<?xml version="1.0" encoding="UTF-8"?><rss version="2.0"
	xmlns:content="http://purl.org/rss/1.0/modules/content/"
	xmlns:wfw="http://wellformedweb.org/CommentAPI/"
	xmlns:dc="http://purl.org/dc/elements/1.1/"
	xmlns:atom="http://www.w3.org/2005/Atom"
	xmlns:sy="http://purl.org/rss/1.0/modules/syndication/"
	xmlns:slash="http://purl.org/rss/1.0/modules/slash/"
	>

<channel>
	<title>nhạc nq &#8211; T.Vấn và Bạn Hữu</title>
	<atom:link href="https://t-van.net/tag/nhac-nq/feed/" rel="self" type="application/rss+xml" />
	<link>https://t-van.net</link>
	<description>Văn Học và Đời Sống</description>
	<lastBuildDate>Thu, 27 Jun 2019 21:44:43 +0000</lastBuildDate>
	<language>en-US</language>
	<sy:updatePeriod>
	hourly	</sy:updatePeriod>
	<sy:updateFrequency>
	1	</sy:updateFrequency>
	<generator>https://wordpress.org/?v=6.7.9</generator>

<image>
	<url>https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2022/02/t-van-favicon.png?strip=all&#038;resize=32%2C32</url>
	<title>nhạc nq &#8211; T.Vấn và Bạn Hữu</title>
	<link>https://t-van.net</link>
	<width>32</width>
	<height>32</height>
</image> 
	<item>
		<title>Hoài Nam: NHỮNG CA KHÚC NHẠC NGOẠI QUỐC LỜI VIỆT(88) &#8211; NHẠC PHIM – (Where Do I Begin?) Love Story, Francis Lai &#038; Carl Sigman (Chuyện Tình)</title>
		<link>https://t-van.net/hoai-nam-nhung-ca-khuc-nhac-ngoai-quoc-loi-viet88-nhac-phim-where-do-i-begin-love-story-francis-lai-carl-sigman-chuyen-tinh/</link>
					<comments>https://t-van.net/hoai-nam-nhung-ca-khuc-nhac-ngoai-quoc-loi-viet88-nhac-phim-where-do-i-begin-love-story-francis-lai-carl-sigman-chuyen-tinh/#respond</comments>
		
		<dc:creator><![CDATA[Hòai-Nam]]></dc:creator>
		<pubDate>Thu, 27 Jun 2019 05:52:32 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Góc Văn]]></category>
		<category><![CDATA[hòai nam]]></category>
		<category><![CDATA[nhạc nq]]></category>
		<category><![CDATA[nhạc nq lời việt]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://7076e870b2.nxcli.io/?p=39776</guid>

					<description><![CDATA[Tiếp tục phần Nhạc Phim, bài này chúng tôi viết về ca khúc (Where Do I Begin?) Love Story, nguyên là nhạc khúc chủ đề trong phim Love Story (1970) của Francis Lai, được Carl Sigman đặt lời hát; trước năm 1975, ca khúc này đã được Phạm Duy đặt lời Việt với tựa Chuyện [&#8230;]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: center;"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2019/06/where-do-i-begin-love-story-profile.jpg?strip=all"><img fetchpriority="high" decoding="async" class="aligncenter size-medium wp-image-39779" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2019/06/where-do-i-begin-love-story-profile-213x300.jpg?strip=all" alt="" width="213" height="300" srcset="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2019/06/where-do-i-begin-love-story-profile-213x300.jpg?strip=all 213w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2019/06/where-do-i-begin-love-story-profile.jpg?strip=all 300w" sizes="(max-width: 213px) 100vw, 213px" /></a></p>
<p>Tiếp tục phần Nhạc Phim, bài này chúng tôi viết về ca khúc <em>(Where Do I Begin?) Love Story</em>, nguyên là nhạc khúc chủ đề trong phim Love Story (1970) của Francis Lai, được Carl Sigman đặt lời hát; trước năm 1975, ca khúc này đã được Phạm Duy đặt lời Việt với tựa Chuyện Tình.</p>
<p>Có thể viết trong một, hai năm đầu của thập niên 1970, Love Story đã trở thành một hiện tượng trong cả ba lĩnh vực văn học, điện ảnh và ca nhạc, đã làm rung động hàng triệu con tim, cách riêng giới trí thức trẻ, qua một đề tài xưa như trái đất: Tình Yêu.</p>
<p>Trước khi viết về ca khúc <em>(Where Do I Begin?) Love Story</em>, xin có đôi dòng về cuốn tiểu thuyết và cuốn phim Love Story.</p>
<p>Thông thường, sau khi một cuốn tiểu thuyết ra mắt độc giả và được đông đảo quần chúng yêu chuộng, người ta sẽ phóng tác hoặc chuyển thể cốt truyện thành kịch bản (film script) để thực hiện cuốn phim. Thí dụ: War and Peace (Chiến tranh và Hòa bình), Gone With the Wind (Cuốn theo chiều gió), Farewell to Arms (Giã từ vũ khí), Dr Zhivago, v.v&#8230; Tuy nhiên, riêng trong trường hợp của Love Story thì ngược lại, kịch bản của một cuốn phim đang thực hiện đã được chuyển thể thành một cuốn tiểu thuyết, không ngoài mục đích quảng cáo cho cuốn phim. Kết quả, “cuốn tiểu thuyết bất đắc dĩ” ấy lại trở thành một best seller!</p>
<p>Tác giả của Love Story là văn sĩ Mỹ <strong>Erich Segal</strong> (1937 – 2010). Một cách đầy đủ, phải gọi ông là một văn sĩ, nhà viết kịch bản, nhà giáo dục, học giả nghiên cứu văn minh, ngôn ngữ, văn học cổ La-Hy (Ancient Greek and Classical Latin).</p>
<p style="text-align: center;"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2019/06/Erich_Segal.jpg?strip=all"><img decoding="async" class="aligncenter size-medium wp-image-39782" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2019/06/Erich_Segal-212x300.jpg?strip=all" alt="" width="212" height="300" srcset="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2019/06/Erich_Segal-212x300.jpg?strip=all 212w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2019/06/Erich_Segal.jpg?strip=all 220w" sizes="(max-width: 212px) 100vw, 212px" /></a></p>
<p style="text-align: center;"><strong>Erich Segal</strong> (1937 – 2010)</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>Là con trai của một giáo sĩ Do-thái giáo, Erich Segal học trung học  tại Midwood High School ở Brooklyn, Nữu Ước; tốt nghiệp trường nghệ thuật Harvard College (Harvard University) về thơ và cổ ngữ La-tinh năm 1958, và lấy bằng Tiến sĩ Văn học Thế giới vào năm 1965.</p>
<p>Sau đó ông trở thành giáo sư văn học Hy-lạp và La-tinh tại các trường Đại học Harvard, Yale, và giáo sư thỉnh giảng tại Princeton University, Dartmouth College ở Hoa Kỳ, Oxford University, Anh quốc, University of Munich, Đức quốc.</p>
<p>Ông là tác giả của nhiều công trình nghiên cứu về nền hài kịch thời La-mã, và tới năm 1967 bắt đầu viết kịch bản cho phim ảnh với việc chuyển thể cuốn truyện Yellow Submarine thành cuốn phim ca nhạc có cùng tựa của ban The Beatles.</p>
<p>Cuối thập niên 1960, Erich Segal viết kịch bản cho cuốn phim Love Story, rồi chuyển thể thành cuốn tiểu thuyết có cùng tựa, đạt thành công rực rỡ.</p>
<p>Từ đó, Erich Segal viết thêm nhiều cuốn tiểu thuyết và truyện phim  khác, trong số này có hai cuốn The Class (1985) và Doctors (1988) cũng lấy bối cảnh đại học, đã lọt vào danh sách best seller của tờ Nữu Ước Thời Báo. Nhưng riêng cuốn Oliver’s Story (1977), tức “hậu Love Story” thì lại thất bại.</p>
<p>Ngoài công việc giảng dạy và viết sách, Erich Segal còn được biết tới như một tay chạy việt dã nhà nghề, bắt đầu từ thời trung học, và về sau trở thành nhà bình luận chuyên nghiệp về môn thể thao này, từng bình luận trực tiếp tại các Thế vận hội 1972, 1976 cho hệ thống truyền hình ABC.</p>
<p>Rất tiếc, trong mấy chục năm cuối đời, Erich Segal đã phải chống trả với hội chứng Parkinson, và qua đời sau một cơn đau tim vào năm 72 tuổi.</p>
<p>* * *</p>
<p>Tới đây chúng tôi viết về cuốn phim, cuốn truyện, và nhạc khúc mang tựa đề Love Story.</p>
<p>Trong năm 1969, Erich Segal viết một kịch bản cho phim mang tựa đề Love Story và bán cho hãng phim Paramount Pictures. Vì nội dung là một chuyện tình đẹp, và bi thảm, diễn ra trong khuôn viên đại học, hãng Paramount đã đề nghị Erich Segal khai triển kịch bản này thành một cuốn tiểu thuyết để ra mắt độc giả trước khi cuốn phim được trình chiếu, với mục đích thu hút sự chú ý nơi thành phần trí thức trẻ.</p>
<p>Kết quả, cuốn tiểu thuyết có tựa đề Love Story ra mắt độc giả đúng vào Ngày Tình Nhân (<em>Valentine&#8217;s Day</em>) &#8211; 14 tháng 2 năm 1970, lúc đầu được đăng từng phần trên <em>The Ladies&#8217; Home Journal</em>, tạp chí phụ nữ uy tín và đông độc giả nhất nước Mỹ, sau đó được nhà xuất bản Harper &amp; Row phát hành tại Hoa Kỳ và nhà xuất bản Hoddern &amp; Stoghton ấn hành tại Anh quốc.</p>
<p>Chỉ trong một sớm một chiều, cuốn tiểu thuyết mỏng chưa từng thấy (131 trang) đã trở thành một best seller, đứng trong danh sách này của Nữu Ước Thời Báo trong suốt 41 tuần lễ và lên tới No.1, trở thành cuốn tiểu thuyết hư cấu bán chạy nhất trong năm 1970.</p>
<p>Cũng trong năm 1970, Love Story đã được dịch sang 20 ngôn ngữ.</p>
<p>Nội dung Love Story là một chuyện tình lãng mạn pha lẫn khôi hài với một kết cục bi thảm.</p>
<p><strong>Oliver Barrett</strong> <strong>IV</strong>, một sinh viên luật Đại học Harvard, người thừa kế của dòng họ Barrett danh giá và giàu có, gặp gỡ <strong>Jennifer Cavilleri</strong> tại thư viện của trường Radcliffe College, một đại học trực thuộc Harvard, dành riêng cho nữ sinh viên. Jenny (Jennifer) là một sinh viên ngành âm nhạc cổ điển, con gái của một người thợ làm bánh ở Rhode Island, còn Ollie (Oliver) đang chờ ngày đảm trách đế quốc kinh doanh của dòng họ Barrett.</p>
<p>Mặc dù xuất thân hoàn toàn khác biệt, Ollie và Jenny đã thu hút nhau trong lần đầu gặp gỡ.</p>
<p>Khi hai người tốt nghiệp đại học, Jenny cho biết nàng sẽ sang Paris để học hỏi thêm về nhạc cổ điển, và cũng để được sống ở Kinh thành Ánh sáng như nàng hằng mơ ước. Để giữ Jenny ở lại, Ollie đã ngỏ lời cầu hôn rồi đưa nàng về biệt thự của dòng họ ở Massachusetts để ra mắt cha mẹ, nhưng tới khi biết thân thế của Jenny, gia đình đã tỏ thái độ lạnh nhạt. Sau đó Ollie đã bị ông bố cảnh cáo: nếu nhất quyết lấy Jenny, mọi nguồn trợ cấp tài chánh cho chàng sẽ chấm dứt.</p>
<p>Nhưng Olie và Jenny vẫn kết hôn. Không có trợ cấp tài chính của gia đình, đôi vợ chồng trẻ đã phải vất vả kiếm sống để trang trải học phí cho Ollie học tiếp Cao học tại trường Luật Harvard. Jenny đi dạy trẻ tại một trường tư, hai vợ chồng thuê một phòng trọ trên tầng cao nhất của một ngôi nhà cũ kỹ gần trường Harvard.</p>
<p>Sau khi tốt nghiệp hạng 3, Ollie được thu nhận vào một công ty Luật danh tiếng tại thành phố Nữu Ước. Không còn phải bù đầu với sinh kế và học hành, Ollie và Jenny quyết định có con. Sau một thời gian cố gắng mà Jenny không thể có thai, họ tìm tới chuyên gia để xét nghiệm. Kết quả, bác sĩ đã cho Ollie biết Jenny bị bệnh hoại huyết (leukemia, bệnh bạch cầu) và không sống được bao lâu nữa.</p>
<p>Theo lời khuyên của bác sĩ, Ollie không cho Jenny biết về tình trạng của nàng và cố gắng sống bình thường như không hề có chuyện gì xảy ra. Nhưng Jenny có linh cảm về một chuyện gì đó không bình thường, và đã mặt đối mặt với vị bác sĩ để được biết sự thật.</p>
<p>Sau đó, Ollie mua hai vé đi Paris với mục đích để Jenny được thấy Kinh thành Ánh sáng như hằng mơ ước, nhưng nàng đã từ chối, nói rằng chỉ cần được sống những ngày cuối đời bên nhau là đủ.</p>
<p>Để kéo dài những ngày cuối đời ấy, Jenny phải trải qua một cuộc điều trị tốn kém. Không còn đủ khả năng trang trải phí tổn, cuối cùng Ollie đã phải quay trở lại với cha mình, xin ông giúp đỡ tiền bạc nhưng không cho ông biết sự thật.</p>
<p>Ông hỏi con trai “Tặng bầu cho cô nào phải không?” Ollie đáp “Đúng vậy”, và ông bố ký cho con trai một tấm chèque.</p>
<p>Nhưng cũng chẳng kéo dài được bao lâu; Jenny yếu dần, nàng bàn bạc với cha mình về việc tổ chức tang lễ, rồi đòi gặp Ollie. Nàng khuyên chồng đừng tự trách bản thân, chỉ cần ôm nàng thật chặt khi nàng trút hơi thở cuối cùng&#8230;</p>
<p>Khi ông bố của Ollie biết được bệnh tình của Jenny và việc con trai xin tiền ông là để lo chữa trị cho vợ, ông đã tức tốc bay tới Nữu Ước mang theo một số tiền lớn. Nhưng đã quá muộn.</p>
<p>Khi Ollie rời bệnh viện, cõi lòng tan nát, thì gặp cha mình đang tiến vào. Chàng nói “Jenny chết rồi”. Ông đáp “Ba rất ân hận”. Ollie bất giác lập lại câu nói của Jenny trước đây khi chàng xin lỗi vì đã nổi giận với nàng: <em>Love means never having to say you&#8217;re sorry</em> (Yêu là không bao giờ nói lời hối tiếc), rồi bật khóc&#8230;</p>
<p>* * *</p>
<p>Vừa được tung ra, Love Story đã làm mưa gió trên thị trường sách. Mặc dù bị giới phê bình nghệ thuật chê không tiếc lời, nó đã đã trở thành một best seller và là cuốn tiểu thuyết hư cấu bán chạy nhất trong năm 1970.</p>
<p>Love Story được đề cử tranh giải National Book Award năm 1970 nhưng sau đó đã xin rút tên, vì các vị giám khảo hăm dọa sẽ từ chức để phản đối. Nhà văn nổi tiếng <strong>William Clark Styron Jr.</strong> (1925 – 2006), Trưởng ban Giám khảo của giải thưởng này, gọi Love Story là “một cuốn sách tầm thường tới mức không thể gọi là văn chương” và nói rằng chỉ nội việc nó được việc đề cử mà thôi cũng đã xúc phạm tới những tác phẩm khác cùng được đề cử!</p>
<p>Nhưng mặc cho ai chê cứ chê, Love Story đã trở thành một hiện tượng văn hóa, không chỉ ở Hoa Kỳ mà còn nhiều nơi trên thế giới; sinh viên học sinh mà chưa từng đọc cuốn sách nhỏ này sẽ bị xem như người mới từ cung trăng rơi xuống!</p>
<p>Riêng với thành phần trí thức trẻ ở Hoa Kỳ, Love Story với bối cảnh Đại học Harvard và Radcliffe College, chính là “khuôn viên đại học” có thực ở đời thường, nơi họ đã, đang, hoặc sẽ bước chân vào.</p>
<p>Trên thực tế, như sau này Erich Segal đã tiết lộ, một phần tính cách của nhân vật Oliver Barrett IV đã được ông dựa trên con người của <strong>Tommy Lee Jones</strong>, một một sinh viên Đại học Harvard về sau trở thành diễn viên điện ảnh nổi tiếng, mà ông mô tả là “một con ngựa nhạy cảm, một cầu thủ (footballer) đầy nam tính với tâm hồn của một thi sĩ.”</p>
<p>Trong khi đó, cuộc gặp gỡ giữa Ollie và Jenny lại được Erich Segal dựa trên chuyện tình của người bạn cùng phòng nội trú với Tommy Lee Jones là <strong>Al Gore</strong>, vị Phó tổng thống tương lai của Hoa Kỳ. Có khác chăng là trong truyện, Jenny là sinh viên trường Radcliffe College, còn ngoài đời Mary Elizabeth Aitcheson, vợ tương lai của Al Gore, thì học trường St. Agnes School ở gần đó; đồng thời hai người không gặp nhau tại thư viện của Radcliffe College mà tại buổi dạ vũ năm cuối trung học của Al Gore tại St. Albans High School, West Virginia năm 1965 (và dĩ nhiên, Mary Elizabeth Aitcheson không mệnh yểu như Jenny mà sống thọ; bà và Al Gore ly thân năm 2010 sau 40 chung sống).</p>
<p>Một số người đã liên hệ Love Story với cuốn Trà hoa nữ (La dame aux Camélias) và đi tới kết luận Erich Segal đặt nền tảng cuốn tiểu thuyết của mình trên tác phẩm nổi tiếng của Alexandre Dumas (Con) ra mắt hơn một thế kỷ trước. Chúng tôi xin dành quyền phê phán cho độc giả, chỉ xin lưu ý: ai nấy đều biết vở opera La Traviata của Verdi cũng đặt nền tảng trên cuốn Trà hoa nữ, vậy mà ngày nay La Traviata vẫn đứng hạng ba trong số những vở opera được trình diễn nhiều lần nhất, chỉ sau Madam Butterfly (Hồ điệp Phu nhân) và La Bohème của Puccini!</p>
<p>Trở lại với Tommy Lee Jones, sau khi tốt nghiệp Cử nhân Nghệ thuật và Anh ngữ năm 1969, chàng trẻ tuổi tới Nữu Ước theo đuổi sự nghiệp diễn xuất, bắt đầu với những vai trò trên sân khấu Broadway. Như một sự trùng hợp thú vị, vai trò đầu tiên của Tommy Lee Jones trên màn bạc là vai chàng sinh viên Harvard Hank Simpson, một nhân vật trong cuốn truyện (và phim) Love Story.</p>
<p>* * *</p>
<p>Tới đây viết về cuốn phim.</p>
<p>Khi mua kịch bản Love Story của Erich Segal, hãng phim Paramount Pictures đã có dự định mời đạo diễn Larry Peerce và cô đào trẻ Ali MacGraw của cuốn phim Goodbye, Columbus (1969) lúc đó đang làm mưa gió ở Mỹ. Truyện phim Goodbye, Columbus kể về một “mối tình mùa hè” ngắn ngủi giữa một chàng quản thủ thư viện với một nữ sinh viên con nhà giàu. Trong phim, cô sinh viên này (do Ali MacGraw thủ diễn) cũng theo học Radcliffe College.</p>
<p><strong>Ali MacGraw</strong>, sinh năm 1939, sau khi tốt nghiệp Wellesley College ở Wellesley, Massachusetts, đã làm việc cho tạp chí <em>Harper&#8217;s Bazaar</em>, phụ tá đặc trách về hình ảnh và thời trang; sáu năm sau, Ali trở thành tư vấn (stylist) cho tạp chí thời trang thượng lưu <em>Vogue</em> đồng thời trở thành người mẫu nhiếp ảnh.</p>
<p>Giữa thập niên 1960, Ali bắt đầu đóng các màn quảng cáo trên truyền hình, và mãi tới năm 1968, khi đã 27 tuổi, mới được xuất  hiện làm kiểng (walk-on) trong cuốn phim tội phạm A Lovely Way to Die (do Kirk Douglas và Sylva Koscina thủ hai vai chính).</p>
<p>Chính nhờ màn xuất hiện ngắn ngủi ấy, Ali MacGraw đã được chú ý tới, và qua năm 1969 được đạo diễn Larry Peerce trao vai nữ nhân vật chính trong phim Goodbye, Columbus.</p>
<p>Tuy đây mới chỉ là lần thứ hai được xuất hiện trên màn bạc, và lần đầu tiên được thủ một vai có diễn xuất, Ali MacGraw đã tỏ ra rất xuất sắc, với kết quả là giải Trái Cầu Vàng dành cho diễn viên mới nhiều triển vọng, và sau đó được trao vai nữ nhân vật chính <strong>Jennifer Cavilleri</strong> trong phim Love Story.</p>
<p>Về nam nhân vật chính, chàng sinh viên luật <strong>Oliver Barrett</strong> của Đại học Harvard, hãng Paramount Pictures đã lần lượt mời ba nam diễn viên trẻ đã nổi tiếng hoặc đang lên là Beau Bridges (sinh năm 1941), Michael York (1942) và Jon Voight (1938) nhưng cả ba đều từ chối.</p>
<p>Sau đó Erich Segal đã giới thiệu <strong>Ryan O&#8217;Neal</strong>, nam diễn viên truyền hình mới xuất hiện một lần trên màn bạc qua cuốn phim The Games (1969).</p>
<p>Ryan O&#8217;Neal, sinh năm 1941 trong một gia đình văn nghệ sĩ, cha là văn sĩ kiêm nhà viết kịch bản truyền hình Charles O’Neal (1904–1996), mẹ là nữ diễn viên Patricia O’Neal (1907-2003), tuy nhiên ngay từ nhỏ, Ryan chỉ ôm mộng trở thành võ sĩ quyền Anh.</p>
<p>Trong thời gian ở University High School, Los Angeles, Ryan O&#8217;Neal đã được huấn luyện để trở thành một võ sĩ quyền Anh của National Golden Gloves (Hiệp hội quyền Anh tài tử Hoa Kỳ), và tỏ ra rất có triển vọng.</p>
<p>Nhưng bà mẹ Patricia là người có đầu óc thực tế, thấy Ryan O&#8217;Neal học hành không mấy tấn tới, vào năm 1960, bà đã vận động cho con trai được đóng những vai xuất hiện làm kiểng trước ống kính (walk-on), hoặc đóng thế (diễn viên chính) những màn khó khăn, nguy hiểm (stunt).</p>
<p>Nghề dạy nghề, Ryan O&#8217;Neal trở thành diễn viên lúc nào không hay. Sau một số vai trò rất phụ, năm 1964 nhờ bảnh trai, tướng tá ngon lành, Ryan O&#8217;Neal được trao một vai trong phim tập truyền hình Peyton Place của hãng ABC, vốn được xem là phim tập “tình, tiền, tội ác, sex (và loạn luân)” đầu tiên trên màn ảnh nhỏ xứ Cờ Huê.</p>
<p>Peyton Place đã trở thành bàn đạp tiến thân của nhiều nam nữ diễn viên trẻ, trong số đó ngoài Ryan O&#8217;Neal còn có Mia Farrow, Barbara Parkins, Christopher Connelly, David Canary, Mariette Hartley, Lana Wood (chị của Natalie Wood)&#8230;</p>
<p>Năm 1969, Ryan O&#8217;Neal được thủ diễn một trong bốn vai chính của cuốn phim Anh The Games nói về một chạy đua marathon giả tưởng giữa đại diện bốn quốc gia Anh, Mỹ, Úc và Tiệp Khắc, do Erich Segal viết kịch bản, và các diễn viên Michael Crawford (Anh), Ryan O&#8217;Neal (Mỹ), Charles Aznavour (Pháp gốc Armenia)) và Athol Compton (thổ dân Úc) thủ vai chính.</p>
<p>Vì đây là lần đầu tiên đóng phim điện ảnh, Ryan O&#8217;Neal được trả một thù lao khiêm nhượng là 25,000 Mỹ kim.</p>
<p>Cuốn phim được đánh giá “khá hay” (6.7 điểm của IMDb và 74% của Rotten Tomatoes) nhưng thất bại thê thảm về mặt tài chính, và chìm vào quên lãng. Chỉ tới khi kịch bản Love Story của Erich Segal được hãng Paramount thực hiện thành phim và ba chàng Beau Bridges, Michael York, Jon Voight từ chối vai trò Oliver Barrett, Erich Segal mới nhớ tới Ryan O&#8217;Neal và đề nghị hãng phim trao vai này cho chàng.</p>
<p>Tuy nhiên, Ryan O&#8217;Neal cũng phải trải qua một màn đóng thử cùng với 13 nam diễn viên trẻ khác, và cuối cùng nhà sản xuất Robert Evans của hãng Paramount đã quyết định chọn Ryan O&#8217;Neal. Sau này Robert Evans hồi tưởng “Trong số những người đóng thử, không một ai có thể so sánh với Ryan – một Cary Grant cho vai trò này: bảnh trai và đầy cảm xúc”.</p>
<p>Nhưng khi đã tìm được nam nữ diễn viên thủ vai hai nhân vật chính, hãng Paramount Pictures lại bị “kẹt” đạo diễn: đạo diễn <strong>Larry Peerce</strong> (của cuốn phim Goodbye, Columbus) đã từ chối lời mời đạo diễn Love Story, mà nhiều người cho rằng vì ông ta không mấy tin tưởng vào thành công của kịch bản của Erich Segal, và nếu ông thất bại, uy tín vừa mới tạo dựng được qua cuốn phim Goodbye, Columbus cũng sẽ tiêu tan.</p>
<p>Sau khi Larry Peerce từ chối, hãng Paramount Pictures đã mời <strong>Anthony Harvey</strong>, nhưng nhà đạo diễn trẻ gốc Anh này cũng từ chối!</p>
<p>Anthony Harvey nguyên là một nhà phân cảnh (editing, còn gọi là “ráp nối”) nổi tiếng, từng đoạt nhiều giải thưởng, lúc đó đã sang Los Angeles hợp tác với đạo diễn <strong>Stanley Kubrick</strong> lừng danh của Hoa Kỳ với mục đích học hỏi công việc đạo diễn.</p>
<p>Năm 1968, chỉ ít lâu sau khi bước vào nghề (đạo diễn), Anthony Harvey đã đạt thành công rực rỡ với cuốn phim bi kịch lịch sử Anh – Pháp The Lion in Winter, với hai diễn viên hàng đầu Peter O&#8217;Toole, Katharine Hepburn thủ vai hai nhân vật chính.</p>
<p>Tại giải Oscar năm 1969, The Lion in Winter được đề cử bảy giải thưởng (trong đó có đạo diễn) và đoạt ba giải, cho nữ diễn viên vai chính, kịch bản, và nhạc đệm.</p>
<p>Cuốn phim cũng được được đề cử bảy giải Trái Cầu Vàng và đoạt hai giải, bảy giải BAFTA (điện ảnh Anh quốc) và cũng đoạt hai giải.</p>
<p>Về sau, Anthony Harvey giải thích tại sao ngày ấy mình từ chối đạo diễn Love Story:</p>
<p>“Cho dù đạt thành công rực rỡ với The Lion in Winter, tôi cũng chỉ là một đạo diễn mới vào nghề, không hiểu biết nhiều. Tôi từ chối Love Story một cách vô ý thức. Quả thật đó là sai lầm khủng khiếp nhất trong đời!”</p>
<p>Sau khi Larry Peerce và Anthony Harvey từ chối, hãng phim Paramount đã mời đạo diễn Mỹ gốc Gia-nã-đại <strong>Arthur Hiller</strong>.</p>
<p>Arthur Hiller thuộc thế hệ đàn anh của Larry Peerce, Anthony Harvey, và đã sẵn nổi tiếng khi nhận lời đạo diễn Love Story.</p>
<p>Arthur Hiller sinh năm 1923 tại Edmonton, Alberta. Khi Đệ nhị Thế chiến xảy ra, ông gia nhập Không lực Hoàng gia Gia-nã-đại, trở thành hoa tiêu (navigator) trên oanh tạc cơ hạng nặng Halifax, đồn trú tại Âu châu, đã tham gia nhiều phi vụ oanh tạc đêm trên các vùng lãnh thổ do quân Đức chiếm đóng.</p>
<p>Sau khi thế chiến dứt, Arthur Hiller trở lại trường học, lấy Cử nhân Nghệ thuật tại University College, Toronto năm 1947, và Cao học Nghệ thuật &amp; Tâm lý học năm 1950.</p>
<p>Công việc đầu tiên của Arthur Hiller sau khi rời đại học là làm đạo diễn cho đài truyền hình Canadian Broadcasting Corporation của Gia-nã-đại, qua đó ông được hãng truyền NBC của Mỹ chú ý và mời hợp tác.</p>
<p>Tới cuối thập niên 1950, Arthur Hiller bắt đầu đạo diễn phim điện ảnh, phần lớn là hài kịch, trong đó nổi tiếng nhất phải là The Americanization of Emily (1964), một cuốn phim khôi hài đen có nội dung phản chiến; hiện nay, The Americanization of Emily là một trong những cuốn phim hiếm hoi được điểm 100% của trang mạng phê bình Rotten Tomatoes.</p>
<p>Cũng trong năm 1964, Arthur Hiller đạo diễn bộ phim tập truyền hình hài kịch kinh dị The Addams Family (mà trước năm 1975 khán giả ở Sài Gòn đã được thưởng thức trên đài truyền hình quân đội Mỹ); sau đó ông trở lại với thể loại phim hài kịch trên màn bạc, đạt thành công đáng kể qua các cuốn phim Promise Her Anything (1965) với Warren Beatty và Leslie Caron, Penelope (1966) với Natalie Wood; và tới năm 1967 bước sang cả lĩnh vực phim hoạt động với Tobruk, một cuốn phim lấy bối cảnh Đệ nhị Thế chiến ở Bắc Phi, với Rock Hudson và George Peppard trong hai vai chính.</p>
<p>Thế nhưng thành công lớn nhất trong sự nghiệp của Arthur Hiller lại là một cuốn phim bi kịch: Love Story.</p>
<p>Như chúng tôi đã viết ở một đoạn đầu, mặc dù trở thành một best seller và là cuốn tiểu thuyết hư cấu bán chạy nhất trong năm 1970, Love Story của Erich Seagal đã không được giới phê bình nghệ thuật trân trọng, nếu không muốn nói là chê thậm tệ. Nguyên nhân chính là vì Love Story có cốt truyện khá bình thường, thậm chí tầm thường, và có diễn tiến nặng phần “cải lương, cường điệu” (cái chết trẻ của nữ nhân vật chính)!</p>
<p>Suy ra, thực hiện một cuốn phim với kịch bản có nội dung như thế không có nhiều triển vọng đạt thành công; vì thế hai đạo diễn Larry Peerce và Anthony Harvey mới từ chối lời mời của hãng phim Paramount.</p>
<p>Nhưng Arthur Hiller không phải một đạo diễn tầm thường. <strong>Roger Ebert </strong>(1942 – 2013), nhà bình phim kiêm sử gia điện ảnh uy tín bậc nhất nước Mỹ, người đầu tiên đoạt giải Pulitzer về Phê bình (1975), đã nhận định:</p>
<p>“Tại sao chúng ta không thể rơi lệ trước chuyện một đôi uyên ương trẻ bị thần chết phân ly? Arthur Hiller đã khiến chúng ta xúc động vì cung cách ông đạo diễn cuốn phim&#8230; Tuy nhiên, phần lớn nội dung cuốn phim nói về cuộc sống chứ không phải cái chết. Và vì Arthur Hiller đã trình bày đôi tình nhân như hai cá thể, kết cuộc đã khiến chúng ta phải xúc động. Tại sao lại không nhỉ?”</p>
<p>Roger Ebert đã không ca tụng Arthur Hiller quá lời. Về sau, nhà đạo diễn đã được bầu làm chủ tịch Hiệp hội Đạo diễn Hoa Kỳ (Directors Guild of America) từ năm 1989 tới năm 1993, và chủ tịch Hàn lâm viện Điện ảnh Hoa Kỳ từ năm 1993 tới năm 1997.</p>
<p>Love Story được trình chiếu vào ngày 16/12/1970 và lập tức tạo kỷ lục về số thu. Với số vốn thực hiện chỉ có 2.2 triệu Mỹ kim nhưng số thu lên tới 136.4 triệu, Love Story đã trở thành cuốn phim của năm 1970 có số thu cao nhất, và đứng hạng 6 tính từ xưa cho tới lúc đó.</p>
<p>Love Story được Viện phim ảnh Hoa Kỳ xếp hạng 9 trong danh sách “100 Years&#8230; 100 Passions” dành cho những cuốn phim về tình yêu hay nhất.</p>
<p>Tại giải Trái Cầu Vàng 1971, Love Story được đề cử 7 giải (phim hay nhất, đạo diễn, kịch bản, nam nữ diễn viên vai chính, nam diễn viên vai phụ, nhạc phim) và đoạt 5 giải (phim hay nhất, đạo diễn, kịch bản, nữ diễn viên vai chính, và nhạc phim).</p>
<p>Tại giải Oscar 1971, Love Story cũng được đề cử 7 giải tương tự nhưng chỉ đoạt được 1 cho nhạc phim.</p>
<p>Tuy không đoạt giải Oscar nữ diễn viên vai chính, sau đó Ali MacGraw cũng được tạp chí <em>Time</em> đưa lên bìa, về sau (1991) được nằm trong danh sách “50 Most Beautiful People in the World” của tạp chí <em>People</em>, và tới năm 2008 được tạp chí đàn ông <em>Maxim</em> đưa vào danh sách “Sexiest 25 Women in Film Ever”.</p>
<p>Về phần Ryan O’Neal, phải nhìn nhận việc ba chàng diễn viên trẻ Beau Bridges, Michael York, Jon Voight từ chối vai Oliver Barrett trong Love Story đã giúp Ryan cơ hội “đổi đời&#8221;: không bao giờ phải trở lại với những vai trò trên truyền hình mà chàng không muốn một chút nào.</p>
<p>Sau thành công của Love Story, Ryan O’Neal nghiễm nhiên trở thành một diễn viên hạng A, với những cuốn phim ăn khách như What&#8217;s Up, Doc? (1972, đóng chung với Barbra Streisand).</p>
<p>Năm 1973, Ryan O’Neal cùng với cô con gái <strong>Tatum O’Neal</strong> đóng chung phim Paper Moon, qua đó cô bé 10 tuổi đã trở thành diễn viên nhỏ tuổi nhất tính cho tới nay đoạt giải Oscar diễn xuất.</p>
<p><em>[Tatum O’Neal đoạt giải Oscar vai phụ; trước đó, cô chưa bao giờ xuất hiện trước ống kính; sau này Tatum kết hôn với danh thủ quần vợt John McEnroe, được 3 con, và ly dị sau 8 năm chung sống] </em></p>
<p>Cũng trong năm 1973, Ryan O&#8217;Neal đã được khán giả điện ảnh ở Hoa Kỳ bầu là nam diễn viên được ái mộ hạng nhì, chỉ đứng sau Clint Eastwood của cuốn phim cớm Dirty Harry (1971).</p>
<p>Trước thành công vượt bực của phim Love Story, tám năm sau (1978), hãng Paramount Pictures đã bổn cũ soạn lại, thực hiện cuốn phim tiếp theo (sequel) có tựa đề Oliver’s Story, nói về những tháng năm sau khi Jenny chết, Ollie cố gắng xây dựng một hạnh phúc mới với một vị tiểu thư môn đăng hộ đối, nhưng thất bại vì không thể quên được Jenny.</p>
<p>Oliver’s Story cũng do Erich Segal viết kịch bản và Ryan O&#8217;Neal thủ vai chính, vai vị tiểu thơ do Candice Bergen thủ diễn.</p>
<p>Lúc đầu, Ryan O&#8217;Neal đã từ chối trở lại với vai trò Oliver Barrett vì nhận thấy kịch bản chẳng có gì thu hút, nhưng sau đó vì hãng phim đã tăng thù lao lên tới 3 triệu Mỹ kim, Ryan O&#8217;Neal không thể chống cưỡng.</p>
<p>Kết quả, Oliver’s Story đã trở thành cuốn phim đáng quên nhất trong sự nghiệp của Ryan O&#8217;Neal với số điểm 20% của trang mạng bình phim Rotten Tomatoes.</p>
<p>Tới đây chúng tôi viết về nhạc phim của Love Story, do nhà soạn nhạc <strong>Francis Lai</strong> đảm trách.</p>
<p style="text-align: center;"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2019/06/francis-lai-photo_38482_31578.jpg?strip=all"><img decoding="async" class="aligncenter size-medium wp-image-39777" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2019/06/francis-lai-photo_38482_31578-273x300.jpg?strip=all" alt="" width="273" height="300" srcset="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2019/06/francis-lai-photo_38482_31578-273x300.jpg?strip=all 273w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2019/06/francis-lai-photo_38482_31578.jpg?strip=all 400w" sizes="(max-width: 273px) 100vw, 273px" /></a></p>
<p>Francis Lai sinh năm 1932 tại Nice, miền nam nước Pháp, cha mẹ là di dân Ý, làm nghề trồng rau để bán ở chợ. Say mê âm nhạc từ nhỏ, Francis Lai học accordéon và dương cầm, chơi cho các bạn nhạc địa phương một thời gian rồi tới cảng Marseilles, thành phố lớn thứ nhì của Pháp (chỉ sau Paris) và cũng là một “ngã tư quốc tế”. Tại đây, chàng trẻ tuổi mới biết trên đời này có một thể loại gọi là “nhạc jazz” và chuyên tâm học hỏi.</p>
<p>Sau khi gặp gỡ Claude Goaty, một nữ ca sĩ Pháp nổi tiếng trong thập niên 1950, Francis Lai theo bà lên Paris và trở thành một thành viên của khu nghệ sĩ Montmartre, chơi đàn thường xuyên ở quán rượu Taverne d&#8217;Attilio. Sau một thời gian ngắn chơi cho dàn nhạc Michel Magne, Francis Lai trở thành người đệm accordéon cho nữ danh ca Édith Piaf, và sau này soạn nhạc cho một số ca khúc do bà đặt lời hát.</p>
<p>Năm 1965, Francis Lai gặp gỡ đạo diễn trẻ Pháp gốc Algeria <strong>Claude Lelouch</strong> (sinh năm 1937), cũng là một diễn viên kiêm nhà sản xuất phim và nhà văn, và được ông nhờ soạn nhạc phim cho Un homme et une femme (A Man and a Woman), cuốn phim thứ hai do Claude Lelouch đạo diễn, với Jean-Louis Trintignant và Anouk Aimée trong hai vai chính.</p>
<p>Trình chiếu năm 1966, Un homme et une femme (A Man and a Woman) không chỉ trở thành một trong những cuốn phim ăn khách nhất ở Pháp mà còn ở cả Hoa Kỳ, đoạt nhiều giải thưởng quốc tế trong đó có Cành Cọ Vàng tại Đại hội Điện Ảnh Cannes, Trái Cầu Vàng cho Phim nói tiếng ngoại quốc và cho Nữ diễn viên vai chính, Oscar cho Phim nói tiếng ngoại quốc và cho Kịch bản.</p>
<p><em> </em>Phần nhạc phim do Francis Lai soạn (trong đó có ca khúc Un homme et une femme do Claude Lelouch viết lời hát), cũng gây tiếng vang lớn cho chàng nhạc sĩ trẻ lần đầu soạn nhạc phim, được đề cử Trái Cầu Vàng cho nhạc phim và ca khúc trong phim.</p>
<p><strong><em> </em></strong><strong>VIDEO:</strong></p>
<p><strong><em> </em></strong><a href="https://www.youtube.com/watch?v=e-fdlvam8hc" target="_blank" rel="noopener"><strong><em>Paul Mauriat &#8211; Un homme et une femme (1966)</em></strong></a></p>
<p>Sau khi đạt thành công ngay trong lần đầu soạn nhạc phim, Francis Lai tiếp tục hợp tác với Claude Lelouch trong hàng chục cuốn phim khác, trong đó có Vivre pour vivre (1967), Un homme qui me plaît (1969), Le voyou (1970), và La bonne année (1973), rất được yêu chuộng tại Pháp cũng như Anh quốc, Hoa Kỳ.</p>
<p>Nhưng thành công lớn nhất trong sự nghiệp của Francis Lai chính là nhạc phim Love Story, đoạt giải Oscar cho nhạc phim năm 1971.</p>
<p>Nhạc phim Love Story (Love Story soundtrack) được phát hành dưới dạng album và lên tới No.2 trên bảng xếp hạng album của Billboard, gồm 11 nhạc khúc, trong đó có 2 nhạc khúc cổ điển <em>&#8211; <a href="https://en.wikipedia.org/wiki/Piano_Sonata_in_F_major,_K._547a">S</a>onata in F Major (Allegro)</em> của Wolfgang Amadeus Mozart, <em>Concerto No. 3 in D Major (Allegro)</em> của Johann Sebastian Bach – và 9 nhạc khúc do Francis Lai soạn, trong đó có nhạc khúc chủ đề của cuốn phim (<em>Theme from Love Story</em>), được sử dụng trong phần mở đầu và kết thúc của cuốn phim.</p>
<p>Tuy nhiên, một tuần lễ trước khi phim Love Story được trình chiếu vào ngày Lễ Giáng Sinh năm 1970, hãng phim Paramount Pictures đã “sắp xếp” để dàn nhạc Henry Mancini tung ra đĩa đơn hòa tấu nhạc khúc chủ đề của cuốn phim, với mục đích tạo sự chú ý của công chúng, tương tự việc trước đây họ đã cho phát hành cuốn tiểu thuyết Love Story trước khi trình chiếu cuốn phim.</p>
<p>Kết quả, đĩa đơn <em>Theme from Love Story</em> của dàn nhạc Henri Mancini đã lên tới No.2 và nằm trong Top 10 Easy Listening của Billboard suốt 16 tuần lễ, và ở trong danh sách Billboard Hot 100 suốt 11 tuần lễ, lên tới hạng 12.</p>
<p><strong>VIDEO:</strong></p>
<p><strong> </strong><a href="https://www.youtube.com/watch?v=Mik4cFOvhzo" target="_blank" rel="noopener"><strong><em>Henry Mancini &#8211; Theme from &#8221;Love Story&#8221;</em></strong><strong> </strong></a></p>
<p>Chỉ tới khi cuốn phim được phát hành, khán thính giả mới được thưởng thức <em>Theme from Love Story</em> của nhạc phim do Francis Lai phối khí và điều khiển dàn nhạc.</p>
<p><strong>VIDEO:</strong></p>
<p><a href="https://www.youtube.com/watch?v=jaakRkSTzrs" target="_blank" rel="noopener"><strong> </strong><strong><em>Francis Lai &#8211; Love Story Soundtrack &#8211; Theme From Love Story (1970) </em></strong></a></p>
<p>Về phần ca khúc <em>(Where Do I Begin?) Love Story</em> do <a href="https://en.wikipedia.org/wiki/Carl_Sigman">Carl Sigman</a> đặt lời hát thì phải đợi hơn hai tháng sau ngày phim Love Story ra mắt khán giả, mới được gửi tới thính giả qua tiếng hát của Andy Williams.</p>
<p style="text-align: center;"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2019/06/Carl-Sigman.jpg?strip=all&fit=256%2C358"><img loading="lazy" decoding="async" class="aligncenter wp-image-39780" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2019/06/Carl-Sigman.jpg?strip=all&fit=256%2C358" alt="" width="256" height="358" /></a></p>
<p style="text-align: center;"><strong>Carl Sigman</strong> (1909 – 2000)</p>
<p><strong>Carl Sigman</strong> (1909 – 2000) là một nhà đặt lời hát hàng đầu của Mỹ. Một trong những ca khúc rất phổ biến do ông đặt lời hát là bản <em>A Day in The Life of a Fool</em>, nguyên là ca khúc<em> Manhã de Carnaval</em> (Carnival Morning) của hai tác giả Luiz Bonfa và Antonio Araujo De Moraes, được hát trong cuốn phim Orfeu Negro (Black Orpheus, 1959) của Ba-tây. Phiên bản lời Pháp của ca khúc này, tựa đề <em>La Chanson d&#8217;Orphée</em>, cũng rất được ưa chuộng.</p>
<p><strong>VIDEO:</strong></p>
<p><strong> </strong><a href="https://www.youtube.com/watch?v=UF2t1Dq608U" target="_blank" rel="noopener"><strong><em>JACK JONES &#8211; A DAY IN THE LIFE OF A FOOL (MANHA DE CARNAVAL)</em></strong></a></p>
<p>Trở lại với ca khúc <em>(Where Do I Begin?) Love Story</em> do Carl Sigman đặt lời hát.</p>
<p>Theo lời kể của một số người, lúc đầu, sau khi nghe qua phần nhạc phim của Love Story do Francis Lai soạn, hãng đĩa đảm trách việc phát hành nhạc phim (soundtrack) cho rằng nếu đặt lời hát cho nhạc khúc chủ đề <em>Theme from Love Story</em> thì sẽ có sức thu hút khán giả hơn, vì thế nhà sản xuất Robert Evans (của hãng phim Paramount) đã nhờ Carl Sigman đặt lời hát cho nhạc khúc này.</p>
<p>Carl Sigman nhận lời, dựa theo diễn tiến của chuyện tình buồn trong cuốn phim Love Story để viết lời hát. Nhưng, cứ theo lời thuật lại của Michael Sigman, con trai của Carl Sigman, sau khi Carl Sigman hoàn tất thì bị Robert Evans chê là quá sầu thảm, sẽ khiến khán giả&#8230; xuống tinh thần, và yêu cầu ông viết lời hát khác bớt bi lụy hơn.</p>
<p>Tự ái của một nhà viết lời hát tên tuổi đã khiến Carl Sigman nổi giận; ông từ chối viết lại. Vì thế khi cuốn phim chiếu ra mắt, nhạc khúc chủ đề trong phim (<em>Theme from Love Story</em>) vẫn được trình bày dưới hình thức hòa tấu.</p>
<p>Tuy nhiên sau đó, Carl Sigman đã nghĩ lại và nhận ra rằng lời hát có thể buồn nhưng không nên quá bi lụy. Nhưng nếu không dựa theo cốt truyện bi lụy ấy <em>&#8211; Jenny xuất hiện, hai người yêu nhau, Jenny chết &#8211; </em> thì mình sẽ bắt đầu từ đâu &#8211; Where do I begin?</p>
<p>Carl Sigman vừa đi tới đi lui trong phòng vừa nói với bà vợ: Where do I begin? Where do I begin?&#8230; và thế là ca khúc <em>(Where Do I Begin?) Love Story</em>  ra đời.</p>
<p><em>[LƯU Ý: Ca khúc do Carl Sigman đặt lời có tựa đề chính xác là <strong>(Where Do I Begin?) Love Story</strong>. Rất tiếc, không phải ai cũng hiểu được ngụ ý của tác giả khi cho những chữ trong ngoặc đơn (Where Do I Begin?) đứng trước hai chữ không nằm trong ngoặc đơn Love Story, cho nên khá nhiều người, kể người Anh, người Mỹ, đã tự tiện sửa đổi thứ tự, viết thành Love Story (Where Do I Begin?); sai thì không sai nhưng không đúng ý của tác giả] </em></p>
<p><strong><em>(Where do I begin?) Love Story</em></strong></p>
<p><em><br />
Where do I begin </em></p>
<p><em>To tell the story of how great a love can be<br />
The sweet love story that is older than the sea<br />
The simple truth about the love she brings to me<br />
Where do I start</em></p>
<p><em>With her first hello<br />
She gave new meaning to this empty world of mine<br />
There&#8217;ll never be another love, another time<br />
She came into my life and made the living fine<br />
She fills my heart</em></p>
<p><em>She fills my heart with very special things<br />
With angels&#8217; songs, with wild imaginings<br />
She fills my soul with so much love<br />
That anywhere I go I&#8217;m never lonely<br />
With her around, who could be lonely<br />
I reach for her hand, it&#8217;s always there</em></p>
<p><em>How long does it last?<br />
Can love be measured by the hours in a day?<br />
I have…</em></p>
<p>Tuy nhiên, theo đa số tác giả, và chúng tôi cũng tin như thế, hãng phim Paramount đã có chủ ý từ trước trong việc để dàn nhạc Henry Mancini tung ra đĩa đơn trước khi cuốn phim được trình chiếu, và sau khi mọi người đã xem phim và thưởng thức nhạc khúc chủ đề trong phim (<em>Theme from Love Story</em>), mới tung ra ca khúc <em>(Where Do I Begin?) Love Story.</em></p>
<p>Gần ba tuần lễ sau khi phim Love Story được trình chiếu, ngày 15/1/1971, hai đĩa đơn <em>(Where Do I Begin?) Love Story</em>, một của Andy Williams, một của Tony Bennett, được phát hành.</p>
<p><strong>Phụ lục 1: <em>(Where Do I Begin?) Love Story</em>, Andy Williams </strong></p>
<!--[if lt IE 9]><script>document.createElement('audio');</script><![endif]-->
<audio class="wp-audio-shortcode" id="audio-39776-1" preload="none" style="width: 100%;" controls="controls"><source type="audio/mpeg" src="https://t-van.net/wp-content/uploads/2019/06/01-Andy_Williams_Where_Do_I_Begin_Love_Story_mp3co.biz-Copy.mp3?_=1" /><a href="https://t-van.net/wp-content/uploads/2019/06/01-Andy_Williams_Where_Do_I_Begin_Love_Story_mp3co.biz-Copy.mp3">https://t-van.net/wp-content/uploads/2019/06/01-Andy_Williams_Where_Do_I_Begin_Love_Story_mp3co.biz-Copy.mp3</a></audio>
<p><strong>VIDEO:</strong></p>
<p><strong><em> </em></strong><a href="https://www.youtube.com/watch?v=kUrxm4z9I-c" target="_blank" rel="noopener"><strong><em>Andy Williams &#8211; (Where Do I Begin) LOVE STORY 1970 (High Quality) </em></strong></a></p>
<p><em>(Where Do I Begin?) Love Story</em> do Andy Williams thu đĩa đã lên tới No.1 trên bảng xếp hạng thể loại Easy Listening (ngày nay gọi là Adult Contemporary) của Billboard và đứng hạng 9 trong Billboard Hot 100 (tính mọi thể loại), đồng thời đứng hạng tư tại Anh Quốc (UK Singles Chart).</p>
<p>Về sau, để làm hài lòng thế hệ thính giả trẻ, Andy Williams đã thu âm thêm một phiên bản <em>(Where Do I Begin?) Love Story</em> dài hơn, với phần phối khí có sử dụng hiệu ứng âm thanh (sound effects).</p>
<p><strong>Phụ lục 2: <em>(Where Do I Begin?) Love Story</em>, Andy Williams (extended version)</strong></p>
<audio class="wp-audio-shortcode" id="audio-39776-2" preload="none" style="width: 100%;" controls="controls"><source type="audio/mpeg" src="https://t-van.net/wp-content/uploads/2019/06/02-Andy-Williams-Love-Story-Andy-Williams-Nh-c-h¦a-t-u222.mp3?_=2" /><a href="https://t-van.net/wp-content/uploads/2019/06/02-Andy-Williams-Love-Story-Andy-Williams-Nh-c-h¦a-t-u222.mp3">https://t-van.net/wp-content/uploads/2019/06/02-Andy-Williams-Love-Story-Andy-Williams-Nh-c-h¦a-t-u222.mp3</a></audio>
<p>Sau Andy Williams và Tony Bennett, <em>(Where Do I Begin?) Love Story</em> đã được nhiều nam ca sĩ khác của Mỹ thu đĩa, trong số đó phiên bản của Johnny Mathis có lẽ được ưa chuộng nhất.</p>
<p><strong>VIDEO:</strong></p>
<h3><a href="https://www.youtube.com/watch?v=EeNAvb01dIo" target="_blank" rel="noopener"><em><u>Love Story ~ Johnny Mathis ~ (HD) &#8211; YouTube</u></em></a></h3>
<p>Về phiên bản do các ca sĩ ở ngoài Hoa Kỳ thu đĩa, chúng tôi giới thiệu ba thể loại điển hình, do nữ danh ca Anh Shirley Bassey (Bossa Nova), nữ danh ca Pháp Patricia Kaas (jazz), và nam danh ca tenor Tây-ban-nha Placido Domingo (classical).</p>
<p><strong>VIDEO:</strong></p>
<h3><em><a href="https://www.google.com.au/url?sa=t&amp;rct=j&amp;q=&amp;esrc=s&amp;source=video&amp;cd=2&amp;cad=rja&amp;uact=8&amp;ved=0ahUKEwi4kYSe-f_iAhUHXn0KHQuiCb8QtwIIMDAB&amp;url=https%3A%2F%2Fwww.youtube.com%2Fwatch%3Fv%3DmgMoq3vL-Wc&amp;usg=AOvVaw3oMQaL8QIrVwGnFu8IX7Fw">Shirley Bassey &#8211; (Where Do I Begin) Love Story &#8211; YouTube</a></em></h3>
<h3><em><a href="https://www.youtube.com/watch?v=1vNfkSzv284">Patricia Kaas &#8211; Where Do I Begin (Love Story) &#8211; YouTube</a></em></h3>
<h3><em><a href="https://www.youtube.com/watch?v=3qZrA-fcyHY">Plácido Domingo &#8211; Love Story (Where Do I Begin) &#8211; YouTube</a></em></h3>
<p><em>(Where Do I Begin?) Love Story </em>phiên bản lời Pháp với tựa đề<em> Une histoire d’amour</em> được Mireille Matthieu thu đĩa, ngày ấy cũng rất được thính giả yêu nhạc Pháp ở miền Nam VN ưa chuộng.</p>
<p style="text-align: center;"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2019/06/chuyentinh01-1.jpg?strip=all"><img loading="lazy" decoding="async" class="aligncenter wp-image-39781" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2019/06/chuyentinh01-1-300x283.jpg?strip=all" alt="" width="413" height="390" srcset="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2019/06/chuyentinh01-1-300x283.jpg?strip=all 300w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2019/06/chuyentinh01-1.jpg?strip=all 400w" sizes="(max-width: 413px) 100vw, 413px" /></a></p>
<p>Về phiên bản lời Việt, trước năm 1975, <em>(Where Do I Begin?) Love Story </em>đã được nhạc sĩ Phạm Duy chuyển ngữ với tựa đề <em>Chuyện Tình</em>. Có thể nói nghệ thuật chuyển ngữ của Phạm Duy qua ca khúc này đã lên tới đỉnh cao nhất.</p>
<p><strong><em>Chuyện Tình</em></strong><strong> (Love Story, LV: Phạm Duy)</strong></p>
<p><em>Biết dùng lời rất khó, để mà nói rõ<br />
Ôi biết nói gì, cuộc tình lớn quá<br />
Chuyện tình đáng nhớ, tuy cũ như là biển già trắng xoá<br />
Cuộc tình quý giá như những ngọc ngà nàng dành cho ta<br />
Ôi biết nói gì ?<br />
Với một lời quý mến, mà nàng nói đến<br />
Khi bước chân vào cuộc đời vắng ngắt<br />
Cuộc tình thứ nhất, muôn kiếp muôn đời là tình vĩnh viễn<br />
Vì nàng đã hiến đôi cánh tay mềm nghìn đời quyến luyến<br />
Lòng ta đầy kín, lòng ta đầy kín<br />
Là muôn nghìn chuyện yêu đương, câu hát thần tiên<br />
Và những mộng huyền mênh mang, đầy kín hồn hoang<br />
Man mác tình duyên<br />
Thôi hết cuộc đời im tiếng<br />
Ðời lẻ loi đã tan, ta đã được nàng<br />
Làm gì còn tiếng than, nắm đôi tay thiên thần<br />
Ði suốt mùa Xuân&#8230;<br />
Sẽ còn được biết mấy ? Một đời luyến ái<br />
Yêu sẽ lâu dài hoặc là quá ngắn ? Thật là khó đoán<br />
Nhưng vẫn cho rằng cuộc đời có hết, loài người có chết<br />
Sao sáng trên trời ngày nào sẽ tắt<br />
Em vẫn gần ta!</em></p>
<p><strong>VIDEO:</strong></p>
<p><strong><em><a href="https://www.youtube.com/watch?v=g9QPVBcpDVw">Chuyện Tình &#8211; Duy Quang &#8211; YouTube</a></em></strong></p>
<p><a href="https://www.youtube.com/watch?v=kcVKSNKvyNU" target="_blank" rel="noopener"><strong><em>Chuyện tình (Love Story) &#8211; Quang Dũng</em></strong></a></p>
<p><strong>Phụ lục 3: <em>Chuyện Tình</em>, Ngọc Anh</strong></p>
<audio class="wp-audio-shortcode" id="audio-39776-3" preload="none" style="width: 100%;" controls="controls"><source type="audio/mpeg" src="https://t-van.net/wp-content/uploads/2019/06/03-ChuyenTinhLoveStory-NgocAnh-2561400.mp3?_=3" /><a href="https://t-van.net/wp-content/uploads/2019/06/03-ChuyenTinhLoveStory-NgocAnh-2561400.mp3">https://t-van.net/wp-content/uploads/2019/06/03-ChuyenTinhLoveStory-NgocAnh-2561400.mp3</a></audio>
<p>Ngoài ra, còn một phiên bản lời Việt khác có tựa đề <em>Tình Sử</em> của Ngọc Chánh, trước năm 1975 đã được Thanh Lan trình bày trong băng Phạm Mạnh Cương 25: “Tiếng hát Thanh Lan – Hát cho Tình Yêu và Tuổi Trẻ”.</p>
<p><strong>Phụ lục 4: <em>Tình sử</em>, Thanh Lan (pre 75)</strong></p>
<audio class="wp-audio-shortcode" id="audio-39776-4" preload="none" style="width: 100%;" controls="controls"><source type="audio/mpeg" src="https://t-van.net/wp-content/uploads/2019/06/04-TinhSuLoveStory-ThanhLan_dyfy.mp3?_=4" /><a href="https://t-van.net/wp-content/uploads/2019/06/04-TinhSuLoveStory-ThanhLan_dyfy.mp3">https://t-van.net/wp-content/uploads/2019/06/04-TinhSuLoveStory-ThanhLan_dyfy.mp3</a></audio>
<p>Sau này tại hải ngoại, phiên bản lời Việt <em>Tình Sử</em> đã được Ngọc Lan hát chung với phiên bản lời Pháp <em>Une histoire d’amour</em> trong CD The Gold Collection 32 của MÂY PRODUCTIONS, tuy nhiên tựa đề tiếng Việt <em>Tình Sử</em> đã bị đổi thành <em>Chuyện Tình</em>.</p>
<p>Hiện nay, hầu như tất cả mọi trang mạng tiếng Việt trong nước cũng như hải ngoại đều sử dụng tựa đề <em>Chuyện Tình</em> cho cả phiên bản của Phạm Duy lẫn Ngọc Chánh.</p>
<p>Sau cùng, qua tìm tòi trên Internet, chúng tôi cũng bắt gặp một phiên bản lời Việt được ghi là <em>Chuyện Tình</em> (Phạm Duy) nhưng với lời hát khác hoàn toàn, cho nên chúng tôi tạm thời ghi tác giả “khuyết danh”.</p>
<p><strong>Phụ lục 5: <em>Chuyện Tình </em>(LV: khuyết danh)  </strong></p>
<audio class="wp-audio-shortcode" id="audio-39776-5" preload="none" style="width: 100%;" controls="controls"><source type="audio/mpeg" src="https://t-van.net/wp-content/uploads/2019/06/05-Track-1.mp3?_=5" /><a href="https://t-van.net/wp-content/uploads/2019/06/05-Track-1.mp3">https://t-van.net/wp-content/uploads/2019/06/05-Track-1.mp3</a></audio>
<p>&nbsp;</p>
<p><strong>HOÀI NAM</strong></p>
<p><strong> </strong></p>
<p><strong> </strong></p>
<p><strong> </strong></p>
<p><strong> </strong></p>
<p><strong> </strong></p>
<p>©T.Vấn 2019</p>
]]></content:encoded>
					
