũng đi kháng chiến làm tới trung đội trưởng. Bà Ba cắt tóc cao, người to lớn, ăn mặc quần áo đàn ông con trai, nói to tiếng, bất bình chuyện gì thì kêu rầm trời lên nên người ta gọi là Ba Trương Phi.</p>
<p>Ông Ba Trương Phi này tên thật là gì trong tù không ai biết. Ổng nói ổng đào ngũ khi mang lon đại úy bộ đội để nuôi bà Ba Trương Phi vì bà bị đau thần kinh sau khi bị thương ở đầu trong một trận đánh. Dưới mắt chính quyền “cách mạng” ông Ba Trương Phi là một tên đào ngũ, sách động, sống bất hợp pháp. Hai vợ chồng mặc dù công lao hãn mã không được cấp một cục đất chọi chim nói chi đất làm ruộng. Ông Ba Trương Phi bất mãn và khinh thường cái đám đang cầm quyền trong xã. Bao nhiêu công lao kháng chiến của ông và bà, ông sổ toẹt. Ổng nói tao là thằng đánh giặc mướn ở miền Ðông chớ không có kháng chiến kháng cháo con mẹ gì hết, chẳng có công lao công láo cái con c&#8230; gì hết. Cái thái độ đó của một người đã từng một thời đổ xương máu cho một chủ nghĩa mà ông cho là phục vụ nhân dân phục vụ con người, nay bị bỏ bê và bị buộc tội chống chính quyền địa phương chỉ vì không chịu đóng thuế nông nghiệp làm cho bọn cầm quyền mới ngứa mắt. Ba Trương Phi là người cầm đầu đám nông dân biểu tình kéo rốc lên Sài Gòn gây chấn động cả nước. “Có chết thì chết tao chống cho tới cùng!” Ba Trương Phi thường nói như vậy&#8230;</p>
<p>Cha Minh ngừng kể:</p>
<p>“Thấy chưa, đến như tên Ba Trương Phi này mà còn tù tội, nói chi anh và tôi, những người không có một chút công lao cho chủ nghĩa chế độ này. Nhưng mà,” cha Minh ngập ngừng “phải lạc quan mà sống. Ðừng để cho chúng hành hạ mình, đừng để chúng thấy mình suy sụp. Chúa ở cùng chúng ta!”</p>
<p>Tôi không biết nói gì với Cha.</p>
<p>Nhìn Ba Trương Phi tôi nhớ Tư Long và càng nhớ Tư Long tôi càng nhớ Mười Tân. Thiệt là kỳ lạ, cứ cái gì người ta càng cố quên thì lại càng bị bắt nhớ. Tôi không muốn giữ trong đầu tôi cái hình ảnh Mười Tân chút nào. Ðối với tôi, những ngày tháng qua đã quá chật chội trong ký ức tôi. Tôi đã sống được với một người con gái mà tôi vẫn nghĩ là tôi yêu cô ta và cô ta cũng yêu tôi. Cô đã cho tôi một đứa con. Nhưng cô cũng đưa đến cho tôi một người bà con “khủng khiếp.” Ai nói với tôi ông Mười Tân là lá chắn che cho tôi khỏi tù tội? Ai nói với tôi rằng Mười Tân là thần hộ mạng đưa cho tôi ra khỏi những cơn nguy biến của chế độ mới? Chủ nghĩa mà Mười Tân theo đuổi, tranh đấu, đổ máu để mà xây dựng, chắc chắn Mười Tân sẽ không bao giờ để yên cho ai làm hư nó, chống lại nó. Mười Tân lên án tôn giáo. Mười Tân đang tôn thờ một tôn giáo khác. Cứ cầu nguyện đi Phật Chúa có đem gạo đến không? Phải lao động thì mới có vinh quang. Nhưng Mười Tân cũng đưa ra một thứ giáo điều mới: kinh thánh Mác Lê Nin. Chống lại một giáo điều bằng cách đưa ra một giáo điều khác, Mười Tân có biết rằng ông đang đi trong vòng tròn hay không?</p>
<p>“Có người tìm cậu kìa!” Cha Minh vỗ vai tôi.</p>
<p>Tôi ngước mắt nhìn lên, Nhị Hà đang đi về phía tôi. Hôm nay cô ta lạ hẳn.</p>
<p>Cô không mặc quần áo công an, cũng không mặc thường phục kiểu Hà Nội nửa nạc nửa mỡ, mà hôm đầu tiên khi bước vào lớp học sau ngày mất Sài Gòn tôi đã nhìn thấy. Nhị Hà rất thiếu nữ Sài Gòn. Quần jean, áo thun có vẽ chữ “I Love NY,” đi giày thể thao hiệu Nike, Nhị Hà giống như một cô gái Sài Gòn chính cống.</p>
<p>“Chào thầy” Nhị Hà mở lời, “Em mang tin vui cho thầy.”</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>Tôi nhìn chăm vào mắt Nhị Hà. Tôi không đoán ra cô mang tin gì cho tôi. Quỳnh sẽ đến thăm tôi? Tôi sẽ nhận được quà thăm nuôi? Hay tôi sẽ được đưa đi công trường? Ở trong tù Kiên Giang này, người nào “được” gọi đi công trường lao động được coi như hên vì cực nhưng chắc chắn sẽ có ngày được thả ra, còn cứ ở đây ngày hai bữa cơm nước thơ thẩn qua lại thì “còn lâu” mới thấy cuộc đời.</p>
<p>Tôi đứng dậy, nóng lòng nghe Nhị Hà nói tiếp, nhưng cô chỉ nhìn tôi.</p>
<p>“Mời thầy.”</p>
<p>Và cô quay đi.</p>
<p>Tôi bước theo Nhị Hà, đi ngang qua giếng nước, chỗ rửa chén, rửa mặt, băng qua chiếc cổng hẹp, nằm dưới chiếc chòi canh lởm chởm mẻ chai và kẽm gai.</p>
<p>Cô dừng chân ở cửa vào căn phòng chấp pháp mà người tù nào cũng bị gọi lên “làm việc.”</p>
<p>“Thầy sẽ không được đi công trường đâu!” Nhị Hà nói, “em muốn cho thầy biết trước là đợt trả tự do kỳ ày có tên thầy.”</p>
<p>Tôi ngỡ ngàng, không tin lời nói của Nhị Hà. Tôi sợ mình nghe lộn. Tôi muốn hỏi lại cho chắc, nhưng tôi tự nghĩ tại sao phải làm vậy?</p>
<p>“Chỉ còn một tiếng đồng hồ nữa thôi, đợt điểm danh ba mươi người trước bữa ăn trưa là trả tự do chứ không phải gọi đi công trường. Chúc thầy trở lại cuộc sống bình thường.” Nhị Hà ngập ngừng, “em nghĩ là đồng chí Mười Tân có tiếng nói trong vấn đề này. Chào thầy!”</p>
<p>Nhị Hà quay mặt về phía chiếc cổng hẹp.</p>
<p>“Cám ơn!”</p>
<p>Tôi lúng túng, mừng rỡ, bỡ ngỡ.</p>
<p>Tôi đi thật chậm. Bờ tường lởm chởm mẻ chai. Người lính gác trên chòi canh. Giếng nước bên tay trái, nhà<br />
bếp bên tay phải. Buổi sáng trong nhà tù không có chút dấu hiệu gì sẽ có đợt thả tù. Cái không khí “được” đưa đi lao động dưới U Minh hay chuyển trại, ra trại&#8230; bao giờ cũng ồn ào trước đó cả buổi. Tin tức loại này thường lộ trước. Sáu Phận hoặc tên “tù cò mồi” thường mang tin về báo sớm. Và mọi người lục đục thu xếp các thứ linh tinh. Hoặc xe nổ máy trước cổng nhà giam bóp còi inh ỏi. Lần này tuyệt nhiên không có gì. Mọi sự êm ả và lặng lẽ. Nhà bếp đã chuẩn bị phát cơm. Mọi người ơi ới gọi nhau chia thức ăn.</p>
<p>Tôi trở lại chỗ của tôi bên mương nước. Cha Minh vẫn còn ngồi dựa lưng vào tường.</p>
<p>“Anh được thả phải không?”</p>
<p>Cha hỏi tôi một câu cũng đột ngột như câu Nhị Hà đã nói với tôi trước đây mấy phút.</p>
<p>“Thưa cha&#8230;” Tôi ngập ngừng.</p>
<p>“Thằng Bình mới kiếm anh. Nó cho tôi biết.”</p>
<p>“Nhưng tại sao tên Bình?” Tôi thật bối rối lòng dạ.</p>
<p>“Như vậy là anh phải tốn tiền với nó và Sáu Phận rồi! Chắc chị ở nhà chạy chọt dữ lắm!”</p>
<p>Tôi ngồi xuống bên cha Minh. Tôi dựa lưng vào tường. Một giờ nữa. Sáu mươi phút nữa. Thời gian đối với tôi lúc này sao dài dằng dặc. Tôi muốn có chiếc đồng hồ để nhìn cây kim kéo thời gian chạy. Không có đồng hồ, tôi có cảm tưởng mọi thứ mọi điều đang bị đóng băng, ù lì.</p>
<p>“Cha có nhớ rõ tên Bình đó nói như thế nào không?” Tôi vẫn nghi ngờ tai tôi.</p>
<p>“Nó nói anh đã có lệnh tạm tha.”</p>
<p>“Thưa cha,&#8230; nhưng mà hắn có nói bao giờ thì tha không?”</p>
<p>“Nội trong ngày nay thôi. Nó biểu anh sửa soạn đồ đạc ngay bây giờ là vừa.”</p>
<p>Ðồ đạc? Tôi có đồ đạc gì đâu. Một chiếc chiếu sẽ trả lại cho nhà giam. Chiếc màn do người tù được thả đợt trước tặng, nay tôi sẽ tặng lại cho người khác. Cái chén, đôi đũa để cho nhà bếp. Tôi không còn giày dép.</p>
<p>Quần áo tôi tuy có giặt giũ nhưng bẩn vì thiếu xà phòng. Tôi nhớ Quỳnh. Nhớ chiếc răng khểnh, đôi mắt lớn, chân mày xếch, nụ cười đầy quyến rũ. Tôi nghe tiếng con tôi khóc đói sữa. Tôi thấy lại căn nhà của tôi trong ngõ hẻm khu Mã Lạng, nước cống ngập tràn, mùi hôi nồng nặc. Tôi ngửi thấy mùi lựu đạn cay ngày nào ở quán nước Givral trước tòa nhà Quốc Hội, khi tôi và Quỳnh quen nhau, yêu nhau. Tôi nhớ các bạn tôi hiện giờ đang ngồi tù ở những nơi khác trong một đất nước quần đảo ngục tù. Lộc rất Tây, rất parisien, không biết bây giờ sống chết ra sao. Còn Ký, thi sĩ say sưa, có một đời sống rất là thơ hơn cả những câu thơ do anh sáng tác, liệu anh phải sống cách nào trong lao tù? Nhật đã bị đưa ra Bắc, nhưng chúng tôi thỉnh thoảng vẫn được nghe tin tức về anh.</p>
<p>Cha Nhật là một cán bộ cao cấp đã đến tận nơi thăm anh, khuyên anh viết bài phản tỉnh về những cuốn sách của mình, trước khi ông có thể dùng quyền thế của mình cứu anh, nhưng Nhật khăng khăng một mực từ chối. Anh nói anh đã thành thật khi viết những điều anh suy nghĩ, anh thấy những điều ấy cho đến nay chưa sai, vậy thì việc gì mà phải phản tỉnh. Người ta cũng kể là Nhật nói anh yêu cha anh, nhưng điều đó không có nghĩa là anh phản bội lại sự thật. Sự thật đó là nhân cách của người trí thức. Tôi không gặp lại Ðình kể từ sau cái ngày mất Sài Gòn. Tuy vậy tôi có nghe một ca khúc của anh mới sáng tác có nội dung về một thành phố bị mất tên. Anh viết văn nhẹ nhàng, nói năng cay độc, nhưng âm nhạc anh sao buồn khủng khiếp. Một người tù trẻ tối hôm qua vừa mới hát cho tôi nghe. Phùng đã vượt biên đường bộ băng qua Cam Bốt, đến Thái Lan.<br />
Nghĩa đã đến Mã Lai. Còn Bùi Giáng? Nhà thơ của chúng tôi vẫn bình thường một cách rất bình thường.</p>
<p>Trước ngày đi Rạch Sỏi, tôi còn gặp anh trên đường Bùi Thị Xuân, quần jean trùm đầu, ba lô đầy màu sắc, quần áo mền gối vá chầm vá đụp, giày rách há mõm, gậy trúc cầm tay như một vị “cái bang” lạc lõng giữa những trang sách Kim Dung. Tôi đã đi quanh những nơi tôi từng đến. Ngôi nhà ông Phan nơi tôi đã quen Uyên, cái sắc đẹp chát chúa của một thứ tiểu thư vừa mới lớn, ngôi nhà ấy nay đã có một cán bộ cao cấp từ chiến khu về chiếm cứ. Tôi đã trở lại quán Cái Chùa tìm kiếm những người bạn cũ. Không một ai. Có chăng là một vài người quen cũ nay vừa ra mặt là nhà cách mạng đã hoạt động nội thành từ lâu. “Cái thằng vô thưởng vô phạt!” Nhiều người trong bọn họ đã nói với tôi như thế. Tướng tá, công chức cao cấp hay nhà văn nhà báo mới là “đối tượng” chớ còn thứ thầy giáo quèn như thằng này thì giờ đâu mà bận tâm! Có lúc tôi cũng đã nghe phong phanh như vậy về tôi. Kìa là cậu Sơn, luật sư tòa thượng thẩm Sài Gòn , bạn của Tuấn-phở, nay mang quân hàm trung úy cách mạng. Nọ là cậu Thảo, dạy Anh văn ở Tân Việt, đang đóng lon thiếu tá cách mạng. Anh nhà báo nổi tiếng xì phé một cây, mà trước Bảy Lăm có lần Ðình nói với tôi là tên này viết văn có đường lắm, vừa làm việc trong một tờ báo của chế độ mới ban ngày, ban đêm đạp xích lô nói khích với khách chửi rủa cách mạng, nếu khách vô tình nói theo, thì anh ta chở ngay vào đồn công an. Thế thì tôi biết phải làm sao? Tôi nói với ai, câu gì. Tôi phải có thái độ ra sao trước thời thế đang đổi thay. Tôi biết mình đâu phải con kỳ nhông, cứ thay đổi màu da tùy theo nơi nó ẩn nấp. Ở tù thế mà hay. Tôi biết mình đang ở đâu, và đang nói chuyện với ai. Ờ mà không. Trong tù cũng có “đặc tình” nữa chớ. Tư Long đã dạy tôi bài học đó. Tù cò mồi như tay Bình chắc không hiếm&#8230;</p>
<p>Nhưng mà tôi sẽ được về. Tất nhiên. Tại sao? Tôi là người may mắn hay chẳng qua chỉ là vì tôi được Mười Tân can thiệp như suy nghĩ của Nhị Hà? Hay là Sáu Phận đã làm công việc này chỉ vì hắn đã móc nối được với Quỳnh để lấy vàng? Tôi không biết.</p>
<p>“Thưa Cha!” Tôi ngập ngừng nói mắt nhìn thẳng vào mặt cha Minh. “Cha có tin là con được thả hay không?”</p>
<p>“Tôi không biết. Nhưng theo kinh nghiệm thì lần nào sắp có trả tự do, tôi cũng đều thấy xôn xao cả buổi. Mà bữa nay thì không thấy gì?”</p>
<p>“Vậy thì theo Cha chắc là tin đồn không thật?”</p>
<p>“Tôi không biết. Nhưng mà để coi, thằng Bình nó nói với tôi rõ ràng là anh sẽ được thả mà!”</p>
<p>Bất thình lình tôi nghe tiếng kẻng ầm lên.</p>
<p>“Tất cả ra sân tập họp!” Tiếng Sáu Phận vang vang trên máy phóng thanh.</p>
<p>Mọi người không ai nói ai dồn hết ra giữa sân. Tôi đỡ cha Minh dậy. Chúng tôi bước theo chân đám tù.</p>
<p>“Tổ cha nó chứ tập với hợp. Tập hợp cái mả mẹ tụi bây!”</p>
<p>Người tù chửi thề đi phía sau lưng tôi. Tôi quay lại và thấy Ba Trương Phi. Ông ta đi chậm, giọng nói oang oang khiến cả đám tù phải quay mặt lại.</p>
<p>“Vào hàng, trật tự!”</p>
<p>Vẫn tiếng Sáu Phận ở máy phóng thanh.</p>
<p>Một người tù đi ngược dòng, choàng tay quanh cổ tôi. Sự thân mật của Bình-cò-mồi làm tôi sợ.</p>
<p>“Anh thấy chưa? Tôi nói mà! Hôm nay anh được ra. Ðừng quên!”<br />
Chỉ mấy phút cả sân trại đã đâu vào đấy. Ðám tù ngồi chồm hổm, vuông vức. Sáu Phận vác loa phóng thanh chạy “pin” đứng trước hàng tù. Tôi không thấy Nhị Hà.</p>
<p>“Do lượng khoan hồng của Ðảng và Nhà Nước và căn cứ vào thái độ học tập tốt, lao động tốt của các anh (?) tôi xin đọc danh sách những người được lệnh tạm tha kể từ hôm nay. Nên nhớ, sau khi trở về nguyên quán, phải trình diện công an địa phương và phải quyết tâm làm ăn đàng hoàng, ra công đóng góp xây dựng xã hội xã hội chủ nghĩa&#8230;”</p>
<p>Sáu Phận nói dài dòng, như thuộc lòng từ một trang sách chính trị nào của nhà trường cách mạng.</p>
<p>“Tổ cha cái đồ nói dóc!” Ba Trương Phi nói, giọng khá lớn.</p>
<p>“Im lặng! Trật tự!”</p>
<p>Sáu Phận ngừng nói, mắt ngó chăm xuống chỗ Ba Trương Phi.</p>
<p>“Im lặng cái mả mẹ nó. Nói chừng đó đủ rồi!” Ba Trương Phi vẫn tiếp tục chửi rủa.</p>
<p>Sáu Phận thõng tay cầm loa xuống. Hắn bước vào căn phòng dành cho cán bộ coi tù. Liền đó, hai tên cai tù theo Sáu Phận bước ra. Sáu Phận đứng vào chỗ cũ. Hai tên kia đi thẳng xuống chỗ ngồi của Ba Trương Phi. Mọi con mắt đều dồn theo bước chân của hai tên coi tù. Ba Trương Phi không ngồi trong hàng. Tôi thấy ông đứng thẳng dậy, bước ra khỏi hàng đến thẳng trước mặt hai tên coi tù. Hai tay ông đưa ra trước như một người mộng du.</p>
<p>“Tụi bây muốn gì? Nè, tay đây, trói thì cứ trói, đừng nhiều lời!”</p>
<p>Một tên bất ngờ chụp cổ ông bẻ ngoặt hai tay Ba Trương Phi ra sau, tên kia nhanh như chớp thọc một khúc cây tròn và ngắn qua nách ông, kéo một sợi dây &#8211; đã cột sẵn ở hai đầu khúc cây &#8211; tròng vào cổ Ba Trương Phi quấn lại một vòng. Không ai nghe thấy Ba Trương Phi nói thêm một lời. Hai cườm tay ông liền đó đã bị còng. Ông bị đẩy đi về phía trái, nơi dẫy xà lim dành cho những người biệt giam kiểu Tư Long.</p>
<p>Sự việc xảy ra trong khoảnh khắc tưởng chừng như một giấc mơ. Tôi nhìn cha Minh. Cha không nhìn tôi. Tôi thấy khuôn mặt Cha ngó thẳng về phía trước. Nhìn nghiêng mới biết mũi cha hơi gẫy, môi mỏng và yết hầu lớn. Cha Minh có quá khứ thế nào tôi không được rõ. Mà thật tình thì tôi cũng không muốn tìm hiểu. Tôi, với ngay bản thân tôi, mà tôi còn thờ ơ thì nói chi đến người khác. Tôi ngước mắt lên trời. Buổi sáng, trời xanh lơ. Gió thổi mát. Tôi nghe tiếng cười ồ của những người tù giữa tiếng xướng danh của Sáu Phận. Tôi ngó ra sau lưng, thấy Bình tù-cò-mồi đang ra dấu chỉ ngón trỏ về phía Sáu Phận. Y có nụ cười cầu tài.</p>
<p>“Sắp đến tên anh rồi!” Y nói như người đã được đọc danh sách.</p>
<p>Tôi thèm khát biết bao nhiêu cái màu xanh trên bầu trời bên kia song sắt. Tôi sẽ nhảy cỡn lên, sẽ đi bằng những sải chân dài, sẽ chạy thật nhanh ra khỏi cánh cửa kia, sẽ bay lên những vòm cây, sẽ đậu trên mui chất đầy đồ đạc của chiếc xe đò ọc ạch chạy trên quốc lộ bốn&#8230; Tôi mặc xác cái tên Bình tù-cò-mồi, tôi thây kệ Sáu Phận, Nhị Hà. Nhưng mà tôi sẽ phải làm sao với Tư Long, Ba Trương Phi&#8230;?</p>
<p>Có phải cứ để họ trả cho xong món nợ máu và xương, và những cuộc đời bình thường mà họ đã lấy đi trước khi họ thong thả bước từng bước bên những bụi hoa buổi sáng để nghe ngóng mùi hương của những đóa hoa. Tôi thấy trước mặt tôi là cha Minh, là Kiệt, là Nhật, là Tâm, là Ký, là Lộc, là Phùng là những con người đang chia sẻ cái số phận tù đày&#8230; Nhưng mà, tôi giật mình tự hỏi tôi sẽ bay đi đâu, về đâu trên cái đất nước này, bên ngoài cái song sắt kia? Sáu Phận ở đây. Mười Tân ngoài kia. Một nơi mình yên trí là mình đang bị tù, còn một nơi mình tưởng là mình đang tự do. Có khác nhau chăng là cái bề rộng của không gian ở mỗi nơi. Quỳnh? Trời ơi, tôi nhớ biết bao nhiêu khuôn mặt của em. Cái trán vồ kiêu hãnh. Nụ cười quyến rũ với chiếc răng khểnh. Tôi nhớ tiếng khóc của con tôi trong nôi. Làm sao tôi quên được căn nhà trong ngõ hẻm khu Mã Lạng?</p>
<p>“Trần Lâm Thăng! Trần Lâm Thăng!”</p>
<p>Tôi nghe vai đau nhói. Bình vừa đập vào vai tôi vừa giục:</p>
<p>“Lên nhận lệnh tạm tha đi kìa!”</p>
<p>Như một cái máy, tôi đứng dậy bước ra khỏi hàng, đi thẳng lên trước mặt Sáu Phận.</p>
<p>“Tên gì?” Sáu Phận hỏi.</p>
<p>“Trần Lâm Thăng!”</p>
<p>“Ðịa chỉ?”</p>
<p>“Ðịa chỉ?” Tôi hỏi lại.</p>
<p>“Phải, đọc địa chỉ nhà anh coi có đúng không?”</p>
<p>Tôi đọc số nhà và tên con đường. Sáu Phận nhìn vào tờ giấy.</p>
<p>“Ðây là lệnh tạm tha của anh. Xếp hàng bên tay trái tôi. Chờ người hướng dẫn ra cổng.”</p>
<p>Sáu Phận đưa cho tôi một miếng giấy mỏng lét màu vàng xỉn như màu rơm bị nước mưa. “Lệnh tạm tha.” Tôi thấy tên tôi, nhưng không thấy ghi tội trạng. Tôi bước đến chỗ đám tù may mắn như tôi. Tất cả ngồi quay mặt về phía những người đang còn chờ nghe tên mình. Tôi thấy cha Minh ở gần cuối hàng. Mái tóc cha bạc trắng. Bình cò mồi đưa cao tay vẫy vẫy.</p>
<p>&nbsp;</p>
<p><strong>Chương Mười Bảy</strong></p>
<p>Ðến tối mịt tôi mới về tới nhà. Trong túi không còn một xu, tôi vừa đi vừa chạy. Bầu trời không một ánh sao. Con đường từ bến xe về nhà không xa, nhưng sao tôi đi hoài không đến. Tôi tưởng ở đầu hẻm anh Sáu vẫn còn ngồi với ngọn đèn leo lét trên lề chờ sửa xe đạp. Thằng út con của anh, bụng ỏng da chì đang chạy lòng vòng. Mấy chiếc xích lô đang đậu quanh trước rạp hát Quốc Thanh. Những hàng chè, cháo, thuốc lá lẻ&#8230; hiện lên dưới mấy ngọn đèn hột vịt hay những cọng nhang. Và bên trong phòng vé rạp hát ánh đèn điện sáng cho thấy tên vở diễn buổi tối.</p>
<p>Tôi tưởng&#8230; nhưng mà, không. Rạp Quốc Thanh đây rồi: Cửa sắt đóng im ỉm, tối om. Quán cà phê, sòng bi da&#8230; có chút ánh đèn nhưng không bóng người. Không một chiếc xích lô ghếch càng đợi khách. Anh Sáu bên trong khu nghĩa địa không ngồi ở đầu hẻm. Cả khu Mã Lạng cũng chìm trong bóng đêm.</p>
<p>Tôi thò tay vào bên trong cánh cửa sắt nhỏ, kéo chốt. Tôi bước lên thềm hành lang cao &#8211; chính tôi đã mua xi măng và gạch về xây nó cao lên để chận nước từ ống cống chảy vào nhà mùa mưa &#8211; tôi lắng tai nghe ngóng. Bên trong nhà không có ánh sáng. Tôi vặn nắm cửa. Cửa đã khóa chặt. Tôi gõ, lúc đầu nhỏ, về sau tôi đập thật mạnh. Nhưng vẫn không thấy động tịnh gì. Không, chắc chắn là Quỳnh không có nhà. Không một ai trong căn nhà tôi. Tôi mệt mỏi, hụt hơi. Tôi ngồi bệt xuống đất, tựa lưng vào cửa. Tôi nghe tiếng lách cách của những căn nhà bên cạnh. Bác Tốt phía trước. Nhà anh chị Bằng kế bên. Nhà ông bà Ngô, nằm chéo bên phải&#8230; Tôi nóng lòng muốn biết Quỳnh đi đâu. Nhưng tôi không vội. Có thể Quỳnh đi loanh quanh gần đây, chưa về kịp. Tôi ngước mắt nhìn lên bờ tường cao, nơi Quỳnh vẫn để những chậu hoa vui mắt. Buổi tối đứng bên cửa sổ nhìn trời, tôi vẫn thường được ngửi mùi hoa dạ lý thơm ngát. Nhưng bây giờ tôi có cảm tưởng những cây hoa đã chết khô trong chậu không người tưới.</p>
<p>Tôi cảm thấy lạnh. Tôi thèm được bước qua cánh cửa này. Tôi thấy chiếc giường kê sát cửa sổ ngó ra sân trước, mà sau đó khi Quỳnh về sống chung đã chuyển qua một bên nhường chỗ cho chiếc bàn ăn.</p>
<p>Tôi nhớ chiếc ghế sopha ở phòng khách bị rách lớp vải ở mặt sau, tủ sách đã dọn gần trống trơn một năm sau khi Saigon mất. Tôi thấy cái máng xối bằng thiếc bị bể nước trút ào ạt xuống mặt sàn gỗ căn gác sau, nơi chứa những thứ đồ vật không dùng đến&#8230; Không, chắc Quỳnh đi đâu đó, sắp về. Tôi phải kiên nhẫn chờ.</p>
<p>Tôi đã ngồi như vậy lâu đến chừng nào, tôi không nhớ. Tôi nghe tiếng muỗi kêu bên tai. Cái còn lại là sự lặng im. Cả một thành phố trên bốn triệu con người đột nhiên như bị cơn gió độc thổi qua làm câm họng. Tôi lại áp tai vào cánh cửa &#8211; cánh cửa tôi đã cho thay khi Quỳnh dọn về căn nhà này sống với tôi &#8211; nhưng tôi vẫn không nghe thấy gì. Không có chút sự sống ở bên trong. Vắng ngắt. Lạnh tanh.</p>
<p>“Con ơi!” Tôi nghe tiếng kêu từ bên trong tôi. “Quỳnh ơi!”</p>
<p>Khi bước chân lên chiếc xe đò chật ních những người buôn gánh bán bưng Kiên Giang-Saigon, trí tưởng tượng đã vẽ cho tôi thấy cảnh Quỳnh đang cho con bú, đứa bé khóc nhoi lên vì đòi mẹ bế. Ðiện trong hẻm bị mất, nhưng trong phòng Quỳnh một ngọn đèn dầu lửa bóng bầu dục vẫn sáng lấp lánh ấm áp. Tôi sẽ gõ cửa rất nhẹ và khi Quỳnh biết chắc tôi đang đứng trước thềm, cô sẽ mở toang cánh cửa ra, ôm chầm lấy tôi. Và tôi sẽ lặng im đón nhận những chiếc hôn tới tấp của Quỳnh, nghe thấm ướt trên môi chất mặn của những giọt nước mắt vui mừng đoàn tụ.</p>
<p>Tôi sẽ ôm trong tay mình tấm thân thể nồng nàn của người đàn bà đã nuôi sống tôi, đã làm cho tôi tin tưởng rằng cả thế gian này sở dĩ tồn tại được là nhờ có cô, có khuôn mặt rực rỡ với đôi mắt màu mã não, cặp chân mày hơi xếch, nụ cười răng khểnh&#8230; Chính là người đàn bà này đã mang đến cho tôi niềm lạc quan tin đời và yêu người. Tôi tưởng tượng Quỳnh sẽ nói với tôi về những ngày sống trong lo âu vì chạy ngược chạy xuôi lo cho sự tự do của tôi. Tôi sẽ bế con tôi lên và đứa bé sẽ thôi khóc mỉm miệng cười. Quỳnh sẽ nấu nước nóng bắt tôi tắm, sẽ lau khô những giọt nước bám trên thân thể tôi, sẽ để sẵn trên giường bộ quần áo đã ủi thẳng nếp. Và chúng tôi sẽ nói với nhau bao nhiêu là chuyện. Tôi sẽ quên đi những điều thắc mắc tại sao Quỳnh không thăm nuôi tôi, tạo sao cô có thể ngờ nghệch đến độ không biết chồng mình sống chết ra sao, tại sao, tại sao và tại sao&#8230; Với tôi, ra khỏi nhà tù đã là một điều hạnh phúc, ôm Quỳnh trong tay còn hạnh phúc hơn.</p>
<p>Nhưng mà&#8230;, tôi bỗng nhớ tới Mười Tân. Phải rồi, tránh được Sáu Phận, rốt cuộc tôi cũng gặp Mười Tân, lại gặp những “ông cách mạng ba mươi Tháng Tư,” lại gặp những cái nón cối u ám, những đôi dép râu hãi hùng, những khuôn mặt lạnh tanh. Ði trong một nhà tù nhỏ hay bơi lội trong một nhà tù lớn, đằng nào tôi cũng là tù nhân của một chế độ mà tôi không chọn. Nhưng mà tôi là thứ người có bao giờ chọn lựa cái gì đâu. Có lần Mười Tân nói thứ người như tôi giống như bóng ma chập chờn trong một nghĩa trang những đêm tháng Bảy. Cái bóng ma ấy chẳng làm hại được ai, nhưng chắc chắn xã hội không cần. Ông ta nói đúng. Tôi nghĩ như vậy, nhưng ông nói có phần quá đáng. Tôi cũng thấy sự có mặt của ông khác tôi, nhưng là khác một cách tai hại. Dưới những quyết định của ông, bao nhiêu người đã chết. Cái lý tưởng mà ông theo đuổi, đã được xây trên bao nhiêu xương máu của người khác. Có bao giờ ông nghĩ lại để thấy rằng cuộc chiến đấu của ông thật sự mang lại cái gì sau khi đã chôn vùi những con người có lý tưởng khác ông&#8230; Trời ơi, tạo sao tôi phải nghĩ tới Mười Tân nhiều như vậy. Tôi giật mình thấy một cơn lạnh chạy dọc theo sống lưng tôi. Tôi nghẹn thở.</p>
<p>“Quỳnh!” Tôi nghe tận trong tiềm thức tôi tiếng kêu thảng thốt của một người đàn ông tả tơi đang ngồi trước thềm nhà mình. Tôi muốn nằm xuống thềm xi măng lạnh lẽo và bụi bặm như một cọng rác. Tôi là một thứ rác rưới trong một xã hội bụi bặm. Tôi là một hạt bụi trong một xã hội rác rưới. Tôi rác rưới bụi bặm. Tôi bụi bặm rác rưới&#8230; Và tôi thấy mình ngã xuống, ngã xuống. Tôi mở mắt to ngó lên bầu trời cao, mỗi lúc một xa. Tôi quay mặt ngó cái đáy hun hút phía dưới mà mỗi lúc tôi mỗi lao nhanh xuống. Tôi gào to tên của Quỳnh. Tôi vùng vẫy la hét. Tôi thở hụt hơi. Tôi tìm cái gì để bám. Khuôn mặt Quỳnh hiện ra chỗ này, chỗ kia. Tôi chụp bắt, nhưng khuôn mặt ấy ẩn hiện như một bóng ma&#8230;</p>
<p>Tôi nghe một luồng hơi ấm chạy khắp thân thể tôi. Ánh sáng chui vào hai mí mắt tôi làm tôi phải mở ra. Tôi thấy những khuôn mặt quen thuộc chụm lại ngó xuống. Hai ông bà Ngô, bác Tốt, bác Kỳ, chị Bằng, anh Sáu sửa xe đạp&#8230;</p>
<p>“Tỉnh rồi! Tỉnh rồi! Xoa dầu thêm nữa đi!”</p>
<p>Tiếng những người nói xì xào.</p>
<p>“Cậu Thăng! Cậu Thăng!”</p>
<p>Tôi nhắm mắt lại, nghe tiếng người gọi tên tôi.</p>
<p>Tôi mở mắt ra. Những khuôn mặt mờ mịt như bị che phủ bởi một lớp sương mù. Tôi không thấy Quỳnh. Tôi cảm giác có một bàn tay đang đặt lên trán tôi. Tôi đổi thế nằm, kéo tấm chăn lên tận cằm. Tôi chỉ muốn được yên thân một mình. Tôi nghe tiếng ông bà Ngô thì thầm. Ánh sáng vụt tắt không còn chui vào hai mí mắt tôi. Tôi nghe tiếng chân bước ra ngoài, cánh cửa phòng khép lại.</p>
<p>Nhưng tôi không ngủ được. Tôi nhớ Quỳnh. Trời ơi, tôi nhớ Quỳnh biết là bao nhiêu.</p>
<p>Tôi muốn được ôm em, chằng phải để hỏi tại sao thế này tại sao thế kia, mà để được hỏi với em là em có làm sao không, em và con đã phải sống như thế nào trong những ngày không có tôi&#8230;</p>
<p>Nhưng mà kỳ quá, tại sao không ai buồn nói với tôi điều gì cả.</p>
<p>Tự nhiên tôi cảm thấy ngộp thở. Tôi kéo chăn xuống. Mắt tôi bắt đầu quen với bóng tối. Tôi thấy chỗ nằm tôi là chiếc giường nhỏ sát bên cửa sổ ngó sân nước. Chiếc bàn tròn loại mở ra xếp vào được đặt cạnh bếp, nơi tôi vẫn đến ăn cơm với ông bà Ngô thời gian Quỳnh đi thăm nuôi ông ngoại cháu. Chiếc tủ đựng quần áo kê sát vách làm bằng loại gỗ tạp. Cái bàn nhỏ có tấm kính bên trên để bình trà và mấy cái ly. Bộ xa lông bọc vải đã bị sờn, tủ kính để ly chén thủy tinh, bên trên thờ Phật Bà Quan Âm. Sân trước hẹp và thấp, cánh cửa sắt mới thay. Tôi nhắm mắt cũng có thể thấy rõ tất cả mọi vật trong nhà này như của nhà tôi. Bởi vì cả khu phố này được kiến trúc một kiểu như nhau, nhà nào y như nhà nấy. Cũng cái sân nhỏ vừa để đựng một chiếc xe Honda, vì tường, để vài chậu bông, bước vào là phòng khách, bên trong là phòng ngủ, sau cùng là sàn nước và nhà bếp. Hơn nữa dù có thuê hoặc sang, có xây thêm tường hay cất thêm căn gác gỗ phía sau để lấy chỗ ngủ thì cũng chỉ chừng đó không hơn không kém. Vả lại trong cả khu phố này chỉ có căn nhà ông bà Ngô là tôi tự tiện ra vào như nhà mình, còn các căn kia thì năm thì mười họa tôi mới bước vào, nói láp dáp vài câu xã giao là ra ngay.</p>
<p>Tôi thuộc lòng bề mặt của những căn nhà và cả những con người trong khu phố tôi. Ðối với những người cùng khổ sống chen chúc trên mồ mả ở bên trong hay những người chỉ kiếm đủ ăn đủ mặc bên ngoài như chúng tôi thật ra không cách biệt là bao nhiêu. Cái khoảng cách lớn nhất mà tôi đã gặp ít ra hai lần trong đời tôi là khi tôi bước chân vào gia đình ông Lý và khi tôi sống trong ngôi biệt thự ông Phan. Với con gái ông Lý tôi làm rể của một tay cự phú, tổng giám đốc ngân hàng, chủ tịch một công ty xuất nhập cảng, các loại máy móc kỹ nghệ, có cổ phần trong hãng hàng không Việt Nam v.v&#8230; Chính ông Lý là người đầu tiên gọi tôi là người đi trên mây. Chính ông Lý đã từng nói với tôi rằng ông không cần một thằng rể làm ra tiền &#8211; cái thứ giấy lộn ấy tao có thể đốt cháy cả cái xứ này mà trong kho cũng chưa cạn nữa &#8211; vả lại nếu chẳng may mà cậu có làm ra tiền thì lương tháng nhiều lắm cũng chỉ đủ trả một chầu rượu cho tao ở Caravelle là cùng.</p>
<p>Với cô Uyên, tôi bước vào thế giới quyền lực của ông Phan. Mỗi lời nói của ông có thể đưa một người từ cõi sống vào cõi chết hoặc ngược lại. Mội sự can thiệp của ông có thể làm cho tay nhà buôn kia lời thêm vài chục triệu như chơi, hay trái lại làm cho đương sự tán gia bại sản trong nháy mắt. Ðồng tiền trong tay ông Lý, quyền lực trong tay ông Phan, cả hai thứ đó đều đè lên đời sống của mọi người. Và hơn ai hết, ông Lý là người biết kết hợp cả hai trong tay khi ông gả đứa con gái út của ông cho con trai của một tay trung tướng cầm đầu cuộc chính biến. Chính tay này đã đóng chặn cánh cửa không cho ông Phan trở về nước sau chuyến công du. Những bữa ăn thịnh soạn &#8211; gần như ngày nào cũng tiệc tùng, xe hơi loại mới nhất, đắt tiền nhất, quần áo được đặt may ở tiệm sang nhất, nổi tiếng nhất. Những thứ vừa thấy xuất hiện ở Paris, Hồng Kông tuần trước, tuần sau nhà ông Lý đã có.</p>
<p>Ðời sống của gia đình ông Lý hoàn toàn khác hẳn đời sống của gia đình tôi. Nếu nói tấm mề đay có mặt trái thì gia đình tôi là mặt trái đó. Nó sần sùi, nháp xỉn, trong khi cái mặt phải màu mè đẹp đẽ. Lúc đầu tôi tắm trong sự giàu có của ông Lý, tôi tưởng mình là sự giàu có ấy. Về sau tôi khám phá ra mình đã vơ vào cái không phải của mình. Cái cuộc sống hào nhoáng sao mà hời hợt. Cả cái gia đình ông Lý đã bị mục rỗng tự bao giờ. Những đứa con trai cao bồi du đãng, những đứa con gái chỉ biết có tiền. Quả thật, những đồng lương hàng ngày tôi mang về cho con gái ông Lý không đủ cho ông đãi một chầu rượu ở tiệm Admiral đường Nguyễn Văn Thinh, chớ đừng nói chi đến Caravelle cho nó xa. Tôi từng nhiều lần nhìn thấy cái cảnh mọi người trong một nhà hàng Tây đứng dậy khi ông Lý bước vào. Tôi đã nhìn thấy cách ông chi tiền cho mấy anh nhà báo viết về kinh tế hoặc viết về ông.</p>
<p>Ông Lý mua được tất cả mọi thứ mà ông muốn, kể cả một “thằng chồng” cho con gái ông hay một “đứa con dâu” cho con trai ông. Sau cùng tôi khám phá ra mình chỉ là một món hàng, một đồ vật trang trí trong nhà ông như mọi thứ trang trí khác.</p>
<p>Còn ông Phan thì sao? Tôi không cách nào quên được bàn tay với những ngón mập ú rịn ướt mồ hôi khi lần đầu tôi bắt tay ông. Tuy vậy rõ ràng ông là người làm chính trị có một cuộc sống đạm bạc. Những bữa cơm gia đình với bà Phan và cô Uyên cho tôi thấy mình gần gũi hơn với nếp sống của ông bà. Tôi biết với quyền lực trong tay, ông bà Phan có thừa sức để sống cuộc sống kiểu ông Lý, nhưng ông bà đã không làm như thế. Nếu ông Lý không bao giờ đọc một cuốn sách &#8211; trừ việc đọc báo hằng ngày, mà cũng chỉ đọc những bài liên quan đến kinh tế tài chánh thôi &#8211; thì ông Phan là người đọc khá nhiều. Cái tiểu thư viện của ông không phải chỉ gồm có những cuốn chính trị và hồi ký của những nhân vật lịch sử. Tôi đã tìm thấy những tác phẩm văn học của nhiều thế kỷ được ông trân trọng sắp xếp theo thể loại của nó. Truyện của Jack London hay tiểu thuyết của Dostoievsky, Sử Ký của Tư Mã Thiên hay Ðông Châu Liệt Quốc qua bản dịch của Nguyễn Ðỗ Mục&#8230; Những cuốn sách ấy tôi đã thấy dấu vết của ông Phan&#8230; Nhưng&#8230; giữa hai ông, tuy có nhiều điểm dị biệt, tôi vẫn nhận ra một điều, một điều rất giống nhau khi phải trực tiếp tiếp xúc với hai con người ấy: sự soi mói của họ với người đối diện.</p>
<p>Chính cái quan niệm sống đầy mùi tiền bạc của ông Lý đã chuyển sang con gái ông &#8211; người đàn bà đã có với tôi những đứa con &#8211; chuyển sang một cách trung thực nhất khiến tôi bị ngộp thở phải trốn chạy. Và chính cái quan niệm quyền lực của ông Phan đã tiếp sức cho Uyên khiến cô say mê chế ngự và ra lệnh hơn là hiến dâng và phục vụ.</p>
<p>Chỉ có Quỳnh mới làm cho tôi tin được nơi con người sự chia sẻ và tận tụy. Quỳnh chọn tôi như chính tôi đã chọn Quỳnh.</p>
<p>Cô đơn thương độc mã đến với tôi. Trước mặt không có chi, sau lưng cũng chẳng có gì. Quỳnh tự lập.</p>
<p>Tôi không tiếp xúc với người cha của Quỳnh. Tôi không rõ ông là loại người nào, kiểu ông Lý hay kiểu ông Phan. Nhưng tôi luôn luôn nghĩ rằng kiểu nào thì kiểu, Quỳnh đã đứng vững trong cuộc sống của cô.</p>
<p>Quỳnh không phải là thứ cây mọn bám vào gốc sồi già. Quỳnh sống đời sống của mình. Và tôi hiểu tôi không thể nào sống nếu thiếu Quỳnh.</p>
<p>“Quỳnh!”</p>
<p>Bỗng nhiên tôi rùng mình sợ hãi. Tôi nhận ra tôi đang bị mất một cái gì, như cái bình dưỡng khí của người bệnh đã bị người ta rút ra, mang đi khỏi phòng hồi sinh. Những ngày trong tù tôi nhớ Quỳnh nhớ con nhưng tôi vẫn yên tâm nghĩ rằng Quỳnh vẫn còn đó, vẫn có mặt trong căn nhà ở Khu Mã Lạng nghèo nàn kia. Và tôi đã đón nhận mọi việc đến với tôi trong nhà tù như đón nhận một việc không thể không đến được. Quỳnh chẳng phải là nổi ám ảnh của tôi bởi vì tôi đinh ninh là mình đang có Quỳnh.</p>
<p>Tôi bị mất tự do, nhưng tôi không phải là người cô đơn. Những chấn song sắt kia, cái căn phòng giam hôi hám này, những bữa ăn nghèo nàn thiếu thốn trăm thứ&#8230; không đè ép nổi tôi. Những người bạn tù sống khốn khổ gấp trăm lần tôi, dạy tôi bài học kiên nhẫn. Và trái tim tôi luôn luôn ấm áp vì bạn tù và vì hình ảnh Quỳnh lúc nào cũng nồng nàn trong trí nhớ tôi.</p>
<p>Quỳnh không phải chỉ là cái phao của đời tôi. Quỳnh còn là cái mẫu ánh sáng duy nhất trong đêm tối của hồn phách tôi. Tôi ngã xuống đời Quỳnh. Cái lạnh lẽo của tôi tan trong khí hậu nhiệt đới của Quỳnh.</p>
<p>Chính là nhờ Quỳnh, tôi khám phá ra tôi, nhận ra sự yếu đuối và cả sức mạnh của mình&#8230; Nhưng mà bây giờ đây, nằm trong căn phòng của ông bà Ngô, tôi có cái cảm giác của một người bị té sông, tay chân quờ quạng, đập đạp lia lịa vào một thứ chất lỏng không có chi bám víu. Và nước cứ tha hồ chui vào mắt, vào mũi, vào miệng tôi, đẩy tôi xuống, xuống mãi. Tôi đã mất tấm ván, cái phao để bám lấy. Cũng không còn cái ánh sáng trong đêm để tôi trông theo mà sống, mà đi. Tôi run rẩy. Tôi lo sợ hãi hùng. Cái cảm giác lạnh lẽo chạy lan khắp cơ thể tôi, kéo tôi ra khỏi trạng thái mê man thần trí. Và tôi nghe tiếng tôi hét to. Tôi không rõ là mình la cái gì.</p>
<p>Cửa phòng mở. Ông bà Ngô chạy vào. Ánh sáng của ngọn đèn bỗng vụt chói mắt.</p>
<p>“Cậu Thăng! Cậu Thăng!”</p>
<p>Bà Ngô ngồi xuống mép giường nắm tay tôi.</p>
<p>Ông Ngô đứng ngay giữa cửa.</p>
<p>“Cậu làm sao vậy?”</p>
<p>“Thưa bác, không có gì!” Tôi để yên tay tôi trong tay bà Ngô.</p>
<p>“Cậu thấy trong người ra sao? Có đỡ không?”</p>
<p>“Thưa bác, tôi khỏe. Tôi muốn hỏi thăm bác, nhà tôi&#8230;”</p>
<p>“Cô Quỳnh, tôi biết. Mà cậu đã khỏe chưa?”</p>
<p>Bà Ngô đặt tay lên trán tôi.</p>
<p>Bàn tay bà ấm. Dưới gọng kính lão, đôi mắt bà hiền từ.</p>
<p>“Anh Tư, anh lấy dùm em lá thơ của cô Quỳnh.”</p>
<p>Bà nói với ông Ngô giọng ngọt ngào như hai người trẻ tuổi yêu nhau.</p>
<p>“Cô Quỳnh có để lại cho cậu một cái thơ, nói chừng nào cậu về đưa dùm. Cổ đưa nhưng mà cổ nói thêm<br />
không chắc gì cậu trở lại đâu. Cổ nói cậu đã tới đảo gì gì ở Mã Lai rồi. Suốt mấy tuần nay, cổ ẵm con sang đây khóc lóc, nói với tôi là cậu tệ bạc quá, sao ra đi mà không nói với mẹ con cổ một lời&#8230;”</p>
<p>Những điều bà Ngô nói làm tôi sửng sốt. Tin đồn ở đâu mà kỳ quái. Nhị Hà, Sáu Phận, rồi Mười Tân&#8230; ai cũng hé cho tôi biết là đã gặp Quỳnh, đã cho cô biết rằng tôi đang ngồi tù. Ai cũng cho tôi cái cảm tưởng là tôi được Quỳnh đứng ra chạy chọt lo lắng. Vậy nghĩa là sao?</p>
<p>“Cô Quỳnh nói cậu đã bỏ hai mẹ con cổ. Ở tù Rạch Giá có một tuần là cậu được thả rồi, cậu ra bến xe tình cờ gặp một cô gì ở Sài Gòn xuống, hai người quen nhau từ hồi nào, bây giờ gặp nhau, cô ta rủ cậu, cho cậu một chỗ trên ghe, rồi đi luôn.”</p>
<p>“Trời ơi!”</p>
<p>Tôi xoay người lại, bước xuống giường. Tôi thọc tay vào túi quần. Tôi đi qua đi lại. Tôi nhìn bà Ngô, rồi nhìn xuống bàn chân không giày dép của tôi. Tôi gãi tóc, gãi đầu. Tôi cắn ngón tay trỏ. Tôi đan hai bàn tay vào nhau. Tôi vòng tay trước ngực. Tôi nghe lạnh run, lạnh từ trong xương tủy lạnh ra.</p>
<p>“Trời ơi! Sao đến cớ sự này?”</p>
<p>“Mà bác Tư ơi, mẹ con nó đi đâu?”</p>
<p>“Cổ nói cổ cũng vượt biên, cổ đi tìm cậu, cổ hỏi cho ra lẽ, tại sao cậu đi mà không nói với mẹ con cổ một tiếng. Cổ nói cổ tin cậu, nhưn cổ không ngờ&#8230;”</p>
<p>“Mà hai mẹ con Quỳnh đi hồi nào Bác Tư?”</p>
<p>“Mới hồi sáng này chớ mấy! Ði ngõ Phan Thiết. Cổ đã đình lại ba lần rồi. Lần này cổ đi thiệt. Cổ nói chắc là cậu cũng đã đi thiệt rồi, nếu cậu chưa đi thì hoặc là cậu còn ở tù, hoặc là cậu phải về nhà. Mà tù thì nói không có tên cậu. Vậy chắc là cậu đã đi.”</p>
<p>“Bác Tư à, bác có thể nào cho tôi mượn đỡ ít tiền.”</p>
<p>“Chi vậy? Bộ tính đi Phan Thiết tìm mẹ con nó hả?”</p>
<p>“Dạ phải. Tôi muốn đi tìm mẹ con nó. Tôi lo quá!”</p>
<p>“Mỹ Trân!”</p>
<p>Ông Ngô gọi bà Tư.</p>
<p>“Cái thơ của cô Quỳnh em để đâu anh tìm không ra.”</p>
<p>“Ở dưới tượng Phật Bà chớ đâu. Mà thôi, anh để em lấy cho.”</p>
<p>Bà Ngô đứng dậy trở ra phòng khách.</p>
<p>Tôi phải làm sao bây giờ. Một đồng xu dính túi tôi cũng không có. Tôi cho tay vào hai túi quần trống rỗng. Tôi tìm túi áo. Tờ giấy mỏng dính xếp làm sáu. Tôi nhớ ra rồi. Mình còn có cái lệnh tạm tha. Tôi ngồi dậy, lấy tờ giấy ra, mở rộng, trải xuống mặt giường. Giấy tạm tha có ghi rõ ngày tháng, và nhà tù nào giam giữ tôi. Không biết bây giờ là mấy giờ.</p>
<p>Tôi chợt thấy hình như căn nhà ông bà Ngô trống vắng, tịch liêu. Tôi nhận ra hai em Ðạt và Vỹ không có ở nhà. Những gia đình ở Sài Gòn trong mấy năm nay “đầy vơi vơi đầy” là lẽ thường. Một buổi sáng tinh mơ dắt díu nhau đi. Một buổi tối chập choạng dắt nhau trở về. Ðôi khi gia đình chia làm hai. Chồng và con lớn đi trước, vợ và con nhỏ ở lại chờ chuyến sau. Chồng con chẳng may không đi trót bị giam, vợ ở nhà thăm nuôi, chạy chọt, lo cho chồng con ra. Rồi mót máy, vay mượn, giật gấu vá vai, lại làm một chuyến hải trình khác. Cái nhà tù nằm ở trước mặt, mặt biển, sóng gió, vực sâu nằm ở sân sau nhà tù. Ðến bến bờ tự do hay là chết, mọi người không nói ra lời đều thấy đó là châm ngôn của mình. Có lẽ Ðạt và Vỹ đã đi. Hay là hai em đã đi cùng với mẹ con Quỳnh?</p>
<p>“Thơ của cổ đây, cậu Thăng!”</p>
<p>Bà Ngô bước vào phòng đưa lá thơ còn trong phong bì cho tôi.</p>
<p>Ông Ngô đứng ở cửa:</p>
<p>“Cậu Thăng ăn chút gì nghen! Nhà tôi nấu cháo rồi!”</p>
<p>“Thưa Bác Tư!” Tôi ngập ngừng, “hai em đi chơi đâu mà giờ này chưa thấy về?”</p>
<p>“Hai đứa nó đi được rồi! Cả một tháng trời nay hai vợ chồng tôi ăn chay nằm đất cầu Trời khấn Phật&#8230;cháy ruột cháy gan, cậu Thăng ơi!”</p>
<p>“Hai em đã đi hơn một tháng rồi?”</p>
<p>“Phải, hơn một tháng nay. Gia đình của một người cùng đi chuyến với hai em đã nhận thơ, mà sao hai đứa nó vẫn chưa biên cho tụi tui chữ nào!”</p>
<p>Bà Ngô nói giọng lo lắng như sắp khóc.</p>
<p>Tôi cầm lá thơ của Quỳnh. Nét chữ tròn trĩnh mềm mại quen thuộc. Những chữ T, L, a và g rất đặc biệt của Quỳnh không giống chữ của bất cứ người nào. Tôi không mở vội thư. Tôi nhắc lại câu hỏi với bà Ngô:</p>
<p>“Bác Tư à, có thể nào bác cho tôi mượn đỡ ít tiền?”</p>
<p>“Bộ cậu tính đi Phan Thiết thiệt hả?”</p>
<p>“Dạ!&#8230;”</p>
<p>“Mà sao không đọc thơ đi, coi cổ nói cái gì ở trỏng!”</p>
<p>“Dạ!&#8230;”</p>
<p>“Chìa khóa nhà cậu tôi còn giữ đây. Cổ dặn tôi chừng nào công an khu vực có hỏi cứ nói cổ ẵm con đi thăm cậu làm việc ở dưới Minh Hải. Ðừng cho chị tổ trưởng ở đầu hẻm biết. Chừng nào cổ đi trót lọt biên thơ về thì khai báo cũng không muộn&#8230;”</p>
<p>“Dạ!&#8230;”</p>
<p>Bà Ngô có vẻ bỡ ngỡ khi thấy tôi không nói gì hơn chữ “dạ!”, ngó tôi chăm chăm. Sau cùng bà đứng dậy đến bên tủ thuốc lấy chiếc chìa khóa to bản móc trên cây đinh gần đó.</p>
<p>“Cậu muốn về nhà thì về. Muốn đi đâu cũng được. Nhưng phải ăn một chút cháo cho ấm bụng.”</p>
<p>“Dạ! Chắc tôi xin phép bác Tư về bển&#8230;”</p>
<p>“Thì cũng phải bỏ chút gì trong bụng chớ!”</p>
<p>Bây giờ tôi mới nghe gan ruột cồn cào. Ðói thật. Bà Ngô đứng dậy đi xuống bếp. Ðúng vào lúc đó đèn trong nhà tắt phụt.</p>
<p>“Anh Tư ơi!”, bà Ngô kêu chồng, “In hình hôm qua nhà đèn cúp rồi mà phải không anh?”</p>
<p>“Phải. Nhưng bữa nay là thứ Ba mà! Ðâu, anh tìm giùm em cái hộp quẹt coi!”</p>
<p>“Có liền! Có liền! Mà em đừng đi, cứ đứng đó anh đem xuống cho. Có lẽ bữa nay nó cúp đột xuất.”</p>
<p>Tôi nghe tiếng bật diêm quẹt, tiếng dép khua lết trên sàn nhà. Thoáng qua cánh cửa phòng tôi đang ngồi một ánh lửa lập lòe chực tắt trên tay ông Ngô. Mà lửa tắt thật. Tôi nghe tiếng ông Ngô càu nhàu. Lại quẹt thêm một lần nữa. Rồi một lần nữa.</p>
<p>“Hộp quẹt hồi này nó làm bằng đất sét chắc. Mười cây xài không tới một cây, mà phải mua chợ đen nữa chớ!”</p>
<p>Ông Ngô càu nhàu.</p>
<p>“Anh đưa cái hộp quẹt cho em. Sao anh nóng quá vậy!”</p>
<p>Tôi cầm chặt lá thơ của Quỳnh trong tay. Tôi muốn đọc ngay, nhưng tôi chỉ muốn đọc khi quanh mình không có ai. Tôi nhét lá thơ dày cộm vào túi áo. Tôi bước theo ông Ngô xuống nhà bếp.</p>
<p>Tô cháo bà Ngô giúp tôi tỉnh táo hẳn.</p>
<p>Tôi nuốt vội nuốt vàng.</p>
<p>Bà Ngô kín đáo đặt trên bàn một bao thư khác. Bà nói:</p>
<p>“Nếu cậu cần đi Phan Thiết tìm cô Quỳnh thì phải đi chuyến xe sớm nhất. Sợ không kịp.”</p>
<p>Tôi quyết định trở về căn nhà của chúng tôi, đốt nến đọc lá thư của Quỳnh chờ sáng.</p>
<p>Tôi nhất định phải đi tìm mẹ con Quỳnh.</p>
<p><strong>Chương Mười Tám</strong></p>
<p>Ngồi chen chúc trên chiếc xe đò ọp ẹp, giữa những khuôn mặt thất thần, tôi nhận ra hình như đâu phải chỉ có một mình tôi đang phập phồng, sợ hãi. Người đàn ông ngồi sát bên tôi đeo kính đen, đội cái mũ nồi đã rách, chiếc áo jacket màu vàng đã sờn chỉ, hút thuốc liên tu hồ tận. Người đàn bà cùng dãy ghế gác chân lên một cái túi xách khá lớn không cách nào nhét lọt xuống gầm chỗ ngồi được. Tiếng thở dài của một bà lão tóc bạc trắng ngồi xéo bên kia. Người tài xế mở nhạc lớn.</p>
<p>Tiếng hát của một ca sĩ trước Bảy Lăm. Nhiều tiếng cười ồ lên, nhưng sau đó tất cả đều chìm xuống trong im lặng. Xe chạy chậm. Dọc đường quá nhiều trạm kiểm tra. Một số người lên, một số người xuống. Một vài con buôn ăn cò với tài xế chờ ở một ngã tư đường. Xe dừng khá lâu để chuyển hàng lên mui. Tài xế và con buôn cười nói hăng hái nhất. Thỉnh thoảng tôi nghe tiếng thở dài của người đàn ông ngồi bên. Tự nhiên tôi cũng nghe mình thở dài, như thể trong trái tim tôi là cả một trời gió chướng. Tôi thu nhỏ lại giữa hai người đàn ông trung niên. Ðầu tôi ngã ra sau. Gió thổi làm tôi buồn ngủ.<br />
Suốt đêm qua tôi không hề chợp mắt. Khi bà Ngô đưa cho tôi chiếc chìa khóa và cây nến, tôi đã trở lại căn nhà của tôi. Quỳnh bế con đi chỉ mới một ngày mà căn nhà lạnh ngắt như tờ giấy. Ðổ nến lỏng nóng xuống mặt bàn, cắm nến lên tôi mở thư Quỳnh ra đọc. Chưa bao giờ Quỳnh biên cho tôi một bức thư dài như vậy. Tôi đọc đi đọc lại nhiều lần. Tôi cố tìm xem qua những lời trách móc và hoài nghi của Quỳnh, cô muốn nói gì với tôi. “Em có còn yêu tôi không?” Tôi không thấy có câu trả lời qua bức thư tràng giang đại hải của cô. Quỳnh tin là tôi đã ra đi, đã đến được một trại tị nạn nào đó ở Nam Dương, Mã Lai, Thái Lan hay Phi Luật Tân.</p>
<p>Quỳnh đặt quá nhiều câu hỏi về việc ra đi của tôi. Quỳnh viết ông Mười Tân có đến gặp Quỳnh và nhiều lần hỏi tôi hiện giờ đang làm gì, sao không thấy ở nhà.</p>
<p>Quỳnh phải nói dối rằng tôi vẫn ở Minh Hải làm nghề lái xe ủi đất. Ông Mười Tân nói có đi Minh Hải, có ghé công trường tìm thăm tôi nhưng không gặp. Quỳnh nói có gặp một cô gái tên Nhị Hà. Cô ta nói cô là học trò của tôi, cô nói cô muốn đến thăm tôi và cô ngạc nhiên khi Quỳnh nói tôi hiện là tài xế lái xe ủi đất ở một công trường dưới Minh Hải. Quỳnh nói mặc dù tin đồn tôi đã bỏ đi nhiều đến nỗi không thể không tin, nhưng dù sao Quỳnh vẫn mong rằng đó không phải là sự thực. Sự thực là tôi vẫn còn ở đâu đó. Quỳnh nói rất tiếc là không biết địa chỉ của Kiệt. Nếu không may ra Quỳnh sẽ tìm được tôi, biết rõ tôi đang làm gì. Quỳnh mong tôi đọc được thư này và hãy cầu nguyện cho mẹ con Quỳnh thuận buồm xuôi gió. Nhưng Quỳnh cũng không mong tôi được đọc nó. Ðể mẹ con Quỳnh sẽ gặp tôi ở một trại tị nạn nào đó ở bên Phi Luật Tân. Một lá thư dài viết rối rắm, lủng củng, hoài nghi và đầy mâu thuẫn. Một mặt Quỳnh không muốn đi, một mặt Quỳnh cũng không muốn ở. Ở lại với ai? Mà ra đi để kiếm ai? Quỳnh nghĩ tôi đã đến nơi. Rồi Quỳnh lại nghĩ là tôi vẫn còn ở đâu đó.</p>
<p>Tôi không hiểu gì cả. Ông Mười Tân. Nhị Hà. Những người đó đã làm gì, nói gì, suy nghĩ gì, âm mưu gì. Và tôi, tôi đã làm gì. Tôi bị bắt, bị giam, bị đẩy vào một nơi chốn cô lập. Không. Không. Tôi không thể để Quỳnh ra đi. Tôi không muốn mất mẹ con Quỳnh. Tôi muốn Quỳnh hiểu là tôi vẫn còn ở đây. Tôi yêu Quỳnh. Tôi cần Quỳnh biết là bao nhiêu. Tôi có thể chịu đựng mọi thứ vì tôi biết Quỳnh đang ở bên tôi, đang hiện diện trong tôi. Tôi không thể làm được điều gì, suy nghĩ cho xong một chuyện gì nếu không có Quỳnh.</p>
<p>Tôi lại nghe tiếng thở dài của người đàn ông ngồi bên cạnh. Tôi nhìn ông. Chiếc kính đen che kín mắt, cái mũ nồi rách sụp xuống trán.</p>
<p>Ðường ổ gà. Xe xốc dữ.</p>
<p>Dọc đường khách lên nhiều hơn là khách xuống. Hàng hóa chất lên mui, nhét dưới ghế ngồi. Người đứng, leo, bám lên phía sau xe. Chiếc xe chạy rướn, mệt nhọc, như con ngựa già thở phì phèo. Nhưng mà xe vẫn cứ chạy.</p>
<p>Tiếng hát của một ca sĩ Saigon trước đây phát ra từ cái loa nhỏ gắn phía trước chỗ ngồi cạnh người tài xế vẫn rên ư ử&#8230;</p>
<p>Tôi thấy mệt. Ðêm qua thức suốt, không ngủ. Trước đó một ngày, từ Rạch Giá về, cũng không một phút nhắm mắt. Những ngày ở trong tù, tôi thấy mình còn có một căn nhà, một người vợ, một đứa con. Bây giờ ra khỏi nhà tù, tôi không còn gì hết.</p>
<p>Quỳnh đã bế con đi. Căn nhà trống trơn lạnh lẽo. Tôi sẽ sống cách nào nếu không có hai người thân thích kia? Liệu tôi có gặp lại được hai mẹ con Quỳnh không? Tôi còn nhớ tối qua, ông bà Ngô trước khi đi ngủ còn gọi cửa tôi, nhắc cho tôi biết phải dậy sớm ra bến xe, mua vé chợ đen, mua giấy đi đường, vẽ cho tôi căn nhà Quỳnh đến tạm trú ở Phan Thiết trước khi có người dẫn xuống bãi. Nhớ hỏi nhà bà Sáu Mượn. Trong túi tôi đã có đủ thứ giấy tờ của một công dân đi đường hợp pháp. Xuống bến xe, tôi sẽ tấp vào một quán cà phê bên cạnh tiệm hủ tiếu Hai Ký. Uống nhâm nhi xong tôi sẽ lững thững như một người dân địa phương đi dạo mát. Nhà bà Sáu Mượn nằm mép bờ con sông cạn ở cuối đường Phan Bội Châu.</p>
<p>“Nói với bà Sáu, cậu là chồng của cô Quỳnh mới ở tù ra, bả sẽ giúp cậu.”</p>
<p>Tôi tưởng tượng Sáu Mượn là một người đàn bà mập mạp chừng sáu chục tuổi, tóc bạc thưa búi ngược, miệng ăn trầu tỏm tẻm, đứng trước cửa một ngôi nhà ba gian rộng. Giữa nhà là một tấm phản dầy và lớn, láng bóng. Một bàn thờ cao bằng gỗ mun cẩn xà cừ với bình hương bằng đồng bóng lưởng, hai chân đèn cao với hai cây nến đỏ đã cháy đến một nửa, tim nến màu đen&#8230; Tôi tưởng tượng thấy Quỳnh đang đứng dưới ở nhà bếp, ôm con ngó đăm đăm ngọn lửa cháy hừng hực, nước mắt chảy ròng ròng. Tôi tưởng tượng con tôi đang ôm chặt Quỳnh, cái đầu nhỏ bé tóc mềm vàng ngã lên vai Quỳnh ngủ ngon lành&#8230; Và khi bà Sáu Mượn chận tôi ở cửa hỏi, “Cậu kiếm ai?” tôi nhận ra khuôn mặt của bà chính là bà lão tóc bạc trắng ở hàng ghế xéo bên kia. Tôi chập hai khuôn mặt ấy làm một và tôi ngủ.</p>
<p>Xe đã ngừng ở trạm nào, đã chạy qua bao nhiêu làng xã&#8230; tôi không hay biết. Tôi ngủ như chưa hề được ngủ. Hai mí mắt tôi cứ kéo xuống không cách nào cưỡng nổi. Toàn thân tôi rũ liệt. Giống như một người thả lỏng cơ thể dưới mặt nước, tôi mặc kệ cho cơn buồn ngủ lôi kéo tôi đi.</p>
<p>Bà Sáu Mượn, Quỳnh, con tôi, ngôi nhà cất bên bờ sông cạn, những chiếc ghe, mặt biển đen, những giọt nước biển như những giọt thủy tinh, những tên công an biên phòng đứng chờ sẵn trên chiếc ghe vượt biên, dí những họng súng vào đầu từng người đẩy lên bờ rồi lùa hết đàn ông đàn bà trẻ con lên một xe thùng chạy về đồn công an&#8230;</p>
<p>Tôi thấy nhà giam qua ba tầng cửa sắt. Tiếng khóa tra vào ổ gây một âm thanh lạnh lùng. Và cả đám tù ngồi lổn ngổn lảng ngãng giữa sân chờ điểm danh. Tôi thấy tôi nằm bên một người tù bị xiềng cả tay và chân, mỗi khi trở mình, những sợi xích sắt kéo lê khua động. Tôi thấy khuôn mặt người tù giống Tư Long, người cán bộ Mặt Trận bị tình nghi làm CIA bị nhốt từ những ngày còn trong rừng và tiếp tục nhốt khi vào thành phố.</p>
<p>Tôi thấy Mười Tân đứng ở cửa nhà lao, hai tay thọc túi quần, điếu thuốc trên môi ánh sáng chiếu từ sau lưng tới, nên khuôn mặt ông khi tỏ khi mờ tùy theo đốm lửa trên đầu điếu thuốc.</p>
<p>“Ðảng luôn luôn là chân lý chỉ có những con người bất toàn mới sai mà thôi.”</p>
<p>“Những thứ người như thằng Thăng này là đồ thừa của xã hội.”</p>
<p>“Nó là sản phẩm của một xã hội đồi trụy.”</p>
<p>“Vượt biên là đi theo con đường của bọn đĩ điếm ma cô, bọn lười biếng, bọn ngồi nhà mát ăn bát vàng&#8230;”</p>
<p>Tôi thấy ông Ba Trương Phi đưa hai tay cho bọn cai tù trói sau khi chửi rủa Sáu Phận. Và những hình ảnh của cô công an Nhị Hà, từ một khuôn mặt hơi ngơ ngác khi mới từ Hà Nội vào mặc chiếc áo may theo kiểu nửa bà ba nửa sơ mi, đến một khuôn mặt đã bắt đầu biết dùng phấn son, chiếc áo thun mang câu “I Love NY” nhét trong cái quần jean xanh hiệu Levi&#8217;s, mà giá cả hai thứ đó không dưới mười tháng lương của cô công an chấp pháp mới vào nghề.</p>
<p>Tôi thấy tôi đang ngồi trước mặt cô học trò công an tên Nhị Hà điền lời khai sau những câu hỏi.</p>
<p>Cha tên Trần Văn Lâm, sanh năm 1910 chết năm 1968. Mẹ tên Hoàng Thị Cúc, sanh năm 1920 chết năm 1972.</p>
<p>Sau khi đọc lướt qua, Nhị Hà hỏi:</p>
<p>“Lý do chết?”</p>
<p>“Bệnh.” Tôi không hiểu tại sao cô công an này quan tâm đến điều đó. Tôi nhìn vào mắt cô.</p>
<p>“Sáu Tám là Tết Mậu Thân. Còn Bảy Hai là mùa hè đỏ lửa. Thầy không hiểu sao?”</p>
<p>“Tôi hiểu, tôi hiểu.”</p>
<p>Tôi hiểu và tôi giật mình. Cái chết dính vào một biến cố thời sự cũng là một vấn đề. Tại sao chết vào năm Mậu Thân là năm mà Hà Nội gọi là Tổng tấn công và Nổi dậy? Tại sao không chết vào một năm trước đó hay một năm sau đó? Ðằng nào cũng chết. Nhưng sao hai người chết đúng vào hai thời điểm dễ gây thắc mắc.</p>
<p>“Em hỏi vậy thôi. Ðể ghi cho đầy chỗ trống. Thầy đừng ngại!” Cô học trò công an Nhị Hà an ủi.</p>
<p>Rồi tôi lại thấy Quỳnh đang ôm con đi dọc bãi biển theo một đoàn người già trẻ lớn bé trong một đêm không trăng. Những bóng đen di chuyển trong nỗi hăm hở đầy lo âu. Những bước chân cương quyết. Những bước chân ngập ngừng. Sự lạnh tanh của những đôi mắt ngó về phía trước. Những giọt lệ ấm lăn trên gò má của những con người thỉnh thoảng quay đầu về phía sau. Như những con ngựa ngậm tăm lặng lẽ bước, cả đám người dắt díu nhau leo lên những chiếc ghe nhỏ, những “tắc xi” như các người tổ chức vượt biên hay nói. Và “con cá lớn” đang bỏ neo ở ngoài xa chớp đèn theo như qui ước để đón những người hành khách kỳ quái nhất trên thế giới. Tôi thấy Quỳnh ôm chặt con, bước đi thất thểu. Và tôi đã đến kịp lúc. Dưới một bầu trời đêm lạnh buốt, trên một bãi biển phập phồng chúng tôi ôm siết lấy nhau, đứa con ở giữa chúng tôi chia cái hơi ấm của một gia đình nhỏ bé trong một thời đại nghi hoặc nhất của con người.</p>
<p>Và bất chợt ngay lúc đó những tiếng hô “đứng lại!” vang lên, những tiếng nổ chát chúa từ tứ phía chụm vào đoàn người đang bắt đầu bước xuống lội bì bõm trong nước biển.</p>
<p>Tiếng súng nổ lớn quá làm tôi giật mình. Người tài xế đạp thắng. Xe còn trớn kéo lết bốn bánh trên mặt đường. Tôi ngó ra cửa xe. Công an đứng ngay trước đầu xe từ bao giờ.</p>
<p>“Mời tất cả hành khách xuống! Kiểm tra!”</p>
<p>“Chết rồi!” Tôi nghe tiếng người đàn ông ngồi bên cạnh thở dài. Vẫn cặp kính đen trên mắt, vẫn cái mũ nồi chụp trên đầu, ông đứng dậy nối theo những người khách bước xuống cửa sau. Người đàn bà ngồi bên cạnh kéo cái bị dưới gầm ghế ra định xách theo, nhưng nghĩ sao lại nhét trở xuống. Bà lão tóc trắng đi trước, người đàn bà cùng dãy ghế tôi bước theo. Và tôi theo chân người đàn ông đeo kính đen.</p>
<p>Tôi nhận ra không phải chỉ có một chiếc xe bị chận. Nhiều xe khác đang đậu bên kia đường. Nhiều hành khách đang xếp hàng trước trạm công an.</p>
<p>“Ðồng bào xếp hàng trật tự. Cầm sẵn sàng giấy đi đường và thẻ chứng minh nhân dân!” Một tên công an mang súng ngắn đứng ngay ở cửa xe nhắc.</p>
<p>Tôi cho tay vào túi tìm tờ giấy đi đường và thẻ chứng minh nhân dân. Giấy đi đường giả mang tên tôi được viết bằng một dòng chữ rất Hà Nội, nghĩa là những chữ viết hoa G, T, H và các chữ n, m, g không giống kiểu chữ dân Saigon chút nào. Nó giả một cách rất thật, bởi vì nó do một cán bộ tổ chức bán ra.</p>
<p>Khi tất cả mọi người xuống xe, hai công an leo lên sục sạo hàng hóa và hành lý. Người đàn bà đứng cạnh tôi nhấp nha nhấp nhỏm, lúc tiến lên, lúc quay đầu lại. Cái túi xách của bà đang làm bà bối rối. Người đàn ông đeo kính đen lui ra sau, cái mũ nồi rách chụp xuống tận mắt. Bà cụ tóc trắng nhai trầu bỏm bẻm. Vừa đi vừa lầm bầm trong miệng. Người tài xế và người “lơ” xe đứng lại nói chuyện với người công an đang soát xe. Hai bên có vẻ ăn ý. Tôi thấy họ cười nói vui vẻ.</p>
<p>Khi tôi trình giấy tờ đi đường ở trạm gác dã chiến, chiếc xe đò đã lăn bánh qua phía bên kia rào cản, dừng lại chờ khách. Tôi thở phào nhẹ nhõm khi người công an trả lại giấy tờ và phất tay cho tôi đi.</p>
<p>Khách lục tục kéo lên đầy xe. Người đàn ông đeo kính không biết đi ngả nào đã ngồi vào chỗ trước. Tôi thấy tỉnh người hẳn khi người đàn ông mời tôi điếu Phù Ðổng. Thuốc vấn rời rạc, những sợi màu vàng rớt trên đùi tôi, gẫy vụn, nhưng mùi thuốc thơm dễ chịu.</p>
<p>Sắp vào thành phố. Xe bắt đầu xuống đám khách con buôn. Hàng bỏ xuống lề cỏ. Chỗ ngồi dễ thở. Xe chạy nhẹ.</p>
<p>Ðêm ở nghĩa địa. Tôi ngồi với người thanh niên tên Long, con trai bà Sáu Mượn trong một ngôi nhà mồ. Ngôi nhà, không đúng. Nó giống như một cái miếu thờ.</p>
<p>Xung quanh là tường gạch cỏ hoang mọc tràn lối đi. Bên trong, ngay giữa nhà là một cái mồ xây cao đến ngực và phẳng như mặt bàn, tráng xi măng láng. Một cái hốc đứng để bài vị và những cọng nhang cắm trên một bình bằng sành đựng cát. Từ cái ô của những viên gạch lỗ tôi nhìn ra con đường mòn hẹp đi ngoằn ngoèo xuống những lùm cây đã lẫn vào bóng đêm.</p>
<p>Gió biển lạnh thổi vào cùng với hơi lạnh của nhà mồ làm tôi rùng mình. Long cởi chiếc áo choàng nhà binh cũ quàng lên vai tôi:</p>
<p>“Lạnh hả?” Long nói thầm vào tai tôi. “Tôi không biết chị Quỳnh đi theo đám nào. Hôm qua có một chuyến đi trót lọt. Chuyến này do một người quen của má tôi tổ chức. Khách được ém ở nhiều chỗ trong thành phố, buổi chiều họ đi chơi bằng xe lam ba bánh, do người của tổ chức làm tài xế, chừng tối xuống thì tập trung hết ở đây. Bãi đáp là bên kia đường. Mình cứ chờ đây. Anh đừng nói gì. Chừng nào có chị Quỳnh và cháu, anh cho tôi biết, tôi liệu. May ra&#8230;”, ngừng một phút, Long tiếp, “nếu chị và cháu chưa đi.”</p>
<p>Long là con út bà Sáu Mượn. Trước Bảy Lăm anh là lính địa phương quân. Lính trơn nên chỉ học tập có ba ngày. Người anh rể của Long là trung tá, sau ba mươi<br />
Tháng Tư bị bắt đi học tập cải tạo tận ngoài Bắc. Người vợ ở nhà chạy xuôi chạy ngược lo cho chồng ra, gặp cửa nào cũng gõ, gặp người có họ hàng xa nào tập kết về cũng lạy lục năn nỉ xin được cấp tờ giấy gia đình có liên hệ với cách mạng để chồng được sớm trả tự do. Nhưng tiền của thì cứ mất dần mà những khuôn mặt cán bộ họ hàng thì cứ tiếp tục cười vui một cách nhăn nhở, không hiệu quả. Ðồ đạc, của cải cho thì cứ nhận, nhưng chẳng những không giúp được gì mà còn nói: “Ðể anh ấy học tập tốt rồi ra. Cách mạng lúc nào cũng khoan hồng với những người biết ăn năn hối cải.” Và cứ thế mà chị ngày càng xác xơ từ sợi tóc đến đầu ngón chân. Sau cùng thuê được một chỗ bán bánh xèo ngoài chợ. Long thì làm rẫy, mỗi tuần chỉ về nhà một lần. Làm rẫy gì, ở đâu, sao mỗi tuần về nhà một lần, có lẽ anh rành về việc đưa người vượt biên. Còn bà Sáu Mượn? Khi gặp bà tôi mới thấy trí tưởng tượng của tôi trật chìa đến là chừng nào. Bà gầy nhom, người nhỏ thó, lớn tuổi mà tóc còn đen huyền. Tôi nhìn thấy bà ăn mía mà phát sợ. Bà tước mía bằng răng, và nhai mía như một thiếu nữ mới lớn. Ngôi nhà bà nằm sát bờ sông trang trí đâu thua gì một ngôi biệt thự ở Saigon. Sau Bảy lăm, một ngôi nhà kiểu này còn tồn tại thật là một điều khó tưởng tượng. Bà Sáu Mượn nghe tôi nói đến ông bà Ngô là vui ngay. Tối hôm tôi đến, Long về nhà. Bà cho tôi biết Long sẽ giúp tôi tìm Quỳnh.</p>
<p>“Cậu đừng lo, ở đây có mấy người tổ chức vượt biên tôi biết hết. Trước sau gì cũng có tin mà!”</p>
<p>Gầy ốm như bà Sáu Mượn, nhưng cao như một cây tre miễu, Long có khuôn mặt lúc nào cũng như một người đang cười. Trước khi đến chỗ trú này, Long kéo tôi ra quán cà phê. Chúng tôi nhâm nhi chờ một người bạn của Long. Gần một tiếng đồng hồ sau, ông ta đến. Không uống cà phê, ông ta kéo chúng tôi đi ngay. Ba người trên một chiếc xe Honda, chúng tôi đi một quãng khá xa. Ðường vắng, hai bên không nhà cửa, gió biển thổi lạnh thốc. Tôi ngồi giữa, Long ngồi sau ôm choàng cả tôi lẫn người lái. Bỏ chúng tôi ở đầu con dốc tẻ vào con đường mòn của nghĩa địa, người bạn của Long quay về thành phố. Suốt dọc đường ông ta không nói một tiếng nào.</p>
<p>Trong bóng tối, con đường mòn lờ mờ bị khuất vào các lùm cây nhỏ. Long như một người từng sống ở đây lâu năm. “Coi chừng cái hố này! Bụi gai nghe, quẹo trái theo tôi&#8230; Nè, thấy mấy cái đốm sáng kia không? Mả mới chôn hồi chiều đó. Ðám ma giả! Tối nay có chuyến!&#8230;”</p>
<p>Long gần như kéo tôi đi. Chính trong cái ngôi nhà mồ này, chúng tôi chờ đám người vượt biên đến.</p>
<p>“Nếu không có Quỳnh và đứa bé thì sao? Nếu Quỳnh đã đi rồi, tôi sẽ phải làm sao đây?”</p>
<p>“Anh đừng lo. Tại anh gấp quá, chớ để mai tôi chạy hỏi mấy nơi là biết chắc chị và cháu đã đi hay còn ở đâu?”</p>
<p>“Nếu chút nữa có vợ con tôi đi, anh Long có bảo đảm cho tôi đi cùng chuyến được không?”</p>
<p>“Anh yên tâm, dì Ngô là bạn thân của má tôi, hai ba chỗ thì không được, chớ một mình anh, tôi bảo đảm.”</p>
<p>Tôi nghĩ thầm, vậy là yên. Tôi mong gặp Quỳnh và con. Tôi bồn chồn nôn nóng. Tôi che tay, bấm cái nút nhỏ ở chiếc đồng hồ xem giờ. Thời gian chậm quá sức. Cái áo nhà binh Long đưa tôi mặc dày như thế mà vẫn không che nổi cái lạnh. Tôi ngồi bệt xuống đất, đầu tựa vào mồ. Long vẫn ngồi một chỗ, mắt dán vào cái ô của viên gạch lở. Tôi cảm thấy mỏi mệt, quá mỏi mệt. Ngày hôm kia vừa mới chạy ra khỏi cái nhà tù ở tận phía Nam, bây giờ đã ở một thành phố ven biển miền Trung. Hôm kia là nhà tù, bây giờ là nhà mồ. Giữa hai cái nhà này, hôm qua tôi nằm trong căn nhà của tôi ở khu Mã Lạng, một căn nhà quạnh quẽ, trống trơn, đầy kỷ niệm. Không ai chờ đợi tôi.</p>
<p>“Anh Thăng!” Long bỗng đập tay lên vai tôi. “Kìa, có người đến rồi kìa!”</p>
<p>Tôi chồm dậy đẩy Long ra lấy chỗ nhìn. Tôi chẳng thấy gì. Bên ngoài là một vũng đen hoàn toàn.</p>
<p>“Thấy không? Thấy chưa anh Thăng?”</p>
<p>“Thấy gì đâu!”</p>
<p>“Trời ơi!” Long kêu nhỏ, “anh nhích ra, để tôi.”</p>
<p>Tôi rút đầu lại, ngả lưng vào thành ngôi mộ.</p>
<p>“Họ đang đến!” Long đứng xổm dậy, “anh ngồi yên đây, để tôi xem sao?”</p>
<p>Long bước ra nhà mồ. Tôi ngồi dậy dụi mắt, ngó chăm ra lỗ gạch lần nữa. Tôi nghe có tiếng trẻ nhỏ khóc.</p>
<p>Tiếng chân đang đến gần. Tôi ép mặt tôi sát vào. Tôi cố phân biệt tiếng nói của Quỳnh và tiếng khóc của con tôi. Nhưng vô ích. Bất thình lình mọi tiếng động bỗng im bặt, tắt ngúm như ngọn đèn bị gió thổi. Tiếng khóc của trẻ thơ như bị một bàn tay bụm lại. Và một loạt những ngọn đèn bấm sáng lên chiếu dồn một tụ điểm. Từ cái ô tròn của viên gạch trong ngôi nhà mồ tôi nhận thấy lố nhố mấy chục con người dớn dác, há hốc mồm, tay dụi mắt.</p>
<p>Tiếng lên cò súng cùng lúc với tiếng nói ra lệnh:</p>
<p>“Ðứng yên! Các người đã bị bắt!”</p>
<p>Một tia sáng lớn chiếu quét vào từng khuôn mặt. Những người đàn bà, những đứa trẻ. Vài thanh niên. Một ông lão tóc bạc trắng. Một cái đầu với chiếc mũ nồi.</p>
<p>Một bàn tay đặt lên vai tôi bất ngờ làm tôi giật mình.</p>
<p>“Tôi đây mà!” Tiếng nói của Long sát bên tai tôi. “Ngủ đi!”</p>
<p>Anh tựa lưng vào lưng tôi.</p>
<p>Tôi làm sao ngủ được.</p>
<p>Ánh sáng chấp chới của mấy cây đèn bấm. Tiếng người nói chuyện rân ran. Trẻ con khóc thả giàn.</p>
<p>Cả đám người xa dần nghĩa địa xuống con đường lớn.</p>
<p>Tôi nghe tiếng máy xe nổ, xa dần.</p>
<p>&nbsp;</p>
<p><strong>Chương Mười Chín</strong><br />
Tôi trở về Sài Gòn ngay buổi sáng hôm sau. Long đã hỏi dò và cho biết chắc chắn mẹ con Quỳnh đã đi trót chuyến vượt biên đêm trước. Trót có nghĩa là không bị công an biên phòng bắt, còn có lọt đến được một nước nào khác không thì quá sớm. Phải đợi ít nhất một tháng hoặc có khi nhiều tháng sau mới có thể có tin tức dội về, nếu&#8230;</p>
<p>Tôi không muốn nghĩ gì hết sau chữ nếu. Tôi nhớ con tôi, tôi nhớ Quỳnh. Cái nôi nhỏ vẫn còn tấm màn vắt lên. Chiếc bàn ăn sát bên cửa sổ ngó ra sàn nước. Cầu thang bằng gỗ tạp đã gãy vài đoạn dẫn lên căn gác thấp lợp mái tôn chứa đồ lặt vặt và là chỗ phơi quần áo. Căn bếp thông qua con hẻm bên rạp Quốc Thanh nguội lạnh như mùa Ðông.</p>
<p>Làm gì?</p>
<p>Tôi đi lang thang các khu chợ sách, chợ trời. Hình như đồ đạc trong tất cả các gia đình của thành phố đều được tuôn xuống dưới đường. Sách vở không thiếu thứ gì. Những tạp chí cũ mà trước Bảy Lăm tôi ao ước được có một bộ trong tủ sách gia đình, nhưng giá quá đắt không cách nào mua được thì nay đang nằm chổng chơ trên một cái sạp làm bằng những miếng ván chồng lên bốn chiếc ghế đẩu. Một người bạn cũ trước làm ở đài phát thanh nay là chủ một hành sách nói với tôi: “Cứ ngồi với tao. Vượt biên thì không đủ tiền. Nhưng sống qua ngày thì được!” Nhưng tôi không cách nào ngồi lại được ở một chỗ.</p>
<p>Tôi lại thang lang qua các khu chợ trời quần áo, chợ trời máy ảnh, đồng hồ, chợ trời ti-vi, cát-sét, băng nhạc.</p>
<p>Tôi thong dong, dạo qua khắp phố phường như một người không chủ đích. Mà tôi còn có chủ đích gì. Chiếc đồng hồ đeo tay của tôi đã bị giật trên đường Hồng Thập Tự sau chuyến ở Phan Thiết về. Ðó là món quà đắt giá duy nhất tôi có trên người do bác Ngô đã tặng khi tôi đi tìm mẹ con Quỳnh. Chìa khóa nhà tôi là vật còn lại tương đối nặng trong túi. Người tôi nhẹ tênh như mây.</p>
<p>Tôi lại ra các quán cà phê vỉa hè.</p>
<p>Tôi uống cái thứ nước đen nhạt nhẽo làm bằng bắp rang, vỏ măng cụt ấy với số tiền bán những cuốn sách cuối cùng, những bàn ghế, quần áo cuối cùng&#8230; trong nhà tôi.</p>
<p>Tâm khô-khốc-thiền-sư đã có việc làm, một thứ công nhân chạy việc cho một hợp tác xã tiêu thụ.</p>
<p>Ðình bị bắt vì có tên nội tuyến trong chuyến tổ chức vượt biên tố. Cả đám ngồi trên xe đò đi nửa chừng đường đã bị công an chặn lại gọi từng tên một xuống trói thúc kéo chở về Chí Hòa.</p>
<p>Ðó là thời gian tôi quen một số bạn mới. Những người đầu đường xó chợ. Những người từ ngoài Bắc vào thuộc loại không sống nổi ở ngoài đó. Những người vừa ở cải tạo ra. Những người đàn bà không biết ngày mai. Những đứa con gái phung phí đời mình trong cái xã hội tuyệt vọng. Những người nuôi một mối căm thù muốn lật đổ chế độ. Những lý thuyết gia của một chủ nghĩa hoàn toàn không cộng sản mà cũng chẳng tư bản. Tôi nghe đến một thứ tên gọi là chủ nghĩa bình sản.</p>
<p>Như thế nào là bình sản? Chỉ nghe vậy thôi, còn cụ thể thì không rõ. Người ta nói đến Ðài Loan như một quốc gia muốn vươn tới chế độ bình sản. Ðiện khí hóa tối tân nông thôn. Không có người giàu quá. Không có người nghèo quá.</p>
<p>Tiện nghi công cộng được chăm sóc tối đa. Ðời sống tinh thần lành mạnh. Y tế hoàn toàn miễn phí. Giáo dục hậu trung học là cưỡng bách. Trẻ em và người già được nhà nước quan tâm đặc biệt. Những tên sát nhân đều bị xử tử. Trại trừng giới dành cho những người phạm pháp là xưởng thợ sản xuất nhu yếu phẩm. Phạm nhân được thả khi xét hạnh kiểm đã tốt. Mỗi người dân đều có sẵn giấy thông hành trong tay, có thể đi đến bất cứ nước nào, miễn là phải thông qua tòa đại sứ của nước ấy.</p>
<p>Cũng có người nói đó chỉ là một chủ nghĩa không tưởng. Ðiều kiện kinh tế, xã hội chính trị của mỗi xứ, mỗi quốc gia trên toàn cầu không giống nhau nhưng nó phải đồng bộ. Một chế độ như kiểu bình sản trước hết cần phải có một chủ thuyết, và muốn có một chủ thuyết trước hết phải có một con người cha đẻ của chủ thuyết ấy.</p>
<p>Tôi cứ như thế quanh quẩn trong các khu phố. Có lần tôi gặp Nguyễn Giang. Ðôi kính cận màu nâu trên khuôn mặt xương nhỏ, mái tóc dài thưa hơi gợn sóng. Nguyễn Giang vẫn gầy, có phần còn gầy hơn nữa. Giang viết một số ca khúc mới, làm nhạc cho phim, hát một vài nơi công cộng. Âm điệu trong nhạc anh không gì mới. Lời hát nếu có đôi bài ca ngợi cuộc sống mới thì cũng có những bài nói lên cái tạm bợ của cuộc sống. Thấp thoáng qua những lạc quan là bóng dáng của tuyệt vọng. Suốt buổi Giang uống nhiều, cái thứ rượu Bình Ðông làm ở Chợ Lớn pha trộn đủ thứ chất hóa học làm xé ruột xé gan. Cái cảnh Giang cúi xuống thùng đàn so dây, chiếc kính to mặt, gọng nâu, tụt trên sóng mũi, và những ngón tay anh run lên vì thiếu rượu vẫn ám ảnh tôi.</p>
<p>Có vẻ như Giang ngày càng xa lánh bạn bè cũ. Cùng với một người viết văn và một nhạc sĩ tập kết trở về, Giang tạo thành một bộ ba lúc nào cũng xuất hiện bên nhau ở những chốn công cộng.</p>
<p>Tâm khô-khốc-thiền-sư thì lúc nào cũng nồng nặc mùi rượu. Từ khi hay tin vợ con chết mất xác trên biển đông, Tâm vốn còm cõi càng còm cõi hơn. Chúng tôi gặp nhau ở các quán cà phê vỉa hè. Phùng đã vượt biên đường bộ qua đất Miên và Thái, mang theo một bé gái, vợ nằm nhà chờ xem tình hình ra sao. Lỡ có gì còn bới cơm thăm nuôi chồng con.</p>
<p>Lộc học tập cải tạo về đã vượt biên đến được Canada. Nghĩa biệt tăm. Ký sau ngày được trả tự do, gầy ốm hẳn, bẳn tính và chua chát. Sau cùng đã nằm chết trên bãi chỗ ghe vượt biên đã đón vợ con anh đi.</p>
<p>Tôi bây giờ đâu khác gì Ký.</p>
<p>Tôi không có gì để sống. Tôi đi lăng quăng. Nhiều khi tôi thấy mình như một con thú, có lẽ như một con chó hoang thì đúng hơn. Hai vợ chồng bác Ngô thỉnh thoảng dúi cho tôi ít tiền. Nhưng tiền không bao giờ nằm lâu trong túi tôi. Tôi bệ rạc, xơ xác. Nhiều bữa tôi nằm vùi trong nhà, mệt mỏi, như một con cá khô. Tôi ngó xung quanh thấy sao lạnh lẽo, đầy hồn ma bóng quế.</p>
<p>Tôi đã chết chưa?</p>
<p>Tôi chưa chết. Nhưng tôi thấy mình đã không còn sống. Cái xác sống. Tôi chỉ là cái xác sống.</p>
<p>Nhiều đêm tôi nghe có tiếng gõ cửa nhưng tôi không buồn ngồi dậy. Kệ nó. Chẳng phải là công an đâu. Nếu công an nó đâu để mình yên. Có lẽ một ông quen nào đó. Chờ lâu không thấy trả lời rồi họ cũng đi thôi. Thế nhưng tối nay, tiếng gõ cửa khá lâu, không có gì khẩn cấp, nhưng chắc chắn người gõ khá là kiên nhẫn. Mấy lần tôi dợm mình thức dậy. Nhưng rồi tôi lại nằm xuống. Tiếng gõ không tắt.</p>
<p>“Ông Thăng! Ông Thăng! Tôi là Phước đây!”</p>
<p>Phước? Tôi đâu có quen ai tên là Phước. Kệ nó. Phước, Phúc, Phét gì cũng kệ. Ngủ lại đi.</p>
<p>Tuy vậy tiếng gõ vẫn đều đặn gấp mà không mạnh. Sau cùng không chịu nổi, tôi bước ra mở cửa.</p>
<p>“Ông Thăng! Ông còn nhớ tôi không? Tôi là Ngô Văn Phước đây!”</p>
<p>Ánh sáng của ngọn điện đường ở đầu hẻm không chiếu rõ khuôn mặt người đối diện. Tôi hơi ngập ngừng.</p>
<p>“Người thí sinh lựu đạn đây.”</p>
<p>“Ồ, nhớ rồi!”</p>
<p>Tôi đưa tay bắt tay Phước.</p>
<p>“Vào đi, vào nhà đi!”</p>
<p>Tôi mở rộng cửa.</p>
<p>Phước bước vào. So với lần gặp Phước ở hàng bánh mì đêm trên đường Lê Lợi thì Phước gầy nhiều lắm. Tuy vậy cái khuôn mặt chữ điền cằm bạnh, hai con mắt to, chân mày rậm, gò má nhô xương và chiếc mũi gãy như vẫn còn nguyên.</p>
<p>“Tôi vừa ở tù ra, tôi có chuyến đi gấp. Tôi muốn mượn anh chị một lượng vàng.”</p>
<p>“Ngồi xuống đây đi.” Tôi kéo ghế ở căn phòng vừa dùng làm buồng ăn buồng ngủ.</p>
<p>Phước ngồi tự nhiên. Tôi thấy anh đưa tay sờ túi áo. Sau đó anh hỏi:</p>
<p>“Anh Thăng có thuốc lá không?”</p>
<p>Tôi lấy thuốc cho Phước.</p>
<p>Hồi chiều Tâm vừa cho tôi một bao ba số năm. Phước gõ gõ giọng giọng điếu thuốc lên hộp quẹt, bật lửa, châm, thở khói.</p>
<p>“Chà. Sướng gì đâu!” Phước vừa nói vừa ngó những dòng chữ trên điếu thuốc. “Anh có phải đi tù không anh Thăng?”</p>
<p>Tôi kéo ghế ngồi đối diện với Phước. Tôi cũng châm một điếu thuốc.</p>
<p>“Cũng có chút chút. Mỗi nơi vài ba tháng. Tôi vượt biên.”</p>
<p>“Anh ở tù nào?”</p>
<p>“Rạch Giá. Nha Trang. Mỹ Tho&#8230;”</p>
<p>“Tôi ở ngoài Bắc.”</p>
<p>Bỗng nhiên Phước rùng mình. Tôi thấy hai tay anh vòng trước ngực.</p>
<p>“Nhà gì lạnh quá chừng!” Phước vừa hút thuốc, nhả khói vừa ngó quanh nhà.</p>
<p>“Mà chị đâu anh?”</p>
<p>“Nhà tôi và con tôi đã vượt biên!” Tôi nghe chính giọng nói của tôi như thể là giọng của một người nào khác.</p>
<p>“Vượt biên? Còn anh tại sao anh không đi?”</p>
<p>“Tôi không đi vì lúc đó tôi còn ở tù dưới Rạch Giá.”</p>
<p>Phước đứng dậy, dập điếu thuốc hút dở xuống cái dĩa làm gạt tàn. Anh cho hai tay vào túi quần, đi qua đi lại. Căn phòng chật, chỉ bước ba bước, Phước đã đụng vách. Dừng lại trước mặt tôi, anh hỏi:</p>
<p>“Bây giờ anh Thăng làm gì?”</p>
<p>“Tôi chưa làm gì. Tôi không biết làm gì?”</p>
<p>“Vậy anh sống cách sao?”</p>
<p>Tôi sống cách sao? Tôi đi qua đi lại. Tôi đi rong trên phố. Tôi đứng ở chợ trời. Tôi uống cà phê của bạn bè. Tôi ăn cơm chực của bác Ngô. Tôi nhớ Quỳnh, nhớ con. Tôi như một thứ cây, mà nhựa sống đã bị rút hết, đứng khô héo dưới một thời tiết hạn hán. Tôi mong tin Quỳnh biết là chừng nào. Hai mẹ con đã đến đâu? Palawan? Poulo Bidong? Sungei Beisi? Songkla? Hay&#8230; Tôi không bao giờ dám nghĩ đến điều đó. “Hay”&#8230; không nên có cái chữ “Hay” đó. Mà tôi cũng chẳng biết mình có sống không, làm sao tôi biết mình có sống không, làm sao tôi biết tôi sống cách nào. Nếu sống chỉ giản dị là ăn, là thở, là đi đứng, là cười nói&#8230; có lẽ tôi đang sống.</p>
<p>Ðột nhiên, Phước dừng lại, ngồi xuống ghế:</p>
<p>“Tôi hiểu rồi! Anh Thăng. Thật tình là tôi đến gặp để mượn anh chị một lượng vàng. Tuần tới tôi có chuyến đi. Nhưng mà&#8230; tôi hiểu rồi! Anh ăn gì chưa?”</p>
<p>“Ăn rồi! Tôi đã ăn từ hồi chiều.”</p>
<p>Nhìn quanh căn buồng trống trơn, Phước hỏi:</p>
<p>“Bán hết rồi hả?”</p>
<p>“Hết. Chẳng còn gì để bán.”</p>
<p>Tôi cắn đầu điếu thuốc, đổi đề tài “Sao bây giờ mới tính chuyện đi?”</p>
<p>Phước xua tay, châm lửa đốt thêm một điếu khác. Im lặng một lúc Phước nói:</p>
<p>“Hồi giữa Tháng Tư tôi phân vân lắm không biết đi hay ở. Tôi còn nhớ rõ tờ Tiền Tuyến ngày 27 Tháng Tư có đi một cái tít dài tám cột Việt Nam Cộng Hòa sẽ không bao giờ đầu hàng cộng sản, chừng nào quân đội vẫn còn đó và vẫn còn sự ủng hộ của nhân dân. Và Tướng Kỳ đã tuyên bố trong một cuộc mít tinh lớn rằng các lực lượng của Việt Nam Cộng Hòa vẫn còn mạnh và sẽ mang lại hòa bình trong danh dự cho xứ sở. Tôi đi làm sao được. Tôi quyết định ở lại. Mặt khác hồi đó tôi không muốn khi mình tới trại tị nạn sẽ bị người Mỹ xịt thuốc DDT như xịt vào một con vật hôi tanh, như thể mình có chí, có rận hoặc có mùi nặng. Tôi nghĩ rằng chắc mình sẽ có một cái mùi mà người Mỹ sẽ không bao giờ chịu được là mùi bại trận của họ&#8230;”</p>
<p>Ngưng một lát, Phước tiếp, “Vả lại, muốn làm người tị nạn thì phải rất trẻ hoặc phải rất giàu. Trẻ thì tôi không còn trẻ và giàu thì tôi cũng chưa bao giờ giàu&#8230;”</p>
<p>“Vậy sao bây giờ tính chuyện đi?”</p>
<p>“Tôi không thể sống nổi ở đây.”</p>
<p>“Nhưng bây giờ gặp anh, để tôi tính lại. Có thể tôi sẽ hoãn chuyến đi của tôi.”</p>
<p>“Mà tôi làm gì để anh đổi ý?”</p>
<p>“Anh chẳng làm gì. Tôi đổi ý vì tôi đang nghĩ khác. Ði chậm không có nghĩa là sẽ không đi. Thôi bữa khác gặp anh.”</p>
<p>Phước đứng dậy, chìa tay cho tôi bắt.</p>
<p>Phước đi rồi tôi không ngủ được. Tôi nhớ Quỳnh và con. Tôi thấy lại khuôn mặt của Uyên, hai con mắt đen, tóc chải cao, cái trán bướng, áo hở cổ rộng, da trắng. Tôi thoảng nghe tiếng khóc của con, những ngón tay gầy, đôi mắt to trên một khuôn mặt thiếu chất dinh dưỡng. Ðứa bé ra đời trong một Saigon tan nát. Nó không chỉ đánh dấu tình yêu của hai con người, nó còn đánh dấu những tháng năm khổ nhục của cha mẹ và cả một dân tộc.</p>
<p>Tôi tưởng tượng lúc này Quỳnh đang dắt con đi trên bờ biển của một hòn đảo đầy những thuyền nhân tị nạn. Quỳnh đang xếp hàng chờ lãnh phần ăn. Quỳnh đang giặt quần áo trên tảng đá của một con suối. Quỳnh đang ôm sách đến một lớp học Anh ngữ. Quỳnh đang bị bao vây giữa những người đàn ông. Quỳnh xông pha giữa bầy cá mập. Quỳnh và con nằm bất động trên một chiếc ghe đầy những xác chết. Ghe đang trôi lềnh bềnh giữa đại dương. Quỳnh bị đưa lên một thuyền đánh cá của bọn hải tặc. Quỳnh bị đánh đập, bị hãm hiếp, bị làm đồ chơi cho bọn thú vật Thái.</p>
<p>Quỳnh giãy giụa. Quỳnh chống chọi, vùng vẫy. Quỳnh ôm chặt con vào lòng. Quỳnh cắn lưỡi. Quỳnh ôm con nhảy xuống biển. Quỳnh được một tàu buôn cứu. Quỳnh đã đổi khác. Hai con mắt căm hờn, chiếc miệng có cái răng khểnh đã khép lại vĩnh viễn nụ cười đã từng làm chết lòng tôi. Quỳnh đi đứng lo cho con như một hồn ma trên dương thế.</p>
<p>Trong trái tim Quỳnh, tôi đã biến mất như một làn khói mỏng.</p>
<p>Quỳnh không bao giờ còn nhớ tôi. Cô không muốn nhớ tôi. Tự nhiên tôi có cái ý nghĩ ấy. Ðùng một cái, cả một đất nước sụm xuống. Ðùng một cái, cả một dân tộc tan nát. Ðùng một cái, tôi đánh mất tất cả. Tình yêu của tôi, con cái tôi, gia đình tôi biến đi như những bóng mây. Và tôi, thứ rong rêu bèo bọt, một sinh vật bình thường bất ngờ bị tước đoạt tất cả, trần truồng trước cõi đời. Nhưng mà có đúng là “đùng một cái” không? Có đúng là đùng một cái gạo trong kho sạch trơn không còn một hột không? Có đúng là bừng con mắt dậy thấy mình tay không hay không? Có đúng là tự nhiên một hôm thấy mình mất sạch sành sanh, tay chân bị trói bỏ rọ không? Hôm ở nhà tù Rạch Giá, Linh Mục Minh nói với tôi rằng chính những người cầm vận mệnh dân tộc trong tay đã đẩy đất nước này đến chỗ suy sụp cùng tận.</p>
<p>Càng có nhiều quyền lực chừng nào họ càng có trách nhiệm lớn lao chừng nấy trong vụ làm mất nước. Máu của cả một dân tộc đổ xuống, xương của nhiều thế hệ xếp lại để cho cả bọn mua bán quyền lực đưa đẩy đến ngày Ba Mươi Tháng Tư Bảy Lăm.</p>
<p>Chính cái tham vọng chính trị và quyền lực của bọn cầm đầu Bắc Bộ Phủ họp với cái tham vọng địa vị và tiền bạc của bọn trong phủ Ðầu Rồng đã làm nên cuộc chiến thắng vĩ đại cho bên kia, cái thất bại nhục nhã cho bên này. “Chính cái thứ người như anh, sống lửng lơ bên lề xã hội, sống như cơm nguội và nước lạnh với cuộc đời đã góp phần vào sự tan nát này!” Ðâu phải một ngày mà sự thể nó trở thành thế kia. Lâu lắm rồi, một khi “triều đình” không biết nỗi khổ của dân đen, thì cái thế tất yếu của thất bại đương nhiên là phải đến.</p>
<p>Tôi chắp hai tay lót dưới ót, ngó lên trần nhà thấp tối om. Cây đèn hột vịt hết dầu đã tắt ngúm. Căn nhà tràn ngập một thứ bóng tối buồn bã. Tôi nhớ đến Uyên đến ông Phan, bà Phan. Uyên nồng nàn. Bà Phan kiểu cách. Ông Phan đầy tham vọng, những ngón tay tròn và mập, lòng bàn tay ướt rịn mồ hôi. Cái tiểu thư viện, nơi lần đầu tiên tôi gặp ông. Bức tự họa của Van Gogh trên tường. Những thứ ấy cùng lúc bỗng hiện ra trong trí tưởng tôi. Rồi ông Mười Tân, con người theo đuổi một thứ lý tưởng mà ông tự cho là cao đẹp tự mãn về sự chiến thắng của một chủ nghĩa như đã tìm được đáp số cho một bài toán mà dân tộc đã đặt ra cho mình. Ðáp số ấy, buồn thay, tôi nhìn kỹ, nó chẳng qua chỉ là cái âm bản của một tấm phim mà phần dương bản là cái ông đã cùng với các đồng chí ông đem chính máu xương của mình và đồng đội mình ra để tiêu diệt thôi.</p>
<p>Ðâu có gì khác khi người ta lật đổ một chế độ để xây dựng một chế độ giống như cái chế độ mà mình từ khước, phủ nhận. Cái câu nói của bà Phan vậy mà hay, “Cậu trốn nhà tù này để chui vào một nhà tù khác chứ có gì khác đâu.” Tôi nhìn ngó xung quanh nhà trống trải. Ðường sá bẩn thỉu, đầy ổ gà. Những con người lạ lẫm. Cảnh vật tiêu điều buồn bã. Những nụ cười gượng. Cái công viên trước Dinh Ðộc Lập trước kia đẹp đẽ trang nghiêm bây giờ khi bóng tối xuống đã đầy những gái ăn sương. Mà đâu phải dân chuyên nghiệp gì. Con gái của một ông giáo. Bà vợ của một sĩ quan học tập cải tạo. Những con người thất cơ lỡ vận. Cánh cửa của xã hội đóng lại trước mũi của những con người cũ. Ở trên mỗi khuôn mặt của người Saigon luôn luôn có một chữ vô hình nhưng rõ nét. Ngụy! Ngụy! Ngụy! Chỗ nào cũng Ngụy. Có học đã là Ngụy. Ðĩ điếm cũng là Ngụy. Người ta có biết đâu con số đĩ điếm đã gia tăng gần bằng thời gian quân đội Mỹ và Ðồng Minh tới Sài Gòn&#8230;</p>
<p>Tôi còn nhớ cái gì nữa? Ðăng và Mai hiện đã theo mẹ chúng đến Pháp. Cái thư hai đứa viết cho tôi đề tại Paris. Ðã đi học lại. Má đã lấy chồng, bắt tụi con kêu ông này là ba. Không được, con chỉ có một người ba thôi. Mỗi tối má giành mười lăm phút để chửi ba. Ðàn ông bội bạc. Ðàn ông tồi. Ðàn ông là rác rưởi. Ðàn ông làm má tởm. Và má lấy chồng. Người chồng mới của má tuy bề ngoài có hơi thấp lùn một chút và không được bảnh trai lắm, nhưng bù lại tánh tình dễ chịu, cần kiệm, tiện tặn, tiêu một đồng một cắc cũng suy đi tính lại “Một cái giẻ rách trong nhà cũng lưu luyến, khó mà bỏ nó được.” Ông chồng mới của má ở Âu Châu lâu năm, học hành đỗ đạt, việc làm tốt, lương cao, bổng hậu. Nhưng dè sẻn tiện tặn chẳng qua là vì có truyền thống gia đình thôi. Thế là quá tốt. Khi má chửi đàn ông có lẽ má chửi ba, chớ không phải chửi bất cứ người đàn ông nào. Má nói sao ba không ở tù chết rục trong mấy cái trại cải tạo của cộng sản.</p>
<p>Ðăng viết trong thư nói nó muốn bảo lãnh cho tôi đi Pháp mà tuổi nó còn nhỏ không thể làm giấy tờ được. Chú nhỏ nói có gặp một cô bạn gái hồi ở Sài Gòn của tôi, “Cô ấy là ma-ren của con, cô đứng tên với con ký giấy tờ với con, chở con đi chỗ này chỗ nọ làm các thủ tục để lo cho ba.” Thư đi kèm mấy cái “xét-ti-fi-ca” bảo đảm nơi ăn chốn ở cho tôi của Brigitte Huỳnh. Brigitte Huỳnh? Tôi không nhớ. Có lẽ hồi ở Saigon cô có tên khác. Dù sao Brigitte không biên cho tôi một chữ nào để nhắc kỷ niệm cũ. Có thể cô là bạn của Uyên không chừng. Nhưng không sao. Tôi hy vọng tờ giấy của Brigitte và Ðăng có hiệu lực. Tôi vẫn giữ cái thư và tờ giấy bảo lãnh trong túi, nhưng chưa nộp. Tôi cứ hẹn lần hẹn lữa. Mai đi! Mai đi! Tờ giấy đã hơi nhàu. Cái gì giữ chân tôi lại khi cầm tờ giấy này đi xuống công an quận. Có thể nó sẽ không nhận. Dù sao? Còn ông Mười Tân? Chẳng lẽ ông ta không biết rằng tôi ở tù ra? Chính ông đã vào trong tù gặp tôi.</p>
<p>Chính ông chẳng đã từng nói một người dân ngụy nào đó vượt biên mà bị bắt thì “tùy địa phương xử lý vài ba tháng đến vài ba năm, chớ thằng Thăng thì cứ cầm chắc trong tay bốn chục năm. Bốn chục năm rất khác với bốn tháng hay bốn năm!” Ông gằn từng tiếng như vậy. Tôi không rõ ông yêu cái chế độ mà ông góp công xây dựng và cái chủ nghĩa mà ông theo đuổi từ khi mới mười sáu tuổi hay ông yêu cái chỗ đứng của ông trong cái chế độ này.</p>
<p>Ông có lạc quan quá đáng chăng khi mà cái thành phố Saigon đẹp đẽ này và cả một đất nước thân yêu này mỗi ngày một lún sâu xuống cái bãi lầy của sự nghèo khốn, xót xa, đau đớn, khổ nhục. Cách mạng là đoàn tụ cho người này, chia ly cho người nọ, là sự hãnh tiến cho cái đám lau nhau này, và sự cúi đầu nghiến răng của đám kia. Cách mạng có phải là giật ngôi nhà của người này, đuổi họ ra đường để cho một tay tự xưng là từng đổ máu xương cho chủ nghĩa dọn vào. Cách mạng có phải là làm trống trải những căn nhà &#8211; kể cả những căn nhà không còn có gì để làm trống trải thêm nữa &#8211; để làm đầy những căn nhà khác. Cách mạng có phải là hạ thấp mức sống của một xã hội đang không cao gì cho lắm xuống bằng một xã hội mà cuộc sống đã bị ngưng đọng suốt hai mươi năm?</p>
<p>Tôi không hiểu chính trị là gì. Tôi là một tên dốt nát về nhiều mặt. Cả cái lũ bạn tôi, từ Tâm khô-khốc-thiền-sư, Ðình cay-chua-độc-mồm-độc-miệng, đến Nhật can đảm một cách ka-mi-ka-de&#8230; hoặc như “Lộc-Sorbonne,” “Ký-thi-sĩ,” “Nghĩa-kinh-tế.” Thằng nào cũng lãng mạn về chính trị. Lãng mạn về chính trị, ai đã nói với tôi như vậy? Tôi không nhớ. Nhưng mà có lẽ ai đó đúng. Tôi khinh bỉ cái thứ chính trị xu thời, xa lông, cái thứ chính trị bằng mồm, cái thứ chính trị được làm vua thua làm giặc.</p>
<p>Trời ơi, tưởng tượng một quốc gia tràn ngập những loại người đó kèm theo đủ loại công an và nhà tù thì nó sẽ ra sao? Mà đâu cần tưởng tượng. Tôi chỉ cần mở cánh cửa bước ra đường là tôi có thể thấy ngay rồi. Ðầu hẻm, cuối hẻm, có công an. Khu vực có công an. Ngôi biệt thự cửa đóng im ỉm có cổng sắt của một gia đình Ngụy nào đó có thể là một nhà giam. Run sợ: đó là cái cảm giác thường trực trong tôi. Và để trấn an nó, tôi thường nói không sao, không sao, tôi đâu có làm gì, tôi đâu có nợ máu với bất cứ ai. Tôi không ăn cắp, không nói dối, không giết người. Tôi sống lương thiện. Tôi không ân hận hối tiếc về những ngày tôi đã sống qua. Tôi yêu người, yêu đời. Không sống được với người đàn bà kia tôi đã thẳng thắn chia tay. Tôi yêu thương các con tôi. Tôi yêu Quỳnh và tôi sống với Quỳnh. Nếu cô không yêu lại tôi và nếu cô không sống với tôi, chắc chắn là tôi sẽ đau khổ. Nhưng tôi đã được người phụ nữ mà tôi ao ước. Tôi đã có với Quỳnh một đứa con thay vào chỗ những đứa con tôi đã ra đi. Nhưng sau cùng tôi cũng đã mất. Cái có đã trở thành cái không. Cái tự do đã trở thành tù ngục. Tôi hoang mang về lẽ tử sinh. Cái bóng tối của đêm Sài Gòn sao mà đen sệt như thế này.</p>
<p><strong>Chương Hai Mươi</strong></p>
<p>Quán cà phê là sân của một ngôi biệt thự nằm khuất sau một bờ tường cao trơ trụi. Những chiếc bàn thấp đặt dưới những tàn cây. Cà phê thơm lừng. Thứ thiệt. Bánh “ba tê sô” nóng. Chỗ ngồi mát mẻ. Ðủ mọi loại người đang trò chuyện bên ly nước đen sánh bốc khói. Một quán cà phê rất Saigon trong một Saigon đang bị chìm khuất, u ám. Nó có cái vẻ thanh bình của những năm tháng trước Bảy Lăm. Nhưng mọi người đều biết không phải thế. Chỉ cần đặt chân ra khỏi cái cổng rỉ sét kia, người ta sẽ gặp một thế giới khác, in tuồng như cái cổng là rặng núi Pyrénées mà một bên là sai lầm, còn bên kia là chân lý.</p>
<p>Vũ ngồi đối diện tôi. Hai cánh tay anh xếp lại. Một khuôn mặt vuông. Ðôi mắt tình cảm. Da mặt xanh. Cái cảm giác lần đầu khi gặp Vũ là tôi đang đối diện với một tâm hồn yếu ớt và lãng mạn. Nhưng dần dần được đọc những bài viết của anh, tiếp xúc với anh, tôi hiểu cái cảm tưởng đầu tiên ấy là sai.</p>
<p>Cái bề ngoài của một con người đôi khi chả vẽ lên được bản chất của con người đó chút nào cả. Vũ có một tâm hồn khỏe mạnh, những suy nghĩ sâu sắc và thâm thúy. Các sáng tác thơ, truyện, và nhất là kịch của anh, không những chỉ được bạn bè và người đọc, người xem ở “ngoài đó” ưa thích mà đối với dân Saigon, những người nhạy cảm cũng tìm thấy một tâm hồn đồng điệu. Bảy năm sau ngày Saigon mất tôi gặp Vũ ở một hàng sách chợ trời đường Ðặng Thị Nhu. Con đường ấy, hai đầu được chận lại bằng cái rào gỗ đóng tạm. Sách báo trước Bảy Lăm không những chỉ bày trên vỉa hè mà con tràn ra cả mặt đường. Hôm đó tôi ngồi núp sau hàng sách của Vĩnh, uống cà phê. Vĩnh trước làm ở đài phát thanh Saigon, phụ trách một chương trình ca nhạc. Anh bị tật ở chân nên không phải đi lính. Gia đình Vĩnh vượt biên hết, anh nhất định không đi. “Ðể coi thử thời thế nó ra sao.”</p>
<p>Hàng sách của Vĩnh có đủ loại Anh, Việt, Pháp, Tàu, sách, báo, tạp chí&#8230; từ những cuốn xưa cũ đến những cuốn mới nhất. Xưa như Nam Phong Tạp Chí, Tản Ðà Vận Văn, gần nhất như tạp chí Sáng Tạo, Hiện Ðại, Bách Khoa, Trình Bày, Văn&#8230; mới như các tờ Newsweek, Time, Paris Match, L&#8217;Express&#8230; có hàng tuần do những người dọn dẹp phi cơ trên Tân Sơn Nhất tuồn ra. Những tạp chí này chỉ cần cho người thuê trong vòng một tuần. Vĩnh đã lấy lại vốn.</p>
<p>Còn sách cũ khi gặp mối, do những người có giấy xuất cảnh đi ngoại quốc hoặc do những người chuẩn bị vượt biên, anh mua cả tủ sách gia đình của họ, giá rất rẻ. Và sau đó, Vĩnh giữ giá bán lời lên cả mấy chục lần. Vĩnh cũng mua sách “Lê nin toàn tập” xé ra lấy giấy bán kí lô, còn bìa đem bán cho các nhà đóng sách. Tôi quen Vĩnh qua Tâm Khô Khốc Thiền Sư. Tâm là khách hàng của Vĩnh, sau khi đã là bạn của Vĩnh. Một người đọc sách nhiều như Tâm dễ làm khách ngộp thở. Một lần vào chơi nhà bạn, tôi chỉ thấy sách và sách, báo và báo. Ở chỗ nào cũng có sách. Sau Bảy Lăm, khi chợ trời sách bắt đầu xuất hiện, trước tiên là sách Hà Nội loại hiếm, sau đó là sách Saigon, loại đã bị Sở Văn Hóa Thông Tin tịch thu vì gán cho cái nhãn hiệu phản động và đồi trụy. Tâm gặp Vĩnh, và anh trở thành người cung cấp hàng sách đầu tiên cho “ông chủ sạp” sách Vĩnh.</p>
<p>Bán hết sách, Tâm đâm ra thèm và nhớ sách. Ngày nào cũng một lần đi chợ trời sách ngắm nghía những cuốn sách của chính mình bán ra. Lật lại từng trang, sờ từng gáy sách. Cuốn nào Vĩnh bán được cũng làm Tâm đau xót. Có lúc Tâm đề nghị mua lại những cuốn mình đã bán. “Ðể làm chi? Mày bán rồi mà!” Vĩnh hỏi. “Chẳng để làm chi hết!” Có lần, tình cờ ra thăm Vĩnh, Tâm thấy một người khách đang săm soi cuốn L&#8217;Être et le Néant của Jean Paul Sartre, Tâm trả giá cao hơn người khách và lấy lại cuốn sách mà ngay trang đầu có chữ ký của anh kèm theo con số ghi rõ ngày tháng mua.</p>
<p>Từ chiếc ghế thấp sau sạp sách, vừa nhấp cà phê vừa nhìn những người qua lại mua bán sách, tôi chợt thấy một người đàn ông tròn và hơi thấp, mang dép da, mặc quần jean xanh, đang cúi xuống cuốn Bếp Lửa của Thanh Tâm Tuyền. Một lúc sau anh ta cầm lên lật từng trang đọc rất nhanh.</p>
<p>“Tôi muốn mua cuốn này.” Người đàn ông nói, mặt hướng về phía tôi. Có lẽ anh ta nghĩ tôi là chủ sạp.</p>
<p>Tôi thấy một khuôn mặt vuông vức, cằm bạnh, nước da tái, hai con mắt buồn rầu, giọng nói rõ ràng không phải là dân Saigon.</p>
<p>“Vĩnh, có người mua sách!”</p>
<p>Tôi đặt ly cà phê xuống dưới đất. Vĩnh bước ra, liếc mắt nhìn tựa đề cuốn sách và chỉ thoáng liếc thấy mắt của người khách, Vĩnh nói một cái giá mà tôi vừa nghe đã đỏ lỗ tai. Chỉ mấy năm làm nghề bán sách chợ trời Vĩnh khám phá ra cái giá của cuốn sách tùy thuộc vào con mắt của người khách.</p>
<p>“Khi người ta kết cuốn sách rồi thì bất cứ giá nào họ cũng mua.” Ðó là bí quyết của Vĩnh.</p>
<p>Người khách nói:</p>
<p>“Ðắt qua! Tôi tưởng giá vừa phải thì tôi lấy quyển này!”</p>
<p>“Ông muốn bao nhiêu?” Vĩnh hỏi lại, rõ ràng là sẵn sàng hạ giá.</p>
<p>“Tôi chỉ còn có hai chục thôi.”</p>
<p>“Không được đâu ông. Giá chót là một trăm.” Vĩnh nói chắc như đinh đóng cột.</p>
<p>Người khách đặt cuốn sách trở lại chỗ cũ.</p>
<p>“Tiếc quá. Tôi không đủ tiền.” Anh ta vừa nói vừa bỏ đi.</p>
<p>“Thôi, để tôi bớt một tiếng chót. Tám chục.” Vĩnh lại ra giá.</p>
<p>Anh ta lắc đầu, khuôn mặt vuông tái lại, nụ cười buồn. Bỏ đi.</p>
<p>“Cám ơn. Ðể chừng nào mượn đủ tiền tôi sẽ quay lại.”</p>
<p>Hôm đó tôi có tiền, không nhiều, một số tiền tàm tạm nhờ bán bộ đồ vía sau cùng, kèm theo hai lố khăn mù soa Quỳnh đã mua tặng sinh nhật tôi năm Bảy Tư.</p>
<p>Tôi đứng dậy nói với Vĩnh:</p>
<p>“Ông để tôi mua cuốn đó.”</p>
<p>Và thật nhanh, tôi chộp cuốn Bếp Lửa chạy theo người đàn ông.</p>
<p>“Sách đây ông! Người ta chịu bán giá hai chục rồi!”</p>
<p>Người đàn ông nhìn thẳng vào mặt tôi, thoáng một cái tôi có cảm tưởng như anh ta biết là tôi nói dối.</p>
<p>“Ðây, sách của ông đây!” Tôi dúi cuốn sách vào tay anh ta.</p>
<p>Ðúng như tôi nhận thấy cái thoáng mắt ấy, sau này Vũ nhắc lại chuyện cũ hỏi tôi, “Sao anh tặng sách cho tôi, khi mà mình chưa quen nhau?”</p>
<p>“Không biết. Lúc đó tôi nghĩ là tôi thích anh vì anh cũng thích cuốn sách mà tôi thích.”</p>
<p>Bẵng đi một thời gian khá lâu, tôi gặp lại người khách mua sách tại một quán cà phê với Tâm Khô Khốc Thiền Sư.</p>
<p>“Ðây là anh Vũ. Lâm Quốc Vũ. Nhà viết kịch. Và đây là Thăng, bạn tôi.”</p>
<p>Tôi bắt tay Vũ nhớ ra lần gặp gỡ ở sạp sách của Vĩnh. Vũ cũng vậy, anh nhìn ra tôi ngay.</p>
<p>“Quen nhau rồi à?” Tâm hơi ngạc nhiên.</p>
<p>“Không. Chỉ mới biết nhau thôi.” Vũ nói, “Nhưng cũng nhờ ông Thăng này mà tôi biết ông Tâm.”</p>
<p>“Tại sao?” Lần này tôi ngạc nhiên.</p>
<p>“Bởi vì, tôi đọc cuốn Bếp Lửa, in lần thứ hai có lời tựa của ông Tâm này. Nhờ đó mà tôi quen. Chẳng phải sao?”</p>
<p>“Trời ơi! Sao mà rắc rối!” Tôi đập tay lên trán.</p>
<p>Và như thế chúng tôi quen nhau.</p>
<p>Vũ nói: “Tôi sắp về Hà Nội. Người ta đang dựng một vở kịch mới của tôi. Tôi không biết vở này có được trình diễn không. Dù sao&#8230;”</p>
<p>Vũ không nói hết câu. Vở trước bị cấm sau khi diễn phúc khảo, chỉ vì Vũ đã để cho một nhân vật câu cá ở Hồ Tây khi bị công an bắt đã nói rằng: “Ông bắt được tôi chỉ vì tôi ngủ gục chứ nếu tôi tỉnh táo thì&#8230;”</p>
<p>Vũ không phải gốc người Hà Nội, nhưng cung cách của anh rất là Hà Nội xưa. Ðiềm đạm, từ tốn. Người ta nói quê anh ở Ðà Nẵng theo cha tập kết ra Hà Nội. Tại đây anh đi học rồi đi bộ đội. Ðào ngũ khi theo “quân giải phóng” đánh trận Hạ Lào. Trở lại Hà Nội, Vũ sống lêu bêu không “hộ khẩu.”</p>
<p>Người vợ trước của Vũ là một nữ diễn viên điện ảnh, sống ngay với một người khác khi anh vừa đi bộ đội.</p>
<p>Trong thời gian sống chui rúc, Vũ làm thơ viết văn. Sau khi tập thơ đầu tay ra đời, in chung với một người bạn khác, Vũ bắt đầu viết kịch. Trong tình hình sân khấu thiếu kịch bản, hai vở kịch của Vũ gửi đến tạp chí Sân Khấu trở thành bùa hộ mệnh của anh. Hội Nghệ Thuật Sân Khấu bắt được một tay có cỡ đi theo ngành này, nên đứng ra che chở anh, cho anh một chỗ ở tạm tại cơ quan tờ báo. Thế nhưng trong hai năm trời, Vũ sáng tác sáu vở, và gần như vở nào cũng có vấn đề đối với đảng và nhà nước.</p>
<p>“Hôm qua tôi vừa đi họp một hội nghị về sân khấu.” Vũ uống một hớp cà phê, “Người ta nói tự do sáng tác là điều kiện sống còn để tạo nên giá trị đích thực trong văn hóa văn nghệ, để phát triển tài năng. Tôi có nêu trường hợp mấy vở kịch của tôi bị kiểm duyệt quá kỹ, cắt xén nhiều đối thoại, thậm chí đổi cả tính cách nhân vật. Và tệ nhất là sau cùng còn cấm không cho trình diễn nữa.”</p>
<p>“Như vậy theo anh có tự do trong nghệ thuật dưới chế độ xã hội chủ nghĩa hay không?”</p>
<p>Vũ ngồi im không trả lời. Hai con mắt anh nhắm lại. Hai bàn tay mở ra. Anh ngó chăm vào những đường chỉ tay như săm soi tìm kiếm điều gì đó. Tôi đốt thuốc. Thuốc Vàm Cỏ khét nghẹt. Tôi nhớ hình như vang vọng đâu đây bài hát đang ăn khách Vàm Cỏ Ðông, Vàm Cỏ Tây:</p>
<p>Ở tận sông Hồng em có biết<br />
Quê hương anh cũng có dòng sông.</p>
<p>Mẹ, quê hương ai mà chả có dòng sông.</p>
<p>Rồi tôi nhớ tới cái anh chàng bộ đội làm thơ mà tôi đã gặp trong một quán cà phê trước ngày tôi ngồi tù. Cũng Tây, cũng Ðông. Mà không phải Vàm Cỏ. Chỉ là Trường Sơn. Anh ta nói anh ta mê tiếng hát Khánh Ly. Khi mới đặt chân tới Sài Gòn, trong cái ngổn ngang của một thành phố bị chiếm đóng, trên vai vẫn còn mang ba lô anh ta đi hỏi thăm Khánh Ly và khi biết người nữ ca sĩ mà mình ưa thích đã bỏ đi, anh ta làm một bài thơ. Câu duy nhất mà tôi còn nhớ trong bài thơ đó là: Ðã khánh tận đâu mà em ly biệt. Anh ta đã kể lại như vậy và chỉ vài năm sau, anh thấy câu thơ của mình sai. Ðã khánh tận rồi nên em biệt ly&#8230;</p>
<p>Anh ta đọc cho tôi nghe hai câu thơ của anh đã làm anh khổ sở:</p>
<p>Khói bom lên trời thành một vòng đen<br />
Trên mặt đất hiện bao nhiêu vòng trắng.</p>
<p>Cái thằng cha này coi bộ vậy mà hay. Mình đã lếch thếch kể từ khi cách mạng vô, nó là cách mạng thứ thiệt còn lếch thếch hơn mình.</p>
<p>“Này!” Vũ đập tay lên tay tôi, “Có lẽ tôi phải đi.” Anh vẫn chưa trả lời câu hỏi tôi.</p>
<p>“Ngồi lại một tí nữa thôi. Tôi cũng sắp đi mà!”</p>
<p>“Còn anh, anh nghĩ sao?”</p>
<p>“Nghĩ cái gì?”</p>
<p>“Cái mà anh gọi là tự do&#8230;”</p>
<p>“Theo tôi,” tôi nhìn người khách-bạn nói, “chắc chắn là không có chuyện tự do dưới chế độ này. Tôi chỉ thấy bích chương tuyên truyền chứ không thấy họa phẩm. Chỉ có&#8230; những cuốn sách hô hào chống Mỹ-Ngụy chứ không thấy tác phẩm văn học&#8230;”</p>
<p>“Theo tôi,” Vũ nói, “cái chính không phải là điều anh vừa nói.” Có lẽ anh thấy không tiện trả lời tôi về cái vụ có hay không có văn chương. Rõ ràng là mắt anh không đồng ý cái suy nghĩ hàm hồ của tôi. Anh nói, “Ghê tởm là sự giả dối. Hôm trước ông tổng bí thư tuyên bố cởi trói văn nghệ sĩ, kêu gọi văn nghệ sĩ phải nói lên sự thật, dù là sự thật phũ phàng. Ông ta nói. Dù thế nào các đồng chí cũng không nên bẻ cong ngòi bút của mình. Ấy vậy mà hôm sau, vở kịch tôi bị cấm trình diễn. Lý do nêu ra hết sức đơn giản: chống lại dân tộc, chống lại chủ nghĩa xã hội, phá hoại hòa bình, phá hoại nhân phẩm.”</p>
<p>“Nhưng tôi thấy kịch anh vẫn có vở được trình diễn mà!”</p>
<p>“Ừ, thì cũng có vở được trình diễn chứ. Nhưng mà, anh không thấy sao, một tình trạng độc đoán về tư tưởng như vậy, văn học nghệ thuật chỉ có khô kiệt, chứ làm sao mà nảy nở được&#8230;” Trầm ngâm một lúc, Vũ tiếp:<br />
“Ôi, chỉ cần một người suy nghĩ giùm cho mọi người, một cái đầu tối cao suy nghĩ cho mọi cái đầu khác, cũng đủ rồi!”</p>
<p>“Tôi muốn hỏi anh một câu&#8230;”</p>
<p>Vũ đặt ly cà phê xuống bàn, ngó vào mắt tôi, chờ đợi.</p>
<p>“Có bao giờ anh nghĩ tới chuyện vượt biên chưa?”</p>
<p>“Tôi có một số bạn quen đã vượt biên. Tôi không nghĩ đến chuyện đó. Tôi chọn ở lại đất nước này. Có người thân rủ tôi đi đường bộ qua cửa hữu nghị quan vào đất Trung Quốc. Tôi thấy mình không có lý gì để vượt biên. Còn anh thì sao?”</p>
<p>“Có phải anh muốn lên án những người vượt biên không?”</p>
<p>“Không. Hoàn toàn không! Tôi tin tưởng rằng những người bỏ nước ra đi đều có lý lẽ riêng của họ. Cũng như tôi, tôi tự hiểu tại sao tôi không bao giờ nghĩ đến chuyện ra đi.”</p>
<p>“Tôi thì trái lại, tôi luôn luôn nghĩ đến chuyện phải ra đi. Vợ con tôi đã đi. Bạn bè tôi kẻ trong tù, kẻ đã chết, kẻ đã đi. Người ta không đi tìm một tình bạn khi đã quá cái tuổi bốn mươi.”</p>
<p>Vũ không tiếp lời tôi. Anh cúi xuống ly cà phê như đang soi tìm điều chi trong đáy cốc nước đen sánh.</p>
<p>“Cũng chẳng ai đi lính, học nghề, theo cách mạng&#8230; ở cái tuổi nhi bất hoặc này.”</p>
<p>Vũ ngước lên, hai con mắt buồn rầu của anh ngó chăm vào mắt tôi.</p>
<p>“Tôi vừa mới qua cái tuổi ba mươi. Tôi đoán chừng tôi thua anh đến dăm ba tuổi. Cũng như anh, tôi đã hai lần lập gia đình. Nhưng vào trong Nam này tôi mới biết tôi đang có trong tay quá nhiều cái đáng xem, đáng nghe, đáng nói và đáng viết. Nhưng xem vậy mà chả biết thế nào là đủ cho một người cầm bút.”</p>
<p>Tôi có kể cho Vũ nghe về tôi. Hai lần lập gia đình của đời tôi là hai lần thất bại. Người đàn bà đầu tiên đã đến với tôi bằng tình yêu và chia tay tôi trong thù hận. Những đứa con chung của chúng tôi trở thành cái thùng đựng những lời nguyền rủa của bà mẹ căm ghét người cha của chúng. Tôi không hiểu tại sao. Tôi tìm kiếm cho người đàn bà ấy lý do để căm thù tôi và tôi thấy có quá nhiều lý do để tôi khinh bỉ bà ta. Ðể tỏ ra mình cao thượng, tôi cố thấy mình có lỗi.</p>
<p>Người ta không thể buộc tội một người cha quá yêu con, người ta cũng không thể lên án một người đàn ông lúc nào cũng chăm sóc gia đình nhà cửa. Người ta càng không thể trách cứ một người chồng không hề biết ghen là gì. Tôi không nhìn ra rằng tôi có một tội rất lớn đó là sự không biết làm ra tiền trong một xã hội mà đồng tiền là thước đo của mọi giá trị. Mãi về sau này, khi tôi đã mất thêm người đàn bà thứ hai &#8211; cứ cho việc Quỳnh bỏ đi vượt biên như là một hình thức chạy trốn tôi &#8211; tôi còn nghiệm ra rằng thật ra tôi là một thứ người không biết yêu. Trong trái tim tôi, mọi thứ đều nhòa nhạt như thể tất cả đều chìm dưới một làn mưa. Cái nhìn của tôi bao giờ cũng phải lọc qua một tấm kính đục mờ.</p>
<p>Tôi không yêu nổi chính con người tôi, tôi còn có thể yêu nổi được ai. Và như vậy nếu không ai yêu tôi, không yêu nổi tôi, điều đó cũng chẳng có chi là lạ. Những biến cố chính trị và thời sự có tác động đến nếp sinh hoạt tôi, nhưng hình như vẫn không làm thay đổi con người tôi: Tôi dửng dưng với tôi.</p>
<p>Tôi nhàm chán tôi. Ngay cả trong tình bạn tôi cũng thiếu luôn cái nồng nhiệt và tận tụy. Tôi yêu một người bạn, không có nghĩa là tôi cứ phải gặp gỡ anh ta, cứ phải bênh vực những điều anh ta suy nghĩ, làm hay nói ra. Tôi yêu một người bạn có nghĩa là tôi giữ lòng quý trọng bạn, ngay cả trong khi tôi chống bạn. Tôi có đúng chăng, tôi không biết. Bạn bè tôi đã đi tản mạn. Người duy nhất tôi còn gặp là Tâm. Một người còm cõi, đen đúa. Hai con mắt sâu hoắm trên một khuôn mắt nhô xương. Một dáng tất bật. Một nụ cười rất buồn. Những ngón tay vàng khói thuốc&#8230;</p>
<p>Chính Vũ tìm đến Tâm và nói cho anh biết là Vũ thán phục bài viết của anh. Và Tâm cũng nhận ra rằng anh đang đối diện với một tài năng. Vũ kể người vợ trước của anh là một diễn viên điện ảnh. “Cô ta đẹp lồ lộ và yêu tinh lắm.” Họ có với nhau một đứa con trước ngày Vũ đi bộ đội. Khi được lệnh theo quân đi chiến dịch Hạ Lào, Vũ đào ngũ. “Không, người ta sinh ra không phải để chém giết nhau,” Vũ luôn luôn nghĩ như vậy.</p>
<p>Anh sống chui rúc từ nhà người bạn này đến nhà người quen khác. Những căn “hộ” vốn chật hẹp, không tới chín thước vuông mà chứa đến bốn năm con người, chỗ nằm cũng là phòng khách, là bàn viết, là bếp núc, là thứ gì cũng được. Sau cùng Vũ chui vào hội Nghệ thuật Sâu khấu. Anh viết một kịch bản. Tác phẩm như một tấm giấy tùy thân, như cái nón che đầu. Vũ tìm được một chỗ để thở là một góc trong căn phòng làm việc của hội để đêm đêm có chỗ trải chiếc chiếu, giăng cái màn.</p>
<p>Người đàn bà thứ hai Vũ yêu và rất yêu anh là một phụ nữ bình thường. Chị mồ côi từ lúc còn rất bé. Chị sống gian khổ và lập gia đình với một đảng viên cao cấp. Ðó là một người chồng giả dối. Y húc vào đời chị như một con heo húc mõm vào chậu cám. Y nói chuyện đạo lý trong khi y đi đến đâu để con rơi con rớt đến đấy. Y luôn mồm đăng đàn diễn thuyết nói về người phụ nữ đã được giải phóng, trong khi chính chị là nạn nhân của những hành vi thô bỉ của y. Y sống trong một căn nhà khá rộng so với nhiều cán bộ đảng viên ở Hà Nội. Y hưởng chế độ đặc biệt: mua bán ở những quầy hàng đặc biệt với hàng hóa thực phẩm có phẩm chất cao với giá rẻ. Và chị chỉ là con vật phục vụ cho hắn từ nhà bếp đến cái giường. Chị làm quen với Vũ khi lần đầu tiên xem kịch anh ở Hà Hát Lớn. Chị là một phụ nữ đặc biệt. Chị thắm thía những lời nói và suy nghĩ của nhân vật trong kịch của Vũ. Chị nói anh nghe những điều chị nghĩ về kịch của anh. Và họ yêu nhau. Người chồng đảng viên cao cấp của chị biết. Y đưa nội vụ ra “tổ chức.” Vũ bị công an “hỏi thăm.” Chị tiếp tục bị y hành hạ. Y nhốt chị trong nhà như người ta nhốt một con chó. Các vở kịch của Vũ bị soi mói từng dòng, từng chữ. Các nhân vật của Vũ bị giải thích là ám chỉ “các đồng chí lãnh đạo kính mến,” phỉ báng lãnh tụ, coi thường những thành quả to lớn của cách mạng, đi chệch hướng, tư tưởng lệch lạc, văn chương theo “chủ nghĩa hiện đại&#8230;”</p>
<p>Nhưng tình yêu họ mạnh hơn mọi sự áp chế. Hai người được bạn bè bao che, gỡ bỏ dần những sợi dây trói buộc họ về mặt chính trị. Họ sống với nhau như thể hai người trẻ tuổi lần đầu tiên gặp nhau và yêu nhau.</p>
<p>“Vả lại,” trầm ngâm một lúc lâu, Vũ tiếp, “cũng như anh, tôi không thể nào đi học một cái nghề vào cái tuổi đã không còn trẻ nữa. Ngay như ở đây, tại Sài Gòn này, mà tôi còn thấy mình sống còn khó huống gì là đến một nước Tây phương&#8230; Nhưng mà, anh Thăng này, tôi có điều muốn hỏi anh&#8230;”</p>
<p>Vũ ngập ngừng, lấy cái thìa ra khỏi ly cà phê, đặt xuống thành dĩa:</p>
<p>“Anh nghĩ gì về tôi khi anh rủ tôi vượt biên? Anh không sợ sao?”</p>
<p>“Anh có nghĩ rằng anh là người đáng cho tôi sợ vì anh có can đảm bán đứng một người bạn không?”</p>
<p>Vũ không trả lời tôi. Anh bưng ly cà phê lên chiêu một ngụm.</p>
<p>“Không khí ở đây êm đềm quá nhỉ?”</p>
<p>“Nhưng mà ở ngoài kia, anh có biết mỗi căn nhà của bốn triệu dân thành phố này đang có bao nhiêu là sóng gió. Cả cái miền Nam này biết bao nhiêu là tủi nhục xót xa, chia lìa và chết chóc.”</p>
<p>“Anh đừng quên cả miền Bắc từ năm Năm Mươi Tư mười mấy triệu con người cũng đã sống như thế. Sống như thế gần ba chục năm trời rồi. Và không biết còn đến bao giờ nữa&#8230;”</p>
<p>“Như vậy theo anh, chọn ở lại phải chăng là để chịu đựng một đời sống như trong một trại súc vật?”</p>
<p>“Tôi không nghĩ vậy. Chọn ở lại có nghĩa là tôi không muốn nhìn thấy cái đất nước này là một trại súc vật.”</p>
<p>“Liệu có ai làm nổi chuyện này không?”</p>
<p>“Liệu còn có con người nào chịu suy nghĩ và muốn làm điều đó không?”</p>
<p>Tôi nhìn Vũ. Ðôi mắt anh đỏ, hai con mắt lấp lánh màu xanh trong. Cái vẻ thư sinh của anh đã đánh lừa tôi. Vũ là một con người dũng cảm.</p>
<p>“Có lẽ tôi phải đi.” Tôi nói với Vũ, sau khi đặt tiền lên mặt bàn.</p>
<p>“Bao giờ anh lên đường?” Vũ nhìn thẳng vào mắt tôi, “Tôi hỏi câu này không tế nhị, nhưng tôi muốn từ giã anh&#8230; không biết lần sau tôi vào Sài Gòn tôi còn có dịp nào gặp lại anh nữa không?”</p>
<p>“Chưa. Tôi không đủ phương tiện để đi. Nhưng nếu gặp cơ hội, chắc tôi sẽ không chần chờ đâu.”</p>
<p>“Chúc anh Thăng may mắn.” Vũ đứng dậy bắt tay tôi.</p>
<p>“Còn anh, anh muốn tôi chúc điều gì?”</p>
<p>“Chúc cho tôi có thì giờ và không ngồi tù.”</p>
<p>“Xin chúc cho anh như vậy đi!”</p>
<p>Tôi đứng dậy, bắt tay Vũ.</p>
<p>“Anh có muốn tôi đưa anh về không?”</p>
<p>“Cám ơn, tôi có xe!”</p>
<p>Tôi nhìn theo Vũ đẩy xe ra cổng. Hai tay giữ ghi đông, chân trái đặt trên pê đan, anh nhấp nhấp lấy đà và vòng chân phải qua bánh sau. Vũ đạp xe về phía ngã tư Duy Tân.</p>
<p>Tôi không biết rằng đó là lần cuối cùng tôi gặp anh.</p>
<p><strong>Chương Hai Mươi Mốt</strong></p>
<p>Vừa kéo chốt cổng bước lên thềm sân, tôi nhìn thấy mấy bao thư nhét giữa bản lề cửa. “Quỳnh!” Ý nghĩa đầu tiên của tôi đó là những lá thư của Quỳnh. Không thể là thư của ai khác. Mấy bữa nay đêm nào nằm mơ tôi cũng thấy cả căn buồng ngủ tôi tràn ngập những lá thư của Quỳnh. Những lá thư với nét chữ cứng và mạnh, và nhọn,&#8230; những tấm ảnh màu chụp Quỳnh đang đứng trước một dãy nhà lụp xụp của trại tị nạn, ảnh Quỳnh đang bế con chen chúc xếp hàng giữa một dòng người, đứa bé còi cọc bám vào bầu ngực lép của một bà mẹ xanh xao. Thư của Quỳnh, đó là nỗi ám ảnh của tôi. Tôi cúi xuống. Có tất cả ba cái. Một cái có dấu ấn bưu điện Hoa Kỳ, một cái có con tem lạ hoắc. Và một cái ở Nha Trang.</p>
<p>Không thư nào có dòng chữ của Quỳnh. Tôi không vội vàng. Tôi mở cửa vào nhà. Nhà trống, ẩm mốc, lạnh lẽo. Tôi ngồi xuống chiếc ghế mây, gác hai chân lên vì cửa sổ. Tôi lật qua lật lại từng bao thơ.</p>
<p>Thư Hoa Kỳ của Uyên. Thư Nha Trang của bà chị dâu. Cái thư kia lạ quá tôi đoán không ra. Bao thư đề tên và địa chỉ người gửi. Chữ viết có vẻ là của một người ngoại quốc hơn là của một người Việt Nam.</p>
<p>Tại sao không có thư của Quỳnh?</p>
<p>Tại sao? Tại sao?</p>
<p>Tôi không hiểu. Tôi không có câu trả lời.</p>
<p>Tôi để nguyên cả quần áo và dép ngã xuống giường, mấy là thư bỏ trên ngực, hai tay vòng xuống ót. Tôi chưa muốn đọc thư ngay.</p>
<p>Tại sao Quỳnh không biên cho tôi một chữ? Bao nhiêu người vượt biên chỉ hai ba tháng sau là người ở nhà nhận được tin, tại sao tôi không nhận được một chữ nào của Quỳnh? Em còn sống hay em đã chết? Hải tặc? Cá mập và biển cả? Em đã cố quên tôi, đã xóa tôi trong trí nhớ em hay em đã bị những tên cướp biển Xiêm La hãm hại đưa vào đất Thái bán cho&#8230;? Hay em đã là mồi ngon của cá mập, và mộ chí em là cái đại dương bao la xanh thẳm kia? Tôi mở lá thư của Uyên. Thư của một người con gái đã một thời chia sẻ da thịt cùng tôi. Uyên. Bà Phan. Ông Phan. Quyền lực và sắc đẹp. Bàn tay mập, mềm, ướt rịn mồ hôi của ông Phan. Cái thư viện nhỏ âm u đầy sách vở. Bức tranh Van Gogh. Tác phẩm Sứ Quân của Niccolo Machivelli. Uyên. Tấm thân mềm mại nóng hổi ngọn lửa của da thịt. Hình như lúc đó tôi có trong tay ôm cả Uyên và Quỳnh. Tôi có một tình yêu đầy nhục cảm. Tôi có sự dâng hiến và cả sự thụ nhận. Tôi tưởng như mình luôn luôn là một cái gì tràn đầy. Ðời sống tôi thuở đó không có một lỗ hổng để cần phải lấp. Ðời sống tôi bây giờ không có một cái gì dù nhỏ nhoi để có thể đặt vào một chỗ khiêm tốn trong cái lỗ hổng kia. Tôi xé lá thư. Nắng chiều hắt qua song cửa sổ chiếu dọi lên tờ thư. Thư viết khá dài nhưng chia làm hai phần rõ rệt. Phần bà Phan gửi cho tôi và phần của Uyên gửi cho Quỳnh. Bà Phan hỏi thăm gia đình tôi hiện nay sống ra sao, tôi và Quỳnh đã có cháu nào chưa. Tôi có ý định “đi thăm bác Phan” không. Cần bao nhiêu để đi bà sẽ gửi. Bà viết bóng gió cho tôi biết là mọi phí tổn cho chuyến đi của gia đình tôi bà sẽ chịu, miễn là tôi và Quỳnh có thể đến thăm được hai bác Phan. Cuối thư bà cũng nhắc là nếu ai nhặt được thư này xin làm ơn trao lại giùm cho Trần Lâm Thăng trước ở địa chỉ này này&#8230; “Bác nhớ cháu lắm! Bao giờ bác cũng nghĩ tiếc cho cháu, tiếc cho cái sự bướng bỉnh kỳ cục của cháu. Giá mà cháu nghe lời bác có phải bây giờ đã yên thân không!”&#8230; Bà Phan đã viết như vậy. Phần gửi Quỳnh là của Uyên. Uyên cho biết cô đã đi học lại và đã ra trường, đã đi làm. “Bây giờ em đã trưởng thành rồi!” Mùa đông ở Virginia chán lắm. Tuyết, tuyết và tuyết. Ở xứ nóng người ta cứ mở mình ra, còn ở xứ lạnh, người ta luôn luôn thu mình lại.</p>
<p>Uyên nói tuổi trẻ đôi khi có những hành động điên rồ, nhưng bao giờ nghĩ lại những hành động điên rồ ấy cũng thấy thích, không tiếc nuối, không ân hận. “Có lúc em đã yêu anh Thăng. Tưởng chừng nếu không có anh ấy chắc em sẽ chết mất. Nhưng mà, chị thấy không, bây giờ em vẫn sống. Có lẽ em sẽ lấy một người chồng Mỹ. Ðàn ông Mỹ dẫu sao vẫn dễ thở hơn. Chúc Quỳnh hạnh phúc bên một ông chồng đầu óc lúc nào cũng như một người đi trên mây!” Cũng như thư bà Phan, Uyên hỏi thăm Quỳnh có cháu nào chưa, biên thư cho cô, cô sẽ gửi quà cho cháu. “Ở bên này quần áo trẻ con rất đẹp. Nếu Quỳnh sanh con gái đặt tên là Uyên nhé!”</p>
<p>Tôi nhớ in hình lúc quen Uyên tôi chưa bao giờ nghe cô gọi tôi là người đi trên mây. Uyên chỉ gọi tôi một lần là kẻ tà đạo. Và cái buổi tối ở ngôi biệt thự của ông Phan, trong căn phòng riêng của tôi với cửa sổ mở ra đã thấy những cành lá của cây trứng cá thò vào kêu gọi, chúng tôi yêu nhau như hai con thú hoang. Và khi Uyên gối đầu trên vai tôi, những sợi tóc ngắn làm tôi nhột, cô nói, “Này, kẻ tà đạo, em chỉ muốn giết anh thôi, tại vì anh là của em, phải không?” Lúc đó Uyên đã cắn gần như nát vai tôi. Những dấu răng của cô cắm sâu vào da thịt tôi, rướm máu, cả một tuần lễ sau vẫn còn bầm tím. “Ðể cho anh nhớ rằng anh là của em, luôn luôn là của em, bất cứ lúc nào, bất cứ ở đâu cũng vẫn là của em!” Vậy mà,&#8230; không, cũng chẳng làm sao. May mà cô ấy vẫn còn nhớ đến mình, dù chỉ là nhớ bằng chút trí nhớ khiêm tốn lạnh nhạt.</p>
<p>Cái thư thứ hai là của bà chị dâu tôi ở Nha Trang. Chị cho biết chị vừa ra Bắc thăm thằng cháu lớn. Ði tàu lửa Thống Nhất, khổ cực lắm, bị cướp giật, bị xô đẩy, quà thăm nuôi cho cháu bị vơi đi một phần vì bị bọn ăn cắp giật trước mặt chị, ngay dưới chân chị. Ðường đến trại giam của cháu, chị phải đi bằng xe bò. “Thằng Hải ốm tong teo như một bộ xương cách trí. Mấy lần gửi quà bằng bưu điện nó không nhận được, vì trại A và trại B có hai tù cải tạo cùng tên là Trần Lâm Hải, cho nên quà của Hải ở trại A đều được trao cho Hải ở trại B. Vì vậy, lần nào gặp cháu, hai mẹ con chỉ còn có nước mắt, mà thật ra cũng chả còn dư nước mắt đâu mà khóc nữa. Chị nói nhưng mà Hải nào cũng là con cháu và anh em chúng ta, thằng Hải nhà mình ăn hay Hải khác thì cũng vẫn là những con người ‘ngụy’ đang lâm nạn của chúng ta thôi. Sau đó hai mẹ con ôm nhau cười.” Chị cũng kể một câu chuyện thương tâm mà chị nghe được trên đường từ Bắc trở về. Nó còn địa ngục hơn là địa ngục chị đang sống.</p>
<p>Một người bộ đội từ miền Nam lấy được mấy ngày phép về thăm bố. Mẹ anh ta đã qua đời khi anh ta đi chiến trường B. Gia đình chỉ còn một bố một con. Mười năm đi bộ đội, lặn lội từ chiến trường này đến mặt trận kia, thoát chết nhiều lần trong đường tơ kẽ tóc, cho đến ngày lấy Sài Gòn, anh mua được một “chiếc đài” định bụng mang về biếu cho bố. Anh ta biên thư trước báo cho bố biết sẽ về thăm nhà, nhưng không nói rõ ngày nào, vì thủ trưởng đã hứa, nhưng cứ hẹn lần hẹn lửa là công tác khẩn trương, hết chiến dịch đánh tư sản mại bản đến chiến dịch đổi tiền, linh tinh đủ thứ. Sau cùng anh ta lấy được phép. Từ Sài Gòn, anh ta đi tàu Thống Nhất về Hà Nội. Tại Hà Nội anh mượn chiếc xe đạp của em gái người bạn cùng đơn vị và cùng được phép về một chuyến. Nhà anh tuy thuộc một vùng quê nhưng không xa Hà Nội là bao. Anh cho bạn biết thăm bố, biếu bố cái đài xong ở chơi với bố một hôm rồi ra Hà Nội ngay. Ngày phép còn ít nhưng anh ta yêu cô em gái người bạn. Anh ta muốn lợi dụng thời gian còn lại để tìm hiểu nhau.</p>
<p>Nhưng người bạn anh ta chờ hết ngày này sang ngày nọ, phép chỉ còn có một ngày mà vẫn chưa thấy bạn về. Sốt ruột anh ta đi tìm bạn. Ðến nhà nhưng không gặp ai, anh thấy chiếc xe đạp của cô em mình dựng trong nhà yên lòng ngồi chờ.</p>
<p>Mãi sau, người bố bạn về. Anh hỏi ông cụ “ngày phép đã hết sao anh ấy chưa chịu ra Hà Nội rồi trở lại đơn vị với cháu một thể?” Người bố hỏi lại, “Nó về hồi nào? Tôi cũng đang mong nó đây!” Anh không hiểu gì hết, đứng dậy đến bên chiếc xe đạp hiệu Phượng Hoàng. Một chiếc pê đan bị gãy. Cái vết cào ở cây đòn dông có vết chữ P là tên Phương em gái anh. Không thể nhầm được.</p>
<p>“Nhưng mà thưa bác anh ấy đã lấy phép về cùng ngày với cháu. Chiếc xe đạp này là của em cháu!”</p>
<p>Ông bố nghe xong lặng người, đầu gục xuống, hai tay bưng mặt. Một đỗi, không lâu lắm, bất ngờ ông đứng bật dậy chạy tuôn ra cửa băng ngược về phía bờ sông. Ông vừa chạy vừa hét tán loạn, “Bố giết con rồi! Con ơi, bố giết con rồi!” Chỉ hỏi tôi rằng chú là người ưa đọc sách có bao giờ chú được đọc một tác phẩm văn chương mô tả một thảm kịch tương tự như vậy chưa? Thành ra chuyến đi thăm cháu Hải ở Vĩnh Phú, mặc dù đầy nước mắt của hai mẹ con &#8211; Hải bị liệt không đi nổi, người ta phải võng cháu ra để chị đưa quà cho cháu &#8211; chị vẫn thấy thật ra mình chưa đến nỗi bi thảm lắm. Chị viết có lúc buồn quá, vì hai đứa con bị đi cải tạo tận ngoài Bắc, chồng thì chết, nhà thì bị chế độ mới chiếm đoạt, nhưng nghĩ lại nếu chị buông tay thì đám con của chị sẽ ra sao. Chị phải sống. Ít nhất còn có ích cho mấy đứa con. Bao giờ chúng được trả tự do hết hẳn tính. “Một trăm năm nữa nếu mấy cháu còn ngồi tù tôi cũng vẫn cứ chờ chúng nó.”</p>
<p>Một trăm năm nữa nếu con còn ngồi tù bà mẹ sẽ vẫn chờ. Tôi tin chị. Chị là chị dâu tôi nhưng chị giống mẹ tôi một cách lạ lùng, như thể chị chính là mẹ tôi, là hòn máu, là khúc ruột của mẹ tôi. Chìu chồng, lo cho con, chị hoàn toàn quên mình. Thư chị viết cho tôi khá dài nhưng tôi có cảm tưởng, sau khi đọc xong, rằng chị muốn nhắn một điều gì khác hơn là sự kể lể chuyến đi ra Bắc thăm cháu Hải.</p>
<p>Tôi lật qua lật lại tờ giấy viết thư màu vàng xỉn và mỏng lét, cái bao thư còn nghèo nàn hơn như làm bằng rơm rác. Cuối lá thư chị hỏi thăm Quỳnh và cháu có khỏe không, đang làm gì để sống. Chị không biết là Quỳnh đã bế con đi, chị càng không biết tôi từ nhà tù ra. Câu chuyện chị kể nghe tưởng như là kịch bản Ngộ Nhận của Albert Camus, hay xưa hơn, Vua Lear của Shakespeare. Cái ghê gớm là nó xảy ra trên đất nước mình, ngay trong đời sống mình. Nó không ở trong trang sách. Nó không ở trên sân khấu. Thảm kịch ấy đang diễn ra vô số, khắp nơi trên quê hương mình. Ðất nước gì mà mỗi người cứ y như là một diễn viên. Người ta giả với nhau hết. Giả nhân, giả nghĩa, giả hình. Chế độ nói những lời đạo đức, người thừa hành nói những lời đạo đức. Chỉ có hành động là ngược lại thôi. Giáo dục là hàng đầu nhưng thầy giáo cô giáo phải đạp xích lô hoặc bán xôi để kiếm thêm cái sống, và trẻ con thì mở miệng là chửi thề suốt. Ông Mười Tân có lần nói những cái tiêu cực đó là điều xấu xa dễ hiểu. Nhưng nó chỉ là hiện tượng. Bản chất của chế độ là tốt, dứt khoát là tốt. Một lần tôi theo Quỳnh đến thăm ông Mười Tân, đúng ra là đến nhờ vả ông Mười Tân, giúp cho ba Quỳnh sớm ra tù.</p>
<p>Ông cụ bị nhốt hai năm vì tội tư sản mại bản. Ông Mười Tân không có nhà. Ông đi họp ở Hà Nội. Chị Mười nằm trên võng vườn sau. Nhà là một ngôi biệt thự xưa.</p>
<p>Tôi bấm chuông và chờ đợi khá lâu mới nghe tiếng dép đạp trên những hòn sỏi. Cánh cổng sắt nặng nề nhích ra và một khuôn mặt đàn ông lạnh nghiêm hỏi tôi hỏi ai. Quỳnh nói tên ông Mười. “Có chuyện gì?” Quỳnh nói “Chuyện nhà.” Ông ta lắc đầu, “Chú Mười đi Hà Nội chưa về.” “Tôi muốn được gặp chị Mười.” Quỳnh tiếp, giọng bực bội. “Nhưng anh chị là ai?” Tôi thọc tay vào túi quần ngó lên trời.</p>
<p>Buổi chiều đang xuống. Trời còn sáng nhưng mưa lất phất. Tôi nghe Quỳnh nói tên. “Xin anh chị chờ.” Tiếng sỏi khua dưới chân lạo xạo. Một đỗi lâu tiếng bước chân trở ra, cánh cổng mở. “Mời anh chị vào.” Tôi dắt chiếc Honda đi sau Quỳnh.</p>
<p>Con đường rải sỏi. Sân trước rộng. Một hồ nước lớn có thả sen. Những bụi hoa dọc theo đường. Tường cao. Tôi nhớ ngôi biệt thự của ông Phan mà tôi đã đến, đã ở, đã quen. Ông Mười Tân và ông Phan. Tại sao có những trùng hợp kỳ lạ? Tôi luôn luôn là kẻ đứng mấp mé bên cạnh những người quyền lực và những người giàu sang. Tôi có phải là kẻ ưu thích tiền bạc và quyền lực không? Tôi biết tận trong thâm tâm tôi câu trả lời là không. Tại sao tôi phải ưu thích những thứ mà nếu không có nó tôi vẫn tồn tại. Mà tồn tại để làm chi? Nhiều khi tôi tự hỏi như vậy. Tôi lớn lên trong chiến tranh và tôi đang thấy mình sắp chết trong một cuộc chiến. Bao nhiêu người cầm súng chiến đấu cho bên này, bao nhiêu người cầm súng chiến đấu cho bên kia. Những ông Phan và ông Mười Tân, không ai nghĩ kẻ khác yêu nước hơn mình. Trong cái ánh mắt lấp lánh tia nắng quyền lực của hai ông, tôi thấy phản chiếu thứ bóng tối của sự chết. Người ta làm việc tranh đấu và hy sinh là đi tìm cái sự sống, sự sống, chứ đâu thể là đoạt cho được cái chết, sự chết. Bàn tay luôn luôn ướt rịn mồ hôi của ông Phan và cái vết sẹo lớn trên trán kéo xuống tận mắt trái chẻ ngay đường chân mày của ông Mười Tân là những điều làm tôi sợ. Có lẽ họ cũng bằng tuổi nhau. Mái tóc ông Phan lốm đốm bạc khi tôi gặp ông lần đầu &#8211; có lẽ bây giờ đã bạc trắng như mái tóc của ông Mười Tân.</p>
<p>Có lẽ hai người đã có lần gặp nhau, đã cùng đi với nhau trên một con đường, và sau đó họ chia tay nhau mỗi người một ngả. Một người bên này, một kẻ bên kia. Và đó là đời sống sao? Tôi không muốn hiểu nữa. Mặc kệ.</p>
<p>“Có cậu Thăng ở nhà không?”</p>
<p>Ai như tiếng bác Ngô hàng xóm. Tôi chồm dậy.</p>
<p>“Cậu Thăng! Cậu Thăng!”</p>
<p>Tôi mở chốt cửa. Bác Tư gái đứng trước sân, tay cầm lá thư, sững sờ nhìn tôi.</p>
<p>“Trời ơi! Cậu Thăng, sao cậu ra nông nỗi này!”</p>
<p>Bà làm tôi ngạc nhiên. Tôi có làm sao. Sao tôi lại ra “nông nỗi này” là thế nào.</p>
<p>“Cậu như một người chết đuối mới vớt lên vậy?”</p>
<p>“Mời bác vào chơi!” Tôi sực nhớ mình vẫn đứng chận cửa.</p>
<p>“Ờ! Tôi có tin mừng, tôi muốn cho cậu hay tôi có tin mừng.” Bà Tư giơ lá thư trước mặt tôi. “Hai đứa nó tới được bình an rồi.”</p>
<p>“Mừng hai bác!” Tôi ngó lá thư trên tay bà Tư.</p>
<p>“Ðây cậu đọc đi, cậu Thăng!” Bà Tư đưa lá thư cho tôi và ngồi xuống ghế.</p>
<p>Tôi với tay mở cửa sổ. Ánh sáng rọi vào, căn phòng xông lên một mùi ẩm mốc. Thư viết khá dài, chữ chi chít, kể lại chuyến đi hãi hùng và những hành động dã man của bọn hải tặc Thái.</p>
<p>“Mừng hai em đã đến!” Tôi đưa trả bà Tư cái thư.</p>
<p>“Cậu xanh quá đi. Mà cậu đi đâu biệt tăm biệt tích bấy lâu nay vậy?”</p>
<p>“&#8230;”</p>
<p>“Mấy tuần rồi tôi nhìn sang nhà cậu thấy cửa đóng im ỉm. Mà ban đêm cũng không thấy ánh đèn. Tôi tưởng cậu đã đi được rồi. Tôi mừng&#8230;” Ngừng một lát, bà tiếp “Mà cậu có được tin tức gì của mẹ con cô Quỳnh chưa?”</p>
<p>Tôi nhìn bà Tư, lắc đầu. Chắc hồi nhỏ bà phải là một cô gái đẹp. Hai con mắt bà trong và to, nụ cười, nước da và cử chỉ khoan thai của bà làm tôi nhớ đến mẹ tôi.</p>
<p>Mẹ tôi đã qua đời, mẹ Quỳnh cũng vậy. Bà Tư có lẽ cùng tuổi với mẹ Quỳnh và có lẽ nhỏ hơn tuổi mẹ tôi. Nhưng tôi kính yêu bà như kính yêu mẹ tôi. Cái vẻ từ mẫu nơi bà làm tôi ấm áp và an toàn. Tất cả những căn nhà trong con hẻm lầy lội này chỉ một nơi tôi có thể đặt chân được là căn nhà của ông bà Tư. Những lo âu của Quỳnh, những sợ hãi của tôi, chúng tôi không biết nói với ai ngoài ông bà. Có lẽ nếu cha mẹ tôi còn sống tôi cũng không tận tình phơi ruột phơi gan như đã làm như vậy với ông bà Tư.</p>
<p>“Thưa bác, chưa.”</p>
<p>“Ờ, mà để coi. Mới có ba tuần. Chắc chưa đâu!” Bà an ủi tôi.</p>
<p>“&#8230;”</p>
<p>“Mà thôi. Chút cậu qua nhà ăn cơm với tụi tôi. Tụi nhỏ đi rồi nhà vắng quá!”</p>
<p>“Cám ơn bác. Cháu còn no lắm. Nhưng chút nữa cháu sẽ qua.”</p>
<p>Chớm đứng dậy định bước ra cửa, bà quay lại:</p>
<p>“Ờ mà quên, có người gửi cho cậu một cái thư tay. Ðể tôi về nhà lấy cho cậu.”</p>
<p>“Cám ơn bác, để cháu đi lấy.”</p>
<p>Tôi theo chân bà Tư. Tôi hi vọng. Hy vọng điều chi thì tôi không biết, nhưng tôi hi vọng biết là bao nhiêu!</p>
<p>Ông Tư đang đốt nhang bàn thờ Phật. Bà Tư vào buồng trong lấy thư cho tôi.</p>
<p>Con hẻm chạy vào khu Mã Lạng hôm nay vắng. Nước từ ống cống tràn lên đọng ở những chỗ hủng.</p>
<p>“Thơ cậu đây!”</p>
<p>“Cám ơn bác.”</p>
<p>Tôi cầm cái thư. Ðúng là thư đề tên tôi. Nhưng thư không dám tem. Ở góc trái tôi đọc được tiêu đề của Tòa Tổng Lãnh Sự Pháp tại thành phố Hồ Chí Minh. Người gởi: ông Thierry Rousselin. Khó hiểu. Tôi không thể chờ đợi. Tôi xé thư. Tụi Tây nó gọi mình lên phỏng vấn cho đi chăng? Cái giấy khai sinh giả mua lại của một người đàn bà béo mập có ông chồng gầy nhom như một cái tăm ở góc đường Bùi Viện Trần Hưng Ðạo có kết quả rồi chăng? Tôi hi vọng quá. Trời ơi. Tại sao Quỳnh không ở lại chờ tôi để cùng đi? Tôi vừa đi vừa đọc thư. Thư viết ngắn. Tôi mừng hụt.</p>
<p>Ông Thierry nói có một món quà của một bà tên Marguerite Malpighi từ bên Pháp gửi qua cho tôi, ông hi vọng tôi vẫn còn ở Việt Nam, và nếu nhận được thư này, xin liên lạc ngay với ông ở tòa tổng lãnh sự, đường Hồng Thập Tự trong các ngày thứ Hai, Tư và Sáu, buổi sáng. Tấm danh thiếp của ông kèm trong thư này là giấy vào cửa của tôi. Tôi cầm tấm danh thiếp trên tay săm soi. Như vậy không phải là tụi Tây nó cho mình đi.<br />
Nhưng mà Marguerite Malpighi là ai? Không, mình có quen một người nào có tên là Malpighi đâu. Marguerite Malpighi? Kỳ lạ.</p>
<p>Thôi để đó rồi hẵng tính. Tôi trở về nhà. Kéo chốt cổng. Ðóng cửa. Ngã xuống giường.</p>
<p>Marguerite Malpighi? Cái tên ấy trở lại trong trí tôi. Mình làm gì có quen đầm tây chớ. Mệt óc.</p>
<p>Trong đầu tôi bây giờ chỉ có Quỳnh. Và trùm lên tất cả là hình ảnh mấy đứa con tôi. Tất cả đều đã bỏ đi. Xa tít. Mù khơi. Ðăng và Mai. Và cái thành phố Paris trong mộng tưởng của tôi, trong đó giờ đây có các con tôi đang cắp sách đến trường.</p>
<p>Trí nhớ tôi kém quá rồi chăng?</p>
<p>Chết. Mà quên. Tôi còn một cái thư chưa bóc. Tôi chồm dậy. Bao thư màu xanh vuông vức. Dấu bưu ấn: Barcelona. Phía lưng của phong thư có tên người gởi: Marguerite Malpighi. Lúc nãy vì sớn xác tôi không lật lưng lá thư. Nhưng tại sao lại Marguerite Malpighi? Tôi không chờ đợi được. Tôi xé thư ngang hông.</p>
<p>Thư dài viết tiếng Pháp. Tran nhớ không? “Ma Chirac” đây! Ðêm nghe nhạc Nguyễn Giang ở đường Công Lý. My life. My Music (Ðời tôi. Âm nhạc của tôi). Tình yêu như trái phá. Con tim mù lòa. Tran nhớ không?</p>
<p>Ðêm giới nghiêm Sài Gòn. Khách sạn Caravelle&#8230; Trời ơi! Ma! Ma! Làm sao tôi quên được chớ.</p>
<p>&#8230;Một buổi tối Sài Gòn giới nghiêm. Ngôi biệt thự trên đường Công Lý. Mưa đủ ướt mặt đường. Gió thổi tấp chiếc áo mưa nhà binh mặc ngược đập vào ngực tôi. Nhà của một tay tùy viên báo chí tòa đại sứ Úc. Nguyễn Giang trình bày mấy ca khúc mới của anh. Có một tay người Pháp giới thiệu. Mọi người ngồi quanh trong phòng khách rộng. Người ngồi bên tôi là một thiếu nữ Pháp.</p>
<p>“Tôi tên Marguerite Chirac “Ma Chirac.” Chào ông.”</p>
<p>“Chào cô. Tôi tên Thăng. Trần Lâm Thăng.”</p>
<p>“Tôi vừa từ Pháp qua. Bố tôi làm việc ở tòa đại sứ.”</p>
<p>“Tôi làm nghề dạy học.”</p>
<p>“Tôi vừa tốt nghiệp HEC.”</p>
<p>Chúng tôi nói chuyện rất khẽ. Những người nghe ngồi quanh bị thu hút bởi âm nhạc Nguyễn Giang.</p>
<p>“Tôi thấy hay nhưng tôi không hiểu.” Ma Chirac nói.</p>
<p>“Thấy hay hay hơn là hiểu.” Tôi trả lời “Cô có muốn tôi dịch cho cô câu tình yêu như trái phá không?”</p>
<p>“&#8230;”</p>
<p>“Câu này có nghĩa là từ lúc đưa em về là biết xa nghìn trùng.”</p>
<p>“Hiểu ra rồi. Thấy hay chưa hay. Hiểu hay hơn.”</p>
<p>Hai giờ sáng. Khi Giang đặt cây đàn nằm xuống, uống những giọt rượu cuối cùng rót từ cái chai xanh đục cổ lùn, cũng là lúc tôi nằm bệt xuống sàn nhà.</p>
<p>Người thiếu nữ Pháp hỏi:</p>
<p>“Nhà ông Tran có gần đây không?”</p>
<p>“Gần.”</p>
<p>“Ông có xe không?”</p>
<p>“Có.”</p>
<p>“Ông về hay ở lại?”</p>
<p>“Ở lại.”</p>
<p>“Tại sao?”</p>
<p>“Tại vì tôi không có giấy đi trong giờ giới nghiêm.”</p>
<p>“Tôi có giấy đi trong giờ giới nghiêm. Ông có muốn đi với tôi không?”</p>
<p>“Tại sao không?”</p>
<p>“Thế thì đi.”</p>
<p>Ma đứng dậy. Tôi ngồi dậy theo. Chiếc xe “đơ sơ vô” mỏng dính, nhún nhảy. Máy tốt. Xe chạy trong một thành phố vắng. Mặt đường ướt. Mưa bụi phất qua cửa kính. Cái gạt nước buồn bã cử động đều đặn. Một thành phố chết.</p>
<p>“Sài Gòn buồn hơn là bố tôi tả trong thư.”</p>
<p>“Cô đến đây làm chi?”</p>
<p>“Thăm bố tôi. Ông ấy là tùy viên văn hóa Tòa Ðại Sứ Pháp.”</p>
<p>“Sài Gòn không yên đâu.” Tôi nói cho qua chuyện khi xe chạy ngang qua Dinh Ðộc Lập, vòng ra đường Thống Nhất chạy ngang hông Nhà Thờ Ðức Bà, rẽ xuống Tự Do.</p>
<p>“Tôi biết. Sài Gòn không yên. Nhưng tôi đã đọc cuốn Người Mỹ Trầm Lặng của Graham Greene. May ra có gặp được anh chàng Alden Pyle nào không?”</p>
<p>Ma cho xe dừng trước cửa khách sạn Caravelle.</p>
<p>“Bố tôi giữ cho tôi một phòng ở đây.”</p>
<p>Trời vẫn còn mưa. Ma mở cửa xe bước xuống. Thong thả.</p>
<p>“Ông có muốn nói chuyện về những cuốn sách không?”</p>
<p>Tôi không trả lời cô. Tôi mệt và đói. Tôi muốn có cái gì ăn hoặc là có chỗ nào nằm. Tôi không gật đầu cũng không lắc đầu.</p>
<p>Người giữ thang máy mặc đồng phục đứng ở cửa chào chúng tôi. Ma bấm nút. Tôi đứng sát vào cô. Mùi thơm ở mái tóc cô làm tôi nhớ Uyên. Có lẽ cả bà Phan và Uyên tối nay sẽ canh chừng tôi trở về. Nhưng tôi có cần phải về không?</p>
<p>Khi cánh cửa thang máy mở ra tôi đã hôn xong Ma cái hôn thứ nhất. Tôi không so sánh, nhưng rõ ràng là tôi không có cái cảm giác hôn người thiếu nữ này lần đầu. Cái biên giới giữa Uyên và Quỳnh là có thật, nhưng giữa Uyên và Ma ít ra trong cái hôn &#8211; tôi không nhận ra chút khác biệt nào.</p>
<p>Và đêm hôm đó tôi ở lại với Ma Chirac.</p>
<p>Khi vói tay bấm cái công tắc đèn ở đầu giường ngủ, tôi thấy cuốn “Ông Ðại Sứ” của Morris West đang mở ra dở chừng.</p>
<p>“Em thích đọc những cuốn tiểu thuyết viết về Việt Nam.”</p>
<p>Ðối với tôi, đó là một đêm không ngủ. Ma chỉ trở mình một lần. Da thịt cô mát rượi, mềm như lụa. Sáu giờ sáng, tôi rửa mặt, mặc quần áo, mang giày ra khỏi phòng xuống cầu thang, băng qua bên kia đường, vào quán Givral ăn một cái “toát bơ,” uống một ly cà phê sữa nóng và gọi điện thoại cho Uyên.</p>
<p>Sau đó tôi không bao giờ gặp lại “Ma Chirac.” Câu chuyện nghe nhạc và qua đêm với người thiếu nữ Tây phương trong khách sạn Caravelle có vẻ Bồ Tùng Linh quá. Tôi không nhớ tới nó cũng phải. Mặc dù trên đường đi cô có hỏi tôi rằng tên cô có làm tôi liên tưởng đến điều gì chăng? Tôi nói có, in hình như tôi có nghe tên một ông chính khách người Pháp tên Jacques Chirac, đô trưởng thành phố Paris thì phải. Cô nói chính vậy. Ông ấy là bác tôi. Và ông ấy sẽ là thủ tướng nước Pháp.</p>
<p>Thế thôi. Nhưng đó là Marguerite Chirac, đâu có phải là Malpighi.</p>
<p>Những dòng cuối lá thư của cô cho tôi biết chồng cô là Marcello Malpighi, một viên chức ngoại giao làm việc ở Barcelona. Thư nói hãy cho Ma biết Tran cần cái gì. Ma sẽ làm hết sức mình cho Tran. “Hãy đến gặp ông Thierry Rousselin.”</p>
<p>Ma Chirac, câu chuyện tưởng là liêu trai nhưng đang là sự thật.</p>
<p>Tôi nhắm mắt lại cố hình dung ra khuôn mặt cô, nhưng hoàn toàn vô vọng.</p>
<p>Trong tôi chỉ có Quỳnh và đứa con của hai chúng tôi.</p>
<p>Tại sao không có thư của Quỳnh?</p>
<p>Tại sao? Tại sao?</p>
<p>Tôi không hiểu. Tôi không có câu trả lời.</p>
<p>&nbsp;</p>
<p><strong>Chương Hai Mươi Hai</strong></p>
<p>Sài Gòn mưa. Mưa tầm tã. Mưa bong bóng phập phồng. Mưa mù mịt. Mưa thối trời, thối đất. Mưa quất rát mặt, rát da. Mưa như một triệu cây roi đập tứ phía. Mưa từ Hồng Thập Tự, mưa qua Lê Văn Duyệt. Mưa tới Ngã Sáu. Mưa xuống Lê Lai. Phạm Ngũ Lão ngập nước. Võ Tánh, Cống Quỳnh cũng không có chỗ để chân. Nước lên nửa vòng bánh xe đạp. Tôi vác xe lên thềm rạp Khải Hoàn. Co ro. Lạnh. Tôi ôm chặt cái bao thơ của Ma Chirac. Tôi đang có trong tay một số tiền lớn. Hai chục ngàn đồng quan Pháp. Tôi sẽ đổi được bao nhiêu lượng vàng? Tôi nhớ lại buổi gặp gỡ ông Thierry Rousselin hồi nãy. Cái thằng Tây ăn nói khôn ngoan.</p>
<p>“Bà Marguerite Malpighi nhờ tôi chuyển cho ông lá thư này. Ðây là cái giấy bảo lãnh của bà, cái certificat d&#8217;hébergement. Và đây là cái giấy của nhà hàng ăn Le Riz Parfumé bảo đảm ông sẽ có việc làm khi đến Pháp. Nếu ông muốn đi Pháp ông phải có một người ruột thịt đứng ra lo liệu. Ví dụ như vợ ông, con ông, cha mẹ ông. Giấy bảo lãnh của một người bạn không đủ. Bộ Ngoại Giao sẵn sàng cho ông đi nếu ông cụ của ông là người từng ở trong quân đội Pháp&#8230; Tuy nhiên, cái giấy của bà Marguerite Malpighi cũng tốt lắm. Tôi sẵn sàng giúp ông. Có phải ông dạy Philo ở Petrus Ký không? Tôi cũng học Philo. Cogito ergo sum. Je pense donc je suis. René Descartes. Esprit cartésien. Mà ông có muốn đi Pháp không? Bon. Mà ông quen bà Marguerite Malpighi trong dịp nào? Bon&#8230;”</p>
<p>Tôi có trong tay nhiều tiền, nhiều giấy tờ quá. Mình sẽ đổi được bao nhiêu lượng vàng. Tôi nghĩ đến Phước. Người đã tha mạng sống tôi một lần ở Bến Tàu. Người đã đến hỏi tôi mượn tiền. Tôi nghĩ đến Kiệt. Chú bé đã đi được chưa. Tôi nghĩ đến Quỳnh và con tôi. Tôi sẽ nộp đơn ở Tòa Tổng Lãnh Sự. Tôi là Trần Lâm Thăng. Tôi không cần giấy khai sanh của một thằng Tây con nào đã chết. Nhưng tôi cũng sẽ mua vàng vượt biên. Cái nào đến sớm tôi sẽ chọn cái đó. Cái nào cũng được. Tôi phải đi thôi.</p>
<p>&#8230; Nhưng mà trời cứ mưa. Mưa dầm dề. Mưa đuổi tôi sát tận hàng rào sắt chặn người vào rạp. Cũng may tay Thierry Rousselin cho tôi cái bao ni lông đựng giấy tờ. Tất cả đang nằm trong ngực tôi. Tôi cần một ly cà phê nóng. Tôi cần một tô phở nóng.</p>
<p>“Ông làm ơn đứng nhích vào trong một chút.”</p>
<p>Một người đàn ông đeo kính cận từ lề đường chạy lên đứng cạnh tôi lúc nào. Nước mưa chảy trên mặt mũi ông ta. Ông lấy kính xuống, dụi mắt. Tôi nhìn ông ta. Quen lắm. In hình đã gặp ở đâu rồi. Ông cũng nhìn tôi. Tôi đứng yên, không nhường chỗ cho ông ta. Mà ông ta cũng không buồn di chuyển tới thêm.</p>
<p>“Ông&#8230;” người lạ nói, “có phải ông là người tôi gặp ở Bến Tàu không?”</p>
<p>“Còn ông. Ông đạp xích lô chớ gì?”</p>
<p>“Ðúng vậy! Tôi hết đạp xích lô rồi.”</p>
<p>“Bây giờ ông làm gì?”</p>
<p>“Tôi dạy tiếng Anh.”</p>
<p>“Dạy tiếng Anh?”</p>
<p>“Ừ, dạy tiếng Anh cho mấy người chuẩn bị vượt biên.”</p>
<p>“A!” Tôi bật kêu lên.</p>
<p>“Ông có gặp cái chị gì định tự tử bữa đó không?”</p>
<p>“Không. Tôi mới ở tù ra!”</p>
<p>“Vượt biên à?”</p>
<p>“Vượt biên. Còn ông?”</p>
<p>“Tôi mới ở Phan Thiết về.”</p>
<p>“Không lọt được à?”</p>
<p>“Lọt được công an biên phòng về tới đây là may rồi. Mà ông tên gì vậy?”</p>
<p>“Ông cứ kêu tôi là Nam. Tôi đã nói với ông rồi mà! Còn ông, có phải ông là&#8230;”</p>
<p>“Tôi tên là Thăng. Mình tìm chỗ nào ngồi uống ly cà phê chăng?”</p>
<p>Tôi nhấc chiếc xe đạp lên, đẩy xuống thềm. Trời vẫn mưa tầm tã, Nam đi bên tôi.</p>
<p>“Ông đưa xe cho tôi.” Nam nắm đòn dông nhấc lên. “Tôi biết một quán cà phê này hay lắm.”</p>
<p>Chúng tôi bước xuống đường.</p>
<p>Mưa vẫn đổ tới tấp như thể người ta bưng cả một chậu nước lớn đổ xuống.</p>
<p>“Xe ông đâu?”</p>
<p>“Tôi đi bộ.”</p>
<p>“Bộ nhà gần đây hả?”</p>
<p>“Không. Tôi ở đường Lê Quý Ðôn. Bố mẹ tôi đi hết rồi.”</p>
<p>“Rồi sống làm sao?”</p>
<p>“Thử đạp xích lô, nhưng không nổi. Bữa gặp ông là bữa đầu. Chở cái nhà chị tự tử đường Cống Quỳnh.”</p>
<p>Mưa bỗng tạnh bất ngờ. Mặt trời lên. Nước ở mặt lộ kéo rốc xuống chợ Thái Bình. Ống cống hai bên lề đường uống nước ồ ồ.</p>
<p>Nam bỏ xe xuống mặt đường khi chúng tôi băng từ nhà thương Tù Dũ qua Hồng Thập Tự tẻ sang Nguyễn Thiện Thuật.</p>
<p>“Bộ ông muốn uống cà phê Năm Dưỡng hả?”</p>
<p>“Không. Cà phê Năm Dưỡng đắng chát. Vỏ măng cụt với cơm nguội chớ có gì? Chỗ này hay lắm.”</p>
<p>“Bây giờ ông làm gì?”</p>
<p>“Rồi, trả lời rồi. Dạy tiếng Anh.”</p>
<p>“Mà trước ông làm gì?”</p>
<p>“Tôi học Quản Trị Xí Nghiệp.”</p>
<p>“Phải chính trị kinh doanh ở Ðà Lạt không?”</p>
<p>“Không. Tôi học ở Kent University, Ohio bên Mỹ.”</p>
<p>“Vậy sao? Mà về nước hồi nào?”</p>
<p>“Về mấy ngày áp chót. Cả nhà tôi đi hết qua đảo Guam. Bà chị tôi làm trong Tòa Ðại Sứ Mỹ mà!”</p>
<p>“Vậy nghĩa là chưa đi làm ở đâu à?”</p>
<p>“Làm gì? Mới ra trường mà. Ông cụ tôi nói làm ở RMK lương lớn. Nhưng tôi định xin vào Esso.” Nam chặc lưỡi, “RMK với Esso. Xích lô cũng không xong. Ông được mấy cháu rồi?”</p>
<p>“Ồ!” Tôi ngập ngừng. Tôi không biết nói thế nào cho người bạn mới quen rõ. Tôi có hai cháu đã đi Pháp. Tôi có với Quỳnh một đứa con. Nhưng quanh tôi giờ đây chẳng còn ai.</p>
<p>“Xin lỗi!” Nam cúi xuống mặt đường, lách qua một vũng nước. “Sắp tới rồi. Tôi muốn mời ông đi ăn cái gì nong nóng trong chợ Nguyễn Thiện Thuật. Rồi uống cà phê sau. Ðược không?”</p>
<p>“Cám ơn. Tôi không đói. Hay là mình đến chỗ cà phê đi.”</p>
<p>“Ừ. Thì đi. Thật ra là tôi muốn mời ông ăn.”</p>
<p>Con đường Nguyễn Thiện Thuật ngắn. Qua khỏi chợ chừng mười bước, Nam dừng lại trước một căn nhà nhỏ. Cửa sắt kéo nửa chừng. Sàn nhà thấp hơn mặt đường. Mấy cái bàn nhỏ. Chừng mươi cái ghế đẩu. Quán vắng. Nam lay lay cánh cửa. Tiếng động của mấy thanh sắt đập vào nhau hơi ồn.</p>
<p>“Hồng ơi, Hồng!”</p>
<p>Một cô gái từ sau nhà bước ra. Họ có vẻ quen thân nhau.</p>
<p>“Anh Nam. Sao lâu dữ?”</p>
<p>“Mới ở tù ra.”</p>
<p>“Mới ở tù ra?”</p>
<p>“Không đúng lắm. Ra cũng được tuần rồi. Thôi, đây là ông Thăng. Còn đây là cô Hồng, bạn tôi.”</p>
<p>Cô chủ quán đứng nhích ra, nhường chỗ cho chúng tôi bước vào.</p>
<p>“Hồng cho anh hai ly đen nóng. Một gói ba số.”</p>
<p>“Một gói? Sao bữa nay anh sang dữ vậy?”</p>
<p>“Bữa nay có tiền. Bà chị bên Mỹ vừa gửi cho mấy trăm đô.”</p>
<p>Nam chọn chiếc bàn trong góc.</p>
<p>“Từ nay, không nói chuyện vượt biên nữa.”</p>
<p>“Sao vậy?” Tôi tựa lưng vào vách. Tay tôi sờ lên ngực. Cái bao nilông đựng thư và tiền của Ma Chirac vẫn còn đó.</p>
<p>“Tôi vừa nhận được giấy bảo lãnh của bà chị. Trước sau gì cũng đi được mà. Tôi chỉ lo cho ông bạn thân của tôi thôi.”</p>
<p>“Bạn thân của anh là ai?”</p>
<p>“Chắc anh không biết đâu! Nó tên Phước. Bạn từ nhỏ. Phước đi lính, còn tôi đi học. Tay đó lì lắm. Tụi này xa nhau khá lâu, sau bẩy lăm mới gặp lại. Tụi này hay gặp nhau ở đây. Tù tội lia chia biết đâu mà tìm&#8230; Chỉ có chỗ này chắc ăn.”</p>
<p>Hồng bưng cà phê ra. Một gói ba số năm vàng rực. Khói cà phê thơm phức làm ruột tôi cồn cào. Cà phê thứ thiệt. Trời ơi, cà phê thứ thiệt. Tôi cúi xuống cái phin, giở cái nắp ra.</p>
<p>“Cà phê xịn đó,” Nam tiếp, “Chỉ ở đây mới có thứ thiệt. Hồng ơi, anh Phước mấy bữa nay có tới không?”</p>
<p>Hồng bước tới, tự nhiên kéo ghế ngồi xuống.</p>
<p>“Tuần trước ảnh có tới, cũng hỏi cái câu giống câu vừa hỏi. Em không biết ảnh có chuyện gì mà buồn lắm.”</p>
<p>Nam bóc gói thuốc, đẩy một điếu ra khỏi bao đưa về phía tôi.</p>
<p>“Anh Thăng làm một điếu đi,” và quay sang Hồng, Nam tiếp, “Có tin tức gì của anh hai không?”</p>
<p>“Chị hai đi ra Bắc, thăm anh hai chưa về. Bữa đi chỉ khóc sưng mắt. Có tin nói anh hai chết, chỉ phải ra ngoài đó nhận xác chồng.”</p>
<p>“Còn má đâu?”</p>
<p>“Má đi thăm anh Tư ở trại cải tạo Xuyên Mộc.”</p>
<p>Hồng nói nhưng mắt nhìn tôi dò hỏi.</p>
<p>“Không sao. Anh Thăng là người anh mới quen, nhưng anh có biết&#8230;”</p>
<p>“Anh biết gì?” Tôi cười, cầm một điếu thuốc, đập đập lên lưng bàn tay. “Tôi học được bài học là không biết gì, không tin gì, không thấy gì hết&#8230;”</p>
<p>“Sao anh bi quan dữ vậy? Cũng có cái phải tin chớ. Cái gì cũng nghi ngờ hết lấy gì sống? Hồng,” Nam nhắc, “Em cho anh mượn cái phích nước sôi. Này, sao hồi đó, em nói anh Tư ở trại cải tạo Hàm Tân Z30C?”</p>
<p>Hồng mang nước ra. Cái bình thủy lớn, nắp bị móp méo.</p>
<p>“Sau Hàm Tân, ảnh bị chuyển qua trại cải tạo Xuân Phước, Phú Khánh. Bây giờ Xuyên Mộc, tỉnh Ðồng Nai&#8230;”</p>
<p>“Cho tôi một cái nâu, cô Hồng.” Một người khách đứng ở cửa nói chõ vào.</p>
<p>“Mời anh vào!” Hồng đứng dậy.</p>
<p>Người khách là một thanh niên trẻ, ăn mặc kiểu bộ đội. Khách kéo ghế ngồi xuống, cái cặp da quàng vai bỏ xuống mặt bàn. Anh ta ngồi quay lưng vào trong, mắt ngó ra đường.</p>
<p>“Cô Hồng mở nhạc vàng nghe đi.”</p>
<p>“Có ngay!”</p>
<p>Tiếng Hồng nói từ phía trong và tiếp liền đó là tiếng hát của Khánh Ly. “Mưa vẫn mưa bay trên tầng tháp cổ&#8230;” Tôi nghe tiếng người khách ư&#8230;ư&#8230; hát theo.</p>
<p>“Tay này là công an khu vực đấy. Uống cà phê không phải trả tiền, nhưng cho phép nghe nhạc vàng. Hắn mê Phạm Duy lắm. Bài tủ của hắn là bài Mùa Thu Chết. Ðể anh coi&#8230;”</p>
<p>Nam nói chưa hết câu, tôi đã nghe tiếng người khách.</p>
<p>“Cô Hồng ơi, Mùa Thu Chết đi!”</p>
<p>Hồng mang cà phê ra đặt lên bàn khách.</p>
<p>“Ðây là cà phê sữa của anh. Còn Mùa Thu Chết thì sẽ có ngay.” Hồng nhìn Nam cười.</p>
<p>Tôi hít một hơi thuốc dài, chiêu một ngụm cà phê.</p>
<p>“Tôi muốn về. Anh Nam có thể cho tôi xin địa chỉ được không?”</p>
<p>“Sao anh không ngồi chơi thêm một chút? Tôi muốn chờ thằng Phước. Tôi cũng muốn giới thiệu anh với thằng bạn tôi. Không biết tại sao gặp anh có một lần mà tôi thích ngay.”</p>
<p>“Cám ơn anh Nam. Có lẽ bữa khác mình gặp nhau lâu hơn. Bữa nay vầy là đủ rồi. Anh có thể cho tôi cái địa chỉ không?”</p>
<p>Tôi nhắc lại và xé tờ giấy biên cho Nam mấy chữ.</p>
<p>“Ðây là địa chỉ của tôi!”</p>
<p>Nam cầm tờ giấy ngó chăm chú.</p>
<p>“A! Phải chỗ này là khu Mã Lạng không?”</p>
<p>“Ðúng.”</p>
<p>“Vậy thì tôi có biết. Có lần tôi chở thằng Phước tới đây.”</p>
<p>“Tới nhà tôi?”</p>
<p>“Không. Tôi đâu biết thằng Phước tới nhà ai. Mà tôi đâu có biết nhà anh. Nó bảo tôi chờ ở đầu ngõ. Có một quán cà phê. Nó đi bộ vô trong.”</p>
<p>Tôi giật mình nhớ tới bữa Phước đến thăm tôi, hỏi mượn tiền vượt biên.</p>
<p>“Mà anh đến lúc đó ban ngày hay ban đêm?”</p>
<p>“Chạng vạng tối. Tôi nhớ tay chủ quán cà phê đã đốt đèn hột vịt. Ngay đầu hẻm tôi còn thấy có một ông thợ sửa xe đạp.”</p>
<p>“Ông bạn anh có nói đến xóm Mã Lạng tìm ai không?”</p>
<p>“Không. Thằng Phước nói với tôi nó đi mượn tiền. Ðó là chuyến nó định đi với tôi. May mà nó không mượn được tiền. Nếu không nó ngồi tù chung với tôi rồi! Thằng đó coi vậy mà hên.”</p>
<p>“Tại sao người ta không cho ông bạn anh mượn tiền.”</p>
<p>“Nó nói ông ta không có tiền. Vợ con ông ta đã đi vượt biên. Và ông ta mới vừa ở tù về.”</p>
<p>Tôi lại ngồi xuống lấy một điếu thuốc ba số châm lửa.</p>
<p>“Này anh Nam. Người mà Phước tới thăm hôm đó chính là tôi!”</p>
<p>“Thật sao? Là anh?”</p>
<p>“Tôi có nhiều kỷ niệm với Phước, anh có biết không?”</p>
<p>“Làm sao anh có kỷ niệm với Phước được? Nó đâu phải ở lứa tuổi với anh!”</p>
<p>“Kỷ niệm giữa hai con người đâu cần đòi hỏi họ phải có cùng lứa tuổi. Phải hông?”</p>
<p>“Nhưng mà chuyện khó tin quá. Bạn của Phước thì tôi phải biết chớ. Nó với tôi là bóng với hình mà!”</p>
<p>“Anh tin vậy sao?”</p>
<p>“Sao không chớ?”</p>
<p>“Tại vì anh nói anh và Phước xa nhau khá lâu mà. Phải không?”</p>
<p>“Ừ, trước bẩy lăm tôi đi Mỹ nó đi lính. Cái thằng đó ba trợn ba trạo đâu chịu học hành gì. Mới đậu trung học đã xung phong đi lính. Ðánh lộn thì lanh lắm mà hễ nói chuyện sách vở học hành thì ngủ gà ngủ gật. Nó nói nó ghét cái bọn trí thức lắm. Gặp nó, nói chuyện gì cũng được chớ đừng nói chuyện bằng cấp. Nói chuyện bằng cấp là nó chửi thẳng tay. Khi nào cãi thua tôi nó nói ‘đồ trí thức chồn lùi.’ Nó hỏi tôi ai ra mặt trận đánh nhau với cộng sản để những thằng như tôi yên ổn đi học?&#8230;”</p>
<p>Hồng đã trở lại chỗ bàn chúng tôi, tự động kéo ghế ngồi.</p>
<p>“Làm gì to tiếng vậy anh Nam?”</p>
<p>“Ðâu. Có to tiếng gì đâu. Nè Hồng, anh Thăng đây cũng là người quen của Phước. Tin không?”</p>
<p>“Anh nói thì em tin. Mà hai anh quen nhau làm sao?”</p>
<p>Hồng mím môi, mắt mở lớn dò hỏi, hai tay vòng trước ngực, hai cùi chỏ tì lên hai đầu gối!</p>
<p>Tôi uống một ngụm cà phê, châm thêm một điếu thuốc. Và tôi bắt đầu kể những lần gặp Phước. Một lần ở phòng giám thị kỳ thi, một lần Phước chở tôi ra Bến Tàu trong đêm giới nghiêm và một lần cách đây không lâu tại nhà tôi.</p>
<p>“Ðúng là thằng Phước rồi! Cái thằng đó giang hồ lắm, anh chị lắm!” Nam đập tay lên bàn.</p>
<p>“Tôi đi cô Hồng nhé!”</p>
<p>Người thanh niên ăn mặc kiểu bộ đội đứng dậy, quàng cặp da lên vai.</p>
<p>“Mở nhạc vàng phiên phiến thôi nhé. Coi chừng đừng để quên cuộn băng có bài Người Ở Lại Charlie nữa đấy! Dáng Ðứng Bến Tre đi. Này, mà bao nhiêu thế cô Hồng?”</p>
<p>“Xin anh cứ tự nhiên.” Hồng tiếp “Mai lại nghe Mùa Thu Chết nhá!”</p>
<p>Người thanh niên xốc lại sợi dây da quàng vai bước ra cửa, nói vói lại:</p>
<p>“Cô Hồng đọc xong cuốn Ða-ghết-tăng Của Tôi chưa?”</p>
<p>“Còn mấy trang nữa. Mai tôi trả được không?”</p>
<p>“Mai tôi sẽ cho cô mượn Con Tàu Trắng của Ai-ma-tốp. Tuyệt vời!”</p>
<p>Hồng đứng dậy tiễn khách ra cửa.</p>
<p>“Cám ơn!”</p>
<p>Chờ khách đi một đỗi xa, Hồng kéo cánh cửa sắt lại, quay về bàn.</p>
<p>“Thôi nghỉ một bữa không buôn bán gì Hồng nghe.” Nam nói giọng nghịch ngợm.</p>
<p>“Anh định bao giàn cả ngày hả?”</p>
<p>“Bao thì bao sợ gì. Hồng ơi mua cái gì cho anh Thăng với anh bỏ bụng đi!”</p>
<p>Và quay sang tôi, Nam nói:</p>
<p>“Anh nán lại chút, tôi muốn mời anh. Anh là bạn của Phước vậy thì anh cũng là bạn của tôi. Sài Gòn này nhỏ xíu mà phải không anh?”</p>
<p>Tôi sờ tay lên ngực áo. Bao nilông đựng giấy tờ tiền bạc vẫn còn nguyên. Tôi nói:</p>
<p>“Hôm nay tôi cũng vừa nhận được tiền của một người bạn cũ.”</p>
<p>“Trời ơi! Sao kỳ vậy! Vậy thì mình ăn mừng đi chớ! Mà anh có giấy bảo lãnh không?”</p>
<p>“Có. Có cả giấy bảo lãnh. Nhưng một người bạn bảo lãnh thì ăn nhập gì phải không?”</p>
<p>“Công an quận nó không chịu đâu. Phải cha mẹ bảo lãnh con cái hoặc con cái bảo lãnh cha mẹ anh chị em kìa!”</p>
<p>Hồng trở lại bàn:</p>
<p>“Anh Thăng ăn gì? Anh Nam thì em biết rồi!”</p>
<p>“Cô Hồng cho mì, hủ tiếu gì cũng được.”</p>
<p>Tôi lấy bao nilông ở trong ngực ra đặt xuống bàn. Tôi mở bao thư. Những tờ giấy bạc thơm phức.</p>
<p>“Tiền gì vậy anh Thăng?” Hồng hỏi.</p>
<p>“Tiền Tây.”</p>
<p>“Anh Nam có biết chỗ nào đổi tiền không?”</p>
<p>“Tôi có biết một chỗ đổi đó. Nhưng không biết ở đó có đổi đồng quan Pháp không?”</p>
<p>“Anh Nam hỏi giùm tôi. Tôi muốn đổi lấy vàng.”</p>
<p>“Chi vậy? Anh tính vượt biên à?”</p>
<p>“Ừ. Thì cũng tính chớ.”</p>
<p>“Sao anh không chờ chị bảo lãnh?”</p>
<p>“Cho tới bây giờ tôi cũng chưa rõ nhà tôi sống chết ra sao, làm sao mà chờ bảo lãnh?”</p>
<p>“Mà chị đi lâu chưa?”</p>
<p>“Lâu rồi. Cũng ba bốn tháng rồi. Chẳng lẽ ở trên biển tới ba bốn tháng!”</p>
<p>“Anh Thăng đừng lo.” Hồng an ủi, “Trước sau gì anh cũng được tin mà. Còn chuyện đổi tiền, em nghĩ là anh Phước làm được.”</p>
<p>Tôi xếp những tờ giấy bạc bỏ vào phong bì.</p>
<p>“Em sẽ mua hủ tiếu Nam Vang cho anh Thăng. Còn anh Nam vẫn bò viên hay thứ khác?”</p>
<p>“Bò viên. Tôi chung thủy lắm.”</p>
<p>Hồng đứng dậy đi ra cửa.</p>
<p>“Lại mưa nữa rồi anh Nam ơi!”</p>
<p>“Thôi, tôi không đói đâu.” Tôi tiếp, “Cô Hồng cho tôi thêm một ly cà phê nữa.”</p>
<p>“Ðừng lo, anh Thăng! Ðể tôi đưa cô Hồng đi. Anh cứ ngồi đây nhâm nhi cà phê.”</p>
<p>Ngồi lại một mình trong quán cà phê, tôi lấy thư Ma Chirac ra đọc. Rồi tôi xếp những tờ đồng quan Pháp hết theo chiều dọc lại theo chiều ngang, lại xòe cánh quạt. Tôi đưa lên mũi ngửi. Sao mà đồng tiền Tây nó thơm thế. Tôi nhớ lối tiếp chuyện của tay Thierry Rousselin. Hắn có khuôn mặt của một thanh niên vừa mới lớn, dưới chiếc đầu sói sọi của một cụ già. Hắn nói hắn chào đời ở Vientiane và có thời gian học ở Jean-Jacques Rousseau Saigon. Hắn nói hắn không quen Marguerite Chirac, nhưng hắn có biết bố của cô. Hắn hỏi tôi có ý định đi Pháp hay không? Gia đình tôi có ai ở Pháp không? Ba tôi làm gì? Tôi nói ba tôi đã chết. Hắn hỏi nhưng mà trước đó ông cụ làm gì? Tôi nói ông đi lính cho Pháp, ông là sĩ quan tốt nghiệp trường Võ Bị Dar-el-Beida, đã theo chân Tướng Juin đổ bộ lên Ý Ðại Lợi, đã được ân thưởng Ðệ Ngũ Ðẳng Bắc Ðẩu Bội Tinh và được tuyên dương công trạng mười hai lần trước hành quân&#8230; “Nhưng ba ông tên gì?” “Trần Lâm Thành.”</p>
<p>“Tốt nghiệp Võ Bị Dar-el-Beida năm nào?” “Tôi hoàn toàn không biết. Tất cả những gì tôi nhớ được chỉ là những câu nói của cha tôi lúc ông say rượu. Còn nữa.</p>
<p>Ổng là bạn của ông Phan, cựu thủ tướng của Việt Nam Cộng Hòa. Ông Phan hiện ở Mỹ. Cha tôi hồi còn sống có treo trong phòng một tấm ảnh chụp với ông Phan và những người lính Pháp&#8230;” “Ông còn giữ những tấm ảnh ấy không?” “Không. Tôi không có trong tay một thứ hình ảnh hay giấy tờ nào liên quan đến công việc của cha tôi.” “Tiếc quá! Làm sao bây giờ. Nếu ông có thể chứng minh được ông cụ là người từng chiến đấu dưới lá cờ Pháp Quốc, tôi nghĩ là tôi có thể giúp ông đi Pháp nhanh chóng.” “Hiện tôi có mấy đứa con ở Pháp.” “Họ đang làm gì?” “Chúng nó còn đi học. Ðứa lớn nhất mới mười bốn tuổi.” “Nhưng chúng ở với ai?” “Với mẹ chúng.” “Tại sao bà ấy không bảo lãnh ông?” “Chúng tôi đã ly dị. Và tôi đã lập gia đình với một người đàn bà khác.” “Người đàn bà này hiện ở đây với ông?” “Không. Bà ấy đã vượt biên.” “Nghĩa là?” “Nghĩa là tôi ở đây một mình.”</p>
<p>Tên Thierry Rousselin này ghê thật. Sao hắn cho mình cái túi nilông đựng giấy tờ hè?</p>
<p>Ma Chirac. Tôi dần dần nhớ lại khuôn mặt của cô. Mái tóc ngắn, hai con mắt to xanh lơ, mũi thon nhọn, những sợi lông măng trên một khuôn mặt hồng, môi không mỏng nhưng hơi cong. “Bố tôi nói&#8230;” Cô luôn luôn giải thích mọi chuyện bằng cách nói rằng “bố tôi nói như vậy.” “Bố nói căn phòng tôi ở là căn phòng mà nữ ca sĩ Dalida, người rất nổi tiếng với ca khúc Bambino một thời đã ở.” “Bố tôi nói khi Dalida đến Việt Nam, cô đã ở khách sạn này và cô đã bắt khách sạn thay toàn bộ màn cửa màu hồng, hoa hồng mỗi sáng cho mỗi phòng.” “Bố tôi nói bố tôi thích bài Les Feuilles Mortes. Et la mer s&#8217;efface sur le sable&#8230; les pas des amants désunis&#8230;” “Yves Montand. Ông có biết Yves Montand không? Bố tôi nói bố tôi không thích tay này. Ông chỉ thích Edith Piaf và Simone Signoret, những người phụ nữ đã làm cho Yves Montand nổi tiếng. Bố tôi nói tay này lạng quạng về chính trị lắm. Lúc theo cộng sản, lúc chống cộng sản. Cũng may, ông ta chưa bao giờ là một đảng viên cuồng tín. Tôi thì tôi thích Catherine Deneuve hơn&#8230;”</p>
<p>“Bố tôi nói&#8230;” Chỉ một buổi tối thôi mà Ma Chirac cho “Bố tôi nói&#8230;” nhiều quá. Bây giờ tôi mới nhớ ra như vậy. Và hết.</p>
<p>Như cuốn phim bị đứt và đèn trong rạp bật sáng. Những hình ảnh nhảy lạng quạng trên màn ảnh. Tiếng cửa sắt bị đập làm tôi giật mình.</p>
<p>“Cô Hồng ơi! Có ai trong nhà không?”</p>
<p>Tôi đứng dậy xếp tiền và giấy tờ vào bao nilông! Thói quen thôi.</p>
<p>“Cô Hồng không có nhà,” tôi vừa nói vừa bước tới gần cửa, ghé nhìn ra ngoài.</p>
<p>“Anh Thăng. Sao anh ở đây?”</p>
<p>Tôi giật mình, nhận ra người gọi cửa là Phước.</p>
<p>“Trời. Phước hả?”</p>
<p>“Phước đây. Anh mở cửa cho tôi vào đi!”</p>
<p>Tôi nâng cái móc lên, đẩy cửa. Phước lách vào.</p>
<p>“Làm sao anh quen nhà này?”</p>
<p>“Tôi đi với Nam. Có phải Phước quen một người tên Nam không?”</p>
<p>“Quen gì! Bạn nối khố của tôi đó. Nó đâu rồi anh?”</p>
<p>“Nam với cô Hồng đi chợ Nguyễn Thiện Thuật mua thức ăn rồi!”</p>
<p>Phước tự động kéo ghế ngồi xuống.</p>
<p>“Tôi sắp có chuyến đi.”</p>
<p>“Lại đi?”</p>
<p>“Anh không đi sao? Anh được tin chị chưa?”</p>
<p>“Chưa. Nhưng mà&#8230;”</p>
<p>“Bộ anh muốn hỏi tôi sao lần gặp cũng nói chuyện đi phải không?”</p>
<p>“&#8230;”</p>
<p>“Anh không tính đi, vậy chớ anh tính ở đây luôn à?”</p>
<p>“Thì tôi cũng vừa tính với Nam xong. Phước, tôi đang có một món tiền!”</p>
<p>“Một món tiền? Như vậy là anh đã liên lạc được với chị rồi à?”</p>
<p>“Không. Tôi vẫn chưa có tin tức gì của nhà tôi. Nhưng,&#8230;” tôi mở bao nilông của tay Thierry Rousselin ra, “đây có thể giúp cho anh và tôi đủ chỗ trên ghe không?”</p>
<p>Phước nhìn những đồng quan Pháp. Anh cầm lên săm soi, lật ngược lật xuôi. Anh lấy ngón tay trỏ búng vào tờ giấy bạc, xòe những tờ giấy bạc như xòe bài và xốc lại.</p>
<p>“Dư sức! Dư sức! Chừng này năm người đi cũng được.” Phước tiếp, “Nhưng lần này tôi đã có một chỗ trên ghe rồi. Anh không phải lo cho tôi. Tôi biết chỗ đổi lấy vàng hoặc đô. A,&#8230;” Bỗng nhiên Phước ngừng lại, cầm tờ giấy bảo lãnh của Ma Chirac lên, “cái gì đây?”</p>
<p>“Giấy bảo lãnh!”</p>
<p>“Vậy, anh đâu cần vượt biên!”</p>
<p>“Nhưng đây chỉ là một tờ giấy bảo lãnh thường thôi. Giữa người bảo lãnh và tôi không có liên hệ ruột thịt gì hết.”</p>
<p>Tôi kể cho Phước nghe một chút về Ma Chirac và về sự quen biết của chúng tôi.</p>
<p>Phước lắc đầu:</p>
<p>“Vậy thì phải vượt biên thôi. Anh để tôi lo cho anh.” Phước ngó chăm vào mắt tôi, “Mà anh có dám không?”</p>
<p>“Dám gì?”</p>
<p>“Dám đi với tôi không?”</p>
<p>“Sao không?”</p>
<p>“Vậy thì&#8230; thế này,” Phước lẩm nhẩm tính, “bốn ngàn. Tôi lấy bốn ngàn đổi vàng mua chỗ cho anh, và thêm hai ngàn tôi muốn mượn anh mua súng. Tôi cần súng và lựu đạn&#8230;”<br />
Phước nhét tiền vào túi, đẩy tờ giấy bảo lãnh và số tiền còn lại về phía tôi.</p>
<p>“Anh cứ giữ số còn lại. Tính sau. Mai tôi gặp anh. Chuyện này coi như đã xong.”</p>
<p>Phước đưa tay đập vào ngực, chỗ túi áo có những tờ giấy bạc của tôi.</p>
<p>Tôi ngồi yên nhìn Phước. Tôi không chút nghi ngờ gì anh. Người đàn ông này đã một lần tha chết cho tôi.</p>
<p>Bây giờ đây anh ta lại đang cứu tôi.</p>
<p>“Anh Thăng có muốn biết lâu nay tôi ở đâu không?”</p>
<p>“&#8230;”</p>
<p>“Tôi ở tù. Có bao giờ anh nghe tiếng kẻng trong nhà tù không?”</p>
<p>Tôi ngó Phước. Tôi không hiểu tại sao anh đổi đề tài. Chúng tôi đang nói chuyện đổi tiền và chuyện vượt biên mà. Phước ngó lại tôi. Tôi nhìn thấy anh đang cầm cái muỗng khuấy cà phê khỏ lên cái phin. Tiếng động buồn bã, đặc nghẽn lại chứ không vang xa. Tôi thấy Phước nghiêng tai như lắng nghe một tiếng vọng vô hình.<br />
Thấy tôi nhìn ngạc nhiên, Phước nói:</p>
<p>“Trong tai tôi lúc nào cũng nghe có tiếng kẻng báo thức lúc năm giờ sáng và cả tiếng kẻng báo ngủ lúc mười giờ đêm.”</p>
<p>“Tiếng kẻng?”</p>
<p>“Phải rồi, tiếng kẻng trong nhà tù. Chỗ của anh không có tiếng kẻng sao?”</p>
<p>“Không. Tôi không nhớ là có tiếng kẻng không. Có lẽ có&#8230;”</p>
<p>Phước đứng dậy thọc hai tay vào túi quần, đi ra phía cửa sắt. Anh đi thong thả, những bước chân chắc nịch.</p>
<p>Nhìn sau lưng, tôi thấy Phước gầy hẳn so với lần anh chở tôi ra Bến Tàu trong đêm giới nghiêm. Tuy vậy, anh không có vẻ gì sa sút. Hai chân anh thẳng, vai ngang, cái cổ bự, tóc ngắn.</p>
<p>“Nam và Hồng đang về kìa!”</p>
<p>Phước nói không quay về phía tôi. Anh nâng chốt sắt lên, đẩy cửa qua một bên chờ.</p>
<p>“Phước. Trời ơi! Phước, mày đó hả?”</p>
<p>Tôi nghe tiếng Nam kêu.</p>
<p>“Anh Phước linh thiệt, mới nhắc là thấy ngay.”</p>
<p>Cánh cửa sắt đóng lại. Hồng mang thức ăn đặt lên bàn.</p>
<p>“Tôi mua đủ thứ. Anh Phước ăn luôn cũng không hết. Hủ tiếu bò viên nè! Hủ tiếu mì nè! Mì hoành thánh nè! Bột chiên nè!&#8230;”</p>
<p>Chợt nhớ ra điều gì, Nam choàng vai Phước kéo lại chỗ tôi ngồi.</p>
<p>“À quên. Ðể tôi giới thiệu&#8230;”</p>
<p>“Khỏi!” Phước chận lại.</p>
<p>“Sao? Hai người quen nhau à?”</p>
<p>“Thì cũng phải quen đi chớ!”</p>
<p>“Trời ơi! Sao trái đất nhỏ gì đâu! Mà nói chuyện chưa?”</p>
<p>“Chuyện gì?”</p>
<p>“Thì gặp nhau cũng phải nói chuyện gì chớ, chẳng lẽ ngậm miệng.”</p>
<p>“Rồi, rồi!” Tôi nói, “Tụi này nói một triệu thứ chuyện rồi!”</p>
<p>Hồng vào trong mang đũa muỗng ra.</p>
<p>“Nếu không ăn thì&#8230; sẽ nguội!”</p>
<p>“Thì ăn. Tôi đói lắm rồi!”</p>
<p>Phước cầm đũa, bưng tô mì lên.</p>
<p>“Anh Thăng!” Nam đẩy tô hủ tiếu Nam Vang về phía tôi. “Làm một tô cho ấm bụng!”</p>
<p>“Cám ơn. Bây giờ thì tôi thấy đói rồi!”</p>
<p>Tôi đói thật. Tôi ăn như một người sắp chết.</p>
<p>Phước cũng ăn nhanh. Anh đặt tô xuống sau cái và cuối cùng.</p>
<p>“Tôi vẫn có ý chờ anh Thăng hỏi.”</p>
<p>“Tôi hỏi gì?”</p>
<p>“Anh đưa tiền cho tôi mà anh không hỏi bao giờ đi. Ði ngả nào. Ghe ở đâu?&#8230;”</p>
<p>“Tôi đưa tiền cho anh rồi. Tôi chờ anh nói. Nếu anh chưa nói có lẽ chuyện còn chờ. Có gì gấp đâu!”</p>
<p>“Tại sao anh tin tôi dữ vậy?”</p>
<p>“Thì cũng phải có một người nào để tin chớ.” Tôi nhìn Nam cười. “Phải không?”</p>
<p>“Phải quá đi chứ!” Nam nói, “Lúc nãy anh nói như Tào Tháo sao bây giờ anh nói như một thanh niên mới lớn vậy?” Nam ngó tôi.</p>
<p>“Tôi tin Phước. Phải, tôi tin Phước vì giữa chúng tôi có một kỷ niệm lớn, mà nếu không có niềm tin thì không thể giữ được kỷ niệm ấy!”</p>
<p>Tôi lấy một điếu thuốc châm lửa hút. Phước cũng vậy. Anh rút một điếu ba số, gắn lên môi, tay kia anh cầm tay tôi kéo về phía anh, mồi lửa. Tôi nhìn thấy mắt Phước sáng lên. Cái ánh lửa của đầu điếu thuốc lập lòe trong mắt anh. Tôi đứng dậy.</p>
<p>“Cám ơn cô Hồng. Xin chào các bạn.”</p>
<p>“Chiều mai mình gặp nhau!” Phước đứng dậy theo. “Tại đây, lúc sáu giờ!”</p>
<p>“Sáu giờ!” Tôi lặp lại.</p>
<p><strong>Quận Cam, California tháng 10, 1986</strong></p>
<p><strong>Bụi Và Rác _ Người Đi Trên Mây 2, hiệu đính từ bản điện tử của Người Việt Online và ấn bản 1992 Nguyễn Xuân Hoàng, Bụi và Rác, Nhà xuất bản Thanh Văn, California. (TV&amp;BH 2014)</strong></p>
<p>&nbsp;</p>
<table border="0" cellpadding="0">
<tbody>
<tr>
<td valign="top"></td>
</tr>
</tbody>
</table>
]]></content:encoded>
					
