<?xml version="1.0" encoding="UTF-8"?><rss version="2.0"
	xmlns:content="http://purl.org/rss/1.0/modules/content/"
	xmlns:wfw="http://wellformedweb.org/CommentAPI/"
	xmlns:dc="http://purl.org/dc/elements/1.1/"
	xmlns:atom="http://www.w3.org/2005/Atom"
	xmlns:sy="http://purl.org/rss/1.0/modules/syndication/"
	xmlns:slash="http://purl.org/rss/1.0/modules/slash/"
	>

<channel>
	<title>phan nhật nam &#8211; T.Vấn và Bạn Hữu</title>
	<atom:link href="https://t-van.net/tag/phan-nh%E1%BA%ADt-nam/feed/" rel="self" type="application/rss+xml" />
	<link>https://t-van.net</link>
	<description>Văn Học và Đời Sống</description>
	<lastBuildDate>Thu, 05 May 2022 18:04:31 +0000</lastBuildDate>
	<language>en-US</language>
	<sy:updatePeriod>
	hourly	</sy:updatePeriod>
	<sy:updateFrequency>
	1	</sy:updateFrequency>
	<generator>https://wordpress.org/?v=6.7.5</generator>

<image>
	<url>https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2022/02/t-van-favicon.png?strip=all&#038;resize=32%2C32</url>
	<title>phan nhật nam &#8211; T.Vấn và Bạn Hữu</title>
	<link>https://t-van.net</link>
	<width>32</width>
	<height>32</height>
</image> 
	<item>
		<title>Phan Nhật Nam – Hè vẫn còn đỏ lửa</title>
		<link>https://t-van.net/phan-nhat-nam-he-van-con-do-lua/</link>
					<comments>https://t-van.net/phan-nhat-nam-he-van-con-do-lua/#respond</comments>
		
		<dc:creator><![CDATA[Phan Nhật Nam]]></dc:creator>
		<pubDate>Sat, 18 Jul 2020 05:35:03 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Ghi Chép]]></category>
		<category><![CDATA[phan nhật nam]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://7076e870b2.nxcli.io/?p=43852</guid>

					<description><![CDATA[&#160; Nhà văn Phan Nhật Nam (Nguồn: Sáng Tạo) Đỗ Trường Nếu buộc phải chọn hai gương mặt tiểu biểu nhất cho thơ văn chiến tranh của nền Văn học miền Nam, thì có lẽ, tôi nghĩ ngay đến nhà thơ Tô Thùy Yên và nhà văn Phan Nhật Nam. Tuy khác nhau về hoàn [&#8230;]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<div class="posttitle">
<p>&nbsp;</p>
</div>
<div class="entry">
<p style="text-align: center;"><a href="https://vanhocnghethuat.files.wordpress.com/2017/09/phan_nhat_nam_3.jpg"><img fetchpriority="high" decoding="async" class="size-medium wp-image-99029 aligncenter" src="https://vanhocnghethuat.files.wordpress.com/2017/09/phan_nhat_nam_3.jpg?w=300&amp;h=225" sizes="(max-width: 300px) 100vw, 300px" srcset="https://vanhocnghethuat.files.wordpress.com/2017/09/phan_nhat_nam_3.jpg?w=300&amp;h=225 300w, https://vanhocnghethuat.files.wordpress.com/2017/09/phan_nhat_nam_3.jpg?w=150&amp;h=113 150w, https://vanhocnghethuat.files.wordpress.com/2017/09/phan_nhat_nam_3.jpg 600w" alt="" width="300" height="225" data-attachment-id="99029" data-permalink="https://sangtao.org/2017/09/18/phan-nhat-nam-but-thep-muc-mau-trai-tim-lua/phan_nhat_nam_3/" data-orig-file="https://vanhocnghethuat.files.wordpress.com/2017/09/phan_nhat_nam_3.jpg" data-orig-size="600,450" data-comments-opened="0" data-image-meta="{&quot;aperture&quot;:&quot;0&quot;,&quot;credit&quot;:&quot;&quot;,&quot;camera&quot;:&quot;&quot;,&quot;caption&quot;:&quot;&quot;,&quot;created_timestamp&quot;:&quot;0&quot;,&quot;copyright&quot;:&quot;&quot;,&quot;focal_length&quot;:&quot;0&quot;,&quot;iso&quot;:&quot;0&quot;,&quot;shutter_speed&quot;:&quot;0&quot;,&quot;title&quot;:&quot;&quot;,&quot;orientation&quot;:&quot;0&quot;}" data-image-title="phan_nhat_nam_3" data-image-description="" data-medium-file="https://vanhocnghethuat.files.wordpress.com/2017/09/phan_nhat_nam_3.jpg?w=300" data-large-file="https://vanhocnghethuat.files.wordpress.com/2017/09/phan_nhat_nam_3.jpg?w=600" /></a><br />
<em>Nhà văn Phan Nhật Nam</em></p>
<p>(Nguồn: Sáng Tạo)</p>
<p><strong>Đỗ Trường</strong></p>
<p>Nếu buộc phải chọn hai gương mặt tiểu biểu nhất cho thơ văn chiến tranh của nền Văn học miền Nam, thì có lẽ, tôi nghĩ ngay đến nhà thơ Tô Thùy Yên và nhà văn Phan Nhật Nam. Tuy khác nhau về hoàn cảnh, xuất thân, song hai bác này có những nét khá tương đồng, kể từ khi mặc áo lính, cho đến những năm tháng tù đày (dài lê thê) sau chiến tranh. Nhìn lại văn học sử Việt Nam có ba người lính cầm bút tài năng: Cao Xuân Huy, Nguyễn Bắc Sơn, và Phan Nhật Nam đều có người cha ở bên kia của chiến tuyến. Tuy nhiên, cũng như Cao Xuân Huy, nhà văn Phan Nhật Nam đã phân định trách nhiệm rạch ròi của người lính, không hề có sự mâu thuẫn nội tâm, do dự trên đầu súng và cây viết như Nguyễn Bắc Sơn. Có thể nói, nếu không có cuộc chiến này, thì chưa chắc chúng ta đã có một Phan Nhật Nam nhà văn của ngày hôm nay. Thật vậy, chính chiến trường đạn bom, khói lửa, chết chóc và tù đày đã đưa ông đến với những trang văn. Và chỉ có đối diện với những trang giấy, Phan Nhật Nam mới giải tỏa được tâm lý cũng như cứu rỗi linh hồn người lính trận. Món nợ với đồng đội với đất nước, cùng cái trớ trêu của cuộc chiến này, ngay từ những ngày đầu cầm bút cho đến nay luôn ám ảnh và xuyên suốt sự nghiệp sáng tạo của Phan Nhật Nam. Do vậy, nếu đọc một cách có hệ thống, ta có thể nhận thấy những đặc điểm nổi bật trong văn thơ, cũng như con người Phan Nhật Nam: Chiến tranh đưa đến tan vỡ tâm hồn, và lẽ sống của người lính. Sự tàn khốc của cuộc chiến ấy dưới ngòi bút sắc sảo của Phan Nhật Nam hiện lên một cách trung thực, sinh động. Và không chỉ trên chiến trường, mà trong tăm tối ngục tù cũng vậy, ta luôn thấy sự giải thoát. Thật vậy, lời dự báo, hay sự phản kháng là con đường giải thoát của ông đôi khi có tính tiêu cực, nhưng nó bật lên cái chí khí, tính nhân đạo cao cả. Chính bởi những đặc điểm này, đã làm nên tên tuổi nhà văn thật vạm vỡ Phan Nhật Nam.<br />
<span id="more-125924"></span><br />
Phan Nhật Nam sinh năm 1943, tại Thừa Thiên – Huế. Sau khi đậu tú tài, ông vào lính và tốt nghiệp Trường võ bị Đà Lạt năm 1963. Với mười bốn năm khoác áo lính, và 14 năm tù cải tạo sau 1975. Hiện ông sống và viết văn tại Cali- Hoa kỳ.</p>
<p><a href="https://vanhocnghethuat.files.wordpress.com/2018/07/sach-phan_nhat_nam-1.jpg"><img decoding="async" class=" wp-image-107913 aligncenter" src="https://vanhocnghethuat.files.wordpress.com/2018/07/sach-phan_nhat_nam-1.jpg?w=300&amp;h=290" sizes="(max-width: 300px) 100vw, 300px" srcset="https://vanhocnghethuat.files.wordpress.com/2018/07/sach-phan_nhat_nam-1.jpg?w=300&amp;h=290 300w, https://vanhocnghethuat.files.wordpress.com/2018/07/sach-phan_nhat_nam-1.jpg?w=600&amp;h=580 600w, https://vanhocnghethuat.files.wordpress.com/2018/07/sach-phan_nhat_nam-1.jpg?w=150&amp;h=145 150w" alt="" width="453" height="439" data-attachment-id="107913" data-permalink="https://sangtao.org/2018/08/01/tu-dau-binh-lua/sach-phan_nhat_nam-1/" data-orig-file="https://vanhocnghethuat.files.wordpress.com/2018/07/sach-phan_nhat_nam-1.jpg" data-orig-size="1258,1218" data-comments-opened="0" data-image-meta="{&quot;aperture&quot;:&quot;0&quot;,&quot;credit&quot;:&quot;&quot;,&quot;camera&quot;:&quot;&quot;,&quot;caption&quot;:&quot;&quot;,&quot;created_timestamp&quot;:&quot;1533056434&quot;,&quot;copyright&quot;:&quot;&quot;,&quot;focal_length&quot;:&quot;0&quot;,&quot;iso&quot;:&quot;0&quot;,&quot;shutter_speed&quot;:&quot;0&quot;,&quot;title&quot;:&quot;&quot;,&quot;orientation&quot;:&quot;1&quot;}" data-image-title="sach-phan_nhat_nam-1" data-image-description="" data-medium-file="https://vanhocnghethuat.files.wordpress.com/2018/07/sach-phan_nhat_nam-1.jpg?w=300" data-large-file="https://vanhocnghethuat.files.wordpress.com/2018/07/sach-phan_nhat_nam-1.jpg?w=614" /></a></p>
<p>Tuy gian nan với khói lửa binh đao như vậy, nhưng có thể nói, Phan Nhật Nam viết đều, và khỏe, tập truyện nào của ông cũng hừng hực mang không khí, hơi thở của thời cuộc. <em>Dấu Binh Lửa, Dọc Đường Số 1, Ải Trần Gian, Dựa Lưng Nỗi Chết, Mùa Hè Đỏ Lửa, Tù Binh và Hoà Bình</em> được viết trước 1975 là những tác phẩm toàn bích, được nhiều người đọc, và yêu mến nhất. Với tôi, ở thể ký sự chiến trường này, không chỉ ở thời điểm đó, mà cả đến ngày nay, có lẽ chưa có tác giả, tác phẩm nào (kể cả hai phía) vượt qua được Phan Nhật Nam. Sau 1975 dù trong hoàn cảnh tù đày, hay khi đã định cư ở nước ngoài, bút lực của ông còn dồi dào và mãnh liệt lắm. Vẫn dòng chảy của mạch bút ký hàng loạt các tác phẩm mới được ra đời có tính chiêm nghiệm sâu sắc: <em>Chuyện Cần Được Kể Lại, Đường Trường Xa Xăm, Đêm Tận Thất Thanh, Những Cột Trụ Chống Giữ Quê Hương, Mùa Đông Giữ Lửa, Chuyện Dọc Đường, Phận Người Vận Nước…</em></p>
<p>Thế nhưng, có một điều làm cho người quan tâm, nghiên cứu đến văn học nước nhà luôn phải trăn trở. Bởi, thời gian này, những tác phẩm trước đây của Phan Nhật Nam đã bị khai tử, và những tác phẩm mới này của ông cũng bị cấm (tiệt) ở trong nước. Người đọc ở nước ngoài rất ít, dẫn đến nhiều hạn chế và thiệt thòi cho độc giả, cũng như cho nền Văn học Việt Nam. Tuy vậy, nếu phải đưa ra một tác phẩm tiêu biểu nhất của Phan Nhật Nam, thì với tôi chắc chắn là bút ký: Dấu binh lửa. Một tác phẩm đầu tay, được in ấn và phát hành năm 1969. Có thể nói, ngoài tính chân thực, giá trị nghệ thuật, và nhân đạo, Dấu binh lửa (còn) như một liều thuốc làm thức tỉnh người đọc đang gà gật trước cuộc chiến tang thương nhất của dân tộc.</p>
<p>Nói bút ký, hồi ký là thể loại văn học mang tính chân thực. Song nếu không có sự sáng tạo mang tính nghệ thuật cao, với sự quan sát tỉ mỉ, cùng tài năng miêu tả cảnh vật, tâm lý nhân vật, sự kiện được thông qua lăng kính, tư tưởng của tác giả, thì tác phẩm đó sẽ khô và rời như cơm nguội vậy. Điều này đã được minh chứng qua những tác phẩm tuyên truyền nhạt phèo: Bất Khuất về Nguyễn Đức Thuận của Trần Đĩnh trước đây, và Hồi ký của Võ Nguyên giáp do Hữu Mai chấp bút gần đây. Tuy nhiên, đọc tùy bút, hồi ký của Phan Nhật Nam, ta thấy khác hoàn toàn. Bởi, người đọc không chỉ thấy tài năng, sự sáng tạo, mà dường như thể loại văn học này đã được ông nâng lên một nấc cao mới về cả giá trị nội dung lẫn hình thức nghệ thuật.</p>
<p><b>Chiến tranh – sự đổ vỡ tâm hồn, và lẽ sống</b></p>
<p>Cùng lớn lên vào giai đoạn (đầu) khốc liệt của cuộc chiến, không như nhà văn Trần Hoài Thư cầm súng mặc áo lính là nghĩa vụ bắt buộc, với Phan Nhật Nam đó là sự tự nguyện, trách nhiệm của tuổi trẻ. Sự vô tư trong sáng đã mở cho người lính Phan Nhật Nam những ước mơ với chân lý, hiện thực. Tôi không dám nghĩ đây là lý tưởng, song chắc chắn đó là tâm lý chung, không chỉ riêng của Phan Nhật Nam ở cái buổi đầu đời ấy: “<em>Tôi đi lính năm mười tám tuổi … tôi tự động hăng hái, hãnh diện để trở thành một sinh viên sĩ quan với ý nghĩ đã chọn đúng cho mình hướng đi, một chỗ đứng dưới ánh mặt trời. Tôi có những rung động thật thành thực khi đi trong rừng thông, hương nhựa thông toả đặc cả một vùng đồi, sung sướng vì thấy đã đưa tuổi trẻ vào trong một thế giới có đủ mơ mộng và cứng rắn, một thế giới pha trộn những ước mơ lãng mạn hào hùng.</em>” (Dấu binh lửa). Tuy nhiên, những ước mơ lãng mạng và hào hùng ấy của người sĩ quan trẻ Phan Nhật Nam đã bị dập tắt ngay từ những trận chiến đầu. Chiến tranh không những giết chết thể xác, mà còn giết chết nhân phẩm, lòng tin của con người. Với thi pháp tự sự, nỗi thất vọng ấy đã được Phan Nhật Nam trải lên trang sách. Đọc lên ai cũng phải chạnh lòng, chua xót. Truyện Người chết dưới chân Chúa (Dấu binh lửa) có những đoạn văn miêu tả cảm động, diễn biến tâm lý sâu sắc, và thấm đẫm tình người như vậy của ông. Và cái tính chân thực, hồn nhiên của người lính, khi đọc Dấu binh lửa cứ làm cho tôi vẩn vơ suy nghĩ đến tiểu thuyết Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh và tác phẩm Vô đề của Dương Thu Hương. Có lẽ, khi viết những tác phẩm này, Bảo Ninh cũng như Dương Thu Hương chưa được đọc Dấu binh lửa. Nếu đã đọc, tôi nghĩ hành động của những người lính thám kích đối với các nữ bộ đội có lẽ, sẽ khác đi nhiều lắm trên những trang văn của họ. Dù là tiểu thuyết, một thể loại được phép hư cấu. Và đoạn trích dưới đây gợi lên nỗi buồn thất vọng (ban đầu) của nhà văn, nhưng phần nào nó cũng làm sáng tỏ thêm nhân cách, và sự cảm thông của người lính:</p>
<p>“<em>… Chị không hiểu được lời nói của tôi, một người Việt Nam ở cùng trên một mảnh đất. Chị tưởng tôi thèm muốn thân xác và đòi hiếp dâm! Tội nghiệp cho tôi biết bao nhiêu, một tên sĩ quan hai mươi mốt tuổi làm sao có thể biết đời sống đầy máu lửa và đớn đau tủi hổ đến ngần này.</em> <i>Tôi đi lính chỉ với một ý nghĩ: Đi cho cùng quê hương và chấm dứt chiến tranh bằng cách góp mặt. Thê thảm biết bao nhiêu cho tôi với ngộ nhận tủi hổ này.</i><em> Tôi muốn đưa tay lên gài những chiếc nút áo bật tung, muốn lau nước mắt trên mặt chị, nhưng chân tay cứng ngắc, hổ thẹn. Và chị nữa, người đàn bà quê thật tội nghiệp. Cảnh sống nào đã đưa chị vào cơn sợ hãi mê muội để dẫn dắt những ngón tay cởi tung hàng nút áo, sẵn sàng hiến thân cho một tên lính trẻ, tuổi chỉ bằng em út, trong khi nước mắt chan hòa trên khuôn mặt đôn hậu tràn kinh hãi.</em>” (Dấu Binh Lửa).</p>
<p>Không chỉ giật mình, trước cái chết phơi thây giữa đồng của những du kích quân tuổi mới mười bốn, mười lăm, mà người lính trẻ Phan Nhật Nam còn đau xót, thẫn thờ và thất vọng trước cái chết quá bi thảm cô gái trẻ vô tội. Những cái chết này như ngọn roi quất vào hồn nhà văn, người lính vậy. Đi sâu vào đọc ta có thể thấy, Phan Nhật Nam là một trong những nhà văn có tài miêu tả, mượn cảnh vật thiên nhiên để bộc lộ tư tưởng, giãi bày cảm xúc của mình. Ta hãy đọc lại đoạn trích dưới đây để thấy rõ tâm trạng của nhà văn trước cái chết bi thảm của đồng loại, cũng như tài năng sử dụng hình ảnh so sánh ẩn dụ của Phan Nhật Nam:</p>
<p>“<em>Khi tôi bước ra đàng sau nhà thờ, qua khu nhà ở của những người chết, một chiếc áo tím chắc hẳn của cô gái còn phơi phới bay trong gió… Nhìn ra xa, xác cô gái nằm thẳng trên sàn gạch, nắng thật sáng rọi lên rực rỡ. Người tôi ai cắm một lưỡi dao oan nghiệt vào tim, thật buồn. Tôi loay hoay đốt một điếu thuốc. Cái chết qủa bi thảm, nhưng hình ảnh của cô gái nằm chết khi chiếc áo còn bay trong gió vang vang nơi trí não tôi như một tiếng kêu thê thảm không dứt âm</em>” (Dấu binh lửa).</p>
<p>Bom đạn, khói lửa chiến trường chưa phải là điều đáng sợ, và nó không thể giết chết niềm tin, và lẽ sống của người lính trận. Nhưng chính cái khối ung nhọt ở nơi hậu phương kia mới giết chết linh hồn, và khát vọng của họ. Thật ra, vào thời điểm đó, không phải riêng Phan Nhật Nam đã nhận ra điều này, mà trên những trang văn của mình, Trần Hoài Thư cũng chọc thẳng vào cái khối ung nhọt này. Khi ông đã nhận ra, sự hy sinh cả một thế hệ để phục vụ cho những kẻ lãnh đạo không lương thiện, thiếu tài năng. Và hơn thế nữa, gần đây nhất bút ký Sau Cơn Binh Lửa của Trung tá, nhà văn Song Vũ cũng chỉ ra, những con sâu ở giới lãnh đạo thượng tầng, hay những ông vua tôn giáo này, góp phần không nhỏ dẫn đến sụp đổ của chế độ Việt Nam Cộng Hòa. Thật vậy, đây cũng là một trong những nguyên nhân chính làm sụp đổ tâm hồn, phá vỡ niềm tin dẫn đến sự chán chường cho người lính Phan Nhật Nam:</p>
<p>“<em>Chúng tôi rời Sài Gòn trong thở dài nhẹ nhõm, một tháng ở Thủ Đô đủ để tạo thành sụp đổ tan hoang trong lòng, đủ thấy rõ sự phản bội của hậu phương, một hậu phương lừa đảo trên máu và nước mắt của người lính. Một tháng đủ để chúng tôi hiểu ti tiện hèn mọn của loại lãnh tụ ngã tắt, những anh hùng đường phố, những ông vua biểu tình theo ngẫu hứng, vua tôn giáo đầy thù hận và dục vọng… Một tháng “vỡ mặt” lính non cũng như lính già. Chúng tôi bây giờ biết rõ: Máu và đời sống của mình đã đổ ra cho một xã hội lừa lọc.</em>” (Dấu binh lửa)</p>
<p>Tôi không dám nói, sự đổ vỡ tâm hồn, lẽ sống của nhà văn Phan Nhật Nam là tâm trạng chung của những người lính trẻ lúc đó. Tuy nhiên, chiến tranh đã biến sự trong sáng, nhiệt huyết của một bộ phận giới trẻ trở nên hoài nghi và chán nản. Dù miền Nam khá cởi mở về suy nghĩ, và tư tưởng, nhưng trong lúc nước sôi lửa bỏng đó, viết thẳng tưng ra những điều này, quả thực phải nói đến dũng khí của nhà văn Phan Nhật Nam vậy.</p>
<p><b>Sự tàn khốc của chiến tranh, với nỗi ám ảnh của con người</b></p>
<p>Nếu ta đã đọc truyện ngắn, bút ký chiến trường của Trần Hoài Thư, hay Số Phận Con Người của nhà văn Nga Mikhail Sholokhov, thì có lẽ giảm đi được nỗi ám ảnh, khi đọc bút ký, văn xuôi của Phan Nhật Nam. Bởi, sự chết chóc về thể xác, và linh hồn ấy qua bút pháp hiện thực, với những hình ảnh so sánh sinh động, sắc như lưỡi dao cứa vào lòng người đọc vậy. Phải nói, Phan Nhật Nam có cái nhìn, quan sát rất sâu sắc và tỉ mỉ, khi miêu tả, hay trần thuật. Và Những Ngày Gãy Vụn là một trong những bút ký như vậy của ông. Đây là những trang văn rùng rợn nhất mà tôi đã được đọc. Đoạn trích dưới đây một lần nữa sẽ chứng minh nghệ thuật, tài năng lồng tâm trạng của mình vào cảnh vật, thiên nhiên của Phan Nhật Nam. Và thi pháp, thủ thuật này đã xuyên suốt sự nghiệp sáng tạo của ông:</p>
<p>“<em>Thoạt đầu còn e ngại nhưng đến xác thứ tư thứ năm lớp thịt nhũn của xác chết tiếp xúc với bàn tay hóa thành quen. Đi từ nơi để xác trở vào rừng, tôi không dám nhìn vào hai bàn tay của mình, thịt da người chết đã phết một lớp dầy trên da tay. Hai giờ chiều, xác chết đã nhặt được hết, tôi chà tay xuống mặt đất như muốn bóc hẳn lớp da. Thèm điếu thuốc lá nhưng không dám đưa bàn tay lên môi …trời miền Nam bắt đầu vào mùa mưa, đất đỏ từ lối đi vào đến nơi chứa xác lầy lội tưởng như có pha máu người. Thân nhân người chết than khóc, lăn lộn trên lớp bùn non, áo sô trắng lấm đất đỏ như dấy máu. Hơi đất, hơi người sống, người chết, mùi hương đèn lẫn lộn ngây ngấy nồng nặc, choáng váng…</em>”</p>
<p>Nếu ta thấy cái tĩnh khi đọc truyện ngắn, bút ký của Phạm Tín Anh Ninh, thì ta sẽ tìm được cái động trong bút ký của Phan Nhật Nam. Thật vậy, với lối hành văn phóng khoáng, dứt khoát nhưng truyền cảm, cùng khẩu ngữ trong sáng đơn giản, đọc lên tưởng chừng như có lửa vậy. Nó không chỉ sáng rực lên trên trang sách Phan Nhật Nam, mà còn cháy trong lòng người đọc. Cho nên, đã cầm sách của ông lên, thì thật khó mà bỏ xuống, khi chưa đọc đến trang cuối cùng. Và đến với Mùa hè đỏ lửa thì chiến tranh, nỗi đau, sự tàn nhẫn đã đến tận cùng, vượt qua sức tưởng tượng của con người. Vẫn với thủ pháp hình ảnh so sánh, Phan Nhật Nam cho ta thấy rõ, chiến trận với những cái chết, xác người ở Quảng trị dài dằng dặc, rùng rợn, tàn nhẫn gấp bội lần so với lò sát sinh, giết người tập thể của phát xít ở Auschwitz. Thật vậy, đọc mùa hè đỏ lửa, tôi không rõ đây là nỗi kinh hãi hay bản cáo trạng của Phan Nhật Nam:</p>
<p>“<em>Làm được gì bây giờ? Bịt mũi, che mồm, nhưng tất cả vô ích, hơi chết đọng trên da, chui vào mũi, bám trên áo, hơi chết hít vào phổi trôi theo máu. Tôi đang đứng trong lòng của sự chết. Tránh làm sao được, ai có thể ra khỏi khối không khí của nơi sống? Những cảnh chết tập thể của người Do Thái ở các trại tập trung gây nên niềm bàng hoàng xúc động vì người chứng kiến thấy được “xác người,” xác chồng chồng lớp lớp có thứ tự, gọn ghẽ nguyên vẹn…  9 cây số đường chết của Quảng Trị không còn được quyền dùng danh từ “xác chết” nữa, vì đây chết tan nát, chết tung tóe, chết vỡ bùng…</em>” (Mùa hè đỏ lửa)</p>
<p>Đọc Những Ngày Gãy Vụn được Phan Nhật Nam được viết sau thất bại đau đớn ở Đồng Xoài (1965), buộc tôi phải liên tưởng đến truyện ký Thế Hệ Chiến Tranh của Trần Hoài Thư. Ở cùng thời điểm, với hai mặt trận khác nhau, nhưng những người lính ấy có cùng chung một số phận. Bởi, họ phải thi hành mệnh lệnh của những người lãnh đạo quan liêu, và dốt nát. Cũng như Thế Hệ Chiến Tranh, đọc Những Ngày Gãy Vụn ngoài tính bi hài, ta còn thấy được tính cái tính quân kỷ của người lính giữa sự sống và cái chết, dù trong lòng tràn đầy mâu thuẫn, uất hận. Ta hãy đọc lại đoạn trích với ngôn ngữ, lời thoại mang đậm chất điện ảnh dưới đây để thấy rõ điều đó. Và đây cũng là một trong những đặc điểm tạo nên những câu văn sinh động trong văn xuôi Phan Nhật Nam:</p>
<p>“<em>Riêng chúng tôi ở đầu hàng quân đều nhận thấy rõ rằng: Địch đang dụ chúng tôi vào bẫy. Nhưng nhà binh là tuân lệnh, nguyên lý cứng nhắc đó không đủ để dẹp hết e ngại.</em></p>
<p><em>– Báo cáo không thể tiến thêm được nữa, địch quá đông, xin pháo binh. Tôi gọi về đại đội nói như hét.</em></p>
<p><em>– Không bắn pháo binh được, khu đồn điền có dân và có nhà thờ.</em></p>
<p><em>– Dân con mẹ gì! Tôi la muốn vỡ phổi để phản đối: Không phải dân đâu, toàn là Việt cộng thôi…</em></p>
<p><em>– Bộ chỉ huy hành quân quyết định không cho bắn, anh về đó mà kiện…</em>”</p>
<p>Và may mắn người lính ấy còn sống sót trở về, và nỗi ám ảnh, hoảng loạn chìm trong những cơn say. Và rượu là liều thuốc an thần tốt nhất cho người lính trận. Chập chờn ký ức hiện về, cùng những tình tiết hiện thực đan xen, buộc người lính Phan Nhật Nam phải độc thoại nội tâm, tự thú trên trang giấy trước mặt. Sự ám ảnh đó tạo nên những hình ảnh so sánh có tính kịch trường sân khấu, làm cho người đọc phải chờn chờn, rợn rợn.</p>
<p>Với nghệ thuật độc thoại nội tâm mang tính tự thú này, đã được Bảo Ninh làm xương sống dựng nên tiểu thuyết Nỗi Buồn Chiến Tranh của mình. Thật vậy, sự ám ảnh, la hét đập phá của người lính Phan Nhật Nam trong Dấu binh lửa, mấy chục năm sau ta bắt gặp lại hình ảnh đó từ Kiên (Bảo Ninh) trong Nỗi Buồn Chiến Tranh. Có lẽ, cũng như khoa học tự nhiên, bằng cách này hay cách khác có sự kế thừa của văn học ở đây chăng (?):</p>
<p>“<em>Đưa quan tài của Dũng lên máy bay, chào trước mộ của Kỳ và Đỗ lần cuối, sau một tuần lăn lộn với người chết, người tôi tan đi trong một cơn mê nồng nặc đầy hơi chết và lòng tràn giông bão. Những xác chết ám ảnh tôi đến kỳ quái, ngay trong giấc ngủ, sự yên lành cũng không có, tôi la hét, khóc lóc đập phá trong cơn mê. Và nỗi tỉnh thì không còn nữa, rượu uống vào hoài hoài, chưa bao giờ thấy rượu ngon và cần thiết đến thế — Một khỏang đời đã đổi tôi thành kẻ lạ rồi… Một tên hung bạo, trí não căm hờn và thù hận. Tôi chết một phần người trong tôi.</em>” (Dấu binh lửa)</p>
<p>Có thể nói, cuộc chiến tàn khốc vừa qua sản sinh ra nhiều nhà văn tài năng, ở cả hai phía. Số phận, cây viết của họ gắn liền với những tang thương, và vận mệnh của đất nước. Bỏ qua định kiến tư tưởng, chính trị, ta có thể thấy những người lính phía Bắc viết ký sự chiến trường tài năng như: Chu Cẩm Phong, hay Dương Thị Xuân Qúy…, nhưng rất tiếc, họ đã tử trận khi còn quá trẻ. Những người lính phương Nam: Phan Nhật Nam, Trần Hoài Thư… may mắn còn sống sót. Tù đày và nỗi ám ảnh sẽ đi đến hết cuộc đời họ. Tuy nhiên, các tác phẩm xương máu của họ vẫn còn đó trong lòng người. Âu cũng còn một chút may mắn cho nền Văn học Việt vậy.</p>
<p><b>Ngục tù- sự phản kháng, hay giải thoát bế tắc</b></p>
<p>Cũng như những người lính, nhà văn khác, sau 1975 Phan Nhật Nam buộc phải vào tù cải tạo. Tôi có tìm đọc được một số truyện ngắn của ông về thời gian này. Vẫn bút pháp hiện thực, với khẩu ngữ dân dã góc cạnh, do vậy những trang viết của ông được mọi tầng lớp đón nhận, và đi sâu vào lòng người đọc. Do hoàn cảnh tù đày, với độ lùi của thời gian, Phan Nhật Nam đi sâu vào thi ca có tính chiêm nghiệm: “<em>Bóng tối cóc ngồi gục./ Ừ thì Tâm có Phật!/ Sao trong ta cuồng lưu,/ Chẳng lẽ trời sinh người,/ Ðể chịu đời khốn khổ?/ Không thể dựng Ngôi Lời,/ Trần thế ngập gian dối./ Tôi đây ! Chúa trông đây!/ Tận đáy sâu khổ nhục/ Trần trụi ngỡ ma trơi/ Hỡi nào ra nhân dạng?!</em>” (Vào một buổi nào đó). Hay những câu thơ giãi bày tâm trạng u uất của kẻ trên đường bị đi lưu đày: “<em>Chen chúc lũ tù ngồi lăn lóc… /Ðầu gối đầu/ Xe lắc từng cơn/ Nhướng cao mắt, mở trợn trừng,/ Chung quanh núi đá, mịt mù đồng hoang./ Ðây là đâu? Mênh mang đất dữ,/ Trên quê hương chịu chữ đi đầy…</em>” (Nhập Lam Sơn). Tuy nhiên, với tôi Chuyện Công Cắn là truyện ngắn hay, và đặc trưng nhất của Phan Nhật Nam viết về những năm tháng tù tội, lưu đày. Đọc nó, ta thấy được tận cùng của sự khốn nạn. Nhân phẩm con người không bằng loài súc vật. Những hình ảnh dưới đây, cho ta thấy thân phận tủi nhục của người tù trốn trại, bị bắt nhốt vào cùm biệt giam sáu tháng:</p>
<p>“<em>Sáu tháng sau, Công được tháo cùm cho về buồng. Nó bò với hai tay, hai gối, nhích tới từng khoảng ngắn, xong nằm bẹp lên đất.. Quản giáo Chuyên đi theo, dùng chân đè lên lưng, đầu, đá vào hai chân lê lết, cong queo của nó nói lời khinh bỉ.. Mầy có thành con dòi cũng không trốn khỏi đây được. Tao có thể bắn chết mầy ngay bây giờ nhưng cho mầy sống để ăn cứt! Thằng Công lết chậm im lặng, mắt ráo hoảnh, không cảm giác, tròng đen khô như hòn than.</em>”</p>
<p>14 năm tù đày, cùm biệt giam trên đất Bắc chưa hẳn bởi can tội mặc áo lính, viết văn, hay Phan Nhật Nam từng là sĩ quan ở Ban liên hợp quân sự bốn bên, và đã ra nghị đàm ở Hà Nội, mà có lẽ còn do cái tính khí khái, thẳng tưng của ông. Có lẽ, ông đã đưa những đặc điểm, tính khí này vào những trang viết của mình. Do vậy, ta có thể thấy tính phản kháng luôn đậm nét trong truyện ngắn, văn xuôi của Phan Nhật Nam. Có thể nói, tôi đã đọc khá nhiều trang sách viết về cải tạo tù đày, nhưng ít thấy có sự phản kháng trực diện như Chuyện Công Cắn của Phan Nhật Nam. Có thể nói, ông luôn mở ra một lối thoát, và giải quyết bế tắc dù có mang tính tiêu cực. Đoạn trích rùng rợn dưới đây, vẫn trong truyện ngắn: Chuyện Công Cắn, sẽ chứng minh cho chúng ta thấy rõ điều đó:</p>
<p>“<em>Gã tù lê ống tre bươm trên sân cỏ, lúc lắc thân người rề rà hướng về phía hầm chứa phân khu kỹ luật.. Đổ vào đây.. Địt mẹ đổ vào đây!! Nhiền hét lớn chỉ vào hố chứa.. Mầy làm rơi vải tao bắt mầy phải ăn cho hết! Địt mẹ.. đồ ăn cứt!! Gã tù đã đến bên hố chứa phân, gã lóng cóng với ống bươm.. Phân, nước giải rơi vải tung toé.. Đổ xuống hố.. Địt mẹ thằng chó.. Nhiền xoay xoay chùm chìa khoá buồng giam tiến gần chực đánh.. Gã tù với một phản ứng nhanh nhẹn bất ngờ tạt ống bươm vào mặt Nhiền.. Tên nầy hét lớn hốt hoảng đưa tay vuốt những mảng phân thối, dòng nước dơ. Gã tù nhảy thoắt đến viên đá chận nắp hố phân. Nó nâng lên.. Đập mạnh xuống khuôn mặt lầy nhầy chất bẩn. Nhiền ngã quay quắt trên đất.</em></p>
<p><em>Thằng Công nhảy lên ngồi trên ngực Nhiền, thọc tay vào ổ mắt.. Móc ra!! Nó nuốt khối nhầy ươn ướt máu và cứt. Súng trên chòi canh nổ sắc, gọn, chính xác từng phát một. Lưng thằng Công ưỡn lên, nẫy nẫy…</em>”</p>
<p>Nếu nói giá trị cơ bản của văn học bao gồm giá trị hiện thực, và giá trị nhân đạo, thì  tôi cho rằng, những tác phẩm của Phan Nhật Nam không những hội đủ những đặc tính này, mà còn hơn thế nữa. Ngoài giá trị về văn học, những tác phẩm của ông còn ghi lại dấu ấn lịch sử thật rõ ràng. Cả cuộc đời Phan Nhật Nam lặn ngụp trong chiến tranh, kể cả thể xác lẫn tâm hồn. Có thể nói, chưa khi nào ông bước được ra khỏi cuộc chiến này. Thân phận, và linh hồn ông dường như cũng uống trọn nỗi khổ đau, oan trái của dân tộc vậy. Do đó, dù sức cùng lực kiệt Phan Nhật Nam vẫn cần mẫn đi tìm một lời giải, một lối thoát cho cuộc chiến, và con người…</p>
<p>Vâng! Và 45 năm hậu chiến, hè vẫn còn đỏ lửa trong ông là như vậy.</p>
<p>Leipzig ngày 15-7-2020<br />
<strong>Đỗ Trường</strong></p>
</div>
]]></content:encoded>
					