					<wfw:commentRss>https://t-van.net/hoai-nam-nhung-ca-khuc-nhac-ngoai-quoc-loi-viet88-nhac-phim-where-do-i-begin-love-story-francis-lai-carl-sigman-chuyen-tinh/feed/</wfw:commentRss>
			<slash:comments>0</slash:comments>
		
		<enclosure url="https://t-van.net/wp-content/uploads/2019/06/01-Andy_Williams_Where_Do_I_Begin_Love_Story_mp3co.biz-Copy.mp3" length="7676127" type="audio/mpeg" />
<enclosure url="https://t-van.net/wp-content/uploads/2019/06/02-Andy-Williams-Love-Story-Andy-Williams-Nh-c-h¦a-t-u222.mp3" length="7918072" type="audio/mpeg" />
<enclosure url="https://t-van.net/wp-content/uploads/2019/06/03-ChuyenTinhLoveStory-NgocAnh-2561400.mp3" length="4170000" type="audio/mpeg" />
<enclosure url="https://t-van.net/wp-content/uploads/2019/06/04-TinhSuLoveStory-ThanhLan_dyfy.mp3" length="5113802" type="audio/mpeg" />
<enclosure url="https://t-van.net/wp-content/uploads/2019/06/05-Track-1.mp3" length="11646506" type="audio/mpeg" />

			</item>
		<item>
		<title>Hòai Nam: NHỮNG CA KHÚC NHẠC NGOẠI QUỐC LỜI VIỆT (84) &#8211; NHẠC PHIM – Moon River, Henri Mancini &#038; Johnny Mercer (Dưới Trăng, Sông Trăng)</title>
		<link>https://t-van.net/hoai-nam-nhung-ca-khuc-nhac-ngoai-quoc-loi-viet-84-nhac-phim-moon-river-henri-mancini-johnny-mercer-duoi-trang-song-trang/</link>
					<comments>https://t-van.net/hoai-nam-nhung-ca-khuc-nhac-ngoai-quoc-loi-viet-84-nhac-phim-moon-river-henri-mancini-johnny-mercer-duoi-trang-song-trang/#respond</comments>
		
		<dc:creator><![CDATA[Hòai-Nam]]></dc:creator>
		<pubDate>Mon, 18 Feb 2019 07:58:04 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Góc Văn]]></category>
		<category><![CDATA[hòai nam]]></category>
		<category><![CDATA[nhạc nq]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://7076e870b2.nxcli.io/?p=38538</guid>

					<description><![CDATA[Bài này chúng tôi viết về bản Moon River do nữ minh tinh Audrey Hepburn hát trong cuốn phim Breakfast at Tiffany&#8217;s &#8211; ca khúc đã đoạt giải Oscar năm 1962, và được ít nhất ba tác giả đặt lời Việt với tựa Dưới Trăng, Sông Trăng. Hiện nay, Moon River do Audrey Hepburn thu [&#8230;]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: center;"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2019/02/38684_lg.jpeg?strip=all"><img loading="lazy" decoding="async" class="aligncenter size-medium wp-image-38539" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2019/02/38684_lg-300x297.jpeg?strip=all" alt="" width="300" height="297" srcset="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2019/02/38684_lg-300x297.jpeg?strip=all 300w, https://cdn.t-van.net/2019/02/38684_lg-768x761.jpeg 768w, https://cdn.t-van.net/2019/02/38684_lg-1024x1015.jpeg 1024w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2019/02/38684_lg.jpeg?strip=all 1388w" sizes="(max-width: 300px) 100vw, 300px" /></a></p>
<p>Bài này chúng tôi viết về bản <em>Moon River</em> do nữ minh tinh Audrey Hepburn hát trong cuốn phim <em>Breakfast at Tiffany&#8217;s</em> &#8211; ca khúc đã đoạt giải Oscar năm 1962, và được ít nhất ba tác giả đặt lời Việt với tựa <em>Dưới Trăng, Sông Trăng</em>.</p>
<p>Hiện nay, <em>Moon River</em> do Audrey Hepburn thu âm đang đứng hạng tư trong danh sách 100 ca khúc trong phim hay nhất xưa nay do Viện Phim Ảnh Hoa Kỳ (AFI: American Film Institute) bình chọn. Tuy nhiên trước năm 1975, so với những ca khúc Âu Mỹ khác được yêu chuộng tại miền Nam VN, <em>Moon River</em> không mấy phổ biến. Nguyên nhân: về giai điệu, <em>Moon River</em> được soạn thể loại nhạc jazz lúc đó đang bị rock-and-roll lấn lướt; về lời hát, ca từ của <em>Moon River</em> quá “thơ mộng” và tư tưởng tương đối “cao”, giới trẻ nghe nhạc ngoại quốc (vốn chiếm đa số) không phải ai cũng hợp cảm quan, cũng đủ trình độ để thưởng thức.</p>
<p>Quan trọng không kém, mặc dù ngày ấy không ít người trẻ yêu phim ảnh Âu Mỹ ở Sài Gòn đã tôn Audrey Hepburn làm thần tượng, không phải cuốn phim nào của Audrey Hepburn cũng được nhập vào Sài Gòn cho nên đa số đã không biết tới cảnh để đời trong cuốn phim <em>Breakfast at Tiffany&#8217;s</em>: Audrey Hepburn ôm đàn ghi-ta ngồi trên thành cửa sổ cạnh cầu thang hát bản <em>Moon River</em>.</p>
<p><em>Breakfast at Tiffany&#8217;s</em> là một cuốn phim hài kịch lãng mạn của Mỹ, phỏng theo cuốn tiểu thuyết có cùng tựa đề của nhà văn <a href="https://en.wikipedia.org/wiki/Truman_Capote">Truman Capote</a> xuất bản năm <a href="https://en.wikipedia.org/wiki/Breakfast_at_Tiffany%27s_(novella)">1958, do </a><a href="https://en.wikipedia.org/wiki/Audrey_Hepburn">Audrey Hepburn</a> và <a href="https://en.wikipedia.org/wiki/George_Peppard">George Peppard</a> thủ vai chính, trình chiếu tháng 10/1961.</p>
<p>Cốt truyện <em>Breakfast at Tiffany&#8217;s</em> kể về <strong>Holly Golighly</strong> (Audrey Hepburn), một cô gái Texas với những nét đẹp độc đáo và duyên dáng, từ bé đã khao khát một cuộc đổi đời. Năm 13 tuổi, Holly trốn nhà ra đi với cậu em trai, sau đó lấy một người đàn ông thất học bằng tuổi cha mình.</p>
<p>Cuối cùng Holly bỏ trốn lên Nữu Ước với mong ước kiếm được một ông chồng giàu có để gia nhập vào xã hội thượng lưu chốn phồn hoa đô hội. Niềm vui duy nhất của cô trong ngày là vừa ăn sáng vừa “window shopping”: cứ vào lúc 6 giờ sáng, cô diện thật sang, đi tắc-xi mang theo cái bao giấy đựng thức ăn sáng tới trước cửa tiệm kim hoàn nổi tiếng Tiffany, vừa ăn bánh uống ca-phê vừa ngắm nghía những món trang sức lộng lẫy được trưng bày trong tiệm. Thói quen này được tác giả cuốn truyện gọi một cách khôi hài là “<em>Bữa ăn sáng </em><em>ở tiệm Tiffany&#8217;s</em>  (Breakfast at Tiffany&#8217;s).</p>
<p>Holly kiếm tiền bằng cách làm “bồ câu đưa thư” cho Sally Tomato, một “bố già” đang bóc lịch trong nhà đá. Có tiền, cô tổ chức những party thâu đêm trong apartment của mình để mong được hòa nhập vào xã hội thượng lưu.</p>
<p>Cho đến một ngày nọ, <strong>Paul Varjak</strong> (George Peppard), một văn sĩ trẻ, tới mướn căn apartment ở tầng trên. Paul mê viết văn, nhưng không thể kiếm sống bằng ngòi bút cho nên phải làm &#8220;trai bao&#8221; cho một bà nạ dòng&#8230; Đồng cảnh ngộ, Holly và Paul tìm được một sự đồng điệu, rồi tình cảm nảy sinh&#8230;</p>
<p>Trước tình yêu chân thật của Paul, Holly, cô gái từng cặp kè và ao ước lấy bất cứ một người đàn ông giàu có nào, đã hiểu ra rằng cuộc đời còn nhiều thứ đáng quý hơn bạc tiền. Cuối cùng, sau bao sóng gió và hiểu lầm là một “happy ending”&#8230;</p>
<p>* * *</p>
<p>Audrey Hepburn không phải nữ diễn viên đầu tiên được mời thủ diễn vai trò Holly Golighly. Khi bán tác quyền cuốn truyện cho hãng phim Paramount Studios, văn sĩ <a href="https://en.wikipedia.org/wiki/Truman_Capote">Truman Capote</a> cho biết ưu tiên lựa chọn của ông để thủ vai Holly Golighly là <strong>Marilyn Monroe</strong>; vì thế hãng Paramount đã yêu cầu nhà viết kịch bản George Axelrod chuyển thể tiểu thuyết thành phim sao cho phù hợp với nữ minh tinh này. Tuy nhiên, vị thầy diễn xuất của Marilyn Monroe là đạo diễn Lee Strasberg đã khuyên can, vì ông cho rằng việc thủ vai một cô gái thiếu đứng đắn sẽ phương hại tới sự nghiệp (một cách chính xác, Lee Strasberg đã gọi vai Holly Golighly là “lady of the evening”, đồng nghĩa với “lady of the night”: gái điếm).</p>
<p>Sau khi Marilyn Monroe từ chối, hãng phim đã mời <strong>Shirley McLaine</strong>, lúc đó vừa đoạt giải Oscar qua cuốn phim hài kịch lãng mạn<em>The Apartment</em> (1960), tuy nhiên vào cùng thời gian, Shirley McLaine cũng nhận được lời mời đóng cuốn phim <em>Two Loves</em> của hãng MGM, và Shirley đã chọn đóng cuốn phim này &#8211; cuốn phim mà về sau bà mô tả là “Cuốn phim tệ hại khủng khiếp mà hầu như không có ai nghe nói tới!”</p>
<p>Sau đó, hãng phim Paramount mời Audrey Hepburn. Hay tin này, văn sĩ Truman Capote than trời: ”Họ đã hoàn toàn đi ngược lại với mong muốn của tôi”.</p>
<p>Ngày ấy, không ít người đã đồng ý với Truman Capote: Audrey Hepburn vốn là một nữ diễn viên khả ái chuyên thủ diễn những vai “nhà lành”, thì không thích hợp với vai trò cô gái “chịu chơi” Holly Golightly!</p>
<p>* * *</p>
<p style="text-align: center;"><strong><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2019/02/519pjOPJqTL.jpg?strip=all"><img loading="lazy" decoding="async" class="aligncenter size-medium wp-image-38540" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2019/02/519pjOPJqTL-214x300.jpg?strip=all" alt="" width="214" height="300" srcset="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2019/02/519pjOPJqTL-214x300.jpg?strip=all 214w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2019/02/519pjOPJqTL.jpg?strip=all 357w" sizes="(max-width: 214px) 100vw, 214px" /></a> </strong></p>
<p style="text-align: center;"><strong>Audrey Hepburn (1929 – 1993)</strong></p>
<p><strong>Audrey Hepburn</strong> (1929 – 1993) tên thật là Audrey Hepburn-Ruston, là một nữ diễn viên Anh kiêm người mẫu, vũ công ballet.</p>
<p>Sinh thời, Audrey Hepburn không chỉ được xem là một nữ diễn viên hàng đầu của Thời vàng son của Hồ-ly-vọng (Hollywood&#8217;s Golden Age) mà còn là một thần tượng thời trang, được đưa vào Danh dự sảnh Ăn diện đẹp quốc tế (International Best-Dressed Hall of Fame).</p>
<p>Hiện nay, tên tuổi của Audrey Hepburn đang đứng hạng ba trong danh sách 100 nữ minh tinh của Thời vàng son do Viện Phim Ảnh Hoa Kỳ bình chọn, chỉ sau hai đàn chị Katharine Hepburn (1907 – 2003) và Bette Davis (1908 – 1989).</p>
<p>Audrey Hepburn-Ruston ra chào đời tại Brussels, thủ đô Vương quốc Bỉ, trong một gia đình thượng lưu; ông bố Joseph Victor Anthony Hepburn-Ruston, một công dân Anh từng giữ chức Tổng lãnh sự tại Semarang, một thuộc địa của Hòa-lan ở Nam Dương (Dutch East Indies); bà mẹ là nữ Nam tước Ella van Heemstra, ái nữ của Nam tước Asrnoud van Heemstra (của Đế quốc Áo trước kia), người từng giữ chức Thị trưởng Arnhem và Thống đốc Suriname, một thuộc địa của Hòa-lan ở Nam Mỹ. Trước khi lấy nhau, cha mẹ của Audrey Hepburn đều đã trải qua một cuộc hôn nhân.</p>
<p>Audrey Hepburn-Ruston sống buổi thiếu thời ở Bỉ, Anh quốc, Hòa-lan. Sau khi cha mẹ ly dị năm 1938, Audrey sống với mẹ; cô tỏ ra có năng khiếu đặc biệt về vũ ngay từ bậc tiểu học. Sau khi Anh quốc tuyên chiến với Đức quốc xã tháng 9/1939, bà Ella van Heemstra đưa con gái về Arnhem, Hòa-lan, vì hy vọng quốc gia này vốn giữ trung lập trong cuộc Đệ Nhất Thế Chiến nay sẽ không bị phát-xít Đức xâm lược.</p>
<p>Tuy nhiên chỉ mấy tháng sau, quốc gia này cũng bị xâm lược, toàn bộ tài sản của dòng họ van Heemstra ở Arnhem bị tịch thu. Một người dượng của Audrey bị quân Đức hành hình để dằn mặt “kháng chiến Hòa-lan” (Dutch Resistance), mặc dù ông không hề tham gia; hai người anh cùng mẹ khác cha của Audrey thì một người bị đưa vào trại tập trung lao động khổ sai, một người phải trốn chui trốn nhủi&#8230;</p>
<p>Audrey cùng bà mẹ Ella phải về miền quê tá túc ông ngoại (Nam tước Asrnoud van Heemstra), và từ đó bí mật tham gia các hoạt động yểm trợ kháng chiến chống phát-xít, thường là các buổi trình diễn vũ không có nhạc đệm (silence dance) để gây quỹ cho kháng chiến.</p>
<p>Sau cuộc đổ bộ của Đồng Minh lên Normandy tháng 6/1944, Hòa-lan đã gián tiếp hỗ trợ bằng các cuộc đình công của ngành hỏa xa. Để trả thù, phát-xít Đức đã phong tỏa tất cả mọi nguồn tiếp tế lương thực cũng như xăng dầu cho Hòa-lan, đưa tới nạn đói khủng khiếp “Dutch famine” vào mùa đông năm 1944. Trong nạn đói này, người dân của xứ sở hoa uất kim hương (tulip) trong đó có cả gia đình Nam tước Asrnoud van Heemstra đã phải “ăn hoa thay bột mì” (making flour out of tulip bulbs to bake cakes and biscuits).</p>
<p>Hậu quả, cô bé Audrey Hepburn-Ruston bị suy dinh dưỡng trầm trọng, đưa tới ba chứng bệnh sau đây: thiếu hồng huyết cầu, rối loạn hô hấp, và phù thũng. Về sau, cơ thể của Audrey không bao giờ hồi phục, vào lúc cân “nặng” nhất trong đời, cũng chỉ được 88 lbs (39.9 kg).</p>
<p>Thế Chiến kết thúc, Audrey được mẹ đưa lên thủ đô Amsterdam, thủ đô Hòa-lan. Vì tài sản đã bị mất hết trong chiến tranh, để kiếm sống “nữ Nam tước” Ella van Heemstra đã phải làm đầu bếp kiêm quản gia cho một gia đình giàu có.</p>
<p>Audrey được cho học vũ ballet với bà Sonia Gaskell (1904 – 1974), vị thầy ballet nổi tiếng, người có công sáng lập Học viện vũ ballet Hòa-lan và giữ chức Giám đốc nghệ thuật Đoàn vũ ballet quốc gia.</p>
<p>Năm 1948, Audrey xuất hiện lầu đầu tiên trên màn bạc qua vai một nữ tiếp viên hàng không trong cuốn phim giáo dục <em>Dutch in Seven Lessons</em>.</p>
<p>Cuối năm đó, Audrey được mẹ đưa về Anh quốc, tiếp tục theo học vũ ballet với Dame Marie Ramber (1888 – 1982), người sáng lập đoàn vũ Ballet Ramber nổi tiếng. Tại Luân-đôn, bà Ella van Heemstra phải làm đủ thứ công việc lặt vặt để kiếm sống, và Audrey đã phụ mẹ bằng cách làm người mẫu bán thời với cái tên đã được rút gọn: Audrey Hepburn.</p>
<p>Mặc dù Audrey tỏ ra có năng khiếu đặc biệt, Dame Marie Ramber cũng cho cô biết với thể lực yếu kém (hậu quả của suy dinh dưỡng trong Thế Chiến), cô không bao giờ có thể trở thành một nữ vũ công ballet hàng đầu (prima ballerina) được. Nghe lời khuyên của Dame Marie Ramber, Audrey bỏ ballet để theo đuổi kịch nghệ, khởi đầu với những vai ca viên (chorus girl) trên sân khấu West End, thủ đô kịch nghệ của Anh quốc. Trong thời gian này, Audrey Hepburn còn theo học hát với một vị thầy.</p>
<p>Năm 1950, Audrey Hepburn bắt đầu được thủ một số vai làm kiểng (cameo) trên màn bạc và truyền hình; qua năm 1951 được trao một vai phụ trong cuốn phim Anh &#8211; Pháp <em>Monte Carlo Baby</em> (<em>Nous Irons à Monte Carlo</em>), quay tại khách sạn Hôtel de Paris ở Monte Carlo, thủ phủ tiểu vương quốc Monaco.</p>
<p>Đúng vào thời gian này, nữ văn sĩ Pháp nổi tiếng <strong>Colette</strong> (1873 –  1954) đang ngụ tại khách sạn này và bà đã chấm Audrey Hepburn để thủ vai chính trong vở <em>Gigi</em> của mình trên sân khấu Broadway, Nữu Ước.</p>
<p><em>[Gigi là cuốn tiểu thuyết nổi tiếng nhất của Colette, trước đó đã được thực hiện thành phim năm 1948 với nữ diễn Leslie Caron trong vai chính. Tên “Colette” cũng được lấy để đặt cho một trường Pháp ở Sà</em><em>i</em><em> Gòn]</em></p>
<p>Ngay trong buổi diễn ra mắt tại rạp Fulton trong đêm 24/11/1952,</p>
<p>Audrey Hepburn đã được khán giả Mỹ hoan hô nhiệt liệt, được tạp chí Life và tờ Nữu Ước Thời Báo hết lời ca tụng. Vở diễn này được diễn ở Broadway 219 xuất trước khi lưu diễn tại Pittsburgh, Cleveland, Chicago, Detroit, Washington D.C., Los Angeles và San Francisco.</p>
<p>Qua vai chính trong <em>Gigi</em>, Audrey Hepburn đã được trao giải Theatre World Award dành cho diễn viên thủ vai chính lần đầu tiên trên sân khấu xuất sắc nhất, đồng thời được đạo diễn William Wyler lừng danh của Mỹ chọn để thủ vai chính trong cuốn phim hài kịch lãng mạn <em>Roman Holiday</em> (1953).</p>
<p><em>Roman Holiday</em>, ngày ấy chiếu tại miền Nam VN dưới tựa tiếng Pháp <em>Vacances Romaines</em>, kể chuyện nàng Công chúa Ann (hiểu ngầm là của Vương quốc Anh) trong chuyến công du Ý, chán ngán với những buổi lễ boring và sự ràng buộc, đã lén bỏ trốn khỏi sứ quán, gặp Joe, một chàng phóng viên Mỹ sống ở Ý (Gregory Peck thủ vai), và trải qua những cuộc phiêu lưu kỳ thú, để rồi trái tim rung động&#8230; Nhưng cuối cùng, Công chúa bắt buộc phải trở về với lầu son gác tía&#8230;</p>
<p>Thực ra lúc ban đầu, đạo diễn William Wyler muốn mời <strong>Elizabeth Taylor</strong> hoặc <strong>Jean Simmons</strong> (vai nữ chính trong phim <em>Spartacus</em>, chúng tôi đã nhắc tới trong bài viết về bản <em>Sad Movies</em>), nhưng vì cả đều bận đóng phim khác cho nên William Wyler mới phải tuyển một nữ diễn viên khác.</p>
<p>Không ngờ lựa chọn “second best” của William Wyler lại đem tới thành công ngoài sức tưởng tượng. Tại giải Oscar 1954, <em>Roman Holiday</em> đã đoạt ba giải: nữ diễn viên chính, kịch bản, và trang phục.</p>
<p>Đây là lần đầu tiên một nữ diễn viên đoạt Oscar vai chính trong cuốn phim đầu tiên (thủ vai chính) của mình; ngoài ra, qua cuốn phim này Audrey Hepburn còn đoạt giải nữ diễn viên vai chính xuất sắc tại các giải BAFTA (Điện ảnh Anh quốc), Trái Cầu Vàng, và giải của Các nhà bình phim Nữu Ước.</p>
<p>Năm 1999, <em>Roman Holiday</em> đã được đưa vào danh sách phim được bảo tồn của Thư viện Quốc hội Hoa Kỳ.</p>
<p>Cũng trong năm 1954, Audrey Hepburn đã đoạt giải Tony (kịch nghệ) qua vai chính trong vở <em>Ondine</em> trên sân khấu Broadway. Tiếp theo là những cuốn phim nổi tiếng khác, trong số đó có <em>Sabrina </em>(1954), <em>The Nun Story</em> (1959)&#8230;</p>
<p>Hiện nay, Audrey Hepburn được ghi nhận là một trong 15 diễn viên đã đoạt cả bốn đại giải của Hoa Kỳ: Oscar, Emmy (truyền hình) Tony và Trái Cầu Vàng.</p>
<p>* * *</p>
<p>Trở lại với Audrey Hepburn và cuốn phim <em>Breakfast at Tiffany&#8217;s</em>. Trước sự bất mãn của văn sĩ Truman Capote, tác giả cuốn truyện nguyên tác, và sự hoài nghi của những người cho rằng Audrey Hepburn là một nữ diễn viên sở trường về những vai “nhà lành” thì không thích hợp với vai trò cô gái “chịu chơi” Holly Golightly, người nữ diễn viên tài ba ấy đã cố gắng lột xác để chứng minh hãng phim biết chọn mặt gửi vàng!</p>
<p><em> </em>Mặc dù Audrey Hepburn chỉ được đề cử chứ không đoạt giải Oscar diễn xuất qua vai Holly Golightly, đa số nhà phê bình đã cho đây là vai trò khó khăn nhất trong cả sự nghiệp của cô. Nhưng Audrey Hepburn không chỉ thủ diễn một cách tuyệt vời mà còn có khả năng biến Holly Golightly trong phim trở thành một vật nhân vật khác hẳn Holly Golightly trong cuốn truyện nguyên tác!</p>
<p>Tuy chỉ được để cử năm giải Oscar &#8211; nữ diễn viên chính, kịch bản phóng tác, dàn dựng, nhạc đệm, ca khúc trong phim &#8211; và đoạt hai giải nhạc đệm, ca khúc trong phim &#8211; <em>Breakfast at Tiffany&#8217;s</em>  đã được đa số các nhà bình phim hết lời ca tụng (88% điểm Rotten Tomatoes), đặc biệt là tài nghệ của Audrey Hepburn, mà một nhà phê bình viết là “có sức khiến màn ảnh rực sáng”.</p>
<p>Năm 2002, <em>Breakfast at Tiffany&#8217;s</em>  đã được Viện Phim Ảnh Hoa Kỳ (AFI: American Film Institute) xếp hạng 61 trong danh sách 100 cuốn phim tình cảm hay nhất xưa nay; và tới năm 2012, được đưa vào danh sách phim ảnh được bảo tồn của Thư viện Quốc hội Hoa Kỳ.</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>* * *</p>
<p>Tới đây chúng tôi viết về nhạc phim của <em>Breakfast at Tiffany&#8217;s</em>  và bản <em>Moon River</em>.</p>
<p style="text-align: center;"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2019/02/henry-mancini-2.jpg?strip=all"><img loading="lazy" decoding="async" class="aligncenter size-medium wp-image-38541" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2019/02/henry-mancini-2-300x250.jpg?strip=all" alt="" width="300" height="250" srcset="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2019/02/henry-mancini-2-300x250.jpg?strip=all 300w, https://cdn.t-van.net/2019/02/henry-mancini-2-768x640.jpg 768w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2019/02/henry-mancini-2.jpg?strip=all 900w" sizes="(max-width: 300px) 100vw, 300px" /></a></p>
<p style="text-align: center;"><strong>Henry Mancini</strong> (1924-1994)</p>
<p>Nhạc phim của <em>Breakfast at Tiffany&#8217;s</em>  do<strong> Henry Mancini</strong> (1924-1994) soạn. Ông là một nhà soạn nhạc, nhạc trưởng, kiêm nhà soạn hòa âm phối khí nổi tiếng bậc nhất của Mỹ, đặc biệt trong lĩnh vực nhạc phim.</p>
<p>Trong sự nghiệp của mình, Henry Mancini đã soạn nhạc cho khoảng 150 cuốn phim và show truyền hình, phát hành trên 35 album, có trên 50 đĩa đơn (single) được lên Top.</p>
<p>Ông từng được trao tặng bốn giải Oscar và một giải Trái Cầu Vàng cho nhạc phim và ca khúc trong phim; ông giữ kỷ lục với 72 lần được xướng danh giải âm nhạc Grammy (và đoạt 20 giải).</p>
<p>Henry Mancini tên thật là Enrico Nicola Mancini, ra chào đời tại Little Italy, một khu của di dân Ý ở Cleveland, và lớn lên tại West Aliquippa, Pennsylvania, nơi cha ông là một công nhân trong nhà máy thép. Henry Mancini được cha dạy sáo (piccolo) từ năm lên 8, rồi hai cha con cùng chơi sáo trong ban nhạc Sons of Italy của di dân Ý ở Aliquippa. Năm 12 tuổi, Henry Mancini được học dương cầm. Sau khi tốt nghiệp trung học năm 1942, Henry Mancini được lên Nữu Ước theo học tại trường âm nhạc nổi tiếng Juilliard School of Music.</p>
<p>Nhưng chưa đầy một năm sau, Henry Mancini được lệnh gọi nhập ngũ, phục vụ trong Lục Quân Hoa Kỳ, tham chiến ở Âu châu.</p>
<p>Sau khi giải ngũ, qua đầu năm 1946 chàng nhạc sĩ 22 tuổi được chơi dương cầm và soạn hòa âm cho dàn nhạc nổi tiếng Glenn Miller Orchestra, lúc đó vừa được thành lập. Thời gian này, Henry Mancini may mắn được thọ giáo về hòa âm, đối điểm nơi hai vị danh sư từ Âu châu sang Hoa Kỳ tỵ nạn phát-xít là <strong>Ernst Krenek</strong> (Áo gốc Tiệp) và <strong>Mario Castelnuovo-Tedesco</strong> (Ý).</p>
<p>Năm 1952, Henri Mancini được hãng phim Universal Pictures ký hợp đồng soạn nhạc phim. Trong thời gian 6 năm kế tiếp, Henri Mancini đã soạn nhạc cho trên 100 cuốn phim, và được đề cử giải Oscar lần đầu tiên.</p>
<p>Năm 1958, Henri Mancini rời hãng bỏ Universal Pictures để trở thành một nhà soạn nhạc &amp; soạn hòa âm phối khí độc lập. Công việc đầu tiên của Henri Mancini là soạn nhạc cho loạt phim truyền hình <em>Peter Gunn</em> của đạo diễn kiêm nhà sản xuất phim <strong>Blake Edwards</strong>, bắt đầu cho một cuộc hợp tác tốt đẹp kéo dài 35 năm với 30 cuốn phim.</p>
<p>Năm 1959, nhạc phim của loạt phim truyền hình <em>Peter Gunn </em>đoạt giải âm nhạc Grammy lần đầu tiên dành cho cho thể loại nhạc phim. Rồi tới thành công của <em>Breakfast at Tiffany&#8217;s </em>và ca khúc<em> Moon River</em> năm 1961.</p>
<p>Cũng trong năm 1961, Henri Mancini còn soạn nhạc phim cho <em>Hatari!</em> (Danger), cuốn phim hài kịch phiêu lưu mạo hiểm lấy bối cảnh Phi Châu của đạo diễn <a href="https://en.wikipedia.org/wiki/Howard_Hawks">Howard Hawk</a>s do John Wayne thủ vai chính. Nhạc khúc <em>Baby Elephant Walk</em> trong cuốn phim này đã đoạt giải Grammy về Hòa âm phối khí (Best Instrumental Arrangement) năm 1962.</p>
<p>Theo các nhà phê bình, nhạc phim <em>Hatari!</em> là một thành công điển hình của Henry Mancini trong việc sử dụng chất liệu “jazz” để đưa vào nhạc phim, công việc mà ông là một trong những người đi tiên phong.</p>
<p><strong>VIDEO:</strong></p>
<p><strong> </strong><a href="https://www.youtube.com/watch?v=kRQ7Aej7PQk" target="_blank" rel="noopener"><strong>The Baby Elephant Walk from &#8220;Hatari&#8221; by Henry Mancini</strong></a></p>
<p>Qua năm 1962, Henri Mancini soạn nhạc phim cho cuốn phim được đánh giá cao nhất trong sự nghiệp của đạo diễn Blake Edwards: <em>Days of Wine and Roses</em>.</p>
<p><em>Days of Wine And Roses</em> nguyên là một vở kịch có cùng tựa (1958) của kịch tác gia JP Miller được chính ông viết thành kịch bản cho cuốn phim.</p>
<p>Đây là một cuốn phim tình cảm u ám, nói về  ảnh hưởng tai hại do rượu gây ra cho một hôn nhân hạnh phúc. Ca khúc trong phim có cùng tựa đề<em> Days of Wine And Roses</em>  do Johnny Mercer đặt lời hát.</p>
<p>Tựa đề<em> Days of Wine And Roses</em> được kịch tác gia JP Miller lấy từ một bài thơ của thi sĩ Anh Ernest Dowson (1867–1900), cũng là gợi ý cho lời hát của Johnny Mercer.</p>
<p><strong><em>Days of Wine And Roses</em></strong></p>
<p><em>The days of wine and roses laugh and run away like a child at play<br />
Through the meadow land toward a closing door<br />
A door marked &#8220;nevermore&#8221; that wasn&#8217;t there before</em></p>
<p><em>The lone-ly night discloses just a passing breeze filled with memories<br />
Of the golden smile that introduced me to<br />
The days of wine and roses and you</em></p>
<p><em>The days of wine and roses<br />
</em>[more instrumental-rest of the first verse]</p>
<p><em>The lonely &#8211; the night discloses just a passing breeze filled with memories</em><br />
<em>Of the golden smile that introduced me to</em><br />
<em>The days of wine and roses and you&#8230;</em></p>
<p><strong><em>VIDEO</em></strong></p>
<p><a href="https://www.youtube.com/watch?v=xE3Y4-hB-9g" target="_blank" rel="noopener"><strong><em> </em></strong><strong><em><u>[andy williams] days of wine and roses (lyrics) – YouTube</u></em></strong></a></p>
<p>Qua năm 1963, Henri Mancini soạn nhạc phim cho một tác phẩm để đời khác của Blake Edwards: <em>T</em><em>he Pink Panther</em>.</p>
<p><em>T</em><em>he Pink Panther</em> là một cuốn phim hài kịch giả tưởng kể về cuộc phiêu lưu của viên kim cương lớn nhất thế giới có tên là “The Pink Panther” và chủ nhân của nó là Dala, một nàng công chúa Ấn-độ lưu vong&#8230;, với sự góp mặt của một dàn diễn viên quốc tế: David Niven, Peter Sellers, Robert Wagner, Capucine, Claudia Cardinale&#8230; và nhân vật hoạt họa “The Pink Panther”. Sự thành công của <em>The </em><em>Pink Panther</em> đã được tiếp nối bằng 11 cuốn phim khác, và loạt phim hoạt họa ngắn với nhân vật chính là “The Pink Panther”.</p>
<p>Năm 2010, <em>T</em><em>he Pink Panther</em> (1963) đã được đưa vào danh sách phim ảnh bảo tồn của Thư viện Quốc hội Hoa Kỳ.</p>
<p>Mặc dù trong giải Oscar năm 1963, <em>T</em><em>he Pink Panther</em> đã phải nhường giải nhạc phim cho <em>Mary Poppins</em>, cuốn phim hài kịch ca nhạc bất hủ, nhưng nếu chỉ kể nhạc khúc chủ đề (movie theme) thì <em>T</em><em>he Pink Panther</em> được yêu chuộng, phổ biến hơn.</p>
<p><strong>VIDEO:</strong></p>
<p><a href="https://www.youtube.com/watch?v=Jpmrd_GdddI" target="_blank" rel="noopener"><strong><em>The Pink Panther (1963) &#8211; Main Title [720p]</em></strong></a></p>
<p>Tới đây, chúng tôi trở lại với <em>Moon River</em>, ca khúc Audrey Hepburn hát trong cuốn phim <em>Breakfast at Tiffany&#8217;s</em> và đã đoạt giải Oscar cho ca khúc trong phim năm 1962.</p>
<p>Nhạc phim của <em>Breakfast at Tiffany&#8217;s</em> do Henri Mancini soạn gồm 38 tiểu khúc (hoặc đoạn nhạc) và 11 ca khúc, trong đó có một ca khúc do nữ nhân vật chính Holly Golightly (Audrey Hepburn thủ vai) hát.</p>
<p>Lúc đầu, để khỏi phải bận tâm, hãng phim đề nghị để một nữ ca sĩ hát thế, Audrey Hepburn chỉ việc nhép miệng.</p>
<p><strong>VIẾT THÊM:</strong> Việc lồng tiếng hát của một nữ ca sĩ chuyên nghiệp thay cho nữ diễn viên trong phim rất phổ biến trong hai thập niên 1950, 1960. Công việc này nghe qua thì đơn giản nhưng với những nhà làm phim cầu toàn, tôn trọng khán giả lại khá phức tạp. Yếu tố quan trọng nhất là sự giống nhau, dù chỉ tương đối, giữa giọng của nữ ca sĩ hát thế và giọng của nữ diễn viên trong phim.</p>
<p>Chúng tôi còn nhớ trước năm 1975 tại miền Nam VN, trong cuốn phim <em>Chân Trời Tím</em>, khi Kim Vui hát hai bản <em>Nửa Hồn Thương Đau </em>và<em> Người Đi Qua Đời Tôi </em>của nhạc sĩ Phạm Đình Chương, thì khán giả lại được nghe tiếng hát của&#8230; Thái Thanh! Hai giọng hát, cách hát khác nhau một trời một vực, ai xem phim cũng phải bực mình, khó chịu.</p>
<p>Ngay tại Hoa Kỳ ngày ấy (1950-60), cũng chỉ có một vài nữ ca sĩ có khả năng sửa giọng và thay đổi cách hát cho phù hợp với giọng và cách hát của nữ diễn viên.</p>
<p>Trong số này, <strong>Mani Nixon</strong> (1930 &#8211; 2016), một nữ ca sĩ nhạc giao hưởng và opera, ca nhạc kịch với giọng soprano cao vút, được xem là người hát thế tài ba, hoàn hảo nhất.</p>
<p>Từ năm 1950 tới giữa thập niên 1960, Mani Nixon đã hát thế cho hàng chục nữ diễn viên, như Marilyn Monroe (phim <em>Gentlemen Prefer Blondes</em>), Deborah Kerr (<em>The King and I</em>, và <em>An Affair to Remember</em>), Janet Leigh (<em>Pepe), </em>Natalie Wood và Rita Moreno (<em>West Side Story</em>), Audrey Hepburn (<em>My Fair Lady</em>), Sophia Loren (<em>Boy on a Dolphin</em>), v.v&#8230;</p>
<p>Để giữ bí mật với khán giả, tên tuổi của người hát thế không được ghi ra trên màn ảnh, cho nên những ca sĩ này được gọi là “ghost  singer”.</p>
<p>* * *</p>
<p>Trước đề nghị của hãng phim lồng tiếng hát của một nữ ca sĩ thay cho Audrey Hepburn, Henri Mancini đã phản đối kịch liệt, bởi ông cho rằng nếu để Audrey Hepburn hát nhép, cảnh này sẽ không có “hồn”.</p>
<p>Nhưng Audrey Hepburn lại không phải một ca sĩ thực thụ, những gì thu thập được qua những buổi học hát hồi trẻ chỉ giúp cô hát đúng tông đúng nhịp, còn giọng hát với một âm vực giới hạn của cô trước sau vẫn thế; nói cách khác, cô không thể lên cao quá mà cũng không thể xuống thấp quá!</p>
<p>Vì thế, Henri Mancini đã phải xem lại cuốn phim <em>Funny Face</em> (1957) trong đó Audrey Hepburn thủ vai chính và hát bản <em>How Long Has This Been Going On</em> trước khi soạn một ca khúc với cung bậc nằm trong âm vực của cô. Theo lời kể lại của vợ ông, Henri Mancini đã mất tới sáu tuần lễ để viết ba nốt đầu; và khi đã tìm được ba nốt ấy, ông hoàn tất phần còn lại chỉ trong vòng 30 phút!</p>
<p>Phần nhạc không lời này cũng sẽ là nhạc khúc chủ đề (main theme) của cuốn phim, được sử dụng trong cảnh mở đầu, do dàn nhạc hòa tấu với tiếng khẩu cầm (harmonica) là chính.</p>
<p><strong>VIDEO:</strong></p>
<p><a href="https://www.youtube.com/watch?v=1JfS90u-1g8" target="_blank" rel="noopener"><strong><em>Breakfast at Tiffany&#8217;s Opening Scene – HQ</em></strong></a></p>
<p>Soạn phần nhạc xong, Henri Mancini trao Johnny Mercer, một nhà đặt lời hát vào hàng tiền bối rất nổi tiếng nhưng nay đã bớt ăn khách vì bị xem là “người của quá khứ”!</p>
<p style="text-align: center;"><strong> <a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2019/02/johnny-mercer.jpg?strip=all"><img loading="lazy" decoding="async" class="aligncenter size-medium wp-image-38542" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2019/02/johnny-mercer-300x300.jpg?strip=all" alt="" width="300" height="300" srcset="https://cdn.t-van.net/2019/02/johnny-mercer-150x150.jpg 150w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2019/02/johnny-mercer-300x300.jpg?strip=all 300w, https://cdn.t-van.net/2019/02/johnny-mercer-768x768.jpg 768w, https://cdn.t-van.net/2019/02/johnny-mercer-1024x1024.jpg 1024w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2019/02/johnny-mercer.jpg?strip=all 1200w" sizes="(max-width: 300px) 100vw, 300px" /></a></strong></p>
<p style="text-align: center;"><strong>Johnny Mercer</strong> (1909 – 1976)</p>
<p><strong> </strong><strong>Johnny Mercer</strong> (1909 – 1976) là một nhà soạn nhạc, đặt lời hát kiêm ca sĩ quê quán ở Savannah, tiểu bang Georgia, hành nghề tại Hồ-ly-vọng. Ông nổi tiếng nhất với việc đặt lời hát, được xem là một trong những người cuối cùng còn sót lại của thời “<strong>Tin Pan Alley”.</strong></p>
<p><em>[“Tin Pan Alley”, như chúng tôi đã viết trong bài Dẫn Nhập của Nhạc Phổ Thông, là nơi quy tụ của các nhà soạn nhạc và xuất bản nhạc tiên phong trong nền nhạc phổ thông Hoa Kỳ, nằm ở một vị trí ngày nay là West 28th Street, giữa Fifth và Sixth Avenue, Nữu Ước]</em></p>
<p>Từ năm 1933 tới đầu thập niên 1950, Johnny Mercer đã đặt lời hát cho rất nhiều ca khúc trong phim nổi tiếng và trong hai vở ca nhạc kịch trên sân khấu Broadway. Ông được đề cử giải Oscar cho ca khúc trong phim 18 lần, và đoạt giải bốn lần vào các năm 1947, 1952, 1962, và 1963.</p>
<p>Tổng cộng, trong sự nghiệp của mình Johnny Mercer đã đặt lời hát cho trên 1,500 ca khúc!</p>
<p>Năm 1956, một lần hiếm hoi trong đời, Johnny Mercer đã soạn cả nhạc lẫn lời hát cho hai ca khúc trong cuốn phim ca nhạc <em>Bernardine</em> do nam ca sĩ kiêm diễn viên <strong>Pat Boone</strong> thủ vai chính. Mặc dù không được đề cử trong giải Oscar hay bất cứ giải ca nhạc quan trọng nào, ca khúc chủ đề <em>Bernardine</em> do Pat Boone thu đĩa đã đứng No.1 trong danh sách đĩa bán chạy nhất do tạp chí Billboard thiết lập.</p>
<p>Chúng tôi còn nhớ sau khi cuốn phim <em>Bernardine</em> được chiếu tại Việt Nam vào khoảng năm 1961, 1962, bản <em>Bernardine</em> đã được đông đảo người yêu nhạc ngoại quốc ở Sài Gòn ưa chuộng, và Pat Boone đã trở thành “thần tượng nhà lành” của không ít cô gái ở Hòn Ngọc Viễn Đông.</p>
<p><strong>VIDEO:</strong></p>
<p><a href="https://www.youtube.com/watch?v=Mgmo9KSb1kE" target="_blank" rel="noopener"><strong>BERNARDINE &#8211; PAT BOONE</strong></a></p>
<p>Như chúng tôi đã viết ở một đoạn trên, Henry Mancini là một trong những người đi tiên phong trong việc sử dụng chất liệu “jazz” để đưa vào nhạc phim, vì thế ông đã mời đàn anh Johnny Mercer hợp tác trong việc viết lời hát cho ca khúc chủ đề của cuốn phim mà ông vừa soạn nhạc.</p>
<p>Henry Mancini chỉ cho Johnny Mercer biết ca khúc này sẽ được sử dụng trong cảnh Audrey Hepburn ôm đàn ghi-ta ngồi hát trên thành cửa sổ cạnh cầu thang, còn nội dung ca từ, ông để Johnny Mercer toàn quyền.</p>
<p>Sau đó, Johnny Mercer đã viết ba lời hát khác nhau, và cuối cùng chọn lời hát mà ông lấy cảm hứng qua hoài niệm một buổi đi dạo chơi trên sông gần ngôi nhà thời thơ ấu của ông ở Savannah, tiểu bang Georgia trong một đêm trăng. Bởi ông cho rằng đây cũng là tâm trạng của nhân vật Holly Golightly (Audrey Hepburn), một cô gái gốc Texas sống ở Nữu Ước, ngồi ôm đàn hồi tưởng những ngày ấu thơ&#8230;</p>
<p>Lời hát chỉ có 10 câu ngắn ngủi, không cầu kỳ nhưng kết hợp với dòng nhạc một cách tuyệt vời:</p>
<p style="text-align: center;"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2019/02/Moon-River.jpg?strip=all"><img loading="lazy" decoding="async" class="aligncenter size-medium wp-image-38543" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2019/02/Moon-River-300x200.jpg?strip=all" alt="" width="300" height="200" srcset="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2019/02/Moon-River-300x200.jpg?strip=all 300w, https://cdn.t-van.net/2019/02/Moon-River-768x511.jpg 768w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2019/02/Moon-River.jpg?strip=all 1015w" sizes="(max-width: 300px) 100vw, 300px" /></a></p>
<p><em><strong>Moon River</strong></em></p>
<p><em> </em><em>Moon river, wider than a mile</em></p>
<p><em>I’m crossing you in style someday</em></p>
<p><em>Oh dream maker, you heart breaker</em></p>
<p><em>Wherever you’re going</em></p>
<p><em>I’m going your way</em></p>
<p><em>Two drifters off to see the world</em></p>
<p><em>There’s such a lot of world to see</em></p>
<p><em>We’re after the same rainbow’s end</em></p>
<p><em>Waiting round the bend</em></p>
<p><em>My huckleberry friend</em></p>
<p><em>Moon river, and me</em></p>
<p><strong><em>VIDEO:</em></strong></p>
<p><strong><em> </em></strong><a href="https://www.youtube.com/watch?v=zHxN2ZDp4vo" target="_blank" rel="noopener"><strong><em>Breakfast at Tiffany&#8217;s &#8211; Audrey Hepburn Sings Moon River &#8211; BEST QUALITY</em></strong></a></p>
<p>Trong giải Oscar năm 1962, <em>Moon River</em> đã đem lại giải Oscar đầu tiên cho Henri Mancini và thứ ba cho Johnny Mercer. Tại giải âm nhạc Grammy cùng năm, <em>Moon River</em> đã đoạt hai giải quan trọng nhất: Ca khúc trong năm (Song of the Year) và Đĩa hát trong năm (Record of the Year).</p>
<p>Riêng với Johnny Mercer, <em>Moon River</em> đã đưa tên tuổi của ông trở lại vị trí hàng đầu. Về sau, để vinh danh “người con yêu của Savannah” người ta đã đặt tên cho một cái vịnh nhỏ ở Savannah, Georgia là “Moon River”, để rồi cả vùng này được gọi là “Moon River District”, nơi có nhà hàng “Moon River Restaurant”, hãng bia  “Moon River  Brewing Company” với một “beer garden” cho du khách (kiêm tửu khách) thập phương&#8230;</p>
<p>Tính tới nay, <em>Moon River</em> đã được trên 500 ca sĩ nổi tiếng thu đĩa. Từ Andy Williams, Louis Armstrong, Frank Sinatra tới Elton John, Rod Stewart&#8230;, từ Judy Garland, Barbra Streisand&#8230; tới Sarah Vaughan, Sarah Brightman, Amy Winehouse&#8230;</p>
<p>Trong số này, phiên bản của <strong>Andy Williams</strong>, thu âm năm 1961, và được ông hát trong giải Oscar 1962, được nhiều người yêu chuộng nhất.</p>
<p>Riêng Andy Williams, ông đã xem <em>Moon River</em> như ca khúc “cầu chứng” của mình. Đây là ca khúc mở đầu mỗi tập của show truyền hình <em>The Andy Williams Show</em> (1962 &#8211; 1971) của ông, và được sử dụng làm tựa đề album tập hợp những tình khúc hay nhất của ông, cũng như cuốn hồi ký “<em>Moon River&#8221; and Me</em>, và tên của công ty sản xuất âm nhạc, tên nhà hát do ông làm chủ ở Branson, Missouri.</p>
<p><strong>Phụ lục 1: <em>Moon River</em>, </strong><strong>Andy Williams</strong></p>
<audio class="wp-audio-shortcode" id="audio-38538-6" preload="none" style="width: 100%;" controls="controls"><source type="audio/mpeg" src="https://t-van.net/wp-content/uploads/2019/02/Moon-River-Andy-Williams-Nh-c-Anh-222.mp3?_=6" /><a href="https://t-van.net/wp-content/uploads/2019/02/Moon-River-Andy-Williams-Nh-c-Anh-222.mp3">https://t-van.net/wp-content/uploads/2019/02/Moon-River-Andy-Williams-Nh-c-Anh-222.mp3</a></audio>
<p><strong>VIDEO:</strong></p>
<p><a href="https://www.youtube.com/watch?v=LK4pmJQ6zgM" target="_blank" rel="noopener"><u><strong>Moon River (From The Andy Williams Show) &#8211; Amazon.com</strong></u></a></p>
<p><a href="https://www.youtube.com/watch?v=kK2v6gNnmu8" target="_blank" rel="noopener"><strong><u>Sarah Brightman &#8211; Moon River &#8211; YouTube</u></strong></a></p>
<p>Trước năm 1975 tại Sài Gòn, <em>Moon River</em> được Phạm Duy đặt lời Việt với tựa <em>Dưới trăng</em>, được Tuấn Ngọc trình bày trong băng <em>Nhạc trẻ 3.</em></p>
<p><em> </em><em><strong>Dưới Trăng</strong></em></p>
<p><em>Ngồi dưới trăng, lắng im nghe lòng ta</em></p>
<p><em>Thổn thức bao chuyện ngày qua sầu đau</em></p>
<p><em>Hỡi người dấu yêu, sao đành lỡ quên</em></p>
<p><em>Sao đành vỡ tan như cánh chim lìa bay</em></p>
<p><em>Lòng đắm say những khi ta gần nhau</em></p>
<p><em>Ngồi dưới ánh trăng dịu êm cùng mơ</em></p>
<p><em>Con thuyền trôi về đâu dưới trăng vàng</em></p>
<p><em>Cớ sao một mình ta</em></p>
<p><em>Ngồi dưới ánh trăng lẻ loi</em></p>
<p><em>Buồn vấn vương, chán chường</em></p>
<p><strong>Phụ lục 2: <em>Dưới Trăng</em>, Tuấn Ngọc</strong></p>
<audio class="wp-audio-shortcode" id="audio-38538-7" preload="none" style="width: 100%;" controls="controls"><source type="audio/mpeg" src="https://t-van.net/wp-content/uploads/2019/02/Duoi-Trang-Tuan-Ngoc_3j6jb.mp3?_=7" /><a href="https://t-van.net/wp-content/uploads/2019/02/Duoi-Trang-Tuan-Ngoc_3j6jb.mp3">https://t-van.net/wp-content/uploads/2019/02/Duoi-Trang-Tuan-Ngoc_3j6jb.mp3</a></audio>
<p>Ngoài ra, theo tạp chí Trẻ (Trẻ Magazine) xuất bản tại Texas, Hoa Kỳ, trước năm 1975 Nguyễn Ðình Toàn cũng đặt lời Việt cho <em>Moon River </em>với tựa<em> Sông Trăng</em>, tuy nhiên tác giả bài báo cho biết không tìm ra bản gốc và cũng không biết đã có ca sĩ nào thu âm hay chưa. Lời hát của Nguyễn Ðình Toàn được tạp chí Trẻ ghi lại như sau:</p>
<p><em><strong>Sông Trăng</strong></em></p>
<p><em>Dòng nước trôi, cuốn theo muôn vạt trăng</em></p>
<p><em>Thầm nhắc ta hãy vượt sông một ngày</em></p>
<p><em>Ði tìm bóng xưa êm đềm</em></p>
<p><em>Ngẩn ngơ, hỡi dòng sông</em></p>
<p><em>Trôi tới đâu ta cũng theo mà đi</em></p>
<p><em>Còn nhớ chăng, hỡi em muôn trùng xa</em></p>
<p><em>Ngày chúng ta đôi trẻ thơ nhìn đời</em></p>
<p><em>Ôi đời vui trăm lối, có ai ngờ</em></p>
<p><em>Dưới chân cầu vồng kia</em></p>
<p><em>Còn chốn nào cho người xa</em></p>
<p><em>Tìm thấy nhau một lần…</em></p>
<p>Cuối cùng, trên YouTube, chúng tôi cũng thấy phổ biến một video clip lời Việt của tác giả Nguyễn Hoàng Đô, do “Quỳnh Dao Paris” trình bày.</p>
<p><strong>VIDEO:</strong></p>
<p><a href="https://youtu.be/1PBWBcl9mvM" target="_blank" rel="noopener"><strong><em>Sông Trăng (Moon River)</em></strong></a></p>
<p>&nbsp;</p>
<p><strong>HOÀI NAM</strong></p>
<p><strong> </strong></p>
<p><strong> </strong></p>
<p><strong> </strong></p>
<p><strong> </strong></p>
<p><strong> </strong></p>
<p><strong> </strong></p>
<p><strong> </strong></p>
<p><strong> </strong></p>
<p><strong> </strong></p>
<p><strong> </strong></p>
<p>©T.Vấn 2019</p>
]]></content:encoded>
					