					<wfw:commentRss>https://t-van.net/nguyen-xun-hang-bui-v-rc/feed/</wfw:commentRss>
			<slash:comments>0</slash:comments>
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Nguyễn Xu&#226;n H&#242;ang: Người Đi Tr&#234;n M&#226;y</title>
		<link>https://t-van.net/nguyen-xun-hang-nguoi-di-trn-my-2/</link>
					<comments>https://t-van.net/nguyen-xun-hang-nguoi-di-trn-my-2/#respond</comments>
		
		<dc:creator><![CDATA[TV và BH]]></dc:creator>
		<pubDate>Fri, 19 Sep 2014 21:06:10 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[đọc lại Nguyễn Xuân Hòang]]></category>
		<category><![CDATA[nguyễn xuân hòang]]></category>
		<category><![CDATA[tv&bh]]></category>
		<category><![CDATA[đọc lại NXH]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://7076e870b2.nxcli.io/?p=19231</guid>

					<description><![CDATA[Giới Thiệu: Tác phẩm Người Đi Trên Mây của nhà văn Nguyễn Xuân Hòang có lẽ là tác phẩm được nhắc đến nhiều nhất mỗi khi người ta nói hoặc viết về Nguyễn Xuân Hòang. Thậm chí, bản thân nhà văn còn được gọi là “Người đi trên mây&#8221; và có người còn quả quyết [&#8230;]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<p><a href="https://t-van.net/wp-content/uploads/2014/09/clip_image00216.jpg"><img decoding="async" style="background-image: none; float: none; padding-top: 0px; padding-left: 0px; margin-left: auto; display: block; padding-right: 0px; margin-right: auto; border: 0px;" title="clip_image002" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2014/09/clip_image002_thumb12.jpg?strip=all&fit=354%2C530" alt="clip_image002" width="354" height="530" border="0" /></a></p>
<p><em><strong>Giới Thiệu:</strong> Tác phẩm Người Đi Trên Mây của nhà văn Nguyễn Xuân Hòang có lẽ là tác phẩm được nhắc đến nhiều nhất mỗi khi người ta nói hoặc viết về Nguyễn Xuân Hòang. Thậm chí, bản thân nhà văn còn được gọi là “Người đi trên mây&#8221; và có người còn quả quyết rằng nhân vật chính trong truyện – Trần Lâm Thăng – là bản sao của tác giả. Sau Người Đi Trên Mây (1987), nhà văn Nguyễn Xuân Hòang cho ra đời Bụi Và Rác (1992) còn được gọi là Người Đi Trên Mây 2. Tin đồn rằng nhà văn đã hòan tất xong quyển sách thứ ba, tác phẩm này sẽ cùng với Người Đi Trên Mây, Bụi Và Rác , hợp thành bộ Trilogy để đời của ông, nhưng định mệnh đã xui khiến ông lỡ tay nhấp một cái “nhấp chuột chết người&#8221;(delete) và thế là tác phẩm thứ ba biến vào hư không mà không để lại chút dấu vết nào. Trong một dịp trò chuyện (qua điện thư), tôi có hỏi nhà văn về “tin đồn” này thì không được ông trả lời. Tôi không rõ ông không muốn trả lời câu hỏi hay chỉ đơn giản im lặng để tùy người đời suy đóan. Cho đến hôm nay, sau khi ông nằm xuống được một tuần, người ta có thể chắc chắn một điều là không có tác phẩm thứ ba. Có lẽ rồi đây, khi nỗi buồn vắng ông lắng xuống, thân nhân, thân hữu của nhà văn sẽ giúp chúng ta có câu trả lời chính xác. Còn bây giờ, để tưởng niệm một nhà văn quan trọng của văn học miền Nam (và Việt Nam), cách hay nhất là đọc lại văn Nguyễn Xuân Hòang, nhất là hai tác phẩm Ngừơi Đi Trên Mây và Bụi Và Rác.</em></p>
<p><em>Về ấn bản điện tử của hai tác phẩm này, hiện lưu hành trên mạng tòan cầu chỉ có bản đăng từng kỳ (100 kỳ cho NĐTM và 100 kỳ cho BVR) do Người Việt Online thực hiện, được rải rác đây đó vài trang Web các cựu học sinh của nhà văn đem về nối kết (link) như một cách tưởng nhớ đến người thầy của mình. Trong tinh thần đó, TV&amp;BH xin phép báo Người Việt Online được đăng tải lại tác phẩm NĐTM và BVR, sau khi đã gom những kỳ đăng tải rời rạc thành một bản văn và đối chiếu lại với bản in (giấy) mới nhất của nhà xuất bản Người Việt năm 2014, để gởi đến độc giả Việt Nam – trong và ngòai nước – bản điện tử trang trọng xứng tầm với vị trí của tác giả và  hai tác phẩm tiêu biểu về một giai đọan lịch sử đau thương nhất của đất nước mà không ai trong chúng ta được quyền không biết đến và không ai trong chúng ta được phép quên lãng.</em></p>
<p><em>Kính mong được sự lượng thứ và cho phép của Cô Trương Gia Vy – phu nhân nhà văn NXH- về việc làm này của T.Vấn &amp; Bạn Hữu.</em></p>
<p><em><strong>Ngày 19 tháng 9 năm 2014</strong></em></p>
<p><em><strong>T.Vấn</strong></em></p>
<p>&nbsp;</p>
<h3><em><span style="font-weight: bold;">Nguyễn Xuân Hòang</span></em></h3>
<h1> <em>Người Đi Trên Mây</em></h1>
<p>&nbsp;</p>
<p><strong>Chương 1</strong></p>
<p>Thực tình trong thâm tâm tôi, tôi không có ý định đến dự buổi tiệc này. Tại sao tôi cũng không hiểu. Có thể có nhiều lý do, nhưng xét cho cùng, chẳng có lý do nào là chính đáng.<br />
Trước hết, có lẽ vì tôi không hề quen biết người đứng mời, mặc dù chủ nhân không phải là một tên tuổi xa lạ trong lúc này, giữa những ngày đầy biến cố sôi động của Sài Gòn.<br />
Lại nữa, tôi vốn không ưa thích lắm đám đông, nhất là đám đông của những tiệc tùng đình đám. Bầu không khí của những dạ tiệc càng làm tôi lo sợ hơn. Y phục kiểu cách, lịch sự giả dối, ngôn ngữ kênh kiệu&#8230; Tất cả những thứ đó làm tôi ngộp thở. Họ nói chuyện chính trị và kinh tế pha trộn trong mùi nước hoa, và màu sơn móng tay&#8230;<br />
Sau cùng, tôi do dự vì tấm thiệp mời đã đặt tôi trước hai thái độ của đám bạn tôi. Một đứa khi cầm trên tay giấy mời in tuyệt đẹp với dấu nổi khằn ghi rõ tên tuổi của một chức sắc cao cấp trong Hội Ðồng Nội Các đã cười cười nói nói với tôi rằng đến làm chi cái thế giới quân phiệt và tài phiệt kia, nơi chỉ có luồn cúi và bưng bợ, lò thiêu hủy nhân cách con người. “Ðến chợ Ðủi đi, bọn tao chờ mày ở đó!” Ðám khác thì khuyên tôi nên đi, đó là một cơ hội bằng vàng, phải mở rộng cánh cửa quen biết. “Cho dù mày không ưa cái xã hội thượng lưu đó, chắc chắn sẽ có lúc mày cần đến nó! Vả lại được bắt tay ông Phan lúc này đâu phải là chuyện chơi! Ði đi con ạ! Chớ có ngu!”<br />
Tôi biết chắc là tôi sẽ lạc lõng trong cái thế giới quyền lực và hào nhoáng kia, nhưng không hiểu cái gì đã xô đẩy tôi, vô hình nhưng mạnh mẽ.</p>
<p>Qua khỏi cánh cổng hẹp có lính gác tôi bước vào một khu vườn rộng. Dưới mỗi gốc cây là một bàn vuông nhỏ bốn chỗ ngồi với nến ba ngọn và thức uống. Khách đến đã khá đông. Tôi thấy chủ nhân, ông bà Phan, đứng trên bực cấp cao của ngôi biệt thự.<br />
Tôi đang lớ ngớ thì một người đàn ông cao lớn, tóc cắt cao, mặt bạnh bước về phía tôi. Chân thẳng, đầu cúi thấp, giọng kiểu cách, anh ta nói:<br />
“Xin lỗi ông. Chúng tôi sẽ rất hân hạnh được biết quý danh!”<br />
Tôi nhìn hắn hơi ngạc nhiên, nhưng rất kịp thời tôi trả lời:<br />
“Thăng. Trần Lâm Thăng. Làm nghề dạy học.”<br />
Hắn nghiêng đầu, đưa tay mời:<br />
“Xin mời giáo sư.”<br />
Hắn đưa tôi đến trước mặt ông bà Phan, đứng nghiêm, giọng nhỏ, nhưng rõ ràng:<br />
“Bẩm cụ. Giáo sư Trần Lâm Thăng!”<br />
Ông Phan đưa tay cho tôi bắt. Bàn tay ông mập và mềm, mấy ngón tay ú nhão. Ông có đôi mắt nhỏ nhưng khóe nhìn sắc sảo. Cái nheo mắt của ông như thầm hỏi người hầu cận tôi là ai. Người đàn ông cao lớn, nhắc lại một lần nữa, giọng dõng dạc:<br />
“Bẩm cụ. Giáo sư Trần Lâm Thăng!”<br />
“Cậu Thăng! Trời ơi! Cậu là cậu Thăng đây hả?” Giọng ông mừng rỡ.<br />
Ông quay sang người đàn bà đứng bên:<br />
“Bà này, đây là cậu Thăng, con của anh Thành người bạn cố tri của tôi mà tôi vẫn thường nhắc với bà đó!”<br />
Bà Phan khoảng tuổi trung niên và là một người đàn bà đẹp. Trán vồ kiêu hãnh, đôi mắt lớn, nụ cười hiền. Bà nhìn thẳng vào mắt tôi, giọng tình cảm:<br />
“Chúng tôi rất vui mừng được biết cậu, cậu Thăng ạ! Nhà tôi vẫn nhắc đến ba cậu và cậu luôn!”</p>
<p>Tôi hơi ngạc nhiên về mối liên hệ bất ngờ giữa ông bà Phan và cha mẹ tôi. Tôi là đứa con thứ mười trong một gia đình có mười hai anh em. Từ khi tôi hiểu thế nào là đồng tiền và giá trị đổi chác của nó, tôi biết gia đình tôi luôn luôn sống trong một tình trạng túng thiếu.<br />
Cha tôi thì suốt ngày say sưa chè chén, và má tôi thì đầu tắt mặt tối, lam lũ như một người đàn bà nhà quê. Còn ông Phan từ lâu được mô tả như là một trong những khuôn mặt lớn trong sinh hoạt chính trị Việt Nam, một người đang theo đường lối chính sách của Hoa Kỳ tại bán đảo Ðông Dương. Cũng có nguồn tin nói rằng ông Phan có khuynh hướng thân Pháp. Lý do là vì người cầm đầu chính phủ Pháp hiện nay trước kia từng là “copain” của ông. Họ đã từng cùng chiến đấu dưới một màu cờ tam tài trong cùng một binh chủng và ở cùng một đơn vị. Vai trò của ông Phan vì thế được chú ý một cách đặc biệt. Ông Phan, thí sinh số một đang được choàng hoa và đánh bóng kỹ nhất ở đây trong lãnh vực chính trị, đang cầm giữ tay tôi trong tay ông. Bàn tay ông mập mềm, rịn mồ hôi làm tôi ghê sợ. Tôi muốn rút tay ra, nhưng cái bắt tay đầy nhiệt tình của ông, và nhất là đôi mắt ông sáng lên thứ ánh sáng thân ái khiến tôi vừa không nỡ vừa không dám kéo tay ra.<br />
Tôi không biết nói gì. Sự bỡ ngỡ làm tôi câm như hến. Tôi nhìn chăm vào mắt ông.<br />
“Thưa ông bà, thật là một vinh hạnh lớn cho tôi.” Tôi nói như một kép cải lương.<br />
Ông Phan có vẻ không quan tâm đến điều tôi nói.<br />
Ông thả tay tôi ra, rồi đặt cả hai bàn tay ông lên vai tôi.<br />
“Bà thấy không, nó giống anh Thành như đúc.”<br />
Người đàn bà không trả lời chồng, chỉ khẻ gật đầu, nhìn tôi thiện cảm.<br />
Sau cùng ông Phan nói:<br />
“Mời cậu Thăng vào trong nhà. Chúng tôi có câu chuyện muốn bàn với cậu.”<br />
Ông thu hai tay lại, hất hàm về phía người cận vệ.<br />
“Xin mời ông!”<br />
Theo chân người nhà ông Phan, tôi băng qua một phòng khách rộng, trần nhà cao, sơn trắng. Một chùm đèn lớn chụp pha lê treo giữa phòng tỏa ra một thứ ánh sáng vàng ấm áp. Bàn ăn đặt dài ở hai góc. Một quầy rượu đặt ở góc chéo cuối phòng.<br />
Khách khứa, như tôi có thể hình dung trong trí, ăn mặc hợp thời trang, nói năng nhã nhặn lịch sự. Tuy vậy đám trẻ chiếm đa số, và người lớn có vẻ như là phụ huynh đi theo con để canh chừng chúng hơn là chính mình tham dự. Tôi thấy mấy người đàn bà tụ thành nhóm nhỏ, cười cười nói nói. Còn đám đàn ông với thuốc lá trên môi, ly rượu trên tay đang sôi nổi trò chuyện.<br />
Ðiều rất giống nhau nơi họ mà tôi có thể nhận ra được ngay là quần quần áo áo. Họ ăn mặc đẹp và sang. Họ nói chuyện thời sự quốc tế và những đổi thay sắp tới trong Hội Ðồng Nội Các. Tuy vậy, lẫn giữa những vấn đề trọng đại của tình hình chiến sự tôi nghe được câu chuyện về màu sắc của chiếc cà vạt, loại vải mới để may bộ veste và giá tiền của một chiếc ô tô của một hãng danh tiếng.<br />
Ði ngang qua quầy rượu, tôi dừng lại, nhón một quả ô liu và bưng một ly. Khi tôi quay lại người nhà ông Phan đã đi đàng nào. Tôi không gặp một ai quen trong đám khách ông Phan, nhưng thấp thoáng đâu đó tôi thấy một vài khuôn mặt đã từng xuất hiện trên truyền hình báo chí. Bỗng nhiên tôi nhớ đến đám bạn tôi. Giờ này ở Chợ Ðũi, có lẽ Ký đang đọc thơ, Nghĩa đang ngó lên trời cười một mình với cái ý tưởng “kinh tế học” nào đó trong đầu hắn, Lộc đang chửi thề, nhắc lại những ngày vui ở Paris&#8230; Có lẽ ngoài quán Cái Chùa, Phùng đang ngồi trước ly cà phê, chiếc kính cận tụt xuống sống mũi, Tâm đang đốt liên tu hồ tận những điếu thuốc đen, Ðình đang bàn chuyện cá ngựa, những “tuyệt phích” của ngày mai, và Nhật đang&#8230; “Rất ân hận”. Tôi dừng lại, nâng ly rượu lên trán, chào các bạn trong trí tưởng tượng và uống một hơi cạn&#8230;</p>
<p>Chỉ có chừng này thôi sao? Ðổi một buổi tối họp mặt bạn bè chỉ để nhìn ngó chừng này con người xa lạ, và uống một ly rượu?<br />
Rượu, ở đâu mà chả có. Vả lại tôi đâu phải là bợm nhậu. Tôi uống kém nếu không muốn nói là tồi, dưới mức trung bình.<br />
Ký vẫn gọi tôi là tên phá mồi. Nhưng, thiếu một thằng phá mồi trong một bữa nhậu cũng coi như là vắng một thằng nhậu&#8230;<br />
Tuy vậy, tôi không phải thất vọng lâu. Ở cuối phòng, tôi thấy một khuôn mặt dễ thương, hai con mắt đen, tóc chải cao để lộ một chiếc trán bướng, áo màu tím sẫm, cổ hở rộng, giữa ngực là một chuỗi hạt lấp lánh trên một làn da trắng muốt&#8230; Vây quanh cô gái là các cậu trai ăn mặc như các công tử&#8230;<br />
Người thiếu nữ nói, và sau mỗi câu nói của cô tôi nghe rộ lên những tiếng cười. Tôi không biết cô nói gì, nhưng rõ ràng là cô đang được tán thưởng. Sắc đẹp dù ở đâu cũng được tán thưởng (!).<br />
-Xin lỗi giáo sư. Tôi tìm ông mãi!<br />
Người nhà ông Phan chụp lấy tôi, mừng rỡ như tìm được món đồ tưởng đã mất.<br />
-Cụ Phan muốn nói chuyện với giáo sư.<br />
-Ngay bây giờ?” Tôi hỏi.<br />
Hắn đưa tay dẫn đường<br />
-Thưa giáo sư, lối này ạ!<br />
Tôi khó chịu khi nghe ai gọi mình là giáo sư. Danh xưng ấy không hợp với tôi trên nhiều phương diện. Tôi dạy học bởi vì tôi không có khả năng chọn một nghề nào khác như lòng tôi mơ ước, chứ không phải vì tôi có thiên chức của một nhà giáo. Tôi nộp đơn vào binh chủng không quân ngay khi vừa đậu Tú Tài hai, nhưng mẹ tôi đã than khóc trì kéo. Bà nói nhà có hai đứa con trai. Thằng anh mày đi Biệt Ðộng Quân cũng đủ rồi. Mày phải ở nhà. Tao muốn mày học bác sĩ. Tôi vâng lời mẹ ghi danh theo học y khoa và tôi thất bại. Nghề đó không dính gì đến tôi. Tôi đậu vào Quốc Gia Hành Chánh và tôi đã bỏ nó ngay sau tuần lễ đầu. Tôi học Sư Phạm bởi vì một lẽ giản dị Ðà Lạt là một thành phố đẹp. Và một phần cũng vì cái học bổng ở đó tôi có thể tự nuôi thân tôi mà không làm phiền lụy ai.<br />
Ði theo anh ta đến cuối phòng, ngang qua chỗ cô gái, tôi thấy hình như họ đang chơi một trò chơi gì đó. Cô gái chỉ tay vào mặt một cậu trai hỏi:<br />
-Sẽ làm gì nếu tôi nói ghét anh?<br />
Cậu trai do dự rồi đáp:<br />
-Ðớp ngay hai tô phở!<br />
Thiếu nữ phá lên cười và cả đám vỗ tay cười theo. Người nhà ông Phan mở cánh cửa nhỏ đưa tôi vào căn buồng, với tay bật nút điện. Sau đó anh ta nghiêng đầu chào tôi, rồi bước lui, nhẹ nhàng khép cửa bỏ lại tôi một mình.<br />
Phòng giống như một thư viện loại bỏ túi. Hai bức họa khá lớn chiếm gần hết một mảng tường. Một tấm sơn dầu thuộc loại sao lại, là tác phẩm Tự Họa của Van Gogh, còn bức kia là của họa sư Utamoro Kitagawa vẽ hai diễn viên Kabuki. Phần còn lại là những kệ sách cao. Nhưng những cuốn ngang tầm mắt mà tôi có thể đọc được là Hồi Ký của Winston Churchill, Charles de Gaulle, André Malraux&#8230; Và ngay kệ dưới là Sứ Quân của Niccolo Machiavelli, Cuộc Chiến Ðấu Của Tôi của Adolf Hitler, Tư Bản Luận của Karl Marx, Dân Sự Bất Phục Tùng của Henry David Thoreau,&#8230;<br />
Thật tình mà nói loại sách này tôi đọc chỉ là vì nghề nghiệp chứ không phải là ưa thích. Trong tủ sách tôi có một chỗ trang trọng dành cho Chùa Ðàn của Nguyễn Tuân, Thác Ðổ Sau Nhà của Võ Phiến, Bếp Lửa của Thanh Tâm Tuyền, Dòng Sông Ðịnh Mệnh của Doãn Quốc Sỹ, Những Vì Sao của Alphonse Daudet, Bà Bovary của Gustave Flaubert&#8230; nhưng thiếu chỗ cho Hữu Thể và Hư Vô của Jean-Paul Sartre, hoặc Siêu Hình Học Là Gì? của Martin Heidegger, hoặc Triết Lý Ðã Ði Về Ðâu? của Trần Ðức Thảo&#8230;</p>
<p>Dù sao tôi đã lấy ra khỏi kệ cuốn Sứ Quân của Machiavelli. Tôi lơ đãng lật từng trang sách và tôi dừng lại ở Chương Mười Bảy, màu mực đỏ gạch dưới hai câu:<br />
“Ðộc ác hay độ lượng? Ðể cho dân sợ hãi hơn là dân thương mến?”<br />
Bên lề trang sách có dòng chữ cũng màu đỏ “Trong cộng đồng nhân loại uy quyền xây trên nền tảng vũ lực!”<br />
Tôi nghĩ tới ông Phan, chánh sách nào ông đang theo đuổi, liên hệ nào ông có với gia đình tôi? Hồi còn sống cha tôi không hề nhắc đến một người nào tên Phan. Tôi cố gõ cánh cửa ký ức nhưng chỉ là vô vọng. Ông Phan không có trong ngăn kéo của những hoài niệm tôi.<br />
Nhưng không lâu lắm tôi nghe có tiếng gõ cửa, và tiếp ngay đó, cửa xịch mở. Ông Phan hiện ra giữa phòng, mang theo ánh sáng, âm nhạc và tiếng động bên ngoài.<br />
Tôi đứng bật dậy với cuốn sách trên tay.<br />
-Chắc cậu chờ tôi lâu lắm, phải không?<br />
-Thưa ông&#8230;<br />
Tôi xếp sách lại kẹp vào nách, đứng thẳng hai tay bắt chéo.<br />
-Cậu đừng ngại”, ông ngắt lời.<br />
-Cứ tự nhiên như ở nhà! Bất ngờ tôi có một ông khách trong ngoại giao đoàn&#8230;<br />
Ông quay một ô trong kệ sách, bấm một chiếc nút, cánh cửa nhỏ bật ra, và tôi thấy những chai rượu tây xếp dọc trong tủ.<br />
-Cậu Thăng uống loại gì nào?<br />
-Cám ơn ông&#8230;<br />
-Ðừng nói chuyện không biết uống rượu với tôi. Con nhà tông không giống lông cũng giống cánh chứ, Remy Martin hay Hennessy nào?<br />
-Dạ! Tôi ngập ngừng.<br />
-Ðược! Vậy là tốt. Không khách sáo thế là tốt! &#8211; Ông Phan không hiểu tiếng dạ của tôi.<br />
-Thưa ông, tôi có điều thắc mắc!<br />
-Thắc mắc? Thôi để qua một bên đi. Trước hết hãy uống một ly mừng ngày gặp gỡ con trai anh Thành. Rồi sau muốn gì hẳn nói!<br />
&#8230;&#8230;<br />
-Ba cậu là tay nhậu có hạng. Còn cậu thì sao? Thôi ngồi xuống đây đi cậu Thăng!<br />
Ông đặt chiếc ly không lên bàn, kéo hộc tủ, lui cui lục lọi hồi lâu trong đống giấy tờ rồi mang đến trước mặt tôi một tấm ảnh đã ngả màu.<br />
-Cậu có nhận ra người này là ai không?<br />
Ngón tay ông trỏ lên khuôn mặt một người đàn ông râu ria xồm xoàm. Ðó là một người lính mặc áo trận rộng, tay phải chống lên hông, chỗ đeo cây súng ngắn, tay trái choàng qua vai một người lính khác lùn và gầy hơn. Cả hai rõ ràng là người Á Ðông đứng giữa những tên mũi lõ&#8230; Tôi ngước mắt nhìn ông Phan và bắt gặp ông cũng đang nhìn tôi.<br />
Thật ra không cần nhìn kỹ tôi cũng có thể biết người có râu trong ảnh là ai. Trong phòng cha tôi cũng có một tấm như thế.<br />
Hồi xưa ông nhiều râu hơn bây giờ.<br />
Tôi nói với ông Phan:<br />
-Thưa ông, tôi không rõ!<br />
Ông Phan hơi nhíu mày.<br />
-Có thật cậu không nhận ra người trong ảnh là ai sao?<br />
Tôi gật đầu, mắt vẫn không rời ông.<br />
-Vậy chứ anh Thành không còn tấm ảnh nào như tấm này sao?<br />
-Thưa ông, không, tôi chưa hề thấy!<br />
Ông Phan không nói gì. Ông cầm tấm ảnh, mở ngăn kéo, trả lại chỗ cũ.<br />
-Hồi đám tang anh Thành cậu ở đâu? &#8211; Ông bất ngờ hỏi tôi.<br />
-Thưa ông&#8230;<br />
-Thôi, không phải ông ông tôi tôi khách sáo nữa. Cứ gọi tôi là bác, bác Phan. Như vậy cho nó thân mật. Tôi ít tuổi hơn anh Thành, nhưng bọn tôi là bạn thân, rất thân.<br />
Tôi đứng lên, để ly rượu trên bàn, trả quyển sách lại chỗ cũ.<br />
-Thưa ông&#8230; Vâng, thưa bác, hồi đó cháu đang ở Sài Gòn. Hay tin không lành của cha cháu trễ quá thành ra&#8230;<br />
-Nghĩa là cậu không về kịp chứ gì?<br />
-Vâng, thưa bác, cháu về đến nhà khi mọi việc xong xuôi.<br />
-Ðúng. Ðám tang anh Thành không có cậu. Tôi đã được xem bộ ảnh, nhưng không thấy cậu!</p>
<p>Ông Phan làm tôi sợ. Quả thật những giây phút cuối cùng của cha tôi đã không có tôi bên cạnh. Cha tôi, người đàn ông rượu chè be bét đã ám ảnh tôi suốt một thời tuổi trẻ.<br />
Mẹ tôi khóc hết nước mắt vì những cơn say dữ dội của ông. Tuổi trẻ của ông ra sao? Mẹ tôi không bao giờ nói, mà ông thì lúc nào cũng chỉ có điệp khúc sau đây: “Tao, Trần Lâm Thành, sĩ quan tốt nghiệp trường Võ Bị Dar-el-Beida, chiến đấu dưới màu cờ Pháp quốc, đã theo chân Tướng Juin đổ bộ lên Ý Ðại Lợi, được ân thưởng Ðệ Ngũ Ðẳng Bắc Ðẩu Bội Tinh và được tuyên dương công trạng mười hai lần trước hàng quân. Tao, người duy nhất dám vứt bỏ chức vụ cao cấp mà Nhà Nước Pháp tưởng thưởng để dấn thân vào công cuộc tranh đấu cho nền độc lập xứ sở mà ông X. đã đứng ra đề xướng. Nhưng tao, cũng chính tao, là người đã dám đứng lên phản đối ông X. trong vụ ký hiệp ước Sáu Tháng Ba. Tao bị bọn chúng lên án tử hình và đã thoát chết trong đường tơ kẽ tóc. Tao, tên say rượu để sống. Rượu đã cứu tao. Rượu là ân nhân của tao. Chúng mày là đồ giả trá, ti tiện; chúng mày là một lũ đầu trâu mặt ngựa&#8230; Tao đếch sợ thằng nào. Thằng nào chê rượu là thằng tồi. Tao không chê rượu. Rượu là bạn tao. Sư cha thằng nào chê rượu. Rượu muôn năm!!!”<br />
-Hình như mấy lúc sau này anh Thành uống rượu hơi nhiều phải không cậu?<br />
-Thưa bác, cha cháu uống hơi nhiều từ lâu, kể từ ngày ông anh cả cháu bị thương trong trận chạm súng với Việt Cộng ở Hậu Nghĩa.<br />
Phải, mấy năm sau này rượu trở thành nhu cầu thường trực và cấp bách của cha tôi. Rượu làm ông tiểu tụy và bạc nhược.<br />
Tóc ông trắng toát và dài như một đạo sĩ tà phái. Hai mắt ông thất thần, đỏ ngầu những đường gân máu. Phòng ông tràn đầy khói thuốc, mùi rượu nồng nặc.<br />
Giờ đây, khi ông Phan nhắc đến cha tôi và cho tôi xem tấm ảnh &#8211; mà tôi vẫn còn giữ lại sau cái chết của ông &#8211; tôi mới ngỡ ngàng nhận ra người đứng bên cạnh là ông Phan, một ông Phan hơi nhỏ và gầy bên cạnh một người cao lớn là cha tôi. Tôi nghĩ là tôi có thể hiểu phần nào mối liên hệ giữa ông Phan và cha tôi. Nhưng tôi vẫn không hiểu vì sao cha tôi đã không nhắc gì đến ông Phan trong suốt những ngày ông sống với vợ con ông.<br />
-Cậu Thăng, hôm nay tôi cho mời cậu đến đây trước hết là tôi muốn giúp đỡ cậu. Cậu là con anh Thành, nên tôi xem cậu cũng là con tôi. Có phải hiện giờ cậu đang dạy học?<br />
-Thưa bác, phải.<br />
-Ðó là một nghề cao quí. Chọn nghề này theo tôi, là đồng nghĩa với chọn trách nhiệm và bổn phận. Làm thầy giáo có nghĩa là phải gạt bỏ tất cả mọi bon chen trong cuộc đời. Thầy giáo rất gần với thầy tu. Nhưng&#8230;”<br />
Ông Phan dừng lại giữa chừng câu nói, ngó chăm vào mắt tôi.<br />
-&#8230;nhưng hình như cậu lầm lẫn trong việc chọn nghề. Cậu có thấy vậy không?<br />
Tôi đã nhận thấy điều này từ lâu, có lẽ ngay từ ngày đầu khi mới bước chân vào lớp học. Thành phố Ðà Lạt thơ mộng, và ngôi trường đại học nơi tôi theo học cũng chứa bao nhiêu điều đẹp đẽ mà bất kỳ một tuổi trẻ nào cũng thèm muốn và ao ước. Tuy vậy tôi biết rõ giáo dục không phải là ngành thích hợp của tôi. Tôi yêu kính những người thầy từng dạy dỗ tôi, nhưng tôi cũng không ngừng phẫn nộ vì sự bất công mà họ đã dành cho tôi. Tôi run sợ trước mặt những ông thầy. Tôi luôn luôn là nạn nhân chua xót của họ. Từ tiểu học, qua trung học, lên đại học, các ông thầy bà cô nhìn tôi như một đối tượng để trút lên đó những bực dọc của cuộc đời khốn nạn của họ. Tôi là tấm bia để họ bắn vào đó những mũi tên mặc cảm. Và buồn thay, đúng như câu “ghét của nào trời trao của đó” tôi đã đâm sầm vào trường Ðại Học Sư Phạm. Ðỗ tú tài hai ban toán, mất một năm rong chơi ở Y khoa, sau khi bị mẹ rút đơn ra khỏi binh chủng Không Quân, bỏ trường Quốc Gia Hành Chánh, tôi nhảy tọt vào ban Triết.</p>
<p>Có nhiều lý do để biện minh cho việc chọn ngành của tôi, nhưng thâm tâm tôi, tôi biết dù thế nào đi nữa, mình vẫn là tên ngụy biện. Phải, tôi đã lầm lẫn trong việc chọn nghề. Nhưng biết làm sao! Tôi giống như cây mía đã róc vỏ, bị đun đẩy vào cái máy ép. Tôi chỉ có thể ra ở đầu kia chứ không thể lui lại ở đầu này. Tuy vậy tôi vẫn hỏi ông Phan:<br />
-Thưa bác, bác có thể cho cháu biết rõ hơn nữa về nhận xét của bác?<br />
-Sở dĩ tôi nói như vậy là vì tất cả những gì tôi biết về cậu đều có vẻ chống lại những gì cậu đang theo đuổi một nghề mà cậu không ưa thích. Tại sao?<br />
Như vậy là người ta đã báo cáo cho ông Phan khá nhiều về tôi. Và ông Phan đã nhìn tôi bằng cái nhìn mà mọi người đang có về tôi. Tôi là một tờ giấy trắng có nhiều vết mực bẩn chăng?<br />
-Thưa bác, có lẽ dạy học là nghề không thích hợp với cháu. Cháu ưa một cuộc sống khác hơn là cuộc sống cháu hiện có. Ðây là một lầm lẫn tai hại, và vô phương cứu chữa.<br />
-Tại sao?<br />
-Tại vì cháu là một người thụ động.<br />
-Chà! Chà!”<br />
Tôi nghe tiếng ông Phan chặc lưỡi.<br />
-Cậu dạy Triết mà có cái lối lý luận kỳ lạ. Theo chỗ tôi biết thì hình như cậu là một người thành công trong nghề nghiệp mà! Phải vậy không?<br />
Thế nào là thành công trong nghề dạy học? Câu ấy khó mà trả lời. Những ngày đầu tiên khi mới ra trường, được bổ nhiệm về Biên Hòa, tôi đã gặp ngay một khó khăn lớn. Học sinh tôi và tôi không cách biệt bao nhiêu về tuổi tác. Và bài học tôi thu được của nhà trường thật khác xa với bài giảng trong lớp. Tôi càng cố gắng hòa hợp với học sinh tôi, tôi càng bị đồng nghiệp nhìn tôi bằng con mắt khó hiểu. Tôi thực sự lo lắng cho học sinh. Và tôi biết rằng họ cũng quan tâm đến sự lo lắng của tôi. Nếu trong những năm về sau, khi đổi sang một trường khác tại Sài Gòn, một trường trung học lớn nhất Việt Nam, mà tôi có được chút ít thành công, chẳng qua là vì những học sinh của tôi &#8211; hoặc là họ thông minh chăm chỉ, hoặc là họ thực sự cố gắng &#8211; khiến họ có được điểu họ quyết tâm hơn là do tôi.<br />
-Thưa bác, xin cám ơn bác. Cháu vẫn nghĩ là chưa bao giờ cháu thành công trong lãnh vực này. Cháu chẳng qua là người may mắn.<br />
-Khiêm tốn là điều tốt, nhưng khiêm tốn quá coi chừng sẽ có hiệu quả trái ngược. Cậu hiểu chứ? Con Uyên nhà tôi nói là nó biết cậu, biết nhiều về cậu!<br />
Ông Phan nhấn mạnh hai chữ biết nhiều. Tôi hiểu sự ám chỉ ấy như một lời chê trách.<br />
-Nhưng thưa bác, cô Uyên là ai, cháu chưa biết!<br />
Ông Phan đang nhồi thuốc vào tẩu, bỗng ngừng lại ngó chăm vào mắt tôi.<br />
-Cậu không biết Uyên là ai thật à? Tôi tưởng là cậu có quen nó chứ!<br />
Tôi thực tình không hề quen biết cô Uyên. Nhưng theo cách nói của ông Phan tôi phải hiểu là cô Uyên nào đó biết tôi. Tôi dạy học và có thể trong đám đông học sinh tôi có một thiếu nữ tên là Uyên. Tuy vậy, tôi nghĩ biết tôi là một việc, còn biết tôi nhiều là một việc hoàn toàn khác.<br />
Ông Phan có phần ngạc nhiên về thái độ của tôi. Ông đặt tẩu thuốc xuống bàn, bấm cái chuông điện gắn trên hộc kéo. Cửa phòng mở và người cận vệ bước vào, đứng nghiêm, mắt ngó thẳng.<br />
-Bẩm cụ, gọi con!<br />
-Phải. Làm ơn mời cô Uyên vào giúp tôi.<br />
Cánh cửa khép lại, ông Phan quay sang tôi.<br />
-Con Uyên nhà tôi nói là gia đình cậu có chuyện lục đục sao đó. Phải vậy không?<br />
-Thưa bác, phải. Nhưng cháu vẫn không hiểu làm sao mà cô Uyên có thể biết quá nhiều về cháu như vậy!<br />
Có tiếng gõ cửa. Và không đợi ông Phan lên tiếng tôi thấy tay nắm xoay vòng và một cô gái bước vào, mang theo mùi hương phấn rất đàn bà.<br />
-Thưa bố, gọi con!<br />
-Phải!<br />
Ông Phan bập bập cái tẩu. Tôi nhận ra cái nhìn hơi khác của cô gái, một cái gì hơi khựng lại khi mắt cô đụng vào mắt tôi. Tôi cũng vậy, tôi đã nhìn ra được người thiếu nữ. Hai con mắt đen, mái tóc chải cao, chiếc trán bướng, hàm răng nhỏ, đều, trắng; áo nhung tím than hở cổ, da trắng mướt, chuỗi hạt lấp lánh giữa ngực. Cô gái mà mới vừa cách đây mấy phút, tôi thấy rực rỡ giữa các cậu trai, cuốn hút như một thỏi nam châm.</p>
<p>Ông Phan nhấc tẩu thuốc ra thở khói, gõ gõ tẩu thuốc lên lòng bàn tay.<br />
“Ðể bố giới thiệu con với anh&#8230;”<br />
Rất nhanh, cô gái nghiêng đầu về phía tôi:<br />
“Thưa bố, con có biết ông Thăng. Chào ông!”<br />
“Không dám. Chào cô!”<br />
Ông Phan ngồi xuống ghế.<br />
“Sao con nói là con có quen anh Thăng?”<br />
“Thưa bố, con nói là con có biết ông Thăng, chứ con đâu có nói là quen ông ấy&#8230;”<br />
“Chà! Chà!” Ông Phan chặt lưỡi. “Vậy mà bố cứ tưởng là con có quen anh ấy đấy!”<br />
Ông vỗ tro thuốc xuống gạt tàn. Tay ông mân mê những chân tóc trắng trên trán như đang lựa đếm những suy nghĩ trong đầu mình.<br />
Uyên đứng tựa lưng vào bức tranh Van Gogh hơi mỉm cười nhìn tôi. Tôi thấy mình thừa thãi.<br />
“Anh Thăng là con của bác Thành, bạn nối khố của bố. Bác Thành chẳng may qua đời, anh Thăng thì đang gặp một vài rắc rối. Bố muốn con coi anh Thăng như một người anh trong gia đình. Một người anh, con nghe rõ chứ?”<br />
“Thưa bố, con nghe rõ. Nhưng&#8230;”<br />
“Nhưng làm sao?”<br />
“Bố để cho con tự nhiên. Con sẽ nhớ lời bố mà!”<br />
“Tốt!”<br />
Ông quay sang tôi. Hình như ông định nói tiếp một điều gì đó, nhưng vừa lúc ông hắng giọng bắt đầu câu chuyện thì chuông điện thoại reo.<br />
“A lô! Tôi nghe đây&#8230; Vâng, xin cứ nói!”<br />
Tôi thấy cằm ông Phan bạnh ra, hai hàm răng nghiến lại, đôi mắt nhỏ dưới chiếc kính lão nheo lại và thỉnh thoảng sáng lên một thứ ánh sáng kỳ lạ.<br />
“Phải!&#8230; Ðúng!&#8230; Ông niên trưởng ngoại giao đoàn vừa ở nhà tôi ra&#8230; Sao?&#8230; Bao giờ?&#8230; Ngay bây giờ à?&#8230; Ừ!.. Ðược!&#8230; Mọi thành viên đều có đủ mặt chứ?&#8230; Vâng, xin thông báo tôi sẽ đến ngay!”<br />
Ông đặt ống nói xuống. Hai tay xoa vào nhau. Ông cắn một hớp rượu. Các thớ thịt ở gò má ông cuộn lại. Tôi có cảm tưởng ông đang có một quyết định quan trọng nào trong đầu.<br />
“Cậu Thăng. Tôi rất tiếc không thể nói hết câu chuyện với cậu. Tình hình chính trị đang có nhiều biến chuyển mới. Tôi không thể vắng mặt trong một cuộc họp quan trọng và khẩn cấp. Hẹn cậu một dịp khác. Uyên sẽ thông báo cho cậu nhé!”<br />
Ông Phan bắt tay tôi. Cái bắt tay chặt chẽ thân mật, nhưng những ngón tay mập và nhão của ông vẫn không làm tôi bớt ghê sợ.<br />
Ông bấm chuông. Người cận vệ như núp sẵn đâu đó, mở cửa bước ngay vào, đứng nghiêm.<br />
“Anh nói với bác tài chuẩn bị xe. Anh đi với tôi nhé!”<br />
“Bẩm cụ, vâng!”<br />
Người cận vệ ra, ông Phan bước tới một bước, hôn trán con gái:<br />
“Thôi bố phải đi! Con tiếp anh Thăng hộ bố nhé!”<br />
Uyên không trả lời cha. Cô nắm tay cha bước theo ông. Ðến thềm cửa, đôi mắt đen quay lại tôi:<br />
“Ông Thăng chờ tôi nhé!”<br />
Còn một mình trong căn phòng đọc sách buồn bã, tôi ngắm bức Tự Họa của Van Gogh tưởng chừng như thấy khuôn mặt của chính mình.<br />
Tôi nghĩ đến căn phòng trống trải của tôi, nơi mà lát nữa đây tôi sẽ trở về sống một mình không một ai chờ đợi.<br />
Mãi về sau tôi vẫn không hiểu tại sao tôi không đến chào bà Phan, hay bà Phan không muốn gặp tôi!</p>
<p>&nbsp;</p>
<p><strong>Chương 2</strong></p>
<p>Ðứng trước cổng nhà ông Phan, tôi tự hỏi sẽ làm gì cho xong, cho hết cái phần thời gian còn lại của ngày. Tôi không chờ đợi Uyên, như cô đã hẹn tôi, mặc dù đôi mắt to đen, nụ cười mỉm chi, cái nốt ruồi duyên trên khóe miệng, cả cái dáng đi uyển chuyển của cô vẫn còn nguyên vẹn trong trí nhớ tôi.<br />
Tại sao?<br />
Có lẽ cái cảm giác ban đầu do sức hút của vẻ đẹp Uyên đang bị đẩy lui bởi cái ấn tượng mạnh mẽ của con người thời cuộc là ông Phan. Người ta nói sắc đẹp vốn là bạn đồng hành của dối trá và phản bội. Tôi không hoàn toàn tin như vậy. Nhưng ở Uyên, nhận xét ấy có phần đáng suy gẫm.</p>
<p>Ðêm xuống từ lâu trên những ngọn cây. Và ngôi biệt thự, nơi tôi vừa gặp gỡ những con người kỳ lạ vẫn còn sáng ánh điện.<br />
Gió từ sông Saigon thổi luồng hơi lạnh len qua giữa những hàng cây chạy hoang trên những con đường vắng. Tôi cảm thấy gây gây ở sống lưng. Ðời sống tôi rối như một mớ bòng bong, giờ đây trong một quen biết mới, tôi thấy mớ bòng bong ấy chừng như càng rối ren thêm.<br />
Tôi thả bộ dọc theo đường Lê Văn Duyệt. Phố xá vắng bóng người. Một vài chiếc xích lô máy chạy thục mạng như bị ma đuổi. Mấy chiếc xe nhà binh mui kín bóp còi inh ỏi trong một thành phố trống trải &#8211; âm thanh như lớn hơn và vang xa &#8211; càng làm tôi thấy mình như lẻ loi hơn.<br />
Tôi chưa muốn về nhà. Không, tôi không muốn về lại căn phòng tối ám của tôi trên căn gác một chung cư. Với tôi, thời gian của đêm mấy lúc sau này sao quá dài, dài tưởng như vô cùng tận. Làm thế nào tôi có thể đốt hết cánh đồng cỏ khô của thời gian đăng đẳng này? Ðêm gặm nhấm tôi trong nỗi bứt rứt và chua xót thường trực của một người làm vườn thất bại. Người ta đâu thể phung phí cả tuổi thanh xuân trong việc trồng trọt vun xới cây thương yêu và tin cậy trên một mảnh đất &#8211; tưởng là màu mỡ &#8211; để chỉ gặt hái những bông hoa và trái cây của dối trá hận thù?<br />
Tôi sợ những ý nghĩ lang bang của mình. Tôi sợ nghe chính tiếng chân tôi giẫm lên chiếc cầu thang bằng gỗ hơi dốc trong một chung cư dành cho những công chức hạng C, bủa quanh bằng sự nghèo nàn và bẩn thỉu.<br />
Tôi sợ tiếng mưa ào ạt gõ vào thành cửa kính đã rạn nứt&#8230; Tôi sợ tiếng kêu rè rè của một chiếc máy thu thanh quên tắt khi chương trình nhạc đã chấm dứt. Tôi sợ chiếc cốc uống nước còn đọng dưới đáy cái màu vàng của xác trà bị bỏ quên nơi góc nhà&#8230;<br />
Làm cách nào để rút ngắn được chiều dài của thời gian đe dọa dễ sợ kia? Ðến quán nước trên đường Tự Do, nơi sẽ có Tâm, Phùng, Nhật đang ngồi đấu láo bên những ly expresso nguội lạnh, nhạt nhẽo và chìm trong mịt mờ khói thuốc. Hay tấp vào cái quán nhậu ở đường Trần Quý Cáp, nơi sẽ có Ký, Nghĩa, Lộc ngất ngưởng giữa những chai bia và khóm ổi, cốc, xoài?<br />
Nhưng hình như tôi đã suy nghĩ vớ vẩn. Chợ Ðũi nằm trên đường đến quán Cái Chùa, mà tôi thì đang lội bộ, việc gì phải tính toán vớ vẩn, phải không? Tôi đã có quyết định.<br />
Chợ Ðũi vắng khách nhậu một cách kỳ lạ. Chỉ còn một bàn ở một quán gỗ nhỏ dựa sát cây me ở góc đường là có ánh đèn. Tất cả các bàn khác, ghế đã được xếp chồng lên trên. Ký, Lộc, Nghĩa là ba ông khách sau cùng trên chiếc bàn độc nhất kia. Trước mặt mỗi người là một ly bia. Dưới đất, quanh chân bàn la liệt những vỏ chai.<br />
-A! Tên phá mồi đã đến!<br />
Ký nhận ra tôi và anh la lên khi tôi đến sát bàn. Nghĩa ngó tôi cười cười một cách khó hiểu. Ðó là tôi nghĩ vậy. Nghĩa bao giờ cũng cười kiểu đó.<br />
-Mồi hết rồi ông trời! Chỉ còn rượu thôi, ông trời nhậu được thì ngồi xuống đây!<br />
Tôi tháo cà vạt nhét túi quần kéo ghế ngồi cạnh Ký, Lộc không nói gì, hắn đẩy ghế qua một bên, lảo đảo đứng lên, bước lạng quạng qua bên kia đường, thản nhiên vạch quần tiểu tiện dưới gốc me.<br />
-Ê, cho mượn cái ly nữa chị Hai! Ký gọi.<br />
Người chủ quán mang ly ra đặt trước mặt tôi và nói với Ký, giọng năn nỉ.<br />
-Thầy hai, bữa nay đóng cửa sớm, thầy hai thông cảm nghen thầy hai?<br />
Ký gạt ngang:<br />
-Ðừng lo chị hai. Ðể tụi này tính cho. Không sao đâu mà!<br />
Và anh nâng ly lên dừng ngang miệng, không uống:<br />
-Ê, phá mồi! Ði đâu về mà ngon lành vậy?<br />
-Chỗ ông Phan!<br />
-A! Vậy mà tao tưởng mày không đi chớ!<br />
-Thì cũng tính không đi. Nhưng&#8230;<br />
-Thôi, dẹp! Nhưng nhị gì? Ông Phan chịu chơi không?<br />
-Ai biết!?<br />
-Vậy ăn nhậu gì mà tới?<br />
Lộc trở về chỗ ngồi. Hắn lôi từ dưới bàn lên một chai bia lớn. Săm soi dưới ánh điện đường Lộc xuýt xoa:<br />
-A! Trái thơm tụi bây! Có lý! Có lý!<br />
Hắn dùng ngón tay cái bật cái nắp chai, rót đầy ly tôi và hắn:<br />
-Ở đó rượu ngon không mậy?<br />
-Ngon mà không ngon!<br />
-Gì kỳ vậy?<br />
-Không có bạn thì rượu gì ngon!<br />
-Có lý! Có lý! Lộc vỗ đùi khen. Nhưng không để tôi nói, hắn hỏi tiếp:<br />
-Vậy tới đó làm chi mậy?</p>
<p>Tới đó làm chi? Câu hỏi thật chí lý. Nhưng tôi đâu tới đó để uống rượu. Tôi cũng đâu tới đó để được bắt tay một ông lớn chịu chơi kiếm chút hơi hám quyền lực. Tôi tới đó giống như một người mắc bệnh tò mò muốn tìm xem có chút bí ẩn nào giấu sau cánh cổng của một ngôi nhà bỏ hoang. Và hình như tôi có được đôi chút thỏa mãn. Ông Phan soi chiếu cho tôi thấy đôi nét về cha tôi và về phần ông, ông cũng hé cho tôi thấy tầm mức của một quyền lực đang lớn.<br />
Nhưng tôi có cần tìm cho mình một lời giải thích không? Tôi lảng sang một chuyện khác. Tôi hỏi Ký:<br />
“Anh có nhớ bài Hồ Trường không?”<br />
“Không!”<br />
Tuy trả lời dứt dạt như vậy, nhưng liền đó Ký vung rộng tay đang bưng ly rượu làm sóng sánh nước bia vãi lên bàn.<br />
“Hồ Trường! Hồ Trường! Ta biết rót về đâu? Rót về phương Ðông&#8230; ư&#8230; đếch nhớ!”<br />
Ký đặt mạnh ly xuống bàn.<br />
“Mà tại sao mày lại muốn nghe Hồ Trường?”<br />
“Chẳng có lý do gì. Nhớ thì nhắc vậy thôi!”<br />
“Ðể yên, tao sẽ đọc cho mày nghe một bài thơ khác. Ðồng ý?”<br />
“Ðồng ý!”<br />
Ký lại nâng ly lên, ngửa cổ tu một hơi. Xong anh cúi khom người xuống dưới bàn lôi ra một chiếc cặp da dầy cộm bị chôn giữa đám vỏ chai. Anh mở cặp, mò mẫm trong các ngăn đầy sách vở và lấy ra một cuốn tập. Anh dùng một ngón tay thấm nước bọt lật từng trang giấy. Nhưng anh lắc đầu. Ánh sáng ngọn đèn hột vịt không đủ sức soi rõ những chữ. Anh gập quyển tập lại, bỏ vào cặp, vất đại dưới chân bàn.<br />
“Ðếch cần đèn! Tao đọc bằng trí nhớ cũng được. Này, tên phá mồi nghe đây!”<br />
Ký lại đổ bia thêm vào ly, bưng ly lên và vung tay ra. Nước trong ly sóng sánh.<br />
“Người con gái lội qua khe<br />
“Bàn chân với nước lạnh đè lên nhau<br />
“Nỗi niềm tưởng lại xưa sau<br />
“Bàn chân với nước cùng nhau lại đè!”<br />
&#8230;<br />
“Tuyệt không? Thơ thế mới là thơ chớ! Tên phá mồi thấy thế nào?” Ký hỏi.<br />
“Rất Bùi Giáng!” Tôi trả lời.<br />
“Hay! Khá lắm! Phá mồi mà cũng biết được thơ của Trung Niên Thi Sĩ thì hơi lạ. Vậy còn bài này?”<br />
Ký không đọc liền, anh rót thêm bia vào ly &#8211; đã tràn &#8211; bưng ly lên và vung tay ra. Nước trong ly sóng sánh đổ xuống mặt bàn.<br />
“Em về mấy thế kỷ sau”<br />
“Nhìn trăng có thấy nguyên màu ấy không<br />
“Ta đi còn gửi đôi dòng<br />
“Lá rơi có dội ở trong sương mù.”<br />
“&#8230;”<br />
“Sao?” Ký nhìn chăm chăm vào mặt tôi, dò hỏi.<br />
“Chịu!” Tôi lắc đầu.<br />
“Không biết à?”<br />
“Thua!”<br />
“Thế thì phá mồi kém thật!”<br />
“Ai vậy?”<br />
Ký đặt ly bia xuống bàn.<br />
“Thì cũng là Bùi Giáng! Không hay à?”<br />
“Không, không phải vấn đề hay hay dở”. Tôi chống chế. “Vấn đề là nó không có chất Bùi Giáng”.<br />
Ký gật gù.<br />
“Cũng được! Cũng được! Nhưng “dô” cái coi!”<br />
Anh bưng ly lên và cụng vào ly tôi.<br />
“Sao anh không đọc thơ anh?”<br />
Bỗng dưng tôi hỏi Ký một câu lãng xẹt. Anh không trả lời. Tôi đã vô tình động mối thương tâm của anh. Còn nhớ có lần trong một bữa nhậu, cũng tại quán này, hôm đó có Nhật và Tâm, tôi đã nói với anh rằng tôi thích đời sống anh hơn là thơ anh. Và khi anh nghiêng tai về phía tôi yêu cầu tôi nhắc lại điều vừa nói, tôi nói rõ hơn: “Ðời sống anh thơ hơn là thơ anh!” Ký không giận, nhưng tôi thấy anh đang ồn ào bỗng trầm hẳn lại. Về sau Nhật trách tôi đã nói một điều không nên nói với một người bạn đặc biệt là Ký. Anh lớn tuổi hơn chúng tôi dễ chừng đến gần một giáp. Tôi nhớ hổi nhỏ khi anh tôi mang về những tờ tạp chí Ðời Mới, tôi có lần đã đọc thơ anh. Những bài thơ có vần có điệu nhưng chữ nghĩa là những gì có phần cũ kỹ. Cuối bài thơ dù có để tên anh hay một tên nào khác, tôi nghĩ cũng thế thôi. Có lẽ hồi đó tôi có thành kiến là ai làm thơ hay hơn Quang Dũng &#8211; thật ra thì tôi cũng nghe lỏm bõm được câu trước mất câu sau của nhà thơ này mà thôi.<br />
(Em ở Thành Sơn chạy giặc về<br />
Tôi từ chinh chiến cũng ra đi<br />
Cách biệt mấy lần quê Bất Bạt<br />
Chiều xanh không thấy bóng Ba Vì&#8230;)</p>
<p>Cho nên thơ không tỏa ra được cái chất Quang Dũng này là không thể yêu được. Vậy thôi.<br />
Lớn lên đọc thơ anh, tất nhiên bằng một con mắt trưởng thành hơn, tôi thấy có cái gì đó không ổn trong chữ nghĩa và hình ảnh của thơ anh. Tất cả như sao chép lại từ nguyên bản. Rồi tôi quen anh vì cùng dạy chung một trường. Anh là một người ngang tàng. Anh uống rượu như Kiều Phong. Anh có một người vợ đẹp như A Tỷ. Anh sống bất cần đời. Khi chiều xuống là lúc anh say sưa và lúc đó đối với anh trời đất cũng chỉ là hạt cát.<br />
Tôi biết là anh khổ sở vì câu nói của tôi.<br />
Ðột nhiên Ký gạt tay ngang mặt bàn. Tất cả ly cốc đồ nhậu rơi dạt xuống thềm xi măng. Tiếng thủy tinh vỡ tung tóe.<br />
-Dzô đi tên phá mồi! Ai biết uống rượu người đó biết thưởng thức thơ. Mày cố học uống rượu đi, nếu không mày vĩnh viễn đếch biết thế nào là thơ.<br />
Khi tôi bưng ly bia lên ực một hơi lắc lắc cho những viên đá chạm vào thành ly, tôi bỗng nhe tiếng thắng gấp của một chiếc xe hơi lết bánh trên mặt đường. Và ào một cái, như sấm chớp, trước mặt sau lưng chúng tôi là những người lính cảnh sát dã chiến.<br />
Một người dáng chừng là chỉ huy đưa tay ra trước mặt Ký nói:<br />
-Ông cho xem căn cước!<br />
-Không có thẻ căn cước! Ký bưng ly bia lên trả lời gọn.<br />
-Ê, đừng giỡn mặt cha nội! Một người lính đứng phía sau nói vói qua vai người chỉ huy. Tôi nghe tiếng lên đạn lách cách.<br />
-Cả mấy ông này nữa! Người chỉ huy chỉ tay vào Nghĩa, Lộc nói.<br />
Tôi nhìn Lộc thấy hắn đã gục trên bàn, đầu gối trên cánh tay nhưng bàn tay vẫn còn giữ chặt ly bia. Nghĩa đã ngả đầu ra sau lưng ghế. Tôi mở bóp lấy thẻ căn cước. Một ngọn đèn pin bật sáng chiếu vào mắt tôi sau đó chuyển xuống tấm giấy chứng minh. Tôi nghe có người đọc tên tôi. Tôi nói:<br />
-Xin mấy anh thông cảm. Ðám bạn tôi ngất ngư cả rồi!<br />
Người chỉ huy đưa trả tôi thẻ căn cước, phất phất tay:<br />
-Không sao! Không sao! Hỏi chơi vậy thôi. Tôi biết mấy ông quá mà!<br />
Và quay sang người chủ quán đang đứng xớ rớ bên cạnh, người chỉ huy nói:<br />
-Yêu cầu đóng cửa ngay! Chị không biết tin thiết quân luật à?<br />
Chị chủ quán xoa tay, ấp úng:<br />
-Xin mấy thầy thông cảm!<br />
Tôi hỏi người chỉ huy.<br />
-Xin anh cho biết giới nghiêm từ lúc mấy giờ?<br />
-Mười một giờ! Mấy ông đã vi phạm hơn nửa giờ! Yêu cầu các ông trở về nhà ngay!<br />
Tôi nhìn Ký, Nghĩa và Lộc, nói với người chỉ huy:<br />
-Nhưng&#8230;<br />
-Tôi hiểu! Tôi hiểu! Người chỉ huy ngắt lời tôi.<br />
-Ông muốn nói mấy ông nội này quắc cần câu rồi chớ gì?<br />
-Ðúng vậy! Tôi gật đầu.<br />
-Bọn tôi sẽ chở các ông về nhà!<br />
-Tôi sợ không tiện!<br />
-Tại sao?<br />
-Ông này ở tận Hàng Xanh &#8211; tôi chỉ Lộc; ông này ở tuốt Phú Lâm, Cây Da Xà &#8211; tôi chỉ Nghĩa; ông này thì ở Bùi Thị Xuân gần đây thôi &#8211; tôi chỉ Ký. Còn tôi, tôi ở Hồng Thập Tự, Ngã Sáu. Tôi đi bộ được!<br />
-A! Người chỉ huy kêu.<br />
-Thế thì rắc rối to. Bọn tôi còn nhiều việc phải làm, không thể đi tùm lum ở những vùng không thuộc phạm vi kiểm soát của tôi.<br />
Ngừng lại một giây, người chỉ huy tiếp:<br />
-Hay là&#8230; Hay là tôi sẽ đưa ông về nhà, còn mấy ông thần lưu linh này chúng tôi sẽ giữ tạm một đêm ở bót gần đây, mai về sớm!<br />
-Cám ơn! Tôi ngập ngừng<br />
-Tôi nghĩ là mấy ông bạn tôi cần tôi. Ðể cho tôi theo mấy ổng, cũng là tiện cho ông!<br />
-Ðược thôi!<br />
Người chỉ huy ra dấu cho những người lính xốc Ký, Nghĩa và Lộc lên xe. Lúc khiêng Lộc đặt lên chỗ ngồi băng sau xe nhà binh, tôi chợt thấy hắn nhếch mép cười. Chắc hẳn Lộc đang mơ thấy mấy con đầm nhảy điệu can-can của những ngày còn học ở Paris. “Comme au premier jour, toujours toujours&#8230;” Hắn hát nữa trời ạ! Những người lính bật cười.</p>
<p>&nbsp;</p>
<p><b>Chương 3</b></p>
<p>Ðêm đó, trong bót cảnh sát, chúng tôi tặng cho bọn muỗi một bữa no nê. Ký, Lộc và Nghĩa ngáy như gỗ. Phần tôi, mãi đến gần sáng mới chợp mắt được.<br />
Choáng đầy giấc mơ chập chờn của tôi là ông Phan và Uyên. Quyền lực của người già và sắc đẹp của tuổi trẻ. Ðó là hai gọng kềm đang khép tôi lại. Liệu tôi có thể ra khỏi được thứ xiềng xích vô hình ấy không? Bàn tay ướt rịn mồ hôi của ông Phan đẩy tôi ra, nhưng đôi mắt to đen, nốt ruồi tham lam ở khóe môi Uyên hút tôi vào. Hình ảnh đầy trong một giấc ngủ lưng.<br />
Khi tôi bắt đầu chợp mắt thì cửa phòng tạm giam mở. Người cảnh sát đập bọn chúng tôi dậy và báo cho biết là chúng tôi có thể ra về. Ký soạn lại cặp sách, càu nhàu luôn mồm. Nghĩa cười cười như còn vướng vất hơi rượu đêm qua. Lộc tỉnh hẳn và bắt đầu nói như sáo.<br />
Chúng tôi rủ nhau đi uống cà phê và điểm tâm ở một quán hủ tiếu Tàu. Lộc dạy chúng tôi uống cà phê bằng cách đổ lên chiếc đĩa lót và bưng húp như húp nước mắm.<br />
Chúng tôi chia tay khi Saigon đang đón những chiếc xe thổ mộ cuối cùng chở hoa xuống chợ Bến Thành.<br />
Tuy sớm vậy mà trước cửa phòng tôi, ai đã đặt sẵn một bao thơ từ hồi nào: Ðó là giấy báo của nhà trường triệu tập buổi họp khẩn cấp của hội đồng giáo sư.<br />
Ở hành lang trường, tôi gặp lại gần như đầy đủ các bạn đồng nghiệp. Những khuôn mặt đăm chiêu hằn những nụ cười buồn. Ðời sống của một người dạy học vốn đã khó khăn, tình trạng chiến tranh càng đẩy họ vào ngõ hẻm của sự thanh bần cưỡng bách.<br />
Dù sao, buổi họp cũng đã diễn ra nhanh chóng. Người hiệu trưởng trẻ tuổi nhưng nghiêm nghị, thông báo cho mọi người biết là kể từ không giờ sáng nay, mọi công dân, theo lệnh chính phủ, bị đặt trong tình trạng sẵn sàng chiến đấu. Lệnh Tổng Ðộng Viên đã được ban hành và mọi sĩ quan biệt phái phải ở trong tư thế chờ đợi trả về đơn vị gốc của quân đội.<br />
Ðối với tôi, điều đó có nghĩa là mùa hè vẫn chưa hết, mặc dù cây phượng duy nhất trước sân trường đã rụng hết bông, và chiến tranh chỉ là một con quái vật tuy ghê tởm nhưng vẫn đứng thấp thoáng bên ngoài ngưỡng cửa của một Saigon bất khả xâm phạm.<br />
Những bài phóng sự chiến trường của Nhật viết từ vùng lửa đạn kề cận nỗi chết, vẫn chưa đủ sức hâm nóng trái tim nguội tanh của người Saigon. Tôi nhớ mỗi lần trở lại thành phố sau một chuyến tham gia trận đánh, Nhật hay nói đùa một câu rất Cổ Long, một tay viết tiểu thuyết kiếm hiệp cũng lừng danh như Kim Dung, rằng “Chưa thấy quan tài chưa đổ lệ!” Ðó là lúc tôi thấy Nhật buồn rầu rõ nét nhất.<br />
Thật ra Saigon lúc này đang có cuộc chiến tranh của nó. Những tin đồn đủ loại áp lực lên nỗi lo âu của người thành phố như hơi nước trong nồi súp de. Rồi xuống đường, biểu tình, phe nhóm, đảng phái, tôn giáo, truyền đơn&#8230; như những mồi lửa bên thùng thuốc súng&#8230; Thôi thì đủ thứ. Saigon như một cô gái đẹp bị xâu xé giữa những chàng trai hung hãn.<br />
Ở phòng họp ra, tôi phóng xe như bay xuống phố. Quán nước quen vẫn đông người, nhưng bên ngoài cửa kính là một lượt lưới sắt to cọng phủ kín. Ðể vào được quán phải lách qua một cánh cửa nhỏ chỉ vừa một người. Bên trong, mọi người vừa ăn uống vừa ngóng ra đường như chờ đợi một điều gì. Trên nét mặt căng thẳng, trên những đôi mắt giương to, người ta có thể đọc thấy hiu hắt một nỗi lo âu.<br />
Tôi may mắn tìm được một chỗ ngồi khá tốt: vừa gần cửa kính nhất để có thể trông qua tòa nhà Quốc Hội bên kia đường, vừa khuất sau một cây cột để người từ ngoài bước vào không trông thấy tôi, nhưng tôi thì có thể quan sát được họ. Nơi công viên, quanh chỗ giữ xe gắn máy, những cuộn dây kẽm gai vừa được cảnh sát kéo giăng ngang.<br />
“Lại xuống đường nữa rồi!” Người đàn ông ngồi gần bàn tôi nói trống không sau khi nhấc tẩu thuốc ra khỏi miệng và thở mùi “seventy nine” thơm nức cả phòng. Tôi cũng cùng ý nghĩ như ông ta, nhưng không biết phe nhóm nào? Hôm qua nghe nói nhóm của Linh Mục Tr.H. Th., còn hôm nay nghe đâu đến lượt mấy ông “ký giả ăn mày!” Tại sao lại ký giả ăn mày nhỉ? Tôi không hiểu gì hết. Dẫu sao nỗi lo lắng của tôi lúc này là Quỳnh. Ở phòng họp sáng nay tôi đã gọi dây nói cho Quỳnh và hẹn nàng. Tôi nhắc nhiều chỗ hẹn và nói tôi rất cần gặp Quỳnh. Quỳnh quả quyết: “Em cũng cần gặp anh. Thế nào em cũng đến. Nhớ chờ em. Ðừng đi đâu!”</p>
<p>Nhưng tình hình thế này làm sao Quỳnh có thể tới được chỗ hẹn. Tất cả mọi lối vào quán như thế là bị kẽm gai ngăn lại.<br />
Tôi thấy nhiều xe Cảnh Sát Dã Chiến đang đổ xuống ở góc đường Tự Do và Lê Lợi. Ngay bên ngoài cửa kính của quán nước, tôi cũng vừa chợt thấy một chiếc Dodge đầy lính nai nịt gọn gàng, mặt nạ chống hơi ngạt ở cổ, súng phóng lựu đạn cay cầm ở tay và mộc chống biểu tình dựng dưới chân.<br />
Lâu lắm, dễ chừng hơn một tháng nay Quỳnh và tôi không gặp nhau. Trước đây, mỗi tuần ít nhất chúng tôi gặp nhau một lần, và thường là ăn cơm với nhau ở một hiệu cơm Tàu trong Cholon. Quán ăn nhỏ nằm trong một con hẻm mang tên Tản Ðà, một nhà thơ nổi tiếng Việt Nam. Chủ nhân là người Phúc Kiến. Quán chứa không quá hai mươi thực khách, nhưng đặc biệt là chỗ ngồi cho hai người hay bốn người đều được chia riêng biệt, không bàn nào nhìn thấy bàn nào. Lưng ghế cao, mặt bàn lót đá xanh có vân mát lạnh. Chính Quỳnh đã đưa tôi đến đây. Cô cho biết người giám đốc hãng hàng không CAL ở Hồng Kông trong một dịp đến thăm chi nhánh CAL Saigon, đã mời các nhân viên trong hãng &#8211; trong đó có Quỳnh &#8211; đến ăn quán này. Ông là một người Trung Hoa cao lớn, rất thông thạo Anh ngữ, Pháp ngữ và tiếng Tây Ban Nha. Ðặc biệt ông rất sành văn chương Pháp. Trong bữa ăn, ông nói với Quỳnh là chính tại cái quán nhỏ bé này, nhà văn André Malraux của Pháp &#8211; sau này là bộ trưởng văn hóa Pháp &#8211; đã từng là khách danh dự.<br />
Dưới mắt các bạn tôi, Quỳnh không phải là một người đẹp. Cô có khuôn mặt hơi dữ, cặp chân mày đen đậm trên một đôi mắt màu nâu to, miệng hơi rộng, mũi thon nhưng hơi hỉnh. Và tất cả những nét ấy dịu lại nhờ chiếc răng khểnh vô cùng lôi cuốn.<br />
Tôi quen Quỳnh trong một dịp rất tình cờ và mãi về sau tôi mới biết cô là em gái của một người bạn cùng lớp với tôi ở những năm trung học. Hắn tên là Tuấn và có biệt danh là Tuấn-phở, vì hắn nổi tiếng là người có thể điểm tâm một lúc bằng ba tô phở, đó là chưa kể có thể kết thúc bằng một ly cà phê sữa đá loại lớn nữa. Tuấn-phở là một “phénomène” của thời còn mài đũng quần trên ghế nhà trường. Cho đến khi tốt nghiệp trường Luật, tập sự luật sư và hành nghề này, hắn luôn luôn tỏ ra là một tên trí thức lập dị. Hắn để râu, những sợi râu thưa và cứng trên một đôi môi lúc nào cũng như mím lại.<br />
Hắn ưa đội một chiếc nón lát rộng vành. Hắn đọc sách nhiều hiểu biết nhiều và rất có hoa tay. Hắn không là họa sĩ nhưng tranh vẽ của hắn có nhiều bức còn hơn những ông tự xưng là họa sĩ. Hắn học giỏi. Hắn ngốn nhiều kiến thức. Nhưng hắn bị “tẩu hỏa nhập ma.” Trên khuôn mặt nhỏ như chiếc lá rau răm của hắn không bao giờ thiếu cặp kính tròn, kiểu như kính của ông Thượng Thư Bộ Lại thời xưa. Tuy nhiên, có lúc hắn nói với tôi là hắn thích John Lennon của ban nhạc Beatles.<br />
Tôi không thân Tuấn-phở và tôi biết hắn cũng không ưa gì tôi. Có lần tôi đụng hắn một trận kinh hồn tưởng chừng sẽ chẳng bao giờ còn nhìn mặt nhau nữa. Nhưng mấy năm sau, khi Tuấn-phở trở thành Tuấn-luật sư và cưới một người bạn gái rất thân trong đám bạn tôi, thì sự liên hệ giữa hai chúng tôi được thắt lại, tuy chẳng có gì là chặt chẽ lắm.<br />
Mùa Hè năm đó, tôi được cử ra Nha Trang làm việc trong Hội Ðồng Giám Thị và Giám Khảo kỳ thi Tú Tài hai. Ðó là một mùa thi mang đến cho tôi nhiều bối rối nhất. Trung tâm tôi phụ trách bị lộ đề thi toán và tôi được biết ở một số phòng thi, nhiều thí sinh đang có bài giảng trong tay. Là chủ tịch Hội Ðồng Giám Thị, tôi phải giải quyết một số trường hợp bị coi là gian lận. Người ta đưa đến trước mặt tôi một cô gái có khuôn mặt lạnh tanh, cặp chân mày hơi xếch trên một đôi mắt màu nâu to. Chiếc răng khểnh là một nét đặc biệt của cô. Sau khi xem xét giấy tờ hợp lệ của cô, tôi hỏi:<br />
“Chị có điều gì cần nói?”<br />
“Có!” Cô gái trả lời cộc, mặt lạnh, mắt mở to ngó thẳng vào tôi.<br />
“Xin chị cứ nói”. Tôi nhỏ nhẹ.<br />
“Tại sao tôi phải bỏ dở buổi thi để đứng ở đây?” Cô hỏi giọng gay gắt.<br />
“Thế chị không biết lý do vì sao người ta đưa chị lên đây à?” Tôi ngạc nhiên.<br />
“Không!” Cô trả lời dấm dẳn và giận dữ.<br />
Tôi hơi mất bình tĩnh vì thái độ của cô, nhưng tôi cố nén hơi nóng đang dồn lên buồng ngực mình. Tôi giải thích cho cô nghe lý do. Cô gái phá lên cười:<br />
“Vậy thì mấy ông nhầm to rồi! Người có trong tay đề giải là Hà Thị Như Quỳnh số ký danh 151, còn tôi là Hoàng Thị Như Quỳnh số ký danh 152. Tôi bị mất mười lăm phút làm bài để đứng đây vì một cái lỗi không có. Theo ông, tôi phải làm sao?”<br />
Cô làm tôi buồn cười. Tất nhiên Hoàng thị Như Quỳnh 152 được trở lại phòng thi và cô được đền bù số thời gian bị mất với một lời xin lỗi của toàn thể Hội Ðồng.</p>
<p>Mùa thi qua, tôi trở lại Saigon. Và những gì đã xảy ra trong mùa hè đó rồi cũng đi vào lãng quên. Cho đến một buổi sáng mùa Thu năm sau tại tòa án Saigon, khi tôi đang ngồi nói chuyện với luật sư của tôi trên một băng ghế ở hành lang trước một căn phòng nhỏ chờ ông tòa hòa giải đợt đầu thì gặp Quỳnh. Rất nhanh chóng, chúng tôi nhận ra nhau:<br />
Tôi hỏi Quỳnh:<br />
-Chị không trượt chớ?<br />
-Cám ơn ông. Nhờ trời tôi đậu! Quỳnh trả lời nhưng giọng có khó khăn.<br />
-Gia đình chị ở Saigon à?<br />
-Không ạ! Tôi sống với mẹ tôi ở Ðà Lạt.<br />
-Sao chị đi thi chi xa tận Nha Trang?<br />
-Vâng. Tôi học ở Lycée Ðà Lạt, nhưng tôi thích Nha Trang.<br />
-Nha Trang là một thành phố biển đẹp! Tôi gợi ý.<br />
-Nha Trang đẹp vì đó là quê của cha tôi! Quỳnh nêu một lý do khác.<br />
-Còn cái Tú Tài Pháp? Tôi hỏi nhảy sang chuyện khác.<br />
-Sao ông biết tôi thi Tú Tài Pháp? Quỳnh ngạc nhiên.<br />
-Chị vừa nói chị học ở Lycée mà!<br />
-Ồ! Quỳnh nhớ ra. Cô tiếp:<br />
-Cám ơn ông. Tôi thi tại Saigon và nhờ trời, tôi đậu.<br />
Và Quỳnh cười. Chiếc răng khểnh của cô có một sức quyến rũ lạ lùng. Cả tấm thân thể cao lớn của cô, đôi chân dài, eo thon, ngực nở, hai con mắt long lanh tình ái, mái tóc ngắn làm Quỳnh có vẻ cao hơn. Bỗng nhiên tôi giật mình nhận ra không hiểu vì sao cô có mặt ở tòa án. Tôi hỏi:<br />
-Xin lỗi chị, tôi hỏi có hơi tò mò, chị có chuyện gì ở đây vậy.<br />
-Tôi có cái hẹn với anh Tuấn tôi.<br />
-Chị muốn nói Tuấn-luật sư?<br />
-Dạ phải. Ông quen anh Tuấn sao? Quỳnh ngạc nhiên.<br />
-Có. Có một thời chúng tôi là bạn học!<br />
Tôi trả lời, nhưng mắt vẫn nhìn Quỳnh, cố tìm xem có nét tương đồng nào giữa Tuấn và người thiếu nữ xinh đẹp này không. Không. Thật hoàn toàn là không. Quỳnh cao lớn, Tuấn nhỏ con. Khuôn mặt Quỳnh phúc hậu, da trắng, hai con mắt to ngó thẳng vào người nói chuyện. Còn Tuấn khuôn mặt choắt, mắt là một đường chỉ nhỏ, nói chuyện với ai luôn nhìn nghiêng về một phía. Quỳnh nói giọng chững chạc rõ ràng, Tuấn hơi lắp bắp và nhiều khi nuốt cả tiếng. (Ấy thế mà luật sư mới tài!)&#8230; Có lẽ đọc được ý nghĩ tôi, Quỳnh giải thích:<br />
-Tuấn là anh cả, tôi là em út. Nhà có bảy anh em. Tôi thua Tuấn mười sáu tuổi. Mẹ tôi nói tôi là đứa con không cầu mà được.<br />
Và bỗng nhiên Quỳnh đổi giọng:<br />
-Còn ông? Tôi cũng muốn hỏi ông một câu tương tự. Ông có nghĩ là tôi quá tò mò không?<br />
-Không. Tôi hiện đang ở thời gian ly dị. Tôi trả lời không do dự.<br />
-Ồ! Quỳnh kêu lên như một cách xin lỗi. Chiếc răng khểnh của cô vẫn là thỏi nam châm thu hút tôi. Và như thế chúng tôi quen nhau.<br />
Mãi về sau, có lần tôi hỏi Quỳnh vì sao lần đầu tiên gặp tôi ở Hội Ðồng Thi cô có vẻ kênh như thế, Quỳnh hỏi lại tôi là phải chăng tôi muốn nói đến cách xưng hô của cô.<br />
-Em không học anh, không việc gì em phải gọi anh là Thầy. Mà nếu có học anh đi nữa thì em cũng chẳng việc gì phải gọi anh là Thầy.<br />
-Tại sao?<br />
-Chẳng sao cả. Em vẫn gọi mấy ông bà giáo của em là oui monsieur&#8230;, non monsieur&#8230;, oui madame&#8230;, merci madame&#8230; có sao đâu. Vả lại khi em thích anh thì em có đủ tự tin để tự nâng mình lên ngang với anh, nếu không, em sẽ kéo anh xuống để anh ngang bằng em!<br />
Những ngày sau đó thỉnh thoảng chúng tôi có gặp nhau. Tôi được biết cô đang làm việc cho hãng Hàng Không China Air Lines và cô đang theo một lớp Anh văn ở Hội Việt Mỹ đường Mạc Ðĩnh Chi. Mấy lần tôi đổi phòng trọ, Quỳnh đều đến dọn dẹp giúp tôi. Vào những ngày cuối tuần hai đứa con tôi vẫn thường theo cô Quỳnh đi xi nê, Sở Thú, ăn kem&#8230;<br />
Về phần hai chúng tôi, nếu trí nhớ tôi không lầm, thì chưa ai nói lời yêu ai, mặc dù giữa chúng tôi bức tường ngăn cách đã bị đập bỏ từ lúc nào. Tôi không xác định được thời điểm nào mình đã “mở cửa” đi vào đời Quỳnh. Trong ký ức mù mịt tôi, tôi chỉ nhớ được không gian nơi chúng tôi đã chia sẻ cùng nhau hơi thở tình ái. Thân thể tôi trong thân thể Quỳnh.<br />
Chúng tôi tự vỗ về nhau trong một thú đau thương cùng tột. Trên lưng tôi không bao giờ phai mờ dấu vết của Quỳnh và tôi cũng biết trên vùng “đồi núi” cô ít khi lặn chìm những dấu răng cuồng loạn tôi.<br />
-Anh!</p>
<p>Quỳnh đứng dậy quàng sắc lên vai.<br />
Tôi chép địa chỉ lên phía sau lưng của một hộp quẹt giấy, bỏ vào xắc tay Quỳnh và đưa cô ra cửa.<br />
Ðường đã bắt đầu đông người. Tôi đi theo Quỳnh một quãng ngắn.<br />
“Bây giờ anh đi đâu?” Quỳnh chợt đứng lại bên tượng Thủy Quân Lục Chiến hỏi tôi:<br />
“Có lẽ tôi sẽ đi xem một phim mới của Michel Piccoli và Romy Schneider”.<br />
“Nên lắm. Les Choses De La Vie. Thứ Bảy nhé!” Quỳnh nắm chặt những ngón tay tôi như một lời từ giã.</p>
<p>&nbsp;</p>
<p><b>Chương 4</b></p>
<p>“Ê ai như ông Thăng kìa!”<br />
Trước hàng rào dẫn vào cửa phòng chiếu rạp Rex tôi thấy Uyên và mấy người trẻ tuổi. Một cậu tóc dài phủ ót, quần ống rộng, áo chẽn. Còn cậu kia tóc ngắn, y phục gọn, mắt sáng. Cô gái đứng cạnh Uyên khá cao lớn, cả khuôn mặt như chìm trong đôi mắt kính đen gọng to.<br />
“Chào anh Thăng!” Uyên bước tới đưa tay về phía tôi.<br />
“Chào!” Tôi bắt tay Uyên.<br />
Quần jean xanh bạc màu, sơ-mi trắng rộng, tóc dài bím đuôi sam, Uyên tươi mát và ngây thơ như một thiên thần.<br />
“Xin giới thiệu anh, đây là Cathy Hồng, bạn Uyên, và đây là Tấn và Minh ở Luật Khoa“<br />
“Chào!”<br />
“Và đây là anh Thăng!” Cô giới thiệu tôi với bạn mình.<br />
“Thưa anh.” Cả ba người trẻ tuổi cùng nói.<br />
“Xin lỗi mấy bồ nhé!” Uyên nói với các bạn, và cô kéo tay tôi lôi về phía quầy giải khát bên hông tiền đình.<br />
“Sao hôm đó anh không chờ Uyên?”<br />
“Tại sao tôi phải chờ cô?”<br />
“Ðưa bố ra xe trở vào phòng đọc sách thì anh đã đi mất tiêu.”<br />
“Tôi là người ít kiên nhẫn.”<br />
“Sao anh không phone cho Uyên.”<br />
“Nhưng tôi đâu có số điện thoại của cô?”<br />
“Ồ!” Uyên kêu lên bật cười.<br />
“Cô thích Romy Schneider không?” Tôi nói lảng.<br />
“Thích! Anh đi với bọn này nhé!”<br />
“Cô có thể chờ tôi lấy vé được không?”<br />
“Không còn vé đâu!” Uyên chỉ tôi xem tấm bảng Hết Vé dựng trước cửa tò vò.<br />
“Làm sao?”<br />
“Uyên có rất nhiều giấy mời. Anh đi với bọn này nhé?”<br />
“ Cám ơn cô! Ðể khi khác. Tôi có chút việc phải làm ngay bây giờ.”<br />
“Anh làm sao vậy? Uyên có chuyện muốn nói với anh thực mà!”<br />
Cô bước lại chỗ mấy người bạn. Bốn cái đầu chụm lại. Tôi không nghe họ nói gì, nhưng khi Uyên quay lại cầm lấy tay tôi, tôi<br />
thấy cả ba đưa tay chào trước khi bước hẳn vào bên trong rạp.<br />
“Mình đi đi anh!”<br />
“Ði đâu?” Tôi ngạc nhiên.<br />
“Thì anh cứ đi với Uyên đã.”<br />
Chúng tôi đi băng qua công viên trước Tòa Ðô Chính, đi vào Hành Lang Eden. Những cửa kính trưng bày mỹ phẩm, đồ trang<br />
sức đàn ông đàn bà. Ðèn sáng trong hành lang, nhưng người thưa thớt. Ra khỏi Hàng Lang là đường Tự Do, người đông nhưng có vẻ vội vội vàng vàng. Tôi đứng lại. Trên thềm gạch dọc theo vách nhà sách Xuân Thu là hàng sách “xôn”. Không thiếu thứ gì: tiểu thuyết, sách khoa học, hội họa, âm nhạc, triết học&#8230; Lướt mắt trên những tạp chí cũ và những tựa đề sách, tôi cố ý chờ nghe Uyên nói. Nhưng vì cô cứ lặng thinh nên sau cùng tôi phải lên tiếng:<br />
“Ði đâu bây giờ?”<br />
“Uyên muốn uống trà Hoàng Cúc.”<br />
“Trà Hoàng Cúc?” Tôi ngạc nhiên. “Ở đâu vậy?”<br />
“Ở tiệm Hoàng Gia. Ði, anh đi với Uyên.”<br />
Ðường Tự Do buổi chiều mát rượi dưới những cơn gió miệt mài từ sông Saigon thổi lên. Uyên khỏe mạnh, trẻ trung, nồng nàn đi bên cạnh một người đàn ông là tôi buồn nản, hoài nghi và nhạt nhẽo. Tôi lê bước theo Uyên trên một con phố thanh bình sang trọng. Chẳng có chút dấu vết nào cho thấy da thịt của Saigon bị những trận cào cấu nhức xương của một người tình phụ phàng trong mấy ngày qua. Tôi nghĩ đến Ðăng và Mai, không hiểu chiều nay chúng đang làm gì trong căn nhà nhỏ ở một ngõ hẻm đường Kỳ Ðồng. Mẹ chúng nó, người đàn bà lớn lên trong một gia đình mà đồng tiền ngự trị trên tất cả, đã có lần nói với tôi rằng nếu phải đổi tất cả danh dự và phẩm giá con người để có được trong tay cái tài sản trở thành người giàu nhất Saigon cô ta sẽ không do dự đặt danh giá dưới gót chân mình. Cũng may, cô ta không có đủ danh dự và phẩm giá để đổi cho nên số tài sản cô thu vào không đáng là bao.</p>
<p>Bù lại, cô ta được cái vẻ bề ngoài của một người vợ hiền khốn khổ bị hất hủi bởi một thằng chồng khốn nạn. Cô ta bỏ tiền ra mua chuộc những người chứng buộc tội. Ở người này là chiếc vòng ngọc thạch, ở người nọ là những tờ giấy bạc, ở người kia là những giọt nước mắt. Và khi chiếc vòng ngọc thạch trở thành vòng mã não, đồng tiền trở thành đồng bạc, nước mắt trở thành nước lã, họ cáo buộc lẫn nhau, tố cả đến người mua chuộc họ. Tôi sợ người đàn bà này. Nhưng sợ về phần tôi thì ít, mà sợ về hậu quả những đứa con tôi phải lãnh thì nhiều. “Tiền trên hết”. Ðó là định đề mà cô ta dạy chúng như một bài học vỡ lòng để chuẩn bị vào đời.<br />
Một tội ác toàn hảo không có nghĩa là không có kẽ hở nhỏ. Một kịch sĩ đại tài không có nghĩa là đánh lừa được tất cả mọi người bằng vai trò của mình. Có thể nhiều người nhìn y, bị lôi cuốn bởi tài nghệ điêu luyện của y trong diễn xuất nên tưởng nhân vật y đóng và y là một. Và ngay cả y nữa, y đóng trò giỏi đến nỗi chính y cũng tưởng rằng y là một con người như thế.<br />
“Ðây mà anh!” Uyên kéo tay tôi lại khi thấy tôi đi vượt quá cửa hàng.<br />
Tôi đẩy cửa kính, nhường cô vào trước. Quán nhỏ nhưng ấm cúng. Bên hông trái là một cánh cửa nhỏ mở ra một Hoàng Gia khác dành cho những bợm nhậu.<br />
“Hai Hoàng Cúc!” Tôi nói với người chủ quán.<br />
“Bố muốn gặp anh!” Cô bắt đầu.<br />
“ Bác có nói bao giờ không?”<br />
“Không. Bố chỉ nói bao giờ gặp anh nhớ cho anh biết ý muốn đó của bố. Chuyện liên hệ đến anh!”<br />
“Theo cô nghĩ, đó là chuyện gì?”<br />
“Uyên không biết. Nhưng theo mẹ thì đó là chuyện gia đình anh và có liên hệ đến tính mạng anh”.<br />
“Chuyện gia đình tôi, mà lại liên hệ đến tính mạng tôi?”<br />
“Uyên không biết. Và Uyên cũng không hiểu. Nhưng tại sao anh không đến gặp bố?”<br />
“Tôi nhờ cô xin bác cho tôi cái hẹn!”<br />
“Chủ nhật này được không anh?”<br />
“Bất cứ lúc nào bác cho phép.”<br />
“Anh còn đang nghỉ mà, phải không? Uyên sẽ tìm anh ngay khi bố muốn gặp anh. Ðược không?”<br />
“Nhưng cô biết tôi ở đâu mà tìm?”<br />
“Anh ở đâu, chơi với ai, ngồi ở quán nào mà Uyên không biết.”<br />
“Cô là ma xó à?”<br />
“Chứ sao?”<br />
“Tôi muốn hỏi một câu? Vậy chớ cô nghĩ tôi là một người như thế nào?”<br />
“Anh là một kẻ tà đạo!”<br />
Tôi ngạc nhiên.<br />
“Thế nào là một kẻ tà đạo?”<br />
“An advocate of immorality”.<br />
“Tôi không hiểu!”<br />
“Uyên cũng không hiểu. Nhưng tại sao anh chọn cách sống kỳ quái như vậy? Sao anh không cố gắng sống như mọi người?”<br />
“Thế nào là sống như mọi người? Tôi vẫn ăn vẫn sống và tôi vẫn thở. Tôi đâu có gì khác người?”<br />
“Uyên có gặp bà Lan một lần. Bà ấy than thở trăm chiều, nói xấu anh cùng cực. Anh chơi bời, bỏ bê nhà cửa. Anh là một<br />
người đam mê đủ thứ: rượu chè, trai gái, cờ bạc, hút xách&#8230; Anh hư hỏng&#8230;”<br />
“Bà ấy còn nói gì thêm?”<br />
“Bà ấy một gia đình thượng lưu như bà ấy, con gái của một chủ nhà băng không thể chịu đựng một người chồng hư như vậy?”<br />
“&#8230;”<br />
“Bà ấy nói anh có thể là một người cha tốt, cũng có thể là một người tình tuyệt vời, nhưng là một người chồng xấu.”<br />
“Cô nghĩ gì về bà ấy?”<br />
“Xinh!”<br />
“Thế thôi?”<br />
“Nói nhiều!”<br />
“&#8230;?”<br />
“Và giả dối!”<br />
“Cái gì làm cô nghĩ vậy?”<br />
“Không thể nói được. Lúc này Uyên không thể cho anh nghe được!”<br />
“Bao giờ thì có thể nói được?”<br />
“Bao giờ chúng ta gặp lại?”<br />
“Chẳng phải là chúng ta đang gặp ở đây sao?”<br />
“Phải. Nhưng anh chưa đọc Le Petit Prince của Antoine de Saint Expery sao?” Cô có vẻ đổi để tài.<br />
“Ðã đọc. Nhưng sao?”<br />
“Cần phải apprivoisier chứ?”<br />
“Ai?”<br />
“Chúng ta!”<br />
“Vậy ai hiểu?”</p>
<p>Ngưng một lát, Uyên nhìn tôi.<br />
-Anh có vẻ bận nhỉ?<br />
-Không. Tôi đang nghĩ tới một điều&#8230;<br />
-Một người?<br />
-Ừ. Một điều và một người.<br />
-Một người tên Quỳnh?<br />
-Sao cô biết?<br />
-Uyên là ma xó mà! Nhưng&#8230; anh thử nghĩ coi đi với người này mà đầu óc nghĩ tới người kia thì có phải là một người đàn ông lịch sự không?<br />
-Tất nhiên là không!<br />
-Vậy anh là người lịch sự?<br />
-Ðương nhiên.<br />
-Anh có nghĩ rằng mình là người kiêu ngạo quá không?<br />
-Không!<br />
-Vậy anh là người khiêm tốn?<br />
-Cũng có thể.<br />
-Anh nghĩ sao nếu có người nói anh là Don Juan?<br />
-Bậy bạ!<br />
-Anh có biết là Uyên đã biết anh từ lâu không?<br />
-Không! Từ hồi nào?<br />
-Lâu. Nhưng không nhớ từ hồi nào! Có lẽ hơn một năm nay, ở một lớp tối, trường Trường Sơn!<br />
-Cô làm gì ở đó?<br />
-Ði chơi. Có một người bạn học ở đó. Theo cho vui.<br />
-Hôm đó cô nghe tôi nói gì?<br />
-Anh nói với người ta không nhớ đến con người hay sự vật chỉ vì con người hay sự vật đó. Người ta chỉ nhớ đến những gì có liên quan đến mình mà thôi.<br />
-Sao cô nhớ kỹ thế?<br />
-Uyên chỉ nhớ những gì có liên quan đến Uyên mà thôi!<br />
-Giỏi!<br />
-Anh khen Uyên phải không?<br />
-Cứ cho là vậy đi!<br />
-Anh hay giảng bài lạc đề lắm, anh có biết không?<br />
-Ở đâu? Hồi nào?<br />
-Hôm đó, hôm có một người con gái lên hát bài Tiếng Sông Hương của Phạm Ðình Chương.<br />
Tôi hớp một ngụm trà Hoàng Cúc, đốt một điếu thuốc và nhớ lại buổi học tối hôm đó.<br />
Lớp tối của Saigon phần lớn dành cho những người đứng tuổi đã có công ăn việc làm, muốn kiếm thêm cái bằng để tăng lương tăng ngạch. Cũng có một số người trẻ là những học sinh trường Pháp muốn, nếu chẳng may rớt Tú Tài Tây, còn lấy được cái Tú Tài Ta. Hôm đó lớp học khá đông, nhưng nói chung không khí có vẻ như bất bình thường. Bài học có tựa đề là Ký Ức Và Liên Tưởng. Tôi cho cả lớp ghi một số điểm tựa để nhớ khi làm bài thi. Tôi nhắc đến một số bài thơ phổ nhạc: Chiều của Hồ Dzếnh, Ngày Xưa Hoàng Thị của Phạm Thiên Thư, Mộng Dưới Hoa của Ðinh Hùng&#8230; và tôi hỏi họ những ca khúc ấy có gợi cho họ điều gì không? Ðau khổ hay Hạnh phúc? Tình yêu hay Thù hận? Hoặc một vệt nắng ở chái hiên, một cơn mưa phùn trên hàng me&#8230; có làm ta nghĩ đến chia ly hay sum họp? Lúc bấy giờ, tôi còn nhớ rõ như in, một chị ngồi ở đầu bàn đứng dậy:<br />
-Monsieur, em nói được không?<br />
Tôi hơi ngạc nhiên, vì ở các lớp tối tính thụ động và ù lì gần như là bản chất. Họ ngồi nghe, ghi chép hoặc nói chuyện và ngủ gục. Phát biểu ý kiến hoặc đặt câu hỏi là một điều hiếm hoi.<br />
-Mời chị. Nhưng chị hãy cho tôi biết là chị có ý định đi ra ngoài bài học không?<br />
-Không, monsieur, em hiểu bài học hôm nay theo một cách khác.<br />
-Mời chị!- Tôi nhắc lại sự đồng ý của mình.<br />
-Xin cám ơn!<br />
Rồi chị đứng quay mặt xuống lớp, giọng dõng dạc:<br />
-Miền Trung đang bị thiên tai bão lụt, chúng ta đã đóng góp gì chưa?<br />
-Chưa! Tôi nghe cả lớp ồ lên.<br />
-Tôi đề nghị chúng ta nên nghĩ đến nỗi khổ đau của đồng bào ruột thịt!<br />
-Ðề nghị đi! Cuối lớp có tiếng người nói lớn.<br />
Cả lớp nhao nhao.<br />
-Tôi muốn cả lớp chúng ta đóng góp một chút gì để gọi là chia sẻ nỗi khổ đau của đất nước.<br />
-Chị đóng góp trước đi!<br />
-Tự nhiên là tôi xin đóng góp trước!</p>
<p>Chị lên bàn, lấy hộp đựng phấn viết bảng trút hết phấn ra, bỏ vào đó một tờ giấy bạc.<br />
-Xin các bạn tùy hỉ!<br />
-Không phải giờ đóng góp! Cả lớp lại nhao nhao.<br />
-Tôi có ý kiến!- Chị vừa đưa tay lên vừa đứng dậy. Tôi xin hát tặng cả lớp bài Tiếng Sông Hương của Phạm Ðình Chương. Các bạn sẽ đóng góp chứ?<br />
-Hoan hô! Hoan hô! Cả lớp nghe nói hát hò vỗ tay ầm lên.<br />
-Tôi có ý kiến! Một người cuối lớp đứng dậy.<br />
-Tôi hoàn toàn đồng ý việc làm của chị. Nhưng tôi nghĩ chị đã lạc đề. Chúng ta đang giờ học. Có lẽ mình nên dành việc này cho mươi lăm phút cuối giờ. Ðược không?<br />
-Tôi không lạc để. Chị tiếp:<br />
-Bài học hôm nay cho ta thấy là một chút mưa, một chút nắng ở đây không thể không gợi cho ta nhớ đến miền Trung được, đó là miền đất ruột thịt của ta, nó liên quan đến ta, và ta có bổn phận phải nhớ nó. Theo tôi hiểu đó là triết lý của bài học!<br />
Và chị hát. Cả lớp im lặng. Ngọn điện néon trên bảng đen hình như sáng hơn. Và tiếng hát ấy của chị, tiếng hát tuy không nghề nghiệp nhưng rõ ràng phát ra từ một trái tim chân thật. Tiếng hát mộc mạc của người con gái mảnh dẻ mà can đảm ấy, đã làm cả lớp rung động.<br />
-Xin cám ơn chị! Xin thay mặt miền Trung đau khổ tôi cám ơn chị! Buổi học hôm nay là buổi học hoàn hảo nhất trong năm của tôi nếu không nói là buổi học mà tôi bằng lòng nhất trong cuộc đời dạy học của tôi.<br />
Tôi muốn ứa nước mắt khi nói với cả lớp sau khi bài hát chấm dứt.<br />
-Lúc đó cô cũng có mặt trong lớp sao?<br />
-Có. Uyên ngồi ở bàn chót.<br />
-Và cô đã chứng kiến&#8230;<br />
Ầm! Cắt giữa chừng câu nói tôi là tiếng nổ lớn làm rung rinh những bức tranh trên tường. Cánh cửa kính giữ hơi lạnh của máy điều hòa không khí bị bật vào bật ra nhiều lần. Một số người chen nhau chạy ùa vào quán mang theo khói lựu đạn cay mù mịt. Uyên ho sặc sụa nước mắt nước mũi ràn rụa! Hai tay cô nắm chặt tay tôi. Chén trà Hoàng Cúc đổ ướt mặt bàn.<br />
Tôi biết tôi cũng đang ràn rụa mắt mũi.</p>
<p>&nbsp;</p>
<p><b>Chương 5</b></p>
<p>Cùng với hơi lựu đạn cay là những con sâu vi trùng của bệnh cúm bay khắp thành phố, thổi qua căn gác tôi. Và vật ngã tôi.<br />
Tôi nhớ hôm đó trời mưa lất phất trên đường khi tôi đưa Uyên về nhà bằng chiếc xe Lam cà khổ của tôi. Tuy mưa mà không mát, những hạt nước nhỏ như có chứa những ngọn lửa chích vào da thịt một thứ nóng ngột ngạt. Tự nhiên tôi nghe khan ở cổ và và ran buốt buồng ngực. Một cơn ho dữ dội và kéo dài như muốn bưng cả buồng phổi tôi vất ra ngoài, làm tôi phải gập người lại và ngã xuống khi tra chìa khóa cửa phòng căn gác trọ.<br />
Tôi cố gượng để bước vào bên trong nhưng mắt hoa lên, cả căn nhà như sụp xuống và mọi vật quay cuồng, xoáy tròn trong một cơn lốc dữ dội. Và như thế tôi thiếp đi trong tiếng mưa gõ lên thành cửa sổ. Tôi cố mở mắt ra, nhưng vô ích, một lần nữa, chiếc cầu thang bằng gỗ, ngôi nhà, bầu trời, tiếng động&#8230; tất cả đều lung lay, chập chờn, nhạt nhòa và vỡ vụn&#8230;<br />
Trong trí tưởng mờ mịt tôi lúc đó những hình ảnh này trộn lẫn vào những bóng dáng kia, sự việc này chen vô sự việc nọ, chẳng có gì ăn khớp nhau, nhưng hình như chúng liên tục và rất là hợp lý. Tôi thấy ông Phan là kẻ thù tôi, Uyên là em gái tôi, Quỳnh là mẹ tôi, ông Lý là bạn thân tôi. Chiếc răng khểnh của Quỳnh chạy qua Uyên, nốt ruồi tham lam của Uyên trên khuôn mặt Quỳnh. Ông Lý có đôi bàn tay mập ú rịn ướt mồ hôi còn giọng nói ông Phan đặc sệt miền Nam của ông Lý. Bà Phan là một thiếu nữ xinh đẹp. Và Ðăng, và Mai các con tôi đã là những người lớn. Duy có một điều mà trí nhớ bệnh tật tôi lúc đó không hề bị hư hỏng, đó là ký ức về ngôi nhà tôi đã sống.<br />
Nhà nằm sâu trong một ngõ cụt, trên góc đường Kỳ Ðồng và Trương Minh Giảng. Cái sân chung của những ngôi nhà trong cùng một ngõ không ra hình chữ nhật cũng chẳng giống hình bầu dục. Ngay đoạn giữa là bụi, sỏi vụn và đá xanh lởm chởm. Nhà đâu mặt vào nhau cho thấy nhiều giai tầng xã hội trong một tập hợp thân ái mà nhạt nhẽo. Bên mặt là dãy nhà giầu, có sân riêng lót gạch đỏ, cổng sắt và cửa gỗ đánh vẹc-ni. Căn đầu là của một cặp vợ chồng Ðức-Việt. Chồng làm ở tòa Ðại Sứ Ðức, vợ ở nhà trông con, hai đứa con lai cao lớn tóc vàng óng. Nhà kế là của ba chị em người Ðà Nẵng, chỉ cả làm thư ký ở Tòa Ðại Sứ Úc, chị thứ hai là y tá bệnh viện Grall và cô Út đang học trung học. Cả ba đều chưa chồng, nhưng cô Út đang mang bầu. Căn thứ ba là của một giáo sư dạy trường Nha và đang hành nghề chữa răng và chuyên làm răng giả tại gia. Vợ là bác sĩ mới ra trường. Ở trong cùng, đối diện với mặt đường là ba căn nhà: một biệt thự của một chủ ngân hàng, có cổng lớn, nhiều cây to và hơi tối. Tôi chưa vào nhà ấy lần nào nhưng tôi được nghe là nó rộng và đẹp lắm. Nhà sát đó là của một người thợ sửa xe đạp với đám con bụng ỏng da xanh mướt. Kế bên là nhà của một người đàn bà lấy chồng Mỹ. Phía bên trái là một căn nhà nhỏ thông qua đường Trương Minh Giảng. Nhà có sân tráng xi măng, với một cây trứng cá thay hàng rào. Phòng khách và bếp dàn hàng ngang. Buồng ngủ là căn gác sàn gỗ gần sát mái tôn. Cửa sổ mở ngó ra đường Trương Minh Giảng, không tránh nổi cơn nắng chiều quái ác.<br />
Trong căn nhà đó, tôi đã có những buổi sáng thức dậy một mình, lo cho các con bữa ăn sáng và lo cả cho chính bản thân tôi, rồi tôi đưa chúng đi học, trước khi đến sở làm.<br />
Trong căn nhà đó, tôi đã có những buổi trưa ngồi nhìn các con ăn trong nỗi chán chường của một gia đình mục rã, nơi có một người đàn bà chỉ nghĩ đến mình, chăm sóc phần ngoài của mình hơn là lo cho chồng cho con.<br />
Trong căn nhà đó, tôi đã những buổi tối trở về khi các con tôi đã ngủ, tự làm lấy thức ăn một mình, tự ngồi một mình trên bàn cơm với cái chén, đôi đũa và sự cô đơn của một con người.</p>
<p>Nhưng thế nào là một gia đình?<br />
Câu hỏi ấy cứ luôn luôn trở đi trở lại mãi mãi trong đầu tôi.<br />
Một tế bào của xã hội, mà nếu thiếu nó xã hội chẳng là gì cả?<br />
Một đơn vị gia cư?<br />
Một tập hợp những cá thể, gồm một người đàn ông và một người đàn bà, và, nếu có thể, những đứa con?<br />
Một chốn hợp pháp dành cho sự gặp gỡ của giống đực và giống cái?<br />
Một nơi để trở về sau khi đã ra đi?<br />
Một hang động để trú ẩn?<br />
Tôi đã có một gia đình chưa?<br />
Hình như là đã có theo một trong những ý nghĩa đó, và hình như là chưa theo một trong những câu trả lời kia.<br />
Trong ngôi nhà đó, cái lò lửa nóng hực mặt trời buổi trưa, trong một Saigon đang lên cơn sốt chính trị, tôi đã phải tự bứng mình đi như người ta nhổ một bụi khoai ra khỏi cái luống đất xốp và rời rạc kia.<br />
Ðó là căn nhà của cơm nguội và nước lạnh, chan vào nhau lõng bõng lêu bêu, rời rạc nhạt nhẽo. Không ai có thể sống mãi trong một căn nhà như thế, khi cuộc đời bên ngoài tự nó cũng đang là một cái gì buồn thảm, lêu bêu lõng bõng, giả trá, xa lạ và đầy thù hận.<br />
Tôi đã giã từ căn nhà đó, như cắt đứt cánh tay bị ung nhọt thối tha của tôi vì đã hết thuốc chữa.<br />
Nhưng tình yêu của tôi dành cho Ðăng và Mai vẫn còn nguyên vẹn. Ðó là nỗi đau của tôi. “Con cần mẹ, nhưng ba cũng cần các con.” Cái hình ảnh một người đàn ông chiều Thứ Bảy đi thăm con ở nhà một người đàn bà trước kia là vợ mình, sao nó thê thảm đến thế!<br />
Căn nhà ấy, mặc dù đã ra đi, tôi vẫn nhiều lần trở lại. Những buổi trưa, ba cha con ngồi quanh chiếc bàn ăn hình chữ nhật.<br />
“Hôm nay con học gì? Một bài hát mới hả? Con hát ba nghe coi! Il était un petit navire! Il était un petit navire! Qui n&#8217;vait ja-ja-jamais navigué, Qui n&#8217;avait ja-ja-jamais navigué&#8230; Con ăn gì? Cay hả? Không, không cay đâu. Cái này không có ớt đâu!”<br />
-Con phải cầm đũa như thế này, này! Con ngồi ngay ngắn nhé! Ðể tay lên bàn. Ðúng! Thế!<br />
-Con ăn thêm nữa không? No hả? Sao ít vậy?<br />
Bữa cơm xong, Mai rửa mặt, đánh răng lâu thật lâu, tẩn mẩn tỉ mỉ từng chút, chậm rãi như một bà cụ non. Còn Ðăng là một cái gì trái ngược: rửa mặt ào ào, đánh răng ào ào, chùi hai tay lên áo, trở lại bàn lấy tập và bút. Vẽ.<br />
-Ðố ba biết cái này là cái gì?<br />
-&#8230;.<br />
-Ba dở ẹt! Thằng Tintin đi Hồng Kông mà ba cũng hổng biết!<br />
-&#8230;.<br />
-Ba biết thằng cao bồi này tên gì không?<br />
-&#8230;.<br />
-Ba thiệt hổng biết gì hết trơn hết trọi! Ðây là Lucky Luke. Còn mấy thằng này là anh em đám thằng Dalton. Ghê chưa? Ba sợ hông?<br />
-&#8230;.<br />
Ðó là những buổi trưa, như những buổi trưa buồn thảm khác có ba cha con tôi trong căn nhà hộp diêm, thấp tè, nóng bức.<br />
Cũng có hôm tôi bị phỏng vấn.<br />
-Ba đi đâu? Sao ba không ở nhà?<br />
-Ba đi làm việc!<br />
-Ba làm việc ở đâu?<br />
-Tụi con biết rồi mà!<br />
-A! Con biết! Con biết! Mai la lên.<br />
-Anh Ðăng không biết đâu. Con biết nè! Bữa hổm ba chỉ cho em rồi. Phải không ba?<br />
-Phải!<br />
-Ðó thấy chưa anh Ðăng? Em biết mà!<br />
Sau đó, ba cha con trải chiếu dưới đất. Ðăng xem sách hình. Mai kể chuyện cô giáo trong trường. Rất nhanh, một đứa đánh rơi sách và một đứa thiu thiu.<br />
Rồi đến lượt tôi, rất nhẹ nhàng rón rén ra đi, sợ làm kinh động giấc ngủ của hai đứa bé.<br />
Ở căn nhà đó ra, tôi lại trở về căn gác trọ, tắm rửa, thay quần áo, xuống phố, nói chuyện tầm phào với lũ bạn ở một quán nước quen, đi rong qua những hàng sách “xôn,” xem một cuốn phim.<br />
Còn cơm tối? Có khi là một bát phở, một khúc bánh mì, một chén bò viên, một chai bia&#8230; Cũng có khi, vì lười biếng, chẳng có gì hết ngoài những ly cà phê sữa đã uống&#8230;<br />
Chiều Thứ Bảy. Thường lệ là những chiều Thứ Bảy, tôi đón Ðăng và Mai đi ăn ở một quán Tàu trên đường Lê Văn Duyệt.<br />
Cơm thố và thức ăn xào nấu vừa miệng. Ðây là quán mà tôi và các con tôi thích nhất. Người chủ quán là một cô Tàu còn nhỏ nhưng mập tròn và lùn tịt như một chiếc thùng tô nô. Cô hay hỏi tôi:<br />
-Má tụi nó đâu rồi?</p>
<p>Tôi mỉm cười không trả lời. Và bao giờ cũng vậy, đó là câu hỏi duy nhất mà cô luôn luôn nói với tôi. Sau bữa ăn là một chầu xi nê. Một cuốn phim mà trẻ con có thể xem được. Ðôi khi nhằm một rạp vắng, Ðăng đi từng dãy ghế, bật lên bật xuống từng chỗ ngồi, khua động từng chập trước giờ vào phim. Cuối cùng là vào một tiệm kem ba màu cho Ðăng, bốn màu cho Mai, một cà phê liégeois cho tôi. Ðêm trở về căn nhà ấy, hôn các con, và chia tay. Tôi lại lóc cóc chạy xe vòng qua Nhà Thờ Chúa Cứu Thế, rẽ qua con đường Nguyễn Thông đến Ngã Sáu chạy ngược chiều đường Phan Thanh Giản, qua một đường rầy xe lửa&#8230; vào một Cư Xá, leo lên một cầu thang dốc, tra chìa khóa vào một cánh cửa làm bằng ván ọp ẹp. Và bước vào một căn phòng không ai chờ đợi!<br />
Tôi đã làm gì đời tôi?<br />
Tôi làm một nghề bội bạc: dạy học. Nhiều người nói giáo dục là một nghề cao quý nhưng dạy học thì đồng nghĩa với bội bạc.<br />
Chẳng cần nghe người khác nói tôi mới biết điều đó. Tôi đã từng nhiều lần nhìn thấy sự bội bạc ấy vào mỗi cuối niên học nơi những học sinh thông minh và dễ thương nhất của tôi. Tất nhiên không phải người học sinh xuất sắc nào sau cùng sẽ chỉ là một người bội bạc xuất sắc, nhưng thường những học sinh xuất sắc dễ trở thành những tâm hồn bội bạc cực kỳ xuất sắc&amp; Tôi yêu những khuôn mặt trẻ trung, những thái độ ngông nghênh mà vô tội vạ của họ. Tôi thích nhìn thấy tuổi trẻ ấy lớn lên, mau chóng vượt qua những gì họ đã học được ở nhà trường. Hạnh phúc của tôi chính là được thấy sự trưởng thành của học sinh tôi, là thấy được một ngày kia những anh chị ấy biết khinh bỉ sự chết cóng và những xác ướp kiến thức trong sách vở. Nếu họ đi xa và bỏ lại đằng sau lưng những người thầy của họ về mặt kiến thức và tiền bạc vật chất (tất nhiên), tôi hiểu rằng điều đó không bao giờ có nghĩa là bội bạc.<br />
Dù sao, sự làm ra vẻ lãng quên, hay làm ra vẻ mình có một trí nhớ khiêm tốn của một người học sinh trước người thầy học cũ, cũng chỉ là một điều tự nhiên và bình thường trong xã hội ngày nay. Ðiều bất bình thường chính là người học sinh ấy còn nhớ đến người thầy của mình!<br />
May mắn cho tôi trong đời mình cũng có đôi lúc nhận được sự bất bình thường loại đó. Và đó là một điều hiếm hoi của chút ánh sáng hạnh phúc phù du còn lại trong cái mờ mịt của một xã hội thời nay.<br />
Tôi biết tôi là một tên lười biếng.<br />
Tôi chỉ đọc những gì liên hệ đến công việc tôi đang làm, chỉ ăn những thức ăn đã dọn sẵn trên bàn, chỉ trò chuyện những ai đụng vào trái tim tôi, chỉ yêu những ai can đảm yêu tôi. Tôi không biết sục sạo, bươi móc như con gà tìm kiếm chút hạt gạo thừa ngoài sân.<br />
Tôi là tên đàn ông thụ động trong tận cùng xương tủy.<br />
Ðừng tưởng là tôi không chán tôi. Tôi chán tôi như người ta vẫn thường chán những thức ăn thừa phải hâm đi hâm lại mãi nhiều lần trong nhiều ngày.<br />
Nhưng tôi là ai?<br />
Tôi là người đàn ông lang bang, lêu bêu. Tôi đang là cái tôi cách đây mười năm khi mới vừa tốt nghiệp ra trường. Một lần Quỳnh nói anh cứ coi như mình đang bắt đầu từ con số không đi! Tôi không đồng ý cách nói đó của Quỳnh. Làm sao tôi có thể bắt đầu được từ con số không? Tôi đang bắt đầu từ âm số. Dưới con số không nhiều bậc kia. Tôi đã bị trừ đi cái mười năm của tuổi trẻ phung phí vào một người đàn bà gian trá. Tôi đã bị trừ đi cái mười năm của một sự trống trơn về tai tiếng. Tôi đang bắt đầu từ những âm số của nợ nần, của những lời thị phi, của nụ cười đã tắt, niềm vui đã chết, hi vọng đã tan hoang.</p>
<p>Khi tỉnh dậy, tôi thấy mình đang nằm trên giường. Chiếu chăn thẳng thớm. Chiếc gối dưới đầu thơm mùi xà phòng mới giặt. Căn phòng gọn và sạch đến nỗi tôi có cảm tưởng như đây là lần đầu tiên tôi tới chốn này. Và trên chiếc ghế đặt sát đầu giường tôi là một ly nước cam vắt và một lá thư.</p>
<p>Thư của Quỳnh.</p>
<p>Cô cho biết cô đã đến thăm tôi đúng vào cái lúc tôi nằm ngáng ngay cửa phòng. Và cô đã khó khăn lắm mới đưa được tôi lên giường, thay quần áo, xoa dầu nóng, gọi bác sĩ thăm bệnh tôi. Nàng đã lau sạch sàn nhà, sắp xếp báo chí sách vở, thu dọn quần áo bẩn đem đi tiệm giặt, thay cả màn cửa, và mền gối mới cho tôi. “Suốt đêm, Quỳnh viết, anh sốt mê man, miệng không ngớt lảm nhảm những lời vô nghĩa. Nếu anh cứ tiếp tục cái kiểu này có ngày anh sẽ chết mà không ai hay. Ðời sống anh làm em ứa nước mắt.”<br />
Thật sao? Có thật là còn có một người nào đó trên đời này ứa nước mắt cho tôi? Cuộc sống tôi bi thảm đến thế sao?<br />
Trống trơn và lạnh lẽo. Ðó là căn phòng tôi đang ở. Ðó cũng là đời sống tôi. Sự bừa bãi của sách báo, và quần áo có thể làm đầy căn phòng, nhưng không thể làm đầy được sự trống rỗng trong tôi. Lửa làm ấm bàn tay nhưng ngọn lửa nào ấm được trái tim nguội lạnh tôi?<br />
Và tôi thấy lại Quỳnh. Hình dung cô đứng ở cửa phòng khi tôi đang nằm ngáng nơi cánh cửa kia. Hình dung cô thu dọn, lau chùi căn phòng. Hình dung một người phụ nữ xinh đẹp ngoài phố và giỏi dắn như một bà nội trợ đảm đang trong gia đình.<br />
Tôi đã yêu Quỳnh chăng? Tôi, kẻ không còn tuổi trẻ, không địa vị cũng chẳng phải là một tên biết hái ra tiền. Nhưng cái gì khiến người thiếu nữ xinh đẹp là Quỳnh yêu người đàn ông là tôi kia? Tôi không biết!<br />
Hơn ai hết, Quỳnh hiểu tôi là kẻ không có gì trước mặt, cũng chẳng có gì sau lưng. Vậy mà Quỳnh không gìn giữ cho mình, nàng gửi hết cho tôi trái tim trẻ trung và nóng bỏng của cô. Quỳnh làn thức dậy trong tôi những tế bào tưởng sẽ chỉ mãi mãi ngủ quên do sức ép của những biến cố dồn dập lên đời tôi.<br />
Giọt nước mắt của Quỳnh đã làm tôi hồi sinh thật chưa? Hay cũng chỉ là một sự đứng dậy nhất thời?<br />
Nghĩ lẩn quẩn mãi tôi vẫn không hiểu tại sao tôi cứ bị căn gác trọ này ám ảnh thần trí tôi?! Tại sao tôi không tìm đến một chỗ trọ khác, khang trang hơn, ấm áp hơn? Phải chăng trong sự bi thảm có cái sức quyến rũ riêng của nó? Những hôm mưa lớn đứng trên cửa sổ nhìn xuống phía dưới tôi có cảm tưởng như mình đang đi thuyền trên một con sông lớn nước đục ngầu. Gặp những trận mưa to, cửa sổ không rèm che, không “ô-văng”, nước tạt vào ướt cả chăn nệm, thấm những cuốn sách trên bàn viết&amp; Hôm nào trời nắng gắt, phòng giống như cái hỏa lò làm rơi mồ hôi hột, mặc dù trên trần nhà những cánh quạt máy vẫn quay ở tốc độ cao nhất. Cái máy thu thanh mới lắp pin hai ngày đã chỉ phát ra những tiếng rè rè vì quên tắt núm điều chỉnh. Tấm lịch quên xé ngày. Cái gạt tàn đầy nhóc tàn tro và đuôi thuốc. Phin cà phê còn đầy xác mấy ngày chưa rửa. Những viên kẹo ngọt chảy nước trên mặt bàn vì để quá lâu&#8230;<br />
Nhưng nếu tất cả những luộm thuộm, bẩn thỉu này làm cho đời sống tôi bi thảm thì phải chăng giờ đây khi mọi sự đã sạch sẽ, đã ngăn nắp sự bi thảm ấy đã chấm dứt?<br />
Và nữa, kỳ lạ chưa, cái gì vậy? Trên vách, sau lưng tôi, ngay chỗ đầu giường ngủ tôi là một bức tranh sơn dầu vẽ chân dung một thiếu nữ. Ánh sáng, bố cục khuôn mặt và màu xanh kỳ lạ của bức họa &#8211; từ khi tôi nhìn thấy nó &#8211; làm cho căn phòng như trở nên sáng hơn, rộng hơn và dễ ưa hơn.<br />
Dù sao điều tôi nhận ra ngay tức khắc khi nhìn chân dung người thiếu nữ trong tranh là sự pha trộn kỳ lạ giữa hai khuôn mặt trong một khuôn mặt. Cái trán bướng bỉnh, nốt ruồi tham lam, chiếc cổ cao của Uyên với đôi mắt mở to màu nâu mã não và cái miệng hơi rộng với chiếc răng khểnh của Quỳnh làm tôi giật mình.<br />
Tranh không ký tên người vẽ, nhưng màu sắc và đường nét gợi nhớ đến Trịnh Nam, một trong những họa sĩ trẻ mà tài năng đang được xác nhận như là một trong số họa sĩ có khả năng vượt khỏi biên giới của quốc gia.</p>
<p>Gió thổi qua cửa sổ. Bầu trời đen như mực không một ánh sao. Tuy vậy tôi có thể nhìn thấy trong trí nhớ phía dưới kia là những mái nhà, những lớp ngói mốc rêu xanh, một sân nước bẩn thỉu, một con hẻm hẹp với hình ảnh một người đàn bà có bầu đang đùa với đứa bé bụng ỏng.<br />
Cơn mưa sẽ đến! Tôi nghĩ vậy và nhìn đồng hồ. Còn mười lăm phút nữa mới đến tám giờ. Thế mà tôi cứ tưởng là khuya lắm.<br />
Tôi đứng lên đóng cửa sổ, nằm xuống giường mở trang sách, đọc lại quyển “Chùa Ðàn” của Nguyễn Tuân.<br />
Có tiếng giày khua trên những bậc thang gỗ dẫn lên căn gác tôi. Rồi tiếng gõ cửa. Tôi vẫn nằm im. Tôi nghĩ là Quỳnh.<br />
Hình như trong thư cô đã viết cho tôi như vậy. Cái tay nắm cửa được xoay một vòng. Tôi nằm yên và nhắm mắt. Tôi nghĩ là Quỳnh sẽ hôn tôi. Nhưng lập tức tôi biết là tôi đã đoán sai. Mùi hương phấn rất đàn bà đang phớt qua mũi tôi. Ai? Tôi tự hỏi nhưng vẫn tiếp tục nhắm nghiền mắt. Tiếng giày ngừng lại ở đầu giường tôi. Tiếng xắc tay mở ra. Tiếng thở dài. Và mùi nước hoa lạ đang gần thấp xuống tôi. Rất gần!<br />
Tôi không thể đoán được và cũng không thể kềm chế nổi cơn tò mò của mình. Và tôi mở mắt ra.<br />
-Uyên! Tôi kêu lên.<br />
Khuôn mặt trắng xanh, trán bướng, mắt to, nốt ruồi. Cằm nhọn, cổ cao, tóc dài, ngực nở nang kiêu hãnh. Phải, đó là Uyên, con gái ông Phan, người tạo thời cuộc.<br />
Uyên đang đứng trên đầu giường tôi, hai tay khoanh lại, nhìn tôi đăm đăm. Thấy tôi mở mắt, cô bỏ tay ra, một tay đặt trên trán tôi:<br />
-Anh làm sao vậy? Uyên lo cho anh quá!<br />
Tôi chống tay ngồi hẳn dậy.<br />
-Ðừng. Anh cứ nằm yên nghỉ cho khỏe. Uyên đến thăm anh mà!<br />
Tôi nhất định ngồi dậy, tựa lưng vào thành giường, kéo chăn lên ngực, trong tay vẫn cầm quyển Chùa Ðàn.<br />
-Sao cô biết tôi bị bệnh?<br />
Uyên ngồi xuống ghế. Cô mở túi đựng cam, xếp lên bàn. Cầm một trái, vừa bóc vỏ Uyên vừa nói:<br />
-Cách đây nửa giờ có người gọi dây nói cho Uyên biết là anh bị ốm.<br />
-Ai vậy?<br />
-Làm sao Uyên biết được!<br />
-Ðàn ông hay đàn bà? Tôi không kềm nổi sự ngạc nhiên.<br />
-Theo Uyên thì đó là giọng của một cô gái. Vâng, là của một cô gái.<br />
-Một cô gái? Mà cô ta nói gì vậy?<br />
-Cô nói là ông Thăng không thể nào gọi dây nói cho Uyên được vì ông ấy ốm, khi nào khỏi bệnh ông ấy sẽ gọi lại ngay!<br />
-Thế thôi? Cô ta không xưng tên à?<br />
-Thế thôi! Cô ta báo tin xong là “cúp” ngay. Chẳng kịp hỏi han gì hết!<br />
-Không kịp hỏi han gì hết, sao cô lại biết chỗ ở của tôi?<br />
Uyên đưa cho tôi mấy múi cam đã bóc vỏ, rồi giơ một ngón tay lên đặt ngay sống mũi:<br />
-Bí mật nghề nghiệp!<br />
Tôi vẫn tựa lưng vào thành giường, nhìn Uyên. Vẫn xinh đẹp, vẫn trẻ trung. Rất phụ nữ, rất con gái. Uyên ngồi đó, bên cạnh tôi, trong căn phòng của một người đàn ông độc thân. Ánh sáng của ngọn đèn néon làm khuôn mặt cô trắng bệch xanh mướt, lót nền cho hai con mắt to đen trở nên quyến rũ hơn. Tôi nghĩ đến cái mà cô gọi là bí mật nghề nghiệp. Có gì bí mật? Ông Phan có thừa tai mắt để biết nơi ăn và chốn ở và cả hành tung của hằng vạn con người, ngay cả những người khó hiểu nhất, ăn thua gì một người như tôi. Vả lại, đâu cần thông minh lắm mới biết được cô gái gọi dây nói cho Uyên là ai. Có lẽ trong lúc dọn dẹp căn phòng Quỳnh đã đọc được cái “message” của Uyên gởi tôi? Và có lẽ Quỳnh muốn thử giải một bài toán mà cô là người đi tìm đáp số. Cô là người chia bài và chính cô là người đánh lá đầu tiên. Thôi được, cứ cho là Quỳnh chơi bài và Uyên cũng đang chơi bài đi. Nhưng tôi là cái “thá” gì mới được chớ?<br />
Uyên vẫn ngồi yên. Cô có vẻ suy nghĩ lung lắm. Sau cùng Uyên đứng dậy đưa tay:<br />
-Thôi, xin phép anh, Uyên phải về đây!</p>
<p>Tôi nắm bàn tay Uyên. Tôi nhìn vào mắt cô. Uyên không phản ứng. Cô để yên tay mình trong tay tôi. Mắt tôi gặp mắt Uyên. Chúng tôi nhìn nhau như thể mới thấy nhau lần đầu. Tôi đọc được sự thách thức trong đôi mắt cô. Nếu tôi bỏ tay cô ra trước có lẽ tôi là người thua cuộc. Nhưng nếu cứ giữ tay Uyên trong tay tôi, tôi sẽ là cái gì? Vì vậy tôi kéo Uyên. Và cô ngã lên tôi.<br />
-Ðừng anh! Ðừng anh!<br />
Tôi nghe tiếng Uyên kêu yếu ớt khi tay tôi vòng qua thân thể cô. Tôi hôn nhẹ nhàng trên trán cô, gò má cô, tai cô, cổ cô và sau cùng rất tàn bạo môi Uyên. Mùi hương phấn rất đàn bà của Uyên tràn ngập trong tôi.<br />
-Ðừng anh! Ðừng anh!<br />
Uyên kêu khẽ. Cô không hôn tôi. Tôi thấy đôi mắt Uyên ráo hoảnh nhìn tôi. Và cô đứng dậy, vén lại mái tóc rũ xòa trước trán:<br />
-Thôi Uyên về! Bác tài đang chờ Uyên dưới đường!<br />
Tôi nhìn Uyên không nói.<br />
-Anh ráng tịnh dưỡng nhé!<br />
Và cô nhẹ nhàng hôn lên trán tôi, rồi quày quả bước ra cửa. Tôi nghe tiếng giày khua rất chậm ở dốc cầu thang. Và tiếng động cơ xe nổ giòn, lăn bánh.</p>
<p>&nbsp;</p>
<p><b>Chương 6</b></p>
<p>Tất cả những con đường đưa vào trung tâm thành phố bị chận. Cảnh sát dã chiến và quân đội phối hợp đóng trụ ở các yếu điểm. Nội bất xuất, ngoại bất nhập. Biểu tình lớn ở trước thềm Quốc Hội. Chợ Bến Thành là một biển người. Trong hơi gió phảng phất mùi lựu đạn cay.<br />
Bầu trời nặng và oi.<br />
Cơn cúm chưa ra khỏi hẳn người tôi. Nhưng tôi không chịu nổi cảnh nằm nhà nghe nhạc và đọc sách như một tu sĩ. Tôi muốn gặp lại bạn bè ở không khí của một quán nước quen.<br />
Với chiếc Lambretta, tôi chạy len qua khắp nẻo, nhưng không làm sao đến được chốn mà tôi vẫn thường đến. Ðường vắng, nhưng những quán ăn ngoài lề đường vẫn đông khách. Dọc phố rải rác dưới các gốc cây, những mái hiên, góc lộ&#8230; là những người lính nai nịt gọn gàng, súng ống cầm tay trong một khí thế căng thẳng. Ở đường Ðoàn Thị Ðiểm, một chiếc xe jeep Mỹ bốn bánh chổng vó lên trời cháy sém. Ðối diện với sân quần vợt Bà Huyện Thanh Quan là khu cư xá của kiều dân Pháp, cổng đã đóng, và một cây cờ tam tài tổ bố trương lên cao.<br />
-Ði đâu bây giờ?<br />
Tôi tự hỏi và không tìm thấy câu trả lời. Tôi cứ thế cho xe chạy. Ngang qua căn nhà có cây trứng cá ở đường Kỳ Ðồng tôi thấy Ðăng và Mai đang đùa vui với lũ trẻ trong xóm. Tôi không muốn gặp Lan. Tôi chắc giờ này chị ta đang ở nhà. Tôi chạy xuống nhà Quỳnh trước rạp Rex. Nhưng kẽm gai đã kéo qua Lê Lợi, rào chắn đã chặn ngõ Lê Thánh Tôn. Nguyễn Huệ hay Tự Do đều cô lập. Tôi như con chuột chạy quanh trong một chiếc lồng lớn bằng lưới.<br />
Sau cùng tôi thấy mình ngừng xe trước cổng một ngôi biệt thự. Tôi bấm chuông. Và không đầy một giây, một người đàn ông, chẳng biết đã chờ chực ở đó từ bao giờ, hiện ra ở cửa:<br />
-Ông hỏi ai?<br />
-Cô Uyên.<br />
-Cậu là bạn cô Uyên?<br />
-Phải.<br />
-Xin lỗi. Mời cậu vào trong.<br />
Tôi theo chân người nhà của Uyên, băng qua khu vườn mà hôm trước tôi đã đi. Ðến phòng khách, hắn mời tôi ngồi, lấy nước trà cho tôi và xin phép đi gọi Uyên.<br />
Phòng khách rộng. Tường màu xanh nhạt. Ghế trường kỷ, bàn và cả một tứ bình đều cẩn xà cừ. Một bức tranh sơn mài lớn vẽ hình bốn con ngựa trong bốn tư thế phi nước đại khác nhau. Hoa hồng cắm trong một chiếc độc bình màu huyết dụ. Thảm trải dưới chân có hoa văn Ba Tư.<br />
Tôi không ngồi. Tôi đứng say mê nhìn bức sơn mài. Ngựa bao giờ cũng là con vật ưa thích nhất của tôi. Ngay khi đó bà Phan bước vào.<br />
-Thưa bác.<br />
-Chà, cậu Thăng. Lâu dữ. Ông nhà tôi nhắc cậu hoài.<br />
-Thưa bác, mấy hôm nay tôi cũng có ý định đến hầu bác, nhưng&#8230; Tôi lúng túng.<br />
-Tôi biết, tôi biết! Cậu bị ốm phải không? Bà chận lời tôi và chỉ chiếc ghế bành.<br />
-Cậu ngồi xuống đây đi!<br />
-Cám ơn bác. Ðúng vậy! Tôi bị cúm.</p>
<p>Tôi ngồi xuống ghế không biết mình sẽ nói gì. Thực ra nếu có Uyên ở đây cũng chưa chắc tôi nói được gì. Chẳng lẽ tôi đến thăm cô như một chuyện tình cờ? Chẳng lẽ tôi hỏi bà Phan là tôi muốn gặp Uyên?<br />
-Bị cúm à? Hồi này trời độc lắm. Ông nhà tôi mấy hôm nay cũng sụt sịt hoài. Thế cậu đã uống thuốc gì chưa?<br />
-Thưa bác. Tôi đã uống đủ thứ. Congex. Ngậm Maxicaine. Và cũng đã chích một mũi Arcopulmin nữa.<br />
-Nhưng bây giờ thì cậu đã nhẹ rồi chứ?<br />
-Cám ơn bác. Hết hẳn thì không hẳn là hết, nhưng nhẹ thì đã thấy nhẹ lắm.<br />
-Thảo nào trông cậu vẫn còn xanh. Tám đâu? Bà vừa nói chuyện vừa gọi người làm.<br />
-Lấy giùm tôi hai ly sữa đậu nành nhé!<br />
Người nhà mang nước lên. Bà Phan nói:<br />
-Cậu dùng thử nước này xem sao?<br />
Tôi nâng ly mời bà. Tôi đang khát nước. Trong phòng trọ tôi thiếu cái tủ lạnh. Nước máy lấy ở Lavabo thì nồng nàn mùi eau-de-javel, bình thủy có bỏ trà thì vì lười nên ít khi nấu.<br />
-Cậu thấy thế nào?<br />
-Thưa bác cám ơn bác. Ngon lắm!<br />
-Ðấy, con Uyên nhà tôi làm đấy!<br />
Nghe bà Phan đã nhắc Uyên, tôi thấy mình làm màu thế là quá đủ, tôi muốn hỏi thăm Uyên, nhưng bà Phan đã đứng dậy sửa lại cành hoa trong độc bình:<br />
-Xin lỗi cậu Thăng nhé! Tôi có chút việc. Ðể tôi gọi Uyên lên cho anh em nói chuyện nhé!<br />
Ðến cửa hông, bà Phan dừng lại, quay mặt nhìn tôi.<br />
-À, trưa nay cậu Thăng ở lại dùng cơm với nhà tôi nhé! Cơm thường thôi. Ðừng từ chối, bác giận!<br />
Tôi đứng dậy, hai tay thừa thãi:<br />
-Thưa bác, cám ơn bác, nhưng xin phép bác cho một dịp khác.<br />
-Không được! Ðừng làm khách. Nhà tôi và tôi cũng muốn hỏi thăm cậu mấy chuyện!<br />
Và bà Phan bỏ đi vào trong.<br />
Ngồi lại một mình trong phòng khách, tôi châm một điếu thuốc và thấy mình sao trơ trẽn. Tôi đến đây với mục đích gì?<br />
Ðộng cơ nào xô đẩy tôi? Nếu là Uyên, tôi muốn gì ở cô? Giữa hai chúng tôi mới chỉ là một cái hôn. Tuy môi tôi đã ngậm môi cô và tuy cô không phản đối nhưng rõ ràng cô không hôn tôi.<br />
Uyên. Tôi thì thầm tên cô. Tôi bỗng cảm thấy mình trở nên lãng mạn một cách kỳ quái. Tuổi trẻ thực sự tôi ở đâu để bây giờ đã quá cái tuổi ba mươi còn bị rung động vì một cái hôn?<br />
Tôi châm thêm một điếu thuốc. Cái gạt tàn đã đầy lên vì mấy điếu thuốc hút dở chừng của tôi. Bỗng nhiên tôi thấy ngứa ở cổ. Và cơn ho khan làm gập đôi người tôi. Ðiếu thuốc trên tay rơi xuống làm cháy khét một lỗ. Tôi lọng cọng mãi mới nhặt được điếu thuốc lên, dí đầu lửa vào cái gạt tàn.<br />
Bà Phan trở lại phòng khách.<br />
-Cậu Thăng ạ! Tôi quên mất, nó xin phép tôi đi từ sáng. Có lẽ cũng sắp về.<br />
-Cám ơn bác.<br />
Tôi chỉ vết cháy trên thảm.<br />
-Nhưng tôi làm cháy mất tấm thảm quý của bác rồi!<br />
-Không sao! Bà Phan nhìn theo ngón tay trỏ của tôi.<br />
-Cậu vẫn còn ốm đấy. Ðể tôi lấy thuốc cho. Ðừng có tưởng khỏe mà dể ngươi.</p>
<p>Bà trở vào trong mang ra một ly trà nóng và mấy viên thuốc.<br />
-Aspirine. Cậu nghe tôi uống một viên. Aspirine mà trị cúm là nhất nhé!<br />
Bất ngờ chuông điện thoại reo, bà Phan đứng dậy nhấc máy. Tiếng trả lời của bà khá nhỏ. Lúc trở lại chỗ ngồi, bà nói:<br />
-Ông nhà tôi gọi cho hay trưa nay không về được. Tình hình chính trị gay go lắm! Nhưng không sao, cậu ở lại dùng cơm với mẹ con tôi nhé?<br />
Tôi đứng dậy. Tôi đã chuẩn bị trước một lời cáo từ. Nhưng kìa, Uyên đã hiện ra ở khung cửa. Áo chẽn ngắn tay màu kim nhũ, quần ống rộng màu vàng, thắt lưng to bản.<br />
-Thưa mẹ, con mới về! Và quay sang tôi.<br />
-Chào anh Thăng, anh mới đến chơi?<br />
-Chào, cô Uyên. Tôi đến thăm cô! Tôi ngượng ngùng thú thật.<br />
-Anh Thăng ở lại dùng cơm nhé!</p>
<p>Bà Phan ngước mắt nhìn đồng hồ treo tường rồi nói với con gái:<br />
-Quá bữa rồi đó! Con xuống xem chú Ba đặt bàn chưa? Anh Thăng đương nhiên là phải ở lại dùng cơm với mẹ con mình rồi!<br />
-Còn bố? Bố không về sao mẹ?<br />
-Không! Bố bận họp! Phố xá có gì lạ không con?<br />
-Thưa mẹ, lộn xộn lắm. Anh Minh bị bắt hồi sáng nay, một người bạn của anh Minh trong Ban Ðại Diện Sinh Viên bị một người lạ mặt bắn chết tại góc đường Hiền Vương-Duy Tân.<br />
-Anh Minh nào vậy? Bà Phan có vẻ chú ý.<br />
-Thưa mẹ, anh Minh bạn con, cái anh chàng tóc cắt cao, quần áo gọn gàng như một sĩ quan không quân mà mẹ vẫn thường nhắc đó!<br />
-Mẹ nhớ ra rồi! Mà sao anh ấy bị bắt mới được chứ?<br />
-Con không biết. Chỉ nghe nói anh ấy cầm đầu bên trường Luật xuống đường xuống phố gì đó!<br />
-Ai bắt? Bà Phan có vẻ chú ý.<br />
-Bên chú Trương. Phòng Cảnh Sát Ðặc Biệt!<br />
Ngừng một chút, Uyên tiếp:<br />
-Mà mẹ có định can thiệp cho anh ấy không đấy?<br />
-Con muốn mẹ can thiệp sao? Bà Phan hỏi ngược lại.<br />
-Con không biết. Anh ấy là người đàng hoàng và học giỏi. Anh ấy là bạn tốt của con. Anh Minh có nhiều tham vọng.<br />
-Thôi! Bà Phan gạt ngang.<br />
-Chuyện này để mẹ bàn với bố xem sao. Bây giờ mình ăn cơm đi. Mẹ đói quá rồi!<br />
Bàn ăn hình bầu dục. Lưng ghế cao thoải mái. Thức ăn vừa miệng. Canh chua cá bông lau. Thịt kho tộ. Rau và cải chua.<br />
Một bữa cơm thanh bạch như thế này trong một gia đình thuộc loại số một quốc gia, tôi cho là “trong sạch.” Phần tôi cả tuần nay không có lấy một hột cơm trong bụng. Mì gói, bánh mì, xôi. Nói chung, tôi: Mì gói muôn năm. Vì vậy bữa cơm ngon miệng không thể tả.<br />
Bà Phan ngồi ở đầu bàn. Uyên và tôi ngồi đối diện nhau. Nhiều lần bà Phan gắp thức ăn bỏ vào chén tôi. Uyên cũng vậy.<br />
Thỉnh thoảng giục tôi ăn. Thật tình lúc đầu tôi cũng có hơi làm khách, nhưng sau chén thứ nhất tôi đã thấy tự nhiên. Rõ ràng là tôi ăn có nhiều hơn thường lệ.<br />
Khi người nhà mang trái cây tráng miệng lên, Uyên bẻ nửa trái chuối đưa tôi:<br />
-Anh chia hộ Uyên nhé!<br />
-Tôi là chúa ghét chuối! Tôi buột miệng trả lời không kịp nghĩ.<br />
Uyên vẫn đưa thẳng tay nửa trái chuối về phía tôi.<br />
-Thì anh ăn hộ Uyên mà!<br />
Bà Phan ngó tôi:<br />
-Chưa bao giờ tôi thấy con Uyên nó ăn hết một trái chuối. Cậu Thăng ăn hộ em nhé!<br />
Tôi cầm phần chuối Uyên chia và tôi thấy Uyên cầm tay tôi.<br />
-Cám ơn anh. Uyên làm cà phê cho anh nhé?<br />
-Rất cám ơn!<br />
-Ðúng tần số của anh rồi phải không? Uyên nhẹ nhàng đẩy ghế ra, đứng dậy nhìn mẹ:<br />
-Mẹ có muốn uống sữa đậu nành không?<br />
-Cám ơn con. Mẹ đã uống lúc nãy với anh Thăng!<br />
-Vậy, mẹ uống trà nhé?<br />
-Ừ! Con cho mẹ nước trà, nhưng vừa thôi đừng đậm quá!<br />
Uyên xuống bếp.<br />
Bà Phan mở chiếc khăn ăn ra, thấm thấm ở môi:<br />
-Cậu Thăng, tôi hỏi thế này khi không phải, xin cậu bỏ qua cho nhé! Tại sao cậu không sống trong gia đình bình thường như mọi người?<br />
-A! Câu chuyện sắp khởi sự rồi đây. Tôi nghĩ vậy.<br />
-Thưa bác, tôi không được rõ ý bác?<br />
Bà Phan có vẻ không vừa ý. Bà giải thích.<br />
-Tôi muốn nói bình thường như mọi người: Làm việc, nuôi vợ con, săn sóc nhà cửa. Bình thường như tất cà những người bình thường!<br />
Thế nghĩa là cái gì? Tại làm sao lại có cái chuyện bình thường với bất thường như thế này?<br />
-Thưa bác, tôi vẫn lo cho gia đình và con cái.<br />
Tôi nhìn thẳng vào mặt bà Phan và tôi nghe tiếng bà cười. Giọng cười nhỏ nhẹ nhưng không thiếu phần mỉa mai.<br />
-Cậu Thăng vẫn lo cho gia đình con cái đều đặn. Khá nhỉ?</p>
<p>Tôi thực sự ngạc nhiên về thái độ của bà Phan. Rõ ràng là bà đang đứng ở phía Lan. Bà không phê phán. Bà lên án. Bà tấn công tôi không phải bằng súng trường mà bằng đại bác. Nhưng không. Tôi không ngạc nhiên nữa. Tôi cáu. Tôi cáu thực. Bà nhân danh cái gì lên án tôi? Bà biết gì về những lục đục chính trong gia đình tôi dẫn tới tình trạng kia?<br />
Ai đã cung cấp cho bà những tin tức sai lạc dường ấy? Còn nhớ một lần trong phòng họp giáo sư một bạn đồng nghiệp nói với tôi một điều gì tương tự như thế và tôi đã kể cho anh ta nghe một câu chuyện chiếc vớ bị thủng lỗ trong một đôi giầy cao cổ. Tôi hỏi anh ta nếu tôi mang chiếc vớ như thế thì anh có biết nó có lủng lỗ hay chỉ nhìn từ bên ngoài? Anh ta trả lời làm sao mà biết được. Tôi nói cũng có thể biết “nếu mình dám làm cái công việc dí mũi vào bên trong đôi giầy ấy, nhưng người lịch sự, có học và ghê gớm sự hôi thối không ai làm thế!” Tất nhiên sau đó anh ta chường mặt tôi, và lỡ khi phải đụng mặt nhau ở hành lang giữa tiếng chuông đổi lớp, chúng tôi vẫn không buồn chào nhau.<br />