					<wfw:commentRss>https://t-van.net/phan-nhat-nam-he-van-con-do-lua/feed/</wfw:commentRss>
			<slash:comments>0</slash:comments>
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Ng&#244; Thế Vinh: Từ dấu binh lửa tới t&#249; binh v&#224; h&#242;a b&#236;nh: Phan Nhật Nam v&#224; những chấn thương kh&#244;ng chảy m&#225;u</title>
		<link>https://t-van.net/ng-the-vinh-tu-dau-binh-lua-toi-t-binh-v-ha-bnh-phan-nhat-nam-v-nhung-chan-thuong-khng-chay-mu/</link>
					<comments>https://t-van.net/ng-the-vinh-tu-dau-binh-lua-toi-t-binh-v-ha-bnh-phan-nhat-nam-v-nhung-chan-thuong-khng-chay-mu/#respond</comments>
		
		<dc:creator><![CDATA[Tác Giả]]></dc:creator>
		<pubDate>Fri, 03 Aug 2018 12:26:00 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Ghi Chép]]></category>
		<category><![CDATA[phan nhật nam]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://7076e870b2.nxcli.io/?p=36401</guid>

					<description><![CDATA[Ngô Thế Vinh “Tôi là kẻ sống sót sau một cuộc chiến tranh dài hơn trí nhớ” Phan Nhật Nam Hình 1: tới thăm Phan Nhật Nam 21.07.2017, đi tìm những vật chứng. Ảnh: tư liệu Ngô Thế Vinh TIỂU SỬ Phan Nhật Nam cũng là bút hiệu, Rốc là tên gọi ở nhà; sinh [&#8230;]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<p><strong>Ngô Thế Vinh</strong></p>
<p><em>“Tôi là kẻ sống sót sau</em><em> một cuộc chiến tranh dài hơn trí nhớ</em><em>”</em></p>
<p><em>Phan Nhật Nam </em></p>
<p><img decoding="async" style="margin-right: auto; margin-left: auto; float: none; display: block;" src="https://baotiengdan.com/wp-content/uploads/2018/07/H0-202.jpg" alt="" width="342" height="259" /></p>
<p align="center"><em>Hình 1: tới thăm Phan Nhật Nam 21.07.2017, đi tìm những vật chứng. Ảnh: tư liệu Ngô Thế Vinh</em></p>
<p><strong>TIỂU SỬ</strong></p>
<p>Phan Nhật Nam cũng là bút hiệu, Rốc là tên gọi ở nhà; sinh ngày 9/9/1943, tại Phú Cát, Hương Trà, Thừa Thiên, Huế; nhưng ngày ghi trên khai sinh 28/12/1942, chánh quán Nại Cửu, Triệu Phong, Quảng Trị.</p>
<p>1954-1960 tiểu học Mai Khôi Huế; Saint Joseph Đà Nẵng; trung học Phan Chu Trinh Đà Nẵng</p>
<p>1963-1975 tốt nghiệp Khoá 18 Trường Võ Bị Quốc Gia Đà Lạt, gia nhập binh chủng Nhảy Dù, qua các đơn vị Tiểu Đoàn 7, 9, 2, và Lữ Đoàn 2 Nhảy Dù; Tiểu Khu Bà Rịa Long An; Biệt Động Quân; Ban Liên Hợp Quân Sự Trung Ương 4 và 2 Bên.</p>
<p align="center"><img loading="lazy" decoding="async" style="margin-right: auto; margin-left: auto; float: none; display: block;" src="https://baotiengdan.com/wp-content/uploads/2018/07/H1-61.png" alt="" width="508" height="219" /><em>Hình 2: giữa, Hướng đạo sinh Phan Nhật Nam và Trưởng Tô Phạm Liệu. Sau này cả hai đều chọn vào Binh chủng Nhảy Dù; trái, Phan Nhật Nam, thiếu uý Tiểu đoàn 7 Nhảy Dù 1964; phải, Tô Phạm Liệu là một bác sĩ can trường của Tiểu đoàn 11 Nhảy Dù sống sót sau trận đánh ác liệt trên đồi Charlie, Mùa Hè Đỏ Lửa 1972 trên vùng cực bắc Tây Nguyên, nhưng người bạn thân thiết của Tô Phạm Liệu là Trung tá Tiểu Đoàn trưởng Nguyễn Đình Bảo thì hy sinh ở lại Charlie. Tô Phạm Liệu mất ở Mỹ ngày 29.09.1997 ở tuổi 56. Ảnh tư liệu Phan Nhật Nam.</em></p>
<p>1975-1989  tù cải tạo 14 năm qua các trại giam Miền Bắc với 2 đợt kiên giam ( 2/1979 đến 8/1980; 9/1981 đến 5/1988)</p>
<p>1990-1993 ra tù bị quản chế và chỉ định cư trú tại Lái Thiêu, Bình Dương Miền Nam, cũng là thời gian Nam được gần gũi với nhà báo Như Phong</p>
<p>1993 sang Mỹ định cư, thời gian đầu ở San Jose, rồi qua Washington D.C, Houston, Minnesota, Colorado…</p>
<p>Thời gian đầu tới Mỹ, có cả một chiến dịch báo chí truyền truyền thông lên án Phan Nhật Nam là Việt Cộng nằm vùng, phủ nhận cờ vàng… Giữa những ngộ nhận oan khiên, câu nói của Tô Phạm Liệu đủ làm Nam ấm lòng: <em>“Tao biết thằng Nam từ hồi còn nhỏ, hai đứa tao cùng ở một nhà, đi học chung một trường. Nó làm sao là Việt Cộng được.”  </em></p>
<p>2005-2018 hiện vẫn làm việc ở tuổi 76 và sống ở Nam California</p>
<p>TÁC PHẨM</p>
<p><strong>Trước 1975</strong></p>
<p><strong><em>Dấu Binh Lửa</em></strong> <em>(Nxb Đại Ngã, Sài Gòn 1969</em><em>)</em></p>
<p>Tường trình về người và chiến tranh nơi Miền Nam 1960-1968</p>
<p><strong><em>Dọc Đường Số 1</em></strong> <em>(Nxb Đại Ngã, Sài Gòn 1970</em><em>)</em></p>
<p>Trên quê hương, dọc con lộ, địa ngục có thật hằng ngày mở ra</p>
<p><strong><em>Ải Trần Gian</em></strong><em> (Nxb Đại Ngã, Sài Gòn 1970)</em></p>
<p>Tự sự hoá qua biến cố chính trị, quân sự ở Huế, Đà Nẵng, Miền Trung 1966</p>
<p><strong><em>Dựa Lưng Nỗi Chết</em></strong><em> (Nxb Đại Ngã, Sài Gòn 1971)</em></p>
<p>Thảm hoạ Xuân Mậu Thân 1968 ở Huế được viết với khung cảnh tiểu thuyết</p>
<p><strong><em>Mùa Hè Đỏ Lửa</em></strong><em> (Nxb Sáng Tạo, Sài Gòn 1972)</em></p>
<p>Thiên hùng ca Mùa Hè của Miền Nam trong trận chiến giữ đất, bảo vệ dân</p>
<p><strong><em>Tù Binh và Hoà Bình</em></strong><em> (Nxb Hiện Đại, Sài Gòn 1974)</em></p>
<p>Lời báo động khẩn thiết sau Hoà bình nguỵ danh từ Hiệp định Paris 1973</p>
<p>Mỗi tựa sách chỉ với tên nhà xuất bản đầu tiên. Bút ký chiến tranh Phan Nhật Nam được tái bản nhiều lần ở Miền Nam trước 1975 và cả ở hải ngoại sau này, riêng cuốn <em>Mùa Hè Đỏ Lửa </em>được tái bản tới lần thứ 30 do nhiều nhà xuất bản khác nhau và cũng hiếm khi tác giả được các nhà xuất bản thanh toán nhuận bút.</p>
<p><strong>Sau 1975</strong></p>
<p><em>Những Chuyện Cần Được Kể Lại </em><em>(Nxb Tú Quỳnh, California 1995)</em></p>
<p><em>Đường Trường Xa Xăm (Nxb Tú Quỳnh, California 1995)</em></p>
<p><em>Đêm Tận Thất Thanh (Tác giả xuất bản, Houston 1997)</em></p>
<p><em>Những Cột Trụ Chống Giữ Quê Hương (Nxb 1997)</em></p>
<p><em>Mùa Đông Giữ Lửa (Tác giả xuất bản, Houston 1997) </em></p>
<p><em>Chuyện Dọc Đường (Nxb Sống, California 2013)</em></p>
<p><em>Phận Người, Vận Nước (Nxb Sống, California 2014)</em></p>
<p align="center"><em><img loading="lazy" decoding="async" style="margin-right: auto; margin-left: auto; float: none; display: block;" src="https://baotiengdan.com/wp-content/uploads/2018/07/H1-62.png" alt="" width="447" height="277" />Hình 3: bìa các sách Phan Nhật Nam xuất bản trước 1975, riêng bìa cuốn Tù Binh và Hoà Bình là sách tái bản ở hải ngoại 1987. Ảnh tư liệu Ngô Thế Vinh</em></p>
<p align="center"><img loading="lazy" decoding="async" style="margin-right: auto; margin-left: auto; float: none; display: block;" src="https://baotiengdan.com/wp-content/uploads/2018/07/H1-61.jpg" alt="" width="482" height="281" /></p>
<p align="center"><em>Hình 4: bìa các sách Phan Nhật Nam xuất bản sau 1975 tại hải ngoại, thực sự là từ sau 1993, thời gian Phan Nhật Nam thoát ra khỏi Việt Nam. Ảnh tư liệu Ngô Thế Vinh</em></p>
<p><strong>Tiếng Anh </strong></p>
<p><em>Peace and Prisoner of War (Nxb Kháng Chiến, Hoa Kỳ 1987)</em></p>
<p><em>The Stories Must Be Told (Nxb Nắng Mới, Westminster 2002)</em></p>
<p><em>A Vietnam War Epilogue (Nxb Thư viện Toàn Cầu, California 2013)</em></p>
<p><img loading="lazy" decoding="async" style="margin-right: auto; margin-left: auto; float: none; display: block;" src="https://baotiengdan.com/wp-content/uploads/2018/07/H1-63.png" alt="" width="447" height="239" /></p>
<p><em>Hình 5: từ trái, bìa bản tiếng Việt cuốn Tù Binh và Hoà Bình, Nxb Kháng Chiến 1987; bản tiếng Anh Peace and Prisoners of War,1989. Ảnh: tư liệu Ngô Thế Vinh</em></p>
<p><strong>Tiếng Pháp</strong></p>
<p><em>Stigmates de Guerre (Nxb Sống, California 2016)</em></p>
<p><em>Un Été Embrasé (Nxb L’ Harmattan 2018) </em></p>
<p><img loading="lazy" decoding="async" style="margin-right: auto; margin-left: auto; float: none; display: block;" src="https://baotiengdan.com/wp-content/uploads/2018/07/H1-64.png" alt="" width="448" height="230" /></p>
<p align="center"><em>Hình 6: từ trái, bìa tác phẩm Mùa Hè Đỏ Lửa; bìa Un Été Embrasé, bản dịch tiếng Pháp của Liễu Trương, do Nxb L’Harmattan, série Asie 2018. (dịch giả Liễu Trương đã làm luận án tiến sĩ Sorbonne với đề tài: Võ Phiến, Culture Nationale, Lectures Occidentales 2001). Ảnh tư liệu Ngô Thế Vinh</em></p>
<p><strong>PHAN NHẬT NAM  VÀ VÕ PHIẾN</strong></p>
<p>Vào tháng 7 năm 1993 cũng là năm Phan Nhật Nam tới Mỹ, trong bộ sách <strong>Văn Học Miền Nam – cuốn Ký</strong>,  Võ Phiến viết:</p>
<p><em>“Phan Nhật Nam, viết liên tiếp sáu cuốn ký về chiến tranh. Đọc những điều ông kể, người dân nghe chuyện lính cũng lây luôn cái phẫn nộ, cái uất hận của ông. Lòng nào nghĩ đến cái “văn” trong những tác phẩm như thế.  </em></p>
<p><em>Mười lăm năm* của một người lính Nhảy Dù, ông làm lính xứng đáng. Mười lăm năm trong lao tù cộng sản, ông làm một tù nhân can trường… Văn nghiệp mười năm của ông phản ảnh chỗ nhiệt tâm dũng mãnh, can trường, trong cuộc sống ấy. Cái “văn” của ông là ở đó. </em>(5)</p>
<p>[* theo Phan Nhật Nam, con số đúng là 14 năm lính, 14 năm tù / ghi chú của người viết]</p>
<p>Phan Nhật Nam khi viết cuốn <strong><em>Dọc Đường Số 1</em></strong><em>, </em>cũng có tâm sự của riêng ông<em>:“Viết vì sau 8 năm lính, chính cảnh đời vừa qua kích thích và ảnh hưởng trên tôi quá đỗi. Thôi thì viết bút ký: Viết bút ký hay là một thứ cầu kinh trong một niềm cô đơn đen đặc, viết bút ký để thấy những giọt nước mắt vô hình tuôn chảy sau bao nhiêu lần nín kín, viết bút ký như một tiếng nức nở được thoát hơi sau hàm răng nghiến chặt thấm ướt máu tươi từ đôi môi khô héo. Tôi viết bút ký như một tiếng thở dài trong đêm.” </em>(4)</p>
<p><img loading="lazy" decoding="async" style="margin-right: auto; margin-left: auto; float: none; display: block;" src="https://baotiengdan.com/wp-content/uploads/2018/07/H0-203.jpg" alt="" width="419" height="349" /></p>
<p align="center"><em>Hình 7: Phan Nhật Nam tại nhà Võ Phiến Los Angeles tháng 11.1995. Ảnh tư liệu Viễn Phố</em></p>
<p><strong><em>Dấu Binh Lửa</em></strong>, của Phan Nhật Nam ra mắt 1969 đã gây ngay nơi người đọc những chấn động sâu xa. Là một bút ký chiến tranh đầu tay nhưng đã cho thấy ngay bút lực của một văn tài. <em>Coup d’ essai, coup de maître</em>.</p>
<p>Một trích đoạn, câu chuyện chị Lai ở Kiến Hoà trên vùng sông nước Đồng Bằng Sông Cửu Long. Trong cuộc hành quân truy lùng VC, mấy Tiểu đoàn Dù đã đánh tan địch quân, khi ấy Phan Nhật Nam chỉ là thiếu uý mới ra trường Võ Bị Đà Lạt, chỉ huy một trung đội trong một trận đánh lớn đầu đời:</p>
<p><em>“Tôi đi vào ngôi nhà đang âm ỉ cháy, những chiếc cột lớn lỏng chỏng hỗn độn bốc khói xám…Một người đàn bà áo trắng quần đen tay ôm chiếc lẵng mây trước ngực ngồi im trên nền gạch đôi mắt nhìn thẳng ngơ ngác. Thấy chúng tôi đi vào chị ta đứng dậy, đứng thẳng người như pho tượng, như thân cây chết với đôi mắt không cảm giác… Tôi đi đến trước chị đàn bà… </em></p>
<p><em>– Làm gì chị ngồi đây, không biết đang đánh nhau sao?</em></p>
<p><em>Im lặng, đôi mắt ngơ ngác lóe lên tia nhìn sợ hãi. Bỗng nhiên chị ta đưa thẳng chiếc lẵng mây vào mặt tôi, động tác nhanh và gọn như một người tập thể dục. Sau thoáng ngạc nhiên tôi đưa tay đón lấy… Hai bộ áo quần, chiếc khăn trùm đầu, gói giấy nhỏ buộc chặt bằng dây cao su. Mở gói, hai sợi giây chuyền vàng, một đôi bông tai… </em></p>
<p><em>Tên lính xua tay đuổi người đàn bà đi chỗ khác. Lạnh lùng, chị ta xoay người bước đi như xác chết nhập tràng. </em></p>
<p><em>– Chị kia quay lại đây tôi trả cái này… – Tôi nói vọng theo. </em></p>
<p><em>Người đàn bà xoay lại, cũng với những bước chân im lặng, trở về đứng trước mặt tôi nhưng đôi mắt bây giờ vỡ bùng sợ hãi, vẻ hốt hỏang thảm hại làm răn rúm khuôn mặt và run đôi môi… Chị ta còn trẻ lắm, khỏang trên dưới hai bảy, hai tám tuổi, da trắng mát tự nhiên, một ít tóc xõa xuống trán làm nét mặt thêm thanh tú. Tôi đưa trả chiếc lẵng mây, chị đàn bà đưa tay đón lấy, cánh tay run rẩy như tiếng khóc bị dồn xuống. Chiếc lẵng rơi xuống đất, hai cánh tay buông xuôi mệt nhọc song song thân người. Dòng nước mắt chảy dài trên má. Tôi hươi mũi súng trước mặt chị ta: </em></p>
<p><em>– Ngồi đây! Tôi chỉ nòng súng vào bực tam cấp. Khi nào tụi tôi đi thì chị đi theo… Tại sao khóc, nhặt vàng lên đi chứ… </em></p>
<p><em>– Im lặng, chỉ có nỗi im lặng kỳ quái, thân thể người đàn bà cứ run lên bần bật, nước mắt ràn rụa… Từ từ chị đưa bàn tay lên hàng nút áo trước ngực… Không! Không thể như thế được, tôi muốn nắm bàn tay kia để ngăn những ngón tay run rẩy đang mở dần những hàng nút bóp để phơi dưới nắng một phần ngực trắng hồng! Không phải như thế chị ơi… Người đàn bà đã hiểu lầm tôi… Không lấy vàng và bắt đứng lại! Chị ta không hiểu được lời nói của tôi, một người Việt Nam ở cùng trên một mảnh đất. Chị ta tưởng tôi thèm muốn thân xác và đòi hiếp dâm! Tội nghiệp cho tôi biết bao nhiêu, một tên sĩ quan hai mươi mốt tuổi làm sao có thể biết đời sống đầy máu lửa và đớn đau tủi hổ đến ngần này. Tôi đi lính chỉ với một ý nghĩ: Đi cho cùng quê hương và chấm dứt chiến tranh bằng cách góp mặt. Thê thảm biết bao nhiêu cho tôi với ngộ nhận tủi hổ này… Tôi muốn đưa tay lên gài những chiếc nút áo bật tung, muốn lau nước mắt trên mặt chị nhưng chân tay cứng ngắc hổ thẹn. Và chị nữa, người đàn bà quê thật tội nghiệp, cảnh sống nào đã đưa chị vào cơn sợ hãi mê muội để dẫn dắt những ngón tay cởi tung hàng nút áo, sẵn sàng hiến thân cho một tên lính trẻ, tuổi chỉ bằng em út, trong khi nước mắt chan hòa trên khuôn mặt đôn hậu tràn kinh hãi. </em></p>
<p><em>Quân rút ra khỏi làng, chị đàn bà đi theo chúng tôi, vẫn với những bước đi ngượng ngập cứng nhắc, vẫn đôi mắt nhìn vào khoảng trống không cảm giác…</em><em> Quân rút ra gần đến quốc lộ, con sông bên trái đầy thuyền, hỗn độn dòng người chen chúc. Dân của vùng hành quân trốn ra từ ngày trước, tiếng người kêu la vang dội một</em><em> khoảng sông, họ hỏi thăm tình trạng nhà cửa, người thân thích, người kẹt trong vùng hành quân. Tiếng khóc vang rân… </em></p>
<p><em>– Lai! Mày đó Lai ơi! – Bà già dưới sông mồm kêu tay ngoắc chị đàn bà theo chúng tôi. Chị ta dừng lại như để nhớ một dĩ vãng, như nhớ một khỏang sống đã đi qua… – Lai! Lai ơi, má đây con…- Chị đàn bà đứng lại xoay người về phía dòng sông… Má! Má! </em></p>
<p><em>Tôi thấy đôi môi run rẩy thì thầm: Nhà cháy rồi! Nhà cháy rồi! Chị ta đi lần ra phía bờ sông, cũng với những bước chân của người mất hồn, bóng áo trắng nổi hằn trên đám dừa xanh.</em><em>”</em> <strong>[Hết trích dẫn, Người Chết Dưới Chân Chúa, Dấu Binh Lửa</strong><strong>]</strong></p>
<p>Nhân có một bản dịch cuốn <em>Dấu Binh Lửa</em> sang tiếng Pháp: <strong><em>Stigmates de Guerre</em></strong><em>, </em>Phan Nhật Nam xúc cảm viết một thư ngỏ gửi bằng hữu:</p>
<p><strong><em>Dấu Binh Lửa</em></strong><em> sống đến nay được 48 năm (1968-2016) và người viết vượt quá tuổi 70… Quả thật là một phép lạ qua chiến tranh, khổ nạn Việt Nam từ sự tồn tại của cuốn sách đến người lính viết nên những giòng chữ đầu đời nầy trong lửa đạn Mậu Thân Huế, 1968.</em><em> Nay cuốn sách được thành hình với một chữ, nghĩa  khác</em><em> – Pháp Ngữ</em><em>, ngôn ngữ mà bản thân tôi và các bạn hằng thấm sâu từ tuổi thơ ấu ở quê nhà</em><em>, mỗi người mỗi cách, mỗi cường độ vì vẻ mỹ lệ, cao quý qua âm sắc, cấu trúc, văn phong, văn ý. Quả thật bản thân tôi không hề nghĩ ra phép lạ thứ hai nầy hiện thực; và nay chuyện thần kỳ trở thành sự thật từ những giòng chữ đầu tiên của anh Phan Văn Quan, tiếp nên chuyện ở Tòa Báo Sống có sự tham dự ngẫu nhiên</em><em> /</em><em> một cách cố ý của Nguyễn Xuân Nghĩa, và dần hoàn chỉnh với Bồ Đại Kỳ</em><em>, qua hợp tác của cô TT</em><em> Tôn Nữ</em><em> Phan. </em></p>
<p><em>Tôi không quá lời vì <strong>quả thật bản thân đang ở trong hoàn cảnh không thiết tha với bất cứ điều gì…</strong> Cho dù đây là cuốn sách viết bởi máu, nước mắt, nỗi đau có thật.</em></p>
<p><em>Cô</em><em> Thủy Tiên sắp có mặt ở Pháp, sẽ tiếp xúc với các bạn ở bên ấy và chắc sẽ có một bản in trong năm nay</em><em> – Một năm Thân như lần ra đời của nó 48 năm trước.</em><em> Có một điều kỳ thú là cuốn sách có liên hệ rất cụ thể với những người gốc xứ Huế, họ Phan!</em></p>
<p>Phan Nhật Nam (1943-2016) với Mỗi Người Bạn ở Huế-Đà Nẵng-Sàigòn-Paris… và nơi nước Mỹ.</p>
<p>Tôi quen Phan Nhật Nam và Vũ Ngự Chiêu từ Việt Nam, nhưng có lẽ gần gũi và thân thiết hơn với Nam là trong thời gian sống ở Mỹ. Với không chút dè dặt, tôi vẫn nói với Nam: <em>“Bút ký viết về Chiến Tranh Việt Nam trước 1975 của Phan Nhật Nam là hay nhất đối với cả hai miền Nam Bắc”. </em></p>
<p>Với một chút dư vị cay đắng, Nam nói: <em>“Chỉ có bác nghĩ về tôi như vậy, nhưng đó không phải cái nhìn của văn giới và ngay cả với những bạn Võ Bị của tôi nữa.” </em>Bản thân Nam đã bị đối xử khá bất công, không phải chỉ với trong nước mà kể cả với các cộng đồng ở hải ngoại.</p>
<p><strong>PHAN NHẬT NAM VÀ HỮU THỈNH</strong></p>
<p>Ngày đầu tháng 9, 2017 Phan Nhật Nam phone cho tôi, cho biết anh mới nhận được một thư của Hữu Thỉnh, Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam mời về tham dự cuộc họp mặt sẽ diễn ra ở Hà Nội và một số địa phương miền Bắc, từ ngày 20 đến 25 tháng 10 năm 2017. Rồi qua eMail, Nam chuyển cho tôi đọc nguyên văn bức điện thư của Hữu Thỉnh.</p>
<p><strong><em>Thư gửi nhà văn Phan Nhật Nam</em></strong></p>
<p><strong><em>Thưa Anh</em></strong><em>,</em></p>
<p><em>1/ Để đỡ đường đột, xin giới thiệu. Tôi là Hữu Thỉnh, người từng đọc anh đã lâu, hiện nay đang làm việc tại Hội Nhà văn Việt Nam. Tôi mới gặp Thuỵ Kha vừa ở bên ấy về, cho biết có gặp anh và hai người đã từng cùng nhau uống bia vui vẻ. Đây quả là một sự kiện bất ngờ thú vị. Với dư âm của các cuộc gặp ấy, tôi viết thư này thăm anh và bày tỏ nguyện vọng “tái bản” cuộc gặp ấy, và di chuyển nó về quê nhà với quy mô rộng hơn, thời gian dài hơn trong khuôn khổ một cuộc gặp mặt của Hội Nhà văn Việt Nam với các nhà văn Việt Nam đang sống và làm việc tại nước ngoài. Đây là một cuộc hội ngộ mà chúng tôi mong mỏi từ lâu, nay mới có thể thực hiện được. Với ý nghĩa cao cả, góp phần vào làm giàu các giá trị truyền thống của dân tộc, xứng đáng để chúng ta vượt qua mọi xa cách và trở ngại, cùng ngồi lại với nhau trong tình đồng nghiệp. Tôi chờ đợi được anh chia xẻ điều đó và chân thành mời anh tham gia sự kiện nói trên. </em></p>
<p><em>Anh Nam ơi, tôi muốn nói thêm rằng, chúng ta đều không còn trẻ nữa. Tôi hình dung cuộc gặp gỡ này là rất có ý nghĩa cho những năm tháng còn lại của mỗi chúng ta. Tôi cũng dự đoán rằng, có thể có những khó khăn. Nhưng từ trong sâu thẳm thiên chức nhà văn, chúng ta cùng chọn Dân Tộc làm mẫu số chung để vượt qua tất cả.</em></p>
<p><em>2/ Cuộc gặp mặt này dự kiến sẽ diễn ra từ 20 đến 25 tháng 10 năm 2017 tại Hà Nội và một số địa phương ở phía Bắc. Trường hợp anh Nam, Ban tổ chức sẽ lo chi phí toàn bộ đi về và thời gian tham gia Cuộc gặp mặt. Vì đây là lần đầu, còn nhiều bỡ ngỡ, xin anh vui lòng lấy vé giúp và cho biết thời gian chuyến bay để chúng tôi ra đón anh tại sân bay Nội Bài. Quá trình chuẩn bị có gì cần trao đổi, xin anh cho chúng tôi biết sớm. </em></p>
<p><em>3/ Ngay sau khi được hồi âm của anh, tôi sẽ gửi giấy mời chính thức cùng chương trình của Cuộc gặp mặt. Mùa Thu Hà Nội cùng những giá trị bền vững của tâm hồn Việt đang chờ đón cuộc gặp mặt của chúng ta. </em></p>
<p><em>Chúc anh sức khoẻ, may mắn, gia đình hạnh phúc và mong sớm nhận tin tốt lành. </em></p>
<p><strong><em>Hũu Thỉnh, Hà Nội 1/9/2017 </em></strong></p>
<p><strong><em>…</em></strong></p>
<p>Tôi có cảm tưởng Nam khá xúc động với <em>“mixed feelings”</em> khi nhận được bức thư của Hữu Thỉnh. Nhiều câu hỏi đặt ra cho Nam: trả lời hay không thư Hữu Thỉnh, có nên công khai hoá bức thư, trả lời với tư cách một một người lính của Miền Nam hay một Nhà Văn. Tôi chỉ có một gợi ý với Nam: cho dù Nam chưa bao giờ nhận mình là một nhà văn mà chỉ là một người lính-viết văn, nhưng Hữu Thỉnh mời Nam với tính cách một Nhà Văn chứ không phải một người lính của Miền Nam. Thư trả lời của bạn nếu có, thì vẫn với tư cách của một người cầm bút. Và bạn có tất cả lý lẽ để trả lời Hữu Thỉnh với những dòng chữ thật cô đọng – theo một văn phong mà tôi gọi là <em>style télégraphique</em> / đánh điện tín. Và rồi Phan Nhật Nam cũng cho tôi đọc bản thảo bức điện thư gửi Hữu Thỉnh trước khi gửi đi. Tôi chỉ nói với Nam: <em>“Dù bạn muốn hay không, thì những dòng chữ này đã trở thành một phần của lịch sử.”</em></p>
<p><strong>…</strong></p>
<p><strong>Thư gửi ông Hữu Thỉnh </strong></p>
<p><strong>Hội Nhà Văn Hà Nội</strong></p>
<p><strong>[Qua địa chỉ điện thư cô Đào Kim Hoa</strong></p>
<p><strong>Phụ tá Ngoại vụ Hội Nhà văn]</strong></p>
<p>Tôi, Phan Nhật Nam, nguyên là một sĩ quan cấp Đại Uý Hiện Dịch Thực Thụ thuộc Sư Đoàn Nhảy Dù Quân Lực VNCH gởi đến ông Hữu Thỉnh, Chủ Tịch Hội Nhà Văn Hà Nội để trả lời thư ngày 1 tháng 9, 2017 qua điện thư của cô Đào Kim Hoa.</p>
<p>1/ Từ vị thế một quân nhân thuộc đơn vị tác chiến của Quân lực Miền Nam như trên vừa kể ra, với tính khách quan, độc lập của người không liên hệ đối với sinh hoạt của giới văn hoá, học thuật trong nước, ở Hà Nội trước, sau 1975. Tôi có thư này để trả lời mời gọi của ông Hữu Thỉnh đã trực tiếp gửi tới cá nhân tôi nhằm thực hiện tiến trình gọi là “Hoà Hợp Hoà Giải.” Câu trả lời trước tiên, dứt khoát là: Tôi xin được hoàn toàn từ chối sự mời gọi vì những lẽ…</p>