					<wfw:commentRss>https://t-van.net/hoai-nam-nhung-ca-khuc-nhac-ngoai-quoc-loi-viet-84-nhac-phim-moon-river-henri-mancini-johnny-mercer-duoi-trang-song-trang/feed/</wfw:commentRss>
			<slash:comments>0</slash:comments>
		
		<enclosure url="https://t-van.net/wp-content/uploads/2019/02/Moon-River-Andy-Williams-Nh-c-Anh-222.mp3" length="2690847" type="audio/mpeg" />
<enclosure url="https://t-van.net/wp-content/uploads/2019/02/Duoi-Trang-Tuan-Ngoc_3j6jb.mp3" length="3846932" type="audio/mpeg" />

			</item>
		<item>
		<title>Hoài Nam: NHỮNG CA KHÚC NHẠC NGOẠI QUỐC LỜI VIỆT(82) &#8211; NHẠC PHIM – Ta Pedia tou Pirea /Never On Sunday, Manos Hadjidakis &#038; Billy Towne (Tình Nghèo)</title>
		<link>https://t-van.net/hoai-nam-nhung-ca-khuc-nhac-ngoai-quoc-loi-viet82-nhac-phim-ta-pedia-tou-pirea-never-on-sunday-manos-hadjidakis-billy-towne-tinh-ngheo/</link>
					<comments>https://t-van.net/hoai-nam-nhung-ca-khuc-nhac-ngoai-quoc-loi-viet82-nhac-phim-ta-pedia-tou-pirea-never-on-sunday-manos-hadjidakis-billy-towne-tinh-ngheo/#respond</comments>
		
		<dc:creator><![CDATA[Hòai-Nam]]></dc:creator>
		<pubDate>Sat, 29 Dec 2018 07:07:12 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Góc Văn]]></category>
		<category><![CDATA[hòai nam]]></category>
		<category><![CDATA[nhạc nq]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://7076e870b2.nxcli.io/?p=38082</guid>