Nhưng với bà Phan tôi phải phản ứng làm sao đây? Hay là không cần phản ứng gì cả? Mà im lặng như vậy thì khác nào xác nhận lời nói của bà?<br />
-Thưa bác, gia đình nào cũng có những điều riêng tư mà không phải ai đứng bên ngoài cũng đều có thể nhìn thấy được.<br />
Bà Phan nhìn vào mắt tôi, giọng đã dịu dàng:<br />
-Cậu Thăng. Xin lỗi đã có nhận xét về cậu. Tôi muốn nói chuyện với cậu như nói với một người thân trong gia đình. Một đứa em, một người con. Chắc cậu hiểu tôi chứ?<br />
-Thưa bác, tôi hết sức cám ơn bác. Xin bác cứ nói những gì bác nghĩ và những gì bác đã được nghe người ta nói về tôi. Có những điều người ta thấy đúng nhưng nghĩ sai, và cũng có những sự việc tưởng là thế mà lại không phải thế!<br />
-Người ta nói cuộc sống của cậu phóng túng quá!<br />
Thế nào là một cuộc sống phóng túng? Lang bạt kỳ hồ? Phiêu lưu tình cảm? Bừa bãi trong mọi giao du liên hệ? Trai gái, cờ bạc, rượu chè, hút xách? Tôi không phải là tay đổ bác. Tôi cũng có đánh bạc đấy nhưng thường là chỉ chơi vào dịp Tết, và chỉ chơi trong giới hạn gia đình. Tôi không phải là bợm nhậu. Bạn tôi ở Chợ Ðũi gọi tôi là tên phá mồi. Bia chỉ làm chai thứ hai đã ríu mắt. Sao làm Hồng Thất Công được! Tôi không phải là ống khói nhà máy chuyên thở khói thuốc lá. Tôi càng không phải là tay chích choác. Còn nhớ lần theo Ðình, một trong những nhà văn có ảnh hưởng khá lớn trong giới sinh viên học sinh, đi thăm một tiệm “vàng đen” trên lầu một ngôi nhà ở góc đường Nancy và Trần Hưng Ðạo. Ðình nói với tôi mày thử một lần xem sao. Tuyệt lắm! Tôi thấy cái cảnh nằm la liệt trên những chiếc chiếu bẩn, uống chung cái cốc nước trà bằng sành nhỏ vàng vàng gớm ghiếc, tôi đã buồn mửa, làm sao ngậm cho được vào mồm cái tẩu đã chuyền qua hàng ngàn cái mồm bẩn kia! Tôi quyết liệt dứt khoát từ chối. Sau lần ấy, Ðình không bao giờ còn rủ tôi theo anh trong những chuyến đi loại đó nữa.<br />
Cái còn lại của tôi, nếu gọi được nó phóng túng, có lẽ là đàn bà. Tôi lập gia đình năm hai mươi tuổi với một người bạn gái học cùng lớp. Thuở đó tôi quá mơ mộng và lý tưởng. Còn cô ta thực tế đến tận đất đen. Ðà Lạt là đất của những cặp tình nhân. Nếu ở đây một người con trai và một người con gái chưa quen nhau mà hơi gần hoặc hạp nhãn nhau thì trước sau tất sẽ quen nhau. Nếu quen nhau rồi trước sau sẽ yêu nhau. Nếu yêu nhau thì không thể tránh đi lại với nhau, gần gũi nhau.<br />
Ðã gần gũi nhau mà đứa con trai có chút trách nhiệm thì không chóng thì chầy sẽ lấy nhau làm vợ chồng. Hôn nhân ở cuối đường của cô gái là cái gì mơ hồ nhưng tình dục rõ ràng là đã xâm chiếm lấn át hết mọi sinh hoạt của họ.</p>
<p>Chúng tôi lấy nhau vì thói quen như quen một món ăn, một thức uống. Nhưng tệ hại vẫn là tôi, người chưa bao giờ có được một quyết định sáng suốt trong cuộc sống.<br />
Giữa mùa hè, sau khi đã tốt nghiệp, Lan hay tin tôi muốn bỏ ngành đã học và đăng lính Hải Quân, cô ta tức tốc bắt tài xế đang đêm phải lái xe từ Ðà Lạt vù xuống Nha Trang, gõ cửa nhà tôi &#8211; lúc đó tôi đang ở Sài Gòn &#8211; và khóc với mẹ tôi xin bà hãy cho cô làm dâu. Mẹ tôi không có ý kiến. Bà nói chuyện hôn nhân là của tôi, tôi phải tự định đoạt.<br />
-Ðể sau nó không trách được tôi nếu nó không được hạnh phúc.<br />
Ðó cũng là năm mà tôi có Bích, một bạn gái quen nhau từ nhiều năm, khi tôi còn học trung học. Bích yêu tôi. Mẹ cô làm chủ một nhà Hộ Sanh khá lớn, anh em Bích đều là những người thông minh, học hành giỏi giang và tất cả đều thành đạt.<br />
Tuy vậy Bích là một thiếu nữ lãng mạn quá, mơ mộng quá. Tôi sợ một thiếu nữ lãng mạn. Yêu một cô gái mơ mộng thì được, nhưng cưới thì không! Lan trở lại Sài Gòn gặp tôi. Cô nói:<br />
-Em yêu anh, em muốn sống chung với anh. Em muốn có con với anh. Em biết chỉ có anh là người duy nhất có thể tha thứ cho em về sự lầm lỡ của đời em.<br />
-Tên lưu manh ấy, cô ta tiếp,<br />
-Hiện làm consul tại San Francisco. Hắn phá hoại đời em. Hắn không chịu cưới em. Và nếu hắn có muốn cưới em, em cũng không thể nào lấy hắn. Em yêu anh. Thăng ơi, hãy cưới em hoặc để em chết?<br />
Tôi hiểu được do đâu có lời kêu than đó. Tôi là một tên quân tử Tàu loại hạng bét. Xúc động vì những giọt nước mắt, tôi cúi xuống vớt cô ta từ đống bùn đen lên, xóa giùm cô cái vết ô nhục mà gia đình cô ta không muốn nghe ai nhắc đến.<br />
Ðêm tân hôn cô ta nói:<br />
-Cám ơn anh! Bây giờ em là vợ anh, nhưng em thấy mình vẫn có bổn phận biết ơn anh cho đến khi chết.<br />
Tuy vậy cô ta có một trí nhớ kém khi có lần cô nói người ta có thể lấy một người “hư hỏng” làm vợ chớ không ai lấy một người vợ về làm một mụ đàn bà “hư hỏng.” Cô nói thiếu: không ai lấy một cô gái “hư hỏng” về để nhìn cô tiếp tục làm người đàn bà hư hỏng.<br />
Với một người đàn bà loại ấy trong nhà thì người đàn ông sẽ phải làm gì nhỉ? Chắc là hắn không thể ở trong nhà được!<br />
Hắn cần có công việc để vùi đầu vào quên lãng. Hắn có cần tình yêu không, nếu tình yêu ấy đến với hắn? Hắn phóng túng quá không?<br />
Có lẽ thấy tôi làm thinh hơi lâu, bà Phan tiếp:<br />
-Người ta nói cậu bỏ bê con cái. Có khi nào cậu về thăm con không?<br />
-Thưa bác, chiều nào tôi cũng đón mấy cháu ở trường.<br />
-Thật sao? Bà Phan hỏi, giọng ngạc nhiên.<br />
-Có. Cái đó con có thể làm chứng!<br />
Uyên vừa đặt ly cà phê trước mặt tôi vừa mỉm cười quả quyết.<br />
Bà Phan gạt ngang:<br />
-Con thì biết cái gì cơ chứ!<br />
Uyên trở lại chỗ ngồi cũ. Cô xem lại cái phin cà phê của tôi đã xuống hết chưa. Cô cho đường vào cốc và khuấy. Cô đổ trà ra cốc cho mẹ. Nước trà còn loãng, cô lại đổ vào bình.<br />
-Mấy lần con đến trường của mấy cháu, con thấy anh Thăng rất đúng giờ!<br />
-Uyên! Bà Phan la con.<br />
-Me muốn con để yên cho me nói chuyện với anh Thăng.<br />
-Thưa me, vâng! Uyên tuân lời mẹ, không vui.<br />
-Người ta cũng nói cậu có liên hệ với một cô làm ở hãng hàng không CAL? Tin đồn đó có đúng không?<br />
-Thưa bác, điều này đúng! Cô ấy tên là Quỳnh và là một cô gái can đảm!<br />
Tôi thấy Uyên nhìn tôi. Cả bà Phan nữa. Chắc bà không chờ đợi nơi tôi một câu trả lời như thế. Tôi múc một muỗng đường cho vào cà phê và khuấy. Tôi chuyển cà phê sang một ly đá lạnh. Tôi quên là Uyên đã cho đường vừa đủ.<br />
-Cậu nghĩ gì về những lời đồn đại đó! Bà Phan có vẻ như muốn kết thúc câu chuyện.<br />
-Thưa bác, như bác thấy đó, cũng có đôi phần đúng và nhiều phần sai.<br />
-Tóm lại, trong sự đổ đổ vỡ này lỗi về phần ai?<br />
-Me!</p>
<p>Tôi nghe tiếng Uyên thốt lên bất ngờ. Chiếc muỗng cà phê trên tay cô rơi xuống nền gạch gây nên một tiếng động chát chúa.<br />
Cô xô ghế chạy ào vào phòng riêng và đóng sầm cửa lại.<br />
Mặt nước màu nâu đậm sóng sánh trong ly. Câu chuyện về tôi để làm loãng sự quánh đặc của cốc cà phê thân ái.<br />
“Xin lỗi cậu Thăng nhé!”<br />
Bà Phan đứng dậy, xếp lại cái khăn bàn ăn cho ngay ngắn, rồi chậm rãi đi lại trước cửa phòng Uyên, gõ nhẹ mấy tiếng lên mặt gỗ và áp má vào đó.<br />
Tôi thấy mình trơ trẽn, thừa thãi. Tôi cho tay vào túi tìm gói thuốc và chạm một bao thơ. Tôi nhớ ra rồi. Ðó là thư mời ra mắt sách của một nhà văn nữ. Chắc chắn là sẽ không thiếu mặt nào trong đám bạn bè tôi.<br />
Tôi châm một điếu thuốc. Khói làm tôi ho sặc sụa, nhưng tôi biết cái thư mời ra mắt sách này đã cứu tôi ra khỏi cơn tắt nghẽn.</p>
<p>&nbsp;</p>
<p><b>Chương 7</b><br />
Căn nhà nhỏ nằm trên một quãng đường hẹp, sỏi đá lỡm chổm và bụi mù tung mờ mịt dưới bánh xe. Cổng là một khung gỗ có ràng kẽm gai bên ngoài, nhưng bên trong là một miếng tôn dùng che tầm mắt của người đi đường để họ không thể thấy được phòng khách. Rất tạm bợ. Sân tráng xi măng xù xì vì trộn quá nhiều cát. Giữa sân là một cây khế cành lá xum xuê. Cửa chính hẹp, nhưng phỏng khách tương đối rộng.<br />
Chủ nhân là một nhà văn nữ. Truyện chị hiện đang được nhiều nhật báo giành nhau đi hằng ngày. Chị viết dễ dãi, lôi cuốn, nhiều tình tiết. Nhân vật chị yêu nhau dữ dội và nguyền rủa nhau không tiếc lời. Họ gần gũi với đời sống nhưng đó là một đời sống đã được cường điệu: một linh mục, một tín đồ, một cô giáo, một nam sinh, một mối tình tay ba, một tình yêu không lối thoát&#8230; Nói chung truyện chị rất ít tình ái và rất nhiều tình dục. Lãng mạn có phần lép vế trước xác thịt. Ghen tuông dằn vặt lấn át cả hòa thuận yên vui. Một vài nhân vật tự tử vì không lấy được nhau. Một vài nhân vật lấy được nhau nhưng bắt đầu chán nản và cả hai cùng ngoại tình&#8230;<br />
Truyện chị đăng trên báo thì nhiều, nhưng hôm nay mới là ngày ra mắt cuốn sách đầu tay của chị.<br />
Khách đến đã khá đông. Phần lớn tôi đều quen mặt biết tên. Phùng, vẫn đôi kính cận màu nâu nhạt, gọng to, vẫn giọng nói gấp gáp đuổi nhau từ tiếng này sang tiếng khác. Anh dạy học ở một tỉnh cách xa Sài gòn chừng vài mươi cây số, nhưng mới đây, Phùng nói, anh vừa nhận được sự vụ lệnh thuyên chuyển về làm phụ khảo môn Triết Tây tại đại học Văn Khoa.<br />
Nhật, sĩ quan chiến tranh chính trị, phóng viên chiến trường. Anh là người gây sôi nổi và được chú ý nhất trong năm qua với cuốn sách viết về trận chiến mùa hè ở Quảng Trị. Cái chết của người dân và người lính trải dài trên Ðại Lộ Kinh Hoàng gây cho người đọc một ấn tượng khủng khiếp khó quên. Nhật là một trong số những nhà báo xông xáo nhất, có mặt trên hầu hết những điểm nóng của chiến trường.<br />
Tâm, khuôn mặt sạm đen, gầy như một Khô Khốc Thiền Sư, thở thuốc lá đen như ống khói nhà máy, uống rượu như hũ chìm, và là một trong những tay đổ bác thuộc loại “Paul Húc”. Anh cũng là một trong số ít nhà phê bình văn học có cái nhìn mới mẻ và sâu sắc về các tác phẩm văn chương hiện đại. Trong giao tế anh là người khó khăn, nhưng trong tình bạn anh là người cực kỳ chung thủy.<br />
Gầy và mỏng hơn cả là Tâm là Ðình. Anh có mái tóc dài chải lật ngược về phía sau. Cặp kính cận đôi lúc hơi trụt xuống sống mũi, tuy vậy vẫn không che hết được nỗi hắt hiu của một đôi mắt lúc nào cũng như chực chờ để vĩnh viễn khép lại. Ðình là một trong những cây bút thời danh của Sàigòn kéo dài từ những năm sáu mươi đến nay. Văn chương anh mềm mại, chữ nghĩa anh xanh xao. Truyện anh là một tiếng thở dài buồn bã hắt ra từ niềm tuyệt vọng của một kiếp nhân sinh. Giọng nói Ðình phải chăng vì thế chan chứa sự quyến rũ của một cái gì sắp tan đi như mây khói. Trên đài phát thanh, chương trình nhạc chủ đề do Ðình viết, đọc, và giới thiệu thu hút một tầng lớp thanh niên có học, và phải nói là gây một ảnh hưởng khá lớn đối với giới trẻ. Tôi yêu cái tài hoa điệu nghệ của anh, nhưng thật tình mà nói, tôi sợ giống anh, ít ra là hai điều: bệnh tật trầm kha đang ngự trị trên một thân thể vốn quá gầy yếu của anh, và ngôn ngữ anh chứa đầy độc tố&#8230;</p>
<p>Nguyễn Giang, một khuôn mặt lớn trong đời sống âm nhạc của đám đông với mái tóc dài hơi xoắn, chiếc kính cận gọng nhỏ, nụ cười nửa miệng. Anh là cha đẻ của những ca khúc mà mỗi lời hát như một lời thơ.<br />
Ngôn ngữ âm nhạc anh là bản lề giữa một bên là tiếng nói hằng ngày và một bên là suy tư triết học. Âm nhạc ấy được trình bày bởi một giọng hát lôi cuốn trẻ trung và đìu hiu: Mai Khanh. Tiếng hát của chị vang lên từ một trái tim hấp hối. Trong buồng ngực của chị như có ngọn lửa tàn bạo thổi nóng từng tiếng ngân, thắp sáng và mở rộng không gian của người thưởng ngoạn. Tôi nghĩ người ta đã nói không quá đáng rằng âm nhạc của Giang sở dĩ chinh phục được tim óc người nghe là nhờ tiếng ca ma túy của Mai Khanh và ngược lại giọng hát của Mai Khanh có được một chỗ đứng hàng đầu như cô hiện nay chính là vì tiếng hát ấy đã tựa được vào âm nhạc Nguyễn Giang.<br />
Góc nhà chỗ đầu hồi, ngó ra cửa sổ, nơi lá của những cành khế thấp xuống, là một dương cầm. Con gái nữ chủ nhân đang chơi một khúc cổ điển quen thuộc của Beethoven.<br />
Ghế ngồi của khách đặt sát vách tường. Giữa phòng là hai chiếc bàn kê gần nhau. Một bàn xếp những cuốn sách mới vừa in xong còn thơm mùi mực của nhà văn nữ. Bàn còn lại là thức ăn nhẹ và nước uống. Giữa là một bình hoa lớn. Những bông hồng nhung đỏ và vành tươi chen quanh những lá măng nhỏ cọng.<br />
Người đến trễ giữa lúc mọi người đang ăn và sắp sang mục tặng sách là Tuấn-phở, Tuấn-luật sư. Hôm nay hắn ăn mặc khá đỏm dáng. Quần áo như đi dự dạ hội, râu mép, tóc dài, cổ choàng foulard đỏ màu huyết dụ. Vừa bước vào nhìn thấy tôi, Tuấn đã kêu to:<br />
-A, Thăng! Vụ mày tới đâu rồi?<br />
Tôi nhìn hắn cười, hỏi nghịch:<br />
-Vụ gì?<br />
-Còn vụ gì nữa! Có Bản Ðại Tự chưa?<br />
Tôi vẫn muốn chọc hắn:<br />
-Sao ông không nói toẹt ra là vụ ly dị cho nhẹ cái lỗ nhĩ có hơn không!<br />
-Ừ! Thì cứ gọi là vậy đi! Thế nào?<br />
Tuấn vẫn tỉnh bơ.<br />
-Thế mà tôi định hỏi thăm ông đó. Ông ở tòa án chắc ông phải rõ hơn tôi chớ!<br />
-Khỉ! Tao đâu có phụ trách hồ sơ mày! Ði mà hỏi luật sư của mày chứ!<br />
Tuấn nói hơi to tiếng khiến mọi người gần như quay mặt hết về phía hắn. Hắn vẫn không để ý, vẫn ồm ồm cười nói lớn giọng. Liền đó, hắn xăm xăm tới bàn, rút một cành hồng vàng rồi đi thẳng tới nữ chủ nhân. Nhà văn nữ của những truyện tình thời thượng đang nói chuyện với nhà xuất bản, một thanh niên trẻ và làm giàu sớm, thấy Tuấn đến vội ngừng câu chuyện.<br />
-Xin tặng người phụ nữ văn chương đẹp nhất Việt Nam một bông hồng vàng của David Lean!<br />
-Tại sao David Lean! Chị hỏi.<br />
-Vì David Lean là đạo diễn phim Doctor Jivago.<br />
-Thế có liên hệ gì đến tôi cơ chứ?<br />
-Có chứ!<br />
-Ông chỉ được cái vớ vẩn!<br />
-Vớ vẫn thế nào được. Thế bà chưa xem phim này à?<br />
-Ðã. Nhưng sao cơ?<br />
-Ðó là đoạn chàng Jivago bỏ nàng Tonia đang có bầu đứng giữa một vườn hoa vàng ở Varenkino để lên đường đi thăm người tình Lara của mình.<br />
-Khiếp cái nhà ông luật sư này! Nữ chủ nhân hiểu ra và la lên.<br />
Tôi bưng ly rượu đến gần chỗ Nhật. Anh là người nói nhiều nhưng hôm nay nhìn anh trầm ngâm trước ly whisky làm tôi ngạc nhiên:<br />
-Bao giờ lại đi? Tôi hỏi.<br />
-Cũng sắp!<br />
-Nhà cửa hồi này ra sao?<br />
-Khủng khiếp!<br />
-Cái gì? Sao lại khủng khiếp? Tôi ngạc nhiên.<br />
-Con vợ tao mày biết rồi chứ gì? Nó-hiền- như con cọp cái!<br />
Nhật sôi nổi.<br />
-Tại sao?<br />
-Mày coi đây này!<br />
Nhật vừa nói vừa cởi chiếc giày trận. Ngón chân út của anh đã mất, tuy vết thương đã lành nhưng lớp da chỗ đó vẫn còn đỏ hỏn.<br />
-Tao chả hiểu khỉ khô gì hết! Tôi vừa nói vừa nhìn vào mắt Nhật.</p>
<p>Anh kể lại câu chuyện. Cách đây hai tháng về thăm vợ ở Biên Hòa là nguyên nhân về cái bàn chân bị mất ngón út của anh. Vợ Nhật là con gái rượu của viên đại tá công binh. Chị tên Lê, xinh đẹp và thông minh.<br />
Ở tỉnh lẻ, Lê nổi bật như một thiếu nữ tân tiến. Chị đọc sách nhiều, đầu óc cởi mở. Tuy mới lớn, chị đã dám vượt khỏi khuôn khổ của lề thói mà con người sống trong tỉnh nhỏ thường vẫn tự trói buộc. Tôi không hiểu từ miền Trung xa xôi, Nhật đã gặp, quen và cưới Lê trong trường hợp nào, nhưng tôi biết nếu cuộc hôn nhân ấy thành cũng là điều dễ hiểu. Tuy vậy thỉnh thoảng gặp Nhật, tôi vẫn nghe anh thở than về cuộc sống của gia đình anh.<br />
Là một sĩ quan Dù, Nhật chiến đấu giỏi, gan dạ và mưu trí. Những bài báo viết từ chiến trường của anh có tiếng vang lớn.<br />
Chính những bài báo đó đưa anh từ Dù sang Chiến Tranh Chính Trị và làm phóng viên chiến trường. Cuộc sống nay đây mai đó của Nhật làm Lê khó chịu. Nhiều khi cả tháng anh lê la mấy quán nước ở Sài Gòn, lăn lóc chè chén với đám bạn bè. Tới hôm về thăm vợ chợt nhớ ra sinh nhật của Lê đã qua cách đây hai hôm. Nghe lời tôi, Nhật mua về một bó hoa hồng xin lỗi vợ, nhưng Lê một mực lặng thinh. Chị nhất định làm con ốc biển mặc cho sóng vỗ ào ạt lên bờ cát.<br />
Tối hôm đó, khi Nhật bắt đầu “chiến tranh lạnh” trở lại, Lê lên tiếng. Ðến nửa đêm, khi thấy mình cứ lải nhải mà chồng thì cứ ngáy khò từ đời nào, Lê đập Nhật dậy bật đèn sáng cả nhà, liệng xuống sàn nhà tất cả ly chén cốc dĩa nào trong tầm tay, xong cầm cái dao lính của Nhật vẫn thường giắt lưng, đặt ngón tay trỏ của bàn tay trái mình lên bàn chặt phựt một cái.<br />
-Mày biết không? Nhật tiếp,<br />
-Tao điên lên vì tức, vì buồn ngủ, vì lo sợ. Nó muốn qua mặt mình, muốn dằn mặt mình. Tao nghĩ vậy, bèn giật con dao còn dính máu, đặt bàn chân này lên chỗ bàn ngủ, cứa mẹ cái ngón chân út này. Thế là huề.<br />
-Còn mày? Nhật hỏi tôi.<br />
-Ối! Tao còn tệ hơn mày nhiều!<br />
-Tới đâu?<br />
-Mày không nghe Tuấn-luật sư nói sao?<br />
-Thì cũng mơ mơ màng màng vậy thôi. Nhưng sao có thằng nói mày sắp làm phò mã ông Phan?<br />
Nhật làm tôi giật mình. Sao lại có cái cớ sự này?<br />
-Ai nói? Tôi hỏi gặng.<br />
-Thì tụi nó nói. Ðại khái là vậy. Thế nhưng còn em bé gì làm ở China Air Lines thì sao?<br />
-Có sao đâu! Tôi chống chế.<br />
Phùng mang một dĩa thức ăn đến chỗ tôi và Nhật.<br />
-Ê, Thăng. Tình hình hồi này ra sao?<br />
-Tình hình gì?<br />
-Thì còn tình hình gì nữa? Tao muốn nói tình hình chính trị ở đây?<br />
-Chính trị? Sao mày không hỏi thằng Nhật hoặc ông Ðình mà hỏi tao?<br />
-Tin sốt dẻo bây giờ chỉ có mày là nhất. Tao sợ thằng Nhật hay ông Ðình rồi cũng phải đến hỏi mày mà thôi!<br />
Phùng làm tôi tức cười. Bạn bè biết tôi là thằng không ưa chính trị. Trong đám đông có ai nói chiến tranh hay chính trị thì tôi luôn luôn là kẻ ngồi im câm miệng hến. Tại sao? Tôi cũng không rõ nữa. Có lẽ tôi là tên dốt chính trị. Ðằng nào tôi cũng là tên lơ tơ mơ về mặt này. Còn nhớ có lần Trọng, một bạn đồng nghiệp hỏi tôi rằng đâu là mối tương quan giữa chính trị và văn chương. Tôi trả lời hắn thẳng thừng văn chương và chính trị chẳng có ăn nhậu gì với nhau hết. Trọng, tất nhiên là không hài lòng về câu hỏi đó. Hắn chờ một câu ngược lại. Tuy vậy mặt hắn cứ lạnh như tiền. Thật ra, trước đó, hồi cùng thụ huấn chung tại quân trường Quang Trung, khi tôi được cử làm tờ báo cho Liên Ðoàn Khóa Sinh Dự Bị Sĩ Quan, Trọng có viết cho tờ đặc san một bài xã luận về cuộc chiến Việt Nam. Suốt bài, hắn lên án quân đội Mỹ và đồng minh là kẻ xâm lược, giọng điệu sặc mùi tả phái bởi vì bài báo ấy chỉ nhìn từ một phía nên không thể đi được. Hắn lạnh lùng nhìn tôi và nói:<br />
-Rồi mày sẽ hối hận.<br />
Tôi không hiểu ý nghĩa của lời hắn nói. Khi được biệt phái trở về nhiệm sở cũ, và cũng như Phùng, hắn được chuyển về làm phụ khảo cho môn Triết Tây tại đại học Văn Khoa Sàigòn, hắn viết và cho xuất bản một tập tiểu luận dưới nhan đề: “Cái chết của một nhạc sĩ.” Bài viết của hắn lập tức được đài Hà Nội đọc lại và gây một phản ứng dữ dội từ nhiều phía.</p>
<p>Thật ra, khi viết tập tiểu luận này, Trọng hoàn toàn đứng trên quan điểm duy vật biện chứng có cải đổi nhẹ đi một chút. Dù sao vẫn là lấy chính trị đè bẹp văn chương.<br />
Tôi nói với hắn rằng nhìn ngắm một tác phẩm văn học nghệ thuật tiên quyết là nhìn ngắm bằng con mắt thẩm mỹ học trước khi nhìn ngắm dưới khía cạnh chính trị, kinh tế, xã hội hay đạo đức. Một cái nhìn văn chương có tính cách gượng ép và đàn áp như vậy là một cái nhìn cận thị trí thức, khiến cho người có đôi mắt ấy trở nên một quái nhân với “chiếc đầu” to nhưng “trái tim” teo.<br />
Tất nhiên không ai chịu nổi một bài thơ ca ngợi trăng sao và tình ái đăng trên một tạp chí xuất bản tại thành phố vừa mới qua một trận thiên tai kéo theo cái chết của hàng chục ngàn con người và hàng ngàn gia đình không chốn nương thân. Cái thứ thơ thẩn ấy cũng nên đem chôn sống đi là vừa. Thế nhưng, tôi cũng không ưa những kẻ bạ đâu cũng bô bô cái miệng lập trường quan điểm. Những kẻ chuyên gán ghép để buộc tội kẻ khác, lên án kẻ này, người nọ, thường là những kẻ đang có trong cơ thể hắn đúng thứ bệnh tật đó, nếu không muốn nói hắn là kẻ yếu đuối và thiếu bản lĩnh. Cái điệu bộ trịnh trọng của bọn này làm tôi chết cười.<br />
Phùng, hơn ai hết, biết rõ điều này nơi tôi. Tôi không hiểu tại sao bạn ta lại đặt cho ta một câu hỏi quái đản như thế? Tôi hỏi lại Phùng:<br />
-Tại sao? Tao tưởng dạo này mày bắt đầu quan tâm tới đời sống chính trị rồi chớ?<br />
Phùng vất mẩu thuốc hút dở xuống bàn &#8211; hắn luôn luôn làm như vậy dù trước mặt hắn có cái gạt tàn, bởi vì theo hắn cả cái xã hội này đã là cái gạt tàn lớn thì điếu thuốc hay tro thuốc bỏ đâu mà chẳng được.<br />
-Nghe nói mày vẫn đều đặn trình diện ông Phan mà!<br />
-Ðừng có móc bạn! Từ thì tao có gặp ông Phan. Nhưng đã sao?<br />
-Ðó! Vấn đề là ở chỗ đó! Ông Phan không phải đang là người tạo thời cuộc sao? Không phải ông Phan đang chuẩn bị để làm người số một hay sao? Cái quyền lực trong tay ông Phan hiện chưa tới nhưng chẳng phải là một quyền lực “diều gặp gió” hay sao?<br />
Nghĩ là tôi giận vì thấy tôi vẫn làm thinh, Phùng đùa:<br />
-Chứng chỉ Triết Tây của cô Uyên do ông Phùng phụ trách, còn chứng chỉ Tình Yêu do ông Thăng đảm nhiệm nhé!<br />
Nói xong, Phùng xô ghế đứng dậy, sửa lại gọng kính nâu tụt trên sống mũi, kẹp cuốn sách vào nách.<br />
-Ðùa chơi tí, đừng cáu nghe bạn!<br />
-Sư mày! Ðồ triết gia điên khùng!<br />
-Thôi, để tao đến chào chủ nhân cái rồi dọt!<br />
Phùng đi, nhưng Nhật vẫn không buông tôi:<br />
-Tưởng mày cũng biết tí ti chứ!<br />
-Biết gì? Tôi giả mù sa mưa.<br />
-Thì tình hình chính trị chớ còn gì?<br />
-Thế mày tưởng thằng Phùng nó nói thật hả?<br />
Nhật cười cợt:<br />
-Ðừng quên anh em nghe Thăng!<br />
-Cái gì? Tôi hỏi lại và bật cười.<br />
Bạn tôi thực sự là những tên đùa dai. Những lời chòng ghẹo của chúng làm tôi nhớ lại hôm gặp ông bà Phan. Ðó lần duy nhất tôi gặp ông Phan. Ông quá bận rộn đến nỗi câu chuyện mà ông hứa sẽ nói với tôi vẫn còn nguyên trong bóng tối. Tôi cũng không quên những câu hỏi của bà Phan trong bữa cơm. Bà tấn công tôi với mục đích gì? Tại sao Uyên bật lên tiếng kêu ở cuối bữa cơm? Có phải nàng muốn ngăn chận những câu hỏi kế tiếp của bà Phan? Và tôi làm sao quên được lần hôn Uyên. Ðôi môi nàng nóng bỏng nhưng còn do dự ngập ngừng và mái tóc dài của nàng che phủ mặt mũi tôi tỏa xuống một mùi hương kỳ diệu của một thân thể trẻ trung tràn trề nhựa sống.</p>
<p>Nhật chưa kịp trả lời câu hỏi của tôi, thì Ðình, Tâm đã cùng nữ chủ nhân kéo đến.<br />
Nhà văn nữ chìa ly rượu trên tay cho tôi:<br />
-Xin lỗi anh Nhật nhé! Tôi muốn mời anh Thăng thử chút Ngũ Gia Bì này!<br />
-Bà ơi! Bà mời rượu thằng này chẳng khác nào mời thằng Tây húp nước mắm!<br />
-Vậy là anh Thăng không biết uống rượu?<br />
-Ðúng! Bà đưa cho tôi. Tôi mới là connoisseur chính cống! Nhật cầm lấy ly rượu.<br />
-Anh Thăng không có ý kiến? Nữ chủ nhân hỏi.<br />
-Ðừng hỏi ý kiến của một người không bao giờ có ý kiến! Ðình chận lời.<br />
-Cám ơn! Tôi giật ly rượu trên tay Nhật và hớp một ngụm. Chất cay muốn xé cổ. Tôi chuyền ly cho Nhật. Anh ngửa cổ nốc cạn.<br />
-Ngon tuyệt! Nhật chùi mép khen.<br />
Nhà văn nữ hỏi tôi:<br />
-Thế còn anh Thăng? Anh thấy thế nào?<br />
-Cay! Với tôi, rượu không có mùi vị nào khác ngoài vị cay! Rất đắng cay!<br />
-Nó đang đau khổ vì tình, nên rượu vào chỉ có đắng cay! Tâm thêm.<br />
-Tôi có nghe chuyện tình của anh Thăng. Có lẽ tôi sẽ viết một truyện về anh, anh Thăng ạ! Nhà văn nữ hơi phô trương.<br />
-Cám ơn lòng tốt bà chị. Tài năng như bà chị mà viết truyện tình của tôi thì phí phạm quá!<br />
-Ðừng mỉa mai tôi, ông bạn! Rồi có lúc ông sẽ đọc truyện về ông trên những dòng chữ của tôi! Nữ chủ nhân không phải tay vừa.<br />
-Chào!<br />
Tôi ngồi lại một mình với Nhật. Tôi không biết làm gì. Mọi người chia ra từng nhóm nhỏ. Tuấn-luật sư vẫn là người to tiếng nhất. Tôi hỏi Nhật khi thấy anh thừ người trên ghế như đang lo nghĩ điều gì.<br />
-Ông Phan là người như thế nào?<br />
Nhật nhìn thẳng vào mắt tôi nghi ngờ. Có lẽ anh nghĩ là tôi hỏi đố anh. Tuy vậy sau cùng Nhật vẫn lên tiếng nói về ông Phan theo cách hiểu biết của anh. Theo Nhật, ông Phan là một tay hiếm hoi trong những người làm chính trị chuyên nghiệp.<br />
-Một tay thủ đoạn, một kẻ tà đạo trong chính trường.<br />
Nhật nói như vậy. Ông Phan tốt nghiệp khóa sĩ quan trường võ bị Dar-el-Beida năm mới hai mươi mốt tuổi, tham gia nhiều trận đánh trong quân đội Pháp. Khi Ðệ Nhị Thế Chiến chấm dứt, ông mang cấp bậc trung tá. Người ta nói trong đoàn quân trở về tiếp thu Paris, ông Phan có mặt trong đội danh dự. Nhờ vết thương trong trận Normandie, ông Phan xin giải ngũ, xuống Toulouse mở một tiệm ăn Việt Nam.<br />
Năm 1954, khi Pháp thua trận Ðiện Biên Phủ và Hà Nội rơi vào tay cộng sản, ông Phan sang lại tiệm ăn ở Toulouse cho một người đồng hương, trở lại Sài Gòn. Người ta thấy ông Phan có mặt trong những buổi tiếp tân quan trọng. Vai trò của người Pháp sắp hết trên bán đảo Ðông Dương, ông Phan là người biết rõ điều ấy, nhưng ông vẫn đi lại với Tướng Michel Nguyễn “có vợ đầm, quốc tịch Pháp và là con trai của Ðốc Phủ Sứ Maurice Nguyễn” trong chức vụ tổng Tham mưu trưởng quân đội. Ông Phan cũng liên hệ đến nhân vật Sáu Cận, người cầm đầu Bình Xuyên và tin tức báo chí còn cho thấy ông Phan dành nhiều buổi nói chuyện với Ðức Hộ Pháp&#8230; Sau cùng khi những khuôn mặt này không còn chỗ đứng trong chính trường miền Nam, người ta thấy ông Phan lui tới với ông Cương “em trai của vị tổng thống đầu tiên ở Việt Nam” và uống rượu với Ðại Sứ Hoa Kỳ Amberley. Người ta đồn lúc này bà An Hạ, vợ của ông Cương, là tình nhân của Tướng Trần, nhưng nguồn tin thân cận thì nói rằng ông Phan mới là người tình thực sự của người đàn bà lừng lẫy này. Khi bà An Hạ đi Pháp tẩy độc dư luận sau vụ tự thiêu của một hòa thượng, người ta thấy ông Phan có mặt bên cạnh bà đệ nhất phu nhân ở sân bay Tân Sơn Nhất.</p>
<p>Sau đó ông biến mất một thời gian. Người ta nói tổng thống Hoa Kỳ đón ông sang Mỹ ngay khi cử ông Fullerton, nhà ngoại giao và cũng là tay bỉnh bút cừ khôi của tờ Le Monde Diplomatique Pháp đến Việt Nam làm đại sứ.<br />
Sự có mặt của ông Fullerton kéo theo sau đó sự sụp đổ của anh em ông Cương&#8230; ông Phan là người luôn luôn chứng tỏ mình là một nhà lãnh đạo nhà nghề. Ông không ngừng học hỏi nghệ thuật lãnh đạo và chủ nghĩa quyền thuật trong các tác phẩm lớn của nhân loại, điều mà trước kia do khả năng văn hóa kém đã không cho phép ông thực hiện được. Ông đã tự học &#8211; ngoài tiếng Pháp và tiếng mẹ đẻ &#8211; Anh, Tây Ban Nha và Hoa ngữ. Ông nói khá thành thạo tất cả những ngôn ngữ này. Châm ngôn của ông là -Si vis non vobis,- nghĩa là -ở với họ nhưng không theo họ.- Với một bề ngoài xuề xòa, ông Phan là người đòi hỏi kẻ khác nhiều đức tính mà không phải ai cũng có thể có. Ít ai đoán được ông Phan sẽ làm gì sau cái bắt tay thân mật và nồng nhiệt của ông. Ông luôn luôn rào đắp quanh ông những cạm bẫy. Ông muốn làm sụp ai kẻ ấy trước sau sẽ sụp. Ðiều đặc biệt cái bẫy của ông Phan là một khi đã sụp thì khó mà ngóc dậy được&#8230;<br />
Nhật nói về ông Phan như nói về một nhân vật tiểu thuyết của anh. Sự mô tả của Nhật làm cho hình ảnh ông Phan trong tôi mỗi lúc một rõ nét hơn.<br />
-Nhưng ông ấy có phải là một người giỏi không?<br />
Nhật cười:<br />
-Thế nào là một người giỏi?<br />
-Ông Phan có phải là một chính trị gia giỏi không?<br />
-Chính trị đòi hỏi thủ đoạn, liều lĩnh và máu lạnh. Ông Phan có đủ những thứ ấy!<br />
Tôi ngó chăm vào mặt Nhật:<br />
-Mày không ưa ông Phan?<br />
Nhật cười giòn:<br />
-Tại sao mày bắt tao ưa hay không ưa một người chẳng có liên hệ đến tao? Mày nên dành câu hỏi ấy cho chính mày mới phải!<br />
Ừ, mà tôi yêu hay ghét ông Phan vậy? Có lúc tôi thấy tôi ghét ông, ghét cái khuôn mặt mập tròn của ông, ghét những ngón tay ú nhão rịn mồ hôi trong tay tôi, ghét cái hung bạo người ta nói về ông&#8230; Nhưng cũng có lúc tôi thích ông&#8230; Sự cố gắng cực kỳ khó khăn của ông để làm thành một con người khác. Một tình cảm vô thức nào đó trong tôi nói với tôi rằng ông là mẫu người mà tôi tìm kiếm, khát khao được gặp và đã tìm thấy. Dù sao tôi muốn chấm dứt câu chuyện về ông Phan.<br />
-Thôi không phải nói chuyện ông Phan nữa!<br />
Nhật cười:<br />
-Bây giờ làm báo mà không nói về ông Phan thì coi như không biết làm báo!<br />
Tôi đứng dậy, trả ly rượu trên bàn, đột nhiên nhận ra suốt buổi chiều hôm nay mình đã không đốt một điếu thuốc nào. Tôi hỏi Nhật:<br />
-Mày còn thuốc?<br />
Nhật đang vò bao thuốc không trên tay giơ lên cao cười cười.<br />
-Thiệt là vô duyên. Tôi nói:<br />
-Thôi về đây!<br />
-Chưa về được đâu! Nữ chủ nhân chận tôi:<br />
-Phải nghe anh Giang hát một ca khúc mới nhất của anh ấy đã! Cái ông Thăng này!<br />
-Ngồi xuống đây đi ông nội! Nhật đè vai tôi xuống.<br />
Người ta đã mang cây tây ban cầm ra cho Giang. Tôi thấy anh sửa lại gọng kính đang bị tụt xuống sống mũi. Anh so dây, đầu cúi thấp, nhưng mặt hơi nghểnh lên, tai trái nghiêng xuống thùng đàn lắng nghe âm thanh phát ra từ những sợi dây đồng.<br />
Cả phòng bỗng im lặng.<br />
Âm nhạc anh làm tôi nhớ Quỳnh, vô cùng nhớ Quỳnh&#8230;<br />
Nhưng những gì Nhật vừa nói về ông Phan làm tôi lo nghĩ hơn. Nỗi ám ảnh về con người ấy to lớn đến nỗi tôi thấy mình như đang bị bạn bè cô lập. Có thật là ông Phan muốn gặp tôi? Có thật là giữa ông ta và tôi có một mối liên hệ nào đó và ông đang rất muốn gặp tôi? Sự thật tôi muốn gì nơi ông?</p>
<p>&nbsp;</p>
<p><b>Chương 8</b><br />
Rốt cuộc ông Phan và tôi cũng gặp nhau. Ðó là buổi sáng của một mùa Hè được kéo dài do cơn lốc thời sự gây nên. Suốt đêm qua tôi khó ngủ, nhưng không hiểu sao tôi lại dậy được sớm hơn thường lệ.<br />
Ngồi quán, tôi gọi cà phê, chờ đám bạn mà tôi biết thế nào chúng cũng sẽ đến. Bọn chúng tôi không có thói quen thăm nhau ở nhà. Sáng cà phê Cái Chùa, chiều bia Chợ Ðũi, đêm nghêu sò ốc hến La Cai&amp; Ðó là những nơi chúng tôi có thể tìm gặp nhau mà không cần hẹn.<br />
Mỗi đứa trong bọn có cuộc sống riêng và nỗi khổ riêng. Cái chung của cả bọn ấy là chúng tôi đều cảm nhận được sự lạc long của mình trước cuộc sống. Tuổi trẻ chúng tôi lớn lên tù túng trong những khu phố chật chội. Tầm mắt chúng tôi không vượt quá cái cao ốc mười tầng của nhà hàng Caravelle. Những đứa may mắn được đi du học, nhìn bạn bè ở lại như người ngư phủ nhìn những con cá mắc cạn. Một vài đứa vào quân đội tưởng đã thoát ra khỏi được chiếc lồng nhỏ bé là những con đường mát bóng cây dẫn đến một giảng đường đại học nào đó, để lao vào cuộc chiến tranh không thương xót mà kẻ thù chủ nghĩa ẩn hiện như một bóng ma, -vẫn không làm sao quên được màu nắng vàng rớt trên con lộ một khu phố quen. Có đứa đi biệt không về, không bao giờ về nữa. Có đứa may mắn hơn trở lại chỗ ngồi cũ thì đã tật nguyền cả thân xác lẫn tâm hồn. Và nhà cửa, cơm áo vợ con cũng đủ làm cho chúng tối tăm mặt mũi. Tình yêu đến hay đi, đối với chúng tôi như một cái phao hơn là một lẽ sống. Một lần gặp nhau ở Chợ Ðũi, bên những chai bia, khi cả bọn đã ngà ngà say, Ký nói ông Vũ Hoàng Chương thế mà hay, ông ấy không chỉ nói giùm cho những người cùng thời đại ông mà còn nói giùm cho cả thế hệ bọn mình nữa. Và anh buồn bã đọc những câu thơ mà cả bọn gần như thuộc lòng. Tuy vậy, mỗi lần Ký đọc là mỗi lần anh đem đến cho chúng tôi một xúc cảm mới:<br />
Lũ chúng ta lạc loài năm bảy đứa<br />
Bị quê hương ruồng bỏ giống nòi khinh<br />
Bể vô tận sá gì phương hướng nữa<br />
Thuyền ơi thuyền theo gió hãy lênh đênh<br />
&#8230;<br />
Sáng nay, nhìn quanh quẩn trong quán không thấy người khách nào khác ngoài mình, tôi bỗng nhớ Tâm. Tâm nổi tiếng trong bọn là người hay ra quán sớm nhất, sớm đến nỗi một hôm nó đụng một người lạ mặt cũng đang đứng chờ trước cửa như nó. Ông ta hỏi Tâm:<br />
“Chào ông, ông đi đâu sớm vậy?”<br />
Tâm trả lời:<br />
“Tôi đi uống cả phê”.<br />
Và nó hỏi lại người lạ:<br />
“Còn ông, ông đi đâu mà cũng sớm quá vậy?”<br />
Người lạ đáp:<br />
“Tôi là quản lý nhà hàng, nhưng&amp; xin lỗi ông cho tôi vào trước, sẽ có cà phê nóng cho ông ngay.”<br />
Tôi cười thầm khi nhớ lại câu chuyện uống cà phê của Tâm. Ðúng lúc tôi nghe cánh cửa bật mở. Tôi nghĩ, chắc sẽ không phải ai khác hơn ngoài Tâm. Nhưng không! Người mới bước vào to lớn dềnh dàng như một con khỉ đột. Y ngó quanh nhà hàng, và khi thấy tôi một mình, y xăm xăm bước tới, hai chân thẳng, đầu cúi thấp:<br />
“Xin lỗi, ông có phải là ông Thăng không ạ?”<br />
“Phải! Chính tôi!” Tôi ngừng dao bôi bơ lên bánh, ngạc nhiên.<br />
“Thưa ông, tôi là người nhà cụ Phan. Cụ sai tôi mời ông có việc cần.”<br />
Tôi đặt bánh xuống đĩa, lau tay:<br />
“Nhưng sao anh biết là tôi ở đây?”<br />
“Thưa cô Uyên bảo là ông ở đây!”<br />
Y trả lời, giọng ngập ngừng.<br />
“Cô Uyên? Nhưng cô ấy ở đâu?”<br />
“Cô đang chờ ông ngoài xe.”<br />
Tôi đặt tiền lên bàn, đứng dậy theo người nhà ông Phan. Y đi trước, mở cửa, giữ tay nắm, nhường lối cho tôi. Bên lề<br />
đường, một chiếc Mercedes đen vẫn còn nổ máy. Y mở cửa sau:<br />
“Mời ông!”<br />
Trên đệm xe, Uyên kéo chiếc kính mát màu nâu thấp xuống sống mũi, nhìn tôi tinh nghịch:<br />
“Anh thấy chưa, không ai biết anh bằng Uyên!”<br />
Nàng nhích vào trong nhường chỗ cho tôi.<br />
“Cám ơn cô! Chưa ai bằng cô thật!”</p>
<p>Xe phóng êm. Máy lạnh mát. Buổi sáng Sài Gòn thức dậy uể oải. Không còn nữa cái không khí náo nhiệt cách đây nửa năm.<br />
Tôi nhìn Uyên. Khuôn mặt cô thiếu nữ một cách trẻ con. Uyên đang mỉm cười một mình. Nốt ruồi ở khóe môi như một thách thức. Mái tóc dài của Uyên được tết thành đuôi sam. Cuối đuôi là một bông tỉ muội trắng. Áo vàng ngắn cũn cỡn, quần ống rộng, nhưng bó căng ở đùi. Cánh tay Uyên trắng xanh, những sợi lông tơ dài và mịn, màu vàng óng ánh nằm rạp như cánh đồng lúa dưới cơn gió.<br />
Tôi lấy một điếu thuốc gắn lên môi.<br />
“Tôi hút được chớ, cô bé?”<br />
“Xin anh cứ tự nhiên, Uyên không sợ cay mắt đâu!”<br />
Tôi bật lửa châm thuốc. Khói bị nhốt trong xe có máy điều hòa bay chấp chới.<br />
“Cô Uyên có biết ông cụ gọi tôi về chuyện gì không?”<br />
“Uyên không biết. Nhưng chắc vẫn là chuyện hôm nọ bố chưa kịp nói với anh. Phần anh, anh cũng muốn gặp bố mà, phải không?”<br />
“Phải. Nhưng sao bất ngờ quá!”<br />
“Sáng nay, trong bữa điểm tâm, bố hỏi mẹ là anh có đến chơi nhà không. Me nói có. Bố bảo muốn gặp anh, và Uyên xung phong đi tìm. Thế thôi!”<br />
“Thế thôi!”<br />
Uyên quay mặt về phía tôi. Bàn tay mát rượi của cô đặt lên tay tôi.<br />
“Gặp bố anh có lo không?”<br />
“Tại sao tôi phải lo chớ?”<br />
“Anh quên sao? Bố nói là chuyện này có liên hệ đến đời anh mà!”<br />
Tôi lo thật. Việc ông Phan gọi tôi bất ngờ sáng nay làm tôi lo hơn. Tôi chỉ giả mù sa mưa thôi. Tôi đâu có cứng đến như vậy.<br />
Tôi nói lảng:<br />
“Chuyện anh Minh tới đâu rồi?”<br />
“Anh Minh nào?” Uyên ngơ ngác.<br />
“Anh Minh trường Luật hay Văn Khoa bị bắt trong đám biểu tình hôm nọ đó!”<br />
“Ồ!” Uyên nhớ ra. “Bố đã can thiệp bên Cảnh Sát thả anh ấy ra rồi!”<br />
“Còn Tấn?”<br />
“Ôi anh ấy thì được cái tích sự gỉ? Suốt ngày chỉ nghĩ đến chuyện ăn diện và nhảy nhót. Học thì ngáp vắn ngáp dài. Ăn chơi<br />
thì sáng mắt như sao băng!”<br />
“Thế còn cô?”<br />
“Uyên đấy à? Uyên không đồng bóng như anh ấy đâu!”<br />
“Nghĩa là cô đồng bóng cách khác à?” Tôi nghịch.<br />
“Ðừng nói bậy, ông này!” Uyên bấm những ngón tay nhọn của nàng trên tay tôi. “Có những người như anh Tấn cứ tưởng nhảy nhót là văn minh, ăn diện là thanh lịch, trong khi đầu óc thì trống rỗng tối tăm. Uyên thích anh Minh hơn. Anh ấy đàn ông, rất đàn ông, hiểu biết và tham vọng. Giữa hai người là một khoảng cách thật lớn mà không hiểu sao họ lại thân nhau được. Thật Uyên không hiểu nổi!”<br />
“Có gì mà không hiểu. Kết thân với ai có nghĩa là tìm kiếm nơi người đó điều mà mình đang thiếu.”<br />
“Thế anh tìm kiếm gì nơi Uyên?” Ðột nhiên Uyên đặt một câu hỏi bất ngờ.<br />
“Tôi tìm nơi cô cái mà tôi thiệt thiếu&#8230; còn cô, cô tìm gì nơi tôi?”<br />
“Uyên ghét anh! Uyên ghét anh!”<br />
Thoắt cái, hai bàn tay Uyên đập lia lịa trên ngực tôi như một người đánh trống. Tôi là một cái trống không phát ra tiếng động.<br />
Xe đã lăn vào nhà. Bánh lăn lạo xạo trên sân sỏi.</p>
<p>“Thưa bác!”<br />
Ở cuối phòng khách rộng, ông Phan đang quay mặt vào vách, hai tay chắp sau lưng, đầu ngước lên, có vẻ như ông đang chiêm ngưỡng những hoa văn chạm ở thanh kiếm Nhật treo ở trên tường.<br />
“Bố!”<br />
Uyên đứng bên tôi, hai tay chống lên thành ghế, cô gọi ông Phan, giọng hơi lớn. Ông quay lại, dáng chậm rãi, mắt thoáng sáng, nhưng không có cái vẻ vồn vã với tôi như lần đầu. Ông chìa tay cho tôi:<br />
“A, cậu Thăng&#8230;, cháu Thăng. Lâu dữ!”</p>
<p>Tự nhiên tôi rụt lại, chần chừ. Tôi nhìn vào mắt ông. Cách xưng hô thân mật của ông làm nhẹ nỗi lo trong tôi nhưng không khỏi làm tôi ngạc nhiên. Uyên giục:<br />
-Kìa anh, bắt tay bố đi!<br />
Tôi bước tới một bước. Những ngón tay mập và mềm của ông siết chặt tay tôi.<br />
-Thưa, bác vẫn khỏe?<br />
-Cám ơn cháu&#8230;<br />
Ông cười không vui. Chỉ một thời gian ngắn không gặp mà tôi thấy ông như già sọm đi. Da mặt chùng, mắt sâu, tóc thưa hơn.<br />
-Uyên vào trong xem me có cần gì không nhé! Bố và anh Thăng có chút việc riêng.<br />
Ông Phan choàng vai tôi, đưa tôi trở lại phòng đọc sách hôm trước. Ðèn thư viện sáng. Máy điều hòa lạnh. Trên tường vẫn bức tự họa của Van Gogh và bức vẽ hai diễn viên Kabuki của nhà danh họa Utamaro Kitagawa. Ông Phan ngồi xuống chiếc ghế bọc da và chỉ chiếc ghế đối diện cho tôi.<br />
-Sáng nay cháu không bận gì chứ?<br />
-Thưa bác, trường vẫn còn đóng cửa.<br />
-Tốt. Câu chuyện của chúng ta sẽ khá dài. À mà cháu dùng điểm tâm chưa?<br />
-Cám ơn bác, cháu vừa ăn xong!<br />
-Tốt! Vậy thì mình uống trà. Người ta vừa biếu tôi một gói Thiết Quan Âm chánh hiệu.<br />
Ông bấm chuông gọi người lấy trà. Xong ông quay sang tôi, tiếp:<br />
-Có mấy chuyện tôi muốn bàn với cháu ngay sáng hôm nay, bởi vì tôi sắp đi xa Sài Gòn ít lâu.<br />
-&#8230;.<br />
-Cháu ngạc nhiên hả?<br />
-Thưa bác, đúng vậy! Cháu nghe người ta nói là bác vừa mới được mời đứng ra thành lập Nội Các mà!<br />
-Không. Ðó chỉ là tin đồn thôi. Tình hình không đơn giản như người ta tưởng đâu. Những vụ xuống đường của sinh viên học sinh, biểu tình của các đoàn thể tôn giáo, các vụ đình công đang rục rịch ở Nhà Kiếng&#8230; kể cả việc Bắc Việt đưa quân ào ạt theo đường mòn Hồ Chí Minh vào tăng cường cho Mặt Trận của chúng cũng không lớn hơn cái hình ảnh của Phó Tổng Thống Mỹ, ông Richard N., đang đi thăm Vạn Lý Trường Thành. Cháu nghĩ sao khi Hoa Kỳ và Trung Cộng xích lại gần nhau?<br />
Ông Phan đã hỏi tôi một câu khó. Tôi là người luôn bị bạn bè kêu là ngu dốt về thời sự và chính trị. Tôi nói quanh:<br />
-Thưa bác, cháu thiếu một cái nhìn bao quát về tình hình quốc tế. Cháu ít theo dõi những bài phân tích thời cuộc của các báo&#8230;<br />
-Nhưng theo hiểu biết của cháu, Mỹ và Tàu bắt tay nhau không gợi cho cháu một suy nghĩ nào sao?<br />
-Theo cháu tôi ngập ngừng nói cầu may cứ bằng vào tình hình này chắc Hoa Kỳ bỏ rơi Việt Nam quá!<br />
Ông Phan cười:<br />
-Tôi đang có trong tay một số nhận định tương tợ. Nhưng tôi không tin. Người Mỹ không bao giờ bỏ rơi Việt Nam.<br />
-Thưa bác, như vậy phải chăng cuộc chiến Việt Nam vẫn cứ tiếp diễn. Và hòa bình không bao giờ có ở Ðông Nam Á?<br />
-Không! Cái này thì tôi tin ngược lại. Chiến tranh sẽ chấm dứt ở Việt Nam, nhưng điều đó không có nghĩa là Ðông Nam Á có hòa bình.<br />
Ngừng một lát, ông Phan tiếp:<br />
-Nhưng thôi để chuyện này qua một bên. Tôi biết là cháu không mấy lưu tâm, phải không? Năm 45 cháu mới 5 tuổi chứ gì? Năm 54 cháu vừa mười bốn phải không? Hạnh phúc cho những ai trong suốt cuộc đời chỉ biết có một lần chạy giặc!<br />
Ông Phan nhồi thuốc vào tẩu, châm lửa bập bập và thở khói.<br />
-Có khi nào cháu nghĩ là người ta muốn cháu không tồn tại hay không?<br />
Câu hỏi của ông làm tôi giật mình. Làm gì có một chuyện kỳ quái như vậy? Tôi linh tính là đến gặp ông Phan hôm nay sẽ được nghe những điều không vui, nhưng tôi không hề nghĩ là sẽ có một điều khủng khiếp như vậy.<br />
-Thưa bác&#8230;<br />
-Bình tĩnh nào! Cháu muốn biết “người ta” đó là ai phải không?<br />
-Vâng, thưa bác&#8230;<br />
-Cháu có biết là cháu đang đụng vào một khối thép không?<br />
-Thưa bác, không. Cháu không hiểu!<br />
-Cháu có biết một người nào đó vừa là chủ nhà băng, vừa là chủ nhà máy sản xuất lưới B40, vừa là tổng giám đốc công ty nhập cảng phim Hồng Kông&#8230;</p>
<p>Ông nói chậm lại, ngón tay gõ nhịp lên bàn, ngó chăm vào mặt tôi:<br />
-&#8230; Người đó là chủ nhân của một trương mục ở ngân hàng Thụy Sĩ, và vừa mới đây đã mua xong một khu phố thương mãi ở quận 13 Paris?<br />
-A! Tôi kêu lên. Tôi đã nhận ra con người ấy. Ông Phan cầm tẩu thuốc chỉ về phía tôi:<br />
-Cháu hiểu ra chưa?<br />
-Thưa bác, cháu nhận ra nhưng cháu không hiểu.<br />
Ðúng. Tôi có đầy đủ lý do để nhận ra con người lẫy lừng đó. Ông là một nhân vật nổi danh trong giới tài phiệt, người có đến bốn mươi chín phần trăm cổ phần trong các công ty lớn của nhà nước. Tiếng nói của ông có sức nặng trên những quyết định của Bộ Kinh Tế. Người ta nói không có cánh cửa nào của chính quyền còn được coi là kiên cố dưới sức gõ của bàn tay ông. Ông còn là một người hào phóng, phải nói là rất hào phóng. Một lần tình cờ theo ông vào nhà hàng Admiral ở đường Nguyễn Văn Thinh, tôi thấy những khách thanh lịch cổ cồn cà-vạt ở đây đều thân mật chào ông. Người chủ nhà đích thân lấy rượu ra cho ông không chờ ông gọi. Lúc ra về, ông nói với người chủ:<br />
-Chầu rượu hôm nay tôi xin mời tất cả các bạn! Nhớ ghi sổ phần tôi! Xin chào!<br />
Nhưng đó không phải là lần duy nhất tôi thấy cách đãi rượu của ông. Cũng lạ, trả tiền rượu cho tất cả những người khác, bất kể lạ quen, ở một nhà hàng sang trong một buổi chiều tình cờ ghé ngang để uống một consommation cho đỡ lạt miệng! Người đó không phải ai xa lạ, chính là ông Lý, ông ngoại của các con tôi.<br />
-Ðáng lẽ tôi đã cho cháu biết tin này từ lần trước, nhưng lúc đó tôi thấy chưa cần. Bây giờ sắp phải đi xa, tôi buộc phải cho cháu rõ. Dù sao, cháu nên nhớ là làm mất lòng ông Lý là làm mất lòng nhiều người lắm đấy!<br />
Tôi biết điều đó. Thế nhưng không bao giờ tôi nghĩ rằng sự thể trầm trọng đến như vậy. Còn nhớ lần sau cùng đi uống rượu với ông ở Palace, ông vỗ vai tôi nói:<br />
-Ba không muốn thấy chuyện lục đục của tụi con. Ba không muốn nghe đến chữ ly dị trong gia đình ba. Ba càng không muốn con là nguyên cáo đưa vợ ra tòa vì một tội mà không ai tha thứ được. Ba muốn hai đứa phải tiếp tục chung sống với nhau như một đôi đũa, cho dù sự thể có ra làm sao. Nhưng ba cũng biết tánh con hiền hậu mà liều lĩnh. Có thể con sẽ làm bậy. Vả lại, nếu đặt vào hoàn cảnh con, chắc ba cũng sẽ không thể xử sự khác. Ba chỉ xin con một điều: vì danh dự gia đình ba, vì tiếng tăm mà ba đã xây dựng được từ bao nhiêu năm nay trong chỗ làm ăn, con hãy rút đơn lại thay vào đó bằng tờ Consentement mutuel thì nó dễ cho ba hơn. Sau đó, con cần gì cứ cho ba biết. Con có muốn đi Pháp một chuyến để xả hơi không? Hay là để ba xin cho cái học bổng đi Mỹ. Ba muốn con bỏ quách cái nghề bán cháo phổi đi. Sao con không nghĩ đến chuyện học ngành quản trị xí nghiệp?<br />
Ông Lý là như vậy đó. Không việc gì là ông không làm được. Ông coi như rác rến những thứ mà người khác xem là vàng ngọc. Những mộng tưởng của người này khi vào tay ông sẽ rất nhanh trở thành hiện thực. Phải nói ông Lý là một người trên nhiều người. Nhưng tôi biết rõ, ông chỉ thành công ngoài đời. Gia đình là một vố nặng đối với ông. Người nguyền rủa ông nhất là mẹ của các con tôi, và mỉa mai thay, người bênh vực ông luôn luôn là tôi. Nhưng điều này không có nghĩa là tôi thuộc phe ông và càng không phải là người được ông yêu. Mỗi lần ông hỏi tôi câu:<br />
-Con cần gì?<br />
Câu trả lời luôn luôn là:<br />
-Cám ơn ba, con có đủ!<br />
-Ðủ gì? Thằng kiêu ngạo!</p>
<p>Ðối với ông Lý, đồng tiền là thước đo của mọi giá trị. Tiền giải quyết được tất cả. Theo ông, người giỏi không phải là người có học vị cao hay chức tước lớn.<br />
Người giỏi chính là người làm được nhiều tiền nhất, bất kể đồng tiền ấy do đâu có và đến từ đâu. (Con gái ông hoàn toàn giống ông ở mục này!). Tôi nhớ lúc bấy giờ để trả lời đề nghị của ông Lý về chuyện tòa án, tôi đã nói với ông là tôi rất cám ơn ông, nhưng tôi là người không có nhu cầu đi Pháp hay đi Mỹ. Tôi đã quá cái tuổi cắp sách đến trường, nên có học gì đi nữa thì chắc cũng không vô. Tôi nói:<br />
-Con chỉ xin phép được nhắc ba một điều là lẽ phải trong câu chuyện tòa án không bao giờ đứng về phía con gái ba!<br />
-Ba hiểu! Ba hiểu! Ba cám ơn con! Dầu sao con vẫn là con của ba chớ?<br />
-Thưa ba, dầu sao con vẫn là con của ba!<br />
Tôi đã giữ lời hứa. Tờ Thuận Tình Ly Hôn được thảo ra, và chị ta, con gái ông Lý, xin ghi vào đó một vài điều khoản “hoàn toàn thiết thực do nhu cầu”: Căn nhà có cây trứng cá cho chị nuôi con, chiếc xe Volswagen cho chị làm chân đi đây đi đó, tiền trong trương mục ngân hàng Chase Manhattan cho chị dùng sửa sang nhan sắc trong chuyến đi Nhật sắp tới.<br />
Nói chung, chị là người có nhiều nhu cầu. Như vậy cuộc chia tay của chúng tôi đã được mua bán theo một giá đặc biệt: tôi nhận tất cả mọi sự thua thiệt để có thể sớm xa lánh con người mà tôi ghê tởm. Bù lại, tôi thấy mình thanh thỏa tâm hồn vì đã dám khước từ được những đề nghị hấp dẫn của ông Lý.<br />
Vậy thì tại sao có cớ sự này?<br />
Ðiều tôi thực tình không hiểu là ở chỗ đó. Tôi nói hết với ông Phan câu chuyện của tôi. Ông kêu lên ngạc nhiên:<br />
-Thật sao? Thật vậy sao?<br />
-Cháu xin thề với bác. Ðó là tất cả sự thật.<br />
Ông Phan cầm ngược tẩu thuốc úp xuống cái gạt tàn khẩy tro. Ông có vẻ nghĩ ngợi. Lúc đó tôi nghe tiếng gõ cửa. Người nhà ông Phan mang trà vào.<br />
Bộ bình tích làm bằng đất nung, màu đỏ nâu láng bóng. Tất cả đều nhỏ nhắn như đồ chơi trẻ con. Ông Phan rót trà cho tôi:<br />
-Cháu uống đi. Cà phê hoài là không tốt đâu!<br />
Khi người nhà ra, cửa phòng đã khép lại, tôi nói với ông Phan:<br />
-Thưa bác, sao trên đời này có thể có một thứ quyền lực quái đản như vậy?<br />
Ông Phan hớp một ngụm trà.<br />
-Ðồng tiền ở đâu cũng vậy, luôn luôn là một quyền lực to nhất. Sức mạnh của nó là vô địch!<br />
-Thưa bác, thế còn lẽ phải? Không có lẽ phải làm sao có sức mạnh?<br />
Tôi nghe thấy giọng ông Phan cười:<br />
-Ở đâu có sức mạnh, ở đó có lẽ phải!<br />
Tôi nhìn ông ngạc nhiên. Có vẻ như ông đang hỏi chính cái suy nghĩ của ông.<br />
-Nhưng thưa bác, sức mạnh là cái nhất thời, còn lẽ phải là cái muôn thuở. Làm sao đem cái nhất thời so với cái muôn thuở được?<br />
-Cháu là người dễ xúc động, phải không? Chắc trong đầu cháu đang có cái ý nghĩ rằng là tôi chủ trương một quan điểm như vậy chứ gì? Không đâu! Cũng là của ông Lý, nhạc phụ của cháu đấy!&#8230;<br />
-Của ông Lý? Nhưng ông Lý thì làm sao mà ảnh hưởng đến bác được cơ chứ?<br />
Ông Phan lập lại từng tiếng câu nói của tôi. Sau cùng tôi nghe tiếng ông cười.<br />
-Dù sao cháu nên nhớ điều này, cháu là con anh Thành, bạn chí cốt của tôi. Bao giờ tôi còn ngồi đây sẽ không ai đụng đến cháu được. Cho dù người đó là ông Lý. Ðiểu quan trọng là cháu phải biết tự chế.<br />
-Cám ơn bác. Cháu sẽ nhớ lời bác. Nhưng người ta muốn giải quyết cháu như thế nào?<br />
-Hồ sơ cháu, tôi có đọc. Người ta đưa ra khá nhiều biện pháp giải quyết vụ Trần Lâm Thăng. Hoặc chấm dứt tình trạng biệt phái của đương sự, trả về đơn vị gốc, chuyển ra Vùng Một Chiến Thuật, tùy nghi sử dụng. Hoặc, đổi đi dạy học ở một vùng xôi đậu. Ðương sự có thể bị tai nạn xe đò lật, lạc đạn, hoặc Việt Cộng thủ tiêu. Hoặc, sẽ bị Bộ Giáo Dục truy tố về tội phỉ báng chương trình nhà nước. Ðặc biệt đương sự đã nhiều lần rao giảng nơi công cộng chương trình Triết Việt Nam là một ăn cắp ngu xuẩn chương trình Triết của Pháp. Hoặc Bộ Nội Vụ sẽ đưa đương sự ra Tòa về việc tuyên truyền có lợi cho Cộng Sản trong khi giảng bài vì đã cổ võ cho chế độ vô thần: phá bỏ nhà tù, nhà thờ, nhà chùa thay vào đó là xây dựng trường học, vườn trẻ, bệnh viện. Hoặc&#8230; mà thôi, cháu biết là tôi thực tình quí mến cháu. Tôi chỉ có một đứa con duy nhất là Uyên. Tôi thèm có một đứa con trai&#8230; Người ta nhắn gửi tôi về cháu có nghĩa là người ta muốn tôi quên sự có mặt của cháu để cho các cấp dưới dễ làm việc. Nhưng người ta nhắn gửi tôi cũng có nghĩa là xin tôi đừng che chở cháu&#8230;</p>
<p>Tôi lặng người trên ghế, bẻ gập từng ngón tay, nghe tiếng kêu của các khớp xương, buốt rợn. Ông Phan đã cho tôi rõ tất cả những gì mà lâu nay tôi không biết, mà tôi cũng không thể tưởng tượng nổi. Ông Lý như vậy đã giăng trước mặt và sau lưng tôi những hầm chông không cách nào thoát được.<br />
Ông Lý, người mà mấy phút trước tôi coi như một nhân vật thẳng thắn nhất, giờ đây đã không còn như thế nữa. Tôi vẫn còn nhớ như in cảnh tượng lần đầu gặp ông. Bữa cơm thường chào đón tôi trong biệt thự ở đường Lê Quí Ðôn, với tôi như một đại yến. Cuối bữa, khi uống cà phê, ông nói với tôi thẳng thắn:<br />
-Cậu là hình ảnh hoàn toàn đối nghịch với tôi thời mới lớn. Ở vào tuổi cậu, tôi đã biết đạp chân dưới đất, còn cậu bây giờ như người đi trên mây. Tôi biết tôi mê tiền và tôi đã hiểu cái giá để có nó, còn cậu, cậu dám coi thường đồng tiền, cho nên cậu chưa hiểu cái giá của nó. Cậu cả nể, hỏa hoãn, tôi thì khác, lịch sự nhưng quyết liệt, ai chơi tới đâu, tôi chơi tới đó&#8230; Nhưng tôi chấp nhận cậu. Trong nhà này có một người như tôi đủ rồi. Nếu cậu giống tôi quá thì có lẽ dư một người.<br />
-Thưa bác -tôi nói với ông Phan &#8211; thật tình cháu không hiểu nổi ông Lý. Giữa ông ta và cháu đã có quy ước và như vậy là ông là người phá bỏ quy ước trước.<br />
-Ðúng là cháu không hiểu ông Lý, và cháu sẽ không bao giờ hiểu được ông Lý. Bởi vì người có ảnh hưởng đến ông Lý nhất hiện nay là vợ cháu chứ không ai khác. Mọi cố gắng tìm cách bôi lọ cháu trước dư luận và mọi nỗ lực nhằm chấm dứt đời cháu là người đàn bà ấy chứ không phải ông Lý. Nhưng để làm được chuyện ấy vợ cháu không có phương tiện nào tối tân hơn là qua trung gian ông Lý&#8230;<br />
-&#8230;<br />
-Nhưng thôi, điều cháu cần biết tôi đã cho biết. Vấn đề còn lại là cháu phải đối phó như thế nào khi tôi không có mặt ở đây!<br />
Ông Phan đặt tẩu thuốc xuống bàn, nhấc chiếc kính lão ra, nắm hai chân gọng chà xát lên mặt vải áo. Tôi thấy đôi mắt ông có vẻ húp lên và dại ra. Trông ông lúc này giống như một công chức già về hưu đang răn dạy đứa con ngỗ nghịch là tôi.<br />
-Như đã nói với cháu lúc nãy, tôi sắp phải đi xa ít lâu. Sự vắng mặt của tôi có thể mang đến phiền lụy cho cháu. Mặc dù tôi đã gửi gắm cháu cho những người có trách nhiệm, tôi vẫn không an tâm.<br />
Ngừng một phút, đeo kính vào mắt, ông Phan tiếp:<br />
-Tôi sẽ không hỏi cháu lý do vì sao phải ly dị, nhưng tôi có thể biết được vụ tòa án của cháu tới đâu rồi chứ?<br />
-Thưa bác, cám ơn bác, theo luật sư của cháu thì đầu tháng tới sẽ hoàn tất. Cháu sẽ nhận một Bản Ðại Tự của tòa.<br />
-Còn vấn đề con cái?<br />
-Trong tờ Thuận Tình Ly Hôn, người mẹ đồng ý để cháu giữ bé trai và mẹ nó giữ bé gái. Nhưng theo luật sư của cháu thì vì bé trai còn quá nhỏ nên có thể tòa sẽ quyết định để mẹ nó trông coi một thời gian.<br />
-Không. Ý tôi muốn hỏi là con cái sẽ ra sao nếu cha mẹ chúng ly dị?<br />
-Thưa bác, cháu hiểu rằng sự chia rẽ của cha mẹ sẽ để lại trong tâm hồn con cái một vết thương khó cứu chữa. Nhưng biết làm sao! Ở giữa hai điều xấu mà con người phải chọn, cháu đành chọn điều ít xấu hơn.<br />
-Nghĩa là làm sao?<br />
-Thưa bác, vấn đề con cái là mối bận tâm của cháu trong suốt thời gian qua. Cháu nghĩ thà con cái chỉ sống với cha hoặc chỉ với mẹ, còn hơn là sống đầy đủ mà mỗi ngày phải chứng kiến cái thảm kịch đổ vỡ tồi tệ của cha mẹ chúng.<br />
-Không còn cách nào khác sao?<br />
-Thưa bác, thật tình là cháu thấy không còn cách nào khác!<br />
Ông Phan chống tay lên trán, ngón giữa miết lấy những đường nhăn của thời gian. Mãi một lúc sau, ông ngẩng mặt lên:<br />
-Tôi không biết làm sao! Mỗi người trong hoàn cảnh mình có nỗi khổ riêng, bởi vì không ai có thể sống thay cho cuộc sống của người khác. Nhưng tôi hy vọng là cháu sáng suốt trong quyết định của mình. Trên đời này có những việc mà khi đã làm hỏng một lần rất khó mà bắt đầu lại được&#8230; À, mà năm nay cháu bao nhiêu tuổi nhỉ?<br />
-Thưa bác, cháu đã ba mươi ba.</p>
<p>Ông Phan đặt tẩu thuốc xuống bàn, uống một ngụm nước trà, rồi bấm đốt ngón tay, lẩm bẩm:<br />
-Ba mươi ba! Tuổi Thìn. Canh Thìn. Canh cô mồ quả. Bị sao La Hầu chiếu. Suốt năm còn nhiều vất vả. Tai nạn. Tù tội. Và tai tiếng. Năm đại hạn! Xấu lắm! Xấu lắm!<br />
-Bác tin vào số mệnh?- Tôi hỏi, ngạc nhiên.<br />
-Tôi tin tử vi. Tôi tin con người ta ai cũng có số cả. Hồi còn trẻ như cháu, tôi có coi trời đất ra gì đâu. Nhưng bây giờ trải qua bao cuộc bể dâu, tôi nghiệm ra cái lẽ biến dịch của thiên địa&#8230;<br />
Tôi xếp hai tay, dựa cùi chỏ lên đùi, mắt ngó xuống mũi giầy lắng nghe. Bỗng nhiên tôi cảm thấy ông Phan ngừng giữa câu nói. Tôi đưa mắt nhìn ông. Ông Phan đang ngó chăm vào bức Tự Họa của Van Gogh.<br />
-Thưa bác! Tôi rụt rè gọi ông.<br />
-Sao? Cháu nói gì? Ông quay lại hỏi.<br />
-Thưa bác, cháu vẫn nghĩ số mệnh của mỗi người là do chính người ấy tạo nên hơn là do một quyền lực thần bí chi phối.<br />
-Thế tình trạng của cháu bây giờ, nếu không phải do định mệnh an bài thì là do cháu gây ra à?<br />
-Thưa bác, cháu nghĩ mọi sự đối với cháu cũng là do cháu thôi. Chính cái quyết định lấy con gái ông Lý của cháu đã dẫn cháu đến ngày hôm nay. Có ai bắt cháu phải lấy người đàn bà này đâu?<br />
Ông Phan cười, chậm rãi:<br />
-Chính cái quyết định của cháu là một quyết định có tính cách định mệnh. Nhưng tôi, chúng ta sẽ trở lại câu chuyện này vào một dịp khác. Tôi muốn dặn cháu đôi điều trước khi ra đi.<br />
-Nhưng thưa bác, chẳng lẽ bác ra đi trong tình trạng hãy còn hỗn loạn như thế này sao?<br />
-Không có tình trạng hỗn loạn nào mà đằng sau nó không có những động cơ thúc đẩy. Nắm được những động cơ ấy thì muốn chấm dứt lúc nào mà chả được! Vả lại, đôi khi cũng cần phải biết nuôi dưỡng sự hỗn loạn ấy. Chỉ sợ, như cách nói của Paul Valery người phù thủy tạo ra âm binh có khi lại bị chính cái đám âm binh ấy quật lại thôi!<br />
-Thế bác có sợ đám âm binh ấy không?<br />
-Chỉ những tay không bản lĩnh mới có thứ tâm lý sợ hãi kiểu đó!<br />
-Thưa bác, nói bác tha lỗi cho, bác lo sợ điều gì?<br />
-Hội nghị Saint Cloud đang có những bất lợi cho ta.</p>
<p>-Bác tìm kiếm gì trong chuyến đi này?<br />
-Tôi muốn xem bài toán cộng giữa Mỹ và Tàu. Tôi muốn cân lượng lại tầm mức trách nhiệm lương tâm Hoa Kỳ ở Việt Nam theo cách của tôi.<br />
-&#8230;<br />
-Tôi sẽ cho Hoa Thịnh Ðốn biết Sài Gòn cần gì và không cần gì. Một quân lực mạnh. Một nền kinh tế không què quặt. Một guồng máy hành chánh hữu hiệu. Tôi muốn dân chúng có mức sinh hoạt cao. Hàng rào y tế và điện lực sẽ đến được những làng mạc xa xôi và hẻo lánh nhất. Tôi muốn tiếng nói của Sài gòn phải vang lên tại tòa nhà Quốc Hội ở thủ đô Hoa Kỳ. Tóm lại, tôi muốn biết Hoa Thịnh Ðốn sẽ tiếp tục viện trợ cho ta đến mức nào và trong bao lâu&#8230;<br />
-Nghĩa là&#8230;<br />
Ông Phan không tiếp lời tôi. Ông đứng dậy đến tủ rượu lấy chai Hennessy và hai cái cốc.<br />
-Trà nhạt rồi. Mình uống chút này cho ấm bụng, cháu!<br />
Tôi nâng cốc. Mùi rượu bay lên mũi, tôi nhớ đến cha tôi. Tôi vẫn không hiểu tại sao cha tôi lại tự giết mình bằng thứ nước cay độc này. Ông không nói gì với con cái chuyện đời ông, ngay cả với người anh lớn tôi, người mà tôi hết lòng quí trọng và thương mến. Ở binh chủng Biệt Ðộng Quân, anh được coi là một trong những sĩ quan ưu tú và gan lì nhất. Với bạn bè anh luôn là một người tình nghĩa. Có lần hy sinh hai ngày phép hiếm hoi, anh cùng một trung sĩ, trên chiếc Jeep, đã dám rời thành phố Nha Trang trong đêm, qua đèo Rù Rì rồi đèo Rọ Tượng, không dừng chân ở trạm Ninh Hòa, đi một mạch qua M&#8217;Rak, thẳng đến Buôn Mê Thuột, chỉ để thăm một người bạn thân vừa bị thương nặng trong một trận đụng độ với bộ đội Bắc Việt. Anh là người thừa hưởng được tính gan lì của cha tôi, nhưng rượu chè thì anh nhất định không đụng tới.<br />
Còn tôi, không có chút gì giống anh và cha. Chỉ uống được vài hớp rượu nhưng dư thừa sự hèn nhát. Có lẽ chúng tôi không ai hội đủ những đặc tính của cha nên cha tôi không buồn gần gũi chúng tôi.</p>
<p>Tôi thấy ông Phan nhấp một ngụm rượu:<br />
“Cháu Thăng!” Ông hắng giọng: “Tôi có một đề nghị. Chuyến đi của tôi, trong trực giác mà tôi có, lẫn trong những phân tích mà tôi có thể suy được, là một chuyến đi vào xứ Thục. Tôi sẽ không yên tâm khi thấy cháu vẫn cứ loanh quanh ở cái phòng trọ chật chội hôi hám trong cư xá Ðô Thành. Ờ đó không an ninh đâu. Nội nhật ngày mai, ngay sau khi tôi lên đường, cháu nên dọn về đây. Cháu thử tự nhốt mình một thời gian trong nhà này cho đến ngày tôi về xem sao. Tôi mong là cháu hiểu nhiều hơn những gì tôi nói!”<br />
“&#8230;”<br />
Ông Phan đứng dậy, đưa tay cho tôi bắt. Vẫn những ngón tròn và mập. Vẫn lòng bàn tay ướt rịn mồ hôi. Tôi cầm tay ông mà vẫn không hiểu gì cả.<br />
Ra khỏi tiểu thư viện, tôi quay lại nhìn ông lần cuối, tôi thấy ông đang lặng yên, tay chắp sau lưng nhìn bức Tự Họa của Van Gogh.<br />
Ngoài đường nhựa, nắng Sài gòn dữ dội, nhưng tôi có cảm tưởng như cái nắng ấy là không có thật.<br />
Tôi sẽ dọn nhà chớ?</p>
<p>&nbsp;</p>
<p><b>Chương 9<br />
</b><br />
“Thế nào, lạ chỗ cháu có ngủ được không?”<br />
Bà Phan ngồi đúng vào cái ghế bà đã ngồi hôm trước. Bên trái là Uyên đang loay hoay với cái lọc cà phê phin chưa chịu nhỏ một giọt nào.<br />
“Cám ơn bác. Cháu ngủ không biết trời trăng gì hết!”<br />
Uyên đẩy ly cà phê về phía tôi, cười:<br />
“Hôm qua anh về đến nhà đã say khướt thì làm sao còn biết trời trăng gì?”<br />
Tôi say ư? Tôi thật tình không rõ lắm. Sau khi dọn về nhà ông Phan tôi ngồi suốt buổi với Ký, Nghĩa, và Lộc ở Chợ Ðũi? Tôi uống khá nhiều. Lần đầu tiên tôi làm được một lúc tám chai 33. Tuy vậy còn lâu tôi mới theo kịp Ký. Anh ấy uống thoải mái, từ tốn, thong thả. Hết chai này rót chai khác, không nhanh hơn, không chậm hơn. Ðối với anh, thơ và tình yêu mới là đời sống. Rượu chẳng qua chỉ là men cay để cuộc đời còn chút ý nghĩa. Anh nói vậy nhưng không có rượu anh rất khổ sở. Tôi không nhớ mình đã nói gì trong bữa nhậu, tôi chỉ biết rượu và là tôi buồn ngủ. Tôi đã ngủ ở quán hồi nào và ai là người đưa tôi về, tôi không nhớ.<br />
Tôi thấy bà Phan nhìn chăm vào mắt tôi.<br />
“Cháu không nên uống nhiều. Rượu không tốt đâu!” Và bà đưa cho tôi mấy tờ báo phát hành chiều qua.<br />
“Cháu đọc tin trang nhất này. Ông nhà tôi vừa mới đi buổi sáng, âm thầm và bí mật như vậy mà buổi chiều báo chí đã loan tin và có ảnh ngay. Khiếp thật!”<br />
Tôi nhấc riêng từng tờ, liếc qua những bài tám cột. Quả thật là tin ông Phan đi Mỹ chiếm hàng đầu trên các trang nhất. Tờ nào cũng đưa bản tin và bình luận na ná như nhau? Tại sao ông Phan ra đi? Sự vắng mặt của ông trong tình thế này có nghĩa gì?<br />
Thông điệp nào ông mang theo trong chuyến đi đầy khó khăn kia? Trên tờ Sóng Thần, ngoài bản tin là bức ảnh chụp ông Phan đang nâng ly nói chuyện với viên Tổng Lãnh Sự người Pháp trong một buổi tiếp tân của Tòa Ðại Sứ Hoa Kỳ. Tôi thấy đôi mắt nhỏ của ông Phan dưới lớp kính trắng nhíu lại, gò mà hóp nhô xương. Tôi nhận ra đúng cái vẻ mặt ông mà tôi đã thấy trong buổi nói chuyện sáng ngày hôm kia. Ðó là một khuôn mặt ưu tư, trầm ngâm và hoài nghi.<br />
“Thưa bác, chuyến đi của bác trai sẽ kéo dài trong bao lâu?”<br />
“Ông nhà tôi dự trù hai tuần. Trên đường về sẽ ghé Paris đôi ngày thăm một vài bạn chiến đấu cũ của ông hiện là nghị sĩ trong Quốc Hội Pháp.”<br />
“Bác có thể cho cháu hỏi một câu tò mò?”<br />
“Cháu tự nhiên!”<br />
Bà Phan ngừng khuấy ly nước cam, nhìn tôi chờ đợi.<br />
“Cháu không hiểu bác có cảm tưởng gì khi làm vợ một chính khách như bác trai?”<br />
“Cảm tưởng à?” Bà không nhìn tôi, mắt ngó vào khoảng không, bàn tay cầm thìa bất động. “Một người đàn ông nhiều tham vọng chính trị sẽ rất ít tình yêu cho gia đình!” Ngưng lại một giây, bà nhìn mắt tôi, tiếp “Không, ý bác muốn nói thế này, người đàn ông có tham vọng, bất luận là loại tham vọng nào, đều dành cho vợ con một chỗ rất nhỏ trong trái tim họ. Cháu thấy sao?”</p>
<p>Tôi hỏi bà, nhưng chính bà đặt ngược lại tôi. Tôi có phải là người đàn ông nhiều tham vọng không? Không, tôi chỉ là một người đi trên mây. Trái tim tôi bao giờ cũng có thừa chỗ cho tình yêu gia đình, nhưng gia đình thì hình như không có chỗ nào dành cho tình yêu tôi.<br />
Thấy tôi ngần ngừ, Uyên vừa đưa kem tươi cho vào cà phê tôi vừa nói:<br />
“Thưa me, con nghĩ anh Thăng phải là một người tham vọng”, và quay sang tôi, cô nói “anh uống xem có phải cà phê Uyên pha ngon hơn cà phê của mấy cái quán anh vẫn đến không?”<br />
“Sao cô biết tôi là một người tham vọng? Tôi hỏi.<br />
“Còn sao nữa! Chính anh nói mà!” Ðôi mắt Uyên tinh nghịch.<br />
“Khó hiểu! Thật là khó hiểu!” Tôi bẻ một miếng bánh có bôi bơ lạt cho vào miệng.<br />
“Cháu đừng quan tâm cách nói năng của Uyên. Nó là chúa bốc đồng đấy!” Bà Phan cầm chiếc khăn ăn thấm thấm môi.<br />
“Thưa me, me đừng bênh anh Thăng. Chính anh ấy nói thật mà!”<br />
“Hồi nào, ở đâu?” Tôi đùa.<br />
“Anh có thể quên, nhưng Uyên có trí nhớ rất tốt. Cuộc đời một thiếu nữ khởi đầu bằng tình yêu và chấm dứt bằng hôn nhân. Còn cuộc đời của một thanh niên khởi đầu bằng tình yêu nhưng chấm dứt bằng một tham vọng.” Nếu Uyên không lầm, chính anh đã nói câu này trong một lớp tối, cách đây chừng bốn tháng!”<br />
Ðúng là Uyên có một trí nhớ rất tốt. Nhưng đó không phải là câu nói của tôi. May sao bà Phan cắt ngang:<br />
“Uống cà phê đi cháu. Cháu còn thiếu thứ gì cho bác biết nhé!”<br />
“Cám ơn bác, cháu đã đủ”.<br />
Bà quay sang con gái:<br />
“Uyên nhớ lo cho anh Thăng những gì anh ấy cần! Con có để ý mấy cái cúc áo anh ấy không? Gớm dạy học gì mà áo nào cũng đứt một nút ở cổ!”<br />
“Mẹ không phải đơm cúc áo cho anh ấy, con thấy lúc nào anh ấy cũng để áo hở cổ mà?” Bà Phan phì cười.<br />
“Còn sách báo? Cháu đọc gì mà lắm thế?”<br />
Quả là như vậy, đồ đạc tôi đâu có gì ngoài mấy cuốn sách. Quần áo không quá bộ thứ ba. Giầy một đôi. Dép một cặp. Hình như thời còn đi học tôi khá hơn bây giờ nhiều. Uyên kêu than vì đống báo tôi cứ phải bê xuống bê lên cầu thang không biết bao nhiêu bận. Khi đã cho tất cả vào thùng xe, Uyên nói.<br />
“Thế mà cũng gọi là dọn nhà đấy! Nhà có gì đâu mà dọn. Chỉ là dọn sách báo thôi. Ðể Uyên mở một hàng sách nhé!”<br />
Chú Tư tài xế nhắc:<br />
“Còn bức tranh vẽ cô Uyên trên tường?”<br />
Suýt nữa tôi quên. Bức tranh ấy Quỳnh dặn tôi nhớ mang theo. Sáng hôm sau ở nhà ông Phan ra, tôi đã đến gặp Quỳnh ở sở làm. Tôi kể lại cho cô nghe những gì ông Phan đã cho tôi biết. Quỳnh hơi mỉm cười không mấy tin một câu chuyện như thế.<br />
Cô nói:<br />
“Tiểu thuyết quá! Nhưng &#8211; Quỳnh tiếp &#8211; anh cũng không nên coi thường. Ông Phan là cây dù của anh trong lúc mưa to gió lớn thế này. Ðến ở hẳn trong nhà ông, theo em, không phải là một giải pháp toàn hảo, nhưng cứ nghĩ đến sự an toàn của anh, em xin anh cứ tạm thời là như thế!”<br />
Quỳnh không hề nhắc đến Uyên, người mà cô biết chắc là tôi sẽ phải giáp mặt hằng ngày dưới một mái nhà. Quỳnh nói lần này cô sẽ không dọn nhà giúp như mấy lần trước, nhưng “đừng quên mang theo bức tranh của em, có nó anh sẽ nhớ em!”<br />
Căn phòng bà Phan dọn cho tôi khá rộng, thoáng. Cửa kính trong suốt, màn vải dầy màu kem, máy điều hòa không khí mát lạnh. Một kệ sách bằng gỗ cẩm lai đẹp và nhã. Bàn viết lớn, ghế xoay. Giường trải ra trắng tinh, nệm, gối chăn đều mới. Một dàn máy nghe nhạc tối tân, một chồng dĩa mới nhất. Một ngọn đèn đọc sách trên bàn ngủ cạnh đầu giường. Cửa sổ chỗ đầu nằm mở ra một lối đi trải sỏi và cây mận lớn chùi nhánh lá qua mấy chấn song.</p>
<p>-Một con mọt sách đáng ghét! Uyên kêu lên.<br />
-Uyên! Ðể im cho me nói chuyện với anh Thăng. Rồi quay sang tôi, bà tiếp:<br />
-Có cháu ở đây tự nhiên tôi cảm thấy nhà cửa khác hẳn ra. Tôi có cảm tưởng như mình vừa có thêm một đứa con trai!<br />
-Cám ơn bác! Bà Phan làm tôi cảm động thật sự.<br />
-Này nghe tôi dặn, có đi chơi đâu nhớ trưa về ăn cơm nhé!<br />
-Thưa bác, có lẽ cháu sẽ về muộn. Xin bác cho phép cháu tự nhiên!<br />
-Cẩn thận nhé, ông nhà tôi trước khi đi có nhắc là đừng để cháu ra ngoài nhiều!<br />
-Cám ơn bác, nhất định cháu sẽ không về khuya!<br />
Tôi đứng dậy sau khi đã uống hớp cà phê cuối cùng.<br />
-Xin phép bác!<br />
-Kìa, anh Thăng! Anh đi đâu vậy? Uyên kêu lên, mắt nhìn tôi dò hỏi.<br />
-Tôi có chút chuyện.<br />
-Uyên đi theo được không? Cô hỏi tôi nhưng mặt quay về phía bà Phan.<br />
-Uyên! Bà Phan nghiêm khắc. Nhưng khi thấy con gái xịu mặt, bà tiếp giọng dịu lại.<br />
&#8211; Con gọi chú Tư đánh xe đưa anh Thăng ra phố, nhân tiện con ghé bác Phán trả hộ me chiếc vòng cẩm thạch nhé!<br />
-Vâng, thưa me! Giọng Uyên vui hẳn lên<br />
-Ði, anh! Cô nắm tay tôi lắc lắc thúc giục. Tôi chần chừ.<br />
-Thưa bác, xin cám ơn bác. Nhưng cháu lung tung lắm. Ðể cháu đi cái Lambretta của cháu cho tiện!<br />
-Cháu ngại à? Ừ, thì tùy cháu!<br />
Bà Phan đẩy ly nước cam qua một bên, mở trang trong của tờ báo, cúi xuống đọc chăm chú.<br />
Uyên theo tôi xuống sân. Khi tôi vừa cho máy nổ, cô đã ngồi sau yên, tay đặt lên vai tôi:<br />
-Sao anh hấp tấp vậy? Sợ trễ hẹn hả?<br />
-Hẹn ai?<br />
-Làm sao Uyên biết được. Nhưng Uyên theo được không?<br />
-Sao không? Nhưng cô muốn đi đâu?<br />
-Anh đi đâu Uyên theo đó.<br />
Tôi cho xe chạy qua Phan Ðình Phùng, đường mát dưới bóng cây. Một chiếc xe nhà binh vút qua bay lên những tiếng hát trầm hùng. Tôi vòng xuống Nhà Thờ Ðức Bà, dừng xe trước cửa Bưu Ðiện mua một gói thuốc lá. Tôi phóng nhanh, Uyên ôm chặt tôi cười khúc khích nhột ở cổ.<br />
-Cười gì vậy?<br />
-Ðừng dọa Uyên. Uyên không sợ tốc độ đâu!<br />
Tôi cho xe chạy nhanh hơn, bỏ đường Duy Tân, phóng như bay trên những con lộ vắng. Ðường Gia Long với vòm me lá xanh mướt chạy dài đến cuối là nhà thờ Saint Paul gợi ta cái cảm giác đang đi trên một hành lang. Ðường Nguyễn Du có trường Quốc Gia Âm Nhạc tắm nắng dưới những hàng cây cao ngó xéo bên phải là tòa đại sứ Nam Hàn. Ðường Lê Quý Ðôn với những ngôi biệt thự xinh xắn, mái ngói đỏ, vườn cây xanh, sân trải sỏi.<br />
Ở một ngã tư, đang chạy tôi chợt giật mình, đèn đỏ bất ngờ, tôi đạp chân thắng gấp. Uyên ôm chầm lấy tôi.<br />
-Chết khiếp! Anh chạy ẩu quá trời!<br />
-Sợ hả?<br />
-Không bao giờ!<br />
Uyên ôm chầm tôi, những ngón tay cô bấu trên vai tôi.<br />
Ðèn xanh. Tôi lượn lại một vòng Nhà Thờ Ðức Bà. Nắng lóa mặt đồng hồ trên cao. Ðường Tự Do mát, hẹp và nắng. Ðến quán Cái Chùa, tôi chậm chậm, Uyên thúc hông kêu chạy tiếp. Tới Givral tôi rề rề.<br />
-Thôi anh, Uyên không vào đâu, bạn anh ông nào ông nấy dễ sợ thấy mồ!<br />
-Vậy muốn đi đâu?<br />
-Hoàng Gia!<br />
-Cô ghiền trà Hoàng Cúc à? Không sợ lựu đạn cay sao?<br />
-Sao? Chứ anh không thích trà Hoàng Cúc sao?<br />
-Thôi. Hay là mình đi về đi?<br />
-Về làm chi?<br />
Uyên nhổm người lên nói sát vào tai tôi.<br />
-Ông mát rồi, ông ơi!<br />
Ðến đầu đường Nguyễn Huệ, tôi tấp vào một quán bán hoa.<br />
-Một chục bông hồng cho người tên Uyên!<br />
-Cho Uyên? Cô ngạc nhiên.<br />
-Chưa bao giờ nhận hoa của đàn ông tặng à?<br />
-Chưa bao giờ!<br />
-Thật không?<br />
-Thật một trăm phần trăm!<br />
-Vậy tập nhận một lần cho quen!<br />
-Cám ơn anh. Rồi sao nữa anh?<br />
Uyên hỏi khi tôi đã cho xe chạy.<br />
-Về nhà!</p>
<p>Tôi nhớ Quỳnh. Tôi hình dung cô đang ngồi trong sở giữa những giấy tờ và lịch chuyến bay của hãng. Phía sau lưng Quỳnh, chiếm trọn tấm vách là tấm bản đồ lớn với chi chít những đường bay của hãng CAL đến các thủ đô trên thế giới.<br />
Bàn đối diện Quỳnh là Châu Khả Tú. Cô bé người Hoa này là một đồng nghiệp rất gần gũi Quỳnh. Cô hiểu mối liên hệ giữa Quỳnh và tôi. Và chúng tôi cũng biết đôi điều về cô Tú. Cô xinh đẹp, nói tiếng Anh giỏi, tế nhị và khả ái. Tôi thường gọi cô là Miêu Khả Tú, tên một diễn viên điện ảnh Tàu đang ăn khách. Cô yêu Trí, một thanh niên Việt Nam, nhưng ba cô, một thương gia có máu mặt ở Chợ Lớn, cực lực phản đối. Ông kéo cả gia đình đứng về phía ông. Anh chị của Tú và các đứa em cô đều phản đối mối tình Hoa-Việt kia. Trí nhà nghèo, tính bộc trực, học giỏi. Anh không chịu được phong cách chủng tộc của ông cụ nhà Tú, nên không bao giờ anh đến thăm gia đình người yêu. Cả hai chỉ gặp nhau ở các quán nước và đôi khi đi ăn cơm với chúng tôi.<br />
Chính sáng hôm qua khi nghe tôi nói chuyện đổi chỗ ở, Tú tỏ vẻ không đồng ý. Cô nói với Quỳnh, chị coi chừng anh ấy sẽ vào bẫy bà Uyên. Quỳnh đã cười nói, “Em biết anh Thăng đa cảm, nhưng em tin, rất tin anh ấy!” Khi Quỳnh hỏi tôi cần gì để cô lo, tôi đã trả lời, “Cần em! Rất cần em!” thì Quỳnh ngó chăm xuống tấm bản đồ đường bay trên mặt bàn. Mãi một lúc sau cô ngửa mặt lên “Nhưng anh đâu để em lo cho anh!” Quỳnh cười, chiếc răng khểnh làm tôi bối rối. Tôi nhớ Quỳnh. Tôi nhớ mái tóc cơ thơm mùi cỏ của dầu gội đầu, nhớ mùi da thịt lôi cuốn, nhớ mắt long lanh tình ái khi hai chúng tôi gần nhau, nhớ giọng bướng bỉnh, nhớ tiếng kêu ư ư trong cổ họng&#8230;<br />
Tôi nằm yên trên giường trong căn phòng sáng sủa tiện nghi. Tôi nhìn bức tranh của Quỳnh trên vách. Tôi ngó ra cửa sổ, cành mận len qua chấn song. Có phải tôi là người tù sung sướng trong một chiếc pháo đài mà không viên đạn nào có thể xuyên qua? Hay tôi là người tự do đi tìm quyền lực? Liệu có phải vì Uyên mà tôi đến đây? Hay chỉ là cái cớ để tìm lại dấu vết của cha tôi.<br />
Ngày đầu tiên của một người đi trên mây trong căn nhà quyền thế sao mà thừa mứa thời gian và trống rỗng đầu óc đến thế!</p>
<p>&nbsp;</p>
<p><b>Chương 10</b></p>
<p>Suốt một tuần lễ, tôi tự nhốt mình trong ngôi biệt thự ông Phan, không gặp ai cũng chẳng liên lạc với ai, ngoài một lần gọi dây nói cho Quỳnh.<br />
Tôi nằm khềnh trên giường đọc sách, xem Tivi, nghe nhạc. Báo mới thì Uyên mang cho tôi mỗi ngày, không thiếu một tờ nào. Những biến động chính trị và quân sự trong nước vẫn chiếm hàng đầu trên các trang nhất. Chuyến đi của ông Phan có vẻ như bị chìm trong những tin thời sự nóng bỏng khác. Thế nhưng, sáng hôm nay, tờ Chính Luận chạy ở trang nhất một bài phân tích về chuyến đi Hoa Kỳ của ông Phan. Dưới tựa đề “Rạn Nứt Trong Hội Ðồng Nội Các”, tay bỉnh bút của Chính Luận cho rằng sự sắp xếp để ông Phan ra đi như là cách tống khứ một nhân vật mà các phe đang gầm ghè nhau để giành quyền chiếm chiếc ghế cao nhất trong chính phủ.<br />
Tôi vốn không mấy chú tâm đến những bài lập trường thời sự, nhưng lần này sự hiện diện của ông Phan những dòng chữ đó khiến tôi không thể không suy nghĩ. Bài viết cũng cho biết những tay “lobbyist” của Việt Nam đã không tranh thủ được các nghị sĩ và dân biểu Quốc Hội Hoa Kỳ. Tôi không nắm bắt được ý nghĩa của những tiếng lóng thời sự chính trị. Hậu trường của những bang giao quốc tế đối với tôi lại càng mù mịt hơn. Tôi chỉ là kẻ đứng bên lề thời cuộc, luôn bị dị ứng với những tin tức loại này. Tôi lớn lên trong chiến tranh, lạc gia đình lúc năm tuổi. Khi quả lựu đạn nội hóa nổ trước sân nhà, mẹ đi chợ xa chưa về, còn cha tôi thì vẫn còn biệt tích mù khơi theo chuyến phiêu lưu của đời ông. Một người đàn bà thấy tôi hoảng hốt đã lôi tôi đi để che chở. Tôi mất liên lạc với mẹ tôi từ ấy. Những gia đình lạ hoắc chia nhau nuôi tôi. Tôi sống từ nhà này sang nhà nọ, từ làng quê này sang làng quê khác. Tôi có nhiều cha nhiều mẹ nhiều anh em.</p>
<p>Nhưng cha mẹ thật của tôi thì hoàn toàn không ở cùng tôi. Những người lính Nam Tiến của bộ đội Nam Long nuôi tôi trong rừng. Tôi được các cô các chú sinh viên Hà Nội dạy những bài hát Phạm Duy, Văn Cao, Phan Huỳnh Ðiểu&#8230; Tôi được nghe ngâm thơ Nguyễn Ðình Thi, Hoàng Cầm, Yên Thao, Hữu Loan&#8230;<br />
Rồi sau một trận đụng độ giữa Pháp và Việt Minh, tôi bị một tiểu đoàn Lê Dương bắt. Một người Lê Dương già, chuyên viên vũ khí trong tiểu đoàn Commando, nhận tôi làm con nuôi. Tuy cấp bậc thượng sĩ, nhưng với huy chương Sông Rhin, ông được cả tiểu đoàn kính nể và vẫn gọi là “papa Chopin,” có lẽ vì ông là người ưa thích nhạc Chopin, mặc dù tên thật của ông là Max Kaltenmark, gốc Áo. Vào Lê Dương ông là người không gia đình, không tổ quốc. Ông lo cho tôi như một người cha ruột lo cho con. Cái hình ảnh một đứa bé Á Châu chân tay đầy những nốt đỏ ghẻ chốc ngồi trên vai một người Âu Châu cao lớn râu tóc rậm rạp trắng xóa đi giữa đường phố Catinat của Sài Gòn không bao giờ phai mờ trong trí tôi.<br />
Tôi gọi ông là papa, và vì người ta quí ông, tôi cũng được hưởng lây sự chăm sóc ấy của cả tiểu đoàn. Gần năm năm sau ngày lạc gia đình, mẹ tôi mới tìm ra được tung tích con. Bà được một người làm thông ngôn dẫn đến tận tiểu đoàn, trình giấy khai sinh và xin đón tôi. Ngày chia tay, papa ôm tôi thật chặt, nước mắt trên gò má bệu đầy những nốt tàn nhang màu nâu của ông.<br />
Tôi nhớ lại lúc đó tôi đã khóc, khóc dữ lắm. Trước hết là mừng gặp mẹ và kế đó là buồn vì phải xa người cha nuôi. Sau đó bặt đi một thời gian lâu lắm, tôi không được tin tức gì về papa. Mãi đến năm 1955, tôi mới nhận được thư của một người gửi từ Pháp, báo tin papa tôi, ông Max Kaltenmark đã qua đời trong trận Ðiện Biên Phủ. Người viết ký tên là Thiếu tá Henri Duval. Ông nói rằng cuộc chiến tranh Việt Nam đã cướp đi của ông một người bạn tốt mà suốt đời ông không thể nào quên.<br />
Ông Kaltenmark là người đã cứu ông thoát chết trong một trận cận chiến dưới hào. Và cái giá của sự sống ông Duval được trả bằng cái chết của papa Chopin. Ông hỏi tôi cần thứ gì trong khả năng ông, ông sẽ thỏa mãn tôi đúng thứ đó. Bây giờ ông là người thay papa tôi và ông có trách nhiệm với tôi như lời hứa của ông với người quá cố. Tôi giữ tấm thẻ bài của papa Chopin nhưng tôi không trả lời ông Duval. Cuộc chiến đó đã đi vào quá khứ lịch sử của hai dân tộc. Ðất nước chúng tôi đang làm một cuộc chiến khác, tàn bạo hơn, đẫm máu hơn, bi đát hơn. Hiện tại bao giờ cũng hơn dĩ vãng và kém thua tương lai kể cả cái tốt lẫn cái xấu. Chính trong những năm tháng sống với papa Chopin tôi đã theo chân tiểu đoàn Biệt Ðộng di chuyển khắp nơi. Chiến tranh thật là ghê tởm. Nó làm khổ người sống đã đành, người chết cũng không được nó để yên thân. Tôi nghĩ sự rơi rụng của một chiếc lá đôi khi còn có thể hiểu được hơn là cái chết của một người dân vô tội.<br />
Tôi là kẻ đứng bên lề thời cuộc, điều đó đâu có nghĩa tôi là người đứng bên ngoài vận mệnh của đất nước tôi. Các anh tôi, người Không quân, người Biệt động quân. Các em gái tôi đứa làm cô giáo, đứa nữ quân nhân. Nhưng gia đình tôi, tất cả mười hai anh em, đôi người chết bên kia, vài kẻ chết bên này. Tôi là người lính biệt phái chưa ra trận mạc nhưng tai đã nghe tiếng đại bác, mũi đã ngửi mùi thuốc súng, mắt đã thấy máu chảy, đã chứng kiến cái chết&#8230; khi mới vừa lên sáu. Làm sao tôi có thể đặt mình ở một cõi riêng mà không thấy được những hệ lụy ấy ngay trong chính gia đình mình.<br />
Tôi ghê tởm chiến tranh. Tôi sợ hãi chính trị. Tôi chỉ là con đà điểu chôn đầu dưới cát trốn sự thực, nhưng sự thực không bao giờ tha tôi. Nhà ông Phan cũng đâu phải pháo đài. Nếu người ta muốn hại tôi, tôi có cánh cũng không bay thoát, hơn nữa nếu người ấy lại là ông Lý. Vậy thì muốn thoát ra ngay lúc này cũng đâu phải chuyện chơi!</p>
<p>Liệu sự náu mình của tôi ở đây có phải là Uyên? Cô đã chăm sóc tôi hơn là lòng tôi mong ước, nhưng cô cũng đã nghiêm chỉnh với tôi hơn là trí tôi tưởng tượng. Ðôi lúc Uyên cư xử như một cô em gái nhỏng nhẻo. Nhiều khi đóng vai bà chị khắc nghiệt. Rất ít tỏ ra là một người tình.<br />
Ở Uyên, đùa cợt là thông thường, lý trí là căn bản. Tình cảm luôn luôn là cân nhắc. Cô muốn gì ở tôi? Rõ ràng là không!<br />
Chúng tôi là anh em. Cô có vẻ trêu tức Quỳnh mà không chút ác ý. Hình như cô muốn tôi nói yêu cô để cô có dịp trả lời thẳng vào mặt tôi là cô không hề có chút mảy may yêu tôi. Cô chân thật hay gian trá? Cô yêu tôi hay ghét tôi? Cũng như ông Phan, Uyên có khả năng gài bẫy, và nếu ai muốn sụp thì xin cứ mời, nhưng ngóc đầu dậy sau khi ngã vào bẫy cô, điều đó có vẻ hơi ảo tưởng. Tôi nhìn tôi như thế và tôi phân tích Uyên như tôi thấy rõ cô trên màn ảnh của trí óc tôi.<br />
Nhưng một tuần trầm mình trong sự u tịch của một căn phòng tiện nghi, sạch sẽ và thơm tho với tôi thế là đủ. Sự thừa mứa thời gian làm tôi bệ rạc. Tôi nhớ Quỳnh. Tôi ngồi dậy. Tôi nghe tiếng Uyên hát một ca khúc Pháp. Giọng cô cười giòn như pháo. Tôi nhấc ống điện thoại. Tôi nghe tiếng chân bà Phan đi trên hành lang. Tôi quay số sở Quỳnh. Tiếng thủy tinh vỡ vang từ phòng khách. Tôi nghe Uyên hét thất thanh. Tiếng chuông reo đầu dây bên kia. Tôi hỏi nhanh:<br />
-Alô! China Airline?<br />
-Alô! China Airline nghe đây?<br />
-Chào cô! Tôi muốn nói chuyện với cô Quỳnh.<br />
-Anh Thăng hả? Miêu Khả Tú đây! Anh chờ một tí nhá!<br />
-&#8230;<br />
-Alô! Em đây. Anh ở đâu vậy?<br />
-Quỳnh! Tôi đang ở nhà bác Phan. Tôi muốn gặp em?<br />
-Ngay bây giờ hả? Không được đâu. Em nhiều việc kinh khủng!<br />
-Thế chiều nhé?<br />
-Vâng, em chờ anh ở nhà đúng năm giờ!<br />
Căn phòng Quỳnh nhỏ mà gọn, nằm ngay trên lầu hai thương xá Eden. Cửa sổ mở, ngó qua rạp Rex. Tôi tra chìa khóa bước vào. Quỳnh đang ở trong buồng tắm. Tôi ngả lưng trên mặt nệm, nhắm mắt duỗi dài tay chân. Tôi thấy thoải mái.<br />
Bao giờ cũng vậy, khi bước vào phòng Quỳnh, tôi luôn có cảm tưởng như đang ở nhà mình. Chăn nệm cô thơm ngát sự tươi mát của một buổi rạng đông. Cửa sổ lớn mở rộng đón gió thổi từ sông Saigon. Tất cả những thứ ấy dễ làm tôi buồn ngủ.<br />
Phòng Quỳnh có nhiều tạp chí thời trang. Những cuốn Elle và Marie-Claire màu sắc rực rỡ. Những thiếu nữ Pháp xinh đẹp trong những y phục loại-mốt-nhất. Tôi loáng thoáng nghe tiếng động của máy xay trái cây. Tôi thấy bóng Quỳnh di chuyển mờ ảo,&#8230; và tiếng loạt xoạt của của những trang báo bị lật, cái kẹp tóc, chiếc khăn tắm lớn của Quỳnh rơi trên nền nhà, mùi xà phòng thơm, khuôn mặt Quỳnh, đôi mắt to, chiếc răng khểnh, và cả tấm thân mềm mại quen thuộc cô ập xuống thần trí tôi&#8230; rồi hết thảy phút chốc tan loãng, kéo lướt đi như mây khói&#8230;<br />
Tôi thấy ông Phan trở về trên một chiếc phi cơ đặc biệt. Khi máy bay sắp đáp xuống phi đạo thì hai chiếc phản lực cơ chiến đấu không biết từ một hướng nào phóng tới bắn xối xả vào máy bay ông Phan. Tôi thấy khói bốc lên sau đuôi. Máy bay ông Phan vụt lên trở lại. Ðám hành khách đặc biệt hốt hoảng bên trong phi cơ. Máy bay mất thăng bằng. Phi công chánh đã bị đạn gục trước cần lái. Phi công phụ đang thay thế. Tôi thấy ông Phan vẫn ngồi yên trên ghế. Da mặt ông sạm lại. Hai con mắt ông nhỏ nhưng sáng một cách kỳ lạ. Máy bay ông Phan vẫn nằm giữa hai lằn đạn. Và “ầm!” một tiếng lớn, máy bay ông bốc cháy. Một đám khói đen trên bầu trời chúi xuống và nổ tung. Tôi la to lên:<br />
-Bác Phan! Bác Phan!<br />
Và tôi choàng tỉnh dậy. Mồ hôi vã ra như tắm.<br />
-Anh, anh sao vậy?</p>
<p>Quỳnh ngồi trên giường, mắt lo lắng, hai tay lay vai tôi. Tôi thấy những sợi tóc ướt bám trên trán cô. Bộ ngực nặng nề phập phồng sau làn vải mỏng.<br />
-Anh làm sao vậy?<br />
Quỳnh lặp lại câu hỏi. Mặt cô cúi thấp gần mặt tôi. Tôi nghe hơi thở cô nóng bỏng, gấp gáp.<br />
Quỳnh lau mồ hôi trên mặt, mũi, cổ và ngực tôi.<br />
Tôi kể cho cô nghe giấc mơ.<br />
-Tại sao anh lo lắng cho ông Phan quá vậy?<br />
-Có gì đâu. Ðó chỉ là một giấc mơ thôi mà!<br />
-Sao anh không mơ thấy em?<br />
-Lúc nào tôi chẳng mơ thấy em!<br />
-Ông lẻo mép quá đi ông ạ!<br />
Tôi choàng tay qua người Quỳnh kéo cô ấp lên người tôi.<br />
-Hôn tôi đi!<br />
Quỳnh cắn môi tôi. Nàng yêu tôi mạnh mẽ như chưa bao giờ yêu.<br />
Căn phòng tối. Quỳnh nằm ngược chiều tôi. Tay cô dang rộng chạm vào gan bàn chân tôi. Chiếc quạt máy ngưng chạy từ hồi nào, nhưng gió thổi qua cửa sổ mát lạnh.<br />
-Cho tôi điếu thuốc Quỳnh!<br />
Tôi nói nhưng không tin là Quỳnh nghe.<br />
Quỳnh nhổm dậy. Tiếng chân đi trên nền nhà, tiếng khua động ở ngăn kéo, tiếng diêm quẹt đánh lên, ánh lửa lóe sáng soi khuôn mặt Quỳnh.<br />
-Thuốc đây anh! Quỳnh đặt điếu thuốc giữa hai môi tôi.<br />
-Anh làm gì suốt một tuần không gặp em?<br />
-Chẳng làm gì cả! Ðọc sách, nghe nhạc.<br />
-Còn cô Uyên?<br />
-Nghe nhạc, đọc sách!<br />
-Chỉ thế thôi?<br />
-Chớ em muốn tôi làm gì khác?<br />
-Anh có phải là một tù nhân hạnh phúc không?<br />
-Không phải tù nhân, và cũng không hạnh phúc!<br />
-Em nghĩ là em đang mất anh!<br />
-Em cho là tôi sắp chết sao?<br />
-Anh đừng nói bậy! Chính anh phải biết là anh không còn là anh như trước đây chứ?<br />
-Tôi đã thay đổi nhiều vậy sao?<br />
-Anh đã thay đổi! Quỳnh nói giọng quả quyết. Cô nhấc điếu thuốc khỏi môi tôi. Quỳnh hút. Ðốm sáng soi mặt cô từng chập. Giọng Quỳnh cay đắng.<br />
-Tôi nghĩ là chính em đang có điều bực dọc nên nhìn chuyện gì cũng thấy không giống như ý em muốn.<br />
-Hôm qua em gặp anh Tuấn ở tòa án. Anh ấy nói Thăng sắp làm phò mã ông Phan thật rồi! Em hỏi sao anh biết, anh ấy nói chính cô Uyên tâm sự với một người bạn.<br />
-Rồi sao nữa?<br />
-Chờ ông Phan đi Mỹ về là làm lễ cưới.<br />
-Chưa đính hôn mà! Tôi đùa.<br />
-Ðính hôn rồi! Quỳnh quả quyết, giọng chắc như bắp.<br />
-Hồi nào vậy? Tôi tiếp tục đùa.<br />
-Tuần rồi! Anh Tuấn nói lễ đính hôn diễn ra trong vòng thân mật. Quỳnh không đùa tí nào.<br />
Tôi thấy hình như câu chuyện đã đi quá xa. Tôi hỏi gặng:<br />
-Em tin thật sao?<br />
-Còn gì nữa mà không tin! Quỳnh nói giữa hai hàm răng.<br />
-Em muốn nghe tôi nói không?<br />
-Chuyện đó chưa đủ sao mà anh còn nói nữa!<br />
-Ðó là bịa! Tôi khó chịu. Tôi ghét đính chính những điều tôi không hề dính dáng.<br />
Quỳnh rúc đầu vào ngực tôi. Mái tóc ngắn của cô làm tôi nhột. Tôi kéo Quỳnh lên, môi tôi tìm môi cô. Da thịt Quỳnh quen thuộc trong tay tôi. Bụng cô nhỏ, lưng ong, thon, lũng thấp. Ngực căng rắn. Ðùi dài tròn lẳn. Trên chiếc giường hẹp, chúng tôi đo nhau. Thân thể tôi trong thân thể Quỳnh.<br />
-Ðừng anh&#8230; Ðừng mà anh!<br />
Quỳnh phản ứng chiếu lệ, hai tay vẫn đẩy sâu tôi thêm vào người cô. Hơi thở Quỳnh nóng hổi, bứt rứt như thúc giục những ham muốn trong tôi trào ra. Những ngón tay của cô là những mũi kim châm cứu, nhọn buốt dưới da nhưng làm rung động châu thân tôi trong một niềm hoan lạc khó tả.<br />
Mùi thơm của tóc Quỳnh, mùi nồng của da thịt cô làm tôi thêm rạo rực. Tiếng Quỳnh u ư trong cổ họng như con mèo con phơi nắng bên cửa sổ.<br />
-Tôi mở đèn nhé!</p>
<p>-Ðừng anh! Quỳnh giữ tay tôi lại.</p>
<p>Căn phòng tối, nhưng ngoài cửa sổ đêm xanh ánh trăng. Tôi thấy mắt Quỳnh long lanh một thứ ánh sáng kỳ lạ. Chúng tôi áp mặt vào nhau thở chung hơi thở tình ái. Tôi vò tóc Quỳnh trong tay tôi. Im lặng quá! Ðêm như chôn chúng tôi trong chiếc quan tài hạnh phúc.<br />
“Em sợ!”<br />
Bỗng nhiên Quỳnh nói. Giọng cô nhỏ, mỏng như hơi thở.<br />
“Sợ gì?”<br />
Tôi nằm xuống, tay tôi trên ngực Quỳnh.<br />
“Không. Em không sợ. Em muốn có con với anh&#8230;”<br />
“Chi vậy?”<br />
“Ðừng hỏi em một câu ngu như thế!”<br />
“Xin lỗi em!”<br />
Tôi ôm riết Quỳnh, mũi tôi cọ lên mũi cô. Tôi làm tối lại thứ ánh sáng long lanh trong mắt cô phản chiếu từ những ngôi sao xa. Tôi quơ tay lên đầu giường, mở núm điều chỉnh của chiếc máy thu thanh. Một giọng ca quen thuộc ấm áp và nồng nàn tình cảm bay khắp phòng&#8230;<br />
Với tôi, Mùa Hè vô tận này là kết hợp của một chuỗi những ngày Chủ Nhật buồn và Quỳnh như một “đóa hoa hồng vùi quên trong tay tôi”. Không, chúng tôi là những cục than hồng vùi trong lò gạch nung, chìm dưới lớp tro than xám xịt. Chúng tôi lạnh lẽo một cách bốc cháy. Chúng tôi hực lửa bên nhau nhưng sao vẫn rét buốt tận tâm can. Tại sao Quỳnh muốn có con với tôi? Cô biết tôi sợ hôn nhân. Cô là người đầu tiên đề nghị một cuộc sống chung không cần giá thú. Cô từng nói thà sống với nhau lâu dài không hôn thú hơn là chia tay trong thù hận với hàng đống giấy tờ. Và tôi, cuộc hôn nhân thất bại là một thứ ung nhọt lúc nào cũng tấy mủ trong da thịt tôi. Vết thương lở lói và hôi thối ấy làm tôi ghê tởm cả chính tôi. Một lần về thăm Ðăng và Mai, chị ta cầm tay tôi nói giọng âu yếm là tôi gầy quá, chị muốn được chăm sóc tôi, hầu hạ tôi, và chị ta muốn trở lại với tôi. Tôi đã gỡ những ngón tay chị ta ra và phủi cái dấu vết ô nhục vừa chạm lên đó giống như có con sâu rọm mới bò qua. Kể cho Quỳnh nghe chuyện này, Quỳnh cười:<br />
“Anh cực đoan, bao giờ cũng cực đoan! Anh không nghĩ là đã có thời gian anh từng yêu chị ấy hay sao?”<br />
Không, chưa bao giờ tôi yêu chị ta. Chúng tôi cùng trạc tuổi nhau, cùng học một lớp, chị ta là người đầu tiên dạy tôi bài học ái ân. Nhà trọ nằm trên đường tới Viện Ðại Học. Khí hậu Ðà Lạt lạnh đều suốt năm. Phòng không lò sưởi. Cửa kính mù sương những buổi sáng. Cây ổi không bao giờ ra trái trước mặt nhà. Hàng rào là những cây bông hồng. Dưới cửa sổ đầy bông thược dược và cẩm chướng. Chúng tôi sống bằng những tô phở của người bán rong vào lúc giữa khuya. Họa hoằn lắm mới ăn được miếng bánh mì baguette của tiệm Vĩnh Châu vừa mới ra lò còn nóng hổi.<br />
Chúng tôi miên man và mải mê trong thú vui xác thịt. Dù sao phải nói là tôi biết ơn chị ta. Chị ta đã dạy tôi khám phá ra được những bí mật của thân xác. Những niềm bí mật ấy cần được ngợi ca. Thói quen ân ái thật khó bỏ. Nó đeo riết lấy tôi. Nó làm người ta không còn lãng mạng nữa. Cho đến khi tôi muốn rứt ra thì chị ta tìm đến gia đình tôi, mua chuộc em gái tôi, bao vây mẹ tôi. Và chị ta quỳ dưới chân tôi. Cầu khẩn tôi lấy chị ta như cầu khẩn một đấng thần linh. Vấn đề giữa chúng tôi không phải là lấy nhau, lại càng không phải là tình yêu. Vấn đề là chị ta muốn có một tờ giấy xác nhận hôn nhân. Ðám cưới lớn, nhưng cha và mẹ tôi không có mặt.<br />
“Anh nghĩ gì vậy?” Quỳnh hỏi, ngón trỏ của cô di động trên sống mũi tôi.<br />
“Mũi thẳng là mũi bạc tình!” Quỳnh giải thích.<br />
Tôi không trả lời cô. Tôi hỏi Quỳnh một câu khác.<br />
“Em đã tìm đâu ra bức tranh treo phòng hay vậy?”<br />
“Của em.”<br />
“Sao em có điện thoại của Uyên?”<br />
Quỳnh ngồi bật dậy, co chân, hai tay bó gối, đầu hơi chúc xuống phía tôi, giọng ngơ ngác.<br />
“Cô Uyên nào? Làm sao em biết được?”</p>
<p>Và Quỳnh nằm xuống, úp cả thân thể cô lên tôi. Người cô mát nhưng hơi thở nóng. Tiếng cô cười rất nhỏ trong miệng.<br />
“Ðùa anh chơi tí. Em gọi đấy!”<br />
“Tại sao?”<br />
“Thì em muốn gọi. Vậy thôi! Cô ta đâu là gì anh. Và nếu cô ta là gì của anh thì cũng là điều hay!”<br />
“Tại sao hay?”<br />
“Ðể anh có dịp làm một cuộc trắc nghiệm!”<br />
“Trắc nghiệm?”<br />
“Chứ sao! Ðôi khi anh cũng nên xem lại chúng ta còn cần nhau tới chừng nào. Phải không?”<br />
“Lúc nào mà tôi chẳng cần em?”<br />
“Còn cô Uyên?” Quỳnh hỏi ngược bất ngờ&#8230;<br />
“Uyên là con gái của ông Phan&#8230;” Tôi lúng túng trả lời lẩn quẩn.<br />
“Em biết cô ta học Văn Khoa, nhưng thân đám trường Luật. Em biết cô ta là một người kiêu ngạo. Thứ gì cô cũng đều nhất nước. Em biết cô ta thích anh. Nhưng em còn biết, hơn một điều nữa: Cô ta không hề yêu anh, mà cô ta cũng chả yêu ai&#8230;”<br />
“Tôi còn biết nhiều hơn em nữa kìa. Chưa hề có một người trên đời này yêu tôi.”<br />
“Thôi, không nói nữa, lẻo mép ạ!”<br />
Quỳnh rúc đầu vào ngực tôi.<br />
“Có khi nào em ghen không?”<br />
“Còn lâu!”<br />
Những ngón tay Quỳnh bấm sâu trên lưng tôi.<br />
“Em chỉ muốn có một đứa con với anh. Một đứa thôi, rất giống anh và em sẽ không cần anh nữa!”<br />
Gió thổi lộng vào phòng, trong cái mát lạnh tôi nghe như có những giọt nước mưa rất nhỏ bắn vào, dội lên những song sắt và rơi xuống mặt tôi.<br />
“Em ghét anh&#8230;” Quỳnh nằm ngửa, dang rộng hai tay, đẩy tôi ra sát mép giường&#8230;<br />
“Hôn tôi đi, nhỏ&#8230;”<br />
Quỳnh rướn người lên, áp mặt cô lên mặt tôi, trán cô vào trán tôi. Chương trình nhạc đã dứt tự hồi nào. Người xướng ngôn đang đọc bản tin thời sự tóm tắt trong ngày.<br />
Chúng tôi ôm chặt nhau, thở giùm nhau trong tiếng còi báo động giờ giới nghiêm.<br />
Làm thế nào được, cuộc chiến tranh không lối thoát bao giờ cũng chen vào giữa hai làn môi chúng tôi?</p>
<p>&nbsp;</p>
<p><b>Chương 11</b></p>
<p>Khi tôi về đến nhà ông Phan trời đã tối hẳn. Tuy vậy đèn phòng khách vẫn sáng và tiếng cười nói bay ra mãi tận con đường lót sỏi. Tôi đi vòng ngã sau, dựng xe sát cửa sổ. Phòng khá tối, cửa để mở, tôi thấy Uyên ngồi ở bàn viết đang dán mắt trên trang sách. Âm nhạc bay ra từ chiếc máy thu thanh đặt ở một ô trong kệ gỗ. Tôi nhận ra đó là một khúc giao hưởng của Beethoven. Uyên rất thích nhạc cổ điển, khi nào cô ngồi một mình.<br />
Tôi vào phòng, đi nhẹ trên những mũi giầy. Chẳng hiểu là Uyên không nghe thấy tôi trở về thật vì cô bị câu chuyện âm nhạc lôi cuốn hay vì tôi đi quá nhẹ chân, hoặc cô biết tôi đang về nhưng vẫn giả mù sa mưa. Tôi ngả lưng trên nệm, hai tay chắp sau ót, nhắm mắt. Dư vị tình ái vừa trải qua với Quỳnh còn đọng lại trong thần trí tôi. Sự hờn giận của cô làm tôi khó nghĩ. Tôi tự thấy mình không thể ở lâu trong nhà ông Phan, nhưng ra đi ngay trong lúc này thì tôi không thể làm được. Tôi bị kẹt cứng trong một thứ tình cảm không tên. Giương mắt ngó lên trần nhà, tôi không thấy gì ngoài cái mờ mịt của một thứ đêm ba mươi. Nhìn sang bàn học, dưới ánh sáng của ngọn đèn đọc sách, tôi thấy khuôn mặt Uyên xanh như tàu lá. Mái tóc cô đen nhánh trên một đôi vai trần trắng như bông. Hôm qua, cũng ngay ở bàn viết này,<br />
Uyên nói với tôi là cô đang nghiên cứu khoa chiêm tinh học.<br />
“Anh ở tuổi Bắc giải phải không? Uyên cũng vậy. Chúng ta đều là con của Mặt Trăng. Mà mặt trăng thì thay đổi bốn lần trong một tháng. Tuổi Bắc Giải cũng giống như vậy. Nghĩa là cũng rất hay thay đổi.”</p>
<p>Tôi cười:<br />
-Chiêm tinh học không phải là một khoa học. Nó gần với dị đoan và mang màu sắc huyền bí.<br />
-Huyền bí? Dị đoan? Sao? Uyên thế này mà huyền bí dị đoan sao?<br />
Cô cãi, nếu chiêm tinh học không phải là một khoa học thì khoa học thực sự là một cái gì kém hơn chiêm tinh học. Chiêm tinh học biết những bí ẩn về con người mà khoa học hoàn toàn bó tay.<br />
Lý luận của Uyên làm tôi ngớ ra. Tôi hỏi cô vậy thì tại sao mình không thể nói rằng những ai ở tuổi Bắc Giải sẽ gặp nhiều hạnh phúc trong mùa hè, vì lẽ, họ ra đời vào một tháng giữa năm?<br />
Uyên kêu lên, giọng mừng rỡ:<br />
-Ðúng rồi, chiêm tinh học đã luận giải như thế! Mà sao anh biết?<br />
Tôi bật cười lớn. Có lẽ tiếng cười của tôi làm Uyên giật mình, hay nàng giả bộ giật mình?<br />
-Trời! Anh về hồi nào vậy? Anh làm Uyên hết hồn!<br />
-Tôi mới về. Cô không làm bộ chớ?<br />
-Anh đừng nói oan cho Uyên. Anh có đói không? Uyên làm cơm cho anh nhé?<br />
-Cám ơn cô! Tôi vừa đói, vừa buồn ngủ!<br />
-Hai anh em nói chuyện gì đó?<br />
Bà Phan hiện ra ở cửa từ lúc nào. Sự có mặt đột ngột của bà làm cả hai chúng tôi giật mình. Tôi chống hai tay ở mép giường ngồi dậy. Bà đến chỗ con gái, cầm cuốn sách lên coi lơ đãng cái bìa.<br />
-Sao con không mở đèn?<br />
Bà hỏi nhưng không đợi Uyên trả lời, tự động đến sau cửa buồng, bật công tắc.<br />
Ánh sáng tràn ngập căn phòng. Tôi ngồi vụt dậy.<br />
-Thưa bác!<br />
Bà nhìn tôi, rồi nhìn Uyên:<br />
-Cháu mới về?<br />
-Thưa bác, cháu mới về.<br />
-Cháu ăn cơm chưa?<br />
-Thưa bác&#8230;<br />
-Tôi cũng chưa ăn. Cả Uyên nữa. Ngày hôm nay sao mà lắm khách thế không biết!<br />
-Thưa me, con chỉ thấy có mỗi bà Lãm thôi mà!<br />
-Thì bà Lãm, rồi kế đó là bà Liên, bà Ngọc. Bà Lãm nhờ me bán giúp chiếc nhẫn hột xoàn, gửi tiền cho cậu con học bên Pháp. Bà Liên mời chơi một bát họ. Bà Ngọc rủ me đi Hồng Kông một chuyến!<br />
-Ðến ba cơ à! Vậy mà con cứ tưởng có mỗi một mình bà Lãm.<br />
-Ðã xong đâu, bà Lãm vừa về thì bà tổng Hưng lại đến. Bà muốn mua lại chiếc lọ cổ nhà mình. Thôi, đi ăn cơm đi cô cậu, tôi đói lắm rồi!<br />
Uyên rời bàn ăn sớm nhất. Cô ngồi bên tôi, đối diện với mẹ. Trước khi đứng dậy, cô nghiêng đầu nói nhỏ:<br />
-Uyên chờ anh ở phòng đọc sách nhé!<br />
Bà Phan đang ăn, ngừng đũa hỏi:<br />
-Con nói gì?<br />
Uyên tỉnh bơ.<br />
-Con nói anh Thăng ăn nhanh lên, con sẽ cho anh ấy biết vận mệnh Cancer của anh theo Horoscope.<br />
-Ðừng nói nhảm. Con đã đưa cái carte postale của bố gửi cho anh ấy chưa?<br />
-Chúa ơi! Con quên mất. Con đi lấy ngay bây giờ!<br />
Uyên bước ra cửa, bà Phan ngó tôi:<br />
-Uyên có làm rộn cháu không?<br />
-Thưa bác&#8230;<br />
-Trông lớn con như vậy chứ còn dại lắm. Ông nhà tôi cứ mắng hoài&#8230;<br />
Tôi nhớ Quỳnh. Tôi thấy mình vô lý nếu cứ chôn chân ở đây. Cái lý do an ninh không đủ sức thuyết phục Quỳnh bởi vì chính tôi cũng không tin lắm vào lý do này. Tôi là người sợ rắc rối. Tôi đang tự mình đi tìm rắc rối.<br />
-Thưa bác, cháu muốn xin phép bác&#8230;<br />
-Cháu cứ nói&#8230;<br />
Bà Phan bỏ đũa xuống.<br />
-Cháu thấy ở đây cháu làm phiền bác quá. Cháu muốn xin phép bác cho cháu dọn ra ngoài&#8230;<br />
-Sao, cháu nói cái gì vậy?<br />
Bà Phan trố mắt ngó tôi:<br />
-Cháu cảm thấy tù túng phải không? Cháu quên những lời dặn của bác trai rồi sao?<br />
-Thưa bác, cháu vẫn nhớ, nhưng cháu cảm thấy xấu hổ, nếu&#8230;<br />
-Ðây, tấm carte postale bố gửi cho anh đây!</p>
<p>Uyên đưa tôi tấm bưu ảnh. HÌnh chụp cảnh bên ngoài tòa Bạch ốc ở Washington D.C. Ở lưng tấm bưu ảnh, ông Phan viết:<br />
“Cháu Thăng,<br />
Vài hàng thăm cháu, cháu còn nhớ hôm cuối bác cháu ta gặp nhau không? Bác chép gửi tặng cháu hai câu thơ trong bài Thục Ðạo Nan của Lý Bạch. Mong cháu bình an.<br />
Thục đạo nan chi, nan vụ thượng thanh thiên<br />
Trắc thân tây vọng trường tư ta&#8230;”<br />
Bà Phan nhìn tôi hỏi:<br />
-Cháu có hiểu bác trai muốn nói gì không?<br />
-Thưa bác, cháu không rõ lắm. Cháu chỉ đoán thôi!<br />
-Ừ! Thì cháu đoán xem nhà tôi viết gì mà khó hiểu vậy?<br />
Tôi kể cho bà Phan và Uyên những điều mà tôi biết về Lý Bạch, một trong những tác giả nổi tiếng đời Ðường, và Thục Ðạo Nan là một trong những bài nổi tiếng nhất của ông. Nhà thơ cảm xúc trước cảnh hiểm trở của xứ Thục, nơi mà Ðường Minh Hoàng phải chạy vào. Ðại ý ông nói đường đi vào đất Thục còn khó hơn đường lên trời xanh. Trên trời thì có núi cao đến nỗi mặt trời phải vướng mà quay trở lại, dưới thì khe suối quanh co nước chảy lộn ngược rất ghê sợ. Cho nên bay cao như con hạc vàng cũng không thể qua, leo giỏi như loài khỉ vượn cũng phải e ngại. Ngày thì cọp dữ, đêm thì rắn dài. Cái xứ ấy tuy có vui thú cũng không bằng sớm sớm về nhà. “Ðường vào xứ Thục khó hơn đường lên trời xanh. Ðành phải nghiêng mình đứng trông về tây mà thở dài.”<br />
-Phải chăng ông nhà tôi đang gặp khó khăn?<br />
-Thưa bác, cháu cũng nghĩ là như vậy!<br />
-Tại sao bố không viết ra là tao đang rắc rối bên này có phải dễ cho cả nhà không?<br />
-Uyên! Bà Phan lên tiếng giận dữ<br />
-Hồi này sao con ăn nói luông tuồng thế?<br />
-Con xin lỗi me!<br />
Uyên vịn hai tay lên thành ghế, đầu cúi xuống. Tôi đứng dậy chào bà Phan trở về phòng.<br />
Tôi rửa mặt thật lâu. Tôi nhìn tôi trong gương. Tại sao Uyên hẹn tôi trong phòng đọc sách? Sao nàng không đến thẳng phòng tôi như nàng đã từng đến? Có phải phòng đọc sách là nơi không ai được lui tới, trừ ông Phan, nay ông đã đi xa và Uyên nghĩ rằng chúng tôi có thể nói chuyện với nhau giữa những cuốn sách trang nghiêm như một người lớn nói chuyện với một người lớn? Nếu đúng là như vậy phải chăng vấn đề đã trở nên trầm trọng? Dù sao, sau cùng tôi quyết định đến thẳng phòng đọc sách. Cửa mở, đèn thắp sáng. Trên bàn giấy ông Phan là cuốn Horoscope in thật đẹp với hàng chữ lớn: Tất Cả Những Gì Bạn Cần Biết Về Tuổi Bắc Giải. Uyên không có ở đó. Tôi ngồi xuống chiếc ghế bành. Trước mặt tôi là bức Tự Họa của Van Gogh. Tôi thấy nhớ ông Phan. Con người phức tạp, thích thơ Lý bạch, ưa tranh Van Gogh, say mê chính trị&#8230;<br />
Tôi không hiểu ông và thực tình mà nói, trong thâm tâm tôi, tôi chưa hề có ý muốn tìm hiểu ông hay bất cứ một ai. Tôi là người thụ động, nhưng tôi có một quan niệm về quyền sở hữu tuyệt đối đặc biệt là trong tình yêu. Khi tôi yêu ai và biết người kia cũng yêu tôi thì tôi cho rằng họ đã là của tôi rồi. Tôi biết là tôi sẽ phản ứng mạnh nếu người đó không thuộc về tôi. Nói cách khác tôi có thể bỏ rơi họ, chứ họ không thể bỏ rơi tôi. Trước tình yêu tôi do dự không phải vì tính toán mà vì sợ bị từ chối. Ðiều ám ảnh tôi chính là tôi luôn luôn có trong đầu cái ý nghĩ một ngày nào đó sẽ hết được yêu. Một ngày đó Quỳnh sẽ bỏ tôi, cả Uyên nữa, nếu yêu tôi, rồi cô cũng sẽ bỏ tôi. Tôi đốt một điếu thuốc. Tôi đi rảo khắp các kệ sách.</p>
<p>Tiểu thư viện ấy đối với tôi thật quá quen thuộc, nhưng lần này, tôi sung sướng khám phá ra ngoài những cuốn hồi ký chính trị và thuật lãnh đạo là cả một kho tiểu thuyết và thi ca. Cuốn Ðường Thi do Ngô Tất Tố phiên dịch nằm bên tập thơ của R.Tagore, ấn bản tiếng Anh.<br />
Bộ Ðông Chu Liệt Quốc, bản dịch của Nguyễn Ðỗ Mục đứng sát cạnh bộ Chiến Tranh và Hòa Bình của Léon Tolstoi&#8230; Nhưng bỗng nhiên tôi nghe mắt mình nặng trĩu. Tôi buồn ngủ. Tôi thèm ngủ. Tôi ra khỏi thư viện kẹp theo cuốn Othello của Shakespeare. Ðèn hành lang đã tắt nhưng ánh sáng phòng bà Phan len qua khe cửa.<br />
Tôi nghe tiếng hai mẹ con nói chuyện.<br />
-&#8230;<br />
-Me không bằng lòng!<br />
-Nhưng con có làm gì không phải đâu!<br />
-Không được cãi bướng. Me chỉ muốn nhắc cho con nhớ là anh Thăng đã có vợ con&#8230;<br />
-Nhưng con đâu có yêu anh Thăng. Me đừng làm con khổ!<br />
-Me bao giờ cũng muốn thấy con của me hạnh phúc. Anh Thăng đã có gia đình. Con có nhận điều này không?<br />
-Nhưng thưa me, anh Thăng đã ly dị.<br />
-Chưa. Tất cả còn ở trong vòng thủ tục. Tuy nhiên con nên nhớ rằng cái việc ly dị hay không ly dị của anh ấy chẳng liên quan gì đến con!<br />
-Nhưng thưa me, bố nói con phải coi anh ấy như một người anh?<br />
-Thì ai cấm cản coi anh ấy như một ông anh, nhưng đừng xen vào đời tư anh ấy!<br />
-Thật con không thể hiểu nổi me, đã xem anh Thăng như một ông anh mà lại phải dửng dưng với cuộc sống anh ấy?<br />
-Uyên! Con có còn là con của me nữa không?<br />
-Thưa me, lúc nào mà con chẳng là con của me?<br />
-Vậy con hãy quên anh ấy đi!<br />
-Me muốn nói anh Thăng là người xấu?<br />
-Không, me không nghĩ thế.<br />
-Me muốn con phải xa lánh anh ấy?<br />
-Không. Me chỉ muốn con đừng yêu anh ấy!<br />
-Nhưng, con có yêu anh Thăng đâu!<br />
-Ðừng dối me. Me hiểu tình cảm con!<br />
-Nhưng me không thấy tình cảnh anh Thăng thương tâm hay sao?<br />
-&#8230;<br />
-Anh ấy đâu có sung sướng gì trong việc phải xa gia đình anh ấy, ngay trong một thành phố mà anh ấy đang sống!<br />
-Nhưng anh ấy có làm cái gì thì phải nhận lãnh hậu quả của mình chứ!<br />
-Thưa me, con sợ me bất công khi chỉ nhìn lỗi lầm của anh Thăng qua mắt một người khác.<br />
-Ai? Con nói người khác ấy là ai?<br />
-Bất cứ ai nói xấu anh Thăng đều như thế!<br />
-Kể cả vợ anh ấy sao?<br />
-Thưa me, phải.<br />
-Me đã gặp chị ấy. Lỗi này hoàn toàn là của anh Thăng!<br />
-Thưa me, chắc bà Lan đã nói với me phải không?<br />
-Bà Lan nào?<br />
-Thì chị Thăng ấy!<br />
-Phải. Chị ấy nói về anh Thăng những điều không thể tưởng tượng nổi!<br />
-Và me tin tất cả những gì bà ấy nói?<br />