<p>2/ Là một người sinh trưởng từ thập niên 1940, tiếp sống qua hai cuộc chiến 1945-1954; 1960-1975, thực tế lịch sử, chiến tranh, xã hội Việt Nam trước, sau 1975 đã cho người lính chúng tôi xác chứng: không hề có chủ trương hoà hợp hoà giải từ người / chủ nghĩa / chế độ cộng sản trong lý thuyết cũng như qua sách lược hành động.</p>
<p>3/ Từ thực tiễn của # 2 thêm kinh nghiệm mà bản thân cá nhân là một đối tượng thụ nạn của thành phần gọi là “Nguỵ Quân-Nguỵ Quyền” thuộc chế độ Quốc Gia Việt Nam (1948-1954); Việt Nam Cộng Hoà (1955-1975) đến hôm nay vẫn tiếp tục bị miệt thị, xuyên tạc và triệt hạ dẫu chiến tranh đã chấm dứt từ 1975.</p>
<p>4/ Trong tình thế chung nhất của # 2, # 3, chắc chắn rằng không thể nào thực hiện được “Hoà Hợp Hoà Giải” như ông Hữu Thỉnh đề nghị ! Cũng bởi, giới Nhà Văn chính là đối tượng hàng đầu bị bách hại đối với tất cả chế độ cộng sản Đông-Tây. Lịch sử đẫm máu của 100 năm chế độ cộng sản từ 1917 đến nay như một vũng tối ghê rợn phủ chụp lên lương tri nhân loại. Hỏi thử cuộc họp mặt tháng 10 tại Hà Nội (cho dẫu thực lòng đi nữa) sẽ gây được tác dụng gì? Nhà Văn? Nhà Văn Việt Nam đích thực là những ai? Nhưng đây không phải là vấn đề của cá nhân tôi – Trước sau chỉ là một Người Lính-Viết Văn. Cũng bởi tôi chưa hề nhận Chứng Chỉ Giải Ngũ của Bộ Quốc Phòng / VNCH cho dù đã không mặc quân phục từ 1975.</p>
<p>5/ Hãy nhìn lại… Thương phế binh VNCH là những lão nhân phế binh, thương trận đã không được sống với dạng Con Người từ 30 Tháng 4, 1975. Hãy để cho Người Lính VNCH còn sống sót và gia đình được trở lại Miền Nam sửa sang phần mộ Chiến Hữu nơi Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hoà là nơi giới cầm quyền Hà Nội chủ trương phá bỏ một cách có hệ thống, dẫu người chết gần nửa thế kỷ qua không thể nào đe doạ đối với Chế độ XHCN!</p>
<p>Xin hãy “Hoà Hợp Hoà Giải” với những người đã chết. Với những người đang sống sau thảm hoạ Formosa, Nghệ An. Hãy hoà hợp hoà giải với “Khúc ruột ở trong nước” trước. Khi ấy không cần mời, chúng tôi “Khúc ruột ngàn dặm” sẽ về. Về rất đông. Người Viết Văn – Lương Tri và Chứng Nhân của Thời Đại sẽ về. Tất cả cùng về Việt Nam.</p>
<p><strong>Kính thư, </strong></p>
<p><strong>Người Lính – Viết Văn </strong></p>
<p><strong>Công Dân Mỹ gốc Việt </strong></p>
<p><strong>Phan Nhật Nam </strong></p>
<p><strong>Washington DC, 9 tháng 9, 2017 </strong></p>
<p align="center"><img loading="lazy" decoding="async" style="margin-right: auto; margin-left: auto; float: none; display: block;" src="https://baotiengdan.com/wp-content/uploads/2018/07/H0-204.jpg" alt="" width="417" height="337" /><em>Hình 8: tranh hí hoạ của Babui Mamburao 9/2017 nhân sự kiện Chủ tịch Hội Nhà Văn Việt Nam Hữu Thỉnh mời nhà văn Phan Nhật Nam, tác giả Mùa Hè Đỏ Lửa về tham dự cuộc họp mặt ở Hà Nội và một số địa phương miền Bắc từ ngày 20 đến 25 tháng 10 năm 2017. Nguồn: Đàn Chim Việt</em></p>
<p>Bức thư của Phan Nhật Nam trả lời ông Chủ Tịch Hội Nhà Văn Hữu Thỉnh, đã gây nhiều phản ứng khác nhau kể cả nhiều chỉ trích. Nhưng từ lâu như đã được “miễn nhiễm” và Nam thì rất “lì đòn”.</p>
<p>Một bà cô của Nam tuổi gần 90 từ Canada, có chồng là Đại tá VNCH chết trong trận Lam Sơn 719 Hạ Lào, không rõ thực hư bà cũng nghi hoặc hỏi Nam: <em>“O nghe con đi Hà Nội phải không?” </em>Nam trả lời là không, nhưng bà vẫn nói tiếp: “<em>Nếu quả thật con đi thì làm sao dượng con chết nhắm mắt cho được”.</em></p>
<p>Nhưng có lẽ, hạnh phúc đầy đủ nhất với Phan Nhật Nam là coup phone nhận được từ một đệ tử cũ, trung sĩ vác máy truyền tin theo Nam khi còn ở Tiểu đoàn 9 Nhảy Dù, có biệt danh là Hiền rỗ hiện còn sống ở Hố Nai Biên Hoà: <em>“Tụi em vô cùng ấm lòng với câu trả lời không của đích thân.”</em> Người lính Nhảy Dù vẫn quen gọi cấp chỉ huy của mình là đích thân. Hiền muốn nói tới bức thư Phan Nhật Nam trả lời Chủ tịch Hội Nhà Văn Hữu Thỉnh từ chối lời mời về Hà Nội. Những người lính Miền Nam cho dù có bị đầy đoạ khổ cực từ bao năm nhưng như từ bao giờ, ngọn lửa ấm kiêu hãnh vẫn chưa bao giờ tắt trong lòng họ.</p>
<p><strong>VẪN NHỮNG CON SỐ</strong><strong> LUÔN ÁM ẢNH</strong></p>
<p>Phan Nhật Nam có một trí nhớ kỳ lạ về các sự kiện và những con số, và mỗi con số đều có riêng một ý nghĩa trong cuộc đời Nam. Phải chăng đó là hậu chứng của những ngày tháng dài đẵng đếm lịch trong tù của Phan Nhật Nam?</p>
<p>Chỉ riêng tháng 6 thôi, Nam nhớ như in các sự kiện với những con số: 11.06.1963 ngày Thích Quảng Đức tự thiêu; ngày 11.06.1965 kết thúc trận đánh Đồng Xoài; rồi 19.06.1965 ngày Quân Lực.</p>
<p>Sắp tới Ngày Quân Lực 19 tháng 06, Nam viết eMail cho một người bạn bên TQLC:</p>
<p><em>Bác TV Cấp ơi,</em><em> Quả thật tôi viết không nổi, đọc không xuống trong những ngày nầy, lại thêm nhớ Ngày Quân Lực, 19/6</em><em>/2018 sắp tới – Ngày ấy, năm 1965, tôi và bác </em><em>(mấy ông K.19) mới qua tuổi 20. Tôi chưa hoàn hồn về lần Trần Trí Dũng chết (cùng các Anh Trần Văn Ký, Á Khoa 17; TTrg</em><em> Hợp K</em><em>hoá 14), Đoàn Phương Hải bị thương, Lâm Văn Rớt bị bắt.. Tiểu đoàn 7 ND chết bị thương 14 sĩ quan, từ tiểu đoàn trưởng đến trung đội trưởng chỉ mấy tiếng đồng hồ Trận Đồng Xoài (11/6/65).</em></p>
<p><em>Tôi chỉ biết ngồi ôm mấy trẻ con lính ra khóc ở văn phòng đại đội (là viên thiếu úy còn sống sót của ĐĐ72). Ra Biên Hòa thấy thêm cảnh vợ con lính của Tiểu Đoàn 52 BĐQ; Tiểu Đoàn 2/7/SĐ5BB (Sư Đoàn 5 của Đại tá Thiệu</em><em>) trước 1964 cũng đóng ở Biên Hòa.</em></p>
<p><em>Tình cảnh đau thương của TĐ7ND;</em><em> 52 BĐQ; 2/7/SĐ5BB… năm 1965 so với nguy nan tan nát của đất nước ngày nay đâu thấm vào đâu?!</em></p>
<p><em> Người Lính VNCH làm gì? <strong>Tôi chỉ muốn cầm một trái lựu đạn về Sài Gòn thôi!</strong></em></p>
<p>Thiếu úy Phan Nhật Nam K.18/TVBQGVN/Tiểu Đoàn 7 ND, KBC 4919</p>
<p>Như một chu kỳ của con số 14, ngay cả tên Nam – mẫu tự N cũng ở thứ tự số 14. Trong bức thư chuẩn bị chia tay với các bạn đồng sự trong đài SBTN, có đoạn Nam viết: <em>“Tôi đi lính 14 năm (1961-1975), tôi đi tù 14 năm (1975-1989) và nay cũng đã 14 năm, tôi rời SBTN. Đời sống chỉ là màn hợp tan không ai có thể lường được. Vậy chúng ta tạm chia tay”.</em></p>
<p>Như bỗng chốc, trong thời gian gần đây Phan Nhật Nam chợt thấy <em>những ngày tháng bonus</em> còn lại cho dù có kéo dài thêm nữa cũng không còn mang một ý nghĩa nào. Và rồi từng bước, từng bước Phan Nhật Nam thản nhiên chuẩn bị một kết thúc ý nghĩa cho cuộc đời mình.</p>
<p>11.06.1963 ngày Thích Quảng Đức tự thiêu như một ám ảnh với Nam. Nam vẫn nghĩ rằng, chưa bao giờ anh có ý tưởng tự vẫn / suicide mà Nam cho là một trốn chạy. Không có nỗi sợ hãi nào khiến anh phải trốn chạy. Nhưng anh cũng không nhận đó là một <em>tự thiêu / self-immolation</em>… và anh khẳng định đó cũng không phải là một <em>tự vẫn chính trị / political suicide </em>mà là một <em>nghi thức/ ritualistic</em> của <em>sự hoá thân / metamorphose </em>trong ngọn lửa để đánh động cái mà Nam muốn gọi là lương tâm của thời đại. Bước hoá thân đó cần tới hùng tâm và một quyết định đương đầu can đảm. Vẫn theo Nam, với quan điểm của Nhà Phật, đời sống không phải chỉ giới hạn trong sự tồn tại của nhục thân… Phan Nhật Nam đã thảo một tâm thư như một di bút, gửi tới Đức Giáo Hoàng, Đức Đạt Lai Lạt Ma, Tổng Thư Ký Liên Hiệp Quốc, bao gồm cả hai thủ lãnh chính trị thế giới là Tổng Thống Mỹ và Chủ Tịch Nhà Nước Cộng Hoà Nhân Dân Trung Hoa…</p>
<p><strong>MỘT CHUẨN BỊ</strong><strong> BÌNH THẢN VÀ CHU ĐÁO </strong></p>
<p>Bây giờ thì Phan Nhật Nam đang ở Arizona. Nói chuyện qua phone, giữa lúc đang diễn ra trận chung kết World Cup bóng đá 15.07.2018 giữa hai đội Croatia và Pháp. Nam hầu như hoàn toàn không biết và cũng không quan tâm gì tới sự kiện thể thao hành tinh này. Hình như trong nhà chỉ có một mình Nam, anh đang tĩnh tâm trong một căn phòng im vắng. Các con đều đi làm, ra khỏi nhà.</p>
<p>Hầu như không ai biết, chỉ mới hai tuần trước đây thôi, Phan Nhật Nam đã tới rất gần đường ranh của con dốc tử sinh. Nam đã rất chu đáo và thản nhiên chuẩn bị cho một kết thúc tự nguyện.</p>
<p>Một ngày sau ngày Quân Lực 19.06.2018, sáng nay Nam vẫn lái xe tới đài SBTN. Thường thì anh làm việc ở nhà, gửi bài qua internet và chỉ vào đài khi có một chương trình thu hình hay Talk show với Kim Nhung. Hôm nay không có một chương trình thu hình như vậy, không có hẹn nhưng anh vẫn tới. Đi một vòng, như mọi lần Nam tươi cười chào hỏi mọi người. Và rồi anh tìm gặp được một cậu đàn em cũng tên Nam. Anh nhờ Nam cùng đi tới Tượng đài Chiến sĩ Việt Mỹ, trên đường All American Way, với lý do <strong><em>“thực hiện một video clip ngắn về sinh hoạt cộng đồng”</em></strong> . Hồn nhiên, cậu đàn em đem theo một video camera gọn nhẹ đi với Phan Nhật Nam.</p>
<p>Tới nơi, thấy ông anh xuống xe, ra mở cốp sau xe lấy ra một lá cờ VNCH, một bình nhựa đỏ 5 gallons bốc mùi xăng. Hiểu ngay điều gì sắp xảy ra, thất sắc, cậu ấy nói lớn tiếng với Phan Nhật Nam <em>“Anh ơi, đâu có được. Em là người Công giáo, sống chết là do tay Chúa, em đâu có thể để anh làm chuyện này. Anh không ngưng ngay là em la lên, bót Cảnh sát ở phía trước.”</em></p>
<p>Trước tình huống này, biết dự định đã không thành, Nam không có phản ứng gì và lại bình thản lên xe đưa cậu em trở về đài. Sau đó, như không có chuyện gì xảy ra, Nam tự lái xe trên đường về nhà. Nam nẩy ý muốn tìm nhiếp ảnh viên Trương Tuấn, một cậu em giang hồ khác mà Nam biết chắc là Tuấn sẵn sàng nghe Nam làm bất cứ chuyện gì, nhưng rồi không kiếm đâu ra cái cell phone mà từ sáng anh mang sẵn bên mình với lời dặn cuối cùng cho hai con ở Arizona.</p>
<p>Ngày 30.06.2018, Nam vẫn đi dự đại hội cựu học sinh Phan Chu Trinh Đà Nẵng. Gặp lại các bạn cũ, Nam đã không có không nhiều cảm xúc.</p>
<p>Trở về nơi căn chung cư trên lầu 8, cũng trên <strong><em>Đường Số 1</em></strong> như một <em>flashback</em> khiến Nam lại nhớ tới <strong><em>Dọc Đường Số 1</em></strong> ngày nào<em>.</em></p>
<p>Và rồi hai ngày sau đó, ngày 2 tháng 7, chuẩn bị lái xe đưa bạn đi thăm thầy cũ ở San Diego, Nam chợt thấy trên bảng đồng hồ xe / <em>dashboard</em> có báo hiệu đèn vàng, không biết chuyện gì, Nam rẽ qua một garage đàn em. Cậu ấy cho biết, đèn báo hiệu có thể là do một bánh xe bị xẹp. Lại thấy có mùi xăng bốc ra, cậu ấy mở cốp sau và la Nam: <em>“Trời nóng cả trăm độ, chú để bình xăng sau xe có thể cháy nổ bất cứ lúc nào, như vậy đâu có được!”</em> Nam lấy cớ sắp đi xa xuống San Diego, sợ thiếu xăng nên đem theo xăng secours.” Cậu ấy vừa vá lốp xe và vừa giúp Nam đổ cả 5 gallons xăng-super vào bình xăng xe.</p>
<p>Dự định không thành, lần này Nam chỉ đổ tại ý <em>Chúa Thánh Linh</em> chưa cho phép anh được bước ra khỏi ải trần gian này.</p>
<p>Rồi bỗng cơ thể Nam bắt đầu có những biểu hiện bất thường, người anh như bị cứng lại, đau ran bên ngực trái và tim gần như nghẽn lại không đập nổi nữa. Nam tới phòng mạch Bs Nguyễn Ngọc Kỳ, là một đàn anh bên Không quân và cũng là bác sĩ gia đình của Nam trong nhiều năm. Anh Kỳ cho Nam nhập viện khẩn cấp. Hai ngày nằm viện, với mọi thử nghiệm về tim mạch và tổng trạng đều rất tốt. Và Nam được xuất viện. Nam nhớ rất rõ, từ ngày sang Mỹ có lẽ đây là lần thứ tư anh bị một hội chứng tim mạch như vậy. Sau đó, để có một không khí gia đình, Nam bay sang Arizona sống với hai con và cũng để có mấy ngày tĩnh tâm.</p>
<p>Qua phone, Nam kể lại là đêm qua, mấy đứa con thấy đầu bố Nam sáng lên và thấy có cả một bông sen vàng trên trán bố. Phan Nhật Nam có xác tín về một hiện tượng mà anh rất tin là có thật này.</p>
<p>Không muốn đụng tới đức tin của bạn, nhưng tôi vẫn nghĩ theo khía cạnh y khoa: đây là một ảo giác / delusional không phải là hiếm gặp nơi nhóm bệnh nhân Cựu Chiến Binh Việt Nam/ Vietnam Vets trong mấy chục năm qua mà tôi thường gặp.</p>
<p>Trưa 20.07, anh Phạm Phú Minh, Diễn Đàn Thế Kỷ, sau khi dự cuộc triển lãm tranh của Hs Nguyễn Đình Thuần từ hội trường Việt Báo về, biết tôi quen thân với Phan Nhật Nam, anh Phạm Phú Minh, viết một eMail cho tôi:</p>
<p><em>Anh Vinh, </em></p>
<p><em>Phòng tranh của Nguyễn Đình Thuần trưa nay có nhiều văn nhân tài tử, lâu lâu được gặp cũng vui. Tuần trước tôi gửi mail cho Nam chúc mừng quyển Mùa Hè Đỏ Lửa được dịch sang tiếng Pháp, thì nhận được trả lời rất vắn tắt của Nam nói rằng mình đang ở một chỗ rất xa. Nay gặp mới biết chỗ ấy là bệnh viện. Sau đại hội cựu học sinh Phan Chu Trinh Đà Nẵng thì đột nhiên Nam bị cứng cả người, và theo lời Nam, trái tim gần như đập không nổi nữa. Đưa vào bệnh viện cấp cứu, người ta khám hết cả người kể cả Nuclear Stress Test thì không thấy bệnh tật gì hết, mọi thứ rất tốt. Có vẻ là do một dồn nén tâm lý sao đó mà gây khó khăn cho tim. Theo tôi thấy thì Nam hoàn toàn trở lại bình thường, có cho tôi xem bức ảnh chụp trong bệnh viện có một quần ánh sáng trên trán. </em></p>
<p><em>Phan Nhật Nam có văn tài, và cũng có vài cái tật vui vui. Tôi rất quý tài năng, và có khuynh hướng quên đi phần còn lại. Hôm qua Nam nói nhiều về chị Liễu Trương với tác phẩm Albert Camus. Rất vui, chuyện nào cũng tích cực. Nếu anh có viết về Phan Nhật Nam thì nên công bố, tôi rất mong điều đó. Nam cho biết chưa nhận được bản dịch Mùa Hè Đỏ Lửa, do nhà xuất bản gửi. Như vậy hiện nay ở Mỹ chỉ có anh Vinh là có Un Été Embrasé, chắc do dịch giả gửi. Còn tôi giữa tháng Tám LH từ Pháp mới mang sách về. </em></p>
<p><em>Hằng ngày tôi vẫn thường cảm thấy rất mệt, một tình trạng chưa thấy lối ra. </em></p>
<p><em>PPMinh 20.07.2018</em></p>
<p>Phạm Phú Minh cũng trải qua 13 năm tù, có giai đoạn bị giam nơi trại Thanh Cẩm, Thanh Hoá. Năm 1983 sau khi Phạm Phú Minh được đưa vào một trại ở miền Nam, Phan Nhật Nam đã được chuyển tới trại Thanh Cẩm.</p>
<p>Anh Phạm Phú Minh bị một <em>Hội chứng Mệt Mỏi Kinh niên / Chronic Fatigue Syndrome </em>trong nhiều năm, mà không có một chẩn đoán bệnh lý nào rõ rệt. Nếu bảo rằng, đó là triệu chứng của PTSD thì chắc chắn anh ấy phủ nhận và cả không tin.</p>
<p><img loading="lazy" decoding="async" style="margin-right: auto; margin-left: auto; float: none; display: block;" src="https://baotiengdan.com/wp-content/uploads/2018/07/H1-65.png" alt="" width="393" height="267" /></p>
<p><em>Hình 9:  lá quốc kỳ VNCH lớn 21 feet; phải:chiếc bình nhựa 5 gallons xăng để sau cốp xe trên đường tới Tượng đài Chiến sĩ Việt Mỹ, trên đường All American Way, ngày 20.06.2018, Westminster.</em></p>
<p><img loading="lazy" decoding="async" style="margin-right: auto; margin-left: auto; float: none; display: block;" src="https://baotiengdan.com/wp-content/uploads/2018/07/H0-205.jpg" alt="" width="409" height="307" /></p>
<p align="center"><em>Hình 10: Phan Nhật Nam nhập viện ngày 02.07.2018, do đau ngực / chest pain, rối loạn tim mạch và cao huyết áp. </em></p>
<p align="center"><em>Trên tấm hình, Nam vẫn nhìn thấy có một bông Sen Vàng đang toả sáng trên trán, như một “huệ nhãn” mà</em></p>
<p align="center">riêng anh có được. Ảnh tư liệu Ngô Thế Vinh.</p>
<p align="center"> <img loading="lazy" decoding="async" src="https://baotiengdan.com/wp-content/uploads/2018/07/H1-67.png" alt="" width="470" height="167" /></p>
<p align="center"><em>Hình 11: trái, một đoạn thơ của Phan Nhật Nam trong Đêm Tận Thất Thanh (1997); </em></p>
<p align="center"><em>phải: mấy dòng di bút dặn dò người quản lý chung cư Flower Park Plaza, # 812 là số phòng của Phan Nhật Nam. </em></p>
<p align="center"><em>Cũng Chung cư này, trên lầu 10 là nơi nhà thơ Nguyễn Chí Thiện sống những ngày tháng cuối đời. Ảnh tư liệu Ngô Thế Vinh.</em></p>
<p><strong>VẾT THƯƠNG KHÔNG CHẢY MÁU</strong></p>
<p>PTSD / Post Traumatic Stress Disorder là một hội chứng rối loạn hậu chấn thương – là dạng chấn thương tâm lý, rất thường gặp nơi các cựu chiến binh, và cả thường dân do phải trải qua, chứng kiến cảnh chết chóc tàn phá ngoài chiến trận hay bị tù đầy. Phan Nhật Nam, một sĩ quan tác chiến, rồi là một phóng viên chiến tranh, và hơn thế nữa với 14 năm tù bao gồm cả bị gông cùm biệt giam, Nam tuy là kẻ sống sót / survivor như một phép lạ nhưng cơ thể đã mang đầy thương tích – với những vết thương không chảy máu <em>[Wounds Don’t Bleed].</em></p>
<p>Trong suốt cuộc chiến tranh Việt Nam, PTSD chưa hề là một chẩn đoán y khoa được chấp nhận một cách phổ quát. Cho tới khi đám cựu chiến binh Mỹ tham dự các cuộc viễn chinh từ Irak, Afghnistan trở về thì ngoài số thương vong do vũ khí súng đạn, còn có hiện tượng con số tự tử gia tăng rất bất thường tới mức báo động, đưa tới nhiều cuộc nghiên cứu và kết quả <strong>PTSD </strong>được chính thức công nhận là một thực thể<strong> <em>“chẩn đoán bệnh lý / medical diagnosis”</em></strong> từ hơn 3 thập niên qua [từ 1980]. Đó là một hội chứng phức tạp và biến thiên qua từng cá nhân, có thể kể: sự tái trải nghiệm / re-experiencing: những cơn ác mộng, những hồi tưởng / flashbacks, những ám ảnh về chấn thương / unwanted thoughts of the traumatic events. Tất cả dẫn tới sự quá mẫn cảm / hyper-vigilance, dễ giận dữ / anger, dẫn tới sự né tránh / avoidance, tự cô lập / isolation, và cả hoang tưởng / paranoia.</p>
<p>Nhiều năm làm việc trong một bệnh viện cựu chiến binh, có thể nói đây là một trải nghiệm không phải không thường gặp. Không ít cựu chiến binh với nhiều kiêu hãnh – trong đó có Phan Nhật Nam, cho dù có tất cả triệu chứng điển hình của PTSD nhưng vẫn chối từ / denial, không muốn chấp nhận hay nhắc tới thực trạng ấy vì cho <strong><em>đó có thể là biểu hiện của sự yếu đuối / weakness</em></strong>, trong khi đó thực sự là những vết thương chiến trận / combat wound cho dù không chảy máu, cùng với những vết thương của tra tấn và tù đày đang âm thầm tàn phá con người Phan Nhật Nam một cách toàn diện.</p>
<p>Bề ngoài là một tâm lý ổn định nhưng đó chỉ là kết quả của của những dồn nén cảm xúc vào vùng vô thức, để rồi chỉ còn là những biểu hiện trên thân xác mà từ y khoa gọi là <em>somatization</em> như: các triệu chứng rối loạn tim mạch, thần kinh hay về tiêu hoá… mà không giải thích được bằng những phương pháp chẩn đoán bệnh lý thông thường, và những biểu hiện đó rõ nét hơn khi tình trạng căng thẳng / stress gia tăng.</p>
<p><img loading="lazy" decoding="async" style="margin-right: auto; margin-left: auto; float: none; display: block;" src="https://baotiengdan.com/wp-content/uploads/2018/07/H1-66.png" alt="" width="426" height="257" /></p>
<p align="center"><em>Hình 12: trái, Phan Nhật Nam đứng nhìn xuống từ lầu 8; phải, Phan Nhật Nam và những chứng vật: một lá cờ vàng 21 ft, một bình đựng xăng 5 gallons và hai hộp quẹt gas. Nam lúc này như một robot, buông xả, không cảm xúc, anh để mặc tôi trong căn phòng chung cư của anh và rất vô thức, anh cứ tuần tự làm theo những điều tôi yêu cầu. Trong phòng Nam, ngoài trang thờ cúng gia tiên với di ảnh của Mẹ – bà chết rất trẻ ở tuổi 39, còn có bàn thờ Phật và cả một bàn thờ Chúa, cùng với hình của Cha Trương Bửu Diệp. Photo by Ngô Thế Vinh.</em></p>
<p><strong>RŨ BỎ KÝ ỨC:</strong><strong> KÝ ỨC NGƯỜI</strong></p>
<p>Phan Nhật Nam không thể khác được chừng nào anh chưa thoát ra khỏi vũng lầy của cuộc Chiến Tranh Việt Nam, mà anh <em>“là kẻ sống sót</em><em>.” </em></p>
<p>Bất cứ ở đâu và bao giờ, với quan điểm y khoa, Phan Nhật Nam luôn luôn là một bệnh nhân với rủi ro cao / <em>high risk patient</em>, sau một lần tự thiêu bất thành / <em>unccessful suicidal attempt</em>, mà Nam phủ nhận chỉ muốn gọi đó là một chọn lựa <em>hoá thân</em>, không biết bao giờ nhưng rồi sẽ có một lần thứ hai, thứ ba… và tới một lúc nào đó, không hề là bất ngờ Nam sẽ thành công chọn được một bước ra đi cho mình, để ra khỏi <em>Ải Trần Gian</em> này.</p>
<p>Phan Nhật Nam là một khuôn mặt của cộng đồng. Với tôi anh là một người bạn, nhưng với nhãn quan của y khoa anh cũng là một người bệnh đầy rủi ro. Tôi tôn trọng quyền riêng tư của anh nhưng vẫn muốn công khai hoá sự kiện mới đây; về phương diện tâm lý học có thể đây cũng là một bước điều trị khử nhạy / <em>desensitization</em> đối với những tình thế thử thách có thể đưa tới những phản ứng xúc động quá đáng hay không hợp lý, và dần dà người bệnh giải toả được một số những phản ứng tiêu cực và thay thế bằng sự thư giãn.</p>
<p>Đó như một bước <em>phòng ngừa thứ cấp / secondary prevention</em> thay vì đến một lúc nào đó, có thể là quá trễ để phải chứng kiến một <em>sự đã rồi / fait accompli </em>và chỉ còn là sự hối tiếc để viết một <em>lời ai điếu / requiem</em>.</p>
<p>Chính sự quá thản nhiên của Nam khiến tôi càng quan tâm. Tôi cũng rất cân nhắc và cả trách nhiệm với Phan Nhật Nam, khi viết về sự kiện này; cùng với một lời tạ lỗi nếu những điều viết ra khiến bạn tôi chỉ thêm nặng lòng.</p>
<p><strong>NGÔ THẾ VINH</strong></p>
<p><strong>Sài Gòn 1963 – California 2018</strong></p>
<p><strong><em>Tham Khảo</em></strong></p>
<p><em>1/</em><em> Súng Đạn Nào Giải Quyết Được khổ Đau. Lưu Diệu Vân Phỏng vấn nhà văn Phan Nhật Nam. Thời Báo 30.04.2018 </em></p>
<p><em>2/ Gặp Phan Nhật Nam trên Quốc Lộ 1. Trần Vũ, Tạp Chí Hợp Lưu 10.08.2013 </em></p>
<p><em>2/</em><em> Bút Ký Irina, Tập I. Phan Nhật Nam, pp.86-90, Tổ Hợp Xuất Bản Miền Đông Hoa Kỳ 1992 </em></p>
<p><em>3/</em><em> Như Phong, Gió Vẫn Thổi. Phan Nhật Nam. Tưởng Niệm Nhà Báo Như Phong. Nxb Viet Ecology Press &amp; Người Việt Books 2016 </em></p>
<p><em>4/</em><em> Dọc Đường Số 1</em><em>. Phan Nhật Nam, Nxb Đại Ngã, Sài Gòn 1970</em></p>
<p><em>5/</em><em> Văn Học Miền Nam, Ký. Võ Phiến, Nxb Văn Nghệ 1999</em></p>
<p>&nbsp;</p>
<p><em><strong>(Nguồn: Tiếng Dân)</strong></em></p>
]]></content:encoded>
					