					<description><![CDATA[Tiếp tục giới thiệu những ca khúc trong phim, hoặc từ nhạc phim được đặt lời Việt, bài này chúng tôi viết về bản Never on Sunday, nguyên là ca khúc Hy-lạp Ta Pedia tou Pirea trong cuốn phim Never On Sunday, đã đoạt giải Oscar cho ca khúc trong phim năm 1960, được Phạm [&#8230;]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: center;"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2018/12/51i-nY1WiKL._SX466_.jpg?strip=all"><img loading="lazy" decoding="async" class="aligncenter size-medium wp-image-38083" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2018/12/51i-nY1WiKL._SX466_-300x300.jpg?strip=all" alt="" width="300" height="300" srcset="https://cdn.t-van.net/2018/12/51i-nY1WiKL._SX466_-150x150.jpg 150w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2018/12/51i-nY1WiKL._SX466_-300x300.jpg?strip=all 300w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2018/12/51i-nY1WiKL._SX466_.jpg?strip=all 466w" sizes="(max-width: 300px) 100vw, 300px" /></a></p>
<p>Tiếp tục giới thiệu những ca khúc trong phim, hoặc từ nhạc phim được đặt lời Việt, bài này chúng tôi viết về bản <em>Never on Sunday</em>, nguyên là ca khúc Hy-lạp <em>Ta Pedia tou Pirea</em> trong cuốn phim Never On Sunday, đã đoạt giải Oscar cho ca khúc trong phim năm 1960, được Phạm Duy đặt lời Việt với tựa <em>Tình Nghèo</em>.</p>
<p>Trở lại với những năm cuối thập niên 1950, “Ông vua nhạc rock” Elvis Presley bắt đầu làm mưa gió trên màn bạc với những ca khúc như <em>Love Me Tender</em> (1956), <em>Loving You</em> (1957), <em>Jailhouse Rock</em> (1957)&#8230; qua những cuốn phim mang cùng tựa đề. Rất tiếc ngày ấy, giới mộ điệu ở Sài Gòn chỉ được thưởng thức những ca khúc này qua làn sóng điện chứ không được xem phim.</p>
<p><strong>VIDEO:</strong></p>
<p><strong> </strong><a href="https://www.youtube.com/watch?v=093GjYcDg-4" target="_blank" rel="noopener"><strong>Elvis Presley &#8211; Love Me Tender (1956) – YouTube</strong></a></p>
<p>Nguyên nhân vì vào thời gian này, các nhà phát hành phim tại miền Nam VN chưa có khả năng tài chính để nhập phim trực tiếp từ Hoa Kỳ, Anh Quốc, cho nên hầu như tất cả mọi cuốn phim Anh, Mỹ được nhập vào miền Nam VN đều phải qua ngả Pháp Quốc, nghĩa là đã được chuyển âm sang tiếng Pháp, sau đó mới được đưa sang những nước “nghèo” nói tiếng Pháp, hoặc chịu ảnh hưởng văn hóa Pháp.</p>
<p>Đó cũng là nguyên nhân mọi cuốn phim Anh, Mỹ được chiếu tại miền Nam VN ngày ấy đều có tựa đề bằng tiếng Pháp. Thí dụ:</p>
<p>&#8211; <em>Gone with the Wind / Autant en emporte le vent / Cuốn theo chiều gió</em> (1939)</p>
<p><em>&#8211; Waterloo Bridge</em> <em>/ La valse dans l’ombre / Vũ điệu trong bóng mờ </em>(1940)</p>
<p><em>&#8211; Magnificent Seven / Les sept mercenaires / Bảy tay súng oai hùng</em> (1960)</p>
<p>Trong khi đó, những cuốn phim của Pháp (hoặc của Ý, Tây-ban-nha nói tiếng Pháp) thì được nhập trực tiếp vào chứ không phải đi đường vòng, cho nên chỉ 1, 2 năm sau khi phát hành đã được chiếu tại Sài Gòn, trong số này có phim <em>La Violetera</em> (1958), trong đó nữ nhân vật chính hát ca khúc có cùng tựa. <em>La Violetera</em>, tiếng Tây-ban-nha có nghĩa là cô gái bán hoa tím ngoài đường phố, không phải một ca khúc đoạt giải Oscar cho ca khúc trong phim, cũng không phải ca khúc được viết riêng cho cuốn phim <em>La Violetera</em>, nhưng phải nhìn nhận nhờ cuốn phim <em>La Violetera</em> (1958) ca khúc này mới đạt tới đỉnh cao của nó.</p>
<p><em>La Violetera</em><em> thuộc thể loại “copla” (ca khúc phổ thông có lời hát như thơ) do nhà soạn nhạc nổi tiếng José Padilla (1889-1960) và văn sĩ Eduardo Montesinos (1868-1930) sáng tác tại Paris năm 1914. Sau khi được đệ nhất minh tinh kiêm nữ ca sĩ <strong>Raquel Meller</strong> (1888-1962) của </em>Tây-ban-nha <em>thu đĩa đã được nhiều người biết tới. </em></p>
<p><em> </em>Một trong những người ái mộ tài sắc của Raquel Meller chính là <strong>Charlie Chaplin</strong>. Trong một lần gặp nhau tại Los Angeles, ông đã cố thuyết phục Raquel Meller đóng phim của ông nhưng bị từ chối. Tuy nhiên Charlie Chaplin vẫn không quên ca khúc <em>La Violetera</em> do Raquel Meller<em> hát và đã sử dụng trong cuốn phim </em><em>City Lights</em><em> do ông thực hiện năm 1931</em>.</p>
<p>Như chúng tôi đã viết trong một bài trước đây, nữ nhân vật chính trong <em>City Lights</em> là cô gái mù bán hoa tím ở góc phố do Virginia Cherill thủ diễn. Trong cuốn phim này cô đã hát bản <em>La Violetera</em><em> do Francia Luban đặt lời Anh với tựa </em><em>Won’t Somebody Buy My Violets?</em><em> (Không ai mua hoa tím của em sao?)</em></p>
<p><em> </em><em>City Lights</em> cũng là cuốn phim đầu tiên Charlie Chaplin đích thân soạn toàn bộ nhạc phim (trừ bản <em>La Violetera</em><em>)</em> và đã được các nhà phê bình hết lời ca tụng, riêng ca khúc <em>La Violetera</em> do Virginia Cherill hát trong phim đã không gây được tiếng vang.</p>
<p>Tới năm 1956, nữ ca sĩ Pháp <strong>Dalida</strong>, lúc đó mới vào nghề, hát bản <em>La Violetera</em> lời Pháp và Tây-ban-nha trong đĩa 45 vòng thứ hai của cô và chỉ đạt thành công tương đối (lúc đó Dalida chưa nổi tiếng với bản <em>Bambino</em>).</p>
<p><strong>VIDEO:</strong><strong>       </strong></p>
<p><a href="https://www.youtube.com/watch?v=ryCCnk2JdRk" target="_blank" rel="noopener"><strong>DALIDA &#8211; LA VIOLETERA (1956)</strong></a></p>
<p>Phải đợi tới năm 1958, sau khi <em>La Violetera</em> được nữ minh tinh Tây-ban-nha <strong>Sara Montiel</strong> hát trong cuốn phim tình cảm bi lụy có cùng tựa đề, ca khúc này mới thực sự nổi tiếng quốc tế.</p>
<p><em>La Violetera</em>, tựa tiếng Anh là <em>The Violet Seller</em>, là một sản phẩm hỗn hợp Ý &#8211; Tây-ban-nha, do Sara Montiel và hai nam diễn viên Raf Vallone (Ý), Frank Villard (Pháp) thủ vai chính.</p>
<p><em>La Violetera</em> được chiếu tại Sài Gòn khoảng năm 1960. Mặc dù phim  được đặt tựa tiếng Việt “Màu tím hoa tim” nhưng theo sự hiểu biết của chúng tôi, ngày ấy đã không có ai đặt lời Việt cho ca khúc này.</p>
<p><strong>VIDEO:</strong></p>
<p><a href="https://www.youtube.com/watch?v=I1Rll1KKSB8" target="_blank" rel="noopener"><strong>Sara Montiel &#8211; La Violetera (1958) HD</strong></a></p>
<p>Sau đó <em>La Violetera</em> đã đem lại thành công cho nhiều nữ danh ca khác, như Montserrat Caballé (opera, Tây-ban-nha), Gigliola Cinquetti (Ý), Connie Francis (Mỹ), Nana Mouskouri (Hy-lạp), v.v&#8230;</p>
<p><em>La Violetera</em> cũng được sử dụng trong nhiều cuốn phim nổi tiếng, như <em>All Night Long</em> (1981) của đạo diễn Jean-Claude Tramont, do Gene Hackman và Barbra Streisand thủ vai chính, <em>Tâm trạng yêu đương </em>(In the Mood of Love, 2000) của đạo diễn Vương Gia Vệ, với Lương Triều Vĩ và Trương Mạn Ngọc&#8230;</p>
<p>Năm 1991, để tưởng nhớ nhà soạn nhạc José Padilla, điêu khắc gia Santiago de Santiago đã tạc pho tượng <em>La Violetera</em>, và tới năm 2003, đã được an vị vĩnh viễn tại công viên Los Jardines de Las Vistillas ỏ Madrid, thủ đô Tây-ban-nha.</p>
<p>Năm 1966, một pho tượng nữ minh tinh kiêm ca sĩ Raquel Meller trong trang phục cô gái bán hoa tím cùng với bồn phun nước Raquel Meller Fountain đã được khánh thành tại quảng trường Carrer Nou le la Ramba ở thành phố Barcelona.</p>
<p><em>La Violetera</em> (nguyên tác viết theo thể điệu Habanera) còn được dàn nhạc The Tango Project soạn lại theo thể điệu Tango, và tới năm 1992 đã được sử dụng trong cuốn phim <em>Scent of a Woman</em> trong đó nhân vật chính là vị Trung tá mù (giải ngũ) do Al Pacino thủ vai đã biểu diễn nhảy Tango tuyệt đẹp (trong video clip dưới đây có hình pho tượng La Violetera ở Madrid).</p>
<p><strong>VIDEO:</strong></p>
<p><a href="https://www.youtube.com/watch?v=SaMDjDpo0B4" target="_blank" rel="noopener"><strong> The Tango Project &#8211; La Violetera</strong></a></p>
<p>Sau <em>La Violetera</em> (1958), qua năm 1959, thêm một ca khúc cũ khác đã trở nên phổ biến nhờ được hát trong một cuốn phim mới. Đó là bản <em>Summertime </em>trong phim<em> Porgy and Bess.</em></p>
<p><em>Summertime</em> nguyên là một khúc để hát solo (aria) trong vở opera <em>Porgy and Bess</em> năm 1935 của nhà soạn nhạc <strong>George <span id="yiv0110430706yui_3_16_0_ym19_1_1546079547344_2526" style="font-family: Tahoma;"><b id="yiv0110430706yui_3_16_0_ym19_1_1546079547344_2528"><span id="yiv0110430706yui_3_16_0_ym19_1_1546079547344_2529" lang="EN-AU">Gershwin</span></b></span> (</strong>1898 – 1937), do DuBose và Dorothy Heyward, cùng Ira Gershwin đặt lời hát.</p>
<p>Trong cuốn phim <em>Porgy and Bess</em> thực hiện năm 1959, nữ diễn viên chính Dorothy Dandridge đã nhép miệng theo tiếng hát của Adele Addison (1925 &#8211; ), nữ danh ca soprano gốc Phi châu nổi tiếng của Hoa Kỳ.</p>
<p><strong>VIDEO:</strong></p>
<p><strong> </strong><a href="https://www.youtube.com/watch?v=O7-Qa92Rzbk" target="_blank" rel="noopener"><strong>“Summertime,” <em>Porgy and Bess, </em>1959</strong></a></p>
<p>Về sau, <em>Summertime </em>được soạn lại cho nhạc jazz, và trở thành một trong những ca khúc/nhạc khúc phổ biến hàng đầu của thể loại này.</p>
<p><strong>VIDEO:</strong></p>
<p><strong> </strong><a href="https://www.youtube.com/watch?v=9HPo0ZsQzGw" target="_blank" rel="noopener"><strong>Kenny G &#8211; Summertime</strong></a></p>
<p>Tới đây, chúng tôi viết về bản <em>Never on Sunday</em>, ca khúc đoạt giải Oscar cho ca khúc trong phim năm 1960.</p>
<p><em>Never On Sunday </em>là tựa tiếng Anh của ca khúc<em> Ta Pedia tou Pirea</em> (The Children of Piraeus &#8211; Những người con của thành phố cảng Piraeus), một sáng tác của nhà soạn nhạc Manos Hadjidakis nổi tiếng của Hy-lạp, được Billy Towne đặt lời Anh với tựa <em>Never on Sunday</em>.</p>
<p style="text-align: center;"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2018/12/Manos_Hadjidakis.jpg?strip=all"><img loading="lazy" decoding="async" class="aligncenter size-medium wp-image-38086" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2018/12/Manos_Hadjidakis-300x268.jpg?strip=all" alt="" width="300" height="268" srcset="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2018/12/Manos_Hadjidakis-300x268.jpg?strip=all 300w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2018/12/Manos_Hadjidakis.jpg?strip=all 360w" sizes="(max-width: 300px) 100vw, 300px" /></a></p>
<p style="text-align: center;"><strong>Manos Hadjidakis</strong> (1925-1994)</p>
<p>Như chúng tôi đã viết trong phần Nhạc Pháp, <strong>Manos Hadjidakis</strong> (1925-1994) là người có công đầu trong việc “tây phương hóa” nền <em>nhạc dân gian vốn mang nặng âm hưởng đông phương của Hy-lạp.</em></p>
<p>Ông cũng chính là người đã khám phá ra <strong>Nana Mouskouri</strong> khi cô đang trình diễn tại một hội quán địa phương ở Nhã Điển, và giúp cô nổi tiếng, đoạt nhiều giải thưởng với những ca khúc do ông sáng tác.</p>
<p>Năm 1960, ông viết ca khúc <em>Ta Pedia tou Pirea</em>, nội dung là tâm sự của Ilya, một cô gái điếm tốt bụng ở Piraeus, yêu đời và yêu quê hương, buôn hương bán phấn nhưng vẫn mong có ngày gặp được một người đàn ông xứng đáng để trao thân gửi phận.</p>
<p>Dựa vào nội dung ca khúc này, đạo diễn kiêm diễn viên kiêm nhà sản xuất phim Mỹ Jules Dassin đã viết thành kịch bản cho cuốn phim hài kịch lãng mạn <em>Never on Sunday</em>, do ông sản xuất, đạo diễn và thủ vai nam nhân vật chính.</p>
<p><strong>Jules Dassin</strong> (1911-2008) là một nhân tài trong nền điện ảnh còn thiên tả còn hơn cả <strong>Charlie Chaplin</strong> bởi vì ông từng là thành viên Đảng Cộng Sản Mỹ. Cha mẹ là di dân gốc Do-thái tới từ Liên Xô, Jules Dassin lớn lên ở khu Harlem, Nữu Ước, gia nhập một tổ chức thanh thiếu niên Do-thái thiên tả, rồi vào Đảng Cộng Sản Mỹ từ đầu thập niên 1930. Nhưng tới khi Liên Xô ký hiệp ước bất tương xâm với phát-xít Đức vào năm 1939, thường được gọi là <em>Molotov–Ribbentrop Pact</em>, Jules Dassin đã rời bỏ Đảng Cộng Sản Mỹ để bày tỏ thái độ.</p>
<p>Jules Dassin khởi nghiệp với tư cách diễn viên trong một đoàn kịch của người Do-thái lưu vong (Yiddish), rồi bước sang lĩnh vực điện ảnh, trở thành một trong những nhà làm phim hàng đầu của điện ảnh Mỹ quốc thời hậu chiến.</p>
<p style="text-align: center;"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2018/12/dassin-mercouri.jpg?strip=all"><img loading="lazy" decoding="async" class="aligncenter wp-image-38085" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2018/12/dassin-mercouri-300x169.jpg?strip=all" alt="" width="332" height="187" srcset="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2018/12/dassin-mercouri-300x169.jpg?strip=all 300w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2018/12/dassin-mercouri.jpg?strip=all 620w" sizes="(max-width: 332px) 100vw, 332px" /></a></p>
<p style="text-align: center;"><strong>Melina Mercouri</strong> (1920-1994)  và <strong>Jules Dassin</strong> (1911-2008)</p>
<p>Tuy nhiên, vì “quá khứ cộng sản”, Jules Dassin đã bị các nhà sản xuất nhìn với cặp mắt e dè, nghi ngại. Cũng cần nhắc lại, khoảng thời gian những năm cuối thập niên 1940 đầu thập niên 1950, “chủ nghĩa McCarthy” (do Thượng nghị sĩ Cộng Hòa Joseph McCarthy, 1908-1957, đề xướng) đã gây ra những xáo trộn, bất ổn trong kỹ nghệ điện ảnh của Hoa Kỳ, nhiều nhân vật tên tuổi có lập trường thiên tả đã bị ủy ban điều tra của quốc hội (Home Un-American Activites Committee) đưa vào sổ bìa đen, trong số này có Jules Dassin.</p>
<p>Vì thế hầu hết những cuốn phim nổi tiếng của Jules Dassin đều được thực hiện tại Âu Châu, chẳng hạn phim <em>Rififi </em>(1955) với tiền vốn và nhân sự của Pháp, cuốn phim đã đem lại cho Jules Dassin giải đạo diễn xuất sắc tại Đại Hội Điện Ảnh Cannes 1956, nơi ông gặp gỡ nữ diễn viên kiêm ca sĩ Hy-lạp Melina Mercouri – người sau này trở thành đời vợ thứ hai của ông.</p>
<p><strong>Melina Mercouri</strong> (1920-1994) xuất thân Học Viện Kịch Nghệ Quốc Gia Hy-lạp năm 1944, sau đó sang Pháp hoạt động trong lĩnh vực sân khấu. Mãi tới năm 1955, Melina Mercouri mới trở về Hy-lạp và đóng cuốn phim điện ảnh đầu tiên.</p>
<p>Từ năm 1941, Melina Mercouri đã kết hôn với doanh gia bất động sản Panos Harokopos nhưng hai người không có con, và vào thời gian gặp gỡ Jules Dassin tại Cannes, người ta tin rằng Melina Mercouri và Panos Harokopos chỉ còn là vợ chồng trên danh nghĩa.</p>
<p>Về phần Jules Dassin thì đã kết hôn với nữ nhạc sĩ vĩ cầm Béatrice Launer, cũng là một người Mỹ gốc Do-thái, từ năm 1937 và đã có ba con với nhau.</p>
<p>Trong năm 1956, Jules Dassin tới Hy-lạp và nhận nơi đây làm quê hương thứ hai, không chỉ vì tình cảm với Melina Mercouri mà còn vì đất nước, văn hóa Hy-lạp mà trước đó ông chỉ biết qua các tác phẩm của văn hào <strong>Nikos Kazantzakis</strong> (1883-1957).</p>
<p>Năm 1957, Melina Mercouri thủ vai chính trong một cuốn phim Hy-lạp do Jules Dassin đạo diễn và hai người bắt đầu quan hệ tình cảm công khai. Từ đó, Jules Dassin cố gắng tìm cách thực hiện một cuốn phim Hy-lạp có tầm vóc quốc tế để giới thiệu tên tuổi Melina Mercouri với khán giả năm châu.</p>
<p>Kết quả là cuốn phim <em>Never on Sunday</em>.</p>
<p>Như đã viết ở một đoạn trên, vào năm 1960, nhà soạn nhạc Manos Hadjidakis viết ca khúc <em>Ta Pedia tou Pirea</em>, có nghĩa là Những người con của thành phố cảng Piraeus; nội dung ca khúc là tự thuật của Ilya, một cô gái điếm yêu đời và tốt bụng ở Piraeus.</p>
<p>Lúc đầu Manos Hadjidakis dự định trao ca khúc này cho Melina Mercouri thu đĩa, nhưng chưa kịp thì Jules Dassin đã nảy sinh ý tưởng dựa vào nội dung ca khúc viết thành kịch bản cho một cuốn phim do ông đạo diễn và thủ vai chính bên cạnh Melina Mercouri; phần nhạc phim sẽ do Manos Hadjidakis đảm trách. Dĩ nhiên, Manos Hadjidakis, nhà soạn nhạc đang mong có cơ hội giới thiệu nền ca vũ nhạc truyền thống của Hy-lạp tới khán giả năm châu, đồng ý.</p>
<p>Vào tay Jules Dassin, nội dung <em>Ta Pedia tou Pirea</em> đã có thêm một chi tiết thú vị (tạm gọi như thế): cô gái điếm yêu đời và tốt bụng Ilya không bao giờ “tiếp khách” vào ngày Chủ Nhật vì đó là ngày nghỉ của cô.</p>
<p>Từ đó, ông đặt tựa đề cho cuốn phim của mình là <em>Pote Tin Kyriaki</em> (Never on Sunday).</p>
<p>Theo kịch bản của <em>Never on Sunday</em>, Homer Thrace (Jules Dassin) là một du khách kiêm học giả người Mỹ chuyên về văn hóa Hy-lạp cổ đại, gặp gỡ Ilya (Melina Mercouri), một cô gái điếm hành nghề tự do tại thành phố cảng Piraeus. Với một con người mô phạm như Homer, cuộc sống buông tuồng của Ilya đã hạ thấp truyền thống đạo đức của Hy-lạp, nên ông ra sức cải hóa cô; ngược lại, Ilya đã tìm mọi cách “giải phóng” Homer khỏi những ràng buộc của đạo đức; với kết quả phần thắng đã nghiêng về phía “cô gái điếm với tấm lòng vàng” (hooker with a heart of gold).</p>
<p>Là một người có đầu óc thiên tả, Jules Dassin đã thêm một chút “đỏ” vào truyện phim: sở dĩ cô gái điếm Ilya không tiếp khách vào ngày Chủ Nhật là vì cô phải tham dự buổi họp hàng tuần của chi bộ đảng Cộng Sản địa phương mà cô là một thành viên!</p>
<p>Vì không được một hãng phim nào chịu ứng vốn sản xuất, Jules Dassin đã phải chạy đôn chạy đáo, gom góp, vay mượn được số tiền tổng cộng 125,000 Mỹ kim (chưa tới 1 triệu thời nay) để trang trải mọi chi phí. Dĩ nhiên, hai nam nữ diễn viên chính (Jules Dassin, Melina Mercouri) không có thù lao, và người soạn nhạc phim (Manos Hadjidakis) cũng không đặt nặng vấn đề tiền bạc&#8230;</p>
<p>Cũng vì số vốn có hạn, <em>Never on Sunday</em> đã được thực hiện dưới hình thức phim đen trắng.</p>
<p><em>Never on Sunday</em> được chiếu ra mắt vào tháng 5/1960 tại Đại Hội Điện Ảnh Quốc Tế Cannes (Pháp) lần thứ 13, và đã đoạt giải Nữ diễn viên xuất sắc cho Melina Mercouri.</p>
<p>Tại giải Oscar 1960, <em>Never on Sunday</em> được xướng danh năm giải: Đạo diễn, Nữ diễn viên, Kịch bản, Trang phục, Ca khúc trong phim; và đã đoạt Oscar cho ca khúc trong phim.</p>
<p>Đây là lần đầu tiên kể từ khi giải Oscar cho ca khúc trong phim được thiết lập vào năm 1934, một ca khúc trong một cuốn phim nói tiếng ngoại quốc đã đoạt giải.</p>
<p>Tuy nhiên, theo nhiều nhà bình phim, nếu <em>Never on Sunday</em> không bị các “thế lực bảo thủ” lên án, chắn hẳn cuốn phim đã đoạt nhiều giải Oscar chứ không phải chỉ có một mà thôi!</p>
<p>Đồng ý hay không đồng ý với chữ “nếu” ấy, người ta cũng phải nhìn nhận trong khi được các nhà bình phim ca tụng, <em>Never on Sunday</em> là một cuốn phim gây tranh luận, tại Hy-lạp cũng như ở hải ngoại.</p>
<p>Tại Hy-lạp, không ít người cho rằng một cuốn phim với nội dung giới thiệu đất nước, con người, văn hóa Hy-lạp với thế giới mà nhân vật chính trong đó lại là một cô gái điếm thì không tốt, nếu không muốn nói là thiếu đạo đức.</p>
<p>Tại hải ngoại, cuốn phim đã bị lưỡi kéo kiểm duyệt của nhiều quốc gia chiếu cố; riêng tại Ý, nơi <em>Never on Sunday</em> được chiếu dưới tựa tiếng Ý <em>Mai Di Domenica, </em>đích thân Bộ trưởng Văn Hóa Ruggero Lombardi đã ký quyết định buộc (nhà sản xuất) phải cho đóng lại cảnh “trả giá” giữa các binh sĩ và cô gái điếm Ilya, cắt bỏ một cảnh làm tình lộ liễu, đồng thời cắt ngắn một cảnh làm tình khác, thì mới được phép chiếu cho khán giả từ 16 tuổi trở lên.</p>
<p>Tại Hoa Kỳ, các tổ chức Thiên chúa giáo và giới làm phim thuộc “thế hệ trước” cho rằng không thể chấp nhận một cuốn phim chính mạch có cốt truyện nói về sinh hoạt mại dâm, và gây ra một cuộc tranh luận gay gắt. Tuy nhiên, cuối cùng phe cấp tiến cũng đã thắng; thành phố duy nhất ra lệnh cấm chiếu <em>Never on Sunday</em> là Atlanta cuối cùng cũng bị tòa kháng án ra lệnh hủy bỏ lệnh cấm.</p>
<p><em>[Tại Hoa Kỳ, Never on Sunday chỉ bị cơ quan kiểm duyệt cắt một cảnh duy nhất khi được chiếu lần đầu trên màn ảnh truyền hình; đó lả cảnh cô gái điếm Ilya “hướng dẫn” một chàng thủy thủ trẻ lần đầu tiên gần đàn bà]</em></p>
<p>Chỉ riêng tại Hoa Kỳ, <em>Never on Sunday</em> đã thu vào trên 4 triệu Mỹ kim tiền vé (so với số vốn thực hiện chỉ có 125,000).</p>
<p>Sau khi cuốn phim được chiếu tại Hoa Kỳ và Tây Âu, đã xảy ra hiện tượng “tìm tới Hy-lạp” để khám phá khung cảnh, con người, văn hóa (ca vũ nhạc) ở miền đất huyền thoại đã bị lãng quên trong mấy nghìn năm qua. Các hãng phim đua nhau tới Hy-lạp để quay ngoại cảnh; các công ty du lịch bù đầu vì nhu cầu “Hy du” của khách hàng; ngay cả Đệ Nhất Phu Nhân Hoa Kỳ Jacqueline Kennedy cũng sắp xếp một chuyến công du Hy-lạp vào mấy năm sau đó.</p>
<p>Và cũng không thể không nhắc tới việc thành công của <em>Never on Sunday</em> đã dọn đường cho việc thực hiện cuốn phim <em>Zorba the Greek</em> bốn năm sau đó.</p>
<p><em>Zorba the Greek</em> nguyên là tác phẩm của văn hào <strong>Nikos Kazantzakis</strong> (1883-1957), người được xưng tụng là nhà văn lớn nhất của nền văn học Hy-lạp hiện đại, từng 9 lần được đề nghị giải Nobel Văn Chương. Ngoài Zorba the Greek, một tác phẩm nổi tiếng khác của ông cũng được dựng thành phim là <em>The Last Temptation of Christ </em>vào năm 1988.</p>
<p>[Trước năm 1975, <em>Zorba the Greek</em> đã được một dịch giả ở miền Nam VN dịch sang tiếng Việt, tuy nhiên chúng tôi không nhớ tựa đề]*</p>
<p><em>Zorba the Greek</em> là một cuốn truyện mang nhiều triết lý thú vị, kể về nếp sống ngang tàng, phi nguyên tắc (đạo đức) của nhân vật Zorba, một anh chàng thô lậu, thất học, nhưng đầy kinh nghiệm sống.</p>
<p>Cuốn phim <em>Zorba the Greek</em> là một sản phẩm Anh – Hy-lạp, với một dàn diễn viên nổi tiếng quốc tế, trong đó có nam diễn viên Mỹ gốc Mễ-tây-cơ Anthony Quinn thủ vai Zorba.<em> Zorba the Greek</em> cũng được thực hiện dưới hình thức phim đen trắng.</p>
<p>Tại giải Oscar 1964, <em>Zorba the Greek</em> được xướng danh bảy giải và đoạt ba giải, cho nữ diễn viên vai phụ, hình ảnh (Cinematography), và dàn dựng (Best Production Design, ngày đó còn gọi là Best Art Direction).</p>
<p>Được phóng tác từ một cuốn tiểu thuyết nổi tiếng, lẽ dĩ nhiên <em>Zorba the Greek</em> có kịch bản phong phú hơn, số thu cao hơn, nổi đình đám hơn, được trân trọng hơn <em>Never on Sunday</em>, nhưng nếu chỉ xét về mặt nghệ thuật thì không bằng, trừ cảnh nhảy vũ khúc Sirtaki (Zorba’s dance) vào cuối phim.</p>
<p>Hiện nay, vũ khúc Sirtaki đã trở nên phổ biến tới mức hầu như ở bất cứ quán rượu (tavern) nào của người Hy-lạp trên thế giới, người ta cũng nhảy, từ đó đưa tới sự ngộ nhận đây là một vũ điệu dân gian truyền thống của người Hy-lạp. Trên thực tế, đây là sáng tạo của nhà vũ đạo Giorgos Provias và nhà soạn nhạc Mikis Theodorakis dành riêng cho cuốn phim này.</p>
<p>Phần nhạc đệm độc đáo trong vũ khúc Sirtaki (Zorba’s dance) là tiếng đàn “bouzouki”, một nhạc cụ truyền thống của Hy-lạp, trước đó mấy năm đã được nhà soạn nhạc Manos Hadjidakis canh tân và ứng dụng vào ca khúc <em>Ta Pedia tou Pirea</em> do Melina Mercouri trình bày trong phim <em>Never on Sunday</em>.</p>
<p style="text-align: center;"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2018/12/GREEK-BOUZOUKI-8-STRINGS-BUZUKI-WITH-JACK-1.jpg?strip=all"><img loading="lazy" decoding="async" class="aligncenter wp-image-38099" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2018/12/GREEK-BOUZOUKI-8-STRINGS-BUZUKI-WITH-JACK-1-300x130.jpg?strip=all" alt="" width="413" height="179" srcset="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2018/12/GREEK-BOUZOUKI-8-STRINGS-BUZUKI-WITH-JACK-1-300x130.jpg?strip=all 300w, https://cdn.t-van.net/2018/12/GREEK-BOUZOUKI-8-STRINGS-BUZUKI-WITH-JACK-1-768x333.jpg 768w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2018/12/GREEK-BOUZOUKI-8-STRINGS-BUZUKI-WITH-JACK-1.jpg?strip=all 1000w" sizes="(max-width: 413px) 100vw, 413px" /></a></p>
<p style="text-align: center;"><em><span id="yiv2277276579yui_3_16_0_ym19_1_1545943911216_2880">Đàn bouzouki</span></em></p>
<p>Bouzouki là một loại đàn gỗ, mặt trước tương tự đàn mandolin nhưng thùng đàn phía sau hình bầu; bouzouki có hai loại chính: <em>t</em><em>richordo</em> với 3 cặp dây, và <em>tetrachordo</em>  với bốn cặp dây. Thanh âm của bouzouki rất sắc, nghe tương tự tiếng đàn mandolin nhưng có âm vực thấp hơn.</p>
<p>Bouzouki có nguồn gốc từ Thổ-nhĩ-kỳ, được di dân đưa tới Hy-lạp vào đầu thế kỷ thứ 20 và đã mau chóng trở thành một nhạc cụ chính trong nền nhạc dân giã (rebretiko) của Hy-lạp. Tới giữa thập niên 1960, nhờ công canh tân và phổ biến của nhà soạn nhạc Manos Hadjidakis, tiếng đàn bouzouki đã trở thành một nét đặc thù trong nền tân nhạc Hy-lạp nói chung chứ không chỉ còn của thể loại nhạc dân giã.</p>
<p><strong>VIDEO:</strong></p>
<p><a href="https://www.youtube.com/watch?v=BS0w3Wkric8" target="_blank" rel="noopener"><strong> Zorba the Greek &#8211; Final Dance</strong></a></p>
<p>Trở lại với ca khúc <em>Ta Pedia tou Pirea</em> (The Children of Piraeus) do Melina Mercouri hát trong cuốn phim <em>Pote tin Kyriaki</em> (Never on Sunday).</p>
<p>Tiểu sử Melina Mercouri luôn luôn ghi bà là một nữ diễn kiêm ca sĩ nhưng trên thực tế bà thường chỉ hát trước ống kính máy quay phim, hay trên sân khấu qua các vai do bà thủ diễn. Nói cách khác, sự thành công, sức thu hút của các ca khúc do Melina Mercouri trình bày  một phần không nhỏ chính là nhờ đi liền với kịch bản, hoặc bối cảnh trong phim.</p>
<p><strong>VIDEO:</strong></p>
<p><strong> </strong><a href="https://www.youtube.com/watch?v=28EAWlOXrYs" target="_blank" rel="noopener"><strong>Melina Mercouri &#8211; Ta Paidia Tou Piraia (</strong><strong>The Children of Piraeus</strong><strong>)</strong></a></p>
<p>Sau khi <em>Ta Pedia tou Pirea</em> (The Children of Piraeus) do Melina Mercouri hát trong phim<em> Pote tin Kyriaki</em> (Never on Sunday) đoạt Oscar cho ca khúc trong phim, dàn nhạc Don Costa của Mỹ đã thu một đĩa hòa tấu 45 vòng, đứng hạng 19 trong danh sách Billboard Hot 100 năm 1960, và qua năm 1961 tiếp tục ở trong Top 40.</p>
<p><strong>VIDEO:</strong></p>
<p><strong> </strong><a href="https://www.youtube.com/watch?v=0XT3FRzVK9U" target="_blank" rel="noopener"><strong>Don Costa and his Orchestra and Chorus &#8216; Never On Sunday&#8217; 45 RPM</strong></a></p>
<p>Cũng trong năm 1960, <em>Ta Paidia Tou Piraia</em> (The Children of Piraeus) được tác giả Billy Towne đặt lời hát bằng tiếng Anh với nội dung dựa vào truyện phim của <em>Never On Sunday</em> (cô gái điếm yêu đời không bao giờ “tiếp khách” vào ngày Chủ Nhật).</p>
<p><strong><em>Never on Sunday </em></strong></p>
<p><em>La, la, la, la, la, la, la, la, la, la, la, la La, la, la, la, la, la, la, la, la, la, la, la, la… (Oso keeyiampsaxo then vrisko allo lay manee) (trellee na me he kanee oso to piraos)</em></p>
<p><em>Oh you can kiss me on a Monday, a Monday, a Monday<br />
Is very, very good<br />
Or you can kiss me on a Tuesday, a Tuesday, a Tuesday<br />
In fact I wish you would<br />
Or you can kiss me on a Wednesday, a Thursday, a Friday<br />
A Saturday is best<br />
But never, never on a Sunday, a Sunday, a Sunday<br />
Cause that&#8217;s my day of rest</em></p>
<p>Come any day and you will be my guest<br />
Oh, any day you say, but my day of rest<br />
Just name the day that you like the best<br />
Only stay away from my day of rest</p>
<p><em>Oh, you can kiss me on a cool day, a hot day, a wet day<br />
Whichever one you choose<br />
Or try to kiss me on a fey day, a Mayday, a payday<br />
And see if I refuse<br />
Or you can make it on a bleak day, a freak day, a week day<br />
Whichever is the best<br />
But never, never on a Sunday, a Sunday<br />
The one day I need a little rest</em></p>
<p>Come any day and you will be my guest<br />
Oh, any day you say but my day of rest<br />
Just name the day that you like the best<br />
Only stay away from my day of rest</p>
<p>La la la la la&#8230;<br />
La la la la la la&#8230;</p>
<p>Ngay trong năm 1960, <strong>Nana Mouskouri</strong> của Hy-lạp và <strong>Dalida </strong>của Pháp đã thu <em>Never On Sunday</em> vào đĩa nhựa.</p>
<p>Thời gian này, Dalida đang nổi như cồn cho nên các đĩa thu bằng tiếng Pháp, Ý, Tây-ban-nha, Đức + với lời Anh <em>Never on Sunday</em> của cô đã lên Top tại các quốc gian này (No.1 tại Pháp).</p>
<p><strong>VIDEO:</strong></p>
<p><strong> </strong><a href="https://www.youtube.com/watch?v=4CZGD6NRjlM" target="_blank" rel="noopener"><strong>Dalida &#8211; Never on Sunday (1960)</strong></a></p>
<p>Tuy nhiên về lâu về dài, nhắc tới <em>Ta Paidia Tou Piraia / </em><em>Never on Sunday </em>giới thưởng ngoạn sẽ nhớ tới tiếng hát Nana Mouskouri trước tiên.</p>
<p>Nana Mouskouri, mà chúng tôi đã đôi lần nhắc tới trong loạt bài này, là nữ danh ca duy nhất của Âu châu nằm trong danh sách Top 10 nghệ sĩ có số đĩa bán cao nhất thế giới, với khả năng thu đĩa bằng trên 12 ngôn ngữ khác nhau.</p>
<p><em>Ta Paidia Tou Piraia / </em><em>Never on Sunday</em> do Nana Mouskouri thu âm được phát hành qua ba ấn bản khác nhau: tiếng Hy-lạp, tiếng Anh, và tiếng Hy-lạp + tiếng Anh.</p>
<p><strong>Phụ lục 1: </strong><strong><em>Never on Sunday</em></strong><strong>, </strong><strong>Nana Mouskouri</strong></p>
<audio class="wp-audio-shortcode" id="audio-38082-8" preload="none" style="width: 100%;" controls="controls"><source type="audio/mpeg" src="https://t-van.net/wp-content/uploads/2018/12/01-Never-On-Sunday-Nana-Mouskouri.mp3?_=8" /><a href="https://t-van.net/wp-content/uploads/2018/12/01-Never-On-Sunday-Nana-Mouskouri.mp3">https://t-van.net/wp-content/uploads/2018/12/01-Never-On-Sunday-Nana-Mouskouri.mp3</a></audio>
<p><strong>VIDEO:</strong></p>
<p><a href="https://www.youtube.com/watch?v=WlJe2172GCk" target="_blank" rel="noopener"><strong>Nana Mouskouri &#8211; Τα παιδιά του Πειραιά (1968)</strong></a></p>
<p>Qua năm 1961, <em>Never on Sunday</em> (thu đĩa năm 1960) đã đem lại đĩa vàng cho ban tứ ca nữ The Chordettes, đứng hạng 13 trên bảng Billboard Hot 100 cho cả năm 1961.</p>
<p><strong>VIDEO:</strong></p>
<p><a href="https://www.youtube.com/watch?v=DPNASiM8rNQ" target="_blank" rel="noopener"><strong><u>The Chordettes &#8211; Never on Sunday &#8211; YouTube</u></strong></a></p>
<p><strong> </strong><u></u>Về sau, <em>Never on Sunday</em> đã được thêm nhiều danh ca Anh Mỹ thu đĩa, trong số này có Bing Crosby, Lena Horne, Doris Day, Andy Williams, Trini Lopez, ban The 4 Seasons, Connie Francis, Julie London, Eartha Kitt, Petula Clark&#8230;, và ban kèn đồng lừng danh Herb Alpert and the Tijuana Brass.</p>
<p>Tính tới cuối thập niên 1970, hàng trăm ca sĩ nổi tiếng quốc tế đã thu đĩa <em>Never on Sunday</em> bằng gần 50 ngôn ngữ khác nhau. Chỉ riêng tiếng Quảng Đông đã có nhiều tên tuổi lớn thu đĩa, như Lưu Đức Hoa, Mai Diễm Phương, Ngô Quân Như, Trịnh Trung Cơ&#8230;; còn tiếng Quan Thoại, người đầu tiên thu đĩa là Đặng Lệ Quân, khi cô mới 16 tuổi.</p>
<p>Một trong những điều thú vị (tạm gọi như thế) về ca khúc <em>Never on Sunday</em> là càng về sau, càng có ít người biết xuất xứ của nó chính là một cuốn phim với nội dung tranh luận, mang ẩn ý đả kích nước Mỹ của Jules Dassin. Đại đa số người thưởng thức chỉ biết đây là một bản nhạc vui tai, độc đáo, đầy sức lôi cuốn mà thôi.</p>
<p>Tại miền Nam VN trước năm 1975 cũng thế, <em>Never on Sunday</em> bắt đầu được nghe và yêu chuộng vào giữa thập niên 1960, là khoảng thời gian ca nhạc Mỹ đã trở nên khá phổ biến. Người Sài Gòn ngày ấy không hề được xem cuốn phim <em>Never on Sunday</em> (vì nội dung phi đạo đức và thiên tả) cho nên cũng chẳng mấy người được biết <em>Never on Sunday</em> nguyên là một ca khúc trong phim.</p>
<p><em>Never on Sunday</em> được thính giả VN yêu chuộng dưới cả hai hình thức hòa tấu (chúng tôi không nhớ tên ban nhạc) và đơn ca do Connie Francis thu đĩa.</p>
<p><strong>VIDEO:</strong></p>
<p><a href="https://www.youtube.com/watch?v=WSL6YNCU4bc" target="_blank" rel="noopener"><strong><u>Connie Francis : Never On A Sunday &#8211; YouTube</u></strong></a></p>
<p>Theo ký ức của chúng tôi, tại miền Nam VN trước 1975 đã không có tác giả nào đặt lời Việt cho <em>Never on Sunday</em>. Sau khi ra hải ngoại, tới thập niên 1980, <em>Never on Sunday</em> mới được Phạm Duy đặt với tựa Tình Nghèo.</p>
<p style="text-align: center;"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2018/12/ngoc-lan.jpg?strip=all"><img loading="lazy" decoding="async" class="aligncenter size-medium wp-image-38087" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2018/12/ngoc-lan-300x225.jpg?strip=all" alt="" width="300" height="225" srcset="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2018/12/ngoc-lan-300x225.jpg?strip=all 300w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2018/12/ngoc-lan.jpg?strip=all 480w" sizes="(max-width: 300px) 100vw, 300px" /></a></p>
<p><strong><em>Tình Nghèo</em></strong></p>
<p><em>Nàng xinh đẹp như một nàng tiên nga,<br />
Nơi trời xa bay về đây, xin đầu thai sống trong cõi trần.<br />
Nàng không chọn nơi người giầu hay sang<br />
Nơi thành đô, khu lầm than xin làm cô gái trong thấp hèn.<br />
Nhìn ta, nàng như mặt trời phương xa<br />
Soi vào tim đen của ta, nên lòng ta bỗng dưng chói loà.<br />
Làn môi đẹp như là nụ hoa tươi<br />
Khi nàng hôn ta tưởng như ta<br />
Từ đây ngất ngây suốt đời. </em></p>
<p><em><br />
Người đẹp của tôi ơi ! Tôi từ quê tới nơi kinh đô<br />
Tôi nghèo nên sống trong đơn côi, như là dun dế trên đời.<br />
Người đẹp của tôi ơi ! Không một ai tới nơi bên tôi<br />
Trong đời tôi vắng tiếng êm vui nên chỉ cay đắng mà thôi.<br />
Người đẹp của tôi ơi ! Nhưng từ khi có em bên tôi,<br />
Ðêm ngày tôi sống như chim vui, tôi chỉ ca hát ơn đời.<br />
Người đẹp của tôi ơi ! Tôi cảm ơn Chúa nơi ngôi cao<br />
Trong đời tôi đã có em yêu tôi nghèo nhưng sướng là bao.</em></p>
<p><strong>Phụ lục 2: <em>Tình Nghèo</em>, Ngọc Lan</strong></p>
<audio class="wp-audio-shortcode" id="audio-38082-9" preload="none" style="width: 100%;" controls="controls"><source type="audio/mpeg" src="https://t-van.net/wp-content/uploads/2018/12/02-Tinh-Ngheo.mp3?_=9" /><a href="https://t-van.net/wp-content/uploads/2018/12/02-Tinh-Ngheo.mp3">https://t-van.net/wp-content/uploads/2018/12/02-Tinh-Ngheo.mp3</a></audio>
<p><strong> </strong></p>
<p><strong>HOÀI NAM</strong></p>
<p><strong> </strong><em>*Bản chuyển ngữ tiếng Việt của dịch giả Nguyễn Hữu Hiệu nhan đề “Alexis Zorba Con Người Chịu Chơi” do NXB Thương Yêu xuất bản năm 1969 tại Sài Gòn (Chú thích của TV&amp;BH).</em></p>
<p><em> </em></p>
<p><em> </em></p>
<p><em> </em></p>
<p><em> </em></p>
<p>©T.Vấn 2018</p>
<p>&nbsp;</p>
]]></content:encoded>
					
					<wfw:commentRss>https://t-van.net/hoai-nam-nhung-ca-khuc-nhac-ngoai-quoc-loi-viet82-nhac-phim-ta-pedia-tou-pirea-never-on-sunday-manos-hadjidakis-billy-towne-tinh-ngheo/feed/</wfw:commentRss>
			<slash:comments>0</slash:comments>
		
		<enclosure url="https://t-van.net/wp-content/uploads/2018/12/01-Never-On-Sunday-Nana-Mouskouri.mp3" length="3149198" type="audio/mpeg" />
<enclosure url="https://t-van.net/wp-content/uploads/2018/12/02-Tinh-Ngheo.mp3" length="10897576" type="audio/mpeg" />

			</item>
		<item>
		<title>HOÀI NAM: NHỮNG CA KHÚC NHẠC NGOẠI QUỐC LỜI VIỆT (81) -NHẠC PHIM – Que Será Será (Whatever will be, will be), Jay Livingston, Ray Evans (Biết ra sao ngày sau)</title>
		<link>https://t-van.net/hoai-nam-nhung-ca-khuc-nhac-ngoai-quoc-loi-viet-81-nhac-phim-que-sera-sera-whatever-will-be-will-be-jay-livingston-ray-evans-biet-ra-sao-ngay-sau/</link>
					<comments>https://t-van.net/hoai-nam-nhung-ca-khuc-nhac-ngoai-quoc-loi-viet-81-nhac-phim-que-sera-sera-whatever-will-be-will-be-jay-livingston-ray-evans-biet-ra-sao-ngay-sau/#respond</comments>
		
		<dc:creator><![CDATA[Hòai-Nam]]></dc:creator>
		<pubDate>Thu, 06 Dec 2018 12:13:57 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Góc Văn]]></category>
		<category><![CDATA[hòai nam]]></category>
		<category><![CDATA[nhạc nq]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://7076e870b2.nxcli.io/?p=37847</guid>