-Sao me lại không tin? Còn ai biết rõ người đàn ông hơn là vợ ông ta chứ?<br />
-Thưa me, con cũng đã gặp bà ấy, nhưng con nghĩ khác.<br />
-Con đã gặp chị ấy? Ở đâu? Ðể làm chi? Tiếng bà Phan kinh ngạc thấy rõ. Tôi cũng ngạc nhiên không kém.<br />
-Cách đây ít lâu. Con theo đám bạn đến chơi nhà ở đường Kỳ Ðồng. Cathy Hồng là cousine của bà ấy!<br />
-&#8230;<br />
-Bà cũng xinh xắn dễ thương, nhưng nói xấu chồng theo cái kiểu cả vú lấp miệng em. Con nghĩ rằng nội cái việc bà ấy nói xấu cùng cực về anh Thăng cũng đủ làm con nghi ngờ lời nói bà. Xấu lá thời xấu nem chứ. Phải không me?<br />
-Thì anh Thăng có thế nào chị ấy mới nói thế chứ! Giọng bà Phan dịu lại.<br />
-Thưa me, đám bạn con nói mỗi lần đến thăm bà là mỗi lần được nghe bà ấy nói xấu anh Thăng một kiểu khác nhau, đến nỗi chúng nó bị ám ảnh, ghét cay ghét đắng anh ấy!<br />
-Thế còn con?<br />
-Con nghĩ là con hiểu anh Thăng, mặc dù anh ấy chưa bao giờ nói với con về bà Lan!<br />
-Con hiểu anh Thăng như thế nào?<br />
-Thưa me, con nghĩ khi đời sống gia đình là một địa ngục thì không có lý do gì buộc người ta phải tiếp tục ở cùng dưới một mái nhà!<br />
-Uyên!<br />
-Thưa me,&#8230;<br />
-Con có biết là me yêu con đến chừng nào không?<br />
-Thưa me, con biết.<br />
-Con có muốn làm những điều trái ý me không?<br />
-Thưa me, không bao giờ con dám.<br />
-Vậy con nghe đây. Bao lâu me còn sống, me không muốn con kết hôn với một người đàn ông đã có một lần lập gia đình!<br />
-Thưa me&#8230;<br />
-Thôi con về phòng đi, me mệt. À,&#8230; con lấy hộ me một viên Valium nhé!</p>
<p>Tôi trở về buồng mình, tắt đèn, nằm dài trên giường, mở mắt nhìn bóng đêm. Giấc ngủ không đến với tôi nữa. Trần nhà như một màn ảnh lớn trên đó Uyên, bà Phan, ông Phan, Quỳnh, Ðăng và Mai lần lượt hiện ra riêng rẽ rồi chập lẫn vào nhau. Tôi mong sao trời mau sáng. Tôi muốn ra quán nước sớm để gặp bạn bè.</p>
<p>&nbsp;</p>
<p><b>Chương 12</b></p>
<p>Quán nước sáng nay khá đông. Chiếc bàn mọi khi đám bạn tôi vẫn ngồi đã có người chiếm. Tôi đứng chôn chân ở thềm cửa nửa muốn vào nửa muốn không. Rong một vòng qua các hàng sách, hay đi xem phim? Ừ, biết đâu được, chúng nó chẳng đang ở đó! Khi dợm bước chân ra, tôi nghe có tiếng gọi lớn từ một chiếc bàn tận góc trong.<br />
-Ê, Thăng!<br />
Tôi quay lại.<br />
-Ồ, Vinh! Ông về hồi nào vậy?<br />
-Mấy hôm rồi!<br />
-Sao nghe nói tiểu đoàn ông đang hành quân mà!<br />
-Phải. Ðang hành quân, nhưng tôi thì được lệnh phải về!<br />
-Tại sao?<br />
Vinh nhìn tôi cười. Anh có một nụ cười quá đẹp và quá ngây thơ. Những bông mai màu đen trên cổ áo rằn ri của tiểu đoàn biệt kích Dù không làm Vinh già đi chút nào. Hồi còn học Y khoa Vinh là tay làm báo có hạng. Những bài anh viết không phải chỉ thuần túy khoa học mà luôn luôn chạm đến cái phần nhân bản của Y khoa. “Vấn đề xã hội là hàng đầu của suy nghĩ tôi.” Anh thường nói với bạn bè như vậy. Khi ra trường và được đổi sang phục vụ cho Tiểu Ðoàn Biệt Kích 81 Dù, Vinh viết càng nhiều và càng sắc bén. Những bài của anh đăng trên các tạp chí bao giờ cũng là một ngạc nhiên đầy thích thú cho những ai quan tâm đến các vấn đề thời sự và đời sống chính trị hiện tại. Dưới mắt tôi, Vinh hiện ra như một người trí thức trẻ đi săn tìm lý tưởng tuyệt đối không hề mỏi mệt.<br />
-Ðến đây ngồi với tôi uống cái gì đi. Ðược không?<br />
-Xong rồi!<br />
Tôi theo Vinh đến bàn anh.<br />
-Ông tìm ai vậy?<br />
-Không hẹn ai. Chỉ tìm bạn bè vì thói quen thôi!<br />
-Cà phê nhé?<br />
-Ừ, thì cà phê!<br />
Vinh ra dấu gọi thức uống. Anh cười, tôi thấy da mặt anh trắng hồng như con gái. Những chuyến hành quân trên các buôn Thượng, những đụng độ ở mặt trận quân khu hai kéo dằng dai hơn cả tháng trời không làm cho da mặt anh sạm đen đi tí nào. Tóc Vinh cắt cao, đầu tròn, mắt sáng chiếu thẳng vào người đối diện. Anh nói nhỏ nhẹ nhưng thái độ dứt khoát và quyết liệt. Tôi thường nói đùa “Vinh là lương tâm của tôi.” Thực ra điều này cũng chẳng có gì quá đáng. Công bình mà nói anh còn có thể được xem là lương tâm cho nhiều người khác nữa kia.<br />
Tôi nhìn Vinh, lập lại câu hỏi lúc nãy.<br />
-Lệnh thuyên chuyển về Sài Gòn hả?<br />
-Không. Tôi bị gọi về hầu tòa!<br />
-Hầu tòa? Ông làm cái gì mà phải hầu tòa?<br />
Vinh lại cười. Anh giở chiếc nón màu xanh lá cây úp trên mặt bàn, kéo một tờ tạp chí, đẩy về phía tôi.<br />
-Ðó! Lý do hầu tòa là cái đó!<br />
Tôi mở trang báo. Hàng tít lớn với dòng chữ “Mặt Trận Ở Sài Gòn.” Kẹp vào trang có đi bài là cái trát gọi hầu tòa ghi tên Vinh. Tôi đọc qua trát lệnh, rồi lướt mắt trên bài viết của Vinh.<br />
-Cho tôi mượn tờ báo được không?<br />
-Ðược. Ông cầm lấy. Tôi còn mấy cuốn ở nhà. Nhưng thôi, không phải nói chuyện đó nữa. Việc gì đến tức khắc sẽ đến.<br />
Còn ông thế nào? Hồi này đời sống ra sao?<br />
-Ai? Tôi hả?<br />
-Chứ còn ai? Nghe nói ông bây giờ là người thân của cụ Phan phải không?</p>
<p>Tôi hơi ngần ngừ trước câu hỏi đột ngột của Vinh. Tôi biết tính anh ít nói về những gì liên quan đến đời tư của bạn. Anh không ưa tò mò và không bao giờ là người tọc mạch soi mói. Anh là một nhà thực nghiệm. Anh không tin những gì anh chỉ nghe bằng tai.<br />
-Phải. Nhưng ai đã cho ông biết tin này?<br />
-Hôm qua đến tòa báo về vụ ra tòa, tôi có gặp mấy bạn quen, thấy chúng nó nói vậy!<br />
-Họ nói sao?<br />
-Chúng nó nói ông sẽ là bí thư trẻ tuổi nhất của cụ Phan!<br />
Tôi bật cười:<br />
-Ðứa nào ác mồm ác miệng quá thế! Ông Phan đi Mỹ rồi mà!<br />
-Ừ, thì cụ Phan đi Mỹ, nhưng cụ sẽ về chứ? Ông là người trong nhà, ông không thấy địa vị nào dành cho cụ Phan trong ngày trở lại sao?<br />
-Tôi không nhìn thấy địa vị nào dành cho ông Phan, mặc dù tôi biết ông đang giữ một vai trò quan trọng trong sinh hoạt chính trị ở đây!<br />
Nhân viên nhà hàng đem cà phê cho tôi. Vinh vừa đẩy hũ đường vừa nói:<br />
-Cà phê ở đây dở quá, có thể nói là dở nhất Sài Gòn. Trên đường hành quân tôi biết có mấy quán lụp xụp tồi tàn bên đường thế mà cà phê ngon tuyệt, ngon không thể nào tả được!<br />
Tôi kéo Vinh trở lại câu chuyện cũ:<br />
-Ông thấy ông Phan là người như thế nào?<br />
Vinh nhìn tôi, vẻ sửng sốt:<br />
-Sao ông hỏi tôi câu đó? Hơn ai hết, ông phải là người biết rõ cụ Phan chứ?<br />
Trời ơi, bây giờ đến lượt Vinh, anh ấy mà còn ngộ nhận về mối quan hệ thân thiết giữa ông Phan và tôi thì còn ai tin được những đính chính của tôi?<br />
-Ông có muốn nghe tôi giải thích không?<br />
-Hồi này ông làm sao thế?<br />
-Tôi được đề nghị để được coi như một người thân trong gia đình ông Phan.<br />
-Chắc là phải có lý do chứ?<br />
-Giữa ông Phan và cha tôi có một liên hệ đồng đội từ xưa mà tôi không rõ? Mặc dù tôi biết một cách tình cờ rằng mối liên hệ ấy có thực.<br />
Chợt Vinh chỉ vào cái băng đen trên túi áo tôi, hỏi một câu bất ngờ:<br />
-Ông để tang ai vậy?<br />
-Cha tôi!<br />
-Kìa, ông cụ mất hồi nào sao tôi không nghe biết chi hết!<br />
-Cũng lâu rồi. Có hơn năm nay. Chắc lúc đó ông bận hành quân!<br />
-Thế ông có thấy cụ Phan trong đám người đưa tiễn không?<br />
-Không rõ. Tôi về đến nơi thì mọi sự đã xong cả rồi.<br />
-Lạ nhỉ?<br />
-Nhưng tôi thấy ông Phan có cả bộ ảnh chụp hôm đám tang. Ông Phan biết là tôi đã không có mặt trong những giây phút cuối của cha tôi.<br />
Vinh bỗng lái câu chuyện sang một hướng khác.<br />
-Vẫn ở chỗ cũ chứ?<br />
-Không! Tôi ngập ngừng.<br />
-Tôi đã bỏ đường Kỳ Ðồng hơn một năm nay.<br />
Tôi tự hỏi có nên nói cho Vinh biết chuyện gia đình mình hay không? Trước kia Vinh và các bạn anh ở Tiểu đoàn Dù có đến ăn cơm nhà tôi mấy lần. Ai cũng nói tôi là một người hạnh phúc. Ðông, sếp lớn của Vinh nói nếu tôi đừng “bị” biệt phái có lẽ tôi là người hạnh phúc hơn. Chưa đụng nhau trên một chiến trường có súng đạn, có máu đổ và có người chết, tôi vẫn đang còn là một thiếu sót lớn. Thứ triết học nhà trường mà tôi đã được nhập môn, cả thứ triết học mà một vài ông nào đó tự nhận là triết gia khi mới lõm bõm chữ nghĩa trong đầu qua một vài cuốn sách&#8230; chỉ là bọt bèo và rác rến của thứ “tư tưởng” đã mòn nhẵn. Vâng, có lẽ thế. Ðông nói đúng. Tôi là một người hạnh phúc khốn khổ.</p>
<p>Tôi lấy gói thuốc, bốc một điếu chìa về phía Vinh.<br />
“Không. Tôi không hút thuốc.”<br />
“Không hút thuốc, không uống rượu. Ông là một chiến sĩ đầy thánh tính.”<br />
“Sao ông không nói thêm rằng tôi còn là một người rất ghét cờ bạc và trai gái?”<br />
“Cờ bạc thì tôi biết là ông không ưa từ lâu. Còn phụ nữ, tôi xin mở một dấu ngoặc!”<br />
“Ông có thể bỏ cái dấu ngoặc ấy được!”<br />
“Vậy thì ông là một vị thánh lạc loài giữa rừng gươm bể giáo!”<br />
“Tôi không thích làm ông thánh. Tôi là một con người bình thường. Tôi có một tình yêu, ông biết. Nhưng tôi chưa muốn<br />
tiến tới hôn nhân. Có rảnh rỗi, chiều mai ăn cơm với chúng tôi?”<br />
“Ở đâu?”<br />
“Gần đây. Quán Ngọc Hương ở đường Gia Long. Cơm Bắc Kỳ, không biết cô Uyên của ông có thích không?”<br />
Vinh nhắc đến Uyên chừng như anh biết có một mối tình giữa hai chúng tôi.<br />
“Trời đất! Sao lại có vụ cô Uyên trong đó vậy?”<br />
“Cô ấy là người Nam phải không?<br />
“Không. Ông Phan là người Trung nhưng bà Phan là người Bắc.”<br />
“Người ta nói cô Uyên đẹp lắm, ông thấy có đúng không?”<br />
“Xinh thì đúng. Nhưng&#8230;, thôi tôi không đính chính đâu. Tôi biết ông ghét giải thích.”<br />
Vinh cười. Anh uống một hớp nước ngọt.<br />
“Thăng. Không cần chúng nó nói mới biết. Tôi thấy ông thay đổi nhiều.”<br />
“Thật sao? Tôi thay đổi gì?”<br />
“Ông vẫn cười giòn nhưng không vui. Da mặt sạm đen, xấu hơn, khác với màu đen vạm vỡ mà ông vốn có. Ông hết tin đời và tin người rồi phải không?”<br />
“Phải. Bây giờ tôi sống tạm bằng hoài nghi.”<br />
“Hoài nghi mà sống có khá không?”<br />
“&#8230;”<br />
“Vậy thì tôi nói đúng nhé! Khao gì nào?”<br />
Tôi vẫn không muốn trả lời các câu hỏi của Vinh.<br />
“Bao giờ xong vụ ly dị?”<br />
“Coi như là xong.”<br />
“Nếu bỏ qua cái lý ở Tòa án, chỉ xét về tình thì phần lỗi về phần ai? Thăng giận mình không, nếu mình hỏi như vậy?”<br />
Tôi không giận Vinh, nhưng câu hỏi ấy làm tôi bối rối. Lỗi về ai? Mọi người đâu cần suy nghĩ cũng thấy rõ là lỗi ấy về phần tôi. Tại sao? Cũng dễ hiểu thôi. Chị ta hiền lành như thế, nết na như thế, phúc hậu như thế. Còn tôi mặt mũi du côn, du kề, tính tình lang bạt, ngang chướng, bạn gái bạn trai thôi thì đủ loại. Một người như thế dẫn đến một tình trạng gia đình như thế. Sao lại là một kẻ vô tội được. Tôi nhìn chăm mắt Vinh. Từ lâu anh vẫn là người mà tôi tin cậy có thể nói hết những gì chân thật nhất mà đối với kẻ khác tôi vẫn giấu giếm. Vả lại, Vinh vốn có khả năng làm cho người đối diện anh bối rối ngay khi họ muốn che đậy sự thật. Tuy vậy tôi vẫn hỏi anh.<br />
“Trước hết ông có tin tôi không đã?”<br />
“Ðừng hỏi tôi câu đó. Tôi tin ông.”<br />
“Vậy thì lỗi ấy chắc chắn không ở về phía tôi!”<br />
“Thế còn con cái?”<br />
“Tất cả rắc rối là ở chỗ đó. Tôi muốn giáo dục con cái theo cách của tôi. Nhưng còn mẹ chúng nó? Có thể nào tách một<br />
đứa còn quá nhỏ ra khỏi tay người mẹ không?”<br />
“Có thể. Nếu người mẹ ý thức được sự bất lực của mình trong việc giáo dục đứa trẻ. Trong hai người, bà mẹ dễ làm hỏng đứa con hơn người cha. Nhưng trong hai người thì cha chăm sóc con dở hơn bà mẹ. Thăng, tôi tin ông. Ngày mai tôi ra tòa. Nếu không có gì trục trặc, ngày kia tôi trở về đơn vị.”<br />
“Cám ơn Vinh!”<br />
Tôi đứng dậy cầm tay anh. Sự hiểu biết của anh làm tôi cảm động. Anh không cần tôi giải thích những đổ vỡ và lỗi lầm.<br />
Anh cũng chẳng cần xoi mói vào đời sống tôi. Nhưng tôi tin là anh hiểu tôi, mặc dù chưa bao giờ chúng tôi nghĩ rằng hai chúng tôi là đôi bạn thân tình. Thỉnh thoảng chúng tôi gặp nhau uống một ly nước, họa hoằn lắm mới ăn với nhau một bữa cơm. Hoàn toàn là riêng rẽ, hai người với nhau. Tôi tin cậy Vinh như tin cậy một người lớn tuổi; nhưng tôi rõ là Vinh ít tuổi hơn tôi. Tính bộc trực của anh dễ làm tan những lớp sơn giả dối của kẻ khác.</p>
<p>Tôi hỏi Vinh về vụ án bài báo.<br />
“Ông buồn hay vui khi ra hầu tòa?”<br />
“Ngạc nhiên thì đúng hơn!”<br />
“Muốn một bản án như thế nào?”<br />
“Khó nói quá! Nhưng tôi muốn nói ngay tại tòa rằng Mặt trận ở Sài gòn khó chiến đấu hơn mặt trận ở Cao nguyên mà tôi đang hành quân. Dẹp được mặt trận Sài gòn quân lực Việt Nam Cộng Hòa sẽ chiến thắng mặt trận Cao nguyên.”<br />
“Thôi, tôi chúc ông như ý!”<br />
“À, đừng quên tối mai ở quán Ngọc Hương nhé!”<br />
“Xong rồi!”<br />
Tôi mở cửa kính bước ra ngoài.<br />
Nắng Sài gòn vẫn chói chang.</p>
<p>&nbsp;</p>
<p><b>Chương 13</b></p>
<p>Sinh hoạt trong thành phố có vẻ như đang lấy lại phong độ. Con đường chính đã đầy kẻ mua người bán. Từ chợ Bến Thành đi ngược về tòa nhà Quốc Hội, dọc theo đường Lê Lợi là vô số hàng Mỹ bày trên lề đường hay trên các sáp gỗ. Người đi bộ chen nhau qua lối nhỏ, đôi khi giẫm lên cả những cuốn sách bán “xôn” rải đống trên mặt đất. Những tạp chí Playboy, Penthouse số mới nhất in hình phụ nữ lõa thể màu sắc rực rỡ, bên cạnh những tác phẩm văn học dịch từ tiếng nước ngoài như Ðỉnh Gió Hú, Cuốn Theo Chiều Gió, Hãy Khóc Ði, Hỡi Quê Hương Yêu Dấu!&#8230; Sạp vải vóc bên sạp quần áo cũ. Thuốc tây và dụng cụ y khoa bày la liệt giữa trời chịu nắng và hứng bụi đường&#8230;<br />
Tôi dừng lại ở một hàng sách cũ. Chủ quán là một người Hoa quen. Tôi đã mua sách ở đây nhiều lần. Ông ta không đọc được tiểu thuyết bằng tiếng Việt, nhưng ông ta bán sách theo cái cách riêng của ông.<br />
Ông cho tôi biết là ông định giá sách theo đôi mắt của khách. Nếu khách mua sách mắt sáng lên về một cuốn đang cầm tay, điều đó có nghĩa là ông có thể bán được giá cao. Còn ngược lại, thì cứ thế mà bán. Tôi luôn luôn được ông dành cho quyền ưu tiên xem trước những cuốn mới nhất &#8211; và hưởng giá rẻ đặc biệt. Tôi đưa tay ra dấu chào ông. Và ông mở thùng giấy lục cho tôi một cuốn sách mới.<br />
“Thuyền của Quỳnh Giao?”<br />
‘Không!”<br />
“Song Ngoại?”<br />
Tôi lắc đầu.<br />
“Hải Âu Phi Xứ?”<br />
Tôi xua tay.<br />
“Lưỡi Dao Cạo?”<br />
Tôi ra dấu cho ông ta gói sách. Tôi trả tiền, kẹp sách vào nách và đi ngược đường đến quán nước. Nắng chói và hơi người làm tôi khó chịu. Tự nhiên tôi thấy mệt, hơi thở nặng, chân đi không vững nữa.<br />
Quán nước đông khách, nhưng không có Nhật, Tâm, Phùng. Tôi trở lại Nguyễn Huệ, đi qua những kiosque gỗ bán hoa. Tôi thấy tôi đứng trước một cao ốc nơi Quỳnh làm việc. Tôi đẩy cửa kính bước vào.<br />
Quỳnh đã nhìn thấy tôi và tôi nghe tiếng nàng kêu hốt hoảng.<br />
“Trời. Anh làm sao thế nảy?”<br />
“Tôi đến thăm em mà!” Tôi hơi ngạc nhiên về tiếng kêu của Quỳnh.<br />
“Sao mặt anh tái xanh thế?”<br />
“Ðâu? Tôi có gì đâu!”<br />
“Anh ngồi xuống đây đi!”<br />
Quỳnh đẩy tôi ngồi xuống ghế của khách hàng trước bàn, lấy khăn thấm mồ hôi trên trán tôi.<br />
“Trời ơi, anh ốm thật rồi đây này! Người nóng như lửa thế kia mà không sao. Anh chờ em!”<br />
Quỳnh bước vào bàn trong. Cô nói gì đó với một ông lớn tuổi đeo kính cận. Sau cùng Quỳnh trở lại bàn giấy thu xếp hồ sơ và quàng sắc lên vai.<br />
“Ði anh. Em đưa anh về!”<br />
“Về đâu?”<br />
“Anh muốn về đâu?” Quỳnh khựng lại.<br />
“Về đằng em đi!”</p>
<p>Ngồi trên taxi, Quỳnh đan những ngón tay cô lên tay tôi. Ðôi mắt cô không vui. Cô quay cửa kính lên và thúc xe chạy nhanh hơn. Nỗi lo âu của Quỳnh làm tôi thấy mình nhỏ lại.<br />
Tôi là đứa bé sớm xa gia đình. Năm lên sáu tuổi đã chạy giặc Pháp, lạc trong rừng sâu. Cha tôi thì bặt vô âm tín, còn mẹ tôi thì tay xách nách mang hai đứa em tôi. Hồi đó tôi đã tự tìm cách sống giữa lũ trẻ chăn trâu dưới chân ngọn núi Hòn Bò. Người chủ trại, ông Năm Ngũ, có căn nhà tranh bên bờ suối và người giúp việc tên Thằng Ðược &#8211; anh khoảng mười lăm, mười sáu tuổi và là người Thượng. Bà Năm Ngũ đã lượm được trong rừng khi bà theo ông Năm đi rẫy, vì thế bà đặt anh tên Ðược. Tôi sống ở đây không bao lâu thì được một tiểu đoàn Biệt Ðộng Lê Dương hành quân qua đây, và một người lính già lượm tôi đem về nuôi. Tôi đã sống như một đứa con hoang tự tìm lấy miếng ăn. Khi người lính lê dương già trả tôi về với gia đình, tôi trở thành một đứa bé có trách nhiệm với hai đứa em. Tôi phải chăm sóc chúng mọi thứ và nhất là không để cho chúng khóc. Mẹ tôi ghét nghe tiếng khóc. Bà có một hàng chạp phô nhỏ, buôn bán đổi chác với đám người từ các làng quê gần đó xuống thị trấn mỗi sáng.<br />
Chưa đầy mười tuổi tôi đã trở thành một “cậu nội trợ” bất đắc dĩ. Khi việc buôn bán của mẹ tôi bắt đầu kha khá, bà thuê người làm và cho tôi đi học trở lại. Tôi là đứa học sinh lớn tuổi nhất và to xác nhất trong lớp. Nhưng nhờ các vốn chữ nghĩa vơ được từ những ngày theo người cha nuôi tôi học nhanh, đổi lớp giữa niên học, được thầy giáo khen giỏi và bị tụi bạn ghen tị. Thị trấn tôi sống lúc bấy giờ là một quận nhỏ nằm trên ngã ba của trục quốc lộ số một và mười ba.<br />
Một hôm mẹ tôi gọi tôi ra ngoài cửa hàng, nói với tôi bằng một giọng đầy nước mắt là đã đến lúc tôi phải tự lo liệu lấy đời sống của tôi, bởi vì mẹ còn phải nuôi mấy em nhỏ, cha tôi thì say sưa tối ngày, không đưa tiền mua rượu cho ông thì ông chửi, nhưng nếu mua rượu cho ông rồi ông uống xong ông cũng chửi. Bà nói, “Nếu con giúp mẹ một tay để nuôi các em càng tốt, nhưng con còn nhỏ quá, con phải đi học để có chút chữ nghĩa trong bụng làm vốn mà sống chớ bắt con ở nhà thì mẹ không đành.”<br />
Sau đó, với một số tiền nhỏ dắt túi, bà mang tôi vào Nha Trang, quê hương của cha tôi, gởi tôi cho ông chú bà thím và bỏ tôi ở đó. Chú tôi là một công chức có địa vị lão làng ở tỉnh. Nhà chú đông con, thím tôi thì bệnh tật rề rề, một mình chú nuôi đàn con đã khốn khổ lại phải gánh thêm một miệng ăn là tôi, càng làm chú thím tôi vất vả thêm. Cho nên tôi tiếp tục đóng vai đứa bé vừa đi vừa hôn lên vết thương trên bả vai mình vì biết rằng chẳng ai thương ta. Và bãi cát trắng, những cây dừa, biển xanh luôn luôn là bạn trung thành nhất đời tôi. Có những trưa trốn học tôi ngồi ở biển nghe tiếng sóng vỗ vào bờ như những tiếng thì thầm vô tận của một người đàn bà đang yêu. Từ nhà Bưu điện, tôi lội trên cát đi mãi xuống qua Hotel Beau Rivage. Gió biển mát làm no buồng phổi nhưng dạ dày tôi thường là lép kẹp. Tôi chui vào những bụi dương nằm ngủ quên trên những tờ báo. Tôi đọc tiểu thuyết Nhất Linh, Khái Hưng, tùy bút Nguyễn Tuân&#8230; Tôi mê thơ Huy Cận, Ðinh Hùng&#8230; Những bài thơ thời kháng chiến chống Pháp của Quang Dũng, Hữu Loan, Yên Thao, Hoàng Cầm&#8230; cũng làm tôi ngất ngư. Văn chương ấy, thiên nhiên ấy nuôi tôi bằng mơ mộng. Tôi lớn lên bằng những thực phẩm là gió biển, là truyện và thơ. Tôi thụ động tiếp nhận thứ món ăn vốn không làm no ai&#8230;<br />
Và như thế, tôi tiếp tục lớn lên cho đến khi vào đại học, tới một thành phố xa hơn, lớn hơn, học những môn học phức tạp hơn, gặp nhiều điều xằng bậy hơn, tôi vẫn đi một mình, đến một mình, tự lo lấy quần áo mà mặc, tự lo lấy sách vở mà học, tự tìm lấy cách sống mà sống. Tôi là con thú hoang, tự chiến đấu để sinh tồn, tự liếm vết thương trên thân thể mình do kẻ khác gây ra để chữa trị. Cho đến khi tôi gặp Lan. Tôi nhìn thấy cái phúc hậu bên ngoài của chị ta, tôi nhận thấy được sự chăm sóc có phần quá đáng của chị cộng với cái khí hậu lạnh lẽo của một thành phố miền núi, tôi hiểu thế nào là nỗi cô đơn và sự cần thiết phải có một người khác phái bên cạnh mà từ lâu tôi thiếu. Chúng tôi đi lại với nhau, lén lút như hai kẻ ngoại tình, mặc dù chúng tôi còn đang ở năm thứ ba đại học và chưa ai có một cuộc sống gia đình. Tôi sợ bạn bè biết, sợ giáo sư biết. Tôi sợ tất cả các con mắt dòm ngó của mọi người lên đời sống của chúng tôi.</p>
<p>Tại sao lại có cái thứ tình ái đầy bóng tối như thế? Tại sao có được tình yêu trong tay mà tôi không hãnh diện ngửng mặt nhìn trời. lại cúi mặt xuống đất mà đi?<br />
Hồi đó tôi không hiểu, nhưng giờ thì tôi đã rõ. Cuộc sống chung cho tôi biết một sự thực là cô ta cần được tôi chiều chuộng hơn là chiều chuộng tôi. Cô ta chờ đợi nơi tôi những gì tôi đang chờ đợi nơi cô. Rốt cuộc cả hai chúng tôi đều mong đợi kẻ khác chăm sóc và sự chờ đợi ấy không bao giờ trở thành hiện thực.<br />
Buổi sáng dậy sớm trước khi đi làm, tôi phải tự pha lấy cà phê mà uống, tự mua lấy bánh mì điểm tâm. Buổi tối về phải tự mở cửa để vào, tự nấu nước lấy mà tắm, tự lục cơm nguội mà ăn. Bởi vì cô ta đã đi ngủ và người giúp việc cũng không buồn thức dậy.<br />
Tôi là người khách lạ trong gia đình do chính hai bàn tay tôi gây dựng nên. Tôi đâu có khác gì cái tôi ngày trước khi đi lang thang trên bãi biển Nha Trang tự hôn lấy vết thương trên bả vai mình.<br />
Tôi là một người chồng-độc thân! Cô ta có ghé mắt vào đời sống tôi không? Chắc là có! Nhưng hình như cô ta vẫn còn tiếp tục chờ đợi. Tôi biết rằng cô ta sẽ hoài công chờ đợi. Sợi dây căng ra mãi, quả bóng cứ bị ép xuống mãi, có ngày dây phải đứt, quả bóng phải vỡ. Ðó là chưa kể mối liên hệ mong manh kia còn bị cứa đi cứa lại bởi những con dao oan nghiệt và sự thể phải xảy ra đã xảy ra.<br />
Và bây giờ đây Quỳnh không chỉ chăm sóc tôi, cô còn lo âu cho đời sống tôi. Những giọt nước mắt âm thầm của cô ứa ra trên đời sống tôi là cái giá mà tôi không làm sao mua được. Cả Uyên nữa! Cô đâu chăm sóc tôi như một người em lo cho ông anh. Cô chính là bà mẹ ở cái tuổi mà cô chỉ có thể làm một cô gái ngây thơ.<br />
-Em không phải lo cho tôi nữa. Tôi khỏe rồi!<br />
-Nhưng anh xanh như thế này!<br />
-Mình đi chơi đâu đi, Quỳnh!<br />
-Ði chơi? Không được. Anh phải về nhà em cạo gió cho anh. Em biết có bà thầy gừng đánh gió giác hơi hay lắm. Nhé?<br />
-Không có gừng nghệ gì hết cô bé ạ! Tôi khỏe rồi! Mình đi uống cà phê đi!<br />
-Không được. Anh phải về nhà. Em cũng cần nói chuyện với anh! Quỳnh khăng khăng giữ ý định của mình.<br />
Phòng thơm nức mùi dâu tươi, Quỳnh kéo rèm, mở cửa kính, căn phòng sáng hẳn ra. Tôi đứng ở cửa sổ ngó qua rạp Rex. Phía tay trái là bồn nước có vòi phun và mấy cây liễu rũ ngọn, chỗ giáp nhau của đường Lê Lợi và Nguyễn Huệ. Tiệm Pole Nord ở góc ngã tư, nơi tôi vẫn hẹn Quỳnh.<br />
-Em làm cocktail dâu cho anh nhé!<br />
Tôi quay vào, để nguyên giầy, nằm lên giường Quỳnh. Gối chăn cô thơm phức. Tôi vùi đầu xuống nệm. Tôi muốn ngủ một giấc. Nhưng tôi thèm muốn Quỳnh. Tôi gọi Quỳnh. Cô đang rửa dâu, cắt khóm tách nho, rắc đường ngâm rượu vang.<br />
-Anh gọi em?<br />
-Ừ. Em đến đây với anh?<br />
-Không!<br />
-Tại sao?<br />
-Anh đang ốm! Vả lại em chỉ muốn nói chuyện với anh thôi!<br />
-Thì em đến với anh hẳn rồi nói!<br />
-Không! Em ngồi đây nói cũng được! Quỳnh thu mình trong chiếc ghế bành.<br />
-Hãng vừa đưa vé chuyến đi Âu Châu cho em?<br />
Hôm trước nghe Quỳnh nói tôi tưởng hãng chỉ thăm dò nhân viên, nên bây giờ tuy Quỳnh nói một điều đã được biết trước mà tôi vẫn ngạc nhiên.<br />
-Em thích không?<br />
-Anh có muốn em đi không?<br />
Tôi trả lời không suy nghĩ.<br />
-Sao tôi lại ích kỷ đến nỗi không muốn em vui chơi một chuyến? Tôi biết em đã từng ao ước một chuyến đi chơi xa như thế phải không?<br />
-Phải. Nhưng bây giờ em không còn cái ý thích đó nữa.<br />
Tôi nhổm dậy.<br />
-Sao, em nói cái gì vậy?<br />
-Em nói là bây giờ em không còn cái ý thích đó nữa.<br />
-Tại sao? Cái gì làm em thay đổi vậy?<br />
-Em muốn biết ý kiến của anh!<br />
-Ý kiến của tôi là: không nên bỏ qua cơ hội. Nhưng bao giờ thì em đi!<br />
-Ðầu tháng tới.<br />
-Em sẽ mang gì về cho tôi?<br />
-Như vậy là anh muốn em đi, phải không?<br />
-Tôi có không muốn cũng chẳng được! Tôi nói mà vẫn không hiểu ý Quỳnh.<br />
-Ðược chứ anh! Nếu anh không muốn em đi, em sẽ không đi!</p>
<p>Câu nói của Quỳnh làm tôi hụt hẫng.<br />
-Tại sao lại có cái ý muốn kỳ quái như thế mới được chứ? Em từng nói với tôi là em ao ước được du lịch một chuyến, và giờ đây cơ hội ấy đến mà em lại hủy bỏ vì ý kiến một người khác!<br />
Quỳnh đứng dậy đến chỗ tôi nằm. Cô áp mặt mỉnh lên mặt tôi, hai tay cô vòng lấy người tôi.<br />
-Em sẽ nhớ anh lắm, bởi vì nếu em đi, em sẽ không bao giờ trở lại.<br />
-Em trốn ai?<br />
-Trốn anh! Anh lửng lửng lơ lơ, anh không có tình yêu. Còn em, lòng em luôn luôn tưởng nhớ anh!<br />
-&#8230;<br />
-Anh Thăng? Cái gì đã làm anh thành một con người khủng khiếp như thế?<br />
Bỗng nhiên tôi cáu lên.<br />
-Cái gì à? Chính đời sống tôi, những kẻ quanh tôi, cái bọn đạo đức giả ấy làm tôi phát tởm!<br />
-Còn em? Anh không thấy là em đã thuộc về anh sao? Anh thay đổi nhiều quá, anh đã là một người lạ,<br />
Tôi ôm chặt Quỳnh. Tôi hôn cô, dụi đầu vào ngực cô.<br />
-Em rắc rối quá! Trước kia em giản dị bao nhiêu!<br />
-Tại sao anh không muốn có em bên cạnh?<br />
-Ai nói với em là tôi không muốn có em bên cạnh?<br />
-Anh chứ còn ai! Anh muốn em đi xa, anh không còn yêu em. Có phải Uyên đang làm anh nhức đầu không?<br />
-Em tin như vậy sao?<br />
-Em tin như vậy. Trực giác của em nói nói với em như vậy!<br />
-Em có một thứ trực giác kém vô cùng!<br />
Tôi lật ngửa Quỳnh. Tôi hôn cô cuồng loạn. Hơi lưỡng lự phút đầu, nhưng sau đó Quỳnh hưởng ứng cùng tôi một cách nhiệt tình. Ngực cô săn cứng, thân thể cô mềm mại. Tôi bước vào da thịt Quỳnh với tất cả sức mạnh của tuổi thanh xuân.<br />
-Thăng ơi! Thăng!<br />
Tiếng kêu của Quỳnh làm tôi bủn rủn tứ chi. Tôi thấy tôi chạy phăng phăng trên một con đường rộng, gió thổi tung tóc tôi ngược về phía sau, những sợi tóc bị gió kéo mỗi lúc một dài ra, dài mãi như một dải lụa đen, bung ra như một cuộn khói và sau cùng biến thành đám mây. Tôi thấy tôi nhẹ phơi phới. Tôi giang hai cánh tay rộng như chim nhảy từ đỉnh núi cao xuống mặt biển xanh dưới kia. Tôi bay như chim, bay hoài, bay hoài không biết mệt. Tôi thấy đôi mắt Quỳnh mở lớn, nụ cười hai lúm đồng tiền, chiếc răng khểnh. Tôi thấy rõ những sợi lông màu đậm trên mép cô.<br />
Có lúc tôi nghe cánh tay trái tôi trĩu xuống và tôi thấy Uyên đu đưa trên đó, tóc nàng dài mướt quấn khắp mình tôi như những sợi rong biển. Có lúc tóc cô là một con trăn dài siết chặt tôi và nuốt chửng tôi. Tôi nghe thân thể tôi nặng nề. Tôi có cảm tưởng hai cổ chân tôi bị ghìm xuống. Tôi nghe toàn thân tôi chạm vào một thảm cỏ, đầu kéo lướt trên những cành lá mềm. Tôi nghe tiếng mưa rơi ào ạt. Tôi chạm tay lên đồi núi và khe suối cỏ mượt của Quỳnh. Tôi đã rã rời. Quỳnh choàng tay qua người tôi.<br />
-Thăng! Thăng.<br />
Tiếng kêu của cô như vang lên từ một cõi nào xa lắm. Tôi lịm xuống. Và mây, và mưa, và một cõi đá vàng đã hết. Tôi không đủ sức để ôm Quỳnh. Tôi muốn ngủ, nhưng tôi biết tôi không thể ở lại. Tôi phải trở về căn phòng của tôi, dù tôi biết là trời đã khuya lắm, khuya lắm thật rồi.</p>
<p>&nbsp;</p>
<p><b>Chương 14</b></p>
<p>Ở nhà Quỳnh ra, đã khuya, tôi tấp vào một hàng bánh mì đêm trên đường Lê Lợi. Tôi không đói, nhưng biết chắc chắn là đêm nay thế nào tôi cũng sẽ thức khuya. Những điều Quỳnh nói với tôi hồi chiều làm tôi khó nghĩ. Rồi Quỳnh cũng sẽ bỏ tôi mà đi sao?<br />
Trước mặt hay sau lưng tôi, bên phải hay bên trái tôi, bây giờ có còn ai. Quỳnh và Uyên có yêu tôi thực không? Hay đó chẳng qua chỉ là ảo tường. Dù sao những người đàn bà ấy đã đến với tôi, nhắc cho tôi biết rằng mình vẫn còn là một sinh vật, giống như những sinh vật khác, đeo trên mặt chiếc mặt nạ có khuôn mặt người. Mà một sinh vật thì dù sao cũng cần có chất dinh dưỡng để sống chớ!<br />
Nhưng ngay khi tôi vừa mở miệng hỏi mua bánh thì một người đàn ông từ trong bóng tối của một chái hiên bước ra, nắm lấy tay tôi.<br />
-Tôi có chút chuyện muốn bàn với ông!<br />
Giọng nói hắn khá lịch sự, nhưng bàn tay hắn nắm chặt tay tôi, chặt một cách sỗ sàng.<br />
-Ơ!<br />
Tôi kêu lên, ấp úng. Tôi không hiểu gì hết. Thoạt đầu tôi có hơi ngạc nhiên, nhưng liền ngay đó là cái cảm giác sợ hãi chạy khắp châu thân. Tôi nghe như có một khối đá đang đè trên lồng ngực tôi. Tôi lạnh cóng.<br />
Người đàn ông nhìn thẳng vào mặt tôi. Ngọn đèn vàng của xe bánh mì chao qua chao lại soi không rõ lắm một khuôn mặt chữ điền, cằm bạnh, hai con mắt to, chân mày rậm, gò má nhô xương, mũi gãy. Hắn cao ngang tôi, nhưng vạm vỡ hơn nhiều.<br />
-Ông nghĩ là tôi lầm người, phải không ông Thăng?<br />
Ngừng một lát, như để dò phản ứng tôi, hắn tiếp:<br />
-Nhưng ông thấy đó, tôi không lầm đâu!<br />
Hắn cười sau câu nói. Tiếng cười nhỏ giữa một đêm Sàigòn vắng vẻ trên một đường phố chính mang đầy vẻ hăm dọa.<br />
-Lối này, ông Thăng!<br />
Hắn đi những bước dài, và gần như là lôi tôi theo hơn là để cho tôi tự do đi.<br />
Ðến đường Nguyễn Trung Trực, hắn rẽ phải và sau cùng đẩy tôi lên chiếc jeep đậu sẵn trước nhà hàng Thanh Thế.<br />
-Ông đi đằng này với tôi!<br />
Hắn nói tự nhiên như đang trò chuyện với một người bạn thân. Ngồi vào xe, hắn cho máy nổ, nhấn ga vọt tới. Chiếc xe chồm về trước, giật mạnh rồi đột ngột thắng gấp. Ðầu tôi như muốn đập vào thành kính.<br />
-Chắc cô Uyên và bà Phan đang lo cho ông lắm!<br />
-A! Tôi kêu lên, mừng rỡ. Nỗi lo sợ như vừa được cất đi khỏi buồng ngực tôi. Tôi thấy nhẹ hẳn. Tôi thở bình thường. Tôi nhớ lại những gì ông Phan nói với tôi trước ngày ông lên đường đi Hoa Kỳ. Việc ông không muốn tôi ra khỏi nhà lúc đầu có làm tôi hơi lo, sau đó là ngượng, và chỉ mươi ngày sau, nó là một cực hình. Tôi lại ra ngồi quán, lại gặp bạn bè, lại lui tới với Quỳnh. Ðiều đó Uyên biết. Cả bà Phan nữa. Bà phật ý nhưng vẫn dịu dàng, còn Uyên thì khó chịu ra mặt. Tuy vậy cả hai người, chẳng ai nói gì đến tôi. Những bữa cơm chiều thường vắng tôi và sự vồn vã dành cho tôi lúc đầu tuy không hẳn là đang phai lạt, nhưng rõ ràng là ngày một phai màu. Uyên vẫn chăm sóc tôi, nhưng đôi lúc có cảm tưởng như cô tìm cách tránh né tôi.<br />
Tuần trước, sau khi chia tay Quỳnh, tôi trở về nhà khá muộn &#8211; đúng vào lúc còi giới nghiêm hụ &#8211; tôi để nguyên quần áo giầy dép nằm xoải trên giường, bật đèn sáng và không buồn đóng cửa phòng. Cứ thế tôi thiếp đi trong cơn mê, nối tiếp những phút giây khoái cảm vừa chia sẻ với Quỳnh trên căn phòng trọ. Bỗng nhiên tôi giật mình, có cảm giác như bị ai đang nhìn trộm. Tôi choàng dậy. Ðèn phòng đã tắt, cửa phòng đã khép. Nhưng mùi thơm của hương phấn và nước hoa cho tôi biết là Uyên đang ngồi ở đầu giường tôi. Tôi bật dậy, hai tay bó gối. Tự nhiên tôi muốn nói chuyện với Uyên.<br />
Nhưng đúng vào lúc ấy, Uyên bỏ chân xuống giường đứng dậy, lẳng lặng ra khỏi phòng. Phải chăng Uyên không bao giờ có thực. Cô chỉ là hình bóng trong một giấc mơ. Cô thuộc về thế giới của mộng tưởng. Tuy vậy, sự xa cách ấy không có nghĩa là giữa chúng tôi chỉ có sự lạt lẽo. Uyên giống như con beo rình mồi ở một khoảng cách vừa tầm để có thể lấy đà phóng tới. Trong những phút giây ân ái, Uyên là con bọ ngựa cái nuốt chửng con đực của mình. Ấy là lúc cô muốn tôi chết đi, tan biến mất tăm trong thân thể.</p>
<p>Từ lúc cho xe chạy, người đàn ông không nói thêm với tôi lấy một lời. Nhưng phần tôi, tôi bắt đầu cảm thấy điều phỏng đoán của mình về tông tích hắn đã không còn chỗ tựa.<br />
Bởi vì nếu hắn là người nhà của ông Phan, hắn phải đưa tôi qua Nguyễn Thái Học, tiếp lên đường Lê Văn Duyệt về nhà, đằng này hắn cho xe chạy quanh qua Bùng Binh Chợ Bến Thành, trở lại Lê Lợi. Ðến góc Nguyễn Huệ, hắn quẹo phải, đi phía sau lưng mấy kiosque bán hoa, ép sát thương xá Tax, qua garage Charner và thẳng đường xuống Bến Tàu. Nỗi lo sợ lại chạy lan khắp người tôi. Tôi tê điếng.<br />
Gió bờ sông mát lạnh. Nhà hàng nổi Mỹ Cảnh đã đóng cửa, đèn đuốc tắt ngúm. Hắn cho xe leo lề, ngừng sát mé sông, bên cạnh một trụ xi măng lớn dùng để cột neo mấy chiếc sà lan.<br />
Hắn mở một điếu thuốc vỗ vỗ lên hộp quẹt máy. Hắn bật lửa mồi thuốc. Dưới ánh sáng xanh, tôi thấy mắt hắn nhìn tôi.<br />
-Lo không? Hắn hỏi lạnh lùng.<br />
Thuốc đã cháy, nhưng hắn vẫn để ngọn lửa sáng phần phật theo chiều gió. Tôi nhìn chăm vào mắt hắn cho đến khi ngọn lửa tắt phụp trong nắp hộp. Qua bóng tối, cái nhìn tinh quái của hắn như vẫn còn phóng về tôi.<br />
-Không lo sao?<br />
Hắn lập lại câu hỏi. Ngón tay cái của hắn bật lên đẩy xuống nắp hộp quẹt, gây ra những tiếng kêu khô và chat:<br />
-Tôi không phải người nhà ông Phan.<br />
Hắn nói chậm rãi như đọc. Hắn đã xác nhận điều tôi nghĩ. Và thật nhanh, tôi liên tưởng đến ông Lý. Tôi thấy những gì ông Phan nói đang trở thành sự thực. Ông Lý là người ít nói, với ông, hành động mới là điều đáng kể, còn kỳ dư là đồ bỏ. Và nếu quả thật đây là ý muốn của ông, tôi nghĩ là số phận mình coi như cũng đã xong. Trời lạnh nhưng tôi nghe mồ hôi rịn ướt hai tay.<br />
Tôi thấy hắn kéo một vật cộm ở thắt lưng ra và đặt lên đùi. Một khẩu súng ngắn.<br />
Hắn không nhìn tôi. Hắn tiếp tục hút thuốc, thở khói, mắt ngó thẳng ra mặt sông Sàigòn. Tôi biết bên kia là Thủ Thiêm, nơi tôi chưa bao giờ đặt chân đến, dù đã ở Sàigòn hơn mười lăm năm.<br />
“Làm cho một người nào đó biến mất trên cõi đời này mà không để lại một dấu tích nào cả, đó là nghề của tôi.”<br />
Hắn lạnh lùng nói, mắt không buồn nhìn tôi. Tôi ngồi lặng, người đông cứng. Sự sợ hãi là những con kiến nhỏ bu ngoạm khắp châu thân tôi. Tôi nhớ con mắt căm hờn của Uyên khi nhìn tôi một buổi tối về muộn. Tôi nhớ ông Lý, nụ cười độ lượng. Cái giọng xưng ba ngọt ngào. Tôi nhớ rõ cách mời rượu của ông mà có lần tôi đã chứng kiến ở một quán ăn. Tôi nhớ cách chào hỏi xưng hô của những chức sắc cũng như những tay anh chị khi gặp ông&#8230; Vậy ra hắn là người của ông Lý sao? Có thể lắm chứ? Tại sao không?<br />
-Có một điều tôi cần cho ông biết: Cái giá làm ông biến mất khá cao, mà bất cứ ai nghe đến cũng đều khó mà chối từ. Tiền và tình của một người đàn bà. Chắc ông hiểu đó là ai? Tôi đang cần tiền và đàn bà loại đó tôi cũng muốn biết qua. Nhưng trường hợp ông, tôi thấy khó xử.<br />
Hắn ngưng lại bất ngờ, lấy điếu thuốc ra khỏi môi và búng xa xuống mặt sông.<br />
-Mùa thi năm 70 ở Biên Hòa, tôi chịu ông một món nợ. Tôi là người phân minh, trắng ra trắng, đen ra đen. Oán phải trả, nhưng ân không thể không đền&#8230;<br />
Mùa thi năm 70 ở Biên Hòa? Không, tôi không nhớ gì. Ðối với tôi, mùa thi đáng nhớ là mùa thi ở Nha Trang, nơi tôi gặp Quỳnh. Và mối tình chúng tôi bây giờ đang là mối bận tâm lớn nhất đời tôi. Tôi nhìn hắn. Tôi chờ đợi một lời giải thích thêm. Nhưng hắn vẫn lặng thinh.<br />
Một lúc sau, hắn đột ngột cất tiếng.<br />
-Ông không nhớ, đó là quyền của ông, nhưng người chịu ơn ông là tôi, tôi có bổn phận không được quên!</p>
<p>Hắn đã dẫn tôi đi từ ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác.<br />
“Ông Thăng, Mùa Hè 70 ở Biên hòa, người thí sinh làm bài thi với một quả lựu đạn trên bàn là tôi&#8230;”<br />
“A! Trời ơi! Thiệt sao?” Tôi kêu lên. Mùa thi. Một thí sinh. Một quả lựu đạn. Tôi nhớ ra rồi. “Phước! Có phải Ngô Văn Phước không?”<br />
“Như vậy là ông có nhớ tôi. Ông Thăng. Cám ơn ông! Phải, tôi là Ngô Văn Phước đây! Ông đã cứu tôi trận đó!”<br />
Trận đó là một mùa thi. Vào giờ cuối của buổi chiều, ngày chót kỳ thi Tú tài hai, người ta đưa lên phòng Hội Ðồng Giám Thị biên bản đánh trượt và cấm thi ba năm thí sinh Ngô Văn Phước. Lý do làm bài với một quả lựu đạn đặt trên bàn. Quả lựu đạn đã bị Quân Cảnh tịch thu vì Phước là một quân nhân. Phần chế tài Phước bên quân đội tùy thuộc vào biên bản của Hội Ðồng Thi. Trong khi tôi đọc biên bản chờ các đồng nghiệp buộc gói bài thi, thì có tiếng gõ cửa. Một người lính trẻ cao lớn ăn mặc gọn hàng bước vào. Anh chào tôi trong tư thế nghiêm và hỏi:<br />
“Tôi muốn được nói chuyện với ông Chủ tịch Hội đồng Giám thị.”<br />
Các đồng nghiệp ngừng tay hết nhìn người lính rồi lại nhìn tôi. Tất cả đều như đông lại.<br />
“Tôi tên Ngô Văn Phước, người làm bài thi với một quả lựu đạn!” Anh tiếp.<br />
Nói xong, anh bước thẳng đến chỗ bàn tôi:<br />
“Tôi có thể trình bày lý do tại sao tôi phải làm bài với một quả lựu đạn không, thưa ông Chủ tịch?”<br />
Tôi hoàn toàn bị động ngay từ khi Phước bước vào.<br />
“Tôi nghĩ biên bản mà ông Giám thị lập tại phòng thi lúc nãy cần phải có chữ ký của tôi.”<br />
Tôi cúi xuống tờ giấy. Quả thật là chưa có chữ ký của Phước. Một bạn đồng nghiệp đến sau lưng tôi nói qua vai rất khẽ:<br />
“Thí sinh phạm lỗi không chịu ký, chớ không phải thiếu chữ ký.”<br />
Tuy ông ta nói nhỏ, nhưng Phước đã nghe và phản ứng ngay:<br />
“Ðúng, tôi không chịu ký vì biên bản không ghi rõ sự thật về trường hợp quả lựu đạn trên bàn tôi. Thứ nhất quả lựu đạn ấy không đi kèm với việc gian lận bài thi. Tôi đã làm xong bài trước khi đặt quả lựu đạn lên bàn. Thứ hai ông giám thị này, Phước chỉ vào mặt người vừa nói, suốt mấy buổi thi liền luôn luôn lăng xăng chạy qua chạy lại gần như có mặt thường trực ở phòng thi tôi. Người cần làm biên bản là ông đó. Người gian lận chính là ông đó, vì ông gạ bài và đưa bài giải sẵn cho thí sinh Nguyễn Công Phương ngồi bàn phía sau tôi và cứ án ngang chỗ tôi, khiến tôi khó khăn trong khi làm bài. Tôi đã nhiều lần nhắc ông ta, nhưng ông ta không nghe. Tôi muốn hỏi các ông ở đây, người giám thị có quyền bám riết một phòng trong suốt các buổi thi không? Và ông này, Phước lại chỉ vào mặt người lúc nãy, xin ông công khai cho biết ông bán bằng cấp Tú tài cho Nguyễn Công Phương với giá là bao nhiêu?”<br />
Tôi hiểu tôi phải làm gì trong trường hợp đó. Tôi đã giải tỏa Phước ra khỏi cái biên bản quái đản kia, nhưng thất bại trong việc chứng minh sự bất chính của người giám thị. Tôi không ngờ người giám thị ấy có gốc rễ lớn. Ðụng vào anh ta, tôi đã chịu vào một ổ kiến lửa. Nhưng tôi cần gì. Ngạch trật không phải là cứu cánh của tôi. Ðó là thời gian tôi hiểu câu nói “Tuyệt đỉnh của sự công bằng, chính lả tuyệt đỉnh của sự bất công” theo một nghĩa khác, tiêu cực nhất và xấu xí nhất.<br />
Sự công bằng của tôi sẽ phải trả một giá đắt nếu không có sự can thiệp của ông Lý. Giờ đây khi Phước nhắc tôi điều đó, tôi chợt nhớ tới những lần khác mà ông Lý cũng đã phải đứng ra can thiệp cho tôi. Sức mạnh của ông Lý trong khi che chở cho tôi, tuy vậy cũng ít tàn bạo hơn là ông chuyển nó sang thành hình phạt đè ập lên đời tôi. Buồn cười thay, sống trong sự ngay thẳng đôi khi cũng đồng nghĩa với làm một điều tội lỗi.</p>
<p>Phước đưa tay lên xem đồng hồ.<br />
“Sắp tới giờ giới nghiêm rồi! Nhưng ông đừng lo. Tôi có giấy đi trong giờ thiết quân luật. Tôi sẽ đưa ông về nhà an toàn. Món nợ mà tôi mắc của ông từ xưa, tôi luôn luôn tự hứa có ngày sẽ trả. Ngày ấy đã đến. Tôi đang đền. Xin lỗi ông Thăng, nếu từ nãy đến giờ tôi có làm điều gì khiến ông khó chịu, xin ông bỏ qua cho. Từ giờ tôi sẽ không gặp ông nữa. Nhưng khi nào ông cần tôi, tôi luôn luôn có mặt. Ngày mai tôi sẽ trả lại cho “người đàn bà ấy” số tiền “đặt cọc” mà tôi đã nhận. Có lẽ “bà ta” sẽ nhờ một người khác. Nhưng ông đừng lo. “Người khác” đó cũng sẽ không phải ai khác ngoài những anh em của bọn tôi.”<br />
Phước gắn lên môi một điếu thuốc, bật lửa, mồi, thở khói. Và không lâu, vừa khi tiếng còi giới nghiêm hụ lên, anh ta nổ máy ngay và cho xe chạy hết tốc lực. Trong một thành phố vắng bóng người, Phước cho xe chạy như một người bị ma đuổi.<br />
Ở những khúc quanh, Phước vẫn giữ tốc độ cao khi bẻ tay lái. Tiếng bánh xe nghiến suốt mặt đường làm tôi nhói tim. Tôi ngó nghiêng khuôn mặt anh ta. Lầm lì. Lạnh lùng. Khuôn mặt ấy rất giống Charlton Heston trong cuốn phim Le Survivant mà tôi vừa xem tuần rồi ở rạp Rex.<br />
Thả tôi xuống trước cổng nhà ông Phan, Phước nói:<br />
“Chiếc Lambretta của ông sẽ có ngay tại chỗ này vào sáng mai. Chào ông. Chúc ông ngủ ngon!”<br />
Tôi nhìn đám khói bay mù sau xe của Phước. Ðêm Sài gòn sau giờ giới nghiêm giống như một rạp hát đã vãn. Tôi đặt ngón tay cái lên cái bấm chuông điện nằm sau trụ cổng. Và chờ đợi.</p>
<p>&nbsp;</p>
<p><b>Chương 15</b><br />
Người ra mở cửa cho tôi là Uyên.<br />
“Chúa ơi!”<br />
Cô kêu lên, giọng thảng thốt. “Sao anh về trễ thế? Me lo cho anh quá! Có chuyện gì không anh?”<br />
Tôi không muốn trả lời Uyên, lặng lẽ theo cô vào nhà. Cuộc gặp gỡ với Ngô Văn Phước vừa qua vẫn còn nóng hổi trong trí nhớ tôi, và tôi có cảm giác như hình ảnh ấy sẽ còn lâu mới mờ nhạt trong tôi. Dù sao sự im lặng của tôi đã làm Uyên cụt hứng. Cô đi bên tôi bằng những bước ngập ngừng. Vì vậy, khi đến trước cửa phòng mình, tôi phá tan sự đông đặc.<br />
“Cám ơn Uyên!”<br />
“Không có chi!” Uyên đáp lạnh lùng rồi quầy quả bỏ đi.<br />
Tôi đứng yên đó, cô đơn trước căn phòng mình. Tôi có nên vào không? Câu chuyện của Phước hình như mỗi lúc một làm tôi ghê rợn hơn. Sao lại có thể có một người đàn bà loại ấy trên cõi đời này? Chị ta muốn gì nơi tôi. Chúng tôi đồng ý chia tay và phần tôi, tôi đã thuận tình để cho chị ta tất cả những gì chị ta đòi hỏi. Nhưng tất cả những gì chị ta làm, đang và sẽ làm, phải chăng chỉ là chị ta muốn thực hiện câu ca dao:<br />
Bậu ra cho khỏi tay ta<br />
Cái xương bậu nát, cái da bậu mềm.<br />
Mà chị ta là cái thá gì mới được chớ? Một hiền thê của thời đại? Một phụ nữ có giáo dục? Một con người hay là một kẻ chỉ có khuôn mặt người? Nhưng thôi, tại sao tôi lại phải thắc mắc những điều vớ vẩn như vậy. Tôi đẩy cửa vào phòng, bật đèn, cởi giầy, để nguyên quần áo, ngã lên giường. Trần nhà lấp lánh những màu sắc của ảo tưởng. Trí tưởng tượng tôi không sao có đủ khả năng hình dung được một con người như thế. Ông Lý hay ông Phan? Một người say mê tiền bạc, một người đam mê quyền lực. Ðối với họ, phương tiện nào cũng tốt, miễn là đạt được mục đích thì thôi. Nhưng còn người đàn bà kia, tiền bạc hay quyền lực? Cái gì đã làm cho chị ta trở nên ghê tởm như thế? Cái gì? Tôi trở mình, nằm sấp xuống. Ở chiếc bàn ngủ là mấy tờ nhật báo và một cuốn sách mỏng. Tôi cầm lên: Góp Nhặt Sỏi Ðá của Thiền Sư Muju. Tôi hiểu Uyên đã mua sách này cho tôi. Mấy bữa trước có lần tôi nói với cô là tôi đang tìm cuốn sách của Muju. Uyên hỏi Muju là gì. Tôi nói đó là tên riêng của một người, cũng như cô là Uyên và tôi là Thăng vậy.<br />
“Uyên không tin”, cô tiếp, “Chẳng hạn Thăng có nghĩa là lên, Uyên có nghĩa là vực sâu, và Muju cũng phải có nghĩa là gì chứ!”<br />
“Thế thì thua cô. Ðúng! Muju có nghĩa là Không Nơi Trú Ẩn.” Tôi cười. “Theo nghĩa đó, Thăng bây giờ không phải là lên, mà là đồng nghĩa với Muju.”</p>
<p>Tôi cũng đang là người không nơi trú ẩn.<br />
Ðặt sách qua một bên, tôi nằm sấp, trải rộng mấy tờ báo vừa ra buổi chiều. Thời sự nóng bỏng vẫn là những trận đụng độ ở vùng Tam Biên. Giờ giới nghiêm giảm. Trường học sẽ mở cửa lại vào đầu tháng tới. Ở một mẫu nhỏ trang nhất, tôi đọc thấy tin vụ án báo chí, và Vinh đã được nhắc tới bằng một luận điệu có phần hơi chiều chuộng. Không thấy có tin nào nói về việc ông Phan sẽ trở về.<br />
Tôi nghe chính tiếng thở dài của mình.<br />
Như vậy là lớp học sẽ khai giảng vào đầu mùa đông. Công việc của tôi rồi sẽ trở lại nhịp độ bình thường nhàm chán như những năm trước. Sẽ lại có những buổi đứng lớp nhai đi nhai lại một số kiến thức cũ mèm, những ví dụ đã lập đi lập lại mòn nhẵn như bánh xe đã mất răng cưa, những buổi đón Ðăng và Mai ở cổng trường tiểu học, những bữa cơm trưa rất ít tiếng cười của ba cha con. Ðời sống ấy đồng điệu đến độ tê liệt cả thần trí tôi.<br />
Tôi không đau ốm gì, nhưng sau cái đêm trở về từ Bến Tàu, tôi không bước ra khỏi ngôi nhà ông Phan. Tôi tự chôn mình trên giường mặc cho tóc tai bù xù, mặc cho những tiếng động trôi bên ngoài cửa phòng. Tôi đọc hết cuốn sách này đến cuốn sách khác, nghe hết cuộn băng này đến cuộn băng nọ. Tôi uể oải mệt nhừ, không buồn cử động, dần dần tôi cũng cảm thấy như mình đang bệnh thật sự. Như buổi sáng hôm nay, tôi thức dậy từ rất sớm, nhưng không buồn đặt chân xuống đất. Chiếc đồng hồ báo thức ở đầu giường với con số ngày và thứ trong tuần nhắc cho tôi nhớ là tôi đã diện bích khá lâu và ngày trở lại lớp học đã cũng rất là kề cận.<br />
Có tiếng gõ cửa. Tôi nghĩ đó là Uyên, và tôi hơi khó chịu về sự kiểu cách của cô. Những lần trước vào phòng tôi, có bao giờ Uyên gõ cửa đâu. Cô đang còn giận tôi chăng? Mặc kệ. Tôi nằm lì trên giường. Nhưng tiếng gõ cửa vẫn tiếp tục có phần gấp gáp hơn. Còn nghi ngờ gì nữa, chắc chắn người gõ cửa đã không phải là Uyên.<br />
Tôi ngồi dậy, mở cửa.<br />
Bà Phan, phải chính là bà Phan, đang đứng trước mặt tôi.<br />
-Xin lỗi bác, cháu tưởng là cô Uyên.<br />
-Không sao! Không sao! Cháu khỏe rồi chứ?<br />
-Thưa bác, cháu vẫn bình thường!<br />
-Người cháu xanh như thế kia. Cháu bị bệnh cũ tái phát phải không?<br />
Tôi không hiểu. Vậy là tôi bị bệnh thật sao? Và tôi đã mê man đi bao lâu?<br />
-Bác sĩ nói cháu bị colisques néphrétiques. Ðó có phải là bệnh cũ của cháu không?<br />
-Thưa bác&#8230; vậy là cháu bệnh thật?<br />
-Thế cháu tưởng là cháu không bệnh à?<br />
Bà Phan ngồi trên ghế nơi bàn viết tôi và tôi ngồi ở mép giường. Cái việc bà nói đúng căn bệnh cũ của tôi làm tôi bối rối quá chừng. Tôi không biết đâu là mộng, đâu là thực trong mấy ngày qua. Tôi có gặp một người tên Ngô Văn Phước hay đó chỉ là giấc mơ? Và những buổi tối Uyên đến với tôi trong căn phòng này, mái tóc dài của nàng phủ xuống mặt mũi tôi ướp đẫm cái mùi da thịt nồng nàn hân hoan, ập lên người tôi trong một thú vui tuyệt vời, phải chăng chỉ là cơn mộng mị?<br />
-Bác muốn cho cháu biết là có lẽ bác và Uyên sắp đi xa!<br />
Tiếng bà Phan dẫn tôi trở lại đời thực. Và trong chữ đi xa tôi nghe cách phát âm của bà có cái vẻ nghiêm trọng khác với thường lệ.<br />
-Thưa bác chắc là bác đi du lịch? Tôi hỏi dè dặt.</p>
<p>-Không phải? Tôi vừa nhận được thư của ông nhà tôi. Ông muốn mẹ con tôi sang bên đó ít lâu.</p>
<p>Tự nhiên tôi liên tưởng ngay đến tấm thiệp mà ông Phan đã gửi tôi với mấy câu thơ của Lý Bạch trong bài Thục Ðạo Nan.<br />
Tôi cũng lờ mờ hiểu tại sao báo chí đã không còn đề cập đến tên ông trong danh sách những ứng viên có thể sẽ đứng ra thành lập nội các. Có phải vai trò ông Phan là làm một thứ hào quang giả để moi ra một ánh sáng thật nhằm đánh lừa những dư luận chính trị trong một tình thế khó khăn của thời cuộc?<br />
-Thưa bác, bao giờ thì bác và cô Uyên lên đường?<br />
-Chưa định được. Tôi còn khá nhiều việc phải thu xếp. Ông nhà tôi biết tính tôi. Không thích dời đổi. Tôi ở đâu quen đó mất rồi. Lạ nước lạ cái làm tôi khó chịu lắm!<br />
-Nhưng rốt cuộc rồi bác cũng vẫn phải thay đổi chỗ ở?<br />
-Còn làm sao được! Xuất giá thì phải tòng phu chứ!<br />
Như vậy là ông Phan không có lối về. Con đường ông đi quả là con đường vào đất Thục. Tôi nghĩ là ông đã không đi lầm đường, nhưng chắc chắn cờ đã không đến tay ông. Ông nhảy vào một thời thế dầu sôi lửa bỏng mà phần trang bị của ông còn thiếu nhiều thứ quá chăng? Hay ông đang đánh một canh xì phé mà phần thắng sau cùng không bao giờ thuộc về mình vì cả cỗ bài ấy đã được đánh dấu quá tinh vi? Cũng có thể đó là một ván bài đã được trang xếp theo ý của người cầm cái.<br />
Lá bài cuối cùng của ông Phan được rút chắc chắn sẽ phải là một lá bài để thua cho dù đúng đó là một lá bài mà ông mong muốn.<br />
-Cậu Thăng, ông nhà tôi còn nhắn một điều: nếu cậu muốn học thêm, nhà tôi sẽ lo cho cậu một cái học bổng bên ấy. Cậu nghĩ sao?<br />
-Hấp dẫn!<br />
Tôi thoáng có cái ý nghĩ đó trong đầu. Quỳnh sẽ bỏ tôi đi. Và Uyên rồi cũng không có con đường nào khác. Tôi bây giờ như một thứ cây mọc ven sông, nhìn những dòng nước chảy miết, liên tu hồ tận. Và bà Phan đang thả cho tôi một chiếc phao.<br />
Ði Mỹ là một giấc mơ của tôi cách đây mười năm. Giấc mơ ấy có còn theo đuổi tôi không? Nhưng có lần tôi từ chối chuyến đi Pháp của ông Lý, và bây giờ lẽ nào tôi nhận chuyến đi Mỹ của ông Phan?<br />
Cửa phòng bỗng xịch mở, Uyên bước vào nhẹ như một chị mèo. Bà Phan ngồi chìm trong ghế bành quay lưng ra cửa, nên không nom thấy Uyên. Tôi đưa mắt cho Uyên biết là có người trong phòng, nhưng cô không hiểu ý tôi. Cô đi thẳng đến chỗ tôi ngồi. Khi nhận ra sự có mặt của bà Phan, Uyên đưa tay lên miệng như che nỗi kinh ngạc. Bà Phan rất trầm tĩnh:<br />
&#8211; Ngồi xuống đi con!<br />
-Con xin lỗi me. Con tưởng không có ai trong phòng.<br />
-Không sao. Nhưng me có cảm tưởng là con không bao giờ gõ cửa khi vào phòng anh Thăng, phải vậy không?<br />
-Thưa me&#8230; Uyên vẫn đứng cạnh tôi.<br />
Tôi giả lả:<br />
-Bao giờ cô Uyên đi Mỹ vậy?<br />
-Ði Mỹ? Cô ngơ ngác.<br />
-Uyên đi Mỹ làm gì cơ chứ?<br />
Tôi cũng ngạc nhiên không kém, nhưng bà Phan trấn an ngay:<br />
-Me chưa kịp cho con biết là bố muốn mẹ con mình sang bên đó!<br />
-Chúa ơi, bố bỏ Sài gòn mà đi luôn sao?<br />
-Sao lại đi luôn? Bố bị ốm bất ngờ, phải nằm bệnh viện một thời gian. Bố cần mẹ con mình.<br />
-Nhưng me nhận thư bố hồi nào? Sao me giấu con?<br />
-Uyên!<br />
Bà Phan trừng mắt ngó con gái.<br />
-Xin lỗi me!<br />
-Me không bằng lòng cách hỏi của con. Me cấm con từ nay không được có thái độ hỗn hào đó nữa. Con nghe chưa?<br />
-Thưa me, con nghe.<br />
Bà Phan quay về phía tôi.<br />
-Phần cháu, tôi muốn nghe ý kiến của cháu.<br />
-Cháu cám ơn bác. Nhưng cháu muốn xin phép bác cho cháu thời gian suy nghĩ trước khi trả lời&#8230;<br />
-Sao? Bà Phan nhổm người dậy.<br />
-Cậu không thấy đây là cơ hội tốt cho cậu sao?<br />
-Thưa bác!&#8230;<br />
Uyên chen vào:<br />
-Thưa me, cơ hội tốt nào dành cho anh Thăng vậy?<br />
-Uyên, im nào!</p>
<p>Bà Phan đứng dậy, nắm tay con gái.<br />
-Ừ cháu cứ suy nghĩ cho kỹ nhé! Nhưng nhớ cho bác biết sớm. Thời gian cũng đã cấp bách lắm rồi!<br />
-Cám ơn bác, cháu xin nhớ lời bác.<br />
Tôi đưa bà Phan ra cửa, Uyên vẫn đứng bên trong.<br />
-Thưa me, con xin phép me con ở lại một chút. Con muốn nói chuyện với anh Thăng.<br />
Tôi không nghe tiếng bà Phan trả lời, nhưng nhìn ánh mắt bà ngó Uyên, tôi hiểu là bà không bằng lòng. Tuy vậy, bà Phan đã bước ra, cầm tay nắm, khép cửa lại.<br />
Tôi quay vô, đứng giữa phòng, Uyên đã ngồi trên mép giường, ngón tay trỏ nằm trong miệng.<br />
Tôi bước mấy bước quanh phòng, rồi ngồi xuống chiếc ghế bành mà bà Phan đã ngồi. Chúng tôi im lặng nhìn nhau không ai nói với ai một lời. Như thế thật lâu, tưởng chừng như thiên thu vĩnh cửu. Nhưng đột nhiên, như một con beo, Uyên phóng tới vòng tay quanh cổ tôi, ôm chặt đầu tôi trong ngực nàng.<br />
-Anh!<br />
Tôi nghe rõ mùi hương thơm ngát của da thịt nàng. Và đôi môi nàng, mái tóc dài của nàng phủ kín mặt mũi tôi, chùm lấp cả cái đầu óc đang vô cùng bối rối của tôi.</p>
<p>&nbsp;</p>
<p><b>Chương 16</b></p>
<p>Ở Givral ra, tôi đi ngược đường Tự Do về phía Nhà Thờ Ðức Bà. Thánh Ðường vắng. Tôi như một tín đồ ngoan đạo giữa những hàng ghế trống, một mình đối diện với Chúa.<br />
Tôi nghĩ đến Quỳnh, đến mối tình mà Quỳnh dành cho tôi. Có lần Quỳnh nói:<br />
-Em yêu anh, nhưng em ghét nói một câu nhà quê như thế. Em muốn sống với anh chứ em không cần sống với tờ hôn thú.<br />
Quỳnh thương các con tôi nhiều hơn là lòng tôi mong ước. Cô chăm sóc chúng như một bà chị cả chăm sóc em, và lo lắng chúng như một bà mẹ lo cho con. Với đôi chân mềm của một thiếu nữ mới lớn Quỳnh thản nhiên đi trên những mũi thép nhọn của dư luận.<br />
Sự thất bại trong đời sống lứa đôi để lại trong tôi lòng căm thù gia đình, nhưng với Quỳnh tôi cảm thấy cái ý nghĩ ấy cần phải được xem xét lại. Hình như tôi luôn luôn ao ước một mái nhà!<br />
Nhưng gia đình là cái gì mới được chớ?<br />
Còn nhớ bữa uống rượu với Tâm, Nhật và Phùng ở một nhà sàn trên sông Sài Gòn, Tâm đã nói về gia đình của nó rằng đó là nơi mà người đàn ông có thể trở về nhà để nghỉ ngơi sau những bon chen khốn khổ và khốn nạn của đời sống. Gia đình chính là lò sưởi của người đàn ông, chống lại những cơn gió lạnh lẽo tàn nhẫn của cuộc đời. Gia đình là nơi ẩn trú sau cùng của người chồng, là tấm gương để người cha soi lại hình ảnh mình qua những đứa con. Xã hội tàn bạo nhưng gia đình là tình yêu. Gia đình là điểm tựa sau cùng của niềm tin trong một xã hội tràn đầy hận thù và dối trá.<br />
Tôi chia sẻ với Tâm ý nghĩ gia đình là hòa bình, gia đình không phải là chiến tranh. Và lúc đó tôi thầm ghen với bạn tôi về cái gia đình mà bạn hiện có. Ngọc, vợ Tâm, là một mẫu người đàn bà Việt Nam tiêu biểu: xinh đẹp, yêu con, chiều chồng và có óc hài hước. Chị hiếu khách, rộng rãi nhưng không bao giờ giơ tay quá trán. Tâm làm đồng lương thấp nhưng chị là một phụ nữ vén khéo. Ðời sống thanh đạm nhưng không thiếu thốn. Ở chị, luôn luôn tôi nhìn thấy nụ cười. Những lần Tâm đi chơi lâu một vài ngày mới về, lại đem theo cả một đám bạn, chị vẫn vui đùa khi dọn bữa ăn cho chúng tôi. Có lần chị nói:<br />
-Ông chồng bê bối của tôi mà thiếu một hiền thê của thời đại là Ngọc này thì chỉ có cửa nát với nhà tan thôi! Cũng may!<br />
Chị nói đùa không chút ác ý. Phải nói là tôi thèm muốn một gia đình như gia đình bạn tôi. Và cùng lúc tôi càng thù ghét cái gọi là gia đình mà tôi đã chia sẻ với một người đàn bà được vớt lên từ đống bùn đen của sự nhục nhã.</p>
<p>Mẹ tôi ở xa, quá xa, cho nên những lục đục trong gia đình tôi chậm đến tai bà. Tuy vậy đối với bà chỉ có nước mắt là người sứ giả hòa bình duy nhất được gửi đến trong một trận chiến tranh mà sự đổ vỡ rõ ràng là không thể hàn gắn được.<br />
Với tôi, cho đến bây giờ, bà vẫn luôn luôn là người phụ nữ xinh đẹp nhất, tuyệt vời nhất, mặc đủ chưa bao giờ trên đôi môi bà có một chút son, trên gò má xanh xao bà có được chút phấn hồng, đừng nói chi một vòng cẩm thạch, một chiếc kiềng vàng. Bà chỉ có sự giàu có về nỗi khổ đau, và cha tôi luôn luôn là người thừa thãi thứ tài sản ấy để có thể cung cấp cho bà những tặng phẩm nước mắt. Ông là nỗi hãi hùng của cả nhà. Hoặc là ông không uống rượu và ông lặng thinh như đá. Hoặc là ông uống rượu và ông chửi bới. Không, ông không chỉ chửi bới những lời cay nghiệt. Ông rượt chém mẹ con tôi bằng dao nhà bếp và rựa vót mây.<br />
Ông như là ma quỉ, là diêm vương, là bóng tối. Tôi có bao giờ đi lại con đường ông đã đi? Tôi ghét chính trị, tôi thù rượu chè, tôi căm phẫn những bữa cơm gia đình dưới bóng đèn tròn màu vàng ám mà mỗi người gầm đầu xuống những chén cơm đã nguội được chan bằng nước mắt và câm nín. Có lần nào trong đời tôi, tôi lập lại những điều ghê gớm ấy đâu! Tôi mang đến nụ cười thỉ thấy trả lại bằng nỗi lạnh băng. Tôi đem đến sự tin cậy chỉ được đền đáp bằng điều phản bội.<br />
Tôi nhớ anh tôi. Ðó là người đàn ông để lại trong tôi nhiều dấu ấn. Anh khỏe mạnh, cương quyết, thẳng thắn và rộng lượng. Anh là hình ảnh của một thỏi thép: cứng rắn và không biết lùi bước trước bất cứ một trở lực nào. Anh hiểu biết và sẵn sàng giúp đỡ mọi người. Anh yêu mẹ, thương em và rất can đảm khi phải đối diện với cha tôi. Tôi thấy rõ là cha tôi chỉ nể có mình anh. Nhưng, sự thẳng thắn của anh tôi không phải lúc nào cũng có người chia sẻ. Ðời sống xã hội của sự giả trá khó chấp nhận một sự thẳng thắn kiểu ấy và một tai nạn thảm khốc đã đến đời anh. Ðang là một người lạc quan, anh bỗng trở thành một người bi quan cùng cực. Tuy vậy anh vẫn là người duy nhất, ngoài Quỳnh, biết rõ những nỗi khổ tâm của tôi, và những gì anh nói về tôi, về cái thảm cảnh mà tôi đang chịu đựng, về sự đỗ vỡ đang đè trên đời sống tinh thần tôi. Tôi biết rằng tôi kính trọng anh hơn tất cả những người mà tôi từng gặp. Anh là người lính dám nói thẳng với cấp chỉ huy của mình về sự tham nhũng và lạm dụng quyền thế. Tôi nghĩ anh và Vinh, bạn tôi, rất gần nhau, nhưng một bên là hành động còn một là lý thuyết. Anh ca ngợi Nhơn, một bạn học thuở nhỏ của tôi, người bác sĩ một mình trấn thủ một bệnh viện và chết giữa những viên đạn của đồng đội chỉ vì dám chống tham nhũng.<br />
Tôi cho tay vào túi áo. Túi tôi cợm lên những tờ giấy chụp lại từ bản chính của Bản Ðại Tự tòa án. Người nữ luật sư đã gửi toàn bộ hồ sơ gồm có Bản Văn được công bố trên một tờ báo chỉ định và Bản Ðại Tự ghi rõ tình trạng ly hôn. Ðứa con gái ở với mẹ, đứa con trai ở với cha. Nhưng vì đứa con trai còn nhỏ nên quyết định cho người mẹ nuôi giữ. Án phí hoàn toàn do người đàn bà chịu.<br />
Tờ giấy được chờ đợi sau cùng đã có mặt. Ly dị? Tôi tự hỏi còn có sự khôi hài nào nặng hơn? Lấy nhau, đẻ con, chia tay&#8230; những động tác ấy trong đời tôi chỉ là một chuỗi lầm lẫn sao? Con người đâu phải là loài vật, đi một chu kỳ sinh hóa đơn giản đến chừng ấy!<br />
Quỳnh, tôi đang thấy lại khuôn mặt em, nghe lại giọng nói đầy tình cảm em. Tôi đang thở trong tôi hơi thở em. Có thật là chúng ta cần nhau không? Có thật là chúng ta sẽ không bao giờ đi lại trên những vết chân lỗi lầm trước đây không?<br />
Ôi, rốt cuộc đi tìm sự yên tĩnh, tôi chỉ gặp có sự náo nhiệt của một trái tim rộn ràng.<br />
Tôi đứng lên, bước qua những hàng ghế trống. Trời đầy mây đen. Bên tay trái, trên cao đồng hồ nhà Bưu Ðiện chỉ mười giờ, nhưng có vẻ như buổi chiều đang sụp xuống thấp và trên đỉnh những ngọn me bên kia đường.<br />
Tôi đi bộ trở xuống quán nước, kêu một ly cà phê, đổi một đồng xu bưu điện và gọi dây nói cho Quỳnh.<br />
-Em đang làm gì?<br />
-Em đang không làm gì cả!<br />
-Sao? Hôm nay không có việc gì để làm à?<br />
-Không, anh. Em đang bắt đầu ngày phép thứ nhất của em mà!<br />
-Bao nhiêu ngày?<br />
-Em đã nói với anh rồi!<br />
-Bao giờ em đi?<br />
-Ngày mai!<br />
-Ngày mai?<br />
-Thì em đã nói với anh rồi mà!<br />
-Tôi muốn gặp em!<br />
-Em cũng vậy, em cũng đang muốn gặp anh.<br />
-Tôi đang ở Givral. Em đến ngay được không?<br />
-Em đến ngay!</p>
<p>Ðặt ống nói xuống, trở lại bàn, bật lửa đốt một điếu thuốc, tôi nhìn tôi trong kính. Hình như tôi đang thấy một người nào khác. Ðâu phải tôi, đôi mắt đó! Ðâu phải tôi, khuôn mặt kia? Ðâu phải tôi, mái tóc bù xù dài thượt như một người tiền sử!<br />
Tôi đó hả? Làm sao tôi có thể tưởng tượng nổi bộ mặt mệt mỏi và đăm chiêu đến thế kia có ngày bị tôi gọi là tôi!<br />
Tôi hút thuốc, nhưng muốn nuốt khói. Tôi cứ phì phà hết nửa điếu này sang nửa điếu khác. Tôi hớp từng ngụm nước cà phê, nhẩn nha trong những hình ảnh và ý tưởng rời rạc. Tôi đeo kính mát lên mắt. Tôi gỡ kính xuống. Ðủ quá rồi! Vẫn là tôi. Tôi nhớ đến đôi mắt Ðăng nhìn tôi trong một nỗi buồn kỳ lạ. Tôi liên tưởng đến chiếc miệng nhỏ nhắn chất đầy câu hỏi của Mai, những câu hỏi làm tôi ứa nước mắt.<br />
-Sao ba không ở nhà với tụi con?<br />
-Má chửi tụi con cả ngày!<br />
-Tối nay ba ngủ với tụi con nghe ba!<br />
-Sao ba ốm quá vậy?<br />
-Ba đừng để râu nữa. Cái mặt có râu ghê thấy mồ! Cái áo ba đứt nút rồi nè. Ðể con lớn con học giỏi, con đi làm, con nấu cơm ba ăn, may áo ba bận, chịu hông ba?<br />
Bây giờ tôi đã có trong tay Bản Ðại Tự. Ðối với tôi, tờ giấy ấy là nhát dao sau cùng cắt đứt một sự chịu đựng về mối dây liên hệ đã kéo dài quá lâu. Những cái còn lại không phải là giữa hai người lớn. Cái đau xót dai dẳng chính là hai đứa bé&#8230;<br />
-Anh!<br />
Tiếng kêu làm tôi giựt mình. Quỳnh đã đến và đứng đó tự bao giờ.<br />
Ðặt chiếc xắc tay lên bàn, cô kéo ghế ngồi đối diện tôi:<br />
-Anh đang nghĩ gì mà em đến không biết?<br />
-Hút thuốc.<br />
-Hút thuốc? Em thấy rồi, nhưng anh nghĩ gì khi hút thuốc?<br />
-Hút thuốc có nghĩa là không nghĩ gì!<br />
-Lẻo mép!<br />
-Em uống gì? Sprite há?<br />
Quỳnh gật đầu.<br />
-Lúc này anh biến kỹ quá! Em tìm khắp các quán nước mà không thấy anh!<br />
-Vẫn ở nhà bác Phan.<br />
-Em có gọi điện thoại, nhưng cô Uyên nói anh không có ở nhà!<br />
-Thiệt không?<br />
-Thật. Cô Uyên kiểm duyệt kỹ nhé!<br />
-Cô ấy nói gì?<br />
-Chẳng nói gì. À! Cô ấy mời em dự sinh nhật.<br />
-Của ai?<br />
-Của cô ta chứ còn ai!<br />
-Bao giờ?<br />
-Tối nay. Anh không biết thật à?<br />
-Không!<br />
-Thật?<br />
-Không. Không biết. Nhưng em đã nhận lời rồi chứ?<br />
-Tất nhiên là nhận lời!<br />
-Tại sao tất nhiên?<br />
-Mà tại sao em không nhận lời mới được chứ?<br />
-Thôi, không vòng vo tam quốc nữa. Tôi muốn cho em biết một điều. Tòa đã xử xong. Hiện tôi đã có Bản Ðại Tự.<br />
-Ồ! Quỳnh kêu lên kinh ngạc.<br />
-Mà anh có từ bao giờ vậy?<br />
-Hôm qua. Em thấy sao?<br />
-Mừng cho anh!<br />
-Tại sao?<br />
-Thế anh không mừng à?<br />
-Dửng dưng.<br />
-Sao trước kia anh hăm hở thế?<br />
-Bây giờ thì cũng chỉ là vô ích thôi! Cái trước đây mình tưởng là cần lắm, giờ đây đã không còn cần nữa!<br />
-Em không hiểu!<br />
-Em không hiểu? Anh cần gì Bản Ðại Tự với Tiểu Tự chớ! Nếu chỉ cho bản thân thì cái Ðại và Tiểu kia có thay đổi được gì nơi anh chớ?<br />
-Vậy theo anh Bản Ðại Tự ấy cần cho em à?<br />
-Anh không muốn nói như vậy. Nhưng chẳng lẽ mình tìm nhau để nói chừng ấy câu chuyện à?<br />
-Em nhớ anh!Bỗng nhiên Quỳnh cầm tay tôi.<br />
-Em nhớ anh vô cùng, Thăng ơi!</p>
<p>Tôi nắm ngược lại bàn tay Quỳnh kéo về phía mình, cúi xuống hôn lên những ngón tay dài xanh xao của Quỳnh.<br />
-Có phải là ngày hôm nay là ngày cuối mình gặp nhau không?<br />
-Cứ cho là như vậy đi. Anh không thấy nhớ em sao?<br />
-Tại sao em cứ muốn tôi phải nói là nhớ em?<br />
-Một ngàn lần em muốn nghe anh nói như vậy, mặc dù thực tế có thể là anh không nhớ em?<br />
-Tôi biết là tôi không thể quên em!<br />
-Anh vẫn nhất định không chịu nói là nhớ em? Quỳnh cười.<br />
-Tôi muốn mời em một bữa cơm tạm biệt!<br />
-Ngay bây giờ?<br />
-Phải ngay bây giờ!<br />
-Không được!<br />
-Tại sao?<br />
-Em còn bao nhiêu việc phải làm trước một chuyến đi xa thế này! Em chỉ muốn ngồi đây nhìn anh, bởi vì em biết là mình đã mất nhau.<br />
-Em nói gì vậy? Tôi vẫn giữ tay Quỳnh trong tay tôi.<br />
Bỗng nhiên Quỳnh rút tay lại, đứng dậy, quàng sắc lên vai.<br />
-Thế nào tối nay em cũng sẽ về dự sinh nhật cô Uyên. Nhưng xin anh coi như chúng ta đã uống với nhau một ly nước tạm biệt ở đây.<br />
-&#8230;<br />
-Em muốn đến nhà Kỳ Ðồng đưa Ðăng và Mai đi ăn kem. Em muốn hôn các cháu trước ngày lên đường. Chắc chắn là em sẽ nhớ chúng nó lắm!<br />
-Tôi muốn nói chuyện với em. Tôi muốn đi với em một quãng!<br />
-Em tự về một mình được. Từ nay em sẽ tập sống với không một hình bóng ai trong đầu!<br />
Quỳnh mang kính mát lên mắt, che kín cả khuôn mặt, mở cửa bước ra ngoài.</p>
<p>&nbsp;</p>
<p><b>Chương 17</b></p>
<p>Chợ Ðũi chiều Thứ Bảy có cảnh tượng của một đám giỗ nhà quê. Ánh nắng sắp tắt của mặt trời chiều rất thích hợp với không khí một bữa nhậu trong làng. Bàn ghế lổng chổng, xô lệch, chỗ ngồi tạm bợ. Cả đám bạn tôi, dân quán Cái Chùa, kéo rốc hết ra đường Trần Quý Cáp. Chúng nó nói hôm nay sẽ bắt tôi say nhừ một trận.<br />
-Lý do? Tôi hỏi.<br />
-Tại sao cần phải có lý do? Tâm hỏi lại.<br />
-Tao ghét say rượu lắm!<br />
-Dạy Triết mà không biết say rượu sao gọi là dạy Triết! Nhật nói móc.<br />
-Tại sao?<br />
-Người không đam mê rượu khó mà giảng thành công một bài tâm lý đam mê!<br />
-Úi dà! Hôm nay nhà báo còn dạy tôi cả cách dạy học nữa! Ghê gớm! Thiệt là ghê gớm!<br />
-Mày công nhận là người ta chỉ nói và viết thành công về những gì người ta đã có kinh nghiệm. Phải không? Tâm chen vào.<br />
-Mày công nhận là những bài phóng sự chiến trường của thằng Nhật được viết từ kinh nghiệm sống của nó, chớ không phải viết từ tưởng tượng phải không?<br />
-Ðúng quá!<br />
-Tao đếch tưởng tượng nổi một thằng ngồi xa lông trong phòng trà mà lại có thể viết được một trận đánh nếu chính hắn không kinh qua chiến trường đó. Phải không?<br />
-Ðúng quá đi chớ!<br />
-Tao đếch tưởng tượng nổi chuyện “phê” với “không phê” khi làm một phát tuyệt vời. Phải không?<br />
-Ðúng! Nhưng mày nói xong chưa? Tôi hỏi gặng.<br />
-Còn nữa. Nhưng thôi, như thế cũng tạm đủ. Tao chỉ muốn chứng minh là thằng Nhật nói đúng thôi. Mày không đam mê thứ gì cả sao mày có thể nói cho người khác hiểu đam mê là cái gì?<br />
-Nhưng mà&#8230; tao muốn hỏi ngược lại một chút. Phùng chen vào.<br />
-Phải chăng, chỉ có rượu mới là đối tượng duy nhất của đam mê trên cõi đời này?<br />
-Bênh nhau quá! Ðồng hội đồng thuyền có khác! Nhật lắc đầu.<br />
-Thầy hai kêu chi thầy hai? Tôi thấy chị chủ quán đứng sau lưng Tâm khá lâu, chị hỏi Nhật bất ngờ giữa lúc câu chuyện bắt đầu sôi nổi.<br />
-Sao chị hỏi sớm quá vậy? Nhật nói mắc.<br />
-Thầy hai thông cảm thầy hai. Mấy cha nội ở bàn kia cho chó ăn chè, em phải dọn mà! Lu bu quá! Thầy hai kêu chi thầy hai!<br />
-Giỡn chơi chị thôi. Mượn chỗ này ngồi nói dóc chút, không kêu chi được không? Nhật tiếp tục chọc.<br />
-Tự nhiên thầy hai, nhưng&#8230; Người chủ quán cười giả lả.<br />
-Nhưng sao? Nhưng cái gì?</p>
<p>“Nhưng mấy thầy uống đâu cũng vậy, uống em em biết ơn!”</p>
<p>“Trời! Uống chị? Uống chị là uống làm sao?” Nhật lại tấn công.<br />
“Ông nội này làm luật sư chắc! Bắt bẻ quá “chời” qua đất “dzậy!” Chị chủ quán trả lời, giọng đã hơi giận.<br />
“Thôi giỡn vậy đủ rồi! Chị cho một két ba mươi ba và một dĩa gà xé phay.” Tôi nói.<br />
“Có hột vịt lộn không?” Nhật tiếp tục đùa cợt.<br />
“Dạ có!” Chủ quán sốt sắng hẳn.<br />
“Cho tôi chục hột tráng miệng!” Nhật nói, mặt lập nghiêm.<br />
“Cha ơi, ông nội này chưa uống đã say mèm rồi!” Chủ quán quay quả bỏ vào trong.<br />
“Sao hôm nay mày có vẻ khùng quá vậy Nhật?” Tôi hỏi nửa đùa nửa thật.<br />
“Có gì đâu. Nó thương bạn bè hơn thương vợ con nên con vợ nó làm nó khổ,” Tâm giải thích.<br />
Bia và hột vịn lộn đã được mang ra. Nhật khui rượu đổ vào ly tôi.<br />
“Tao với mày! Uống đi, rồi cũng thế thôi!”<br />
“Thế thôi là sao?” Tôi hỏi.<br />
“Là chả có cái con mẹ gì trên cõi đời này hết! Thằng nào có cách sống của thằng đó. Mày không khốn khổ hơn tao. Nhưng tao cũng chẳng sung sướng hơn mày!”<br />
“Bá láp!” Tâm cự, đưa ly cụng vào ly tôi. “Tụi bây bá láp tuốt luốt! Làm chó gì có sự khốn khổ với sung sướng trên cõi đời này. Tất cả đều là dối trá hết! Thôi “dzô” đẹp cái coi!”<br />
“Dzô thì dzô, thằng nào sợ thằng nào!” Nhật cà khịa với Phùng.<br />
“Mày biết tin gì chưa Thăng?” Phùng hỏi tôi.<br />
“Tin gì?”<br />
“Thứ Hai tới, trường mở cửa lại rồi.”<br />
“Sao mày biết?” Tôi ngạc nhiên thật.<br />
“Báo đăng. Mày không đọc báo à?”<br />
“Có, nhưng không chú ý. Thật ra tao ước gì Bộ Giáo Dục cho nghỉ thêm vài tháng nữa.”<br />
“Nghỉ lâu vậy mà chưa đã à?”<br />
“Chưa. Bộ mày đã rồi hả?”<br />
“Ðã cái nỗi gì! Chỉ mới nghĩ đến tiếng chuông reo vào lớp tao cũng đã rợn cả người nói chi chuyện ngày nào cũng phải nghe nó!”<br />
“Vậy sao hỏi tao chi một câu ngu như vậy?”<br />
“Sướng nhé! Vậy là mấy ‘cụ đồ’ hết thất nghiệp nhé!” Nhật nheo mắt chọc Phùng và tôi.<br />
“Sướng cái con khỉ! Tao đang chán đời muốn chết đây!”<br />
Tâm không uống bằng ly, mà cầm cả chai lên nốc. Nắng chiều đã tắt nhưng chiếc kính đen vẫn còn ngự trên sóng mũi hắn.<br />
“Mày mà cũng biết chán đời sao thằng công tử?”<br />
“&#8230;”<br />
“Vậy chớ mối tình của mày đâu rồi?”<br />
“Mối tình nào?” Tôi hỏi.<br />
“Trời đất! Vậy chớ mày có hết thảy mấy mối tình?” Tâm kéo kính xuống sóng mũi, ngó tôi.<br />
“Tao đâu có mối tình nào!” Tôi chống chế.<br />
“Giả mù sa mưa, bạn!” Tâm tiếp tục tấn công.<br />
“Vậy chớ con gái ông Phan mày bỏ đâu?”<br />
“Ăn thua gì tới tao!”<br />
“Không phải mối tình lớn à?”<br />
“Lớn cái con khỉ!”<br />
“Ê, hôm nay nhậu cấm quạu à, bồ tèo!” Nhật chen vô. “Nhưng nói vậy chớ tao biết tại sao hôm nay thằng Thăng bứt rứt.”<br />
“Tại sao?” Tôi hỏi.<br />
“Sắp làm một màn Vĩnh Biệt Tình Em phải không?”<br />
“Với ai?” Tâm hỏi.<br />
“Con gái nhà ông Phan”. Nhật nói chậm rãi, mắt nheo lại.<br />
Phùng giở mắt kính cận ra, rút khăn tay chùi đi chùi lại, cười thích thú.<br />
“Nàng đi đâu?” Hắn hỏi, nhìn chăm vào mặt Nhật.<br />
“Ði Huê Kỳ!”<br />
“Thiệt không mậy? Sao không cho anh em hay? Tụi tao kẻ ít người nhiều góp tiền phúng điếu?” Tâm nói xỏ.<br />
“Thằng này nhà văn mà ăn nói giọng điệu như Hồ Tam Kỳ Cống Bà Xếp!” Tôi trả lời Tâm nhưng chọc mối đau thương của Nhật.<br />
“Mày nói gì? Hồ Tam Kỳ Cống Bà Xếp là ai vậy?” Tâm hỏi tới.<br />
“Thế ra cậu chưa nghe chuyện Hồ Tam Kỳ Cống Bà Xếp à?” Nhật hỏi.<br />
“Không lẽ là chuyện của mày?” Tâm hơi ngạc nhiên.<br />
“Chứ của thằng nào ở đây?” Nhật đánh ực một hơi cạn ly bia.</p>
<p>&#8230; Hồ Tam Kỳ là một tay anh chị khét tiếng vùng Nguyễn Thông-Kỳ Ðồng-Cống Bà Xếp. Hồi đó, vừa lấy vợ xong ít lâu, Nhật quyết định dời Biên Hòa về Sài Gòn, nơi anh có nhiều bạn bè và vô số điều vui chơi mà anh không thể không biết được.<br />
Một buổi chiều, Nhật xách Honda chạy lớ ngớ tìm nhà trên đường Kỳ Ðồng. Khi đi ngang qua nhà thờ Dòng Chúa Cứu Thế gần tới góc Nguyễn Thông, thì nghe một cái rầm như trời giáng. Nhật té xuống mặt đường, chiếc Honda còn chạy thêm một đoạn mới ngã. Nhật cảm thấy có một cái gì đè nặng ở ngực. Nhướng mắt lên anh thấy một bàn chân đi giầy đen mũi nhọn đạp giẫm nghiến lên đó. Dò theo cổ chân gầy còm đầy lông lá, Nhật thấy một thanh niên cao lớn, mặt bành như cái nia, rỗ chằng rỗ chịt, tóc tai lởm chởm, một tay xỏ túi quần, một tay đang quay vù vù sợi xích sắt cọng bự.<br />
Hắn thấy Nhật mở mắt, ngừng quây sợi xích, cúi xuống gần mặt anh hỏi:<br />
-Mày biết ông là ai không?<br />
-Không! Nhật trả lời. Mắt anh hơi mờ vì máu ở trán chảy dòng xuống.<br />
Hắn quất một cái xuống vai Nhật.<br />
-Ai cho phép mày tới địa phận của ông? Mày không biết ông thật à?<br />
-Không!<br />
-Vậy thì ông cho mày biết!<br />
Nhật nghe đau nhói cả bả vai. Anh lăn một vòng cố hất chân tên du đãng, nhưng vô ích, chân hắn như bắt vít vào ngực anh. Cả người anh ê ẩm, đau nhức. Anh nghe tiếng cười.<br />
-Bảnh! Vậy mày biết ông là ai chưa?<br />
-Chưa!<br />
Ự! Hắn phóng mũi giầy vào hông Nhật. Anh lăn một vòng, tai vẫn nghe tiếng cười.<br />
-Nghe rõ đây, ông nội mày là Hồ Tam Kỳ! Bữa nay lần đầu tha. Lần tới đừng lạng quạng ở khu vực này. Bây giờ mày biết ông là ai chưa?<br />
-Chưa! Nhật không nao núng.<br />
-Bảnh! Vậy thì ông nhắc cho mày biết! Hắn quất thêm một vòng xích nữa lên vai của Nhật. Anh nghe đau điếng, Nhật lăn thêm vòng thứ hai sát hàng rào ngôi biệt thự, mắt ước lượng khoảng cách giữa chân mình và bản mặt Hồ Tam Kỳ, rồi thu hết sức trong một lúc bất ngờ nhất, Nhật phóng mình dậy đá song phi vào giữa mặt hắn. Hồ Tam Kỳ ngả đầu né cú đá của Nhật, nhưng đã không kịp. Má giầy của Nhật lướt qua gò má của Kỳ.<br />
-Bảnh!<br />
Hắn đứng dang chân lấy lại thăng bằng, hai tay cầm hai đầu dây xích căng trước ngực.<br />
-Coi như bữa nay huề! Lần tới nếu bạn cần tiền phúng điếu linh hồn bạn, cứ tới đây!<br />
Nói xong Hồ Tam Kỳ bỏ đi.<br />
Nhật khó khăn lắm mới dựng nổi chiếc Honda và chạy thẳng lên Tổng Y Viện Cộng Hòa. Nhật đã điều trị ở nhà thương hơn tháng trời. Sau đó trở lại đơn vị bỏ thêm một tháng nữa, mài con dao thật bén cột ở cổ chân giấu dưới ống quần, chùi đi chùi lại bóng loáng hai cây súng ngắn: cây Colt giắt lưng và khẩu Beretta bạc cuộn ở cổ tay đeo đồng hồ.<br />
Nhật đi tìm Hồ Tam Kỳ ở Cống Bà Xếp.<br />
Hôm đó trời chạng vạng tối, đám tiểu yêu ở khu chợ trời Nguyễn Thông chỉ cho Nhật chỗ ở của Hồ Tam Kỳ với giá năm trăm đồng. Ðó là một toa xe lửa bỏ phế ở cuối đường.<br />
-Tụi em sợ ảnh lắm! Hôm qua ảnh vừa bẻ cổ một thằng không nộp tiền cho ảnh!<br />
Nhật không nói gì, anh dựng Honda ở trước một hàng bán đồ Mỹ bày trên mặt đường. Anh mua một chai dầu cạo râu hiệu Aqua Velva, một hộp Band Aid, trả tiền liền, bỏ tất cả vào giỏ xe phía trước và đề nghị người chủ cho gửi xe có trả tiền.<br />
Nhật đi thẳng qua Nha Lộ Vận, tuốt vô tận đường Hoàng Diệu. Khu này có một số đường rầy xe lửa bị tháo rời. Nhiều toa xe có vẻ mục nát và sắp sụm đến nơi. Giữa những toa khác chìm trong bóng tối nhá nhem, im lặng và quạnh quẽ, Nhật thấy một toa có ánh đèn. Anh lò dò bước vào.<br />
-Hồ Tam Kỳ! Nhật kêu tên.<br />
Trong toa xe cả đám đang sát phạt nhau. Ngọn đèn ở giữa sàn chỉ đủ sức soi rõ mấy con bài, nhưng không rõ mặt người.<br />
Có lẽ cả bọn đang quyết ăn thua đủ nên không ai nghe tiếng kêu của Nhật. Anh nhắc lại, giọng to hơn.<br />
-Hồ Tam Kỳ!</p>
<p>Cả đám bỗng quay mặt ra cửa toa. Bầu không khí im lặng hẳn.<br />
-Thằng nào kêu ông nội dzậy?<br />
Nhật nhỏ nhẹ.<br />
-Tôi đây! Anh quên tôi rồi sao?<br />
Hồ Tam Kỳ xô hai tên ngồi hai bên hắn ra, đứng thẳng dậy. Một ngọn đèn pin chiếu thẳng vào mắt Nhật, rồi tắt phụt. Giọng nói của Kỳ.<br />
-Không quên! Bạn muốn gì?<br />
-Tôi giữ lời hứa! Nhật vẫn nhỏ nhẹ.<br />
Hồ Tam Kỳ xòe bàn tay trái ra. Tên đàn em đứng bên cúi xuống cầm sợi xích đặt vào tay Kỳ, Nhật vẫn nhìn đám đông không chớp mắt:<br />
-Tôi có súng.<br />
-Cũng thế thôi! Thứ gì cũng được! Kỳ nói giọng thách thức.<br />
Và ngay lúc bất ngờ nhất, mặc dù Nhật đã chuẩn bị từ trước, hắn đã phóng sợi xích về phía Nhật đánh văng khẩu Colt trong tay anh.<br />
-Sao? Người anh em muốn gì? Kỳ nói trong tiếng cười. Cả đám cười rộ theo.<br />
-Tôi nói là tôi có súng! Nhật vẫn nhỏ nhẹ.<br />
-Súng hơi hay súng nước? Một tên chọc tức Nhật, giọng lè nhè như người say.<br />
Nhật đưa tay thẳng về phía Kỳ, khẩu Beretta nhỏ xíu gọn trong lòng bàn tay anh và anh bóp cò liên tiếp. Cánh tay trái cầm xích của Kỳ hơi buông thõng và Kỳ khụy xuống. Sợi xích sắt rơi trên sàn toa xe. Cả đám rú lên ù chạy. Nhật bước tới đứng trước mặt Kỳ bình tĩnh hỏi:<br />
-Tôi không nói dối chứ?<br />
-Người anh em nói thiệt, nhưng có gì thay đổi đâu!</p>
<p>Kỳ vừa trả lời vừa đứng thẳng dậy và tiện đà câu chuyện húc đầu vào ngực Nhật. Súng vẫn còn trong tay, nhưng Nhật đã ngã xuống. Kỳ phóng qua người Nhật chạy ra toa xe và băng dọc đường Lê Văn Duyệt. Nhật chồm dậy đuổi theo. Trời tối đen và anh phải vất vả lắm mới bắt kịp Kỳ ở khu bán vật liệu xây cất trên trạm xe buýt.<br />
Kỳ đang ngồi trong một ống cống, xé áo buộc vết thương ở chân một con dao to bản bên cạnh. Nhật ập tới, đạp chân lên con dao, túm tóc Kỳ và không nói không rằng anh thọc đầu súng Beretta vào họng Kỳ. Anh kề sát miệng vào tai Kỳ nói nhỏ.<br />
-Một là bạn làm theo tôi, hai là tôi bóp cò. Bạn chọn kiểu nào?<br />
Kỳ giương mắt ngó Nhật, gật gật đầu.<br />
-Nghĩa là làm sao? Bóp cò hả?<br />
-Làm theo tôi chứ?<br />
Kỳ gật đầu.<br />
-Rồi sao? Tâm hỏi tiếp, nôn nóng.<br />
-Tất nhiên là sau đó cảnh sát đến! Trong những vụ thanh toán du đãng bao giờ cảnh sát cũng đến hơi chậm một tí!<br />
-Này, tụi bây nói chuyện tầm phào gì vậy? Hôm nay cho thằng Thăng say mà! Tâm nhắc.<br />
-Thăng, dzô cái coi! Nhật cụng ly tôi.<br />
-Dzô thì dzô! Tôi nói mạnh nhưng chỉ uống một tợp.<br />
-Hỏi thật bạn nhé! Có phải ông Phan ở luôn bên đó trị bệnh đau mũi không?<br />
Câu hỏi của Nhật làm tôi ngạc nhiên. Rõ ràng là nó biết nhiều điều hơn tôi tưởng.<br />
-Vai trò của ông Phan hết thật rồi sao? Tôi hỏi lại Nhật một cách bâng quơ trong khi đốt một điếu thuốc.<br />
-Theo tao vai trò ông Phan chưa hết!<br />
-Tao không hiểu!<br />
-Có gì mà không hiểu. Bởi vì trước khi đi Mỹ, ông Phan vẫn đảm nhận một vai trò nào lớn ở đất nước này. Báo chí và tin đồn gán cho ông Phan một quyền lực mà thực sự ông chưa có!<br />
-Nhưng sao báo chí thổi phồng ông ấy lên quá vậy?<br />
-Có gì đâu. Chẳng qua đó là quả bóng thăm dò. Và theo tao sự thăm dò đó có kết quả.<br />
-Nghĩa là?<br />
-Nghĩa là ông Phan không thích hợp với hoàn cảnh đất nước này.<br />
-Tao vẫn không hiểu!<br />
-Mày sẽ chẳng bao giờ hiểu, ông đi trên mây ạ!<br />
-Hai thằng nói nhăng nói cuội kia có im đi không? Có người tìm thằng Thăng kia kìa! Tâm nói giọng nghiêm.</p>
<p>Ngó theo hướng mắt Tâm, tôi thấy từ một chiếc ô tô đậu sát lề đường bên cạnh gốc me, một cô gái bước xuống. Cánh cửa xe đã đóng lại, nhưng cô vẫn đứng yên một chỗ nhìn ngó xung quanh, trước khi đi thẳng về phía bàn chúng tôi.<br />
Tôi nhận ra là Uyên ngay khi cô cất bước. Cô đi thẳng đến chỗ tôi ngồi, ngó quanh bàn và nói:<br />
-Xin lỗi các anh, tôi có chút chuyện muốn nói riêng với anh Thăng!<br />
-Mời cô tự nhiên! Cô cứ như bọn tôi không có mặt ở đây là được rồi! Nhật nói đùa không ác ý.<br />
-Cám ơn anh! Tôi cũng đang nghĩ vậy! Uyên đáp lại nhanh không để hở một phút.<br />
Tôi kéo ghế đứng dậy. Tôi biết là mình phải về. Tôi chợt nhớ tối nay là sinh nhật của Uyên và tối nay cũng là buổi gặp gỡ chót với Quỳnh.<br />
-Ði đâu vậy bạn? Tâm hỏi chận.<br />
-Tao có chút chuyện. Tôi nói.<br />
-Chưa giới thiệu mà! Nhật kêu lên.<br />
-Xin lỗi. Ðây là Uyên, con gái cụ Phan. Và đây là anh Nhật, nhà báo-nhà binh, anh Tâm, nhà văn khét tiếng Khô Khốc Thiền Sư, và đây là anh Phùng, “godautre” của trường Văn Khoa.<br />
-Còn một người chưa được giới thiệu! Nhật nhắc.<br />
-Ai? Tôi ngạc nhiên.<br />
-Ông chứ còn ai?<br />
-Thôi, giỡn hoài!<br />
-Ðể tao giới thiệu giùm với cô Uyên. Nhật đứng dậy đưa tay về phía tôi, nói với Uyên:<br />
-Và đây là Thăng, người đi trên mây.<br />
-Sao lại người đi trên mây? Uyên hỏi.<br />
-Nghĩa là người này chỉ biết có trời trăng chứ không biết thổ thần thổ địa.<br />
-Ðủ chưa? Tao lên đường?<br />
-Mày tên là Thăng, nhưng chưa thể thăng sớm dễ dàng như vậy đâu! Nhật không tha tôi.<br />
-Làm sao bây giờ! Thủ tục xong rồi mà! Uyên nôn nóng làm tôi tức cười.<br />
-Thủ tục đã xong đâu! Nhật trả lời.<br />
-Vậy còn gì nào? Uyên hơi xẵng giọng.<br />
-Còn mục chót. Nhưng hơi gay! Tâm chen vô. Tôi biết Tâm muốn để tôi đi.<br />
-Xin anh cứ nói! Uyên vẫn nôn nóng.<br />
-Chuyện như vầy. Bữa nay cả bọn tôi đồng ý đi uống rượu. “Người-đi-trên-mây” là cái ông này &#8211; Tâm chỉ tôi &#8211; ổng kêu một két bia. Một két bia là hai mươi bốn chai. Chia cho bốn đứa, một đứa sáu chai. Nãy giờ trung bình mỗi đứa ba chai.<br />
Ông-trên-mây thì chỉ mới chai rưỡi. Ổng muốn đi cũng dễ thôi. Cạn hết sáu chai phần ổng thì ổng có quyền dzọt.<br />
Tâm khề khà như một ông già.<br />
-Nghĩa là anh Thăng còn phải uống bốn chai rưỡi nữa? Uyên hỏi.<br />
-Ðúng!<br />
-Nếu anh Thăng uống không hết thì sao?<br />
-Thì chưa đi Nhật chêm vào.<br />
Uyên cúi thấp xuống vai tôi, nói khẽ.<br />
-Anh uống hết không?<br />
-Chắc không hết! Tôi thành thật.<br />
Tâm quay sang nói nhỏ gì đó với Nhật và Phùng, xong hắn tuyên bố:<br />
-Cho phép cô Uyên giúp sức!<br />
-Cám ơn anh! Sao anh không nói sớm? Uyên cười.<br />
-Cứ coi như anh Thăng uống ba chai. Tôi uống ba chai.<br />
Uyên lấy bia đổ vào ly tôi và chúng tôi chia nhau hết ly này đến ly khác. Cả đám trố mắt nhìn Uyên uống bia như uống nước ngọt.<br />
Khi tôi theo Uyên ngồi hẳn vào trong xe, nhìn qua cửa kính, tôi thấy người chủ quán vừa mang ra cây đèn dầu. Cả đám bạn tôi như những bóng đen bất động. Ánh sáng của ngọn đèn hắt lên từ phía cổ chiếu rõ những mảng cằm phản với bóng đen của cả khuôn mặt.<br />
Xe chạy vòng theo đường Lê Văn Duyệt trở về nhà ông Phan. Tôi nghe trong hơi thở của Uyên còn đọng mùi bia rượu.</p>
<p>&nbsp;</p>
<p><b>Chương 18</b><br />
Khách đến đã khá đông. Phần lớn là sinh viên Văn khoa và Luật khoa, những trường Uyên có ghi danh lấy chứng chỉ. Mặc dù thời buổi này (mà chắc là thời buổi nào cũng thế thôi!) “phi bác sĩ bất thành phu phụ,” sinh viên y khoa không thấy có trong phần khách mời của Uyên.<br />
Tôi không hiểu sự giao du của Uyên, và thật tình mà nói, tôi có bao giờ tìm hiểu chuyện riêng của Uyên. Nhưng sở dĩ tôi biết điều này là vì trên đường từ Chợ Ðũi về, sau khi đã uống giùm tôi một “loáng” ba chai bia, Uyên hỏi đố là tôi có thể đoán được khách mời sinh nhật của cô tối nay là ai không. Tôi nói tôi không biết. (Mà làm sao tôi biết được?) Uyên cho hay có ba cái đặc biệt của sinh nhật cô. Trước hết là cô mừng tôi “chặt được sợi dây cuối cùng của một ràng buộc đã là vô ích.” Thứ nữa là cô có một người bạn mới, một cô bạn gái tên Quỳnh. Và sau cùng, cái đặc biệt của sinh nhật Uyên chính là cô sẽ từ chối lời cầu hôn của một sinh viên y khoa duy nhất trong buổi tiệc này.<br />
Khác với buổi dạ tiệc lần đầu tôi đến nhà ông Phan, không khí hôm nay ồn ào náo nhiệt và rôm rả hơn. Những người trẻ tuổi của thành phố, trong đó có một số người từ quân trường trở về phép đặc biệt, đang quây quanh Uyên và bà Phan. Hai mẹ con đứng bên cạnh nhau, giữa những người trẻ tuổi trông giống như hai chị em. Bà Phan nhỏ nhắn dịu dàng, xinh đẹp nhờ cách trang điểm đơn sơ và ăn mặc giản dị. Còn Uyên như lớn hẳn lên do cách phấn son có phần hơi thái quá một chút, mắt bôi đen, má tô hồng, môi đỏ son. Hôm nay cô mặc chiếc áo dài nhung màu tím than, điểm hoa trắng nhỏ. Áo hở cổ rất rộng, để lộ làn da trắng muốt nổi lên trên sợi dây màu đen tuyền với một thập tự giá bằng gỗ mun. Cao hơn bà Phan gần nửa đầu, Uyên giống như một người mẫu. Trước mặt tôi hôm nay là một cô Uyên lạ hẳn: sắc sảo và cương quyết. Có phải vì đây là lần đầu tiên Uyên có một khuôn mặt trang nghiêm của một người sắp quyết định một điều gì lớn lao trong đời mình?<br />
Phòng khách đèn sáng trưng. Tất cả bạn Uyên ở ngoài vườn cây đã tụ tập hẳn vào trong. Không khí chật chội ấm cúng. Giữa phòng là một chiếc bàn hình bầu dục, mặt đá có vân. Một chiếc bánh sinh nhật lớn trong hộp kiếng đặt giữa bàn, quanh bánh là những bông hồng vàng và nhung thẫm. Quà tặng đủ cỡ nằm la liệt dưới sàn nhà.<br />
Tôi bước về chỗ bà Phan.<br />
“Joyeux anniversaire!”<br />
Rất nhiều tiếng chúc mừng của những người trẻ tuổi. Như một con công, một con công “chúa,” đang khiêu vũ giữa bầy, cô tươi cười, hân hoan, đáp lễ. Bà Phan thấy tôi tới gần, lên tiếng gọi.<br />
-Thăng đến đây!<br />
-Mừng sinh nhật Uyên!<br />
-Cám ơn anh. Uyên nghiêng mặt về phía tôi. Và tôi hôn cô.<br />
-Sinh nhật vui vẻ! Tôi chúc một lần nữa.<br />
Bà Phan đặt tay lên vai tôi ra dấu. Tôi theo bà bước ra khỏi đám đông. Khi đến chỗ vách có treo thanh kiếm Nhật, bà Phan dừng lại hỏi tôi, giọng trách móc dịu dàng:<br />
-Cháu đi đâu suốt cả tuần?<br />
-Thưa bác&#8230; Tôi ấp úng.<br />
-Nghe nói cháu đã có Bản Ðại Tự?<br />
-Thưa bác, cháu đã nhận.<br />
-Cháu thấy sao?<br />
Thấy sao? Hình như có người đã hỏi tôi một câu tương tự. Thấy sao là sao? Dửng dưng! Hình như người ta nóng lòng chờ đợi một điều gì đó, nếu không có nó người ta sẽ khổ sở đến không chịu nổi, vậy mà khi điều ấy đến người ta lại thấy dửng dưng. Nhưng với bà Phan, tôi biết phải trả lời sao.<br />
-Thưa bác&#8230; Tôi luôn luôn ngọng trước những câu hỏi của bà Phan.<br />
-Tôi muốn nói là cháu thấy việc xử ấy có công bằng không?<br />
-Thưa bác, cháu không để ý đến khía cạnh công bằng pháp lý của bản án. Chính cháu là nguyên đơn và cháu hiểu rằng tờ giấy phán quyết ấy chẳng qua cũng chỉ là một tờ giấy. Nó không thay đổi được gì đời cháu.<br />
-Nghĩa là sao?<br />
-Thưa bác, cháu nghĩ là cháu đã làm một điều ngu xuẩn. Cháu đã cố gắng một cách vô ích.<br />
-Chào anh! Bà Phan đang nghiêm bỗng nở nụ cười hướng về phía một ông khách tiến về phía chúng tôi.<br />
-Không dám, chào chị. Chị hồi này khỏe luôn chứ ạ! Khách trả lời khi đứng trước mặt bà.</p>
<p>Ðó là một người đàn ông tròn và lùn. Ông đeo chiếc kính lão nhỏ, để râu mép. Bộ quần áo ông mặc là một loại vải đắt tiền được cắt rất khéo.<br />
-Chào bác Phan đi con!<br />
Người đàn ông nói với người thanh niên đứng bên mà tôi không để ý. Anh rất trẻ, trắng trẻo, gầy và hơi xanh. Mắt anh nhìn thẳng, nụ cười tự tin.<br />
-Cháu Ngạc đang là sinh viên năm thứ ba trường đại học y khoa.<br />
Người đàn ông giới thiệu con trai một cách trang trọng và kiêu hãnh.<br />
-Tôi cũng xin được giới thiệu với anh đây là cháu Thăng, con trai của một người bạn thân của gia đình tôi.<br />
-Chào cậu!<br />
Người đàn ông ngó tôi không mấy thiện cảm. Ông đưa tay cho tôi bắt. Những ngón tay ông rất lơi trong tay tôi.<br />
-Uyên, lại đây con!<br />
Bà Phan gọi Uyên ra khỏi đám bạn cô. Bà giới thiệu người đàn ông với chúng tôi.<br />
-Bác Ðại đây là tổng giám đốc công ty thương thuyền Vihaco, có tàu chạy đường Singapore và Hong Kong. Và đây là cháu Uyên!<br />
-Kính bác!<br />
Uyên nghiêng mình lễ phép.<br />
-Cháu Thăng tiếp khách hộ Uyên nhé!<br />
Bà Phan nói với tôi và đưa tay mời hai cha con ông Ðại.<br />
Còn lại một mình, tôi đi dọc theo vách tường, đến thềm cửa lớn. Tôi đứng lặng nhìn ra sân. Những ngọn đèn xanh đỏ bắt quanh các cành cây đã tắt. Ðêm đang xuống. Tôi có ý trông chờ Quỳnh. Liệu cô có đến không? Tôi nhớ câu chuyện với Quỳnh sáng nay. Dường như chúng tôi đã ngầm đồng ý với nhau rằng đã đến lúc mỗi người phải sống một đời riêng. Tôi nhớ đến ông Phan, người đã vắng mặt trong ngôi nhà này, và quyền thế có vẻ như cũng đã theo ông mà ra đi. Tôi chợt nhận ra, chính ngay chỗ tôi đứng bây giờ là nơi tôi đã bắt tay ông Phan lần đầu. Cái vẻ u ám trầm mặc của vườn cây giờ đây khác hẳn với cái vẻ rực rỡ quyền quí của nó trước kia, gợi lại trong tôi biết bao điều cần suy nghĩ. Phải chăng quyền thế cũng như ánh sáng và bóng tối? Phải chăng đời sống cũng như nước thủy triều, nó tấp lên rồi rút xuống? Ông Phan đã ra đi, và đó hình như là một chuyến đi không có đường trở lại. Quỳnh và Uyên cũng sẽ ra đi, và cả hai như cũng sắp nói với tôi lời vĩnh biệt.<br />
-Tại sao Thăng đứng đây? Vào trong này với Uyên!<br />
Uyên nắm cánh tay tôi thật chặt. Trong bóng tối, tôi thấy mắt cô sáng long lanh.<br />
-Ông tổng giám đốc công ty về rồi à?<br />
-Vâng. Bác Ðại và anh Ngạc vừa về xong. Bác ấy không vui!<br />
Có vẻ như Uyên muốn cho tôi biết rằng cô vừa nói lời từ hôn với người thanh niên tên Ngạc.<br />
-Mấy giờ rồi anh?<br />
Tôi nhìn đồng hồ tay.<br />
-Tám rưỡi.<br />
Tôi thấy Uyên bồn chồn nôn nóng.<br />
-Sao Uyên chưa cắt bánh sinh nhật?<br />
-Uyên muốn chờ chị Quỳnh.<br />
-Tôi sợ là sẽ quá trễ. Sắp đến giờ giới nghiêm rồi!<br />
-Vâng. Uyên biết. Nhưng me đã có giấy phép đặc biệt.<br />
-Thôi, mình vào đi. Sinh nhật của cô thì cô phải có mặt với bạn bè chớ!<br />
-Bây giờ thì Uyên không muốn vào nữa. Uyên có chuyện muốn nói với anh. Trong đó đông người Uyên sẽ khó nói.<br />
-Cô có biết là hôm nay cô lạ lắm không?<br />
Tôi gạt ngang.<br />
-Uyên hiểu. Nhưng anh có biết anh là người không thực tế không? Tại sao anh không xin học bổng?<br />
-Học bổng gì? Tôi ngạc nhiên.<br />
-Me đã nói với anh rồi mà! Uyên trố mắt nhìn tôi.<br />
-Tôi không nhớ. Thật tình là tôi không nhớ.<br />
-Me nói bố sẽ lo cho anh cái học bổng nếu anh muốn. Anh vẫn chưa trả lời đề nghị của bố?<br />
-A! Tôi nhớ ra rồi. Nhưng tôi vẫn chưa tìm ra câu trả lời. Tôi bị xâu xé giữa sự ở và sự ra đi. Ði Mỹ có nghĩa là đi theo Uyên, là chạy theo một mối tình mà cà hai đều biết rằng chỉ là một thách đố, là mãi mãi chia tay với Quỳnh, là trốn lánh những móng vuốt của người đàn bà, là tự bứt mình ra khòi Ðăng và Mai mà tôi thương yêu nhất. Còn ở lại, có nghĩa là chịu đựng sức ép của một quyền lực vô hình, là chấp nhận nỗi khốn khổ của một trái tim dẫy dụa vì bị ruồng bỏ&#8230;</p>
<p>Tôi tin rằng dù “quyền” đã hết ông Phan vẫn còn “thế”. Tôi tin chắc rằng ông Phan có thừa khả năng để lấy cho tôi cái học bổng. Nhưng để làm chi? Tôi choàng tay qua vai Uyên.<br />
“Thôi mình vào đi?” Tôi nhắc lại.<br />
Uyên hơi do dự:<br />
“Anh vào trước, Uyên muốn đứng lại đây!”<br />
Ðúng vào lúc tôi sắp quay lưng, thì có tiếng chuông cổng reo.<br />
“Chị Quỳnh!” Uyên kêu lên.<br />
Cô nắm tay tôi, lôi tôi xuống các bực cấp. Quỳnh đang đứng bên ngoài cổng nói chuyện với người lính gác.<br />
“Chị Quỷnh! Xin mời chị!”<br />
“Xin lỗi chị Uyên, tôi đến trễ quá!”<br />
“Không, không trễ lắm! Mời chị đi lối này!”<br />
Khi người lính kéo chốt cửa mở rộng cánh cổng, Uyên nắm tay Quỳnh đi băng qua thảm cỏ. Quỳnh quay sang nói nhỏ.<br />
“Em có món quà tặng Uyên.”<br />
Ở phòng khách mọi người đang trò chuyện rôm rả. Dàn nhạc sống với Cathy Hồng đang chơi một điệu “soul” rất thịnh hành. Rượu champagne đã được rót. Mỗi người một ly trên tay. Khi thấy chúng tôi vào, cả đám ồ lên.<br />
“Uyên! Uyên! Uyên!”<br />
Tiếng vỗ tay làm nhịp ầm ĩ và tiếng kêu tên Uyên từng chập.<br />
“Nói đi! Nói đi! Nói đi!”<br />
Cả đám tiếp tục vỗ tay và kêu Uyên tuyên bố lý do. Dàn nhạc im bặt. Cathy Hồng giơ cao tay:<br />
“Xin im lặng! Xin im lặng!”<br />
Cả đám quay về hướng Cathy.<br />
“Thay mặt bạn bè, xin một lần nữa chúc mừng sinh nhật Uyên. Xin đốt nến, thổi nến và cắt bánh!”<br />
Uyên rời chúng tôi bước lên bục gỗ. Tay cô cầm một ly rượu.<br />
“Cám ơn! Xin cám ơn tất cả! Hôm nay Uyên mười chín tuổi. Các bạn hãy cạn ly cùng Uyên và chúc sức khỏe!”<br />
“Chưa được! Chưa được! Chưa được!”<br />
Cả đám lại vỗ tay đập nhịp la hét.<br />
“Tại sao?” Uyên hỏi.<br />
“Nến! Nến! Nến!”<br />
Cả đám reo lên cho Uyên biết chưa đốt nến.<br />
“Có ngay!” Uyên nói. Xong cô bước xuống đến bên chiếc bàn giữa phòng. Quỳnh đưa quà sinh nhật của mình cho Uyên.<br />
“Chị Uyên hãy mở ra và đốt ngay. Nến mười chín tuổi đó!”<br />
Và quay sang tôi Quỳnh tiếp.<br />
“Anh Thăng tắt đèn hộ Quỳnh nhé!”<br />
Cả phòng chìm trong bóng tối.<br />
“Anh bật diêm giùm đi!”<br />
“Chị Uyên đốt nhé!”<br />
“Em sợ nổ lắm!”<br />
“Không sao. Không nổ đâu!”<br />
“Này. Diêm này!”<br />
“Ðầu này kia!” Quỳnh nhắc.<br />
Tôi đánh một que diêm.<br />
Một tiếng nổ lớn. Một ngọn lửa xanh lóe lên. Cả gian phòng vỡ ra những đốm sáng. Và phút chốc, mười chín đóa hoa nở bung giữa trần nhà. Ánh sáng kỳ ảo như một ngọn pháo bông.<br />
Tiếng vỗ tay vang rền. Tôi mở công tắc điện. Gian phòng sáng rực chói chang đến khó chịu.<br />
“Tắt! Tắt! Tắt!”<br />
Cả đám vỗ tay đập nhịp phản đối. Chính Uyên đến tắt điện và bật một công tắc khác. Căn phòng chìm mờ trong một thứ ánh sáng tím. Màu trắng của quần áo bị ánh sáng vật lý chiếu ngược một thứ màu sắc lạ lùng. Chiếc bàn giữa phòng được khiêng đặt vào sát vách dành cho sàn nhẩy. Và âm nhạc trỗi lên.<br />
“Chủ nhân đâu? Chủ nhân đâu?” Nhiều tiếng kêu.<br />
“Cái gì vậy?” Tôi hỏi Uyên.<br />
“Chúng nó đòi Uyên khai mạc! Anh nhảy với Uyên nhé!”<br />
“Tại sao không?”</p>
<p>Phòng đã chật ních người. Khi điệu “Soul” tiếp theo, tôi để Uyên nhảy với Tấn và đi xuống cuối phòng. Tôi thấy Quỳnh đang đứng bên bà Phan, hai người nói chuyện có vẻ tâm đầu ý hợp.<br />
“Cháu có cô bạn gái xinh lắm! Cháu mời cô Quỳnh nhảy đi chứ? Tôi đi một vòng nhé!” Bà Phan nhắc tôi.<br />
“Cám ơn bác!”<br />
“Quỳnh uống gì?” Tôi hỏi.<br />
“Anh cho em Sprite.”<br />
“Lúc nào cũng Sprite há? Ðổi gout một bữa coi ra sao?”<br />
“Em là người thủy chung mà!”<br />
“Không có tôi sao?”<br />
“Anh thì có trời mà biết!”<br />
Khi đã đưa thức uống cho Quỳnh, và đứng sát bên cô trong thứ ánh sáng mờ ảo, tôi thấy Quỳnh lặng im như một pho tượng. Mãi một chập lâu sau, Quỳnh hỏi tôi.<br />
“Anh có thoải mái không?”<br />
“Không!”<br />
“Anh đã tìm kiếm được chưa?”<br />
“Tìm kiếm cái gì?”<br />
“Hạnh phúc!”<br />
“Có hạnh phúc thật sao?”<br />
“Có chứ. Hạnh phúc có thật!”<br />
“Em đã gặp nó chưa?”<br />
“Ðã!”<br />
“Theo em thì tôi đã gặp nó chưa?”<br />
“Sao chưa! Anh đã gặp nhưng anh có nhìn thấy nó đâu!”<br />
“Cái gì? Ở đâu?”<br />
“Em. Ở đây.”<br />
Em. Ở đây. Quỳnh nhắc cho tôi nhớ rằng tôi là người không bao giờ bằng lòng với cái hiện tại, cái trước mắt. Tôi phù phiếm. Tôi mơ mộng, hư vô. Tôi, con đà điểu ngu xuẩn. Em. Ở đây. Câu trả lời của Quỳnh như một gáo nước lạnh dội xuống đầu tôi đuổi tôi ra khỏi cơn mê.<br />
“Hai người nói xấu gì Uyên đó?”<br />
Uyên rời khỏi sàn nhảy, đến bên Quỳnh, và đặt tay lên vai tôi, hỏi Quỳnh:<br />
“Sao chị Quỳnh không nhảy?”<br />
“Em không thích!”<br />
“Chị Quỳnh không bao giờ đi party à?”<br />
“Thỉnh thoảng thôi, nhưng không thích.”<br />
“Uyên lấy bánh cho chị nhé!”<br />
“Cám ơn chị Uyên. Em đến mừng sinh nhật chị. Có lẽ em xin phép&#8230;”<br />
“Chị Quỳnh! Còn sớm mà!”<br />
“Mai em phải đi sớm. Vả lại hôm nay còn là bữa giới nghiêm cuối cùng.”<br />
“Em cứ ở đây chơi với Uyên. Chốc nữa tôi đưa về. Ðừng lo.”<br />
“Cám ơn Thăng!” Uyên nói. “Hay là mình vào trong phòng đọc sách của bố đi. Uyên kể cho chị Quỳnh nghe chuyện này hay lắm.”<br />
Ðứng dưới bức tự họa của Van Gogh, Uyên bắt đầu.<br />
“Chị Quỳnh. Trước hết, Uyên thành thực xin lỗi chị về những điều mà Uyên sẽ nói ra trong chút nữa đây. Uyên cũng xin lỗi anh Thăng bỏ qua cho Uyên nếu những điều Uyên nói có làm anh khó chịu. Nguyên do đơn giản thôi. Ðó là vì Uyên yêu anh. Uyên tự hỏi không biết trên đời này còn có người nào yêu Thăng hơn là Uyên yêu Thăng không, nhưng Uyên biết chắc chắn một điều là Thăng đã không yêu Uyên bằng Uyên yêu Thăng&#8230;”<br />
“Chị Uyên&#8230;”</p>
<p>Tôi nghe tiếng Quỳnh kêu lên. Nhưng Uyên đã đưa tay ngăn lại:<br />
-Không. Chị Quỳnh cho phép Uyên nói tiếp. Bởi vì Uyên sợ là nếu Uyên ngưng lại thì Uyên sẽ không bao giờ đủ can đảm để nói nữa. Uyên biết anh Thăng đã có gia đình. Uyên cũng đã nghe người ta nói những điều không mấy tốt đẹp về anh ấy. Quả thật anh ấy có nhiều cái xấu. Hơi nhiều là khác. Nếu nhìn lên anh ấy chả bằng ai. Giáo sư! Cái ‘tít’ ấy đối với nhiều người, nó chỉ ngang với một thứ cấp úy trong quân đội. Nó cũng không bằng một thứ thương gia hạng xoàng. Nhưng đối với Uyên, tuy anh ấy là người có một cuộc sống rất khác với cách suy nghĩ của Uyên. Uyên rất thích có anh ấy. Trong một xã hội mà người nào không sống theo đám đông, người ấy sẽ bị lên án. Uyên không dám sống khác cái đám đông ấy, nhưng Uyên tin cậy anh Thăng. Mặc dù không chấp nhận cái tính bơ bơ không thực tế của anh, Uyên vẫn nghĩ rằng tính tình của anh lôi cuốn Uyên. Người ta nói tình yêu sẽ cải biến những thói xấu nhất trở nên tốt hơn. Uyên tin điều đó. Nhưng me đã nhận ra tình yêu của Uyên. Ðối với me, chỉ yêu một người có một đời vợ đã là điều không thể chấp nhận được nói gì làm vợ người ấy. Khi Uyên nói với me là ‘định mệnh khắc nghiệt’ đã đến với tình yêu của mình thì me trả lời là ta nên cám ơn thứ định mệnh khắc nghiệt ấy, bởi sự chia ly trong đau đớn sẽ làm cho tình yêu đẹp đẽ hơn. Chính sự chia ly giúp ta tránh được thảm kịch thực sự của tình yêu&#8230;<br />
Tôi thả điếu thuốc hút dở xuống nền gạch hoa, dí mũi giầy lên đầu đóm thuốc.<br />
-Em không hiểu chị Uyên muốn nói gì? Quỳnh nói.<br />
-Rồi chị Quỳnh sẽ hiểu. Yêu nhau mà không lấy nhau được đến nỗi phải chia tay, hoặc phải đi tìm cái chết&#8230; tình yêu ấy vẫn tồn tại. Thảm kịch của tình yêu chính là người này dửng dưng dưới mắt người kia trong khi vẫn sống bên nhau.<br />
Tôi nhớ lại một truyện ngắn của nhà văn Anh, ông Somerset Maugham, mà có lần tôi đã thấy trên kệ sách trong phòng này. Tôi hiểu ý bà Phan muốn nói gì với con gái rượu của bà.<br />
Một lát, tôi nghe tiếng Quỳnh thở dài.<br />
-Chị Uyên, em vẫn không hiểu chị muốn nói gì?<br />
Tôi thấy Quỳnh đứng dậy, hai tay cô chống lên bàn giấy ông Phan.<br />
-Em không tin là chị Uyên yêu anh Thăng. Chị là người được chiều chuộng quá mức. Chị có nhiều tham vọng. Chị muốn làm chủ sở hữu những gì chị ưa thích. Chị chỉ muốn có anh Thăng. Chị đâu có yêu anh ấy. Chị thích nhận hơn là cho&#8230;<br />
-Chị Quỳnh! Uyên kêu lên.<br />
-Xin chị Uyên cho Quỳnh nói. Em rất phục tài ăn nói của chị. Chị có quá nhiều điều mà em không có. Chị có một gia đình quyền thế, có một người mẹ rất hiểu biết, chăm sóc và lo lắng cho tương lai của con. Chị có quá nhiều lý trí để nói đến cái gọi là tình yêu. Ðối với em tình yêu có nghĩa là kết hợp, là chia sẻ, là dâng hiến, là cho&#8230; Thảm kịch của tình yêu chính là vì tình yêu thiếu những điều đó&#8230;<br />
-Chị Quỳnh. Chị đã hiểu lầm em. Những gì em nói chỉ là muốn giúp chị thôi!<br />
-Cám ơn chị. Chị muốn giúp Quỳnh điều gì vậy?<br />
-Uyên muốn nói khi mình gặp một người mà mình nghĩ là mình có thể yêu, hãy yêu. Nhưng tốt nhất là đừng nên nghĩ đến việc sống chung với người đó. Theo Uyên, mình chỉ nên là tình nhân của người mình yêu, còn nếu phải lấy chồng thì mình nên lấy người yêu mình.<br />
-Tại sao?<br />
-Bởi vì nếu mình lấy người đàn ông yêu mình, mình sẽ tránh được nhiều điều phiền phức, ít ra là mình sẽ không khổ, nếu họ lăng nhăng, vì mình đâu có yêu họ. Nhưng Uyên tin là họ chả bao giờ dám lăng nhăng chạy theo những bóng hồng khác đâu. Bởi vì khi họ yêu mình, họ sẽ tránh những gì làm phiền lòng mình. Chị Quỳnh nghĩ sao?<br />
-Em càng thán phục sự tính toán của chị!<br />
-Cám ơn lời khen của chị. Thật ra Uyên chỉ nói lại những gì me Uyên nói. Uyên không thể sống nếu thiếu me&#8230;<br />
-Chị thật là một người hạnh phúc! Một hạnh phúc hoàn hảo!<br />
Và Quỳnh quay sang tôi:<br />
-Anh Thăng! Em muốn về!</p>
<p>Tôi nhìn đồng hồ trên vách. Chỉ còn mấy phút nữa là đến giờ giới nghiêm. Tôi nhớ lại những gì Uyên và Quỳnh nói. Tôi hiểu tôi phải làm gì. Tôi đứng dậy đến bên Quỳnh. Tôi cúi xuống chiếc ghế bành, nơi Quỳnh đang trầm mình trong đó.<br />
-Ði Quỳnh! Anh có thể đưa em về!<br />
Quỳnh đứng dậy. Cô nhìn chăm vào mắt tôi. Tôi có cảm tưởng như có một dấu hỏi to lớn trong mắt người thiếu nữ kia.<br />
-Anh Thăng! Tôi nghe tiếng Uyên kêu giật ngược.<br />
-Anh đi đâu vậy?<br />
-Tôi đưa Quỳnh về. Sáng mai sớm Quỳnh đã rời Việt Nam rồi!<br />
-Ðể em gọi bác tài, chúng mình cũng đưa Quỳnh về!<br />
-Thôi Uyên ạ! Uyên cứ vui chơi với các bạn. Tôi đưa Quỳnh được mà!<br />
Tôi nắm tay Quỳnh đi len qua phòng khách. Những người trẻ tuổi nhảy nhót trong một vũ điệu cuồng loạn. Trông họ giống như những người đồng bóng. Âm nhạc và ánh sáng có ảnh hưởng gây những cơn mê thần trí. Mạnh như Ullysse mà còn phải bịt tai trước tiếng hát quyến rũ đầy chết chóc của những con nhân điểu ở đảo Trinakri, huống chi tôi. Nhưng Quỳnh đã giúp tôi qua cơn sóng gió.<br />
Uyên vẫn còn đứng nguyên ở thềm cửa thư viện. Ánh sáng từ ngọn đèn màu trên vách chiếu xuống khuôn mặt Uyên, khuôn mặt trẻ trung, xinh đẹp, quyến rũ và tràn đầy sinh lực, nổi bật trên một nền đen thẫm, như một bức tranh siêu thực.<br />
Uyên vẫn đứng đó bất động như một pho tượng bằng sáp.<br />
Tôi hiểu rằng tôi sẽ chia tay Uyên mãi mãi. Có Uyên, quyền lực sẽ trói buộc tôi, mà tôi thấy mình không việc gì phải chui đầu vào chiếc thòng lọng êm ái kia.<br />
Vườn cây trong sân biệt thự ông Phan hoàn toàn chìm trong bóng đêm. Những lá cây đang thở diệp lục tố. Tôi dừng lại ở bực cấp cuối, đốt một điếu thuốc và thở khói.<br />
Tôi choàng tay qua vai Quỳnh. Tôi muốn che chở một tình yêu. Không phải, chính tình yêu của Quỳnh đã che chở tôi.<br />
Chính tình yêu ấy đã giữ tôi khỏi ngã.<br />
Những viên sỏi lót đường kêu lạo xạo dưới chân tôi. Tường cao lởm chởm những mảnh chai nhọn. Khi người lính kéo cánh cửa sắt dày và nặng, nhường lối cho chúng tôi đi, tôi hiểu rằng tôi sẽ không bao giờ trở lại ngôi nhà ấy nữa. Cánh cửa sắt đóng lại sau lưng tôi khép vĩnh viễn một con đường vào xứ Thục&#8230;<br />
Ngoài trời, đêm Saigon mát lạnh. Những hạt mưa rất nhỏ đang bắt đầu rơi trên thành phố.<br />
Tôi quên là trên tay tôi vẫn còn ly rượu chưa uống cạn. Tôi ném nó xuống mặt đường. Tiếng thủy tinh vỡ làm đầu óc tôi tỉnh táo hẳn. Ðường vắng, không một bóng người. Chúng tôi đi thong thả, nhàn tản đi như những chủ nhân giàu có luôn luôn cô đơn giữa một tài sản to lớn của mình.<br />
Ðến một trụ đèn đường, Quỳnh dừng lại. Cô mở chiếc xắc tay lấy ra một xấp giấy. Tôi thấy tấm vé của hãng hàng không CAL. Lúc đầu hơi do dự, nhưng sau đó, rất quyết liệt, Quỳnh xé nát những tờ giấy trong tay mình, rải xuống mặt đường.<br />
Mưa đã ướt tóc tôi và bắt đầu xối xả trên mặt mũi tôi. Chúng tôi ướt lạnh, co ro, run rẩy.<br />
Ông Phan hay ông Lý? Bà Phan hay Uyên? Quyền lực hay thù hận. Tôi không biết điều gì sẽ đến với tôi. Tôi ôm Quỳnh.<br />
Chúng tôi hôn nhau cái hôn nhòa nhạt nước mưa dưới một bầu trời thấp, ẩm đục, giữa một thành phố vắng vẻ và lạnh lẽo, trong tiếng còi hụ của đêm giới nghiêm sau cùng.<br />
<strong>(Hết)</strong></p>
<p><strong><em>Người Đi Trên Mây, hiệu đính từ bản điện tử của Người Việt Online và ấn bản 2014 Người Đi Trên Mây, Người Việt Books, ISBN 978-1-62988-251-2 (TV&amp;BH 2014)</em></strong></p>
]]></content:encoded>
					