					<wfw:commentRss>https://t-van.net/ng-the-vinh-tu-dau-binh-lua-toi-t-binh-v-ha-bnh-phan-nhat-nam-v-nhung-chan-thuong-khng-chay-mu/feed/</wfw:commentRss>
			<slash:comments>0</slash:comments>
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Phan Nhật Nam: Sự Thật cuối cùng đến quá trễ!</title>
		<link>https://t-van.net/phan-nhat-nam-su-that-cuoi-cng-den-qu-tre/</link>
					<comments>https://t-van.net/phan-nhat-nam-su-that-cuoi-cng-den-qu-tre/#respond</comments>
		
		<dc:creator><![CDATA[TV và BH]]></dc:creator>
		<pubDate>Tue, 30 Sep 2014 23:24:12 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Vòng Quanh Thế Giới Ảo]]></category>
		<category><![CDATA[phan nhật nam]]></category>
		<category><![CDATA[tv&bh]]></category>
		<category><![CDATA[vòng quanh]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://7076e870b2.nxcli.io/?p=19345</guid>

					<description><![CDATA[(Nguồn: Thông Luận) &#8220;&#8230;Đoạn đường dài đẫm máu toàn Dân Tộc Việt này không loại trừ một ai được tổ chức/chỉ đạo/điều hành bởi: Nguyễn Sinh Côn, Nguyễn Tất Thành, Nguyễn Ái Quốc, Linov, Vương Đông Hải, Hồ Quang, Hồ Chí Minh&#8230; được thi hành, thực hiện với Trường Chinh, Võ (Nguyên) Giáp, Phạm Văn [&#8230;]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<h3><span style="font-weight: bold;"><a href="http://ethongluan.org/index.php?option=com_content&amp;view=article&amp;id=11288:s-th-t-cu-i-cung-d-n-qua-tr-phan-nh-t-nam&amp;catid=66&amp;Itemid=301" target="_blank" rel="noopener">(Nguồn: Thông Luận)</a></span></h3>
<p><em>&#8220;&#8230;Đoạn đường dài đẫm máu toàn Dân Tộc Việt này không loại trừ một ai được tổ chức/chỉ đạo/điều hành bởi: Nguyễn Sinh Côn, Nguyễn Tất Thành, Nguyễn Ái Quốc, Linov, Vương Đông Hải, Hồ Quang, Hồ Chí Minh&#8230; được thi hành, thực hiện với Trường Chinh, Võ (Nguyên) Giáp, Phạm Văn Đồng, Lê Duẩn, Lê Đức Thọ, Nguyễn Chí Thanh, Phạm Hùng, Đỗ Mười, Lê Khả Phiêu, Nguyễn Văn Linh&#8230; Danh sách sẽ rất dài nếu muốn kể đủ&#8230;&#8221; </em></p>
<p align="center"><a href="https://www.flickr.com/photos/trongkhiem/15287891576"><img loading="lazy" decoding="async" style="float: none; margin-left: auto; display: block; margin-right: auto;" src="https://farm4.staticflickr.com/3870/15287891576_54a9f6d463_o.jpg" alt="hochiminh016" width="300" height="210" /></a><br />
<em>Từ trái qua: Ông Tôn Đức Thắng, ông Hồ Chí Minh<br />
và ông Hoàng Quốc Việt trong căn cứ kháng chiến Việt Bắc năm 1948</em></p>
<p><em>Nỗ lực của hệ thống cộng sản phương Đông là tạo nên một tính chất tôn giáo, và nguồn cảm hứng của một tôn giáo.</em></p>
<p><strong>Albert Einstein</strong></p>
<p><em>Đời sống không Tình Thương giống như cây không nở hoa, đơm trái.</em></p>
<p><strong> Khalil Gibran</strong></p>
<p><em>Tôi biết nó!</em></p>
<p><em>Thằng nói câu nói đó!</em></p>
<p><em>Tôi biết nó!</em></p>
<p><em>Đồng bào miền Bắc biết nó!</em></p>
<p><strong>Nguyễn Chí Thiện, 1968</strong></p>
<p><em>Không có gì quý hơn Độc Lập-Tự Do </em></p>
<p><strong> Hồ Chí Minh</strong></p>
<p><em>Xã hội chủ nghĩa dẫu chưa hoàn chỉnh nhưng tốt đẹp gấp vạn lần chế độ tư bản!</em></p>
<p><strong>Trường Chinh, dịp &#8220;Thống nhất nước nhà về mặt nhà nước&#8221;, 1976.</strong></p>
<p><em>Ta đánh Mỹ là đánh cho Liên Xô. Đánh cho Trung Quốc.</em></p>
<p><strong>Lê Duẩn</strong></p>
<p><em>Đường vinh quang xây trên xác quân thù! Thề phanh thây uống máu quân thù!</em></p>
<p><strong> Tiến Quân Ca của Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa/Cộng Hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam &#8211; Văn Cao, Trưởng Ban Ám Sát Thành Phố Hải Phòng, 1945</strong></p>
<p><em>Người cộng sản phải luôn sẵn sàng trong mọi thời thế để đấu tranh cho Sự Thật, bởi Sự Thật chính là Quyền Lợi của Nhân Dân.</em></p>
<p><strong><em>Mao Trạch Đông &#8220;Về Chính Phủ Liên Hiệp&#8221; </em></strong><em>(Ngày 24 tháng 4, 1945)</em></p>
<hr />
<p><strong>Dẫn Nhập:</strong> Vào một ngày dịp Tết năm 1950 qua 1951, trong chiến khu tả ngạn sông Hương, đứa nhỏ hỏi một cán bộ cộng sản loại cao cấp tên Nhân (chắc chỉ là bí danh; có cây súng cá nhân nhỏ): Tại sao súng chú to vậy? Chú Nhân đáp: Súng to dùng để bắn Tây. Vài ngày sau người trong khu khám phá xác bà mẹ chị Trang (người giúp việc cho gia đình đứa nhỏ) chết ngã sấp nơi bờ sông, chỗ đứa bé và chú Nhân có đối thoại kể trên. Vừa thấy xác mẹ chị Trang, đứa nhỏ nhớ ngay đến hai hình ảnh: Đêm đêm bà đút nước cháo cho du kích. Và ánh mắt tìm kiếm, dò xét của chú Nhân khi loay hoay nơi bờ sông&#8230; Nay, sáu mươi năm hơn, trí nhớ của đứa trẻ chưa lên mười năm ấy vẫn còn nguyên độ với câu tự xác định từ tấm bé: Chú Nhân bắn mẹ chị Trang chứ không ai hết. Chú Nhân ÁC quá!</p>
<p>Kể thêm câu chuyện, qua năm 1954 sau khi đã vào Đà Nẵng, đến khu bệnh viện Đường Lê Lợi (sau 1954 sửa chữa thành Trường Nam Tiểu Học; sau 1975, nhà nước cộng sản đổi thành Trường Trung Học Cơ Sở Phan Châu Trinh thay thế Trường Phan Châu Trinh cũ (đối diện với trường Nam Tiểu Học) xem cuộc triển lãm tranh ảnh của Chiến Dịch Tố Cộng&#8230; Nhìn thấy bức ảnh ông Hồ ngồi giữa một đám thiếu nữ với lời ghi chú <em>&#8220;Bác Hồ dâm bôn&#8221;</em>. Dẫu chưa hiểu đủ nghĩa chữ &#8220;<em>dâm bôn</em>&#8221; nhưng gã thiếu niên tin rằng <em>&#8220;Bác Hồ (quả thật) dâm bôn&#8221;</em> vì nhìn ra nét mặt hả hê thống khoái của ông Hồ được nhiều thiếu nữ vây quanh. Qua thập niên 60, lớn lên đi lính dịp hành quân, bản thân tìm thấy trong mật khu cộng sản những hình ảnh ông Hồ ôm hôn trẻ con (phần đông là trẻ gái) từ trong Nam ra Bắc&#8230;</p>
<p>Từ những sự kiện này, ý <em>&#8220;dâm bôn&#8221;</em> đối với Hồ Chí Minh từ nhỏ được khẳng định/rõ hơn là ấu dâm-Hiện thực nên thành chữ nghĩa trong <em>Phan Nhật Nam, Chương &#8220;Cái Chết Của Một Lãnh Tụ &#8211; Dọc Đường Số I, NXB ĐạiNgã Sài Gòn, 1970. </em>Và sau này, khi đọc đến vụ việc Hồ Chí Minh thuận để bộ trưởng công an Trần Quốc Hoàn hiếp xong giết hại cô Nông Thị Xuân, người đã thai sinh Nguyễn Tất Trung sau thời gian dài ăn ở với ông Hồ dưới danh nghĩa &#8220;con nuôi của bác&#8221;. Với vụ việc này cảm nhận từ những năm 50, 60 xa xôi kia càng trở nên hiện thực qua kết luận: Hồ Chí Minh là biểu hiện thuần thành của Tính Dâm/Sự Ác. Nói rõ hơn: Nơi nhân sự có tên Nguyễn Tất Thành, Nguyễn Sinh Côn, Nguyễn Ái Quốc, Linov, Lão Vương, Hồ Quang&#8230; mà cuối cùng là Hồ Chí Minh thì Lực Dâm đã được chuyển hóa nên thành Mưu Thuật/Trí Hiểm/Bản Lãnh một cách toàn diện và triệt để của Sự Ác.</p>
<p>Ý niệm ÁC từ 1950, 1960… về người và chế độ cộng sản điển hình với Hồ Chí Minh dần được xác chứng bởi mắt thấy/tai nghe/thính giác ghi nhận/xúc giác chạm đủ với tận mười đầu ngón tay tại những hiện trường còn mùi bom đạn/âm âm sự chết/đầm đìa sự tàn nhẫn do người cộng sản gây nên khắp từng thước đất miền Nam. Sự Chết với tác nhân cộng sản bày ra đủ từ vùng Châu Thổ sông Cửu Long qua chiến khu D, vùng rừng miền Đông Nam Bộ; ở Cao Nguyên Trung Phần đầu nguồn sông Ia Drang&#8230; Và cụ thể với mỗi con đường, mỗi căn nhà ở Huế sau Mậu Thân (2/1968). Điển hình hơn hết trên 9 cây số đường từ Hải Lăng đến Cầu Câu Nhi Phường, ngày theo Tiểu Đoàn 11 Nhảy Dù tái chiếm Quảng Trị 25 tháng 6, 1972. Và cuối cùng, nói sao cho đủ, viết sao cho hết với mỗi bước chân dẫm lên xác người di tản từ Pleiku về Tuy Hòa, bắt đầu ngày 16 Tháng 3, 1975 đề kết thúc đúng giờ Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng với thây một con trẻ nát nhầy trước Trại Tiểu Đoàn 1 Nhảy Dù Đường Lê Văn Duyệt, đối diện Nghĩa Trang Đô Thành. Tiếp theo với mười-bốn năm nơi những nhà tù Bắc/Nam sau 1975 thì xác chứng kể trên đã nên thành một xác quyết không thể nào phủ nhận được &#8211; <em>Cộng Sản/Sự Ác là Một.</em></p>
<p><strong>Đèn Cù</strong> của Trần Đĩnh đến năm 2014 mới được in ra. Quá trễ. Nhưng muộn còn hơn không bởi còn nhiều người, rất nhiều người vẫn tin rằng: Người cộng sản dẫu sao cũng là người việt nam (không thể có can đảm viết hoa vì không đủ nhẫn tâm đối với 90 Triệu Người Việt Nam hiện tại đang ở trong nước). Bài viết sẽ được chứng minh từ, với chữ của Trần Đĩnh chứ không phải của ai khác &#8211; Đảng viên đảng cộng sản việt nam, từ 1948, bắt đầu 1951 viết báo &#8220;Sự Thật&#8221;. Cái gọi là &#8220;Sự Thật&#8221; đến bây giờ mới được soi tỏ bởi ánh sáng một cây Đèn Cù &#8211; Một loại đèn với hình ảnh, ánh sáng <em>không thật.</em></p>
<p><strong>Một: Đảng không thật/Đảng không mạnh</strong></p>
<p>Đảng không thật. Vì ngay từ lúc chưa chính thức thành hình, năm 1925, Nguyễn Sinh Côn (Hồ Chí Minh sau này) thử <em>&#8220;Việt Nam Hóa&#8221;</em> tổ chức thanh niên cộng sản do ông thành lập qua danh xưng <em>Việt Nam Thanh Niên Kách Mệnh Ðồng Chí Hội</em>. Mưu định &#8220;<em>Việt Nam Hóa&#8221;</em> bị khám phá, ông Côn bị thất sủng do nghi ngờ có tinh thần &#8220;<em>hữu khuynh quốc gia</em>&#8221; đối với Ban Phương Ðông của Quốc Tế Cộng Sản. Năm 1930, ông lại thêm một lần bị chỉ trích và phê phán vì đã tự động thống nhất ba chi phái cộng sản (<em>Đông Dương Cộng Sản Đảng; Đông Dương Cộng Sản Liên Đoàn; An Nam Cộng Sản Đảng</em>) dưới danh xưng Việt Nam Cộng Sản Ðảng! Quốc Tế Cộng Sản cực lực lên án sự thống nhất với danh xưng này vì cho đây là biểu hiện của sự phân liệt, đặt mục tiêu quốc gia lên mục tiêu quốc tế. Cuối cùng, tổ chức cộng sản (gọi là Việt Nam) đầu tiên phải lấy lại tên cũ: Đông Dương Cộng Sản Đảng! <em>Quyết định do Đại Hội Trung Ương Đảng Lần Thứ Nhất họp tại Hồng Kông (Tháng 10, 1930) căn cứ trên nghị quyết của Quốc Tế Cộng Sản. Như thế Đảng cộng sản (gọi là) Việt Nam sống đúng được 8 tháng từ tháng 2 đến tháng 10 năm 1930.</em></p>
<p>Nhưng dẫu đã ngoan ngoãn tuân hành Quốc Tế Cộng Sản&#8230; <em>Tháng 12, 1945, Đảng Cộng Sản Đông Dương tuyên bố tự giải tán với tờ báo đầu tiên của nó, Cờ Giải Phóng. Hội nghiên cứu chủ nghĩa Mác (không cõng kèm theo chủ nghĩa Lê-nin) bèn ra đời cùng báo Sự Thật (</em>Lại thêm một lần của nhiều vay mượn, vì &#8220;Pravda -Sự Thật&#8221; là cơ quan ngôn luận của Ủy ban Trung ương Đảng Lao động Dân chủ Xã hội Nga và Đảng Cộng sản Liên Xô từ 1912 đến 1991. Sau này, Sự Thật/Việt Nam được thay thế bởi Nhân Dân, số báo đầu tiên ra ngày 11 Tháng 3 năm 1951 tại chiến khu Việt Bắc. Báo Sự Thật/Nhân Dân/Cộng Sản Việt Nam giữ vai trò tương tự như báo của Liên Xô cho đến hôm nay, Thế Kỷ 21, với tổng số phát hành 180.000 tờ/ngày. Hầu hết người Việt, kể cả đảng viên, các cơ quan nhà nước thường dùng gói đồ, việc vệ sinh&#8230; Pnn).</p>
<p><em>Đây là một vận động trái khoáy, ngược chiều cực kỳ hiếm mà lúc ấy (1945-Pnn) tôi chưa biết: Vừa giành được chính quyền để nổi lên thì đảng đảng lập tức &#8220;thoái trào&#8221;, rút vào bí mật, giấu tiếng, ẩn danh như chưa từng có bao giờ&#8230; </em>(Đèn Cù, trg 19).</p>
<p>Giải tán đảng, đổi tên báo không phải là việc làm tùy tiện, nhất thời của Hồ Chí Minh, ủy ban trung ương đảng&#8230; Trần Đĩnh giải thích: <em>&#8220;</em>&#8230;<em>Cụ Hồ mượn tên Trần Lục </em>(Hồ Chí Minh luôn có thói tiếm danh/giấu tung tích, như đã một lần với danh xưng Nguyễn Ái Quốc của nhóm Ngũ Long &#8211; Năm Người An Nam Yêu Nước ở Paris, 1919) của Cụ Sáu, Phêrô Trần Lục (1825-1899), giáo sĩ nổi tiếng vùng Bùi Chu, Phát Diệm)<em>chỉ viết đến kháng chiến thắng lợi và đất nước hạnh phúc chung chung. Ai rồ mà nói lại chủ nghĩa xã hội, cải cách ruộng đất,thủ tiêu giai cấp? Để cho dân bỏ vào tề </em>(Tề/Thành/T: Vùng quốc gia -Pnn)<em>. Về danh nghĩa đảng đã giải tán hoạt động trong bóng tối che chắn của chính quyền </em>(Chính phủ liên hiệp/Chính phủ kháng chiến, thành hình tại Hà Nội, 2/9/45 -Pnn<em>) do đảng nắm chặt (Đèn Cù- Trg 28).</em></p>
<p>Cần nhắc lại, năm 1942, Hồ Chí Minh (đang mang tên Nguyễn Ái Quốc bị Quốc Dân Đảng Trung Hoa cầm tù) và tổ chức cộng sản (Việt Nam) cũng đã một lần buộc phải cởi lốt, mặc áo khác, trốn sau lưng một danh xưng khác&#8230; <em>&#8220;Theo lệnh trung ương (đảng), Hoàng Quốc Việt đến bảo Kỳ Vân (</em>Một đảng viên trung ương cự phách, sau này phải tự vẫn vì tội &#8220;chống đảng&#8221;, cả gia đình phải chịu liên hệ. Sẽ nói lại nhân vật kiệt liệt này ở chương sau-Pnn)<em>sang Hoa Nam tham dự đại hội Việt Nam Độc Lập Đồng Minh Hội do Quốc Dân Đảng Trung Hoa, Tưởng Giới Thạch triệu tập cuối năm 1942. Họ </em>(Quốc Dân Đảng Trung Hoa-Pnn)<em> muốn thống nhất các tổ chức chính trị Việt Nam ở Hoa Nam để đánh Nhật ở trong nước&#8230; Cũng nhờ Hồ Học Lãm </em>(Phe cách mạng quốc gia-Pnn)<em> nói với Trương Phát Khuê </em>(Một thủ lãnh Quốc Dân Đảng Trung Hoa-Pnn<em>) nên cụ </em>(NAQ/Hồ Chí Minh-Pnn)<em>được ra khỏi tù cùng với Nguyễn Hải Thần </em>(Phe cách mạng quốc gia-Pnn)<em> về nước lãnh đạo Việt Nam Độc Lập Đồng Minh Hội </em>(gọi tắt Việt Minh)(Đèn Cù, trg 39).</p>
<p>Tóm lại, tất cả nguyên nhân quyết định tiên khởi để có &#8220;<em>Cách mạng mùa Thu/Cướp chính quyền/Tuyên ngôn độc lập đọc tại Ba Đình ngày 2/9/45</em>&#8221; là từ đây: Nguyễn Ái Quốc/Hồ Chí Minh được ra khỏi nhà tù của Tưởng Giới Thạch do sự bảo chứng của Hồ Học Lãm, Nguyễn Hải Thần, những lãnh tụ cách mạng quốc gia đối với Quốc Dân Đảng Trung Hoa.</p>
<p>Đảng không mạnh<em>. Tháng 10, 1949 nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa ra đời. Hơn hai tháng sau cụ Hồ </em>(đã là chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa từ 2/9/1945-Pnn)<em>bí mật len qua vùng địch ở Phục Hòa, Cao Bằng đi Trung quốc&#8230;</em></p>
<p><em>&#8230;Đâu biết đại thí sinh sắp dự cuộc khẩu thí mà nếu trúng tuyển thì đất nước sẽ đoạn tuyệt hẳn với thế giới&#8230;</em></p>
<p><em>&#8230;Ông cụ sang kiểm thảo với Mao Trạch Đông, Lưu Thiếu Kỳ, Chu Ân Lai&#8230;</em></p>
<p><em>&#8230;Ông cụ kiểm thảo xong, Lưu Thiếu Kỳ nhận xét, góp ý kiến&#8230;</em></p>
<p><em>&#8230;</em></p>
<p><em>&#8211; Sao lại kiểm thảo?</em></p>
<p><em>&#8211; Là một chi bộ của quốc tế. Phải xin quốc tế cho nhận xét chứ!…</em></p>
<p><em>Nhưng hệ lụy đã nằm sâu bến trong vô thức đảng viên cộng sản Việt Nam: Vị trí đàn em, bên dưới, yên phận, biết ơn&#8230;</em></p>
<p><em>&#8230;Xuân Trường </em>(Ủy viên trung ương đảng, thập niên 60, 70-Pnn)<em>bác nhà mình chủ động khẳng định với Bác Mao quan hệ môi răng giữa Việt Nam và Trung Quốc&#8230;</em></p>
<p><em>&#8230;Bác tự động nhận mình chỉ nêu được có tác phong, còn tư tưởng, lý luận thì để cho Mao Chủ Tịch. Được lãnh tụ ráo riết giáo dục </em>(?-Pnn)<em>điều lệ thêm câu: Lấy tư tưởng Mao Trạch Đông làm kim chỉ nam…</em></p>
<p><em>…Từ 1951, tuần nào báo Nhân Dân cũng có vài mẫu của CB (tức cụ Hồ) phổ biến mọi mặt của Trung Quốc&#8230; Dần dà đảng viên cộng sản Việt Nam lại tìm ra chỗ để tự hào được làm em của hai nước vĩ đại: Liên Xô anh cả và Trung Quốc anh hai&#8230;</em>(Đèn Cù, từ trg 47-51).</p>
<p>Từ 1951 đã là vậy huống gì đến năm 1954 với yểm trợ của Trung cộng từ bát ăn cơm, bánh lương khô, đến khẩu pháo kéo vào trận địa&#8230; Nên dẫu đã chiến thắng trong những ngày đầu Tháng 5, 1954. Hồ Chí Minh và Võ Nguyên Giáp đã buộc phải đến Liễu Châu theo lệnh từ Bắc Kinh trong lúc thế nước đang hồi quyết định để tiến hành tám lần họp trong ba ngày (3-5 Tháng 7, 1954). Cuộc họp đưa ra quyết định trọng đại tại Hội Nghị Đình Chiến Đông Dương đang họp tại Genève (7/1954) đối với số phận tương lai của Việt Nam dưới chủ trì của Chu Ân Lai nhận lệnh trực tiếp từ Mao Trạch Đông.</p>
<p>40 năm sau, 1990 tại Thành Đô, Trung Hoa khi hệ thống đảng cộng sản thế giới đang trong tình thế ngàn cân treo sợi tóc. Với tập đoàn lãnh đạo gồm những nhân vật thứ yếu như Nguyễn Văn Linh, Đỗ Mười&#8230;Và dẫu có sự tham dự của cố vấn Phạm Văn Đồng, thuộc thế hệ lãnh đạo cộng sản thứ nhất cùng đến Thành Đô. Nhưng cố vấn Đồng cũng chỉ có mặt đề xác chứng thêm một lần thuận nhượng Hoàng Sa-Trường Sa qua công hàm ấn ký ngày 14 tháng 9, 1959 về quy định của Châu Ân Lai. Vậy hỏi thử tập đoàn cầm đầu đảng cộng sản nơi Hà Nội hôm nay có thể xoay trở được gì qua sự kiện giàn khoan HD981?</p>
<p>Trong suốt quá trình gần một thế kỷ (1930-2014), Đảng cộng sản Việt Nam không hề thật/Đảng không hề mạnh/Đảng chỉ là vệ tinh của Quốc Tế Cộng sản, nói rõ hơn thống thuộc với Đảng cộng sản Trung Hoa. Và tất cả tai họa cuối cùng chung nhất của toàn Dân Tộc Việt Nam rộng ra với dân chúng ba nước Đông Dương (tất nhiên bao gồm cả người/tổ chức đảng cộng Đông Dương/Đảng cộng sản Việt Nam) không phải là vấn đề: &#8220;<em>Mao nhều&#8221;- Chữ của Trần Đĩnh để chỉ nhóm &#8220;thuần Mao</em>&#8221; nơi tòa soạn báo Nhân Dân, nhà xuất bản Sự Thật, Bộ chính trị ở Hà Nội&#8230; Hay là nhóm gọi là <em>&#8220;Xét Lại&#8221; </em>tức là thành phần <em>&#8220;Mao (không) nhiều&#8221;</em> mà là <em>&#8220;Khruschev gộc&#8221;</em> tức là nhóm theo Liên Xô/Thuần Nga, v.v.</p>
<p>Những vấn đề như trên là &#8220;VẤN ĐỀ GIẢ&#8221;. Vấn đề chính là <em>&#8220;Hồ hàm&#8221; tức là &#8220;Thuần Hồ/Từ Hồ/Của Hồ/Với Hồ&#8221;</em> &#8211; Đầu mối toàn bộ tai họa của Phận Mệnh Việt Nam/Đông Dương. Tập thể &#8220;Hồ hàm&#8221;&#8221; không chỉ giới hạn nơi Hà Nội mà có mặt của Mặt trận giải phóng Miền Nam; Đảng Nhân Dân Cách Mạng Lào; đảng Nhân Dân Cách Mạng Khmer &#8211; Những sản phẩm thuần thành từ Đảng cộng sản Đông Dương/Việt Nam &#8211; Tức là của <em>&#8220;Hồ hàm&#8221;</em> chứ không thể của ai khác. Đây là nội dung của những phần kế tiếp mà bản thân phải nói cho đến tận cùng khi Viết với Tính Thật của hôm nay 2/9/2014 thay thế Lịch Sử bị đánh tráo từ 2/9/1945 khi đọc Đèn Cù của Trần Đĩnh.</p>
<p>Bởi, chỉ mấy chục trang sách từ 19 đến 51 thôi mà Trần Đĩnh phải đợi hết một đời người mới viết được viết nên!</p>
<p><strong>Hai: Thuần Hồ/Của Hồ/Với Hồ</strong></p>
<p>Quả thật Đảng cộng sản Việt Nam không phải hên may mà đoạt thắng suốt lịch sử dài từ 1945, 1954, 1968, 1972, 1975&#8230; nhưng bởi đã tập họp đủ các điều kiện thuận tiện, vận động thời cơ đúng lúc, lợi dụng được tình thế&#8230; do những sơ hở, nhầm lẫn của lịch sử luôn lập lại. Những nhầm lẫn khách quan và chủ quan của thế trận quốc tế, nơi khu vực Đông Nam Á đưa tới để thực hiện &#8220;Cách mạng Tháng 8 năm 1945&#8221;; những lổ hổng (có dự tính của các bên đàm phán) của Hiệp Ước Đình Chiến Đông Dương 1954; những mù mờ (rất nhiều tính toán của các bên giữ phần quyết định) khi ký kết Hiệp Định Tái Lập Hòa Bình Tại Việt Nam 1973&#8230; Những nhầm lẫn, dự mưu, tính toán từ nhiều thế hệ lãnh đạo mang đủ quốc tịch Mỹ, Hoa, Nga, Anh, Pháp&#8230;Những nhân sự khôn ngoan, trí hiểm nói lên lời và thực hiện đủ sách lược: <em>&#8220;Trong chính trị không có kẻ thù vĩnh viễn chỉ có lợi ích (quốc gia của mỗi bên) là không thay đổi&#8230; &#8220;</em>. Đây là những người không hề kể đến mối đau Việt Nam, vì &#8220;Việt Nam Cộng Hòa&#8221; hay &#8220;Việt Nam Cộng Sản&#8221; không là mối quan tâm của họ như trong lần Cố vấn an ninh quốc gia Kissinger bàn tính với Thủ tướng Châu Ân Lai ở năm 1972 về cục diện Đông Nam Á, thế trận toàn cầu. Và cuối cùng, nhân vật tên gọi Nguyển Tất Thành, Nguyễn Sinh Côn, Linov, Thầu Chín, Lão Vương, Hồ Quang, Nguyễn Ái Quốc, Hồ Chí Minh và những kẻ phụ tá, Trường Chinh, Lê Duẩn, Võ Giáp, Phạm Văn Đồng, Lê Đức Thọ… cùng một tập thể gồm những cá nhân thuộc tổ chức đảng cộng sản &#8211; Tập thể tuy gọi là người Việt này nhưng suy nghĩ, hành động theo chỉ đạo của tổ chức cộng sản quốc tế, cụ thể những nghị quyết xuất phát từ Mạc Tư Khoa và Bắc Kinh.</p>
<p>Kể từ Hội Nghị Thành Đô 1990 Bắc Kinh chiếm giữ độc quyền chỉ đạo Hà Nội, sau khi đảng và nhà nước cộng sản Liên Xô tan rã, 1991. Đồng thời trong quá trình tuân phục tổ chức quốc tế cộng sản, giới cầm quyền đảng, nhà nước cộng sản Việt Nam luôn áp dụng một phương cách, phương tiện, điều kiện,hoàn cảnh riêng để thực hiện cho bằng được mục tiêu: <em>&#8220;Bao nhiêu lợi quyền tất qua tay mình. Đấu tranh này là trận cuối cùng. Kết đoàn lại để ngày mai&#8230; Sẽ là xã hội tương lai..&#8221;.,</em> như bài hát Quốc Tế Ca kêu gọi thúc dục. Chỉ khác, nội dung bài hát được sáng tác năm 1870 từ lời thơ viết bởi trái tim cao thượng của Eugène Pottier (1816-1887), sau được Pierre Degeyter (1848-1932) phổ thành khúc ca hùng tráng thì quyền lợi hôm nay <em>không vào tay của giai cấp công nhân-nông dân</em> như lời tuyên truyền khuyến dụ của Karl Marx, Lenin, Stalin, Fidel Castro, Kim Nhật Thành, Mao Trạch Đông, Hồ Chí Minh khi khởi nghiệp bạo loạn, cướp chính quyền. Trái lại, hai giai cấp tiền phong này trở thành <em>thành phần cùng khổ, đọa đày nhất</em> với thực tế suốt một thế kỷ vừa qua và hiện nay. Công nhân, nhất là nông dân chiếm số lượng lớn trong tổng số 100 triệu người bị giết bởi những chế độ cộng sản Đông- Tây. Và giai cấp gọi là <em>&#8220;vô sản chuyên chính cầm quyền&#8221;</em> trở thành một loại <em>&#8220;tư bản đỏ/thái tử đảng&#8221;</em> &#8211; Hội đủ toàn phần những tính chất <em>&#8220;tàn bạo/bóc lột/phản động/lạc hậu/độc đoán/tham lam/ích kỷ..&#8221;.</em> của tất cả những chế độ, cá nhân độc tài cầm quyền mà lịch sử nhân loại hẳng chứng kiến. Tập đoàn những <em>cá nhân &#8211; gia tộc-phườnghội-bè đảng</em> hiện đang ở Bắc Kinh, Hà Nội, Bình Nhưỡng, La Havana&#8230; Putin, kẻ cầm quyền hiện tại nơi nước Nga cũng là một sản phẩm của thứ loại cầm quyền này chứ không thể ai khác. Chúng ta hãy xem người cộng sản Việt Nam đoạt quyền/thu lợi/chiếm giữ vị thế như thế nào.</p>
<p>Cần nhắc lại sự kiện, được sự đồng ý của Quốc Tế Cộng Sản, Tháng 12, 1945, Hồ Chí Minh giải tán Đảng Cộng Sản Đông Dương, tức tiền thân của đảng cộng sản Việt Nam. Đồng thời tuyên bố kết thúc tờ báo đầu tiên của đảng, báo Cờ Giải Phóng. Tiếp theo, đảng (<em>đã rút vào bí mật</em>) cho ra báo Sự Thật, tiếp là Nhân Dân để thay thế. Đây là tờ báo mà Trần Đĩnh hãnh diện kể lại là một trong ba người biên tập đầu tiên, lúc mới qua tuổi 20 (Trần Đĩnh sinh năm 1930). Mối hãnh diện mà nay viết lại sau hơn nửa thế kỷ vẫn còn nguyên cảm xúc <em>&#8220;</em>&#8230;<em>Cái gì còn lại của bài học Tổng bí thư </em>(Trường Chinh)<em>trực tiếp buổi ngu ngơ nhập môn… Tinh thần được nhìn, phê phán, xây dựng y như Tổng bí thư&#8221;</em> (Đèn Cù, trg 23)<em>.</em> Báo Sự Thật hay báo Nhân Dân thay thế sau này giữ vai trò quan trọng tương tự như các báo chính thức của đảng cộng sản Liên Xô, Trung Cộng cho đến hôm nay, Thế Kỷ 21.</p>
<p>Báo Nhân Dân với ba thành viên cốt cán đầu tiên gồm Trường Chinh, Hoàng Tùng, Trần Đĩnh còn có một cây bút ần danh khác&#8230; <em>&#8220;Có lẽ để phối hợp với bài báo của tôi </em>(Trần Đĩnh), <em>CB (bí danh của Bác Hồ) gởi đến bài &#8220;Địa chủ ác ghê&#8221; có nội dung: Thánh hiền dạy rằng: &#8220;Vi phú bất nhân&#8221;. Ai cũng biết rằng địac chủ thì ác: như bóc lột nhân dân, tô cao lãi nặng, chây lười thuế khoa -thế thôi. Nào ngờ có bọn địa chủ giết người không nháy mắt. Đây là một thí dụ: Mụ địa chủ Cát-Hanh-Long cùng hai đứa con và mấy tên lâu la đã kể các tội cụ thể và con số cụ thể (Đèn Cù, trg 85)</em>. Trần Đĩnh đã kể lại chính xác hành vi, bút phê, chữ ký của Hồ Chí Minh khi quyết định giết bà Nguyễn Thị Năm (Cát-Hanh-Long<em>), </em>là người chủ gia đình đã đón bản thân Hồ Chí Minh và đám cán bộ trung ương Việt Minh cộng sản về trú ngụ tại nhà bà ở Hà Nội trong những ngày tháng 8, tháng 9, 1945 trước khi Hồ khai sinh nhà nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa ngày 2 Tháng 9, 1945.</p>
<p>Bà Nguyễn Thị Năm không phải &#8220;được chết oan&#8221; một cách yên lành nhưng với cảnh kinh hoàng&#8230; <em>&#8220;Khi du kích đến đưa bà đi, bà ta đã cảm thấy như có sự gì nên cứ van lạy &#8220;các anh làm gì thì bảo em trước để em còn tụng kinh..&#8221;.. Bà ta vừa quay người thì mấy loạt đạn tiểu liê nổ sát lưng&#8230; Mua áo áo quan được thì không cho bà ta vào lọt. Du kích mấy người bèn đặt bà ta lên miện cổ áo quan rồi nhảy lên vừa giẫm vừa hô: &#8220;chết rồi còn ngoan cố này..&#8221;.. Nghe xương kêu răng rắc&#8230; Cuối cùng bà ta cũng vào lọt, nằm vẹo vọ như con rối vậy..&#8221;.</em> (Đèn Cù, trg 86).</p>
<p>Bà Nguyễn Thị Năm không bị thanh toán một mình, con bà&#8230; <em>&#8220;Chính ủy Công, Trung đoàn pháo 105 ly đang học ở Côn Minh, Trung Quốc </em>(Bài báo trên của CB (Hồ Chí Minh) có nhắc đến trường hợp Chính ủy Công)<em>bị điệu về cùng mẹ chịu đấu tố, nhưng &#8220;nghe nói&#8221; không được chứng kiến vụ chôn cất mẹ&#8221; </em>(Theo cách man rợ kể trên -pnn) (Đèn Cù, trg86). Sợ rằng viết như thế chưa trình bày đủ khả năng/quyền giết người của Hồ Chí Minh, Trần Đĩnh viết rõ hơn&#8230; <em>&#8220;Sở dĩ báo chí báo chí không dự đấu là vì giữ bí mật, ngại Đồng Bẩm cách Hà Nội vài chục cây số đường chim bay, Pháp có thể nhảy dù xuống đó. Cụ Hồ bịt râu đến dự một buổi và Trường chinh thì đeo kính râm suốt&#8221; </em>(Đèn Cù, trg 84).</p>
<p>Giết bà Nguyễn Thị Năm, (Ân nhân lớn của đảng nhà nước cộng sản khi đang trong hoạt động bí mật) không phải chỉ do hành vi đơn lẻ của một đội cải cách ruộng đất, nhưng là một sách lược chung được chỉ đạo nhất quán từ quyền giết người của Hồ Chí Minh&#8230; <em>&#8220;Tôi</em>(Trần Đĩnh)<em>đọc lại danh sách những người bị tuyên án tử hình do các đoàn ủy thí điểm giảm tô trong Thanh-Nghệ gửi lên Cụ Hồ đề duyệt ân xá. Mỗi bản gồm tên bảy tám con người khốn khổ&#8221;</em> (Đèn Cù, trg 90). Nhưng Hồ Chí Minh thật ra cũng chỉ là kẻ thi hành vì: <em>&#8220;Hoàng Tùng </em>(Biên tập/Tổng biên tập Nhân Dân (1951-1982); Ủy viên BCH/TUĐ (1976-82) -Pnn) <em>hồi ký: &#8220;&#8230;Mùa hè năm 1952 Mao Trạch Đông và Stalin gọi Bác sang, nhất định bắt phải cải cách ruộng đất. Sau thấy không thể từ chối được nữa Bác mới quyết định phải thực hiện… Họ muốn qua cải cách ruộng đất để &#8220;chỉnh đốn&#8221; lại Đảng ta. Thời gian từ lúc tiến hành cải cách ruộng đất đến lúc dừng là 3 năm&#8221; </em>(Trích đăng từ hối ký Hoàng Tùng &#8220;Vài chuyện về Bác Hồ với Trung quốc -Pnn<em>). &#8220;Trung quốc đã rắp tâm đưa đảng cộng sản Việt Nam vào qũy đạo của Trung quốc như bóng với hình&#8221; </em>(Đèn Cù, trg 95).</p>
<p>Cuối cùng, sợ rằng viết rõ như trên sẽ làm sứt mẻ đến <em>&#8220;uy tín, đạo đức của bác Hồ&#8221;</em>, Trần Đĩnh biện hộ mập mờ quanh quẩn: <em>&#8220;Trong hồi ký nói về mười nỗi buồn của Bác Hồ, viết bác không tán thành đấu Nguyễn Thị Năm&#8221; </em>(Đèn Cù, 85).</p>
<p>Đến đây chúng ta có thể kết luận không sợ sai lầm: Chính Hồ Chí Minh chứ không ai khác là tác nhân xây dựng/lãnh đạo/điều hành toàn diện các kế hoạch của đảng cộng sản Việt Nam từ ngày thành hình 1930 qua các giai đoạn cao trào cũng như thoái trào của tổ chức chính trị bạo lực này. Tiến trình này hiện thực cụ thể trong chiến dịch cải cách ruộng đất khởi động từ 1953 đến năm 1956 như trên đã đề cập với những nhân sự điển hình: <em>&#8220;Phá đảng lừng danh quân Đặng Thí. Giết người khét tiếng gã Chu Biên&#8221; </em>(Đèn Cù, trg 111). Những tên sát nhân thành danh này không hề bị trừng phạt, trái lại được tưởng thưởng do công lao xây dựng chế độ với thành tích: &#8220;<em>Chu Văn Biên, bí thư đoàn ủy cải cách ruộng đất Nghệ-Tĩnh, bắt ghế ngồi trên thềm cao chỉ tay vào mặt mẹ đẻ chấp tay đứng dưới sân gằn giọng&#8230;Tao với mi khôn gmẹ không con mà chỉ là kẻ thù giai cấp của nhau. Tao có phận sự tiêu diệt mi&#8230; Chu Biên được đề bạt thứ trưởng nông nghiệp do&#8221;nhiệt tình cách mạng&#8221; </em>(Đèn Cù, trg111)<em>. </em>Và Đặng Thí được đề cử vào BCH/TUĐ khóa 1967-1982 cùng với Hoàng Tùng, đồng nghiệp, đồng chí thân thiết của Trần Đĩnh trong ban biên tập báo Nhân Dân từ 1951.</p>
<p>Thế nên những giọt nước mắt của Hồ Chí Minh trong lần khóc lóc nhận lỗi trước dân chúng miền Bắc vào ngày 18 tháng 8 năm 1956 không đủ đề xóa mờ tội ác đối với những người chỉ sở hữu 0,65 hécta đất! Hitler, Himmler thậm chí đến Rudolf Höss, chỉ huy trưởng trại hành quyết Auschwitz không hề bóp cò súng hay bấm nút lò hơi ngạt để giết một ai, nhưng đích thực là những thủ phạm tội ác diệt chủng 6 triệu người Do Thái. Cũng thế, Hồ Chí Minh, Trường Chinh, Lê Duẩn, Võ Nguyên Giáp, Lê Duẩn&#8230; tất cả tập đoàn bộ chính trị đảng cộng sản Việt Nam là thủ phạm lần tàn sát tập thể dân chúng Việt Nam một cách có hệ thống kể từ ngày đảng cộng sản thành lập. Quá trình tàn sát được thực hiện qua những cao điểm: Cải cách ruộng đất 1953-1956 ở Miền Bắc; Mậu Thân Huế, 1968; Đại Lộ Kinh Hoàng, Quảng Trị 1972&#8230; Và mỗi thước đất, mỗi làng xóm, thị trấn, thành phố của miền Nam dài theo chiến dịch Hồ Chí Minh khởi đi từ 10 tháng 3, 1975 với cuộc tấn công Ban Mê Thuộc. &#8220;<em>Tội Ác-Đảng Cộng Sản</em>&#8221; không ngừng lại tại Ngày 30 Tháng Tư, 1975 với 600.000 người Việt chết trên đường vượt biên, vượt biển bởi kế hoạch <em>&#8220;công an tổ chức vượt biên/cộng an bán bãi vượt biên/công an tàn sát vượt biên&#8221;</em>. Tội ác diệt chủng này được thực hiện bởi một &#8220;sợi chỉ hồng xuyên suốt&#8221;: Hồ Chí Minh.</p>