					<description><![CDATA[Bài thứ nhì trong phần viết về những ca khúc trong phim, hoặc từ nhạc phim được đặt lời Việt, chúng tôi xin giới thiệu bản Que Será Será (Whatever will be, will be) của hai tác giả Jay Livingston và Ray Evans, được nữ ca sĩ kiêm diễn viên Mỹ Doris Day hát trong [&#8230;]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: center;"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2018/12/que-sera-sera.jpg?strip=all"><img loading="lazy" decoding="async" class="aligncenter  wp-image-37848" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2018/12/que-sera-sera-242x300.jpg?strip=all" alt="" width="284" height="352" srcset="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2018/12/que-sera-sera-242x300.jpg?strip=all 242w, https://cdn.t-van.net/2018/12/que-sera-sera-768x954.jpg 768w, https://cdn.t-van.net/2018/12/que-sera-sera-824x1024.jpg 824w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2018/12/que-sera-sera.jpg?strip=all 1288w" sizes="(max-width: 284px) 100vw, 284px" /></a></p>
<p>Bài thứ nhì trong phần viết về những ca khúc trong phim, hoặc từ nhạc phim được đặt lời Việt, chúng tôi xin giới thiệu bản <em>Que Será Será (</em><em>Whatever will be, will be)</em> của hai tác giả Jay Livingston và Ray Evans, được nữ ca sĩ kiêm diễn viên Mỹ Doris Day hát trong cuốn phim The Man Who Knew Too Much (1956), được đặt lời Việt với tựa Biết ra sao ngày sau.</p>
<p>Trở lại với những năm đầu thập niên 1950, thời gian mà thể loại phim cao-bồi Viễn Tây (Western) không còn bị xem là “những cuốn phim rập theo một khuôn mẫu đơn thuần để giải trí, xem xong rồi quên”, Hồ-ly-vọng đã sản xuất nhiều cuốn phim Viễn Tây có giá trị nghệ thuật cao. Trong số này, <strong>High Noon</strong> (1952) đã được liệt vào hàng bất hủ.</p>
<p>Cốt truyện của High Noon kể về sự lựa chọn giữa hạnh phúc cá nhân và danh dự của vị cảnh sát trưởng một thị trấn nhỏ: đúng ngày ông mãn nhiệm, cùng người vợ trẻ mới cưới ra đi về một khung trời bình yên hạnh phúc, thì được tin tên đại anh chị mà ông đã đưa vào tù, được thả và đang trên đường về thị trấn, nơi các tay đàn em đang chờ đợi, tìm ông để phục hận. Trước tối hậu thư của người vợ trẻ, vị cảnh sát trưởng quyết định để nàng một mình ra đi trên chuyến xe lửa đúng ngọ (high noon), còn mình ở lại đương đầu với băng anh chị&#8230;</p>
<p>Ba tên tuổi hàng đầu của kinh đô điện ảnh đã góp phần vào cuốn phim này là nhà sản xuất Stanley Kramer, đạo Alfred Zinnemann, và nam diễn viên Gary Cooper.</p>
<p><strong>Stanley Kramer</strong> (1913 – 2001) đã góp phần vào 16 cuốn phim</p>
<p>đoạt giải Oscar, <strong>Alfred Zinnemann</strong> (1907 – 1997) đoạt bốn giải Oscar với tư cách đạo diễn, còn <strong>Gary Cooper</strong> (1901 – 1961) nam diễn viên được xưng tụng “ông vua cao-bồi” từ cuối thời phim câm, đã đoạt giải Oscar diễn xuất thứ nhì trong sự nghiệp qua vai trò vị cảnh sát trưởng trong cuốn phim này.</p>
<p>High Noon cũng là cuốn phim đã giới thiệu nữ diễn viên trẻ</p>
<p><strong>Grace Kelly</strong> (1929 – 1982) tới khán giả (sau này, Grace Kelly trở thành Bà hoàng Monaco vào năm 1956).</p>
<p>High Noon đoạt bốn giải Oscar trong đó có giải cho nhạc phim và ca khúc trong phim.</p>
<p>Nhạc phim High Noon do nhà soạn nhạc Mỹ gốc Nga lừng danh<strong> Dimitri Tiomkin</strong> (1894 – 1979) soạn; ông cũng là người soạn nhạc cho ca khúc trong phim, <em>Do not forsake me, My Darling</em> với lời hát của Ned Washington, được trình bày qua tiếng hát của Rex Ritter.</p>
<p>Hiện nay, <em>Do not forsake me, My Darling</em>  đang đứng hạng 25 trong danh sách 100 ca khúc trong phim hay nhất của Viện Phim Ảnh Hoa Kỳ (AFI: American Film Institute).</p>
<p><strong>VIDEO:</strong></p>
<p><a href="https://www.youtube.com/watch?v=3E6pHgT_7pc" target="_blank" rel="noopener"><strong><em>Do Not Forsake Me O My Darlin , High Noon</em></strong></a></p>
<p>Qua năm 1953, một cuốn phim Viễn Tây khác đã đoạt giải Oscar cho ca khúc trong phim, Calamity Jane với bản<em> Secret Love</em>. Tuy hình thức là một cuốn phim Viễn Tây nhưng nội dung Calamity Jane chỉ là một cuốn phim ca nhạc, và <em>Secret Love</em> là một tình khúc êm dịu.</p>
<p>Chúng tôi sẽ trở lại với <em>Secret Love</em> ở một phần sau, khi viết về sự nghiệp của nữ ca sĩ kiêm diễn viên Doris Day, còn ở đây xin được nhắc tới một ca khúc trong phim khác cũng trong năm 1953, tuy không đoạt giải nhưng về sau còn nổi tiếng hơn nhiều ca khúc đoạt giải, đó là bản <em>Diamonds Are a Girl&#8217;s Best Friend</em> trong phim Gentlemen Prefer Blondes. Nổi tiếng chỉ vì đã được nữ minh tinh <strong>Marilyn Monroe</strong> “hát nhép” trong phim (được lồng tiếng hát của Marni Nixon).</p>
<p>Cảnh Marilyn Monroe mặc bộ áo màu hồng hở ngực hát ca khúc này đã trở thành hình ảnh “cầu chứng” của người nữ minh tinh hồng nhan bạc mệnh, về sau đã được nhiều hậu bối diễn lại, trong số này có Beyonce, Madonna, Geri Halliwell, Kylie Minogue, Nicoke Kidman, Anna Nicole Smith, Christina Aguilera&#8230;</p>
<p>Qua năm 1954, sự việc lại tái diễn: ca khúc <em>Three Coins in the Fountain</em> trong cuốn phim có cùng tựa đề đã đoạt giải Oscar cho ca khúc trong phim, nhưng một ca khúc do Marilyn Monroe hát trong một cuốn phim khác cũng đã được nhiều người biết tới, đó là bản <em>River of No Return</em> trong cuốn phim Viễn Tây có cùng tựa đề. Lẽ dĩ nhiên, trong phim Marilyn Monroe cũng chỉ nhép miệng, còn người hát là  nữ ca sĩ Tennessee Ernie Ford.</p>
<p>Theo ký ức của chúng tôi, ngày ấy phim Gentlemen Prefer Blondes (1953) không được chiếu tại Sài Gòn, cho nên River of No Return (1954) chính là cuốn phim đã giới thiệu Marilyn Monroe và chàng kép bảnh trai <strong>Robert Mitchum</strong> với khán giả tại Hòn Ngọc Viễn Đông, dưới tựa đề tiếng Pháp Rivière sans retour (Dòng sông một chiều).</p>
<p>Ngày ấy, River of No Return còn nổi tiếng vì là cuốn phim màu đầu tiên sử dụng kỹ thuật màu Technicolor và màn ảnh rộng Cinemascope.</p>
<p><strong>VIDEO: </strong></p>
<p><a href="https://www.youtube.com/watch?v=QCbECNhSPII" target="_blank" rel="noopener"><strong>River of No Return- Robert Mitchum/Marilyn Monroe- Rivière sans retour (Lyrics)</strong></a></p>
<p>Qua năm 1955, cả năm ca khúc trong phim được xướng danh giải Oscar đều là những ca khúc để đời, trong đó có ba bản rất quen thuộc với người yêu nhạc Anh Mỹ tại miền Nam VN trước năm 1975, là <em>Love Is A Many Splendored Thing, I&#8217;ll Never Stop Loving You, </em>và <em>Unchained Melody.</em></p>
<p><em> </em><em>Love Is A Many Splendored Thing</em> được hát trong cuốn phim có cùng tựa đề, <em>I&#8217;ll Never Stop Loving You</em> được hát trong phim Love Me or Leave Me<em>, </em>và <em>Unchained Melody </em>được hát trong phim Unchained.</p>
<p><em> </em>Ngày ấy, <em>Love Is A Many Splendored Thing</em> đã đoạt Oscar cho ca khúc trong phim. Riêng bản <em>Unchained Melody</em>, 35 năm sau, khi được đưa vào một cuốn phim mới, đã trở lại Top 10 ở Hoa Kỳ và làm mưa gió trên khắp thế giới (chúng tôi sẽ trở lại với <em>Unchained Melody</em> trong một bài sau).</p>
<p><strong>VIDEO:</strong></p>
<p><strong> </strong><a href="https://www.youtube.com/watch?v=1seHQHrq7aU" target="_blank" rel="noopener"><strong>Matt Monro: Love Is A Many Splendored Thing Lyrics</strong></a></p>
<p>Tới năm 1956, <em>Que Será Será (</em><em>Whatever will be, will be)</em>, ca khúc chủ đề của bài viết này, đoạt giải Oscar cho ca khúc trong phim.</p>
<p>Nhân nhắc tới năm 1956, chúng tôi cũng xin đi ra ngoài đề để viết về cuốn phim ca nhạc có tựa đề Rock Around the Clock cũng được phát hành trong năm này. Thực ra đây chỉ là một cuốn phim hạng B, được nhắc tới chỉ vì trong đó có ca khúc <em>Rock Around the Clock</em>, được ghi nhận là bản nhạc rock đầu tiên được đứng No.1 trên bảng xếp hạng Billboard tại Hoa Kỳ.</p>
<p><em>Rock Around the Clock</em> do hai tác giả Max C. Freedman và James E. Myers soạn vào năm 1952, sau đó được nhiều ca sĩ, ban nhạc trình diễn nhưng không gây tiếng vang. Phải đợi tới khi ban <strong>Bill Haley &amp; His Comets</strong> thu đĩa vào năm 1954, <em>Rock Around the Clock</em> mới nổi tiếng, và nổi như cồn.</p>
<p>Tháng 7 năm 1955, <em>Rock Around the Clock</em> đã đứng No.1 trên bảng xếp hạng nhạc Pop của Billboard, và ở vị trí này trong suốt tám tuần lễ. <em>Rock Around the Clock</em>  cũng lên Top ở nhiều quốc gia Âu Châu, riêng  tại Anh quốc, <em>Rock Around the Clock</em> là đĩa 45 vòng đầu tiên đạt được số bán trên một triệu.</p>
<p>Một điều đáng nói nữa là về sau <em>Rock Around the Clock</em> (do Bill Haley &amp; His Comets thu đĩa) đã nhiều lần trở lại Top 10 trong hai thập niên 1960, 1970.</p>
<p>Hiện nay, <em>Rock Around the Clock</em> đang đứng hạng 50 trong danh sách 100 ca khúc trong phim hay nhất do Viện Phim Ảnh Hoa Kỳ (AFI) bình chọn.</p>
<p><strong>VIDEO:</strong></p>
<p><a href="https://www.youtube.com/watch?v=ZgdufzXvjqw" target="_blank" rel="noopener"><strong>Bill Haley &amp; His Comets &#8211; Rock Around The Clock (1955) HD</strong></a></p>
<p>Tới đây, chúng tôi viết về <em>Que Será Será (</em><em>Whatever will be, will be)</em><em>,</em> ca khúc đoạt giải Oscar cho ca khúc trong phim năm 1956.</p>
<p><em>Que Será Será (</em><em>Whatever will be, will be)</em> là một sáng tác của Jay Livingston và Raymond Evans, được nữ ca sĩ kiêm diễn viên Doris Day hát trong cuốn phim nghẹ thở The Man Who Knew Too Much của đạo diễn Anh Alfred Hitchcock.</p>
<p style="text-align: center;"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2018/12/Raymond-Evans-Jay-Livingston.jpg?strip=all"><img loading="lazy" decoding="async" class="aligncenter size-medium wp-image-37849" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2018/12/Raymond-Evans-Jay-Livingston-202x300.jpg?strip=all" alt="" width="202" height="300" srcset="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2018/12/Raymond-Evans-Jay-Livingston-202x300.jpg?strip=all 202w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2018/12/Raymond-Evans-Jay-Livingston.jpg?strip=all 360w" sizes="(max-width: 202px) 100vw, 202px" /></a></p>
<p style="text-align: center;"><strong>Jay Livingston</strong> (1915 – 2001) và <strong>Raymond Evans</strong> (1915 – 2007)</p>
<p><strong> </strong><strong>Jay Livingston</strong> (1915 – 2001) là nhà soạn nhạc người Mỹ mà tên tuổi đã đi liền với đồng hương <strong>Raymond Evans</strong> (1915 – 2007), nhà viết lời hát nổi tiếng cùng thời. Trong số các ca khúc do hai ông hợp soạn có tới ba bản đoạt giải Oscar cho ca khúc trong phim:</p>
<p>&#8211; <em>Buttons and Bows, </em>phim The Paleface, 1948</p>
<p>&#8211; <em>Mona Lisa</em>, phim Captain Carey, U.S.A., 1950</p>
<p>&#8211; <em>Que Será Será</em> <em>(</em><em>Whatever will be, will be), </em>phim The Man Who Knew Too Much, 1956</p>
<p>Về phần (Sir)<strong> Alfred Hitchcock</strong> (1899–1980) mà chúng tôi đã từng nhắc tới trong bài Dẫn Nhập, là đạo diễn kiêm nhà sản xuất phim gốc Anh nổi tiếng bậc nhất, thường được xưng tụng là “ông vua phim nghẹt thở, kinh dị”.</p>
<p>Ông cũng được ghi nhận là người đầu tiên trên thế giới thực hiện một cuốn phim có đủ cả nhạc đệm, đối thoại và hiệu ứng âm thanh (sound effects), đó là cuốn phim Blackmail, được trình chiếu tại Luân-đôn vào cuối tháng 6 năm 1929.</p>
<p>The Man Who Knew Too Much (1956) là tác phẩm thứ hai của Alfred Hitchcock mang cùng tựa đề.</p>
<p>The Man Who Knew Too Much nguyên là tựa đề loạt truyện trinh thám của tác giả Anh G. K. Chesterton xuất bản năm 1922, về sau được Alfred Hitchcock mua bản quyền.</p>
<p>Năm 1934, khi còn ở Anh quốc, Alfred Hitchcock đã thực hiện cuốn phim trinh thám mang tựa đề The Man Who Knew Too Much nhưng với một cốt truyện khác hẳn truyện của tác giả G. K. Chesterton. Cuốn phim này đã được xem là đỉnh cao sự nghiệp của ông trước khi sang Hoa Kỳ.</p>
<p>Cuốn phim The Man Who Knew Too Much thứ hai (1956) &#8211; ngày ấy chiếu tại Sài Gòn dưới tựa tiếng Pháp L’Homme qui en savait trop, Người biết quá nhiều – cũng có cốt truyện giống cuốn phim The Man Who Knew Too Much thứ nhất nhưng với một số tình tiết đã được thay đổi.</p>
<p>Hai vai nhân vật chính trong phim được trao cho nam diễn viên James Stewart (1908 – 1997) và nữ diễn viên kiêm ca sĩ Doris Day.</p>
<p style="text-align: center;"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2018/12/honorary-oscar-doris-day.jpg?strip=all"><img loading="lazy" decoding="async" class="aligncenter size-medium wp-image-37850" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2018/12/honorary-oscar-doris-day-300x189.jpg?strip=all" alt="" width="300" height="189" srcset="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2018/12/honorary-oscar-doris-day-300x189.jpg?strip=all 300w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2018/12/honorary-oscar-doris-day.jpg?strip=all 630w" sizes="(max-width: 300px) 100vw, 300px" /></a></p>
<p><strong>Doris Day</strong> tên thật là Doris Mary Kappelhoff, ra chào đời ngày 3/4/1922 tại Cincinnati, Ohio, gốc di dân Đức, ông bố là thầy giáo dạy nhạc kiêm trưởng ban hợp xướng.</p>
<p>Ngay từ nhỏ, cô bé Doris đã say mê bộ môn vũ, và tới giữa thập niên 1930 đã cùng cậu bé Jerry Doherty trở thành cặp vũ thiếu niên, trình diễn tại địa phương Cincinnati. Nhưng tới tháng 10 năm 1937, Doris Day bị gẫy xương chân trong một tai nạn xe hơi, phải bỏ mộng trờ thành một vũ công nhà nghề.</p>
<p>Trong thời gian bị “cấm cung” dài đằng đẵng, để giải khuây, cô bé 15 tuổi thường nghe radio và hát theo suốt ngày. Sau này Doris Day cho biết ngày ấy cô thích nhất Ella Fitzgerald và cố gắng bắt chước, từ cách phát âm chính xác, cách gọt dũa ca từ, cho tới cách ngân cách láy của thần tượng.</p>
<p><em>[<strong>Ella Fitzgerald</strong> (1917-1996) là đệ nhất nữ danh ca nhạc jazz của Hoa Kỳ, thường được xưng tụng là First Lady of Song, Queen of Jazz, hoặc ngắn gọn hơn, Lady Ella]</em></p>
<p>Thấy con gái vừa đam mê vừa có khiếu, bà mẹ cho cô học hát. Sau ba tuần (mỗi tuần một buổi), cô giáo dạy hát Grace Raine nhận xét Doris có rất nhiều triển vọng, và cô tự nguyện dạy Doris mỗi tuần ba buổi nhưng chỉ lấy học phí một buổi!</p>
<p>Doris theo học cô giáo Grace Raine trong thời gian tám tháng, và chưa học xong đã có job: vừa hát trên đài phát thanh địa phương 700 AM vừa hát tại nhà hàng Tàu Charlie Yee&#8217;s Shanghai Inn.</p>
<p>Chính trong thời gian hát trên đài phát thanh địa phương 700 AM, Doris đã được Barney Rapp, trưởng ban nhạc jazz nổi tiếng ở Ohio chú ý tới đúng vào lúc nữ ca sĩ trong ban là cô vợ Ruby của ông có bầu, và ông đã mời Doris thay thế, chọn cho cô nghệ danh “Doris Day” thay tên cúng cơm Doris Kappelhoff! (Barney Rapp cho biết lấy chữ “Day” là vì ông rất thích nghe Doris hát bản <em>Day After Day</em>).</p>
<p>Một thời gian ngắn sau khi hát cho ban Barney Rapp, Doris Day được mời hát cho các nhạc jazz có tầm vóc quốc gia, như Jimmy James, Bob Crosby, Les Brown&#8230; Đầu năm 1945, ca khúc <em>Sentimental Journey</em>, một sáng tác của Les Brown và Bud Green do Doris Day thu đĩa đã trở thành ca khúc đầu tiên đứng No.1 trên bảng xếp hạng Billboard trong sự nghiệp ca hát của Doris Day (với tư cách là một thành viên trong ban Les Brown).</p>
<p>Thời gian này cũng là lúc Đệ Nhị Thế Chiến tại Âu Châu kết thúc, vô hình trung ca khúc <em>Sentimental Journey</em> đã trở thành bài hát nằm lòng của những quân nhân đang chờ đợi lên đường trở về quê hương.</p>
<p>Từ đó cho tới cuối năm 1946, Doris Day đã có thêm sáu ca khúc khác đứng trong Top 10 của Billboard. Tới đầu thập niên 1950, Doris Day đã trở thành một trong những ca sĩ được ái mộ nhất, có thù lao cao nhất tại Hoa Kỳ.</p>
<p>Về sự nghiệp điện ảnh, sau khi trở thành ca sĩ chính trong ban Les Brown, năm 1941, Doris Day bắt đầu được mời xuất hiện trên màn bạc, thường là qua những vai phụ trong các cuốn phim ca nhạc hài kịch.</p>
<p>Năm 1948, với sự khuyến khích của nhà viết ca khúc Jule Styne, Doris Day đã “xâm mình” thủ vai chính trong cuốn phim Romance on the High Sea. Ca khúc <em>It’s Magic</em> cô hát trong cuốn phim này đã lên tới No.2 (với tư cách ca sĩ hát solo).</p>
<p>Hai tháng sau, bản <em>Love Somebody</em> do Doris Day song ca với Buddy Clark đã lên No.1. trên Billboard.</p>
<p>Năm 1949, Doris Day được hãng phim Warner Bros. ký hợp đồng độc quyền 5 năm, và thủ vai chính trong cuốn phim My Dream Is Yours, trong đó cô hát ca khúc <em>Someone Like You</em>.</p>
<p>Năm 1950, Doris Day được các binh sĩ Mỹ phục vụ tại Triều Tiên bình chọn là nữ nghệ sĩ được ái mộ nhất.</p>
<p>Trong hai năm 1952-1953, Doris Day còn được hãng CBS mời thực hiện chương trình The Doris Day Show trên hệ thống phát thanh toàn quốc.</p>
<p>Song song, Doris Day đã đóng thêm nhiều cuốn phim ăn khách khác cho hãng Warner Bros mà đỉnh cao là Calamity Jane, một cuốn phim ca nhạc cao-bồi Viễn Tây, trong đó cô thủ vai nữ nhân vật chính Calamity Jane.</p>
<p><em>[<strong>Calamity Jane</strong> (1852-1903) là một nhân vật đầy huyền thoại. Bà là một nhà thám hiểm kiêm hướng đạo chuyên nghiệp, chiến đấu chống người da đỏ, bạn thân của “người hùng” <strong>Wild Bill Hickok</strong>]</em></p>
<p>Trong cuốn phim này, Doris Day đã hát bản <em>Secret Love</em>, đoạt giải Oscar cho ca khúc trong phim năm 1953, và là ca khúc thứ tư của Doris Day đứng No.1 trên bảng xếp hạng Billboard.</p>
<p><strong>Phụ Lục 1: <em>Secret Love</em>, Doris Day </strong></p>
<audio class="wp-audio-shortcode" id="audio-37847-10" preload="none" style="width: 100%;" controls="controls"><source type="audio/mpeg" src="https://t-van.net/wp-content/uploads/2018/12/01-Secret-Love.mp3?_=10" /><a href="https://t-van.net/wp-content/uploads/2018/12/01-Secret-Love.mp3">https://t-van.net/wp-content/uploads/2018/12/01-Secret-Love.mp3</a></audio>
<p><strong>VIDEO:</strong></p>
<p><a href="https://www.youtube.com/watch?v=56Yg1tlPB7U" target="_blank" rel="noopener"><strong>1954 #1. Secret Love &#8211; Doris Day</strong></a></p>
<p>Mặc dù thành công rực rỡ, nổi tiếng và giàu có với thể loại phim ca nhạc hài kịch, Doris Day vẫn mong muốn bước sang thể loại bi kịch, hoặt ít ra cũng là bi hài kịch, để chứng tỏ khả năng diễn xuất của mình. Vì thế, trước việc hãng phim Warner Bros. cứ tiếp tục “bổn cũ soạn lại”, khi mãn hợp đồng vào năm 1954, Doris Day ra đi đầu quân cho hãng Paramount Pictures.</p>
<p>Cuốn phim đầu tiên của Doris Day tại hãng phim mới, Love Me or Leave Me (1955), một cuốn phim bi kịch đóng chung với nam diễn viên gạo cội James Cagney, đã thành công rực rỡ về cả mặt nghệ thuật lẫn thương mại. Đa số các nhà phê bình đều cho đây là vai trò diễn xuất đạt nhất của Doris Day kể từ ngày bước sang lĩnh vực điện ảnh.</p>
<p>Nhờ đó, qua năm sau (1956) Doris Day đã được đạo diễn Alfred Hitchcock chọn để thủ vai nữ nhân vật chính trong cuốn phim nghẹt thở The Man Who Knew Too Much của ông.</p>
<p><em> </em>Lúc đó, Alfred Hitchcock đang đảm trách việc sản xuất phim cho hãng Paramount Pictures, và theo hợp đồng thì ông còn thiếu một cuốn phim cho năm 1956.</p>
<p>Vì không còn nhiều thời gian, Alfred Hitchcock đã lấy cốt truyện của</p>
<p>cuốn phim trinh thám The Man Who Knew Too Much mà ông đã thực hiện năm 1934 khi còn ở Anh quốc, thay đổi một số chi tiết và thêm nhiều ngoại cảnh quốc tế để có cuốn phim The Man Who Knew Too Much thứ hai.</p>
<p>Hai vai nhân vật chính được Alfred Hitchcock trao cho James Stewart và Doris Day.</p>
<p>James Stewart lúc đó đang là một trong những nam diễn viên nổi tiếng nhất, đắt giá nhất kinh đô điện ảnh, mới đóng phim Rear Window (1954), cuốn phim nghẹt thở được nhiều người xem là đạt nhất của Alfred Hitchcock. Nhưng riêng Doris Day thì lại bị ông Herbert Coleman, vị phụ tá sản xuất đại diện cho hãng phim, chê. Với Herbert Coleman, Doris Day là một nữ ca sĩ không hơn không kém!</p>
<p>Herbert Coleman muốn Alfred Hitchcock chọn một trong những nữ minh tinh đã sẵn nổi tiếng của hãng, tóc vàng như Lana Turner, Grace Kelly, Kim Novak, hay tóc nâu như Jane Russell, Gene Tierney, Ava Gardner&#8230; Nhưng Alfred Hitchcock quyết định chọn Doris Day vì trước đó ông đã chú ý tới cô qua một vai phụ trong cuốn phim nghẹt thở Storm Warning (1951) của đạo diễn Stuart Heisler, do Ronald Reagan (tổng thống tương lai) và Ginger Rogers thủ vai chính. Cuối cùng hãng phim đã đồng ý với sự lựa chọn của Alfred Hitchcock.</p>
<p><em>[Ít nhất có một tác giả người Việt đã viết rằng đạo diễn Alfred Hitchcock không hề muốn trao vai trò cho Doris Day nhưng phải chịu thua áp lực của hãng phim. Chúng tôi không hiểu vị tác giả này căn cứ vào nguồn tài liệu nào?]</em></p>
<p>Vì lúc đó Doris Day đã là một nữ ca sĩ được ái mộ bậc nhất, Alfred Hitchcock đã khai thác bằng cách yêu cầu cặp bài trùng Jay Livingston &amp; Raymond Evans soạn một ca khúc để cô hát trong phim. Kết quả là bản <em>Que Serà Serà </em><em>(</em><em>Whatever will be, will be).</em></p>
<p>The Man Who Knew Too Much được trình chiếu tại Đại Hội Điện Ảnh  Quốc Tế Cannes, Pháp Quốc, vào ngày 23/5/1956 để dự tranh giải Cành Cọ Vàng (Palme d’Or) nhưng không đoạt giải. Hơn một tuần sau, khi cuốn phim được chiếu trên toàn quốc Hoa Kỳ thì lại đạt thành công rực rỡ về mặt tài chính: phí tổn thực hiện chỉ có 1,2 triệu Mỹ kim nhưng đã thu vào hơn 11,3 triệu tiền vé.</p>
<p>Về mặt nghệ thuật, trong khi được đa số nhà bình phim ca tụng thì The Man Who Knew Too Much (1956) đã bị một số người cho rằng thua xa cuốn phim trước đó (thực hiện năm 1934).</p>
<p>Hiện nay, The Man Who Knew Too Much (1956) đang được trang mạng Rotten Tomatoes cho điểm 91%, tức là thuộc hạng “rất hay”, nhưng ngày ấy, tại giải Oscar năm 1957, cuốn phim đã chỉ được xướng danh một giải duy nhất cho ca khúc trong phim, <em>Que Será Será (</em><em>Whatever will be, will be)</em><em>,</em> và đoạt giải.</p>
<p>Mặc dù chỉ lên tới hạng No.2 trên bảng xếp hạng Billboard của Hoa Kỳ (No.1 ở Anh Quốc), <em>Que Será Será (</em><em>Whatever will be, will be)</em> đã trở thành ca khúc “cầu chứng” của Doris Day không chỉ ở Hoa Kỳ mà còn khắp nơi trên thế giới, kể cả ở những quốc gia không hề chiếu cuốn phim The Man Who Knew Too Much. Có thể nói từ cuối thập niên 1950 đầu thập niên 1960, đa số thính giả trên thế giới yêu thích bản <em>Que Será Será</em> <em>(</em><em>Whatever will be, will be)</em> nếu không đọc chi tiết trên nhãn đĩa (label ) đều không hề biết đây là một ca khúc trích từ một cuốn phim.</p>
<p><em>Que Será Será (</em><em>Whatever will be, will be)</em> <strong> </strong>là một ca khúc độc đáo, từ tựa đề cho tới nội dung.</p>
<p>Trước hết nói về tựa đề “Que Será Será”, mặc dù được cấu tạo bởi sự phối hợp “phi nguyên tắc văn phạm” giữa ba ngôn ngữ Ý, Tây-ban-nha, và Pháp, câu tục ngữ này đã chỉ đươc sử dụng trong tiếng Anh, với với ý nghĩa “whatever will be, will be” (việc gì phải đến, sẽ đến).</p>
<p>“Que Será Será” là tiếng Tây-ban-nha viết sai, còn “Che sarà sarà&#8221; là tiếng Ý viết trật! cả hai đều xuất hiện vào thế kỷ thứ 16.</p>
<p>Hàng chữ “Che sarà sarà” được John Russell, Bá tước Bedford I (1485-1555) và con trai ông, Francis Russell, Bá tước Bedford II, sử dụng trên phù điêu của gia đình (family motto).</p>
<p>Còn “Que Será Será” được ghi nhận lần đầu vào giữa thế kỷ 16 trên một tấm plaque bằng đồng trong nhà thờ Thánh Nicolas ở Thames Ditton, vùng Surey, Anh Quốc.</p>
<p>Tới cuối thế kỷ thứ 16 đầu thế kỷ thứ 17, trong đối thoại của vở <em>Doctor Faustus</em>, Christopher Marlowe là tác giả Anh đầu tiên sử dụng câu tục ngữ “Che Será Será” (phát âm nửa Ý nửa Tây-ban-nha). Từ đó, Che Será Será dần dần trở nên phổ biến&#8230;</p>
<p><strong>VIẾT THÊM</strong>:</p>
<p>Điều thú vị, tạm gọi như thế, là về sau chính người Ý cũng sử dụng câu tục ngữ “Che sarà sarà” do người Anh “chế” ra. Năm 1971, José Feliciano, nam ca nhạc sĩ khiếm thị nổi tiếng Mỹ gốc Puerto Rico, và ban nhạc Ý lừng danh <strong>Ricchie e Poveri</strong> đã trình bày một ca khúc có tựa đề “Che Sarà” tại cuộc thi ca khúc Ý Sanremo Song Festival.</p>
<p>Nhân tiện, chúng tôi cũng xin giới thiệu tới những độc giả thích nghiên cứu, tìm hiểu Anh ngữ và các ngôn ngữ gốc La-mã (nhưng không bị bệnh “nhức đầu”) một tập tài liệu hơi dài nhưng rất thú vị về câu tục ngữ “Que Será Será”, hiện đang được phổ biến trên Internet:</p>
<p><a href="http://mypage.siu.edu/lhartman/kss/quesera1.html" target="_blank" rel="noopener"><strong><em>“Que sera sera”: The English Roots of a Pseudo-Spanish Proverb</em></strong></a></p>
<p><em>Lee Hartman (Southern Illinois University &#8211; Carbondale)</em></p>
<p>* * *</p>
<p>Nhưng tại sao Jay Livingston và Raymond Evans lại lấy <em>Que Será Será</em>  làm tựa đề cho một ca khúc viết bằng tiếng Anh?</p>
<p>Tất cả cũng vì “đơn đặt hàng” của Alfred Hitchcock. Trong phim, Doris Day thủ vai phu nhân của một vị đại sứ, và nhà đạo diễn muốn “phu nhân” hát bản này trong cảnh ru cậu con trai của mình ngủ; đồng thời, một vị đại sứ thì thường đi nhiều nơi và sống ở hải ngoại, cho nên Alfred Hitchcock muốn ca khúc này mang tựa đề bằng tiếng ngoại quốc.</p>
<p>Trước yêu cầu của Alfred Hitchcock, nhà soạn nhạc Jay Livingston bỗng nhớ tới cuốn phim <em>The Barefoot Contessa</em> rất nổi tiếng 2 năm trước đó, do Humphrey Bogart và Ava Gardner thủ vai chính, và trong cuốn phim này trên phù điêu của dòng họ Bá tước Vincenzo Torlato-Favrini của Ý (do Rossano Brazzi thủ vai) có hàng chữ “Che Serà, Serà”, ông bèn&#8230; mượn đỡ!</p>
<p>Chỉ có một thay đổi nho nhỏ là Jay Livingston đã đổi chữ “<strong>Che</strong>” (tiếng Ý) thành chữ “<strong>Que</strong>” (tiếng Tây-ban-nha, có cùng ý nghĩa) là vì ở Hoa Kỳ, dân gốc Mỹ la-tinh (nói tiếng Tây-ban-nha) chiếm một tỷ lệ không nhỏ.</p>
<p>Rồi từ ý nghĩa của tựa đề Que Será Será (Whatever will be, will be)  cùng với “tiền đề” Doris Day hát ru ngủ cậu con trai, Jay Livingston và Raymond Evans đã cống hiến cho đời một ca khúc thật dễ thương, và độc đáo.</p>
<p>Về hình thức, Que Será Será (Whatever will be, will be) được viết theo thể điệu valse chậm vừa, tiết tấu nhẹ nhàng, khoan thai. Về nội dung, ca khúc này gồm ba phiên khúc và một điệp khúc, là lời kể của nữ nhân vật qua ba giai đoạn của đời người: tuổi niên thiếu, tuổi biết yêu, và tuổi làm mẹ, với điệp khúc là câu trả lời “Que será será &#8211; Whatever will be, will be”</p>
<p><strong><em>Que Será Será (</em></strong><strong><em>Whatever will be, will be)</em></strong></p>
<p><strong><em> </em></strong><em>(1)</em></p>
<p><em>When I was just a little girl<br />
I asked my mother what will I be<br />
Will I be pretty will I be rich<br />
Here&#8217;s what she said to me</p>
<p></em><em>Que Sera Sera<br />
Whatever will be will be<br />
The future&#8217;s not ours to see<br />
Que Sera Sera<br />
What will be will be</p>
<p>(2)</em></p>
<p><em>When I grew up and fell in love<br />
I asked my sweetheart what lies ahead<br />
Will we have rainbows day after day<br />
Here&#8217;s what my sweetheart said</p>
<p>Que Sera Sera<br />
Whatever will be will be<br />
The future&#8217;s not ours to see<br />
Que Sera Sera<br />
What will be will be</p>
<p></em></p>
<p><em>(3)<br />
Now I have children of my own<br />
They ask their mother what will I be<br />
Will I be handsome will I be rich<br />
I tell them tenderly</p>
<p>Que Sera Sera<br />
Whatever will be will be<br />
The future&#8217;s not ours to see<br />
Que Sera Sera<br />
What will be will be<br />
Que Sera Sera.</em></p>
<p><strong>Phụ Lục 2: </strong><strong><em>Que Será Será</em></strong> <strong><em>(</em></strong><strong><em>Whatever will be, will be),</em></strong><strong> Doris Day</strong></p>
<audio class="wp-audio-shortcode" id="audio-37847-11" preload="none" style="width: 100%;" controls="controls"><source type="audio/mpeg" src="https://t-van.net/wp-content/uploads/2018/12/02-Que-Sera-Sera-Doris-Day-Nh-c-Anh.mp3?_=11" /><a href="https://t-van.net/wp-content/uploads/2018/12/02-Que-Sera-Sera-Doris-Day-Nh-c-Anh.mp3">https://t-van.net/wp-content/uploads/2018/12/02-Que-Sera-Sera-Doris-Day-Nh-c-Anh.mp3</a></audio>
<p><strong> </strong><strong>VIDEO:</strong></p>
<p><a href="https://www.youtube.com/watch?v=xZbKHDPPrrc" target="_blank" rel="noopener"><strong><u>Doris Day &#8211; Que Sera Sera &#8211; YouTube</u></strong></a></p>
<p>Nghe kể lại, khi được Jay Livingston và Raymond Evans trao cho ca khúc Que Será Será (Whatever will be, will be), Doris Day đã tỏ ra không mấy sốt sắng vì lời hát hoàn toàn trái ngược với những ca khúc trữ tình vốn là sở trường của cô, như <em>Secret Love, Three Coins in the Fountain</em>&#8230; Vì thế, cô chỉ thu âm một lần duy nhất, không cần nghe lại, rồi để mặc cho dàn nhạc và các chuyên viên kỹ thuật (mixer) muốn làm gì thì làm!</p>
<p>Những gì xảy ra sau đó chúng tôi lại phải sử dụng nhóm từ “the rest is history” để diễn tả: nhắc tới Doris Day là người ta nhớ ngay tới ca khúc này; và ngược lại, nói tới ca khúc này, người yêu nhạc sẽ liên tưởng tới Doris Day trước tiên.</p>
<p>Thực vậy, tính tới nay đã có 24 ca sĩ hoặc ban nhạc thu đĩa <em>Que Será Será </em><em>(</em><em>Whatever will be, will be)</em> lời Anh nhưng không một ai vươt trội hơn tiếng hát (và cách hát) của Doris Day. Người hát đạt nhất trong số này, theo nhận xét của chúng tôi, là nữ danh ca <strong>Connie Francis</strong> thì cũng chỉ để&#8230; nghe cho đỡ nghiền khi không có đĩa của Doris Day!</p>
<p><strong>VIDEO:</strong></p>
<p><a href="https://www.youtube.com/watch?v=RoyVtUZHs54" target="_blank" rel="noopener"><strong>Que Sera Sera (1962) Connie Francis</strong></a></p>
<p>Về ảnh hưởng văn hóa và mức độ phổ biến trong mọi lĩnh vực sinh hoạt, <em>Que Será Será (</em><em>Whatever will be, will be)</em> đã được sử dụng trong hàng trăm cuốn phim điện ảnh và phim tập truyền hình, tại Hoa Kỳ cũng như các nơi khác trên thế giới.</p>
<p>Riêng phim tập hài kịch hoạt họa The Simpsons đã sử dụng hai lần, lần thứ nhất vào năm 1994 trong tập (epidsode) 14 của mùa (season) thứ 6, có tựa đề <em>Bart’s Comet</em>.</p>
<p>Trong tập này, thị trấn Springfield sắp sửa bị sao chổi Bart’s Comet (do Bart Simpson khám phá) hủy diệt, mọi người cùng nắm tay nhau hát bản Que Será Será để&#8230; chờ chết; nào ngờ sao chổi đó chỉ là một vẩn thạch (asteroid), khi bay vào bầu khí quyển đã bị vỡ nát, chỉ còn đủ sức phá sập quán rượu Moe’s Tavern của nhân vật Moe Szyslak&#8230;</p>
<p><strong>VIDEO:</strong></p>
<p><a href="https://www.youtube.com/watch?v=s4JW7VF7lyk" target="_blank" rel="noopener"><strong>Barts Comet Simpsons</strong></a></p>
<p>Về lời hát bằng các ngôn ngữ khác, có tới hàng trăm phiên bản. Chỉ tính riêng tiếng Hoa đã có bốn phiên bản, và trong số ca sĩ thu đĩa có cả Đặng Lệ Quân (Teresa Teng).</p>
<p><em> </em>Riêng phiên bản lời Việt <em>Biết ra sao ngày sau </em>đã được phổ biến tại miền Nam VN khá sớm, khoảng cuối thập niên 1950 nhưng không ai biết đích xác tác giả là ai. Hiện nay, đa số các trang mạng đều ghi tác giả là Phạm Duy, thế nhưng trong danh sách trên 250 ca khúc  nhạc ngoại quốc lời Việt mà ông ghi ra trong hồi ký của mình, không hề có <em>Que Será Será/</em><em>Biết ra sao ngày sau</em>.</p>
<p>Trong một bài viết chúng tôi đọc được ở đâu đó (không nhớ tựa đề và tên tác giả), có đoạn nói rằng hai ca khúc trong phim nổi tiếng của thập niên 1950 là <em>River of No Return</em> và <em>Que Será Será đã </em>được đặt lời Việt, ký tên tác giả “cô Hằng”; mà người bạn đời của “chú Cuội” Phạm Duy chính là nữ ca sĩ Thái Hằng, rất có thể vì vậy mọi người đã suy ra tác giả không ai khác hơn là Phạm Duy!</p>
<p>Nhưng dù sao đi nữa, với sự dè dặt thường lệ, tên tác giả chúng tôi tạm thời để trống.</p>
<p><strong><em>Biết ra sao ngày sau</em></strong></p>
<p>(1)</p>
<p><em>Ngày em còn thơ lòng vương mộng mơ<br />
thường hay hỏi má em má ơi ngày sau<br />
con sẽ thắm tơ duyên và vui sướng không<br />
rồi nghe má khuyên bảo rằng </em></p>
<p><em> </em>Điệp khúc:</p>
<p><em>Biết ra sao ngày sau<br />
đời luyến lưu vui tươi khổ đau<br />
vì sắc duyên là sông bể dâu<br />
nào ai biết ngày sau<br />
Đời ta sẽ về đâu </em></p>
<p><em><br />
</em>(2)</p>
<p><em>Ngày em tròn đôi lòng vương tình yêu<br />
thường hay hỏi khẽ anh hỡi anh ngày sau<br />
ta sẽ mãi bên nhau và vui sướng không<br />
thì anh nắm tay bảo rằng </em></p>
<p><em> </em>Điệp khúc:<em><br />
Biết ra sao ngày sau<br />
mình có nhau hay thêm khổ đau<br />
tình có phai nhạt hay bền lâu<br />
nào ai biết ngày sau<br />
đời ta sẽ về đâu&#8230;  </em></p>
<p>Trong khi trong nguyên tác tiếng Anh chỉ có một điệp khúc duy nhất được lập đi lập lại ba lần, thì trong phiên bản lời Việt nói trên, tác giả vừa cố gắng “dịch” các phiên khúc, vừa đặt lời khác nhau cho từng điệp khúc, sao cho phù hợp với nội dung phiên khúc, tức là có nội dung phong phú, thú vị hơn nguyên tác.</p>
<p>Chỉ có điều hơi đáng tiếc là trong khi nguyên tác có tới 3 phiên khúc thì phiên bản lời Việt được phổ biến chỉ có 2. Không hiểu vị tác giả lời Việt đã chỉ dịch 2 phiên khúc, hay đã dịch cả 3 nhưng không được ghi lại đầy đủ.</p>
<p>Chỉ biết trước năm 1975, khi thu vào băng nhựa, Thanh Lan cũng chỉ hát 2 phiên khúc + 2 điệp khúc. Còn tại hải ngoại sau này, cả Kiều Nga lẫn Thanh Mai chỉ lập đi lập lai phiên khúc 1 và điệp khúc 1 mà thôi.</p>
<p><strong>Phụ lục 3: <em>Biết ra sao ngày sau</em>, Thanh Lan (pre 75)</strong></p>
<p><strong> </strong></p>
<audio class="wp-audio-shortcode" id="audio-37847-12" preload="none" style="width: 100%;" controls="controls"><source type="audio/mpeg" src="https://t-van.net/wp-content/uploads/2018/12/03-QueSeraSera-ThanhLan_38tyq_hq.mp3?_=12" /><a href="https://t-van.net/wp-content/uploads/2018/12/03-QueSeraSera-ThanhLan_38tyq_hq.mp3">https://t-van.net/wp-content/uploads/2018/12/03-QueSeraSera-ThanhLan_38tyq_hq.mp3</a></audio>
<p><strong>Phụ lục 4: <em>Biết ra sao ngày sau</em>, Kiều Nga</strong></p>
<audio class="wp-audio-shortcode" id="audio-37847-13" preload="none" style="width: 100%;" controls="controls"><source type="audio/mpeg" src="https://t-van.net/wp-content/uploads/2018/12/04-Biet-ra-sao-ngay-sau-Kieu-Nga.mp3?_=13" /><a href="https://t-van.net/wp-content/uploads/2018/12/04-Biet-ra-sao-ngay-sau-Kieu-Nga.mp3">https://t-van.net/wp-content/uploads/2018/12/04-Biet-ra-sao-ngay-sau-Kieu-Nga.mp3</a></audio>
<p><strong>HOÀI NAM</strong></p>
<p><strong> </strong></p>
<p><strong> </strong></p>
<p><strong> </strong></p>
<p><strong> </strong></p>
<p><strong> </strong></p>
<p><strong> </strong></p>
<p>©T.Vấn 2018</p>
]]></content:encoded>
					
					<wfw:commentRss>https://t-van.net/hoai-nam-nhung-ca-khuc-nhac-ngoai-quoc-loi-viet-81-nhac-phim-que-sera-sera-whatever-will-be-will-be-jay-livingston-ray-evans-biet-ra-sao-ngay-sau/feed/</wfw:commentRss>
			<slash:comments>0</slash:comments>
		
		<enclosure url="https://t-van.net/wp-content/uploads/2018/12/01-Secret-Love.mp3" length="8712484" type="audio/mpeg" />
<enclosure url="https://t-van.net/wp-content/uploads/2018/12/02-Que-Sera-Sera-Doris-Day-Nh-c-Anh.mp3" length="2025456" type="audio/mpeg" />
<enclosure url="https://t-van.net/wp-content/uploads/2018/12/03-QueSeraSera-ThanhLan_38tyq_hq.mp3" length="3897480" type="audio/mpeg" />
<enclosure url="https://t-van.net/wp-content/uploads/2018/12/04-Biet-ra-sao-ngay-sau-Kieu-Nga.mp3" length="2730196" type="audio/mpeg" />

			</item>
		<item>
		<title>Hòai Nam: NHỮNG CA KHÚC NHẠC NGOẠI QUỐC LỜI VIỆT (80 – phần II) &#8211; NHẠC PHIM – Eternally (Terry&#8217;s Theme, Limelight), Chaplin &#038; Parsons, Turner, Ánh Đèn Màu</title>
		<link>https://t-van.net/hoai-nam-nhung-ca-khuc-nhac-ngoai-quoc-loi-viet-80-phan-ii-nhac-phim-eternally-terrys-theme-limelight-chaplin-parsons-turner-anh-den-mau/</link>
					<comments>https://t-van.net/hoai-nam-nhung-ca-khuc-nhac-ngoai-quoc-loi-viet-80-phan-ii-nhac-phim-eternally-terrys-theme-limelight-chaplin-parsons-turner-anh-den-mau/#respond</comments>
		
		<dc:creator><![CDATA[Hòai-Nam]]></dc:creator>
		<pubDate>Sat, 10 Nov 2018 07:56:59 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Góc Văn]]></category>
		<category><![CDATA[hòai nam]]></category>
		<category><![CDATA[nhạc nq]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://7076e870b2.nxcli.io/?p=37539</guid>