					<wfw:commentRss>https://t-van.net/nguyen-xun-hang-nguoi-di-trn-my-2/feed/</wfw:commentRss>
			<slash:comments>0</slash:comments>
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Nguyễn Xuân Hòang: Sổ Tay</title>
		<link>https://t-van.net/so-tay/</link>
					<comments>https://t-van.net/so-tay/#respond</comments>
		
		<dc:creator><![CDATA[TV và BH]]></dc:creator>
		<pubDate>Tue, 16 Sep 2014 19:33:51 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[đọc lại Nguyễn Xuân Hòang]]></category>
		<category><![CDATA[nguyễn xuân hòang]]></category>
		<category><![CDATA[đọc lại NXH]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://7076e870b2.nxcli.io/?p=19171</guid>

					<description><![CDATA[(Nguồn: Văn Magazine) Lời Giới Thiệu: Sổ Tay của nhà văn Nguyễn Xuân Hòang là những trang ghi chép về con người, sự vật, sự việc xẩy ra chung quanh một con người dường như sinh ra chỉ để làm văn chương. Duới con mắt nhà văn, thế giới chung quanh ông được chiếu rọi [&#8230;]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<p><b><a href="https://t-van.net/wp-content/uploads/2014/09/clip_image00110.jpg"><img decoding="async" style="background-image: none; float: none; padding-top: 0px; padding-left: 0px; margin-left: auto; display: block; padding-right: 0px; margin-right: auto; border: 0px;" title="clip_image001" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2014/09/clip_image001_thumb10.jpg?strip=all&fit=304%2C436" alt="clip_image001" width="304" height="436" border="0" /></a></b></p>
<p align="center"><b><a href="http://vanmagazine.saigonline.com/HeaderMenu/SoTayMain.php">(Nguồn: Văn Magazine)</a></b></p>
<p><b><i>Lời Giới Thiệu</i></b><i>: Sổ Tay của nhà văn Nguyễn Xuân Hòang là những trang ghi chép về con người, sự vật, sự việc xẩy ra chung quanh một con người dường như sinh ra chỉ để làm văn chương. Duới con mắt nhà văn, thế giới chung quanh ông được chiếu rọi qua buồng lọc của một trái tim nhân hậu, từ một cái đầu sắc bén, và bằng một cảm quan tinh tế bắt gặp được những góc khuất nhất của thế giới ấy mà không phải nhà văn nào cũng có thể bắt gặp được. Xin  trân trọng giới thiệu đến độc giả một số bài Sổ Tay đã được tạp chí Văn online (<a href="http://vanmagazine.saigonline.com">http://vanmagazine.saigonline.com</a>) đăng tải. Nay ngừơi chủ biên đã qua đời, trang Web không còn có sự chăm sóc, nên bài vở đã bị  mọt (corrupted), không thể truy cập được. Nội dung đăng tải sau đây chỉ là một phần trong những bài Sổ Tay trên tạp chí Văn (báo giấy) trong khỏang thời gian 10 năm, kể từ năm 1996 ông tiếp nhận lại tạp chí từ tay nhà văn Mai Thảo cho đến khi tạp chí tự đình bản năm 2007. </i></p>
<p><b><i>T.Vấn</i></b></p>
<p><b><i>Tháng 9 năm 2014</i></b></p>
<p>&nbsp;</p>
<p>&nbsp;</p>
<p><b>7-1999 &#8211; Vĩnh biệt Lê Uyên Phương </b></p>
<p>&#8220;H. ơi, anh Phương đã bỏ Uyên đi rồi!&#8221; Giọng nói nghẹn ngào, đầy nước mắt ở đầu giây điện thoại bên kia cách nơi tôi làm việc bảy tiếng đồng hồ xe chạy là của nữ ca sĩ Lê Uyên. Chị báo cho biết tin Lộc đã ra đi. Nhạc sĩ Lê Uyên Phương, tác giả Vũng Lầy Của Chúng Ta đã ra người thiên cổ đúng vào hai giờ chiều thứ Ba 29 tháng Sáu vừa qua. Chưa tới cái tuổi sáu mươi. Sáu mươi của cuối thế kỷ 20 không phải là tuổi già. Cái tuổi còn khả năng sáng tạo. Và Lê Uyên Phương đang hoàn thành tác phẩm âm nhạc cho năm 2000: phổ nhạc những bài thơ của các thi sĩ Việt Nam hiện đại.</p>
<p>Lần sau cùng tôi gặp Phương hình như vào tháng Chín (hay tháng Mười?) 1998 tại một quán cà phê trên đường Bolsa, góc đường Magnolia. Bởi vì tôi nhớ tháng Mười Một tôi chia tay Bolsa. Hôm đó anh đi với Phạm Công Thiện vừa từ Úc qua. Phương hơi nhỏ con, tóc dài, đôi mắt như cười, chiếc áo mặc ngoài màu sẫm và rộng so với khổ người anh (có vẻ như màu nâu là màu Phương thích nhất, tôi nghĩ vậy vì lần nào gặp anh tôi cũng tưởng chừng như mới ngày hôm qua, vì chiếc áo ấy không thay đổi.) Và lần này gặp lại anh tôi vẫn nhìn thấy một khuôn mặt rạng rỡ yêu đời. Anh có một nụ cười rất tươi và giọng nói ấm. Anh là người chỉ gặp một lần thôi cũng sẽ giữ mãi một kỷ niệm đầm ấm tin cậy. Tôi quen anh thời còn là sinh viên ở Đại học Dalat, đâu khoảng năm 1960. Đó là thời gian Lê Văn Lộc &#8211; với tên Phương sau này &#8211; đang viết những tình khúc đầu tay của anh. Tôi chưa kịp thân anh thì ra trường. Trở về Sài Gòn, tôi bị cuốn hút vào thế giới chữ nghĩa hơn là thế giới âm thanh. Có vẻ như âm nhạc không tác động nhiều đến đời sống tình cảm tôi, nếu có, phải nói chính những lời từ trong các ca khúc mới thực sự chinh phục tôi. Khi nhạc sĩ Cung Tiến giới thiệu những tình khúc đầu tiên của Lê Uyên &amp; Phương tôi chợt nhận ra người bạn của những ngày ở Dalat lớn hơn những gì tôi nghĩ và biết về anh trước đó rất nhiều.</p>
<p>Lê Uyên &amp; Phương, như Sony &amp; Cher của âm nhạc Mỹ, quả thật đã chinh phục cả một lớp tuổi chúng tôi. Âm nhạc của anh không chỉ là những tình khúc lấy cái melody làm nền tảng, như một nhận xét của nhà báo Đỗ Ngọc Yến. Cái melody lãng mạn trong những ca khúc của Phạm Duy hay cái melody siêu hình trừu tượng trong tình ca Trịnh Công Sơn làm thành nét quyến rũ của hai bậc thầy về những bài tình ca này quả có khác với tình khúc của Lê Uyên Phương. Cái làm thành sức mạnh của âm nhạc Lê Uyên Phương chính là cái giai điệu cực kỳ khêu gợi dục tính. Đó những lời than thở cả một tình yêu &#8220;gặp hôm nay mà đã nhớ ngày mai&#8221;, không phải âm nhạc của mộng dưới hoa, của cầm tay nhau không nói, khóc lóc mà làm chi, anh về đi em đi. Âm nhạc của Lê Uyên Phương là tiếng kêu la chất ngất của thịt da, của loài thú sống với bản năng, của giống đực ngợi ca giống cái, của một sự thực không thể chối cãi về giới tính. Âm nhạc của Phương đã chinh phục tôi. Nghe Lê Uyên và Phương hát, tôi khám phá ra sự dịu dàng trong văn chương và âm nhạc thật ra chỉ làm vui lòng các cô tiểu thư giả vờ ngây thơ chứ không phải là thứ âm nhạc mà lẽ ra chúng ta phải hát cho nhau nghe bằng tấm lòng chân thật của tình yêu. Thứ tình yêu kiểu Lưu Trọng Lư đã qua rồi. Đã qua rồi tình yêu Tự Lực Văn Đoàn, đã qua luôn thứ tình yêu kiểu chàng và nàng như Vacances Romaines với Audrey Hepburn và Gregory Peck,&#8230; Âm nhạc của Lê Uyên Phương rất gần với truyện của D.H. Lawrence. Nó là cái phần vô thức trong phân tâm học của Sigmund Freuud, là cái tận cùng kỳ thú trong Kiều của Nguyễn Du. Tôi yêu âm nhạc của Lê Uyên Phương, tôi yêu tiếng hát cũa hai bạn, tiếng hát khêu gợi làm sao, tiếng hát đi qua một trái tim nóng bỏng và đã thổi cái hơi nóng tình yêu nồng nàn qua trái tim người nghe, bắt họ phải nhận ra rằng đó mới là tình yêu đích thật.</p>
<p>Bao giờ cũng vậy, mỗi khi nghe nhạc Lê Uyên Phương tôi đều nhìn thấy lại Dalat, một Dalat đã làm tôi trở thành một người khác với con người thời niên thiếu của tôi. Và tôi nhận ra mình ngu ngốc và rụt rè biết bao trước một Lê Uyên Phương chân thật và dũng cảm.</p>
<p>Sống cùng một bầu trời với anh tại nam California trong hơn mười ba năm nhưng tôi và anh gặp nhau không nhiều. Tuy vậy mỗi lần gặp nhau chúng tôi đều nhận ra người bạn ấy vẫn là người bạn của Dalat năm xưa: sương mù, con dốc, nhà ga, và cái lạnh lẽo của những ngày mùa đông. Âm nhạc Lê Uyên Phương trở thành những lời trối trăn của một cuộc tình trong thời chiến, không cơ may nổi loạn, chỉ làm sao có thể sống sót cho qua những cơn thảm sát ngu xuẩn của chiến tranh. Chia tay ngay trong giờ phút gặp gỡ của hiện tại này vì ngày mai chắc gì chúng ta còn nhìn thấy nhau. Lê Uyên Phương hát cho một tuổi trẻ bất lực trước cuộc sống không có ngày mai.</p>
<p>Nhưng cái gì làm thành âm nhạc Lê Uyên Phương? Trong một bài tùy bút có tựa đề là Âm Nhạc Từ Thiên Đường, trong tập Không Có Mây Trên Thành Phố Los Angeles, Lê Uyên Phương đã trả lời cho câu hỏi đó. Anh kể lại trong thời tuổi nhỏ đã có ít nhất bốn lần âm nhạc đã đến với anh. Lần đầu tiên vào một buổi chiều của Dalat, lúc anh mới khoảng tám, chín tuổi, cùng với người anh họ tên Bửu Ân, ngồi trên một ngọn đồi thấp gần ngôi trường tiểu học nằm giữa thị xã, trước mặt là con dốc dẫn xuống hồ Xuân Hương, xa là ngọn tháp nhọn của Lycée Yersin &#8230; Cả hai ngồi đó nhìn xuống con dốc, vừa bứt những ngọn cỏ xanh, vừa nói đủ chuyện trời trăng mây nước. Và đột nhiên anh phát giác ra cả hai ngưng bặt từ lúc nào, và đang lắng nghe trong không gian tràn ngập những tiếng đàn vĩ cầm: chồng lên nhau, quấn vào nhau, đuổi theo nhau như một dòng suối, những tiếng đàn vĩ cầm đến từ chiếc loa phóng thanh của hội chợ, một đoạn valse của Johann Strauss, rồi một dàn kèn đồng trỗi lên làm lung linh mọi thứ trong không gian.&#8221; Lê Uyên Phương viết &#8220;Ôi! Hạnh phúc biết bao, con người đã tạo nên được những âm thanh kỳ diệu như thế.&#8221; Và từ đó anh bắt đầu nhận thức thế giới chng quanh qua cái &#8220;nghe&#8221; của những âm thanh của buổi chiều hôm đó. Bài viết của anh cho tôi hình dung cái cảnh tượng cậu bé Lê Văn Lộc mỗi buổi chiều thường ra cái mép của khoảng đất trống trên đường Hàm Nghi, nhìn xuống thung lũng chỗ có rạp hát Ngọc Hiệp trên đường Phan Đình Phùng để nghe vọng lại âm điệu của cái concerto en C majeur của Mozart viết cho dương cầm được phát ra từ cái loa của rạp hát trước giờ chiếu phim&#8230;&#8221; Lần thứ hai, âm nhạc đến với anh từ những bài thánh ca trong nhà thờ Tin Lành, và anh làm quen với Mendelson, với Bach, với Schubert&#8230; Lần thứ ba, qua đài phát thanh Dalat, chương trình âm nhạc Hoa Kỳ đã chinh phục anh với tiết điệu của nhạc Jazz. Điều làm anh say mê là những tiết điệu nhịp nhàng của trái tim con người bên cạnh những buông thả của hơi thở, của cảm xúc thể hiện qua tiếng kèn đồng nóng bỏng.&#8221; Sự vắng bặt của lý trí trong nhạc Jazz đã mê hoặc anh. Và như thế Duke Ellington. Bessie Smith, Louis Amstrong, Lil Hardin đã đến với anh, mang cho anh bài học lớn lao về cái gọi là chất tươi của âm nhạc, là máu của âm nhạc. Tôi nghĩ rằng người ta sẽ dễ thẩm thấu âm nhạc của Lê Uyên Phương hơn nếu được đọc những dòng chữ đầy tính cách tự truyện của anh trong tùy bút Âm Nhạc Từ Thiên Đường:</p>
<p>&#8220;Tôi biết rằng tôi đã thuộc vào một nơi nào đó rất chênh vênh giữa lý trí của con người, linh hồn của Thượng Đế và hơi thở của tình yêu.&#8221;</p>
<p>Lộc đã ra đi. Lê Uyên Phương đã vẫy tay từ biệt chúng ta. Nhưng Tình Khúc Cho Em, Vũng Lầy Của Chúng Ta, vẫn còn ở lại, sẽ còn ở lại. Âm nhạc của Lộc không phải ai cũng hát được. Có những ca khúc gần như anh chỉ viết cho hai người hát. Và hai người đó chính là Lê Uyên và Phương. &#8220;Hãy ngồi xuống đây. Hãy ngồi xuống đây&#8230; &#8221; Khi những âm thanh ấy cất lên chỉ còn lại cái khuôn mặt ngây dại của Lộc cúi xuống cây đàn thùng và cái dáng đứng cao gầy của Lê Uyên nhìn xuống những ngón tay anh. Hãy ngồi xuống đây! Hãy ngồi xuống đây! là những lời mời gọi của một tình yêu không còn ngây thơ nữa. Trái cấm đã ăn, cánh tay đã ôm ấp và hai thân xác đã nhập vào nhau.</p>
<p>Âm nhạc của Lê Uyên Phương là giai điệu của chúng tôi. Anh ra đi mang theo phần thứ hai của một tên tuổi đã đi vào trí nhớ mọi người. Sẽ khó mà tìm được một Phương khác cho Lê Uyên trong khi trình bày những tình khúc của Lộc. Tôi nghĩ như vậy.</p>
<p>Chỉ trong một thời gian ngắn, rất ngắn, chúng tôi đã tiễn đưa Mai Thảo, rồi Nghiêu Đề, rồi Nguyên Sa. Trước đó là Bùi Giáng ở quê nhà. Mới đây là Lê Đình Điểu ở Quận Cam. Và bây giờ là Lê Uyên Phương.</p>
<p>Rồi sau cùng mọi người cũng sẽ lần lượt rủ nhau ra đi thôi.</p>
<p>Nếu trái đất không thể chịu đựng nổi sự già nua, với một quá khứ đầy thử thách thì nó sẽ phải ấp ủ trong lòng một tuổi trẻ chưa kịp làm thành dĩ vãng. Nhưng điều đó cũng chả hề gì. Tuổi trẻ bây giờ đang chuẩn bị cho một quá khứ sắp tới, bởi vì tương lai đang có trong tay họ. Nghệ thuật của Trần Anh Hùng và Tony Bùi đang trả lời cho những câu hỏi như thế.</p>
<p>Những cơn mưa Sài gòn</p>
<p>tràn ngập kỷ niệm thời tuổi nhỏ</p>
<p>Mùa hè quả thật đã đến miền Bắc Cali. Mấy ngày cuối tháng Sáu độ nóng đã vượt quá con số 97. Cả thành phố như chìm trong một lò nướng thịt. Sức nóng ngoài trời làm mọi người ngật ngừ, dễ cáu gắt, giận dữ. Tôi lái xe trên đường trở về buổi tối vẫn không thoát dược cái nóng. Tôi nghĩ chắc không thể dưới 100 độ. Dưới Santa Ana, mùa hè tôi đã từng chịu những trận nóng dữ dội, nhưng tôi chưa thấy cái cảm giác bị nằm trong một lò nướng thịt này. Tôi đi tìm một cơn mưa cho bầu trời bắc Cali. Phải có một trận mưa lớn, thật lớn, may ra&#8230; Tôi nhớ Sài Gòn những ngày mưa, những cơn mưa xối xả đổ xuống con dường Phạm Ngũ Lão, lầy lội ở Ngã Tư Quốc Tế, ướt con đường Kỳ Đồng. Mưa kéo theo một dòng sông trên đường Trần Quốc Toản. Những cơn mưa tràn ngập trong cuốn phim Ba Mùa của đạo diễn Tony Bùi vẫn còn ướt trí nhớ tôi.</p>
<p>Cô phóng viên Vương Trường Nga My của tờ Việt Mercury luôn luôn hỏi tôi tại sao chưa đi xem Ba Mùa. Đó là một cuốn phim tuyệt vời, một cuốn phim mà mọi người Việt Nam đều phải đi xem. Và tôi đã đi xem Ba Mùa. Cái cảm giác sau cùng khi tôi bước ra khỏi rạp còn đọng lại trong tôi là những cơn mưa, đúng là những cơn mưa tuyệt vời. Cái ống kính của người cầm máy đã thu được cái chất rất Sài Gòn ở những cơn mưa trên đường phố. Hình ảnh chú bé mặc áo mưa bước đi lang thang trong thành phố đêm. Cảnh đá bóng dưới mưa trên đường phố. Và cái thế giới bên kia sự nghèo khó . Cô gái điếm. Người phu xích lô. Cô gái bán sen. Một người Mỹ đi tìm con. Đừng nói đến nhân vật thi sĩ bị phong cùi, chủ cả một đầm sen giàu có với cái bí ẩn kiểu tay trùm một băng đảng và là tác giả những bài thơ hạng C. Hãy bỏ cái cảnh những người phụ nữ miền Nam ăn mặc như Tàu. Hãy quên đi những tiếng hát &#8220;giả&#8221; trên đầm sen thiếu cái logic của nghệ thuật. Hãy tưởng tượng không nhìn thấy cái cảnh người phu xích lô bịt mắt côgái điếm chở đến một con đường đầy hoa phượng rất cải lương. Hãy đừng hỏi tại sao cứ phải là cô gái điếm, là người đạp xích lô,&#8230; khi nói về, viết về, lấy ảnh về Việt Nam, và hãy nhớ là Tony còn rất trẻ, chưa sống được cái kỷ niệm những cơn mưa Sài Gòn, chưa nếm được cái mùi của một đứa trẻ kiếm ăn trên hè phố, chưa ngợp trước vẻ đẹp của những cánh hoa phượng vĩ đổ xuống một mùa hè tuổi trẻ,&#8230; ta sẽ yêu cuốn phim đến chừng nào. Tôi hiểu tại sao cuốn phim được giải ở Đại hội Điện ảnh Sundance. Tôi hiểu được tại sao những người trẻ tuổi yêu cuốn phim này. Tony Bùi xứng đáng được ca ngợi. Và phải nói tài năng của anh được sự hỗ trợ rất lớn của những tay nghề rất cao trong đoàn làm phim của anh. Nếu thiếu những con người đó tôi nghĩ Tony sẽ vất vả nhiều. Bởi vì để thực hiện một cuốn phim, cốt truyện hay chưa đủ. Phim trước hết là hình ảnh. Ngôn ngữ của nó là hình ảnh. Ba Mùa có được cái sức mạnh ấy. Và chúng ta hiểu tại sao tác phẩm ấy đã chinh phục được những khán giả chọn lọc của phim ảønh Hoa Kỳ tại Đại hội Sundance. Bốn ngôi sao cho Tony Bùi. Và đừng tìm những ý nghĩa sâu xa nào khác để gán ép cho cuốn phim có những hình ảnh tuyệt vời này.</p>
<p>NGUYỄN XUÂN HOÀNG</p>
<p>&nbsp;</p>
<p><b>8-1999 -Người đàn ông sexy nhất nước Mỹ </b></p>
<p>Tháng Bảy năm nay là tháng của những người đi xa: Tác giả Bão Thời Đại, nhà viết kịch Trần Lê Nguyễn ở Việt Nam; nhà viết tiểu thuyết lừng danh Mario Puzo với tác phẩm in ra trên 21 triệu bản, The Godfather- Bố Già, và gần nhất không phải là một kịch tác gia, cũng không phải là nhà tiểu thuyết, chủ bút tạp chí George, ông John F. Kennedy Jr., con trai của cựu Tổng thống Kennedy, cả ba nhân vật này đều đã từ giã chúng ta.</p>
<p><b>Người đàn ông sexy nhất nước Mỹ </b></p>
<p>Trong ba cuộc chia tay, có lẽ cuộc chia tay của John F. Kennedy Jr. (1960-1999) được xem là chấn động nhất, không chỉ trên toàn nước Mỹ, mà còn được cả thế giới quan tâm theo dõi, hậu chấn của nó cũng mạnh không thua gì cái chết của Công nương Diana nước Anh trước đây. Chiếc phi cơ của ông bay trong đêm tối , chở theo bà vợï và bà chị vợ đã bay chuyến bay cuối cùng vào bóng đen của biển cả. Trên nhiều tờ báo cũng như trên truyền hình, và trên mạng lưới điện toán mấy ngày qua, nhiều lần người ta được xem lại hình ảnh chú bé John-John trong chiếc quần ngắn, áo choàng xanh, đứng thẳng người trong ngày sinh nhật lần thứ ba của chú để chào chiếc quan tài mang thi hài của người cha thân yêu ra đi. Cái chào tay mà ký giả Michael Powell của tờ Washington Post viết là &#8220;một cử chỉ tự nó đã làm rạn nứt thêm những trái tim đã tan vỡ.&#8221; Chú bé ấy lớn lên trở thành một thiếu niên phơi phới &#8220;ném bắt những chiếc đĩa nhựa frisbee tại Công viên Central Park. Rồi thành người thanh niên trượt băng ẵm được một cô vợ tuyệt đẹp. Con người mang dòng điện 100,000 megawatt từng đọc bài diễn văn khiến cho cả hội trường phải đứng dậy vỗ tay trong kỳ Đại hội đảng Dân Chủ tại Atlanta năm 1988, người từng được tờ People phong là người đàn ông sexy nhất thời đại, đồng thời người bị trêu là &#8220;bảnh thế mà thi rớt kỳ thi đầu tiên vào luật sư đoàn,&#8221; người từng làm chủ bút sáng lập một tạp chí chính trị mà phi-chính-trị, tờ George, năm 1995, nhưng lại tinh nghịch cưỡng lại sự mời gọi của chính trường bầu bán. Trong số ra mắt tờ George, John F. Kennedy Jr. viết: &#8220;Như một khán giả đã được thấy trong cuộc đời mình cuộc trình diễn của những con rối khổng lồ, có thể biến công chúng bên ngoài thành những biểu hiệu không có nét nào giống họ, tôi hy vọng là chúng tôi sẽ cung cấp được một cái gì đó hữu ích hơn.&#8221;</p>
<p>Trong lịch sử của đất nước Hiệp Chủng Quốc chắc chắn người ta không bao giờ đem so sánh ông với thân phụ của ông, cũng như người chú Robert F. Kennedy của ông, nhưng nói theo nhà báo Mike Antonucci của tờ San Jose Mercury News thì cái chết của John F. Kennedy Jr. dẫu sao cũng &#8220;vẫn là một phần của bài thơ buồn, mang đủ những tính chất của một lời nguyền muôn thuở.&#8221; Lời nguyền muôn thuở nào? Của ai? Tại sao?Không thấy tác giả bài báo viết. Nhưng người ta nhìn lại số phận của những con người trong đại gia vọng tộc Kennedy này không khỏi đặt câu hỏi: Tại sao những cái chết khủng khiếp như thế. Từng người, từng người lần lượt ra đi, như những giọt máu cuối cùng từ cơ thể của một sinh vật khổng lồ bị vắt kiệt và từ từ ngã xuống. Đi tìm lời giải thích cho những cái chết tưởng là dễ hiểu một cách khó hiểu người ta đã gặp phải một bức tường màu đen của vô ngôn.</p>
<p>Nếu cái chết của Mẹ Teresa là một sự pha trộn của một định mệnh đầy ý nghĩa thì liệu có thể nào nói được rằng cái chết của John F. Kennedy Jr. là &#8220;một sự pha trộn lạ lùng của cái vô nghĩa và định mệnh&#8221; như cách nói của Mike Antonucci không?</p>
<p>Vĩnh biệt John F. Kennedy Jr. (1960-1999), vĩnh biệt Carolyn Bessette Kennedy (1965-1999). Cả nước Mỹ đang để tang cho sự ra đi của vị Hoàng tử sau cùng của Hiệp Chủng Quốc cuối thế kỷ XX.</p>
<p><b>Tác giả The Godfather và dịch giả Bố Già </b></p>
<p>Một buổi sáng tháng Chạp năm 72, một người đàn ông gầy ốm, mặt nhỏ choắt, mặc chiếc sơ mi màu cháo lòng, tay áo thả dài xuống lấp cả hai bàn tay, bước vào toà soạn Văn ở đường Phạm Ngũ Lão Sài Gòn. Mai Thảo giới thiệu với tôi anh là Tú tức Ngọc Thứ Lang, dịch giả cuốn Bố Già của Mario Puzo. &#8220;Mình đi uống cà phê đi!&#8221; Mai Thảo rủ cả hai chúng tôi. Quán cà phê nhỏ nằm bên hông toà soạn của bà Tư (tôi không nhớ tên bà có đúng là bà Tư không, nhưng tôi nhớ bà là người Nam rất dễ tính, xởi lởi và hệch hạc. Bà vẫn thường cho tôi ghi sổ nợ để cuối tháng trả một lần cho tiện, mặc dù tôi ít khi được dịp trả nợ, vì Bố già Vượng luôn luôn &#8220;thanh toán hộ&#8221; tôi trước kỳ hạn.) Thường tôi vẫn ra ngồi cà phê sáng ở quán Cái Chùa với Huỳnh Phan Anh, Nguyễn Đình Toàn, chỉ hôm nào không ra ngồi ở Quán Cái Chùa, chúng tôi mới ăn sáng ở quán bà Tư. Aên sáng ở đây không có gì khác hơn là bánh mì hột gà (ốp la hay ô mơ lét) và cà phê (đen hay sửa). Quán nhỏ nằm bên hông nhà của một con hẽm, hình như là tiệm ảnh sát bên toà soạn Văn. Con hẽm rất hẹp, chỉ vừa cho một chiếc xe Honda ra vào một chiều. Quán chỉ có hai ba chiếc ghế lèo tèo, loại ghế cao đóng bằng gỗ tạp. Ngọc Thứ Lang ít nói. Và Mai Thảo hôm đó cũng không nói gì nhiều. Chưa uống hết ly cà phê, anh Ngọc Thứ Lang là người đứng dậy trước dợm bước đi, tôi thấy Mai Thảo đứng dậy theo kín đáo dúi vào tay Ngọc Thứ Lang mấy tờ giấy bạc. Đó là lần đầu tiên và lần duy nhất tôi gặp dịch giả Bố Già. Tôi không có cơ hội nào khác để gặp anh. Tôi đọc cuốn Bố Già bản tiếng Việt của Ngọc Thứ Lang và cuốn sách đã lôi cuốn tôi mạnh mẽ. Thời gian đó tôi đang thực hiện một loạt bài dưới tên Nhà Văn Ở Phút Nói Thật, phỏng vấn các nhà văn Doãn Quốc Sĩ, Võ Phiến, Mai Thảo, Bùi Giáng, Viên Linh , Nguyễn Mạnh Côn,&#8230; Bỗng nhiên tôi thấy muốn phỏng vấn một người dịch là Ngọc Thứ Lang. Bố Già Nguyễn Đình Vượng, chủ nhiệm tờ Văn cười bảo tôi, phỏng vấn chi người dịch Bố Già, cứ phỏng vấn trực tiếp Bố Già có hơn không. Bởi vì tôi vẫn thường gọi ông là Bố Già mà! Tuy nhiên thời gian đó có quá nhiều việc phải làm nên tôi quên bẳng chuyện đi tìm anh để hỏi vì đâu anh nắm bắt được cái ngôn ngữ kỳ lạ của thế giới mafia như thế.</p>
<p>Cuộc chiến Việt Nam chấm dứt mà chúng tôi vẫn chưa được xem Bố Già trên màn ảnh lớn. Bố Già Nguyễn Đình Vượng thì đã mất trước đó một năm. Gia đình, bạn bè thì đã ly tán. Cả thành phố chìm trong bóng tối. Tôi quên mất Bố Già Mario Puzo. Tôi cũng không nhớ có một người tên là Ngọc Thứ Lang đã dịch cuốn Bố Già tuyệt hay.</p>
<p>Năm 1986 từ Bataan Phi Luật Tân đến Mỹ tình cờ tôi được xem cuốn video Bố Già. Tôi có cái cảm giác giống như anh Hoàng Hải Thủy, cuốn phim không lôi cuốn tôi như khi tôi đọc sách, mặc dù đó là một trong những tác phẩm lớn của điện ảnh Hoa Kỳ. Sự chờ đợi quá lâu đã làm tình cảm người ta nguội lạnh chăng? Tôi không tin là như thế. Bởi vì, có những tác phẩm, như cuốn Bác Sĩ Jhivago, sau bao nhiêu năm giờ đây xem lại vẫn làm trái tim tôi rung động như mới ngày nào vừa mới gặp người đàn bà định mệnh Lara từ cuốn tiểu thuyết của Boris Pasternak bước lên màn ảnh và khuôn mặt đam mê quyến rũ ấy cứ theo đuổi tôi mãi suốt những tháng năm trong đời mình.</p>
<p>Thời gian đã cắt bỏ một góc trí nhớ này, ráp nối một mãnh ký ức khác. Miếng bánh tráng nướng dòn trong tô Mì Quảng bao giờ cũng làm sống lại trong tôi cái hình ảnh dịu dàng của mẹ tôi một buổi chiều ngồi trước sân nhà trên tỉnh lộ Mười Ba ngó qua khoảnh sân banh ngập cỏ với cái khán đài không mái che và những hàng ghế gỗ xộc xệch long đinh ván cong lên hay đã gẫy.</p>
<p>Và cái bản tin tôi đọc được hồi đầu tháng cho biết tác giả The Godfather đã qua đời hôm 1 tháng Bảy tại thành phố Bay Shore, New York, thọ 78 tuổi, đã làm tôi nhớ lại hình ảnh người đàn ông gầy gò, chiếc sơ mi màu cháo lòng, hai tay áo dài thòng che lấp hai bàn tay, một buổi sáng nào đã bước vào toà soạn tạp chí Văn trên đường Phạm Ngũ Lão. Bây giờ anh ấy ở đâu, người dịch giả tài năng ấy? Hoàng Hải Thủy nói Ngọc Thứ Lang mất cách nay cũng đã 20 năm rồi. Sau 1975, hai nhà xuất bản ở Việt Nam giành nhau in lại bản dịch Bố Già của anh, giờ đây không phải trả tiền bản quyền người dịch nữa. Một nhà xuất bản Việt ở hải ngoại cũng đã in Bố Già và nay cũng miễn chi tiền bản quyền cho Ngọc Thứ Lang.</p>
<p>&#8220;Mario Puzo, tác giả The Godfather, tiểu thuyết best-seller từng bán đến 21 triệu quyển, qua đời ở nhà riêng trong thàmh phố Bay Shore, New York, ngày Một tháng Bảy 1999, thọ 78 tuổi, có năm con, chín cháu. Ngọc Thứ Lang, dịch giả Bố Già, qua đời ở trại Lao Cải Phú Khánh năm 1979, chưa đầy 50 tuổi, không vợ, không con.&#8221;</p>
<p>Theo trí nhớ Hoàng Hải Thủy thì ông đã gặp Nguyễn Ngọc Tú tức Ngọc Thứ Lang, công tử Bắc Kỳ vào năm 1951 tại Sài Gòn. Đó là năm mà cả hai ông đều mới ở tuổi đôi mươi. Thế nhưng ở vào tuổi đó Tú đã là người chơi trội hơn Hoàng Hải Thủy nhiều: Đánh roulette ở sòng bạc Kim Chung và hút thuốc phiện. Năm 1955, mới chừng 25 tuổi, Nguyễn Ngọc Tú đã kiếm được nhiều tiền. Anh in và bán quyển Tại Sao Tôi Di Cư cho Bộ Thông Tin chính phủ Việt Nam Cộng Hoà thời bộ trưởng Phạm Xuân Thái. Năm đó Nguyễn Ngọc Tú có trong tay cả trăm ngàn đồng, một số tiền rất lớn thời bấy giờ. Anh ăn diện như một tay chơi thứ thiệt: áo sơ mi hàng nhập từ Paris sang chỉ có trong một cửa tiệm trên đường Tự Do, đồng hồ vuông mặt đen, mũ mossant, cặp da, máy chữ, hút thuốc lá Phillip Morris vàng loại King size, bật lửa Dupont, cơm Tây, rượu chát,&#8230; Vào giai đoạn đó, Nguyễn Ngọc Tú gặp tình yêu. Nhưng mối tình trắc trở. Người yêu anh tự tử và cuộc đời anh bắt đầu xuống dốc không phanh. Anh nằm luôn trong căn nhà bán thuốc phiện ở hẽm Monceaux, Tân Định. Ăn, hút và ngủ luôn trong nhà đó . Để có tiền hút, Tú bán dần đồng hồ, máy chữ, cặp da,&#8230; Anh trở thành người nghiện hút nặng. Những năm 70 anh viết cho tuần san Thứ Tư của Nguyễn Đức Nhuận và nhiều báo khác với bút hiệu Ngọc Thứ Lang. Khi Nguyễn Đức Nhuận đưa cuốn The Godfather cho Ngọc Thứ Lang dịch, anh đã chọn tên Bố Già cho bản dịch của mình. Và cuốn sách trở thành tác phẩm ăn khách của Sài Gòn những năm 71, 72. Năm 1976, anh bị bắt đi phục hồi nhân phẩm trên Bình Triệu. Trung tâm cai ma túy nằm trong toà nhà Tu viện Fatima. Một nữ ký giả ngoại quốc đến thăm Trung Tâm ngạc nhiên khi biết Nguyễn Ngọc Tú, một con người thân tàn ma dại đang đứng trước mặt mình là dịch giả cuốn The Godfather của Mario Puzo. Cô nhà báo không tin. Và anh được phép về Sài Gòn mang cuốn sách dịch lên Trung Tâm cho cô ký giả thấy là thật.</p>
<p>Người ta còn nhớ khi cuốn tiểu thuyết viết về tổ chức Mafia ở Hoa Kỳ của Mario Puzo được Ngọc Thứ Lang chuyển ngữ vào năm 1972 dưới tên Bố Già lập tức, như tác phẩm nguyên bản của nó, Bố Già trở thàønh cuốn sách ăn khách nhất thời bấy giờ, mặc dù đó là thời điểm mà cuộc chiến Việt Nam đang bước vào những giây phút ác liệt nhất, thời mà Phan Nhật Nam viết Mùa Hè Đỏ Lửa.</p>
<p>Người Sài Gòn rất mê cuốn tiểu thuyết Bố Già, và chờ đợi xem cuốn phim thực hiện theo tác phẩm này, thế nhưng cho đến năm 1975, chưa người Sài Gòn nào được xem phim Bố Gia do Marlon Brando đóng vai Don Corleone. Mặc dù như lời Hoàng Hải Thủy, ngay từ đầu năm 1975, người ta đã cho nhập cảng cuốn phim này vào Việt Nam, nhưng phim vẫn chưa được trình chiếu trước công chúng. Tại sao? Hoàng Hải Thủy cho biết vì những người nhập phim còn chờ đợi ngày lành tháng tốt mới đem ra chiếu để hốt bạc. Sự chờ đợi của những con buôn ấy không bao giờ trở thành hiện thực. Cuốn phim ấy đã đi qua và mãi hơn 20 năm sau người Sài Gòn mới được xem Bố Già.</p>
<p>Với Mario Puzo, sau Bố Già ông vẫn không ngừng viết. Năm 1996, ông viết The Last Don &#8211; Bố Già Cuối Cùng, nhưng không mấy ăn khách, và tác phẩm cuối cùng của ông Omerta (Luật Kín Miệng) sẽ được ấn hành năm 2000, cuốn sách mà tác giả không còn cơ hội nhìn thấy mặt mũi đưá con tinh thần của mình.</p>
<p><b>Tác giả Bão Thời Đại không còn nữa </b></p>
<p>Có lẽ Trần Lê Nguyễn là một trong những người cầm bút mà tôi ít có cơ hội tiếp xúc nhất. Ở Sài Gòn, thỉnh thoảng tôi có gặp anh. Anh có đến chơi báo Văn đôi khi. Đôi khi tôi có gặp anh ở nhà Nguyễn Đình Toàn. Hình ảnh mà tôi còn ghi nhớ được về anh là một người hơi thấp, dáng chắc và khoẻ. Anh có một đôi mắt như lúc nào cũng chực cười và một mái tóc ít khi chải. Mấy người bạn ngồi ở quán Cái Chùa đường Tự Do thời đó nói anh mê cá ngựa và xì phé &#8211; như ông bạn Huỳnh Phan Anh của tôi vậy. Anh có dáng đi bương chải. Sau 75, có lần gặp anh ngồi ở một kiosque trên một con đường nhỏ cắt ngang đường Trần Hưng Đạo &#8211; hình như quán đối diện với một rạp hát cải lương Hồ Quảng &#8211; anh bảo hồi này anh bán tranh sơn mài. Anh gầy hơn xưa. Da xạm đen, đôi mắt buồn. Nhà báo Thanh Thương Hoàng trong một bài viết trên tờ Việt Mercury số ra ngày 16 tháng Bảy, 99, cho biết Trần Lê Nguyễn là người thích phiêu lưu mạo hiểm trong tình ái. Anh đã yêu một nữ môn đồ của Chúa, một người thuộc dòng họ lớn ở Huế. Người nữ tu đã cởi áo dòng vào Sài Gòn sống với anh và hai người có với nhau một đứa con. Nhưng cuộc sống giữa hai người quá khác biệt, &#8220;chàng và nàng&#8221; đành chia tay. &#8220;Nàng&#8221; trở lại nhà Tu, &#8220;chàng&#8221; gà trống nuôi con. Sau 1975, người nữ tu bị đẩy ra khỏi nhà Dòng, trở lại với sống với anh và mất trong cơn bạo bệnh. Người phụ nữ sống với anh trong những ngày cuối đời là cô nữ sinh hàng xóm, chăm sóc giúp đứa con của anh và trở thành vợ anh.</p>
<p>Nói về những người viết kịch ở Sài Gòn, người ta vẫn nhắc đến Vũ Khắc Khoan, Phan Tùng Mai và Trần Lê Nguyễn. Nhưng trong các kịch bản Thành Cát Tư Hãn, Người Giết Tần Cối và Bão Thời Đại, tôi chỉ được đọc Thành Cát Tư Hãn và Người Giết Tần Cối. Tôi không được đọc Bão Thời Đại. Cả vở Quán Nửa Khuya là sáng tác anh cho đăng trên tờ Kịch Aûnh khoảng năm 1958-1959, tôi cũng chưa được đọc.</p>
<p>Một người đam mê kịch như Trần Lê Nguyễn suốt đời chỉ mong sao được một lần nhìn thấy kịch mình trình diễn trên sân khấumà cho đế chết trời vẫn chưa chìu lòng người. Môt người đánh bạc không bao giờ thắng. Khi trường đua Phú Thọ mở cửa lại, anh trở lại tìm cảm giác mạnh và anh đã đột quỵ ngay tại trường đua. Trần Lê Nguyễn tên thật Nguyễn Văn Tạo, sinh năm 1924 và mất ngày 7 tháng Bảy, 1999.</p>
<p><b>Đến Le Petit Trianon nghe nhạc Hoàng Trọng </b></p>
<p>Giữa tháng Bảy, được tham dự một buổi chiều tưởng niệm nhạc sĩ Hoàng Trọng là một niềm vui ngậm ngùi. Đó là một buổi chiều được nghe lại những hồi âm của quá khứ, được thưởng thức tiếng dương cầm bậc thầy của Nghiêm Phú Phi và những ca khúc đã lớn lên cùng tuổi trẻ tôi. Mai Hương, Kim Tước, Quỳnh Giao những tiếng hát bay dài theo năm tháng, chuyên chở những âm điệu của Hoàng Trọng, làm thành một không gian Sài Gòn xưa giưã một thành phố điện tử California.</p>
<p>Nghe Mai Hương với Đường Về, Kim Tước với Mộng Đẹp Ngày Xanh và Quỳnh Giao với Tôi Vẫn Yêu Hoa Màu Tím tôi khám phá ra một Sài Gòn xưa tràn ngập những âm khúc dịu dàng. Chiến tranh Việt Nam đứng bên ngoài âm nhạc Hoàng Trọng. Như những trạm dừng chân dọc theo xa lộ Nam Bắc Cali, để người lái xe có thể quành vào nghỉ ngơi trước khi đi tiếp đoạn đường còn lại, âm nhạc Hoàng Trọng chính là những rest area của xa lộ cuộc chiến Việt Nam. Âm nhạc ông không gắn liền với cuộc chiến Việt Nam (mặc dù người ta không quên ca khúc Người Tình Không Chân Dung ông đã viết riêng cho cuốn phim cùng tên), nó chỉ là những lời tình tự của những con người đang trú ẩn dưới căn hầm an toàn không nghe thấy tiếng bom dội trên mặt đất.</p>
<p>Bằng những lời giới thiệu cũng tràn ngập quá khứ của MC Như Hảo, với những ca khúc quen thuộc được diễn tả bằng những tiếng hát đã từng đưa Hoàng Trọng đến với người nghe, người ta nhận ra mình đang gặp lại một Sài Gòn thanh bình trên một &#8220;quê hương mới&#8221; thực sự không có chiến tranh.</p>
<p>Hoàng Trọng, ông Vua Tango Việt Nam, như cách nói của nhiều người là một trong những nhạc sĩ sống với âm nhạc cho đến phút cuối cuộc đời. Nghe lại nhạc Hoàng Trọng là thưởng thức lại một lần nữa những âm điệu thanh bình của một vùng trời không khói lửa đạn bom, là bước vào căn hầm trú ẩn an toàn nhất của một cuộc chiến không thương tiếc. Hoàng Trọng với ban Tiếng Tơ Đồng và trên 200 ca khúc thanh bình sẽ còn ở với chúng ta lâu hơn khi nào chúng ta vẫn còn cần bóng mát của một tàng cây hay một chiếc dù che mưa tránh nắng của một thế giới không bình yên.</p>
<p>NGUYỄN XUÂN HOÀNG</p>
<p><b>10/1999</b></p>
<p><b><i>Vũ Hoàng Chương trong trí nhớ </i></b></p>
<p>Trên vách tường trong căn phòng nhỏ của Mai Thảo, treo khá nhiều ảnh. Những bức ảnh của Mai Thảo thời trẻ. Một bức ảnh do nhiếp ảnh gia Lê Phúc chụp Mai Thảo mấy năm sau này, trước ngày anh mất sức. Một khuôn mặt trầm tư, lạnh. Những nếp nhăn của thời gian ở đuôi mắt. Chiếc khăn quàng cổ dầy. Mái tóc đã thưa nhưng không có sợi bạc. Đôi mắt ngó xuống, cái nhìn như phóng vào khoảng không. Mai Thảo vững chắc. Rất đàn ông. Nhiều bức ảnh đời thường của anh rất đẹp. Tôi hiểu vẻ đẹp ngoại hình của một người đàn ông không nhất thiết phải có khuôn mặt của Alain Delon, càng không cần cái thân xác vạm vỡ mà thiếu bộ óc của Mike Tyson . Chính cái sần sùi của một làn da khô nứt, cái dáng cao mà vững, sóng mũi thẳng. cái cằm bạnh, cái lạnh của mắt nhìn, cái say mê khi nói về chữ nghĩa, cái phong thái sống ung dung, cái tấm lòng ở với bạn bè đã làm cho Mai Thảo trở thành một người đàn ông quyến rũ.</p>
<p>Tôi tiếc đã không xin anh Khánh &#8211; bào đệ của Mai Thảo &#8211; một bức ảnh trong căn phòng cuả anh trong hẽm Song Long. Đó là bức ảnh đen trắng, Mai Thảo chụp với thi sĩ Vũ Hoàng Chương. Tôi nhớ mang máng hình như cả hai anh ngồi trên thềm nhà. Và nhiều lần Mai Thảo cho tôi biết anh rất thích tấm ảnh này. Lẽ ra tôi đã hỏi tại sao. Nhưng tôi đã không hỏi. Năm 1985, một năm trước ngày tôi đặt chân lên đất Mỹ, Mai Thảo cho in tập Chân Dung mười lăm nhà văn nhà thơ Việt Nam, do nhà Văn Khoa của giáo sư Đỗ Đình Tuân xuất bản. Mười lăm chân dung “đã được minh họa từ những chất liệu của kỷ niệm và trí nhớ” của Mai Thảo, chứ không phải được viết bằng tác phẩm hay tài liệu văn học. Trong 15 chân dung ấy, Vũ Hoàng Chương là chân dung thứ nhất với tựa bài “Mấy Tháng Cuối Cùng Với Vũ Hoàng Chương.” Bài viết chiếm gần 40 trang trong tập sách chỉ dày 190 trang. Có thể nói đó là một bài viết tràn ngập tình bạn và cuồng nộ trước số phận mong manh của nhà thơ Vũ Hoàng Chương trong những ngày 1975.</p>
<p>Đọc lại bài viết của Mai Thảo về Vũ Hoàng Chương tôi khám phá ra trong thời kỳ nghi hoặc &#8211; những tháng năm 1975 &#8211; 1976 , thời mà nói như kịch tác gia người Đức Bertolt Bretch “nói chuyện với cỏ cây cũng là một điều tội lỗi” , tình bạn của hai ông thật là chân tình và vĩ đại.</p>
<p>“Một buổi tối, đến thăm Vũ Hoàng Chương, được ông cho coi những thư từ bạn bè ngày trước của ông từ Hà Nội gửi vào. Thư của Lưu Trọng Lư, Hoàng Lập Ngôn, Hoàng Cầm. Nhưng lá thư ngắn nhất là của Nguyễn Tuân. Chỉ vỏn vẹn hai câu: “Mấy lời hỏi thăm cố nhân. Thư bất tận ngôn.” Vũ Hoàng Chương cười: “Thằng Tuân ngày xưa với tao thân lắm. Khâm Thiên, bàn đèn, tao đâu nó đó, mà nó sợ. Chỉ dám dùng bốn chữ thư bất tận ngôn.” “Mày có trả lời bọn họ không?”</p>
<p>Tại sao mày tao? Tôi ngạc nhiên cách xưng hô giữa Mai Thảo và Vũ Hoàng Chương. Thi sĩ Vũ lớn tuổi hơn Mai Thảo nhiều. Ông có thể mày-tao với Mai Thảo, nhưng chẳng lẽ Mai Thảo cũng mày-tao với họ Vũ?</p>
<p>Tôi đọc bài viết về Vũ Hoàng Chương thêm một lần nữa. Tôi ngừng lại ở đoạn: “Tôi đến thăm Gác Bút thường ngày [như vậy] và thường vào buổi chiều. Thường, vì muốn, vì cầu, với tôi. Hai mươi năm sinh hoạt thơ văn của miền Nam, được ông nhận cho kết giao, rồi thân thiết mày tao và được ông xem như một tấm lòng tri kỷ, dù tuổi tôi thua tuổi ông đúng một Giáp mười hai năm, tôi đã đến thăm mọi chỗ ở của thi sĩ rất nhiều lần.” Tôi hiểu tại sao Phạm Công Thiện &#8211; thua tôi một tuổi, và cách Mai Thảo trên một con Giáp &#8211; mà cứ mày-mày-tao-tao với tác giả Sống Chỉ Một Lần. Tôi hiểu tại sao nhà văn Nguyễn Tuân &#8211; cùng lứa tuổi với Vũ Hoàng Chương, không bằng lòng khi tôi gọi ông bằng bác. Nhà văn không có tuổi. Nhà văn chỉ có già đi và chết. Nhà văn không đếm cái khoảng thời gian sống. Thời gian của mộït nhà văn là ý nghĩa những dòng chữ ông ta viết ra. Là những trang sách đã in. Là cái khả năng thể hiện sáng tạo. Là chính đời sống của ông.</p>
<p>Tôi viết những dòng chữ này nhân mới đây nhà phê bình văn học Đặng Tiến nhắc cho nhớ ngày 6 tháng Chín vừa qua là ngày giỗ thứ hai mươi ba của tác giả Thơ Say. Theo Đặng Tiến, Vũ Hoàng Chương là một nhà thơ lớn của đất nước, một tác giả quan trọng trong lịch sử văn học nước nhà, chiếm một địa vị riêng biệt trong các trào lưu thi ca. “Giữa những trầm luân của đất nước, tác phẩm của anh chưa được tìm hiểu toàn bộ và đánh giá đúng mức &#8211; ở miền Bắc cũng như miền Nam trước 1975, và trong nước cũng như ngoài nước những năm sau 1975 và gần đây.” Hiện nhà xuất bản An Tiêm, trong dự án dài hạn, muốn ấn hành một tuyển tập Vũ Hoàng Chương, có thể “nhích” lên toàn tập. Ông Thanh Tuệ, Giám đốc nhà xuất bản An Tiêm yêu cầu Đặng Tiến sưu tầm, biên tập và giới thiệu, với sự thỏa thuận của bà Vũ Hoàng Chương. Người đọc có quyền trông chờ tác phẩm lớn này của một nhà xuất bản đứng đắn và do một nhà phê bình văn học sâu sắc chủ biên.</p>
<p><b>Hãy Cứ Là Tình Nhân </b></p>
<p>Tôi vừa được nghe một ca khúc mới. Tác giả là một người rất trẻ, một cô gái. Tôi được nghe chính tiếng hát của cô và âm nhạc của cô. Tiếng hát không điêu luyện và thiếu kỹ thuật, vì không phải là một tiếng hát nhà nghề. Nhưng theo tôi đó là một bài hát hay và một tiếng hát còn nguyên cái vẻ xanh tươi của một tàu lá chuối sau vườn vừa dứt một cơn mưa. Tiếng hát quyến rũ, không phải vì cái âm điệu vừa tha thiết vừa nồng nàn của nó đâu. Theo tôi, hơi thở của khúc tình ca mới mẻ này chính là lời từ của bản nhạc. Đó là yếu tố khiến cho ca khúc Hãy Cứ Là Tình Nhân trở thành mối suy nghĩ xã hội trong tôi.</p>
<p>Nếu trước đây lời trong những tình khúc là nỗi đau tình ái, là sự sợ hãi không được sống bên nhau, là sự chia ly, là niềm cách biệt, là “mặt nhìn mặt cầm tay bâng khuâng không nói một câu,”* hoặc “một là sống trong lòng người đẹp Tô Châu, hai là chết bên dòng sông Danube,”* hay “từ lúc đưa em về là biết xa nghìn trùng,”*&#8230;</p>
<p>Những khúc tình ca trước hết là những lời than thở não nuột, là tiếng kêu thấu trời xanh vì “em đã đi lấy chồng &#8211; hoặc anh đã đi lấy vợ, và ông trời đã chia cách đôi ta&#8230;” Hoặc sến hơn, kiểu như “đời tôi cô đơn nên đi đâu cũng cô đơn&#8230;”</p>
<p>Không được sống bên nhau thì chỉ có cái chết mới giải quyết được. “Em sinh ra là để được yêu, được sống với anh, bên anh cho tới ngày răng long đầu bạc. Không gì có thể chia cắt đôi ta, bởi vì đôi ta như chim liền cánh như cây liền cành, như thuyền và biển. “Chỉ nhớ người thôi đủ hết đời. Chỉ nhớ người thôi sông đủ cạn. Nói gì kiếp khác với đời sau&#8230;” hoặc “Nếu từ giã thuyền rồi biển chỉ còn sóng gió, nếu phải cách xa anh, em chỉ còn bão tố&#8230;”*</p>
<p>Lời từ trong ca khúc này là tiếng nói mới của một lớp người trẻ, hơn nữa là tiếng nói của một cô gái trước cuộc sống xứ người: “Em không thích làm vợ, không thích anh là chồng&#8230; Chỉ cần anh nhìn em là tim em rã rời, chỉ cần anh nắm tay là hồn em đắm say&#8230; Hãy cứ là tình nhân.”</p>
<p>Tôi không biết lớp người trẻ hiện nay &#8211; những thanh niên Việt trên quê người, và cả lớp trẻ tại quê nhà &#8211; quan niệm thế nào về tình yêu và gia đình, nhưng Tú Minh, tác giả ca khúc Hãy Cứ Là Tình Nhân đã nói lên một tiếng nói mới: Sự kết hợp lứa đôi làm thành một gia đình không còn là “nguyên tắc” nữa. Thà làm một đôi tình nhân yêu nhau và run rẩy khi “anh nhìn em và em nhìn anh” hơn là sống bên nhau và chán ngán dằn vặt nhau. Phải chăng Hãy Cứ Là Tình Nhân là tiếng nói của một lớp trẻ trước thời đại của www. , của com. , của thiên niên kỷ mới? Hay chỉ là tiếng kêu đau thương trước sự thất bại trong đời sống lứa đôi?</p>
<p>Cô đơn là một mốt khá phổ biến tại Âu châu vào đầu thế kỷ 21. Hiện nay , chỉ tính riêng nước Pháp đã có từ bảy đến tám triệu người không lập gia đình hoặc không muốn&#8230; lập gia đình trở lại. Các nhà xã hội học cho rằng đã xuất hiện một loại người “cô đơn kiểu mới” và họ hết sức hạnh phúc trong sự cô đơn của mình. Đặc điểm của loại người này là không muốn san sẻ cuộc sống hàng ngày với bất kỳ ai, dù đó là người mà họ yêu thương tha thiết. Nhà xã hội học Jean Claude Kaufman trong tác phẩm “Hoàng tử và người phụ nữ cô đơn” viết rằng “Có vẻ như đám cưới là cánh cửa đóng lại chắc chắn nhất con đường vào tương lai.” Và yêu nhau đâu có nghĩa là phải sống chung với nhau dưới một mái nhà. Nhưng sống một mình không phải là một hiện tượng xã hội có nơi những người trẻ từ 20 đến 35 tuổi. Ngày nay, với những người trung niên với nhiều kinh nghiệm “gãy đỗ” cũng muốn bảo vệ thế giới cô độc của mình. Cái hình ảnh “chồng chồng vợ vợ con con” cách đây 15 năm được coi là giá trị cao nhất của tế bào xã hội thì giờ đây theo Kaufman người ta – nhất là phụ nữ &#8211; bắt đầu ý thức tự lập về tài chính, sống trọn vẹn với chính mình, và một cách nào đó có thể nói người ta đang muốn biến kế hoạch đó thành một quan niệm sống &#8230; mãn đời. Một nữ kịch sĩ người Pháùp, Kathy Bodet, 42 tuổi, nói “Tôi thử lập gia đình nhiều lần, nhưng không lần nào kéo dài quá một năm. Đàn ông đòi hỏi nhiều quá, mà tôi thì cần thanh tịnh. Họ vắt cạn sinh lực của tôi. Tôi thấy tình bạn hay hơn tình yêu.&#8221; Một câu trích dẫn khác có thể chép lại ở đây là của ông Didier Huré: &#8220;Hôn nhân là một khoảnh khắc đẹp đẽ có tính cách trang trí, còn đời sống độc thân là thời gian hạnh phúc có tính chất lượng.”**</p>
<p>Bạn có bao giờ xem sô Friends trên chương trình truyền hình của NBC mỗi thứ Năm không? Với Hãy Cứ Là Tình Nhân, Tú Minh có thể không phải là người [nữ] đầu tiên chọn cách sống cô đơn, nhưng cô là tác giả đầu tiên trong âm nhạc Việt Nam nói hộ một lớp người chọn “tự do” trong thời đại mới của những ngày tháng chuẩn bị bước vào thế kỷ 21.</p>
<p><b>Chào mừng Uyên Thao và Thanh Thương Hoàng </b></p>
<p>Hôm 14 tháng Chín vừa qua, nhà văn-nhà báo Uyên Thao và gia đình đã đến Hoa Thịnh Đốn và ngụ tại Virginia. Nhà văn Uyên Thao Vũ Quốc Châu là một trong số những tù nhân chính trị được chính phủ Hoa Kỳ trực tiếp can thiệp đòi Hà Nội để ông sang Hoa Kỳ tị nạn. Uyên Thao từng làm việc nhiều năm trong Đài Phát Thanh Quốc gia Việt Nam Cộng Hòa . Trong những năm 1972 đến 1975 ông làm Tổng thư ký tòa soạn nhật báo Sóng Thần. Sau ngày 30 tháng Tư, ông là một trong số những văn nghệ sĩ và chính trị gia Việt Nam Cộng Hòa bị bắt giam ngay từ những ngày đầu. Ông từng bị nhốt xà lim nhiều tháng cùng một nơi với ông Phan Huy Quát, cựu Thủ tướng chính phủ Việt nam Cộng Hòa. Năm 1988, Uyên Thao mới được trở về Sài Gòn. Từ đó ông sống rất vất vả, bị ngăn cấm mọi việc, ngay cả việc xin xuất cảnh sang Hoa Kỳ tị nạn cũng không được. Chuyện ra đi của ông hầu như tuyệt vọng cho đến khi bà Khúc Minh Thơ, Hội trưởng Hội Gia đình Cựu Tù nhân chính trị đứng ra lo giúp. Bà Khúc Minh Thơ đã đến bộ Ngoại giao Hoa Kỳ cùng với hồ sơ của hai nhà báo Uyên Thao và Thanh Thương Hoàng để trình bày với ông Phụ tá Bộ trưởng Ngoại giao chuyên về Di trú. Và kết quả là sau rất nhiều khó khăn và thời gian, hai ông Thanh Thương Hoàng và Uyên Thao đã đến được bến bờ tự do. Nhà báo Thanh Thương Hoàng hiện định cư ở thành phố Sacramento, bắc California.</p>
<p>NGUYỄN XUÂN HOÀNG</p>
<p>* Tô Vũ, Phạm Duy, Trịnh Công Sơn, Du Tư Lê, Xuân Quỳnh&#8230;</p>
<p>** Lê Lộc, Nghệ Thuật Cô Đơn, theo Figaro Magazine, Psychologies Magazine, Kiến Thức Ngày Nay , 319, 20/6/99.</p>
<p>&nbsp;</p>
<p><b>12-1999 -Chào mừng nhà văn Andrew X. Pham </b></p>
<p>Cao, hơi gầy, tóc cắt ngắn, ngắn gần như cạo trọc, một khuôn mặt khắc kỷ, một nụ cười hiền, nhưng đôi mắt dưới tròng kính trắng là một đôi mắt buồn, nhà văn Andrew X. Phạm , tác giả cuốn Catfish and Mandala nói với tôi bằng một thứ tiếng Việt không sỏi lắm..</p>
<p>Đó là một buổi tối thứ Năm 21 tháng Mười, 1999, tại trường Đại Học San Jose State University, nơi anh đã đến ký sách và nói chuyện. Cuốn sách là một hồi ký rất văn chương của một người Việt Nam rời bỏ đất nước &#8211; khi còn là một chú bé con, vào năm 1977 &#8211; trên một chiếc ghe vượt biển. Gần 20 năm sau, 1996, anh trở về trên một chiếc xe đạp khởi từ Vùng đất điện tử, để đi tìm lời giải đáp cho câu hỏi về bản chất văn hóa của anh, về cái chết của người chị đầy trắc trở và về mảnh đất quê hương vẫn còn hằn trong trí nhớ anh.</p>
<p>Andrew X. Phạm nói &#8220;chuyến du hành này đã cho tôi biết rằng tôi là người Việt Nam hơn tôi tưởng và ít chất Mỹ hơn là tôi mong muốn. Hầu như mỗi đứa trẻ thuộc thế hệ thứ nhất lớn lên ở Mỹ, vào một lúc nào đó, đều tin chắc rằng mình hoàn toàn là một người Mỹ trên mọi ý nghĩa&#8230;.&#8221;</p>
<p>Cuốn sách với tựa đề phụ là A Two-Wheeled Journey through the Landscape and Memory of Vietnam. là một tác phẩm nặng chất văn chương [hơn chất hồi ký] với đầy đủ ý nghĩa của nó.</p>
<p>Mặc dù rời bỏ Việt Nam ra đi lúc mới 10 tuổi, Andrew X. Phạm trở lại quê nhà đã tìm thấy lại một mảnh đất tràn đầy kỷ niệm.. &#8220;Bây giờ qua khung cửa kính nhuộm màu, tôi thấy một buổi chiều Sài Gòn như những buổi chiều khác trước đây. Tôi thấy mặt trời lặn đang chìm xuống trên những ngọn cây cổ thụ và những cây &#8220;ăng-ten&#8221; chia chỉa trên mái những ngôi nhà xếp lớp nhau&#8230; Các quán kiosk dọc theo con lộ, không có lề đường , đón lấy dòng người do xe cộ đùn lên. Những người bán bánh mì, những bà già với những đôi tay đầy dầu mỡ, &#8230; Những người đàn ông ở trần , da rám nắng, mặc quần dùi, đi dép cao su, ngồi xổm nướng thịt trên chiếc chảo sắt. Một con chó lông loang lổ cạnh sườn, ngửi phân một con chó khác. Trong một ngõ hẽm, bà mẹ và cô con gái chiên bánh và gói trong những tờ giấy báo bẩn..&#8221; Và anh gặp lại những người khốn cùng trong xã hội, những đứa bé ăn xin ở Hồ Con Rùa, ở chợ Bến Thành. Mỗi góc đường nhung nhúc những người đàn ông tàn tật, những người đàn bà với những vết thương lở lói bưng mủ. Từ những chỗ sưng tấy lên , da thịt ung thối tỏa ra một mùi hôi nồng. Những bé trai què quặt nằm trên tấm gỗ có bánh xe thô sơ, bò lết với đôi tay mang dép và một cái lon xin tiền cặp giữa những hàm răng bẩn. &#8230;. Một đoạn văn cho thấy xã hội đất nước ta còn quá nhiều vấn đề cần phải giải quyết, cần biết bao nhiêu những người như Mẹ Teresa. Trái đất này còn nhiều khổ đau &#8211; tất nhiên?- nhưng cái mảnh đất quê hương nơi mình sinh ra và bỏ đi, sống cuộc đời tha phương cầu thực, khi quay về nhìn lại sao mà bi thảm đến thế. Làm sao? Phải làm sao? Đừng nói chi xa. Hãy nói đến chiếc xích lô. Chiếc xích lô với người phu xe ngồi sau rướn mình nhấn bàn đạp chở một đôi thanh niên khỏe mạnh, ăn mặc đẹp đẽ sao nó làm lòng tôi xốn xang đến thế! Những chiếc xích lô làm đề tài cho những cuốn phim từ Trần Anh Hùng đến Tony Bùi, như một cách nhìn Việt Nam, nhưng cái tôi nhìn quê hương tôi là làm sao trong những thứ cần thay đổi, tôi mong sao cho chiếc xích lô không còn tồn tại trong trí nhớ của người ngoại quốc nữa. Trong những thứ làm nên văn hóa Việt Nam, xin xóa dùm tôi chiếc xích lô. Chúng ta đang sống trong một thời đại mà sự đầy ải và hạ thấp con người là điều không thể chấp nhận được. Chiếc xích lô là một trong những &#8220;nghề&#8221; sau cùng phải được lấy ra khỏi đời sống người dân Việt Nam. Cùng lắm nó chỉ được coi là tấm ảnh vàng úa trong cuốn album bị bỏ quên trong ngôi nhà quá khứ. Có người sẽ hỏi: Vậy chứ nếu bỏ cái xích lô đi thì những người đạp xích lô sẽ sống bằng gì? Câu hỏi đó phải để cho những người đang cầm vận mệnh đất nước trả lời. Và tôi nghĩ câu trả lời đó cũng dễ thôi.</p>
<p>Cùng với Nguyễn Quí Đức, Andrew Lâm, Trần Đệ, Lai Thanh Hà, Lily Dizon,&#8230; Andrew X. Phạm đã mang đến người đọc bản xứ và cho thế giới văn chương cái nhìn của một người Việt Nam đạp chân trở lại trên chính mảnh đất quê hương mình.</p>
<p><b>Miền Trung chìm trong biển nước </b></p>
<p>Cái quê hương mà Andrew Phạm trở về không chỉ nghèo khó &#8211; trong cảnh phồn vinh bề mặt ở các thành thị &#8211; mà nó còn bị &#8220;trời hành cơn lụt mỗi năm&#8221; như trận lũ đầu tháng Mười Một vừa qua. Cả miền Trung chìm trong lũ lụt. Ở Huế chỉ trong vài tiếng đồng hồ sáng ngày 2 tháng Mười Một, nước sông Hương, sông Bồ dâng cao dìm cả thành phố và các vùng lân cận dưới biêûn nước. Báo trong nước cho biết đến 4 giờ chiều cùng ngày đã có 58,000 ngôi nhà trong tỉnh Huế-Thừa Thiên chìm trong cơn lũ. Giao thông hoàn toàn bị gián đoạn. Điện bị mất, truyền hình ngưng phát sóng. Chỗ bị ngập sâu nhất tại Huế lên đến 7, 8 thước. Tại Quảng Trị, mực nước sông Thạch Hãn lên đến 7. 24 thước. Báo cho biết 60,000 ngôi nhà bị chìm trong nước. Một chi tiết làm chúng ta chảy nước mắt: &#8220;Bệnh viện Triệu Hải nước lũ đã ngập giường các bệnh nhân.&#8221; Những bức ảnh của hãng thông tấn chụp hôm 3 tháng Mười Một, 99 tạ xã Cẩm Kim, Hội An cho thấy nhân viên giải cứu chèo ghe gần những mái nhà tranh ngập nước; một bứckhác chụp một phụ nữ chèo ghe thúng chạy lụt có chở theo con chó nhỏ, căn nhà ngói phía sau nước ngập gần mép cửa sổ, và trên căn gác ngôi nhà một cô bé chừng 10 tuổi đứng ngó xuống &#8230; Tôi không nhớ rõ mình đã chúng kiến trận lụt nào những ngày còn nhỏ ở quê nhà. Nhưng khi lớn lên ở Dalat, rồi Sài Gòn tôi chưa thấy một trận lũ nào như hình ảnh miền Trung chìm trong biển nước như tôi được thấy trong những bức ảnh này. Ở Nha Trang, trong những năm tiểu học tôi chỉ còn nhớ những ngày mưa bão lớn, con đường dọc theo biển chạy dài từ Nhà Giây Thép xuống Cầu Đá nước biển tràn lên mặt đường theo từng đợt sóng. Biển giận dữ điên cuồng gào thét. Biển đục ngầu ghê rợn. Biển địa ngục. Biển như một nấm mồ mở tung nấp ván thiêng đầy những oan hồn nổi dậy . Những hàng cây dọc đường Yersin trốc gốc. Những cành cây còn nguyên lá xanh nằm ngổn ngang trên mặt đường. Những trụ điện ngã nghiêng. Thành phố suốt đêm không còn ánh sáng. Bãi cát trắng nơi tôi vẫn thường xuống ngồi nhìn những con tàu ngoài khơi tưởng tượng những chuyến đi xa, tưởng tượng những thành phố mình sẽ đến, tưởng tượng những chuyện thần tiên chỉ có trong sách cổ tích&#8230;. cái bãi cát làm nền cho trí tưởng tượng của tôi đã hoàn toàn chìm trong biển nước. Những cây dừa và những tàu lá ngả nghiêng theo chiều gió. Lụt miền Trung và thành phố tuổi thơ của tôi bây giờ ra sao?</p>
<p><b>Biết rồi, khổ lắm, nói mãi! </b></p>
<p>Tháng Mười vừa qua &#8211; đúng ra là ngày 13 tháng Mười &#8211; người đọc yêu mến nhà văn Vũ Trọng Phụng đã tưởng niệm 60 năm ngày ông qua đời. Tác giả của Giông Tố, Số Đỏ, &#8230; lừng danh với câu nói bất hủ &#8220;Biết rồi, khổ lắm , nói mãi!&#8221;, cha đẻ của những nhân vật Xuân Tóc Đỏ, Bà Phó Đoan, Cụ Cố Hồng, Nghị Hách, Thị Mịch, &#8230; Vũ Trọng Phụng là một trong số rất hiếm nhà văn Việt Nam &#8220;không ai bắt chước được, không ai theo kịp được&#8221;, (Nguyễn Tuân,) &#8220;ông vua phóng sự đất Bắc&#8221;, (Lãng Nhân Phùng Tất Đắc), &#8220;tiểu thuyết gia trác tuyệt của văn học Việt Nam (Nguyễn Đình Thi). Mười tám tuổi (1930) có truyện ngắn đầu tay &#8211; Chống Nạng Lên Đường &#8211; in trên tờ Ngọ Báo, chín năm sau vừa kịp hoàn thành cuốn tiểu thuyết thứ chín &#8211; Trúng Số Độc Đắc &#8211; trước khi qua đời vì bệnh lao. Một nhà văn chết vì suy dinh dưỡng ở tuổi 27, Vũ Trọng Phụng đã làm người đọc ngạc nhiên trước khối lượng sáng tác gần như đồ sộ trong thời gian cầm bút ngắn ngủi của ông: ba mươi truyện ngắn, chín tiểu thuyết, tám tập phóng sự, sáu vở kịch. Đó là chưa kể bản dịch vở kịch Lucrèce Borgia của Victor Hugo, một số bài viết phê bình, tranh luận văn học và hàng trăm bài báo viết về các vấn đề chính trị xã hội, văn hóa. (GS Trần Hữu Tá).</p>
<p>Nhà văn &#8220;trác tuyệt của văn chương Việt Nam&#8221;, &#8220;ông vua phóng sự đất Bắc&#8221; sống cuộc sống ngắn ngủi vì triền miên đói khát, vậy mà sau khi chết cũng không yên thân. Hai mươi năm sau ngày ông qua đời, 1958, Hà Nội bắt đầu &#8220;vạch lá tìm sâu&#8221; trong tác phẩm Vũ Trọng Phụng. Người ta gọi ông là tác giả &#8220;khiêu dâm&#8221;, là &#8220;trốt-kít&#8221;, sách ông trong thư viện bị bỏ vào khu vực nghiên cứu đặc biệt, muốn đọc phải có giấy giới thiệu Nhà nghiên cứu phê bình văn học Phan Cự Đệ của Hà Nội, năm 1960, khi viết giáo trình Văn Học Việt Nam 1930-1945 (nxb Giáo Dục &#8211; 1961) không xem Vũ Trọng Phụng như một tác gỉa. Đến cuối năm 1960, Viện Văn Học [Hà Nội] tổ chức hai cuộc thảo luận về Vũ Trọng Phụng đưa ra những &#8220;ý kiến&#8221;: &#8220;Nghe nói&#8221; Vũ Trọng Phụng lúc còn sống có nhận tiền của mật thám Pháp, Vũ Trọng Phụng là một &#8220;nhà văn lưu manh&#8221;, &#8220;chỉ giỏi xỏ xiên&#8221;, &#8220;không có gì đáng nghiên cứu&#8221;,&#8230; Cho mãi đến năm 1983, Vũ Trọng Phụng mới được ghi nhận trong câu nói của Nguyễn Khải về cuốn Số Đỏ: &#8220;cuốn sách ghê gớm có thể làm vinh dự cho một nền văn học.&#8221;</p>
<p>Trong một bài tham luận Hội Thảo Tưởng Niệm 50 Năm Ngày Mất Vũ Trọng Phụng đọc tại Văn Miếu Hà Nội, [ngày 12 tháng Mười, 1989] ông Hoàng Thiếu Sơn cho rằng cuốn Số Đỏ của Vũ Trọng Phụng &#8220;chỉ muốn nói đến bọn nhơ øvận may chó ngáp phải ruồi mà nên sự nghiệp &#8221; và ông cho rằng cái văn tài của Vũ Trọng Phụng là &#8220;đã cho ta thấy tất cả cái gọi là vô nghĩa lý của xã hội.&#8221; Điều này Vũ Trọng Phụng đã viết trong các tác phẩm của ông, &#8220;còn lòng xót thương thì Vũ Trọng Phụng đã để dành cho một cuốn tiểu thuyết khác, tiếp theo Số Đỏ, mà tác giả đã đặt tên là Số Đen. Nhân vật trong tác phẩm này là một con người hết sức đáng trọng vì nhân phẩm mà rất đáng thương vì cuộc đời gặp toàn sóng gió, trải qua mọi nỗi bất công. Số Đen trùm lên cả cuộc đời của nhân vật như thiên la địa võng, thật là chạy trời không thoát.&#8221; Cho đến nay, mười năm sau khi phát hiện có một tiểu thuyết mang tên Số Đen của Vũ Trọng Phụng, người ta vẫn chưa có cái &#8220;may mắn&#8221; được nhìn thấy mặt mũi của đứa con bị bỏ quên của nhà văn có mộït số phận đen đủi này.</p>
<p>Tưởng niệm 60 năm ngày mất của tác giả Số Đỏ, người đọc Vũ Trọng Phụng lại thêm một lần nữa nhìn thấy văn học Việt Nam từng có một nhà văn lớn, nhà viết phóng sự lớn .</p>
<p><b>Thầy Tôi </b></p>
<p>Hồi ở Đại học Dalat, người Thầy để lại trong tôi nhiều ấn tượng nhất có lẽ là Linh Mục Alexis Cras,** giáo sư phụ trách môn Siêu Hình Học. Tôi còn nhớ dường như gần suốt ba năm trời ông chỉ giảng đi giảng lại có mỗi một câu của Martin Heidegger. Ông có phong thái của một vị Thánh hơn là một giáo sư. Tôi không hiểu được gì nhiều qua những lời Cha giảng. Nhưng tôi học được nhiều điều nơi Cha qua cách sống. Tôi khám phá ra mỗi người chỉ có một đời sống để sống và gắng sống sao cho ra con người. Một con người tử tế. Làm con người tử tế giống như người đi trên giây xiếc. Nếu không đứng thẳng rất dễ ngã. Nói về Heidegger hay nói về Sartre, về Merleau-Ponty hay về Karl Jaspers, bao giờ Cha cũng đi kèm theo một tác giả Việt Nam. Cha thích nói về tác phẩm Hồn Bướm Mơ Tiên, về nhà văn Khái Hưng, nói về một ngôi nhà thờ Hà Nội, về một con đường của một thành phố mà chưa bao giờ tôi đặt chân đến. Trong lớp tôi có 28 sinh viên thì có đến gần 20 người là đi đạo Chúa. Tôi nằm trong số người ít ỏi còn lại. Tôi là một người athéiste. Cha thường bảo tôi là hãy giữ những gì con đang có, học thuyết chỉ là cái để nghe, để làm giàu sự suy tưởng của mình. Học thuyết không làm thành đời sống, chính đời sống mới làm thành học thuyết. Cha bảo hãy đọc Goethe đi. Đó là một con người vĩ đại. Nhưng tôi chỉ đọc Camus và tôi không cách sao mê nổi Goethe, Tôi thích Gide. Nhưng khi Gide bảo &#8220;Ôi gia đình, ta ghét ngươi!&#8221; thì tôi thấy mình không thể sống được nếu không có gia đình. Tôi khám phá ra tâm hồn tôi là hễ cứ yêu một thứ gì thì có nghĩa là phải làm ngược lại những gì thứ ấy mong mỏi. Đối với tôi Cha Cras là hình ảnh của một mẫu người dẫn đường. Cha đã dẫn tôi đi ở vào lứa tuổi mà tôi biết rằng chỉ có sức mạnh của bàn tay và quyền lực mới xứng với khát vọng tuổi trẻ tôi. Tôi đã từng đánh nhau với những thằng sinh viên mất dạy nhất ở sân trường Đại học Khoa học Sài Gòn. Tôi đã có lần cứa cổ một thằng ưa dùng tay chân dao búa trên sân Cù Dà Lạt năm tôi mười tám tuổi. Nhưng tôi cũng đã có lần chảy nước mắt vì một bàn tay dịu dàng xoa vết chém trên lưng tôi trong một buổi tối trong khu chợ cá Trần Quốc Toản. Tôi đã sợ hãi vì đôi mắt buồn rầu của mẹ tôi khi tôi bảo là tôi sẽ bỏ học ra đi &#8211; mà không biết đi đâu. Đôi khi tôi thấy mình giống như một thằng trôi sông lạc chợ. Tôi biết mình dễ trở nên một tên du đảng hơn là một cậu học trò may mắn đứng đầu lớp. Học cho lắm vào, cha tôi thường nói, đầu óc mày cũng chỉ có một dúm cỏ chữ nghĩa là cùng. Cỏ chữ nghĩa, cha tôi thường bảo vậy, chẳng hù dọa được ai đâu. Cho tới bây giờ sự hiểu biết mà tôi có thật ra cũng chỉ là một dúm cỏ. Cái hiểu biết thực sự của mình sao mà nó tầm thường, nhỏ nhoi.</p>
<p>NGUYỄN XUÂN HOÀNG</p>
<p>&nbsp;</p>
<p><b>Tháng Giêng năm 2000</b></p>
<p><b>Gặp bạn ở Paris </b></p>
<p>Sau cùng tôi cũng đã trở lại Paris, trở lại thành phố của những ngôi nhà chật, những đường phố hẹp, những viện bảo tàng lịch sử, những người quen cũ và cả những người mới nghe tiếng nhưng tưởng chừng như đã quen lắm từ lâu. Paris của Nguyên Sa, Võ Đình, của Trần Thiện Đạo, Trần Hồng Châu, của Cung Trầm Tưởng, Đặng Tiến, của Lê Bá Đảng, Nguyễn Cầm, Kiệt Tấn,&#8230; trước kia và bây giờ là của Diễm Châu, Thanh Tuệ, Hồ Trường An, Miêng, của Trần Vũ, Trần Công Sung, Đỗ Kh., Thụy Khuê, Nguyễn Thị Chân Quỳnh, Phan Thị Trọng Tuyến, Mai Ninh, Đặng Mai Lan, Trần Thị Diệu Tâm, của Cổ Ngư, Mạch Nha, của Linda Le và Kim Lefèvre, của các nhà báo Trần Văn Ngô, Trần Trí Vũ, Ánh Nguyệt, Trần Trung Quân, &#8230; Cho dù Diễm Châu có ở Strasbourg, Hồ Trường An có ở Troyes, Đặng Mai Lan có ở Reims, Mai Ninh có ở Normandie,&#8230; thì Paris vẫn là của những người cầm bút này. Y Chi và cả Nguyễn Hưng Quốc nữa, bây giờ đã ở Úc, nhưng trước đây cũng là người của Paris. Thành phố văn học của cả thế giới đang dành cho Việt Nam những khuôn mặt chữ nghĩa.</p>
<p>Tôi đến Paris đúng vào ngày mà hàng quán nào cũng treo bảng Le Nouveau Beaujolais Est Arrivé! Rượu Beaujolais đầu mùa thật ngon. Không phải là một tay sành rượu, nhưng tôi đã uống và đã thấy như vậy. Mới giữa tháng Mười Một, mà Paris đã lạnh như mùa đông. Trời hơi có chút mưa. Nhà tôi ở avenue de la République, Quận XI, gần Nghĩa trang Père Lachaise, nơi có những ngôi mộ của những nhân vật tên tuổi mà lần đầu đến Paris tôi chưa kịp thăm.</p>
<p>Buổi sáng đầu tiên trở lại thành phố này, tôi chưa biết mình phải làm gì trước khi thăm Huỳnh Phan Anh, người bạn đã cùng tôi sống những năm tháng của một Sài Gòn sôi nổi. Không ngờ vậy mà chúng tôi đã xa nhau gần mười lăm năm. Trước khi gặp lại bạn, tôi đã nghe Ánh Nguyệt và Đặng Tiến và Thanh Tuệ mô tả bạn tôi. Vẫn gầy ốm, đã có chút hư hao và &#8230; Tôi muốn đến ở với bạn một ngày, nghe bạn nói về Sài Gòn, về những người bạn còn lại của chúng tôi. Trong đám bạn sáu tên vẫn thường ngồi với nhau những buổi sáng ở quán Cái Chùa thời đó, bây giờ chỉ còn Huỳnh Phan Anh và Nguyễn Nhật Duật. Bốn tên kia, Nguyễn Quốc Trụ, Đặng Phùng Quân , Nguyễn Đình Toàn, và tôi, đã rời khỏi nước. Đó là những năm 60, những năm Sài Gòn cheo leo giữa chiến tranh ngày càng ác liệt và hòa bình rất đỗi mong manh; những năm mà đời sống chúng tôi chui rúc vào những quán cà phê trên đường Tự Do, như những con đà điểu vùi đầu trong cát; những năm SàiGòn gắn liền với không khí chính trị sôi sục của những cuộc xuống đường và lưụ đạn cay; những năm mà mỗi biến động của văn chương Pháp vẫn còn làm những trang sách Sài Gòn dính đầy dấu mực Paris.</p>
<p>Huỳnh Phan Anh trong nhóm chúng tôi là một người rất &#8220;mặn&#8221; với tiểu thuyết mới của Alain Robbe-Grillet, Michel Butor, Nathalie Sarraute,&#8230; Với cuốn tiểu luận Văn Chương Và Kinh Nghiệm Hư Vô, Huỳnh Phan Anh đã mở ra một cánh cửa khác của cách nhìn văn chương Việt Nam sau thời Sáng Tạo. Những bài viết của anh trên tạp chí Văn cho thấy Huỳnh Phan Anh là một tài năng đa dạng: anh viết tiểu luận, anh dịch và anh sáng tác. Huỳnh Phan Anh là người có khuôn mặt của một thiền sư, nhưng mang nỗi đam mê của một Dostoievsky. Anh dựng nhà xuất bản Đêm Trắng và một trong những cuốn sách do nhà xuất bản này ấn hành là cuốn Khu Hừng Rực Lửa của tôi. Cuốn &#8220;tiểu thuyết vừa&#8221; này đã được chạy từng kỳ trên tạp chí Văn, lúc đó do Trần Phong Giao làm tổng thư ký, không phải là một cuốn sách bán chạy. Nói chung, những sách của nhóm Đêm Trắng với Huỳnh Phan Anh, Nguyễn Quốc Trụ, Đặng Phùng Quân, Nguyễn Nhật Duật và tôi ra đời không được người đọc đón nhận như sách của Duyên Anh, Nhã Ca, Nguyễn Thị Hoàng, Túy Hồng hay Nguyễn Thị Thụy Vũ. Điều đó cũng dễ hiểu thôi.</p>
<p>Huỳnh Phan Anh mới đây đã chọn và dịch một hợp tuyển thơ của thi sĩ Pháp, Yves Bonnefoy, [từ những tác phẩm Po èm es, 1986; Ce Qui Fut Sans Lumière, 1987 và La Vie Errante, 1993, tất cả đều do Mercure de France ấn hành] và chính Bonnefoy đã viết lời tựa cho hợp tuyển đặc biệt này. Chuyến đi của Huỳnh Phan Anh là do Yves Bonnefoy bỏ tiền túi mời.</p>
<p>Nhưng sáu ngày ngắn ngủi của tôi ở Paris, ba ngày ở Bruxelles, tôi chỉ gặp bạn tôi ba lần. Hai lần đến và đi ở phi trường Charles de Gaulle, một lần duy nhất tại nhà Thanh Tuệ. Bạn tôi vẫn như xưa. Vẫn những đốm lửa không ngừng cháy sáng trên môi. Có gầy hơn, nhưng hơn hai tháng qua sống tại Paris, bạn tôi đã hồng hào. Anh vẫn còn giữ nguyên đôi mắt của một người đam mê. Chúng tôi không nói chuyện gì nhiều. Tất cả chỉ quây quanh đời sống. Cuộc sống của những người ở tuổi chúng tôi ngoảnh mặt nhìn lại những tháng ngày đã qua giật mình thấy sao quá nhiều biến cố dồn dập đổ xuống đời mình, bóng tối nhiều hơn ánh sáng, thiên đường ít hơn địa ngục và hãi hùng khi thấy tuổi trẻ đã không còn ở với chúng tôi nữa.</p>
<p>Tôi bước xuống phố. Con đường còn đọng nước mưa. Phòng điện thoại công cộng đã có ba người chiếm. Le Soleil Levant, quán cà phê góc phố. Kiosque bán sách báo đầu trạm métro. Tôi mua một tạp chí. Tờ Le Nouvel Observateur, với bìa la ảnh Marguerite Duras và Yann Andréa, người tình trẻ của bà. Duras mon amour, Le dernier homme de sa vie témoigne. Câu chuyện bắt đầu năm 1975, ở Caen, một sinh viên rất trẻ gặp nhà văn Marguerite Duras, &#8211; tác giả tiểu thuyết Người Tình &#8211; thần tượng của anh. Năm năm sau, mùa hè năm 1980, Yann Andréa gõ cửa ngôi nhà của Marguerite Duras ở Trouville. Và kể từ đó họ không rời nhau nửa bước cho đến ngày Duras qua đời vào năm 1996. Duras Mon Amour là trích đoạn trong cuốn sách của Yann Andréa. Tôi không xuống métro. Tôi đi ngược lên. Nghĩa trang Père-Lachaise. Những ngôi mộ, những nhà mồ, những bức tượng&#8230; như Oscar Wilde [tràn ngập những dấu son môi trên đá], như mộ Apollinaire rất đẹp, như Marcel Proust, Balzac, Merleau-Ponty, Gertrude Stein, Paul Eluard, Edith Piaf, Modigliani, Chopin,&#8230;. và cả mộ bia rất thấp của đôi uyên ương Yves Montand &amp; Simone Signoret. Tôi có cảm tưởng mình đang đi giữa một thứ bảo tàng viện sống, giữa những nhà mồ và những ngôi mộ của những người vô danh [một vài ngôi mộ người Hoa và cả ngôi mộ của một người Việt Nam] nằm lẫn với những nhân vật lừng lẫy của văn học nghệ thuật nước Pháp. Những ngôi mộ với những bức tượng quá đẹp làm thành một quần thể những tác phẩm mỹ thuật&#8230;trong một nghĩa trang thầm lặng. Hai hôm sau, tôi đã trở lại nghĩa trang lần nữa với nhà văn trẻ Cổ Ngư để chụp ảnh mộ những nhân vật mà tôi từng nghe tiếng.</p>
<p>Ra khỏi cổng nghĩa trang trên đường Boulevard de Ménilmontant, tôi đi ngược lại trạm métro Saint Maur. Công nhân bãi việc. Một vài trạm rác rưới ngập lối đi. Những tấm bích chương quảng cáo du lịch Ai Cập và Maroc. Một ban hát xẩm chơi nhạc ở cổng xuống sân ga. Phần lớn khách đi rất nhanh, gần như chạy. Nhiều thiếu nữ ở Paris mặc áo choàng đen dầy phủ trùm tận gót chân, đứng chờ xe ở trạm . Xe vừa dừng bánh đã đẩy cửa bước nhanh vào toa và giở một cuốn sách ra đọc, không buồn nhìn ai.</p>
<p>Mùa đông đến sớm với Paris nhưng những chiếc áo choàng dày màu đen của những cô gái Pháp đã làm ấm một thời tiết giá băng.</p>
<p>Theo xe nhà báo Trần Văn Ngô, và nhà văn Trần Thị Diệu Tâm, xuống Sceaux, tôi được dự buổi ra mắt cuốn sách đầu tay của Miêng tại tư gia anh chị Quỳnh Dao-Huỳnh Hùng. Ngôi nhà đẹp, khu yên tĩnh, khách đứng chật phòng. Ấm cúng , thân mật. Đặng Tiến đang làm phóng sự văn học nghệ thuật cho BBC. Anh là người cộng tác khá lâu với Văn thời trước 1975. Những bài viết về văn học nghệ thuật của anh rất có giá trị. Tôi cũng gặp lại chị Thụy Khuê của đài RFI, Mai Ninh thường có bài trên Hợp Lưu, Trần Công Sung trên Thế Kỷ 21 và nhiều khuôn mặt quen thuộc khác.</p>
<p>Tại quán ăn An Hiên của anh chị Phạm Kế Viêm-Trần Thị Diệu Tâm, tôi được gặp lại &#8220;bà già trầu&#8221; Hồ Trường An, nhà báo Trần Trí Vũ, và Tuấn [RFI] , Thanh Tuệ, nhà xuất bản An Tiêm, anh chị Thụy Khuê-Lê Tất Luyện, nhiếp ảnh gia Huỳnh Tâm, nhà văn Đặng Mai Lan, nhà thơ Thụy Khanh, và giáo sư Bùi Xuân Quang&#8230;[Cũng tại quán này, trong một thời gian rất chật hẹp hai hôm sau, tôi gặp bình luận gia Trần Thanh Hiệp, nhà viết sử &#8211; nhà văn Chính Đạo-Nguyên Vũ, và người chuyên dịch Liêu Trai Chí Dị Phạm Xuân Hy.] Và sau đó [đúng đêm trước ngày lên đường trở về Mỹ] tạitư gia của anh chị Miêng-Khoa, ở Saint Denis, tôi được gặp hai vợ chồng Phan Thị Trọng Tuyến, anh chị Vương Văn Đông, Quỳnh Dao- Huỳnh Hùng. Những buổi gặp gỡ đầy tình thân ái và qua đó tôi học hỏi được nhiều điều rất hay. Miêng ít nói, văn chương sắc bén. Đặng Mai Lan cũng ít nói, truyện ngắn thơ mộng và lãng mạn. Trần Thị Diệu Tâm sôi nổi, truyện chị nhẹ, trầm; Hồ Trường An lưu loát thao thao như những trang sách của anh và Thụy Khuê kín đáo. Tôi thật may mắn có những ngày tràn ngập kỷ niệm tại một vùng đất văn vật lừng danh thế giới với những người mà tôi yêu thích.Chỉ có một điều ân hận là tôi không còn thì giờ đi thăm Trần Vũ, Đỗ Kh. và chị Nguyễn Thị Chân Quỳnh, đi Strasbourg thăm Diễm Châu, sang Anh gặp &#8220;bạn già&#8221; Nguyễn Đăng Thường, đến Đức thăm Lê Minh Hà và Nghĩa, ăn một bữa cơm với vợ chồng Thế Giang, ngồi giữa nhà hàng của Hoàng Nga nghe chuyện Việt Nam, đi một quảng đường với Ngô Nguyên Dũng&#8230; Tôi thiếu nhiều nơi phải đến, nhiều người phải gặp. Và sau cùng tôi cũng đã thiếu một ly cà phê với anh Vũ Thư Hiên như đã hẹn, vì cả anh lẫn Đỗ Kh. trong thời gian ấy đã đến Hoa Kỳ. Và Trần Vũ, ngòi bút trẻ tuổi xuất sắc của văn học Việt Nam hải ngoại đi chơi xa chưa về.</p>
<p>Sau cùng, tôi cũng chẳng biết thêm chút nào về Paris ngoài con đường avenue de la République, trạm metro Saint Maur và trạm République, nghĩa trang Père Lachaise, bateau mouche trên sông Seine và tháp Eiffel về đêm.lạnh buốt.</p>
<p>Paris, thành phố mà nhà văn Julien Green, &#8220;nhiều lần mơ ước viết một cuốn sách về nó như một cuộc dạo chơi không mục đích, thành phố mà ta không tìm thấy được những gì mà ta muốn tìm kiếm, nhưng người ta sẽ nhận ra được nhiều thứ mà người ta không chủ tâm kiếm tìm&#8230;. Thành phố này chỉ mỉm cười với những ai đến gần nó và lang thang trên những nẻo đường phố xá; thành phố ấy nói cho ta nghe thứ ngôn ngữ thân quen, yên lòng chắc dạ, thế nhưng tâm hồn của Paris chỉ hiện lên từ xa, và từ trên cao, và trong sự lặng thinh của đất trời người ta có thể nghe được tiếng kêu trầm thống của niềm kiêu hãnh và đức tin cất cao trên trời xanh.&#8221;</p>
<p>Tạm biệt Paris và xin cám ơn những người bạn đã uống cùng tôi một ly cà phê đắng.</p>
<p><b>Miền Trung vọng tiếng&#8230; </b></p>
<p>Chưa biết Paris là một thiếu sót, nhưng chưa được về miền Trung mang đến cho đồng bào tôi một tấm áo, một bữa ăn, một tập vở, một tấm lòng, tôi thấy đó mới là một thiếu sót lớn hơn rất nhiều trong lúc này. Cái đất miền Trung cát cháy, nghèo khổ cầy lên sỏi đá của chúng ta trong nhiều thế kỷ qua chưa năm nào tránh khỏi thiên tai.Cái đói và cái khổ đeo đuổi dai dẳng như lủ đỉa hút máu người. Trận lụt thứ nhất chưa qua, trận lụt thứ hai đã dội tiếp xuống. Những mái nhà nhấp nhô trên mặt nước như những đầu người bị chìm, những con đường đang trở thành những dòng sông, những khuôn mặt, những đôi mắt ướt nước mưa [hay nước mắt?] của những thanh niên chạy lũ trên ngọn đồi cao 30 mét của huyện Phú Lộc, suốt ba ngày không có một hột cơm trong bụng; ở cửa biển Thuận An, lũ xoáy đã tạo ra hai cửa biển mới: Hòa Duân và Vinh Hải. Nước! Nước! và nước! đâu đâu cũng chỉ có nước. Đất và nước làm thành quê hương,làm nơi trú ngụ của con người, nhưng đất hoang thiếu bàn tay người và nước tràn lan ngập lụt khắp mặt đất sẽ là thảm họa.</p>
<p>Trên tờ Thế Kỷ 21 số 128 tháng Mười Hai, tôi đọc mấy câu thơ rất cảm động của Thảo Chi:</p>
<p>&#8230;..</p>
<p>Trên tờ Tuổi Trẻ số ra ngày 11 tháng Mười Một, tôi đọc thấy ba bài thơ &#8220;Thương Về Miền Trung&#8221; :</p>
<p>Mẹ ngồi bám nóc nhà tranh<br />
mắt không còn lệ để dành khóc con<br />
giữa trời nước lụt mênh mông<br />
biết nơi đâu xác của con trôi về!</p>
<p>Mới đêm qua mẹ còn nghe<br />
tiếng con hát dưới bóng tre sau vườn<br />
bây giờ đã thấy tang thương<br />
làng trên xóm dưới không còn mái tranh!</p>
<p>(Nguyễn Như Mây, Mẹ Miền Trung Mất Con)</p>
<p>Em không về kịp nữa chị ơi<br />
Mưa trắng cả một trời Quảng Trị<br />
Lũ nguồn như từ thiên niên kỷ<br />
Dưng không đổ xuống quê mình.</p>
<p>Mấy ngày rày cha cứ làm thinh<br />
O út vô ra thở dài thườn thượt<br />
Qua màn hình chỉ một màu: mây nước.<br />
Ở nơi mô, nhỏ nhoi đất quê mình?</p>
<p>Thiệp cưới chị nhờ em đã lấy tận nhà in<br />
Kịp tuần sau cả nhà ra đám cưới<br />
Nhìn ảnh chị cười răng mà thấy tội<br />
Bốn mươi tuổi còn gì?</p>
<p>Chuyện tình ngày xưa đẫm ướt mi<br />
Ai xui khiến Thủy Tinh giờ tìm bắt chị<br />
Chú út nghẹn ngào báo qua dòng lệ:<br />
Lũ cuốn trôi nhà và chị&#8230; chị ơi!</p>
<p>Cha cố nuốt nước mắt vào trong, không nói nên lời<br />
O út gào lên như người mê sảng<br />
Cả nhà phủ một màn mưa trắng<br />
Mưa trắng trời hay trắng cả con tim?</p>
<p>Em không về kịp nữa chị ơi!<br />
Mưa vẫn trắng cả một trời Quảng Trị.<br />
(Tạ Nghi Lễ, Chị Ơi!)</p>
<p>Ngày mai này em về Huế, Huế ơi<br />
Xin đừng trách người về sau trận lụt<br />
Xin Huế hiểu cả người không về được<br />
Ở trong ni mà lòng cứ ngoài tê!</p>
<p>(Nguyễn Thái Dương, Ngày Mai Em Về Huế)</p>
<p>Trên Văn số này, nhà thơ Tô Thùy Yên, một khuôn mặt lớn trong thi ca Việt Nam gửi đến bạn đọc bài Huế Oán, bài thơ viết trong mùa thảm nạn của xứ Huế đau thương.</p>
<p>&#8230;</p>
<p>Trường thành nhiều chỗ đã sụt lở.<br />
Thương em còn thơm hồn nhãn sen.<br />
Mấy bận, sóng thần lấp cửa phá.<br />
Đêm giông, mẹ nhắc chuyện năm Thìn&#8230;.</p>
<p>Xin bạn đọc hãy dồn tất cả tình yêu về cho miền Trung ruột thịt và bi thương của chúng ta &#8230;</p>
<p>NGUYỄN XUÂN HOÀNG</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>&nbsp;</p>
<p><b>SỔ TAY THÁNG BA, 2000</b></p>
<p><b>Ba bài thơ mới tìm được của Mai Thảo </b></p>
<p>Anh Nguyễn Đăng Khánh, bào đệ của nhà văn Mai Thảo vừa gửi cho Sổ Tay ba bài thơ mới tìm được của tác giả Ta Thấy Hình Ta Những Miếu Đền. Anh cho biết ba bài thơ này do anh Nguyễn Đức Chấn, cháu của Mai Thảo, tìm thấy tại Việt Nam hồi đầu năm 1999 khi Chấn về Sài Gòn đón mẹ sang Mỹ đoàn tụ cùng gia đình. Thư anh Khánh viết &#8220;Chấn đã cố tìm ở nhà chị tôi [mẹ của Chấn] nơi anh Mai Thảo thường tới ẩn náu khi bị chế độ mới truy lùng trong những năm 1975-78, một tấm ảnh mà Chấn đã chụp anh Mai Thảo với chị Kiều Chinh tại nhà hàng La Pagode. Mặc dù không tìm thấy tấm ảnh nhưng Chấn đã tìm được một tờ giấy trên đó anh Mai Thảo ghi ba bài thơ nhan đề Hình Tượng, Thủy Tinh và Kim. Sau hơn 20 năm, tờ giấy đã vàng, nét chữ đã mờ, rất khó đọc, nhưng vẫn là nét chữ của anh Mai Thảo. &#8230; Ba bài thơ trên xác định một điều: Anh Mai Thảo làm thơ từ nhiều năm trước đấy chứ không phải [mới làm thơ] vào những năm gần cuối đời với tập thơ Ta Thấy Hình Ta Những Miếu Đền xuất bản vào năm 1989&#8230;&#8221;</p>
<p>Cùng với những bài thơ, anh Nguyễn Đăng Khánh gửi cho Sổ Tay tấm ảnh [màu] do nhiếp ảnh gia Trần Cao Lĩnh chụp Mai Thảo ngồi với thi sĩ Vũ Hoàng Chương. Trên góc trái bức ảnh, dưới chữ ký của Cao Lĩnh, tôi thấy dòng chữ viết tay: Dưới thềm gác mây 1974.</p>
<p>Bức ảnh mà tôi đã có lần ghi trong Sổ Tay là đã nhìn thấy trên vách phòng anh Mai Thảo trongcăn phòng nhỏ anh ở trên đường Bolsa, phía sau nhà hàng Song Long. Xin ghi lại nguyên văn ba bài thơ của anh như một tưởng niệm ngày anh qua đời và đồng thời là một đóng góp cho các nhà phê bình văn học những sáng tác còn bỏ quên của thi sĩ / nhà văn Mai Thảo:</p>
<p><b>hình tượng </b></p>
<p>Từ trong cửa tối nhìn ra<br />
Thấy gần: bóng lá, thấy xa: biển trời<br />
Lá lay, bóng cách ngăn đời<br />
Biển im, hình tượng cõi người không ta.</p>
<p><b>thủy tinh </b></p>
<p>Trở mình chăn chiếu mênh mông<br />
Giấc mơ chật hẹp vẫn trong cuộc đời<br />
Mộng ta không xóa nổi người<br />
Đáy đêm còn đọng tiếng cười thủy tinh.</p>
<p><b>kim </b></p>
<p>Miếng da bịt mắt thành đêm<br />
Cây kim khâu miệng thành im lặng mồ<br />
Tay chân, giây trói bao giờ<br />
Da, kim, giây ấy bây giờ là ta.</p>
<p>Khẩu khí ấy, chữ nghĩa ấy không thể là ai khác, ngoài Mai Thảo.</p>
<p>Tôi vẫn thường nghĩ Nguyễn Đình Vượng là cha đẻ của tạp chí Văn, và Mai Thảo là người đã tiếp sức nuôi nó lớn lên. Văn không có mặt nếu không có cụ Vượng và Trần Phong Giao. Nhưng Văn không thể tồn tại đến hôm nay nếu không có Mai Thảo.</p>
<p><b>Nhà văn-giáo sư Cung Giũ Nguyên và những người học sinh cũ </b></p>
<p>Mấy ngày trước Tết, một số bạn học thời nhỏ ở Nhatrang gọi nhau gửi thư chúc Tết thầy cô giáo cũ còn ở quê nhà. Một người bạn cùng trường bảo tôi &#8220;anh nên viết cho thầy Cung Giũ Nguyên một cái thư đi. Dù sao anh và thầy Nguyên cũng có chỗ giống nhau.&#8221; Tôi hỏi giống nhau chỗ nào? Bạn tôi bảo &#8220;thì Thầy Nguyên là nhà văn, mà anh cũng viết văn.&#8221; Tôi nghĩ viết thư chúc tết thầy cô thì ai cũng viết được, cứ gì phải là nhà văn. Và tôi viết thư thăm Thầy. Tôi không còn nhớ hết các thầy cô thời tiểu học, nhưng ở Trung học tôi còn nhớ nhiều vị, mặc dù tôi biết chắc các thầy / cô tôi không nhớ tôi là đứa nào. Cũng dễ hiểu thôi. Tôi chỉ là một học sinh tầm thường trong đám học sinh tầm thường không xuất sắc và cũng không ngỗ nghịch phá phách. Thuở đó tôi là một cậu bé ghét nhà trường và sách vở. Lớp học, với tôi đôi khi chỉ là tù ngục. Cuốn vở tôi không chép bài học mà chỉ tràn ngập chi chít những hình vẽ, những khuôn mặt tôi ghét, tôi thương, những bầu trời giông bão mà tôi tưởng tượng một ngày nào sẽ xảy ra trên thành phố tôi đang sống. Tôi vẽ những ngôi nhà đổ nát, những đường phố không bóng người. Những chiếc xe nằm ụ bốc cháy. Xác người la liệt nằm lớp lớp trên bãi biển, sóng xô dạt vào bờ rồi kéo ra khơi xa&#8230; Nhà tôi ở gần nhà thầy Điểm giáo sư phụ trách môn hội họa. Phòng khách của thầy treo nhiều tranh, phần lớn là phong cảnh và một bức lớn, gần như chiếm hết tấm vách ngó ra mặt đường. Bức tranh vẽ biển xanh với bãi cát trắng, mấy cây dừa lả ngọn. Tranh vẽ như chụp lại từ một bức ảnh. Thầy người Nam, tánh tình cởi mở, học trò đứa nào cũng thương thầy. Giờ hội họa, đứa nào cũng được thầy cho điểm cao. Phần tôi, thầy luôn luôn nhắc, &#8220;vẽ như mầy mai mốt bán tranh cho ai. Sao không giống gì cả vậy. Biển trong tranh của con thầy thấy giống như mấy miếng giẻ chùi cọ. Đầu óc con không bình thường.&#8221; Tôi nói tôi thích thầy, nhưng không thích tranh của thầy. Tôi cũng không ưa môn văn với những tác phẩm đầy điển tích khó hiểu. Tôi chịu không nổi những Nhị Độ Mai, truyện Trê Cóc, v.v.. Tôi chỉ nhớ lỏm bỏm mấy câu của Cao Bá Quát, bài Đạo Phùng Ngạ Phu (Đi Đường Gặp Người Đói). Ngày hai cố chiếc tráp, ngày ba nhịn đói dài, thấy ai cũng tươi tỉnh, muốn nói nhưng nghẹn lời&#8230; Có lẽ tôi bị ảnh hưởng của cha tôi. Cả đời ông chỉ thuộc có mỗi một bài thơ, bài Thạch Hào Lạ của Đỗ Phủ. Nghe ông đọc đi đọc lại mãi sau mỗi chầu rượu tối tôi nhập tâm hồi nào không hay. &#8220;Mộ đầu Thạch hào thôn. Hữu lại dạ tróc nhân. Lão ông du tường tẩu. Lão phụ xuất môn nghênh.&#8221;* [Ngô Tất Tố dịch ra thơ lục bát: Lính lệ Thạch Hào: Chiều hôm, tới xóm Thạch Hào, Đương đêm có lính lao sao bắt người. Vượt tường ông lão trốn rồi, Cửa ngoài, mụ vợ một, hai mời chào&#8230;) Ông thường nói lập thân bằng binh nghiệp, đừng lập thân bằng văn chương. Văn chương chỉ là thứ vớ vẩn. Ông cũng thường hỏi tôi mày thích gì? Tôi trả lời &#8220;Con không biết.&#8221; &#8220;Nhưng ít ra mày cũng phải biết mày thích một thứ gì chứ. Như tao đây này. Tao biết tao thích thứ gì và tao ghét thứ gì.&#8221; Tôi nói tôi tôi thích nhìn biển động, tôi thích trời sập, tôi thích thế giới này không còn ai&#8230; Cha tôi nói &#8220;đồ ngu, thế giới không còn ai thì mày sống với ai?&#8221; Còn sợ? Tôi sợ những giờ học, sợ bị đóng khung &#8211; bất cứ thứ gì đóng khung cũng làm tôi sợ&#8230;.. Tôi sợ thầy giáo, sợ nghề dạy học, sợ những ông bà công chức, sợ giấy tờ, sợ những ngày lễ lạc, sợ trói buộc, sợ gò bó&#8230; Tôi nghĩ, mình học hành còn không ra chi, nói gì làm nghề dạy người khác. Và lớn lên tôi trốn chạy nó, trốn chạy mãi, nhưng như một người đi trong mê lộ, cuối cùng tôi gặp lại khởi điểm, nơi từ đó tôi đã ra đi: dạy học. Cũng may bố già Nguyễn Đình Vượng đã cứu tôi một nửa, khi tôi bước vào tờ Văn, một nửa còn lại chấm dứt khi cuộc chiến tranh Việt Nam kết thúc. Tôi tìm thấy tôi.</p>
<p>Nhưng những ngày giáp Tết Canh Thìn vừa qua, khi những bạn học cũ thời nhỏ của tôi nhắc nhở việc viết thư chúc Tết thầy/cô tôi thấy những suy nghĩ đã từng làm tôi đau nhức ngày xưa trở lại trong tôi. Và hiện lại trong tôi rõ nét nhất là thầy Cung Giũ Nguyên. Nhưng tại sao thầy Cung Giũ Nguyên mà không là ông thầy, bà cô nào khác? Tôi không tìm thấy câu trả lời chính xác. Có thể vì hồi mới lớn tôi nghe người ta thường nhắc thầy là &#8220;nhà văn&#8221;, là tác giả cuốn tiểu thuyết viết bằng tiếng Pháp, cuốn Le Fils de la Baleine. Cũng chỉ là nghe thôi chứ không hề thấy mặt mũi cuốn sách ra sao nói gì đọc. Rồi câu chuyện về mối tình của Thầy Nguyên với một thiếu nữ. Cô gái kia chắc thua tôi một hoặc hai tuổi, còn thầy Nguyên, tôi biết thầy lớn hơn tôi chừng 31 tuổi. Người ta đàm tiếu, thêu dệt về mối tình của Thầy. Thời gian đó tôi đã vào Sài Gòn, học trường Petrus Ký, nhiều khi nghe người khác kể lại tôi ngạc nhiên tự hỏi tại sao người ta tốn quá nhiều thì giờ về một mối tình đẹp đẽ của thầy Nguyên như thế! Thầy Nguyên là một con người, và là một con người tài hoa.</p>
<p>Cách đây sáu năm, năm 1994, tôi được đọc một tác phẩm mới của thầy, cuốn Thái Huyền, do nhà Đại Nam ấn hành. Đây là bản dịch cuốn Le Boujoum tiếng Pháp, dày 700 trang đã xuất bản tại Pháp năm 1980. Khi đó thầy Cung Giũ Nguyên đã 71 tuổi. Chính thầy Cung Giũ Nguyên đã &#8211; theo lời yêu cầu của nhà xuất bản Đại Nam &#8211; dịch tác phẩm của mình ra tiếng Việt. Cuốn Thái Huyền tôi có trong tay là tập một. Đọc lại phần tiểu sử mới biết thầy đã viết truyện ngắn đầu tay đăng trên tờ Đông Pháp Thời Báo năm 1928 tức là năm thầy mới 19 tuổi. Những tác phẩm thầy Cung Giũ Nguyên viết trực tiếp bằng tiếng Việt đã xuất bản gồm: Một Người Vô Dụng, tiểu thuyết, 1930; Nhân Tình Thế Thái, truyện ngắn, 1931; Nợ Văn Chương, tiểu thuyết, 1934. Năm 1938 thầy chủ trương tờ Les Cahiers de la Jeunesse; làm chủ bút nhật báo Le Soir d&#8217;Asie, 1940-1941 và La Presse d&#8217;Extrême-Orient, 1954. Bài của thầy Nguyên cũng có mặt trên tạp chí Đại học Hoa Kỳ Syposium ở Syracuse, New York, 1952 và Books Abroad ở Norman, Oklahoma, 1956. Về sách trực tiếp viết bằng tiếng Pháp có Volontés d&#8217;Existence (Những Ý Chí Để Sống Còn), tiểu luận, France-Asie, Saigon, 1954. Tiểu thuyết Le Fils de la Baleine, (Con Ông Nam Hải) Arthème Fayard, Paris, 1956, được dịch ra tiếng Đức xuất bản năm 1957, tạiGenève và Franfort dưới nhan đề Der Sohn des Walfischs. Viện sĩ Hàn Lâm Pháp, ông Daniel Rops trong khi phê bình quyển truyện này đã có ý xếp Cung Giũ Nguyên ngang hàng với Giono, một nhà văn lừng danh của Pháp.</p>
<p>Tôi biết chắc là thầy không thích tôi nói lăng nhăng về thầy như những dòng chữ trên , nhưng tôi mong là Thầy sẽ tha thứ cho tôi về những phát biểu linh tinh của một người học trò cũ. Tôi chắc chắn sẽ có dịp viết thêm về nhà văn Cung Giũ Nguyên, người thầy ngày xưa của tôi, trong những số tới.</p>
<p><b>Nguyễn Đình Toàn và Hiên Cúc Vàng </b></p>
<p>Nguyễn Đình Toàn, một trong những nhà văn được yêu mến nhất của Sài Gòn trong những năm trước 1975 vừa đến với người đọc người nghe của ông bằng một CD mang tên Hiên Cúc Vàng. Tác giả Chị Em Hải và nhiều tiểu thuyết khác như &#8220;Áo Mơ Phai&#8221;, &#8220;Ngày Tháng&#8221;, &#8220;Con Đường&#8221;, &#8220;Sau Giờ Ra Chơi&#8221; và Đồng Cỏ&#8221;,&#8230; đã chinh phục người đọc trẻ tuổi Sài Gòn không chỉ bằng chữ nghĩa mà còn bằng cả âm thanh và âm điệu nữa. Những người Sài Gòn từng nghe chương trình nhạc chủ đề của ông trên Hệ Thống Truyền Thanh Quốc gia cách đây 30 năm hẳn không thể nào quên được giọng nói ấm áp truyền cảm của ông qua cách giới thiệu tiếng hát và các ca khúc nóng thời bấy giờ. Có thể nói Lệ Thu, Khánh Ly và nhiều ca sĩ nổi tiếng của SàiGòn trong những năm 60-70 đều lớn lên qua chương trình của Nguyễn Đình Toàn. Ông là người không chỉ xuất sắc về thơ và truyện mà còn là người có khiếu thẩm âm vô cùng tinh tế. Trước 75, ông viết lời từ cho nhiều ca khúc, trong đó có bài Tình Khúc Thứ Nhất rất nổi tiếng của Vũ Thành An. Sau 75 trong những ngày tù tội dưới chế độ mới, ông viết nhạc và giờ đây những ca khúc ấy được nữ ca sĩ tên tuổi Khánh Ly &#8211; người được Nguyễn Đình Toàn gọi là &#8220;góa phụ của chiến tranh&#8221; mang đến cho người nghe trong đêm nhạc Hiên Cúc Vàng tại Vũ Trường Ritz, thành phố Anaheim, Quận Cam..</p>
<p>Khoảng 500 khán thính giả yêu mến và ngưỡng mộ Nguyễn Đình Toàn đã đến tham dự chào đón một tài năng văn chương, mừng ông trở lại với người đọc-người nghe quen thuộc của những năm tháng cũ trong một bầu không khí mới. Có thể nói với Hiên Cúc Vàng, Nguyễn Đình Toàn đã mang đến cho sinh hoạt âm nhạc hải ngoại một làn điệu mới, một hơi thở mới.</p>
<p>Cách đây không lâu, khi nhà báo Lê Đình Điểu giới thiệu tác phẩm mới của Nguyễn Đình Toàn &#8211; cuốn Đồng Cỏ &#8211; tại phòng sinh hoạt nhật báo Người Việt tại Nam Cali, tôi có viết một bài Tạp Ghi có tựa đề là: Nguyễn Đình Toàn-Sài Gòn-Pagode, nhắc lại những kỷ niệm của anh và đám bạn bè vẫn gặp nhau buổi sáng ở quán cà phê Cái Chùa [Pagode] và bao giờ cũng vậy giữa những Huỳnh Phan Anh, Nguyễn Quốc Trụ, Nguyễn Nhật Duật, Nguyễn Đình Toàn luôn luôn là người đưa ra nhiều nhận xét về bạn bè và văn chương người khác một cách sắc bén nhất. Ông là một trong những khuôn mặt lớn của sinh hoạt văn học nghệ thuật Sài Gòn những năm 70. Gặp lại ông sau bao nhiêu năm tháng xa cách, chúng ta không chỉ muốn nghe nhạc của ông mà người đọc đang muốn thưởng thức tiếp những tác phẩm văn chương mới mẻ của ông nữa.</p>
<p><b>Trầm Tử Thiêng: Chuyện Một Chiếc Cầu Đã Gẫy </b></p>
<p>Ngày 25 tháng Giêng năm 2000, nhạc sĩ Trầm Tử Thiêng, tác giả ca khúc nổi tiếng Chuyện Một Chiếc Cầu Đã Gẫy đã từ giã anh em bạn bè ra đi. Tôi không có cơ duyên quen biết ông trong những năm ở Sài Gòn, nhưng ở Mỹ, năm 1986 khi từ đảo Bataan Phi Luật Tân qua làm cho nhật báo Người Việt thì không lâu sau đó Trầm Tử Thiêng cũng về trú cùng một mái nhà, nhưng công việc của anh là phụ trách chương trình văn nghệ cho Đài Truyền hình Người Việt. Trầm Tử Thiêng có một ngoại hình nhỏ thó, gầy gò, khắc khổ. Anh ít cười, ít nói, nhưng mỗi khi nói anh nói chắc nịch như đinh đóng những gì anh bảo vệ. Tôi còn nhớ năm đó Người Việt ra số báo Xuân &#8211; năm nào Người Việt cũng ra một số báo Xuân ngoài những số báo thường &#8211; và tôi có đề nghị anh viết một bài tổng kết về tình hình văn nghệ ca nhạc hải ngoại. Báo chuẩn bị đi in, nhưng bài anh Thiêng còn đang viết. Anh rất cẩn thận trong chữ nghĩa và bài anh viết càng lúc càng dài thêm do những tài liệu anh vừa thu lượm hàng ngày trong tiếp xúc với những nghệ sĩ trình diễn. Cho đến lúc không chờ bài anh được nữa, Nguyễn Đức Quang &#8211; lúc đó trong vai trò người điều hành tờ báo &#8211; và Lê Đình Điểu, chủ bút, bàn với tôi là quyết định lấp bài cho kịp đưa nhà in thì Trầm Tử Thiêng đưa bài. Bài anh viết công phu và khá dài. Nếy lay out nguyên bài thì tờ báo bị coi như trình bày lại từ đầu. Biết tính anh khó không ai dám dưa ý kiến cắt bớt một số chữ cho vừa số trang dành cho anh. Tôi lãnh nhiệm vụ trình bày ý kiến đó. Trầm Tử Thiêng không trả lời đồng ý hay không đồng ý cách giải quyêt. Anh không nói chuyện với bất cứ ai trong ba chúng tôi một thời gian khá lâu. Tôi biết anh giận, nhiều lần kéo anh đi uống cà phê, nhưng anh luôn luôn kêu bận. Phải hơn một năm sau [1987] tôi mới thấy anh cười với tôi. Thời gian đó anh đã rời Người Việt, trở lại với âm nhạc, phụ trách phần hòa âm cho ca sĩ Khánh Ly và Thanh Thúy. Nhiều năm sau tôi thỉnh thoảng gặp anh, khi thì ở quán Anh Thi đường Bushard, khi thì ở Coffee Factory, đường McFadden. Cũng có khi gặp anh ở những lần các ca nhạc sĩ ra mắt CD ở Ritz hay Majestic. Chúng tôi ngồi chung bàn nghe anh nói chuyện âm nhạc, đời sống và thế thái nhân tình. Khi ca sĩ Thùy Dương muốn thực hiện một vài ca khúc mới với lời từ viết sẵn cho anh phổ nhạc, tôi thường gặp anh ở quán Anh Thi. Tôi ăn vội vì còn phải về tòa soạn, còn anh vẫn thường nhâm nhi cà phê thuốc lá sau đó. Anh nói có nhiều chuyện muốn bàn với tôi, nhưng thấy tôi lu bu quá, anh hẹn để đó, trước sau gì cũng sẽ làm thôi. Cho đến cuối năm 1998, tôi đổi việc làm lên San Jose, anh từ Quận Cam gọi cho tôi biết anh vừa viết một ca khúc mới mà anh rất thích: phổ nhạc bài thơ của Xuân Diệu Cha Đàng Ngoài, Mẹ Đàng Trong. &#8220;Tôi sẽ lên San Jose tuần tới, Đêm Nhạc Thùy Dương tôi sẽ hát bài này cho cậu nghe!&#8221; Anh đã nhắn riêng tôi như vậy và đêm đó tôi đã bỏ việc lay out tờ Văn đến nghe anh hát. Đêm có Lê Uyên, Từ Công Phụng, Lệ Thu, Thùy Dương và Trầm Tử Thiêng. Ca khúc mới của anh do chính anh trình bày đã làm tôi thực sự xúc động. Tôi nói với anh bài ca này khó hát, tôi sợ ngoài anh ra khó ai diễn tả có hồn như anh, mặc dù giọng anh không mạnh lắm.. Anh biết điều đó. Và có vẻ như đó là lần sau cùng tôi gặp anh. Khi nhạc sĩ Trường Kỳ từ Montreal báo tin cho tôi biết Trầm Tử Thiêng đã qua đời, tôi hoàn toàn bất ngờ. Bởi vì tôi biết anh bệnh ít lâu nay, nhưng anh đã bỏ thuốc tây chữa thuốc ta và anh đã thấy hiệu nghiệm của việc dùng thuốc mới. Vũ Ánh từ Quận Cam sau đó đã viết mấy bài về Trầm Tử Thiêng trên Nhật báo Viễn Đông. Đó những bài viết rất hay về một nhạc sĩ.</p>
<p>Dưới tựa đề Những Dòng Nhạc Định Hình Trầm Tử Thiêng, Vũ Ánh đã nhắc đến ca khúc &#8220;Mưa Trên Poncho&#8221; của Trầm Tử Thiêng. &#8220;Hình ảnh chiếc poncho, một loại áo mưa làm tương tự như loại áo khoác của người Mễ Tây Cơ, bằng một loại vải nhựa, có mũ che. Nó thân thiết với người lính cả lúc sống lẫn lúc nằm xuống. Chiến trận miệt mài, nắng mưa sương gió, nằm bờ ngủ bụi, người lính dùng poncho như những tấm lót thay mền. Khi chết, cũng chỉ một chiếc poncho đó gói tấm thân vừa trọn nghĩa với đất nước. Mưa Trên Poncho là hình ảnh bi hùng tráng tuyệt vời của những người lính trận. Nó giống như chiếc nón sắt đa dụng, như chiếc ba lô vốn là tài sản duy nhất của người lính.</p>
<p>&#8220;Chiến tranh Việt Nam ngày một lan rộng. Nhạc viết về chiến tranh thời gian này khá nhiều và nhiều bài nổi tiếng. Nhưng nội dung những nhạc phẩm ấy đẩy người nghe vào hai trạng thái đối nghịch:</p>
<p>&#8220;Một làm cho người nghe chùng xuống tê liệt vì nỗi buồn và tuyệt vọng.</p>
<p>&#8220;Và một làm cho người nghe cảm giác người lính bị huyền thoại hóa một cách vụng về.</p>
<p>&#8220;Trầm Tử Thiêng không rơi vào hai trạng thái đó. Sựï lãng mạn đã giúp ông viết những ca khúc chiến tranh nhẹ nhàng hơn. Ông cho người nghe ý thức được nỗi đau đớn, phiền muộn, sợ hãi chiến tranh, nhưng đồng thời ông cũng mở cho người nghe những lối thoát bằng niềm tin và bằng sự lãng mạn của những cuộc tình trong thời chinh chiến. Khi nhạc phẩm Chuyện Một Chiếc Cầu Đã Gẫy ra đời sau Tết Mậu Thân đã đánh động hàng triệu con tim của người Việt Nam.</p>
<p>&#8220;Nhạc sĩ Ngô Mạnh Thu, một người bạn khá thân của Trầm Tử Thiêng cho biết trong dòng nhạc lính lúc bấy giờ, ca khúc Một Trăm Phần Trăm [Ngô Mạnh Thu không nhớ tên tác giả] thường do Hùng Cường và Mai Lệ Huyền trình bày bán được một triệu bản thì Chuyện Một Chiếc Cầu Đã Gẫy của Trầm Tử Thiêng cũng đã bán được trên 600,000 bản. Một kỷ lục vào thời đó.</p>
<p>&#8230;Và Vũ Ánh kết luận: &#8220;Tuy nhiên, suy đi nghĩ lại, trong suốt 40 năm sống cho âm nhạc, tác phẩm định hình cho Trầm Tử Thiêng chính là ca khúc Chuyện Một Chiếc Cầu Đã Gẫy. Không có tác phẩm nhìn chiến tranh bằng con mắt lãng mạn này, có lẽ con đường mà ông đi sẽ chẳng có khúc quanh nào để lưu lại cho chúng ta di sản của một bậc tài hoa.&#8221;</p>
<p>Xin chào vĩnh biệt Trầm Tử Thiêng, người nhạc sĩ không ngừng tìm cái tuyệt đối trong một thế giới chỉ toàn những điều tương đối, trái tim lớn trong một thân thể nhỏ bé, tấm lòng bao dung trên một khuôn mặt khắc khổ.</p>
<p>Vĩnh biệt, bạn hiền!</p>
<p>NGUYỄN XUÂN HOÀNG</p>
<p>&nbsp;</p>
<p><b>SỔ TAY THÁNG TƯ, 2000</b></p>
<p><b>Nguyễn Văn Sâm và Khói Sóng Trên Sông </b></p>
<p>Văn chương Nam Kỳ Lục Tỉnh vẫn luôn luôn lôi cuốn tôi. Truyện của Hồ Biểu Chánh, Sơn Nam, Kiệt Tấn, Bình Nguyên Lộc, Lê Xuyên, Nguyễn Thị Thụy Vũ, Vương Hồng Sển, Huỳnh Phan Anh, &#8230; và trong những năm tháng sống xa quê hương, được đọc Cao Đông Khánh, Hồ Trường An, Nguyễn Văn Ba, Võ Kỳ Điền, Trần Long Hồ, Bùi Thanh Liêm, Nguyễn Tấn Hưng, Lương Thư Trung, Nguyễn Thị Long An&#8230; với tôi là một hạnh phúc.</p>
<p>Đó là những tác giả mang đến cho người đọc không khí của miền đất &#8220;hảo hớn&#8221;, bầu trời của &#8220;bao dung và cởi mở&#8221;, hơi thở nồng nàn của ruộng đồng , sự thơm tho của cây trái, cái dào dạt mênh mang của dòng sông Cửu Long&#8230;</p>
<p>Đó là chưa kể Tô Thùy Yên, mà tiếng thơ của ông đã bay trùm lên khắp miền đất nước như một cái bóng lớn trong thế giới thi ca Việt Nam&#8230; Có thể tôi còn thiếu sót một số tên tuổi khác trong những tác giả Nam Kỳ Lục Tỉnh, nhưng một tác giả tôi không thể quên, đó là Nguyễn Văn Sâm, người bạn từ năm 1969 đã viết Văn Chương Tranh Đấu Miền Nam,; 1971 Văn Học Nam Hà; 1972 Văn Chương Nam Bộ; và những năm tháng tại Mỹ ông đã viết Câu Hò Vân Tiên (Texas, 1985); Ngày Tháng Bồng Bềnh (Texas, 1987). Mười ba năm sau khi in tập truyện Ngày Tháng Bồng Bềnh, Nguyễn Văn Sâm vùa gửi đến người đọc những sáng tác mới của ông: Khói Sóng Trên Sông. Trong một email, ông hỏi tôi &#8220;tao sẽ in tập truyện mới. Nhà xuất bản Văn đứng tên được không?&#8221; &#8220;Tại sao không?&#8221; Tôi đã trả lời ông như vậy. Chúng tôi quen nhau đã lâu. Cùng học chung trường Petrus Ký, cùng đi quân trường Quang Trung, từng cà phê cà pháo ở những quán nước Sài Gòn. Sâm là một người chân chất, và thẳng thắn -như đa số người miền Nam.. Ông quả là một người bạn tốt. Tuy vậy, về chuyện chữ nghĩa văn chương, ít ra là thời bấy giờ, những năm sáu mươi-bảy mươi ở Sài Gòn, ông và chúng tôi không cùng chung một quan điểm.. Nguyễn Văn Sâm lúc đó viết biên khảo hơn là sáng tác. Có vẻ công việc dạy học đã đặt ông vào cái thế một công đôi chuyện.</p>
<p>Hồi đó, bọn chúng tôi -Huỳnh Phan Anh, Nguyễn Đình Toàn, Nguyễn Quốc Trụ, Nguyễn Nhật Duật, Đặng Phùng Quân &#8211; vẫn thường lê la ở quán Cái Chùa mỗi sáng, nói đủ thứ chuyện giữa những ly cà phê trước khi đến sở làm. Trong khi chúng tôi, nói theo Huỳnh Phan Anh, &#8216;đi tìm tiểu thuyết mới ở Việt Nam, dòng tiểu thuyết ly khai với truyền thống cũ,.thuộc Tự Lực Văn Đoàn, hoặïc nói rộng hơn, ly khai với tiểu thuyết giai đoạn tiền chiến&#8221; thì Nguyễn Văn Sâm hết Văn chương miền Nam, tới văn chương Nam bộ hết Vũ Anh Khanh, Thẩm Thệ Hà, tới Dương Tử Giang,&#8230; . Ông cứ đi ngược lại với bọn tôi.</p>
<p>Khi cuộc chiến kết thúc, chúng tôi mỗi người một ngã. Kẻ ở, người đi. Văn chương chữ nghĩa trong một thời đại hoài nghi trở thành trò chơi của tội lỗi. Sách vở từ trong tủ kính rủ nhau bước xuống chợ trời. Như những hạt bụi bị trận cuồng phong thổi tung, chúng tôi bay di mười phương tám hướng. Và sau cùng như những hạt bụi, chúng tôi lại gặp nhau.</p>
<p>Houston, nơi tôi đã đôi lần đến. Nhiều người bạn cũ đã gặp. Nhiều người bạn mới vừa quen. Cách đây mấy năm là Tường Vy &amp; Cao Hữu Tích. Gần đây là Phương Hoa &amp; Đăng Khánh. Bữa cơm gia đình nhà Duy Trác thân tình và đầy những nụ cười. Bữa cơm nhà anh chi Minh &amp; Điệp Mỹ Linh tôi đã chạy đến theo cây kim đồng hồ. Gặp lại Đặng Phùng Quân, Hàn Song Tường, Ngu Yên, Trương Trọng Trác, Vũ Thanh Thủy &amp; Dương Phục, vợ chồng Phạm Quang Tân, Nguyễn Vĩnh Châu. Và phải chờ đến trưa ngày hôm sau mới gặp lại người bạn già Nam Kỳ-Lục Tỉnh Nguyễn Văn Sâm..</p>
<p>&#8220;Mày nói cho tao mấy lời trong buổi ra maắt sách của tao.&#8221; Nguyễn Văn Sâm đã dặn như thế cả tháng trời trước khi tôi đến Houston. &#8220;Nói thì nói.&#8221; Tôi trả lời như vậy, nhưng thực sự lòng chưa biết sẽ nói gì. Tôi được Sâm cho đọc bản thảo trước. &#8220;Viết cho cái tựa đi, cha nội.&#8221; Sâm nói như ra lệnh. Sắp tới ngày ra mắt sách, tôi vẫn chưa gửi qua cho Sâm cái tựa. Còn hơn một tuần tôi email bài viết. Sâm trả lời &#8220;không convert được.&#8221; Phải nhờ đến Nguyễn Vĩnh Châu. Và đâu cũng vào đấy. &#8220;Cái thằng, coi bộ vậy mà cũng công tử Bạc Liêu chớ!&#8221; Tôi đã nghĩ về Nguyễn Văn Sâm như vậy.</p>
<p>Tôi thú thật là đến Houston mấy lần mà chẳng biết gì về thành phố này. Từ phi trường về đến nhà Tường Vy, hoặc nhà Phương Hoa, hoặc khách sạn. Và một tiệm ăn nào đó. Là hết. Houston sau cùng chỉ là những trang sách. Lần trước cách đây mấy năm nghe một chương trình nhạc và vinh danh một số người. Lần sau nghe nhạc Đăng Khánh với Tuấn Ngọc, Thanh Hà, Thái Thảo. Lần này, đến với Nguyễn Văn Sâm được gặp những người quen cũ: Doãn Quốc Sỹ, Vũ Ngự Chiêu, Cao Đông Khánh, Lê Quỳnh Mai [cũng hơn mười năm rồi, khi ngày đầu tiên đến Montreal giới thiệu số ra mắt tạp chí Thế Kỷ 21 và cuốn truyện dài Sa Mạc] , gặp giáo sư Đàm Trung Pháp, và những người đã từng đóng góp bài vở cho Văn: Quan Dương, Phạm Ngũ Yên, Thu Thuyền, Kiều Mộng Hà, Phạm Quang Tân, Nguyễn Anh Tuấn&#8230;</p>
<p>Phải nói là bài của giáo sư Đàm Trung Pháp giới thiệu và phân tích về Nguyễn Văn Sâm rất hay. Ông cho thấy một Nguyễn Văn Sâm là nhà văn sử dụng nhuần nhuyễn về ngôn ngữ Đồng bằng sông Cửu Long. Ông cho rằng tập truyện Khói Sóng Trên Sông của Nguyễn Văn Sâm &#8220;là một rừng thành ngữ bình dân, nghe lên thì khoái tai, mà đọc lên thì khoái mắt.&#8221;</p>
<p>Tôi chia xẻ ý kiến của giáo sư Pháp: Toàn tập truyện của ông Nguyễn tràn đầy lời ăn tiếng nói dân gian của sông Tiền sông Hậu. Truyện của ông nặng chất ký mà nhẹ chất tiểu thuyết. Có thể nói Khói Sóng Trên Sông là bức tranh vẽ lại sự hình thành của đô thị Sài Gòn. Không phải một Sài Gòn bề mặt với những con đường &#8220;cây dài bóng mát&#8221;, những quán cà phê đợt sóng mới, những vũ trường sang trọng trai thanhgái lịch và người hùng. Nguyễn Văn Sâm đã nhìn Sài Gòn từ cái phía trái của nó. Bóng tối và sự khốn khó. Sài Gòn của mồ hôi và nước mắt. Đó là Xóm Sáu Lèo, là đình Tân Kiểng, là khu Mã Lạng, là Xóm Chiếu, là Chánh Hưng, là Chợ Cầu Kho, là Bến Tắm Ngựa,&#8230;</p>
<p>Nguyễn Văn Sâm là một người kể chuyện hơi rề rà nhưng có duyên. Ông không vội vàng và người đọc ông cũng không có ý muốn ông phải gia tăng tốc độ. Ông cứ nhẩn nhơ nói, như một người đọc thơ Lục Vân Tiên, và người nghe có thể vừa nghe vừa uống rượu hoặc nhấp chén trà tàu.</p>
<p>Trong thế giới văn chương miệt vườn, Nguyễn Văn Sâm là người nắm khá vững ngôn ngữ Nam Kỳ-Lục Tỉnh nhất. Cũng dễ hiểu tại sao ông không sáng tác cùng thời với chúng tôi. Chính là những bài biên khảo về văn chương Nam bộ đã giúp ông sau đó &#8211; thay vì nghiên cứu &#8211; đã viết thẳng bằng trái tim.</p>
<p>Sài Gòn của Nguyễn Văn Sâm đích thực là Sài Gòn của những con người nào được nó nuôi dưỡng, dạy dỗ, và làm cho nó lớn lên.</p>
<p>Khói Sóng Trên Sông là một tác phẩm văn chương của một người cầm bút thực sự.</p>
<p><b>Nguyễn Nhật Duật đã ra đi </b></p>
<p>Nói về Nguyễn Văn Sâm tôi đã không thể không liên tưởng đến bọn chúng tôi. . Huỳnh Phan Anh, Nguyễn Nhật Duật còn ở Việt Nam, Nguyễn Quốc Trụ ở Toronto, Canada; Đặng Phùng Quân ở Houston, Texas; Nguyễn Đình Toàn ở Long Beach, California. Điều đau buồn là &#8220;ông giáo&#8221; Nguyễn Nhật Duật vừa mới &#8220;đi xa&#8221;. Duật là người nghiêm túc nhất, &#8220;thầy giáo&#8221; nhất, &#8220;khổng tử&#8221; nhất. Tuy vậy anh là người trong một ý nghĩa nào đó là người cỗ võ nhất cho cái mới trong tiểu thuyết. Nếu Huỳnh Phan Anh coi như &#8220;lý thuyết gia&#8221; của nhóm thì Nguyễn Nhật Duật chính là người cầm thắng và nhắc nhở cái mới trong văn chương.</p>
<p>Huỳnh Phan Anh năm đó cho xuất bản cuốn tiểu luận &#8220;Văn Chương Và Kinh Nghiệm Hư Vô&#8221;, một tác phẩm của một ngòi bút mới mẻ khiến những cây bút thời danh lúc đó ngẩn ngơ. Ai vậy? Tên này ở đâu ra thế? Bọn chúng nó có những ai? Một bài viết ngắn trong cuốn sách bày tỏ cách nhìn tiểu thuyết của nhóm: Đi Tìm Tiểu Tuyết Mới Ở Việt Nam.</p>
<p>Tháng Mười Một năm rồi gặp lại Huỳnh Phan Anh ở Pháp tôi quên hỏi &#8220;cái nhìn đó giờ đây đã thay đổi chưa hay vẫn còn nguyên?&#8221;</p>
<p>Nhân sự ra đi của Duật, sự gặp lại Huỳnh Phan Anh ở Pháp, Đặng Phùng Quân ở Houston và Nguyễn Quốc Trụ ở Canada vẫn trò chuyện qua email, tôi muốn ghi lại đây một trích đoạn bài của Huỳnh Phan Anh cho Sổ Tay kỳ này.</p>
<p>&#8220;Mỗi thời đại có tiếng nói riêng của nó. Tiểu thuyết mới trước hết là nỗ lực làm mới ngôn ngữ. Mỗi nhà văn thực hiện một cách thế sử dụng ngôn ngữ&#8230; Xa hơn ngôn ngữ, tiểu thuyết mới đánh dấu sự trưởng thành của kỹ thuật tiểu thuyết. Tiểu thuyết không chỉ là câu chuyện kể một cách dung dị thi ngây. Đó là sự tìm kiếm một lối kể, một cách viết, một kỹ thuật. Đây là vấn đề nội dung và hình thức. Có người cho rằng trong hình thức có nội dung và ngược lại. Kafka nói: Văn chương chỉ là kỹ thuật.</p>
<p>Albéres đã đi đến một định nghĩa về tiểu thuyết hiện đại: một sáng tạo văn chương dùng một câu chuyện kể để diễn đạt cái khác (une création littéraire qui se sert d&#8217;un récit pour exprimer autre chose.) Cái khác ở đây có thể là một kinh nghiệm đời sống. Nó cũng có thể là một vũ trụ quan đượm chất siêu hình hay đạo đức. Nó cũng có thể không là cái gì khác trừ những thì thầm của ngôn ngữ, ngôn ngữ như một định mệnh đang thành hình, ngôn ngữ như một tìm kiếm vô vọng, ngôn ngữ như một hiện hữu chống lại chính tác giả&#8230; Cái khác có thể là cái ngôn ngữ đang đi tìm. Viết một cuốn tiểu thuyết không có ý nghĩa như một sự hoàn thành: nó chỉ mới là một sự bắt đầu..&#8221;</p>
<p>Theo Hùynh Phan Anh thì thời gian đó Thanh Tâm Tuyền với cuốn Bếp Lửa và Nguyễn Đình Toàn với cuốn Con Đường là những nhà văn của tiểu thuyết mới Việt Nam.</p>
<p><b>Vẫn chuyện thầy tôi </b></p>
<p>Nhà văn Nguyễn Hữu Trí, tác giả Ăn Trưa Nghe Kể Chuyện Tình , tập truyện mới do nhà xuất bản Văn ấn hành, vừa cho tôi nghe cuộn băng phỏng vấn giáo sư &#8211; nhà văn Cung Giũ Nguyên ở Việt Nam. Trả lời câu hỏi trong các tác phẩm [viết bằng tiếng Pháp lẫn tiếngViệt của ông], tác phẩm nào ông ưng ý nhất, tại sao? Thầy tôi nói cái nghề viết văn và cái nghề dạy học của ông hình như đi song song. Từ khi ông bắt đầu đi dạy học thì ông đã bắt đầu viết văn rồi. Cho đến bây giờ [1999] ông vẫn còn đang dạy học và ông cũng vẫn còn cầm bút. Ông cho biết là năm 1932 ông có viết một cuốn tiểu thuyết tựa là &#8220;Nợ Văn Chương&#8221;, cái nợ đó bây giờ ông vẫn còn tiếp tục phải trả.</p>
<p>&#8220;Tại sao tôi viết văn? Thì cũng giống như hỏi tại sao tôi đi dạy học? Cũng chỉ với ý nghĩ là san xẻ những gì điều mình biết, trao gửi tâm sự cho những người có thể nghe được hiểu được mình.&#8221; Ông không nói ra, nhưng viết theo ôn g chính là phá vỡ cái cô đơn của mình. Ông bảo có những cuốn sách giờ đọc lại thấy thú vị, thú vị như khi gặp lại những học sinh cũ của mình. Những học sinh đã từng học với ông cách đây bốn mươi năm . Có người còn lâu hơn nữa. Có người từ thế hệ lúc ông còn dạy ở bậc tiểu học. Ông cho biết quyển sách [tiếng Pháp] mà ông có thể nhắc lại là cuốn Le Fils De La Baleine [nhà xuất bản Artheme Fayard, Paris, 1956, bản dịch tiếng Việt của cuốn này vừa được xuất bản ở Hà Nội dưới tên Kẻ Thừa Tự Của Ông Nam Hải, do một người học trò cũ của thầy dịch.] Theo ông, cuốn Le Fils De La Baleine là tác phẩm ông ưng ý nhất. Cuốn sách đã được phê bình rộng rãi ở các nước phương Tây. Hai năm, sau khi được xuất bản tại Paris, cuốn sách được dịch ra tiếng Đức, và được xếp vào sách bán chạy nhất thời bấy giờ.</p>
<p>Phân tích tựa đề cuốn sách, nhà văn Cung Giũ Nguyên cho rằng người nào học tiếng Pháp, mới đọc qua cái tựa có thể nói là &#8220;tác giả dốt biết bao nhiêu.&#8221; Bởi khi người ta nói baleine, con cá ông, thì làm sao con cá ông lại có con trai? Người ta sẽ nói Le Petit De La Baleine chứ người ta không nói Le Fils De La Baleine. Thế thì, một là nó &#8220;dốt&#8221; hai là nó có cái gì đây! Cho nên theo ông, cái tựa tiếng Việt đã lộ ra điều này trong khi cái tựa tiếng Pháp còn gây cho người đọc bối rối. Kẻ thừa tự không phải của con cá ong, mà là mà là của ông Nam Hải, một cái chức do nhà vua đặt cho một con vật. Con cá ông là một con vật đã từng cứu người và thuyền bè khi gặp sóng to gió lớn trên biển. Nhà vănCung Giũ Nguyên kể lại một đoạn trong cuốn sách một nhân vật bị chìm tàu, đầu ông ta va vô một tảng đá, sau đó ông mắc bệnh &#8220;quên&#8221; không nhớ gì hết, không biết mình là ai, không biết dĩ vãng mình ra sao. Tuy nhiên có đôi lúc ông nhớ lại cuộc đời mình, và đó là lúc ông cần phải gửi lại cho một người nào đó , để họ giúp ông làm lại trí nhớ, và ông kể chuyện.: Này ông, nhớ nhe, nhớ giùm tôi nhe. Tôi là thế này, thế kia, nhớ giùm nhe! Và ông kể tất cả tâm sự đời ông. Ông đi trên một chiếc tàu từ Pháp trở về quê hương, tàu bị chìm. Ông cũng là người có học hành thế này, thế kia,&#8230; Nhưng sau khi kể hết cuộc đời mình ông mới biết người nghe ông nói là một người điếc. Nhà văn Cung Giũ Nguyên cho rằng viết là trao đổi tâm sự ý nghĩ của mình cho một người khác, không phải để khoe khoang mà muốn cho người khác làm giùm cái trí nhớ của mình..</p>
<p>Chúng ta viết là để cho người đọc. Và khi người đọc không &#8220;đọc được&#8221; những dòng chữ của ta có nghĩa là ta thất bại.</p>
<p>&#8220;Lịch sử của văn chương là lịch sử của những tác phẩm. Tác phẩm không nói, nó là tiếng nói, và hơn thế, nó là chân lý, cội nguồn, bản thể của tiếng nói. Tác phẩm trước hết là kinh nghiệm của một người trong tư cách một vật thể. Đọc và hiểu một tác phẩm tức là một cách nào đó chia xẻ với tác giả kinh nghiệm đó.&#8221;</p>
<p>Liệu những ghi nhận trên đây của Huỳnh Phan Anh có chia xẻ cùng nhà văn Cung Giũ Nguyên mối tương quan giữa người đọc và người viết?</p>
<p>NGUYỄN XUÂN HOÀNG</p>
<p>&nbsp;</p>
<p><b>SỔ TAY THÁNG NĂM, 2000</b></p>
<p><b>Gặp gỡ ở San Jose </b></p>