<p>Và tội ác <em>có hệ thống/được chỉ đạo</em> kể trên được lập lại với hình thức và đối tượng thụ nạn khác trong đợt <em>&#8220;Cải Cách Công Thương Nghiệp miền Bắc&#8221;</em> tại hai năm 1958-1960. Đây cũng là tiền đề &#8220;<em>Chiến dịch cướp giật cấp nhà nước&#8221; </em>đối với miền Nam sau khi đợt tiến công quân sự/Chiến dịch Hồ Chí Minh kết thúc tại Ngày 30 Tháng 4, 1975. Và hiện tại là bước cuối cùng &#8211; Chiếm đoạt Quyền Sống của 90 triệu người dân Việt &#8211; Toàn khối dân chúng bị xóa bỏ quyền sở hữu đất đai trên khu đất, nhà ở từ trăm năm trước do tổ tiên để lại. Tất cả tội ác hôm nay chỉ là hệ quả tất yếu sau lần đoạt chiếm Miền Nam với cuộc xâm lăng ngụy danh chiến tranh giải phóng (1960-1975). Cuộc chiến mà Trần Đĩnh đã tích cực hãnh diện dự phần nay cố tâm làm nhẹ tội đối với Hồ Chí Minh, Trường Chinh &#8211; Những người Trần Đĩnh vẫn còn &#8220;<em>nặng tình</em>&#8221; khi viết Đèn Cù gần 40 năm sau lần đoạt chiếm miền Nam cho dẫu có lúc ông nói thật: &#8220;<em>Bởi vì gần suốt cuộc đời viết, lách tôi đã tự nguyện làm thủ phạm tàn phá trước hết vào chính ngay mình&#8221;</em>.</p>
<p>Trần Đĩnh nói thật nhưng chưa đủ. Phải nói như Nguyễn Chí Thiện: <em>&#8220;Tôi biết nó! Thằng nói câu nói đó! Tôi biết nó! Đồng bào miền Bắc biết nó! &#8220;. </em>Lời buộc tội phải tuyên cáo cùng thế giới, với dân tộc cụ thể sau Mậu Thân, 1968 khi Hồ Chí Minh ban lệnh tiến công giết dân miền Nam<em>: &#8220;Xuân này hơn hẳn mấy Xuân qua. Thắng lợi tin vui khắp mọi nhà. Nam Bắc thi đua diệt giặc Mỹ. Tiến lên toàn thắng ắt về ta!&#8221;.</em></p>
<p>Trần Đĩnh không nói lên lời &#8220;<strong>PHẢI NÓI</strong>&#8221; này, ông khôn khéo chạy tội cho Hồ: <em>&#8220;Luận điểm của Lê Duẩn&#8230; Cho là cụ Hồ đứt gánh giữa đưởng! Ở Đại Hội 3 </em>(9/1960- Pnn)<em>để những người gắn bó với Nam Bộ, Trung Bộ như Lê Duẩn, Nguyễn Chí Thanh, Phạm Hùng&#8230;v.v vào Bộ Chính Trị đông là Cụ (</em>luôn được Trần Đĩnh viết hoa &#8211; Pnn<em>) muốn bày tỏ ý gửi gắm công cuộc giải phóng miền Nam cho họ… Phải nhận là từ tuyên bố Hồ-Notvotny </em>(?)<em>đến việc không biểu quyết ở Hội Nghị 9 (</em>Hội nghị trung ương đảng 9 quyết định đánh miền Nam bằng vũ lực, 1960 &#8211; Pnn<em>), Ông Cụ nhất quán về quan điểm </em>(Quan điểm &#8220;Chung Sống Hòa Bình của Khruschev/Không gây chiến tranh miền Nam (?!) &#8211; Pnn)(Đèn Cù, Trg 253).</p>
<p>Bắt đầu viết năm từ 1990 để năm 2014 có được những giòng chữ <em>&#8220;khôn ngoan/sáng suốt/thành thực&#8221;</em> như trên kể ra quá muộn và quá nhẹ đối với &#8220;Tội Diệt Chủng/Hồ Chí Minh &#8211; Tội ác thấm máu chính ông già vợ của Trần Đĩnh và bao nhiêu nước mắt, mạng sống từ thân tộc, đồng bào của ông &#8211; Nhà văn Trần Đĩnh.</p>
<p><strong>Ba: Mao &#8220;nhều&#8221;/Mao &#8220;ít&#8221;</strong></p>
<p>Sau thời gian viết loạt bài Một và Hai về cuốn Đèn Cù. Người viết phải tạm ngừng vì lần ra đi của Người Bạn Nguyễn Xuân Hoàng &#8211; Nhân dáng điển hình Kẻ Sĩ Miền Nam trước, sau 1975 ở trong nước, nơi hải ngoại. Người Bạn không lớn vì văn nghiệp-Văn nghiệp là gì khi con người đối diện cánh cửa tử/sinh với cơn đau cào xé từng tế bào nhỏ bị nhiễm độc?! Người Bạn cũng không lớn do quá trình đã đào tạo những thế hệ môn sinh, cao đồ lẫy lừng danh tính. Không, Bạn Chúng Ta &#8211; Nguyễn Xuân Hoàng là điển hình mẫu mực của Những Thế Hệ/Một Thế Hệ/Kẻ Sĩ Miền Nam. Thế hệ với những con người bình thường <em>dạy học/viết văn/làm báo với một tấm lòng</em> <em>chân thực</em> trong giai đoạn 1954-1975 ở trong nước, và sau ra hải ngoại khi đã gánh chịu đủ tháng năm dài tù ngục không án lệnh/không tội danh từ chế độ gọi là xã hội chủ nghĩa. Một chế độ mà hiện nay được cuốn Đèn Cù của Trần Đỉnh đốt lên một phần ánh sáng chiếu rọi. Nhưng thật ra chỉ là ánh sáng nhập nhằng lẫn quẩn của một cây đèn cù xoay quanh một trục <em>Sự Thật Giả</em>. Cũng vô tình, lần ra đi của Nhà Giáo/Nhà Văn/Nhà Báo Nguyễn Xuân Hoàng làm rõ ràng, chính xác thêm khi so sánh Thật/Giả- Nam/Bắc. Chúng tôi tiếp tục chứng minh.</p>
<p>Với lối hành văn của một người viết báo, viết sách chuyên nghiệp từ 1951, Trần Đĩnh dựng nên thế giới bát nháo xoay vòng như cây Đèn Cù của xã hội tệ hại, ác độc từ miền Bắc nói chung, của tập đoàn cầm quyền, giới viết văn làm báo Hà Nội trước 1975, của cả nước sau 1975. Đấy là lối hành văn tuyên truyền chính trị dùng để viết báo Nhân Dân cơ quan ngôn luận trung ương đảng cộng sản; lối viết sách hô hào chiến đấu gọi là chống thực dân Pháp trước 1954 (cuốn Bất Khuất/Trần Đỉnh (?); những chữ nghĩa gọi là chống đế quốc Mỹ trước 1975; chống Ngụy Quân-Ngụy Quyền kể cả sau ngày 30 tháng 4, 1975. Loại sách, báo có lời văn và nội dung sau này được những &#8220;liệt sĩ&#8221; Đặng Thùy Trâm, Nguyễn Văn Thạc&#8230; lấy làm khuôn mẫu viết nên những lời khí thế: <em>&#8220;Thằng Mỹ như thế nào? Tôi muốn đâm lưỡi dao vào trái tim đen đúa của nó&#8230; </em>Nguyễn Văn Thạc. <em>Mãi Mãi Tuổi Hai Mươi</em>. NXB Thanh Niên, Việt Nam, 2005<em>&#8220;</em>.</p>
<p>Tuy nhiên khác hơn đám văn công máu me được khai sinh từ Hội Nhà Văn Hà Nội/Hội Nhà Văn Việt Nam sau 1975, Trần Đĩnh cao hơn vì ông được dẫn dắt vào nghề viết bởi Tổng Bí Thư Trường Chinh, Đặng Xuân Khu, tay lý luận hàng đầu của đảng cộng sản Việt Nam. Tổng bí thư TC &#8220;giáo dục&#8221; anh thanh niên 21 tuổi Trần Đĩnh: <em>&#8220;Làm báo phải phát hiện vấn đề. Đề xuất ý kiến&#8230; Trường Chinh cầm bút giập đi chữ &#8220;nhật&#8221; thừa </em>(Của bài xã luận có tiêu đề &#8220;Nhân ngày sinh nhật của Hồ Chủ Tịch&#8221;-Pnn)<em>rồi kéo từ đó ra ngoài lề bằng một đường thẳng mà anh cho tận cùng bằng một ốc sên, nói&#8230; Chữ tắt này là chữ &#8220;d&#8221; của deleitur, tiếng La-tinh có nghĩa là xóa… Còn gì của bài học Tổng bí thư trực tiếp dạy tôi buổi ngu ngơ nhập môn? Tinh thần không sùng bái, tinh thần được nhìn, phê phán xây dựng y như Tổng bí thư</em>&#8230;(Đèn Cù, Trg 23).</p>
<p>Trời đất! Cho phép chúng tôi được kể ra một so sánh&#8230; Bài học nhập môn của Tổng bí thư Trường Chinh dạy nhà văn/nhà báo trụ cột Trần Đĩnh là <em>việc làm hằng ngày</em> của thợ sắp chữ (thường lả trẻ vị thành niên) và giới thầy cò của các báo và nhà sách ở Sài gòn, nơi Miền Nam trước 1975. Hoạt động này được xem như một nghề thủ công/sửa bản vỗ cho nhà in trước khi đem đi đăng báo, in thành sách. Đám trẻ thợ sắp chữ và giới thầy cò Sàigòn không hề cần đến một ông thầy gọi là tổng bí thư đảng cộng sản.</p>
<p>Trở lại với Trần Đĩnh, từ buổi đầu &#8220;ngu ngơ&#8221; (<em>chữ của Trần Đĩnh</em>), ông tiến nhanh trên nghiệp vụ, trở nên là người thân cận <em>(thân cận nhất</em>) của tập thể nhân sự cầm đầu đảng cộng sản&#8230; Ông nghe tận tai lời của Trường Chinh (Nhân vật &#8220;ấn tượng&#8221; của Trần Đĩnh suốt một đời dài cho dến hôm nay) nói về sinh hoạt tính dục của bản thân <em>&#8220;</em>&#8230; <em>thì cũng dặn sách vở giáo điều thế thôi, chứ tôi ấy, mai bà Minh đây </em>(chỉ bà vợ)<em>đẻ, tối nay tôi vẫn jusqu’au bout &#8211; đến cùng&#8230;&#8221;. (Đèn Cù, trg 26). </em>Ông được chứng kiến và nghe kể trực tiếp từ người trong cuộc: <em>&#8221; Một dạo Phan Kế An ngày ngày đến vẽ Cụ Hồ. Một chiều về sớm hơn, An nói: À cái P.M. (Phương Mai) tự nhiên mang ba lô chăn chiếu đến chỗ Ông Cụ, tớ được xua về sớm&#8230;&#8221;. (Đèn Cù, trg30</em>). Trần Đĩnh còn đem chuyện riêng tư ăn nằm với phụ nữ của Hồ Chí Minh ra kể lại công khai để bảo đảm tính cách thân thích/chính xác đối với lãnh tụ &#8220;&#8230;<em>Ông Bác chỉ tìm nạ dòng. &#8220;Sao lại thế&#8221;. Thấy Bác dại chúng tôi kêu lên. Thì được giải thích. &#8220;Thế là Bác khôn. Nạ dòng thì đỡ rầy rà hậu sự&#8221; </em>(Đèn Cù, trg32).</p>
<p>Những chuyện &#8221; bí mật/phòng the&#8221; của Hồ Chí Minh, Trường Chinh dẫu đã được Trần Đĩnh trình bày dưới những góc cạnh &#8220;thật thà&#8221; như trên vẫn chưa đủ để dựng nên cảnh tượng trân tráo của &#8220;đèn cù cộng sản Hà Nội&#8221;. Trần Đĩnh gắn thêm những con rối khác: Trước tiên là Tố Hữu, đệ nhất văn công của chế độ. Đây là nhân sự nhờ đã viết những vần thơ rừng rực &#8220;<em>thi khí</em>&#8221; (Mượn chữ &#8220;<em>văn khí</em>&#8221; từ Ngô Nhân Dụng/Báo Người Việt khi tán tụng Trần Đĩnh) nên đã lên chức phó chủ tịch Hội đồng bộ trưởng (phó thủ tướng) đảm trách nông nghiệp khiến dẫn đến tình cảnh cả nước gần chết đói sau 1975 khi đã tịch thu hết lúa gạo miền Nam trả nợ cho Tàu. Tố Hữu bị mất uy tín vì vai trò <em>&#8220;nhà (làm) thơ (lại) đi làm kinh tế (trật)&#8221;</em> qua những vụ khủng hoảng tiền tệ (1985), cải cách nông nghiệp (1981) nên bị miễn nhiệm mọi chức vụ, chỉ còn làm một chức nghiên cứu hình thức hờ. Tuy nhiên &#8220;thi khí&#8221; của Tố Hữu vẫn luôn luôn &#8220;cực kỳ&#8221; với những chữ/nghĩa mà Trần Đĩnh trong nhiều trang sách không dấu sự ghen ghét/ganh tỵ nên liệt Tố Hữu vào loại &#8220;Mao nhều&#8221; nặng nề nhất (sẽ nói rõ thêm về &#8220;Mao nhều&#8221; ở đoạn sau).</p>
<p>Năm 1953, Tố Hữu khi chưa là &#8220;Mao nhều&#8221; đã có màn kêu khóc: <em>&#8220;Ông Stalin ơi! Ông Stalin ơi! Thương cha, thương mẹ, thương chồng. Thương mình thương một. Thương ông thương mười!&#8221;</em> để ngợi ca tên sát nhân thấm máu 20 triệu dân Nga và các sắc dân thuộc Liên Bang Sô Viết chết. Tố Hữu không khóc một mình, y có &#8220;đồng chí/bác vĩ đại&#8221; đồng tế: <em>&#8220;</em>&#8230;<em>Một tối kẻng thình lình gọi toàn thể lên hội trường&#8230; Thì Tố Hữu ủ rũ đi vào theo sau là cụ Hồ. tôi bỏ chỗ leo ngồi đàng sau lưng ông Cụ&#8230; Tố Hữu bước lên sân khấu, cầm đè lên hai tay bưng một vật gì ấp vào ngực&#8230; Tố Hữu mới từ từ quay lại nước mắt chan hòa trên mặt từ lúc nào. Trên phông màn đò hiện nên chân dung đại nguyên soái Stalin&#8230; Tôi thấy bàng hoàng hơn là đau buồn&#8230; Tôi vẫn bị khó chịu vì cái cảnh &#8220;đánh đố loài người&#8221; của Tố Hữu. Ông ấy hình như tranh hơn thiên hạ </em>(cụ thể là hơn &#8220;tôi&#8221; đang ngồi sau lưng Cụ! Trần Đĩnh) <em>cả ở chỗ được biết sớm hơn hung tin, do đó được ưu tiên đau xót trước </em>(Tội nặng hơn nữa là trước cả &#8220;tôi&#8221; đang ngồi sau lưng Cụ! Trần Đĩnh)<em>. Trước mặt tôi. Cụ Hồ nức nở. Không ngừng đưa khăn tay màu trắng lên lau nước mắt. Và nước mắt thì cứ chảy trên hai má Cụ đỏ bóng, vì khóc, vì xúc động&#8221; </em>(Đèn Cù, trg 73-74).</p>
<p>Mấy năm sau, &#8220;thi khí&#8221; của Tố Hữu (khi đã bắt đầu thành Mao &#8220;nhều&#8221;) vượt biên giới Xô Viết, chuyển qua Trung Quốc với: <em>&#8220;Mao Trạch Đông! Mao Trạch Đông! Tôi đã thấy: Dáng người cao lồng lộng. Đẹp như một ngọn cờ hồng. Trên mặt người. Mặt đất mênh mông&#8221;. </em>Hoặc:<em>&#8220;Bác Mao tuy ở rất xa. Bác Hổ ta đó ấy là Bác Mao&#8221;. </em>Hay<em>: &#8220;Bên đây biên giới là nhà. Bên kia biên giới cũng là quê hương&#8221; </em>(Đèn Cù, trg 233)<em>. </em>Thơ như thế quả thật rất xứng đáng với thành tích giết 50 triệu người Hoa (Có thể cao hơn nữa, tài liệu của nhà nghiên cứu Trung Hoa, Stuart Schram nêu ra con số 70 triệu -Pnn). Tệ hại hơn, Tố Hữu được Trần Đĩnh mô tả dưới dạng tướng, tầm tầm, vụn vặt <em>&#8220;</em>&#8230;<em>Tố Hữu một trưa dậy ra suối giặt quần đùi&#8230; Ca cẩm với Kim Lân&#8230; Xuân Diệu nó mó máy mà tuột bu nó mất xích, mệt quá! Mà hai hôm nay lại ăn toàn cơm với măng </em>(Đèn Cù, Trg 32)<em>. </em>Hoặc cảnh ăn thịt chó của những tay đầu sõ, lẽ tất nhiên có mặt Trần Đĩnh vì bữa thịt chó là do tiền ăn mừng thành tích viết xong tiểu sử Hồ Chí Minh mà Trần Đĩnh được đến 400 đồng trong tổng số 900 đồng nhuận bút (Vàng 16 Đồng/Một chỉ). &#8220;&#8230;<em>Mừng tiểu sử chính thức của Hồ Chủ tịch ra đời, Tố Hữu khao một bữa thịt chó thịnh soạn tại nhà&#8230; Tố Hữu còn mời Nguyễn Chí Thanh (Thao) và Hoàng Tùng (</em>Tổng biên tập lâu nhất của báo Nhân Dân (1954-1982); Tùng cũng là một &#8220;Mao nhều&#8221; được Trần Đĩnhĩnh &#8220;luộc&#8221; rất kỹ. Dẫu Tùng là đồng nghiệp/đồng sự với Đĩnh từ 1951-Pnn<em>). </em>(Đèn Cù, trg172). Bữa tiệc thịt chó được mô tả sống động qua những trao đổi thủ thỉ ân tình &#8220;&#8230;<em>Thao Thao (NcThanh) đưa Lành (Tố Hữu) chai dấm&#8230; Lành, Lành đưa Thao chai vang&#8230; </em>(Đèn Cù, trg 173). Cũng bởi Thanh là đối thủ của Giáp (gốc cộng sản Bắc Kỳ, có học đại học, cánh của Trần Đĩnhĩnh -Pnn) nên bị Đĩnh khinh thường xếp vào loại &#8220;Mao nhều&#8221; với những đặc chất: &#8220;&#8230; <em>Thao (NCThanh) đã luận thuyết hào hứng về thiên tài bếp núp dân tộc- đã thịt chó thì nhất định phải thằng bún đi với thằng mắm tôm&#8230; Về chính trị, Thanh nghe Bắc Kinh nồng nhiệt hơn Giáp. Và ít ra lý lịch (của Thanh) không dính đến đại học&#8221;</em> (Đèn Cù, trg 173). Nhưng Nguyễn Chí Thanh (<em>ông tướng nông dân/chỉ thiếu chữ &#8220;vô học&#8221;- Cách Trần Đĩnh gọi NcThanh- Pnn</em>) ngoài khả năng uống sâm banh Moet &amp; Chandon, ăn thịt chó, Thanh còn có những khả năng đa dạng khác&#8230; Với những chức vụ quan trọng như Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội miền Bắc (1950); Bí thư Trung ương Cục miền Nam, kiêm Chính ủy Quân Giải phóng miền Nam (1965-1967) (bị thanh toán, không rõ nguyên nhân và thủ phạm, ngày 6 tháng 7, 1967 tại Hà Nội)&#8230; Viên tướng gốc nông dân này phát động chiến dịch: &#8220;&#8230;<em>Đánh phá ác liệt tiểu thuyết &#8220;Phá Vây&#8221; của Phù Thăng vì có câu: &#8220;Hòa bình là nguyện ước của vạn vạn con người&#8221; rồi tiểu thuyết &#8220;Vào Đời&#8221; của nhà văn quân đội Hà Minh Tuân..&#8221;. </em>(Đèn Cù, trg 234-235). Không chỉ chỉ đạo sâu sắc trong mặt trận văn hóa/tư tưởng, nhân vật được mệnh danh &#8220;<em>con người của những đột phá</em>&#8220;, mang quân hàm đại tướng, Nguyễn Chí Thanh còn nâng cao khả năng lãnh đạo/nhận thức lên một tầm vóc mới: <em>&#8220;Năm 1963, Nguyễn</em> <em>Chí Thanh có bài đăng trang nhất của báo Nhân Dân (</em>Nhắc lại, Thanh là &#8220;ông tướng nông dân&#8221; theo cách đánh giá của Trần Đĩnh, nói trắng ra là đồ &#8220;vô học&#8221;- Pnn<em>) kêu gọi tiết kiệm lương thực&#8230; Biện pháp duy nhất là bóp miệng lại. Thanh nay liệt bún vào bảng xa xỉ phẩm. Viết hẳn: Tại sao phải ăn bún! </em>(Đèn Cù, trg 235). Cũng nên nhắc lại: Khi ăn thịt chó nhà Tố Hũu, chính Thanh đã một lần hùng hồn ca ngợi: <em>&#8220;</em>&#8230; <em>Thao (NCThanh) đã luận thuyết hào hứng về thiên tài bếp núp dân tộc- đã thịt chó thì nhất định phải <strong>thằng bún</strong> đi với thằng mắm tôm..&#8221;.</em> (Đèn Cù, trg 173). Tóm lại theo quan điểm chính trị sáng tạo của viên đại tướng quân đội nhân dân thì <em>&#8220;thằng bún&#8221;</em> đã tiếp tay cho Mỹ-Ngụy, là thủ phạm phá hoại nền kinh tế xã hộ chủ nghĩa! Tại sao Tướng Thanh mắc phải quan điểm tả khuynh sai trái như vậy? Trần Đĩnh gom chung vào một bọc &#8211; <em>Bọn &#8220;Mao nhều&#8221;</em> &#8211; Thủ phạm chính của bi kịch Việt Nam!</p>
<p>Sự sáng suốt của Trần Đĩnh sau này được Như Phong &#8220;<em>Là cựu Văn Hóa Cứu Quốc nhưng nay cũng đang ở danh sách, những người mê Mao, sùng bái Mao, Mao &#8220;nhều&#8221;&#8230; Cuối những năm 70, chính anh đã bảo tôi: Mầy nhìn rõ lão Mao rất đúng và rất sớm </em>(Đèn Cù, trg 235).</p>
<p>Đến đây, chúng ta có thể kết luận về <em>&#8220;Phát hiện Mao nhều/Trụ cột của Đèn Cù&#8221;</em> của Trần Đĩnh và những tác động hậu quả, hệ quả của nó tại ngày trước và hôm nay.</p>
<p><strong>Kết Luận: Đèn Cù- Bi kịch của một cọng lông trong bãi máu!</strong></p>
<p>Sau ba bài viết căn cứ từ chữ nghĩa của Trần Đĩnh (<em>của chính Trần Đĩnh viết về mình và về người</em>)&#8230; Người viết có thể khẳng định với lương tâm/lương tri/lương năng của một người đã đi trọn con đường khổ nạn/Cùng về một phía những người khổ nạn &#8211; Tử khi khởi đầu câu chuyện/Cũng là thời điểm (thập niên 50) Trần Đĩnh bắt đầu viết báo Nhân Dân do dẫn dắt của Tổng Bí thư Trường Chinh. Người viết xác định thêm một lần: Viết từ phía của <em>Nạn Nhân Cộng Sản</em>. Và Trần Đĩnh (cho đến năm 2014 này/năm phát hành cuốn sách) vẫn luôn luôn là một <em>Người Cộng Sản/Người Cộng Sản Phản Tỉnh </em>(nếu muốn nói rõ hơn) &#8211; Tức là nhân tố của tập thể /tổ chức chính trị bạo lực gọi là Đảng Cộng Sản Việt Nam &#8211; Tác nhân chính đã gây nên tai họa vô tận/không cùng/không thể chấm dứt/không cách giài quyết của toàn bộ Việt Nam (Không phân biệt Cộng Hòa/Cộng Sản; Bắc/Nam; Trước/Sau 1945; 1954; 1968; 1975 ). Người viết minh chứng điều xác quyết này.</p>
<p>Từ tiền đề kể trên, những phát hiện gọi là &#8220;Mao Nhều/Mao nhuần/Mao thuần..&#8221;. của Trần Đĩnh trãi dài trong nhiều trang sách đối với Tố Hữu, hoặc đám ủy viên trung ương giữ chức tổng biên tập Báo Nhân Dân, cơ quan ngôn luận trung ương đảng cộng sản từ 1951 như Trần Quang Huy; Vũ Tuân; Hoàng Tùng; Hồng Hà; Hà Đăng; Hữu Thọ; Hồng Vinh; Đinh Thế Huynh; cho đến tên tuổi mới nổi từ 2011 là Thuận Hữu, một nhà thơ không ai đọc, một tác giả không ai biết&#8230;vv. Những công thần/thợ viết báo (đảng) nên danh phận này góp một mẫu số chung về tính chất &#8220;Mao nhều&#8221; chất nặng.</p>
<p>&#8220;Mao nhều&#8221; của Trần Đĩnh cũng không loại bỏ Nguyễn Chí Thanh, viên đại tướng có khả năng uống champagne và ăn thịt chó; viên đại tướng gốc nông dân có khả năng đặt vấn đề &#8220;lớn&#8221;: Tại sao phải ăn bún! Và tướng Thanh dẫu có &#8220;Mao nhều /hay/Mao ít&#8221; cuối cùng phải tắc tử vì: <em>&#8220;&#8230; Nguyễn Chí Thanh đại diện cho phái tả&#8221; chết trước Tết Mậu Thân nửa năm là giọt nước làm tràn li. Thanh chết mồng 6 thì 28 tháng 7 -1967 bắt bốn xét lại đầu tiên trong đó có Hoàng Minh Chính, Hoàng thế dũng, Trần Châu (anh của Đĩnh), Phạm Viết&#8230; </em>(Đèn Cù, trg 320).</p>
<p>Nguyễn Chí Thanh/Phái Tả/&#8221;Mao nhều&#8221; bị thanh toán tháng 7/67 thì Võ Giáp/Phái Hữu/&#8221;Mao (không) nhều/Cánh &#8220;xét lại&#8221; của Đĩnh <em>&#8220;</em>&#8230;<em>Tháng 9 Giáp thình lình đi Bastislava dưỡng bệnh &#8211; Cuộc xa xứ này là đền bù vào sự vắng mặt mãi mãi của Nguyễn chí Thanh &#8211; Lê Đức Thọ vào quân ủy trung ương, thế lực Thọ hùng mạnh lên nhiều </em>(Đèn Cù, trg 320).</p>
<p>Như thế là thế nào? Mao &#8220;nhều&#8221;/Mao ít/Mao (không) nhều/Xét lại&#8230; cuối cùng tất cả đều bị tắc tử, ngồi tù, đi chữa bệnh&#8230; Không loại trừ &#8220;ông bác&#8221; bị tống qua Tàu ngay trong dịp Tết Mậu Thân. Chúng ta hãy xem lại tình cảnh: <em>&#8220;</em>&#8230;<em>Sau hội nghị trung ương 14, chiều 20 tháng 1, 1968 Lê Đức Thọ có đến Bắc Kinh để &#8220;báo cáo bác Hồ&#8221;&#8230; Sáng 25 tháng 1, 1968 trong khi &#8220;Cha già dân tộc&#8221; và &#8220;Anh cả của quân đội&#8221; vẫn đang &#8220;an trí&#8221; ở Bắc Kinh thì những binh đoàn chủ lực miền Bắc bí mật áp sát các độ thị miền Nam&#8230; </em>(Huy Đức. Bên Thắng Cuộc/II/Quyền Bính. OSIN Book, USA. 2012, Trg 158).</p>
<p>&#8220;Cha già dân tộc/Hồ Chí Minh&#8221;, &#8220;Anh cả quân đội/VG&#8221; <em>(chữ của Huy Đức-Pnn)</em> làm những gì, ở đâu khi cả miền Nam đang dầm trong biển máu lửa Mậu Thân 1968. Hãy nghe Huy Đức kể lại để thấy ra điều &#8220;thành thật/khôn ngoan/mục đích/yêu cầu của Trần Đĩnh khi viết Đèn Cù&#8230; <em>&#8220;Cái đêm mà cả miền Nam chìm trong khói lửa của Tổng tiến công ấy, Hồ Chí Minh đang ở Bắc Kinh &#8220;trong căn phòng vắng&#8221; chỉ có ông và thư ký Vũ Kỳ, Bác mĩm cười nghe một em bé hát &#8220;Bé né bồng bông..&#8221;. và lời chúc Tết của chính mình (?!): Xuân này hơn hẳn mấy xuân qua/Thắng lợi tin vui khắp mọi nhà/Nam Bắc thi đua đánh giặc Mỹ/Tiến lên toàn thắng ắt về ta&#8221; </em>(Huy Đức, <em>ibid</em>; trg 158).</p>
<p>Về phần tướng Võ Giáp (tên thật) thì tình cảnh cũng không khá hơn&#8230; <em>&#8220;Máy bay Trung Quốc đưa tướng Giáp về Hà Nội ngay trong ngày 29 Tết. Hôm sau ông mới được tướng Vũ Lăng, Cục Trưởng Cục Tác Chiến báo cáo &#8220;kế hoạch Tổng Công Kích, Tồng Khởi Nghĩa&#8221;. Vũ Lăng nói: Anh Văn Tiến Dũng </em>(Tổng Tham Mưu Trưởng/Gốc thợ may &#8211; Pnn)<em>bây giờ thì có thể báo cáo với anh Văn </em>(Giáp).<em>Tướng giáp cố giữ vẻ mặt bình thản để che giấu niềm cay đắng. Ông, vị tổng tư lệnh đã không được biết một kế hoạch lớn như vậy cho đến trước khi nổ súng một ngày </em>(Huy Đức, <em>ibid</em>, trg 159).</p>
<p>Từ những chi tiết &#8220;<em>cần thiết/quan trọng</em>&#8221; như trên buộc chúng ta phải thấy những chữ nghĩa đầy &#8220;<em>văn khí-Lời tán/ Ngô Nhân Dụng/NV</em>&#8221; từ Trần Đĩnh chỉ cốt viết nên những trò đấu đá ấm ớ, vớ vẫn giữa hai phe &#8220;Mao nhều/Mao (không) nhều&#8221;: &#8220;&#8230;<em>Từ đấy Mao&#8221;nhều&#8221; thường từng đám túm tụm chưởi Khrouschev (Bí thư thứ Nhất/Thủ tướng Liên xô chủ trương &#8220;Chung sống Hòa Bình với Mỹ, 1960-Pnn) rồi hễ thấy chúng tôi </em>(Mao (không) nhều-Pnn)<em>thì lại cố tình liếc liếc và ré lên cười&#8230; Gần tháng sau Hoàng Tùng </em>(Tổng Biên tập báo Nhân Dân 1954-1982-Pnn)<em>thăm Trung quốc mang theo Hồng Hà, Phan Quang </em>(Sao lại không mang Trần Đĩnh, học tại Bắc Kinh 5 năm?-Pnn)<em>&#8230; Trở về viết &#8220;Vĩ đại Trung Quốc dài hết trang báo</em> (Đèn Cù, trg 249-250); hoặc diễn tả chi tiết sờ mó tục tỉu giữa Trưởng Ban Tuyên Truyền/TU Lê Quang Đạo với chính Trần Đĩnh (Đèn Cù, trg 22); giữa Tố Hữu/Xuân Diệu (Đèn Cù, Trg 32); hay cách ăn nằm với vợ của Trường Chinh (Đèn Cù, trg 26); thói ham gái, sở thích đàn bà của Hồ Chí Minh (Đèn Cù Trg 30, 32); hoặc cách ăn nói xỏ xiên, đểu cáng (<em>tương tự như những nhân vật trong Số Đỏ của Vũ Trọng Phụng</em>) từ những tay thủ lĩnh văn nghệ miền Bắc như Tô Hoài, Chế Lan Viên, Nguyễn Tuân, Nguyên Hồng<em>. &#8220;&#8230;Nguyên Hồng đọc được hai câu thì Nguyễn Tuân giật giật tay tôi </em>(Trần Đĩnh)<em>&#8211; Nghe thơ tình lũy (Lui/Nó/Tiếng Pháp- Pnn) làm gì? Lũy tay chìa tiền. Tay tụt yếm&#8230; (Đèn Cù, trg 446)</em>; hay &#8220;bí mật cuộc tình của các quan văn nghệ Hà Nội&#8221;. &#8220;&#8230; <em>Một sáng vào Việt-Xô khám bệnh, tôi (Trần Đĩnh) gặp Tô Hoài năm chữa thần kinh tim.</em> <em>Anh cho hay một tên tuổi văn nghệ vừa bị cô nhân tình nộp tố Hữu bức thư cha này gửi cho cô&#8230; Vừa lúc ấy Chế Lan Viên đi vào. Anh bảo tôi: này Trần đĩnh mình bị cái này lạ lắm. Ngọt với mặn bây giờ đếch phân biệt được. Tô Hoài tưng tửng: Ăn phải một thìa cứt mà không phân biệt thì phải chữa thật! </em>(Đèn Cù, trg 455).</p>
<p>Chúng ta có thể đóng lại những &#8220;chữ nghĩa/văn khí&#8221; của Đèn Cù diễn tả về những vụ việc/ngôn ngữ/con người tầm phào bát nháo nơi Hà Nội trước 1975 như vừa kể ra tại đây để nêu lên kết luận: Đây là Vấn Đề Giả mà Trần Đĩnh mất đến 24 năm để viết nên &#8211; Bi Kịch Việt Nam Không Phải Là Vậy.</p>
<p>Đây, Bi Kịch Việt Nam với một trong những thủ phạm cần phải gọi đích danh: Tổng Bí Tư Lê Duẩn với cái đầu được tán tụng là có đến &#8220;200 bougies/hai trăm bóng đèn/đơn vị khởi động diện của một động cơ&#8221;. Nhân sự này với cái đầu cực kỳ ghê gớm kia có khả năng..&#8221;.<em>Ông không bận tâm tới ý người khác. Chúng tôi là những mặt người giống như các vách hang đá cho ông thử nghiệm độ vang của lời ông&#8230; Lê Duẩn cáu tức thì. Hai con mắt càng xáp lại gần nhau. tiếng nói càn ríu lại </em></p>
<p><em>&#8230; Marx&#8230; Marx&#8230; Ở đây có ý gì? </em>(Đèn Cù, trg 186). Quả thật cái đầu tổng bí thư &#8220;200 bougie&#8221; của Duẩn không hiểu Marx là cái gì hết nên mới xẩy ra hoạt cảnh hài hước&#8230; <em>&#8220;Duẩn nói hết (về Marx), Bình (NĐBình thư ký của Duẩn) lên tiếng: Tổng bí thư đã nói xong, xin giáo sư góp ý kiến. Ngơ ngác một lúc, Thảo </em>(Trần Đức Thảo, giáo sư tiến sĩ đại học Sorbone Pháp, năm 1951 xin &#8220;cụ Hồ về nước phục vụ kháng chiến&#8221;. Sau 1956 do dính líu với vụ Nhân Văn-Giai Phẩm, tuy không bị tù nhưng được giao công tác cho ra nông trường chăn bò -Pnn)<em>. Thảo nói: Tôi không hiểu gì cả! Thảo vừa dứt lời, thoắt một cái rất nhanh, Duẩn đã nhào đến đằng sau lưng anh, quàng hai tay vào ngực anh rồi liên tiếp xốc lên , dội xuống anh mấy bận&#8230; </em>Bị Duẩn dộng mình xuống đất nhưng Thảo vẫn không chừa thói của kẻ ỉ mình có học/đại trí thức. Thảo phân giải cùng Đĩnh: <em>&#8220;Ở ta chỉ có Trường Chinh hiểu được chủ nghĩa Marx chứ Duẩn thì không. Thảo lắc đầu quần quậy </em>(Đèn Cù, trg 436). Điều này được Đĩnh hoàn toàn đồng ý, vì đối với Đĩnh Trường Chinh luôn là: &#8220;<em>Anh (TCh) là cây bút lão luyện, dạy tôi từ chữ &#8220;ngày sinh nhật..&#8221;.</em> (Đèn Cù, trg 221) &#8211; Nhắc lại bài học ngày nhập môn năm 1951 với Trường Chinh, chứng tỏ Đĩnh là người biết &#8220;ăn trái nhờ kẻ trồng cây&#8221;. Nhưng biết ơn là một chuyện, Đĩnh hình như không nhớ cách hiểu &#8220;<em>Marx nhều/Mao nhều</em>&#8221; của Trường Chinh: <em>&#8220;Chế độ xã hội chủ nghĩa dẫu chưa hoàn chỉnh những tốt đẹp gấp vạn lần chế độ tư bản&#8221;</em> &#8211; Tuyên bố với tư cách gọi là chủ tịch quốc hội Việt Nam (<em>Tức là của toàn thể dân chúng người Việt theo quy định của quốc hội kháng chiến 1946 -Một quốc hội mà kẻ ứng cử/người đi bầu hoàn toàn không hề biết nhau-Pnn) </em>nhân dịp &#8220;Thống Nhất Nước Nhà Về Mặt Nhà Nước&#8221; khi ông chủ tịch đến Sài Gòn năm 1976.</p>
<p>Chúng ta tiếp xem xét &#8220;cái đầu 200 bougies&#8221; của tổng bí thư Duẩn đã làm gì với thảm kịch Việt Nam. Với cái đầu &#8220;cực kỳ&#8221; này, Duẩn chỉ đạo: <em>&#8220;Kìa, không có thì in ra! In ra! Không sợ lạm phát! Tư bản đế quốc in tiền mới sợ lạm phát chứ ta, chuyên thì sao lại là lạm phát mà sợ </em>(Đèn Cù, trg 187). Và chuyên chính vô sản là gì? <em>Duẩn ngắn gọn vô cùng: &#8220;Người ta lầm Marx đã đề ra đấu tranh giai cấp. Không, nhiều người đã nói đã nói cái này trước Marx rồi. Vậy phát kiến vĩ đại của Marx là gì? Rồi Duẩn cười cười đưa cạnh bàn tay lên ngang cổ nói: Là như Jacobin thời Đại Cách Mạng Pháp -Giết! Thủ tiêu! Bạo lực! </em>(Đèn Cù, trg 187) Với cách hiểu Marx &#8220;chính xác&#8221; như thế này mà giáo sư tiến sĩ Thảo bảo Duẩn không hiểu Marx thì quả tình đáng để bị Duẩn dộng người lên xuống là phải. Có điều trong suốt cuốn sách, Đĩnh vẫn không dám gọi Duẩn là &#8220;Mao nhều&#8221; dẫu Duẩn đã chết từ 1986.</p>
<p>Nhưng Duẩn không nói suông. Con người này với Đảng cộng sản đã lập nên thành tích qua báo cáo chính trị của Đại Hội 4, 1977: <em>Đã đập tan của cuộc phản công lớn nhất của tên đầu sỏ chỉ vào các lực lượng cách mạng (Tức chủ yếu Việt Nam, Trung Quốc, Liên Xô), đã đẩy lùi trận địa đế quốc, mở rộng trận địa xã hội chủ nghĩa&#8230; Về miền Bắc, ông (Duẩn) nói: Thành tựu to lớn nhất là đã thủ tiêu chế độ người bóc lột người (&#8230;) Các giai cấp bóc lột đã bị xóa bỏ&#8230;Người với người sống có tình nghĩa, đoàn kết, thu7ong yêu nhau cùng với &#8220;chuyên chính vô sản được củng cố&#8230;Hệ tư tưởng và nền văn hóa xã hội chủ nghĩa được đặt trên nền móng vững chắc&#8230; </em>(Đèn Cù, 462).</p>
<p>Tóm lại &#8220;Thành tích&#8221; kể trên không chỉ là:<em>&#8220;Bác Hồ vô vàn kính yêu&#8221; luôn sống mãi trong &#8220;Sự Nghiệp Chúng Ta&#8221;</em> &#8211; Khẩu hiệu chiến lược luôn đi kèm theo &#8220;Chân lý: <em>&#8220;Không có gì quý hơn Độc Lập-Tự Do&#8221;</em>. Thành tích này là tổng hợp của: Cách mạng Tháng 8, 1945 -Tuyên ngôn độc lập Ngày 2 Tháng 9/1945-Toàn quốc kháng chiến 19/12/1946-Cải Cách Ruộng Đất 1953-1956-Cải tạo Công Thương Nghiệp miền Bắc (1956-1958)-Đại Hội 3/Nghị Quyết 9 TUĐ/Đồng khởi miền Nam/1960 &#8211; Tổng Công Kích Mậu Thân 1968 &#8211; Chiến Dịch Nguyễn Huệ 1972 &#8211; Chiến Dịch Hồ Chí Minh 1975. Đoạn đường dài đẫm máu toàn Dân Tộc Việt này không loại trừ một ai được tổ chức/chỉ đạo/điều hành bởi: Nguyễn Sinh Côn, Nguyễn Tất Thành, Nguyễn Ái Quốc, Linov, Vương Đông Hải, Hồ Quang, Hồ Chí Minh&#8230; được thi hành, thực hiện với Trường Chinh, Võ (Nguyên) Giáp, Phạm Văn Đồng, Lê Duẩn, Lê Đức Thọ, Nguyễn Chí Thanh, Phạm Hùng, Đỗ Mười, Lê Khả Phiêu, Nguyễn Văn Linh&#8230; Danh sách sẽ rất dài nếu muốn kể đủ. Tất nhiên bao gồm &#8220;Mao nhều&#8221;/Xét lại/Báo Nhân Dân/Báo Sự Thật/Hội Nhà Văn v.v.&#8221;. Những quân cờ tay em chạy quanh cái Đèn Cù nơi Hà Nội gần nửa thế kỷ nay mới được Trần Đĩnh thắp lên quá đỗi muộn màng.</p>
<p><strong>Phan Nhật Nam</strong></p>
<p>(Tháng 8-9/2014)</p>
]]></content:encoded>
					