					<description><![CDATA[(Tiếp theo phần I và Hết) Sau khi Modern Times được trình chiếu, Chaplin Charlie cùng Paulette Goddard chu du một vòng Viễn Đông, và kết hôn tại Quảng Đông. Tuy nhiên tới năm 1938, cuộc chung sống trở nên lạnh nhạt dần, dù vậy, Charlie Chaplin vẫn để Paulette Goddard thủ vai chính trong [&#8230;]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: center;"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2018/11/limelight2.jpg?strip=all"><img loading="lazy" decoding="async" class="aligncenter wp-image-37540" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2018/11/limelight2-194x300.jpg?strip=all" alt="" width="222" height="343" srcset="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2018/11/limelight2-194x300.jpg?strip=all 194w, https://cdn.t-van.net/2018/11/limelight2-768x1188.jpg 768w, https://cdn.t-van.net/2018/11/limelight2-662x1024.jpg 662w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2018/11/limelight2.jpg?strip=all 1034w" sizes="(max-width: 222px) 100vw, 222px" /></a></p>
<p>(Tiếp theo phần I và Hết)</p>
<p>Sau khi <em>Modern Times</em> được trình chiếu, Chaplin Charlie cùng Paulette Goddard chu du một vòng Viễn Đông, và kết hôn tại Quảng Đông. Tuy nhiên tới năm 1938, cuộc chung sống trở nên lạnh nhạt dần, dù vậy, Charlie Chaplin vẫn để Paulette Goddard thủ vai chính trong <em>The Great Dictator</em> (1940), một cuốn phim có nội dung chế nhạo Adolf Hitler, lãnh tụ Đức Quốc Xã có bộ ria mép “bàn chải đánh răng” giống hệt Charlie Chaplin!</p>
<p>Trong giải Oscar năm 1941, <em>The Great Dictator</em> được đề nghị tranh năm giải thưởng: phim hay nhất, kịch bản, nam diễn viên chính, nam diễn viên phụ, và nhạc phim nhưng không đoạt giải nào.</p>
<p>Năm 1942, Paulette Goddard đệ đơn ly dị tại Mễ-tây-cơ.</p>
<p>Tới đây, bắt đầu một loạt diễn tiến khiến Charlie Chaplin cuối cùng đã phải quay lưng lại với nước Mỹ. Nguyên nhân xa là lập trường chính trị thiên tả của Charlie Chaplin, nguyên nhân gần là quan hệ ái tình khá phức tạp của ông mà nhiều người lên án là “thích gái trẻ”, “thiếu đạo đức”.</p>
<p>Bắt đầu vào tháng 6 năm 1941, tức là trước khi Paulette Goddard đệ đơn ly dị, Charlie Chaplin đã bắt đầu một quan hệ tình dục sôi nổi với cô đào trẻ <strong>Joan Barry</strong> kém ông 30 tuổi. Quan hệ này chấm dứt vào mùa thu 1942, nhưng qua năm 1943, Joan Barry loan tin cô đã có thai với Charlie Chaplin trước khi hai người chia tay, nhưng ông ra sức bác bỏ.</p>
<p>Joan Barry còn tiết lộ trước khi có bầu lần này, trong thời gian thân mật với Charlie Chaplin, cô đã từng phá thai hai lần.</p>
<p>Trước tin giật gân này, những tờ báo Mỹ vốn không ưa Charlie Chaplin đã không bỏ lỡ cơ hội. Họ lên án ông đã dụ dỗ Joan Barry, hứa sẽ biến nàng thành một minh tinh màn bạc với mục đích lợi dụng tình dục.</p>
<p>Cùng lúc, FBI nhập cuộc. Về sau, không ít người tin rằng đích thân ông John Edgar Hoover, Giám đốc FBI, người từ lâu đã nghi ngờ lập trường chính trị của Charlie Chaplin, đã nhân cơ hội này ra tay triệt hạ.</p>
<p>FBI buộc Charlie Chaplin vào bốn tội danh, nhưng Công tố viện đã bác ba tội danh đầu để chỉ giữ lại tội danh thứ tư, cũng là tội danh nặng nhất: vi phạm đạo luật Mann Act “nghiêm cấm việc đưa phụ nữ từ tiểu bang này sang tiểu bang khác với những mục đích tình dục” (which prohibits the transportation of women across state boundaries for sexual purposes). Án phạt tối đa dành cho tội danh này là 23 năm tù!</p>
<p>Trên thực tế, Mann Act thường chỉ được áp dụng trong việc truy tố các đường dây gái mại dâm. Trong trường hợp Charlie Chaplin, ông bị buộc tội vì đã “trả tiền cho Joan Barry đi theo mình để quan hệ tình dục”.</p>
<p>Theo lời biện hộ của luật sư, ngày ấy Charlie Chaplin với tư cách giám đốc hãng phim Chaplin Studios, đã cho ký với Joan Barry một “hợp đồng có thể kéo dài” với tiền lương 75 Mỹ kim một tuần (tương đương 1.750 Mỹ kim hiện nay), và ông có ý định sẽ cho cô đóng một vai trong cuốn phim <em>Shadows and Substance</em> dự trù sẽ thực hiện vào năm 1942, nhưng rất tiếc công việc bị đình trệ.</p>
<p>Phiên tòa xử Charlie Chaplin về tội danh vi phạm đạo luật Mann Act diễn ra trong tháng 3/1944. Sau hai tuần xét xử, ông đã được trắng án.</p>
<p>Tới tháng 10 năm đó, Joan Barry sanh bé gái Carol Ann, và đệ đơn kiện Charlie Chaplin đòi tiền cấp dưỡng đứa bé.</p>
<p>Tòa bắt đầu xử vào tháng 2/1945. Charlie Chaplin đòi thử máu đứa bé. Kết quả cho thấy nó không phải con của ông nhưng truyền thông và dư luận lại “tố giác” ông đã dùng tiền bạc mua chuộc chuyên viên thử máu để che dấu sự thật. Trong số những người lên tiếng “tố giác” có cả cô vợ cũ Lita Grey, người trước đây đã tố cáo Charlie Chaplin ngoại tình, hành hạ vợ, và bạo dâm!</p>
<p>Rốt cuộc, cũng như trong vụ ly dị Lita Grey, để báo chí khỏi bơi móc thêm, Charlie Chaplin đồng ý cấp dưỡng bé Carol Ann cho tới năm 21 tuổi.</p>
<p>Nhưng xì-căng-đan tình dục liên quan tới Charlie Chaplin không chỉ có bấy nhiêu.</p>
<p>Hai tuần lễ sau khi Joan Barry đệ đơn kiện Charlie Chaplin để đòi tiền cấp dưỡng bé gái Carol Ann, người ta được biết ông đã kết hôn với Oona O’Neil, một cô gái 18 tuổi đang được ông đỡ đầu trên đường sự nghiệp. Mặc dù sau này Charlie Chaplin đã khẳng định đây là cuộc hôn nhân hạnh phúc nhất của mình, có với Oona tám người con, và chung sống cho tới khi ông qua đời, nhưng trước đó, trong bối cảnh bị kiện đòi tiền cấp dưỡng, cùng với thành tích hai lần lấy gái 16 tuổi, việc một “bố già 54 tuổi” lấy một nàng tiểu minh tinh 18 xuân xanh (Oona O’Neil) bị dư luận lên án cũng là điều dễ hiểu.</p>
<p>* * *</p>
<p>Xì-căng-đan liên tục đã ảnh hưởng tai hại tới nghề nghiệp của Charlie Chaplin. Tháng 4/1946, gần hai năm sau ngày bị Joan Barry kiện, ông mới bắt tay vào việc quay cuốn phim <em>Monsieur Verdoux</em> mà ông đã chuẩn bị từ năm 1942.</p>
<p><em>Monsieur Verdoux</em> là một “hài kịch đen” trong đó Charlie Chaplin chỉ trích chủ nghĩa tư bản và nhận định rằng thế giới đang cổ súy giết chóc qua việc gây ra chiến tranh với các vũ khí có sức hủy diệt hàng loạt.</p>
<p>Trong buổi trình chiếu<em> Monsieur Verdoux</em>, Charlie Chaplin đã bị la ó, tiếp theo là những lời kêu gọi tẩy chay cuốn phim. Lần đầu tiên, một tác phẩm của Charlie Chaplin bị thất bại về cả mặt tài chính lẫn nghệ thuật. Trong giải Oscar năm 1947, <em>Monsieur Verdoux</em> chỉ được một xướng danh duy nhất cho kịch bản. Tuy nhiên Charlie Chaplin lại rất hãnh diện, cho đây là tác phẩm nhiều chất sáng tạo nhất trong cả sự nghiệp của mình!</p>
<p>Nhưng với dư luận nói chung, cuốn phim <em>Monsieur Verdoux</em> là một sự khẳng định lập trường thân cộng của Charlie Chaplin, vốn trước đó đã được thể hiện qua việc kêu gọi hỗ trợ Liên Xô trong thời gian Đệ nhị Thế chiến, việc giao kết với những thành phần bị tình nghi là cộng sản, việc tham dự các buổi tiếp tân của các giới chức ngoại giao Liên Xô tại kinh đô điện ảnh. Việc Charlie Chaplin sau hơn 30 năm thường trú và làm việc tại Hoa Kỳ vẫn không chịu gia nhập quốc tịch Mỹ cũng bị đặt dấu hỏi.</p>
<p>Vì thế, FBI đã tìm mọi cách để trục xuất Charlie Chaplin, và tới năm 1947, đã chính thức cho mở cuộc điều tra. Charlie Chaplin trong khi bác bỏ cáo buộc mình là một người cộng sản, đã công khai phản đối các cuộc xét xử các thành viên Đảng Cộng Sản Mỹ. Sau đó mấy năm, khi đã định cư tại Thụy-sĩ, Charlie Chaplin còn gặp gỡ các lãnh tụ cộng sản quốc tế như Thủ tướng Trung Cộng Chu Ân Lai, Tổng Bí thư Đảng Cộng Sản Liên Xô Nikita Khrushchev, và vào năm 1954 đã nhận lãnh Giải thưởng Hòa bình Quốc tế (International Peace Prize) của Hội đồng Hòa bình Thế giới (World Peace Council), một tổ chức tự nhận là phi chính phủ nhưng thực chất do Đảng Cộng Sản Liên Xô thành lập và chi phối.</p>
<p>* * *</p>
<p>Trở lại với sự nghiệp điện ảnh của Charlie Chaplin, sau thất bại của  cuốn phim <em>Monsieur Verdoux</em> với nội dung thiên tả, ông quyết định cuốn phim kế tiếp sẽ hoàn toàn không mang màu sắc chính trị. Đó chính là <em>Limelight</em> (chúng tôi sẽ trở lại với nội dung cuốn phim này ở phần cuối bài viết).</p>
<p>Sau khi hoàn tất <em>Limelight</em> vào giữa năm 1952, Charlie Chaplin quyết định sẽ trình chiếu tại Luân-đôn, bởi vì, theo lời ông, bối cảnh không gian của cuốn phim là thủ đô Anh quốc. Tuy nhiên, không ít người tin rằng Charlie Chaplin không trình chiếu tại Los Angeles để tránh việc bị truyền thông và các thành phần hữu khuynh “phá đám”.</p>
<p>Khi rời Los Angeles, Charlie Chaplin có linh cảm ông sẽ không quay trở lại. Ngày 18/9/1952, ông cùng toàn bộ gia đình rời cảng Nữu Ước trên du thuyền RMS Elizabeth.</p>
<p>Qua ngày hôm sau, Bộ trưởng Tư pháp Hoa Kỳ James P. McGranery ký quyết định vô hiệu hóa giấy phép tái nhập cảnh của Charlie Chaplin, theo đó, muốn trở lại Hoa Kỳ, ông phải làm đơn để được phỏng vấn về lập trường chính trị và tư cách đạo đức.</p>
<p>Khi nhận được điện tín báo tin này, Charlie Chaplin đã quyết định sẽ không bao giờ trở lại Hoa Kỳ.</p>
<p>Sau này ông viết trong cuốn hồi ký tựa đề <em>Chaplin</em> (1964):</p>
<p>“Trở lại hay không trở lại xứ sở chán chường ấy chẳng mấy ảnh hưởng tới tôi. Từ lâu, tôi đã muốn nói thẳng vào mặt họ rằng thoát được cái bầu không khí đầy hận thù ấy càng sớm càng tốt cho tôi&#8230;”</p>
<p>Nhưng ngày ấy, Charlie Chaplin đã không dám nói thẳng ra như thế vì toàn bộ tài sản của ông còn nằm ở Hoa Kỳ, ông không muốn chọc giận dư luận, truyền thông Mỹ.</p>
<p>* * *</p>
<p>Tới đây, viết về cuốn phim <em>Limelight </em>do Charlie Chaplin viết kịch bản, đạo diễn, thủ vai chính, và soạn nhạc phim.</p>
<p><em>[Limelight nghĩa đen là luồng ánh sáng trắng xanh chiếu xuống sân khấu nhắm vào nghệ sĩ chính, được phát minh vào thập niên 1830 (khi chưa có đèn điện), sử dụng hỗn hợp khí oxyhydrogen để đốt một khối calcium oxide (lime, vôi). Nghĩa bóng là khoảng thời gian nổi bật trong sự nghiệp của một nghệ sĩ, tương đương chữ “spotlight” hiện nay]</em></p>
<p>Như chúng tôi đã viết ở một đoạn trên, <em>Limelight</em> là một cuốn phim hoàn toàn không mang màu sắc chính trị mà là một bi hài kịch về những phũ phàng của kiếp nghệ sĩ lúc hết thời. Tuy nhiên, không ít người vẫn cho rằng qua cuốn phim này, Charlie Chaplin muốn ám chỉ việc ông bị người Mỹ quay lưng sau hơn 30 năm đem lại niềm vui, tiếng cười cho họ.</p>
<p style="text-align: center;"><em> <a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2018/11/Limelight-Claire-Bloom-and-Charlie-Chaplin-1.jpg?strip=all"><img loading="lazy" decoding="async" class="aligncenter size-medium wp-image-37534" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2018/11/Limelight-Claire-Bloom-and-Charlie-Chaplin-1-300x221.jpg?strip=all" alt="" width="300" height="221" srcset="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2018/11/Limelight-Claire-Bloom-and-Charlie-Chaplin-1-300x221.jpg?strip=all 300w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2018/11/Limelight-Claire-Bloom-and-Charlie-Chaplin-1.jpg?strip=all 640w" sizes="(max-width: 300px) 100vw, 300px" /></a></em></p>
<p style="text-align: center;"><em>Claire Bloom</em><em> và </em><em>Charlie Chaplin</em></p>
<p><em> </em><em>Limelight</em> lấy bối cảnh Luân-đôn năm 1914, lúc thế chiến thứ nhất sắp bùng nổ. Calvero (Charlie Chaplin), một tay hề sân khấu hết thời, lúc nào cũng say mèm, tình cờ cứu được nàng vũ công ballet trẻ Thereza &#8220;Terry&#8221; Ambrose (Claire Bloom) đang tính tự tử. Sau đó, nhờ sự khuyến khích, nâng đỡ tinh thần của Calvero, Terry trở lại với nghề vũ và đạt thành công, nổi tiếng quốc tế. Nhân đó, Calvero cũng noi gương Terry để trở lại sân khấu hài kịch nhưng bị thất bại thê thảm.</p>
<p>Lúc này Terry đang được nhà soạn nhạc trẻ Neville theo đuổi, nhưng cô lại muốn kết hôn với Calvero để trả ơn, bất chấp tuổi tác cách biệt. Calvero khước từ và khuyên Terry nên tiến tới với Neville. Để cô không còn sự lựa chọn nào khác, Calvero âm thầm ra đi.</p>
<p>Nhưng cuối cùng, Terry cũng tìm được Calvero khi ông đang làm hề trên hè phố để kiếm sống. Lúc này Terry đã trở thành một nghệ sĩ nổi tiếng và có show riêng; cô thuyết phục Calvero trở lại sân khấu để cùng cô xuất hiện trong một buổi trình diễn gây quỹ từ thiện. Calvero không có lý do để từ chối.</p>
<p>Trong đêm diễn, Calvero xuất hiện ngay trong màn đầu và được hoan hô nhiệt liệt như thuở vàng son của mình. Nhưng tới khi Terry ra sân khấu trình diễn màn hai, Calvero đang đứng sau cánh gà chăm chú theo dõi, bỗng lên cơn đau tim và gục chết&#8230;</p>
<p>Sau khi phát hành, <em>Limelight</em> nhận được những lời khen chê lẫn lộn, trong đó hầu hết những người chê đã nhấn mạnh tới hai điểm: cuốn phim quá dài (137 phút) và đối thoại tràng giang đại hải!</p>
<p>Về mặt nghệ thuật, nếu xem đây là một cuốn phim mang tính cách tự thuật (autobiographical), Charlie Chaplin đã thành công trong việc trình bày triết lý sống của mình.</p>
<p>Nhà bình phim nổi tiếng John McCarten của tờ <em>The New Yorker</em> nhận xét:</p>
<p>“Bỏ qua mọi nhược điểm, <em>Limelight</em> là một cuốn phim đầy chất sáng tạo và nổi bật. Rất tiếc, ông Chaplin đã không đạt tới cái đích nhanh chóng cho bằng Shakespeare”.</p>
<p>Thời gian phát hành <em>Limelight</em> cũng là lúc giấy phép tái nhập cảnh  của Charlie Chaplin đã bị thu hồi vì lập trường thân cộng, đại đa số các rạp chiếu bóng ở Hoa Kỳ đã tẩy chay cuốn phim này, trừ một số rạp ở các thành phố miền Đông.</p>
<p>Mãi tới năm 1972, <em>Limelight </em>mới được phát hành trên toàn quốc Hoa Kỳ, trong đó có kinh đô điện ảnh Hồ-ly-vọng. Tuy nhiên, với số thu chưa tới một triệu Mỹ kim trên toàn quốc, <em>Limelight</em> phải được xem là một cuốn phim “ế khách”, trong khi ở các nơi khác thế giới, đặc biệt là Âu châu và Nhật Bản, <em>Limelight </em>đã được nồng nhiệt đón nhận. Hiện nay, <em>Limelight</em> đang được trang mạng bình phim Rotten Tomatoes ghi nhận số điểm 96% (do các nhà bình phim trên thế giới chấm), nghĩa là thuộc vào hàng bất hủ.</p>
<p>Sở dĩ <em>Limelight</em> được tái phát hành tại Hoa Kỳ vào năm 1972 là vì tình hình và bầu không khí chính trị lúc đó đã thay đổi 180 độ, các tổ chức cấp tiến, các thế lực thiên tả thao túng mọi mặt trong đời sống kể cả kỹ nghệ giải trí, cho nên người Mỹ muốn “làm hòa” với Charlie Chaplin &#8211; một người bị xem là có lập trường thân cộng.</p>
<p>Cùng với việc <em>Limelight </em>được chiếu trên toàn quốc Hoa Kỳ, Hàn làm viện Nghệ thuật và Khoa học Điện ảnh còn mời Charlie Chaplin trở lại kinh đô điện ảnh để vinh danh. Tại giải Oscar năm 1972, Charlie Chaplin đã được trao tặng giải Oscar Danh dự (Honorary Oscar) thứ hai trong sự nghiệp vì “những ảnh hưởng không thể so sánh mà ông đã tạo ra trong việc đưa điện ảnh trở thành một bộ môn nghệ thuật”.</p>
<p>Ông được cử tọa đứng dậy hoan hô (standing ovation) suốt 12 phút – cho tới nay vẫn là một kỷ lục trong giải Oscar.</p>
<p>Tới giải Oscar lần thứ 45 tổ chức vào đầu năm 1973, <em>Limelight</em> đã được dự tranh với lý do tuy phát hành năm 1952, nhưng mãi tới năm 1972, mới được chiếu tại Los Angeles.</p>
<p>Kết quả <em>Limelight</em> đã đoạt giải Oscar cho phần nhạc phim bi kịch (Best Original Dramatic Score). Đây là giải Oscar dự tranh (competitive Oscar) đầu tiên và duy nhất trong sự nghiệp của Charlie Chaplin; hai giải Oscar trước đó của ông đều là Oscar Danh dự.</p>
<p>Nhạc phim của <em>Limelight</em> do Charlie Chaplin hợp soạn cùng Raymond Rasch và Larry Russell.</p>
<p>Raymond Rasch (1917-1964) là một nhà soạn hòa âm phối khí kiêm nhạc sĩ dương cầm; Larry Russell (1913-1954) là một nhà soạn nhạc phim và cũng là một trong ba tác giả của ca khúc “Western” nổi tiếng <em>Vaya Con Dios.</em></p>
<p><strong>VIDEO:</strong></p>
<p><a href="https://www.youtube.com/watch?v=QqZ0Sdz_V40" target="_blank" rel="noopener"><strong>&#8220;Vaya con Dios&#8221; Les Paul and Mary Ford</strong></a></p>
<p>Nhạc phim của <em>Limelight </em>gồm 15 ca khúc, nhạc khúc, trong đó nhạc khúc mở đầu (opening) là <em>Terry&#8217;s Theme</em> (Chủ đề Terry) nổi tiếng và phổ biến nhất.</p>
<p><strong>VIDEO:</strong></p>
<p><a href="https://www.youtube.com/watch?v=rl47EmHmSaY" target="_blank" rel="noopener"><strong><em>Charlie Chaplin&#8217;s Limelight theme (original)</em></strong></a></p>
<p><strong>Phụ lục 1: <em>Terry’s Theme (Limelight),</em> Mantovani Orchestra</strong></p>
<audio class="wp-audio-shortcode" id="audio-37539-14" preload="none" style="width: 100%;" controls="controls"><source type="audio/mpeg" src="https://t-van.net/wp-content/uploads/2018/11/01-limelight.mp3?_=14" /><a href="https://t-van.net/wp-content/uploads/2018/11/01-limelight.mp3">https://t-van.net/wp-content/uploads/2018/11/01-limelight.mp3</a></audio>
<p>Cùng thời gian phát hành cuốn phim <em>Limelight, Terry’s Theme</em> đã được hai tác giả Geoff Parsons và John Turner đặt lời hát với tựa <em>Eternally </em>(Vĩnh cửu), có khi còn được viết một cách chi tiết là <em>Eternally (Terry’s Theme)</em>, hoặc <em>Eternally (Terry’s Theme &#8211; Limelight).</em></p>
<p>[Geoff Parsons và John Turner cũng là tác giả lời hát ca khúc <em>Smile</em> đã nhắc tới ở một đoạn trước]</p>
<p><strong><em>Eternally </em></strong></p>
<p><em> </em><em>I’ll be loving you<br />
Eternally<br />
With a love that’s true<br />
Eternally<br />
From the start within my heart it seems I’ve always known<br />
The sun would shine when you were mine and mine alone</em></p>
<p><em>I’ll be loving you<br />
Eternally<br />
There’ll be no-one new, my dear, for me<br />
Though the sky should fall remember I shall always be<br />
Forever true<br />
and loving you<br />
Eternally (bis)</em></p>
<p><em>Eternally</em> được nam ca sĩ Anh <strong>Jimmy Young</strong> thu đĩa năm 1953, lên tới hạng 8; cùng khoảng thời gian phiên bản do <strong>Vic Damone</strong> thu đĩa đã đứng hạng 12 trên bảng xếp hạng nhạc phổ thông ở Hoa Kỳ.</p>
<p><strong>VIDEO:</strong></p>
<p><a href="https://www.youtube.com/watch?v=LpghxdvU374" target="_blank" rel="noopener"><strong> </strong><strong>Jimmy Young &#8211; Eternally ( 1953 )</strong></a></p>
<p>Khoảng cuối thập niên 1960, <em>Eternally</em> đã đem lại đĩa vàng cho nam ca sĩ Anh <strong>Engelberg Humperdink</strong> (chúng tôi đã nhắc tới trong bài viết về ca khúc <em><a href="https://t-van.net/?p=21007">The Last Waltz</a></em>) và nữ ca sĩ Anh <strong>Petula Clark</strong>.</p>
<p><em>Eternally</em> cũng rất được các ca sĩ nhạc jazz, opera, classical ưa chuộng, trong số đó có “Nữ hoàng nhạc jazz” <strong>Sarah Vaughan</strong> (1924-1990) của Mỹ, nam danh ca tenor <strong>Plácido Domingo </strong>của Tây-ban-nha&#8230;</p>
<p><strong>VIDEO: </strong></p>
<p><strong> </strong><a href="https://www.youtube.com/watch?v=gaw2F40L3Ag" target="_blank" rel="noopener"><strong><em>Plácido Domingo &#8220;Songs&#8221; &#8211; Eternally (Charlie Chaplin&#8217;s Limelight)</em></strong></a></p>
<p>Về phần các danh ca của châu Á, người đầu tiên thu đĩa <em>Eternally</em> nguyên tác lời Anh, lời Nhật, lời Hoa không ai khác hơn là <strong>Li Xianglan</strong> (Lý Hương Lan), mà đường đời và sự nghiệp đã được chúng tôi nhắc tới trong bài viết về ca khúc <em><a href="https://t-van.net/?p=14240">Shina No Yoru</a></em> (Chiều Tô Châu).</p>
<p>Li Xianglan (1920-2014), tên Nhật là Yoshiko Yamaguchi, sang Hoa Kỳ lập nghiệp vào đầu thập niên 1950 với nghệ danh Shirley Yamaguchi.</p>
<p>Sau khi ca khúc <em>Eternally</em> ra đời, Li Xianglan có dịp gặp gỡ Charlie Chaplin tại Luân-đôn, và đã được ông chấp thuận cho độc quyền sử dụng ca khúc này tại toàn cõi Á châu. Li Xianglan liền nhờ một tác giả Nhật đặt lời để bà thu đĩa. Rất tiếc, chúng tôi không thể tìm ra một phiên bản nào của đĩa hát này.</p>
<p>Sau đó, Li Xianglan đã nhờ Chen Shi (Trần Thức) đặt lời tiếng Phổ thông với tựa <em>心曲</em> (Heart Song, Tiếng hát con tim) và thu đĩa năm 1957 – một năm trước khi bà giải nghệ vĩnh viễn vào tuổi 38 để về nâng khăn sửa túi cho nhà ngoại Hiroshi Otaka.</p>
<p><em>[Theo chú thích trên Internet, hình ảnh chàng trai trong video clip dưới đây là nam ca nhạc sĩ jazz Mỹ gốc Hoa <strong>Harry Haw</strong>, sinh năm 1897, nổi tiếng từ thập niên 1920]</em></p>
<p><strong>VIDEO:</strong></p>
<p><strong> </strong><a href="https://www.youtube.com/watch?v=3R2k9_SzAXs" target="_blank" rel="noopener"><strong><em>Li Xianglan &#8211; Heart Song (Eternally ) 李香兰-心曲 1957</em></strong></a></p>
<p>Về phiên bản lời Việt của <em>Eternally</em>, chúng tôi được biết có ít nhất năm (5) phiên bản của bốn (4) tác giả: Nguyễn Xuân Mỹ, Nguyễn Huy Hiển, Anh Hoa, và Phạm Duy.</p>
<p>Chính vì có nhiều phiên bản do nhiều tác giả soạn, trong đó ba tác giả Nguyễn Xuân Mỹ, Nguyễn Huy Hiển, Anh Hoa tương đối ít được người thưởng ngoạn biết tới, cho nên ngay từ trước năm 1975 đã có những sự lẫn lộn, râu ông nọ cắm cằm bà kia, hết sức phi lý. Nay nhân dịp viết bài này, chúng tôi cố gắng tìm hiểu, đối chiếu các nguồn tài liệu cũ mới để làm sáng tỏ.</p>
<p>Trước hết viết về phiên bản đầu tiên tựa đề <em>Ánh Đèn Màu</em> do nhạc sĩ <strong>Nguyễn Xuân Mỹ</strong> soạn năm 1955 (mà ông nói là “dịch), cũng là phiên bản phổ biến nhất.</p>
<p>Nguyễn Xuân Mỹ sinh năm 1926 và qua đời tại Sài Gòn năm 2014. Ông là nhạc sĩ kèn saxo, clarinet và accordeon, chuyên chơi nhạc tại các nhà hàng, vũ trường và sau này tại các club của người Mỹ.</p>
<p><em>Ánh Đèn Màu</em> là tác phẩm duy nhất của ông, trước năm 1975 đã được Hà Thanh, Thanh Thúy, Khánh Ly, Thái Thanh, Lệ Thu, Julie, v.v&#8230; thu âm.</p>
<p style="text-align: center;"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2018/11/Anh-Den-Mau-Nguyen-Xuan-My.jpg?strip=all"><img loading="lazy" decoding="async" class="aligncenter wp-image-37536" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2018/11/Anh-Den-Mau-Nguyen-Xuan-My-300x188.jpg?strip=all" alt="" width="415" height="260" srcset="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2018/11/Anh-Den-Mau-Nguyen-Xuan-My-300x188.jpg?strip=all 300w, https://cdn.t-van.net/2018/11/Anh-Den-Mau-Nguyen-Xuan-My-768x480.jpg 768w, https://cdn.t-van.net/2018/11/Anh-Den-Mau-Nguyen-Xuan-My-1024x641.jpg 1024w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2018/11/Anh-Den-Mau-Nguyen-Xuan-My.jpg?strip=all 1600w" sizes="(max-width: 415px) 100vw, 415px" /></a></p>
<p><em> </em><em>Ánh Đèn Màu</em> của Nguyễn Xuân Mỹ gồm hai phiên khúc (verses), và một điệp khúc.</p>
<p><strong><em>Ánh Đèn Màu</em></strong></p>
<p><em> </em>(1)</p>
<p><em>Đời ca hát ngày tháng cho người mua vui<br />
Đời son phấn làm mất bao ngày thơ ngây<br />
Cùng bên ánh mầu sắc lạc lõng trong tiếng đàn hát đêm khuya<br />
Rồi bao nếp nhăn về với tháng năm đời lãng quên rồi </em></p>
<p><em><br />
Buồn trong tiếng nhạc lắng cho đời mê say </em></p>
<p><em>Cười trong ánh đèn sáng cho người mua vui<br />
Rồi khi ánh đèn tắt lặng lẽ cô đơn<br />
Chìm trong bóng đêm, người ta lãng quên bẽ bàng<br />
</em></p>
<p>Điệp khúc:</p>
<p><em>Giờ đây vắng tan rồi khách ra về ơi ánh đèn<br />
Nhìn cảnh vắng hoang tàn kiếp con ve khi cuối mùa<br />
Nào đâu phút huy hoàng phút say xưa theo tiếng đàn vui ca</em></p>
<p><em><br />
</em>(2)</p>
<p><em>Kìa khi ánh đèn tắt ơi đời vui ca<br />
Đời thương khóc làm mướn ánh đèn ban đêm<br />
Nào ai biết đời sống bạc bẽo sau tiếng đàn hát trong đêm<br />
</em><em>Đời ca hát thuê Đời qua phấn son Đời sống không nhà </em></p>
<p><em><br />
Về theo nét tàn úa đâu còn duyên xưa<br />
Người năm trước nào nhớ bóng người đêm xưa<br />
Đời cam sống một bóng lặng lẽ cô đơn<br />
Đời xa tiếng ca nào ai tiếc thương bẽ bàng.</em></p>
<p><em> </em>Ngày ấy, Hà Thanh là người đầu tiên hát bản <em>Ánh Đèn Màu</em> của Nguyễn Xuân Mỹ; rất tiếc hiện nay chúng tôi không tìm được băng hay đĩa hát cũ của Hà Thanh.</p>
<p>Còn trong số những băng nhạc thu âm trước năm 1975 hiện vẫn được phổ biến, cũng như những băng cassette, CD được thu âm sau này tại hải ngoại, chúng tôi không thấy có ca sĩ nào hát điệp khúc. Trong số này, Lệ Thu hát (trước và sau 1975) đủ 2 phiên khúc, trong khi Vũ Khanh chỉ hát phiên khúc 1.</p>
<p><strong>VIDEO:</strong></p>
<p><strong> </strong><a href="https://www.youtube.com/watch?v=d6-X6fhWB7I" target="_blank" rel="noopener"><strong>Ánh Đèn Màu (Charlie Chaplin) Lệ Thu (pre 1975) – VCH</strong></a></p>
<p><strong>Phụ lục 2: <em>Ánh Đèn Màu</em>, Vũ Khanh</strong></p>
<audio class="wp-audio-shortcode" id="audio-37539-15" preload="none" style="width: 100%;" controls="controls"><source type="audio/mpeg" src="https://t-van.net/wp-content/uploads/2018/11/02-AnhDenMau-VuKhanh_3k52.mp3?_=15" /><a href="https://t-van.net/wp-content/uploads/2018/11/02-AnhDenMau-VuKhanh_3k52.mp3">https://t-van.net/wp-content/uploads/2018/11/02-AnhDenMau-VuKhanh_3k52.mp3</a></audio>
<p>Về phần Khánh Ly, trước cũng như sau năm 1975, không những chỉ hát phiên khúc 1, mà còn đổi lời hát của 4 câu cuối trong phiên khúc này; Kim Loan, trong một video thu năm 1992 tại hải ngoại, cũng hát giống Khánh Ly.</p>
<p>Nguyên tác của Nguyễn Xuân Mỹ:</p>
<p><em> </em><em>Buồn trong tiếng nhạc lắng cho đời mê say </em></p>
<p><em>Cười trong ánh đèn sáng cho người mua vui<br />
Rồi khi ánh đèn tắt lặng lẽ cô đơn<br />
Chìm trong bóng đêm, người ta lãng quên bẽ bàng</em></p>
<p>thành:</p>
<p><strong><em>Về đâu hỡi người gái giang hồ đêm nay </em></strong></p>
<p><strong><em>Đời như hoa tàn úa ai thèm mê say </em></strong></p>
<p><strong><em>Và khi ánh đèn tắt lặng lẽ trong đêm </em></strong></p>
<p><strong><em>Người ta lãng quên đời son phấn ôi bẽ bàng.</em></strong></p>
<p>Theo suy nghĩ của chúng tôi, việc đổi lời này (thêm nhân vật “người gái giang hồ”) có thể khiến nội dung ca khúc thêm phần lâm ly bi đát, nhưng vô lý và vô nghĩa. Chưa kể việc thay đổi lời hát trong nguyên tác là một việc dứt khoát không nên làm.</p>
<p>Tuy nhiên, nếu đích thân Khánh Ly hay vị tác giả nào đó đã xin phép nhạc sĩ Nguyễn Xuân Mỹ cho đổi lời hát, chúng tôi xin miễn bàn thêm!</p>
<p><strong>Phụ lục 3: <em>Ánh Đèn Màu</em>, Khánh Ly</strong></p>
<audio class="wp-audio-shortcode" id="audio-37539-16" preload="none" style="width: 100%;" controls="controls"><source type="audio/mpeg" src="https://t-van.net/wp-content/uploads/2018/11/03-Ánh-dèn-m-u-Limelight-LV-Nguy-n-Xuân-M-Khánh-Ly-I-Nh-.mp3?_=16" /><a href="https://t-van.net/wp-content/uploads/2018/11/03-Ánh-dèn-m-u-Limelight-LV-Nguy-n-Xuân-M-Khánh-Ly-I-Nh-.mp3">https://t-van.net/wp-content/uploads/2018/11/03-Ánh-dèn-m-u-Limelight-LV-Nguy-n-Xuân-M-Khánh-Ly-I-Nh-.mp3</a></audio>
<p>Phiên bản lời Việt thứ hai của<em> Eternally </em>là của tác giả <strong>Anh Hoa</strong>, soạn năm 1957 với tựa đề <em>Tình Tôi</em>, gồm 2 phiên khúc.</p>
<p><strong><em>Tình Tôi</em></strong></p>
<p><em>(1)</em></p>
<p><em>Tìm đâu những giờ phút êm đềm bên em,<br />
Ngồi bên nhau mà hát theo đàn thâu đêm.<br />
Trời về khuya vầng trăng lạc lõng nhìn em cặp mắt mơ màng,<br />
Lòng tôi xốn xang, dìu em bước sang bờ cõi thiên đàng.</em></p>
<p><em><br />
Tìm đâu thấy hình bóng yêu kiều năm xưa,<br />
Kề bên nhau mà lắng nghe đàn say sưa.<br />
Giòng thời gian lặng lẽ bạc bẽo, em ơi!<br />
Thời gian vẫn trôi, mà riêng lứa đôi lỡ làng.</em></p>
<p>(2)</p>
<p><em>Chiều hôm nay ngồi nhớ bao ngày xa xôi,<br />
Dạo vài cung đàn hát mơ màng trên môi.<br />
Để lòng mơ hình bóng người cũ giờ đây ở chốn xa vời.<br />
Người trinh nữ ơi! Còn chăng nét môi giọng hát yêu đời?</em></p>
<p><em><br />
Chiều hôm nay gửi đến phương trời xa xôi,<br />
Vài lời ca lả lướt, nỗi lòng của tôi.<br />
Dù thời gian tàn ác bạc bẽo, em ơi!<br />
Mà riêng có tôi tìm em khắp nơi, khuất rồi.</em></p>
<p>Rất tiếc, chúng tôi không tìm được băng, đĩa nào thu âm phiên bản<em>Tình Tôi</em> của Anh Hoa.</p>
<p>Khoảng năm 1960, phiên bản lời Việt thứ ba, cũng mang tựa đề <em>Ánh Đèn Màu</em>, của tác giả <strong>Nguyễn Huy Hiển</strong>, được thu băng với tiếng hát Ánh Tuyết.</p>
<p style="text-align: center;"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2018/11/anh-tuyet.jpg?strip=all"><img loading="lazy" decoding="async" class="aligncenter size-medium wp-image-37537" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2018/11/anh-tuyet-217x300.jpg?strip=all" alt="" width="217" height="300" srcset="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2018/11/anh-tuyet-217x300.jpg?strip=all 217w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2018/11/anh-tuyet.jpg?strip=all 693w" sizes="(max-width: 217px) 100vw, 217px" /></a></p>
<p style="text-align: center;"><em>Ánh Tuyết (1935-2017)</em></p>
<p>Ánh Tuyết (1935-2017) nhắc tới ở đây là Ánh Tuyết sinh ở Hải Phòng, nổi tiếng tại miền Nam trong hai thập niên 1950-1960, với những ca khúc như <em>Trăng Sáng Vườn Chè,</em> <em>Giấc Mơ Hồi Hương</em>, <em>Ánh Đèn Màu</em>&#8230; chứ không phải Ánh Tuyết sau này, sinh 1961 tại Hội An, chuyên hát nhạc Văn Cao.</p>
<p><em>Ánh Đèn Màu</em> của Nguyễn Huy Hiển gồm một phiên khúc và một điệp khúc; sau điệp khúc, ca sĩ sẽ hát lại đoạn hai của phiên khúc với một câu kết khác.</p>
<p><strong><em>Ánh Đèn Màu  </em></strong>(Nguyễn Huy Hiển)</p>
<p><em> </em><em>(1)</em></p>
<p><em>Màn đêm buông dần xuống ánh đèn bừng lên<br />
Là em đem điệu hát cho người vui thêm<br />
Đời em đã là món quà quý đẹp trong làn mắt của ai<br />
Mà khi nếp nhăn vùi theo tháng năm đời chóng quên dần </em></p>
<p><em> </em><em>Đàn buông khúc trầm lắng tâm hồn mê ly<br />
Người mơ theo nhịp bước quên thời gian đi<br />
Để mình em thầm tiếc ngày tháng xa xưa<br />
Nhìn theo bóng đêm niềm vui khó quên dáng hình </em></p>
<p><em> </em>Điệp khúc:</p>
<p><em>Ngày ngày ấy muôn màu tóc huy hoàng còn rỡ ràng<br />
Mình em với tháng năm sắc hương hầu đã phai nhòa<br />
Còn đâu phút ban đầu tiếng ca u hoài nức nở muôn thương </em></p>
<p><em> </em><em>Đàn buông khúc trầm lăng tâm hồn mê ly<br />
Người mơ theo nhịp bước quên thời gian đi<br />
Để mình em thầm tiếc ngày tháng xa xưa<br />
Nhìn theo bóng đêm lòng em xốn xang lỡ làng.</em></p>
<p>Trước khi giới thiệu <em>Ánh Đèn Màu</em> của tác giả Nguyễn Huy Hiển với tiếng hát Ánh Tuyết, chúng tôi cũng xin lưu ý độc giả về hai cái sai trong các video clip<em> Ánh Đèn Màu</em> &#8211; <em>Ánh Tuyết</em> trên Internet hiện nay:</p>
<p>Một số video clip đã ghi sai tên tác giả là Nguyễn Xuân Mỹ, trong khi một số khác không hề ghi tên tác giả; và một số đã sử dụng hình nữ ca sĩ&#8230; Giao Linh!</p>
<p><strong>Phụ lục 4: <em>Ánh Đèn Màu</em> (Nguyễn Huy Hiển), Ánh Tuyết</strong></p>
<audio class="wp-audio-shortcode" id="audio-37539-17" preload="none" style="width: 100%;" controls="controls"><source type="audio/mpeg" src="https://t-van.net/wp-content/uploads/2018/11/04-Anh-Den-Mau-Pre-75_-Anh-Tuyet-320kbps_MP3.mp3?_=17" /><a href="https://t-van.net/wp-content/uploads/2018/11/04-Anh-Den-Mau-Pre-75_-Anh-Tuyet-320kbps_MP3.mp3">https://t-van.net/wp-content/uploads/2018/11/04-Anh-Den-Mau-Pre-75_-Anh-Tuyet-320kbps_MP3.mp3</a></audio>
<p>Cuối cùng là hai phiên bản của <strong>Phạm Duy</strong>.</p>
<p>Theo lời kể lại của chính ông, vào năm 1973, ông đã soạn lời Việt cho ca khúc <em>Eternally</em> với tựa đề <em>Ánh Đèn Sân Khấu</em>, do nhà xuất bản Bút Nhạc ở Sài Gòn ấn hành tháng 8/1973. Sau khi ra hải ngoại, cô cháu Ý Lan muốn thu đĩa bản này nhưng ông đã quên lời hát cũ, bèn đặt lời hát mới với tựa đề <em>Đời Ca Nhi</em>.</p>
<p><em> </em><em>Đời Ca Nhi</em> gồm hai phiên khúc, không có điệp khúc, nhưng sau khi hát xong phiên khúc hai, Ý Lan đã nói mấy câu “<em>Tôi hát cho đời, tôi hát cho người, tôi hát cho tôi&#8230;”  </em>trước khi kết thúc bằng bốn câu sau cùng của phiên khúc hai với một câu kết khác.</p>
<p><strong><em>Đời Ca Nhi</em></strong></p>
<p>&nbsp;</p>
<p><em>(1)</em></p>
<p><em>Màn nhung đen mờ với ánh đèn màu soi<br />
Để em tung mờ tiếng ca ngọt làn môi<br />
Đời thiêu thân thèm lao vào ánh đèn soi đầm ấm đêm nào<br />
Để đom đóm kia nhiều khi cháy tan cả xác lẫn hồn. </em></p>
<p><em><br />
Đời ca nhi mờ tối dưới mặt trời vui<br />
Chỉ bừng lên vào lúc ánh đèn màu soi<br />
Toả hào quang rực rỡ vào mắt môi ai<br />
Người ca sĩ mong đừng tan bóng đêm suốt đời</em></p>
<p>&nbsp;</p>
<p><em>(2)</em></p>
<p><em>Màn nhung đen mờ với ánh đèn màu soi<br />
Để em tung mờ tiếng ca ngọt làn môi<br />
Đời thiêu thân thèm lao vào ánh đèn soi đầm ấm đêm đầu<br />
Để đom đóm kia nhiều khi cháy tan cả xác lẫn hồn. </em></p>
<p><em><br />
Còn xuân xanh để khiến cho đời mê man<br />
Rồi nhan sắc giọng hát phai cùng thời gian<br />
Người ca sĩ chờ khi đèn tắt trong đêm<br />
Màn buông xuống cho đời quên lãng mau dáng huyền </em></p>
<p><em>(Người ca sĩ mong đừng tan bóng đêm suốt đời).</em></p>
<p><em> </em><strong>LƯU Ý:</strong></p>
<p>Mặc dù tựa đề chính thức của ca khúc lời Anh là <em>Eternally </em>nhưng hầu hết phiên bản lời Việt đều chỉ ghi tên cuốn phim (<em>Limelight</em>); và tựa đề <em>Đời Ca Nhi</em> do Ý Lan hát cũng bị ghi là&#8230; <em>Ánh Đèn Màu</em>!</p>
<p><strong>Phụ lục 5: <em>Đời Ca Nhi</em>, Ý Lan</strong></p>
<audio class="wp-audio-shortcode" id="audio-37539-18" preload="none" style="width: 100%;" controls="controls"><source type="audio/mpeg" src="https://t-van.net/wp-content/uploads/2018/11/05-AnhDenMau-YLan-3144760.mp3?_=18" /><a href="https://t-van.net/wp-content/uploads/2018/11/05-AnhDenMau-YLan-3144760.mp3">https://t-van.net/wp-content/uploads/2018/11/05-AnhDenMau-YLan-3144760.mp3</a></audio>
<p>Cuối cùng, theo một số người, trước đây nữ ca sĩ <strong>Thanh Lan</strong> cũng từng đặt lời Việt cho ca khúc <em>Eternally</em>; cách đây mấy năm còn thấy phổ biến trên YouTube, nhưng nay không còn nữa.</p>
<p><strong><em>HOÀI NAM</em></strong></p>
<p>&nbsp;</p>
<p><strong> </strong></p>
<p><em> </em></p>
<p>©T.Vấn 2018</p>
]]></content:encoded>
					
					<wfw:commentRss>https://t-van.net/hoai-nam-nhung-ca-khuc-nhac-ngoai-quoc-loi-viet-80-phan-ii-nhac-phim-eternally-terrys-theme-limelight-chaplin-parsons-turner-anh-den-mau/feed/</wfw:commentRss>
			<slash:comments>0</slash:comments>
		
		<enclosure url="https://t-van.net/wp-content/uploads/2018/11/01-limelight.mp3" length="4378375" type="audio/mpeg" />
<enclosure url="https://t-van.net/wp-content/uploads/2018/11/02-AnhDenMau-VuKhanh_3k52.mp3" length="4557780" type="audio/mpeg" />
<enclosure url="https://t-van.net/wp-content/uploads/2018/11/04-Anh-Den-Mau-Pre-75_-Anh-Tuyet-320kbps_MP3.mp3" length="7883202" type="audio/mpeg" />
<enclosure url="https://t-van.net/wp-content/uploads/2018/11/05-AnhDenMau-YLan-3144760.mp3" length="4331292" type="audio/mpeg" />
<enclosure url="https://t-van.net/wp-content/uploads/2018/11/03-Ánh-dèn-m-u-Limelight-LV-Nguy-n-Xuân-M-Khánh-Ly-I-Nh-.mp3" length="8625044" type="audio/mpeg" />

			</item>
		<item>
		<title>Hòai Nam: NHỮNG CA KHÚC NHẠC NGOẠI QUỐC LỜI VIỆT (80 – phần I) &#8211; NHẠC PHIM – Eternally (Terry&#8217;s Theme, Limelight), Chaplin &#038; Parsons, Turner, Ánh Đèn Màu</title>
		<link>https://t-van.net/hoai-nam-nhung-ca-khuc-nhac-ngoai-quoc-loi-viet-80-phan-i-nhac-phim-eternally-terrys-theme-limelight-chaplin-parsons-turner-anh-den-mau/</link>
					<comments>https://t-van.net/hoai-nam-nhung-ca-khuc-nhac-ngoai-quoc-loi-viet-80-phan-i-nhac-phim-eternally-terrys-theme-limelight-chaplin-parsons-turner-anh-den-mau/#respond</comments>
		
		<dc:creator><![CDATA[Hòai-Nam]]></dc:creator>
		<pubDate>Fri, 09 Nov 2018 07:15:42 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Góc Văn]]></category>
		<category><![CDATA[hòai nam]]></category>
		<category><![CDATA[nhạc nq]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://7076e870b2.nxcli.io/?p=37528</guid>