<p>Đã bước qua năm thứ hai ở San Jose, tôi vẫn chưa biết gì về thành phố Thung Lũng này. Tôi vẫn còn là một người xa lạ. Tôi chưa biết Santa Cruz, chưa lái xe tới Fremont hoặc Hayward. Los Gatos, Palo Alto cũng gần thôi tôi cũng chưa đến. Còn Gilroy &#8211; thành phố tỏi &#8211; tôi chỉ đến một lần nhưng chưa có dịp quay trở lại. Tôi biết con đường Oakland, đi về hướng phố trở thành con đường 13. Nó sẽ gặp đường Santa Clara nơi có nhiều quán ăn. Một quán người Ý đường số 2; mấy quán Việt Nam như Quảng Đà, Vũng Tàu, Bắc Hương&#8230;Gần tòa báo trên đường Lundy tôi biết có quán Nhatrang, tiệm cơm Tàu Chief Minh.; . . Nhưng San Jose đâu chỉ có thế. Nhiều nơi đẹp đẽ tôi chưa một lần đặt chân. Nhưng với tôi, thế là đã nhiều lắm.</p>
<p>Ở San Jose, tôi luôn luôn nhớ Quận Cam, nhớ con đường Bolsa, nhớ tiệm phở Nguyễn Huệ của ông Cảnh nơi tôi có thể gặp bạn bè mỗi buổi sáng mà không cần hẹn; nhà hàng Song Long, gần căn phòng cũ của Mai Thảo; nhớ quán Viễn Đông của ông nghị Tony Lâm với những tiếng cười bất tận, &#8230; nhớ cả tiệm sách Văn Khoa, Tú Quỳnh. Năm tôi dọn lên San Jose, khi ông giám đốc nhà xuất bản Văn Nghệ Võ Thắng Tiết chưa mở nhà sách Văn Nghệ. Nhớ căn nhà Nguyễn Mộng Giác, nơi chúng tôi vẫn thường đến quây quần mỗi chiều thứ Bảy. Ở đó bao giờ cũng có nhà văn Nghiêm Xuân Hồng, &#8220;nhà tùy bút&#8221; Trúc Chi, &#8220;nhà sử học&#8221; Tạ Chí Đại Trường, anh chị Lê Thọ Giáo, Châu Văn Thọ, Tôn Thất Khoát, Huy Văn, Nguyễn Đức Quang, &#8230; Đôi khi có Phùng Nguyễn từ Bakersfield xuống, Đặng Tường Vy-Nguyễn Khắc Nhân, Giang từ San Diego lên&#8230;</p>
<p>Ở San Jose, tôi chưa tìm được một ngôi nhà như nhà Nguyễn Mộng Giác, nơi chúng tôi không hẹn vẫn gặp nhau, ăn uống, nói chuyện trên trời dưới đất. Những câu chuyện làm ấm trái tim.</p>
<p>Mười lăm năm ở một thành phố đầy người Việt Nam, làm việc với những người cùng màu da, cùng một ngôn ngữ, cùng một văn hóa,&#8230; khi đi xa tôi mới khám phá ra đời sống là một xâu chuỗi những thói quen gần với bản năng, nhưng cũng rõ ràng con người là một sinh vật thích ứng nhanh chóng với thiên nhiên và môi trường. Thích ứng để sống, không có nghĩa là hạnh phúc.</p>
<p>Xa lộ 880, với tôi, trở thành con đường Bolsa. Nha Trang là tiệm Song Long. Khu thương xá McCarthy ở Milpitas là Westminster Mall&#8230; mặc dù quả thực, sự so sánh này hoàn toàn là một so sánh khập khiểng và gán ép.</p>
<p>Vào giữa tháng Tư tôi có cái may mắn thở lại không khí cũ: Quỳnh Trang, Nguyễn Quí Đức, Phùng Nguyễn từ nam Cali lên. Và Hồ Như, cây bút nữ nhiều triển vọng ở San Jose rất ít khi được gặp đã đến họp mặt tại một quán ăn Việt Nam &#8211; kiểu Quận Cam.. Phùng Nguyễn, nhà văn đầy sức sống và đa năng đa dạng, người viết chủ chốt của tạp chí Văn, bao giờ cũng &#8220;phản ứng&#8221; nhanh chóng và &#8220;dị ứng&#8221; tức khắc với mọi ý kiến, và phản ứng ấy của anh luôn mang đến cho bạn bè hơi thở của niềm vui. Quỳnh Trang, Nguyễn Quí Đức, những người trẻ già dặn trong kinh nghiệm truyền thông, đã hội nhập vào đời sống văn hóa của người bản xứ một cách nhẹ nhàng, nhưng vẫn giữ được bản sắc của dân tộc trong đời sống là một niềm mơ ước không bao giờ đạt được của tôi. Nguyễn Quí Đức sáng tác bằng tiếng Anh hay viết trực tiếp bằng tiếng mẹ đẻ cũng đều dễ dàng như người ta uống cà phê mỗi sáng. Tiếng Anh nhuần nhuyễn, tiếng Việt giàu có, Nguyễn Quí Đức là một tài năng hiếm quý của văn học Việt Nam.. Tôi rất yêu thích những sáng tác của Đức. Làm sao trong đời sống văn học của chúng ta có được nhiều Nguyễn Quí Đức như thế?</p>
<p>Vùi mình vào công việc mỗi ngày tôi thấy thời gian ở đây chạy nhanh hơn nơi ở cũ. Hơn một năm nay tôi chưa bao giờ phải đặt câu hỏi &#8220;hôm nay phải làm gì?&#8221; mà luôn luôn là câu hỏi &#8220;còn chuyện này chừng nào sẽ làm?&#8221;. Hơn một năm những thùng sách, báo vẫn còn bừa bộn trong ga-ra, những thứ đáng bỏ đi đã bỏ rồi, nhưng những thứ nên bỏ đi vẫn còn bề bộn vì &#8220;nếu vứt đi đến lúc cần thì sao?&#8221; Câu trả lời cho &#8220;còn chuyện này bao giờ sẽ làm?&#8221; vẫn còn là một &#8220;ẩn số&#8221;.</p>
<p>Tới gần cuối tháng Tư mà mùa Đông hình như vẫn còn. Nhiều buổi sáng trời lạnh nhưng đến trưa thì nóng. Từ căn nhà nhỏ trong khu đất vòng của thành phố Milpitas, đến tòa báo ở đường Ridder Park mỗi buổi sáng tôi vẫn lái xe trên đường Calaveras ra xa lộ 880 xuôi nam. Nếu đường vắng chỉ cần 15 phút sẽ đến sở làm.. Nhưng nếu kẹt xe, thì&#8230;.</p>
<p>San Jose là mộït thành phố lòng chảo, đi đâu cũng chỉ thấy núi dựng đứng trước mặt. Mùa này ngày dài hơn đêm. Gần bảy giờ chiều, ánh sáng vẫn còn. Tháng Tư sắp hết. Chỉ còn một tuần nữa là giáp một phần tư thế kỷ của ngày 30 tháng Tư năm nào. Tôi đã quên chưa cái ngày tháng ấy? Trên căn gác xép bằng gỗ của căn nhà trong xóm Mã Lạng một tối cuối tháng Tư, một viên đạn xuyên qua mái tôn, cắm phập xuống mặt gối chỉ cần nhích một đốt ngón tay tôi đã trở thành một trong những người ra đi sớm nhất hay cuối cùng khi cuộc chiến Việt Nam sắp kết thúc.</p>
<p><b>Salman Rushdie trở lại quê nhà </b></p>
<p>Nhà văn Salman Rushie, tác giả Những Vần Thơ Của Qủy, cuốn sách nổi tiếng thế giới đã mang đến cho ông bản án tử hình, và khiến ông trở thành một người bị buộc &#8220;ẩn mình trong bóng tối chờ chết.&#8221; Ông là nhà văn &#8220;lưu vong kép&#8221; , lưu vong ngay trong thế giới lưu vong. Mới đây, sau hơn một thập niên xa quê, ông vừa được Ấn Độ cấp chiếu khán nhập cảnh. Ông nói ông trở về là để hàn gắn lại mối quan hệ bị sứt mẻ với đất mẹ, nơi đã là nguồn cảm hứng cho những tác phẩm của ông. Đó là một chuyến trở về trong sự ẩn dật. Nhưng báo chí đã khám ra sự có mặt của tác giả &#8220;Những Vần Thơ của Quỹ&#8221; và Salman Rushdie không được bóng tối che chở nữa.</p>
<p>[Một người nổi tiếng] muốn sống cuộc sống bình thường thì cách hay nhất là làm cho mọi người chán ngán, Salman Rushie đã nói như vậy, và ông vẫn chưa thành công.</p>
<p>Cuốn sách mới nhất của ông có tên là The Ground Beneath Her Feet. Salman Rushie dù sao vẫn là một &#8220;tác giả nóng&#8221; theo cái nghĩa rất thời sự của nó. Mười hai năm chưa trở lại nhà mà Salman Rushdie ray rứt như vậy, còn những người cầm bút Việt Nam 25 năm sau cuộc chiến lòng thương nhớ quê hương còn ray rứt xót xa biết là bao nhiêu!!</p>
<p>Nhớ Thạch Lam</p>
<p>NGUYỄN XUÂN HOÀNG</p>
<p>&nbsp;</p>
<p><b>SỔ TAY THÁNG NĂM 2001</b></p>
<p><b>Trịnh Công Sơn Đã ra Đi </b></p>
<p><a href="https://t-van.net/wp-content/uploads/2014/09/clip_image0028.jpg"><img loading="lazy" decoding="async" style="background-image: none; padding-top: 0px; padding-left: 0px; margin: 0px; display: inline; padding-right: 0px; border: 0px;" title="clip_image002" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2014/09/clip_image002_thumb7.jpg?strip=all&fit=148%2C169" alt="clip_image002" width="148" height="169" border="0" /></a><br />
Bức vẽ trên đây của họa sĩ Đinh Cường, một trong số ít bạn thân của Trịnh Công Sơn, gửi cho tôi qua bưu điện theo đường express và anh bảo &#8220;cậu dành cho Sơn những trang đẹp đẻ nhé!&#8221;</p>
<p>Bức vẽ ghi ngày 1 tháng Tư, năm 2001, 12h 45 là ngày giờ Trịnh Công Sơn ra đi. Đó là một buổi sáng Chủ Nhật, tuần đầu tiên của tháng Tư. Một buổi sáng Chủ Nhật như mọi buổi sáng Chủ Nhật khác trong đời tôi: một buổi sáng để tùy nghi. Tôi nói tùy nghi theo cái nghĩa có nhiều chuyện phải làm và không biết phải làm cái nào trước cái nào sau, thành ra cứ ngồi nhìn thời gian đi qua.. và tùy nghi.</p>
<p>Cứ vào thứ Hai đầu tuần tôi tự hứa với mình là mọi việc sẽ thanh toán cho xong vào Chủ Nhật này: dọn bớt [lại một lần nữa!] cái garage, chở sách [lại thêm một lần nữa!] tặng thư viện; gọi một người bạn biếu hết cho anh những thứ làm vườn lỉnh kỉnh; sắp lại mấy số Văn theo thứ tự thời gian, xếp lại mấy cuốn sách cần đọc mang vào phòng khách &#8211; cũng là phòng làm việc của tôi; toàn là những lới hứa mà tôi đã không thực hiện được. Sáng nay tôi nhất định phải gọi điện thoại cho Trịnh Cung hỏi thăm anh về buổi gặp bạn bè buổi chiều ở Quận Cam. Một người bạn từ tuần trước từ phía nam đã gọi lên nhắc tôi &#8220;ông đừng quên nói mấy lời về người bạn chúng ta nhé! ông ấy sắp trở về Việt Nam&#8230;&#8221; Tôi có cảm tưởng như buổi gặp gỡ của Trịnh Cung và bạn hữu là một buổi chia tay và khi bạn tôi nhắc tôi đừng quên viết mấy lời tạm biệt anh tôi nghe như một nỗi bùi ngùi.</p>
<p>Chia tay một người và biết rằng mình đang nói lời vĩnh biệt, người ta biết rằng mình đã bỏ lại sau lưng những khó chịu những sắc mắc, những điều không vui vì cá tính và tâm tính.</p>
<p>Trịnh Cung là người cùng quê với tôi và cùng lứa tuổi tôi. Anh nói với tôi là anh sẽ về Việt Nam gặp Trịnh Công Sơn &#8220;chia tay với nó trước khi moa ra đi vĩnh viễn.&#8221; Trịnh Cung cho tôi biết anh mắc bệnh ngặt nghèo, và sự ra đi của anh chỉ là vấn đề thời gian. &#8220;Moa hết nợ rồi chớ thằng Sơn chưa hết nợ đâu. Và toa, toa còn nhiều nợ lắm.&#8221;</p>
<p>Nhưng buổi sáng Chủ Nhật 1 tháng Tư, đã là một Chủ Nhật khác. Trịnh Công Sơn ra đi trước khi Trịnh Cung trở lại Việt Nam. &#8220;Moa không còn cơ hội gặp nó!&#8221; Và như vậy buổi chia tay của Trịnh Cung và bạn hữu cũng đồng thời là buổi lễ vĩnh biệt Trịnh Công Sơn.</p>
<p>Người gọi tôi đầu tiên báo tin Sơn qua đời là Nguyễn Văn Khanh, đài RFA. Tôi gọi ngay cho Đinh Cường vì tôi biết anh là ban thân của Trịnh Công Sơn. Cường nói &#8220;tôi biết tin này sớm lắm, tôi đã email cho ông tin Sơn ra đi cách đây mấy tiếng đồng hồ mà! Có lẽ ông chưa mở mail.&#8221; Đúng vậy, sáng nay tôi chưa mở mail. Tôi cho phép mình không phải mở mail vào một ngày xem sao. Và cái mail đầu tiên trong ngày chính là mail Đinh Cường báo tin Trịnh Công Sơn đã ra đi. Cường nói anh rất buồn. &#8220;Tôi gần như bất động, không suy nghĩ gì được, không biết làm gì. Tôi tê điếng.&#8221; Tôi nghe như có tiếng nghẹn ngào của anh qua đường dây viễn liên. Tôi nói tôi muốn dành một số trang báo đặc biệt về Trịnh Công Sơn, và tôi hỏi xin anh những tư liệu về Sơn.</p>
<p>Cá nhân tôi. tôi không có nhiều kỷ niệm về Sơn. Tôi không thân thiết với anh. Trước và sau 1975 tôi có đôi lần gặp anh. Tôi yêu âm nhạc của anh. Đúng ra tôi yêu những ca từ của anh. Những câu viết rời của anh như là một đoản văn cho tôi. Trước hết nó là tình yêu của tôi: &#8220;Từ lúc đưa em về là biết xa nghìn trùng.&#8221; Nó là nỗi nhớ của tôi trong những ngày xa quê: &#8220;Nghe mưa nơi này lại nhớ mưa xa. Mưa bay trong ta bay từng hạt nhỏ.. Chẳng biết nơi nao là chốn quê nhà&#8230;.&#8221; Nó là định mệnh tôi: &#8220;Những hẹn hò từ nay khép lại. Thân nhẹ nhàng như mây&#8230;&#8221;</p>
<p>Trong những tháng gần đây tôi đã nói với tôi bằng cái giọng của Sơn. Nhiều trang sách của tôi trong bộ Người Đi Trên Mây &#8211; từ Kẻ Tà Đạo đến Bụi Và Rác* &#8211; tôi đã đặc tả một nhân vật nhạc sĩ từ những cá tính và nghệ thuật cũng như đời thường của anh.</p>
<p>Trước và sau năm 1975, tôi có đôi lần đi chơi với anh. Nhưng chúng tôi không có nhiều điều để nói. Tôi nhớ cái ngày anh lên đài phát thanh Sài Gòn hát bài Nối Vòng Tay Lớn, tôi và anh Phan Lạc Phúc [tức Ký Giả Lô Răng] đứng trước đài nhìn qua hàng rào kẽm gai. Và sau đó, năm 1992 Sơn đến Montréal, Canada thăm gia đình và các em của anh, còn tôi trong chuyến đi với Nguyễn Mộng Giác, Đinh Cường, Khánh Trường cùng nhiều bạn khác đến dự buổi triển lãm tranh Võ Đình. Mặc dù đã đến cùng một thành phố , tôi và một số bạn đã &#8220;hèn nhát&#8221; không dám đến thăm anh để uống với anh một ly rượu. Những tin đồn đầy ác ý muốn phá phòng tranh của Võ Đình, và lên án sự gặp gỡ giữa những người bạn với Sơn mang đầy tính chính trị.</p>
<p>Sơn đã ra đi. Tôi nghe mấy tiếng nghẹn ngào của Đinh Cường bên kia đầu dây điện thoại. Tôi muốn nói một chút suy nghĩ về Sơn và về âm nhạc của anh.</p>
<p>Đối với tôi, nghe nhạc của Trịnh Công Sơn không phải chỉ là nghe những lời tình tự, mặc dù những người yêu nhau không ngớt lấy âm nhạc của anh làm kỷ niệm cho tình yêu của mình. Bởi vì nhạc Trịnh Công Sơn không đơn giản là những khúc tình ca, nhạc của anh còn mang đến cho người nghe sự đau xót của quê hương, và nỗi nhức nhối của một thân phận làm người. Đó là những lời kinh cầu, những tiếng thì thầm cất lên từ một nỗi đau cũa cả một thế hệ, cả một dân tộc, và caỵ một loài người, nếu tôi được phép nói như thế.</p>
<p>Người ta vẫn thường cho rằng âm nhạc và hội họa là hai loại hình nghệ thuật mang tính quốc tế. Nó đi thẳng từ một trái tim đến một trái tim. Nhận xét đó đúng, nhưng không phải ca khúc nào, bức tranh nào cũng làm được công việc đó &#8211; như Trịnh Công Sơn. Không phải họa sĩ nào cũng là Chagall và van Gogh, không phải nhạc sĩ nào cũng là Chopin và Mozart.</p>
<p>Tất nhiên. Những ca khúc của Trịnh Công Sơn đã không nhờ một trung gian nào khác. Tự nó, âm nhạc của anh có khả năng gõ được các cánh cửa của mọi trái tim, là chìa khóa gia?i mã mọi ngôn ngữ. Người ta thường so sánh Trịnh Công Sơn và Bob Dylan, vì tính phản chiến o+? ca từ chứa trong các tác phẩm của hai tác giả này. Nhưng theo tôi âm nhạc của Trịnh Công Sơn cao hơn sự so sánh đó. Nó vượt qua &#8220;phản chiến,&#8221; nó nhìn thấu suốt được kiếp nhân sinh. Nó không ngừng ở chỗ những lời tình tự giữa hai người nam và nữ. Âm nhạc Trịnh Công Sơn phát lên tín hiệu của những người cùng thế hệ với anh, thế hệ lớn lên trong một cuộc chiến nhưng đồng thời âm nhạc anh không có tuổi. Nó vượt qua không gian và tôi nghĩ nó còn sống lâu với chúng ta, khi nào người ta còn tình yêu. Chính là những ca từ như thơ trong âm nhạc anh trở thành tiếng kêu của kiếp người. Thượng đế của nó, nếu muốn gọi như thế, đó là con người.</p>
<p>Người ta không ngạc nhiên khi nghiệm ra ca từ trong các khúc tình ca của anh đẹp đẽ mà rời rạc, chữ này không dính chữ kia, câu này không dính câu nọ, ý trên rất xa ý dưới, mông lung và mơ hồ. Xin đừng đi tìm sợi xích thuần lý trong ca từ của anh. Hãy thưởng thức âm nhạc Trịnh Công Sơn trong một tổng thể. ở mỗi ca khúc của anh, người ta cảm nhận một tuyên ngôn. ở mỗi ca từ là một tiếng kêu ngạc nhiên bất ngờ trên mặt đất.</p>
<p>Trịnh Công Sơn là một thi sĩ.</p>
<p>Vâng, anh đích thị là một nhà thơ viết nhạc.</p>
<p>Người làm thơ giống như người đi trong rừng. Phải phạt cỏ mà đi. Phải phạt cây mà bước. Thơ của thi sĩ Trịnh Công Sơn đã mang cho âm nhạc Trịnh Công Sơn sức quyến rũ kỳ lạ.</p>
<p>hạt bụi nào hóa kiếp thân tôi<br />
để một mai tôi về làm cát bụi.<br />
ôi cát bụi tuyệt vời<br />
ôi cát bụi mệt nhoài</p>
<p>Con người là cát bụi và sẽ trở về cát bụi. Cái ý đó không lạ, nhưng khi Trịnh Công Sơn đưa vào âm nhạc anh bằng những câu như sự &#8220;tuyệt vời mệt mỏi,&#8221; như &#8220;mặt trời soi một kiếp rong chơi,&#8221; &#8230; Trịnh Công Sơn đã bước qua cái chân lý thường hằng quen thuộc: cát bụi trở về với cát bụi. Trái đất này &#8220;mỏi ngóng tin vui từng ngày&#8221; bởi vì từng ngày chúng ta chỉ có tin buồn. Nỗi đau tuyệt vời ấy chính là nỗi đau làm người.</p>
<p>Tôi như trẻ nhỏ ngồi bên hiên nhà chờ xem thế kỷ tàn phai<br />
Tôi như trẻ nhỏ tìm nơi nương tựa mà sao vẫn cứ lạc loài&#8230;</p>
<p>Đừng nghe tôi nói lời tăm tối<br />
Đừng tin tôi nhé vì tiếng cười.</p>
<p>Ngợi ca anh hay lên án anh, yêu mến anh hay căm hận anh, muốn gần gũi anh hay muốn xa lánh anh, bênh vực anh hay chống đối anh&#8230; mỗi người đều có lý do riêng để biện minh cho mình. Nhưng không ai có thể phủ nhận tài hoa và sức quyến rũ của âm nhạc anh. Thật tình, người ta khó mà quên anh.</p>
<p>Trịnh Công Sơn là nghệ sĩ có một sức thu hút mạnh mẽ và đồng thời có một lực ly tâm cũng mạnh mẽ cực kỳ.</p>
<p>Xin chia tay anh, Trịnh Công Sơn.</p>
<p>Chúng tôi nhớ anh.</p>
<p>NGUYỄN XUÂN HOÀNG</p>
<p>* &#8220;Nguyễn Giang, một khuôn mặt lớn trong đời sống âm nhạc của đám đông với mái tóc dài hơi xoắn, chiếc kính cận gọng nhỏ, nụ cười nửa miệng. Anh là cha đẻ của những ca khúc mà mỗi lời hát như một lời thơ. Ngôn ngữ âm nhạc anh là bản lề giữa một bên là tiếng nói hàng ngày và một bên là suy tư triết học. Âm nhạc ấy được trình bày bởi một giọng hát lôi cuốn trẻ trung và đìu hiu: Mai Khanh. Tiếng hát của chị vang lên từ một trái tim hấp hối. Trong buồng ngực chị như có ngọn lửa tàn bạo thổi nóng từng tiếng ngân,&#8230; Tôi nghĩ người ta đã nói không quá đáng rằng âm nhạc của Giang sở dĩ chinh phục được tim óc người nghe là nhờ tiếng ca ma túy của Mai Khanh và ngược lại, giọng hát của Mai Khanh có được một chỗ đứng hàng đầu như cô hiện nay chính là vì tiếng hát ấy đã tựa được vào âm nhạc Nguyễn Giang. (Người Đi Trên Mây, Người Việt xuất bản, 1987, tr. 95-96). &#8220;Tôi còn nhớ tháng trước tình cờ gặp nhạc sĩ Nguyễn Giang ở một quán cà phê vỉa hè nhà bà luật sư Đại, Giang hỏi tôi&#8230; có bao giờ nghe những ca khúc mới của anh không&#8230;. Tôi nay ở trọ trần gian, trăm năm về chốn xa xăm cuối trời. ừ thì cũng chỉ là trọ thôi. Có lúc Giang thở ra, &#8220;Tôi như đứa trẻ tìm nơi nương tựa mà sao vẫn cứ lạc loài&#8230; Đừng tin tôi nhé vì tiếng cười. Đó là những lúc tôi thấy khuôn mặt Giang vốn đã nhỏ và nhô xương, hai con mắt sâu núp dưới đôi kính trắng, tối sầm lại. Dường như quanh đây có điều gì tuyệt vọng. Giang nói lửng lơ. Tôi hiểu bạn.&#8221; (Bụi Và Rác, NĐTM tập 2, Thanh Văn xuất bản, 1992, tr. 130-131). &#8220;Anh ấy là một trong những nhạc sĩ mà tôi ưa thích nhất. Chúng tôi quen biết nhau khá lâu, nhưng đi lại với nhau không nhiều. Tôi phục anh. Ngôn ngữ trong âm nhạc Nguyễn Giang gần gũi với chúng tôi, với cả một thế hệ chúng tôi&#8230; Âm nhạc của anh làm tôi nhức nhối&#8230;&#8221; (Bụi Và Rác, tr. 157)&#8230; Và nhiều trang sách khác.</p>
<p>&nbsp;</p>
<p><b>SỔ TAY THÁNG MƯỜI 2001</b></p>
<p><b>Bóng tối </b></p>
<p>Có bao giờ bạn nhìn thấy trên bầu trời một đám mây đen khổng lồ bay ngang qua, mỗi lúc một tiến gần đến bạn và cả mặt đất nơi bạn đứng hoàn toàn chìm trong bóng đêm không?</p>
<p>Có bao giờ bạn bị một đám khói vĩ đại cuốn theo xi măng và sắt thép và&#8230;xác người đã thành tro bụi ùn ùn đuổi theo bạn trong một thành phố người người chen chúc nhau chạy trốn không?</p>
<p>Những cột khói gần giống hình quả nấm bốc lên ở New York ngày thứ Ba 11 tháng Chín, 2001 không chỉ mang đến cái cảm giác hãi sợ của một đám mây đen. Nó cũng không chỉ mang đến sự rùng rợn của một cảnh chạy trốn trong nỗi kinh hoàng của người New York. Nó mang đến trong tâm trí của toàn thể nhân loại &#8211; những ai được nhìn thấy nó tận mắt, và cả những ai chỉ nhìn thấy nó trên màn ả?h như một cuốn phim do Hollywood thực hiện &#8211; nỗi kinh hoàng của Ngày Tận Thế.</p>
<p>Trước đây, vào đêm giao thừa năm 2000, người ta run rẩy lo sợ Trái Đất sẽ tan tành. Cả thế giới sẽ sụp đổ. Và người ta thở phào vì Năm 2000 trôi qua trong sự bình an.</p>
<p>Thế nhưng, tiếng thở phào ấy chưa kịp tan trong không gian. Ngày thứ Ba, 11 tháng Chín, năm 2001 tới như một lời cảnh báo: Ngày Tận Thế đến chậm. Mặc dù Trái Đất đã không nổ tung và mặc dù loài người vẫn còn sinh sống, những suy nghĩ của con người về chiến tranh, về xã hội, về chính trị, nói chung về đời sống, từ nay đã khác. Chiến tranh quy ước không còn, khủng bố là một hình thái mới của chiến tranh thế kỷ 21. Có lẽ người ta không cần đặt ra câu hỏi ngày 11 tháng Chín ở New York là khủng bố hay chiến tranh. Khủng bố nay đã thành chiến tranh. Khủng bố là chiến tranh. Từ Khủng Bố có thêm một ý nghĩa mới. Nói theo nhà báo Đỗ Ngọc Yến, &#8220;đây là cuộc chiến tranh giữa nhà giầu và nhà nghèo, giữa bắc bán cầu và nam bán cầu, giữa một bên Có và một bên Không Có. Sự hòa hợp giữa con người trên trái đất không còn nữa.&#8221;*</p>
<p>Nhà văn Ngọc, bút danh của nữ bác sĩ Nguyễn Thị Minh Ngọc, làm việc tại một bệnh viện ở New York, tác giả nhiều truyện ngắn đặc sắc trên tờ Văn, &#8211; một trong những người chứng kiến cảnh hãi hùng trong những giây phút lịch sử &#8211; qua hai lần email: Lần đầu đúng ngay sau ngày 11 tháng Chín, là những cảm xúc còn tươi rói, và đầy xúc động; giờ đây, lần thứ hai, vào Thứ Bảy 15 tháng Chín, đã bình tĩnh và tự trấn an, cô cho biết:</p>
<p>&#8220;Tôi nghĩ đến lời sấm truyền Nostradamus được nhắc nhở khắp nơi trước khi nhân loại bước vào năm 2000 về một cuộc đại chiến khủng khiếp giữa các lực lượng Trung Đông và phần còn lại của thế giới. Sấm Nostradamus thường rất bí hiểm, sử dụng nhiều mật mã và chỉ sau khi biến cố xảy ra, đối chiếu lại, người ta mới giật mình thấy ông tiên đoán chính xác thời điểm, thậm chí cả tên nhân vật và địa danh. Những ngày cuối năm 1999, tra cứu sấm Nostradamus, những người diễn giải tin rằng ông ám chỉ thành phố New York khi nói về &#8220;New City&#8221; với những tòa nhà chọc trời lát cửa kính bên cạnh hải cảng và biến cố châm ngòi đại chiến thế giới là cuộc tấn công từ trên không bầu trời thành phố, gây ra cảnh khói lửa kinh hoàng và vô số người thiệt mạng. Ông còn cho biết &#8220;những kẻ bạo động sử dụng chính phương tiện của nước bị tấn công&#8221; và tiên đoán khủng hoảng kinh tế trầm trọng cũng như khan hiếm thực phẩm. Không hiểu sao lúc ấy những người diễn giải lại cho rằng mục tiêu tấn công là Nữ Thần Tự Do. Tất cả những bản phiên dịch khác nhau, không ai nhắc đến World Trade Center mặc dù Nostradamus đã mô tả khá đặc thù.</p>
<p>Dù sao, biến cố đau thương cũng đã xảy ra, sớm hơn người ta tưởng. Kể từ giây phút đó, nước Mỹ không còn như cũ nữa.</p>
<p>Gắn bó nhiều năm với thành phố New York, tôi đã yêu mến nó như quê hương thứ hai, sau Sài Gòn. Mỗi một tòa nhà, góc phố, cây cầu, dòng sông trở nên thân quen gần gũi. Hai ngọn tháp cao ngất bọc kính sáng lóa đương nhiên ngự trị sừng sững trong cuộc sống người dân thành phố. Một buổi sáng đẹp rực rỡ, trong phút chốc biểu tượng sự sung túc và thịnh trị của New York bùng nổ tan tành, chôn vùi hàng ngàn người dân. Khu downtown điêu tàn. Tấn thảm kịch bất ngờ làm mọi người bàng hoàng, rồi đau đớn, rồi phẫn nộ. Không biết bao nhiêu nước mắt đã đổ. Xung quanh tôi, hàng xóm, bạn bè, người quen &#8211; nhiều người có người thân bị thiệt mạng. Mục cáo phó trong các nhật báo xuất hiện ngày càng nhiều những tên người, mất ngày 11 tháng Chín, năm 2001 &#8211; nhân viên của World Trade Center, lính cứu hỏa, cảnh sát . Hy vọng tắt dần theo mỗi ngày qua, lực lượng cứu hỏa, cảnh sát và dân tình nguyện làm việc nỗ lực không kể ngày đêm trong đống đổ nát mà chỉ thấy những xác người cùng vô số mảnh thi thể tan tành. Từng đoàn người tự nguyện mang thực phẩm, quần áo, vật dụng đến ủng hộ lực lượng làm việc trên hiện trường. Thành phố rực màu cờ xanh-trắng-đỏ &#8211; trước nhà, trên xe, mỗi góc phố ngả đường. Cờ cắm trên từng cột điện chạy dài suốt xa lộ. Người dân mặc ba màu xanh-trắng-đỏ nhan nhản khắp nơi. Cờ trên nón, trên áo, trên tay. Hàng đêm, người người kéo đến đốt nến cầu nguyện, hát quốc ca ở mọi địa điểm. Mỗi góc phố có từng nhóm thanh niên phất cờ, xe cộ chạy ngang đều dừng lại bấm còi ủng hộ, vang động, nhiều người hô to &#8220;USA ! USA ! USA !&#8221; &#8220;God Bless America !&#8221;. Không khí tang tóc đau thương lẫn với căm thù. Người ta có thể linh cảm hơi hướm chiến tranh đang đến gần. Động viện lực lượng trừ bị. Nhiều tân binh tình nguyện nhập ngũ. Các sĩ quan hồi hưu và lính giải ngũ tình nguyện tái ngũ.</p>
<p>Chỉ là mới khởi đầu. Rồi cuộc chiến sẽ đi đến đâu?</p>
<p>Tôi chỉ mới 4 tuổi khi cuộc chiến ở Việt Nam chấm dứt. Tuy đọc nhiều sách báo về chiến tranh, đến bây giờ tận mắt chứng kiến thảm cảnh, tôi mới bàng hoàng cảm nhận phần nào sự tang thương mất mát ghê gớm của con người hủy diệt con người. Phải chăng đó cũng là tâm lý chung của đa số người Mỹ &#8211; một dân tộc an vui trong xứ sở hòa bình? Đồng bào tôi suốt một thế kỷ chinh chiến liên miên, hàng chục triệu gia đình mang khăn tang trên đầu. Phải chăng những thảm cảnh tương tự diễn ra hàng ngày?</p>
<p>Tôi thấy cái vô lý của đời sống.</p>
<p>Một buổi sáng đẹp trời, người ta lên máy bay chuẩn bị chuyến hành trình qua một thành phố khác, giở tờ báo ra đọc, nghĩ đến những gì sẽ làm, những nơi sẽ đến, những người sẽ gặp. Cũng cùng một buổi sáng đẹp trời, người người tấp nập đến sở làm, ly cà phê trên tay, bàn tán sôi nổi về thời tiết, về giải football sắp khai mạc, về những trận baseball cuối mùa đang hồi quyết liệt, về mùa cưới, về những chuyến du lịch. Thị trường chứng khoán Wall Street ồn ào mua bán trao đổi. Thành phố hào nhoáng trong nắng vàng rực rỡ.</p>
<p>Tất cả thay đổi hoàn toàn trong 18 phút.</p>
<p>Và New York, nước Mỹ cũng như thế giới không bao giờ còn như cũ.&#8221;</p>
<p>Thu Thuyền, một nhà văn nữ trẻ, qua điện thoại cho biết từ bao lâu nay sống trên nước Mỹ, cô chưa bao giờ thấy nước Mỹ là quê hương của mình. Trong lòng cô Việt Nam vẫn là nỗi nhớ thương, lo lắng và xúc cảm. Nhưng bây giờ cô nhận ra cô yêu nước Mỹ và cô nói, đây mới là tổ quốc của cô. Cô khóc và đau xót cho những mất mát của tổ quốc mình. Và hôm nay lòng trùng xuống, cô nói: chỉ có trái tim vẫn còn quá nặng trong lồng ngực.</p>
<p>Nhà thơ Nguyễn Đức Tùng, Canada, viết: &#8220;Chia buồn với các bạn Việt Nam ở Mỹ. Chia buồn với nước Mỹ. Tôi (Nguyễn Đức Tùng) xin thêm: Đó là cái giá phải trả cho Tự do và cho chủ nghĩa cá nhân kiểu Mỹ (và Bắc Mỹ).&#8221;</p>
<p>Nóng hơn cả là bài thơ của Xuyên Trà. Bài thơ đầu tiên nhận được chiều ngày 11 tháng Chín, từ Atlanta, qua email. Một bài thơ đầy ứ cảm xúc và phẫn nộ. Dưới tựa đề Ngày, Tháng Để Đời, ông viết:</p>
<table border="0" cellpadding="0">
<tbody>
<tr>
<td width="10%"></td>
<td width="80%">11 . 9 . 2001<br />
Ngày tháng để đời<br />
Cho những ai<br />
Muốn nhớ hay không muốn nhớ<br />
Giờ phút kinh hoàng man rợ<br />
Nỗi đau chung cho kẻ làm người<br />
Vỡ ngang trời ngàn giọt máu tươi<br />
Bao nhiêu thây vùi trong biển lửaTa biết chắc<br />
Sẽ không còn nữa<br />
Những giọng cười ngạ quỷ, bên kia<br />
Từ tro tàn sẽ dựng thành bia<br />
Ngày tháng để đời<br />
Khắc trên mộ chí<br />
Cái đau chung của đầu thế kỷ<br />
Nhắc nhở người không có trái tim</td>
<td width="20%"></td>
</tr>
</tbody>
</table>
<p>Bài thơ trên đây chưa chắc là một bài thơ hay, nhưng tôi chắc đó là một trong số ít bài thơ Việt Nam được viết trong một biến cố dữ dội của đất nước mà mình đang sống.</p>
<p>Nhà văn Cổ Ngư, ở Paris, Pháp, qua email, cho biết vào khoảng 5 giờ chiều (giờ Paris), các đồng nghiệp của anh bắt đầu xôn xao với những tin nhận được từ internet và điện thoại về việc máy bay của khủng bố đâm xuống New York và Washington. Mọi người lo lắng. Và đến sáu giờ thì các phòng làm việc đều vắng tanh. Nhân viên bỏ sở về sớm hơn thường lệ&#8230; Trong lối vào métro, các cửa nhỏ đều mở toang, mọi người có thể ra vào mà không cần qua máy soát vé. Suốt buổi tối và đêm hôm sau, các đài truyền hình và truyền thanh Pháp liên tục phát hình ảnh tin tức từ Mỹ gửi về. Tổng thống Jacques Chirac và Thủ tướng Lionel Jospin đều lên tiếng chia buồn với dân tộc Mỹ, nhất trí cùng chính phủ Hoa Kỳ trong việc chống khủng bố, gay gắt lên án những kẻ bao che các tổ chức khủng bố đồng thời kêu gọi dân Pháp thậ? trọng, tránh gây hố sâu chia rẽ giữa các nước phương Tây và các dân tộc thuộc khối Ả Rập. Đài truyền thanh France-Inter truyền đi cuộ? phỏng vấn của một người Pháp thoát nạn trước khi hai cao ốc ở Wall Street sụp đổ. Ông nghẹn ngào khi nhắc đến những người lính cứu hỏa đã chạy ngược hướng với ông, về phía những cao ốc, và nhiều người trong số họ đã mất tích trong đống đổ nát.. Nước Pháp có 86 nhân viên thuộ? nhà băng Crédit Agricole ghi nhận mất tích. Nước Anh có khoảng 100 người làm việc trong hai cao ốc thuộc Trung tâm Thương mại Thế giới bị mất tích. Mặc dù từ trước tới nay, người Pháp vẫn chỉ trích và bài bác lối sống kiểu Mỹ, dân Pháp đã bày tỏ mối cảm thông và tình đoàn kết với dân Mỹ.</p>
<p>Những người cầm bút trẻ tuổi đã viết trên mạng như thế. Rồi đây trên những trang sách sắp tới của họ, liệu biến cố hãi hùng ngày 11 tháng Chín, 2001 sẽ ảnh hưởng ra sao?</p>
<p>Nhà văn Vũ Huy Quang, tác giả tập truyện Tân Liêu Trai cho rằng vụ tấn công vào Trung tâm Thương mại Thế giới và Ngũ Giác Đài sẽ là dịp tốt cho những người cầm bút đọc lại lịch sử &#8211; lịch sử là người Thầy vĩ đại nhất, ông nhấn mạnh. Ông muốn nói người cầm bút sẽ phải viết khác đi. Khác như thế nào là một vấn đề khác. Ông bảo cần phân biệt hai hạng người: mạt nhân và siêu nhân. Mạt nhân theo ông là những kẻ đang sống nhưng coi như đã chết rồi.</p>
<p>Tôi muốn trở lại cái bóng tối đang bay trên đầu chúng ta, đang bay trên mặt đất, đang bao phủ tận ngõ ngách tâm hồn những con người mà sự ghê tởm của nó còn làm ta lợm giọng hơn cả cảnh hoang tàn đổ nát của New York và Washington D.C. trong ngày thứ Ba 11 tháng Chín, 2001.</p>
<p>Có bao giờ bạn nhìn thấy trên bầu trời một đám mây đen khổng lồ bay ngang qua, mỗi lúc một tiến gần đến bạn và cả mặt đất nơi bạn đứng hoàn toàn chìm trong bóng đêm không?</p>
<p>Có bao giờ bạn bị một đám khói vĩ đại cuốn theo xi măng và sắt thép và&#8230;xác người đã thành tro bụi ùn ùn đuổi theo bạn trong một thành phố người người chen chúc nhau chạy trốn không?</p>
<p>Có bao giờ trong tâm hồn bạn bị một bóng tối như thế bao vây không?</p>
<p>Chúc bình an cho mọi người.**</p>
<p><b>Về Mai Chửng </b></p>
<p>Tôi không có cái hân hạnh quen biết Mai Chửng. Năm tôi làm ở nhật báo Người Việt, một lần gặp nhà thơ Phù Hư, tôi hỏi anh đi đâu mà lâu quá không gặp. Phù Hư bảo đi Hawaii, làm nghề lái taxi. Tôi không tin. Phù Hư người gầy yếu, xanh xao. Sức khỏe như thế làm sao lái nổi taxi. Anh cười, xe nó chở chứ tôi có chở đâu mà cần sức khỏe. Nhưng anh nói thêm: Tôi bỏ rồi, cũng mệt lắm chứ không giỡn đâu. &#8220;Này ở trong ngành taxi có nhiều người quen ông lắm đó.&#8221; Tôi hỏi ai, anh kể vài người và anh nhắc đến Mai Chửng với những lời quý mến và trân trọng. Tôi nói tôi biết tiếng anh Mai Chửng, nhưng tôi không thân với anh ấy. Hồi ở Sài Gòn tôi cứ đàn đúm với đám nhà văn nhà báo hơn là các bạn chơi màu sắc. Phù Hư nói vậy bây giờ ông có dịp thì nên đi chơi với ông ấy đi. &#8220;Một người dễ thương cách gì!&#8221;</p>
<p>Sau này, cũng gần đây thôi, chị Q.H. một người bạn thân của chúng tôi nhắc tôi viết gì về Mai Chửng, anh ấy sắp có cuộc triển lãm. Tôi lấy điện thoại, gọi anh mấy lần, nhưng đều không được gặp. Cho đến ngày anh về Việt Nam triển lãm chung với các họa sĩ khác.</p>
<p>Khi tôi muốn liên lạc lại với anh để viết về những tác phẩm mới của anh thì nghe tin anh mất.</p>
<p>Ở Sài Gòn trong chuyến về thăm mộ cha tôi, thầy tôi, mẹ tôi và anh tôi, tôi có dịp gặp Trịnh Cung và anh Văn Quang. Mấy người quen cũ đều nhắc Mai Chửng mới về đây nhưng hôm khai mạc phòng triển lãm tranh tượng của những nghệ sĩ Sài Gòn cũ, anh bị bệnh nên không có mặt. Sau đó anh trở lại Mỹ và anh ra đi vào ngày 1 tháng Chín vừa qua.</p>
<p>Từ Việt Nam, Trịnh Cung và Văn Quang viết bài về Mai Chửng. Cả hai bài viết đều rất cảm động. Bài của Đinh Cường trong số Văn kỳ này cũng chứa chan một tình cảm tốt đẹp với con người tài hoa cùng thời. Nhưng ở đây tôi muốn xin trích một đoạn trong bài viết của một nhà điêu khắc &#8211; ông Nguyễn Văn Nam viết về ông thầy của mình .</p>
<p>&#8220;&#8230;. tôi đã học ở ông rất nhiều về nhân cách của ông (điều này đã chứng minh trong quan hệ gia đình, bạn bè, xã hội), về cách làm việc, ý hướng sáng tác, đến chuyên môn trong kỹ thuật điêu khắc.&#8221;Tôi làm điêu khắc như khi rỗi rảnh mang chiếc xe đạp ra sửa lại.&#8221; &#8220;Tôi làm tượng rất đơn giản chỉ cần đất sét, một cây đập đất, một con dao làm bếp, đơn giản thế thôi! (vế trên tôi đọc được trong một vựng tập của hội họa sĩ trẻ Sài Gòn, vế sau là khi gặp ông sau này khi ông về VN thăm.)</p>
<p>Cái chính là ý tưởng trong sáng tác, rồi sau đó mới đến những trãi nghiệm về nghề.&#8221; Lời ông nói như một thiền sư.&#8221;</p>
<p>Mai Chửng xin vĩnh biệt anh.</p>
<p><b>Hợp Lưu thập nhị chu niên </b></p>
<p>Không ngờ Hợp Lưu mới đó mà đã 12 năm. Nhớ ngày nào trong căn nhà nhỏ chật chội ở thành phố Garden Grove, cả bọn chúng tôi ngồi nghe kể chuyện &#8220;chàng&#8221; Khánh Trường làm tờ Hợp Lưu bị đấm đá tưng bừng. Nhưng đấm đá thì đấm đá, &#8220;chàng&#8221; cứ ngó đàng trước mà đi. Mà đi như vậy đã hơn 4,000 ngày. Hợp Lưu số 62 tới đây của &#8220;chàng&#8221; sẽ là số Xuân Nhâm Ngọ? đồng thời cũng sẽ là số kỷ niệm Hợp Lưu tròn 12 tuổi. Nghe đâu sẽ có một chương trình họp mặt vĩ đại lắm vào ngày 8 tháng Mười Hai, 2001 tại Trung tâm Văn hóa Nguyễn Bá Học, 4072, Chesnut thành phố Westminster cùng với 40 tác phẩm sơn dầu của họa sĩ Khánh Trường.</p>
<p>Khánh Trường bảo, đó là một buổi họp mặt mang chủ đề Hợp Lưu với văn hữu &amp; độc giả. Không những &#8220;chàng&#8221; triển lãm tranh mà &#8220;chàng&#8221; còn có phần ca nhạc thính phòng trong buổi khai mạc. &#8220;Chàng&#8221; nói phòng tranh sẽ kéo dài một tuần lễ, và sau đó sẽ bán với giá thật thân hữu, nghĩa là từ 400 đến 600 Mỹ Kim &#8220;nhằm tích vốn nuôi dưỡng Hợp Lưu cho năm tới.&#8221;</p>
<p>Làm chủ bút một tạp chí văn chương mà lại còn là một họa sĩ nữa, Khánh Trường thật không thua ai. Nghe đâu ông Nguyễn Xuân Hoàng đang gạ &#8220;chàng&#8221; Khánh Trường dạy cho cách pha màu. Ông ta cười bí mật: Biết đâu!!!!!!!!!! ?</p>
<p>NGUYỄN XUÂN HOÀNG</p>
<p><b>SỔ TAY THÁNG GIÊNG 2002</b></p>
<p><b>Mưa ở Berkeley &#8230;. </b></p>
<p>Tháng Chạp, những ngày cuối năm, bão rớt ở Vùng Vịnh. Trời xám xịt. Lạnh. Mưa bắt đầu rơi khi tôi bước vào quán cà phê trên đường Telegraph. Cái tháp đồng hồ của đại học Berkeley sau lưng giống như ngọn hải đăng là cột mốc giúp tôi định hướng ngõ vào lớp học trong những lần đầu khi tôi mới đến thành phố này .</p>
<p>Quán khá đông. Có hai tầng, cấu trúc thật kỳ lạ. Mặt bằng phía trước thấp, chật; phía sau cao như một sân khấu, hẹp và ngang bè, là một thứ sân khấu khuất. Tôi mua ly cà phê, bơm một chút half &amp; half, cầm theo gói đường equal màu xanh bước đến chiếc bàn duy nhất còn trống trong góc. Tôi đặt ly cà phê xuống, cởi áo khoác móc lên thành ghế. Sau đó bước lên &#8220;sân khấu&#8221; đi tìm phòng vệ sinh. Có ba cánh cửa không biết cửa nào mở vào toilet. Một thanh niên, có dáng vẻ sinh viên đang làm bài hay viết cái gì đó, nhìn tôi hỏi có phải ông cần restroom không. Tôi gật đầu. Anh bảo phải xuống quầy hỏi mượn chìa khóa. Cánh cửa sắt màu đen có lưới đó là phòng vệ sinh.</p>
<p>Tôi lấy chìa khóa trở lại &#8220;sân khấu&#8221;. Người sinh viên vẫn ngồi chăm chú với trang giấy trên mặt bàn. Phòng vệ sinh sáng và sạch, nếu ta đừng chú ý đến những chữ viết đủ màu sắc chằng chịt trên vách. Những câu văn thô tục lẫn giữa những dòng chữ như một bài thơ. Một thứ graffiti trên đường phố nhưng dồn lại trong ba bức vách của một nhà vệ sinh khá sạch. Tôi có cảm tưởng những dòng chữ này dùng để trang trí chứ không phải là phá hoại.</p>
<p>Có một câu chữ lớn tôi đọc được:</p>
<p>so long my friend, don&#8217;t say goodbye&#8230;.</p>
<p>và sau đó còn mấy dòng nữa chữ nhỏ, rất khó đọc.</p>
<p>Tôi tự hỏi nếu là trang trí tại sao người chủ quán buộc khách phải có chìa khóa mới vào được? Cũng có thể là không có phòng dành riêng cho nam và nữ thành ra cái chìa khóa là tiện nhất. Tôi thấy mình thắc mắc vô duyên. Tiểu xong, tôi vẫn chưa muốn bước ra ngay. Tôi cũng muốn viết một câu gì đó, bằng tiếng Việt để cho người đến sau biết rằng ở đây không chỉ có bọn Mỹ chủ nhà chơi trò chữ nghĩa lăng nhăng. Tôi tiếc là không có trong tay cây bút lông loại to. Tôi mang chìa khóa trả lại quầy tính tiền. Trở lại bàn nơi tôi để ly cà phê và cái áo choàng, tôi ngạc nhiên thấy đã có người ngồi ở đó. Một người đàn ông và một người đàn bà Á châu. Tóc tai cả hai đều ướt. Thấy tôi ngơ ngác nửa muốn ngồi xuống nửa cứ đứng trơ ra, người đàn ông đứng dậy đưa tay bắt tay tôi.</p>
<p>&#8220;Xin lỗi! Xin lỗi!&#8221; Ông ta nói tiếng Việt.</p>
<p>&#8220;Tôi thật tình không hiểu. Thế này là thế nào? Mà sao ông biết tôi là Việt Nam?&#8221;</p>
<p>&#8220;Tôi thấy trên bàn có cuốn báo tiếng Việt này.&#8221;</p>
<p>&#8220;À&#8221; Tôi nhớ ra sáng nay tôi có mang theo một tờ báo Việt ngữ. Tờ báo địa phương ở San Jose ra mỗi thứ Sáu.</p>
<p>&#8220;Tôi thành thật xin lỗi ông, quán chật hết, không còn một bàn trống,&#8221; anh ta tiếp &#8220;ông cho chúng tôi ngồi cùng bàn nhé! Ngoài trời mưa dữ lắm, mà lạnh nữa!&#8221;</p>
<p>Và anh quay sang người phụ nữ &#8211; từ lúc tôi trở lại bàn của mình không nghe chị nói một lời &#8211; đặt tay lên vai chị:</p>
<p>&#8220;Cô Mía, bạn tôi. Còn tôi, ông cứ gọi là Huy.&#8221;</p>
<p>&#8220;Chào ông Huy. Xin chào cô Mía.&#8221; Tôi hơi lúng túng.</p>
<p>Chị đưa tay bắt tay tôi, hơi mỉm cười. Chị có mái tóc khá dài đen mướt, mắt một mí, sáng, má lúm đồng tiền, cằm chẻ. Chị không hẳn là một phụ nữ đẹp, nhưng chị có một nụ cười thật tươi trên khuôn mặt bướng bỉnh, mạnh mẽ và quyến rũ.</p>
<p>&#8220;Tên tôi không phải là Mía, anh Huy đùa đấy. Tôi tên là Mia.&#8221; Chị đánh vần: &#8221; Em mờ, I, MI, A. MIA . Đọc là MIA, Như Missing In Action vậy. Còn ông?&#8221;</p>
<p>Tôi nói tên tôi và tôi kéo ghế ngồi xuống. Người đàn ông cầm tay chị, những ngón tay dài, xanh xao. Anh nhìn chị dịu dàng và che chở trái với khuôn mặt lạnh, khắc khổ đầy lo âu của anh. Tóc anh cứng, không chải, những giọt nước mưa không làm tóc anh nằm xuống mà còn đứng sững dậy. Anh mặc chiếc áo màu kaki nhạt, khoác bên ngoài chiếc áo jacket màu xanh sẫm. Bỗng nhiên như sực nhớ điều gì, người đàn ông đứng lên:</p>
<p>&#8220;Xin lỗi, tôi phải lấy nước chứ. Em uống gì?&#8221; Anh hỏi cô Mía, và không chờ cô trả lời, anh quay sang tôi &#8220;Ông dùng gì thêm không?&#8221;</p>
<p>&#8220;Cám ơn, tôi đã có cà phê.&#8221;</p>
<p>&#8220;Anh gọi cho em một ly hot cider đi. Trời lạnh quá!&#8221; và chị nói với tôi: &#8220;Cà phê ông đã nguội.&#8221;</p>
<p>&#8220;Cô có cái tên thật đặc biệt. Tôi chưa bao giờ nghe một cái tên như thế ở Việt Nam.&#8221;</p>
<p>&#8220;Đó là lý do anh Huy gọi tôi là Mía?&#8221;</p>
<p>&#8220;Vậy tôi gọi cô là Mía có được không?&#8221;</p>
<p>&#8220;Không. Ông tha lỗi. Mía là tên gọi riêng của Huy và tôi .&#8221;</p>
<p>Chị nói bình thản. Tôi ngượng chín.</p>
<p>&#8220;Cô là người ở đây?&#8221; Tôi hỏi cho có chuyện.</p>
<p>&#8220;Không. Tôi không ở đây. Tôi ở San Fran.&#8221;</p>
<p>&#8220;Cô ở San Fran sao? &#8221; Tôi hỏi lại.</p>
<p>&#8220;Dạ phải. Ở San Fran thì sao?&#8221; Chị hỏi ngược, giọng ngạc nhiên.</p>
<p>&#8220;Không. Tôi chỉ hỏi vậy thôi. Là vì tôi nghe nói đời sống ở San Fran đắt đỏ đường sá chật chội nhà cửa cao quá. Đến đó chơi thì được, chứ ở thì không. Nhiều bạn tôi nói như vậy?&#8221;</p>
<p>&#8220;Không hẳn là như vậy đâu. Người ta vẫn sống ở San Fran được đấy chứ!&#8221;</p>
<p>&#8220;Cô đến Mỹ năm nào?&#8221;</p>
<p>&#8220;Cũng hơn 15 năm. Trước tôi ở dưới Los. Gần 12 năm. Tôi tìm được việc trên này mới vài năm nay.&#8221;</p>
<p>&#8220;Tôi cũng đến Mỹ cùng thời gian với cô, đã ở dưới Los một thời gian gần bằng thời gian của cô. Sao tôi chưa bao giờ gặp cô. Cô thấy trên này và dưới Los có gì khác nhau?&#8221;</p>
<p>&#8220;Ông muốn nói khác cái gì? Con người? Sinh hoạt? Xã hội? Văn hóa? Cộng đồng người Việt mình?&#8221;</p>
<p>&#8220;Tôi muốn nói chung chung. Cô thấy trên này dễ chịu không?&#8221;</p>
<p>&#8220;Ở đâu rồi cũng quen đó. Dưới Los tôi có nhiều bạn bè hơn. Sống trên này hơn ba năm rồi nhưng tôi ít giao du thành ra nhiều lúc buồn không biết đi đâu. Vả lại công việc tôi cũng khá bận rộn thành ra không nhiều bạn quen cũng là điều hay.&#8221;</p>
<p>&#8220;Vậy chắc là cô vẫn thường đi Los phải không?&#8221;</p>
<p>&#8220;Thỉnh thoảng thôi. Bởi vì càng ngày tôi càng thấy cái vùng đất này có nhiều điều hay mà dưới kia không có.&#8221;</p>
<p>&#8220;Điều hay?&#8221;</p>
<p>&#8220;Cider nóng của em đây!&#8221; Huy đặt hai ly nước xuống mặt bàn.</p>
<p>&#8220;Cám ơn anh.&#8221; Mía kéo người đàn ông về phía mình, hôn lên những ngón tay anh, sau đó chị ấp hai bàn tay vào ly nước như muốn lấy hơi ấm.. Chị uống từng ngụm nhỏ. Mắt chị không rời Huy. Và chị nói chậm rải: &#8220;Huy là một điều hay của tôi.&#8221; Chị lại nắm bàn tay người đàn ông, tiếp: &#8220;Và cũng là điều suy nghĩ của tôi. Nếu không gặp Huy có lẽ tôi đã bỏ xứ này về lại dưới kia từ lâu rồi.&#8221;</p>
<p>&#8220;Vậy sao?&#8221; Tôi nhìn người phụ nữ, rồi nhìn người đàn ông. Tôi muốn biết cái gì đã gắn họ lại với nhau. Cả hai đều không còn trẻ. Mặc dù, rõ ràng là chị trẻ hơn anh rất nhiều. Trên khuôn mặt mỗi người tôi đọc thấy một nỗi khắc khoải. Những nếp nhăn ơ? đuôi mắt của chị, những vết hằn trên trán của anh. Dù vậy tôi thấy trong sự chăm sóc của cả hai toát ra một đam mê, một thứ tình yêu cuồng tín.</p>
<p>&#8220;Xin lỗi ông, thế ông làm gì ở đây?&#8221;</p>
<p>&#8220;Tôi hả? Tôi không phải dân ở đây.&#8221; Tôi không muốn nói việc làm của tôi. &#8220;Tôi ở San Jose. Tôi lên đây có chút việc.&#8221;</p>
<p>&#8220;Anh Huy?&#8221; Chị quay sang người đàn ông. &#8220;Chân em lạnh quá!&#8221; Chị đặt cả hai chân lên đùi anh.</p>
<p>Người đàn ông cúi xuống. Anh bóp bóp chân chị, vụng về kéo từng ngón, khuôn mặt ánh lên một vẻ say mê kỳ lạ. Đột nhiên tôi nhìn thấy chiếc vớ màu xanh sẫm của chị tuột ra rơi xuống, và Huy nâng bàn chân trần của chị lên hà hơi giữa những kẻ chân, và tôi có cảm tưởng như anh cắn ngón chân út và hôn cổ chân của chị.</p>
<p>&#8220;Huy! Trời ơi!&#8221; Chị kêu giọng thảng thốt.</p>
<p>&#8220;Có gì đâu!&#8221; Tôi nói. &#8220;Cô đã thấy đỡ lạnh chưa?&#8221;</p>
<p>&#8220;Đỡ lắm rồi. Cám ơn ông.&#8221; Và chị nói với người đàn ông. &#8221; Anh bóp mạnh chân em, mạnh nữa đi!&#8221; Chị chồm người qua mặt bàn hôn người đàn ông. Họ hôn nhau say đắm tưởng như trái đất này chỉ có hai người. Tôi nghĩ tình yêu của họ chắc phải là mãnh liệt lắm mới khiến họ không nhìn thấy trời đất gì chung quanh. Những người khách trong quán vẫn đọc sách, báo, vẫn viết, vẫn cười nói, chuyện trò quanh ly cà phê. Người chủ quán đang nghe điện thoại, đứng bên cạnh anh ta, sau quầy là một thanh niên chải tóc ngược kiểu mồng gà, hai cánh tay xâm hình chằng chịt, cạnh bàn chúng tôi là hai cô gái tóc vàng châu đầu vào một trang sách cười khúc khích.</p>
<p>Một người khách vừa bước vào, đứng giữa cửa, đang xếp dù rủ nước bám trên vải&#8230;Ông ta lớ ngớ nhìn quanh phòng. Mưa đã giữ khách lại. Vẫn không còn một bàn nào trống.</p>
<p>Tôi thấy mình thừa thải.</p>
<p>Bên ngoài, chiều đã xuống. Mùa này ngày ngắn đêm dài. Và trời đang mưa..</p>
<p>Tôi hớp thêm một ngụm cà phê, đứng dậy.</p>
<p>&#8220;Chào cô Mía, chào ông. Có lẽ tôi phải về.&#8221;</p>
<p>&#8220;Về? Ông về đâu?&#8221; Người đàn ông hỏi.</p>
<p>&#8220;Về Milpitas.&#8221;</p>
<p>&#8220;Mưa lớn lắm. Sao ông không ngồi thêm một chút. Trời này lái xe nguy hiểm!&#8221; Cô Mía nói. &#8220;Chúng tôi cũng sắp chia tay rồi.&#8221;</p>
<p>&#8220;Chia tay? Thế hai người không cùng về chung à?&#8221; Tôi ngạc nhiên.</p>
<p>&#8220;Không, tôi phải trở lại San Fran. Huy thì về Palo Alto. Tại sao ông nghĩ là chúng tôi phải về chung?&#8221; Cô Mía nói.</p>
<p>&#8220;Tôi tưởng vậy thôi.&#8221;</p>
<p>&#8220;Chắc ông nghĩ rằng khi người ta yêu nhau là phải ơ? chung dưới một mái nhà? Chúng tôi mỗi người đều có một nơi để trở về.&#8221;</p>
<p>Chị nói với một giọng đều và buồn. Có vẻ như chị cũng không muốn tin vào điều mình nói nữa. Tôi không nghĩ là chị đang nói với tôi.</p>
<p>Sau cùng, người đàn ông lên tiếng:</p>
<p>&#8220;Ông lái xe hay đi BART?* Tôi có thể đưa ông về.&#8221;</p>
<p>&#8220;Cám ơn.&#8221; Tôi nói. &#8220;Thường thì tôi đi BART. Hôm nay tôi lái xe.&#8221;</p>
<p>Tôi mặc áo khoác, cầm tờ báo, quyết định.</p>
<p>&#8220;Xin chào!&#8221; Tôi đưa tay về phía người đàn bà. Cô Mía bắt tay tôi và nói: &#8220;so long my friend, don?t say goodbye&#8230;.&#8221;</p>
<p>Tôi nghe tiếng chị nói như hát. &#8220;So long my friend, don&#8217;t say goodbye&#8230;.&#8221; Đúng là câu tôi vừa đọc thấy lúc nãy. Tôi lớ ngớ nhìn chị, và tôi bắt gặp nụ cười của người đàn ông:</p>
<p>&#8220;Tôi biết tại sao ông lúng túng! Ông đọc được câu đó trong phòng vệ sinh phải không?&#8221;</p>
<p>&#8220;Phải. Sao ông biết?&#8221;</p>
<p>&#8220;Tại vì tôi cũng đã đọc được câu đó.&#8221;</p>
<p>&#8220;Bộ ông và cô đây quen thuộc cái quán này lắm sao?&#8221;</p>
<p>&#8220;Chúng tôi vẫn thường hẹn nhau ở đây. Cái bàn này gần như dành cho chúng tôi. Nói đùa đấy, tôi làm sao đủ tiền mua cái bàn này.&#8221;</p>
<p>&#8220;Nhưng tôi nhớ không lầm, sau cái câu cô Mía vừa đọc còn mấy câu nữa mà. Chẳng lẽ ông cũng thuộc?&#8221;</p>
<p>&#8220;Không, tôi thì không. Nhưng cô Mía thuộc đấy. Mía, em đọc cho ông bạn chúng ta nghe bài này đi. Bài gì mà em bảo là của ban Ataris đó!&#8221;</p>
<p>&#8220;Đó là một ca khúc của bọn trẻ ở đây có tên là Hello and Goodbye. Ông có muốn nghe tôi đọc không?&#8221;</p>
<p>&#8220;&#8230;&#8230;..&#8221;</p>
<p>&#8220;So long my friend, don&#8217;t say goodbye..<br />
just give me one last kiss beneath this gloving sky<br />
we&#8217;ll go walking through the park<br />
and hang out in the rain&#8230;. &#8221;</p>
<p>Người đàn ông ôm hôn cô, vội vã như sợ cô biến mất:</p>
<p>&#8220;Đừng anh!&#8221; Mía nói. &#8220;Đã đến giờ rồi, em phải về thôi.&#8221; Chị đứng dậy, choàng tay qua vai anh, kéo đầu anh xuống, hôn anh và thì thầm trong tai anh, rồi chị cầm bàn tay người đàn ông lên hôn và ngậm trong miệng rất lâu một ngón tay của anh. Người đàn ông nói:</p>
<p>&#8220;Còn sớm mà!. Mía có biết là anh cần em đến chừng nào không?&#8221;</p>
<p>Anh rút bàn tay ra, ôm siết người đàn bà.</p>
<p>&#8220;Còn mấy hôm nữa là Tết rồi. Từ giờ tới đó, em sẽ không gặp anh được đâu!&#8221; Chị lấy hai tay đập đập lên ngực anh. Tôi thấy mắt chị có ngấn nước. Và chị quày quả bước ra cửa. Không nhìn anh. Không nhìn bất cứ ai.</p>
<p>Tôi biết chắc là ngoài trời vẫn còn mưa.</p>
<p>Và cơn mưa dai dẳng đó cũng đã chạy theo tôi suốt dọc đường về.</p>
<p>Quán tên gì tôi không nhớ, nhưng cà phê khá ngon, ít nhất là ngon hơn thứ cà phê Starbucks mà nhiều người hiện nay ưa thích.</p>
<p>Tôi không gặp lại cô Mía và người đàn ông tên Huy một lần nào nữa. Tôi biết là họ yêu nhau &#8211; yêu một cách cuồng nhiệt như thể cả hai đang ở tuổi mười tám đôi mươi &#8211; nhưng tôi cũng cảm thấy hình như có một điều gì đó chen giữa hai làn môi của họ, mơ hồ không trọn vẹn.</p>
<p>Tôi muốn viết về họ. Về nhân vật Huy, mà tôi tưởng tượng là một người qua Mỹ gần 25 năm nay, thành công trong kinh doanh, nhưng vẫn chưa tìm ra được điều mình muốn tìm. Và người phụ nữ tên Mía, trẻ tuổi hơn, mặc dù đến xứ sở này muộn hơn, đã học hành thành đạt hơn, và cũng đã có được một chỗ đứng trong xã hội, nhưng trong tay chị vẫn là sự trống vắng thiếu hụt. Tôi nghĩ cả hai đều có đời sống riêng, những lo toan riêng, những liên hệ riêng. Và giờ đây như hai hạt bụi bay giữa đất trời, họ chạm vào nhau. Rất tình cờ. Và họ khám phá ra là họ cần nhau. Mỗi người vừa tìm thấy sự lấp đầy trong lỗ hổng của người kia. Nhưng cái cách họ hôn nhau, và cả cái cách chia tay của họ như có điều chi vướng mắc. Làm sao tìm cho ra cái đầu mối ấy nằm ở đằng sau cánh cửa tình yêu say đắm của họ. May ra&#8230;.</p>
<p>Những dòng chữ trên thật ra chỉ là cách kể lại một câu chuyện trong một chiều mưa ở thành phố Berkeley. Và hình ảnh buồn rầu của khuôn mặt người đàn ông khi anh ôm người phụ nữ trong tay, khi bóp bóp bàn chân cô, khi cúi hôn những ngón chân khẳng khiu xanh xao của cô giữa một quán cà phê đông người, và cảnh chia tay kỳ lạ của họ cứ bám theo tôi mãi về tận nhà.</p>
<p>Liệu người đọc có tin được một tình yêu cuồng nhiệt như thế giữa hai người đã không còn tuổi trẻ? Liệu cái cảnh người đàn ông cúi xuống hôn chân người đàn bà giữa một quán cà phê đông người có thuyết phục được người đọc? Liệu tôi có cường điệu quá đáng trong hư cấu của một cuốn tiểu thuyết sẽ viết không? &#8230;&#8230;&#8230;</p>
<p>Tôi vẫn nghĩ đôi khi hư cấu không bắt kịp hiện thực. Hiện thực có lúc còn vượt quá cả sức tưởng tượng của con người nữa là đằng khác&#8230;</p>
<p>Trời mù đặc. Trắng đục. Tôi là một tay lái xe tồi. Có lúc tôi nghĩ là chắc gì mình an toàn trở về thành phố. Mưa lớn, có lúc tôi muốn tấp vào Oakland trốn mưa. Nhưng đó chỉ là ý nghĩ. Tôi cứ tiếp tục ngó về phía trước. Ánh đèn của những chiếc xe chạy ngược chiếu rõ những giọt mưa lấp lánh. Tôi nghĩ đến một cuốn truyện sẽ viết như lời hứa với bạn tôi. Ít nhất cũng là cuốn thứ ba trong bộ ba Người Đi Trên Mây mà tôi đã nợ với độc giả của mình, và cụ thể là nợ một nhà xuất bản. Cái máy computer thật lợi hại. Cái nút delete đã xóa mất của tôi trên trăm trang sách viết dở dang. Tôi không đủ can đảm viết lại những dòng chữ đã viết. Và bỗng nhiên khuôn mặt đắm đuối của cô Mía khi áp vào ngực người đàn ông tên Huy hiện ra trong trí nhớ tôi, Tình yêu cuồng tín của họ theo tôi đến tận nhà.</p>
<p>Milpitas. Thành phố ấy có gì để tôi lưu luyến. Tôi đã ở với nó hơn ba năm trời. Năm đầu cay đắng. Năm thứ hai ngọt ngào. Nhưng năm thứ ba là sự buồn bã. Và năm thứ tư trước mắt tôi như cánh đồng không mông quạnh dưới chân một ngọn núi ở một vùng quê Khánh Hòa, Nha Trang khi tuổi tôi vừa mới lên năm. Xa gia đình. Bơ vơ. Lạc loài. Sợ hãi. Không biết đâu là nơi nương tựa. Tôi là một đứa bé mồ côi.</p>
<p>Năm đó là năm đầu tiên của cuộc chiến tranh Việt Nam.</p>
<p>NGUYỄN XUÂN HOÀNG</p>
<p>* Một loại xe như xe lửa, hay xe métro . Chaỵ từ Fremont lên Richmond và Daly City. Xe chạy qua Berkeley và có đường chạy lên San Francisco.</p>
<p>&nbsp;</p>
<p><b>SỔ TAY THÁNG BA 2002</b></p>
<p><b>Người bạn bất ngờ trên xe B.A.R.T </b></p>
<p><b>1. </b></p>
<p>Tôi quen anh tình cờ trên xe BART. Tôi lên trạm Fremont, còn anh lên trạm thứ hai, trạm Union City. Hôm đó xe không đông lắm. Không hành khách nào phải đứng. Anh ngồi vào chỗ trống bên tôi. Trời lạnh. Xe qua các trạm South Hayward, rồi Hayward, Bay Fair, &#8230; Người lên rồi người xuống, anh vẫn ngồi yên, mắt chăm chú nhìn vào cuốn sách đặt trên đùi. Khi xe vừa qua khỏi San Leandro, anh giật mình quay sang hỏi tôi &#8220;Xin lỗi ông, xe đã qua trạm Fruitvale chưa?&#8221; Tôi ngạc nhiên nhìn thấy một chàng Mỹ đen nói tiếng Việt sỏi như thế. Tôi trả lời rằng tôi nghĩ là chưa. Xe mới vừa qua San Leandro. &#8220;Cám ơn ông. Vậy là còn một trạm nữa.&#8221; &#8220;Anh xuống Fruitvale à?&#8221; &#8220;Không. Tôi xuống Coliseum.&#8221; Không biết tại sao anh hỏi Fruitvale vì đến trạm Fruitvale là xe đã qua Coliseum rồi. Lúc đó là hai giờ năm mươi ba phút chiều. Tôi nói còn bốn phút nữa xe sẽ ngừng ở Coliseum. Anh gắp trang sách đang đọc dở dang, và thấy tôi cũng đang cầm trên tay cuốn sách, anh hỏi: &#8220;Xin lỗi, ông đang đọc gì?&#8221;</p>
<p>Tôi chìa bìa cuốn sách về phía anh. Cuốn Testaments Betrayed của Milan Kundera*. Anh hỏi tôi &#8220;Tay này là ai vậy?&#8221;</p>
<p>&#8220;Một nhà văn.&#8221; Tôi không biết trả lời anh cách sao.</p>
<p>Trời lạnh. Trên xe người nào cũng mặc áo khoác mũ trùm đầu. Một vài thanh niên da đen mặc quần áo sậm, rộng rinh, đầu quấn khăn giống như nông dân Việt Nam, cười nói ồn ào ở dãy ghế cuối. Ở cửa ra vào, một người áng chừng gốc Mễ, ngồi với chiếc xe đạp. Một phụ nữ Á châu đang áp tai vào cái điện thoại cầm tay. Không thấy ai cười. Những khuôn mặt lặng lẽ. Trạm xuống của tôi còn xa. Khi nào qua Ashby, tôi mới chuẩn bị xuống Berkeley.</p>
<p>Thấy tôi nhìn cuốn sách còn đặt trên đùi, anh cười: &#8220;Tôi đang đọc cuốn The Unwanted của Kiên Nguyễn. Ông đã đọc cuốn này chưa?&#8221;</p>
<p>&#8220;Có. Tôi có đọc qua.&#8221;</p>
<p>&#8220;Anh thấy sao?&#8221;</p>
<p>&#8220;Thấy sao là sao?&#8221;</p>
<p>&#8220;Ông có thích cuốn sách đó không?&#8221;</p>
<p>&#8220;Tại sao anh hỏi tôi?&#8221;</p>
<p>&#8220;Tại vì tôi rất thích. Cuốn sách đó nó nói một khía cạnh của đời tôi. Tác giả lai Mỹ trắng, còn tôi lai Mỹ đen. Tác giả có một bà mẹ Việt Nam giàu có, còn tôi có một bà mẹ Việt nghèo khổ. Tác giả được đi học đại học, tôi chưa hết trung học đã phải đi làm&#8230;.&#8221; Và đột nhiên anh hỏi tôi &#8220;Ông làm gì?&#8221;</p>
<p>Tôi nói công việc của tôi hiện đang làm, anh cười:</p>
<p>&#8220;Làm báo có nói láo không?&#8221;</p>
<p>&#8220;Anh nghĩ là tôi nói láo sao?&#8221;</p>
<p>&#8220;Xin lỗi, tôi không có ý nói vậy đâu. Tôi chỉ muốn biết báo có nói sự thật không?&#8221;</p>
<p>&#8220;Cũng tùy.&#8221; Tôi nói.</p>
<p>&#8220;Sao ông không làm một nghề nào khác?&#8221;</p>
<p>&#8220;Nghề làm báo xấu lắm sao?&#8221; Tôi hỏi lại anh.</p>
<p>&#8220;Không. Tôi không có ý nói vậy.&#8221; Anh lập lại đúng câu anh vừa nói với tôi lúc nãy. &#8220;Tôi muốn nói làm báo khó mà trung thực lắm. Có nhiều điều cần nói thì không nói và có nhiều điều không cần nói mà cứ viết ra.&#8221;</p>
<p>Xe ngừng ở trạm Coliseum, anh đứng dậy.</p>
<p>&#8220;Tôi tên là Randy. Mong có dịp gặp lại ông. Chào!&#8221; Anh nói.</p>
<p>&#8220;Chào!&#8221; Tôi nhìn anh. Ngạc nhiên. Tôi thấy anh bước qua cửa, xách vải mang trên vai, cuốn sách của Kiên Nguyễn trên tay, đầu ngoái lại, vẫy tay.</p>
<p>Xe tiếp tục chạy. Tôi nhìn ra ngoài cửa sổ. Trời mù. Mưa.</p>
<p>Ba năm đã qua, nhưng Bắc Cali đối với tôi vẫn là một thành phố xa lạ&#8230; cho đến khi tôi quen biết Bart tôi mới khám phá ra một khía cạnh của vùng đất Thung Lũng Điện Tử. Tôi thích những chuyến đi trên xe bart. Nó giúp tôi nhìn thấy một một lớp người của thành phố thung lũng. Nhiều người da mầu tôi gặp trong các chuyến đi. Những khuôn mặt không quen biết nhưng gần gũi với tôi. Họ là những người trẻ ồn ào hoặc những người trung niên lặng lẽ. Đập vào tai tôi là một thứ ngôn ngữ đường phố mà tôi phải cố gắng lắm mới nắm bắt được. Có người ngồi lặng thinh, mắt nhắm bất động như một bóng ma, chỉ bừng mắt dậy đúng ga muốn xuống và âm thầm bước qua cửa. Dù họ có là ai, nhưng tôi biết đám đông ấy cùng một giuộc với tôi. Họ là tôi, và tôi cũng chính là họ. Sau lưng chúng tôi là một quê hương đã và đang xa. Và trước mặt chúng tôi là một quê hương muộn màng đang gần. Như người tình cuối cùng trong đời, quê hương đó sẽ ở lại mãi mãi với tôi.</p>
<p>Những chuyến xe bart cho tôi cái cảm tưởng tôi đang bắt đầu là người của vùng đất này. Cũng như tôi, một người đến từ Việt Nam, những người da mầu kia đến từ Mễ Tây Cơ, Nhật Bản, Ấu châu, Trung quốc, Đài Loan, Đại Hàn, Phi Luật Tân, Ần Độ, Pakistan, Trung Đông, Phi châu,&#8230; Chúng tôi trộn vào nhau, quết vào nhau trong một mẻ bột. Chúng tôi trang trí cho một đất nước vĩ đại thứ màu sắc chủng tộc, mang đến sức lao động và trí óc của những sắc dân còn tươi mát vẻ lãng mạn của những vùng đất hoang dã, những trái tim khao khát mới lạ. Và sau cùng là tự do. Tự do, tiếng réo gọi của những chuyến đi.</p>
<p>Và chính ở đây, tôi đang bắt đầu có thêm những người bạn mới. Nguyễn Hữu Liêm, Lê Thị Thấm Vân, Quế Hương, anh chị Nguyệt Cầm-Peter Zinoman,&#8230; Căn nhà của Nguyệt Cầm và Peter ở Berkeley nhỏ mà gọn. Mấy tủ sách dựa tường, ở phòng khách và phòng ăn treo nhiều tranh của các họa sĩ Việt Nam trong nước, những bức tranh đẹp. Nguyệt Cầm có giọng nói nhẹ, êm và rất ngọt. Có lần họp mặt ở nhà Vũ Huy Quang, tôi còn được dịp nghe chị đàn và hát, một tiếng hát còn tươi như cá vừa vớt từ dưới ao lên, nhưng là một tiếng hát tràn ngập hơi thở của một trái tim. ..</p>
<p>Tôi quen Bart sau khi đã có thêm những người bạn mới. Và giờ đây là người thanh niên da đen tên Randy.</p>
<p><b>2. </b></p>
<p>Mấy tuần sau, những ngày thứ Năm, mỗi khi xe dừng ở trạm Union City, tôi bất chợt nhớ anh. Có những người, ta chỉ gặp một lần và ta không muốn gặp thêm một lần nào nữa. Và ngược lại. Tôi nghĩ có thể Randy đang ngồi ở một toa khác. Hoặc có thể anh đi vào một chuyến khác. Cũng có thể anh chỉ là người một lần tình cờ lên xe bart. Ở vùng này, con đường từ San Jose đi Oakland, Berkeley hay đi San Fran, người ta chọn cách tự lái xe hơn là chọn đi bart. Tôi có cảm tưởng bart là phương tiện di chuyển chỉ dành cho những người ngại lái xe, người da mầu và&#8230;.. người nghèo.</p>
<p>Cho đến một ngày giữa tháng Hai vừa qua. Đúng ra là ngày 14 tháng Hai. Một ngày thứ Năm. Vừa bước lên xe ở trạm Fremont, tôi nhận ngay ra anh. &#8220;Hello, Randy!&#8221; tôi nói. Người thanh niên da đen đang cúi xuống trang sách đặt trên đùi, ngẩng đầu lên.</p>
<p>&#8220;Chào! May quá. Tôi đang có ý gặp ông.&#8221;</p>
<p>Tôi ngồi xuống cạnh anh, mở ba lô kéo ra cuốn Testaments Betrayed của Milan Kundera.*</p>
<p>&#8220;Anh vẫn đọc cuốn The Unwanted phải không?&#8221;</p>
<p>&#8220;Thì The Unwanted đó. Tôi đọc chậm lắm. Chỉ đọc khi đi xe thôi. Ở nhà nhiều việc, không có thi giờ đọc. Còn ông?&#8221;</p>
<p>Tôi nói về cuốn sách của Kundera, cuốn sách ở cuối phần ba Improvisation in Homage to Stravinsky giải mã cho tôi những ẩn số của một người cầm bút không còn ở trong nước [lưu vong, tị nạn, hải ngoại?]. Dưới tiểu tựa Số Học Của Sự Di Tản**, Milan Kundera viết: &#8220;Cuộc sống của một người di tản, là một vấn đề số học.&#8221; Và ông nhắc tới Joseph Conrad bằng những con số: sống 17 năm ở Ba Lan, và 50 năm còn lại của đời ở Anh. Ông sáng tác bằng tiếng Anh, đề tài Anh, tính chất Ba Lan nơi ông không còn nữa, ngoại trừ sự dị ứng chống Nga của ông, sự thù ghét của ông đối với Dostoyevsky; Vladimir Nabokov sống 20 năm ở Nga, 21 năm ở châu Ấu, [ở Anh, ở Đức và Pháp], 20 năm ở Mỹ, 16 năm ở Thụy Sĩ. Ông sử dụng Anh ngữ trong viết lách. Mặc dù tiểu thuyết của ông có nhiều nhân vật Nga, ông vẫn luôn luôn tuyên bố mình là công dân Mỹ, và là nhà văn Mỹ. Kundera cũng nhắc tới tên một vài tác giả mà tôi chưa hề nghe bao giờ: Kazimierz Brandys, sống 65 năm ở Ba Lan, năm 1981 định cư ở Paris sau vụ đảo chính của Jaruzelski. Ông chỉ viết bằng tiếng Ba Lan, về đề tài Ba Lan, tuy nhiên sau năm 1989, dù không còn lý do chính trị để ở lại nước ngoài, ông vẫn không trở về Ba Lan. Gombrowicz một tác giả khác, đã sống 35 năm ở Ba Lan, 23 năm ở Argentina, 6 năm ở Pháp. Tuy nhiên ông chỉ viết bằng tiếng Ba Lan, và các nhân vật trong tiểu thuyết của ông đều là Ba Lan. Năm 1964, trong thời gian ở Berlin, ông được mời về Ba Lan. Ông đắn đo, rồi cuối cùng từ chối. Khi ông chết, hài cốt ông được chôn ở Vence, miền nam nước Pháp.</p>
<p>Tại sao Gombrowicz từ chối không về Ba Lan, dù chế độ cộng sản của Ba Lan đã phân rã, và hầu hết những người hoạt động văn hóa đã tham gia phe đối lập.</p>
<p>Những người cầm bút di tản [lưu vong, tị nạn hay hải ngoại] của chúng ta, theo cách nói của Kundera, mà những điều kiện chính trị và văn hóa khác người Ba Lan hay người Nga, nhưng cũng có thể có một mẫu số chung là ngoài nỗi đau khổ nhớ tới quê hương, chúng ta còn thêm một nỗi đau khác, lớn hơn, nỗi đau khi gặp lại, nhìn lại quê hương sau bao nhiêu năm xa cách, nhận ra những gì trước đây gần gũi thân mật và giờ đây bỗng trở nên xa lạ, lạnh lẽo, trong khi vùng đất và con người xa lạ mà ta ngỡ ngàng khi mới đặt chân đến định cư giờ đây ngày càng gần gũi gắn bó, thân mật.</p>
<p>Đâu là lý do đích thật của sự từ chối trở lại quê hương của Gombrowicz. Chắc không phải là lý do chính trị. Đó là vấn đề con người, sự đụng chạm vào cái phần sâu xa nhất của trái tim. Sự từ chối trở lại quê hương của Gombrowicz là điều ông không thể thổ lộ được. &#8220;Có những điều [người ta] chỉ có thể [dùng ngôn ngữ của sự] nín lặng.&#8221;***</p>
<p>Randy ngồi im lặng nghe tôi nói, và nhìn đôi mắt anh tôi biết anh có vẻ như chẳng hiểu tôi ba hoa cái gì. Đột nhiên anh hỏi:</p>
<p>&#8220;Thế ông đã về nước lần nào chưa?&#8221;</p>
<p>&#8220;Có, một lần, vào năm ngoái. Đó là lần đầu tiên sau 17 năm xa quê của tôi.&#8221;</p>
<p>&#8220;Vậy là ông nghĩ khác ông Gombrowicz phải không?&#8221;</p>
<p>&#8220;Mỗi người có một cách của nhìn cuộc sống khác nhau. Tôi nghĩ Milan Kundera nói đúng.&#8221;</p>
<p>&#8220;Tôi không hiểu Milan Kundera. Ông nhà văn đó phức tạp quá. Tôi chỉ muốn biết ông nghĩ sao sau khi về Việt Nam?&#8221;</p>
<p>&#8220;Tôi thấy mình xa lạ. Tôi nôn nao, hồi hộp. Tôi đã chảy nước mắt khi bước xuống phi trường Tân Sơn Nhất. Tôi đã về thăm mộ mẹ tôi, cha tôi và anh tôi. Tôi đã đứng trước căn nhà của tôi, giờ đây đã có người chủ mới. Tôi lạc lõng trên con đường phố mà xưa kia quen thuộc thân mật với tôi biết là chừng nào.&#8221;</p>
<p>Câu chuyện giữa tôi và Randy còn dài, mãi tận đến Richmond là nơi cả tôi và anh không ai muốn đến.</p>
<p><b>3. </b></p>
<p>Anh/chị ở San Jose đã lâu, hay vừa mới tới, có bao giờ đi xe BART chưa? Nếu chưa, tôi nghĩ anh/chị nên đi một lần cho biết. Xe bart có vẻ gần với xe metro. Ga xe bart ở Fremont không rộn rịp như các ga metro ở Paris. Có vài nơi xe bart chui qua hầm, nhưng phần lớn xe bart đi giữa những gò cao. Ban đêm từ phía bắc Richmond trở về Fremont, anh/chị có thể nhìn thấy những thành phố sáng đèn ở phía dưới: Bay Fair, Hayward, Union city,&#8230;</p>
<p>Suốt hai mùa đi xe bart lên xuống Fremont &#8211; Berkeley , tôi khám phá ra giai cấp của những người đồng hành: Rất ít người da trắng, người da màu chiếm đa số, đặc biệt là người da đen và nâu. Da vàng cũng vừa thôi. Càng về tối, xe càng vắng. Đôi lần, tôi thấy hình như&#8230; chỉ có một mình mình ngồi giữa toa tàu trống trơn.</p>
<p><b>Tiểu thuyết lịch sử, tại sao? </b></p>
<p>Nhà văn Hoàng Khởi Phong vừa gửi đến người đọc phần một bộ trường thiên tiểu thuyết Người Trăm Năm Cũ phần một, gồm hai cuốn Trên núi Đồi Yên Thế I và II, dài 866 trang. Tác giả cho biết sẽ in tiếp Người Trăm Năm Cũ III và IV vào năm 2003. Tính về lượng, kể từ cuốn đầu tay: tập thơ Mặt Trời Lên in năm 1967, cho đến nay Hoàng Khởi Phong đã ấn hành 15 tác phẩm gồm thơ, tập truyện, hồi ký, truyện dài, ký sự nhân vật&#8230;. Với bộ sách này anh hứa hẹn với người đọc một cuộc chạy nước rút: vượt qua chiều dài của Sông Côn Mùa Lũ và Mùa Biển Động của Nguyễn Mộng Giác. Hoàng Khởi Phong viết khỏe, thử bút qua nhiều thể tài và đặc biệt ông có một ngòi bút trơn tru. Dù viết dưới bất cứ thể loại nào, tác giả cũng lôi cuốn người đọc bằng một văn phong hực lửa. Hoàng Khởi Phong thở trên từng trang chữ, chạy marathon trên từng cây số.</p>
<p>Sau Hoàng Khởi Phong, nhà văn Nam Dao cũng chuẩn bị in Đất Trời, tiểu thuyết do nhà Văn Mới xuất bản. Trong vòng hai năm qua, Nam Dao đã liên tục gửi đến người đọc các tác phẩm, không những được viết từ một ngòi bút nặng chất văn học mà còn là một trong số ít tác giả hải ngoại quan tâm tính tư tưởng trong nội dung và cách viết của mình. Hai tác phẩm mới đây của ông, Trong Buốt Pha Lê (tập truyện) và Khoảng Chơi Vơi (truyện và ký) do nhà Thi Văn xuất bản, Nam Dao đã bày tỏ quan điểm của mình trong sáng tác: &#8220;Trong một thế giới mở, người viết ở vị thế một di dân, tuy đèo bồng nền văn hóa của sắc tộc mình nhưng không bắt buộc cứ phải lập lại và khép kín trong những sắc thái và tình tự đặc thù cá biệt. Văn chương chỉ vượt lên tầm nhìn khái quát khi đối tượng khái quát. Đó là con người ở những điểm chia chung với nhau về thân phận. Nhìn rộng ra và đi sâu vào những mảnh đời của những sắc dân chung quanh ta là một hướng văn học đáng trân trọng.&#8221;</p>
<p>Vấn đề đặt ra ở đây là sau Sông Côn Mùa Lũ của Nguyễn Mộng Giác là Người Trăm Năm Cũ của Hoàng Khởi Phong, và bây giờ là Đất Trời của Nam Dao &#8230; đều là những tiểu thuyết lịch sử.</p>
<p>Tại sao tiểu thuyết lịch sử? Thứ tiểu thuyết mà trước đây không lâu các nhà phê bình và những nhà văn hiện đại đã gần như bỏ quên nó. Tiểu thuyết lịch sử đã đi vào quá khứ như Hoàng Lê Nhất Thống Chí đã thuộc về một thời đại không còn là của chúng ta. Người cầm bút đương đại không thể không gắn bó với đề tài của cuộc sống hiện nay. Chọn đề tài quá khứ là một cách lẩn trốn hiện tại, lẩn trốn những vấn đề mà mỗi chúng ta bắt buộc phải chạm mặt hàng ngày.</p>
<p>Mặc dù ai cũng biết viết tiểu thuyết lịch sử không phải là viết lịch sử, người đọc khó tính luôn luôn soi mói vào những chi tiết (có thật không? có đúng không?) Các nhà văn hậu hiện đại không chia sẻ quan điểm này. Viết đòi hỏi trí tưởng tượng. Tiểu thuyết là những điều &#8220;bịa như thật&#8221; (ai đã nói thế?). Viết tiểu thuyết lịch sử yếu tố tưởng tượng càng phải mạnh hơn. Nhà văn Anh A.S. Byatt cho rằng trong khi đương đầu với các đề tài lịch sử, &#8220;nhà văn có toàn quyền sáng tạo ra quá khứ mộng tưởng theo ý họ từ những chi tiết khác thường về tên họ, biến cố và nơi chốn. Nếu chúng ta không biết, chúng ta có quyền phát minh và mọi thứ đều được phép.&#8221;</p>
<p>Thử đọc lại Nguyễn Huệ qua Nguyễn Huy Thiệp, Nguyễn Mộng Giác, Trần Vũ để khám phá ra cái khác biệt của lịch sử và tiểu thuyết lịch sử. Hơn lúc nào hết, những năm gần đây, tiểu thuyết lịch sử đã có chỗ đứng của nó. Đừng quên giải Pulitzer năm 2001 về tiểu thuyết vào tay Michael Chabon với The Amazing Adventures of Kavalier and Klay là một cuốn tiểu thuyết lịch sử. Trước đó, nhiều nhà văn tên tuổi Mỹ cũng đã chọn đề tài lịch sử cho tiểu thuyết của mình. Như Toni Morrison với Paradise; Don Delillo với Underworld; Russell Banks với Cloudsplitter&#8230;****</p>
<p><b>Mai Trung Tĩnh, Như Thế </b></p>
<p>Mai Trung Tĩnh làm nhiều thơ, nhưng bài thơ mà tôi thuộc nhất là bài (tựa là gì?) có mấy câu như sau:</p>
<p><i>Khi nào em mệt m</i><i>ỏ</i><i>i<br />
Thì xin em hãy cầm lấy tay anh<br />
Ầy con đường đưa em tới<br />
Vùng mây trời biển xanh<br />
Khi nào em tội lỗi<br />
Mời em hãy giẫm lên đời anh<br />
Đừng quên anh đã có thừa ô nhục<br />
Và nơi đây cũng không còn thần linh<br />
&#8230;<br />
Khi nào em tuyệt vọng<br />
Thì xin em hãy cầm dao giết anh<br />
Vì anh như tấm gương soi đối mặt em đó<br />
Vỡ một lần cho xong. </i></p>
<p>Bài thơ ghi được bằng trí nhớ trên đây là một bài thơ đã được phổ thành nhạc, và trí nhớ của tôi không hoàn toàn bảo đảm sự toàn vẹn nguyên chất của bài thơ. Nhưng mới đây, ngày 20 tháng Hai, 2002, ngày Mai Trung Tĩnh chia tay với chúng ta mãi mãi, tại Catonsville, Maryland, nhà báo Phạm Trần ở Hoa Thịnh Đốn đã viết một bài về giấc mơ của anh, giấc mơ muốn in một tập thơ để lại cho vợ con, bạn bè và cho đời trước khi ra đi. Tập Thơ Mai Trung Tĩnh gồm 73 bài thành hình nhờ công sức của bằng hữu. Tôi không có tập thơ trong tay, nhưng bài viết của Phạm Trần cho tôi cơ hội có được bài thơ sau cùng của anh, bài Như Thế viết tại Annapolis năm 1995 là năm ông mới vừa tới định cư tại Hoa Kỳ.</p>
<p><i>Vẫn mây trời như thế<br />
Nắng vẫn như thế<br />
Gió và mưa như thế<br />
Nhưng ta không còn phải sống những giây phút như thế<br />
Thành phố ta ở không như thế<br />
Những bộ mặt quanh ta không như thế<br />
Ngôn ngữ ta nghe và báo ta đọc không như thế<br />
Ấm nhạc ta nghe cũng không bị nghe như thế<br />
Và những giấc ngủ của ta<br />
Những giấc mơ của ta<br />
Không còn bị như thế<br />
Duy có một điều<br />
Trong chỗ sâu kín nhất của lòng ta<br />
Ta cảm thấy vẫn còn như thế<br />
Có lẽ mãi còn nguyên như thế. </i></p>
<p>NGUYỄN XUÂN HOÀNG</p>
<p>* Linda Asher dịch từ bản tiếng Pháp Testaments Trahis của Milan Kundera, nxb HarperPerennial, 1995.</p>
<p>** Emigration Arithmetic. Sđd tr.93</p>
<p>*** Some things we can only leave unsaid.&#8221; Sách đã dẫn tr. 95.</p>
<p>**** Theo tài liệu của Thượng Văn.</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>&nbsp;</p>
<p><b>SỔ TAY THÁNG NĂM 2002</b></p>
<p><b>Đi tìm nguồn cội </b></p>
<p>Trong cuộc hội thảo mang tên East Coast/West Coast: Vietnamese American Writers, Poets and Performers tổ chức hôm 2 tháng Ba, 2002 tại Đại Học San Francisco State, các nhà văn trẻ Mỹ gốc Việt đã gặp gỡ trong một khung cảnh ấm áp và cảm động. Họ là những nhà văn, nhà thơ, nghệ sĩ trình diễn người Việt Nam, nhưng họ nói và viết bằng Anh ngữ. Tác phẩm của họ có khác nhau về nội dung, nhưng cùng chứa một ý nghĩa: Đi tìm nguồn cội, đi tìm câu trả lời cho câu hỏi &#8220;Tôi là ai? Tôi đứng ở đâu?&#8221;</p>
<p>Monique T.D. Trương, Mộng Lan, Andrew Lâm, Andrew X. Phạm, Nguyễn Quí Đức, Lê Thị Diễm Thúy, Trường Trần, Kiên Nguyễn, Lan Trần, và Maura N. Donahue, Nguyễn Đại Hải. là những người đang đi tìm câu trả lời đó.</p>
<p>Bài viết này, thay thế Sổ Tay tháng Năm, chỉ là một giới thiệu chung chung về một hiện tượng mới: những nhà văn Mỹ gốc Việt trong văn chương Mỹ. Để có một cái nhìn tương đối đúng đắn hơn về tác giả và tác phẩm của họ, thiết nghĩ cần nhiều bài viết khác do những người hít thở được không khí văn chương và ngôn ngữ của họ. Người viết cần một chìa khóa ngôn ngữ để mở cánh cửa đó.</p>
<p>Monique T.D. Trương, tác phẩm đầu tay The Book of Salt sẽ được phát hành năm 2003, trả lời câu hỏi là động cơ nào đã khiến cô chọn nghề viết văn, cho biết như mọi người, cô cũng muốn chọn một ngành nghề nào làm ra tiền và bảo đảm cuộc sống, &#8220;nhưng tôi không thích nghề luật sư&#8221; mặc dù cô đã tốt nghiệp luật khoa trường Đại Học Columbia 1995. &#8220;Cha tôi thường bảo tôi hãy làm nghề gì tôi ưa thích.&#8221; Chị nói, &#8220;Vì vậy bây giờ tôi đã dành toàn thời gian cho việc viết lách.&#8221; Monique Trương là một trong những tác giả trẻ Mỹ gốc Việt viết văn bằng tiếng Anh.</p>
<p>Với Andrew Lâm, một nhà báo, một nhà bình luận, tác giả nhiều truyện ngắn &#8211; thì viết là một thôi thúc. Từ hồi nhỏ ở Việt Nam, anh đã thích viết. Thuở đó anh đã từng làm thơ tiếng Việt. Nhưng sau khi tốt nghiệp Đại Học Berkeley ngành sinh hóa, Andrew Lâm quyết định đi theo con đường viết văn. Và anh đã chọn việc diễn tả suy nghĩ của mình bằng Anh ngữ.</p>
<p>Mộng Lan đơn giản hơn. Cô viết vì muốn bày tỏ cảm xúc và ý nghĩ của mình. Trước khi là nhà văn, Mộng Lan là một họa sĩ. Chọn ngôn ngữ viết vì theo cô, cách diễn tả này &#8220;chính xác hơn.&#8221;</p>
<p>Về đề tài trong tác phẩm, Mộng Lan nói rằng cô không chọn đề tài. &#8220;Chính đề tài chọn tôi. Tôi viết về những gì tôi thấy và tôi cảm, những gì xảy ra quanh tôi, những gì chạm đến tôi.&#8221;</p>
<p>Tập thơ đầu tay của Mộng Lan, Song of the Cicadas (Khúc Hát của Những Con Ve Sầu). Cô nói &#8220;Một cách nào đó, trong tác phẩm đầu tay này của tôi, có từ 70 tới 75 phần trăm được viết từ kinh nghiệm ở Việt Nam,&#8221; kinh nghiệm mà cô có được trong sáu tháng trời giữa hai năm 1995-96. Phần còn lại của cuốn sách là kinh nghiệm sống của cô trong những tháng năm ở Vùng Vịnh này.</p>
<p>Trong tác phẩm của những người trẻ nói trên, người đọc vẫn như còn ngửi được mùi hương khói, tro tàn của cuộc chiến Việt Nam, vẫn còn mang nặng dấu vết, hơi hám, nỗi đau của cuộc chiến Việt Nam. Chiến tranh Việt Nam như một lớp mây, một lớp mù sương bao trùm những trang chữ của họ.</p>
<p>Hình ảnh những nhà văn trẻ Mỹ gốc Việt này được miêu tả như một con người đứng giữa hai thế giới. Viết với họ là đi tìm lại bản sắc của mình. Một mặt họ sống và trưởng thành trên đất Mỹ, hấp thụ nền văn hóa Hoa Kỳ, trong khi đó họ vẫn sống giữa một gia đình còn nặng quá khứ trong phong tục tập quán, trong lời ăn tiếng nói, trong liên quan xã hội.</p>
<p>&#8220;Tôi là ai?&#8221; Có thể là câu hỏi thường trực của họ.</p>
<p>Với Monique Trương, The Book of Salt là câu chuyện về một người trẻ tuổi Việt Nam sống ở Paris vào cuối thập niên 1920. Anh nhận làm bếp và sống trong nhà bà Gertrude Stein, một văn sĩ người Mỹ lưu vong trong thời kỳ &#8220;Lost Generation&#8221; cùng với nhà văn Ernest Hemingway. Đây là thời gian bà Gertrude Stein sống với người yêu của bà ta là Alice B. Toklas.</p>
<p>Trong tác phẩm này, Monique viết lý do tại sao người đàn ông kia đã rời Việt Nam ra đi và vì sao anh ta quay về lại cố hương. Ý tưởng xây dựng tác phẩm này, cô cho biết được gợi từ một cuốn sách dạy nấu ăn của bà Toklas.</p>
<p>Monique Trương cho biết cô không chọn đề tài chiến tranh cho cuốn sách đầu tay của cô. &#8220;Tôi chỉ muốn qua tác phẩm này đưa ra một câu hỏi: chiến tranh là gì mà khiến cho một người phải bỏ nước ra đi, và bỏ lại sau lưng gia đình (nhà cửa). Với cuốn sách này, tôi muốn dùng trí tưởng tượng vẽ lại khung cảnh đầy xúc động trong đó chiến tranh không phải là yếu tố chính tác động lên tình cảm và quyết định của con người.&#8221;</p>
<p>Andrew Lâm thì khác. Anh cho biết mặc dầu rời Việt Nam lúc mới 11 tuổi, anh đã lớn lên trong một gia đình quân nhân, đã từng nhìn thấy sự đỗ vỡ tan nát và tro than của cuộc chiến.</p>
<p>&#8220;Ta không thể nào chối bỏ được quá khứ, muốn vươn lên khỏi dĩ vãng ta phải luôn luôn học hỏi quá khứ.&#8221;</p>
<p>Anh chọn đề tài nào đập vào cảm xúc anh mãnh liệt nhất, như mối quan hệ Việt-Mỹ vốn tác động lên cuộc sống cá nhân mỗi người Việt Nam.</p>
<p>Andrew X. Phạm, với Catfish and Mandala, viết theo thể loại non-fiction, anh đã mở toang cánh cửa ngôi nhà của mình ra trong một thái độ can đảm hiếm thấy trong loại hồi ký tiểu thuyết &#8211; nếu có thể tạm gọi như vậy &#8211; của một người viết trẻ tuổi Việt Nam. Cuốn sách của anh như một cơn lốc lôi cuốn người đọc vào một cuộc hành trình đầy hứng thú. Sức mạnh của tác phẩm này là chất liệu cuộc sống. Nhưng vẫn là câu hỏi chưa được trả lời: tôi là người Việt hay tôi là người Mỹ?</p>
<p>Theo Mộng Lan vấn đề bản sắc không đặt ra với cô. Cô nói &#8220;khi ở Mỹ tôi coi mình là người Mỹ, khi về lại Việt Nam tôi là Việt Kiều. Ở California, tôi là dân Cali. Chuyện rất là giản dị. Việt Nam là đất nước nơi tôi chào đời, còn nước Mỹ là nơi tôi lớn lên. Tôi chịu nợ cả hai xứ sở này.&#8221;</p>
<p>Những bài thơ của Mộng Lan, Trường Trần, Andrew X. Phạm, Kiên Nguyễn (The Unwanted) và Lan Cao (Monkey Bridge), Đinh Linh (Fake House), Lại Thanh Hà&#8230; ở Mỹ; và tiểu thuyết của Kim Lefevre (Métisse Blanche), Linda Lê (Les Trois Parques) ở Pháp&#8230; là những nụ hoa mới nở trong vườn văn chương Mỹ và văn chương Pháp.</p>
<p>Nhưng trường hợp của Nguyễn Quí Đức là một ngoại lệ, là một sự ngạc nhiên thích thú và là một khao khát khó đạt. Anh là một người đa dạng và tài hoa: nhà báo, nhà phát thanh, nhà văn viết bằng hai ngôn ngữ Việt và Anh, dịch giả Behind the Red Mist của Hồ Anh Thái, tác giả hồi ký Where the Ashes Are &#8211; và nhiều truyện ngắn viết bằng tiếng Việt của anh đăng trên các tạp chí văn chương tại hải ngoại như Văn, Văn Học, Hợp Lưu.</p>
<p>Với những tác phẩm viết bằng Việt ngữ &#8211; ngoài nước với 2 triệu dân, và có lẽ kể cả trong nước với trên 80 triệu dân &#8211; cái readership của các tác giả có vẻ như chỉ dừng lại ở con số 500 hay 1,000.</p>
<p>Viết bằng ngôn ngữ Anh hay Pháp, người ta dễ hiểu cái readership ấy rộng lớn hơn nhiều. Một tác phẩm được nhiều người đọc bao giờ cũng là niềm vui của tác giả. Người ta không in sách để bỏ vào một xó. Bởi vì không gì buồn hơn một cuốn sách in ra trong 5 năm trời không bán quá 1,000 cuốn.</p>
<p>Tác phẩm của những người trẻ này cho thấy cơ may cái vòng readership rộng lớn, mà còn cho thấy một hội nhập nhanh chóng của người Việt trên vùng đất mới: chưa kịp bước qua một phần tư thế kỷ, văn chương Việt Nam hải ngoại đã nhảy qua ba giai đoạn: viết về quê hương, tù đày, khốn khó, hoài niệm, quá khứ bằng tiếng Việt; chuyển dịch [chuyển ngữ?] những trang chữ tràn ngập dĩ vãng sang Anh ngữ [Pháp ngữ]; và giờ đây, chính những người trẻ tuổi này đã viết thẳng từ trái tim của họ ngôn ngữ của dân tộc mà họ đang sống với.</p>
<p>Nhưng liệu có thể gọi những tác phẩm của những người trẻ tuổi Việt Nam này viết bằng thứ ngôn ngữ không phải của mẹ đẻ &#8211; dù đề tài của nó vẫn là Việt Nam, nhân vật Việt Nam, khung cảnh Việt Nam &#8211; là văn học Việt Nam?</p>
<p>Nhà văn Nguyễn Quí Đức cho rằng tuy viết bằng Anh ngữ, nhưng linh hồn, tinh thần vẫn còn mang ảnh hưởng của văn hóa và lịch sử đất nước, vẫn còn gần gũi với kinh nghiệm người đi trước. Chỉ khác là họ dùng hư cấu để nói lên kinh nghiệm, thay vì dùng tự truyện hay hồi ký, và do đó đem vào tác phẩm một khả năng phổ cập. Chính những tác giả có quyền chọn chỗ đứng cho chính mình.&#8221;</p>
<p>Trước đây vào thập niên 50, Cung Giũ Nguyên, tác giả Le Fils de La Baleine, là một nhà văn được biết ở Pháp và ở những nước nói tiếng Pháp. Cũng giống như vậy cho Phạm Duy Khiêm, tác giả Légendes des Terres Sereines. Trong văn học Việt Nam, người ta không ghi danh hai ông vào danh sách nhà văn Việt Nam.</p>
<p>Cao Hành Kiện, Nobel Văn Chương, tác giả Linh Sơn, viết bằng tiếng Hoa, nhưng khi ông nhập tịch Pháp, viết bằng tiếng Pháp, giải Nobel trao cho ông như trao cho một nhà văn Pháp; trường hợp Nobel Văn Chương V.S. Naipaul cũng tương tự. Ông đã mang danh dự về cho nước Anh, không phải cho xứ Trinidad của ông. Và như thế cho Amy Tan (The Joy Luck Club), cho Maxine Hong Kingston (The Woman Warriors), cho Henry Wang (The Golden Child). họ đâu phải là nhà văn Trung Quốc. Họ là những nhà văn Hoa Kỳ trong dòng chính của văn học Mỹ.</p>
<p>Họ đã nhập vào đất nước họ đang sống, suy nghĩ bằng thứ ngôn ngữ của người bản xứ, phản ứng như một người Mỹ &#8211; hay một người Anh hoặc Pháp &#8211; tác phẩm của họ cho dù là một cuộc du hành trở về nguồn cội, tìm lại một quá khứ mà họ chưa có, có chăng chỉ là một nỗi đau ngay từ gia đình bơ vơ những ngày trên đất mới, và sự hội nhập của gia đình và chính họ.</p>
<p>So với các nhà văn Trung Quốc, Ần Độ hay Nhật Bản viết bằng Anh ngữ hiện nay, có thể các nhà văn trẻ Mỹ gốc Việt chưa đủ trọng lượng, vài người còn bị nặng hình thức và kỹ thuật diễn tả, có những bước dọ dẫm, nhưng đã sao, họ còn trẻ, còn nhiều hứa hẹn. Họ là những nhà văn Mỹ đang bước vào dòng chính của văn học bản xứ, bằng thứ ngôn ngữ phổ biến và được đọc nhiều nhất hiện nay trên thế giới.</p>
<p>Dù sao, họ đang đóng góp vào văn học Hoa Kỳ những tiếng nói mới. Liệu tiếng nói ấy có được nghe? Liệu văn chương của họ có chiếm lĩnh những chỗ đứng đặc biệt trong thế giới chữ nghĩa vốn mỗi ngày mỗi tháng mỗi năm tràn ngập những đầu sách của những người viết mới tài năng và sâu sắc? Sự tồn tại của tác phẩm họ cần được thử thách qua ngọn lửa thời gian. Nó đòi hỏi không chỉ là lòng đam mê chữ nghĩa mà còn tài năng của họ. Nếu không, những tác phẩm ấy rồi cũng sẽ nhanh chóng rơi vào quên lãng.*</p>
<p>NGUYỄN XUÂN HOÀNG</p>
<p>* Tạp chí Văn hiện đang chuẩn bị làm một số đặc biệt về những nhà văn Mỹ gốc Việt với các tác giả nói trên (cùng với Lan Cao, Đinh Linh,&#8230;) qua sự điều hợp của nhà văn Nguyễn Quí Đức.</p>
<p>&nbsp;</p>
<p><b>SỔ TAY sáu &amp; bảy, 2002</b></p>
<p><b>Phạm Duy và vết thương di tản </b></p>
<p>Như những người cùng lứa tuổi, tôi ưa thích nhạc Phạm Duy, trước khi yêu thích nhạc Trịnh Công Sơn. Tôi nghĩ, trước khi nổi tiếng với những ca khúc của chính mình, Sơn cũng là một người yêu nhạc Phạm Duy. Thế hệ của anh tôi, theo kháng chiến chống Pháp, chắc chắn là thế hệ của những người chọn con đường ra chiến khu một phần cũng vì âm nhạc của ông.</p>
<p>Nhưng tôi có thêm một lý do để nhớ đến ông nhiều hơn các bạn tôi một chút vì cho đến năm 1972 &#8211; không nhớ chắc là năm 72 hay 70, cái năm mà nhà văn Ngô Thế Vinh cũng ra hầu tòa vì một bài báo của anh &#8211; tôi bị phiền phức do một ca khúc của ông: Bài bà Mẹ Gio Linh.</p>
<p>Phạm Duy viết Bà Mẹ Gio Linh năm 1948. Năm 1972, sau khi Trần Phong Giao thôi tờ Văn, ông Nguyễn Đình Vượng nhờ tôi làm Tổng Thư Ký tòa soạn ở 38 Phạm Ngũ Lão. Lúc đó tạp chí Vấn Đề của kịch tác gia-giáo sư Vũ Khắc Khoan đặt trên lầu cùng địa chỉ với tờ Văn. Ông Thần Tháp Rùa khi đến tòa soạn bao giờ cũng đi ngang qua chỗ ngồi của tôi. Một lần ông hỏi tôi cho Vấn Đề một truyện. Tôi hứa. Và lần nào đi ngang qua bàn viết của tôi, ông cũng nhắc: Sao? Có truyện cho số này không? Tôi xấu hổ vì không viết được. Sau cùng, tôi quyết định nhất định phải nộp bài cho ông. Truyện ngắn Cha và Anh tôi đưa ông để đăng trên Vấn Đề &#8211; tôi nhớ hình như là số 52.</p>
<p>Một buổi chiều Mai Thảo đến tòa soạn kéo ghế ngồi trước mặt tôi hỏi Hoàng viết cái gì cho Vấn Đề mà báo bị tịch thu, đóng cửa vậy?</p>
<p>Tôi ngớ người.</p>
<p>Truyện ngắn Cha Và Anh là một hồi tưởng với nhiều hư cấu về một gia đình (tôi) bị chia cắt trong chiến tranh, và chia cắt ngay cả trong một thành phố. Một nhân vật bơ vơ mất hướng, không biết mình đi đâu, về đâu.</p>
<p>Truyện còn chép một số đoạn trong ca khúc của Phạm Duy:</p>
<p><i>Mẹ già cuốc đất trồng khoai<br />
Nuôi con đánh giặc đêm ngày<br />
Cho dù áo rách sờn vai<br />
Cơm ăn bát vơi bát đầy&#8230;<br />
&#8230;&#8230;..<br />
Nhà thì nó đốt còn đâu<br />
Khuyên con báo thù phen này<br />
Mẹ mừng con giết nhiều Tây<br />
Ra công xới vun cày cấy.<br />
</i>&#8230;&#8230;&#8230;</p>
<p>Ông Khoan gặp tôi một tuần sau không vui. Tuy vậy, ông cũng tỏ vẻ lo cho tôi. &#8220;Anh có sao không? Có bị gì không?&#8221; Thưa anh, tất nhiên là có. Em phải hầu tòa đây.</p>
<p>Đó cũng là thời gian mà Ngô Thế Vinh cũng từ Biệt Đoàn 81 Biệt kích Dù về hầu tòa vì bài báo Mặt Trận Ở Sài Gòn của anh.</p>
<p>Nhưng tôi đâu chỉ dính với ông Phạm Duy chỉ chừng đó thứ. Những ca khúc sau này của ông, những bài Bình Ca (Dường Như Là Hòa Bình,Sống Sót Trở Về, Ngày Sẽ Tới&#8230;) cũng làm tôi ray rứt mãi.</p>
<p>Tôi ngạc nhiên về những bài Tục Ca,Vỉa Hè Ca của ông cùng đi với Đạo Ca, Bé Ca, Nữ Ca của ông. Ông Phạm Duy đa tài, đa dạng và là một người giàu có về âm thanh. Ông mơ mộng hơn những người lãng mạn nhất, nhưng ông cũng là người thông tục hơn những người thông tục nhất. Ông có nhiều tiếng nói cho nhiều hoàn cảnh.</p>
<p>Ông là một trong số ít nhạc sĩ &#8220;sống&#8221; và &#8220;mạnh&#8221; không phải là thứ nghệ sĩ ẻo lả của bàn đèn và khói thuốc. Nhạc của ông được nhiều thế hệ hát và hát khắp nơi. Nhạc ông được nhiều người nhớ và nhớ bằng những kỷ niệm đặc biệt. Nhạc ông được hát với một trái tim sôi nổi, nhưng cũng được hát với một nỗi buồn cùng cực. Nhạc ông có nước mắt. Và cũng được hát với một nụ cười.</p>
<p>Thế gian có những thứ tình cảm nào, ông đều cho người ta cơ hội bày tỏ thứ tình cảm đó.</p>
<p>Nhưng tôi biết không phải ai cũng bằng lòng ông.</p>
<p>Có người nhìn ông như một tài năng hư hỏng. Có người bảo sau những ca khúc phổ thơ từ Huy Cận, Phạm Thiên Thư, Nguyễn Tất Nhiên, ông không còn để lại gì cho âm nhạc Việt Nam.</p>
<p>Tôi ngờ những người ấy sống bằng thành kiến.</p>
<p>Không người Việt Nam nào có thể quên ơn Phạm Duy.</p>
<p>Để soi sáng giá trị và ý nghĩa. của một tác phẩm nghệ thuật &#8211; một cuốn tiểu thuyết, một bức tranh, một nhạc phẩm &#8211; người ta thường qui chiếu về tác giả, về đời tư của người nghệ sĩ . Người ta nghĩ &#8211; cũng có lý thôi &#8211; giữa tác phẩm và tác giả chắc chắn phải có một mối giây nhân quả. Tác phẩm là sản phẩm của nghệ sĩ, nó tất yếu phải mang dấu ấn, hơi thở, đời sống, ý nghĩ của người sáng tạo.</p>
<p>Người ta đọc Kiều của Nguyễn Du và người ta đi tìm tiểu sử của ông để hiểu Kiều. Cũng vậy, người ta xem kịch Lưu Quang Vũ, xem tranh Nguyễn Trung, nghe nhạc Trịnh Công Sơn, người ta luôn luôn đi tìm tác giả. Người ta tìm đọc &#8220;những bản thảo dở dang, những thư từ, những nhật ký, hồi ký&#8221; và qua đó họ vẽ lại chân dung người nghệ sĩ. Chính chân dung ấy đã &#8220;soi sáng&#8221; tác phẩm của họ.</p>
<p>Tôi chia xẻ &#8220;một nửa&#8221; ý kiến đó.</p>
<p>Tôi không tin là cuộc đời của một nghệ sĩ hoàn toàn làm thành tác phẩm của họ.</p>
<p>Tôi không tin là tác phẩm đang được quần chúng yêu mến kia sẽ kém đi vì tác giả có một cuộc sống xã hội &#8220;không tốt đẹp&#8221; theo ý kiến của những nhà đạo đức.</p>
<p>Tôi không tin giá trị tác phẩm sẽ bị tụt xuống khi tác giả có một cuộc sống không cân bằng với tiêu chuẩn xã hội.</p>
<p>Những điều &#8220;tôi không tin&#8221; ấy thật ra chưa đủ lý lẽ để thuyết phục người khác. Cho đến khi tôi đọc được mấy cuốn sách của Milan Kundera, một nhà văn Pháp gốc Czech.*</p>
<p>Dưới tựa đề Soixante-treize mots (Bảy mươi ba từ), phần thứ sáu của cuốn Nghệ Thuật Tiểu Thuyết, Milan Kundera viết: &#8220;L&#8217;artiste doit faire croire à la postérité qu&#8217;il n&#8217;a pas vécu&#8221;, dit Flaubert.**</p>
<p>Vẫn theo Kundera, Maupassant không cho đưa chân dung của mình vào một loạt chân dung các nhà văn nổi tiếng: &#8220;Đời tư của một người và khuôn mặt anh ta không phải là của công chúng.&#8221; Heman Broch nói về mình, về Musil, về Kafka: &#8220;Cả ba chúng tôi đều không có tiểu sử thật.&#8221;</p>
<p>Nhà văn William Faulkner muốn làm &#8220;người bị triệt tiêu, bị xóa bỏ khỏi lịch sử, không để lại bất cứ dấu vết gì, không có cái gì khác ngoài những cuốn sách đã in.&#8221; Và Kundera nhấn mạnh: Sách và để in,tức là không có các bản thảo dở dang, thư từ, nhật ký.)</p>
<p>Tôi muốn bắt chước Kundera nói theo một ẩn dụ của Kafka rằng nhạc sĩ Phạm Duy (nhà tiểu thuyết) phá ngôi nhà của mình đi, để lấy gạch xây một ngôi nhà khác: các ca khúc của ông (cuốn tiểu thuyết).</p>
<p>Từ đó đi đến kết luận là những người viết tiểu sử về một nghệ sĩ (nhà tiểu thuyết, họa sĩ, kịch tác gia, nhạc sĩ, điêu khắc gia&#8230;) là người phá dỡ những gì mà nghệ sĩ đó đã làm, để làm lại cái mà người nghệ sĩ đã phá dỡ ra. Cái công việc chõ vào đời tư của một nghệ sĩ (tài năng) là một công việc tiêu cực, thuần túy tiêu cực, nó không thể soi sáng cả giá trị lẫn ý nghĩa của tác phẩm; &#8220;may ra thì chỉ nhận dạng được vài viên gạch.&#8221;***</p>
<p>Kundera không chỉ nói một lần về vấn đề này trong cuốn L&#8217;art Du Roman, mà ông nói nhiều lần. Trong phần thứ bảy cuốn sách này, dưới tựa đề Discours de Jerusalem: Le Roman et L&#8217;Europe. &#8220;Nhà tiểu thuyết là người, theo Flaubert, muốn biến mình đi sau tác phẩm của mình. Biến mình đi sau tác phẩm của mình, điều đó có nghĩa là từ chối vai trò nhân vật xã hội.&#8221;****</p>
<p>Phạm Duy là một con người, như mọi người. Ông đã sống tận cùng đời sống của ông, ông đã hiến tận cùng những gì ông có trong trái tim ông và thân xác ông. Tôi đồng ý với Hoàng Khởi Phong, Phạm Duy không cần vinh danh, vì cái danh ấy ông đã có, người ta nên biết ơn ông.</p>
<p>Trong cuộc sống của mỗi chúng ta, rõ ràng là chúng ta nợ nần quá nhiều người. Không chỉ nợ nần công ơn sinh và dưỡng của cha mẹ ta, mà ta còn nợ nần những người làm cho cuộc sống ta tốt đẹp hơn, có ý nghĩa hơn. Ngay khi họ làm ta đau đớn vì bản chất của họ, ta cũng nợ họ, vì nhờ đó ta khám phá ra sự đa dạng của con người,khám phá ra cái bộ mặt đen tối của một con thú tưởng là người, và ta cũng khám phá ra sức chịu đựng của mỗi chúng ta.</p>
<p><b>Phạm Duy và Stravinski </b></p>
<p>Chưa thấy nhà văn nào nói về âm nhạc say mê và đầy kiến thức như Milan Kundera. Trong cuốn Những Di Chúc Bị Phản Bội, ông dành nguyên phần thứ ba Improvisation en hommage à Stravinski (Ứng tác kính tặng Stravinski) từ trang 69 đến 119 để viết về Stravinski.</p>
<p>Tôi ước gì mình có đủ kiến thức về âm nhạc để viết một chương về nhạc sĩ Phạm Duy. Nếu cuộc đời của Stravinski chia làm ba phần dài gần bằng nhau. Ở Nga, 27 năm; Pháp và Thụy Sĩ nói tiê?g Pháp, 29 năm; Mỹ, 32 năm; thì Phạm Duy cũng chia phần đời mình qua những con số tương tự: Miền Bắc 29 năm, vào Nam 25 năm, và ở Mỹ nay ông đã ở được 27 năm.</p>
<p>Kundera viết &#8220;Di tản: một cuộc lưu lạc bắt buộc ở nước ngoài đối với người coi đất nước nơi mình sinh ra là tổ quốc duy nhất của mình. Nhưng tình trạng di tản kéo dài và một sự trung thành mới đang nảy sinh, sự trung thành với đất nước mình đã nhận; bấy giờ là đến lúc cắt đứt. Stravinski dần dần từ bỏ chủ đề Nga. Năm 1922 ông còn viết Mavra (hí kịch phỏng theo Pouchkine), rồi năm 1928, Nụ Hôn Của Bà Tiên, kỷ niệm về Tchaikovski, rồi ngoài mấy tác phẩm ngoại lệ không đáng kể, ông không trở lại chủ đề Nga nữa. Khi ông mất năm 1971, Vera vợ ông, tuân theo ý nguyện của ông, từ chối đề nghị của chính phủ Xô Viết chôn ông ở nước Nga và chuyển thi hài ông đến nghĩa trang Venise.&#8221;</p>
<p>Kundera viết tiếp: &#8220;Không còn nghi ngờ gì nữa, Stravinski mang trong mình vết thương của sự di tản, như tất cả những người khác; không còn nghi ngờ gì nữa, sự phát triển nghệ thuật của ông sẽ đi một con đường khác nếu ông có thể ở lại nơi ông đã sinh ra.</p>
<p>Phần đầu của Stravinski và Phạm Duy có vẻ như trùng hợp nhau. Sự khác là ở phần cuối. Chủ đề trong âm nhạc Phạm Duy luôn luôn là Việt Nam.</p>
<p>&#8220;Tôi yêu tiếng nước tôi từ khi mới ra đời.&#8221;</p>
<p>Chủ đề ấy ở cuối đường là Minh Họa Kiều I và II. Việt Nam nhất trong những gì thuộc về Việt Nam.</p>
<p>Tôi viết những dòng chữ này như một lời biết ơn Phạm Duy.</p>
<p>Tôi không có nhiều lý lẽ để nói về âm nhạc ông. Tôi mượn nhiều lời của Milan Kundera để cám ơn ông.</p>
<p>Xin ông khỏe mãi.</p>
<p>NGUYỄN XUÂN HOÀNG</p>
<p>* L&#8217; art Du Roman, Collection Folio, 15 Novembre, 1999 và Les Testaments Trahis, Collection Folio, 18 Janvier, 2002. Bản dịch của Nguyên Ngọc, NX Văn hóa Thông tin, Hà Nội, 2001.</p>
<p>** Sách đã dẫn, trang 177. Flaubert nói: &#8220;Người nghệ sĩ phải làm cho hậu thế tưởng rằng anh ta không hề sống.&#8221;</p>
<p>*** Bản dịch của Nguyên Ngọc, sđd., tr. 156-157.</p>
<p>**** Bản dịch Nguyên Ngọc, Sđd., tr. 165</p>
<p>&nbsp;</p>
<p><b>SỔ TAY tháng 9 2002</b></p>
<p><b>Sau cùng, bạn tôi đã đến&#8230; </b></p>
<p>Sau cùng, bạn tôi, Huỳnh Phan Anh đã đến.</p>
<p>Anh là một &#8216;thành viên&#8217; trong bè lũ mấy đứa cùng thế hệ suýt soát tuổi nhau hoặc cách nhau chừng mấy tuổi, lớn lên trong một thành phố chiến tranh và văn chương. Hai thứ đó có vẻ như không ăn nhập gì nhau, nhưng quả thực là những năm sáu mươi, chúng tôi hằng ngày trong khi viết lách vẫn nghe tiếng súng nổ từ ven biên, khói lựu đạn cay trên đường phố và đôi khi đón nhận tin cái chết của bạn bè từ chiến trường bay về.</p>
<p>Ở lại quê nhà &#8211; vĩnh viễn &#8211; là Nguyễn Nhật Duật, đến trước Huỳnh Phan Anh không lâu là Nguyễn Đình Toàn, trước đó là Nguyễn Quốc Trụ và lâu hơn, trước nữa là Đặng Phùng Quân.</p>
<p>Chúng tôi, tưởng rằng sau cùng cả bọn có thể gặp lại nhau. Những tưởng là thế, sau 27 năm, nhưng thật ra chúng tôi nay vẫn mỗi người một ngã.</p>
<p>Cái thời mỗi buổi sáng cả bọn tụ tập la cà ở quán La Pagode, ly cà phê đen, cái bánh croissant nóng, nói đủ thứ chuyện trên trời dưới đất, không còn nữa. Khó mà tìm lại được nữa.</p>
<p>Trụ ở Canada, Quân ở Houston, Texas, Toàn ở Nam Cali.</p>
<p>Huỳnh Phan Anh, người sau cùng chân ướt chân ráo, ngày 22 tháng Bảy, 2002, đã đến bắc Cali, Thung lũng Hoa Vàng, Thung lũng Điện tử, vùng Vịnh, nơi có thành phố biển Santa Cruz, có Vịnh Nửa Vầng Trăng, gần John Steinbeck, gần Berkeley, gần San Francisco.</p>
<p>Anh đã đi một mạch từ Sài Gòn, Việt Nam đến Bắc Cali, nơi mà tôi phải đợi 13 năm sau khi đến Mỹ mới đặt chân đến.</p>
<p>Chúng tôi vừa tụ được hai người.</p>
<p>Bữa cà phê tao ngộ giữa tôi và anh là quán Starbucks, trên đường Brokaw, gần tòa soạn báo Mercury News. Cà phê Mỹ, dù là Starbucks không đủ đậm cho một người quen cà phê Việt Nam, nhưng dù sao đó vẫn là thứ cà phê uống được. Chúng tôi chọn chiếc bàn ngoài sân. Huỳnh Phan Anh hút thuốc, như những ngày còn ở Sài Gòn.</p>
<p>Chúng tôi không nói nhiều, nhưng tôi biết anh không vui.</p>
<p>Tôi có cảm tưởng nếu bây giờ ở Việt Nam chắc anh vui hơn. Bởi vì 27 năm đã qua, nhiều thói quen mới đã thành hình như một bản năng. Người ta đi đứng nói năng, ăn uống, giao tế trong một môi trường không như nơi anh vừa tới. Tôi mong cái cảm tưởng ấy sai. Nước Mỹ cũng sẽ là trạm nương thân cuối đời anh.</p>
<p>Anh đến Mỹ âm thầm, tôi không hay biết.</p>
<p>Gia đình anh ở đây. Chị và em của anh. Con gái và con trai của anh. Mỗi người đều ở đây từ lâu, nhiều năm trước khi tôi đến Mỹ. Tất cả đều có công ăn việc làm.. Tôi nghĩ, cũng như tôi, anh là người may mắn. Cách đây 16 năm, từ Bataan, Phi Luật Tân đặt chân xuống Virginia, tôi cũng đã chọn sự âm thầm đó. Tôi hiểu bạn tôi. Chuyện đâu có gì mà phải ầm ĩ!</p>
<p>Tôi biết cái nước Mỹ mà tôi đang sống, không phải là một xứ sở toàn hảo. Làm gì có sự toàn hảo trên cõi đời này! Nhưng tôi biết đây là một đất nước mà tôi mơ ước được tới, một nơi tôi có thể nương thân trong khi quê hương ruồng bỏ tôi.</p>
<p>Tôi nhớ ngày đầu tiên tôi đến xứ sở này là một ngày mùa đông. Thành phố Falls Church, Virginia. Tuyết trắng xóa dọc đường đi. Lạnh buốt. Và những ngày đầu tiên buồn nẫu ruột. Buồn hơn những ngày còn ở ngôi làng tị nạn Bataan, Phi Luật Tân, nơi suốt ngày tôi không biết làm gì hơn là quanh quẩn vùng chín vùng mười một, không có một tờ báo để biết tin tức, không có một cuốn sách để đọc&#8230;.Tôi sống giữa những khuôn mặt thường trực đăm đăm chờ một chuyến đi&#8230;</p>
<p>Tôi đã có hai chuyến đi. Một chuyến từ Sài gòn, và sau đó một chuyến từ Manila, Phi Luật Tân. Một chuyến đi như chạy trốn, sau nhiều lần chạy trốn bất thành. Một chuyến đi công khai với một trái tim hồi hộp. Mười sáu năm đã qua. Tôi may mắn được làm một số công việc mà tôi ưa thích. Tôi may mắn có được những người bạn tốt trên dọc đường. Nếu không may mắn, không biết bây giờ tôi sẽ ra sao?</p>
<p>Tôi muốn nói với bạn tôi là anh đang có những người thân tử tế. Những bà chị, những người em, những đứa con. Anh có đủ một cách vững chắc, những thứ mà tôi có rất mong manh trong những ngày đầu.</p>
<p>Mười sáu năm qua, tôi có học được vài thói quen của đất nước này. Nhưng còn nhiều điều tôi chưa thông, chưa biết. Tôi nghĩ là tôi chưa hội nhập được vào cuộc sống này. Và có lẽ sẽ không bao giờ tôi hội nhập được một cách toàn diện. Tôi nghĩ Huỳnh Phan Anh cũng thế. Nhưng đó đâu hẳn là nỗi ưu tư chính của chúng tôi.</p>
<p>Nỗi ưu tư của chúng tôi là làm sao, Huỳnh Phan Anh ngồi xuống và viết. &#8220;Viết là một cách thế từ chối thế giới tác giả đang sống, chối từ chính thân phận tác giả.&#8221; &#8220;Viết là tự mình biến thành sự vắng mặt, lùi về hư vô. Nói theo Levinas, viết là chết.&#8221; Chính Anh đã viết như thế.</p>
<p>Năm 1968, mới 24 tuổi, với tiểu luận Văn Chương Và Kinh Nghiệm Hư Vô, Huỳnh Phan Anh bằng một cách nhìn mới mẻ, đã làm chấn động giới văn nghệ Sài Gòn. Vượt lên trên cách nhìn văn chương của Tự Lực Văn Đoàn, bước qua cả quan niệm văn chương theo nhóm Sáng Tạo, Huỳnh Phan Anh, với kiến thức triết học và cách nhận thức văn học theo quan điểm tiểu thuyết mới với Nathalie Sarraute, Alain-Robbe Grillet, Michel Butor, Claude Simon,..đã thổi đến một hơi thở mới.</p>
<p>Ba mươi mốt năm sau, năm 1999, Huỳnh Phan Anh cho in tiểu luận-phê bình Không Gian Khoảnh Khắc Văn Chương, tác phẩm tập hợp những bài viết ở những thời điểm khác nhau (những năm 60-90) , tiếp cận những khoảnh khắc văn chương, &#8220;những bước chân có thể xóa đi hoặc giẫm lên trên những dấu vết của chính mình hoặc của ai đó, nhưng chung quy vẫn là những bước lang thang quanh mối ưu tư không dứt bỏ được, căn bệnh không thoát được: chữ nghĩa, cái đọc và cái viết.&#8221; Anh đã viết như thế trên những trang chữ của anh.</p>
<p>Đó là một tác phẩm &#8211; như tác giả nói &#8211; lâ? lại, khai triển, những chủ đề ông đã viết trước đó 31 năm.</p>
<p>&#8220;Hãy viết. Điều cần nhất đừng bỏ dỡ, đừng thua cuộc. Hãy ngồi lại bàn và viết, đừng nghĩ ngợi quẩn quanh, đừng thắc mắc lôi thôi.&#8221;</p>
<p>Huỳnh Phan Anh đã trở lại với bạn bè và người đọc, trở lại với Văn Chương Và Kinh Nghiệm Hư Vô, chủ đề mà anh không ngừng khai thác từ bao năm nay. Chủ đề ấy anh không chỉ ứng dụng trên André Gide, Jean-Paul Sartre, Simone de Beauvoir, Samuel Beckett, Rimbaud, Valery, Claude Simon, Yves Bonnefoy, Rene Char mà còn ứng dụng trên Tản Đà, Nhất Linh, Hàn Mặc Tử, Đinh Hùng, Hồ Biểu Chánh&#8230;.</p>
<p>Trong bài viết có tựa là Những Trang Rời, nhà phê bình Huỳnh Phan Anh đặt câu hỏi: &#8220;Phải chăng nhà phê bình trước tiên là một độc giả khốn khổ nhất, bởi hắn đánh mất tất cả, trừ trí thông minh của hắn dùng để đo lường, cân nhắc, phán đoán. Nhà phê bình đó là một độc giả chuyên nghiệp. Một khách bộ hành thông thạo luật đi đường. Một tên thợ săn lành nghề. Và nếu cần là một đao thủ phủ. Hắn đọc như một cách thế chiếm hữu và bạo động trên chính tác phẩm&#8230;&#8221;</p>
<p>Hãy tưởng tượng Huỳnh Phan Anh hạnh phúc khi anh ngồi xuống bàn viết viết lại những dòng chữ của anh trên một không gian mới.</p>
<p>Chào mừng tác giả Không Gian Khoảnh Khắc Văn Chương</p>
<p>Chào mừng cây bút tiểu luận-phê bình quen thuộc của chúng ta.</p>
<p>NGUYỄN XUÂN HOÀNG</p>
<table border="0" cellpadding="0">
<tbody>
<tr>
<td width="57%"><b>GHI CHÉP tháng 12, 2004</b><b>IRIS CHANG, TạI SAO?</b><a href="https://t-van.net/wp-content/uploads/2014/09/clip_image0042.jpg"><img loading="lazy" decoding="async" style="background-image: none; padding-top: 0px; padding-left: 0px; margin: 0px; display: inline; padding-right: 0px; border: 0px;" title="clip_image004" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2014/09/clip_image004_thumb2.jpg?strip=all&fit=244%2C126" alt="clip_image004" width="244" height="126" border="0" /></a><b>Thứ Sáu 10 tháng Mười Hai, 2004 </b></p>
<p>Người đàn ông tôi gặp trưa nay ở quán cà phê Starbucks tên B.</p>
<p>Ông và tôi quen nhau tình cờ từ hơn sáu tháng nay cũng ở quán cà phê này. Hôm nay ông ăn mặc khá giản dị, cái áo choàng lanh màu xanh đã cũ, quần màu vàng kaki hiệu Dockers hơi rộng, bàn tay ông to bè, những ngón tay ngắn và thô, móng tay dài cáu bẩn, như một người vừa làm vườn. Ông đứng xếp hàng trước tôi chờ mua cà phê.</p>
<p>&#8220;Chào ông.&#8221; Tôi lên tiếng trước.</p>
<p>&#8220;Chào!&#8221; Ông trả lời, giọng ông mệt mỏi.</p>
<p>Buổi trưa, nhiều nhân viên các cơ sở quanh vùng sau khi ăn lunch xong thường lấy cà phê trước khi trở lại sở làm. Hàng người chờ lấy cà phê khá dài. Ông B. quay mặt lại hỏi tôi hôm nay uống gì. Tôi cám ơn. Tôi nói để tôi vì tôi còn tiền trong thẻ starbucks.</p>
<p>Nhớ lần đầu gặp ông, cũng đúng vào lúc xếp hàng mua cà phê vào buổi trưa. Ông đứng sau lưng tôi và hôm đó bất ngờ ông hỏi tôi một câu bằng tiếng Anh “Xin lỗi, ông có phải là người Việt Nam không?”</p>
<p>“Phải”, tôi trả lời bằng tiếng Việt. “Tại sao” Tôi hỏi lại.</p>
<p>Ông nói mấy lần trước đi cà phê ở đây thấy tôi ngồi một mình nhưng ngại không dám hỏi sợ tôi không phải người Việt Nam. Người Việt mình ít ai uống Starbucks lắm. Cà phê Việt Nam dù gì cũng hợp gout hơn là cà phê Mỹ. Thấy tôi đeo sợi giây mang thẻ sở làm, ông hỏi, tôi làm việc gì ở sở này. Tôi nói dối, tôi làm janitor, nghiã là lau chùi bàn ghế, hốt dọn rác rến trong toà soạn. Ông nhìn tôi thương hại.</p>
<p>&#8220;Qua Mỹ hồi nào? Làm janitor sống đủ không? Vợ con ra sao?&#8221; Tôi trả lời cho qua chuyện, tôi biết mình đã lỡ nói dối không thể tiếp tục thêm. Tôi nói tôi qua Mỹ năm 1985, vợ tôi thất nghiệp cả năm nay, tôi có bốn đứa con, đứa út mới vào đại học, ba đứa kia đã có việc làm.</p>
<p>“Vẫn ở với con cái à?”</p>
<p>“Không”, tôi nói, “vợ chồng tôi sống riêng, giống như hai con khỉ già chờ ngày ra đi.”</p>
<p>“Đi đâu?” Ông hỏi.</p>
<p>Tôi cười, “thì ra đi đó mà. Ai sống mà chẳng có lúc sau cùng phải ra đi.”</p>
<p>Ông cũng cười, “nói bậy. Lương bổng sao? Đủ sống không?”</p>
<p>Ông ta nhắc lại câu hỏi.</p>
<p>Tôi nói “à thì cũng sống vậy vậy.”</p>
<p>“Qua Mỹ năm nào?” Đây là lần thứ hai ông hỏi tôi.</p>
<p>Tôi nhắc lại: Năm 1985.</p>
<p>“Mà ở thành phố này lâu chưa?”</p>
<p>“Ồ chỉ mới sáu năm thôi.”</p>
<p>“Trước ở đâu?”</p>
<p>Tôi nói trước ở Quận Cam.</p>
<p>“Hồi đó làm gì?”</p>
<p>Tôi nhắc lại: “À, thì cũng lau chùi phòng ốc, hốt rác rưới cho một toà soạn báo Việt ngữ.”</p>
<p>“Vậy sao?” Ông hỏi mà như nói.</p>
<p>Tôi hỏi lại ông, vậy chứ ông đến Mỹ từ bao giờ? Ông cho biết ông đã qua Mỹ từ trước 1975, đi du học rồi do biến cố tháng Tư 75, ông ở lại luôn. Ông hiện làm kỹ sư cho một hãng nhu liệu điện tử ở đây. Gần 10 năm sau ngày 30 tháng Tư, ông mới lo được giấy tờ cho vợ con qua, và bây giờ&#8230; ông bỏ lửng câu..”Tôi và vợ tôi không hợp nhau. Mấy đứa con đã lớn, đứa nào cũng có công ăn việc làm.</p>
<p>Tôi hiện sống một đời sống khác.”</p>
<p>Tôi muốn hỏi ông thế nào là một đời sống khác, nhưng tôi nghĩ lại, hỏi để làm gì?</p>
<p>“Ông dùng loại nào?” Tôi nghe cô thu ngân hỏi ông. Ông gọi món frappucino và quay sang nói với tôi &#8220;hôm nay không mang tiền lẻ, ông trả hộ ly nước của tôi nhé!&#8221;</p>
<p>&#8220;Không sao.&#8221; Tôi gọi một tall coffee, và như thường lệ, tôi đưa cái thẻ Starbucks cho cô thu ngân .…</p>
<p>Lấy cà phê xong, chúng tôi ra ngồi ở chiếc bàn trống ngoài sân…</p>
<p>Trời mùa đông vùng Thung Lũng năm nay lạnh hơn mọi năm. Tôi ấp hai tay vào ly cà phê. Aám. Tôi hỏi ông sao lúc này ít ra quán cà phê vậy? Ông nói hồi này ông uống cà phê Việt Nam nhiều hơn ở cái quán quen, chỗ đó thiếu chịu được. Tôi hỏi công việc của ông ông nói ông tính về hưu. Ông là người thích du lịch. Nhưng chuyện chưa tính xong, còn nhiều chuyện phải giải quyết trước khi nghỉ hưu sao cho có lợi. Ông hỏi tôi hôm nay có phải về sở lau chùi bàn ghế ngay không? Tôi nói còn sớm, tôi có thể ngồi nán thêm ít phút nữa.</p>
<p>Ông B. than hôm nay ông buồn quá.</p>
<p>“Tại sao?”</p>
<p>“Tay kỹ sư làm cùng sở tôi vốn là một tay hiền lành, bỗng nhiên hôm nay nó chửi tôi là đồ khốn nạn.”</p>
<p>“Tại sao?”</p>
<p>“Đời sống tinh thần tôi mấy lúc sau này không ổn. Tôi nhìn đâu cũng thấy người ta nói xấu tôi, âm mưu hãm hại tôi. Tôi không tin ai, cái khổ của tôi là tôi thấy chung quanh mình ai cũng ngu dốt, đứa nào cũng có ý xấu với tôi. Một câu nói bình thường của bọn nó cũng làm tôi điên đầu suy diễn ra trăm nghìn ý nghĩa thâm độc.</p>
<p>Tôi có cảm tưởng cả thế giới này đều nhắm vào tôi. Cái tay kỹ sư ấy mới qua Mỹ chưa đầy 20 năm mà giữ cái chỗ tốt trong khi tôi sống ở đây đã hơn 30 năm, ăn học đàng hoàng mà vẫn cứ còn lẹt đẹt. Nếu không phải nó bắt tay với thằng phụ tá chủ tịch công ty thì làm sao có đươc chỗ đó.”</p>
<p>Tôi hỏi ông B., hay là tay này nó có bà con họ hàng gì với ông chủ tịch công ty?</p>
<p>&#8220;Làm gì có chuyện đó. Chủ tịch công ty là người Mỹ, còn nó là người như mình, mũi tẹt da vàng mà!&#8221;</p>
<p>“Không”, ông B. tiếp, “không có bà con cô bác gì đâu. Tôi nghĩ là nó nịnh thằng manager Việt Nam, thằng này cất nhắc nó lên. Tôi biết thằng đó dốt bỏ mẹ, tài năng gì! Tôi sẽ nói cho bàng dân thiên hạ biết tay đó là một thằng dốt. Anh làm nghề hốt rác lau chùi nhà cửa thì không biết gì chuyện của những người có học như tôi đâu.”</p>
<p>Và đột nhiên, ông B. đổi đề tài:</p>
<p>“Ở Việt Nam ông ở thành phố nào?”</p>
<p>Tôi nói Sài Gòn.</p>
<p>“Hồi đó ông làm ngành nghề gì?”</p>
<p>Tôi ấp úng, “tôi làm thợ mộc. Nhà tôi có hai anh em, anh tôi là lính Biệt Động Quân, còn tôi … làm thợ mộc.” Tôi đã lỡ nói dối nên tới luôn.</p>
<p>“Còn tôi, tôi rời nước sớm quá, tôi không biết gì về tình hình đất nước những ngày 30 tháng Tư. Anh có bị tù không?”</p>
<p>“Không, thợ mộc không bị tù, nhưng tôi cũng ở tù vì tội vượt biên.”</p>
<p>“Tù ở đâu? Có cùng chỗ với ông Đại Học Máu không?”</p>
<p>“Không, tôi ở tù dưới U Minh.”</p>
<p>“Vậy là ở chỗ của ông Hương Rừng Cà Mâu chứ gì?”</p>
<p>Tôi nói tôi không hiểu ông muốn nói gì.</p>
<p>Ông cười, “anh không bao giờ đọc sách báo à?”</p>
<p>“Sách thì không, nhưng báo thì cuối tuần nào mà tôi không đọc, báo chợ bỏ đầy ở các tiệm ăn Việt Nam.”</p>
<p>Ông B. nhìn tôi, “mặt mũi anh trông không đến nổi nào mà sao không chịu học hành gì cả. Thế còn mấy đứa con của anh có học hành gì không?”</p>
<p>Tôi ậm ừ không trả lời. Tôi đang chán vở kịch tôi đang đóng.</p>
<p>Ông B. lại hỏi “lương bổng anh sao? Khá không?”</p>
<p>Tôi nói 12 đồng giờ. Cũng sống được.</p>
<p>Ông B. bỗng nghiêng qua bàn, kê sát miệng vào tai tôi thì thầm:</p>
<p>“Anh có cần tiền không?”</p>
<p>Cái miệng kinh khủng với đôi môi thâm xì, hai hàm răng vàng khè và hơi thở ông khét mùi thuốc lá làm tôi khó chịu.</p>
<p>“Tiền hả? Tiền thì ai mà không ham. Nhưng tiền ở đâu ra?”</p>