					<wfw:commentRss>https://t-van.net/phan-nhat-nam-su-that-cuoi-cng-den-qu-tre/feed/</wfw:commentRss>
			<slash:comments>0</slash:comments>
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Phan Nhật Nam : ĐI VỀ HƯỚNG T&#194;Y&#8230;</title>
		<link>https://t-van.net/phan-nh%e1%ba%adt-nam-di-v%e1%bb%81-h%c6%b0%e1%bb%9bng-ty/</link>
					<comments>https://t-van.net/phan-nh%e1%ba%adt-nam-di-v%e1%bb%81-h%c6%b0%e1%bb%9bng-ty/#respond</comments>
		
		<dc:creator><![CDATA[Phan Nhật Nam]]></dc:creator>
		<pubDate>Sat, 02 Nov 2013 10:47:00 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Phan Nhật Nam: Dấu Binh Lửa]]></category>
		<category><![CDATA[dbl]]></category>
		<category><![CDATA[phan nhật nam]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://7076e870b2.nxcli.io/?p=15091</guid>

					<description><![CDATA[Chiếc máy bay quay mũi về phía thành phố, mặt trời sau lưng bắt đầu chìm xuống bìa rừng. Lấy con lộ đá làm chuẩn hai anh phi công bắt đầu cuộc đua, hai chiếc trực thăng đâm chéo vào nhau, lướt trên ngọn cây, gần như chạm sát mặt đường, vạch đá đỏ dưới [&#8230;]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<p><strong><a href="https://t-van.net/wp-content/uploads/2013/11/clip_image002.gif"><img loading="lazy" decoding="async" style="background-image: none; float: none; padding-top: 0px; padding-left: 0px; margin-left: auto; display: block; padding-right: 0px; margin-right: auto; border: 0px;" title="clip_image002" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2013/11/clip_image002_thumb.gif?strip=all&fit=354%2C381" alt="clip_image002" width="354" height="381" border="0" /></a></strong></p>
<p>Chiếc máy bay quay mũi về phía thành phố, mặt trời sau lưng bắt đầu chìm xuống bìa rừng. Lấy con lộ đá làm chuẩn hai anh phi công bắt đầu cuộc đua, hai chiếc trực thăng đâm chéo vào nhau, lướt trên ngọn cây, gần như chạm sát mặt đường, vạch đá đỏ dưới chân chạy ngược vùn vụt&#8230; Nhắm mắt, một ngày mệt mỏi và căng thẳng đang hết. Tôi sắp được nghỉ ngơi. Núi Bà Đen đã phủ hơi sương, khối đá, cây cỏ xanh rì thẩm dần vào bóng tối. Thành phố Tây Ninh vừa lên đèn.<br />
Tây Ninh, thành phố không giống một nơi nào của miền Nam càng không giống một thị trấn nào của miền Trung. Thành phố biên giới theo lộ đất đỏ đi Katum, theo quốc lộ 1 từ Gò Dầu Hạ tiếp đường 22&#8230; Tất cả mọi nẻo đều dẫn đến biên giới. Biên giới, đồng cỏ ngút ngàn lặng lẽ váng vất khắc khỏai, hai đồn lính nằm trơ trọi, tấm bảng viết hai chữ Việt, Miên. Biên giới, nghe nao nao trong lòng cơn bồi hồi khi chân bước lên mặt nhựa sát gần cây cản đường, trên đồng cỏ thấp thoáng bóng người tới lui im lặng. Biên giới, âm thanh mang vẻ ngỡ ngàng hờ hững và không gian như bị bít lối. Trong không khí đặc dị đó Tây Ninh buổi sáng gây gây rét, trời im không gió, không nắng, xe nhà binh, lính mang súng đầy ắp con phố chính, thành phố bắt đầu ngày với mùi đao binh, tăng dần độ nóng bởi khói xăng pha nhớt. Thành phố căng thẳng như viên đạn đã lên nòng. Sáng qua, chiều tới và&#8230; Đêm xuống. Đêm xuống mau, thành phố vắng, ngọn đèn vàng khu chợ, bóng người lính lao xao thoắt ẩn thoắt hiện, lính mang giày há mõm, áo rách, mặt đen bụi đỏ trầy trụa vì gai rừng, đâu đây vang tiếng cười lanh lảnh chông chênh. Uống đi&#8230; Hơn hai tháng không ngậm được cục nước đá, uống đi, mai theo Chinook vô lại biết đâu trưa là chết. Uống đi, đ.. má cứ tưởng tượng &#8220;nhai&#8221; được miếng bia thì chết cũng đáng&#8230; Ha, ha cho thêm một hộp nữa. Đêm Tây Ninh với những người lính sống giữa khe hở của sống chết.<br />
Tôi đứng trên đài cao, với một cái loa, lá cờ đỏ, những tấm bảng có kẻ chữ V,J,C,B&#8230; V là Vichy, Jackie, Carolyne, Barbara, những căn cứ hỏa lực cách biên giới vừa tầm súng cối địch. Zulu đây Nam Xương đang cần Class A. Zulu đây Nam Xương, Carolyne yêu cầu Hard-mission&#8230; Zulu là tôi, Nam Xương cũng là&#8230; tôi. Zulu là tôi khi ở trên đài, trên đường đi, trên trực thăng, trên bãi Fox&#8230; Nam Xương là tôi ở nhà, ở trung tâm hành quân nhận yêu cầu từ các căn cứ, nơi có lính dưới hầm, lính đang chong mắt chờ pháo, lính đang liếm môi chờ nước. Class A là thức ăn, hard-mission là khẩn cấp, là đạn, không có không được. Như con thoi chạy mãi trên trục lửa: Căn cứ &#8211; Thành phố. Đài kiểm soát &#8211; Bãi bốc hàng. Phi trường &#8211; Phòng hành quân. Tôi lái xe như gió, hét như sấm, lồng ngực nổ máu nóng, cổ họng nghẹt cứng vì khói và hơi nóng phản lực của phi cơ. Tôi mờ mắt vì trên cao độ mông lung thấy đạn phòng không đan một lưới lửa dưới thân tầu và căn cứ Vichy bập bùng khói bụi&#8230; Địch đang pháo kích.<br />
Ngày hết trở lại đêm, Tây Ninh âm ỉ như miếng sắt nóng đỏ đang nguội dần.<br />
Trong bóng tối của nhà xác, tôi đứng tần ngần bên một gói poncho im lặng. Gói xác người lạ lẫm, không có khối tròn của chiếc đầu. Phước đã chết vì một qủa B.40 nhắm thẳng vào mặt. Hai chiếc giày của người chết đóng lớp đất vàng có những cọng cỏ còn tươi dính vào kẽ dây giày. Người chết sớm hơn cỏ cây, chưa kịp khô. Buổi trưa, trước khi chết khỏang nửa giờ tôi còn nghe tiếng nói của Phước vọng qua loa khuếch đại máy truyền tin tại phòng hành quân&#8230;<br />
&#8211; Nam xương đó hả, cám ơn mi cho tao mấy hộp bia&#8230; Thôi nghe, tao đang &#8220;gom bi&#8221; (điều chỉnh pháo binh), hai ngày nữa ra gặp mi&#8230;- Hai ngày nữa, hai ngày nữa&#8230; Nghe lồng lộng trong không gian nỗi vui mừng sảng khoái tội nghiệp của kẻ sắp được uống nước đá, ăn cơm nóng và&#8230; quay cái cổ cho đã!!! Không có hai ngày hân hoan kia cho Phước nữa, chỉ còn nửa giờ cho một đời. Chỉ còn nửa giờ cho một người. Người rất muốn sống.<br />
Ở Tây Ninh, buổi trưa trong những giờ tạm nghỉ trên đường đi đến nhà ăn, ngang qua những căn nhà lợp tôn, tường cói mỏng, nơi nghỉ ngơi cho lính Mỹ sau ba tuần trong rừng. Đi ngang qua các căn phòng hé cửa, sau bức tường mỏng manh nghe từ trong đó giọng cười hăng hắc khoái trá của giống cái Việt Nam được chạm vào nơi kích thích chen lẫn tiếng gầm gừ của những người trẻ tuổi tóc vàng vừa đến tuổi thanh niên, những người đang tập uống rượu say đắm cuộc đời qua thân thể một phụ nữ da vàng mốc thếch.<br />
Sát biên giới, đuổi giặc ra khỏi biên thùy, đất đai như một kích thích tố cụ thể, lính Nhẩy dù chịu đựng như không thể chịu đựng hơn, tác chiến như không có đơn vị bộ binh nào tác chiến bằng. Cùng phối hợp hành quân với Sư đoàn Kỵ binh Không vận Mỹ, Sư đoàn Bộ binh số 1 của thế kỷ, tác phẩm toàn hảo nhất của Bộ trưởng Quốc phòng MacNamara; cũng là sản phẩm hãnh diện không nhược điểm của kỹ nghệ chiến tranh hiện đại. Đứng cạnh Không kỵ hay First CAV, những sư đoàn bộ binh Mỹ ngượng ngùng lép vế không cưỡng chế, Big Red One, Đệ Nhất Sư đoàn bộ binh với gần một thế kỷ truyền thống; Sấm Sét miền Viễn Tây,Sư đoàn 25 Bộ Binh, nổ lực chính của quân lực Mỹ trong trận chiến Cao Ly và ngay cả Thủy quân Lục chiến, biểu tượng anh dũng của quân lực Mỹ&#8230; Tất cả khi đứng trước First CAV cũng cảm thấy có một thua sút không bù trừ nỗi. Đệ Nhất Sư Đoàn Không vận có gần năm trăm phi cơ trực thăng, ba bộ chỉ huy lữ đoàn với khả năng tác chiến biệt lập có thể đảm trách vùng trách nhiệm cấp sư đoàn. Mỗi lữ đoàn Nhảy dù phối hợp với một lữ đoàn không kỵ, lữ đoàn tôi cùng với lữ đoàn 1 không kỵ Mỹ giữ vùng trách nhiệm bắc Tây Ninh, Lữ đoàn 1 Dù với 2 Không kỵ chịu phần Phước Long, Bình Long.<br />
Các khu vực trách nhiệm của mỗiTiểu đoàn Dù và Không kỵ chen lẫn nhau trải qua ba tỉnh Phước Bình, Bình Long và Tây Ninh. Nguyên tắc là phối hợp hành quân, nên vùng trách nhiệm của Mỹ và ta rộng ngang nhau, nặng ngang nhau vì được đo lường&#8230; ngang sức nhau. Nhưng đấy chỉ là nguyên tắc,thực tế thì khác xa, xa diệu vợi, xa ngút ngàn. Khả năng của Không kỵ Mỹ vô cùng, Dù Việt Nam hạn chế, căn cứ Mỹ được 175 ly yểm trợ trực tiếp và 105 ly yểm trợ tăng cường, trong khi Việt Nam thì trái lại. Căn cứ hỏa lực của Mỹ là một thành phố thu hẹp với trạm cứu thương, bãi trực thăng Chinook, bãi trực thăng VIP, đường tráng nhựa, nhà bếp nấu thức ăn nóng cho toàn tiểu đoàn và máy bay riêng cho tiểu đoàn trưởng, trực thăng võ trang ưu tiên yểm trợ, tiếp cứu. Blue Max, Pink Max (trực thăng võ trang) thường trực trên không phận của mỗi khu vực hành quân của từng tiểu đoàn để yểm trợ chiến thuật ngay phút đầu chạm địch. Nhảy Dù Việt Nam tuy gọi là phối hợp hành quân nhưng lẽ tất nhiên không thể có ưu tiên tuyệt đối như Mỹ, căn cứ hỏa lực được kiến tạo do sức của đôi tay và yếu tố quyết định chiến trường nằm trên mũi súng của mỗi người lính. Và cách xa vật chất của hai loại lính trong cùng một chiến trường, cùng cường độ là khỏang trống không thể bù. Lính Mỹ, áo quần dơ được trực thăng đem về Tây Ninh giặt, hai tuần trong rừng, một tuần tại căn cứ hỏa lực, một tuần được về Tây Ninh nghỉ; chiều có thức ăn nóng với khẩu phần ẩm thực số 1. Lính Dù áo quần vá bằng dây thép, băng keo, uống nước hố bom cũng là huyệt người chết, một tháng về căn cứ hỏa lực (mỗi tiểu đoàn có một căn cứ) tạm nghỉ để có thể ngước mặt nhìn trời không bị cây rừng che khuất và uống nước ống đạn mang từ Tây Ninh mang vào với tiêu chuẩn mỗi người một nón sắt. Cùng cường độ chiến trường, vận tốc hành quân, cùng gánh nặng nhiệm vụ, dù thua xa bao nhiêu phương tiện, thiếu bao nhu cầu cũng phải gắng đến đuối sức. Phải gắng hết lực — Danh dự quân lực, quốc gia nằm trong lần phối hợp này. Thế nên trên chiều rộng gần một trăm năm mươi cây số từ Tây Ninh qua Phước Long từ biên giới vào nội địa người lính Dù Việt Nam cong lưng xuống dưới gánh nặng có mùi vị ẩm mốc của nước mắm, thịt, gạo, mỡ, tay cắp súng. Tay thêm thùng đạn tăng cường, bấm đôi chân trên mặt đất — Đi và đụng địch. Đụng liên miên, đụng dài dài&#8230; Tiểu đoàn 7 đang hối ARA (ám danh gọi trực thăng võ trang) vào vùng thì quanh căn cứ Carolyne của tiểu đoàn 11 Cộng quân đang thổi kèn xung phong. Tiểu đoàn 2 Dù đang hô: Phải cho thêm kẹo cho gà cồ gấp. (đạn pháo 105). Gà cồ gáy, bánh chưng nổ, đom đóm gần hết (đạn 105, mìn nổ, mìn chiếu sáng hết&#8230;) Tất cả hối thúc dồn dập vang vang trong máy truyền tin, tôi như có cơn sấm dậy trong đầu, mệt nhọc bỏ qua, phải bỏ qua vì ngày ngày bay trên rừng xanh, ngày ngày đáp trên đất vỡ, tôi gặp bạn bè, tôi thấy lại lính cũ để nghe những tiếng nói, những câu than nhỏ&#8230; Khổ quá, khát quá. Tôi nhìn những chiếc má hóp, những sợi râu úa, những ánh mắt khô&#8230; Từ tháng Mười 69 đến hôm nay tháng Một 70 không nhìn thấy một mảnh trời quang huống gì là một ngày bình yên. Cộng quân thật thâm độc, chúng gom lực lượng nhất định đánh vỡ vòng đai bằng cách cường tập vào các căn cứ Nhảy dù. Nếu quân ta vỡ, Mỹ sẽ mất tinh thần theo. Đánh Nhảy dù còn là đòn tâm lý độc hại cốt chứng tỏ sự hận thù nhắm mạnh hẳn về một hướng. Nhưng quân ta cứng như khối thép, mạnh như cuồng phong, từ các căn cứ các đại đội càng ngày càng bung rộng, đánh ngày không được, đợi đêm đánh. Tại trung tâm hành quân người ta nghe nhưng lời đối thoại chắc nịch:<br />
&#8211; Tôi biết ở đấy có hai 12 ly 7 ( Phòng không 12 ly 7), Đại bàng (Vị chỉ huy) cho tôi và con cái (lính) ăn uống xong, đến đêm tôi sẽ xung phong.<br />
Những lời nói rất thường ở ngôn từ nhưng lồng lộng ý chí quyết thắng. Sự can trường hình như làm căng mạch máu đoàn quân vì tiến quân lên hướng Bắc nhưng thật ra đi về phía Tây của Việt Nam, đoàn quân đang dẫm lên phần đất mông lung linh diện của biên giới — Đất vô hình nhưng khí thiêng Tổ quốc hình như lẩn khuất quanh đây — Lính Nhảy dù mạnh vì mang trong lòng tâm thức — Đuổi giặc ra khỏi biên giới. Tâm lý đắm chìm không phân tích, luận lý nhưng thôi thúc mỗi người trong mỗi ngày mỗi phút đừng ngã xuống để tiến lên. Số vũ khí tịch thu làm Không kỵ ngất ngư. Không thể ngờ có sức chiến đấu tuyệt vời như thế trong những cơ thể chỉ bằng đứa bé ở Mỹ Châu. Lính Không Kỵ giật mình — Huyền thoại về Nhảy Dù Việt Nam là một huyền thoại có thật.<br />
Chiến dịch mở dài cho đến tháng Năm để tiến thành cuộc hành quân vượt biên đánh vào hậu cần Mặt Trận Giải Phóng ở đất Miên. Tôi không tham dự hành quân này và phải ra khỏi binh chủng. Mỗi ngày nơi phòng hành quân của chỗ làm mới nghe bàn tán xôn xao về những địa danh&#8230; Lưỡi Câu, Mõ Vẹt, đồn điền Mimot, Snoul&#8230; Tôi đứng ở trước tấm bản đồ phủ bụi dí ngón tay qua các điểm Tây Ninh, Katum, Sông Bé&#8230; thấy lại trước mắt dãy rừng miền đông Nam bộ chập chùng ngút ngàn mờ hơi khói, bập bùng những nấm khói đạn pháo binh và đoàn quân di chuyển âm thầm trong bóng lá, trên đất khô lẫn bụi vàng&#8230; Chỉ là hai tháng trước đây. Tôi vừa qua một cảnh đời của nghiệp lính.</p>
<p><strong>Tháng 2-1970. Tây Ninh.<br />
Căn Cứ Hỏa Lực Nhảy Dù Việt Nam</strong></p>
<p><strong>Phan Nhật Nam</strong></p>
]]></content:encoded>
					