					<description><![CDATA[Bài thứ nhất trong phần viết về những ca khúc trong phim, hoặc từ nhạc phim được đặt lời Việt, chúng tôi xin giới thiệu bản Eternally, một ca khúc do Charlie Chaplin soạn nhạc, Geoffery Parsons và John Turner đặt lời hát, được Nguyễn Xuân Mỹ, Phạm Duy và nhiều tác giả khác đặt [&#8230;]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: center;"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2018/11/51YRun8HluL._SX376_BO1204203200_.jpg?strip=all"><img loading="lazy" decoding="async" class="aligncenter size-medium wp-image-37535" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2018/11/51YRun8HluL._SX376_BO1204203200_-227x300.jpg?strip=all" alt="" width="227" height="300" srcset="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2018/11/51YRun8HluL._SX376_BO1204203200_-227x300.jpg?strip=all 227w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2018/11/51YRun8HluL._SX376_BO1204203200_.jpg?strip=all 378w" sizes="(max-width: 227px) 100vw, 227px" /></a></p>
<p>Bài thứ nhất trong phần viết về những ca khúc trong phim, hoặc từ nhạc phim được đặt lời Việt, chúng tôi xin giới thiệu bản <em>Eternally</em>, một ca khúc do Charlie Chaplin soạn nhạc, Geoffery Parsons và John Turner đặt lời hát, được Nguyễn Xuân Mỹ, Phạm Duy và nhiều tác giả khác đặt lời Việt với tựa <em>Ánh Đèn Màu, Tình Tôi, Đời Ca Nhi</em>&#8230;</p>
<p>Thực ra, theo sự phân định trong bài Dẫn Nhập về Nhạc Phim của chúng tôi, ca khúc đầu tiên trong phần này lẽ ra phải là bản <em>Les Feuilles Mortes,</em> do Joseph Kosma phổ thơ Jacques Prévert<em>, </em>được <strong>Yves Montand</strong> trình bày trong cuốn phim Pháp <em>Les Portes de la Nuit</em> (1946), sau đó được Johnny Mercer đặt lời Anh với tựa <em>Autumn Leaves</em>, đã được ít nhất năm tác giả đặt lời Việt (<em>Những chiếc lá úa, Lá mùa thu, Lá rụng, Tình như lá rụng, Tình khúc mùa thu)</em>.</p>
<p>Tuy nhiên, vì tính cách bất hủ cũng như mức độ phổ biến của <em>Les Feuilles Mortes/</em> <em>Autumn Leaves</em>, chúng tôi đã giới thiệu ca khúc này ngay trong phần đầu của loạt bài, xem đó như một trong những ca khúc điển hình nhất của đầu thời kỳ hiện đại, cùng với <em>La Paloma, Besame Mucho&#8230;</em></p>
<p><em>Eternally</em> nguyên là nhạc khúc Terry&#8217;s Theme trong cuốn phim <em>Limelight</em> của Charlie Chaplin, được Geoffery Parsons và John Turner đặt lời hát.</p>
<p><em>Limelight</em> được thực hiện năm 1952 nhưng mãi tới năm 1973 mới  được dự tranh Oscar, và đoạt giải cho phần nhạc phim bi kịch (best original dramatic score).</p>
<p>Tại sao phải đợi hơn 20 năm sau ngày phát hành <em>Limelight </em>mới được dự tranh giải Oscar?</p>
<p>Để trả lời câu hỏi này, thiết nghĩ cũng cần sơ lược về cuộc đời ly kỳ, sự nghiệp rực rỡ, và mối quan hệ cay đắng với người Mỹ của Charlie Chaplin – mà người Việt thường gọi là “Vua hề <strong>Charlot</strong>”, một trong những tên tuổi lớn nhất, và cũng gây tranh luận nhiều nhất trong lịch sử điện ảnh.</p>
<p style="text-align: center;"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2018/11/chaplin.png?strip=all"><img loading="lazy" decoding="async" class="aligncenter wp-image-37530" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2018/11/chaplin-134x300.png?strip=all" alt="" width="241" height="540" srcset="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2018/11/chaplin-134x300.png?strip=all 134w, https://cdn.t-van.net/2018/11/chaplin-458x1024.png 458w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2018/11/chaplin.png?strip=all 608w" sizes="(max-width: 241px) 100vw, 241px" /></a></p>
<p><strong>Sir Charles Spencer Chaplin, KBE</strong>, thường được gọi là Charlie Chaplin, ra chào đời ngày 16 tháng 4 năm 1889 dưới một ngôi sao xấu. Không ai nhớ đích xác nơi sinh của ông, chỉ biết đó là một vùng ngoại ô phía nam thủ đô Luân-đôn.</p>
<p><strong> </strong><em>[Cách viết tên họ chính thức “Sir Charles Spencer Chaplin, KBE” cho biết Charlie Chaplin đã được Hoàng gia Anh phong tước hiệp sĩ (knighted) và ân thưởng huân chương KBE (Knight Commander of the Most Excellent Order of the British Empire), huân chương cao quý hạng nhì trong số năm huân chương của Đế quốc Anh, gồm </em><em>GBE, KBE (DBE cho nữ giới), CBE, OBE, và MBE]</em></p>
<p>Vào lúc Charlie Chaplin ra chào đời, cha mẹ ông đều là nghệ sĩ “music hall” (ngày nay gọi là “variety” – tạp lục): bà mẹ Hannah là một nữ kịch sĩ không tên tuổi, ông bố Charles Chaplin Sr. là một nam ca sĩ khá ăn khách.</p>
<p>Khi Charlie Chaplin lên 2 tuổi, cha mẹ ông chia tay (mặc dù hai người không bao giờ chính thức ly dị). Trước khi lấy Charles Chaplin Sr., Hannah đã có một con trai ngoại hôn, Sydney John Hill, và một năm sau khi chia tay chồng, bà lại có thêm một con trai ngoại hôn khác, George Wheeler Dryden, với nam đồng nghiệp Leo Dryden; mấy tháng sau, bé George được ông bố Leo đem về nuôi, còn người anh Sydney thì gắn bó với Charlie Chaplin suốt đời.</p>
<p>Vì không được ông Charles Chaplin Sr. chu cấp, Hannah và hai con trai (Sydney, Charlie) sống trong nghèo khổ. Từ năm Charlie lên 7, cậu và người anh trai Sydney đã được mẹ gửi vào viện tế bần nhiều lần.</p>
<p>Tháng 9/1898, do hậu quả của bệnh hoa liễu và thiếu dinh dưỡng, tình trạng rối loạn tâm thần của Hannah trở nên trầm trọng, phải đưa vào nhà thương điên Cane Hill Asylum ở Luân-đôn. Sydney và Charlie được cơ quan hữu trách đưa tới sống với ông Charles Chaplin Sr. (cha ruột của Charlie), nhưng vào thời gian này, ông ta đã trở thành một tay nghiện rượu nặng, đối xử tàn tệ với hai cậu bé khiến cơ quan bảo vệ trẻ em (National Society for the Prevention of Cruelty to Children) đã có lần phải can thiệp.</p>
<p>Hai năm sau, ông Charles Chaplin Sr. qua đời vào tuổi 38 vì xơ gan,  Sydney bỏ đi đăng lính Hải Quân, còn Charlie về sống với mẹ, lúc này đã được xuất viện, sống trong một “workhouse”.</p>
<p><em>[Tại Anh quốc và xứ Wales, “workhouse” có nghĩa chung chung là “cơ sở an sinh xã hội do nhà nước thiết lập để cung cấp chỗ ở và việc làm cho những người không thể tự lực cánh sinh”]</em></p>
<p>Nhưng tới năm 1903, bệnh tâm thần của Hannah tái phát và bà bị đưa trở lại nhà thương điên Cane Hill Asylum. Charlie Chaplin, khi ấy mới 14 tuổi, phải sống một thân một mình cho tới lúc Sydney, người anh cùng mẹ khác cha đã đăng lính Hải Quân, trở về. Tám tháng sau, bà Hannah được xuất viện, nhưng tới đầu năm 1905 lại bị tâm thần trở lại, và lần này là vĩnh viễn; bà sống trong nhà thương điên cho tới cuối đời (1928).</p>
<p>Tuổi niên thiếu bi thảm của Charlie Chaplin về sau đã ảnh hưởng mạnh mẽ tới khuynh hướng sáng tạo, xu hướng xã hội và lập trường chính trị của một tài năng xuất chúng. Khuynh hướng ấy là khôi hài cay đắng, xu hướng, lập trường ấy là thiên tả.</p>
<p>* * *</p>
<p>Charlie Chaplin tỏ ra có năng khiếu kịch nghệ từ nhỏ. Sau này ông hồi tưởng có lần được mẹ đưa lên sân khấu vào năm mới lên 5. Với sự khuyến khích của mẹ, Charlie Chaplin ôm mộng trở thành một diễn viên hài kịch, nhưng không có người hướng dẫn, giới thiệu. Năm 10 tuổi, qua sự quen biết của ông bố, Charlie Chaplin trở thành một thành viên của nhóm nhảy “clog-dancing” Eight Lancashire Lads, trình diễn tại các music hall trong 2 năm 1899, 1990.</p>
<p>Mặc dù nhóm Eight Lancashire Lads khá ăn khách, Charlie Chaplin cũng không bỏ mộng diễn viên hài kịch. Năm 13 tuổi, cậu rời nhóm này đồng thời bỏ học, vừa làm đủ mọi thứ nghề vừa tìm cách tiến thân trên sân khấu West End của Luân-đôn (tương đương Broadway ở Nữu Ước).</p>
<p>Năm 14 tuổi, sau một số vai trò không đáng kể, Charlie Chaplin được trao vai cậu bé giúp việc Billy trong vở (thám tử) <em>Sherlock Holmes</em> khi lưu diễn ở các tỉnh lẻ. Sau ba chuyến lưu diễn, nhờ tỏ ra xuất sắc, Charlie Chaplin đã được cho thủ vai này trên sân khấu West End cho tới khi vở này chấm dứt 2 năm rưỡi sau đó&#8230;</p>
<p>Tới năm 18 tuổi, Charlie Chaplin đã được xem là một diễn viên hài kịch đầy khả năng, và được Sydney Chaplin, người anh cùng mẹ khác cha lúc đó là một diễn viên trong đoàn kịch nổi tiếng Fred Karno, giới thiệu.</p>
<p>Chẳng bao sau, Charlie Chaplin đã trở thành một trong những diễn viên chính của đoàn kịch này, và tới năm 1910 đã được tuyển chọn vào nhóm lưu diễn Bắc Mỹ, trong đó có cả chàng <strong>Stan Laurel</strong> của cặp bài trùng “Laurel and Hardy” sau này.</p>
<p><em>[Các độc giả cao niên hẳn còn nhớ “Laurel and Hardy”, cặp hài nổi tiếng nhất thời tiền chiến, gồm Stan Laurel (1890–1965) của Anh quốc và Olivier Hardy (1892–1957) của Mỹ quốc. Hai người đã đóng chung trong 107 cuốn phim dài và phim ngắn. Sau này, cặp Dean Martin và Jerry Lewis của Mỹ đã bắt chước Laurel and Hardy, tuy có đạt thành công thương mại nhưng về mặt nghệ thuật, không thể sánh với “Laurel and Hardy”]</em></p>
<p>Qua chuyến lưu diễn này, Charlie Chaplin đã được ca tụng là “một trong những diễn viên kịch câm (pantomime) tài ba nhất xưa nay”!</p>
<p>Chuyến lưu diễn kéo dài 21 tháng, và sau khi trở về Luân-đôn vào tháng 6/1912, tới tháng 10 cùng năm đã trở lại Bắc Mỹ theo yêu cầu của người ái mộ.</p>
<p>Chính trong chuyến lưu diễn thứ hai này, cánh cửa điện ảnh đã mở rộng đón chào Charlie Chaplin.Trước hết, Charlie Chaplin được hãng phim New York Motion Picture Company mời ký hợp đồng với thù lao 150 Mỹ kim một tuần (tương đương 3,714 Mỹ kim hiện nay).</p>
<p>Tháng 12 năm 1913, chàng diễn viên 24 tuổi tới phim trường Keystone Studios (của hãng phim New York Motion Picture Company) ở Los Angeles, và trong thời gian chờ đợi vai trò đã tự học hỏi cách làm phim.</p>
<p>Tháng 2/1014, Charlie Chaplin đóng cuốn phim đầu tiên trong sự nghiệp của mình, <em>Marking a Living</em>, một cuốn phim câm (silent movie) dài 13 phút, mà ông không thích một chút nào, nhưng qua đó đã được một nhà bình phim ca tụng là “nhà hài kịch đầu tiên của thế hệ mới”!</p>
<p>Khi chuẩn bị đóng cuốn phim thứ hai, <em>Mabel’s Strange Predicament</em>,  dài 17 phút, Charlie Chaplin nảy sinh sáng kiến tạo cho mình một hình ảnh độc đáo mà sau đó đã trở thành “cầu chứng” của ông: cái quần rộng thùng thình nhàu nát, cái áo khoác chật ních, cái mũ quả dưa quá nhỏ, đôi giày thật rộng, cái gậy chống cong cong, vẽ mặt như một tay hề, và đeo bộ ria mép giả giống như cái bàn chải đánh răng.</p>
<p>Thế nhưng, cuốn phim thứ ba của Charlie Chaplin, một cuốn phim dài 6 phút dành cho nhi đồng tựa đề <em>Kid Auto Races at Venice</em> lại ra ra mắt khán giả trước cuốn phim <em>Mabel’s Strange Predicament</em> hai ngày.</p>
<p>Trong <em>Kid Auto Races at Venice</em>, Charlie Chaplin thủ vai nhân vật “<strong>the Tramp</strong>” (có người gọi là “Little Tramp”), vì thế hình ảnh độc đáo của ông đã được mọi người gọi là “the Tramp”, còn ở các quốc gia nói tiếng Pháp, chịu ảnh hưởng văn minh Pháp gọi là “<strong>Charlot</strong>”.</p>
<p><em>[“Tramp” trong tiếng Anh nghĩa đen là một người đi chân đất lang thang khắp nơi để kiếm việc làm, hoặc ăn xin. “Charlot” tiếng Pháp danh từ riêng là tên phái nam, bắt nguồn từ tên con trai Hoàng đế Charlemagne: (Charles + ot = Charlot, cậu Charles nhỏ), phái nữ là “Charlotte”; trường hợp là danh từ chung có nghĩa là thằng hề]</em></p>
<p>Cuốn phim kế tiếp, <em>Caught in the Rain</em>, dài 16 phút, thực hiện vào tháng 4/1914, do chính Charlie Chaplin đạo diễn, đạt thành công rực rỡ. Từ đó, Charlie Chaplin được trao công việc đạo diễn tất cả mọi cuốn phim ngắn của ông ở phim trường Keystone Studios, trung bình mỗi tuần một cuốn.</p>
<p>Tháng 11 năm, đó, Charlie Chaplin đóng cuốn phim dài đầu tiên, rất thành công về mặt tài chính và tạo thêm tên tuổi cho chàng diễn viên trẻ. Nhưng vì Keystone Studios không chịu tăng lương, tới cuối tháng 12, Charlie Chaplin đầu quân cho hãng phim Essanay Film Manufacturing Company.</p>
<p>Tại hãng phim mới, Charlie Chaplin được trao phần lớn trách nhiệm trong việc thực hiện các cuốn phim của mình; đồng thời việc khám phá ra “nàng thơ” (muse) <strong>Edna Purviance</strong> đã thay đổi chiều hướng  sáng tạo của chàng diễn viên hài kịch.</p>
<p>Nguyên trong lúc đang tìm một nữ diễn viên trẻ cho cuốn phim <em>A Night Out</em>, Charlie Chaplin tình cờ gặp cô thư ký văn phòng Edna Purviance 20 tuổi trong một quán cà-phê, và mặc dù cho rằng cô quá nghiêm chỉnh để trở thành một diễn viên hài kịch, Charlie Chaplin đã bị nhan sắc của cô chinh phục.</p>
<p>Trong thời gian thực hiện <em>A Night Out</em>, Charlie Chaplin và Edna Purviance bắt đầu quan hệ tình cảm. Dù cuộc tình chỉ bền được 2 năm, Edna Purviance đã trở thành “nàng thơ” trên màn bạc của Charlie Chaplin trong suốt 8 năm trời qua 35 cuốn phim.</p>
<p>Cùng thời gian, Charlie Chaplin bắt đầu chuyển hướng từ thể loại hài kịch bị phê bình là “độc ác, thô bạo, thiếu nhân bản” chuyển sang thể loại êm đềm, lãng mạn hơn.</p>
<p>Từ năm 1915, Charlie Chaplin đã trở thành một hiện tượng, cửa hàng nào cũng bày bán hình nộm “the Tramp”, và chàng diễn viên 26 tuổi được ghi nhận là “ngôi sao quốc tế” đầu tiên của kỹ nghệ điện ảnh.</p>
<p>Khi hợp đồng với hãng phim Essanay chấm dứt vào cuối năm 1915, Charlie Chaplin đã được hãng Mutual “mua” với thù lao 10,000 Mỹ kim một tuần, cộng với 150,000 bonus khi ký hợp đồng, vị chi một năm Charlie Chaplin bỏ túi 670,000 Mỹ kim (tương đương 15.1 triệu ngày nay) và trở thành diễn viên điện ảnh có thù lao cao nhất thế giới!</p>
<p>Năm 1919, thời gian đã mãn hợp đồng với Mutual Film Corporation và đang đầu quân cho hãng First National, Charlie Chaplin đã cùng với ba tên tuổi lớn của điện ảnh thời bấy giờ là diễn viên kiêm nhà sản xuất phim Douglas Fairbanks, đạo diễn kiêm nhà sản xuất D. W. Griffith, nữ diễn viên kiêm nhà sản xuất phim Mỹ gốc Gia-nã-đại Mary Pickford đứng ra thành lập hãng phim độc lập United Artists, về sau quy tụ một lực lượng nghệ sĩ hùng hậu bậc nhất.</p>
<p><em>[<strong>Mary Pickford</strong> (</em><em>1892-1979), được mệnh danh là “America&#8217;s Sweetheart”, </em><em>là một trong 36 thành viên sáng lập Hàn làm viện Nghệ thuật và Khoa học Điện ảnh (Academy </em><em>of Motion Picture Arts and Sciences) vào năm 1917]</em></p>
<p>Việc thành lập hãng phim độc lập United Artists là một bước ngoặt trong sự nghiệp của Charlie Chaplin, đồng thời manh nha một sự đối nghịch giữa chàng diễn viên kiêm nhà làm phim gốc Anh với kỹ nghệ điện ảnh Hoa Kỳ.</p>
<p>Cùng khoảng thời gian nói trên, Charlie Chaplin trải qua một cuộc hôn nhân bất đắc dĩ với nàng tiểu minh tinh <strong>Mildred Harris</strong> xinh đẹp.</p>
<p>Viết là bất đắc dĩ bởi Charlie Chaplin chỉ muốn cặp kè chứ không muốn tiến tới hôn nhân, nhưng sau khi Mildred Harris cho biết nàng đã có thai, Charlie Chaplin đã phải âm thầm kết hôn với cô bé 16 tuổi để tránh rắc rối với pháp luật. Sau đó mới biết mình bị Mildred Harris “xí gạt”, nhưng rồi cô cũng có thai thật và tới tháng 9/1918 cho ra chào đời một bé trai bị dị tật, Norman Spencer Chaplin, chỉ sống được ba ngày. Charlie Chaplin và Mildred Harris chia tay tháng 4/1920.</p>
<p>Cái chết của đứa con trai đầu lòng cùng với hồi ức về tuổi ấu thơ bất hạnh của bản thân đã thúc đẩy Charlie Chaplin thực hiện cuốn phim <em>The Kid </em>đầy tính chất nhân bản, trong đó “the Tramp” trở thành người bảo vệ một cậu bé lạc loài 4 tuổi.</p>
<p style="text-align: center;"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2018/11/chaplin_the_kid.jpg?strip=all"><img loading="lazy" decoding="async" class="aligncenter wp-image-37531" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2018/11/chaplin_the_kid-222x300.jpg?strip=all" alt="" width="253" height="342" srcset="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2018/11/chaplin_the_kid-222x300.jpg?strip=all 222w, https://cdn.t-van.net/2018/11/chaplin_the_kid-768x1039.jpg 768w, https://cdn.t-van.net/2018/11/chaplin_the_kid-757x1024.jpg 757w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2018/11/chaplin_the_kid.jpg?strip=all 1420w" sizes="(max-width: 253px) 100vw, 253px" /></a></p>
<p>Đây là cuốn phim bi hài kịch đầu tiên và cũng là cuốn phim dài nhất của Charlie Chaplin (68 phút) tính tới lúc đó. Trình chiếu vào tháng 1/1921, tới năm 1924, <em>The Kid</em> đã được chiếu tại trên 50 quốc gia – một kỷ lục vào thời phim câm.</p>
<p>Năm 1922, không còn bị ràng buộc bởi hợp đồng với các hãng phim,</p>
<p>Charlie Chaplin quyết định thực hiện một cuốn phim tình cảm lãng mạn tựa đề <em>A Woman in Paris</em>, nội dung nói về một cuộc tình sớm tan vỡ.</p>
<p>Mục đích của Charlie Chaplin khi thực hiện cuốn phim là để lăng-xê “nàng thơ” Edna Purviance, người tình cũ của ông; vì thế ông đã không xuất hiện trong cuốn phim này, sợ Edna Purviance bị lu mờ.</p>
<p><em>A Woman in Paris</em> được giới bình phim ca tụng, nhưng lại thất bại thê thảm về mặt tài chính, bởi chẳng ai muốn đi xem “một cuốn phim của Charlie Chaplin mà không có Charlie Chaplin”!</p>
<p>Thất bại này khiến Charlie Chaplin vô cùng chán nản bởi vì đã từ lâu ông chỉ mong ước thực hiện một cuốn phim bi kịch qua đó hậu thế sẽ nhớ tới tên tuổi của mình. Vì thế ông quyết định thu hồi tất cả mọi ấn bản của <em>A Woman of Paris</em>, xem như không có cuốn phim này trong sự nghiệp của mình!</p>
<p style="text-align: center;"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2018/11/Charlie-Edna.jpg?strip=all"><img loading="lazy" decoding="async" class="aligncenter wp-image-37532" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2018/11/Charlie-Edna-300x225.jpg?strip=all" alt="" width="368" height="276" srcset="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2018/11/Charlie-Edna-300x225.jpg?strip=all 300w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2018/11/Charlie-Edna.jpg?strip=all 534w" sizes="(max-width: 368px) 100vw, 368px" /></a></p>
<p style="text-align: center;"><em>Charlie và Edna </em><em>Purviance</em></p>
<p>Thất bại với<em> A Woman of Paris</em>, Charlie Chaplin trở lại với thể loại hài kịch, và quyết định cuốn phim sắp tới của mình sẽ là một cuốn phim để đời. Cuốn phim đó chính là <em>The Gold Rush</em> (1925), trước năm 1975 chiếu tại Sài Gòn dưới tựa đề tiếng Pháp <em>La ruée vers l&#8217;or</em> (Đổ xô tìm vàng).</p>
<p>Charlie Chaplin nảy sinh ý định thực hiện <em>The Gold Rush</em> khi thấy một tấm hình chụp “Klondike Gold Rush”, tức cuộc di dân ồ ạt của hơn 100,000 người Mỹ ở Seattle, San Francisco tới vùng Klondike ở tây bắc Gia-nã-đại sau khi vàng được khám phá tại đây. Kết quả, trong khi một số nhỏ trở nên giàu có thì đại đa số dở sống dở chết, thậm chí bỏ mạng nơi vùng băng tuyết buốt giá.</p>
<p>Cảnh để đời trong phim <em>The Gold Rush</em>, như nhiều độc giả có thể còn nhớ, chính là cảnh “the Tramp” đói quá phải luộc đôi giày của mình để&#8230; ăn, được gợi ý từ câu chuyện lịch sử bi thảm <strong>The Donner Party</strong>, kể về cuộc hành trình gian khổ đầy bất trắc của đoàn di dân từ Missouri tới California vào giữa thế kỷ 19, bị kẹt trong vùng núi tuyết Sierra Nevada trong mùa đông buốt giá; trong số 87 người tham gia cuộc hành trình chỉ có 48 sống sót, trong đó có những người đã phải ăn thịt xác chết đồng loại.</p>
<p><em>The Gold Rush</em> là cuốn phim thực hiện mất nhiều thời gian nhất (15 tháng) và cũng là một trong những cuốn phim tốn kém nhất (1 triệu Mỹ kim) của thời phim câm. Đồng thời cũng là một trong những cuốn phim có số thu cao nhất (5 triệu), và quan trọng hơn cả, trở thành cuốn phim đi liền với tên tuổi của Charlie Chaplin như ông đã mong ước.</p>
<p>Trong thời gian thực hiện <em>The Gold Rush</em> (1924), Charlie Chaplin, lúc đó 35 tuổi, kết hôn lần thứ hai; cô dâu cũng là một nàng tiểu minh tinh mới 16 tuổi, <strong>Lita Grey</strong>, được chọn để thủ một vai phụ trong phim, nhưng phim chưa kịp thực hiện thì cô có đã có bầu với Charlie Chaplin. Để tránh bị truy tố về tội “hiếp dâm trẻ em” theo luật tiểu bang California, Charlie Chaplin đã phải đưa Lita Grey sang Mễ-tây-cơ để làm thủ tục kết hôn vào cuối năm 1924.</p>
<p>Đầu tháng 5/1925, bé trai Charles Spencer Chaplin Jr. ra chào đời; và cuối tháng 3/1926 tới lượt cậu em Sydney Earl Chaplin.</p>
<p>Tám tháng sau, Lita Grey đem hai con bỏ nhà ra đi. Tiếp theo là cuộc ly dị cay đắng và đầy tai tiếng. Chẳng hiểu bằng cách nào mà báo chí biết được nội dung đơn ly dị của Lita Grey, trong đó Charlie Chaplin bị cô vợ trẻ tố cáo ngoại tình, hành hạ vợ, và “có những khao khát tình dục phản đạo đức” (perverted sexual desires).</p>
<p>Vụ xì-căng-đan này đã khiến Charlie Chaplin bị khủng hoảng tinh thần trầm trọng, phải ngưng công việc thực hiện cuốn phim <em>The Circus</em> trong tám tháng trời; đồng thời nhiều tổ chức gia đình ở Mỹ lên tiếng kêu gọi tẩy chay phim của ông.</p>
<p>Sau đó, để tránh việc bị báo chí, dư luận đào bới thêm, các luật sư của Charlie Chaplin đã phải dàn xếp trả cho Lita Grey 600,000 Mỹ kim, số tiền bồi thường ly dị lớn nhất trong lịch sử tòa án Hoa kỳ, tính tới lúc đó.</p>
<p>Mặc dù bắt đầu bị nhiều người Mỹ tẩy chay, phản đối, trong giải Oscar lần đầu tiên được tổ chức vào tháng 5/1929, Charlie Chaplin đã được trao tặng giải Oscar Danh dự (Honorary Oscar) qua việc diễn xuất, viết kịch bản, đạo diễn, và sản xuất cuốn phim <em>The Circus</em>. Rất có thể nhờ ảnh hưởng của nam diễn viên kiêm nhà sản xuất phim Douglas Fairbanks, một người bạn của Charlie Chaplin, lúc đó đang giữ chức Chủ tịch Hàn làm viện Nghệ thuật và Khoa học Điện ảnh, tổ chức sáng lập giải thưởng Oscar.</p>
<p>Sau đó, sự bất đồng và bất hòa giữa Charlie Chaplin và người Mỹ càng gia tăng khi ông ra sức chống lại việc thực hiện phim có đối thoại (talking pictures, talkies).</p>
<p>Xin được nhắc lại, vào ngày 21 tháng 6 năm 1929 tại Luân-đôn, đạo diễn Anh Alfred Hitchcock đã trình chiếu <em>Blackmail, </em> cuốn phim đầu tiên có đối thoại, tạo tiếng vang lớn và đạt thành công rực rỡ về mặt tài chính.</p>
<p>Charlie Chaplin chống phim có đối thoại vì cho đó là hình thức phim kém nghệ thuật diễn xuất, và, cho dù ông không nói ra điều này, nếu nhân vật “the Tramp” của ông mà nói trong phim (tiếng Anh dĩ nhiên), mức độ phổ biến trên thế giới chắc chắn sẽ bị suy giảm!</p>
<p>Vì thế, cuốn phim tiếp theo đó của Charlie Chaplin, <em>City Lights</em> (Ánh đèn đô thị), vẫn được ông thực hiện dưới hình thức phim không có đối thoại, nhưng có nhạc phim.</p>
<p>Nội dung <em>City Lights</em> là một “hài kịch làm rơi lệ”, trong đó “the Tramp” yêu một cô gái mù bán hoa ở góc phố, đồng thời kết bạn với một tay triệu phú lúc say lúc tỉnh, đã tìm cách lợi dụng tiền bạc của ông ta (vào những lúc ông ta say) để giúp cô gái giải phẫu mắt; sau khi cô được sáng mắt thì lại không biết ai là ân nhân của mình&#8230;</p>
<p>Đặc biệt, đây là lần đầu tiên, Charlie Chaplin đảm trách việc soạn nhạc phim. Cũng nên biết, Charlie Chaplin say mê âm nhạc từ nhỏ, và đã tự học dương cầm, vĩ cầm và trung hồ cầm (cello). Khi soạn nhạc, vì không biết ký âm pháp, Charlie Chaplin đã phải nhờ các nhà soạn nhạc chuyên nghiệp giúp đỡ. Với phương thức đó, Charlie Chaplin đã soạn nhạc phim cho <em>City Lights</em> và tất cả mọi cuốn phim sau này của ông.</p>
<p>Theo các nhà phê bình, phần nhạc phim trong <em>City Lights</em> phải được đánh giá là bất hủ. Tuy nhiên, vì phương tiện thưởng thức tại Việt Nam ngày ấy còn rất hạn chế, đã không có mấy người biết tới tài soạn nhạc của Charlie Chaplin.</p>
<p>Vừa trình chiếu, <em>City Lights</em> đã được các nhà bình phim hết lời ca tụng, thu vào 5 triệu Mỹ kim. Hiện nay, <em>City Lights</em>  đang được trang mạng bình phim IMDb xếp hạng 25 trong danh sách 500 cuốn phim hay nhất xưa nay, và trang mạng The Greatest Films (tổng hợp mọi danh sách) xếp hạng 46.</p>
<p>Riêng Viện Phim Ảnh Hoa Kỳ (AFI: American Film Institute) vào năm 2007 đã xếp <em>City Lights</em>  đứng hạng 11 trong danh sách Những cuốn phim Mỹ hay nhất xưa nay. Trước đó, vào năm 1991, Thư viện Quốc hội Hoa Kỳ đã liệt <em>City Lights</em>  vào danh sách di sản văn hóa.</p>
<p>Về phần Charlie Chaplin, cho tới cuối đời, <em>City Lights</em>  vẫn là cuốn phim ông ưng ý nhất.</p>
<p style="text-align: center;"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2018/11/city-lights.jpg?strip=all"><img loading="lazy" decoding="async" class="aligncenter wp-image-37533" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2018/11/city-lights-300x179.jpg?strip=all" alt="" width="340" height="203" srcset="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2018/11/city-lights-300x179.jpg?strip=all 300w, https://cdn.t-van.net/2018/11/city-lights-768x458.jpg 768w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2018/11/city-lights.jpg?strip=all 800w" sizes="(max-width: 340px) 100vw, 340px" /></a></p>
<p style="text-align: center;"><em>City Lights</em></p>
<p>* * *</p>
<p>Mặc dù <em>City Lights</em>  đạt thành công rực rỡ, Charlie Chaplin cũng cảm thấy lo ngại cho những cuốn phim (không có đối thoại) sắp tới của mình. Một mặt ông cho rằng hình thức phim có đối thoại không thích hợp với chiều hướng làm phim của mình, một mặt ông lại lo sợ bị khán giả chê cười là người lạc hậu!&#8230;</p>
<p>Trong tâm trạng hoang mang ấy, Charlie Chaplin tạm ngưng mọi công việc để làm một chuyến nghỉ hè vô hạn định, du lịch nhiều quốc gia Tây Âu, lâu nhất là ở Pháp và Thụy-sĩ, nơi ông gặp gỡ những nhà tư tưởng (thinkers) cấp tiến, và bắt đầu chịu ảnh hưởng khuynh tả của họ.</p>
<p>Sau khi trở về Los Angeles, Charlie Chaplin có ý định giải nghệ vĩnh viễn và tới sống ở Trung Hoa, nhưng tất cả đã thay đổi khi ông gặp gỡ nữ diễn viên Paulette Goddard vào tháng 7/1932; tuy đã qua một đời chồng nhưng chỉ bằng nửa số tuổi của ông (21/42).</p>
<p><strong> </strong><em>[<strong>Paulette Goddard</strong> (1910-1990) tên thật là Marion Levy, xuất thân là một người mẫu trẻ con kiêm diễn viên thần đồng trên sân khấu kịch nghệ Broadway. Paulette Goddard lấy chồng bốn lần và ly dị đủ bốn lần; đời chồng thứ tư của bà là văn sĩ Đức <strong>Erich Maria Remarque</strong>, tác giá cuốn truyện nổi tiếng được dựng thành phim: All Quiet on the Western Front &#8211; Mặt trận miền Tây vẫn yên tĩnh]</em></p>
<p>Ngay sau khi cặp với Paulette Goddard, Chaplin Charlie bắt tay vào việc thực hiện một cuốn phim hài kịch để nàng thủ vai chính: <em>Modern Times</em> (chiếu tại Việt Nam dưới tựa tiếng Pháp <em>Les Temps Modernes</em>).</p>
<p>Cốt truyện của <em>Modern Times</em> kể về cuộc mưu sinh vất vả của “the Tramp” và nữ nhân vật chính trong cuộc Đại khủng hoảng (Great Depression) thập niên 1930, mà Charlie Chaplin quy trách cho chế độ tư bản và phương pháp sản xuất dây chuyền đã gây ra nạn thất nghiệp trầm trọng.</p>
<p>Cũng giống <em>City Lights, Modern Times</em> được Charlie Chaplin thực hiện dưới hình thức phim không có đối thoại, nhưng có nhạc phim, trong đó có một ca khúc do “the Tramp” hát; đó là lần đầu tiên và cũng là lần duy nhất “the Tramp” cất tiếng.</p>
<p><em>Modern Times</em> là một trong những cuốn phim thực hiện lâu nhất của Charlie Chaplin; mãi tới đầu năm 1936 mới được trình chiếu. Về sau, <em>Modern Times</em> cũng được các nhà phê bình đánh giá rất cao, chỉ đứng sau <em>City Lights</em>, tuy nhiên ngày ấy cuốn phim đã nhận được những khen chê lẫn lộn. Những người chê cho rằng Charlie Chaplin đã cường điệu trong việc đả kích chế độ tư bản, và đi quá xa trong việc châm biếm những tiến bộ kỹ thuật.</p>
<p>Cho nên cũng là một điều dễ hiểu khi <em>Modern Times</em> không được công chúng Mỹ đón nhận nồng nhiệt như những cuốn phim trước của Charlie Chaplin.</p>
<p>Một chi tiết thú vị về <em>Modern Times</em> là 18 năm sau ngày trình chiếu, cuốn phim mới được nhiều người biết tới, hoặc yêu thích hơn nhờ một nhạc khúc trong phim nay được đặt lời hát. Đó là nhạc khúc “chủ đề lãng mạn” (romance theme) do Charlie Chaplin sáng tác từ cảm hứng khi nghe vở opera <em>Tosca</em> của Puccini.</p>
<p>Năm 1954, nhạc khúc này được Geoff Parsons và John Turner đặt lời hát với tựa đề <em>Smile</em>.</p>
<p><em>[<strong>Geoff Parsons</strong> (1910-1987) và <strong>John Turner</strong> (1932- ) là hai nhà đặt lời hát của Anh quốc; hai ông thường hợp soạn lời hát cho những ca khúc ngoại quốc nổi tiếng, trong số này có bản Hymme à l’amour (If You Love Me, Really Love Me) của Édith Piaf, và O Mein Papa (Oh! My Papa) của Paul Burkhard]</em></p>
<p>Sức thu hút của ca khúc <em>Smile,</em> và cũng là biệt tài của Geoff Parsons và John Turner là hai ông đã đặt lời hát dựa theo đối thoại và chủ đề trong cuốn phim thực hiện 18 năm về trước, ngụ ý khuyên người nghe hãy vui lên, bởi vì ngày mai sẽ luôn luôn tươi sáng hơn, một khi chúng ta biết cười (smile).</p>
<p><em>Smile</em> được Nat King Cole thu đĩa năm 1954, đứng hạng 10 trên bảng xếp hạng Billboard ở Hoa Kỳ và hạng 2 ở Anh quốc.</p>
<p><strong>VIDEO:</strong></p>
<p><a href="https://www.youtube.com/watch?v=xZvMJ188o3Y" target="_blank" rel="noopener"><strong> </strong><strong><em>Nat King Cole ft Nelson Riddle&#8217;s Orchestra &#8211; Smile</em></strong><strong><em> (Capitol Records 1954) Video</em></strong></a></p>
<p>&nbsp;</p>
<p><strong>Hòai Nam</strong></p>
<p>(Còn Tiếp Bài 80 -Phần II)</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>©T.Vấn 2018</p>
<p><strong><em> </em></strong></p>
]]></content:encoded>
					
					<wfw:commentRss>https://t-van.net/hoai-nam-nhung-ca-khuc-nhac-ngoai-quoc-loi-viet-80-phan-i-nhac-phim-eternally-terrys-theme-limelight-chaplin-parsons-turner-anh-den-mau/feed/</wfw:commentRss>
			<slash:comments>0</slash:comments>
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Hòai Nam: NHỮNG CA KHÚC NHẠC NGOẠI QUỐC LỜI VIỆT (78) &#8211; NHẠC ĐÔNG PHƯƠNG: Tsugunai (Tình chỉ là giấc mơ, Ước hẹn), Miki Takashi &#038; Akari Toyohisa</title>
		<link>https://t-van.net/hoai-nam-nhung-ca-khuc-nhac-ngoai-quoc-loi-viet-78-nhac-dong-phuong-tsugunai-tinh-chi-la-giac-mo-uoc-hen-miki-takashi-akari-toyohisa/</link>
					<comments>https://t-van.net/hoai-nam-nhung-ca-khuc-nhac-ngoai-quoc-loi-viet-78-nhac-dong-phuong-tsugunai-tinh-chi-la-giac-mo-uoc-hen-miki-takashi-akari-toyohisa/#respond</comments>
		
		<dc:creator><![CDATA[Hòai-Nam]]></dc:creator>
		<pubDate>Thu, 30 Aug 2018 12:10:56 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Góc Văn]]></category>
		<category><![CDATA[hòai nam]]></category>
		<category><![CDATA[nhạc nq]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://7076e870b2.nxcli.io/?p=36711</guid>