<p>Ông B. rút trong túi áo ra một tấm ảnh cắt từ một tờ báo. “Đây là thằng X. cái thằng kỹ sư ngu dốt mà tôi đã nói chuyện với anh, nó là thằng dám nói tôi là đồ khốn nạn. Tôi sẽ đưa anh một ngàn nếu anh làm nhục nó trước mặt đám đông.”</p>
<p>“Làm nhục bằng cách nào?”</p>
<p>“Anh chỉ cần chửi nó là đồ ngu, đồ dốt nát, đồ khốn nạn trước mặt đám đông ở một tiệm phở mà nó hay đến. Tôi chịu trả anh một ngàn đồng.”</p>
<p>Tôi không trả lời. Tôi nhìn ông B., ngạc nhiên hơn là khinh bỉ, khinh bỉ hơn là giận dữ.</p>
<p>Tôi đứng dậy, cầm xâu chìa khoá xe. Ông B. kéo giật tay tôi, &#8220;anh ngồi xuống đây với tôi chút nữa thôi. Tôi sẽ trả anh hai ngàn. Chịu không? Tôi đang có những ngày tháng không vui. Những ngày tháng mà bỗng dưng giữa đám bạn bè ai cũng nhìn tôi như một con quái vật mang hình dáng người. Một con quái vật trở mặt, thoắt một cái từ mặt người thành mặt thú, thoắt một cái từ cái dáng vẻ lương hảo thành tay lưu manh xảo quyệt, thoắt một cái từ sự thanh tao trở nên thô lỗ cục cằn&#8230; Con quái vật có đủ mọi thứ bề ngoài của một con người bình thường, nhưng khi nó há miệng ra tôi cho người ta thấy những chiếc răng nanh nhọn hoắc đầy máu me của mình. Con quái vật có những ngón tay cầm bút nhưng khi nhìn kỹ đó chỉ là móng vuốt của một thứ dracula đang bấu vào cổ người. Tôi vốn không tin có dracula trong đời sống này. Chẳng qua đó chỉ là sản phẩm của trí tưởng tượng. Thật ra bây giờ tôi mới biết tôi đã có một ý nghĩ sai. Thế giới chúng ta quả thật có ma quỷ. có hồ ly, có Dracula. Dracula sống trà trộn giữa chúng ta. Chúng nói cười đi đứng sinh hoạt như chúng ta. Chúng luôn luôn than van thiếu thốn nghèo túng mặc dù chúng không hề túng thiếu. Chúng thích vơ vét, bốc hốt, thích dí mũi vào đời sống người khác may ra moi móc chút đời tư để kể lại bằng giọng hả hê. Chúng giống như con dòi ngúc ngoắc từ một đống phân. Chúng đóng vai một tên có chút kiến thức nhưng là một thứ kiến thức ăn đong cóp nhặt từ những trang báo, những cuốn sách chưa kịp tiêu. Những con quỷ dracula không thể sống nếu không hút máu của người khác. Nhưng nó sẽ không hút được máu ai nếu trước hết nó không làm cho người khác tin nó là một con người tử tế. Người ta cứ tưởng nó mềm như một miếng bông gòn, nhưng thực ra nó là một cục chì, đất sét. Nó là một con vật thông minh chứa đầy nọc độc. Tôi đang có những ngày không vui, khi bỗng dưng một hôm phát hiện ra con quỷ dracula mà lâu nay tôi cứ tưởng là người nào khác lại chính là tôi. Anh đừng bỏ đi, tôi sẽ cho anh mười nghìn đồng, mười nghìn chứ không phải hai nghìn, anh làm nhục tên kia dùm tôi. Tôi xin anh, chỉ khi nào anh làm được như thế con quái vật dracula kia mới ra khỏi đầu óc tôi, ra khỏi trái tim đầy lòng hoài nghi của tôi.”</p>
<p>Hôm nay là thứ Sáu, buổi chiều cuối tuần, công việc ở sở tương đối nhẹ nhàng, tôi có hai ngày nghỉ ngơi trước mắt.</p>
<p>Tôi nói với ông B. là ông cứ moi hết những rác rưới trong đầu ông ra đi tôi sẽ đổ dùm ông. Ông cứ móc hết sư nhơ bẩn của cống rảnh ra khỏi trái tim xấu xa của ông đi tôi sẽ dội nước sôi dùm ông. May ra…..</p>
<p>Chiều thứ Sáu tuần này là một buổi chiều không vui của tôi.</p>
<p>Hơn một tháng trước đây tôi cũng đã có một buổi chiều không vui khác về cái chết của một nhà văn nữ, cô Iris Chang, tác giả cuốn The Rape of Nanking, trên xa lộ 17, gần Los Gatos, vùng vịnh Bay Area. Xác của cô được tìm thấy trong một chiếc xe hơi với một viên đạn xuyên qua đầu vào ngày 9 tháng Mười Một. Iris vừa 36 tuổi và là tác giả của ba cuốn sách The Rape of Nanking, Thread of the Silkworm và The Chinese in America.</p>
<p>Bản tin của BBC cho biết The Rape of Nanking là một tác phẩm gây nhiều tranh cãi nói về những hành động tàn bạo của lính Nhật khi chiếm đóng một thành phố phía đông Trung quốc trong những năm 30. Iris Chang thống kê khoảng 10 ngàn người dân Trung quốc vô tội bị giết và khoảng 80 nghìn phụ nữ bị lính Nhật hảm hiếp. Tác phẩm của cô lột tả những chi tiết về sự chà đạp về thể xác và nhân phẩm của người phụ nữ Trung quốc. Cuốn sách đã được dịch ra nhiều thứ tiếng trên thế giới và trở thành một trong những tác phẩm bán chạy nhất trong những năm 90.</td>
<td width="8%"></td>
<td width="32%"></td>
<td></td>
</tr>
</tbody>
</table>
<p><a href="https://t-van.net/wp-content/uploads/2014/09/clip_image0062.jpg"><img loading="lazy" decoding="async" style="background-image: none; padding-top: 0px; padding-left: 0px; margin: 0px; display: inline; padding-right: 0px; border: 0px;" title="clip_image006" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2014/09/clip_image006_thumb2.jpg?strip=all&fit=162%2C244" alt="clip_image006" width="162" height="244" border="0" /></a></p>
<p>Iris Chang chào đời tại New Jersey trong một gia đình Trung quốc, có bằng cử nhân báo chí của Đại học Illinois, bước đầu sự nghiệp là một nhà báo sau đó tiếp tục như một nhà văn. Năm 25 tuổi cô viết tác phẩm đầu tay Thread of The Silhworm về cuộc đời nhà khoa học Tsien-Hsue-shen trong thời đại chiến tranh lạnh của nước Mỹ. Các tác phẩm của cô hầu hết tập trung vào vấn đề định cư của người Trung quốc tại Mỹ và cuộc chiếm đóng của Nhật trên quê hương Vạn Lý Trường Thành.</p>
<p>Cái chết của cô, theo cơ quan điều tra là một vụ tự sát được chuẩn bị kỹ lưỡng. Trước đó mấy tháng, Iris đã phải nhập viện vì suy nhược thần kinh. Và cô đã rời viện khi chưa hoàn toàn hồi phục và bỏ nhà đi từ đầu tuần, để lại một bức thư ngắn yêu cầu mọi người nhớ về mình với hình ảnh trước khi cô bị bệnh.</p>
<p>Có phải Iris Chang chọn cái chết bởi vì căn bệnh trầm cảm, khi ở cái tuổi 36 tràn đầy sinh lực, nhưng những gì cô tìm kiếm, đào xới từ lịch sử cuộc chiếm đóng của người Nhật trên quê hương gốc của cô, với sự dã man tàn bạo của người Nhật xúc phạm nhân phẩm của người phụ nữ Trung quốc đã khiến cô thấy ra cuộc đời không là gì cả trước hành dộng của những con thú mang bộ mặt người. Cái vẻ đẹp nồng nàn của cô, cái sức sống mãnh liệt của một người phụ nữ thành danh như cô không là gì cả trước nỗi đau của một dân tộc. Cô chọn cái chết vì cô không thấy đời sống không có gì đáng sống . Những tên lính Nhật mọi rợ và những thằng khốn nạn như tên B. làm cho đời sống chúng ta buồn nản càng buồn nản hơn.</p>
<p>Tôi không muốn nhìn thấy những bộ mặt thối tha và đểu cáng đó trong đời sống chúng ta.</p>
<p>Nhiều lúc tôi muốn ra đi, ra đi ở tuổi tôi cũng là vừa rồi, không có gì than thở. Ra đi ở cái tuổi của Iris Chang thật là một điều phí phạm.</p>
<p>Nhưng nghĩ lại, trời ơi, tại sao những tên lính quốc xã dã man không chết đi, tại sao những tên lính Nhật man rợ không chết hết đi, tại sao những tên khốn nạn như tên B. trong quán cà phê Starbucks không tan rữa như xác một con chó chết đi cho người khác sống, cho Iris sống, cho môi trường đời sống chúng ta không còn bị nhiễm độc vì sự bẩn thỉu của chúng?</p>
<p>Tại sao? Iris Chang? Tại sao</p>
<p>NGUYỄN XUÂN HOÀNG</p>
<p>&nbsp;</p>
<p><b>Vài hiện tượng trong VH</b></p>
<p>Nếu lấy những năm 1945, 1954, 1975 – những dấu mốc của lịch sử Việt Nam đương đại &#8211; làm dấu mốc cho Văn Học Việt Nam thì điều ấy cũng không lấy gì làm sai lắm.</p>
<p>1945: văn học kháng chiến và văn học đô thị; 1954: văn học ngoài bắc văn học trong nam, và đến năm 1975: Văn học trong nước và văn học ngoài nước, mà ta vẫn thường gọi là văn học hải ngoại .</p>
<p>Trong khi văn học đô thị và văn học kháng chiến chỉ kéo dài có 9 năm, văn học trong Nam-ngoài Bắc kéo dài 21 năm, thì văn học trong nước và ngoài nước tính đến nay đã là 30 năm. Và không biết còn kéo dài bao nhiêu năm nữa .<br />
Ba mươi năm ấy nhìn la .i – cả trong và ngoài nước – chúng ta có khá nhiều tác giả, nhiều đầu sách, nhưng dường như không có tác phẩm nào lớn, theo nghĩa đưa được văn học Việt Nam hoà nhịp vào dòng văn học thế giới . Tại sao ?</p>
<p>Ba mươi năm, sau một cuộc chiến tàn khốc, bao nhiêu xương máu đã đổ xuống, bao nhiêu nước mắt, chia lìa, đau đớn và đau khổ. Cả bên này lẫn bên kia . Thử tưởng tượng [tôi không nghĩ chỉ là tưởng tượng đâu!] trên bàn thờ của một gia đình Việt Nam, bà mẹ đốt nhang trước chân dung hai đứa con, một người lính Cộng Hoà và một người lính Cộng Sản. Hai kẻ thù ngoài mặt trận là hai đứa con yêu của một bà mẹ. Không phải là cái thắng của một chủ nghĩa hay là cái thua của một thể chế, với bà mẹ, đây là nỗi đau hai mặt: cái chết của hai đứa con mang cùng huyết thống đứng trên hai chiến tuyến đối nghịch!<br />
Khi cuộc chiến chấm dứt, nỗi mừng của người thắng trận cũng mang theo nỗi đau của người thua trận. Những vinh và nhục, không phải chỉ một cá nhân, một gia đình mà cả một dân tộc phải mang theọ Và kỳ lạ thay, những bài học mới cho cả hai phía: cái <b>được</b> cho người thua và cái <b>mất</b> cho người thắng.</p>
<p>Nếu tủi nhục và xót xa, cho người này; hãnh tiến và quyền lực cho người kia, thì cái được và cái mất nào cho một bà mẹ trong hoàn cảnh bi thương trên?</p>
<p>Hãy đếm xem có bao nhiêu người trai trẻ bỏ xác trên đường Trường Sơn, bao nhiêu người chôn vùi trong lòng biển cả, bao nhiêu là nạn nhân của hải tặc bạo tàn; bao nhiêu người trong lao tù khổ ải, nhà giam bên này, trại cải tạo bên kia,…chắc rồi cũng sẽ có lúc phai đi theo năm tháng nhưng làm sao mất hẳn trong trí nhớ lịch sử.</p>
<p>Sự đổi đời lớn lao, cắt da xé thịt, một thế hệ lớn lên, thành đạt ở đất nước ngoài Việt Nam, hay vùng vẫy vươn lên trong một đất nước đang còn thay da đổi thịt, thế nhưng văn học chúng ta bên này, bên kia vẫn chưa có tác phẩm ngang tầm với thời đại . Tại sao ?</p>
<p>Đó là một câu hỏi khá lớn cho một bài viết nhỏ. Tôi chỉ muốn giới hạn mấy suy nghĩ quanh vài hiện tượng văn học gần đây trong và ngoài nước để may ra tìm cho nó một câu trả lời .<br />
Trước hết là chuyện <b>Hoa Thủy Tiên</b> trong bài Trò Chuyện Với Hoa Thủy Tiên và Những Nhầm Lẫn của Nhà Văn &#8211; trên bán nguyệt san Ngày Nay, Hà Nội [các số 4, 5, 6 các ngày 15/2/2004, 1/3/2004 và 15/ 3/2004] của nhà văn Nguyễn Huy Thiệp. Bài viết thực sự đã gây một chấn động lớn trong giới văn học trong nước và ta .o ra những phản ứng nhiều tầng và nhiều hướng. Ông viết: “Khoảng hơn hai chục năm trở lại đây, ở Việt Nam không có những nhà văn có phong độ, khí phách lớn. Đến ngay cả những nỗi buồn cũng không phải là những nỗi buồn lớn. Thái độ hời hợt của xã hội với văn học, cách tiếp nhận của xã hội đối với các giá trị văn học cũng làm mất đi cảm hứng ở nhiều nhà văn nhiệt thành. Đấy là chưa kể đến sự tráo trở và lạnh lùng của cơ chế thị trường vẫn chẳng nể nang gì ai cả.”</p>
<p>Vậy thì văn học Việt Nam hiện nay thiếu gì? Nguyễn Huy Thiệp trả lời “văn học thiếu vắng những tham vọng to lớn”…. “Văn học luôn tránh né một vấn đề nan giải khó nói nhất trong xã hội: không phải khó khăn kinh tế, không phải sex, không phải là tình cảnh chiến tranh… Nó là vấn đề nhân tính. Văn học Việt Nam gần đây mất đi khả năng tưởng tượng, lãng mạn, mơ mộng và nhiệt huyết sống. Nó trở nên thực dụng, ê chề, lọc lõi, oái ăm, đôi khi đểu cáng.”</p>
<p>Để có một nhà văn có giá trị nhân đạo [có lẽ Nguyễn Huy Thiệp muốn nói nhân bản], ông viết, phải dựa vào nhiều yếu tố, không phải chỉ là nỗ lực cá nhân và tự phát, “năng khiếu” như lâu nay người ta vẫn tưởng. Đã đến lúc phải nghĩ đến một týp nhà văn khác: lớp nhà văn trí thức của một xã hội phát triển. Họ viết văn có bài bản, có lý luận, lý lẽ chứ không mò mẫm. Trước đây, ở Việt Nam hầu như chưa có những điều kiện xã hội để xuất hiện týp nhà văn nàỵ Theo ông, văn học giá trị bao giờ cũng đề cao nhân tính, và, một xã hội không có những tác phẩm văn học hay, không có những tác phẩm văn học giá tri . nghĩa là nhân tính mất đi.. . Trách nhiệm đó không phải chỉ ở một người nào mà nó ở toàn xã hội . [bđd].</p>
<p>Đánh giá nền văn học trong nước bằng cái nhìn từ trong, Nguyễn Huy Thiệp viết: “Nhìn vào danh sách hơn 1,000 hội viên Hội Nhà Văn Việt Nam người ta thấy đa số đều chỉ là những người gìa nua không có khả năng sáng tạo và hầu hết đều… “vô học”, tự phát mà thành danh. Trong số này có tới hơn 80% là nhà thơ, tức là những người chỉ dựa vào “cảm hứng” để tùy tiện viết ra những lời lẽ du dương, phù phiếm vô nghĩa, nhìn chung là lăng nhăng, trừ có dăm ba thi sĩ tài năng thực sự (số này đếm trên đầu ngón tay) là còn ghi được dấu ấn ở trong trí nhớ người đời, còn toàn bộ có thể nói là vứt đi cả.” [bđd].</p>
<p>Chính những dòng chữ này của Nguyễn Huy Thiệp, trong phần thứ ba của bài viết, là ngòi thuốc nổ tạo thành một chấn động liên lỉ.<br />
Chuyện Hoa Thủy Tiên mới nở chưa kịp tàn thì nổ tiếp chuyện “Cái nước mình nó thế!” của Hoàng Ngọc Hiến &#8211; giáo sư đại học, nhà nghiên cứu phê bình văn học, tác giả của một nhận định từng làm rung động giới văn học trong nước những năm 80 khi ông đưa ra cụm từ “hiện thực phải đạo”.</p>
<p>Đây là bài phỏng vấn do Phạm Thị Hoài và Trương Hồng Quang thực hiện trên Talawas. Một bài phỏng vấn đậm đặc sôi nổi và mở ra nhiều cánh cửa trong đời sống văn học trong nước. Nó không chỉ liên quan đến những người cầm bút [trong nước] mà còn liên quan đến cả giới chức văn hoá và chính trị . Nổ tung như tạc đa .n, nếu có thể gọi như thế.</p>
<p>Từ Nguyễn Huy Thiệp với bước đầu đi vào thế giới văn chương –đến nhà thơ nữ Xuân Quỳnh, người phụ trách mảng văn xuôi nhà xuất bản Tác Phẩm Mới [tiền thân của Hội Nhà Văn bây giờ], và Nguyễn Duy, Thu Bồn. Rồi Nguyễn Minh Châu, Hà Minh Đức, đến Chế Lan Viên, Tố Hữu, Lưu Quý Kỳ, Bùi Minh Quốc, Vũ Thi . Thường, Nguyễn Đình Thi, cả ông Lê Đức Thọ và Trần Độ..…</p>
<p>Phát biểu về Chế Lan Viên, ông Hiến cho rằng “Nhà thơ lớn nước mình cũng nhà quê, cũng trẻ con cả thôi, cả nước mình nó thế: Nhà quê và trẻ con.”</p>
<p>Hoàng Ngọc Hiến còn cho biết ”Trần Đăng Khoa [người từng nổi tiếng là nhà thơ thần đồng trước kia, đã] tìm mọi cách để hạ uy thế của Nguyễn Huy Thiệp. Đối với Trần Đăng Khoa thì Nguyễn Huy Thiệp là thằng cường hào địa chủ trong văn học cần lật đổ.” Theo ông, cái cách của Trần Đăng Khoa là thế này: “Nguyễn Huy Thiệp là người sắc sảo, trí tuệ ư? Không, sắc sảo trí tuệ cái gì, chỉ có phép nói ngược thôi . Anh nói trắng thì nó nói đen, anh nói phải thì nó nói trái, Thiệp nó chỉ có thế, chứ chẳng có trí tuệ gì…. Họ [Trần Đăng Khoa và những người như ông Khoa] muốn chôn, muốn đóng ván thiên cho Thiệp.” Và ông gọi ông Khoa là nông dân và trẻ con.</p>
<p>Ông cũng nhắc đến tên nhà thơ Hữu Thỉnh [phe bảo thủ, chống đối Nguyễn Huy Thiệp] và Hội Nhà Văn Việt Nam &#8211; một tổ chức của Đảng và là “một bộ máy quan liêu, lấn át tính chất nghề nghiệp”, nhưng ngưòi ta vẫn muốn vào Hội vì quyền lợi và được đi nước ngoài . Ông cũng nhắc đến Nguyễn Khoa Điềm, người ở trên đe dưới bu’a, nhắc đến dịch giả Lê Huy Bắc, nhân vật được coi là người giỏi tiếng Anh nhất trường Sư phạm, một trường đại học mẫu mực, trường điểm của nhà nước, tương lai của nền học thuật Việt Nam. Thế nhưng, ông Hoàng Ngọc Hiến cho biết bản dịch của ông Lê Huy Bắc, “một đoạn mười dòng của ông ấy đã có bốn cái contresens, tức dịch ngược hẳn ý của người ta .” Ông cũng nhắc đến Đặng Việt Bích, con trai ông Trường Chinh, muốn làm Viện trưởng trường Đại học Văn Hoá-Nghệ Thuật, nhưng không được vì “quá lười đọc sách, ngu dốt, ích kỷ, nhếch nhác.”</p>
<p>Một câu nói đáng ghi nhận của ông Hoàng Ngọc Hiến: “Theo tôi, dùng tiếng Việt chính xác mới là yêu tiếng Việt, mà cái yếu nhất trong văn học Việt Nam từ 1945 đến nay là không chính xác về từ ngữ. Toàn dùng những từ chung chung, từ khuôn sáo, không chọn được từ chính xác…”<br />
Đó là chuyện văn học do người cầm bút trong nước nhìn từ bên trong. Còn nền văn học hải ngoại qua cái nhìn của người viết và người đọc ngoài nước thì sao ?</p>
<p>Nhà văn Nguyễn Mộng Giác, tác giả hai bộ trường thiên tiểu thuyết đồ sộ Mùa Biển Động và Sông Côn Mùa Lũ, trong bài “Tình trạng lão hoá trong sinh hoạt văn học” [nxb Văn Mới, 2004] cho biết những nhà xuất bản uy tín trước đây [như Văn Nghệ, Thanh Văn, An Tiêm và mới nhất như Văn Mới] ngày càng ngại bỏ tiền xuất bản sách, nhất là loại sáng tác như thơ, tiểu thuyết. Số ấn bản trung bình chỉ lên đến 500, nghĩa là nếu bán hết may lắm lấy lại đủ vốn, cho nên dù sách xuất bản dưới nhãn hiệu nào, đa số trường hợp đều do chính tác giả bỏ tiền túi in lấy sách của mình. “Tình trạng ấy đưa đến một loạt phụ ứng: sách in ra nhiều nhưng chất lượng không bao nhiêu, nhu cầu quảng cáo để bán sách giết chết ngành phê bình, độc giả đứng trước rừng sách nhiều màu không biết nên mua sách nào sau nhiều lần “trao thân lầm tướng cướp” quyết định không mua sách nữa, không có người mua sách thì ngành xuất bản sa sút kéo theo động cơ thúc đẩy việc sáng tác… Cái vòng lẩn quẩn không lối thoát ấy có thể xảy ra cả trong nước, nhưng ở hải ngoại trầm trọng hơn do tình tra .ng lão hoá của sinh hoạt chữ nghĩa .”</p>
<p>Lão hoá theo Nguyễn Mộng Giác là khi người cầm bút chỉ nhằm viết cho những người cùng cảnh ngộ lưu vong như mình đọc, viết như lâu nay họ đã từng viết: “tiếc nuối một thời hoàng kim đã mất, xót xa trăn trở với những khổ ải đã trải qua, lật từng trang album bồi hồi với những kỷ niệm đẹp, mơ ước ngày trở về có khải hoàn môn dựng trên khắp nẻo đường và gặp lại một quê hương y nguyên như thời hoàng kim cũ…”</p>
<p>Có thể nói thêm là Lão hoá không chỉ ở người viết mà còn cả ở người đọc nữa, bởi vì ở hải ngoại số người đọc báo Việt và văn chương Việt ngày như một giảm xuống. Cứ nhìn vào các tạp chí văn chưong như Văn Học, Hợp Lưu hay Văn thì biết.</p>
<p>Đã đến lúc người viết nhận ra rằng tác phẩm của một nhà văn không chỉ nhắm vào một nhóm người, một cộng đồng nhỏ mà là cho cả một dân tộc nếu không có tham vọng có một readership lớn hơn, vượt khỏi biên giới của một quốc gia .</p>
<p>Những câu hỏi rất cũ đặt ra cho người cầm bút như Viết cho ai ? Viết cái gì? Viết như thế nào ? bây giờ vẫn còn có thể đặt lại trong một ý nghĩa mới . Nó không chỉ đúng cho người cầm bút hải ngoại mà theo Nguyễn Mộng Giác, nó còn đúng cả cho người cầm bút trong nước nữa . Ông kể lâu lâu xem một tạp chí hay một tuần báo văn chương trong nước, ông cảm thấy bị xúc phạm khi đọc hồi ký hay truyện ngắn của những cây bút Miền Bắc dùng những “nhân xưng miệt thị như “y”, “hắn”, “chúng”, “bọn nguÿ”, “thằng ngụy” y như trong thời chiến tranh. Rõ ràng là người viết văn ấy viết cho họ đọc với nhau, bất kể những thay đổi trong hơn một phần tư thế kỷ quạ “</p>
<p>Theo nhà nghiên cứu phê bình văn học Nguyễn Hưng Quốc [Chiến tranh, như một thi pháp, Talawas, 27/5/2004] thì trong văn hoá chiến tranh có ba điều đáng kể nhất: “chủ trương phi-nhân hoá kẻ thù, mỹ học về bạo động và đạo đức học về sự phá hoại .” Và trong quá trình phi-nhân hoá kẻ thù người ta tìm cách tước bớt chất ngưòi của kẻ thù bằng một hệ thống đại từ nhân xưng cực hạn chế: “thằng”, “con” và “mụ”…” Những biện pháp phi-nhân hoá kẻ thù như thế làm cho hành động giết người được miễn trừ trách nhiệm đạo đức: giết kẻ thù chỉ là giết một khái niệm, một con thú hay một kẻ chưa thành người vậy thôi .” [bđd].</p>
<p>Đào sâu hơn, Nguyễn Hưng Quốc cho rằng giới văn nghệ sĩ Việt Nam viết về chiến tranh ‘như một cách tái tạo la .i chi’nh mình’. “Những nỗ lực tái tạo ấy thay đổi theo thời gian và theo thời tiết chính trị chung quanh….. Nỗ lực tái diễn dịch và tái cấu trúc quá khứ như thế là hành động phổ quát ở hầu hết mọi người cầm bút. Bởi vậy, đối diện với đề tài chiến tranh, trong đó có chiến tranh Việt Nam, chúng ta không cần, không nên, và thật ra, cũng không thể đặt ra vấn đề chính xác trong việc tái hiện hiện thực.” Và ông kết luận: “Một cuộc chiến tranh có thể mang tính chính nghĩa hay phi nghĩa; nhưng một tác phẩm viết về chiến tranh thì chỉ có vấn đề hay hoặc dở mà thôi .” Và ông thêm, trong thế giới nghệ thuật, cái hay nhất bao giờ cũng được xem là cái đúng nhất. Chiến tranh và Hoà bình của Leo Tolstoi không phải là tác phẩm viết đúng nhất mà là tác phẩm viết hay nhất về cuộc chiến tranh Nga-Pháp. Và khi nó được xem là hay nhất, nó tự động được xem là chuẩn mực, từ đó, không phải chỉ có cuộc chiến tranh Nga-Pháp mà hầu hết các cuộc chiến tranh khác đều ‘bắt chước’ Chiến tranh và Hoà bình.” [bđd].</p>
<p>Cụ thể hơn, Hoàng Ngọc Tuấn trong một bài viết trên Hợp Lưu [số 71, tháng 6&amp;7, 2003] có tựa đề “Văn chương về chiến tranh Việt Nam và nhu cầu sáng tạo bút pháp mới” cho rằng mặc dù “văn chương về chiến tranh Việt Nam cực kỳ phong phú về số lượng, chỉ có một số tác phẩm được xem là những thành tựu nghệ thuật.” Tại sao vậy ? Cũng như cách nhìn trên của Nguyễn Hưng Quốc, Hoàng Ngọc Tuấn cho biết phần lớn tác giả xem nhẹ giá trị sáng tạo nghệ thuật và đề cao “sự trung thực”, họ viết như một người lính hơn là như một nghệ sĩ văn chương, cũng giống như một bức ảnh rõ ràng và chính xác và một bức ảnh nghệ thuật có một khoảng cách rất xa . Trong gần hai thập niên trở lại đây, một số nhà văn đương đại của Hoa Kỳ đã nhận ra rằng không phải chỉ có một sự thật, mà có nhiều sự thật về chiến tranh Việt Nam và về bất cứ sự kiện nào xảy ra trong cuộc chiến ấy, và họ nỗ lực tìm kiếm những bút pháp mới có khả năng diễn tả cái hiện thực đa phương, đa tầng của lịch sử và cái tâm cảm cực kỳ phừc tạp của con người trong cuộc chiến ấỵ” [bđd]</p>
<p>Ông nêu ra cuốn tiểu thuyết Paco’s Story của Larry Heinemann làm ví dụ. Theo ông, Heinemann phù hợp với quan niệm thẩm mỹ hậu hiện đại, theo đó tác giả không chủ tâm đưa ra một phán xét chung cuộc nào cả, và độc giả phải đối diện với vô số khả thể diễn di.ch. Sau này, trong số những nhà viết tiểu thuyết hậu hiện đại về chiến tranh Việt Nam, Tim O’Brien với tiểu thuyết The Things They Carried (1990) là đáng lưu ý nhất. Theo Hoàng Ngọc Tuấn trong khi tuyệt đại đa số các nhà văn chiến tranh trong thời hiện đại nỗ lực chinh phục độc giả bằng những sự kiện và diễn biến “như thật” hoặc “hoàn toàn có thật”, O’Brien lại cố làm cho độc giả hoài nghi liên tục bằng những sự kiện và diễn biến không ngừng tự mâu thuẫn nhau.. Hơn thế nữa, ông còn xen vào câu chuyện để, một cách tỉnh táo, lật tẩy chính lối viết của mình.” [bđd]<br />
Nhiều người trẻ gốc Việt hiện nay tại hải ngoại đã không viết bằng tiếng mẹ đẻ mà viết trực tiếp bằng tiếng Anh hoặc Pháp. Họ không đơn giản chỉ viết cho người ngoại quốc đọc. Họ viết như một nhà văn. Một trong những người trẻ cầm bút đó, nhà văn Nguyễn Quí Đức &#8211; hồi đầu tháng Ba, 2005, trước một chuyến đi công tác trong vùng Đông Nam Á cho một đài phát thanh tiếng Mỹ do anh làm chủ biên &#8211; nói rằng đối với giới trẻ, văn chương ngày nay không còn biên giới, nó đã ra khỏi cái đường biên quốc gia, tuổi trẻ của anh và những người trẻ hơn anh, nhận ra không còn nữa cuộc đối thoại đông và tây, không còn chuyện bắc và nam, không còn chuyện xung đột tôn giáo . Thế giới đã nhỏ hẹp với khoa học kỹ thuật tối tân ngày một biến ảo không lường. Đinh Linh có thời đến sống ở Ý Đại Lợi, đạo diễn lừng danh Trung quốc Trần Khải Ca đến Việt Nam. Đây là thời đại để người ta đi tới chứ không phải để người ta bước lui . Một phụ nữ Thái lấy chồng Đức và sanh con bên Pháp, hay một người Â’n chào đời ở Anh và đi học ở Mỹ. Vấn đề toàn cầu hoá đang là câu trả lời cho những câu hỏi cục bộ của người cầm bút đương thời .</p>
<p>Trước đây gần tám năm, Salman Rushie cũng từng đề cập đến vấn đề trên cho văn học Â’n Độ, trong một bài viết dành cho hợp tuyển Những tác phẩm văn học Â’n Độ điển hình: 1947-1997 [sau đó bài được Tạp chí Dân tộc Â’n Độ (India’s National Magazine) số ra ngày 9- 22/8/1997 kỷ niệm 50 năm ngày Â’n Độ độc lập, in lại .].</p>
<p>“Tiếng Anh là phương tiện giao tiếp thông dụng nhất thế giới; chẳng lẽ chúng ta lại không vui mừng về sự tinh thông của chúng ta về thứ ngôn ngữ mà uy thế của nó càng ngày càng lớn ma.nh. Việc lên án các nhà văn về những thành công của họ trong việc bứt phá các rào cản ngôn ngữ không khác việc làm của chủ nghĩa địa phương hẹp hòi là bao (chủ nghĩa địa phương có thể là thói tật chính của văn học bản địa .) Vai trò quan trọng của văn học được thể hiện ở chỗ, nó là phương tiện có thể tạo ra những cuộc đối thoại giữa các quốc gia trên thế giới…… Văn học sẽ có ít, hoặc chẳng có gì để nghiên cứu với những cái tên chỉ được biết đến trong nước của tác giả.” [Phạm Phương Chi dịch, http://evan.com.vn, 10/3/2005]. Cái nhìn của Salman Rushdie đối với văn học Â’n không khác mấy cái nhìn của Nguyễn Quí Đức đối với sự bế tắc của văn học Việt Nam.<br />
Sau cái tạm gọi là sự “nhếch nhác” của văn học trong nước và cái “lão ho’a” của văn học hải ngoại, liệu văn học Việt Nam bao giờ mới có tác phẩm ngang tầm thời đại .</p>
<p>Phải chăng, để ra khỏi cái ngõ cụt ấy là một nền văn học Việt Nam viết bằng tiếng Anh, Pháp của người viết trẻ ở hải ngoại và sự tiếp thu nguồn văn hoá thế giới một cách chủ động của người viết trẻ trong nước?</p>
<p>Tháng Ba, 2005</p>
<p>NGUYỄN XUÂN HOÀNG</p>
<p>&nbsp;</p>
<p><b>Chuyện một cái tủ sách</b></p>
<p><b>1.</b></p>
<p>Trong nhà tôi ở Sài gòn hồi đó có một kệ sách nhỏ đặt trên gác lững. Kệ sách là những thanh gỗ dài, bào láng, đặt trên những viên gạch đỏ xếp cao theo chiều đứng của sách. Sách mỗi ngày một nhiều, kệ sách cứ chồng thêm các thanh gỗ cao lên mãi, lên gần tới trần nhà. Đến lúc không đủ sức chứa, tôi bắt đầu cho sách vào thùng giấy, rồi cứ thế đánh số thùng theo thứ tự, thùng này chồng lên thùng kia .</p>
<p>Nhà nhỏ, sách lấn qua chỗ nằm, tôi đành phải nghĩ đến chuyện vất bớt những cuốn không cần đọc nữa . Vất nhưng tiếc, vì tuy không cần lúc này, nhưng biết đâu về sau có lúc cần tìm một đoạn, một câu . Một câu trích mà không có sách dẫn thì sao ? Sách mang ra thùng rác rồi lại mang vô.</p>
<p>Làm cách nào để giữ được những cuốn sách mà lúc này chưa cần đến?. Tôi hỏi Trần Phong Giao, lúc đó là thư ký toà soạn tờ Văn, cách giải quyết những cuốn sách của tôi . Anh hỏi lại tôi: “Cậu làm sao thế? Có chuyện gì vậy ?” Chẳng có chuyện gì hết. Tôi nói với Trần Phong Giao là tôi cần thanh toán mọi thứ trước nhất là sách vở.</p>
<p><b>2. </b></p>
<p>Trần Phong Giao là một người to lớn, có vẻ một công tư chức, một nhà thầu hơn là một người làm công việc sách báo chữ nghĩa .</p>
<p>Những người mới gặp anh lần đầu rất khó chịu vì cái vẻ hơi “kênh kiệu” của anh. Anh lạnh với người lạ trong giao tế, nhưng quen anh lâu mới thấy anh là người rất tử tế. Tôi không biết những thư ký toà soạn khác thế nào, chứ với Trần Phong Giao tôi có thể nói anh là một thư ký toà soạn đặc sắc. Hơi bảo thủ, và khắt khe, có vẻ như anh chỉ tin vào những tài năng đã được xác nhận, nhưng không phải vì thế mà anh không dám mở tay đón nhận những người viết mới .</p>
<p>Cách đây vài năm, một tình cờ may mắn tôi được nhà bình luận thời cuộc-kinh tế gia Nguyễn Xuân Nghĩa gửi tặng mấy số báo Văn cũ trước năm 1975, trong đó có số 164, ra ngày 15 tháng Mười, 1970, “Đi Giữa Mưa Thu” / Tuyển tập những cây bút trẻ.</p>
<p>Như tên gọi của nó, đây là một số báo dành riêng cho những người mới đến với Văn. Mới từ người vẽ tranh bìa: hoạ sĩ Hồ Đắc Ngọc. Và tất nhiên cái mới chính là từ những người làm thơ viết văn: Lê Văn Thiện, Đặng Tấn Tới, Kinh Dương Vương, Nguyễn Đường-Thai, Nguyễn Lệ-Uyên, Hoàng Ngọc Châu, Hồ Minh Dũng, Lộc-Vũ, Mường-Mán, Hoài Tuyết Trang, Phạm Ngọc Lư, Nguyễn Lương Vỵ, Nguyễn Văn Ngọc, Lê Miên Tường, Phạm Thanh Chương.</p>
<p>Tôi không biết trong số những người viết trên số báo này [cách đây đã 35 năm] ai còn ai mất, ai vẫn cầm bút và ai đã thay tên đổi nghề, nhưng tôi biết ít ra chúng ta vẫn còn Kinh Dương Vương [của truyện ngắn, ký Dung Nham khi làm thơ, và Rừng khi vẽ], vẫn thở khói còn Mường Mán viết truyện trong nước, vẫn còn Hồ Minh Dũng sáng tác mạnh mẽ ngoài nước. Trong thư toà soạn Trần Phong Giao thông báo sẽ còn thực hiện thêm nhiều số báo với người viết mới khác. Tôi không nhớ sau số này anh đã làm thêm được bao nhiêu số giới thiệu người viết mới, nhưng trong mục hộp thư tôi đọc được có nhiều người hiện có tên tuổi trong làng văn trong nước. Như Khuê Việt Trường là một. Tờ Văn thời Trần Phong Giao thực sự làm sống dậy một đam mê chữ nghĩa của nhiều người viết trẻ.</p>
<p>Trong thời gian làm tờ Văn, Trần Phong Giao thực hiện nhiều số đặc biệt không những về các nhà văn nhà thơ tiền chiến hay đưong đại mà còn giới thiệu nhiều khuôn mặt văn học thế giớị</p>
<p>Không mở đường và khai phá như Sáng Tạo, không bắt mắt với lối trình bày nghệ thuật và trẻ trung như Khởi Hành, Thời Tập, nhưng Văn có được một chỗ đứng đáng tin cậy nhờ thư ký toà soạn Trần Phong Giao .</p>
<p><b>3. </b></p>
<p>Trần Phong Giao là người khéo hỏi bài người viết và đối xử khéo sau khi đăng bài . Trong ngăn kéo anh bao giờ cũng có sẵn nhiều bài cho vài số báo . Anh đặt bài cho những số chuyên đề từ cả sáu tháng đến một năm trước. Có thể nói, tạp chí Văn thời Trần Phong Giao là một tạp chí văn chương hơi cổ điển và đặc biệt &#8230;. ít lỗi chính tả nhất, bởi vì trước hết anh là người cẩn trọng, chăm sóc từng chữ, từng câu, từng trang bài, và sau nữa vì anh còn có một người phụ tá cần mẫn tỉ mỉ, giỏi chính tả ngữ vựng: Đàm Gia Tuấn.</p>
<p>Đưa bài cho Trần Phong Giao, người viết có thể yên tâm nhiều mặt: bài không bị sai lỗi chính tả và, tiền nhuận bút có ngay sau khi báo rậ .</p>
<p>Tôi nhớ anh đi chiếc mobylette cũ, một chiếc xe xấu xí, nhả khói tợn và máy kêu hơi to, chân đi dép thường hơn đi giày, áo sơ mi ngắn tay bỏ ra ngoàị Trần Phong Giao ít cười và hơi nghiêm.</p>
<p>Tuy vậy cần ghi nhận, thời làm tờ Văn anh cũng bị nhiều trận đụng nặng. Ở quán Cái Chùa, bọn tôi: Huỳnh Phan Anh, Nguyễn Đình Toàn, Nguyễn Nhật Duật, Đặng Phùng Quân, đôi khi vẫn đề cập đến anh như một “đề tài”. Có một ông thư ký toà soạn như Trần Phong Giao, “bố già” chủ nhiệm Nguyễn Đình Vượng yên tâm lắm.</p>
<p>Nhưng, năm 1972, không hiểu vì lý do gì đã làm cho hai ông chủ nhiệm và ông thư ký toà soạn “cơm không lành, canh không ngọt” nữa . Trần Phong Giao phủi áo ra đi . Anh đứng ra làm một tạp chí khác, tờ Chính Văn với nhà văn Nguyễn Mạnh Côn. Nhà thơ Viên Linh nói “anh em lúc đó rất tiếc, phải chi Trần Phong Giao làm một tờ giống như tờ Văn có lẽ anh thành công ngay .” Tờ Chính Văn chỉ sống đến số thứ hai thì chia tay .</p>
<p>Đó là thời gian ông Nguyễn Đình Vượng kéo tôi về với tờ Văn. Ông là người lo cho tôi nhiều thứ khó khăn trong đời sống mà tôi đang vấp phải . Tôi gọi ông Nguyễn Đình Vượng là “bố gìa” vì quả thật không ai bỏ thì giờ nhiều cho tôi như ông, mặc dù sức khoẻ ông trong thời gian này đã không còn như xưa . Tôi là ngưòi chịu ơn ông rất nhiều . Hồi đó tôi la cà ở quán cà phê nhiều hơn ở lớp học, tôi ngồi ở Chợ Đủi nhiều hơn nằm nhà. Ông Vượng đã đem tôi trở lại đời sống bình thường.</p>
<p>Tôi nhớ một buổi sáng Chủ Nhật, Trần Phong Giao đến nhà tôi, hỏi có đi cà phê không? Đối với tôi đây là một điều lạ. Trần Phong Giao ít khi cà phê, anh chỉ thích rượu và là người biết thưởng thức rượu ngon mặc dù anh không phải là tay nhậu . Anh cũng không có tật lê la đầu đường xó chợ như tôi . Tôi trả lời ừ đi thì đi . Anh đứng giữa nhà nhìn quanh. “nhà tôi đã chật mà nhà cậu coi bộ còn chật hơn. Sách báo đâu hết rồỉ” Tôi chỉ tay lên gác lững. “Trên đó! Không còn chỗ nằm nữa .” “Cái phòng khách này ban đêm dựng chiếc lambretta của cậu vẫn còn có thể để một tủ sách nhỏ đấy .” Trần Phong Giao chỉ nói khơi khơi . Chúng tôi ra quán Cái Chùa . Tôi gọi cà phê, nhưng anh chỉ uống một hớp và xin lỗi có chuyện phải đi .</p>
<p>Chiều tối khi tôi về tới nhà thấy có gì lạ. Chiếc lambretta của tôi không còn chỗ đậu . Tôi thấy một tủ sách bằng gỗ đánh vẹc ni bóng có cửa kính kê sát vách phòng khách. Trong tủ chỉ có một cuốn sách, bản dịch bài diễn văn nhận giải Nobel văn chưong của Albert Camus. Người dịch tôi có biết chính là Trần Phong Giao .</p>
<p>Sau đó tôi dọn nhà hai lần, nhiều thứ mang theo, nhưng nhiều thứ phải bỏ lại . Tuy vậy, bao giờ tôi cũng chở theo tủ sách Trần Phong Giao cho . Căn nhà sau cùng ở Khu Mã Lạng – căn nhà mà “bố già” Nguyễn Đình Vượng cho tôi khi tôi về thay thế vai thư ký toà soạn Văn của Trần Phong Giao &#8211; sách đã chất đầy tủ. Những cuốn sách trong tủ này đôi khi thay đổi do những cuốn mới đem về đang cần đọc và những cuốn cũ lấy ra tặng cho các bạn khác cần hơn tôi, nhưng cuốn Sứ Mệnh Văn Nghệ in bài diễn từ Nobel của Albert Camus do Trần Phong Giao dịch, không bao giờ thay đổi vị trí.</p>
<p>Thời gian này tôi rất ít khi gặp anh.</p>
<p>“Bố già” Nguyễn Đình Vượng lúc đó ốm nặng. Báo Văn từ bán nguyệt san chuyển qua Giai Phẩm. Tôi bận rộn với chuyện nhà trường nhiều hơn trước, nhất là sau khi “Bố Già” chia tay . Tôi không nhớ rõ, nhưng số báo Tưởng Mộ Nguyễn Đình Vượng [chữ tưởng mộ là chữ của Mai Thảo] Mai Thảo và tôi chia nhau viết bài và mời người viết, sau đó tôi trở về dành toàn thời gian cho nhà trường.</p>
<p>Tủ sách Trần Phong Giao vẫn nhìn thấy tôi mỗi ngàỵ Cho tới ngày 30 tháng Tư, 1975.</p>
<p>Những cuốn sách trong tủ và trong nhà tôi bị một trận “hồng thủy” cuốn trôi hết, bất kể đó là tự điển hay sách triết học, loại biên khảo hay lý luận nghiên cứu phê bình văn học . Cứ sách là tịch thu tuốt luốt cho chắc ăn. Sách được những người trẻ tuổi đưa xe ba gác đến chở như chở xác chết của những tội đồ. Cái tình cảm vất tay này nhưng tay kia lấy lại ngày xưa không còn nữa . Căn nhà nhỏ của tôi đột nhiên trống trải gọn gàng một cách dễ sợ</p>
<p>Cuốn Sứ Mệnh Văn Nghệ của Albert Camus, bản dịch của Trần Phong Giao cũng không còn – đương nhiên – và đầu óc tôi cũng trống rỗng như cái tủ sách trống trơn kia .</p>
<p>Thế rồi những năm tháng sau, chợ trời sách cũ dần dần xuất hiện rải rác nhiều nơi ở Sài Gòn. Tôi nhớ một hôm đi trên con đường Bùi Quang Chiêu, xem sách, bất ngờ tìm thấy một vài cuốn có chữ ký của mình. Có cuốn có chữ ký của Huỳnh Phan Anh và những bạn khác của Sài Gòn.</p>
<p>Tôi bắt đầu tha ở chợ trời về gần như đầy đủ những cuốn trước đây của tôi . Có điều là tôi vẫn không tìm thấy cuốn sách dịch bài diễn văn của Albert Camus.</p>
<p>Cách đây mấy năm thôi, Nguyễn Thụy Long nhờ Nguyễn Đạt mang tặng tôi mấy cuốn sách mà tôi là tác giả in ở Sài Gòn trước 75. Long nói anh đã tìm thấy nó ở chợ trời . Cuốn sách của mình viết ra sau một thời gian gió bụi bỗng một hôm trở lại tay mình ở một nơi rất xa quê hương. Mấy cuốn sách bị nhầu nát, bìa rách, giấy đen&#8230; Thời gian tưởng đã mất rốt cuộc hình như cũng tìm lại được.</p>
<p>Mười năm ở lại trong nước tôi chưa một lần gặp lại Trần Phong Giâ . Và mặc dù hai mươi năm xa quê tôi có đôi lần gửi quà cho anh nhưng chỉ là những món quà không đáng kể. Tôi nghĩ có lẽ nhà văn Trùng Dương là người giúp đỡ Trần Phong Giao nhiều hơn ai hết. Tôi nhớ lại thời gian làm báo Người Việt ở Nam Cali dù lương thấp không đủ nuôi sống gia đình, tháng nào tôi cũng gửi cho những thuyền nhân ở trại tị nạn Bataan Phi Luật Tân năm ba chục mỹ kim. Những người thiếu may mắn, đến đảo trước tôi cả mấy năm mà vẫn chưa thấy tên trên list định cư. Tôi thấy mình làm như thế là đúng thôi, nhưng bây giờ nghĩ lại thấy mình có phần tệ bạc với anh. Anh xứng đáng để được mình nghĩ đến nhiều hơn những người khác.</p>
<p>Cho đến một buổi sáng dậy sớm mở mail thấy thư Đặng Tiến. Một dòng chữ ngắn trên cái email gửi chung cho các bạn quen. Trần Phong Giao đã ra đi . Rất ít chi tiết về Trần Phong Giao . Tôi nhờ Trần Thị NgH. – tác giả Nhà Có Cửa Khoá Trái &#8211; ở Sài gòn cho một bài về anh. Chị viết một hồi ức về lần đầu đưa sáng tác của mình cho Trần Phong Giao . Một tiếp xúc khó chịu của ông thư ký toà soạn với một người viết mới là một ấn tượng còn ở lại hơi lâu với Trần thị NgH.</p>
<p><b>4. </b></p>
<p>Ở Mỹ chuyện mua một tủ sách gỗ có đánh vẹc ni có vân đâu phải là chuyện khó. Tìm cho nó một chỗ để trong phòng khách hay phòng làm việc, thậm chí trong phòng ngủ cũng là chuyện dễ như trở bàn tay . Tôi đã có nhiều kệ sách như thế, nhưng cái kiểu tủ sách Trần Phong Giao tôi không tìm ra .</p>
<p>Trong ga ra nhà tôi thuê ở thành phố Milpitas giờ đây đã chật ních sách báo . Mấy năm nay tôi đã dọn dẹp cho vào thùng giấy &#8211; loại thùng có thể mua ở các tiệm Staples hay Office Max, Office Depot &#8211; và đã chật đầy ga ra . Nhưng tôi không hiểu mình tha về từ đâu mà nhiều sách thế. Ga ra không còn chỗ chứa, sách đưa vào phòng khách, đưa vào phòng ngủ, rồi lại đặt lên kệ là những thanh gỗ bào láng theo kiểu Sài Gòn. Rồi bắt đầu phân loại chở sách đến tặng cho thư viện, tặng cho trung tâm người cao niên Việt Nam, tặng bạn bè, chỗ này một ít chỗ kia một ít. Nhưng đâu cũng vào đó, chưa đầy sáu tháng sau, sách lại dồn lên chật chội khắp các phòng.</p>
<p>Mấy dòng chữ trong email của Đặng Tiến làm tôi nhớ lại cái tủ sách mà Trần Phong Giao lặng lẽ chở đến nhà tôi một buổi sáng năm xưa ở Sài Gòn.</p>
<p>Suốt mấy năm nay, tôi vẫn còn một lấn cấn chưa giải quyết xong: Làm cách nào cho hết những thùng sách trong nhà tôi . Tôi trở lại cái cảm giác bỏ sách ngày xưa, như hồi còn ở Sài Gòn: bỏ thì thương mà vương thì tội . Tay này vừa vất sách tay kia đã kịp giữ lại .</p>
<p>Xin tạm biệt Trần Phong Giao . Xin cám ơn người đã xây dựng cho tờ Văn có một chỗ đứng cho đến ngày hôm nay . Nơi mà tôi sẽ đến cũng là nơi mà anh vừa đến con đường ấy với tôi không còn xa lắm đâu . Hẹn gặp!</p>
<h5>&#8212;&#8212;&#8212;&#8212;&#8212;&#8212;&#8212;&#8212;&#8212;&#8212;&#8212;&#8212;&#8212;&#8212;-</h5>
<p><b>TRẦN PHONG GIAO </b><br />
1932-2005</p>
<p>Tên thật Trần Đình Tĩnh<br />
Sanh năm 1932,<br />
Mất tại Sài Gòn ngày 13 tháng Tư, 2005.<br />
Thọ 73 tuổi.<br />
Trước 1964, làm Tin Sách của Trung Tâm Văn Bút Việt Nam.<br />
1964, tổng thư ký tạp chí Văn.<br />
1972, rời Văn, làm tờ Chính Văn với Nguyễn Mạnh Côn.<br />
Đầu năm 1975, giữ mục Giải Đáp Thắc Mắc Văn Học tờ Thời Tập của Viên Linh..<br />
Ông là dịch giả các cuốn:<br />
Guồng Máy [L’Engrenage] của Jean-Paul Sartre Sứ Mệnh Văn Nghệ, diễn từ Nobel Văn chương của Albert Camus,<br />
Sự Đã Rồi [Les Jeux Sont Faits] Jean-Paul Sartre [dịch chung với Nguyễn Xuân Hoàng.<br />
Tác giả: Ngồi lại bên cầu<br />
Nửa đêm thức giấc.</p>
<p>NGUYỄN XUÂN HOÀNG</p>
<p>&nbsp;</p>
<p><b>TRÒ CHUYỆN VỚI TÁC GIẢ</b></p>
<p><b>Daughters of the River Huong</b></p>
<p><b>Dương Như Nguyện</b></p>
<p>Có lẽ người đọc Việt hải ngoại không xa lạ gì với tác giả Dương Như Nguyện qua những truyện ngắn của cô trên các tạp chí văn học tại Hoa Kỳ những năm 90. Năm 1999 nhà xuất bản Văn Nghệ [California] ấn hành cuốn Mùi Hương Quế của cô, và năm nay, 2005, Dương Như Nguyện cùng lúc vừa cho phát hành cuốn Chín Chữ Của Nàng [nxb Văn Mới, California], đồng thời với cuốn Daughters of the River Huong -a Vietnamese royal concubine and her descendants, Uyen Nicole Duong (Dương Như Nguyện). Bià do Tom Suzuki trình bày, RavensYard xuấtbản, sách dày 271 pages, SRP $17.95. Địa chỉ: RavensYard Publishing, Ltd. P.O. Box 176, Oakton, VA 22123 USA, www.ravensyard.com</p>
<table border="0" cellpadding="0">
<tbody>
<tr>
<td width="10%"></td>
<td width="80%"><a href="https://t-van.net/wp-content/uploads/2014/09/clip_image0081.jpg"><img loading="lazy" decoding="async" style="background-image: none; padding-top: 0px; padding-left: 0px; margin: 0px; display: inline; padding-right: 0px; border: 0px;" title="clip_image008" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2014/09/clip_image008_thumb1.jpg?strip=all&fit=244%2C244" alt="clip_image008" width="244" height="244" border="0" /></a></td>
<td width="20%"></td>
</tr>
</tbody>
</table>
<p>Lâu lắm, dễ chừng 15 năm nay, tôi không gặp Dương Như Nguyện. Tôi nhớ khoảng năm 89, 90 gì đó tạp chí Văn Học của Nguyễn Mộng Giác đăng truyện Những Cỗ Quan Tài của Tịnh Tâm của một tác giả lần đầu tiên mà tôi được đọc: Dương Như Nguyện, và lập tức truyện của cô gây trong tôi một xúc động mạnh. Sao có thể có người viết nồng nàn đến thế. Không khí trong truyện tưởng là thư thả mà dồn dập, lạnh lùng mà nóng bỏng, và đẩy người đọc phải chạy theo tác giả mệt nghỉ. Như trong âm nhạc, có những dấu lặng, bỗng nhiên người đọc không thấy truyện của cô xuất hiện trên các tạp chí văn học Việt ngữ nữa. Cho đến năm 1999, người ta bỗng thấy trên kệ các nhà sách cuốn Mùi Hương Quế của cô. Dương Như Nguyện đã trở lại. Và sau đó là một khoảng lặng nữa. Sáu năm sau, 2005, các nhà xuất bản đồng lúc in hai tác phẩm của cô: Chín Chữ Của Nàng [Văn Mới] và Daugters of the River Huong [DORH] [RavensYard]. Đó chưa kể cũng trong năm nay cô sẽ cho in tiếp liền Con Gái của Sông Hương bản dịch Việt ngữ của Linh Chấn Brown.</p>
<p>Dương Như Nguyện cho biết cuốn DORH là một tiểu thuyết viết ở ngôi thứ nhất theo thể “ memoir” (hồi ký). Và cô nhấn mạnh, “ vì đây là tiểu thuyết- hồi ký có nghĩa là hồi ký của nhân vật, chứ không phải hồi ký của tôi.” Cô không muốn người đọc ngộ nhận giữa tác giả và nhân vật.</p>
<p>Ơ bià lưng cuốn sách, dưới dòng tít: Love &amp; War /Tình Yêu &amp; Chiến Tranh, người ta đọc được câu : “Truyện tình giữa André và Simone Mỵ Uyên tượng trưng cho cái chết của đặc tính lãng mạn của nền văn hoá Pháp ở thuộc địa, cộng thêm sự mở cửa của một nước Việt Nam bị tàn phá vì chiến tranh, phải đón trào lưu canh tân mang tính cách lệ thuộc của kinh tế toàn cầu. Bức tranh ấn tượng này sẽ nhắc nhở độc giả tới những chuyện có tầm vóc bao quát của Gone with the Wind và The Thorn Birds (Cuốn Theo Chiều gió và Tiếng Chim Hót trong bụi Mận Gai), đượm thêm nhân bản tính và tình yêu sâu xa giữa mẹ và con của The Joy Luck Club.”</p>
<p>Cô nói “Câu này không phải là quan điểm của tôi. Việc so sánh tác phẩm của tôi với Gone with the Wind, Thorn Birds, hay Joy Luck Club là ý nghĩ của nhà xuất bản, để giải thích lý do tại sao họ muốn đầu tư vào tiểu thuyết của tôi sau khi đã đọc bản thảo.”</p>
<p>Cô cho biết cô có thói quen là trong tiến trình sáng tạo, không bao giờ viết để cho giống hay theo một khuôn mẫu của bất kỳ tác phẩm nổi tiếng nào. Viết là viết theo sự thôi thúc sáng tạo (artistic vision) của chính mình mà thôi. Bằng chứng là trước khi RavensYard đến với cô, bà Sandra Kjistra, đại diện cho Amy Tan và Stephen King, đã hối thúc cô viết lại tác phẩm này cho giống cuốn Memoir of a Geisha của Arthur Golden, thì bà ta mới nghĩ đến việc đem tác phẩm của cô đến với các nhà xuất bản danh tiếng của Hoa Kỳ. Thế nhưng Dương Như Nguyện đã bác bỏ đề nghị đó, cũng chỉ vì không muốn đi theo một khuôn mẫu khi viết về nguồn cội của mình.</p>
<p>Hỏi tại sao cô chọn River Huong mà không chọn Perfume River như một cách đẩy sách đến người đọc dòng chính, Dương Như Nguyện cho biết lúc đầu nhà xuất bản RavensYard đề nghị đặt tên cho tác phẩm là“Những Cánh Hồng Đen”, dựa trên mối tình trái cấm của nhân vật chính, một thiếu nữ chỉ mới 14, 15 tuổi, nhưng cô không bằng lòng, và cuối cùng quyết định để tác phẩm mang tên của dòng sông Hương.</p>
<p>Cô cho rằng Perfume River là danh xưng do người ngoại quốc dịch tên của dòng Hương giang xứ Huế.</p>
<p>Theo cô, “Người Huế không ai gọi dòng sông lịch sử của quê hương mình là “dòng nước Hoa” cả. “Perfume” hay “parfum” là một kỹ nghệ buôn bán, một hình thức mỹ phẩm phù du bên ngoài, làm đẹp cho phụ nữ theo kiểu quyến rũ người khác phái, hoàn toàn có tính cách vật chất hời hợt, không phải là phẩm lượng bên trong. “Nước hoa” sẽ phai đi. “Mùi hương” trái lại có thể toả từ tiền kiếp, liên đới kiếp này sang kiếp khác, không gian này qua không gian khác, đi từ quá khư, ù hiện tại, và có thể chuyên chở vào tương lai, từ vô thức, tiềm thức, tới ý thức. Với mùi hương thật sự (authentic) như trong câu: “Hữu xạ tự nhiên hương” thì “hương” có thể trở thành bất diệt trong trí tưởng và tâm thức của người thưởng ngoạn.</p>
<p>“Hương còn là tiếng thơm, có thể toả ra từ đáy hồn là một luyến nhớ vào rừng kỷ niệm. Tiếng tăm (cái gì lưu lại) là sợi dây liên đới giữa sựphán đoán của lịch sử (external) với đạo đức cá nhân (intrinsic). Đạo đức ở đây có nghĩa là “universal truths” công cuộc đi tìm sự thực của người cầm bút, chứ không phải là kỷ cương của tôn giáo hay xã hội.</p>
<p>Chữ “hương” do đó mang ý nghĩa tâm linh nhiều hơn vật chất, phải dịch là “fragrance” trong trí tưởng, hoặc “good name” như trong “tiếng thơm muôn thuở”. “Hương” là một “motif” liên tục trong sáng tạo của tôi. Thí dụ Mùi Hương Quế. &#8220;Đó là tập truyện độc nhất tôi đem đến cho cộng đồng mình trong mười năm qua, hoàn toàn không có việc ra mắt sách, không có lời giới thiệu của ai, cũng không có bài phê bình nào, ngoại trừ bài của ông Đoàn Nhã Văn, một người tôi không hề biết, hình như cảm nhận được tâm thức của chữ “Hương” trong Mùi Hương Quế. Tôi chỉ mới đọc bài này ngày dạo gần đây.”</p>
<p>Dương Như Nguyện nói cô chủ trương đem bản chất văn hoá thực thụ của nguồn cội đến cho dòng chính, chứ cô không cần thiết phải bắt nhịp cầu cho dòng chính đến với nguồn cội của mình một cách dễ dànghơn. “Tôi chẳng cần phải dịch chữ ‘Hương’ như người Âu Tây đã dịch tên dòng sông quê ngoại! Nếu tôi gọi nó là ‘sông Hương’ thì độc giả của dòng chính cũng phải chịu khó viết và đọc chữ ‘Hương’ như tôi vậy thôi. Nếu tác phẩm gây được ảnh hưởng trong dòng chính, thì dòng chính sẽ biết đến tên ‘Hương’ (tiếng Việt) của dòng sông.”</p>
<p>Theo tác giả, đã đến lúc người nghệ sĩ sáng tạo phải viết lại hình ảnh sông Hương ngay trong lòng dân tộc, chứ đừng nói chi đến ngoài dân tộc. “Từ một lúc nào đó, sông Hương bị mang theo hình ảnh các cô gái‘ngủ đò’, nói về việc bán thân nuôi miệng của người phụ nữ. Đây là lý do khiến cô rất thận trọng trong việc chọn tên cho bản dịch. ‘Con Gái của Sông Hương’ để nói lên ý nghĩa liên hệ máu huyết, nguồn cội. Nếu sông Hương đã bị đồng hoá với việc ‘bán phấn buôn hương’ thì gọi nó là mỹ phẩm ‘parfum’ chỉ làm cho hình ảnh đó thêm độc địa mà thôi. Từ trước đến nay, người Việt mình cứ điềm nhiên mà chấp nhận những gì đã xảy ra, bình thường hoá ngay cả sự ẩu tả hoặc tiêu cực trong vấn đề ngôn từ và biểu tượng có liên quan đến dân tộc tính.” Cô giải thích.</p>
<p>Theo cô, &#8220;nói như vậy không có nghĩa là cô khinh bỉ những phụ nữ &#8216;ngủ đò&#8217; theo ý nghĩa bình dân này. Tình tự dân tộc mà Nguyễn Du mang đến cho chúng ta bao thế kỷ nay là tiếng lòng của một kỹ nữ. Một kỹ nữ đã được bậc thức giả, đại nho tôn xưng là biểu tượng của chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài&#8221;</p>
<p>Và cô kêu gọi: Xin nam giới và phụ nữ chấm dứt vấn đề coi sông Hương là chốn “ngủ đò” theo ý nghĩa tiêu cực này. Rồi truyền tụng lẫn nhau một cách vô ý thức, trong một thời điểm mà du khách ngoại quốc đã và đang đổ xô vào Việt Nam, thời điểm mà phụ nữ Việt Nam cất tiếng kêu thương trên toàn thế giới.</p>
<p>Dương Như Nguyện nhắc, hãy nhớ đến cái chết của Trần Cao Vân và Thái Phiên trong ngục tối, trong những ngày dầu sôi lửa bỏng bên thềm của phong trào lật đổ thực dân (decolonization) đầu thế kỷ 20. Cậu bé trai 16 tuổi trên ngai vàng vô nghĩa, đã đi theo tiếng hò trên sông, lời kêu gọi của hai nhà nho trong ngày tàn của quân chủ và thể chế Khổng Mạnh. Vang vang trong tiếng hò lịch sử ấy là lòng thương xót cảnh khổ của người dân đen thấp cổ bé miệng, và trách nhiệm của người lãnhđạo. Đó không phải là luân lý giáo điều của Khổng Mạnh, mà là căn bản của đạo đức dân tộc. Trước bến Vân Lâu&#8230;Nghe câu Mái Đẩy chạnh lòng nước non! Đây mới đúng là chỗ đứng lịch sử của sông Hương.</p>
<p>Cô kết luận: “Why do we have to repeat the linguistic convention attached to our roots by outsiders? Just because someone from the West has called the river ‘Perfume’, do we, descendants of this river, must adhere to such terminology (thuật ngữ)? Make the West call it what we call it, Huong, in the native language. Isn’t that the by-product of the work of a Vietnamese American artist who injects her roots into the host country by simply pursuing her art? Đây chỉ là một thí dụ nhỏ để nói lên chiều hướng khai phóng.</p>
<p>As far as I am concerned, the superficial ‘Perfume’ connotation is out of my Song Huong. Out, for good! (Cô nói cô không biết phải dịch ý này ra tiếng Việt như thế nào, xin chấp nhận việc cô chêm những câu tiếng Anh để kết thúc câu trả lời).”</p>
<p>Thế hiện nay cô đang đọc tác giả nào, Dương Như Nguyện cho biết cô mới vừa đọc lại một số những tác phẩm bất hủ của văn học Nga, the classics, từ Tolstoy cho đến Dostoyevsky, ngay cả Solzhensitsyn của thời cận đại. “Dĩ nhiên là khi quay về classique,” cô nói, “tôi đọc lại luôn Boris Pasternak và Franz Kafka. (Nhân tiện tôi đọc lại cả Henrik Ibsen của Na Uy (the Master Builder) để suy gẫm, George Bernard Shaw (để nhận thức thêm một lần nữa rằng Shaw đã đi trước quá xa thời đại của ông sống khi ông viết về phụ nữ), và cả Theodore Dreiser (để nhắc lại cho mình nhớ thế nào là một cuốn tiểu thuyết Hoa Kỳ, the cliche — the American novel, thật sự đúng nghĩa là tiểu thuyết với tất cả tâm lý nhân vật, cường độ, và cao độ của nghệ thuật tiểu thuyết!)”</p>
<p>Cô cũng đọc lại các nhà văn Nga và Đông Âu trong giai doan này vì cô cho rằng cô mường tượng thấy hình như các tác giả này được truyền tụng trong giới trí thức thuộc “thế hệ của ông”. Cô muốn tìm hiểu về cách nhìn và nếp sống tâm linh của thế hệ này. Lý do? “Tôi muốn tạo dựng một nhân vật chính (protagonist) là một người đàn ông Việt Nam cùng thế hệ với ông, sống trong lòng nước Mỹ, cho bản thảo sắp tới, bản thảo mà tôi chưa bắt đầu.”</p>
<p>Dương Như Nguyện nói cô rất trọng classiques, vì classiques đã được minh chứng bởi thời gian. Tuy nhiên, khi đọc lại classiques, cô thấy rõ những gì đã lỗi thời về bút pháp bên cạnh tính chất vĩ đại trường cửu của classiques. “Tôi cố tình không chú ý đến những tác phẩm hiện đại đang bán chạy hay đang nổi tiếng, được giải này giải nọ, vân vân, để tránh khỏi bị ảnh hưởng hay chi phối bởi thị trường hay chính trị.”</p>
<p>Theo cô, việc đọc các tác phẩm nổi tiếng, đọc càng nhiều càng tốt. là đường lối giảng dạy viết văn của Âu tây. Đến một lúc nào đó, người sáng tác ngưng đọc hoàn toàn, và không còn bị ảnh hưởng, tìm tòi cái gì nữa hết. Chỉ đọc những gì cần cho việc sáng tác mà thôi. “Tôi đã đi vào giai đoạn này kể từ năm 1998, sau khi làm xong một hình thức ‘fellowshi’ về tương quan giữa luật học và văn chương ở Harvard.”</p>
<p>Hiện tại, cô chỉ đọc những cuốn sách không nổi tiếng, mà cô lạicho rằng rất hay. “Đọc để thưởng thức, và đọc để tìm thấy chính mình.” Cô nói, “trong đó có cuốn The Sevigne Letters viết bởi một nhà văn trí thức không nổi tiếng: William Eisner, xuất bản bởi một nhà xuất bản boutique, chuyên về tiểu thuyết văn chương, hình như lúcnày không còn hoạt động thường trực nữa. Đây là tác phẩm hay nhất mà tôi đã đọc trong suốt một thời gian dài rất bứt rứt không tìm thấy đâu là tác phẩm ưng ý.”</p>
<p>“Nếu một ngày nào đó, có một nhà văn rất trí thức sẽ đọc Sông Hương hoặc những tác phẩm khác của tôi, như tôi đã đọc The Sevigne Letters, thì tôi cho đó là mình đã thành công, dù là thành công trong bóng tối.”</p>
<p>Về câu hỏi: Cô có chịu ảnh hưởng bút pháp của tác gỉa nào không?, Dương Như Nguyện nói:</p>
<p>“Bút pháp Hoa Kỳ? Thưa không. Hoàn toàn không. Tôi còn chủ trương sẽ đem metaphor, simile (bút pháp ẩn dụ) của tiếng Việt vào văn chương Mỹ. Tôi đã từng bị một, hai ‘readers’ phê bình (đây là những readers tốt nghiệp khóa văn chương) cho là văn của tôi ‘unAmerican’ vì các metaphor lạ hoắc! Một vài người khác (thường thường là trong ngành báo chí) thì hết lòng bênh vực tôi, nói rằng tiếng Anh của tôi nổi bật lên một giọng nói (the voice) rất đặc biệt và authentic. Mainstream nghĩ thế nào? Khi chọn con đường đặt tác phẩm vào tay Ravensyard (vì họ yêu cầu) và không đi qua các trung gian vănchương ở Nữu Ước, tôi chẳng nghĩ đến việc sẽ có tên tác phẩm mình trên mục book review của tờ New York Times. Điều đó thật tình không quan trọng đối với tôi. Tôi càng lớn tuổi càng lý tưởng và lãng mạn: nếu Hương quả thật là Hương, thì không cần New York Times cũng tạo ra Hương; Hương tỏa trong bóng tối thì mới là hương đặc biệt. Hương đem bán thành perfume ở Gallerie LaFayette là hương mại bản.”</p>
<p>Còn bút pháp của tác giả Việt Nam trong các sáng tác tiếng Việt của cô thì sao? “Hoàn toàn không.” Cô tiếp, “tôi viết song ngữ; viết thẳng bằng tiếng Việt; tuy nhiên bây giờ thì ngưng hẳn và chú trọng hoàn toàn vào tiếng Anh.”</p>
<p>“Không bị ảnh hưởng,” cô thêm, “không có nghĩa là tôi không yêu thích một số tác giả nào đó.”</p>
<p>Cô cho biết cô thích Nabokov, vì ông là người độc nhất trong văn chương Tây Phương viết nhiều thứ tiếng cùng một lúc cũng như tiếngmẹ đẻ: Anh, Pháp, Nga. Ông thật sự là một nhà văn song ngữ, một nhà văn lưu vong với rất nhiều khuôn mặt.</p>
<p>Cô nói, khi viết tiếng Anh, cô không thể theo nổi ngòi bút trác tuyệt của Nabokov. “Không dám có tham vọng đó. Viết chỉ để mà viết. Tôi rất ghét những người viết với tham vọng &#8211; some sort of a ‘hidden agenda’ như cái thang để leo trèo. Tôi chỉ có thể là tôi. Never any hidden agenda in what I write. The heart is the heart, pen is pen, and art is art.”</p>
<p>Theo Dương Như Nguyện, trong thế giới văn chương tiếng Việt, không ai viết tiếng Việt theo kiểu “lanh chao” [chanh chua và linh động] xứ Huế, thâm thúy và trung thực về tâm lý và sự chua xót nhọc nhằn của phái nữ trong đời sống trung lưu ở miền Nam Việt Nam hay hơn nhà văn Túy Hồng. “Cho đến hôm nay, chưa ai viết một truyện ngắn nào làm tôi nhớ mãi cho bằng một truyện ngắn của Trùng Dương. Và tôi chưa thấy có nhà văn nữ nào ở hải ngoại đã vượt lên trên đànchị nói trên. Đó là theo tiêu chuẩn chủ quan của tôi, dựa trên những gì tôi đọc từ tủ sách của bố mẹ tôi, thời thơ ấu.”</p>
<p>Cô nhắc câu: “Đập cổ kính ra tìm lấy bóng, xếp tàn y lại để dành hơi&#8230;” và nói “Hơi ấy chắc chắn phải vương vấn mùi hương quyện lên y trang như một hoài niệm tinh thần về quá khứ, một sự quyến luyến tinh thần, mãi mãi không phai nhạt vì đã nằm trong trí tưởng, chứ không thể là mùi nước hoa Chanel hay Calvin Klein ở cửa tiệm được!”</p>
<p>Trả lời câu hỏi Cô nghĩ sao về văn chương trong nước, văn chương ngoài nước, chuyện “nhếch nhác” bên trong và chuyện “lão hoá” bên ngoài?, Dương Như Nguyện cho biết: “Tôi không dám nói về văn chương trong nước vì không đủ dữ kiện. Tuy nhiên, những gì tôi đã đọc, ngoài vài truyện ngắn của Nguyễân Huy Thiệp, chỉ đem đến cho tôi sự thất vọng. Câu hỏi được đặt ra, trong một môi trường thiếu tự do ngôn luận, làm thế nào cho văn chương khởi sắc? Văn chương chống đối, dissident, được đánh giá theo một số tiêu chuẩn dành riêng cho văn chương chống đối. Tiêu chuẩn ấy chưa hẳn là tiêu chuẩn văn chương.”</p>
<p>“Nhưng trên văn đàn Mỹ Quốc, tự do ngôn luận đầy dẫy, trong những thập niên gần đây, đã có sự khởi sắc nào chưa, dù rằng Toni Morrison đã đem giải Nobel văn chương về cho nước Mỹ? Nên có một sự phục hưng (renaissance) nào đó hay không, cho dù tờ New York Times sẽ không bao giờ công nhận nhu cầu phục hưng khi họ viết về những tác phẩm được xuất bản trong guồng máy lớn?” (Cô cho biết cô nói ‘guồng máy’ là vì cô dạy luật công ty, thương mại &#8211; cái gọi là luật thương trường của tư bản. Theo con mắt nhìn của một luật gia, cô cho rằng kỹ nghệ xuất bản của nước Mỹ bây giờ là một guồng máy thương mại rất lớn có tính cách ‘độc tôn’ (monopoly) của thể chế tư bản).</p>
<p>“Về văn chương hải ngoại, Vietnamese exile literature, tôi công nhận và đồng ý với ông, rằng ngọn đuốc phải chuyền đến tay người của thế hệ mới. Nhìn vào thế hệ mới, theo tôi, thì ngay cả những tác phẩm bestsellers, và ngay cả cá nhân tôi với sông Hương (với tất cả những hạn định vì tình huống riêng biệt của nó (limitations by circumstances), hầu như chưa có một chỗ đứng gì đáng kể trong phạm vi rộng lớn.</p>
<p>Everything still remains to be seen. Con đường đi, dưới mắt tôi, là conđường thiên lý. Đường đi chưa đến.”</p>
<p>Nói về ‘lão hóa’ &#8211; Dương Như Nguyện hiểu theo một nghĩa khác của từ này* &#8211; cô gọi đó là chu trình chung của tất cả mọi sự việc. Cô nói “Trong lãnh vực văn chương, chưa chắc ‘lão hóa’ là điều đáng ,tiếc. (Nếu ‘lão hóa’ có nghĩa là ‘tuyệt tự’, không có ai để thắp tiếp ngọn đuốc, thì vâng, nên có tiếng chuông kêu cứu. Nhưng nếu thật sư đã ‘tuyệt tự’ thì có kêu cứu cũng không làm gì được. Nguy hiểm là ở sự ‘tuyệt tự,’ chứ không phải ở sự thật hiển nhiên: Lão Hóa.</p>
<p>“Văn chương cần tuổi tác và kinh nghiệm, giống như rượu ngon, giống như mỹ nhân tự cổ như danh tướng, càng nhiều tuổi càng sắc sảo (trong tiêu chuẩn gourmet, nếu thật sự là mỹ nhân, thì phải già đi mới đẹp. Nếu không tại sao người ta lại ví mỹ nhân với danh tướng? Có tướng nào trẻ măng mà có kinh nghiệm chiến trường đủ để trở thành danh tướng hay không, kể cả Napoleon và Alexandre? Thúy Kiều 16 làm sao thu hút cho bằng Thúy Kiều 35, khi mặt hồ thu đã long lanh ngấn lệ vì đường đời, và trái tim đã trưởng thành đủ để mang tình cầm sắc đổi ra cầm kỳ?”</p>
<p>Điều mà cô lo ngại hơn vấn đề ‘lão hóa’ là vấn đề ‘thoái hóa trong tiêu chuẩn’ (sub-standardization, chữ dùng của riêng cô). “Trong cộng đồng Việt Nam, hiện tượng này xảy ra, là trách nhiệm của những người cầm bút đi sau, và là trách nhiệm của độc giả. Của cộng đồngngười đọc. Điều này quá nan giải, vượt ra ngoài cuộc nói chuyện của chúng ta hôm nay, vì có liên quan đến vấn đề xã hội học của tình huống di dân.”</p>
<p>Cô nêu một thí dụ về cái mà cô gọi là ‘sub-standardization’.</p>
<p>“Cách đây mấy tháng, tôi được biết rằng tôi đã được xếp loại vào chung với một số phụ nữ viết văn tiếng Việt &#8211; viết về tình dục. Tôi xin khẳng định &#8211; tôi chưa bao giờ viết về tình dục cả. Tôi chỉ viết về kinh nghiệm làm người. Người nữ nồng nàn và người nữ nhọc nhằn. Và tôi cũng không lấy gì làm hãnh diện được chỗ đứng ‘tiền phong’ cho phong trào ‘viết về tình dục’ này.</p>
<p>“Trong việc phê bình văn học (một địa hạt quá thiếu vắng trong tình huống eo hẹp của kiếp di dân), dùng tiêu chuẩn gì đây để đánh gía hiện tượng này &#8211; cái gọi là ‘nhà văn Việt Nam viết về tình dục, nữ cũng như nam?’ Nếu nói rằng nhà văn nữ Việt Nam đi vào một thế giới mà trước kia là chỗ đứng của đàn ông, thì Anais Nin đã làm điều này từ thập niên 1930. Tại sao đàn bà Việt Nam bây giờ đi làm chuyện đó, chỉ để công nhận mình đã thụt lùi sau Anais Nin gần cả một thế kỷ?</p>
<p>“Artists write art. Artists write humanity. Thinkers write thoughts. Thinkers write social justice. Artists and thinkers do not write sexuality for the sake of sexuality. Nếu tình dục là một phần của kinh nghiệm nhân sinh, thì artists sẽ tả dục tình để đi tìm cái đẹp của nhân sinh và nhà tư tưởng sẽ mô tả dục tình để tranh đấu cho nhân sinh. Dục tình viết khơi khơi, gratuitously, là khởi điểm của mại bản, dùng ngay thân xác con người để làm shock effect, mà trong đó phụ nữ thường thường là bị bóc lột. Người luật gia nói rằng đây là mại bản appealing to the prurient interest. Không thể dùng realism để bào chữa cho chiều hướng mại bản này.</p>
<p>“Tình dục, realism, trong phạm vi tiểu thuyết, cần phải được authenticated trở thành một kinh nghiệm nhân sinh (tôi không biết phải dịch chữ ‘authenticated’ làm sao), Chu kỳ ‘authentication’ đó phải đặt trên kiến thức, trí tuệ, và sự ngậm ngùi suy gẫm về kiếp người — knowledge, experience, and then the necessary elaboration. Đi vào lãnh vực mô tả tình dục con người bằng trí tưởng tượng, và chạm cả vào phạm vi chuyên môn của tâm lý học và y học — có thể sẽ trở thành faux pas lớn nhất cho người tập cầm viết. Write only what you know! Đây là nguyên lý rõ rệt nhất cho trường dạy văn chương sáng tạo ở xứ này. Nếu không, viết về tình dục sẽ trở thành một sự trịch thượng, kệch cỡm và gượng ép. Có nhiều khi đi luôn vào cái mà độc giả có tầm vóc sẽ cho là ‘bad taste.’”</p>
<p>“Người cầm bút của thế hệ mới trực tiếp chịu trách nhiệm nếu sự trịch thượng, kệch cỡm và gượng ép này xảy ra trong cái được mệnh danh là ‘văn chương, văn học’ làm cho nó không còn là ‘văn chương, văn học’ nữa. Và như thế thì chẳng thà lão hóa còn hơn.”</p>
<p>Dương Như Nguyện nhấn mạnh: “Xin đừng hiểu lầm là tôi muốn phê bình những ‘nhà văn nữ’ của cộng đồng. Con đường viết là con đường riêng biệt của mọi người. Văn chương là cái gì còn lại của cái gì bị quên đi, bị bỏ đi, bởi người đọc (người đọc, chứ không phải là người đi mua trong thế giới mại bản).”</p>
<p>“Substandardization lại càng trầm trọng hơn nữa trong môi trường di dân, nơi mà người đọc ngày càng ít đi, và tình trạng ‘tự xuất bản’ gây nên một môi trường tàn khốc cho tiêu chuẩn.”</p>
<p>Cô cho biết cô yêu thích một vài tác phẩm của Vũ Khắc Khoan và Nghiêm Xuân Hồng, cũng như trường thiên tiểu thuyết cuối cùng của Nhất Linh trước khi ông mất – “cuốn tiểu thuyết đó mới thật sự là tiểu thuyết của ông Tam. Ba vị này, rất ư là lão hóa. Lão hóa như thế thì thế hệ mới của tôi cần nên lão hóa.”</p>
<p>“Cái khổ là có những người trong thế hệ mới này cứ chuyên môn đem chuyện ông Hemingway ra hỏi ông Doãn Quốc Sỹ, làm như thể ông Doãn Quốc Sỹ phải biết ông Hemingway thì mới trở thành nhà văn! Trong khi đó, nếu ông Hemingway còn sống, ông Hemingway không biết ông Doãn Quốc Sỹ là ai, vì ông Doãn Quốc Sỹ viết bằng tiếng Việt, mà sách lại không được phổ biến cho 80 triệu dân. Ngọn đuốc của thế hệ mới nên soicho những ông Hemingway của Đại Tây Dương được biết về bác Doãn Quốc Sỹ nhà mình, ngồi câu cá bên cái Hồ Thùy Dương của bác ấy (câu cá thay vì viết văn vì tác giả Hồ Thùy Dương đã lão hóa, lão hóa sau khi tấm thân gầy gò đã chịu đựng ngục tù chỉ vì nhà giáo đã từng cầm bút). Có những người khác trong thế hệ mới lại rất dễ bỏ quên hẳn bác Doãn Quốc Sỹ nhà mình, vì con đường đi vào dòng chính không cần sự lót đá (grounding) của cái Hồ Thùy Dương ngày xưa.</p>
<p>“Đó, mới chính thức là ngọn đuốc của người đi sau để giải quyết vấn đề lão hóa. Ngọn đuốc này phải thắp nên bởi nhiên liệu đến từ độc gỉa?. Tôi đau đớn mà nhận ra rằng vấn đề ông nêu lên không biết giải quyết ra sao. Thật tình mà nói, có thể tôi méo mó nghề nghiệp luật sư thương mại, nhưng tôi cho rằng vấn đề này mang tính chất của một vấn đề kinh tế. Cần có một Bill Gates cho văn chương hải ngoại. Tôi nghĩ đến điều này hằng đêm.</p>
<p>“Về phần tôi (con người nghệ sĩ tách ngoài phạm vi nghề nghiệp), sau tác phẩm này, tôi chỉ mong là một số độc gỉa hiếm hoi trong dòng chính sẽ nhớ cái tên dòng sông Hương, thay vì ‘Perfume River’ của nhà quảng cáo trung tâm du lịch. Như thế là tôi đã tạm thành công.</p>
<p>“Chỉ có thế thôi. Và chỉ có trời biết, cho dù rằng tên tôi là Như- Nguyện. May All Your Wishes Come True. Rút cục lại, tôi tự bảo mình: cứ viết đi, đừng suy nghĩ đến thành công hay không thì tốt hơn. Con đường thiên lý đẹp vì hoa nở trên đường đi, chứ không phải vì nó dẫn đến đích: một ngôi nhà vàng nào đó để nhốt con chim hót!”</p>
<p>San Jose-Denver<br />
Aug 15, 2005</p>
<p>NGUYỄN XUÂN HOÀNG</p>
<table border="0" cellpadding="0">
<tbody>
<tr>
<td width="10%"></td>
<td width="80%"><a href="https://t-van.net/wp-content/uploads/2014/09/clip_image0102.jpg"><img loading="lazy" decoding="async" style="background-image: none; padding-top: 0px; padding-left: 0px; display: inline; padding-right: 0px; border: 0px;" title="clip_image010" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2014/09/clip_image010_thumb2.jpg?strip=all&fit=226%2C244" alt="clip_image010" width="226" height="244" border="0" /></a></td>
<td width="20%"></td>
</tr>
</tbody>
</table>
<p><b>Tác giả: </b></p>
<p>Sinh quán tại miền Trung Việt Nam, Uyên Nicole Duong [Dương Như Nguyện] đến Mỹ năm 16 tuổi, năm ngày trước khi Sài Gòn sụp đổ.</p>
<p>Tốt nghiệp Báo Chí và Luật Khoa tại Southern Illinois University, the University of Houston Law Center và Harvard Law School. Đã theo học ngành diễn xuất tai American Academy of Dramatic Arts ở New York và Pasadena, California, đồng thời cũng là một bỉnh bút cho Quận Học Chánh Houston. Được bổ nhiệm làm giám đốc cơ quan quản lý các sự kiện có thể gây rủi ro, và là người phụ nữ Á Châu đầu tiên có chân trong Ban quản lý điều hành của Sở Học Chánh Houston, ở tuổi 24. Đảm nhiệm chức vụ Thẩm phán tại Houston, Tiểu Bang Texas và là người được Luật Sư Đoàn Hoa Kỳ vinh danh là vị chánh án người Mỹ gốc Việt đầu tiên tại Hoa Kỳ trong năm 1992. Từng hành nghề tư vấn trong lãnh vực kỹ nghệ dầu lửa quốc tế, là luật sư của cơ quan giám sát thị trường chứng khoán Securities andExchange Commission, Hoa Kỳ, đồng thời là Giáo sư tại Đại học Luật Khoa Denver, Colorado.</p>
<p>Đã xuất bản:</p>
<p>Mùi Hương Quế (nxb Văn nghệ 1999)<br />
Chín Chữ Của Nàng (nxb Văn mới 2005)<br />
Daughters of the River Huong (nxb RavensYard 2005)<br />
Con Gái của Sông Hương (bản dịch, RavensYard 2005)</p>
<p>Sẽ xuất bản:</p>
<p>Mimi and Her Mirror<br />
Postcards from Nam<br />
(Hai tác phẩm này đã hoàn thành từ năm 1999 nhưng vấn đề thương lượng với nhà xuất bản chưa xong.)<br />
(Bản dịch: Bưu Thiếp từ Nam, Văn Mới 2006) &#8211; đã có sự chấp thuận tiên khởi của Văn Mới)<br />
Tình Yêu, Đời Sống và Lưu Đầy (tập thơ song ngữ PenAsia 2006)<br />
(PenAsia là imprint của một LLC &#8211; limited liability company &#8211; làcông ty con của một nhà xuất bản rất nhỏ ở Luân Đôn; đang tiến hành].</p>
<p>Đang viết:</p>
<p>Book of the Seven Dreams</p>
<p>&#8220;Đối với tôi, các tác phẩm đã in hoặc đang tiên hành không còn quan trọng. Các bản thảo chưa viết mới là quan trọng. Như tôi nói, trong trái tim tôi có con đường thiên lý.&#8221;</p>
<p>&nbsp;</p>
<p><b>Nhã ca cái viết ra mới thực sự quan trọng</b></p>
<p>Tôi không biết mình đã đọc đi đọc lại bao nhiêu lần những trang sách trong Hồi Ký Một Người Mất Ngày Tháng của Nhã Ca. Những dòng chữ khô, lạnh, bén, sắc và ngắn như nhát dao đâm xoáy vào trái tim. Như một cái buá nện xuống một bàn tay đang bám vào vách đá chờ được kéo lên. Những dòng chữ “phẫn nộ” có thể làm những đôi mắt khô khốc phải ứa lệ.</p>
<p>“Suốt buổi chiều, tôi ngồi với giỏ thăm. Xếp vào. Xếp ra. Nhìn. Rờ rịt. Anh còn mê man. Anh chưa nhìn thấy món ăn con thơ này. Dọn lên. Mắt mũi các con. Dọn lên. Tim gan các con. Dọn lên. Nước mắt các con, nước mắt Mẹ…. Tôi nằm xuống lúc nào không hay. Lúc tỉnh được dậy sau cơn mê mệt, giỏ thăm nuôi đổ, mấy gói cá muối bị xé rách, tung toé. Nơi lỗ cầu tiêu, lại nó, con chuột. Cặp mắt nhỏ như hai hạt đậu, tinh quái, thập thò. Ngày mấy? Tháng mấy? Còn hỏi làm gì nữa.” <sup>[1] </sup></p>
<p>Nhân vật “anh” là thi sĩ Trần Dạ Từ và các con thơ của anh chị. Và khung cảnh là một phòng kiên giam dành riêng cho một người. Điều gì đã khiến một Trần Thy Nhã Ca với “buồn như lá cây, hồn thơ dại, xanh xao tháng ngày, …” <sup>[2] </sup>phải viết ra những dòng chữ trần trụi lạnh lùng đến như thế? Câu trả lời đã rõ. Nhưng viết được như thế không phải là tưởng tượng của một nhà văn, và không chỉ là kinh nghiệm của một người đã trải nghiệm những nỗi đau đó. Viết được như thế có nghĩa là đã phải sống như thế. Và hơn là như thế! Bởi vì, có bao nhiêu người đã từng sống như thế để có đượcmột Nhã Ca như thế? Đó cũng là một câu hỏi đã có câu trả lời.</p>
<p>Chị đã đi trên một con đường đầy gai nhọn, không tên gọi, không ngày tháng. Con đường máu và nước mắt. Con đường của một nỗi đau bị nén lại, một hạnh phúc bị chia cắt, bầm dập. Con đường mà ai đã đọc hồi ký của chị sẽ chảy nước mắt, nhưng chính những dòng chữ của chị chỉ là sự lặng câm.</p>
<p>Phải là một người có ý chí mạnh mẽ mới có thể đứng vững được trước những sóng gió của cơn hồng thuỷ 30 tháng Tư, 1975 đổ ập xuống Sài Gòn. Mặc dù, trong nhiều hoàn cảnh khác nhau, nhiều người đã trụ được. Nhiều ngưòi đã đứng dậy được. Nhưng từ một thiếu nữ lớn lên ở Huế, thành phố trang nghiêm và khắt khe, …. Trần Thị Thu Vân đã làm những bước nhảy vọt lớn: từ Huế cổ kính nhảy vào Sài Gòn phóng khoáng, rồi nổi tiếng với những bài thơ, nổi tiếng hơn với Đêm Nghe Tiếng Đại Bác, với Giải Khăn Sô Cho Huế và thình lình bị đẩy rơi từ một thể chế này xuống một thể chế khác như lao từ đỉnh cao xuống vực thẳm của một nỗi đau ngất, rát nhức như muối xát trên những vết thương còn tươi rói. Chị là người đi trên một sợi giây xiếc giữa sống và chết, một bên là cái sống mong manh và một bên là cái chết lúc nào cũng giang tay chờ đợi. Tất cả những gì chị có đều bị tước đoạt, trần trụi, trơ trọi, bức rời. Sau nhà tù nhỏ sẽ là nhà tù lớn: Một người đàn bà với đàn con thơ dại và hai bàn tay trắng đứng giữa chợ đời.</p>
<p>Làm sao có thể viết được giữa một hoàn cảnh như thế? Phải đợi 16 năm sau, khi cả gia đình chị ra khỏi Việt Nam, Hồi Ký Không Ngày Tháng của Nhã Ca mới ra đời. Đây không phải chỉ là một ghi chép lẫn lộn thời gian và kỷ niệm. Hồi Ký đó là một tiếng nói mạnh mẽ của con người trước một thế giới bị tan rã, một tiếng chuông cảnh tỉnh của một vũ trụ bị mê đắm trong u minh.</p>
<p>Bao lâu còn chiến tranh – bất cứ một cuộc chiến nhân danh chủ nghĩa nào – tiếng nói ấy cần phải được cất lên, tiếng chuông ấy cần phải được gióng lên, thông điệp ấy cần phải được lắng nghe.</p>
<p>Người đọc biết Trần Thy Nhã Ca với “Bài Nhã Ca Thứ Nhất”, mở đầu cho một dòng thơ mới trong văn chương Việt Nam từ năm 1960. Nhưng thật ra trước đó, từ năm 1955, chị đã từng làm thơ học trò ký tên Thu Vân, đăng trên các tuần báo Văn Nghệ Học Sinh, Văn Nghệ Tiền Phong tại Saigon, chưa kể thơ thời bích báo tiểu học, trung học. Và trước đó nữa, từ năm 1954, khi mới 15 tuổi cô bé Thu Vân đã viết truyện dài đầu tiên có tựa là “Đường Một Chiều”. Đó là thời cuối trận chiến tranh Việt-Pháp. Chị nói: ‘Truyện được viết theo “đơn đặt hàng” của ông anh trong nhà, để đăng từng kỳ trong báo “Hồn Xuân”, tờ báo chép tay của một nhóm văn nghệ choai choai tại Nam Giao, Huế. Còn nhớ, người chủ trương nhóm báo Hồn Xuân là anh Tôn Thất Chi, người vẽ bìa số báo đầu tiên là ông anh Trần Văn Lễ. Sau đó có hiệp định Geneve ngưng chiến, chia đôi đất nước, rồi di cư, tập kết. Báo Hồn Xuân chỉ mới “xuất bản” được ba số thì đành tự “đình bản”. Truyện dài đầu tay “Đường Một Chiều” vĩnh viễn dang dở.”</p>
<p>Giờ đây đọc lại thơ và truyện Nhã Ca của những năm Sáu Mươi, Sáu Mươi Tám, Nhã Ca của 1975 và môt Nhã Ca của 2005, người ta khám phá ra một khuôn mặt văn chương đã đi qua hạnh phúc và khổ đau, đi qua một tình yêu lớn, đi qua những thao thức và chờ đợi, đi qua những phút giây làm mẹ và trải nghiệm qua biết bao nỗi đau làm người.</p>
<p>Nhã Ca kể lại báo chữ in đầu tiên của chị sau khi đã làm báo tường báo chép tay là tờ “Văn Nghệ Học Sinh”, do nhà báo Giang Tân làm Tổng Thư Ký. Chủ nhiệm, chủ bút là ông Lê Bá Thảng, chánh văn phòng của Bộ Trưởng Thông Tin Trần Chánh Thành.</p>
<p>Thơ, tuỳ bút, truyện ngắn ký tên Thu Vân được liên tiếp chọn đăng. Những “tác giả” có bài đăng trong tờ báo “văn nghệ họcsinh” này về sau thành bạn nhau. Khởi đầu có Lê Đình Điểu (làm thơ tình với bút hiệu Y Dịch, viết khôi hài với bút hiệu Lê Ngông Nghênh), Nguyễn Thụy Long (viết truyện mộng mơ với bút hiệu Mặc Lan Giao). Tiếp theo, có Lê Tất Điều (viết truyện con nít thậtdễ thương với bút hiệu Ái Nhân); Dương Nghiễm Mậu (triết lý như một ông già với bút hiệu Hương Việt Hương); Đỗ Quí Toàn (làm thơ với bút hiệu Đỗ Quí), Viên Linh (thơ sáu chữ, thơ lục bát số một), Nguyễn Khắc Nhân (viết tuỳ bút giọng miền Trung với bút hiệu Thùy Nhân), Tô Tam Kiệt (thơ chiến đấu hùng dũng)&#8230; Thình lình, vào khoảng 1956, bỗng thấy Điểu và Long giới thiệu cho chàng thi sĩ Hoài Nam, người sau này sẽ là Trần Dạ Từ &#8230;</p>
<p>Trần Dạ Từ, tình yêu đầu tiên và sau cùng của chị. Chị nói: “Ừ, thì đó, chuyện giản dị vậy thôi. Hai đứa quen nhau qua tờ Văn Nghệ Học Sinh, do Lê Đình Điểu và Nguyễn Thụy Long giới thiệu. Tiếp theo, nhận cả ngàn bài thơ. Khác với các bạn viết văn làm thơ tài tử, Từ là “nhân vật toà soạn”, người trả lời hộp thư của toà báo. (Sau này mới biết, thật ra, thi sĩ chỉ là một anh nhóc bụi đời, các “văn hữu” nhóc tì họp đại hội với ông chủ nhiệm yêu cầu cho chàng việc làm, nhờ đó chàng là “thầy cò” sửa bài, kiêm biên tập viên duy nhất của tờ báo bên cạnh tổng thư ký Giang Tân). Bị cả ngàn bài thơ tấn công, cô bé 16 tuổi chịu không thấu. Sau hai năm viết thư, hai người trẻ tuổi gặp nhau lần đầu năm 1958.</p>
<p>Trong Hồi Ký, Nhã Ca kể chuyện, mùng một Tết chàng từ Sàigòn ra Huế. Chị ngồi nghe tiếng còì tàu. Đã biết trước nhưng vẫn giật mình. Tàu hoả đang hú còi vào ga. Ghê quá, chị nghĩ, anh ta tới rồi đấy. Tàu từ Đà Nẵng ra đúng sáng mùng Một Tết. Chắc còn phải tìm đường, tìm nhà. Trước sau một giờ trưa, sẽ đi qua cổng. Bẩy giờ tối sẽ tới, sẽ gặp. Thư cuối năm, anh báo trước như vậy.</p>
<p>&#8220;Buổi trưa. Bao nhiêu người qua đường, biết ai là anh. Run quá. Coi tề, cái người nhìn mình một cái rồi quay đi, bước nhanh hơn. Anh? Anh vậy há? Mỏng như tờ giấy. Còn mặt mũi? Kịp thấy chi mô. Mới nghĩ chắc anh đó, mắt con bé đã hoa lên rồi. Nhát.”</p>
<p>Buổi tối, Trần Dạ Từ bước vào nhà. Chưa mời, anh đã ngồi, Nhã Ca viết trong Hồi Ký. Người cha vặn cái radio bóng đèn cổ lỗ đầy tiếng kêu rồ rồ. Ông anh lớn trong nhà nhăn mặt, bỏ sang phòng bên. Chị ú ớ. “Những lá thư xuôi ngược cả năm Sàigòn-Huế-Sàigòn. Những bài thơ tình đầu. Anh ngồi đó ốm nhom.” Sáng mùng hai tết, khi gặp lại anh trong&#8230; khách sạn, trên bàn có bài thơ “Thủa Làm Thơ Yêu Em”, ký tên Trần Dạ Từ.</p>
<p>Thêm hai năm sau khi gặp nhau, chàng thi sĩ nhát như thỏ đế, vẫn không dám cầm tay người yêu. Vậy mà tình yêu của họ đã làm ồn thành phố Huế. Ồn đến nỗi, “nàng” phải đành bỏ chạy theo chàng. Vô tới Sài Gòn, một người bạn của Từ, Nguyễn Khắc Nhân, đứng tên ông anh, gửi chị vô nội trúù trường Đức Trí ở đường Võ Tánh. Xong thời nội trú, Nhã Ca trở về Huế ở một năm để làm lành với gia đình. Sau đó chị vào Sài Gòn, in thiệp cưới và năm 1962, sinh con đầu lòng là Sớm Mai. Tiếp theo, thêm một loạt 5 đứa nữa. Cậu út là Hưng Chấn, cuối 1974. Hưng Chấn là tên do bố mẹ đỡ đầu của cháu là anh chị Cung Tiến đặt cho để lấy hên. Chị nói, nhưng hên đâu chả biết, chỉ thấy mấy tháng sau là miền Nam sập tiệm, hai vợ chồng đi tù.</p>
<p>Từ khi biết “chàng”, Nhã Ca bắt đầu viết nhiều hơn. Chàng không chỉ làm Văn Nghệ Học Sinh mà còn viết bài kiếm ăn ở các báo khác. Bài gửi cho chàng ở Văn Nghệ Học Sinh, bỗng thình lình thấy xuất hiện trên mục “Mỗi Ngày Một Truyện” của nhật báo Ngôn Luận, rồi nhật báo Lẽ Sống, tuần báo Văn Nghệ Tiền Phong&#8230; vừa nhận báo vừa nhận cả nhuận bút. Biết mùi nhuận bút rồi, khó bỏ. Vậy là viết đêm viết ngày. Từ 1960, khi bỏ Huế vào Saigon với Trần Dạ Từ, bạn bè họp thành một bọn, mỗi tên tự chọn một bút hiệu chính thức và bắt đầu sống với nghề cầm bút. Từ 1960, 1961 gì đó, cùng lúc với việc Trần Dạ Từ làm nhật báo Dân Việt, các bạn của Từ -Nhã chủ trương tuần báo Ngàn Khơi, in ở nhà in Nguyễn Đình Vượng, số 39 đường Phạm Ngũ Lão. Năm 1963, ông Vượng ra báo “Văn”, yêu cầu chị góp bài. Năm 1964, bài viết cho Văn được in thành sách. Báo Văn và nhà xuất bản Nguyễn Đình Vượng ấn hành truyện dài “Bóng Tối Thời Con Gái”. Nhà AnTiêm của Thanh Tuệ ấn hành tập truyện “Đêm Dậy Thì”. Sau đó là “Đêm Nghe Tiếng Đại Bác” và cứ thế đi tới&#8230;</p>
<p>Thế còn tập thơ “Nhã Ca Mới” và giải thưởng thi ca toàn quốc thì sao? Chị nói thơ “Nhã Ca Mới” do “Ngôn Ngữ” xuất bản, cũng đầu năm 1964. Ngân khoản in thơ lẫn tên nhà xuất bản đều do anh Nguyên Sa. Cuối năm ấy, Nhã Ca được giải thi ca toàn quốc 1965. Tiền lãnh giải dĩ nhiên không còn dấu vết. Huy hiệu giải thưởng là huy hiệu của nguyên thủ quốc gia nghe nói là bằng vàng – tương tự huy hiệu của Tổng Thống VNCH dành cho các giải thưởng về sau- chẳng nhớ đi đâu mất, có lẽ còn đâu đó trong&#8230; Sở Công An Thành Phố hoặc không chừng đã ra vỉa hè, bị nấu chẩy thành dăm ba “chỉ”, hay một hai “cây”&#8230;</p>
<p>Trong các bài viết về thơ Nhã Ca, từ Bùi Giáng, Võ Phiến, Thi Vũ tới Huyền Không tức Hoà Thượng Mãn Giác&#8230; thường nhắc tới bài thơ “Tiếng Chuông Thiên Mụ”. Võ Phiến viết là trong lịch sử văn học Việt Nam chưa hề có tiếng chuông nào vang dội khác thường tới mức ấy. Hỏi chị tại sao? Chị bật mí: “ Bài thơ in lần đầu trên tuần báo Ngàn Khơi, đầu năm 1963. Đó là thời điểm vừa xẩy ravụ biểu tình đẫm máu tại Đài Phát Thanh Huế và Phật Giáo bị chính quyền đàn áp. Tuần báo Ngàn Khơi do bọn này chủ trương bàn nhau phải cùng nhau viết cái gì đó. Dự tính có Nguyên Sa, Nguyễn Mạnh Côn, Chu Tử, Đỗ Quí Toàn, Nguyễn Thụy Long, Tú Kếu, Nguyễn Hữu Đông, Trần Dạ Từ&#8230; mỗi người sẽ cùng viết nhiều ít gì đó. Bìa offset do Đằng Giao trình bầy in trước 4 số đã ghi sẵn tựa đề chung là “Tiếng Chuông Thiên Mụ”. Tới ngày ra báo, Nhất Linh tự tử, rồi sư sãi bị bắt, Saigon giới nghiêm&#8230; Chỉ riêng bài thơ mang tên “Tiếng Chuông Thiên Mụ” được xuất hiện trên báo. Còn nhớ trong bài thơ có câu “Thức dậy cùng tan vỡ, thức dậy cùng lịch sử” đã được các bạn trong “Sở Kiểm Duyệt” nhẹ tay cho qua&#8230; Mọi bài viết khác không qua khỏi lưỡi kéo kiểm duyệt, đành phổ biến cách khác.</p>
<p>Trần Dạ Từ và các bạn của anh làm báo “Lửa” đánh máy quay roneo bằng cái máy chữ của anh Nguyên Sa cho, cả bọn xúm nhau vào phát hành chui&#8230; Trong việc phổ biến số báo “Lửa” ở các đại học thời đó có cả các nhà văn Nguyễn Thị Vinh, Nhật Tiến. Sau đó, Trần Dạ Từ bị mật vụ nửa đêm bịt mắt dẫn đi mất tiêu, cả bọn trốn chui trốn nhủi&#8230; Đó cũng là lúc có bài “Thơ Sớm Mai”, sinh nhật năm đầu tiên của cháu.”</p>
<p>Trả lời câu hỏi hiện nay chị đang viết gì? Nhã Ca nói: “Truyện ngắn, đang lo viết cho báo tết. Truyện dài, đang sắp xếp, sửa chữa bộ “Đường Tự Do Saigon”. Truyện đã viết liên tục hơn 10 năm trên Việt Báo, mỗi ngày mỗi viết. Độc giả có lòng hỏi. Có nhà xuất bản muốn trả tiền để in. Nhìn lại, đếm chữ thấy đã có tới hơn 10,000 trang sách. Truyện viết từng ngày, muốn thành sách, phải sửa chữa, sắp xếp lại. Cả năm nay, chỉ mới xong 640 trang cho cuốn 1, hiện đã đưa thử lên internet&#8230; Việc xuất bản trọn bộ, chắc còn phải mất thêm ngày tháng.</p>
<p>Về câu hỏi tác phẩm nào của chị được chị thích nhất, Nhã Ca trả lời có lẽ nhiều phần dành cho cuốn “Hồi Ký Một người Mất Ngày Tháng”. Đó là nói văn. Còn trong lòng, chị vẫn yêu và trân quí Thơ. Nhã Ca, tên tuổi ấy đã mang âm hưởng một bài thơ.</p>
<p>Nói về kỷ niệm mà chị nhớ hoài là thời kỳ trong nhà tù nhỏ và nhà tù lớn ở Việt Nam, Nhã Ca kể có lần được theo xe tù đi thăm nhà trưng bày tội ác Mỹ Ngụy ở trường Dược cũ tại Saigon, thấy sách của mình và bạn hữu được bầy dưới danh nghĩa “tội ác Mỹ Ngụy”. Đặc biệt, cuốn “Giải Khăn Sô Cho Huế” được treo trang trọng. Đã đứng nghiêm cạnh Lê Xuyên, Hoàng Anh Tuấn, Trần Việt Sơn&#8230; chào kính tác phẩm của mình và bạn hữu.</p>
<p>Hỏi chị đang đọc gì? Nhã Ca cho biết hiện chị đang đọc Milarepa, thơ và truyện kể về thi sĩ và thầy tăng lớn của Tây Tạng. Còn tác giả ưa thích? Với chị đó là Thơ Nguyên Sa, Thanh Tâm Tuyền, Tô Thuỳ Yên, Mai Thảo, Trần Dạ Từ, Đỗ Quí Toàn, Viên Linh, Tú Kếu&#8230;</p>
<p>Còn truyện? Chị nhắc đến Thảo Trường, Lê Tất Điều, Dương Nghiễm Mậu, Nguyễn Huy Thiệp, Nguyễn Xuân Hoàng, Nguyễn Thụy Long&#8230;</p>
<p>Với câu hỏi liệu có thể nói đến một nền văn học hải ngoại không, Nhã Ca cho rằng “Một nền văn học hải ngoại?” chắc chỉ là câu hỏi nhất thời hoặc tạm thời. Dăm ba chục năm, vài ba trăm năm, rồi sẽ qua đi. Những cái đáng còn sẽ còn lại. Yếu tố nơi sinh sống trong nước hay ngoài nước của tác giả bất quá chỉ là những ghi chú, không phải là yếu tố để tác phẩm văn chương tồn tại. Văn học hay văn chương Việt Nam là đủ. Người viết ở đâu cũng được, dù trong hay ngoài nước. Viết trong hay viết ngoài nhà tù chẵng phải là yếu tố quyết định giá trị. Cái viết ra mới thực sự quan trọng..</p>
<p>NGUYỄN XUÂN HOÀNG</p>
<p>[1] Nhã Ca, Hồi Ký Một Người Mất Ngày Tháng, tr. 61. Nxb Thương Yêu, 1991.</p>
<p>[2] Bài Nhã Ca Thứ Nhất.</p>
<p>&nbsp;</p>
<p><b>Tôi nghe tiếng nước reo trên bếp</b></p>
<p><b>1.</b></p>
<p>Suốt mấy ngày đầu tháng giêng tây, thành phố Thung lũng tôi ở, mưa dầm dề và có những trận gió buốt lạnh. Cái thứ lạnh căm căm giống như cái lạnh ngày đầu khi tôi vừa từ Sàigòn lên Đà lạt. Vườn sau nhà có một sàn gỗ [deck] rất lý tưởng cho những buổi sáng mùa hè uống cà phê đọc báo hay những chiều họp bạn. Tuy vậy ở đây tôi chưa bao giờ có được cái hạnh phúc bắc ghế ra sân hóng nắng,</p>
<p>Cách đây ba bốn năm, có lần tôi ra sàn tính xem chỗ này có thể đặt cái bàn và mấy chiếc ghế để cuối tuần ngồi uống rượu với bạn bè được không. Tôi bước quanh mép sàn và bất ngờ sụp chân xuống. Mấy chậu hoa đổ theo. Sàn gỗ đã mục từ lâu. Ý định mời bạn bè đến nhà chưa bao giờ thực hiện được dù tôi đã ở đây bảy năm. Bảy năm với những ngày cuối tuần hết đến nhà người bạn này lại chạy đến nhà người bạn khác, ăn uống trò chuyện mà không bao giờ đón được bạn đến nhà mình.</p>
<p>Nhiều lần gọi cô chủ nhà than phiền về cái deck bị sụp, nhiều lần cô hứa cho người đến thay sàn mới, nhưng lời hứa của cô như gió thoảng mây bay.</p>
<p>Sáng nay, nhìn ra sân, những chỗ ván ghép đã thấy đóng rêu xanh, những chậu hoa ngã nghiêng, bụi hoa mọc sát bờ rào bị gió thổi cúi rạp đầu. Một con sóc từ bụi cây cao ngăn hồ nước phiá sau nhảy qua sân và biến mất dưới chân sàn. Những con sóc? Tôi nhớ một bài hát hồi nhỏ ở Nha Trang khi đi xem xi-nê ở rạp Tân Tân bao giờ trước khi phim chiếu cũng được nghe bài hát Ma Cabane Au Canada / Căn Lều Của Tôi Ở Canada nằm sâu trong rừng nơi có những chú sóc&#8230;Bài hát lập đi lập lại một điệp khúc quen tai đến nỗi bọn trẻ chúng tôi đứa nào cũng thuộc nằm lòng. Bài hát đó theo tôi vào Sài gòn, lên Đà lạt, vô nhà tù U Minh, vào trại tỵ nạn Phi Luật Tân và bây giờ một buổi sáng mùa đông ở California. Có những bài hát ta nghe nhiều lần nhưng không bao giờ nhớ nỗi một câu và có những bài hát dù không còn phổ biến nữa, nhưng nó vẫn cứ vang lên trong đầu bằng một trí nhớ không được chuẩn bị. Những bài hát làm sống dậy hình ảnh và kỷ niệm, sống dậy mùi vị cỏ cây và hơi thở của da thịt. Những con sóc thời thơ ấu và ca khúc Ma Cabane Au Canada của tôi.</p>
<p><b>2. </b></p>
<p>Có tiếng gõ cửa. Cái nút chuông có trên vách sao họ không bấm mà lại gõ? Tôi bước ra. Một người đàn ông da đen cao lớn, mặc bộ suit màu đen, đeo kính trắng, mũ đen rộng vành, cầm trên tay một xấp giấy, đứng trước mặt tôi.</p>
<p>Ông tự giới thiệu là Thomas Donahey, người của Thượng Đế. Ông nói thế giới đầy tội lỗi, đã đến lúc mọi người trên trái đất này phải sám hối. Tội ác như một nồi nước đang sôi sùng sục, và cầu nguyện là rút những thanh củi đang cháy ra khỏi bếp. Tôi nói với ông tôi chưa bao giờ phạm tội, tại sao tôi phải cầu nguyện? Ông lấy một tờ giấy màu xanh trong xấp giấy đưa cho tôi. &#8220;Đây là những lời kinh sám hối. Ông đọc sẽ rõ. Ông nói ông chưa bao giờ phạm tội à? Thật sao? Trong suốt đời ông, ông chưa bao giờ phạm tội thật à?&#8221; &#8220;Thật chứ!&#8221; Tôi nói. Ông Thomas nhìn tôi, tay ông vẫn chìa tờ giấy màu xanh về phía tôi. Đầu ông hơi nghiêng, gọng kính trụt thấp dưới sóng mũi, mắt ông to, nhưng tròng trắng nhiều hơn tròng đen. Tôi không muốn cầm tờ giấy nhưng thật là bất lịch sự nếu cứ để ông giữ nguyên tư thế đó. Tôi đành đưa tay ra. Ông Thomas tiếp, trên thế gian này không một ai, không trừ một ai &#8211; ông nhấn mạnh, mà không phạm tội. Sinh ra đời đã là phạm tội. Làm người đã là phạm tội.</p>
<p>Lúc đó hình như gió thổi mạnh hơn và bầu trời xuống thấp mịt mù mây đen cùng với những giọt mưa lạnh buốt tạt vào mặt chúng tôi. Tôi đẩy rộng cửa, mời ông vào nhà. Ông khoát tay, kẹp xấp giấy vào nách, bật chiếc dù đen đeo ở cánh tay lên. &#8220;Cám ơn. Tôi còn nhiều nhà phải đi. Tôi sẽ trở lại với ông một vài ngày sau, nếu ông còn muốn nói chuyện với tôi.&#8221; Ông kẹp gọng dù vào cổ, chìa tay cho tôi bắt. Tôi nắm bàn tay to bè của ông, những ngón tay dài mập màu nâu nhưng lòng bàn tay nhạt màu cà phê sữa. Ông bước đi, lưng thẳng, giương chiếc dù lên cao, nhìn về đằng trước. Bỗng nhiên tôi thấy ông giật mình đứng sững lại. Vô tình, ông đã giẫm lên cây ớt trước nhà vừa bị trận gió thổi ngã xuống. Cả một cành ớt chín đỏ nát dưới chân ông.</p>
<p>&#8220;Xin lỗi! Xin lỗi!&#8221; Ông quay lại nhìn tôi trước khi tiếp tục rảo bước.</p>
<p><b>3. </b></p>
<p>Sau bảy năm, từ dưới nam lên miền bắc thung lũng nhận việc làm mới, nay tôi đang có nhiều ngày để tùy nghi. Ngồi trước màn ảnh máy vi tính tôi đọc những bài viết trên các mạng Talawas, Tiền Vệ, Evăn,&#8230;.. Hai cuốn sách đang được nhắc đến nhiều nhất lúc này là Bóng Đè của Đỗ Hoàng Diệu và Cánh Đồng Bất Tận của Nguyễn Ngọc Tư. Những lời khen &#8220;cực kỳ&#8221; và những lời chê cũng &#8220;cực kỳ&#8221; không kém cho Bóng Đè, trong khi với Cánh Đồng Bất Tận lời khen chê có phần chừng mực hơn. Nhà phê bình Phạm Xuân Nguyên gọi Nguyễn Ngọc Tư là &#8220;người viết những câu chuyện bình thường về những điều bình thường của những người bình thường của cuộc sống quanh cô.&#8221; Nhưng với Cánh Đồng Bất Tận, &#8220;Nguyễn Ngọc Tư đã bắt đầu chạm vào được những vĩa tầng cuộc sống của vùng đất cô sống và viết văn. Dữ dội và nhân tình [tính?] văn Tư bắt đầu là như thế.&#8221;</p>
<p>Trong khi đó trên mạng Evăn.com [trích lại từ báo ĐànÔng?] tôi đọc thấy câu &#8220;Danh hiệu nhân vật bị búa rìu dư luận ghê gớm nhất trong năm qua có lẽ phải trao cho nhà văn trẻ Đỗ Hoàng Diệu, do chuyện sex trong cuốn Bóng Đè của cô. Trả lời câu hỏi &#8220;Tình dục trong văn chương là bình thường hay không bình thường&#8221; cô nói &#8220;Tình dục, nó là một phần của đời sống. Nó đẹp như đời sống đang diễn ra. Nó nồng nàn như đời sống nhưng mặt khác nó cũng tăm tối như đời sống. Văn chương đạt đến văn chương nhất đấy là khi viết về cái phần ẩn sâu, giấu kín nhất trong con người. và sex là cái ẩn giấu nhất ấy. Nó là một trong những cảm xúc lớn lao và bền bỉ của con người. Thế tại sao tôi không được viết sâu về tình dục.&#8221;</p>
<p>Điều đáng tiếc là tôi chưa được đọc cuốn Bóng Đè của Đỗ Hoàng Diệu.</p>
<p><b>4. </b></p>
<p>Trời vẫn mưa, gió vẫn tiếp tục thổi rạp mấy bụi cây sân sau, và lạnh vẫn không giảm chút nào. Trời đất thế này tôi ngại ra Starbucks. Thôi đành ở nhà tự đun nước pha cho mình một ly cà phê buổi sáng. Thứ cà phê mà cực chẳng đã do lười biếng tôi mới uống. Thứ Nestcafe&#8217; 100% Colombian, màu đen như than nhưng không mùi vị. Tôi mua vì nó có màu đen đậm, giống như cà phê phin Việt Nam. Một thứ nước màu đen để tạo cảm giác cà phê. Tại sao có thể gọi là cà phê mà không có chút hương vị cà phê?</p>
<p>Lại có tiếng gõ cửa. Hơi dồn dập. Tôi nghĩ chắc lại cái ông Thomas &#8220;người của Thượng đế&#8221;. Tôi bước ra mở chốt. Người đàn ông đứng trước mặt tôi gầy nhom, hơi thấp, lưng như có vẻ còng xuống. Mái tóc thưa, nhiều sợi bạc. Ông mặc chiếc áođi mưa bằng ni lông màu vàng. Ông cặp nách một gói giấy, có vẻ như là một cái chai. Đôi giầy thể thao màu trắng sần sùi, lấm nước mưa, hai sợi giây giầy bị tuột thòng xuống gần chấm đất. Gấu quần bị tươm ra, mòn rách. &#8220;Có phải ông là ông H. không?&#8221; Khách hỏi tiếp. Tôi gật đầu. &#8220;Tôi có thể vào nhà ông được không?&#8221; &#8220;Được chứ.&#8221; Tôi đẩy rộng cánh cửa ra. &#8220;Mời ông.&#8221; Tôi nói. Khách bước lên thảm, tự nhiên, không cởi giầy. Phòng khách nhỏ chỉ có một ghế cho hai người ngồi. Mấy thùng giấy và sách báo đã chiếm hết chỗ. Khách ngồi xuống ghế, đặt gói giấy trên bàn và tự tay mở ra. Một chai rượu. Khách nói đây là chai Les Violettes, Côtes du Rhône, năm 2000. Tôi không phải là người sành rượu đâu. Ông bạn tôi mua dùm cho tôi đó. Ông có đồ khui không?&#8221; Tôi nói, có, nhưng tôi vẫn chưa biết ông là ai? &#8220;Xin lỗi! Xin lỗi! Một cái tên đâu có nghĩa gì. Ông không biết tôi là ai là phải rồi. Nhưng mà tôi thì tôi biết ông. Tôi có đọc những bài viết của ông. Chắc ông sẽ hỏi tại sao tôi biết nhà ông phải không? Chẳng là tôi là bạn của một người bạn của ông. Ông còn nhớ ông Đ. không. Hiện nay ông ấy làm nghề xây cất dưới Lốt. Trước tôi cùng ở trại tỵ nạn Bataan, Phi Luật Tân với ông Đ. Đâu khoảng năm 1986. Hình như trước ông cũng ở đó phải không. Ông Đ. nói khi tôi đến thì ông cũng vừa rời trại. Hiện tôi làm nghề bỏ báo ở QuậnCam. Tôi đi Xe Đò Hoàng lên đây từ hôm qua, dự cuộc họp mặt mấy người bạn trước cùng đơn vị. Chai rượu này tôi mang lên tặng ông. Ông Đ. nói ông thích vang Pháp, ông ấy bảo tôi cứ mua đại một chai, cứ nhãn hiệu Pháp là ô-kê rồi. Vì làm nghề bỏ báo tôi có dịp đọc đủ loại. Bất cứ sách báo gì viết bằng chữ Việt là tôi đọc ráo. Nhiều bữa buồn hết sách báo tôi đọc luôn cả mục rao vặt. Tuy vậy báo tin tức thì coi xong là xong. Thời sự nó đi qua mau lắm! Tsunami rồi cũng qua. Katrina rồi cũng qua. Iraq thì ngày nào cũng có người chết, xe bom tự sát. riết rồi cứ thấy tin Iraq là tôi cho qua luôn. Nhưng trên giường tôi thì không bao giờ thiếu mấy tờ Hợp Lưu, Văn Học, Văn. Có nhiều bài, nhất là thơ, tôi đọc mà chẳng hiểu gì ráo. Tôi chỉ đọc truyện thôi. Có hôm tôi được đọc bài của ông. Điều tôi muốn nói với ông ở đây là&#8230; Khách bỗng ngừng lại: &#8220;Sao? Nhà không có đồ khui rượu sao?&#8221; Tôi nói, có, nhưng sáng sớm mà rượu chè gì ông anh. Thôi cũng được, khách nói, chỉ là vì tôi muốn cụng ly với ông thôi mà! Vậy nhà có cà phê không? Tôi nói có, nhưng cà phê dở lắm. &#8220;Không sao! Không sao! Cà phê gì cũng được, miễn nó là cà phê là ô-kê rồi!&#8221; Tôi đến bếp, mở ga nấu nước. Khách hỏi: &#8220;Tôi có làm phiền ông không?&#8221; Tôi trả lời, không, không, tôi muốn nghe ông nói. &#8220;Nói gì?&#8221; Khách hỏi. &#8220;Thì ông có thể cho tôi biết tại sao ông đến đây gặp tôi, chắc là ông có điều gì muốn nói chứ phải không?&#8221; &#8220;Gặp ông coi như gặp người đồng hương vậy thôi mà. Mà sao ông viết gì bi quan quá trời vậy? Cái Sổ Tay đó. Ông biết không, tôi ở đây sống một mình. Không gia đình, tứ cố vô thân. Vợ con tôi đã chết hết trong chuyến vượt biên. Hồi ở Sài gòn tôi chỉ là một người lính quèn. Tôi đi lính chỉ vì đến tuổi lính thì đi lính. Tôi không biết chính trị là gì. Chế độ mới tôi cởi áo lính ra, gia đình nheo nhóc, đi kinh tế mới. Sống không nổi, về Sài gòn, còn tệ hơn. Vợ chồng tôi dắt díu về Rạch Giá, quê vợ tôi. Thấy người ta vượt biên tôi cũng vượt biên. Tôi đâu có đồng xu dính túi. Vượt biên vì nhà gần bãi, giúp chủ ghe chứa người rồi người ta cho đi theo. Bị lộ, bị bắt, bị tù. Thả ra, vượt nữa. Lại bị lộ, bị bắt, bị tù. Chuyện cơm bữa. Chuyến đi tưởng được trót lọt, thì bị hải tặc Thái Lan. Vợ tôi bị chúng hiếp, xong liệng xuống biển, ghe đi tiếp bị chìm. ba đứa con tôi nằm trong bụng cá mập. Trên ghe cả sáu chục người chỉ còn có chín. Gần hai mươi năm nay tôi làm đủ thứ nghề toàn là tay chân. Hết bồi bàn rồi bưng phở, hết rửa chén rồi quét dọn thương xá. Thuê gì làm đó. Bây giờ thì đi bỏ báo. Những ngày đầu ở đảo đêm nào cứ chợp mắt là thấy vợ con hiện về. Qua tới Mỹ cũng còn ám ảnh. Nhiều đêm khóc vì nhớ vợ nhớ con. Bây giờ thì nguôi rồi. Thỉnh thoảng thôi. Tôi nghiệm ra người chết thì đã chết, người sống thì phải sống thôi&#8230;.&#8221;</p>
<p>Tôi nói tôi cám ơn ông, nhưng tôi vẫn không hiểu ông muốn nói gì. &#8220;Tôi muốn nói, &#8220;ông có công ăn việc làm, có vợ có con, mà sao những gì ông viết ra buồn thảm quá. Mỗi lần đọc ông tôi thấy như ông xô tôi xuống một cái hố sâu. Tôi cũng muốn chết quách cho xong đời. Nhưng tôi nghĩ lại, tại sao chớ. Buổi sáng mở mắt ra tôi thấy một ngày vui, đi làm dành dụm được chút tiền tôi gửi về nhà cho mấy đứa cháu. Tôi thấy mình sống có ích. Cái sống là quan trọng. Tôi muốn nói, phải chi ông đừng viết về những điều buồn bã nữa thì tôi rất cám ơn ông. Bất cứ điều gì làm cho thế giới này buồn bã đều là tội ác. Ông không thấy vậy sao? Buổi sáng hôm nay trời đất ở đây mưa gió lạnh lẽo nhưng dưới nam Cali trời ấm áp lắm. Lạnh lẽo thì cũng có cái thú của lạnh lẽo chớ phải không ông? Buổi sáng hôm nay tôi thấy là một buổi sáng hạnh phúc. Chuyến trở về tôi sẽ kể cho ông Đ. nghe về cuộc gặp gỡ này. Chắc ông Đ. mừng lắm. Khách nói không ngừng. Khi ông dừng lại, tôi nghe ấm nước trên bếp vừa reo lên.</p>
<p><b>NGUYỄN XUÂN HOÀNG</b></p>
<p>&nbsp;</p>
<p><strong>Phụ Lục :</strong></p>
<h2>Một sổ thông hành để đi vào trái tim đời</h2>
<p><strong><a href="http://damau.org/archives/author/buivinhphuc">Bùi Vĩnh Phúc</a></strong></p>
<p>(Tựa, cho <em>Sổ Tay Nguyễn Xuân Hoàng</em>) (*)</p>
<p><img loading="lazy" decoding="async" src="https://sites.google.com/site/gsnguyenxuanhoang/_/rsrc/1332435965874/so-tay-nxh/Untitled.jpg?height=253&amp;width=320" alt="" width="320" height="253" border="0" /></p>
<p><em>Jean Michel Basquiat, Self Portrait (Chân Dung Tự Họa)</em></p>
<p>Nhà văn phải làm việc trên những chất liệu của đời sống. Nhưng hắn không được quyền mang tất cả những chất liệu thô của cuộc đời vào trang giấy. Đối mặt, tiếp cận với những hiện thực của cuộc đời, nhà văn phải ghi lấy những hình ảnh, những ấn tượng mình có vào trong tâm hồn. Hoặc kỹ hơn nữa, hắn phải luôn luôn có một vài mảnh giấy rời, hay một quyển sổ tay nhỏ, bỏ sẵn trong túi. &#8220;Lẩn&#8221; vào cuộc sống, nhìn ngắm, quan sát, rung động, khổ đau, hạnh phúc, giận dữ, thiết tha… với đời, hắn giữ lại tất cả những điều đó cho riêng mình. Khi thuận tiện, tìm một góc riêng, hắn ngồi xuống, hí hoáy ghi nhận cuộc đời trong mắt nhìn, trong cảm quan và ấn tượng của riêng hắn. Từ những cảm quan, ấn tượng có thể còn khá mơ hồ đó, những tác phẩm lớn có thể ra đời.</p>
<p>Các nhà văn Việt Nam chắc chắn là đã có rất nhiều người viết sổ tay. Nhưng rất ít người công bố những ghi nhận, cảm xúc, ấn tượng ban đầu ấy cho độc giả quan sát. Độc giả, trước sổ tay của một nhà văn, sẽ làm một công việc đặc biệt: quan sát cái được quan sát. Sự quan sát này mang tính văn học, thậm chí văn chương nữa. Nó không còn phải là cái quan sát mang nhiều tính thực tế, khách quan, trước những hiện tượng, sự kiện, biến cố của cuộc đời. Nó là sự quan sát, theo dõi, đánh giá cái đã được quan sát, theo dõi của nhà văn. Chắc chắn một sự quan sát như thế sẽ đem lại nhiều thú vị.</p>
<p>Trong văn chương Việt Nam, Mai Thảo đã là người đem lại cho người đọc những cái thú vị như thế. Nhớ, trong một bài viết về Mai Thảo, tôi đã đọc cái quan sát, rung động của Mai Thảo, trong Sổ Tay của ông, như thế này:</p>
<p><em>Câu văn của Mai Thảo ở đây thường “tự nhiên” hơn là câu văn của ông ở những chỗ khác. Rất nhiều câu cụt và ngắn một cách cố ý. Mà vẫn có nghệ thuật. Hình ảnh và nhịp điệu của chúng phơi phới bay múa. Nhịp điệu của hình ảnh? Vâng, đó là một đặc trưng của văn Mai Thảo.</em></p>
<p><em>&#8221; (…) Mưa. Mùa Thu. Mưa dương cầm Nghiêm Phú Phi. Thu vĩ cầm Đan Thọ. Phần tôi, sáng nay một hơi thuốc lá thấy ngon hơn, hơi thuốc của thơ Hồ Dzếnh: ngỡ lòng mình là rừng, ngỡ hồn mình là mây, cộng với cái nhìn bởi nắng đã lui quân nên đằm đằm bóng rợp, đã những ý thơ, hình thơ, ảnh thơ, tứ thơ về mùa thu, về mưa trời, về tháng chín óng ả hiện hình dưới hàng hiên tâm hồn sáng nay tôi đang ngồi, trên một ghế bành tưởng tượng, nhìn mưa Mỹ nghiêng nghiêng chở mùa thu Việt tới (…)</em></p>
<p><em>Mùa thu. Moderato, trong nhạc dân gian Phạm Duy. Lá vàng mùa thu. Doloroso, trong nhạc trữ tình Cung Tiến (…) Thơ tiền chiến về mưa thu, nắng thu lấp lánh thật nhiều châu báu, kim cương nơi thể thơ như một bình ngọc riêng được đúc ra để đựng hết mùa thu ngây ngất là thể thơ lục bát. Câu sáu đội mưa thu bay. Câu tám nhặt ngô đồng rụng (…)&#8221;</em></p>
<p>(Văn số 40, 10/ 1985)</p>
<p><em>&#8220;(…) Đích thực mưa xuân. Phơi phới, nghiêng nghiêng. Và lục bát trên những mái nhà. Và tứ tuyệt trên những đường phố. Và song thất ở những ngã tư (…)<br />
Đêm qua thức giấc, thoáng nghe thấy, thật xa, những tiếng mưa trên những cảnh ngộ, những thân thế quê nhà. Tiếng mưa dài như một cuộc đời buồn. Những tiếng mưa tăm tối (…)&#8221;</em></p>
<p>(Văn số 57, 3/ 1987)</p>
<p>[Trích trong<em> Lý Luận và Phê Bình/Hai mươi năm văn học Việt ngoài nước</em> (Bùi Vĩnh Phúc, California: Văn Nghệ, 1996)]</p>
<p>Trong văn chương thế giới, có lẽ Sổ Tay (Carnets) của Albert Camus là một trong những trang văn, ghi nhận những hiện thực thô của cuộc sống, bằng cái nhìn rất ấn tượng, đặc thù của mình. Hãy xem ông tả khung cảnh New York mà tôi thử dịch lại sau đây:</p>
<p><em>Có lẽ New York sẽ chẳng là gì cả nếu nó không có bầu trời của nó. Vươn mình ra khắp bốn góc của chân trời, trần trụi và bát ngát, nó đem lại cho thành phố sự huy hoàng, tráng lệ của nó vào buổi ban mai và nét vĩ đại vào những buổi tối. (…) [T]ôi nghĩ đến những buổi chiều khác, quá dịu dàng và lướt qua quá nhanh đến nỗi nó bóp thắt trái tim ta, những buổi chiều nhuộm tím những khoảng sân cỏ bát ngát của Central Park… Những bầy trẻ nhỏ da đen đang dùng gậy gỗ để quật bóng, giữa những tiếng reo cười ồn ào hạnh phúc, trong khi những cụ Mỹ già, áo sọc ca-rô, đang ngả người trên băng ghế (…), những chú sóc vụt chạy biến lao mình vào bụi rậm tìm kiếm những mẩu thức ăn khoái khẩu của chúng. Trên những lùm cây rậm rạp trong sân cỏ, những con chim đang tấu một khúc nhạc jazz chào mừng sự xuất hiện của ngôi sao đầu tiên trên nóc cao ốc Empire State… </em></p>
<p>(Albert Camus / <em>Carnets</em>, &#8220;Le Ciel de New York&#8221;)</p>
<p><em>Carnets</em>, sổ tay, theo định nghĩa, là một cuốn sổ, giống như một giấy thông hành, một hộ chiếu, một thứ giấy tờ chính thức cho phép bạn đi lại, đặc biệt cho phép bạn vượt qua các biên giới quốc gia. Đúng là như vậy. Với Carnets, Camus đã đưa ra những ghi nhận về mọi sự của cuộc đời, những cái nhìn xuyên quốc gia, để nhìn vào trái tim sự sống. Ông đã viết, trong <em>Carnets</em>, &#8220;Một người trí thức là một kẻ mà trí óc hắn quan sát chính nó&#8221;, và &#8220;Chúng ta chỉ sống thật sự một vài giờ phút trong cuộc đời của mình.&#8221; Những giờ phút ấy hẳn phải là những lúc con người sống rất thực với bản chất, với rung động của chính hắn.</p>
<p>Nguyễn Xuân Hoàng cũng vậy. Ông cũng đã sống những giờ phút như thế trong Sổ Tay của mình.</p>
<p>Ông đã viết như thế này trong một đoạn Sổ Tay, khi nói về những người bạn thân thiết một thuở giờ đã ra đi, không còn có mặt trong cuộc sống:</p>
<p><em>Chia tay và gặp gỡ là một biện chứng. Nói theo nhà triết học Martin Heidegger thì bản chất con người là “luôn luôn bị ném về phía trước”. Con người là sinh vật luôn luôn lo toan và dự tính, bởi vì bản thể con người không ở trong con người, nhưng ở trước mặt nó. Chính trong viễn tượng đó, Heidegger gọi con người là vật sống đấy để chết. Con người sinh ra nhất thiết phải chết. Dasein là hữu thể để chết (sein Zum Tode: être pour la mort). Sự chết để lại dấu tích trên từng hành động, trong từng ý nghĩ ta.</em></p>
<p>(trích bài &#8220;Chia Tay&#8221;)</p>
<p>Những lời, những chữ ấy như tự nhắc nhở cho mình. Như tự nhắc nhở, rằng, một ngày nào đó ta cũng phải nói lời chia tay, từ biệt với thế gian này. Tự nhắc nhở như thế để ý thức hơn nữa về những giây phút sống của mình hiện tại. Để ta sống một cách có ý thức và có ý nghĩa hơn. Và người đọc, khi tiếp cận với những dòng chữ trên, chắc hẳn cũng sẽ làm một cuộc quy chiếu. Ngay trên bản thân mình. Để thấy rằng mình là một hữu thể hướng về cái chết. <em>Être pour la mort</em>. Viết như thế là vượt qua biên giới của cuộc sống hữu hạn trong vòng trần gian này. Để hướng lòng tới một đích tới xa vời và sâu thẳm hơn.</p>
<p>Viết như thế, nhà văn đã sử dụng một thứ <em>carnets </em>văn học. Nhận thức hiện thực. Và nhận thức nó với một cảm quan nhanh nhậy và bén sắc.</p>
<p>Cũng trong tinh thần ấy, vượt một biên giới gần hơn, nhìn ngắm, suy nghĩ về thế sống lưu vong, xa quê hương của mình, đối diện với một đám đông những người tứ xứ, được nhào trộn trong một mảnh đất của hiệp chủng quốc Hoa Kỳ, Nguyễn Xuân Hoàng viết:</p>
<p><em>(…) Những khuôn mặt không quen biết nhưng gần gũi với tôi. Họ là những người trẻ ồn ào hoặc những người trung niên lặng lẽ. Đập vào tai tôi là một thứ ngôn ngữ đường phố mà tôi phải cố gắng lắm mới nắm bắt được. Có người ngồi lặng thinh, mắt nhắm bất động như một bóng ma, chỉ bừng mắt dậy đúng ga muốn xuống và âm thầm bước qua cửa. Dù họ có là ai, nhưng tôi biết đám đông ấy cùng một giuộc với tôi. Họ là tôi, và tôi cũng chính là họ. Sau lưng chúng tôi là một quê hương đã và đang xa. Và trước mặt chúng tôi là một quê hương muộn màng đang gần. Như người tình cuối cùng trong đời, quê hương đó sẽ ở lại mãi mãi với tôi. </em></p>
<p>(trích bài &#8220;Người bạn bất ngờ trên xe Bart&#8221;)</p>
<p>Đó là hiện thực. Hiện thực được nhìn ngắm và quán chiếu ở một độ gần và sâu. Nhưng, như trong một đoạn khác, Nguyễn Xuân Hoàng đã viết, cũng như một cách tự nhắc nhủ mình: &#8220;Tôi vẫn nghĩ đôi khi hư cấu không bắt kịp hiện thực.&#8221; Đúng như vậy. Cuộc sống thiên biến vạn hoá và đầy những bất ngờ, những điều không thể nào tiên liệu được. Hiện thực là một cái gì hết sức vũ đoán. Bản chất của nó là hư cấu, một nhà thơ châu Mỹ La-tinh, Juan Calzadilla, đã nói như vậy. Thực sự, hiện thực còn là một cái gì hư cấu hơn cả hư cấu nữa. Bởi lẽ, để hư cấu, thường, tối thiểu, người ta cũng phải tuân thủ một số luật tắc nào đó. Còn hiện thực, hãy nhìn mà xem, nó có chịu chấp nhận một nguyên tắc nào đâu. Bởi thế, Sổ Tay, một thứ giấy nháp, để viết xuống, để mô tả những khuôn mặt và những xung động của đời, cũng chỉ là ghi nhận lại những điều hư cấu. Nhưng, với một trái tim.</p>
<p>Giá trị của sổ tay là ở mắt nhìn, ở cách quan sát. Nhưng, dĩ nhiên, tất cả những điều ghi chép ấy phải bập bùng một ánh lửa phía sau. Ánh lửa bập bùng ấy nằm trong trái tim của người viết.</p>
<p>Nguyễn Xuân Hoàng có một trái tim bập bùng ánh lửa như thế. Ông viết về những điều xảy ra quanh mình, những điều bất cứ một người nào khác cũng có thể thấy. Nhưng những hình ảnh mà ông ghi nhận xuống, để thành những con chữ nhẩy múa trước mắt người đọc, đã được lọc qua một lăng kính đặc biệt của riêng ông. Chúng phản chiếu cái ánh sáng cháy đỏ, ấm nóng của những ánh lửa trong trái tim nhà văn. Cái ánh sáng ấy làm cho những hình ảnh thô tháp, tầm thường trong đời sống trở nên lấp lánh, và, đôi khi, như trộn lẫn trong chúng âm thanh của những tiếng nhạc, những bài hát mà chúng ta đã nghe đâu đó, trong đời.</p>
<p><em>… Có những bài hát ta nghe nhiều lần nhưng không bao giờ nhớ nổi một câu và có những bài hát dù không còn phổ biến nữa, nhưng nó vẫn cứ vang lên trong đầu bằng một trí nhớ không được chuẩn bị. Những bài hát làm sống dậy hình ảnh và kỷ niệm, sống dậy mùi vị cỏ cây và hơi thở của da thịt. (…)</em></p>
<p>(trích trong &#8220;Tôi nghe tiếng nước reo trên bếp&#8221;)</p>
<p>Những bài hát. Và trái tim ta. Và mắt nhìn, và chữ viết của nhà văn. Đời sống con người, có lẽ, một phần nhờ vào những thứ ấy, mà có thể tiếp tục. Dù cho nó có là một &#8220;hữu thể hướng về cái chết&#8221; đi chăng nữa, tôi tin chắc, con người đã hướng về cái chết kia với cả thân xác, tâm hồn và trái tim của mình. Thân xác, tâm hồn và trái tim ấy vẫn cần một chút &#8220;dưỡng chất trần gian&#8221; để đi trọn con đường của nó. Đó là thơ, văn và những gì tạo nên nghệ thuật của con người.</p>
<p>Nguyễn Xuân Hoàng, trong chữ viết của mình, đã đem lại cho chúng ta một chút &#8220;dưỡng chất trần gian&#8221; như thế.</p>
<p>Xin cám ơn Nguyễn Xuân Hoàng. Và cám ơn Sổ Tay.</p>
<p>Bùi Vĩnh Phúc<br />
<em>Tustin Ranch, Calif.</em></p>
<p>(*)<em> Sổ Tay Nguyễn Xuân Hoàng</em>, sẽ xuất bản.</p>
]]></content:encoded>
					