					<wfw:commentRss>https://t-van.net/phan-nh%e1%ba%adt-nam-di-v%e1%bb%81-h%c6%b0%e1%bb%9bng-ty/feed/</wfw:commentRss>
			<slash:comments>0</slash:comments>
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Phan Nhật Nam : L&#192;M G&#204; SAU CHIẾN TRANH</title>
		<link>https://t-van.net/phan-nh%e1%ba%adt-nam-lm-g-sau-chi%e1%ba%bfn-tranh/</link>
					<comments>https://t-van.net/phan-nh%e1%ba%adt-nam-lm-g-sau-chi%e1%ba%bfn-tranh/#respond</comments>
		
		<dc:creator><![CDATA[Phan Nhật Nam]]></dc:creator>
		<pubDate>Sat, 26 Oct 2013 22:16:53 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Phan Nhật Nam: Dấu Binh Lửa]]></category>
		<category><![CDATA[dbl]]></category>
		<category><![CDATA[phan nhật nam]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://7076e870b2.nxcli.io/?p=15051</guid>

					<description><![CDATA[Tổng thống Thiệu đọc thông điệp mới, báo hiệu một chính sách mở ngõ để Việt cộng tham dự vào hoạt động chánh trị của miền Nam, các chính khách, kinh tế gia chuẩn bị đường lối chính trị và kế hoạch kinh tế hậu chiến. Quân Việt Nam bắt đầu thay quân Mỹ. Những [&#8230;]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<p><a href="https://t-van.net/wp-content/uploads/2013/10/clip_image00216.jpg"><img loading="lazy" decoding="async" style="background-image: none; float: none; padding-top: 0px; padding-left: 0px; margin-left: auto; display: block; padding-right: 0px; margin-right: auto; border: 0px;" title="clip_image002" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2013/10/clip_image002_thumb16.jpg?strip=all&fit=304%2C400" alt="clip_image002" width="304" height="400" border="0" /></a><strong></strong></p>
<p>Tổng thống Thiệu đọc thông điệp mới, báo hiệu một chính sách mở ngõ để Việt cộng tham dự vào hoạt động chánh trị của miền Nam, các chính khách, kinh tế gia chuẩn bị đường lối chính trị và kế hoạch kinh tế hậu chiến. Quân Việt Nam bắt đầu thay quân Mỹ. Những hiện tượng dồn dập xảy đến báo hiệu về thế sống mới. Tôi cũng có những ý nghĩ &#8220;hậu chiến&#8221; cho bản thân. Hậu chiến, sẽ không còn những đụng độ lớn, Việt cộng sẽ hoạt động dưới một hình thức đấu tranh khác về chính trị, kinh tế, có thể hạ tầng cơ sở du kích vẫn được duy trì. Nhưng dù sao đi nữa, tôi sẽ không còn cơ hội để chết non. Lẽ tất nhiên vẫn có những cái chết lãng nhách như rơi máy bay, lính làm nổ lựu đạn, cướp cò, nhưng chắc chắn chẳng còn những cái chết &#8220;bảo đảm&#8221; như bây giờ. Hậu chiến đặt ra trước mặt chúng tôi những vấn đề thật rõ rệt, nhìn thẳng thì khó chịu nhưng tránh đi thì nó vẫn còn đấy, như một hiện sinh phi lý nói theo kiểu của ông Sartre. Hậu chiến, một số lính cũng như quan sẽ được giải ngũ, tôi không thuộc thành phần này, vì là lính nhà nghề, sẽ nói rõ số phận này sau. Mấy anh được giải ngũ sẽ làm gì? Chẳng làm được cái gì hết trọi. Trừ một số nhỏ bị động viên sẽ trở lại nhiệm sở cũ, đi dạy học&#8230; Tôi không dám bàn rộng đến khía cạnh kinh tế, chỉ thắc mắc mỗi điều: Xã hội lúc bấy giờ có đủ khả năng để thâu dụng số nhân lực không sản xuất đó hay không? Tôi muốn nói đến các anh đi lính từ năm mười tám tuổi, giải ngũ ra các ông đó có nghề gì? Tập họp nào thâu dụng được đám người không nghề chuyên môn, đã quen với bom đạn trên dưới mười năm.<br />
Hậu chiến, lính còn lại sẽ biến thành công chức; trung đội, đại đội, tiểu đoàn trưởng sẽ hàng ngày ngồi nhìn nhau tại hậu cứ, giày đánh bóng, búp nịt cũng đánh bóng kiểu như các sĩ quan ở quân trường. Lẽ tất nhiên rồi cũng sẽ quen đi. Nhưng thói quen nào được chấp nhận trong những tâm hồn đã chai cứng và cơ thể lệch lạc vì thương tích. Những người bạn thân hay không, khắp bốn vùng chiến thuật, ở các đơn vị chiến đấu, không ai không có mảnh đạn trong người. Dư và Năng ở Biệt động quân bị thương đến độ hết phương chữa, đứng bên cạnh cũng không nhận ra mặt. Gần gũi hơn là lũ bạn ở các tiểu đoàn Nhảy dù, không một thằng nào có thể gọi là mẹ tròn con vuông. Sơn &#8220;độc nhãn&#8221; người gầy như con mắm, con mắt bằng chai bỏ trong túi, vẫn hành quân chăm chỉ trong mười năm không một khóa học, phép thường niên do bệnh viện cấp. Đấy chỉ là hư hao thể chất, còn tâm hồn, âu cũng là khu rừng hoang cho cỏ lan. Không ai có thể tưởng được cảnh nổi loạn của Mễ, thưở đi học mẫu mực vào đến trường Võ Bị nên sinh viên sĩ quan cán bộ, con cưng của &#8220;Thạc sĩ Cơ bản thao diễn&#8221; Huỳnh Bửu Sơn, nhưng đến bây giờ trông cảnh nó chơi đòn giang hồ mọi người đều ngán ngẫm. Trời mùa đông ở Mỹ Chánh mưa giăng kín mặt sông, bên kia làng địch, Mễ cởi trần đeo súng Colt ở cổ, thổi phao bơi qua sông mua rượu. Chưa bao giờ tôi nghe nó thở than một điều gì nhưng trong đêm khuya, nơi căn trại vắng ở Tam Hiệp, trong bóng tối, nó ngồi im như một nỗi cô đơn.<br />
Đại loại lũ chúng tôi &#8220;hư&#8221; đến như thế, trong mười thằng có đến chín sau bao nhiêu năm đi làm quan không mua được một cái đồng hồ, không biết giờ tan sở Chính phủ ấn định là mấy giờ. Như vậy làm sao kéo chúng tôi vào trong một sinh hoạt đều đặn của trại lính biến thành công sở. Rồi cũng xẩy ra những tỵ hiềm, những xung khắc ti tiện, nhòm ngó đàn bà&#8230; Chúng tôi đi lính bao nhiêu năm, lẽ tất nhiên quá quen với đời sống kỷ luật; nhưng kỷ luật này co giãn, thay đổi theo mỗi hoàn cảnh của mỗi người, không có kỷ luật nào bắt lính nhịn đói hai ngày, nhưng luật của đại đội trưởng là phải la hét, quát tháo, kích thích binh sĩ, phải dựng đứng thân thể họ dậy và đẩy về đằng trước. Lẽ tất nhiên kỷ luật của quân đội sẽ vô cùng xuống giá trước cảnh &#8220;diễn nghĩa&#8221; của Lô cùng với cả trung đội cởi truồng say khướt trong một thửa ruộng ở Vĩnh Lộc, hay của Năng lúc ở tiểu đoàn 52 Biệt động quân, nhưng ai cấm được binh sĩ của chúng cảm phục và hãnh diện vì có những đại đội trưởng sáng gía hào hùng. Kỷ luật của chúng tôi bất thành văn chỉ có giá trị cho riêng mỗi người. Thế cho nên nếu bắt chúng tôi về lại với thứ nguyên tắc cứng nhắc vớ vẩn đại diện là mấy anh quân cảnh, hỏi thằng lính tác chiến nào nuốt nổi.<br />
Mãn sở rồi, cai, đội hồi hương<br />
Trai lui về làm ruộng&#8230;<br />
Hậu chiến thưở xưa được giải quyết êm đẹp như câu hò trên, nhưng hậu chiến bây giờ chúng ta sẽ làm được gì? Trung bình chúng tôi có tú tài, tú tài năm 1969 chỉ có thể đi làm thơ ký quèn, nhưng hậu quả trên dưới mười năm lính chúng tôi đã thành loại người để chỉ huy hoặc tuân lệnh. Giải ngũ trở lại với đời sống thường, nghe những anh già lẩm cẩm, những anh trai trẻ cù lần sai bảo chịu sao nổi?<br />
Lũ bạn chúng tôi ngồi nói chuyện với nhau, một người đi đến, dẫn thêm một tên bạn mới. Làm gì? Làm sở Mỹ. Tôi lúng túng khổ sở không biết gợi chuyện với hắn ta như thế nào! Trường hợp gặp một anh nhà binh không ở đơn vị tác chiến tôi cũng chả biết có chuyện gì để nói với. Kể cho nghe những ngày phá phách ở Pleiku, cho biết tin một thằng ở Biệt kích chưa được lên lon, làm sao anh ta hưởng ứng với được? Chúng tôi đã có một lối sống thành nếp với một số bạn bè hạn chế, thói quen tật xấu cũng như tính tốt của mỗi người đều được biết rõ, một người lạ xuất hiện gây nên một cảm giác khó chịu kỳ quặc, cũng như cái cảm giác lạc lõng ngơ ngác khi tôi bước chân vào một sân trường để xin cho đứa em vào học. Thế giới chúng tôi kín cửa dù có nhọc nhằn phiền muộn cũng đã một chỗ ngồi quen hơi.<br />
&#8220;Các anh là một giai cấp sĩ quan quí tộc&#8230;&#8221; Lúc xưa Đại Tá Huyến đã thổi chúng tôi lên như vậy. Sau này trong những ngày tang thương nhất của đời lính, đóng ở đài phát thanh Sài Gòn để chống biểu tình, căng chiếc võng ngủ ở chỗ nhà để xe của nhân viên trong đài, thấy giá trị của mình còn kém xa các anh thợ hát. Tôi đã gặp lại Đại Tá Huyến trong hoàn cảnh đó để đồng ý với ông ta rằng chúng tôi chẳng có tí ti &#8220;quý tộc&#8221; nào cả! Nhưng phải nói thật, ông đã gieo vào lòng trai trẻ của chúng tôi trong những năm đầu tiên niềm hãnh diện đích thực được làm một sĩ quan tình nguyện chọn binh nghiệp làm nghề &#8211; Một nghề đầy hy sinh và cao cả. Bố khỉ, đến năm nay thì chân lý cao cả kia trông yếu quá, lương quan ba &#8220;thiên thần mũ đỏ&#8221; không nuôi tấm thân tàm tạm, nhà phải đi ở thuê, nhỏ bằng hộp quẹt thở mạnh bung cả mái&#8230; Ở gần nhà có một bà nạ giòng, loại &#8220;nouveau riche&#8221; mở lò bánh mì, chẳng biết phát tài ra làm sao, con mẹ mua một lúc ba chiếc xe, trong đó có một chiếc Mercédes 220. Thấy cái nhan sắc hoàng hôn, trang điểm theo kiểu technicolor của đào ciné già cỡ 1930 ngự trên chiếc xe, thật đau lòng cho giai cấp quý tộc của tôi quá! Chưa hết, có một ông trung tá biết bà ta buôn bán phát tài đến xum xoe xin hùn vốn. Ôi! Tôi nghĩ ra tương lai cũng sẽ là một anh trung tá đi mở lò bánh mì hay làm trại heo với điều kiện có tiền làm vốn. Nhưng con đường đã vạch ra rồi đấy, bạn bè tôi thậm chí đến cả Lô &#8220;lọ rượu&#8221; còn xúi tôi chạy áp-phe&#8230; Chạy áp-phe, chắc chắn không bao giờ có được trong chương trình huấn luyện của trường Võ Bị Quốc Gia và Đại Tá Huyến ắt sẽ vô cùng ngạc nhiên khi thấy Lã Quý Trang, sĩ quan á khoa của khóa tôi, một thằng nghệ sĩ đầy mình hát hay chẳng kém Duy Trác vẫn chạp áp-phe đều đều. Tôi không biết rõ nó có kiếm được tí nào không, nhưng nghe lời thở than&#8230;<br />
&#8211; Không kiếm chác là đọi đấy mày ạ, tao vợ hai con rồi, nhà lại ở thuê&#8230;<br />
Thôi xong rồi, ngày nó cầm gươm đi diễn hành sao mà đẹp đến thế. Đời đã giết nét tài tử trong tâm chất của nó.<br />
Đấy, chưa là hậu chiến sĩ quan đã bơ vơ lếch thếch đến thế. Tưởng chỉ có ở trong tiểu thuyết Les frères của Karamazov, viên đại úy đi đòi nợ cho điếm. Hậu chiến chưa đến, nhưng con điếm trong xóm tôi đã đến nhà nhờ tôi lãnh dùm thằng chồng ma-cô của nó ra khỏi ty Cảnh sát. Xin Chúa hãy phù hộ cho con! May quá tôi cũng có vốn thanh liêm nên chối từ. Nhưng nếu hậu chiến, giải ngũ trong cảnh vợ con nheo nhóc, ai cản tôi áo hoa nón đỏ vào ty Cảnh sát lãnh hộ mấy thằng ma-cô kiếm tí tiền còm!</p>
<p><strong>Cuối năm 1969 </strong></p>
<p><strong>Phan Nhật Nam</strong></p>
]]></content:encoded>
					
					<wfw:commentRss>https://t-van.net/phan-nh%e1%ba%adt-nam-lm-g-sau-chi%e1%ba%bfn-tranh/feed/</wfw:commentRss>
			<slash:comments>0</slash:comments>
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Phan Nhật Nam : NGƯỜI CHỈ HUY VỀ GI&#192;</title>
		<link>https://t-van.net/phan-nh%e1%ba%adt-nam-ng%c6%b0%e1%bb%9di-ch%e1%bb%89-huy-v%e1%bb%81-gi/</link>
					<comments>https://t-van.net/phan-nh%e1%ba%adt-nam-ng%c6%b0%e1%bb%9di-ch%e1%bb%89-huy-v%e1%bb%81-gi/#respond</comments>
		
		<dc:creator><![CDATA[Phan Nhật Nam]]></dc:creator>
		<pubDate>Tue, 22 Oct 2013 23:16:23 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Phan Nhật Nam: Dấu Binh Lửa]]></category>
		<category><![CDATA[dbl]]></category>
		<category><![CDATA[phan nhật nam]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://7076e870b2.nxcli.io/?p=14996</guid>

					<description><![CDATA[Có thể nói sếp cũ của tôi là một ông già, già nhất trong những người giữ nhiệm vụ chỉ huy đơn vị tác chiến. Ông đi lính từ một thuở thật xa, lâu lắm, cách đây hơn hai mươi năm lúc quân đội chỉ độc các loại commando, Lê-Dương, Nhẩy Dù thuộc địa&#8230; Đánh [&#8230;]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<p><a href="https://t-van.net/wp-content/uploads/2013/10/clip_image00212.jpg"><img loading="lazy" decoding="async" style="background-image: none; float: none; padding-top: 0px; padding-left: 0px; margin-left: auto; display: block; padding-right: 0px; margin-right: auto; border: 0px;" title="clip_image002" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2013/10/clip_image002_thumb12.jpg?strip=all&fit=404%2C271" alt="clip_image002" width="404" height="271" border="0" /></a><strong></strong></p>
<p>Có thể nói sếp cũ của tôi là một ông già, già nhất trong những người giữ nhiệm vụ chỉ huy đơn vị tác chiến. Ông đi lính từ một thuở thật xa, lâu lắm, cách đây hơn hai mươi năm lúc quân đội chỉ độc các loại commando, Lê-Dương, Nhẩy Dù thuộc địa&#8230; Đánh nhau bằng súng mút-cờ-tông từng phát một hay những cây FM đầu bạc bắn gật gù như ông già ho lao. Lúc chiến tranh còn nằm tít trên biên giới Lào &#8211; Việt &#8211; Trung, trận đánh toàn một cách xung phong ầm ầm, ào ào để giữ những làng, thị trấn mang tên lạ hoắc như Bản Hiu-Siu, Mường Phen, Thất Khê&#8230; Ông già sếp tôi thuở đó khởi nghiệp nhà binh với lon Cai ở Commando. Không rõ những ngày ở đơn vị đó ông có những gì đặc biệt, chỉ biết ông ta nhắc lại đoạn đời qua bằng một câu thật gọn: Cai thật trẻ&#8230; Giọng Bắc Kỳ khàn khàn xuống mạnh vào chữ mang đầy kiêu hãnh và tự tín. Tước hiệu &#8220;cai thật trẻ&#8221; hình như là nỗi hãnh diện đầu tiên và đích thực nên sau này khi đã đóng đến lon &#8220;quan Năm&#8221;, lúc say rượu, dù cơn say vào độ tơi bời tàn khốc, ông vẫn còn nhớ được: &#8220;Tao là Cai Hùng, đếch phải là trung tá cái củ c&#8230; gì ráo&#8230;&#8221;. Cai Hùng! Cai Hùng! Một tuổi trẻ gió bão nào đó đã đi qua.<br />
Lúc tôi đến đơn vị này, ông năm mươi tuổi; năm mươi tuổi để tất cả đầu tóc bạc trắng và những nếp nhăn cày sâu trên mặt, nhưng ông vẫn còn nguyên vẹn thái độ nồng nhiệt đối với đời sống của ngày trai trẻ. Thời gian về trước ông đã nổi tiếng với những câu chuyện như sau: Quan Ba Nhảy dù nhưng vẫn đánh một chiếc xe đạp thổ tả cọc cà cọc cạch rong chơi với một con gà ở đằng sau porte-bagages. Thú nuôi gà của ông đã lên đến cao độ đến nỗi ông ta mang biệt hiệu &#8220;Hùng gà chọi&#8221;. Nghe tiếng một con gà nào đó ở Bà Điểm nổi danh vì ngón đòn, ông lọc cọc chiếc xe vượt qua một quãng đường dài lồi lõm sống trâu để chứng kiến cho được ngón đòn của gà&#8230; Hãy nghe ông &#8220;luận&#8221; về gà: Nó là một guerrier, đấy là một combattant, không bao giờ lùi không bao giờ chịu thua&#8230; Đến chữ &#8220;thua&#8221; ông đưa một quả đấm lên trời, mắt long lên sòng sọc. Đúng là hình ảnh của một con gà chọi. Chẳng hiểu thằng nào gán cho ông cái biệt hiệu thật đúng phong phóc!!! Nó là một tay gan lì! C’est un type! Dù có bị đánh lê nhê, máu me đầm đìa, hắn ta vẫn nhẫn nha chiến đấu&#8230; Có con gà bị đánh mù mắt, hắn ta mù nhưng vẫn lừa đối thủ để kẹp lấy chiếc cổ và thế là a-lê-hấp nó phản đòn ngay. Ông có thể luận về gà đầy đủ chi tiết, nhại lại thế đứng,một ngón đòn hay của con gà&#8230; Không có gì phải bất tiện, hai tay là hai cánh gà, hai chân biến thành một cặp chân tưởng như có đủ cựa nhọn, đầu cúi xuống, ông diễn tả nhiệt tình và chi tiếp hấp dẫn của mỗi trận đấu. Thế giới loài gà nếu biết được sự ái mộ nồng nhiệt đó chắc hẳn không bao giờ buồn phiền nếu ở trong tường hợp &#8220;à la casserole&#8221; hay &#8220;à la gamelle&#8221;&#8230; sau khi bị thua trận. Sau đá gà là rượu, rượu là nước của ông, chiếc bi-đông sau lưng bao giờ cũng đầy rượu đế ngâm vài cục đường phèn. Nhấp một tí rượu, cắn một miếng cóc nhỏ là đủ sức đi thêm một đoạn đèo, vượt một rặng núi. Dừng quân, cởi chiếc nón sắt, ông rút bi-đông làm ngụm rượu, đốt điếu thuốc, loại thuốc đen Mélia hay Bastos ngồi lim dim đôi mắt&#8230;<br />
&#8211; Trung tá có ăn cơm không?<br />
Anh lính cần vụ lân la đến hỏi.<br />
&#8211; Tớ đ&#8230; cần! &#8211; Trung tá có mệt không?&#8230; &#8211; Mệt chó nào được, ngày rút từ Lào về tớ chạy bộ suốt bao nhiêu ngày đêm cũng chẳng bõ bèm gì&#8230; &#8211;<br />
&#8211; Chết mẹ&#8230; &#8211; Tụi lính xì xào&#8230;- Ông già lại nói chuyện bản Hiu-Siu thì chết cả lũ!<br />
Đúng ngay bong! Ông bắt đầu kể chuyện Bản Hiu-Siu ở bên Lào&#8230;<br />
&#8211; &#8220;Lúc đó tớ là thiếu úy, ban đêm Việt Minh ùa vào, dây kẽm gai giăng thấp chừng này, lính Bayonnette au canon! À la grenade&#8230; En assaut&#8230; Việt Minh lùa vào, mặc, tớ cứ tương lựu đạn đều đều&#8230;<br />
Ông ta đứng dậy ngay trên sườn núi biểu diễn thế ném lựu đạn và đâm lưỡi lê, ngừng một chút để hớp thêm tí rượu. Thiếu tá cố vấn Mỹ đến hỏi một điều gì đó, ông cụt hứng gắt um:<br />
&#8211; C&#8230; Đ.m cứ lẩm cà, lẩm cẩm cả ngày&#8230;<br />
Anh cố vấn de lui, mặt mũi thộn ra trông &#8220;quê&#8221; một cục. Ở Phú Thứ, Thừa Thiên năm 1967, ông chỉ huy tiểu đoàn tôi cùng tiểu đoàn 7 Nhảy dù tiến đánh vào khu giải phóng của vẹm, lúc tiểu đoàn 7 đụng trận, ông đứng trên thiết vận xa nhảy cỡn lên vì thích thú&#8230;<br />
&#8211; Đấy, tớ biết ngay, các chú (Việt cộng) đang ở chỗ này, nhất định là ở chỗ này&#8230; Thằng Bảy đụng ở đây, tớ dàn cậu (chỉ tiểu đoàn trưởng tôi) ở chỗ này là đi đoong đời các chú, tớ nghiền&#8230; Nghiền nát các chú ấy.<br />
Chữ &#8220;nghiền&#8221; được diễn tả bằng hai bàn tay bóp chặt vào nhau và kéo dài theo hơi thở, mồm ông méo hẳn lại để diễn tả cảnh tan nát của các anh Việt cộng. Đại loại là như thế, ông sống ở đời với thái độ &#8220;Tiếu Ngạo Giang Hồ&#8221;, nhân vật Lão Ngoan Đồng Chu Bá Thông chắc cũng đến độ của ông già sếp tôi mà thôi. Năm 1965 hành quân tại Đức Cơ khi rút ra Pleiku nghỉ, không hiểu bị lôi kéo thế nào ông đi theo mấy đại đội trưởng vào hội quán Phượng Hoàng để khiêu vũ! Lệnh ông tướng vùng bấy giờ cấm mặc quân phục vào hội quán, anh quân trấn trưởng nói năng ra làm sao, ông nổi sùng&#8230;<br />
&#8211; Đ.m Hùng đi hành quân chỉ có mỗi bộ quần áo nhà binh, không cho tớ mặc đồ trận thì tớ cởi truồng sao?<br />
Thuận tay ông đưa luôn một qủa dirrect, anh quân trấn trưởng nằm thẳng cẳng. Đóng quân ở Hương Trà, Huế, tiểu đoàn tôi làm tiệc mời ông ra hát. Hát không được thì tớ múa vậy! Nói là làm, ông đi một đường flammenco cũng lắc mông, lắc ngực, và kết thúc là một bài thuyết trình &#8220;Qu’est ce que L’armée?&#8221; Tiếp theo là những lời sỉ vả tàn tệ vua quan sĩ thứ người trong nước, ông nhớ đến ai ông chửi tơi bời hoa lá, chửi đích danh, chửi ngon lành, chửi như một cơn giận từ bao nhiêu lâu che dấu nay cho tuôn ra như dòng sông được mở&#8230; Đầu năm 1968, gần Tết Mậu Thân, lữ đoàn ông hết nhiệm vụ, từ Huế trở về Sài Gòn. Ông Tướng khu chiến thuật nhắc ông ở lại Huế để đón Tổng Thống cùng Thủ Tướng, ông hạ ngay một câu:<br />
&#8211; Tớ hết hành quân là tớ về, Tổng thống đâu có thương tớ bằng mẹ đĩ được!<br />
Nói xong ông leo lên tàu bay đi thẳng. Có một anh nhà báo lân la đến phỏng vấn&#8230;<br />
&#8211; Xin trung tá cho biết ý kiến về cuộc hành quân vừa qua?<br />
&#8211; Ý kiến hả&#8230;? &#8211; Đợi cho anh nhà báo sửa soạn ghi chép, ông &#8220;tuyên bố&#8221;: Sướng nhất là đêm Noel tớ say rượu gọi máy truyền tin qua Bến Hải chửi Võ Nguyên Giáp và Hồ Chí Minh!!<br />
Nhưng đằng sau những cơn say, những màn tiếu ngạo ồn ào trên, thật dễ dàng nhận được niềm thiết tha, mối nhiệt tình nồng nàn đối với quân đội và quê hương. Thật lạ lùng với hai mươi năm ở đơn vị tác chiến, thời gian bằng số tuổi của một gã trai trẻ, một gã trai trẻ cỡ tôi nhưng lòng hiu hắt như cơn nắng quái sắp tàn. Hơn hai mươi năm nhà binh với năm mươi tuổi, một mái tóc bạc trắng, ông vẫn có một nụ cười thật tươi để thêm vào câu chuyện. Thế nào là một cán bộ giỏi? Thế nào là những nguyên tắc căn bản để chỉ huy? Thế nào là DOC (Dirriger, Organiser, Controler) ông nói say sưa, dẫn giải từng điểm chi tiết về bổn phận của người trung đội trưởng, đại đội trưởng. Khói thuốc lá làm ánh mắt thành hiền hòa, ông nói sang sảng, trình bày mạch lạc. Ông gây nơi tôi một sự xúc động kỳ lạ, nỗi xúc động khám phá được niềm tin vẫn còn trong lòng một người giáo tóc bạc da nhăn với hơn hai mươi năm đi khắp rừng sâu núi cả quê hương. Hơn hai mươi năm gánh chịu cơn đau yếu đỏ lửa của tổ quốc, cơn đau yếu nhọc nhằn của dòng sống dân tộc chông chênh. Chiến tranh vẫn chưa đốn ngã niềm tin trong lòng ông&#8230; Tớ chỉ là Cai Hùng&#8230; Cai thật trẻ!! Sau này ông bị ra khỏi binh chủng vì một lý do nào đó tôi không hiểu nhưng điều này chắc chắn là một vết thương lớn nhất trong đời ông. Ông im lặng ngồi trong chiếc phòng con nhìn xuống chân đồi doanh trại cười gằn uất nghẹn đau đớn. Làm sao nói cho hết nỗi cay đắng của người lính già khi phải từ bỏ đơn vị, binh chủng cùng sống trên hai mươi năm lúc tóc còn xanh như niềm hy vọng đến nay mái đầu nhuốm bạc trắng. Không những vì một tuổi già nhưng cũng là lớp sương giá chồng chất lên sau khỏang thời gian binh biến. Thường ngày trong cơn say ông hay mò đến văn phòng chúng tôi để tìm người nói chuyện, nhưng trong thời gian này ông ngồi im như một kiêu hãnh bị xúc phạm, tiếng hét được ghìm xuống giữa kẽ răng thành những tiếng cười gằn nhức nhối như lưỡi dao đâm vào qủa tim đang mở miệng cười.<br />
Ông ra khỏi binh chủng, chỉ huy một đơn vị bộ binh nhưng vẫn mặc đồ ngụy trang và đội nón đỏ. Đâu còn là những kích thích về hình thức quyến rũ đối với ông. Nhưng phải nghe ông ta nói: &#8220;Tớ là Nhảy Dù&#8230; Tớ là Cai Hùng&#8230;&#8221; Tiếng &#8220;Nhảy Dù&#8221; nghe ngắn, chắc như xác định niềm hãnh diện có thật của một người đã sống hết đời cho tập thể. Sau một thời gian ở trung đoàn này ông bị tai nạn trầm trọng, tất cả cơ quan trong người bị đảo lộn. Ông phải chịu nhiều cuộc giải phẫu, thị giác trở nên yếu kém, mất phần lớn ý niệm về sự việc. Lúc chúng tôi đến thăm, ông không nhận ra, nhưng trong nỗ lực của trí nhớ, bỗng nhiên ông nhận ra Vinh &#8220;con&#8221;, viên sĩ quan nhỏ tuổi nhất được ông thương mến như con cháu. Ông nhận ra nó đồng thời với một giọng nói run run:<br />
&#8211; Tớ lúc này chỉ thấy mờ mờ nhân ảnh!<br />
Trong tận cùng của đổ vỡ, ông cũng không mất đặc tính khôi hài, dấu hiệu của tâm chất dũng mãnh dù hoàn cảnh đã đẩy đưa vào hố thẳm của tuyệt vọng. Sau này khi nhìn thấy được cảnh vật nhạt nhòa, ông đến trại thăm lại nhà cửa, hỏi thăm các hạ sĩ quan và lính cũ. Trí nhớ chưa phục hồi hẳn, ông mệt nhọc hỏi từng người với những câu nói rời rạc hỗn độn, sau cùng ông nói với tôi để xin người lính về giúp ông công việc riêng tại nhà. Lần đầu tiên nghe ông nói công việc liên quan đến gia đình. Khi tôi bảo người lính theo ông về nhà, ông vui vẻ ra mặt:<br />
&#8211; Quý hóa quá, thế mới biết anh em Nhảy dù luôn giúp đỡ nhau&#8230;!<br />
Lòng tôi trùng xuống như cơn mưa của ngày đông buồn bã. Tiễn ông xuống đồi, bóng người lính già khuất bụi mờ. Sau kiếp người đằng đẵng gian lao cho Tổ Quốc một khỏang trống xám đặc bụi mù.<br />
Tháng 5-1969. Hậu cứ Long Bình.<br />
<em>Hậu Từ: Về Trung Tá Đào Văn Hùng, Lữ Đoàn Trưởng Lữ Đoàn II Nhảy Dù &#8211; Sau 30-4-1975, lực lượng Cộng sản vào khu ngã Ba Ông Tạ truy lùng và xét xử ông cùng gia đình. Do thương trận từ trước (bị mù mắt và tê liệt) nên bộ đội CS chỉ xử tử người con trai của ông tại Lăng Cha Cả ngay sáng ngày 30-4-1975. </em><em></em></p>
<p>&nbsp;</p>
<p><strong>Phan Nhật Nam</strong></p>
]]></content:encoded>
					