					<description><![CDATA[Trong bài thứ ba, và cũng là bài cuối, viết về những ca khúc nổi tiếng của “Nữ hoàng ca nhạc Á châu” Đặng Lệ Quân được đặt lời Việt, chúng tôi giới thiệu bản Tsugunai của hai tác giả Miki Takashi và Akari Toyohisa, ca khúc đã đoạt Đại Giải đầu tiên cho Đặng [&#8230;]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: center;"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2018/08/Tsugunai.jpg?strip=all"><img loading="lazy" decoding="async" class="aligncenter wp-image-36713" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2018/08/Tsugunai-300x178.jpg?strip=all" alt="Tsugunai" width="448" height="266" srcset="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2018/08/Tsugunai-300x178.jpg?strip=all 300w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2018/08/Tsugunai.jpg?strip=all 480w" sizes="(max-width: 448px) 100vw, 448px" /></a></p>
<p>Trong bài thứ ba, và cũng là bài cuối, viết về những ca khúc nổi tiếng của “Nữ hoàng ca nhạc Á châu” <strong>Đặng Lệ Quân</strong> được đặt lời Việt, chúng tôi giới thiệu bản <em>Tsugunai</em> của hai tác giả Miki Takashi và Akari Toyohisa, ca khúc đã đoạt Đại Giải đầu tiên cho Đặng Lệ Quân tại xứ Hoa Anh Đào, và hiện nay đang đứng hạng 5 trong danh sách 10 ca khúc phổ thông của Nhật Bản được yêu chuộng nhất do tạp chí online KILALA thiết lập.</p>
<p>Trước khi viết về ca khúc này, chúng tôi mời độc giả theo dõi tiếp đường đời, sự nghiệp, và ảnh hưởng của người nữ danh ca bạc mệnh.</p>
<p>Thời gian 5 năm từ 1984 tới 1989 là những năm vàng son của Đặng Lệ Quân. Sau ba năm liền đoạt Đại Giải dành cho ca khúc được yêu chuộng nhất trong năm tại Nhật Bản &#8211; từ Hán Việt gọi là “Nhật Bản Hữu Tuyến Đại Thưởng” – với <em>Tsugunai</em>  (Đền trả, 1984), <em>Aijin </em>(Người tình, 1985), và <em>Toki no Nagare ni Mi o Makase</em> (Buông xuôi theo dòng thời gian, 1986), qua năm 1987, Đặng Lệ Quân đã đoạt Giải Minh tinh Xuất chúng (Outstanding Star Award) với ca khúc <em>Wakare no Yokan</em> (Linh cảm về sự tan vỡ), cũng của hai tác giả Miki Takashi và Akari Toyohisa.</p>
<p>Hiện nay <em>Wakare no Yokan</em> được xếp hạng 10 trong danh sách 12 ca khúc được yêu chuộng nhất của Đặng Lệ Quân, sau bản <em>Kuko </em>(Airport, Xin thời gian ngừng trôi ) và trước bản <em>Ni</em> (tức bản Không của Nguyễn Ánh 9).</p>
<p>Chúng tôi không tìm được nhiều tài liệu viết về mức độ phổ biến của  <em>Wakare no Yokan</em> ở bên ngoài quần đảo Phù Tang, chỉ biết đây là một trong những ca khúc lời Nhật của Đặng Lệ Quân được yêu chuộng nhất ở Mã Lai và Thái Lan, được sử dụng trong việc học tiếng Nhật qua hình thức karaoke ở nhiều quốc gia, từ Á châu tới Âu Mỹ.</p>
<p><strong>VIDEO:</strong></p>
<p><strong><a href="https://www.youtube.com/watch?v=fJVKZrUnhnQ">Japanese song : 別れの予感 Wakare no Yokan , Teresa Teng &#8211; YouTube</a></strong></p>
<p>Cũng trong “những năm vàng son” của mình, Đặng Lệ Quân đã thu đĩa ca khúc <em>Yuki ga Furu</em>, phiên bản tiếng Nhật của ca khúc Pháp <em>Tombe la neige</em> (Tuyết rơi, Adamo), không chỉ được yêu chuộng tại xứ Hoa Anh Đào mà còn nhiều nơi khác trên thế giới, từ Mã Lai tới tận Liên Xô.</p>
<p><strong>Phụ lục 1: <em>Yuki ga Furu</em>, Teresa Teng</strong></p>
<audio class="wp-audio-shortcode" id="audio-36711-19" preload="none" style="width: 100%;" controls="controls"><source type="audio/mpeg" src="https://t-van.net/wp-content/uploads/2018/08/01-teresa-teng-tombe-la-neige.mp3?_=19" /><a href="https://t-van.net/wp-content/uploads/2018/08/01-teresa-teng-tombe-la-neige.mp3">https://t-van.net/wp-content/uploads/2018/08/01-teresa-teng-tombe-la-neige.mp3</a></audio>
<p><strong>VIDEO:</strong></p>
<p><strong> <a href="https://www.youtube.com/watch?v=SXhJWKekYGA" target="_blank">ПАДАЕТ СНЕГ ТЕРЕЗА ТЕНГ</a></strong></p>
<p>Điểm qua những video clip của Đặng Lệ Quân được phổ biến trên YouTube, và đọc những lời tán tụng, tiếc thương bằng tiếng Nga, chúng ta thấy có lẽ cô là nữ danh ca gốc Hoa được dân tộc Nga-la-tư yêu chuộng nhất.</p>
<p>Lẽ dĩ nhiên, trong số đó không thể thiếu bản dân ca Nga <em>Dorogoj Dlinnoyu</em>  (Trên đường thiên lý) của <strong>Boris Fomin</strong> (1900–1948), lời Anh <em>Those Were The Days</em> của Gene Raskin, được Đặng Lệ Quân thu đĩa phiên bản lời Hoa với tựa <em>Những năm tháng đã qua</em>.</p>
<p><strong>VIDEO:</strong></p>
<p><strong><a href="https://www.google.com.au/url?sa=t&amp;rct=j&amp;q=&amp;esrc=s&amp;source=web&amp;cd=1&amp;cad=rja&amp;uact=8&amp;ved=2ahUKEwjb3pefw-zcAhVGabwKHfQOAwgQtwIwAHoECAoQAQ&amp;url=https%3A%2F%2Fwww.youtube.com%2Fwatch%3Fv%3Dgigu-bOMj4U&amp;usg=AOvVaw0yV_IEaCDnzEAmXPTApSAy">Дорогой длинною (на китайском) &#8211; Teresa Teng,Those &#8230; &#8211; YouTube</a></strong></p>
<p>Tuy nhiên, đất nước có nhiều người ái mộ Đặng Lệ Quân nhất phải là Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa (Trung Cộng), kẻ thù của Trung Hoa Dân Quốc (Đài Loan), nơi chôn nhau cắt rốn của Đặng cô nương.</p>
<p>Vào thời gian Đặng Lệ Quân bắt đầu nổi tiếng, nền nhạc tình cảm lãng mạn đã không còn chỗ đứng tại Hoa Lục sau khi chế độ cộng sản được thiết lập vào năm 1949. Tới khi xảy ra cuộc Cánh Mạng Văn Hóa (1966), việc cấm đoán còn trở nên gay gắt hơn, chỉ cần là nhạc nước ngoài đã bị cấm ngặt, nói gì tới những “bài hát nhạc vàng ủy mị” (hoàng sắc ca khúc), vốn bị xem là sản phẩm của xã hội tư bản suy đồi, phi đạo đức.</p>
<p>Nhưng bước qua thập niên 1970, trước sự cô lập của thế giới tự do, chế độ cộng sản Trung Hoa bắt đầu có những thay đổi. Một thập niên trước, Bắc Kinh đã không tiếc lời mạt sát “bọn xét lại ở Mạc-tư-khoa” nay chính họ cũng “cởi trói”, cũng “mở cửa”.</p>
<p>Về mặt chính trị, diễn biến quan trọng nhất phải là việc Mao Trạch Đông đón tiếp Tổng thống Mỹ Richard Nixon tại Bắc Kinh vào năm 1972.</p>
<p>Về mặt văn hóa tư tưởng, trong lĩnh vực ca nhạc nói riêng, tới giữa thập niên 1970, các ca khúc “đương đại” của Hương Cảng, Đài Loan đã được phép du nhập vào Hoa Lục, cho dù còn rất hạn chế và bị kiểm duyệt một cách gắt gao.</p>
<p>Các ca khúc “đương đại” của Hương Cảng, Đài Loan không chỉ khác nhạc “cách mạng” về nội dung, mà còn khác qua cách thể hiện của nghệ sĩ. Trong số nghệ sĩ ấy, người được yêu chuộng nhất chính là Đặng Lệ Quân.</p>
<p>Như chúng tôi đã viết trong một bài trước, Đặng Lệ Quân không chỉ sở hữu một giọng bán kim (mezzo-soprano) thiên phú, mà còn được cô thể hiện bằng cách phối hợp phong cách hiện đại tây phương với dân ca truyền thống đông phương, nên có sức thu hút đối tượng một cách mãnh liệt.</p>
<p>Có thể viết, giọng hát “bảy phần ngọt ngào, ba phần nước mắt” ấy cùng với ca khúc <em>Ánh trăng nói hộ lòng tôi</em> (Nguyệt lượng đại biểu ngã đích tâm &#8211; <em>The Moon Represents My Heart) </em>đã mở đầu cho “cuộc xâm lăng Hoa Lục” bằng âm nhạc.</p>
<p>Sau này, đạo diễn Jia Zhangke của nền điện ảnh Trung Quốc, một người trưởng thành cùng với cuộc Cách Mạng Văn Hóa, hồi tưởng:</p>
<p>“<em>Ánh trăng nói hộ lòng tôi</em> là một cái gì đó hoàn toàn mới lạ&#8230; Thế là mọi người trong thế hệ tôi đột nhiên bị nhiễm độc với cá nhân này. Cô đã trở nên nổi tiếng đến nỗi chỉ trong vài tháng trời đất nước đã bị ngập nước bởi các bài hát của cô ấy&#8221;.</p>
<p>* * *</p>
<p>Nhưng chỉ được vài năm, tất cả mọi ca khúc của Đặng Lệ Quân nói riêng, của các ca sĩ Hương Cảng và Đài Loan nói chung, lại bị cấm tại Hoa Lục.</p>
<p>Tất cả cũng vì nguyên nhân chính trị: Hoa Kỳ thiết lập bang giao với Trung Cộng!</p>
<p>Tới đây chúng tôi xin phép đi ra ngoài đề để sơ lược những dòng sử cũ, hầu giúp các độc giả trẻ có thể hiểu được sự cay đắng của Đài Loan ngày ấy trước diễn biến chính trị này, cũng như nguyên nhân đưa tới việc sau này Đài Loan cử hành nghi thức quốc táng cho Đặng Lệ Quân.</p>
<p>Sau cuộc Cách mạng Tân Hợi (1911) lật đổ chế độ quân chủ của nhà Mãn Thanh, Bác sĩ Tôn Dật Tiên (Sun Yat-sen), lãnh tụ Trung Hoa Quốc Dân Đảng (Kuomintang of China) thiết lập chế độ cộng hòa với danh xưng “Cộng Hòa Trung Hoa” (Republic of China, viết tắt là ROC). Sau khi Tôn Dật Tiên qua đời, Tưởng Giới Thạch (Chiang Kai-shek) lên thay.</p>
<p>Trong Đệ Nhị Thế Chiến, Cộng Hòa Trung Hoa đứng về phía Đồng Minh chống lại quân Nhật. Sau Thế Chiến, tổ chức Liên Hiệp Quốc ra đời, Cộng Hòa Trung Hoa trở thành một trong năm hội viên thường trực của Hội Đồng Bảo An LHQ có quyền phủ quyết, gồm Hoa Kỳ, Anh, Pháp, Liên Xô, và Trung Hoa.</p>
<p>Năm 1949, sau khi quốc quân của Tưởng Giới Thạch bị quân cộng sản đánh bại, phải bỏ chạy ra đảo Đài Loan, tại Hoa Lục, Mao Trạch Đông thiết lập chế độ cộng sản với danh xưng “Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa” (People’s Republic of China, viết tắt là PRC). Tuy nhiên trên trường quốc tế, Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa (Trung Cộng) chỉ được các quốc gia cộng sản nhìn nhận, trong khi Cộng Hòa Trung Hoa (Đài Loan) vẫn tiếp tục được đại đa số quốc gia trên thế giới nhìn nhận, vẫn tiếp tục giữ ghế thành viên thường trực tại Hội Đồng Bảo An LHQ.</p>
<p><em>[Chỉ có một sự thay đổi về danh xưng mà chúng tôi không tìm ra tài liệu giải thích, đó là trong khi danh xưng tiếng Anh của của Đài Loan vẫn là Republic of China (ROC) thì danh xưng “Cộng Hòa Trung Hoa” được đổi thành “Trung Hoa Quân Quốc”, người Việt còn gọi là “Trung Hoa Quốc Gia”]</em></p>
<p>Nhưng 22 năm sau, trước sự lớn mạnh cũng như ảnh hưởng kinh tế của Trung Cộng trên trường quốc tế, cùng với việc ngày càng có nhiều quốc gia thuộc khối thứ ba thiết lập bang giao với chế độ cộng sản này, vào ngày 25 tháng 10 năm 1971, trên 2/3 thành viên Liên Hiệp Quốc (76 phiếu thuận, 35 phiếu chống, 17 hội viên vắng mặt) đã thông qua Nghị Quyết 2758 (UN Resolution 2758) nhìn nhận chế độ (regime) Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa ở Hoa Lục là đại diện duy nhất của nước (nation) Trung Hoa trong tổ chức Liên Hiệp Quốc.</p>
<p>Ngày 15/11/1971, Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa chính thức trở thành thành viên LHQ, đồng thời thay thế Trung Hoa Dân Quốc trong cái ghế “hội viên thường trực” của Hội Đồng Bảo An.</p>
<p>Dĩ nhiên, Hoa Kỳ, đồng minh thân thiết nhất của Trung Hoa Dân Quốc, đã kịch liệt phản đối nghị quyết này.</p>
<p>Một cách chi tiết, Hoa Kỳ không phản đối việc thu nhận Trung Cộng làm thành viên LHQ, mà chỉ đòi hỏi Đài Loan vẫn tiếp tục được ở lại, tức là có hai đại diện của hai “nước Trung Hoa”, nhưng đã bị các thành viên bỏ phiếu bác bỏ, viện lý do việc này đi ngược lại Hiến Chương của LHQ.</p>
<p>Nhưng trên thực tế, việc Hoa Kỳ đòi cho Đài Loan được tiếp tục làm thành viên LHQ với tư cách một quốc gia chỉ mang tính cách chiếu lệ, “trình diễn” để khỏi mang tiếng quay lưng với một “đồng minh”, chứ chẳng ảnh hưởng gì tới tiến trình xích lại gần nhau giữa Hoa Kỳ và Trung Cộng.</p>
<p>Cũng cần nhấn mạnh, trước đó, vào tháng 7/1971, tức là trước khi LHQ thông qua Nghị Quyết 2758, Tổng thống Hoa Kỳ Richard Nixon đã tuyên bố trên truyền hình với quốc dân Mỹ rằng ông sẽ thăm viếng Trung Cộng vào năm tới.</p>
<p>Cuối tháng 2/1972 &#8211; ba tháng sau ngày Đài Loan bị “tống cổ” ra khỏi LHQ &#8211; ông Nixon đã tới Bắc Kinh gặp gỡ Chủ tịch Mao Trạch Đông và Thủ tướng Chu Ân Lai của Trung Cộng, trở thành nhà lãnh đạo đầu tiên của Hoa Kỳ đặt chân tới Hoa Lục trong một phần tư thế kỷ qua.</p>
<p>Tuy nhiên, sau chuyến đi lịch sử của Tổng thống Richard Nixon, Hoa Kỳ vẫn không thay đổi lập trường về Đài Loan, vẫn duy trì cam kết bảo vệ đảo quốc này: trong khi rút hết lực lượng quân sự vẫn tiếp tục công nhận nhà nước Trung Hoa Dân Quốc là chính thể hợp hiến hợp pháp duy nhất đại diện cho Trung Hoa, là đồng minh của Hoa Kỳ, nếu bị Trung Cộng tấn công, Hoa Kỳ sẽ can thiệp.</p>
<p>Nhưng sau khi Tổng thống Jimmy Carter của đảng Dân Chủ &#8211; một thành phần “bồ câu” tới mức thiên tả &#8211; lên cầm quyền thì Đài Loan đã trở thành “con vật tế thần” để đổi lấy quyền lợi kinh tế của Hoa Kỳ tại thị trường Hoa Lục.</p>
<p>Ngày 15/12/1978, ông Jimmy Carter lên truyền hình thông báo cho quốc dân: bắt đầu vào ngày 1/1/1979, Hoa Kỳ sẽ chính thức công nhận Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa (Trung Cộng), cắt đứt quan hệ ngoại giao với Trung Hoa Dân Quốc (Đài Loan) và thiết lập bang giao với Trung Cộng.</p>
<p>Trong Thông cáo chung ngày 1/1/1979, hai chính phủ Hoa Kỳ &#8211; Trung Cộng khẳng định “chỉ có một nước Trung hoa” và Đài Loan chỉ là “một phần lãnh thổ của Trung Hoa”.</p>
<p>Sự việc này đã khiến chính phủ Trung Hoa Dân Quốc và dân chúng Đài Loan vô cùng phẫn nộ, dẫn đưa tới tình hình căng thẳng tột độ giữa Đài Loan và Hoa Lục, nhất là sau khi Trung Hoa Dân Quốc đặt mua các chiến đấu cơ tối tân nhất của Pháp để quyết một mất một còn với Trung Cộng.</p>
<p>Thời gian này, đầu thập niên 1980, Đặng Tiểu Bình đã trở thành “lãnh tụ tối cao” của Trung Cộng, mặc dù ông ta chỉ giữ hai chức vụ “thứ cấp” là Phó Chủ tịch Đảng Cộng Sản Trung Hoa và Chủ tịch Quân Ủy Trung Ương. Trước thái độ thù nghịch của Trung Hoa Dân Quốc, họ Đặng đã ra lệnh cấm tất cả mọi bài hát của các ca sĩ Đài Loan và Hương Cảng. Thế nhưng, bất chấp lệnh cấm, đĩa hát của Đặng Lệ Quân vẫn được lén lút bán ngoài chợ đen, và các ca khúc của cô vẫn tiếp tục được phổ biến, từ nhà dân cho tới hàng quán, thậm chí cả trong các cơ sở của chính phủ.</p>
<p>Vì Đặng Lệ Quân có cùng họ “Đặng” với Đặng Tiểu Bình, người dân Hoa Lục đã gọi cô là “Tiểu Đặng” để phân biệt với “Lão Đặng”; từ đó mới có câu nói đùa “Ban ngày Lão Đặng cai trị Trung Hoa, ban đêm Tiểu Đặng ngự trị mọi nhà”!</p>
<p>* * *</p>
<p>Cũng trong những năm vàng son của mình – một cách chính xác là vào năm 1984, Đặng Lệ Quân đã phát hành album được xem là có giá trị cao nhất trong suốt sự nghiệp của cô. Album này có tựa đề  <em>Đạm Đạm U Tình</em>, gồm 12 bài thơ từ thời Đường, Tống, được phổ nhạc, âm hưởng là một sự phối hợp hài hòa giữa Đông và Tây, giữa truyền thống và hiện đại.</p>
<p>Trong số 12 ca khúc này, nổi tiếng và được ưa chuộng nhất là bản <em>Đãn Nguyện Nhân Trường Cửu</em> (We May Last Forever, Những Mong Người Dài Lâu), nguyên là bài thơ <em>Thủy Điệu Cô Đầu</em> của Tô Thức (hiệu Tô Đông Pha) được Lương Hoằng Chí phổ nhạc.</p>
<p>Tương truyền <em>Thủy Điệu Cô Đầu</em> được Tô Đông Pha sáng tác vào tết Trung Thu năm Bính Thìn (1076) dưới thời Tống Thần Tông: ở chốn lưu đày, một mình ngồi ngắm trăng uống rượu suốt đêm, nhớ tới Tử Do (Tô Triệt), em trai ông và cũng là một người bạn thơ, mà cảm tác.</p>
<p><em>[Thủy Điệu Cô Đầu rất được thi văn gia Việt Nam thuộc các thế hệ trước ưa chuộng, trong số những bản dịch, phổ nhất là của Nguyễn Hiến Lê]</em></p>
<p>Sau này, khi phi thuyền Thần Châu VII được phóng lên không gian ngày 23/9/2008, Trung Quốc đã cho phát ca khúc “Đãn nguyện nhân trường cửu” qua tiếng hát của Đặng Lệ Quân.</p>
<p><strong>VIDEO:</strong></p>
<p><a href="https://www.youtube.com/watch?v=xHaB6KXJbsk" target="_blank"><strong> Đãn Nguyện Nhân Trường Cửu &#8211; Tô Thức &#8211; Đặng Lệ Quân</strong></a></p>
<p>Gần đây, trong vòng chung kết cuộc tuyển lựa “Thi ca chi vương” do đài truyền hình Tứ Xuyên tổ chức, thí sinh Phí Ngọc Thanh đã thu phục ban giám khảo và khán giả với ca khúc này, và sau đó trở thành một danh ca.</p>
<p><a href="https://www.youtube.com/watch?v=-zAcfAm3jjQ" target="_blank"><strong>[Vietsub] Phí Ngọc Thanh 費玉清- Những Mong Người Dài Lâu 但願人長久 (Đãn Nguyện Nhân Trường Cửu)</strong></a></p>
<p>* * *</p>
<p>Năm 1989, khi xảy cuộc đàn áp đẫm máu ở Thiên An Môn, Đặng Lệ Quân đang ở Paris, và cô đã tổ chức một buổi trình diễn tại thủ đô Pháp quốc, nhân danh sinh viên học sinh đang tranh đấu cho dân chủ tại Hoa Lục xin dư luận quốc tế hỗ trợ.</p>
<p>Sau đó, Đặng Lệ Quân đã bay về Hương Cảng trình diễn tại trường đua Thung Lũng Hạnh Phúc (Happy Valley Racecourse) trong buổi nhạc hội mang tên “Những ca khúc dân chủ cho Trung Hoa” (Democratic songs dedicated to China) vào ngày 27/5/1989 với trên 300,000 người tham dự. Cao điểm của buổi trình diễn là ca khúc “Nhà tôi ở phía bên kia núi” (My Home Is on the Other Side of the Mountain) do Đặng Lệ Quân hát đã khiến hàng nghìn người rơi lệ.</p>
<p>Được biết trước đó, khi nghe tin Đặng Lệ Quân bay về Hương Cảng để trình diễn tại trường đua Thung Lũng Hạnh Phúc, các đại diện thương mại của cô cũng như đài truyền hình TVB đã ra sức ngăn cản, nhưng chẳng những cô không nghe theo mà còn đeo biểu ngữ có ghi hàng chữ “Phản đối sự đàn áp của quân đội” trước ngực khi trình diễn tại trường đua. Vì thế, hãng TVB đã cấm các chuyên viên thu hình quay trực diện Đặng Lệ Quân, để khỏi thấy hàng chữ “xúc phạm” kia (TVB lúc đó đã “làm ăn” với Trung Cộng).</p>
<p>Sau khi hát ca khúc “Nhà tôi ở phía bên kia núi”, Đặng Lệ Quân tuyên bố:</p>
<p>“Sẽ có ngày tôi quay trở lại Hoa Lục và hát ca khúc này, đó là ngày đất nước Trung Hoa được tái thống nhất với Tam Dân Chủ Nghĩa (của Trung Hoa Quốc Dân Đảng)”.</p>
<p>Bước sang thập niên 1990, khi mà hầu như không một ca sĩ nào của Hương Cảng, Đài Loan chưa về trình diễn tại Hoa lục, Đặng Lệ Quân vẫn giữ vững lập trường.</p>
<p>* * *</p>
<p style="text-align: center;"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2018/08/DLQ-mac-ao-cuoi-trong-buoi-trinh-dien-cuoi-cung.jpg?strip=all"><img loading="lazy" decoding="async" class="aligncenter size-medium wp-image-36715" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2018/08/DLQ-mac-ao-cuoi-trong-buoi-trinh-dien-cuoi-cung-300x300.jpg?strip=all" alt="DLQ mac ao cuoi trong buoi trinh dien cuoi cung" width="300" height="300" srcset="https://cdn.t-van.net/2018/08/DLQ-mac-ao-cuoi-trong-buoi-trinh-dien-cuoi-cung-150x150.jpg 150w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2018/08/DLQ-mac-ao-cuoi-trong-buoi-trinh-dien-cuoi-cung-300x300.jpg?strip=all 300w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2018/08/DLQ-mac-ao-cuoi-trong-buoi-trinh-dien-cuoi-cung.jpg?strip=all 500w" sizes="(max-width: 300px) 100vw, 300px" /></a></p>
<p style="text-align: center;"><em>Đặng Lệ Quân mặc áo cưới trong buổi trình diễn cuối cùng</em></p>
<p>Hội đủ mọi yếu tố thành công &#8211; tài hoa, thanh sắc &#8211; nhưng “Nữ hoàng ca nhạc Á châu” chưa bao giờ tìm được hạnh phúc trọn vẹn trong cuộc sống tình cảm; và cho tới khi qua đời, áo cưới cô vẫn chưa được mặc một lần (không kể khi trình diễn trên sân khấu).</p>
<p>Theo một số trang mạng, hai người yêu đầu tiên của Đặng Lệ Quân đều chết bất đắc kỳ tử, một người vì tai nạn phi cơ, một người vì lên cơn đau tim.</p>
<p>Còn theo tiểu sử chính thức, mối tình đầu tiên của Đặng Lệ Quân được mọi người biết tới là với <strong>Thành Long</strong> (Jackie Chan), kém cô một tuổi.</p>
<p>Hai người gặp nhau năm 1979 tại Hoa Kỳ, lúc ấy Thành Long còn là một diễn viên chưa nổi tiếng và đang tập tành ca hát. Đặng Lệ Quân giúp Thành Long luyện giọng, từ đó hai người nảy sinh tình cảm. Họ không tiếc lời ca tụng nhau trước mặt các phóng viên, thường đưa nhau đi ăn tối và ngụ chung khách sạn; được truyền thông Hoa ngữ xưng tụng là “Kim Đồng &#8211; Ngọc Nữ”.</p>
<p>Nhưng tuy cùng một nhịp tim, Thành Long và Đặng Lệ Quân lại khác biệt về sở thích, tính tính. Thành Long thích tụ tập, đàn đúm với bạn bè, từng nhiều lần bị bắt gặp tình tứ với những cô gái lạ, trong khi Đặng Lệ Quân là người đoan trang, nề nếp, thích cuộc sống yên tĩnh, ấm cúng tại nhà.</p>
<p>Nghe kể lại trong một bữa tiệc có rất nhiều “huynh đệ” của Thành Long, tới khuya mà anh chàng cũng không chịu rời bàn, Đặng Lệ Quân nói “Nếu anh thích thì anh cứ ở lại với bạn bè họ, em đi về đây”. Không muốn bị mất mặt, Thành Long đã để Đặng Lệ Quân ra về một mình. Sau khi tiệc tàn, Thành Long đi tìm Đặng Lệ Quân để xin lỗi nhưng cô nhất quyết không mở cửa, chấm dứt một chuyện tình đẹp đã kéo dài đã 3 năm.</p>
<p>Nhưng Thành Long không cô đơn lâu, anh quay sang cặp với nữ diễn viên Lâm Phụng Kiều, một người bạn của Đặng Lệ Quân; sau đó ít lâu hai người kết hôn.</p>
<p>Say này, Thành Long đã không dấu diếm ân hận, nuối tiếc cuộc tình đẹp với Đặng Lệ Quân. Chàng thố lộ:</p>
<p>“Giờ đây tôi đã nhận ra sai lầm của mình, Đặng Lệ Quân là một viên ngọc quý mà đáng lẽ tôi phải gìn giữ, yêu thương.”</p>
<p>Năm 2002, sau khi Đặng Lệ Quân đã qua đời được 7 năm, Thành Long đã hát lại bài “Ngã chỉ tại hồ nhĩ” (Anh/em chỉ quan tâm tới em/anh), tức phiên bản tiếng Hoa của bản <em>T</em><em>oki no Nagare ni Mi o Makase</em> (Buông xuôi theo dòng thời gian), ca khúc đã giúp Đặng Lệ Quân đoạt Đại Giải của Nhật Bản năm 1986 mà chúng tôi đã giới thiệu trong một bài trước.</p>
<p>Đặc biệt, người ta đã sử dụng kỹ thuật hiện đại để phục hồi hình ảnh Đặng Lệ Quân, đưa vào video clip cùng với hình ảnh của Thành Long, gây xúc động cho hàng triệu người ái mộ.</p>
<p><strong>VIDEO:</strong></p>
<p><a href="https://www.youtube.com/watch?v=X58qfIGOPrs" target="_blank"><strong> Teresa Teng &amp; Jackie Chan &#8211; Wo Zhi Zai Hu Ni (High Quality)</strong></a></p>
<p>Sau khi tan vỡ với Thành Long, Đặng Lệ Quân tìm được nguồn an ủi trong vòng tay nam diễn viên <strong>Tần Tường Lâm</strong>. Ai cũng tưởng hai người sẽ thành vợ chồng, nhưng cuối cùng Đặng Lệ Quân đã phải gạt nước mắt chia tay vì họ Tần vẫn không quên được hình bóng người tình cũ – Lâm Thanh Hà!</p>
<p><em>[<strong>Lâm Thanh Hà</strong>, sinh năm 1954, kém Đặng Lệ Quân 1 tuổi, được xưng tụng là đệ nhất minh tinh gốc Đài Loan trong hai thập niên 1970, 1980. Nổi tiếng vào năm mới 17 tuổi với cuốn phim Song Ngoại, phóng tác từ cuốn tiểu thuyết có cùng tựa của nữ sĩ Quỳnh Dao, tiếp theo là nhiều cuốn phim tình cảm khác, đa số lấy cốt truyện từ tiểu thuyết của Quỳnh Dao.</em></p>
<p><em> Nhưng ngoài đời, Lâm Thanh Hà bị xem là một “yêu nữ”, bất chấp sự lên án của dư luận, cô cặp kè công khai với nam diễn viên <strong>Tần Hán</strong>, người đã có vợ hai con, trong suốt 19 năm; về sau cô cặp cả với Tần Tường Lâm, tạo thành cuộc tình tay ba bị dư luận Đài Loan, vốn dĩ bảo thủ, lên án kịch liệt. Sau này, Lâm Thanh Hà bỏ cả hai chàng diễn viên, sang Cảng Thơm lập nghiệp, và kết hôn với một thương gia]</em></p>
<p>Sau Tần Tường Lâm, Đặng Lệ Quân yêu đại gia Quách Khổng Thừa nhưng khi hai người quyết định tiến tới hôn nhân, gia đình họ Quách đã ra nhiều điều kiện, trong đó có việc cô phải từ giã nghiệp cầm ca, Đặng Lệ Quân đành gạt lệ chia tay.</p>
<p>Đầu thập niên 1990, sau khi bày tỏ lập trường chống Bắc Kinh qua việc lên án cuộc đàn áp sinh viên học sinh ở Thiên An Môn, Đặng Lệ Quân bỏ Hương Cảng sang Pháp sống. Tại đây, cô gặp gỡ nhiếp ảnh gia trẻ Quilery Paul Puel Stephane, kém cô 14 tuổi, và hai người trở thành tình nhân.</p>
<p>Thời gian này, tình hình hình sức khỏe của Đặng Lệ Quân không mấy khả quan, cho nên sinh hoạt trong lĩnh vực ca nhạc cũng bị hạn chế.</p>
<p>Năm 1994, Đặng Lệ Quân trở về Đài Loan tham gia một đại nhạc hội &#8211;  lần trình diễn cuối cùng của cô trước công chúng Đài Loan, và phát hành đĩa hát “Dạ hương”.</p>
<p>Tới giữa năm 1995, bệnh suyễn bẩm sinh của Đặng Lệ Quân có chiều hướng gia tăng, cô cùng bạn trai đến thành phố du lịch Chiang Mai, miền bắc Thái Lan để hưởng không khí trong lành. Tuy nhiên, vào ngày 8 tháng 5, Đặng Lệ Quân đã bất thần qua đời.</p>
<p>Hiện nay trên báo chí cũng như các trang mạng, người ta vẫn tiếp tục khai thác cái chết của Đặng Lệ Quân với nhiều tình tiết ly kỳ và những nghi vấn. “Phiên bản” phổ biến nhất là sau một trận cãi nhau kịch liệt, bạn trai bỏ đi, Đặng Lệ Quân uất ức lên cơn suyễn và chết trong phòng khách sạn, không một mảnh vải trên thân người; trong khi một “phiên bản” khác nói rằng rất có thể Đặng Lệ Quân chết sau khi bị bạn trai bạo hành, căn cứ vào những vết bầm trên má khi khám nghiệm tử thi&#8230;</p>
<p>Về phần người bạn trai của Đặng Lệ Quân, trong một cuộc phỏng vấn sau này đã nói rằng rất có thể sự ra đi đột ngột của Đặng Lệ Quân là do dùng thuốc quá liều, dẫn đưa đến trụy tim và các phản ứng phụ.</p>
<p>Nguyên vào khoảng hai tháng trước khi tới Chiang Mai, Đặng Lệ Quân bắt đầu sử dụng một loại thuốc có tên khoa học là Adrenergic agonist, có tác dụng làm giãn động mạch phế quản. Tuy nhiên, đây cũng là loại thuốc cực mạnh, được sử dụng giới hạn và cần có sự theo dõi chặt chẽ của bác sĩ, bởi những phản ứng tác phụ có thể gây ra. Lạm dụng loại thuốc này có thể dẫn đến trụy tim.</p>
<p>Suy đoán của người bạn trai ra vẻ phù hợp với những diễn biến sau cùng theo lời kể của nhân viên khách sạn và nhân viên cấp cứu, được nhà chức trách Thái Lan chính thức ghi nhận.</p>
<p>Theo đó, vào khoảng 4 giờ chiều, trong lúc bạn trai đi ra ngoài mua sắm, Đặng Lệ Quân đột ngột lên cơn suyễn, cô đập cửa kêu cứu và được đưa xuống phòng bệnh của khách sạn để sơ cứu. Cùng lúc, khách sạn đã cho gọi xe cứu  thương. Trên đường đến bệnh viện, hơi thở của Đặng Lệ Quân yếu dần và cuối cùng tim ngưng đập. Sau hơn một tiếng đồng hồ tiến hành các biện pháp mạnh như kích điện, chích thuốc…, các bác sĩ đã bó tay và chính thức tuyên bố Đặng Lệ Quân qua đời lúc 5 giờ 30 phút chiều 8/5/1995.</p>
<p>Sau đó, thi hài Đặng Lệ Quân được đưa về Đài Bắc, thủ đô Đài Loan. Do những công lao của cô với đất nước và tinh thần quốc gia dân tộc, chính phủ Đài Loan đã quyết định tổ chức lễ quốc táng cho cô, với sự tham dự của Tổng thống Lý Đăng Huy và hầu hết mọi thành viên trong chính phủ.</p>
<p>Hàng nghìn người đã đưa tiễn Đặng Lệ Quân tới nơi an nghỉ sau cùng ở núi Kim Bảo Sơn, ngoại ô Đài Bắc; tang lễ được trực tiếp truyền hình đi nhiều nơi trong đó có Hương Cảng và Nhật Bản &#8211; nơi cô đoạt nhiều giải thưởng nhất trong sự nghiệp của mình.</p>
<p style="text-align: center;"><a href="https://t-van.net/wp-content/uploads/2018/08/MßÖ-Éß¦ng-Lßç-Quón.jpg"><img loading="lazy" decoding="async" class="aligncenter wp-image-36718" src="https://t-van.net/wp-content/uploads/2018/08/MßÖ-Éß¦ng-Lßç-Quón-300x225.jpg" alt="Mß+Ö -Éß¦+ng Lß+ç Qu+ón" width="375" height="281" srcset="https://t-van.net/wp-content/uploads/2018/08/MßÖ-Éß¦ng-Lßç-Quón-300x225.jpg 300w, https://t-van.net/wp-content/uploads/2018/08/MßÖ-Éß¦ng-Lßç-Quón-768x576.jpg 768w, https://t-van.net/wp-content/uploads/2018/08/MßÖ-Éß¦ng-Lßç-Quón-1024x768.jpg 1024w, https://t-van.net/wp-content/uploads/2018/08/MßÖ-Éß¦ng-Lßç-Quón.jpg 600w" sizes="(max-width: 375px) 100vw, 375px" /></a></p>
<p style="text-align: center;"><em>M</em><em>ộ phần của Đặng Lệ Quân</em></p>
<p>Từ đó, mộ phần của Đặng Lệ Quân trong công viên tưởng niệm cô ở núi Kim Bảo Sơn đã trở thành địa điểm hành hương của người ái mộ. Đặc biệt trong công viên, gần pho tượng Đặng Lệ Quân có một mặt đàn dương cầm với những “phím đàn điện tử”, khi du khách bước lên sẽ phát ra tiếng đàn.</p>
<p style="text-align: center;"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2018/08/Piano-trong-cong-vien-Dang-Le-Quan.jpg?strip=all"><img loading="lazy" decoding="async" class="aligncenter wp-image-36712" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2018/08/Piano-trong-cong-vien-Dang-Le-Quan-300x195.jpg?strip=all" alt="Piano trong cong vien Dang Le Quan" width="392" height="255" srcset="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2018/08/Piano-trong-cong-vien-Dang-Le-Quan-300x195.jpg?strip=all 300w, https://cdn.t-van.net/2018/08/Piano-trong-cong-vien-Dang-Le-Quan-768x499.jpg 768w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2018/08/Piano-trong-cong-vien-Dang-Le-Quan.jpg?strip=all 600w" sizes="(max-width: 392px) 100vw, 392px" /></a></p>
<p>Ngôi nhà của Đặng Lệ Quân ở số 18 phố Carmel, Hương Cảng, cũng  trở thành một địa điểm hành hương của người ái mộ; tới năm 2002  đã được bán cho một công ty bảo tàng ở Thượng Hải và chính thức trở thành Viện bảo tàng Đặng Lệ Quân.</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>* * *</p>
<p>Thuở sinh tiền, vào năm 1986, Đặng Lệ Quân đã được tạp chí <em>Time</em> của Mỹ đưa vào Top 10 ca sĩ nổi tiếng nhất thế giới từ trước tới nay, và đứng hạng 7 của năm 1986.</p>
<p>Ngày 23/10/2001, một tiểu hành tinh (asteroid) trong thái dương hệ được ông William Kwong Yu Yeung của đài thiên văn Desert Eagle Observatory, Arizona, Hoa Kỳ, khám phá, đã được đặt tên <strong><em>42,295 Teresateng</em></strong> để tưởng nhớ Đặng Lệ Quân.</p>
<p>Tháng 5/2002, tượng sáp của Đặng Lệ Quân đã được trưng bày tại bảo tàng tượng sáp Madame Tussauds Hương Cảng.</p>
<p>Năm 2005, tưởng niệm 10 năm ngày Đặng Lệ Quân qua đời, Quỹ Văn hóa Giáo dục Đặng Lệ Quân (Teresa Teng Culture and Education Foundation) đã tổ chức các đại nhạc hội ngoài trời tại Hương Cảng và tại đài tưởng niệm Đặng Lệ Quân ở Nghĩa trang Kim Bảo Sơn, Đài Bắc, để lấy quỹ xây dựng một ngôi trường hay cơ sở văn hóa theo ước nguyện của cô.</p>
<p>Tháng 9 năm 2009, khi mà quan hệ giữa Đài Loan và Hoa Lục đã bớt căng thẳng, trang mạng China.com của Văn phòng Báo chí của Quốc vụ viện (Chính phủ) Trung Quốc đã tổ chức cuộc bình chọn “Nhân vật văn hóa tạo ảnh hưởng mạnh nhất” tại Trung Quốc trong “hoa giáp” vừa qua – tức thời gian 60 năm từ 1949 tới 2009. Đặng Lệ Quân đã đứng đầu danh sách gồm 60 nhân vật, vượt qua hai nhà văn <strong>Lão Xã</strong> (1899-1966), <strong>Kim Dung</strong> (sinh năm 1924), và nhà làm văn hóa kiêm chính khách <strong>Quách Mạt Nhược</strong> (1892-1978).</p>
<p><em>[Quách Mạt Nhược là một thi sĩ, kịch tác gia, sử gia, và chính trị gia nổi tiếng của Trung Quốc, từng giữ chức Chủ tịch Hội Liên hiệp Văn học Nghệ thuật Trung Quốc, Viện trưởng tiên khởi của Viện Khoa học Xã hội Trung Quốc, Hiệu trưởng Trường Nghệ thuật Lỗ Tấn, Phó Chủ tịch Quốc Hội Trung Quốc (Trung Cộng); là một trong những đối tượng “phê đấu” của cuộc Cách Mạng Văn Hóa, và chỉ được phục hồi danh dự sau khi Đặng Tiểu Bình lên nắm quyền]</em></p>
<p>Ngày 2 tháng 8 năm 2010, hệ thống truyền CNN của Mỹ công bố kết quả cuộc bình chọn Top 20 ca sĩ nổi tiếng nhất thế giới trong vòng 50 năm qua, trong đó chỉ có hai danh ca Hoa ngữ là Đặng Lệ Quân và Trương Quốc Vinh (Cheung Kwok-wing, tiếng Anh: Leslie Cheung).</p>
<p>Năm 2011, <em>Ánh trăng nói hộ lòng tôi</em> đã được Trung Hoa Dân Quốc chọn làm ca khúc kỷ niệm 100 năm nền Cộng Hòa (Cách Mạng Tân Hợi 1911).</p>
<p>Gần đây nhất, ngày 29/1/2018, nhân sinh nhật lần thứ 65 của Đặng Lệ Quân, trang mạng Google đã thực hiện một logo đặc biệt (Google Doodle) để tưởng nhớ.</p>
<p>* * *</p>
<p>Tới đây chúng rôi viết về ca khúc <em>Tsugunai</em>, ca khúc đã đoạt giải “Nhật Bản Hữu Tuyến Đại Thưởng” đầu tiên cho Đặng Lệ Quân vào năm 1984.</p>
<p><em> Tsugunai</em>, cùng với nhiều ca khúc nổi tiếng khác của Đặng Lệ Quân tiếp theo đó – như <em>Aijin</em> (Người tình), <em>Toki no Nagare ni Mi o Makase</em> (Buông xuôi theo dòng thời gian)&#8230; &#8211; là sáng tác của cặp bài trùng <strong>Miki Takashi</strong> (1945-2009) và <strong>Akari Toyohisa</strong> (1943- ).</p>
<p style="text-align: center;"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2018/08/Araki-Toyohisa.jpg?strip=all"><img loading="lazy" decoding="async" class="aligncenter size-medium wp-image-36714" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2018/08/Araki-Toyohisa-300x295.jpg?strip=all" alt="Araki Toyohisa" width="300" height="295" srcset="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2018/08/Araki-Toyohisa-300x295.jpg?strip=all 300w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2018/08/Araki-Toyohisa.jpg?strip=all 355w" sizes="(max-width: 300px) 100vw, 300px" /></a></p>
<p style="text-align: center;"><strong>Akari Toyohisa</strong> (1943- )</p>
<p style="text-align: center;"><em> <a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2018/08/Miki-Takashi.jpg?strip=all"><img loading="lazy" decoding="async" class="aligncenter wp-image-36717" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2018/08/Miki-Takashi-202x300.jpg?strip=all" alt="Miki Takashi" width="271" height="402" /></a></em></p>
<p style="text-align: center;"><strong>Miki Takashi</strong> (1945-2009)</p>
<p>Về hình thức, <em>Tsugunai</em> được liệt vào thể loại J-pop, tức nhạc phổ thông hiện đại của Nhật Bản. Về nội dung, lời hát của <em>Tsugunai</em> (atonement, sự chuộc lỗi, sự đền trả) là tâm sự khổ đau của một cô gái dù đã chia tay người yêu nhưng vẫn vấn vương, khắc khoải khôn nguôi, lòng vẫn đớn đau khi nhớ lại&#8230;</p>
<p><em>Tsugunai</em> được trang mạng lyricstranslate.com dịch sang Anh ngữ như sau:</p>
<p><em>Atonement</em></p>
<p><em>In the room that faces the setting sun</em></p>
<p><em>I can always smell your scent</em></p>
<p><em>Since if I lived alone I would think</em></p>
<p><em>About the crack in the wall that still remains</em></p>
<p><em> </em></p>
<p><em>If we atone for our love we will become separate</em></p>
<p><em>Don&#8217;t forget me, will you not?</em></p>
<p><em>You who were too kind</em></p>
<p><em>You who look like a child</em></p>
<p><em>Tomorrow we will become mutual strangers</em></p>
<p><em> </em></p>
<p><em>My regret is you</em></p>
<p><em>A reserved smoker</em></p>
<p><em>More than the past that binds us</em></p>
<p><em>I&#8217;m looking for someone who is charming than me</em></p>
<p><em> </em></p>
<p><em>Since if we atone for our love it will become a heavy burden</em></p>
<p><em>I&#8217;ll try to get along with leaving this city</em></p>
<p><em>I&#8217;ll drink one more sake</em></p>
<p><em>I&#8217;ll see one more dream</em></p>
<p><em>Tomorrow we will become mutual strangers</em></p>
<p><em> </em></p>
<p><em>If we atone for our love we will become separate</em></p>
<p><em>Don&#8217;t forget me, will you not?</em></p>
<p><em>You who were too kind</em></p>
<p><em>You who look like a child</em></p>
<p><em>Tomorrow we will become mutual strangers</em></p>
<p>Hiện nay, <em>Tsugunai</em>  đang đứng hạng 5 trong danh sách 10 ca khúc phổ thông của Nhật được yêu chuộng nhất do tạp chí online <em>KILALA</em> thiết lập.</p>
<p><strong>Phụ lục 2: <em>Tsugunai</em></strong><strong> , Teresa Teng</strong></p>
<audio class="wp-audio-shortcode" id="audio-36711-20" preload="none" style="width: 100%;" controls="controls"><source type="audio/mpeg" src="https://t-van.net/wp-content/uploads/2018/08/02-teresa_teng_tsugunai-m.daimp3_.info-3-Copy.mp3?_=20" /><a href="https://t-van.net/wp-content/uploads/2018/08/02-teresa_teng_tsugunai-m.daimp3_.info-3-Copy.mp3">https://t-van.net/wp-content/uploads/2018/08/02-teresa_teng_tsugunai-m.daimp3_.info-3-Copy.mp3</a></audio>
<p><strong>VIDEO:</strong></p>
<p><strong> <a href="https://www.youtube.com/watch?v=XQCgFZz_rpc">Tsugunai &#8211; teresa teng &#8211; YouTube</a></strong></p>
<p><em>Tsugunai</em>  được tác giả Khúc Lan đặt lời Việt với tựa <em>Tình chỉ là giấc mơ</em>. Cũng xin viết thêm, trước đó, một ca khúc nổi tiếng khác của Nhật là bản <em>Kobito Yo</em> (của Mayumi Itsuwa) đã được Khúc Lan đặt lời Việt với tựa <em>Tình là giấc mơ,</em> cho nên không ít người đã lẫn lộn giữa ca khúc này (<em>Tình là giấc mơ</em>) với ca khúc <em>Tình <strong>chỉ</strong> là giấc mơ</em>; rất có thể vì vậy mà một số người đã tự tiện đổi <em>“</em><em>Tình <strong>là</strong> giấc mơ</em>” thành “<em>Tình <strong>như</strong> giấc mơ</em>” cho khác đi?!</p>
<p><strong><em>Tình chỉ là giấc mơ</em></strong></p>
<p><em> Tình chỉ là giấc mơ thôi<br />
Nào ai sống trong mơ hoài<br />
Tỉnh giấc ta nghe con tim đau<br />
thì lòng đã vướng bao âu sầu<br />
Tình chỉ là nắng trên cao<br />
chìm tắt vào bóng tối đêm sâu<br />
Người quay bước đi hững hờ<br />
Người ôm gối chăn ơ thờ<br />
Tình ơi trách ai bây giờ</em></p>
<p>&nbsp;</p>
<p><em>ĐK:<br />
Đắm đuối nhưng rồi biết xa nhau<br />
Thắm thiết chi rồi cũng quên mau<br />
Ấm áp trong lần cuối chia tay<br />
Để giá buốt trong ta còn mãi<br />
Ôi người yêu hỡi đam mê nay không còn nữa<br />
Ôi tình yêu hỡi giấc mơ thiên thu tàn úa<br />
Chiều nay nghe gió rung cây bơ vơ<br />
Đời cũng tàn qua</em></p>
<p><em>Tình chỉ là thoáng mơ qua</em><br />
<em> Giọt nước mắt thêm nhạt nhòa</em><br />
<em> Nhỏ xuống cho tim ta đơn côi</em><br />
<em> Mà lòng đã trót yêu ai rồi</em></p>
<p><em><br />
Tình chỉ là bão tố phong ba<br />
Lạnh buốt vào dưới đáy tim ta<br />
Ngày nào có nhau êm đềm<br />
Mà nay xót xa riêng mình<br />
Đời một bóng ta âm thầm</em></p>
<p><em> ĐK:<br />
Đắm đuối nhưng rồi biết xa nhau&#8230;</em></p>
<p><em>Tình chỉ là giấc mơ</em> đã được nhiều ca sĩ ở hải ngoại cũng như trong nước thu đĩa, và là một trong số những ca khúc nhạc Nhật lời Việt được ưa chuộng nhất.</p>
<p><strong>Phụ lục 3: <em>Tình chỉ là giấc mơ</em>, Ngọc Lan</strong></p>
<audio class="wp-audio-shortcode" id="audio-36711-21" preload="none" style="width: 100%;" controls="controls"><source type="audio/mpeg" src="https://t-van.net/wp-content/uploads/2018/08/03-Tinh-Nhu-Giac-Mo-Ngoc-Lan-Copy-2-Copy-Copy-Copy.mp3?_=21" /><a href="https://t-van.net/wp-content/uploads/2018/08/03-Tinh-Nhu-Giac-Mo-Ngoc-Lan-Copy-2-Copy-Copy-Copy.mp3">https://t-van.net/wp-content/uploads/2018/08/03-Tinh-Nhu-Giac-Mo-Ngoc-Lan-Copy-2-Copy-Copy-Copy.mp3</a></audio>
<p><strong>Phụ lục 4: <em>Tình chỉ là giấc mơ</em>, Lệ Thu</strong></p>
<audio class="wp-audio-shortcode" id="audio-36711-22" preload="none" style="width: 100%;" controls="controls"><source type="audio/mpeg" src="https://t-van.net/wp-content/uploads/2018/08/04-Tinhnhugiacmo-LeThu_9gsg-Copy-2-Copy.mp3?_=22" /><a href="https://t-van.net/wp-content/uploads/2018/08/04-Tinhnhugiacmo-LeThu_9gsg-Copy-2-Copy.mp3">https://t-van.net/wp-content/uploads/2018/08/04-Tinhnhugiacmo-LeThu_9gsg-Copy-2-Copy.mp3</a></audio>
<p>Cùng khoảng thời gian, <em>T</em><em>sugunai</em>  được nhạc sĩ Lữ Liên đặt lời Việt với tựa “Ước Hẹn”.</p>
<p><strong><em>Ước Hẹn</em></strong></p>
<p><em>Thuyền đã rời bến sông<br />
Gạt nước mắt em theo chồng<br />
Thầm giữ kín trong tim bao lâu<br />
Yêu thương tan vỡ mối duyên đầu<br />
Nhìn sóng bạc cuốn trôi<br />
Hỏi bóng nhạn lướt cánh chung đôi<br />
Nhạn có thấu chăng kiếp người<br />
Một lần lỡ xa nhau rồi<br />
Là đã mất nhau trọn đời</em></p>
<p><em>Ơi hỡi người chốn xa xôi</em><br />
<em> Nếu biết trước duyên tình lắm thê lương</em><br />
<em> Chắc có lẽ ta chẳng vướng yêu đương</em><br />
<em> Sớm biết thế có chi sầu nhớ</em><br />
<em> Âu là duyên kiếp đã do cao xanh xui khiến</em><br />
<em> Xin đừng oán trách cứ nhau cho thêm cay đắng</em><br />
<em> Người yêu anh hỡi kiếp nay ta chia tay</em><br />
<em> Đành phụ ngãi từ đây</em></p>
<p><em>Ơi hỡi người chốn tha phương<br />
Nếu biết rõ em rời bến sang ngang<br />
Chắc có lẽ anh buồn nhớ đau thương<br />
Sớm oán trách thế nhân bạc bẽo<br />
Nhưng vì chữ hiếu khiến em vu quy duyên mới<br />
Cũng liều nhắm mắt bước chân thôi em đi tới<br />
Hẹn anh sang đến kiếp lai sinh mai sau<br />
Nguyện đền đáp tình sâu&#8230;</em></p>
<p><strong>Phụ lục 5: <em>Ước Hẹn</em>, Như Quỳnh<br />
</strong></p>
<audio class="wp-audio-shortcode" id="audio-36711-23" preload="none" style="width: 100%;" controls="controls"><source type="audio/mpeg" src="https://t-van.net/wp-content/uploads/2018/08/Uochen-NhuQuynh_h3p7-Copy-Copy-Copy-Copy-Copy-Copy.mp3?_=23" /><a href="https://t-van.net/wp-content/uploads/2018/08/Uochen-NhuQuynh_h3p7-Copy-Copy-Copy-Copy-Copy-Copy.mp3">https://t-van.net/wp-content/uploads/2018/08/Uochen-NhuQuynh_h3p7-Copy-Copy-Copy-Copy-Copy-Copy.mp3</a></audio>
<p><strong>HOÀI NAM</strong></p>
<p><strong> </strong></p>
<p><strong> </strong></p>
<p><strong> </strong></p>
<p><strong> </strong></p>
<p><strong> </strong></p>
<p><strong> </strong></p>
<p><strong> </strong></p>
<p><strong> </strong></p>
<p>©T.Vấn 2018</p>
]]></content:encoded>
					
					<wfw:commentRss>https://t-van.net/hoai-nam-nhung-ca-khuc-nhac-ngoai-quoc-loi-viet-78-nhac-dong-phuong-tsugunai-tinh-chi-la-giac-mo-uoc-hen-miki-takashi-akari-toyohisa/feed/</wfw:commentRss>
			<slash:comments>0</slash:comments>
		
		<enclosure url="https://t-van.net/wp-content/uploads/2018/08/01-teresa-teng-tombe-la-neige.mp3" length="4910666" type="audio/mpeg" />
<enclosure url="https://t-van.net/wp-content/uploads/2018/08/02-teresa_teng_tsugunai-m.daimp3_.info-3-Copy.mp3" length="5755949" type="audio/mpeg" />
<enclosure url="https://t-van.net/wp-content/uploads/2018/08/03-Tinh-Nhu-Giac-Mo-Ngoc-Lan-Copy-2-Copy-Copy-Copy.mp3" length="3717673" type="audio/mpeg" />
<enclosure url="https://t-van.net/wp-content/uploads/2018/08/04-Tinhnhugiacmo-LeThu_9gsg-Copy-2-Copy.mp3" length="3677148" type="audio/mpeg" />
<enclosure url="https://t-van.net/wp-content/uploads/2018/08/Uochen-NhuQuynh_h3p7-Copy-Copy-Copy-Copy-Copy-Copy.mp3" length="3871178" type="audio/mpeg" />

			</item>
		<item>
		<title>Học Tr&#242;: H&#232; 42 &#8211; Tản mạn về Nhạc Ngoại Lời Việt</title>
		<link>https://t-van.net/hoc-tr-h-42-tan-man-ve-nhac-ngoai-loi-viet/</link>
					<comments>https://t-van.net/hoc-tr-h-42-tan-man-ve-nhac-ngoai-loi-viet/#respond</comments>
		
		<dc:creator><![CDATA[Học Trò]]></dc:creator>
		<pubDate>Fri, 10 Nov 2017 15:33:00 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Góc Văn]]></category>
		<category><![CDATA[học trò âm nhạc]]></category>
		<category><![CDATA[nhạc nq]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://7076e870b2.nxcli.io/?p=33377</guid>

					<description><![CDATA[Hè đã tới rồi Mùa hè cười vui Cởi phăng áo đời Hè đi phơi phới Hè ru sóng nguôi Nhẹ như ra khơi Hè hâm nóng nơi Nằm trên cát chơi Hè ân ái ơi Đó là một phần lời dịch sang tiếng Việt của nhạc sĩ Phạm Duy từ bài &#8220;The Summer Knows&#8221; [&#8230;]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<p><a href="https://lh4.googleusercontent.com/-k8RY8uZJnRo/TXn0oePNuMI/AAAAAAAAEFY/F8n_9ws0QVg/s1600/Picture031.jpg"><img loading="lazy" decoding="async" style="margin-right: auto; margin-left: auto; float: none; display: block; background-image: none;" title="clip_image001" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2017/11/clip_image001.jpg?strip=all&fit=234%2C320" alt="clip_image001" width="234" height="320" border="0" /></a></p>
<p><i>Hè đã tới rồi<br />
Mùa hè cười vui<br />
Cởi phăng áo đời<br />
Hè đi phơi phới<br />
Hè ru sóng nguôi<br />
Nhẹ như ra khơi<br />
Hè hâm nóng nơi<br />
Nằm trên cát chơi<br />
Hè ân ái ơi</i></p>
<p>Đó là một phần lời dịch sang tiếng Việt của nhạc sĩ <b>Phạm Duy</b> từ bài &#8220;<b>The Summer Knows</b>&#8221; của <b>Michel Legrand</b>. Tôi thích cả bài dịch này lắm, vì nó có cái gì đó rất mạnh bạo, quên sự đời, bất chấp hậu quả của cái tuổi 17 bẻ gãy sừng trâu. &#8220;Cởi phăng&#8221;, &#8220;phơi phới&#8221;. Tôi thấy được một cách diễn tả khác về mùa hè của nhạc sĩ, cũng &#8220;bạo phổi&#8221; như hai bài nhạc hè khác của ông là &#8220;<b>Hạ Hồng</b>&#8221; và &#8220;<b>Ngày Tháng Hạ</b>&#8220;.</p>
<p>Dạo gần đây tôi thích đọc những sách vở nói về cách viết lời cho một bài nhạc. Quả là có một thế giới khác, trong đó những kỹ thuật viết lời được phân tích, xắp xếp chặt chẽ thành những luật lệ hẳn hoi. Tiêu biểu nhất là một bộ sách ba quyển của bà <b>Sheila Davis </b>với các tựa đề: &#8220;<b>Successful Lyric Writing</b>&#8220;, &#8220;<b>The Craft of Lyric Writing</b>&#8220;, và &#8220;<b>The Songwriters&#8217; Ideas Book</b>&#8220;. Cũng nhờ nhà sách Borders lâu lâu lại gửi một cái coupon 30% off mà tôi đã tậu được cả ba quyển.<br />
Bài &#8220;The Summer Knows&#8221; như trên là một thí dụ thú vị về các cách viết lời khác nhau dựa trên cùng một giai điệu. Tìm hiểu kỹ thì ông Michel Legrand, nhà soạn nhạc tài ba của Pháp quốc không có khiếu viết lời cho nhạc của ông, do đó ông khôn ngoan tìm đến các người viết lời có hạng để viết lời cho nhạc của ông. Thập niên 60 và 70 ông rất nổi tiếng ở Mỹ với các nhạc phẩm bất hủ là &#8220;The Summer Knows&#8221;, &#8220;I Will Wait For You&#8221;, và &#8220;The Windmills of Your Mind&#8221;, thắng nhiều Oscars và Grammy awards.<br />
Hãy lần lượt xem lời Pháp và Anh:<br />
<i></i></p>
<p><i>C&#8217;était l&#8217;été 42</i><br />
<i>On hésitait</i><br />
<i>Encore un peu</i><br />
<i>Entre l&#8217;amour et l&#8217;amitié</i><br />
<i>Et puis un jour</i><br />
<i>Tout simplement tu t&#8217;es offerte</i><br />
<i><br />
</i> <i>C&#8217;était l&#8217;été 42</i><br />
<i>J&#8217;avais quinze ans</i><br />
<i>Tu étais belle</i><br />
<i>Autour de nous c&#8217;était la guerre</i><br />
<i>Et moi dans tes bras</i><br />
<i>Je criais : je t&#8217;aime !</i><br />
<i>Dans mes bras</i><br />
<i>Tu pleurais : je t&#8217;aime</i><br />
<i>On avait peur</i><br />
<i>On était heureux</i><br />
<i> </i><br />
<i>[x2:] </i><br />
<i>C&#8217;était l&#8217;été 42</i><br />
<i>J&#8217;avais quinze ans</i><br />
<i>Tu étais belle</i><br />
<i>C&#8217;était l&#8217;été de mon premier amour</i></p>
<p>***<br />
<i>The summer smiles, the summer knows, </i><br />
<i>and unashamed, she sheds her clothes.</i><br />
<i>The summer smoothes the restless sky,</i><br />
<i>And lovingly she warms the sand on which you lie.</i><br />
<i><br />
</i> <i>The summer knows, the summer&#8217;s wise, </i><br />
<i>she sees the doubts within your eyes,</i><br />
<i>And so she takes her summertime, </i><br />
<i>tells the moon to wait and the sun to linger,</i><br />
<i>Twist the world around her summer finger.</i><br />
<i>Lets you see the wonder of it all,</i><br />
<i> </i><br />
<i>And if you learned your lesson well,</i><br />
<i>There&#8217;s little more for her to tell,</i><br />
<i>One last caress, it&#8217;s time to dress for fall.</i><br />
***<br />
Ta thấy nhạc lời Pháp thật hồn nhiên ngây thơ, khi nói đến một tình cảm ngại ngần giữa tình bạn và tình yêu, trong bối cảnh chiến tranh, cảnh tay trong tay, thật hạnh phúc mà cũng thật lo âu vì tình yêu quá mong manh. Bài hát kết thúc với một dấu ấn khó phai: một tình yêu đầu đời, anh còn quá trẻ (chỉ mới 15), em thì quá đẹp, mùa hè và tình yêu đầu tiên trong đời của chàng.<br />
Nhạc lời Mỹ thì mạnh bạo hơn với những ẩn dụ táo bạo &#8220;<i>and unashamed, she sheds her clothes</i>&#8221; mà nhạc sĩ PD đã khéo léo dịch thành &#8220;<i>Cởi phăng áo đời, hè đi phơi phới</i>&#8221; (<b><i>unashamed</i></b><i> </i>thì mới đi <b><i>phơi phới</i></b> được chứ? &#8211; cùng cách nâng cấp <b><i>quần áo</i></b> thành <b><i>áo đời</i></b>). Nhưng đọc kỹ lời Mỹ, thi thấy nó không có ép-phê như lời Pháp. Tỷ như đoạn cuối: &#8220;Hè ve vuốt lần cuối, rồi Hè sẽ mặc áo Thu vào&#8221; không &#8220;ấn tượng&#8221; cho lắm. Đọc kỹ lời Mỹ để thấm thía cách chuyển dịch thoát nghĩa của nhạc sĩ Phạm Duy: &#8220;<i>Mùa Thu bước về, lê thê</i>&#8230;&#8221; Ba âm &#8220;ê&#8221; (về, lê, thê) liền nhau đã kéo dài cái mùa thu sắp đến ra, làm ta càng tiếc cho mùa Hè chưa hết mà đã xa &#8230; Nhạc sĩ đã cho biết dụng ý của câu chót như sau:<br />
<i>Với lời ca của bài HÈ 42 (The Summer Knows) này, tôi còn cố gắng nói tới một chút hạnh phúc trong thời gian ngắn ngủi của đời người là mùa hè. Hãy vui lên, hãy yêu đi trước khi mùa Thu của đời mình lê thê bước tới. &#8211; Phạm Duy (Ngàn Lời Ca Khác)</i><br />
Tóm lại, dịch từ một bài nhạc từ ngôn ngữ này qua ngôn ngữ khác, cũng như viết lời cho giai điệu là một chuyện không dễ làm.<br />
Ngoài ra, khi bạn xem hai videos sau bạn sẽ thích thú với nhiều điều. Ngừoi chơi harp là Catherine Michel, vợ của ông Michel Legrand (pianist).<br />
với orchestra:<br />
<a href="http://www.dailymotion.com/video/x9ih59_m-mme-michel-legrand-ete-42_music">http://www.dailymotion.com/video/x9ih59_m-mme-michel-legrand-ete-42_music</a><br />
và song tấu:<br />
<em><a href="http://www.youtube.com/watch?v=B5QNY9fMT5A">http://www.youtube.com/watch?v=B5QNY9fMT5A</a></em></p>
<p>Tôi cũng muốn bạn để chút thời gian suy nghĩ và so sánh họ với những nhạc sĩ Việt của chúng ta, để thấy quan điểm chính trị đã làm giữa chúng ta, rồi giữa chúng ta vơí nghệ sĩ đã xa cách nhau ra sao.</p>
<p><strong>Học Trò</strong></p>
<p>©T.Vấn 2017</p>
]]></content:encoded>
					
					<wfw:commentRss>https://t-van.net/hoc-tr-h-42-tan-man-ve-nhac-ngoai-loi-viet/feed/</wfw:commentRss>
			<slash:comments>0</slash:comments>
		
		
			</item>
	</channel>
</rss>

<!--
Performance optimized by W3 Total Cache. Learn more: https://www.boldgrid.com/w3-total-cache/?utm_source=w3tc&utm_medium=footer_comment&utm_campaign=free_plugin

Page Caching using Disk: Enhanced 

Served from: t-van.net @ 2026-10-04 18:07:39 by W3 Total Cache
-->