					<wfw:commentRss>https://t-van.net/so-tay/feed/</wfw:commentRss>
			<slash:comments>0</slash:comments>
		
		
			</item>
		<item>
		<title>tường vi: Người Về Trên Mây</title>
		<link>https://t-van.net/tuong-vi-nguoi-ve-trn-my/</link>
					<comments>https://t-van.net/tuong-vi-nguoi-ve-trn-my/#respond</comments>
		
		<dc:creator><![CDATA[TV và BH]]></dc:creator>
		<pubDate>Tue, 16 Sep 2014 13:18:15 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Vòng Quanh Thế Giới Ảo]]></category>
		<category><![CDATA[nguyễn xuân hòang]]></category>
		<category><![CDATA[tv&bh]]></category>
		<category><![CDATA[vòng quanh]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://7076e870b2.nxcli.io/?p=19156</guid>

					<description><![CDATA[Nguyễn Xuân Hoàng (1940-2014), photo by Nguyễn Linh Quang (Nguồn: http://ntuongvi.wordpress.com) Quen anh từ rất lâu, qua nhóm văn hữu từ cái thời Vi làm tờ báo điện tử Văn Nghệ Ngàn Phương. Năm 1999 anh dọn lên San Jose làm cho San Jose Mercury News, lúc đó Vi vừa dọn ra thuê nhà ở [&#8230;]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<h3></h3>
<p><a href="https://ntuongvi.files.wordpress.com/2014/09/nxh-va-bh_cover_bw1.jpg"><img loading="lazy" decoding="async" style="float: none; margin-left: auto; display: block; margin-right: auto;" src="http://ntuongvi.files.wordpress.com/2014/09/nxh-va-bh_cover_bw1.jpg?w=480&amp;h=359" alt="NXH va BH_Cover_BW1" width="480" height="359" /></a></p>
<p align="center"><em>Nguyễn Xuân Hoàng (1940-2014), photo by Nguyễn Linh Quang</em></p>
<h3><span style="font-weight: bold;">(Nguồn: </span><a title="http://ntuongvi.wordpress.com" href="http://ntuongvi.wordpress.com"><span style="font-weight: bold;">http://ntuongvi.wordpress.com</span></a><span style="font-weight: bold;">)</span></h3>
<p>Quen anh từ rất lâu, qua nhóm văn hữu từ cái thời Vi làm tờ báo điện tử Văn Nghệ Ngàn Phương. Năm 1999 anh dọn lên San Jose làm cho San Jose Mercury News, lúc đó Vi vừa dọn ra thuê nhà ở Milpitas, Khoa đâu mới 5 tuổi. Ở chưa được bao lâu, Vi toan tính chuyện mua nhà. Người Việt mình luôn có câu “An cư rồi mới lạc nghiệp”, còn ở Mỹ, có nhà có cửa là “an American dream”, do đó Vi thích có nhà riêng của mình. Cũng ngay lúc đó anh Hoàng liên lạc, nói anh sẽ dọn lên San Jose làm tờ Viet Mercury, do đó anh tìm nhà để đem gia đình lên, em có biết nơi đâu thì cho anh hay. Thật đúng lúc Vi đang mua nhà nên bàn hay là anh thuê căn nhà em đang ở đi, vậy là Vi dọn qua nhà mới của mình, còn anh dọn đến căn nhà Vi vừa rời khỏi, tình thân giữa hai anh em bắt đầu từ đó.</p>
<p>Vi là kẻ hậu sinh, biết anh Hoàng qua tờ báo Văn chứ đâu biết anh đã từng dạy ở Regina Pacis và Pétrus Ký. Mà Vi đều theo học ở cả hai trường này, thời tiểu học là cô bé áo trắng jupe xanh Regina Pacis, thời trung học, giống như vận nước nổi trôi, Vi đã chuyển đổi nhiều trường từ Gia Long qua Chu Văn An rồi Pétrus Ký (lúc đó đã đổi tên thành Lê Hồng Phong). Trong suốt khoảng thời gian này, Vi chưa từng là học trò của anh. Anh dạy ở Regina Pacis cấp lớp trung học và làm thầy ở Pétrus Ký trước 1975, khi trường không có con gái. Dù sao thì anh từng là một thầy giáo rất nổi tiếng, mà Vi thì không biết gì cả. Chỉ cho tới khi đi dự họp mặt Regina Pacis ở San Jose và quen với các anh trong nhóm Pétrus Ký, Vi mới vỡ lẽ vì ai cũng gọi Nguyễn Xuân Hoàng là thầy, chỉ có mình Vi gọi bằng anh theo tinh thần văn nghệ.</p>
<p><a href="https://ntuongvi.files.wordpress.com/2014/09/nxh_tv_2011.jpg"><img loading="lazy" decoding="async" src="http://ntuongvi.files.wordpress.com/2014/09/nxh_tv_2011.jpg?w=364&amp;h=273" alt="nxh_tv_2011" width="364" height="273" /></a></p>
<p><em>Nguyễn Xuân Hoàng &amp; Tường Vi (2011)</em></p>
<p>Sau khi dọn qua nhà riêng, thỉnh thoảng Vi vẫn đến thăm anh chị. Trong thời gian đầu, chị Vy nay đau mai ốm, có bữa gặp chị đi chemo về mệt mỏi dật dờ, hai chị em nhìn nhau nước mắt ngắn dài. Rồi thời gian trôi đi trôi đi, chị Vy như một thân cây yếu đuối mà dẻo dai vẫn sống và làm việc, có ai ngờ người ra đi trước tiên là anh. Mỗi lần đi tham gia các buổi tiệc cộng đồng ở San Jose, khi nào có dịp gặp nhau, anh thường là người đến chỗ Vi ngồi và hỏi thăm, Vi em dạo này ra sao. Cách đây vài năm sau khi Vi đã dọn lên San Francisco đi học, anh nhắn tin nói anh sắp dọn ra khỏi nhà bà Monica rồi (Monica là người cho hai anh em thuê cùng một căn nhà), anh còn nhiều tờ Văn cũ lắm, em có lấy thì anh đưa cho em một ít. Báo Văn em vẫn còn giữ mà bây giờ không còn anh nữa rồi, anh Hoàng ơi.</p>
<p>Năm ngoái, chị Vy cho hay anh Hoàng đột nhiên trở bệnh nặng, sarcoma cột sống. Vi lật đật từ San Francisco chạy xuống, cùng các anh trong Hội Petrus Ký Bắc Cali ghé thăm. Sinh, lão, bệnh, tử là đây, nhưng chỉ khi nào với người thân quen mình mới thấm thía nỗi buồn. Lúc đó chị Vy bàn với anh Quách Đại và bạn bè làm một quyển “Nguyễn Xuân Hoàng và thân hữu” để ghi lại những thương mến của bạn bè dành cho anh. Hình chụp phía trên là hình bìa quyển sách dự định làm cho anh với tấm hình do anh Cổ Ngư Nguyễn Linh Quang bên Pháp chụp. Nhưng sau đó thấy sức khỏe của anh có phần khá lên, có lúc anh còn ra toà soạn Viet Tribune làm việc, nên việc in sách tạm dừng. Mãi tới gần đây qua năm 2014, hội Pétrus Ký Bắc Cali mới quyết định dùng những bài vở đã xin được để in đặc san riêng cho Nguyễn Xuân Hoàng trên dòng sông Pétrus Ký. Đặc san in ra, anh rất vui, còn khen hình bìa đẹp. Thì một đời anh làm thầy, một đời học trò tưởng nhớ tới anh.</p>
<p><a href="http://ntuongvi.files.wordpress.com/2014/06/nxh_trendongsongpk.jpg"><img loading="lazy" decoding="async" src="http://ntuongvi.files.wordpress.com/2014/06/nxh_trendongsongpk.jpg?w=238&amp;h=300" alt="NXH_TrendongsongPK" width="238" height="300" /></a></p>
<p>Lần cuối thăm anh cách đây một tuần ở Mission De La Casa, khi Vi vừa mới ló đầu vào cửa, trông thấy Vi là chị Vy òa khóc. Có lẽ chẳng bao giờ Vi quên được hình ảnh chị Vy lúc đó, chị mặc chiếc áo màu đen dài tới chân, ngồi một mình trên chiếc ghế đối diện với anh Hoàng đang thiêm thiếp trên giường bệnh, trông chị nhỏ bé và cô đơn làm sao. Quen nhau bao nhiêu năm, Vi nhận ra chị đã gầy đi rất nhiều, đôi vai nhỏ của chị rung lên bất lực, thương và cảm phục sự chịu đựng của chị vô cùng. Anh Hoàng dường như chẳng nhận ra ai, nhưng cũng có lúc anh tỉnh, và nhấm nháp chút xíu thuốc trộn trong apple sauce. Chị Vy nói “Tường Vi lái xe 3 tiếng xuống thăm anh, anh nhận ra Tường Vi không?” Em thấy anh nhìn em, chắc anh có nhận ra em chứ hở?</p>
<p><a href="http://ntuongvi.files.wordpress.com/2013/08/img_4510.jpg"><img loading="lazy" decoding="async" src="http://ntuongvi.files.wordpress.com/2013/08/img_4510.jpg?w=397&amp;h=281" alt="IMG_4510" width="397" height="281" /></a></p>
<p><em>Nguyễn Xuân Hoàng &amp; Tường Vi (2014)</em></p>
<p>Sáng qua, em hay tin rất sớm anh đã ra đi. Biết trước sẽ có ngày này, cũng biết là sẽ xảy ra nhanh thôi, nhưng sao em không khỏi bàng hoàng. Như vậy là anh vừa rời khỏi quán trọ của trần gian, thanh thản lìa xa gia đình và bạn hữu. Từ nơi trần gian anh ở trọ, trong một khoảng thời gian không quá ngắn hay quá dài, anh đã xong vai trò của mình, đã có một cuộc sống trọn vẹn ý nghĩa trong sự thương kính của tất cả mọi người. Xin anh hãy ra đi nhẹ nhàng, bây giờ tới phiên anh làm “người đi trên mây” rồi đó…</p>
<p>-tường vi<br />
9/14/14</p>
<p>(*) Người đi trên mây, Nguyễn Xuân Hoàng (1987)</p>
]]></content:encoded>
					
					<wfw:commentRss>https://t-van.net/tuong-vi-nguoi-ve-trn-my/feed/</wfw:commentRss>
			<slash:comments>0</slash:comments>
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Nguyễn Xuân Hòang: Tự truyện một người vô tích sự</title>
		<link>https://t-van.net/tu-truyen-mot-nguoi-v-tch-su/</link>
					<comments>https://t-van.net/tu-truyen-mot-nguoi-v-tch-su/#respond</comments>
		
		<dc:creator><![CDATA[TV và BH]]></dc:creator>
		<pubDate>Mon, 15 Sep 2014 03:00:59 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[đọc lại Nguyễn Xuân Hòang]]></category>
		<category><![CDATA[nguyễn xuân hòang]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://7076e870b2.nxcli.io/?p=19145</guid>

					<description><![CDATA[&#160; Trong đời sống, mất mát nhiều hơn là thu nhận. Cây lúa sẽ không trổ bông, nếu trước đó nó không chết đi. Hãy sinh động một cách không mệt mỏi, nhìn về tương lai và nuôi dưỡng bằng những nguồn dự trữ sống chất chứa từ trí nhớ và sự lãng quên. &#8211; [&#8230;]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<p><a href="https://t-van.net/wp-content/uploads/2014/09/clip_image0018.jpg"><img loading="lazy" decoding="async" style="background-image: none; float: none; padding-top: 0px; padding-left: 0px; margin-left: auto; display: block; padding-right: 0px; margin-right: auto; border: 0px;" title="clip_image001" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2014/09/clip_image001_thumb8.jpg?strip=all&fit=354%2C201" alt="clip_image001" width="354" height="201" border="0"></a></p>
<p>&nbsp;</p>
<p><i>Trong đời sống, mất mát nhiều hơn là thu nhận. Cây lúa sẽ không trổ bông, nếu trước đó nó không chết đi. Hãy sinh động một cách không mệt mỏi, nhìn về tương lai và nuôi dưỡng bằng những nguồn dự trữ sống chất chứa từ trí nhớ và sự lãng quên. &#8211; BORIS PASTERNAK</i></p>
<p>Tôi là đứa con thứ mười hai trong một gia đình mười ba anh chị em. Mười ba người con trong một gia đình, con số ấy đâu có nhỏ, phải không? Nhưng biết làm sao! Có ai trên đời này được quyền chọn nơi chốn, gia đình hay dân tộc để chào đời đâu. Tóm lại, tôi là một người Việt Nam ra đời ở miền Trung, trong thời chiến, dưới một mái nhà “đông dân” và “kinh tế gia cảnh” đang hồi sa sút.</p>
<p>Phải nói là nhà tôi đông người quá, đông đến nỗi tôi không thể nào nhớ hết tất cả những anh chị em của tôi. Cha tôi, má tôi, đôi ba ông anh, đôi ba bà chị, một vài cô em… chỉ chừng đó người thôi cũng đủ nằm chật trong ký ức tôi rồi.</p>
<p>Vậy thì, có lẽ, tôi chỉ xin nói trước một đôi điều về đôi ba người trong gia đình tôi thôi. Tôi nghĩ rằng khi vẽ lại chân dung những người thân thích ruột thịt của mình, tôi cũng đã tự vẽ phần nào chân dung mình. Tuy có hơi nhợt nhạt, nhưng chắc là sẽ không xa sự thực lắm đâu!</p>
<p>Cha tôi, tất nhiên đó là người mà tôi muốn nhắc đến trước nhất trong bản tự truyện này. Ông cao lớn, quắc thước, vạm vỡ. Ngay giờ đây, khi hồi tưởng lại hình ảnh của ông, điều mà tôi có thể nhìn thấy lại trước nhất và rõ nhất là đôi mắt của ông. Đôi mắt ấy đầy thần lực, hơi lạnh và có một vẻ gì như tàn nhẫn. Khi nhìn ai, đôi mắt kia như phát ra một mệnh lệnh buộc họ phải phục tùng. Rất nhiều màu nâu đen, rất ít lòng trắng, đôi mắt ấy khá gần với loài hổ báo. Cũng có khi tôi tưởng đôi mắt ấy là con dao cau phạt ngang, có thể cắt đứt cổ tôi như chơi.</p>
<p>Tôi rất sợ cha tôi. Và tôi không biết rõ lòng mình là có bao giờ tôi yêu ông không.</p>
<p>Má tôi thường nói cha tôi là một con sâu rượu. Quả thật, ông uống như hũ chìm và không bao giờ tôi thấy ông say. “Tao mà say rượu à, rượu say tao thì có!” Cha tôi nhiều lần nói như vậy.</p>
<p>Mỗi ngày bốn bận, cha tôi uống rượu theo chu kỳ “sáng – trưa &#8211; chiều &#8211; tối”. Sáng uống theo lối sáng, chiều uống theo kiểu chiều. Sáng đánh răng súc miệng, uống ít thôi. Tối cần giấc ngủ, uống khá khá được. Trưa, chiều thì tùy hứng.</p>
<p>Má tôi nói rượu là độc được. Cha tôi nói rượu là thuốc an thần. Cha tôi tích trữ rượu. Má tôi giấu rượu. Cha tôi ít nói khi đã uống nhiều. Và má tôi không phải là loại đàn bà lắm lời.</p>
<p>Nói chung, gia đình tôi đông, nhưng buồn và lạnh. Chúng tôi cử động, ăn uống, đi lại, học hành, trò chuyện như những người khách trọ trong một căn nhà nấu cơm tháng.</p>
<p>Có một thời gian, tuy hơi bất ngờ, nhưng mà cũng ngắn thôi, tôi thấy cha tôi không uống rượu nữa. “Sáng – trưa &#8211; chiều &#8211; tối” ông chỉ uống trà. Cái thói quen mà ông không thay đổi, đó là bao giờ cũng thức dậy sớm hơn tất cả mọi người trong nhà. Ông nấu nước trong một chiếc ấm màu đen quánh, pha trà trong một bình đất nung màu đỏ gạch cua bóng lưỡng, và uống trong một cái chén nhỏ cũng bằng đất nung da màu lông thỏ đỏ. Cái chén ấy ông trang trọng gọi nó là <i>Thố Hào Trản</i>. Cha tôi rất quý cái chén này. Có lúc tôi nghĩ là ông quý nó còn hơn đứa con của ông là tôi nữa. Ông thường đem khoe với mấy người bạn của ông cái chén đất và nói rằng nó xưa lắm, “bảy trăm năm tuổi đấy!”. Nếu đời sống con người chỉ kéo dài có năm mươi năm thôi thì cái chén này đã áp vào môi của mười bốn đời người. Nó “chạm” đến bảy thế kỷ của nhân loại. Có lần tôi hỏi ông tại sao cha biết cái chén này xưa tới bảy trăm năm. Ông nói chính một ông bạn làm quản thủ công nhựt ở viện bảo tàng vườn Bách Thảo Sài Gòn nói như vậy.</p>
<p>“Cha à! Ông ta căn cứ vào đâu mà nói như vậy?”</p>
<p>“Tao không biết, nhưng tao tin ông ấy. Ông ta là một nhà chơi đồ cổ lừng danh. Lời ông ông ấy rất có giá trị.”</p>
<p>“Nhưng tại sao bảy trăm năm thì quý?”</p>
<p>“Cái gì trên cõi đời này mà lâu đời đều quý cả.”</p>
<p>Tôi biết cha tôi trả lời lấy lệ. Và tôi vẫn không tin là hễ cái gì lâu đời cũng đều quý cả.</p>
<p>Nhưng đột nhiên, cũng bất ngờ như lần chừa rượu, ông bỏ trà không một lời báo hiệu. Tôi nhìn thấy cái chén đất nung, da màu lông thỏ đỏ, nằm lăn lóc dưới gầm tủ; bình trà bỏ ở góc nhà; còn cái ấm đất màu đen quánh nằm ở chái hiên.</p>
<p>Ông uống rượu trở lại.</p>
<p>Thời gian sau đó rất tình cờ có lần tôi nghe ông nói “mấy cái thằng ăn không ngồi rồi, dư tiền dư của, bày đặt chén Tiểu Tống với Đại Tống, Thán Hào Trổ với Thố Hào Trản!” Theo ông, rượu tốt hơn trà, và cái quan trọng chính là “nội dung” chứ không phải là cái “hình thức”. Chén nào cũng được, rượu là đủ.</p>
<p>Tôi không giống cha tôi về mặt này.</p>
<p>Tôi uống rượu nhưng không mê rượu.</p>
<p>*</p>
<p>Má tôi là một phụ nữ có cái chiều cao “hơi cao” so với chiều cao trung bình của một phụ nữ Việt Nam. Da trắng, tóc đốm màu bạch kim, mũi cao nhỏ, mắt xanh hơi nghịch ngợm, cái vẻ bề ngoài của bà nổi bật giữa những người phụ nữ Việt Nam. Những buổi đi học về, tôi thường chui xuống bếp với má tôi và đôi khi cả bà chị kế tôi cũng xuống bếp theo. Thỉnh thoảng, bà kể cho chúng tôi nghe về những mảnh đời của cha tôi. Chấp vá lại những câu chuyện hở đầu hụt đuôi của bà, tôi hình dung ra cuộc đời của ông, bằng cách thêm mắm dặm muối cho nó liền lạc.</p>
<p>Là thủy thủ của những thương thuyền, cha tôi trôi nổi từ hải cảng này sang thương cảng khác. Nay Hồng Kông mai Tân Gia Ba, mốt Marseille, bữa kia Amsterdam… ông như một con cá mập giang hồ vẫy vùng giữa trời và nước. Những hình xâm xanh lè còn đầy trên chiếc ngực vạm vỡ và lông lá của ông, cùng với dòng chữ lăn quăn trên hai cánh tay ông, làm chứng cho những lời nói của má tôi. Trước khi lấy bà, cha tôi đã có một đời vợ. Mẹ trước tôi là một phụ nữ Pháp, tên Suzanne, sinh trưởng ở Marseille, thành phố mà đã có thời cha tôi tưởng chừng sẽ chôn chân vĩnh viễn lại đó như quê hương thứ hai. Nhưng cũng theo lời má tôi kể, ông phải bỏ đi vì một chuyện “lỡ tay” của ông. Một hôm ông bước vào quán rượu quen, gọi thức uống như thường lệ, nhưng chờ mãi vẫn không thấy người bồi mang lại, trong khi đó thì tên chủ quán người Pháp cứ đi ra đi vào ngó ông khinh khỉnh. Ông sốt ruột, nắm cổ áo hắn hỏi tại sao. Hắn nói ở đây không có chỗ cho một dân “Mít”. Ông giận điên lên, quật tên chủ quán xuống sàn nhà và tấn công hắn bằng một thế võ cực kỳ hiểm độc. Tên chủ quán chết không kịp lời trối trăn. Để trốn tránh pháp luật, ông dắt bà Suzanne chạy lên Paris. Paris đâu phải đất sống của ông. Ông quẩy đuôi trở lại sông hồ, bỏ lại thành phố ánh sáng lộng lẫy kia người đàn bà với một giọt máu của ông. Sau này, vẫn theo lời kể của má tôi, có lần bà Suzanne gửi thư cho cha tôi nói về giọt máu rơi của ông nay đã là một thiếu nữ tên Marthe. Má tôi muốn tự tay biên thư cho bà Suzanne, nhưng cha tôi không bằng lòng. Ông nói đó là chuyện của ông, má tôi không được xen vào. Chị Marthe của tôi có thời nổi tiếng là một trong số những người mẫu lừng danh của Paris. Người ta gọi chị là Marthe Nuyen (lẽ ra phải viết là Marthe Nguyễn mới đúng, nhưng chuyện này đâu có ăn nhằm gì). Tôi biết chi tiết này vì lúc hơi lớn một chút có lần tình cờ tôi nhìn thấy trong cuốn nhật ký của bà chị kế tôi có một tấm ảnh in hình một cô gái Pháp ăn mặc thật đẹp như một tài tử điện ảnh. Sau lưng tấm ảnh là lời đề tặng cho cha tôi có chữ ký rất rõ là Marthe Nuyen. Nhật ký của chị nói rằng Marthe làm nghề người mẫu. Và cha tôi biên thư phản đối bà Suzanne tại sao để con tự do làm nghề này. Nghề người mẫu thì đâu có gì là xấu, nhưng tôi không hiểu tại sao cha tôi nói vậy. Cho đến bây giờ, thật tình mà nói, tôi không biết gì nhiều hơn về người chị có cùng chung với tôi một người cha này. Bỏ Paris, cha tôi đi Hương Cảng, lại theo một số tàu buôn khác, lại giang hồ kỳ hiệp, nay thương cảng này, mai hải cảng kia. Đó là thời gian cha tôi gặp má tôi.</p>
<p>*</p>
<p>Bà là người Trung Hoa, nhưng có dòng máu của dân Hồng Mao. Bà thường nhắc đến ông ngoại tôi một cách kính cẩn như nhắc đến một vị thần đầy quyền lực: “Ông ngoại con không phải là người phàm. Ổng là con nhà quý tộc chớ không phải dân giang hồ tứ chiếng như cha mày đâu.”</p>
<p>“Má, con nhà quý tộc thì sao?” Tôi hỏi.</p>
<p>“Dân quý tộc không lấy con nhà thường dân.”</p>
<p>“Vậy sao má chịu lấy cha?”</p>
<p>“Không biết! Đừng nhiều chuyện! Nhưng má thích tụi con ăn học đàng hoàng, hơn là lang bạt kỳ hồ.”</p>
<p>Bà không muốn chúng tôi giống cái thời tuổi trẻ của cha. Ước muốn của bà, sau này, tôi thấy hình như không đạt được bao nhiêu phần trăm.</p>
<p>Ông ngoại tôi người Bắc Kinh, con một gia đình quyền quý có chức phận, được gởi sang Anh du học. Ông lấy một phụ nữ người Anh và sinh ra má tôi. Không hiểu vì sao ông bỏ bà ngoại tôi ở lại Luân Đôn, về nước chỉ mang theo cô con gái là má tôi. Nhưng rồi, ông cũng không nuôi má tôi. Ông đem gửi bà cho một gia đình người Hoa khác ở Hương Cảng, cung cấp ít tiền bạc và thỉnh thoảng mới đến thăm bà. Cuộc tình duyên giữa má tôi và cha tôi ra sao, không ai trong đám con cái chúng tôi biết. Mà má tôi cũng không bao giờ hé môi nói rõ tại sao một thiếu nữ “con nhà quan xinh đẹp thế kia” (tôi vẫn luôn luôn nghĩ má tôi là người đàn bà đẹp nhất mà tôi đã gặp trong đời) lại đi phải lòng một người đàn ông giang hồ như cha tôi. Dù sao khi tôi bắt đầu nhận ra mình là đứa con của một gia đình đông đảo, tôi có thể nói má tôi là ngưòi đàn bà tần tảo lo cho chồng cho con trong cái xã hội bình thường của chúng ta. Quần quật suốt ngày với con cái nhà cửa, chạy ăn từng bữa, tất tả, ngược xuôi, đắp cái này, vá cái kia, nhưng không bao giờ thấy bà hé răng kêu một lời than thở. Về ngôn ngữ, tôi không biết nói sao cho đúng. Má tôi nói tiếng Hoa cũng sõi như tiếng Việt. Phần tôi, tôi chỉ ăn cắp được của má tôi và cha tôi một chút chiều cao của thân thể, nhưng tiếc thay, tôi không lấy được một tí nào về sự chịu đựng lớn lao của bà và cái cang cường dũng cảm của cha.</p>
<p>Tuy vậy hình như tôi là một đứa con được má nuông chiều quá đáng trong một gia đình đông đúc. Cha tôi lạnh lùng. Anh chị em tôi dửng dưng. Nhiều khi tôi có cảm tưởng như chẳng có sợi dây gia tộc nào ràng buộc được chúng tôi lại với nhau.</p>
<p>Nói nào ngay, mấy ông anh bà chị tôi không ai ghét bỏ tôi, nhưng hình như cũng không ai yêu tôi. Riêng tôi, tôi nghĩ là mình thù ghét tất cả mọi người, trừ một người, tất nhiên, đó là má tôi. Tôi đâu có cần gì phải làm ra vẻ lạnh lùng. Tôi có thừa sự nhạt nhẽo để có thể chia xẻ cho tất cả mọi người. Cái phần ấm áp, tôi chỉ dành riêng cho mỗi một mình má tôi.</p>
<p>Thật ra, chị Thảo tôi, mà tôi có lần nói rất giống má tôi, là người mà tôi cũng yêu lắm, gần bằng tình yêu mà tôi đã dành cho má tôi. Nhưng giữa chị và tôi có một khoảng cách vô hình. Không bao giờ hai chị em tôi nói với nhau quá câu thứ hai mà không cãi nhau. Đúng với cái tên mà má tôi đã đặt cho chị, chị là một thứ cỏ hoang mọc trên một vùng đất khô cằn là cái gia đình tàn tạ của chúng tôi. Và cái sắc đẹp man dại của chị làm cho má tôi lo lắng buồn bã hơn là làm cho bà hãnh diện mừng vui. Chị Thảo là một kết hợp kỳ lạ giữa cha tôi và má tôi. Chị có cái nhan sắc của má tôi và cũng có cái lạnh lùng đôi khi tàn nhẫn của cha tôi.</p>
<p>Năm mười bảy tuổi, chị bị một tên thanh niên con nhà giàu trên tỉnh theo đuổi. Hắn mang tặng chị hết món này đến thứ khác, toàn là loại đắt tiền. Lúc đầu chị cười cợt, coi như trò đùa. Về sau chị vất tất cả những thứ ấy ra cửa. Hắn tên là T. và theo chủ quan tôi, lúc ấy hắn là một thanh niên khá đẹp trai. Cao lớn, để ria mép, ăn mặc chải chuốt, hắn đẹp theo kiểu một công tử. Hắn khôn khéo, tìm mọi cách để chiều lòng mọi người trong nhà tôi. Kín đáo mang rượu đến cho cha tôi mỗi tuần, tặng vải vóc cho má tôi, đồ chơi cho tôi và các em tôi. T. đi lòng vòng chung quanh trước khi chinh phục tâm điểm là chị Thảo tôi. Tôi có cảm tưởng như nếu bắt hắn phải quỳ xuống để xin chị Thảo chút tình yêu, chắc hắn cũng sẵn sàng không do dự. Nhưng chị Thảo nhất mực không hề cảm động hay thương hại hắn nói gì đến thương yêu. Tôi không biết là lúc đó chị có đang yêu người nào không. Hình như là không. Thật ra tôi cũng không chắc lắm. Nhưng rõ ràng là chị vất cái thứ tình yêu đầy quy lụy, say đắm và mù quáng của T. xuống cống rãnh. Nhiều buổi chiều, tôi thấy T. đứng bứt rứt bên kia đường, dưới gốc cây muồng hoa vàng nghệ, ngó chăm vào nhà tôi. Hắn đau khổ thấy rõ. Và thú thật, tôi có thương hại hắn. Tôi thấy chị Thảo tàn nhẫn. Cha tôi không giờ uống một giọt rượu của T. Còn má tôi vào những ngày năm cùng tháng tận, cần mua sắm ít vải may quần áo mới cho chúng tôi, vậy mà bà cũng nhất quyết gói gửi trả tất cả vải vóc lại cho T. Một lần cha tôi cho gọi T. vào nhà, rót rượu cho hắn uống. T. nói không biết uống rượu. Cha tôi bảo “Nam vô tửu như kỳ vô phong” đàn ông không uống rượu như cờ không gió. Hắn nhìn cha tôi như cầu khẩn. Cha tôi cụng ly. T. bưng lên nốc cạn một hơi. “Khá!” cha tôi nói, và rót tiếp một ly thứ hai. Cứ thế hết ly này đến ly khác. Khi cha tôi đứng dậy, T. ói thóc ói tháo, đầu gục xuống bàn, người mềm như sợi bún.</p>
<p>Khi người Pháp trở lại Việt Nam sau cuộc chiến, T. làm thông ngôn trong một tiểu đoàn Lê dương. Hắn lúc bấy giờ nổi tiếng như một hung thần. Nhiều người đã chết dưới tay hắn. T. háo sắc đến độ gần như vùng nào mà tiểu đoàn hắn đi qua đều có vài ba thiếu nữ là nạn nhân của hắn. Đi bên cạnh T. luôn luôn có hai tên lính người Ma Rốc rạch mặt. Nhiều cô gái sau khi bị hãm hiếp, còn bị tên Ma Rốc dùng dao cắt vú và đâm nát cửa mình.</p>
<p>Thời gian này gia đình tôi đã tan thành nhiều mảnh. Tôi theo cha tôi chạy lên Hòn Lớn, một địa danh ở miền Trung, nằm dưới chân một ngọn núi khô cằn, nhà cửa giống như những căn chòi cất vội vàng trên một nền đất chưa được phẳng. Tiếng súng còn khá xa chỗ ở của cha con tôi.</p>
<p>Lúc đó, tiểu đoàn của T. đang bố ráp càn quét ở một vùng quê khác, nơi má tôi và chị Thảo đang ẩn náu. Sau này má tôi kể lại: Một buổi tối T. xông vào nhà với hai tên lính Ma Rốc rạch mặt. Hắn ung dung ngồi hút thuốc để hai tên Ma Rốc đè chị Thảo ra cột lên giường và trói má tôi chặt vào cột nhà. Ở thôn quê hồi đó, phòng khách, phòng ngủ, phòng ăn chỉ là một. Má tôi hãi sợ lắm. Hắn hỏi chị Thảo:</p>
<p>“Em có bằng lòng lấy tôi không?”</p>
<p>“Không!” Chị trả lời.</p>
<p>“Tại sao?”</p>
<p>“Không tại sao gì cả.”</p>
<p>“Chừng nào mới chịu lấy tôi?”</p>
<p>“Không chừng nào hết!”</p>
<p>“Sợ tôi không?”</p>
<p>“Tại sao phải sợ?” Chị Thảo hỏi lại ương ngạnh.</p>
<p>T. rút khẩu súng ngắn đeo ở thắt lưng ra, kê vào đầu chị, nhắc lại một lần nữa. Chị Thảo không nhìn hắn. Má tôi la lên, sợ T. bắn thật. Hắn tát vào mặt má tôi. Xong hắn xé quần áo chị Thảo ra, hãm hiếp chị ngay trước mắt chừng ấy con người. Lúc đó, má tôi nói, hắn như một con thú say mồi. Má tôi phát bệnh nặng sau khi chứng kiến cái cảnh tượng hãi hùng giáng xuống đời chị Thảo. Chị Thảo, sau tai nạn khủng khiếp kia, âm thầm bỏ má tôi đi biệt vô âm tín. Mặc dù chỉ nghe lời kể của má tôi về những hành động dã man của tên T., tôi không bao giờ quên hắn. Tôi sẽ nhắc hắn ở đoạn sau.</p>
<p>Phần tôi, kể từ khi bắt đầu va chạm cuộc sống, tôi khám phá ra rằng con người ta không thể nào sống mà thiếu người khác được. Tôi thấy tôi là kẻ đói tình thương trong một gia đình thừa mứa những liên hệ ruột thịt. Nói giản dị, khi tôi nhận thấy mình cần một bà chị như kiểu chị Thảo để yêu mến thì chị ấy không còn trong gia đình nữa. Có lẽ là chị ấy vẫn còn sống đâu đó mà không muốn trở về gia đình chăng, tôi không rõ.</p>
<p>Tôi giữ lại trong trái tim mình hai người anh. Một ông anh cả và một người anh kế.</p>
<p>*</p>
<p>Anh cả tôi bỏ nhà đi giang hồ khi mới mười bốn tuổi. Năm đó tôi chưa chào đời. Má tôi nói anh đi Sài Gòn. Sau đó là Cà Mau, Rạch Giá, Năm Căn, Cần Thơ, Châu Đốc… Có lần trong bữa cơm má tôi nói anh mày ở Vạn tượng bên Lào mới gửi thư và tiền về cho má. Lần khác trả lời câu hỏi của chị Thảo, má nói anh cả đang ở Savanakhet. Khi cha tôi bỏ trà, liệng lăn lóc cái Thố Hào Trản, là lúc ông nói anh đang ở đồn điền Chup bên Nam Vang, Căm bốt. Nói chung là tôi rất lơ mơ về nơi ăn chốn ở của anh ấy. Còn mặt mũi của anh ra sao thì mãi lâu về sau tôi mới có dịp nhìn thấy.</p>
<p>Người anh kế tôi, tuy cao lớn, nhưng dáng người thanh nhã. Ấy vậy mà khi vừa đậu xong cái bằng tú tài toán anh đã chọn đời lính như một nghề nghiệp. Anh thi vào trường Võ Bị Đà Lạt nhưng khi ra trường chuyển sang binh chủng Không Quân. Khi Sài Gòn thất thủ, anh đang mang lon trung tá, bị bắt đi học tập cải tạo và chết trong lao tù Cộng Sản. Anh là người lính ưa văn chương chữ nghĩa. Anh có nhiều bạn là nhà văn nhà thơ, mặc dù anh không hề viết một truyện ngắn hay làm một bài thơ nào. Sở dĩ tôi có biết mặt quen tên một ông nhà văn, một bà nhà thơ nào đó, chẳng qua cũng là do ông anh tôi dắt về nhà thôi. Anh che chở cho một nhạc sĩ trốn lính, bỏ tiền trợ cấp cho một bà ca sĩ có bầu “với ai đó”. Anh luôn luôn hào hoa rộng lượng. Tôi thích nhìn anh trong bộ đồ bay, chữ Tổ Quốc Không Gian trên ngực áo, chiếc nón lưỡi trai che ngang cặp kính Ray Ban rất là thời thượng. Anh có nhiều bạn gái, phần lớn là ca sĩ phòng trà, và anh không yêu một cô nào quá lâu. Anh nói với tôi anh không có tình yêu. Mãi đến năm Bảy Hai, sau mùa hè đỏ lửa, trước ngày má tôi qua đời, anh báo tin cho tôi biết là anh quyết định lấy vợ. Chị là một cô giáo dạy Vạn Vật và là người rất xa lạ với thế giới đầy buông thả của anh. Nếu cái vẻ hào hoa phong nhã của anh là thứ vũ khí sắc bén chinh phục các cô ca sĩ thì khi gặp chị, vũ khí ấy trở thành thừa thãi, vô hiệu. Chị nói chị lấy anh vì tánh thật thà của anh, chứ không phải vì “cái mã bề ngoài” của anh. Hôn nhân đã ép anh vào một khuôn khổ, không kẽ hở. Nhà cửa, vợ con, gia đình, hàng xóm đâu ra đấy. Anh không còn luông tuồng như xưa nữa. “Tình yêu có thật!” Anh vẫn nói với tôi như vậy khi đã có với chị một đứa con. Tuy vậy mỗi khi có dịp về Sài Gòn, anh như một con cá gặp nước. Bạn bè, ăn nhậu, nhẩy nhót như điên. Vũ nữ, ca sĩ, phòng trà, âm nhạc, rượu chè… anh sống vội vã như thể ngày mai trái đất này sẽ trở thành tro bụi. Tuy vậy có lần anh nghiêm chỉnh nói với tôi rằng không biết cuộc chiến tranh này rồi sẽ đi về đâu. Có nhiều điều anh không hiểu. Tình hình chính trị ngày càng xấu. Các thành phố lớn có vẻ như co rúm lại. Chiến tranh đâu chỉ có ở một mặt trận, nó nằm cùng khắp đất nước thành thị, thôn quê, ruộng vườn rừng núi. Ngay trong hơi thở ta, trên da thịt ta, trong thành phố hiền lành chiến tranh cũng đầy chật. Anh nói đến những ánh đèn nhấp nháy của nhà cửa làng mạc, nói đến rừng núi sông ngòi… những nơi anh đã bay qua. Anh nói đến những đám mây như những tảng bông trắng xốp, đến bầu trời xanh lơ mênh mông. Anh thích nhà văn phi công người Pháp, ông Saint Exupéry trong tác phẩm <i>Terre Des Hommes.</i> Và câu nói của một nhân vật trong cuốn sách này ám ảnh anh là: “<i>Cái mà mình đã làm, mình nói thật, không một con vật nào làm được.</i>” Anh muốn có cái cơ hội thử thách điều đó.</p>
<p>Khi hay tin anh chết trong lao tù cải tạo, nhớ đến lời nói của anh, tôi tự nghĩ không biết anh đã chiêm nghiệm ra điều ấy hay chưa.</p>
<p>Nghĩ cũng hay, một gia đình đông đảo đến là như thế mà chiến tranh đến, chiến tranh đi, vô tình cướp mất của tôi lúc này một ít ông anh, lúc kia một ít bà chị, để rồi rút cục con rắn dài mười ba khúc chỉ còn lại có khúc đầu, khúc giữa và khúc đuôi.</p>
<p>Tôi muốn giới thiệu về ông anh cả tôi trước khi nói tiếp về ông anh trung tá.</p>
<p>*</p>
<p>Cũng giống như cha tôi, anh cả tôi cao lớn vạm vỡ khác thường. Anh có một khuôn mặt bạnh, chân mày rậm xếch, mũi to, miệng rộng, cằm vuông, râu quai nón, đen sạm. Một vết sẹo dài chạy từ khóe mắt đến mang tai. Mắt anh không lớn nhưng lì lợm và dữ dằn như mắt cha tôi. Tóc anh xoắn chảy xuống gần phía ót một chùm mịn quăn tít. Cổ anh tròn cứng, vai ngang, hai bàn tay to lớn phốp pháp. Trên khuôn mặt anh, người ta có thể nhìn thấy một sự kết hợp kỳ lạ, mâu thuẫn đến tuyệt vời giữa sự cứng rắn và mềm mại, dễ ghét và dễ thương, hận thù và thân ái… Tất cả những hình nét mà tôi có thể vẽ được về anh chỉ là nhờ vào những tấm ảnh anh gửi về cho má tôi. Tôi còn nhớ Tết Nguyên Đán một năm nào đó, lần đầu tiên tôi giáp mặt anh. Tôi thấy những đường nét mà tôi đã hình dung về anh là không xa lắm. Hồi đó tôi mới bốn tuổi, má tôi bắt tôi ra mừng anh ở xa mới về. Tôi đứng nép bên má nhìn anh, thấy anh tưởng như một người đã quen nhau từ lâu lắm. Nhưng tôi không chào anh. Anh là người quen trong trí tưởng tôi, hơn là người anh có mặt trong đời sống thực tôi. Anh ở nhà không lâu và lại ra đi hồi nào tôi cũng không nhớ. Tôi chỉ biết thời gian đó gia đình tôi tạm coi như sum họp nhất, mặc dù lạnh lẽo vẫn là khí hậu chính của mọi người. In hình như là trong nhà ai cũng linh cảm sắp có một điều chi đó xảy ra, như chờ đợi một cơn bão vậy. Và tôi thấy người anh cả tôi lúc ấy rất quan tâm đến chị Thảo. Anh nói chuyện khá lâu với chị và loáng thoáng tôi nghe nhắc đến tên T., người thanh niên vẫn theo đuổi chị. Một buổi tối, cả nhà ngồi quanh bàn ăn, cha tôi gợi chuyện để anh cả tôi kể những biến cố đời anh. Anh cười, hàm râu quai nón giãn ra như một ông tây con. Anh nói ít, cũng như má tôi vậy, về nơi ăn chốn ở của anh: rừng cao su, những người phu được mộ từ miền Bắc, những tên chủ đồn điền người Pháp hách dịch phách lối, cách tra tấn dã man những người trốn việc mà bọn cai vẫn thường đối xử với đám phu phen… Anh kể chậm rãi về nhiều người, nhiều việc, nhưng không ai biết chút gì thêm về đời tư của anh. Khi anh đứng dậy thì thầm với chị Thảo điều gì đó, cha tôi tuyên bố một câu khó hiểu: “Thằng này giống tao!” Về sau tôi biết là anh đã “làm thịt” một tên cai phu tàn ác vì hắn hành hạ dã man một người phu đồn điền.</p>
<p>Một năm sau, Cách mạng Tháng Tám bùng nổ trên toàn quốc, anh tôi bị con lốc thời cuộc cuốn theo, thổi bay từ núi rừng này sang núi rừng khác, mặt trận, chiến khu, và biệt tích biệt tăm, cho đến sau tai nạn buồn thảm của chị Thảo tôi.</p>
<p>Tôi quên nói là sau khi trái lựu đạn nội hóa đầu tiên nổ tung trong một ngày mùa Thu ngay trước cửa nhà tôi thì gia đình tôi giống như một tổ ong bị vỡ. Chúng tôi, những con ong bay tán loạn, tơi tả, lạc loài, vô định. Má tôi và chị Thảo một đàng, các ông anh bà chị khác một ngõ. Chỉ có riêng mình tôi, theo cha chạy qua những làng xa tận cùng một chân núi. Tôi biết những cánh đồng xanh lá mạ, những vườn xoài vườn mận, những hệ thống dẫn thủy nhập điền thô lậu, những con sông dài phơi mình ngái ngủ giữa trưa hay trôi lặng lẽ dưới bóng trăng đêm… Tôi được thấy những đàn bò gậm cỏ buồn nản, những con trâu lười biếng trầm mình dưới đầm nước tù ngầu đục… Nhưng cuộc chiến ngày một đuổi nà những người thành phố. Tiếng súng lúc đầu còn xa, càng về sau càng gần hơn. Trước mặt chúng tôi là ruộng vườn, thôn xóm. Sau lưng chúng tôi là núi đá, rừng cây. Cùng đường rồi, chạy đi đâu nữa. Cha tôi nói như vậy. Và ông vừa làm tiều phu, vừa làm nhà nông. Cha tôi nói đất đai chỉ nuôi sống che chở những ai yêu nó, sống với nó, làm việc với nó. Cha tôi là một người tháo vát. Ông nói tận trong máu huyết của mỗi người Việt Nam đều có chứa đựng dòng máu của một nông dân. Đây là thời gian cha tôi trở lại với ấm trà và chén đất. Không còn cái Thố Hào Trản của thời Đại Tống Tiểu Tống gì đó, mà một ông bạn già của cha tôi từng nói. Chén đất nung thứ thiệt màu đỏ gạch cua, cha tôi làm lấy. Ông vẫn là người dậy sớm, nấu ấm trà. Và tôi trở thành người bạn hiền bé nhỏ đối ẩm cùng ông. Cuộc sống của hai cha con tôi nơi sơn cùng thủy tận hạnh phúc một cách bắt buộc. Cha tôi nhắc má tôi và chị Thảo ít hơn là nhắc đến hai ông anh tôi. Cho đến một hôm, một người liên lạc đến báo cho cha tôi biết anh cả tôi ở chiến khu về muốn gặp ông. Tôi mừng lắm. Nhưng cha tôi trầm ngâm không nói chi. Tôi còn nhớ cuộc gặp gỡ của chúng tôi diễn ra dưới chái hiên của căn chòi lợp lá phên. Buổi chiều ở núi lạnh tê. Anh tôi đứng trước sân căn chòi. Vẫn cao lớn, hơi gầy, râu cạo nhẵn, tóc vẫn xoăn tít bám sát da đầu. Vết sẹo dài từ khóe mắt trái đến mang tai. Cha tôi và tôi đứng dưới dàn bầu nậm. Tôi hết nhìn anh lại nhìn cha. Anh gầy càng giống cha nhiều hơn. Hai người đàn ông đứng im sững như hai người thợ săn đang rình mồi, nhìn ngó nhau trân trân. Tôi thấy những đốm sáng cuối cùng của ngày lóng lánh trong đôi mắt anh. Sau cùng, tôi nghe thấy tiếng cha tôi kêu tên anh trai tôi. Tối hôm đó, ba chúng tôi ăn cơm chung bên bếp lửa. Cơm trộn bắp chan nước mắm bằng nước muối pha đường thẻ. Bữa cơm rất ngon miệng, mặc dù tôi đã quá ngấy với những hột bắp nhiều hơn gạo trong chén cơm. Anh ôm tôi vào lòng, lấy khẩu súng ngắn ở thắt lưng ra, tháo đạn, cho tôi mượn. Anh đọc cho tôi nghe một bài thơ của một tác giả mà sau này tôi biết là Quang Dũng:</p>
<p>…</p>
<p><i>Mẹ tôi em có gặp đâu không</i></p>
<p><i>Những xác già nua ngập cánh đồng</i></p>
<p>…</p>
<p>Đó là những câu thơ mà tôi sẽ còn nhớ mãi. Một lúc, anh ngập ngừng nói với cha:</p>
<p>“Con đã gặp thằng T.!”</p>
<p>“Thằng T.?” Cha tôi hỏi gặng. “Mà ở đâu?”</p>
<p>“Ở Tân Hưng. Gần Gò Quít, cha nhớ không?”</p>
<p>“Nhớ. Rồi sao?”</p>
<p>“Con hỏi nó có biết con là ai không? Nó nói biết. Con hỏi nó sợ không? Nó nói không…”</p>
<p>Anh ngừng lại, trầm ngâm.</p>
<p>“Cha biết con đã làm điều gì phải làm cho em Thảo.”</p>
<p>Cha tôi im lặng rót trà vào chén đất, uống một hơi cạn.</p>
<p>Sáng hôm sau, khi tôi thức dậy, anh đã ra đi từ hồi nào. Cả cha tôi nữa, ông cũng đã vào rừng đốn cây làm thêm phên cửa, sửa vách và dành củi cho mùa đông.</p>
<p>Người anh sinh trước tôi vài năm, cũng như tôi, lớn lên cuộc chiến tranh Việt Nam đi vào một khúc quanh khác. Người Pháp đã ra đi sau khi thất thủ Điện Biên Phủ. Người Mỹ vừa đến, Quốc trưởng Bảo Đại bị truất phế, Tổng Thống Ngô Đình Diệm và nền Đệ Nhất Cộng Hòa thành lập. Gia đình mười ba anh em chúng tôi chỉ còn cô út ở nhà với má tôi. Anh cả tôi cũng như chị Thảo đều biệt tăm. Ông anh kế của tôi theo học trường Võ Bị Quốc Gia Đà Lạt. Còn tôi, sau đó vào Quang Trung rồi đi Thủ Đức. Chế độ Ngô Đình Diệm sụp đổ. Các tướng lãnh thay nhau cầm quyền. Cha tôi qua đời đúng vào dịp Tết Mậu Thân. Bốn năm sau má tôi cũng “đi theo”, khi một tay nhà báo Pháp viết về “đại lộ kinh hoàng” ở Quảng Trị, nơi người bạn Thủy Quân Lục Chiến của tôi làm bài thơ Cổ Thành tặng tôi trước khi hy sinh. Cô em gái út nhà tôi lấy chồng. Ngôi nhà tôi ở đã bán. Tôi là người lính sống ở văn phòng nhiều hơn chiến trường. Tôi luôn luôn là kẻ được nuông chiều trong một xã hội không phải ai cũng may mắn được như thế. Ông anh Không Quân của tôi tuy vẫn hào hoa bay bướm, nhưng là một người cha gương mẫu, một người chồng tốt. Anh được bạn bè đồng đội quý mến và quả tình anh cũng rất yêu mến con đường anh đi. Một lần chúng tôi gặp nhau ở Sài Gòn, anh nhắc tên người anh lớn và chị Thảo của chúng tôi. Không biết bây giờ anh chị ấy ở đâu, ra sao. Sống chết thế nào. Anh nói chiến tranh ghê tởm và anh hỏi tôi nghĩ sao. Tôi nghĩ sao? Tôi là một người vô tích sự. Nhưng bây giờ hiểu ra, tôi yêu tất cả mọi người. Tôi không thù ghét ai. Người anh Không Quân của tôi cũng nói vậy. Anh chờ đợi và mong muốn hòa bình. Anh nói anh không phải là một nhà chính trị, nhưng anh tin rằng anh chiến đấu cho tự do của dân tộc. Anh nói anh không hề mù quáng nghĩ rằng anh đang sống trong một xã hội tốt đẹp, nhưng anh tin rằng anh đang chiến đấu trong một xã hội để làm cho nó tốt hơn cái hiện có.</p>
<p>*</p>
<p>Tháng Tư Bảy Lăm, Sài Gòn thất thủ, trong “những người chiến thắng” trở về có ông anh cả tôi, nay là một cán bộ chức sắc, một thứ công thần. Anh có tìm gặp tôi trước ngày tôi bị gọi đi học tập cải tạo. Tôi thấy anh khác xưa nhiều. Vết sẹo trên mặt có vẻ như nhạt đi, những bắp thịt gân guốc đã mất. Anh gầy và trầm ngâm. Anh không gặp người anh Không Quân của tôi. Tôi không nghe anh giải thích tại sao. Cô em út của chúng tôi đã theo chồng rời bỏ Sài Gòn trong một ngày áp chót của cuộc chiến. Tôi không hiểu tại sao có phương tiện trong tay mà người anh Không Quân của tôi không ra đi. Cũng như những sĩ quan thua trận cấp úy khác, tôi thu xếp ít quần áo và lương thực cho mười ngày học tập. Nói là mười ngày, nhưng ba năm sau tôi mới được trở về, khi ông anh Không Quân của tôi vẫn còn ở lại trong một trại cải tạo ngoài Bắc. Ra tù tôi sống lang thang làm đủ thứ nghề, đi khắp mọi nơi, nhưng tôi vẫn không gặp và không nghe chút tin tức gì về chị Thảo tôi. Làm như chị là một người không có thực trong gia đình tôi.</p>
<p>Ông anh cả tôi sau đó có đến thăm tôi trên một lần nữa, sau khi tôi vượt biên bị bắt ở Rạch Giá vừa được thả về. Ông nói đừng làm chuyện bá láp, vượt biên là phản quốc. Đó là thời gian chế độ mới đánh tư sản, đổi tiền. Ông nói học tập cải tạo là rất tốt cho những đầu óc vô tích sự như tôi. Phải như thế thì tôi mới “sáng mắt sáng lòng” ra được. Mãi đến năm thứ mười sau ngày Sài Gòn thất thủ tôi mới vượt biên thông suốt. Tôi đến được Pulau Bidong, trong một chuyến đi không đến nỗi bi thảm như những người khác. Tôi luôn luôn là một người may mắn. Một năm sau nhờ sự bảo lãnh của cô em út, tôi được Mỹ nhận cho định cư.</p>
<p>Khi còn ở đảo tôi hay tin người anh lính Không Quân đã chết trong trại giam. Ông anh cả tôi cũng không còn nữa. Một lá thư từ bên nhà gửi qua cho biết ông ấy chết hơi khác thường: tự tử bằng một viên đạn bắn qua đầu. Qua thư từ tôi biết thêm sau khi ông đi thăm người anh lính Không Quân bị bệnh nặng nằm chờ chết trở về, ông đã chọn cái chết của chính mình như một cách nói lời tuyệt vọng. Mười năm sau khi lấn chiếm miền Nam, đất nước ngày càng tan nát, đời sống người dân ngày càng xuống thấp, trong khi máu mủ ruột thịt bỏ đi xa hay vẫn còn nằm trong lao tù của chế độ mà mình phục vụ, có lẽ đã là động cơ thúc đẩy họng súng quay về phía ông. Đôi khi tôi nghĩ cái lẽ sống mới quan trọng hơn sự sống. Có phải vì thế mà ông anh cả tôi hành động kiểu đó chăng? Đó là tôi suy nghĩ vậy, chớ tôi không chắc lắm đâu.</p>
<p>Hôm qua tôi vừa được thư bà chị dâu từ Cabramatta Úc Đại Lợi gửi sang cho hay chị đã lập gia đình. Người chồng chị hiện nay cũng là một người Việt Nam. Hai vợ chồng mở một tiệm ăn. Cả hai mời tôi có dịp sang chơi, sẽ đài thọ vé máy bay và nơi ăn chốn ở.</p>
<p>Tôi không biên thư trả lời. Tôi gọi điện thoại viễn liên chúc mừng chị. Tôi nói muốn đón các cháu sang Mỹ chơi. Chị hứa.</p>
<p>Đời sống ở Mỹ thật tiện nghi. Tôi đủ ăn đủ mặc và tôi giàu tự do. Tuy nhiên vào những buổi sáng cuối tuần, đi bách bộ trong khu công viên Mile Square Park ở Quận Cam, tôi như thấy mình đang trở lại thời sống với cha ở một vùng núi miền Trung, và văng vẳng bên tai vẫn như còn nghe lời cha nói: “Thằng này đúng là đồ vô tích sự!”</p>
<p>Buổi sáng sớm rừng còn đầy sương mù, gió thổi luồn qua những vòm cây lạnh. Trên những ngọn cây cao, tôi nghe tiếng chim kêu từng hồi. Giẫm trên những ngọn cỏ ướt sương, bập bập điếu thuốc lá chưa kịp khô, tôi thấy mình già hẳn. Như giờ đây, gần bốn mươi năm sau tôi thấy tôi mới già bằng thuở đó./.</p>
<p>&nbsp;</p>
<p><i>California, Tháng Bảy, 1987</i></p>
<p><i>Biên tập lại tháng Mười Một, 2009</i></p>
<p>* “<i>It is more important in life to lose than to acquire. The grain will not sprout unless first it dies. One must remain untiringly alive, looking into the future and feeding on the living reserves which memory and oblivion together accumulate.”</i> &#8211; BORIS PASTERNAK</p>
<p><i>“An Essay in Autobiography”</i>, Collins &amp; Harville Press, 1959</p>
<p><strong>(VOA/Blog Nguyễn Xuân Hòang)</strong></p>
]]></content:encoded>
					
					<wfw:commentRss>https://t-van.net/tu-truyen-mot-nguoi-v-tch-su/feed/</wfw:commentRss>
			<slash:comments>0</slash:comments>
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Ngộ Kh&#244;ng : Ngồi ở nh&#224; qu&#224;n</title>
		<link>https://t-van.net/ngo-khng-ngoi-o-nh-qun/</link>
					<comments>https://t-van.net/ngo-khng-ngoi-o-nh-qun/#respond</comments>
		
		<dc:creator><![CDATA[Ngộ Không Phí Ngọc Hùng]]></dc:creator>
		<pubDate>Mon, 15 Sep 2014 00:14:39 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Góc Văn]]></category>
		<category><![CDATA[ngộ không]]></category>
		<category><![CDATA[nguyễn xuân hòang]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://7076e870b2.nxcli.io/?p=19134</guid>

					<description><![CDATA[( Nén hương lòng gởi theo  Người Đi Trên Mây. NK/PNH) Lão có người bạn trẻ vừa chết! Chết chả hẳn là hết chuyện, bởi nhẽ các cụ nho gia ta xưa có câu kinh điển “sinh vi quá khách, tử vi quy nhân, thiên địa nhất nghịch lữ, đồng bi vạn cổ sầu” mà [&#8230;]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<p><a href="https://t-van.net/wp-content/uploads/2014/09/clip_image0027.jpg"><img loading="lazy" decoding="async" style="background-image: none; float: none; padding-top: 0px; padding-left: 0px; margin-left: auto; display: block; padding-right: 0px; margin-right: auto; border: 0px;" title="clip_image002" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2014/09/clip_image002_thumb6.jpg?strip=all&fit=404%2C295" alt="clip_image002" width="404" height="295" border="0" /></a></p>
<p><i>( Nén hương lòng gởi theo  Người Đi Trên Mây. NK/PNH)</i></p>
<p>Lão có người bạn trẻ vừa chết!</p>
<p>Chết chả hẳn là hết chuyện, bởi nhẽ các cụ nho gia ta xưa có câu kinh điển “sinh vi quá khách, tử vi quy nhân, thiên địa nhất nghịch lữ, đồng bi vạn cổ sầu” mà người bạn trẻ của lão diễn nôm với <i>sinh là khách qua đường, chết là người trở về, đất trời chỉ là quán trọ, thương thay cho hạt bụi ngàn năm</i>. Người bạn trẻ còn góp nhóp thêm rằng <i>cuộc đời ngoài là quán trọ, thân phận lữ khách trong nỗi thăng trầm được hay mất, đứng giữa hai con đường, tha nhân không thể cùng một lúc đi hai ngả mà phải chọn một.</i></p>
<p>Giữa hai con đường với địa táng và hỏa táng, nguời bạn trẻ chọn…lò thiêu.</p>
<p>Bạn đọc ngẫn ngẫn rằng “người” là giống giuộc gì mà nhiễu sự quá thể vậy!</p>
<p>Lộng ngôn về người bạn trẻ ư, đại loại người thượng thông thiên văn, hạ thức địa lý, trung trí nhân sự. Văn sách thêm chút nữa, đại thể người bạn trẻ là dân làm văn, làm báo. Thế nên bạn đọc cho là có hơi nhiễu chuyện cũng chả sai quấy là bao.</p>
<p>Bạn đọc lễnh đễnh thêm “người” thông thiên bác cổ thế nào chăng?</p>
<p>Ừ thì như tháng trước, người bạn trẻ ghé thăm, nhân năm hết Tết đến, bèn đốt điếu thuốc, tiện tay khui chai rượu lỳ một lam làm một ly. Nho táo, nho nhe với chữ nhất bẻ đôi không biết! Vậy mà câu “tửu lạc vong bần”, lão phang ngang bửa củi là uống rượu với “phá-xa”, chạy trời không khỏi nắng là nghèo lõ đít. Người bạn trẻ ngoác mồm với lão…lạc đây là lạc thú chứ chả phải là…lạc rang. Lại mới đây non tuần, ngồi ngoài vườn chén tạc chén thù. Khi không lão đan lồng nhốt kiến bằng vào sự thể ai cũng phải chết qua câu “hạc nội mây ngàn”. Người bạn trẻ nhấm nhẳng rằng ý câu này là <i>nay đây mai đó, không biết bao giờ mới gặp nhau</i>. Bạn dỗi, không tửu lạc vong bần với lão nữa và cút về. Người bạn trẻ về rồi, lão điện thoại hai, ba ngày chả thấy tăm hơi đâu.</p>
<p>Đang khi vui lọ đàn phách mà đã sớm về với thiên cổ, lão khăn gói gió đưa thăm người bạn trẻ chết…trẻ ở nhà quàn. Bước vào tiền sảnh, lão đang lụng bụng ba điều bốn chuyện bạn là dân làm văn, làm báo với danh vị nhà thơ, nhà văn bự sự quá thể, chả thấy nhà quàn, nhà xác đâu…Đâu đó cũng đến “làm thầy đất ta, làm ma đất người” thì va vào mắt tờ “Cáo phó” với pháp danh: <i>Chân ngã</i>. Lão ngã ngửa người chịu chết nghĩ không ra mới hôm nào chân nam đá chân xiêu, vừa nằm xuống chưa nóng chỗ. Chưa kịp để tha nhân cái quan định luận đã thửa được cái pháp danh lên niết bàn ngay. Hay thật chứ đâu có đùa. Bước tới bàn thờ, nhìn bức di ảnh người bạn trẻ đeo kính trắng bự sự trông cũng kinh điển lắm. Chợt nhớ năm xưa người bạn trẻ dặn dò lệ cúng bái của người Khổng Khâu là vái người sống ba vái, vái người chết hai vái. Nom dòm thấy chết chắc rồi, bèn kính cẩn vái hai vái cho chắc ăn. Bước qua nơi bạn nằm an giấc nghìn thu. Dòm nom thấy người bạn trẻ đội mũ vàng, mặc tăng bào nhà Bụt cũng mầu vàng. Lão có “cảm giác” người bạn trẻ của lão chả…văn nhân, văn vẻ tí nào.</p>
<p>Không những thế lão còn bị tra tấn chữ nghĩa với pháp danh Chân ngã. Chả là vì đau chân há miệng, lão há miệng thở ra như trâu hạ địa vì lão tuổi Thân nên đeo cái “ngã” của Tôn Ngộ Không: Ngã chấp, ngã mạn, ngã tham, ngã ái, ngã dục, ngã sân, ngã si…ngã gì đi chăng nữa, chung sự vẫn là…vô ngã. Nên lão cứ an nhiên tự tại để mình phiêu lãng quên mình lãng du. Với vô ngã, hậu sự lão chả vất vả với cái pháp danh. Đang phiêu bồng đến nơi chốn này, hiền thê bạn đi tới đưa xấp giấy nói là “Di cảo” mà bạn trăn trối đưa tận tay lão. Ủa chuyện tha ma mộ địa gì thế này? Lão trở ra tiền sảnh ngồi xuống bộ sa-lông tụng như tụng kinh. Hóa ra, di mặc của bạn dẵm lại lối mòn xưa cũ với <i>tử vi quy nhân</i>, hiểu theo người bạn trẻ là<i>…người chết trở về</i> ngay đây.</p>
<p>Và di cảo của nguời bạn trẻ với tử vi quy nhân như thế này đây, thưa bạn đọc.</p>
<p><em>Tôi đã chết, và chết thật rồi, vì mấy ai tới nhà quàn vào ngày Tết nên tiện nội tôi eo sèo nhân thế với họ hết sức mà không đổi được qua tuần sau. Nếu tôi còn sống, tôi sẽ nói với tiện nội rằng thôi, đáo giang tùy khúc, người Việt ta đâu khúc mắc chuyện Tết tiếc. Vả lại, từ lễ nhập quan đến lò thiêu, nhà đòn phải tống táng người chết trước đi trước, hậu sự với người sau đi sau. Chịu thôi. Với lại, ai đó nói rằng mơ thấy chết là may, thấy đẻ đái mới sợ. Tết nhất, tới nhà quàn ngắm người chết mà thấy mình còn sống nhăn răng cạp đất, thì may mắn là cái cẳng.</em></p>
<p><em>Khách khứa lục tục đến, đúng lúc tôi đang ngứa ngáy với bộ “com lê” còn mới. Bởi nói vãi thì lại nói vơ theo nhà Bụt người chết không nên mặc quần áo mới. Vì người chết làm như còn luyến tiếc đời tục lụy nên chẳng chịu về cõi cực lạc cho khổ cái thân. Cũng như đừng có gào tướng lên khóc lóc như níu kéo người chết. Vì làm vậy hương linh người chết bị vướng víu không siêu thoát được mà ở lại cũng không xong. Vẫn chưa xong, tôi đang muốn đục tụi nhà quàn một quả, bởi thằng người tôi nằm trong áo quan tự thấy dị hợm gì đâu. Chẳng là nhà quàn họ tô son đánh phấn thằng tôi như đàn bà con gái ấy nên chẳng giống ai. Họ lại còn đeo kính lão cho tôi nữa. Chết rồi còn nhìn khỉ gì nữa đây. Khách đến viếng, nhìn tôi đeo kính nằm chết như mơ nên tọc mạch tôi ngỏm củ tỏi thế nào? Tiện nội được thể vun chuyện nào là có điềm báo trước hay sao ấy nên tôi cứ giở quẻ nói gở thế này thế kia, rồi đột dưng…trúng gió chết quay cu đơ. Với ngẫu sự ấy, người nào cũng buồn nhiều hơn vui lnhư nhà mình có đám không bằng nên ai nấy đều ngậm ngùi và…ngậm tăm.</em></p>
<p><em>Trừ hàng ghế cuối, có hai ông đang rì rầm nói chuyên văn chương thiên cổ sự:</em></p>
<p><em>&#8211; Ông đã đọc Chiến tranh và hòa bình của Léon Tolstoi chưa?</em></p>
<p><em>&#8211; Hơ! Chiến tranh đã chấm dứt năm 75 rồi mà!</em></p>
<p><em>Hai ông yên ắng, ngồi thẳng, hai tay trên gối, mặt nghiêm và buồn.</em></p>
<p><em>Ha! Nói chuyện văn chương thiên cổ sự còn ai trồng khoai đất này. Tôi đây chứ ai. Theo tôi đọc Chiến tranh và hòa bình chưa đủ, còn phải đọc di bản cuối cùng “Tự bạch của Léon Tolstoi”. Tiểu luận về sự sống và cái chết của ông từ thuở thiếu thời cho đến khi…chết tại ga xe lửa ở Moscow, với đoạn dẫn nhập như sau:</em></p>
<p><em>“…Tôi cảm thấy chán ghét cuộc sống, tôi không thể cưỡng nổi thôi thúc tìm cách chối bỏ cuộc đời. Ý định tự tử đến với tôi cũng tự nhiên như trước kia tôi đi tìm ý nghĩa của cuộc sống. Tôi là nhà văn, bị ám ảnh bởi cái danh và bởi những lời tâng bốc người đời, rồi thì cái chết cũng sẽ đến và hủy tiêu tất cả&#8230;”</em></p>
<p><em>Khiếp! Người bạn trẻ di quan, di ngôn gì mà hành ngôn, hành tỏi hàn lâm quá thể. Thấy người ăn khoai cũng vác mai đi đào, lão bèn đào sới với Tolstoi, với Chiến tranh và hòa bình, lão chỉ thấy dài lê thê, có chương chả ăn nhập gì tới cốt truyện. Ấy là chưa kể những khúc, những đoạn nhẩy cóc cứ lung tung cả lên. Nào khác gì cụ Ngộ Không với tạp bút Một chút dối già, hoặc như văn cách của nguời bạn trẻ thế này đây:</em></p>
<p><em>Trên bàn thờ cạnh áo quan, ảnh chân dung một tôi …lộng kiếng thếp vàng. Chẳng giống thằng người tôi nằm trong áo quan tí nào. Chẳng biết khách vãng lai có bản lai diện mục thiên cổ chi mê tôi không. Vì có tới ba cái tôi: “tôi” xác chết trong áo quan, “tôi” trong chân dung, và “tôi”, người chết rồi nhưng vẫn còn âu sầu nhân thế với nhất hữu ly biệt, thiên lý tống tiễn…Chẳng biết “tôi” nào là tôi thật, tôi giả.</em></p>
<p><em>Hơ! Lão ngộ chữ tới…thăm viếng. Ha! Tôi đã câu đọng chữ thừa với lão rồi: Thăm viếng là đi thăm người sống. Viếng là đi viếng người chết. Lại nữa, viếng người chết không nên vác cái máy ”Canon” to đùng. Vì rằng tiện nội tôi thấy cái ống kính như nòng súng “cà-nông” như lân thấy pháo. Y chang, tiện nội tôi nói lão bắt vào ống kính vài tấm nơi vãng cảnh, vãng phần. Tôi nghe lão ngộ chữ bấm “tách…tách…”</em></p>
<p><em>Ngó lão ngộ, tôi nhớ tuần trước ngồi ngoài vườn chén chú chén anh nghe lão búi xúi về “hạc nội mây ngàn”, không biết lão đọc khúc này của L, Tolstoi chưa:</em></p>
<p><em>“…Tôi được rửa tội theo Kitô chính thống. Từ thơ ấu, người ta dạy tôi tin theo đạo, nhưng tôi không tin những gì được dạy bảo. Thêm nữa khi anh trai tôi Dmitri, đang học đại học. Bỗng nhiên trở nên mộ đạo và bắt đầu chăm chỉ đi lễ nhà thờ, ăn chay, chúng tôi chế giễu gọi anh là một Noah. Anh không nói gì, mấy tháng sau anh mất nên tôi không đi lễ nhà thờ nữa. Từ 16 tuổi tôi đã thôi không cầu nguyện, nhưng tôi vẫn tin vào một cái gì đó mà không nói được tôi tin vào cái gì. Tôi không phủ nhận người cõi trên, nhưng người cõi trên nào thì tôi chịu. Tôi không phủ nhận Kitô với học thuyết, nhưng học thuyết ra sao thì tôi hồ nghi…”</em></p>
<p>Như L. Tolstoi, khi không người bạn trẻ nhẩy cóc qua chuyện nhà quàn, nhà táng…</p>
<p><em>Sư cụ áo vàng và đoàn hộ niệm lục tục tới đọc kinh cầu siêu cho tôi được siêu thoát để lên niết bàn. Đang nằm chết dí trong áo quan, đang đeo kính, nhắm mắt tôi cũng nom dòm thấy các bà mặc áo lam, mang tràng hạt có 108 hạt. Tôi còn biết các bà phải ăn chay, tắm rửa sạch sẽ trước khi đến đây hộ niệm đọc kinh. Các bà đọc kinh kể công ơn bậc sinh thành, kể cả về những sự gian nan của một kiếp người. Trong khi tôi nằm đây và đang phiêu diêu với “sinh ký dã, tử quy dã”. Vậy chứ quy về đâu?</em></p>
<p><em>Hay là hãy bản lai diện mục với những người vãng phần trước. Thế là hồn vía thiên cổ chi mê tôi chui tọt qua tường sang phòng bên cạnh để thăm hỏi. Ông phòng bên cạnh cho biết vừa “lâm sàng” đã có “Người cõi âm” đợi sẵn, nắm tay ông bay trong hành lang ngập ánh sáng xanh lè, trắng lóa mắt. Ông lạc một vùng quá độ, vừa là đời này, vừa là một nơi nào khác. Nơi nào khác là căn nhà cũ của bố mẹ ông vào đời trước. Lúc này ông mới nhìn toàn bộ cuộc đời mình với cảnh giới này nối tiếp cảnh vật nọ, theo dòng thời gian với sự việc xảy ra. Rồi “Người cõi âm” đưa ông tới nghĩa địa chỉ nơi sinh phần của ông. Ông hỏi gì cũng không nói vì “Người cõi âm” mặc áo chùm từ đầu đến chân như muốn dấu mặt. Lát sau, “Người cõi âm” đưa ông về phòng, vừa lúc tôi chui qua nên “Người cõi âm” hãi quá …biến mất tiêu.</em></p>
<p><em>Thế là tôi để hồn đi hoang lẽo đẽo đi theo mấy cụ ông, cụ bà đã quy tiên từ đời Tam hoàng Ngũ đế nào rồi và đang vất vưởng quanh đây như tôi. Trong đó có một cụ ông nhằm vào cái tuổi chín tầng mây trời, phong thái rất an nhiên tự tại và thoáng đãng. Bèn làm lễ vấn danh, cụ cho hay cụ là Thần hoàng bản thổ làng Xũ. Tôi lẫn ngẫn trông thấy nhưng cũng kịp thưa thốt rằng cụ đã lên niết bàn chưa? Trên ấy có vui chăng? Cụ thong dong trả lời lên mãi, nhưng ở lâu không được vì chán lắm. Chán như đám ma này, nhà đám và khách hết đi vào phòng ăn nhà quàn lại đi ra. Bởi tang ma điếu đám ở làng quê xưa khác bây giờ vì có phường bát âm tò te tí te. Tang gia thuê người khóc mướn tỉ tê, tê tái…vui lắm. Thuờng thì những người khóc mướn đã nặng lòng với cuộc đời, họ khóc và kể lể cuộc đời người đã khuất như…thật. Như họ khóc dùm bà chị có cậu em mới mất với bài bản thì: “Thế là từ đây xa rồi, mỗi người đi mỗi ngả, v…v…”. Và họ lên bổng xuống trầm, gần như hát, có điệu, có vần với: Xa quá rồI em, người mỗi ngả &#8211; Bây giờ không biết nhớ thương nhau của nhà thơ Nguyễn Bính…nhớ người tình. Tiếp đến tang chủ ngả con sề đánh chén ngay cạnh áo quan, tiết canh lợn, lợn luộc chấm mắm tôm, rượu đế làng Vân uống tì tì…Uống đến say khướt, nhiều khi mấy bác đạo tỳ đánh nhau u đầu sứt trán đâu vào đấy rồi…rồi mới chịu khiêng người chết ra cánh đồng làng chôn.</em></p>
<p>Đoàn hộ niệm lao xao sửa soạn đi về. Sư cụ áo vàng là đồng môn với lão, đi qua chỗ lão ngồi dừng lại nói: “Anh Hùng về cố viết truyện đám tang này và tập tục tang ma người Việt để dành cho mai hậu”. Lão dạ vâng vì đang ôm khư khư tập di cảo…</p>
<p><em>Và rồi với nhật mộ hương quan hà xứ thị, yên ba giang thượng sử nhần sầu, cụ thần hoàng dẫn tôi về con đường mòn của làng Xũ gần Hà Nội xưa cũ. Vừa đi cụ vừa chín đụn mười trâu là chết cũng hai tay cắp đít, cụ tuế tóa xong là tới cổng vuờn nhà ai đấy, trên cành cây ngoài vuờn buộc miếng vải hay tờ giấy bản trắng để cây cối cũng nhớ thương tiễn nguời đi. Vừa lúc nhà đám đi ra, vì ngõ trúc ao sâu nên không len chân vào được, tôi chỉ thấy người dẫn đầu tay cắp cái rổ, tay rải tiền âm phủ và những thỏi vàng trắng. Cụ cho hay ấy là tục rải vàng bạc trên đường đi để đánh dấu cho người chết biết lối mà trở về nhà. Ra khỏi ngõ, đô tuỳ nhà đám hạ quan tái vừa chạm đất là nhấc lên ngay, tất cả ba lần. Mỗi lần vậy, họ hàng tang gia mặc áo tang luơm nhuơm, không may lại với nhau mà chỉ có mấy cái dải buộc, đầu tóc để bù xù không chải. Họ quỳ đập đầu xuống đất vái ba lạy. Cụ giảng giải quan tài nhấc lên hạ xuống là người chết chào từ biệt gia đình về với ông bà tổ tiên. Ra đến cổng làng, linh cửu phải quay đầu lại để nguời chết được nhìn cái cổng làng lần cuối.</em></p>
<p><em>Trên con đường ra gò mả đồng làng, cụ chỉ cho tôi bốn đô tuỳ. Lúc này thiên cổ chi mê tôi mới chuối sau cau trước là họ đầu quấn khăn đầu rìu, gấu quần xắn móng lợn, và “minh tinh nhà táng” là giây chão võng áo quan bằng hai đòn gánh tre gộc. Vịn quan tài có một anh trai đội khăn vành quấn rơm như cái rế đội nồi, áo sô gai vải bố, thắt dây lưng lá chuối, chân trần, chống gậy gỗ vông. Bèn ớ ra. Cụ dậy bố anh trai mới chết, còn nếu như mẹ chết thì chống gậy tre. Bỗng có chị gái chùm khăn mấn, áo lộn sống sổ gấu, lăn đùng ra giữa đường, giãy đành đạch như đỉa phải vôi, khóc lóc thảm thiết và níu áo người ta không cho bước qua. Thấy lạ nên sắc mắc. Cụ cho biết ấy là con dâu hay con gái nằm cản người ta đem bố mình đi chôn. Bèn ngẫn ngẫn chôn ở đâu? Cụ hóng mắt tít mù trên gò mả, khật khưỡng đi trước là mấy bác đô tuỳ nát rượu vai xẻng, vai cuốc để đào huyệt. Trong khi chờ đợi mọi người vực chị gái dậy đi tiếp. Bỗng thấy có người dắt theo con chó đen đi theo đám tang từ đằng sau. Lại đú đậm cho rõ. Cụ cười cái hậc là chó đen quen ngõ, là nhà đám có chó đen dẫn theo thì sau ngày mở cửa mả, đêm về hồn vía người chết theo hơi hướng chó tìm về nhà thì sẽ không bị lạc. Thế các cụ ta xưa có câu “quáng quàng như chó nhà táng” là thế. Nhưng đừng dẫn chó trắng, bởi hồn người chết sợ lắm vì “chó trắng cắn ma”. Bèn gặng hỏi tới nữa với lễ động quan với mở cửa mả.</em></p>
<p><em>Mà cớ sự này lão ngộ chữ cũng chẳng hay biết. Ủa mà từ nãy giờ lão ta đi đâu vậy? Tôi không thấy! Mà tiện nội đưa cho lão tập lai cảo chưa? Tôi cũng không hay! Tôi phải đi tìm lão mới được, chắc lại ra ngoài ngắm khói huyền bay lên cây đây…</em></p>
<p><em>Khi không miệng lưỡi lão ngứa ngáy. Đợi người bạn trẻ ra, lão sẽ rủ ra ngoài để nhớ nhà trong điếu thuốc. Nhưng đợi mãi không thấy tăm hơi đâu, nên hặm hụi tiếp…</em></p>
<p><em>Cụ cho hay tập tục chôn cất tùy theo thổ ngơi, làng cụ ma chay là thỉnh thầy cúng. Lễ động quan, thầy lấy dao bầu mổ lợn thọc vào trong quan tài gạch ba khía vẽ bùa. Mỗi đầu quan tài chém nhẹ ba nhát nữa vì gỗ mang từ rừng về hôn ma còn vất vưởng nên chém cho ma rừng chết luôn. Nhòm thầy cúng cầm dao bầu, lật đật như ma trật đám quải cách mấy, tang chủ biết ý thầy đòi cái sỏ lợn. Con lợn bỗng dưng bị mang ra ngả thịt, vì vậy mới có câu “trơ trơ như sỏ lợn nhìn thầy cúng” là thế.</em></p>
<p><em>Quan tài được võng xuống huyệt từ từ, nhịp nhàng theo thầy cúng cầm hai mảnh tre đực gõ vào nhau gọi là “gõ xinh”, âm thanh “cách, cách” đến buồn thảm. Hạ huyệt lấp mộ rồi, thầy cúng đi quanh mộ vừa đọc thần chú vừa nhúng cành cây nhỏ vào bát nuớc vẩy xung quanh mộ gọi là nước “cành dương”. Để tránh cái nhiễu sự mồ cha không khóc lại khóc cái tổ mối, người nhà đánh dấu đầu ngôi mộ để ba ngày sau trở lại làm lễ mở cửa mả. Với lễ mở cửa mả, thầy cúng bày bộ tam sên gồm trứng, con cua luộc, miếng thịt lợn. Và một con gà sống thiến còn…sống. Con gà được thầy cúng buộc giây vào chân, dắt đi quanh mả rải gạo cho gà mổ, tay vung vẩy bó nhang, tay bắt quyết va tụng “Hồn nay ở chốn non bồng, qua đây hồn hãy vui lòng ghé chơi”. Sau đó nhà đám đi về, bỏ mặc gà muốn đi đâu thì đi. Gà đợi làm lễ lâu mệt khờ người, lại bơ vơ giữa đồng không mông quạnh, nên ngơ ngơ không biết đi đâu. Thấy mặt tôi ngáo ệch trông thấy, thấy vậy cụ diễn nghĩa câu văn ngữ trên chỉ người lúc nào cũng ngơ ngáo như thiên cổ chi mê tôi, như…”gà mở cửa mả”.</em></p>
<p>Chôn cất theo các cụ tuế toái thật. Lão ngước mắt lên cáo phó để nhớ ngày, giờ lễ hỏa táng. Tiếp, lão lúi húi với những chữ là chữ…</p>
<p><em>Từ hồi sinh tiền, tôi nói với tiện nội tôi rằng chết đem thiêu rẻ, gọn và sạch. Có người bảo nóng quá, 4000 độ F chứ đâu có bỡn. Nhưng chết rồi, nóng, lạnh khỉ gì nữa.</em></p>
<p><em>Không cần biết nóng lạnh ra làm sao, hai ông cuối dẫy hàng ghế lại râm ran:</em></p>
<p><em>&#8211; Ông đã đọc Anh em nhà Karamazov của Dostoevsky chưa?</em></p>
<p><em>&#8211; Vâng, mới đi xem “lúy” ra mắt sách tháng trước ở Canvas Bistro.</em></p>
<p><em>Mặt nghiêm và buồn, ngồi thẳng, hai tay trên gối, hai ông yên ắng.</em></p>
<p>Hơ! Tôi cũng buồn hiu và đang hiu hắt với “Tự bạch của Léon Tolstoi”…</p>
<p><em>“…Tôi đã từng giết người trên trận địa, thách đấu súng, thua bạc, nát rượu, quan hệ luyến ái với đàn bà có chồng. Vào thời kỳ ấy tôi bắt đầu viết vì hám danh, và tự mãn. Trong viết lách tôi cũng hành xử như trong đời sống. Để có được tên tuổi, tôi che giấu cái tốt lành, phô trương cái xấu xa. Và tôi đã dùng đủ mọi cách để tạo ra cung cách từng trải cho cuộc sống và người ta ca tụng tôi…”.</em></p>
<p>Trộm thấy cuộc đời L. Tolstoi thác loạn quá thể, thế là lão được thể ngập ngụa với cuộc đời của Dostoevsky: Năm 1846 Dostoevsky đọc sách báo cấm, bị bắt, lãnh án tử hình nhưng được ân xá tại pháp trường. Ông bị kết án bốn năm lao động khổ sai tại Tây Bá Lợi Á. Các tác phẩm tiêu biểu gồm Tội ác và hình phạt, Thằng ngốc, Anh em nhà Karamazov….Đậu vào mắt là tử hình với pháp trường, chưa thấy quan tài chưa đổ lệ, lão chợt nhớ ra mình đang ở nhà đám, và đám ma đang ở tao đoạn thế này đây:</p>
<p><em>Tôi chết rồi quớ quáo không biết đi về đâu, nên lụi đụi theo người muôn năm cũ. Vừa vặn người nhà đòn đẩy ông phòng bên cạnh tới lò thiêu. Cụ thần hoàng dẫn tôi đi theo cái hòm đem đốt thuộc thế loại khá đắt tiền. Cụ “vén tay áo sô đốt nhà táng giấy” chỉ cho tôi thấy: Phu nhà đòn đẩy linh cữu vào lò. Người trong lò lôi xác ra nhét vội vào hòm “foam”. Người bên ngoài bấm nút. Với người ngợm mỗi ngày rơi rụng lác đác như lá mùa thu, hôm nay đốt thêm một khách vãng lai nữa. Phu nhà đòn bèn bày bia rượu ra nên vui như Tết. Vui hơn nữa có hai gã đạo tỳ thuộc diện Bắc kỳ 2 nút bỉ thử thằng tôi chẳng ra làm sao cả. Gã đạo tỳ “mặt cúm chó” khơi mào:</em></p>
<p><em>&#8211; Thằng mà em làm thịt hôm qua là tù cải tạo miệng cứ ngoác ra. Em sợ nó nói nhiều, nói dai không bằng…nói dại nên em lấy kim chỉ khâu bố cái mồm nó lại.</em></p>
<p><em>&#8211; Khiếp bỏ mẹ! Ngụy chống phá cách mạng bị biệt giam là đúng quá rồi. Cả năm bị cùm nên nhòm thấy “cái hàng” như cái conex là cứ co rúm chân lại. Bố phải lấy rượu xoa bóp hai đầu gối nó mới chịu nằm yên ngay ngắn cho.</em></p>
<p><em>&#8211; Cái hàng là cái gì hở.</em></p>
<p><em>&#8211; Hở hang gì. Cái hàng là…cái hòm.</em></p>
<p><em>Im ắng một hồi lâu, gã mặt non choẹt mặt “bức xúc” thấy rõ:</em></p>
<p><em>&#8211; Bác tin có địa ngục không?</em></p>
<p><em>Thiên cổ chi mê tôi nhìn cụ mắt tròn dấu hỏi. Cụ thần hoàng làng Xũ cười mủm mỉm và…lắc đầu. Gã đạo tỳ “mặt hoa trâu tháng đẻ” xưng “bố” ra mặt dậy bảo:</em></p>
<p><em>&#8211; Dào, vẽ chuyện. Bố dậy cho mày nghe nhá, mày cứ tống nó vào lò thiêu là nó biết ngay, chết rồi còn nóng lạnh chó gì nữa. Ngay cả chôn xuống đất rồi lớ ngớ chui xuống địa ngục bị Diêm vương nhúm nhét vào vạc dầu cũng vậy thôi. Mày cứ nốc thoả mái như bố đây, chết hết chuyện, làm chó gì có âm ty với địa ngục.</em></p>
<p><em>Trộm thấy hai gã đây ăn nói ngang phè phè nên biết quái gì với niết bàn, địa ngục, và cái chết với co quắp, há miệng. Nên thiên cổ chi mê tôi thưa với cụ thần hoàng là nhà Bụt đã thực chứng “Hiện tượng khi người sắp chết” rất thần thức từ thần khí tới diện tướng. Nếu nhắm mắt lìa đời nhẹ nhàng như đi vào giấc ngủ bình thường thì sẽ lên niết bàn. Còn người chết một là mắt mở, hai là miệng hả, ba là mũi bầm đen, bốn là người ngợm co quắp thì chắc như cua gạch là sẽ…bò xuống địa ngục.</em></p>
<p><em>Cụ lắc lắc đầu, mở mắt, hả miệng mà rằng khi nào tôi ra ngoài thông khói, cụ sẽ thông hanh cho tôi tường mọi nhẽ của nghiệp chướng trong cõi nhân gian.</em></p>
<p><em>Chợt nhớ lại ngày nào, thiên cổ chi mê tôi cưỡng từ đạt lý với lão ngộ chữ, với ngã hữu thốn tâm vô dự ngữ, tạm hiểu là ta có tấc lòng chưa ngỏ được. Ấy là “sinh ra là khách qua đường,…thương thay cho hạt bụi ngàn năm”. Khi không trong nhà quàn văng vẳng từ nhạc cổ điển êm dịu sang điệu sa mạc nghe chỉ thấy toàn là cát bụi: “Hạt bụi nào hóa kiếp thân tôi để một mai muôn hình hài lớn dậy &#8211; Ối! Cát bụi ngập đầy, vết chân nào xóa bỏ một kiếp rong chơi &#8211; Hạt bụi nào hóa kiếp thân tôi để một mai tôi trở về làm cát bụi…”.</em><i></i></p>
<p>Lão ngẩng đầu ngó chừng chả thấy máy móc nào đâu, nên ngẫm ngợi người bạn trẻ có hoang tưởng quá chăng!? Rồi đành cơm niêu nước lọ tiếp với tập di cảo:</p>
<p><em>Chẳng lẽ thằng chết cãi thằng khiêng, tôi bỏ mặc hai gã đạo tỳ trước cửa tử với mấy loong bia. Lạng quạng thế nào chẳng biết nữa tôi gửi thưa với cụ là qua kinh A di đà nếu thiểu dĩ thiện căn, phúc đức nhân duyên khó sanh bỉ quốc. Kinh viết rằng nếu thần thức xuất đầu gối tái sinh là súc sinh. Nếu như hiện tướng xuất thần ở bụng thì kiếp lai sinh về cõi người. Thấy cụ im thin thít như thịt nấu đông, tôi sa đà tiếp: Nếu như thần thức xuất thần ở đầu thì vãng sinh về cõi Bụt.</em></p>
<p><em>Như sợ ai nghe thấy, cụ háy háy mắt rủ rê tôi ra ngoài. Cụ nhón một điếu thuốc của tôi hút lấy hút để. Vừa thở ra khói cụ vừa cụ lậu bậu với luân hồi, nhân quả qua giấc ngủ rồi khơi khơi lên niết bàn. Hoặc giả người mắt mở, miệng hả rồi nháo nhào xuống địa ngục, cụ có nghe qua. Ngoài ra cụ cũng hóng hớt được thêm rằng: Nghiệp lành, dưới lạnh trước nên thân xác chết từ bụng lên. Còn nghiệp dữ trên lạnh trước, thân xác chết từ đầu xuống. Còn trúng gió chết ngay tức thì như thiên cổ chi mê tôi…thì chẳng cần đọc kinh siêu thoát làm quái gì vì tôi đã…thoát rồi.</em></p>
<p><em>Thông hơi thông điếu hết điếu thuốc chùa có mùi nhang cho đã điếu xong, cụ tiếp: Sau 49 ngày, hồn xuất để đầu thai là súc vật, là người, hay là Bụt. Tất cả mọi sự do Ngô Thừa Ân mang vào truyện Tây Du Ký: “Chuyện là vào đêm cuối đi thỉnh kinh, ngày mai vào yết kiến đức Như Lai để lên kiếp Bụt. Đường tăng trằn trọc không ngủ được, giờ đây sắp bỏ kiếp người, ông bỗng thấy day dứt, như níu kéo ông lại. Tôn Ngộ Không nằm bên thấy vậy cười khẽ: Thầy dối lòng vì thầy đang sợ chết đấy thôi, nhưng chậm quá rồi”. Và cụ bép một cái là từ Tây Du Ký, ngừời sau gánh bùn sang ao bởi do tu nghiệp mà ngài Tam Tạng Trần Huyền Trang đưa vô lượng kiếp vào Tam tạng kinh. Chứ vô khả vô bất khả ấy không có trong kinh kệ nhà Bụt! Bèn vấn cụ với tích 49 ngày. Cụ dậy là thần hoàng như cụ cũng không hay biết nữa là. Mà đâu cần đợi đến thất thất lai tuần, vi có người đầu thai trong vài tiếng đồng hồ sau khi chết, nhất là lính thú chết ngoài trận địa. Vì họ không chịu được cảnh hồn họ lang thang ngoài chiến địa với máu me. Họ muốn nhập xác liền. Lý do này giải thích được hiện tượng chúng sinh …sinh đẻ nhiều sau chiến cuộc là thế.</em></p>
<p><em>Thế là lưỡi đá miệng, tôi bẩm với cụ: Xũ là lý sự gì? Cụ cười cái bép: Xũ là…cái hàng. Rồi cụ thăng. Văng vẳng, lửng lơ giữa đất trời như sáo diều cốc: Hàng là hòm…Hòm là quan tài…Quan tài là áo quan…Áo quan là….</em></p>
<p>Vào lại nhà quàn, thiên cổ chi mê tôi lại loáy nhoáy đến L. Tolstoi với nhân sinh bách tuế vi kỳ, là đời người lấy trăm năm làm hạn. Không như chuyện ruồi bu vừa rồi, nhưng lại ruồi bâu kiến đậu tới những cái chết…</p>
<p><em>“…Thuở ấy bản thân tôi không hiểu biết về cuộc đời và cái chết. Như khi ở Paris, cảnh tượng xử tử hình lột trần trước mắt thấy cái đầu của tử tội rời khỏi thân thể rơi xuống hòm, tôi đã không hiểu ra. Tôi chỉ nhận ra tính bất toàn của đời sống là cái chết của anh trai tôi Dmitri. Là một người tình cảm, anh tôi chết trẻ không hiểu được mình đã sống để làm gì và lại càng ít hiểu hơn nữa, chết rồi thì sẽ đi về đâu?. Tôi biết rằng tât cả chỉ là hư ảo. Bởi vì tôi đoán được nó là cái gì. Ấy là: Cuộc sống là vô nghĩa. Cuối cùng đi đến một vực thẳm và trông thấy rõ dưới đó không có gì cả, ngoài cái chết. Tất cả mọi người đều biết như tôi. Nếu không bệnh tật, cái chết cũng sẽ đến một ngày nào đó không xa, không còn gì ngoài lũ giun dế!</em></p>
<p><em>Từ lâu tôi được nghe kể một chuyện ngụ ngôn phương Đông về một lữ khách giữa thảo nguyên bị một con thú tấn công. Chạy trốn con thú, lữ khách nhảy xuống cái giếng cạn, nhưng trông thấy dưới đáy giếng một con rồng đang há miệng chờ. Anh bám chặt bụi cây mọc từ khe giếng. Tay lữ khách yếu dần, anh ta cảm thấy sắp phải nộp mình cho thần chết đương chờ anh ta từ hai phía. Anh thấy hai con chuột nhắt, một trắng, một đen, bò đến và gặm bụi cây. Chỉ một lát nữa bụi cây sẽ đứt, anh ta sẽ rơi vào miệng rồng. Lữ khách nhìn thấy tất cả và biết rằng cái chết không thể tránh khỏi. Bỗng thấy trên lá cây mấy giọt mật ong, thế là anh thè lưỡi ra liếm chúng.</em></p>
<p><em>Cũng thế, tôi đang bám lấy cuộc sống, biết rằng sự chết không thể tránh khỏi. Tôi cũng liếm những giọt mật là những ly ruợu trước đây, nhưng không còn làm tôi vui thích, Vậy mà con chuột trắng và chuột đen, ngày và đêm, vẫn tiếp tục gặm nhánh cây mà tôi đang níu lấy. Tôi chỉ thấy hai con chuột và không thể nhìn đi chỗ khác. Đây không phải là truyện ngụ ngôn, mà là sự thật, và ai ai cũng thấy…”.</em></p>
<p>Bỗng dưng người bạn trẻ mang ruợu ra bày cỗ, mà nào ai biết ma ăn cỗ bởi lẽ lão biết chuyện này là công án Thiền có tên: ”Một ngụ ngôn”. Nhòm xuống trang giấy, người bạn trẻ lại bày biện hàng mã như hoá vàng với nhang đèn hương khói nữa:</p>
<p><em>Trong một cõi đì về, tôi như thấy thiếu vắng một cái gì ấy? Chợt nhớ ra từ nãy đến giơ lão ngộ chữ…vắng mặt, dục dặc thế nào chẳng biết nữa lại hồi cố nhân tới cụ thần hoàng bản thổ làng Xũ với 49 ngày, 100 ngày…Nếu có lão ngộ chữ ôm đồm với Chữ nghĩa làng văn ở đây thì cụ thần hoàng vỡ bọng cứt ra ngay là từ thời Đông Hán, người Tàu dậy dân ta lễ nghĩa như lễ cưới vợ, gả chồng và…tang gia bối rối. Đại thể như người dẫn đầu quan tài cắp cái rổ rải tiền âm phủ ở trên: Tích này từ cụ vua Văn Vuơng đời Chu chết mấy ngày rồi sống lại do sai sót sổ sách của Nam Tào và Diêm vuơng. Trở lại dương thế, cụ vua cho thần dân hay ở dưới âm phủ thiếu thốn trăm bề và đề xướng đốt tiền giả gửi xuống để người thân…đi chợ.</em></p>
<p><em>Từ đấy người làng Mái, Đông Hồ, tỉnh Bắc Ninh với nghề làm hàng mã như tiền âm phủ, những thỏi “vàng” làm bằng nan nứa gấp lại, ngoài bọc giấy mầu trắng tang chế rải trên đường cho đám ma hay nhà táng giấy để đốt trước khi hạ huyệt. Ngành thủ công nghệ này lan tới phố Hàng Mã, Hà Nội với sập gụ, tủ chè, nồi niêu, bát đĩa, áo quần, giầy dép và chẳng thể thiếu hình nhân là nguời hầu với điện thoại cầm tay.</em></p>
<p><em>Trở về với tang lễ theo Kinh lễ nhạc của người Khổng Khâu làm quan chức “Tư chức lại”, lại lo việc nuôi dê cho việc cúng bái, nghi lễ nơi miếu đường. Khi người mất, xóm gừng láng tỏi ở xứ Bưởi để tang 100 ngày. Riêng trưởng môn là thầy Tử Lộ để tang 3 năm. Từ việc thờ cúng với quả trứng, mâm xôi, dân gian ta có câu ca dao anh có sống khôn chết thiêng ngồi dậy ăn xôi nghe kèn để em đi lấy chồng. Nhưng ấy là chuyện hai, ba trăm năm sau Khổng Tử với Trang Tử. Cũng từ nhạc lễ trong miếu đền của người Khổng Khâu ta có phường bát âm cho đám ma,</em></p>
<p><em>Phường bát âm gồm tám nhạc cụ là hồ, nhị, hồ gáo, sáo, đàn tứ, trống cơm, tiu cảnh, kèn. Nguời chết đuợc liệm vào áo quan, khi này phường kèn cử lên bài Lâm khốc, Con nhạn lạc đàn. Khi có nguời đến phúng điếu, nhạc bắt qua Điếu quân, Mã đáo. Lúc hạ huyệt, phường bát âm ò e í e với Kim tiền, Lưu thủy, v…v…</em></p>
<p>Hơ! Khi rày lão mới thông hanh “sống dầu đèn, chết kèn trống” là nghĩa lý gì. Mà nghĩ cho cùng, người bạn trẻ của lão cũng chả hay hớm gi cho mấy, bởi bị cụ thần hoàng lỡm mà không hay vì làm quái gì có…làng Xũ. Vì chết kèn trống, sống dầu đèn thì từ thời Lê, khu Kẻ Chợ 36 phố phường ở phố Hàng Kèn phía nam Hồ Gươm. Phố này có một phường kèn trống bát âm chuyên phục vụ đám ma. Còn đòn đám ma và người khiêng đòn nắm ở phố Hàng Hòm làm quan tài vì nghe thô kệch nên sau đổi tên là…phố Lò Xũ. Xưa, ở đấy mấy bác phu nhà quàn ngồi trên chõng tre tì tì đánh chén mộc tồn với rượu Kẻ Mơ, chuyện “làng Xũ” cụ thần hoàng là thế đấy. Còn chuyện tì tì đánh chén, lão gà gật với gái có tang…gà mái ghẹ và trở lại với chuyện đánh chén…</p>
<p>Trở lại chuyện ăn xôi nghe kèn để em đi lấy chồng với Trang Tử qua <i>Sử ký</i> của Tư Mã Thiên, chương <i>Trang Tử liệt truyện</i>, với chữ nghĩa tam sao thất bản như sau:</p>
<p>Một bữa ngoài đồng ruộng, Trang Tử đang phe phẩy quạt, thấy một người đàn bà cũng đang cầm quạt quạt một nấm mồ. Ông hỏi thì nàng nói khi chồng nàng chết có dặn dò là ráng đợi mồ khô, xanh cỏ hày đi lấy chồng. Nay vừa đúng 49 ngày. Trang Tử về nhà thuật lại cho vợ nghe, vợ cười mà rằng: “Sao lại có chuyện vội vậy!”.</p>
<p>Trang Tử có phép thuật bèn giả chết để thử vợ. Trước khi chết dặn vợ quàn mấy ngày rồi hãy chôn. Những ngày ấy, “chủ phụ” dựng xạp, bày rượu chè ê hề cạnh quan tài cho khách phương xa thăm viếng nghỉ ngơi, chè chén. Trang Tử mới hiện ra một chàng trai trẻ trong đám khách ấy. Vợ Trang Tử thấy chàng trai trẻ nên phải lòng. Nửa đêm chàng gõ cửa phòng giả bộ đau bụng rên la như sắp chết. Vợ Trang Tử hỏi đau vậy uống thuốc gì hết. Chàng trai trẻ nói nếu có sọ người mài ra uống thì hết bệnh. Vợ Trang Châu mở quan tài, lấy búa…búa vào đầu Trang Tử một búa…”.</p>
<p>Thiên cổ chi mê tôi hết ngẫm ngợi phải chăng từ mấy ngày điếu đám thịt heo quay, Mai quế lộ ở bên Tàu nên sau này Ta có tiết canh lòng lợn, rượu làng Vân chăng? Lại nhang đèn hương khói đến quả trứng, con gà. Ngẫm chuyện gà đẻ ra trứng hay trứng đẻ ra gà với 100 ngày của Khổng Tử hay 49 ngày của Trang Tử đây? Bỗng không thiên cổ chi mê tôi lại ôm rơm rặm bụng với giảng thuyết 49 năm, với Kinh Đại Niết Bàn, trước khi nhập diệt, Đức Phật nói: “Như Lai thường không thuyết pháp…vì pháp vốn vô tánh. Như Lai dầu giảng nói tất cả pháp nhưng thường không chỗ nói.” (Phẩm Quang Minh Biến Chiếu Cao Qúy Đức Vương Bồ Tát, thứ 22).</p>
<p>Ngôn từ không bao giờ chính xác để nói lên điều gì. Nói chỉ là nói tạm, vì chẳng cách nào khác để truyền đạt tư tưởng cho đa số người. Vì vậy, dù là Phật đã giảng thuyết 49 năm, nhưng không có lời nào là tuyệt đối đến mức mọi người cứ khư khư nắm giữ nó. <i>Tùy nghi liệu thế mà hiểu</i>. Cho nên, giảng thuyết nhiều mà lại chẳng nói lời nào là thế. Muốn đắc ngộ, phải rời bỏ văn tự, không mắc kẹt vào ngôn từ: “Vì Như Lai và chánh giải thoát rời danh tự. Do đó nên đức Như Lai đối với tất cả pháp, không chướng ngại, không đắm-trước mà đặng chơn thật giải thoát.”</p>
<p>(Kinh Đại Niết Bàn, Phẩm Văn Tự, thứ 13)</p>
<p>Tụng đến đây lão chỉ hiểu được là: <i>Tùy nghi liệu thế mà hiểu</i> của nhà Phật. Vì thế lão không biết…hiểu gì hơn là dán mắt vào trang di bút của nguời bạn trẻ…</p>
<p><em>Nhìn ra ngoài sân có cây đào kwansan Nishiky, tôi lại rối rắm nữa với L. Tolstoi:</em></p>
<p><em>”…Dù có nói bao nhiêu: anh không hiểu được ý nghĩa cuộc sống đâu, nên đừng nghĩ nữa, hãy sống đi. Bây giờ tôi không thể không nhìn thấy ngày và đêm đi qua và kéo tôi đến gần cái chết. Mỗi bước đi trong nhận thức đều dẫn đến nó. Chân lý ấy là sự chết. Mà sự khởi đầu và kết thúc của nó ta không thể biết. Giống hệt khoa học thực nghiệm với những mơ hồ khi họ nghiên cứu những hiện tượng mang tính nhân quả với tiền kiếp, hậu kiếp qua những hiện tượng, thì ta sẽ có ngay cái mơ hồ.</em></p>
<p><em>Triết học cũng chẳng hơn gì, thay vì trả lời, họ có vẫn câu hỏi ấy, dưới hình thức phức tạp hơn bằng một câu hỏi khác: Tôi tồn tại để làm gì?. Triết nhân trả lời: “Không biết”. Hoặc biết thì: Ý nghĩa cuộc sống của tôi là gì?. Trả lời: “Không là gì cả”. Hay: Cái gì có từ cuộc sống của tôi?. Trả lời: “Không cái gì cả”. Hoặc: Tất cả những tồn tại thì tồn tại để làm gì, và tôi tồn tại để làm gì? Trả lời: “Tồn tại vì tồn tại”.</em></p>
<p>Khiếp! Người bạn trẻ của lão di ngôn, di chúc gì mà tối như hũ nút thế này. Thấy ăn khoai vác mai chạy quấy, lão lại quấy quá với bài điểm sách quyển “Thằng ngốc” của Dostoevsky cho rằng cái gọi là hiện thực và tồn tại của tác giả chỉ là một sự méo mó lệch lạc. Cuốn “Anh em nhà Karamazov” cho thấy ông là một trong những người bàn luận độc đáo về tôn giáo. Với “Tội ác và hình phạt”, Will Durant trong cuốn <i>Lạc thú của triết học</i> nói Dostoievsky là một trong những cha đẻ của trào lưu triết học hiện sinh.</p>
<p>Trong khi ấy người bạn trẻ của lão vẫn tối như đêm, dày như đất:</p>
<p><em>”&#8230;Còn đâu là triết học chân chính vơi hiện tượng tồn tại mà câu trả lời đã được đưa ra từ lâu bởi Socrate, Salomon, hay Đức Phật. Socrate nói: “Chuẩn bị ra đi”. Vì “Ta suốt đời tìm kiếm cái chết, vì thế cho nên với ta cái chết không đáng sợ”.</em><br />
<em> Salomon nói: “Phù vân, tất cả chỉ là phù vân” với luận thuyết mặt trời mọc rồi lặn, mặt trời ngả xuống nơi nó đã mọc lên. Gió thổi về phía nam, rồi xoay về phía bắc, gió xoay tới rồi gió qua đi. Mọi dòng sông đều xuôi ra biển, nhưng biển chẳng đầy.</em></p>
<p><em>Thêm nữa với Ecclésiaste, tôi đã làm vua cai trị Israël ở Jérusalème. Tôi đã khảo sát những gì diễn ra dưới bầu trời: đó là công việc nhọc nhằn mà Thiên Chúa bắt con người phải thực hiện. Tôi nhận ra: Tất cả chỉ là công cốc, Tôi tự nhủ: Này, tôi đã thu thập được nhiều điều khôn ngoan, hơn tất cả các vị đã cai trị Jérusalème trước tôi. Tôi đã phân biệt đâu là hiểu biết. Nhưng chỉ là công dã tràng. Bởi vì càng nhiều khôn ngoan, càng nhiều phiền muộn; càng thêm hiểu biết, càng thêm khổ đau…”.</em></p>
<p>Theo đóm ăn tàn với triết lý củ khoai, lão…hiểu biết thêm thế này đây:</p>
<p>“…Vì những khảo cứu khác nhau về Dostoevsky như: Dostoevsky người Thiên Chúa giáo, Dostoevsky nhà hiện sinh, Dostoevsky triết gia…Sự thực Dostoevsky không thể là một triết gia vì Anh em Karamazov, Tôi ác và hình phạt…không phải là những cuốn sách triết học, như <i>Hữu thể và hư vô</i> (L’être et le néant) của J.P Sartre chẳng hạn.</p>
<p>Nhiều nhà nghiên cứu gán cho Dostoevsky những tư tưởng, những ý nghĩa mà chưa chắc ông đã nói thế. Tiểu thuyết của ông rất khó hiểu và viết thừa nhiều hơn L. Tolstoi. Nhiều độc giả thưởng thức văn ông một cách vất vả tại vì nó…khó hiểu, họ đọc vì muốn tỏ ra mình hiểu biết. Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng ông thể hiện nhân vật biểu tượng khác L. Tolstoi là hiện thực. Giống như cổ nhân bên Trung Hoa nói vẽ ma dễ, vẽ người khó vì ma không ai thấy, người thì ai cũng thấy vẽ sai sẽ bị chê ngay…”.</p>
<p>Khi ấy, người bạn trẻ của lão lại vẫn cái thói giờ mẹo trèo qua giờ tý để leo trèo với những chuyện của thiên hạ sự:</p>
<p><em>Như tôi đây sống chưa chót đời, đên khi nằm xuống mới biết được chuyện đời thường. Thì ra chỉ người sống mới lắm chuyện: Lễ lạc, thủ tục, nghi thức, khóc lóc để vuốt ve người chết. Người chết tôi thử hắt xì một cái. Chẳng ai thèm nghe. Vừa lúc tôi nghe ở cửa ra vào có hai thí chủ chào nhau: A Di Đà Phật. Từ sự thể vái chào nhau của Phật tử trong giao tế, đâu đó thiên cổ chi mê tôi hong hanh rằng “A Di Đà Phật” từ mảng chữ “Vô lượng thọ Phật” là tiếng Phạn, đúng nghĩa là lời niệm mong khi nào…viên tịch được trở về cõi cực lạc từ. Vậy chứ sau khi thiêu đốt xong, nhúm tro tàn của tôi sẽ về đâu? Thiên cổ chi mê tôi lại hong hanh đến câu kệ: “Nam Mô Thường Tinh Tấn Bồ Tát Ma Ha Tát”. Với hai chữ “Ha Ma” không thôi cũng nhức đầu không phải là ít. Như có ai đấy nói “Ha Ma” là con sông Hằng tinh khiết, tro người Ấn Độ sau bao tục lụy được thả xuống sông Hằng để trở về với tinh khôi. Cũng có ai đó lại nói “Ma Ha” là tên một con sông ở Ấn Độ, tương truyền các sư sãi tắm ở sông này sẽ tẩy hết bụi trần, trở nên thanh tịnh. Và được dẫn chứng trong bài Sãi vãi của Nguyễn Cư Trinh có câu “rửa bụi trần, sãi vui nước ma ha”. Với sông Hằng lại lềnh bềnh tới Tolstoi qua Salomon thì mọi dòng sông đều xuôi ra biển.</em></p>
<p><em>Ôi thôi chuyện chết rồi không hẳn là hết chuyện với sống vô gia cư chết vô địa táng thì…thủy táng. Ngoài ra tuỳ theo địa giới với phong tục tập quán, người miền núi bỏ xác vào chum rồi bỏ…lăn lóc ngoài đồng. Hay treo xác lên cây…lửng lơ giữa đất trời. Hoặc bằm xác cho kên kên ăn để linh hồn theo chim…bay về trời. Gần đây nhiều người chết xác được đông lạnh đợi vài thiên niên kỷ sau nhét vào phi thuyền phóng không gian,,,bay vòng vòng. Còn nhiễu sự của một tôi là sau khi ở lò thiêu ra, tro được nhét vào tiểu sành mang vào chùa. Hay rắc xuống sông, trôi ra biển về nơi chôn nhau cắt rốn của mình. Trước khi về quê, quê ta xa mãi bên kia biển, chỉ thấy tơi bời mây trắng vương tôi đoán chừng chuyện thiêu đốt qua “Thiêu táng ký sự” đã có từ hơn hai ngàn năm bên kia Ấn Độ Dương vi nơi ấy là đất Phật.</em></p>
<p><em>Nằm dài người như Bụt mọc nghe Salomon qua L. Tolstoi luận về gió máy…với gió thổi xuống nam, rồi xoay về bắc, gió xoay tới rồi gió qua đi cũng chán. Hay là…</em></p>
<p><em>Thế là tôi vù qua Đại Tây Dương, tới tận bên trời Tây, mò đến làng Mai để hỏi thầy Nhất Hạnh. Đúng là thiền sư có khác, thiên cổ chi mê tôi chưa kịp há họng thì thiền sư đã luận chứng rằng: “Trong Phật giáo đại thừa nói rất rõ niết bàn là sinh tử. Niết bàn và sinh tử là một. Không có cái này thì không có cái kia. Thí chủ nghĩ rằng có niết bàn rồi thì không còn sinh tử nữa là kẹt vào cái lưỡng nguyên”. Bèn hỏi: “Vậy chứ đệ tử phải tìm niết bàn ở đâu?”. Thiền sư đáp: “Thí chủ hãy đi tìm trong sinh tử”.</em></p>
<p>Thiên cổ chi mê tôi ngọng trông thấy vì bị lạc vào bờ mê bến ngộ nên để cái đầu phiêu diêu với “Thiêu táng ký sự”. Như vừa rồi vầy vò với thiêu đốt từ phương đông. Ở phương tây, một số giáo phẩm tòa thánh Vatican tin có luân hồi và thiêu táng, trong đó có đức cha Origin, ông thánh Augustin. Năm 533 sau Tây lịch, vì triều đình La Mã cứ đường xưa lối cũ với cát bụi trở về với cát bụi nên vua Rex và hoàng hậu cấm không cho nói đến luân hồi và thiêu táng nữa. Hậu quả là sau đấy có hai giáo hoàng bị giết vì muốn giữ đoạn nói về luân hồi trong kinh sách.</p>
<p><em>Với kinh sách, kinh điển thì hồn ma bóng quế L. Tolstoi lại hiện về với: Tất cả mọi người đều biết như tôi. Nếu không bệnh tật, cái chết cũng sẽ đến một ngày nào đó không xa! Đang ngồi ở quán Les Deux Magots trên đường Saint Germain nơi sinh thời Jean Paul Sartre vẫn ngồi. Chợt nhớ lại hồi sáng thiền sư Nhất Hạnh dậy rằng thì là: Muốn đi tìm niết bàn phải tìm trong sinh tử. Bèn được thể lay lắt qua J.P Sartre với: Ta suốt đời tìm kiếm cái chết, vì thế cho nên với ta cái chết không đáng sợ. Là kẻ vô thần nên J.P Sartre ngả ngớn: Muốn lên thiên đàng phải chết trước đã. Dostoevsky dẫn chứng cụm từ La tinh “iam mortuus”là “sinh thì” là…Chuẩn bị ra đi. Ha! Bởi ăn mày chữ nghĩa của triết gia lẫn thiền sư nên thiên cổ chi mê tôi túm tó lại: Một là cứ theo văn sách thì thiên đường, niết bàn có thật. Hai là phải chết ngay cu đơ cái đã. Ba là ngỏm củ tỉ rồi không phải lo chuyện tắm rửa, ăn uống, đi đâu chẳng cần xe cộ, máy bay mà chỉ bay vù một cái là đi, là về. Thế là tôi vù về nhà quàn.</em></p>
<p>Người bạn trẻ vê nhà quàn để làm thể thống gì, lát nữa sẽ biết vì còn đang ở Paris. Trong khi chờ đợi, lão ngửa mặt lền trần nhà quàn, lão ngớ ra vì chuyện nhạc sa mạc với cát bụi là có thật, chứ người bạn trẻ của lão không hư cấu. Vì với một thước hai thước như hồn ma bóng quế ám ảnh hay sao ấy, ở đâu đó góc nhà quàn, dàn máy chuyển từ nhạc Beethoven, Mozart âm ỉ sang nam ai nam oán với trăng tà nguyệt tận: <i>Đôi khi ta lắng tai nghe! Bao nhiêu năm làm kiếp con người, rồi chợt một chiều tóc trắng như vôi &#8211; Lá úa trên cao rụng đầy, cho…trăm năm và…chết một ngày.</i></p>
<p>Vừa nghe xong khúc nhạc, cũng vừa lúc người bạn trẻ từ Paris về và leo vào quan tài nằm. Chưa nằm nóng chỗ đã ngóc cổ tìm hiến thê. Lão lại hặm hụi tiếp…</p>
<p><em>Tiện nội tôi đang điện thoại về Việt Nam báo tin cho người nhà biết ngày, giờ tốt để…thiêu. Tôi muốn nói với tiện nội tôi đôi lời trước khi vĩnh viễn rời bỏ khỏi thế gian này. Thảng như “tiêu nhiên nhi lai, tiêu nhiên nhi vãng, kỳ nhập bất cụ, kỳ nhập bất hà”. Chung sự với mọi sự trong cõi nhân gian phù thế này là hãy thản nhiên mà đến, thản nhiên mà đi, khi vào không lo lắng, khi ra không ngần ngại. Hay nói theo văn sách thời ai chẳng nhắm mắt buông xuôi về với mười đất chín trời. Thế nhưng tôi cứ nháo nhác vì không biết sau khi chết mình đi về đâu? Nói cho cùng về đâu cũng vậy thôi, vì theo như cụ vua Văn Vương dưới âm phủ đói khổ lắm. Đốt vàng mã chỉ…ăn khói, cả năm đợi đến ngày rằm tháng bẩy có lễ cúng cô hồn để húp cháo lá đa. Còn niết bàn hay thiên đường có thật đấy, nhưng cứ theo cụ thành hoàng làng Xũ lên chơi thì đuợc nhưng ở lâu chán lắm. Vì vậy được sống trong cõi tục lụy này vẫn suớng hơn. Vậy mà đức Lạt Ma dậy rằng có nhiều người không biết sống như lão ngộ chữ với ruợu và thuốc lá tràn cung mây. Vì vậy theo ngài họ đã chết khi còn đang sống. Thế nên mặt tôi ngáo ra hệt như gã đạo tỳ mặt hoa trâu tháng đẻ…Ha! Lão ngộ chữ nếu không ngộ “mặt hoa trâu” là gì thì hãy hỏi thằng xưng “bố”. Vi nó đã ngoác mồm ra khi tôi thấy cái hòm như bò thấy nhà táng là co rúm người lại.</em></p>
<p><em>Người chết co cụm trong vùng câm nín của mình…Ừ biết nói thế nào đây! Ngay cả người sống cũng vậy, như sư cụ áo vàng, đồng môn đồng tuế với lão ngộ chữ muốn gửi gấm một chút…tang gia bối rối cho…hậu thế. Vì vậy hậu sự là tôi gửi cho lão xấp di cảo, trong đó tôi ngập ngụa với rượu làng Vân, tiết canh lòng lợn bên cái hòm. Phu đòn say bí tỉ đánh nhau sặc gạch. Sau đó mấy bác đô tuỳ gánh cái hàng ra gò mả đồng làng. Ở đấy có con chó đen quen ngõ, có gà mổ gạo lộp bộp như gà mổ mo. Rồi thì như gà mắc tóc, lại vướng mắc đến chuyện được tin Dostoevsky mất, Tostoi bật khóc. Khi Tolstoi chết tại ga xe lửa ở Moscow, người ta thấy ông nằm ôm tập lai cảo Anh em nhà Karamazov. Chẳng cần đợi hai trăm năm sau với ai đó khóc Tố Như, thiên cổ chi mê tôi cứ động não là lão ngộ chữ nằm trong phi thuyền bay lên niết bàn hay thiên đường, lão có ôm theo tập di cảo của tôi chăng?</em></p>
<p>Chuyện tất cả chỉ có vậy và không hơn.</p>
<p>***</p>
<p><em>Tiện nội về rồi, mai là ngày thiêu, nằm một mình trong hai tấm ngắn bốn tấm dài. Khắc lậu canh tàn, thiên cổ chi mê tôi trằn trọc khắc khoải, nửa đêm về sáng nhìn ra ngoài. Sân nhà quàn hoang lạnh, hiu hắt vắng hiu, đất trời se se lạnh. Ngày Tết không có xác pháo hồng, hoa tàn nguyệt tận, sân cỏ vắng tanh vắng ngắt.</em></p>
<p>Gió lắt lay, hoa đào Nhật kwansan Nishiky lay lắt rụng rơi. Mưa lâm thâm.</p>
<p><strong>Thạch trúc gia trang</strong></p>
<p><strong>Thu phân, Ất Mùi 2015</strong></p>
<p><strong>Ngộ Không Phí Ngọc Hùng</strong></p>
<p>&nbsp;</p>
<p><strong>Nguồn:</strong> <strong>Võ Đình, Lý Khắc Chung, Phạm Cung Thông, Trần Kiêm Đoàn</strong></p>
<p><strong>Trọng Đạt, Phạm Vĩnh Cư, Dương Leh, Hazel Denning, Raymond Moody. </strong></p>
<p>&nbsp;</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>©T.Vấn 2014</p>
]]></content:encoded>
					
					<wfw:commentRss>https://t-van.net/ngo-khng-ngoi-o-nh-qun/feed/</wfw:commentRss>
			<slash:comments>0</slash:comments>
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Lưu Na: Tưởng Niệm Nguyễn Xuân Hòang</title>
		<link>https://t-van.net/tuong-niem-nguyen-xun-hang/</link>
					<comments>https://t-van.net/tuong-niem-nguyen-xun-hang/#respond</comments>
		
		<dc:creator><![CDATA[Lưu Na]]></dc:creator>
		<pubDate>Mon, 15 Sep 2014 00:07:29 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Góc Văn]]></category>
		<category><![CDATA[lưu na]]></category>
		<category><![CDATA[nguyễn xuân hòang]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://7076e870b2.nxcli.io/?p=19129</guid>

					<description><![CDATA[Nhà văn Nguyễn Xuân Hòang đã ra đi (Hình chụp ngày 11 tháng 8 -2013 tại nhà) Buổi sáng thứ bảy bận rộn. Những cú điện thọai vội vã gọi, vội vã gác. Từng tuổi này rồi mà cuộc mưu sinh ra chừng vẫn còn nặng gánh. Dự định về hưu trong vài năm nữa [&#8230;]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<p><a href="https://t-van.net/wp-content/uploads/2014/09/MG_8477.jpg"><img loading="lazy" decoding="async" style="background-image: none; float: none; padding-top: 0px; padding-left: 0px; margin-left: auto; display: block; padding-right: 0px; margin-right: auto; border: 0px;" title="_MG_8477" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2014/09/MG_8477_thumb.jpg?strip=all&fit=354%2C529" alt="_MG_8477" width="354" height="529" border="0" /></a></p>
<h3 class="title">Nhà văn Nguyễn Xuân Hòang đã ra đi</h3>
<div class="author"></div>
<p><a href="https://t-van.net/wp-content/uploads/2014/09/clip_image0025.jpg"><img loading="lazy" decoding="async" style="background-image: none; float: none; padding-top: 0px; padding-left: 0px; margin-left: auto; display: block; padding-right: 0px; margin-right: auto; border: 0px;" title="clip_image002" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2014/09/clip_image002_thumb4.jpg?strip=all&fit=304%2C403" alt="clip_image002" width="304" height="403" border="0" /></a></p>
<p align="center"><i>(Hình chụp ngày 11 tháng 8 -2013 tại nhà)</i></p>
<p>Buổi sáng thứ bảy bận rộn. Những cú điện thọai vội vã gọi, vội vã gác. Từng tuổi này rồi mà cuộc mưu sinh ra chừng vẫn còn nặng gánh. Dự định về hưu trong vài năm nữa vẫn cứ treo đấy chưa được dứt khóat. Trong mớ hỗn độn của chuông điện thọai reo, tôi nhìn thấy cái tên Ngộ Không Phí Ngọc Hùng trên mặt máy đi động. Hơn nửa năm nay tôi và ông chưa có dịp chuyện trò.</p>
<p>Bên kia đầu dây, giọng Ngộ Không buồn buồn. <i>Nguyễn Xuân Hòang đi rồi. Cách đây độ một tiếng ( tức khỏang 11 giờ sáng giờ Cali). Cái tin ai cũng chờ đợi nhưng khi nó đến vẫn cứ bàng hòang, hụt hẫng. Tôi gởi ông bài “Tác Giả Tác Phẩm“ mới nhất về Nguyễn Xuân Hòang vừa biên tập xong cuối tháng 8, như một sự sẵn sàng cho cái tin nhà văn sẽ qua đời. Tôi chẳng quen biết gì Nguyễn Xuân Hòang nhưng vì lòng cảm mến và kính phục nên có lòng tưởng niệm.</i></p>
<p>Thật hả ông? Tôi hỏi lại mà không biết mình nói gì.</p>
<p>Cách đây độ một tháng, e-mail của tôi gởi đến vị thầy học cũ đã không có hồi đáp. Tôi biết ngày này rồi sẽ đến không lâu. Trước đó, những cuộc trao đổi qua e-mail của thầy trò chúng tôi diễn ra đều đặn. Dường như ông lúc nào cũng ngồi bên máy để sẵn sàng trả lời các bức điện thư. Cho đến lúc ông không trả lời nữa, tôi biết rằng ngày của ông đã hết. Hỏi lại người bạn trẻ Lưu Na, LN bảo rằng đúng vậy</p>
<p>Như vậy là tôi không bao giờ có dịp “<i>ghé qua San Jose mình đi cà phê nhé T.Vấn!</i>“.</p>
<p>Ai cũng một lần sẽ đến ngày cuối của mình. Người thầy học cũ của tôi không là ngọai lệ. Tôi đã từng an ủi ông rằng <i>“thầy đã sống một đời đáng sống. Như thế đã quá đủ để thanh thản ra đi!“</i></p>
<p>Hồi đầu năm nay, nhóm cựu học sinh Petrus Ký ở Bắc Cali đã thực hiện một đặc san chuyên đề “Nguyễn Xuân Hòang trên dòng sông Petrus Ký “. Tôi cũng được mời tham gia. Lúc ấy, ông vừa qua cuộc giải phẫu, ra vào bệnh viện mỗi ngày. Tưởng ông không có dịp cầm tờ đặc san trên tay. Nhưng sau đó, qua điện thư, ông cho biết rất vui sướng nhận được sự thương yêu của mọi người, nhất là từ những người ở Petrus Ký năm xưa. Ông kể lể <i>“. . . </i><i>tôi phụ trách môn Triết ờ Petrus Ký từ năm 1963 đến năm 1975 coi như gần 13 năm đấy!!!!!</i><i> </i><i>Con số 13 dính vào đời tôi nhiều lần lắm!</i></p>
<p><i>13 năm làm TTK nhật báo NV </i></p>
<p><i>13 năm sống và làm việc ở San Jose</i></p>
<p><i>13 năm làm tap chí Văn </i></p>
<p><i>13 năm chờ ngày ra đi</i></p>
<p><i>13 năm chờ sống và chết!!!!!! “</i></p>
<p>(Ghi chú thêm của T.Vấn – <em>Thầy Hòang của tôi còn thiếu một chi tiết về con số 13: Ông lìa đời <em>để chạm mặt với cái chết cũng vào ngày 13 – tháng 9 năm 2014)</em></em></p>
<p>Cuối tháng 8 năm 2013, trang mạng văn học Da Màu thực hiện một chuyên đề về nhà văn Nguyễn Xuân Hòang. Lúc ấy, tôi có viết cho ông  . . . <i>Điều em viết trong bài ghi chép của mình, về các đồng nghiệp viết lách của thầy, đã . . . sai. Họ không để dành những lời xưng tụng của họ đối với nhà văn NXH. Theo em biết, Damau đang làm một chuyên đề về NXH. Một việc làm rất hiếm với một nhà văn còn sống. . .</i> “. Nhà văn đã trả lời bằng cách đặt câu hỏi như sau: “<i>Chuyên đề về một tác giả còn sống, theo em là điều tốt hay xấu ????”</i> , tôi đã trả lời ông: “<i>với một tác giả, thì một ”chuyên đề” về văn chương của mình được làm khi còn sống thì tốt hơn nhiều so với ”tưởng niệm“. Người nằm xuống rồi thì chỉ còn (hoặc không còn) cái tên. Trường hợp nhà văn NXH, ít nhất, vị tác giả ấy biết mình đã làm được những gì khi còn sống. Đó là một cảm giác không phải ai cũng được hưởng. . . “</i></p>
<p>Đầu tháng 3 năm 2014, tôi nhận được bức thư mới của ông hồi âm lời thăm hỏi  “. . . <i>Bệnh càng ngày càng tồi tệ. Theo chủ nghĩa MACKENO. Vì ngày ra đi cũng gần kề . . .“ </i></p>
<p>Hôm nay, 13 tháng 9 năm 2014, ngày ra đi của nhà văn Nguyễn Xuân Hòang đã đến. Xin kính chúc người thầy học cũ của tôi thượng lộ bình an.</p>
<p><i>Nào còn gì đâu cầm lấy tay tôi</i></p>
<p><i>Nào còn gì đâu cầm lấy hồn tôi</i></p>
<p><i>Này đây những lời yêu thương thứ nhất (<b>sau cuối)</b></i></p>
<p><i>Chia nhau mỗi người làm vốn sinh nhai (<b>đi xa).</b></i></p>
<p>(Thơ NXH)</p>
<p><b><i>T.Vấn </i></b></p>
<p><b><i>13 tháng 9 năm 2014</i></b></p>
<p>*<strong>Chú Thích</strong>: Về năm sinh của nhà văn NXH, có tài liệu ghi 1937, có tài liệu lại ghi 1940. Để giúp các nhà làm văn học sử sau này, tôi có hỏi ông để xin xác nhận, thì được nhà văn trả lời nguyên văn như sau:</p>
<p><em>“. . . Về năm sanh, giấy tờ ghi 1937 nhưng thực tế 1940.</em></p>
<p><em>Lý do: Tôi lúc đó là</em><em>m</em><em> Giấy Thế Vì Khai Sanh để thêm tuổi đi lính nên mẹ tôi vào quân trường xé đơn, khóc lóc nói tôi sinh năm 1940, chứ không phải 1937. Quân trường cho về nhưng từ đó tuổi vẫn ghi là 1937, không đổi nữa.</em></p>
<p><strong><em>Giấy tờ ghi là 1937 và tuổi thật là 1940. . .</em></strong><em> “</em></p>
<p>(T.Vấn – Trích điện thư trao đổi với nhà văn NXH ngày 24 tháng 8 năm 2013)</p>
<h3><strong>Lưu Na : con chim lạ ấy đã vào mây</strong></h3>
<p>Đại Ca,</p>
<p>Chả liên quan gì đến mình vẫn thấy rưng rưng, bởi em cũng theo anh gọi NXH bằng thầy.  Mọi người căng như dây đàn, bây giờ bung một tiếng thầm theo làn hơi tắt lịm thì hết mọi dây chùng nhão nhoẹt đường tơ.  Em dự định tháng Mười ráng đưa NĐT lên với thầy Hoàng, giờ báo tin, thấy bên kia đầu dây bật một tiếng &#8220;mình đã không kịp,&#8221; rồi tắt lặng. Con chim lạ ấy đã vào mây.</p>
<p>Đại Ca, em muốn chia buồn cùng anh rồi lại bật cười, anh em trang nhà chúng ta chia nhau nỗi buồn mất một người không thực là quen, mà nỗi  buồn lại rất thực.  Bức ảnh Nguyễn &#8220;Đông&#8221; Hoàng em chụp tháng 5, 2012 vẫn còn đây.  Nguyễn Xuân Hoàng, hết lòng thương tiếc&#8230;</p>
<p>LN</p>
<p align="center"><a href="https://t-van.net/wp-content/uploads/2014/09/MG_8481.jpg"><img loading="lazy" decoding="async" style="background-image: none; float: none; padding-top: 0px; padding-left: 0px; margin-left: auto; display: block; padding-right: 0px; margin-right: auto; border: 0px;" title="_MG_8481" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2014/09/MG_8481_thumb.jpg?strip=all&fit=404%2C271" alt="_MG_8481" width="404" height="271" border="0" /></a></p>
<p align="center"><a href="https://t-van.net/wp-content/uploads/2014/09/MG_8482.jpg"><img loading="lazy" decoding="async" style="background-image: none; padding-top: 0px; padding-left: 0px; display: inline; padding-right: 0px; border: 0px;" title="_MG_8482" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2014/09/MG_8482_thumb.jpg?strip=all&fit=404%2C271" alt="_MG_8482" width="404" height="271" border="0" /></a></p>
<p align="center"><a href="https://t-van.net/wp-content/uploads/2014/09/MG_8483.jpg"><img loading="lazy" decoding="async" style="background-image: none; padding-top: 0px; padding-left: 0px; display: inline; padding-right: 0px; border: 0px;" title="_MG_8483" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2014/09/MG_8483_thumb.jpg?strip=all&fit=404%2C271" alt="_MG_8483" width="404" height="271" border="0" /></a></p>
<p align="center"><a href="https://t-van.net/wp-content/uploads/2014/09/MG_8638.jpg"><img loading="lazy" decoding="async" style="background-image: none; padding-top: 0px; padding-left: 0px; display: inline; padding-right: 0px; border: 0px;" title="_MG_8638" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2014/09/MG_8638_thumb.jpg?strip=all&fit=404%2C271" alt="_MG_8638" width="404" height="271" border="0" /></a></p>
<p align="center"><a href="https://t-van.net/wp-content/uploads/2014/09/MG_8673.jpg"><img loading="lazy" decoding="async" style="background-image: none; padding-top: 0px; padding-left: 0px; display: inline; padding-right: 0px; border: 0px;" title="_MG_8673" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2014/09/MG_8673_thumb.jpg?strip=all&fit=404%2C271" alt="_MG_8673" width="404" height="271" border="0" /></a></p>
<p align="center"><a href="https://t-van.net/wp-content/uploads/2014/09/MG_8674.jpg"><img loading="lazy" decoding="async" style="background-image: none; padding-top: 0px; padding-left: 0px; display: inline; padding-right: 0px; border: 0px;" title="_MG_8674" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2014/09/MG_8674_thumb.jpg?strip=all&fit=404%2C271" alt="_MG_8674" width="404" height="271" border="0" /></a></p>
<p>©T.Vấn 2014</p>
]]></content:encoded>
					
					<wfw:commentRss>https://t-van.net/tuong-niem-nguyen-xun-hang/feed/</wfw:commentRss>
			<slash:comments>0</slash:comments>
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Nguyễn Xu&#226;n Ho&#224;ng, Trong v&#224; Ngo&#224;i Văn Chương</title>
		<link>https://t-van.net/nguyen-xun-hong-trong-v-ngoi-van-chuong/</link>
					<comments>https://t-van.net/nguyen-xun-hong-trong-v-ngoi-van-chuong/#respond</comments>
		
		<dc:creator><![CDATA[TV và BH]]></dc:creator>
		<pubDate>Mon, 18 Aug 2014 21:19:00 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Vòng Quanh Thế Giới Ảo]]></category>
		<category><![CDATA[nguyễn xuân hòang]]></category>
		<category><![CDATA[tv&bh]]></category>
		<category><![CDATA[vòng quanh]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://7076e870b2.nxcli.io/?p=18805</guid>

					<description><![CDATA[Xem chi tiết và đặt mua… (Nguồn: http://damau.org/) Tạp chí Da Màu với sự hợp tác của Người Việt Books xin trân trọng giới thiệu Nguyễn Xuân Hoàng, Trong và Ngoài Văn Chương, chuyên đề về nhà văn Nguyễn Xuân Hoàng do tạp chí Da Màu thực hiện với sự đóng góp của gần 50 [&#8230;]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<h4><a href="http://www.damau.org/wp-content/uploads/2014/08/NguyenXuan-Hoang-cover1.jpg"><img loading="lazy" decoding="async" style="float: none; margin-left: auto; display: block; margin-right: auto;" title="NguyenXuan Hoang-cover1" src="http://www.damau.org/wp-content/uploads/2014/08/NguyenXuan-Hoang-cover1_thumb.jpg" alt="NguyenXuan Hoang-cover1" width="300" height="465" border="0" /></a></h4>
<p align="center"><a href="http://www.amazon.com/Nguyen-Hoang-Trong-Ngoai-Chuong/dp/1629883670/ref=sr_1_1?ie=UTF8&amp;qid=1407634209&amp;sr=8-1&amp;keywords=nguy%E1%BB%85n+xu%C3%A2n+ho%C3%A0ng"><strong>Xem chi tiết và đặt mua…</strong></a></p>
<p>(Nguồn:<a title="http://damau.org/" href="http://damau.org/"> http://damau.org/</a>)</p>
<p>Tạp chí Da Màu với sự hợp tác của Người Việt Books xin trân trọng giới thiệu <em>Nguyễn Xuân Hoàng, Trong và Ngoài Văn Chương, </em>chuyên đề về nhà văn Nguyễn Xuân Hoàng do tạp chí Da Màu thực hiện với sự đóng góp của gần 50 tác giả quen biết.</p>
<p align="center"><strong>Giới Thiệu Chuyên Đề Nguyễn Xuân Hoàng</strong></p>
<p align="center"><a href="http://www.damau.org/wp-content/uploads/2014/08/clip_image002.jpg"><img loading="lazy" decoding="async" title="clip_image002" src="http://www.damau.org/wp-content/uploads/2014/08/clip_image002_thumb.jpg" alt="clip_image002" width="384" height="243" border="0" /></a></p>
<p align="center">Nguyễn Xuân Hoàng và gia đình tạp chí Da Màu<br />
<i>(Nguyễn Xuân Hoàng, Lê Đình Nhất Lang, Đặng Thơ Thơ, Lưu Diệu Vân,<br />
Đỗ Lê Anh Đào, Phùng Nguyễn, Trịnh Y Thư, Lê An Thế)</i></p>
<p>Hân hạnh giới thiệu cùng bạn đọc chuyên đề Nguyễn Xuân Hoàng, một nỗ lực của ban biên tập tạp chí Da Màu và các tác giả cộng tác, hầu hết là bạn thân thiết của nhà văn Nguyễn Xuân Hoàng, một người mà tên tuổi và đời sống có những gắn bó mật thiết với văn học miền Nam Việt Nam trước và văn học Hải ngoại sau 1975.</p>
<p>Vì chuyên đề được thực hiện trong thời gian nhà văn Nguyễn Xuân Hoàng đang ở giữa cuộc chiến đấu một mất một còn với căn bệnh hiểm nghèo <i>sarcoma cancer</i>, hoàn toàn có thể hiểu được nếu có không ít các tác phẩm trong chuyên đề nhắc đến sự kiện này cùng với những khích lệ ân cần và lời chúc tốt đẹp nhất đến ông. Văn chương là ngôn ngữ chọn lựa của tình cảm, và những chia xẻ, những biểu lộ tình cảm giữa bạn văn chương là điều đương nhiên và cần thiết. Tuy nhiên, chính là Nguyễn Xuân Hoàng, tiểu thuyết gia, giáo sư triết, tổng thư ký tòa soạn/chủ bút tạp chí Văn qua nhiều thời kỳ, tổng thư ký nhật báo Người Việt ở Hải ngoại, một gã vô tích sự, thích lang thang trên mây hay ở café Starbucks và tác phẩm, công trình của ông trong mắt của các nhà phê bình, và trên hết, của độc giả mới là điểm nhắm của chuyên đề này.</p>
<p>Ngoài các phần biên khảo, bút ký, và sáng tác thơ văn, chuyên đề Nguyễn Xuân Hoàng còn trình bày một số hình ảnh, chân dung, và thủ bút của nhà văn Nguyễn Xuân Hoàng do bạn hữu của ông gởi đến. Đây là những kỷ vật quý giá, và chỉ có thể trở nên quý giá hơn cùng với thời gian.</p>
<p>Với những giới hạn nhất định về mặt thời gian cũng như nhân sự trong khi thực hiện chuyên đề, tạp chí Da Màu vẫn hy vọng gởi đến bạn đọc một chân dung tương đối trung thực của nhà văn Nguyễn Xuân Hoàng. Bức chân dung được làm nên bởi những tác phẩm gởi đến từ những người, không nhiều thì ít, đã  tác động lên hoặc/và được tác động bởi tác phẩm, tư tưởng, hoặc tình cảm của nhà văn Nguyễn Xuân Hoàng.</p>
<p><em>BBT tạp chí Da Màu</em></p>
]]></content:encoded>
					
					<wfw:commentRss>https://t-van.net/nguyen-xun-hong-trong-v-ngoi-van-chuong/feed/</wfw:commentRss>
			<slash:comments>0</slash:comments>
		
		
			</item>
	</channel>
</rss>

<!--
Performance optimized by W3 Total Cache. Learn more: https://www.boldgrid.com/w3-total-cache/?utm_source=w3tc&utm_medium=footer_comment&utm_campaign=free_plugin

Page Caching using Disk: Enhanced 

Served from: t-van.net @ 2026-09-06 18:26:22 by W3 Total Cache
-->