					<wfw:commentRss>https://t-van.net/phan-nh%e1%ba%adt-nam-ng%c6%b0%e1%bb%9di-ch%e1%bb%89-huy-v%e1%bb%81-gi/feed/</wfw:commentRss>
			<slash:comments>0</slash:comments>
		
		
			</item>
		<item>
		<title>TV&#038;BH: Người lính viết văn Phan Nhật Nam ra mắt sách</title>
		<link>https://t-van.net/tvbh-ng%c6%b0%e1%bb%9di-lnh-vi%e1%ba%bft-van-phan-nh%e1%ba%adt-nam-ra-m%e1%ba%aft-sch/</link>
					<comments>https://t-van.net/tvbh-ng%c6%b0%e1%bb%9di-lnh-vi%e1%ba%bft-van-phan-nh%e1%ba%adt-nam-ra-m%e1%ba%aft-sch/#respond</comments>
		
		<dc:creator><![CDATA[TV và BH]]></dc:creator>
		<pubDate>Sat, 19 Oct 2013 20:58:12 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Góc Văn]]></category>
		<category><![CDATA[giới thiệu]]></category>
		<category><![CDATA[phan nhật nam]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://7076e870b2.nxcli.io/?p=14982</guid>

					<description><![CDATA[Nhà văn Phan Nhật Nam, đang nỗ lực thực hiện việc ra mắt hai tác phẩm mới nhất của ông tại các thành phố lớn đông đảo người Việt ở Hoa Kỳ. Đó là hai tác phẩm được ông giới thiệu đến anh em bằng hữu : “Phận Người &#8211; Vận Nước: Tường trình về [&#8230;]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<p><a href="https://t-van.net/wp-content/uploads/2013/10/clip_image0014.jpg"><img loading="lazy" decoding="async" style="background-image: none; float: none; padding-top: 0px; padding-left: 0px; margin-left: auto; display: block; padding-right: 0px; margin-right: auto; border: 0px;" title="clip_image001" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2013/10/clip_image001_thumb4.jpg?strip=all&fit=404%2C444" alt="clip_image001" width="404" height="444" border="0"></a><strong></strong></p>
<p>Nhà văn Phan Nhật Nam, đang nỗ lực thực hiện việc ra mắt hai tác phẩm mới nhất của ông tại các thành phố lớn đông đảo người Việt ở Hoa Kỳ. Đó là hai tác phẩm được ông giới thiệu đến anh em bằng hữu :</p>
<p><em>“<strong>Phận Người &#8211; Vận Nước: </strong>Tường trình về quá trình Sống/Chiến Đấu/Và Chết theo cùng mệnh nước nổi trôi của nhiều thế hệ người Việt trong giai đoạn khốc liệt 1945-1975. </em></p>
<p><strong><em>Chuyện Dọc Đường: </em></strong><em>Gồm những câu chuyện tác giả nghe ra, chứng kiến, sống cùng&#8230; suốt chặng đường khổ nạn với mỗi phận người Việt Nam trên hành trình xuyên nước Mỹ, khắp các châu lục, nơi quê nhà. Câu chuyện về Nỗi Đau chưa hề đứt đoạn kể từ sau 1975. </em></p>
<p><em>Hai tác phẩm trên cũng để tổng kết 45 năm (1968-2013) cầm bút bởi tình cảnh “Bất Bình Tắc Minh” của Người Lính-Viết Văn Phan Nhật Nam.”</em> ( trích Thư Giới Thiệu Sách – Phan Nhật Nam).</p>
<p>Buổi ra mắt sách đầu tiên đã được tổ chức vào ngày 12 tháng 10 năm 2013 vừa qua tại miền Nam California . Theo ký giả Linh Nguyễn của báo Người Việt, thì buổi ra mắt sách này đã thành công “ngòai mong đợi “ . Phát biểu cảm tưởng trong buổi ra mắt sách đầu tiên, cũng theo ký giả Linh Nguyễn, nhà văn Phan Nhật Nam đã bày tỏ :</p>
<p><em>“</em><em>“Mình 70 tuổi rồi, dù không viết được bao lâu nhưng vẫn phải viết. Tôi không ngờ hôm nay lại đông như thế</em>,” nhà văn Phan Nhật Nam nói.</p>
<p>Ông kể những mốc thời gian đáng nhớ trong đời của mình.</p>
<p><em>“Ngày 20 Tháng Tám, 1964 là năm 21 tuổi, lần đầu tôi nhảy từ trực thăng xuống Bình Đại để lấy xác đồng đội. Tôi thấy cả xác những đứa trẻ 15, 16 tuổi. Việt cộng đây ư?”</em></p>
<p><em>“Tôi vẫn nhớ đến ngày hôm nay, hình ảnh cô Lai. Cô đưa tôi gói vàng. Tôi lắc đầu nói tiếng Trung pha giọng Bắc, sợ cô không hiểu. Cô bỗng dưng cởi áo ra. Tôi nói tôi không phải loại lính như thế! Rồi xuống hầm, tôi thấy hai ông bà già, chắp tay vái, sợ hãi!”</em> ông kể và hình như nghẹn ngào.</p>
<p><em>“Rồi hình ảnh trên đường Trần Quang Khải sau 75, chúng tôi bị ném đá, chửi là ăn tiền của Mỹ, Ngụy!” </em>giọng ông trở nên chua chát.</p>
<p>Ông kể rằng ngày 29 Tháng Ba, ông chứng kiến trên đường chạy từ Huế vào Đà Nẵng, người đàn bà bồng xác con, ngón chân bầm tím, chết từ khi nào. Cảnh người cha kéo xác con để trong bao trên sàn tàu Victoria.</p>
<p>Ngày 14 Tháng Chín, 1972 có 10 ngàn người trên 1 cây số, gồm 6 tiểu đoàn Thủy Quân Lục Chiến và 6 tiểu đoàn Nhảy Dù trong chiến dịch Lưu Phong, chỉ từ ngày 27 Tháng Bảy đến 14 Tháng Chín, 1972.</p>
<p><em>“Kết quả Đại Úy Thạch treo cờ trên cổ thành Quảng Trị!”</em> ông sung sướng nở nụ cười, mắt nhìn tấm tranh phía sau lưng trong khi tiếng vỗ tay vang lên.</p>
<p>Ông cũng nhắc đến người binh nhì, biệt kích không có số quân, trong tù, hàng ngày anh hát bài “Bảo vệ làng thôn Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa” và sau đó cất tiếng hát “Này công dân ơi đứng lên đáp lời sông núi!”</p>
<p><strong><em>“Chúng tôi là một thế hệ thất bại nhưng không thất vọng! Thế hệ trẻ sẽ tiếp nối,”</em></strong> ông chào tay kiểu lính và cám ơn mọi người. ( Theo Linh Nguyễn &#8211; &#8216;Người lính viết văn&#8217; Phan Nhật Nam ra mắt sách –Người Việt online ).<strong></strong></p>
<p>Được biết, theo lịch trình , các buổi ra mắt sách kế tiếp của Phan Nhật Nam như sau :</p>
<p><strong>Tại Washington D.C.: Thứ Bảy, 19 Tháng 10, 2013</strong></p>
<p><strong>Tại Dallas, Texas: Thứ Bảy, 26 Tháng 10, 2013</strong></p>
<p><strong>Tại San José, Sacramento Bắc California: Thứ Bảy, 2; Chủ Nhật 3 Tháng 11, 2013</strong></p>
<p><strong>(Giờ, và địa điểm sẽ được thông báo sau).</strong></p>
<p>&nbsp;</p>
<p><a href="https://t-van.net/wp-content/uploads/2013/10/clip_image00210.jpg"><img loading="lazy" decoding="async" style="background-image: none; float: none; padding-top: 0px; padding-left: 0px; margin-left: auto; display: block; padding-right: 0px; margin-right: auto; border: 0px;" title="clip_image002" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2013/10/clip_image002_thumb10.jpg?strip=all&fit=404%2C313" alt="clip_image002" width="404" height="313" border="0"></a></p>
<p>&nbsp;</p>
<p>Theo Ký mục Gia Bùi Bảo Trúc, trong mục “Thư Gửi Bạn Ta “ ngày 18 tháng 10 năm 2013 trên trang web của ông <a href="(http:/www.tgbt.4t.com/)">(http://www.tgbt.4t.com/)</a>, ông đã viết những dòng cảm động giới thiệu tác phẩm “ <strong>Chuyện Dọc Đường</strong> “ của Phan Nhật Nam :</p>
<p><em>“ . . . Phan Nhật Nam đã vừa đi, vừa viết trong suốt nhiều năm. Các tác phẩm của ông trước sau, cho đến bây giờ, đọc lên bao giờ cũng thấy con người lính của ông. Và trong những điều ông viết về cuộc chiến, lúc nào người ta cũng thấy con người nhà văn của ông.</em></p>
<p><em>Chuyện Dọc Đường</em><em> không thể là cuốn sách ghi lại được tất cả những điều ông thấy, nghe, lượm lặt đươc trên con đường ấy, cũng không phải là quyển sách cuối cùng ông cho xuất bản như người chủ trương cơ sở xuất bản đã nói.</em></p>
<p><em>Càng đọc Phan Nhật Nam càng thấy một điều, đó là ông vẫn còn quá nhiều điều ông muốn nói. Ông còn quá nhiều thứ cất giữ trong cái bộ nhớ mà may mắn cho ông, cho chúng ta, vẫn còn nguyên những cuộn não chỉ ghi nhớ những thứ ấy, những thứ về những con đường, những nơi ông đã đi qua, những người mà ông đã tiếp xúc, những đời sống đã chạm nhẹ vào đời sống của ông.</em></p>
<p><em>Cuốn sách có thể đọc ở giữa, ở cuối, hay ở đầu, bắt đầu đọc ở bất cứ đoạn nào, trang nào cũng không thấy cần phải đọc theo thứ tự ghi ở mục lục. Bởi lẽ cái không khí của cuốn sách, của những câu chuyện dọc đường ấy ở đâu cũng thấy, cũng bàng bạc, lẩn quất ngay ở những nơi chốn tưởng như đã xa lắm rồi đời sống của người lính Phan Nhật Nam.</em></p>
<p><em>Cuốn sách vẽ ra một không gian giống như trong cuốn phim của Trương Nghệ Mưu, cuốn Cúc Đậu, về câu chuyện xẩy ra trong một lò nhuộm. Giữa cái không gian vây quanh bằng những mảng đen u tối , nhân vật chính chỉ thấy được mầu xanh khi ngó lên trời, cạnh những giải lụa mầu sắc bay phần phật trong gió.</em></p>
<p><em>Đọc một số chuyện trong cuốn Chuyện Dọc Đường người ta có cảm tưởng đang xem một cuốn phim đen trắng, trong một không gian lúc nào cũng thiếu ánh sáng, lúc nào cũng u uất ảm đạm. . . “</em>( Bùi Bảo Trúc -Thư Gửi Bạn Ta &#8211;<strong> </strong>Ngày 18 tháng 10 năm 2013<strong> ).</strong></p>
<p>Quý độc giả muốn mua sách, xin liên lạc : <strong>714-856-4635</strong></p>
<p>hoặc email : <strong><a href="mailto:tuanbaosong@gmail.com">tuanbaosong@gmail.com</a></strong></p>
<p>Theo chúng tôi được biết, chi phí là $50 cho hai quyển sách nói trên, bao gồm cả cước phí bưu điện.</p>
<p>T.Vấn &amp; Bạn Hữu xin kính chúc nhà văn Phan Nhật Nam thành công trong các buổi ra mắt sách. Xin cầu nguyện cho ông luôn nhiều sức khỏe để đi hết đọan đường chiến binh mà số phận đất nước đã dành riêng cho ông, một người lính viết văn.</p>
<p><strong>TV&amp;BH</strong><strong></strong></p>
<p><strong>19 tháng 10 năm 2013</strong></p>
<p>&nbsp;</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>©T.Vấn 2013</p>
]]></content:encoded>
					
					<wfw:commentRss>https://t-van.net/tvbh-ng%c6%b0%e1%bb%9di-lnh-vi%e1%ba%bft-van-phan-nh%e1%ba%adt-nam-ra-m%e1%ba%aft-sch/feed/</wfw:commentRss>
			<slash:comments>0</slash:comments>
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Phan Nhật Nam : TRONG RỪNG C&#194;Y L&#193; XANH</title>
		<link>https://t-van.net/phan-nh%e1%ba%adt-nam-trong-r%e1%bb%abng-cy-l-xanh/</link>
					<comments>https://t-van.net/phan-nh%e1%ba%adt-nam-trong-r%e1%bb%abng-cy-l-xanh/#respond</comments>
		
		<dc:creator><![CDATA[Phan Nhật Nam]]></dc:creator>
		<pubDate>Sun, 13 Oct 2013 02:27:41 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Phan Nhật Nam: Dấu Binh Lửa]]></category>
		<category><![CDATA[dbl]]></category>
		<category><![CDATA[phan nhật nam]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://7076e870b2.nxcli.io/?p=14934</guid>

					<description><![CDATA[Tranh : Trần Thanh Châu Chiến dịch mở được một tháng, đêm đầu tiên, một ngày đầu của tháng mười một, đóng ở ngã ba quận Xuân Lộc, nơi quốc lộ 1 và đường liên tỉnh đi Bình Giả gặp nhau. Đêm thật lạnh, đây là cực bắc của miền Nam và cực nam của [&#8230;]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<p><strong><a href="https://t-van.net/wp-content/uploads/2013/10/clip_image0021.gif"><img loading="lazy" decoding="async" style="background-image: none; float: none; padding-top: 0px; padding-left: 0px; margin-left: auto; display: block; padding-right: 0px; margin-right: auto; border: 0px;" title="clip_image002" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2013/10/clip_image002_thumb1.gif?strip=all&fit=404%2C275" alt="clip_image002" width="404" height="275" border="0" /></a></strong></p>
<p align="center"><strong>Tranh : Trần Thanh Châu</strong></p>
<p>Chiến dịch mở được một tháng, đêm đầu tiên, một ngày đầu của tháng mười một, đóng ở ngã ba quận Xuân Lộc, nơi quốc lộ 1 và đường liên tỉnh đi Bình Giả gặp nhau. Đêm thật lạnh, đây là cực bắc của miền Nam và cực nam của miền Trung. Bụi mù đất đỏ, rừng cao su xanh thẫm và hơi núi lạnh se sắt. Đã lâu lắm tôi không được hưởng cái lạnh này, mùa đông của miền Trung như kéo dài, xâm chiếm vào miền Nam nắng đỏ. Quốc lộ số 1, đường ra Phan Thiết, sông Phan&#8230; Bao lâu tôi không đi trên quãng đường này. Thưở mười bốn, mười lăm, tôi đã thân thiết con đường sắt chạy hun hút về phương nam, mỗi buổi chiều ở ga Đà Nẵng, tàu Sài Gòn ra lúc bảy giờ tối, trong nắng chiều chập choạng con tàu uể ỏai lười biếng như gã giang hồ tìm về nhà trọ, đi vào sân ga sau khi đã quành vòng để trở đầu về phía đèo Hải Vân. Tôi ngồi trên bãi cát ở nghĩa địa nhìn hành khách từ phương nam đến, mơ ước những chuyến đi xa, thật xa và để đến chiều bước vào một thành phố lạ trong ánh nắng cuối của ngày. Con đường sắt xuyên Việt, quốc lộ số 1 đối với tôi từ thuở bé đến bây giờ vẫn là những sinh vật linh động có tâm hồn, hơi thở, thân thích đầy kỷ niệm.<br />
Buổi chiều hôm nay, tôi thấy lại cảm giác bâng khuâng khi đọc trên trụ cây số ở vệ đường: Nha Trang &#8211; 526 cây số&#8230; Tưởng ra, thành phố có nắng tươi như lá non, những ngày bắt đầu lớn. Ngồi ởtrụ cây số nhìn con đường chạy hút mất xa như tìm lại người bạn đã lâu không gặp, một gã bạn giang hồ luôn luôn bị hoạn nạn nhưng sẵn sàng lao người vào vùng đầy gió bão. Quốc lộ 1, người bạn trong cơn đau ốm của quê hương. Trăng thượng tuần mọc ở góc trời, ốm yếu như người khốn khó&#8230;<br />
Từ ngày đầu tiên của cuộc hành quân, chúng tôi bỏ quốc lộ 1, tung quân hoạt động trong khu tam giác giới hạn bởi ba con đường, quốc lộ 15, đường liên tỉnh Bà Rịa — Long Khánh và đường Long Thành (Biên Hòa) &#8211; Long Giao. Bộ chỉ huy hành quân tiến dọc theo con đường đất đỏ chia đôi khu vực trên. Con đường chạy từ sân bay đồn điền ông Quế ra đến Long Thành thẳng góc với trục giao liên của Việt cộng từ sông Đồng Nai đến mật khu Hắc-Dịch. Một tháng trời đã qua, bây giờ chúng tôi tiến sát quốc lộ 15, cách quận Long Thành mười lăm cây số đường chim bay. Bộ chỉ huy hành quân thiếp lập trung tâm hỏa lực và tung các tiểu đoàn hoạt động sâu về hướng bắc, khu vực đồn điền An Viêng, làm thành phần an ninh xa cho các căn cứ quan trọng của Mỹ. Tình hình quân sự được xem là yên tĩnh, chỉ chạm địch nhẹ cấp trung đội, ngoại trừ lần tấn công để thử sức của một tiểu đoàn địch vào vị trí đóng quân của tiểu đoàn 5 Nhảy dù. Địch thất bại và từ đó tránh né hẳn với lực lượng chúng tôi. Tôi mất niềm thú vị nhẹ nhàng mỗi khi đêm xuống vì rút gần về Biên Hòa độ lạnh giảm theo, đồng thời sự giao dịch Việt &#8211; Đồng Minh càng ngày càng tệ. Lẽ tất nhiên từ lâu chúng tôi đã không khoái vụ &#8220;cố vấn Mỹ&#8221;, nhưng vì đấy là cái nợ bắt buộc phải chịu đựng, nay lại thêm vài chú Úc nữa thật khó chịu đành lòng.<br />
Chúng tôi là lính Nhảy dù, không tự kiêu, nhưng chẳng một ly tự ty nào với họ. Anh đại uý thâm niên nhất đám đi lính không đầy mười năm; ở lính lâu thì cũng chẳng có gì là quan trọng, nhưng nếu so sánh hai anh lính, dù khác từ màu da, quốc tịch, quân đội&#8230; Chúng tôi, người lính Việt Nam có kẻ gần hai mươi năm, kẻ sớm nhất cũng vài năm được trui luyện trong một cuộc chiến tranh ngặt nghèo lẽ tất nhiên hơn hẳn, hơn xa hẳn loại lính con nhà giàu bất kỳ Anh, Mỹ, Úc hay gì gì đi chăng nữa. Chúng tôi biết rằng khi đề cập đến khả năng để chỉ huy những lộ quân lớn với hàng ngàn công việc rắc rối về thiết kế và yểm trợ, chúng tôi chắc sẽ thua mấy anh ngoại quốc. Nhưng nếu kể đến khả năng từ tiểu đoàn trưởng trở xuống trong trận chiến du kích này, các anh da trắng chỉ có thể là học trò mà thôi. Thế thì cố vấn cái gì&#8230; Nỗi bực mình từ đấy cứ tăng lên. Xin trực thăng tải thương, viên thiếu uý Úc hỏi từ A đến Z&#8230; Ai? Bị thương giờ nào? Tọa độ? Bị thương nặng nhẹ? Ở đâu?&#8230; Gần hai mươi câu hỏi được hỏi một lúc, ghi ghi chép chép, mã hóa (1) hết cả thảy bản văn rồi mới lấy máy ra liên lạc. Một giờ trôi qua mới đủng đỉnh trả lời: &#8220;Có thể có trực thăng và không biết địa điểm di tản thương binh về đâu! Ai có thể chịu được? Tàu bay đến tản thương được một người, tôi mệt mỏi như chính mình thọ nạn. Hai ngày sau, hậu cứ hỏi di tản thương binh về đâu? Bố da trắng ngú ngớ như thằng ngọng, xong thật vắn tắt: Không biết. Không biết thì cắn răng mà chịu, chỉ có được chửi thề một câu.<br />
Sắp đến Noel rồi đấy. Noel, có một cái gì ấm áp đôn hậu bềnh bồng trong linh hồn. Tôi là kẻ ngoại đạo, nhưng đêm Thiên Chúa ra đời vẫn choáng ngập trong lòng một niềm hân hoan mới lạ. Âu cũng là lộc đời. Nhớ lại những Noel thưở bé, bảy tuổi đứng trông rừng lồng đèn của khu nhà thờ, chiếc áo len mới đan ấm áp và từ trong nhà thờ tiếng hát dặt dìu như cánh bay của thiên thần, Noel của những năm mới vào lính, nằm ở rừng Tân Phong với Hải, thấm thoát thế là bao nhiêu lâu&#8230;. Thôi, tôi đã vào một tuổi già. Một người đi gần đến bên tôi:<br />
&#8211; Có thư của em gái hậu phương gửi ra, ông có đọc không?<br />
&#8211; Đưa tôi xem thử&#8230;<br />
Đây là loại thư của các trường học cứ đến dịp lễ, Tết, bắt buộc học sinh phải viết trong giờ hiệu đoàn để gởi cho lính, một anh lính vô danh ở một nơi xa xôi &#8211; Cung cách yểm trợ tinh thần cho lính của Chánh phủ, giây liên lạc giữa học đường và quân đội. Thuở xưa tôi cũng đã khó nhọc vì viết những lá thư như vậy.Xem thử ra sao?<br />
Bây giờ trong lòng tôi là một cơn giận, giận ghê gớm, lá thư thay vì có những ý tình ngây ngô vụng về hay một vẻ khôn ngoan thơ dại như tôi nghĩ, nhưng không phải là như vậy. Thư này của một em xưng là học sinh Đệ Nhất (Nghĩa là đã đậu xong bằng tú tài I rồi) của trường Lê Văn Duyệt. Em viết thư để tỏ ra mình là một người lớn xưng tôi và gọi: Anh lính. Tóm tắt bức thư nói rõ cái bực dọc của kẻ bị bắt buộc viết thư cho một người không xứng đáng với mình &#8211; Một anh lính tồi tàn ở một nơi nào đó không biết. Thoạt tiên thì tôi giận, giận cùng mình&#8230; Học Đệ Nhất, thì mới là lớp của em út tôi, già lắm là hai mươi tuổi, thua tôi mười tuổi, một thế hệ&#8230; Thế mà nó lên mặt cao ngạo, trịch thượng, nếu không nói là mất dạy. Nhưng rồi xét cho cùng, tôi không trách đứa con gái nhỏ đó. Tôi không trách cứ, vì trách nhiệm là tầng lớp của cha mẹ, thầy giáo và xã hội đang nuôi dưỡng và giáo dục lớp tuổi cô bé đó. Tại sao cô gái nhỏ đó khinh lính? Vì từ học đường kéo ra đời sống bên ngoài, ngay cả đến cơ quan Chiến tranh chính trị quân đội có ai vẽ được chân dung đích thực của người lính Việt Nam? Chỉ có loại lính bột, lính kiểng, lính không có xương, giống như hình ảnh của hai em bé tặng một cành hoa hạng bét cho một anh lính văn phòng, tóc để dài như kép hát, mang áo giáp một cách vụng về, bức ảnh được chụp tại một doanh trại ở Gò Vấp, nhưng được ghi chú &#8220;Xuân ở tiền đồn&#8221;&#8230;<br />
Làm gì có loại lính Nhảy dù &#8220;nhảy xuống đất chơi&#8221;? Nhảy một saut là một điều nguy nan, saut thứ ngàn lẻ vẫn có tai nạn như thường&#8230; Nhảy tim sẽ to lên vì máu bị dồn mạnh, đứng đợi ở cửa máy bay người bị đun vào trong một vùng hờ hững mênh mông. Đó chỉ là kỹ thuật, huống gì nhảy một saut hành quân là bán hẳn đi phần số tuổi thanh xuân. &#8220;Thiên Thần Mũ Đỏ&#8221; cái tước vị này nếu dùng thật đứng đắn mới có giá trị kích thích niềm hãnh diện trong lòng người lính, chứ dùng như một vật công cộng, một thứ đầu môi chót lưỡi, thì hình ảnh người lính Nhảy dù còn là gì? Làm gì có những người lính &#8220;viết thư dưới trăng đại dương&#8221;, làm gì có hoa sóng, hoa rừng&#8230; Một ngàn lần, tôi đoan chắc như vậy không có loại lính kể trên. Nó chỉ qua hình ảnh của mấy anh kép hát&#8230; Tôi cũng cả quyết rằng hình ảnh người lính Việt Nam không phải hình ảnh của anh kép cải lương mặc áo lính in trên bìa bản nhạc, cũng không phải là hình tượng của các cô gái nhỏ làm thơ đăng ở báo Văn Nghệ Tiền Phong&#8230; Vậy trách đứa con gái nhỏ đó làm gì? Cả xã hội này còn ngộ nhận, xa lạ với chiến tranh và người lính huống gì một đứa trẻ chưa rời lớp học. Nhưng rồi trong một tương lai thật gần, cô con gái nhỏ đó có cha, có chú, một người anh một người yêu ở Quang Trung, Thủ Đức. Em vào đấy thăm và sẽ biết&#8230; Em sẽ chờ đợi một lá thư, một ngày phép. Một năm sau,người thân đó trở về như một con thú, như kẻ điên, kẻ xa lạ với loài người từ lâu lắm&#8230; Khi đó em sẽ hiểu và chắc rằng em phải hiểu rõ hơn lúc người thân của em được gửi về trong chiếc túi ny lông. Lúc đó em ắt biết thế nào là lính&#8230; Chắc chắn như thế, cô gái nhỏ ạ.</p>
<p><strong>Tháng 12-1968, Long Khánh</strong>.</p>
<p><strong>Phan Nhật Nam</strong></p>
]]></content:encoded>
					
					<wfw:commentRss>https://t-van.net/phan-nh%e1%ba%adt-nam-trong-r%e1%bb%abng-cy-l-xanh/feed/</wfw:commentRss>
			<slash:comments>0</slash:comments>
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Phan Nhật Nam : NGHĨ VỀ MỘT KẺ TH&#217; KIỆT LỰC</title>
		<link>https://t-van.net/phan-nh%e1%ba%adt-nam-nghi-v%e1%bb%81-m%e1%bb%99t-k%e1%ba%bb-th-ki%e1%bb%87t-l%e1%bb%b1c/</link>
					<comments>https://t-van.net/phan-nh%e1%ba%adt-nam-nghi-v%e1%bb%81-m%e1%bb%99t-k%e1%ba%bb-th-ki%e1%bb%87t-l%e1%bb%b1c/#respond</comments>
		
		<dc:creator><![CDATA[Phan Nhật Nam]]></dc:creator>
		<pubDate>Tue, 08 Oct 2013 21:20:07 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Phan Nhật Nam: Dấu Binh Lửa]]></category>
		<category><![CDATA[dbl]]></category>
		<category><![CDATA[phan nhật nam]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://7076e870b2.nxcli.io/?p=14894</guid>

					<description><![CDATA[Xe chạy, bỏ Sài Gòn về An Phú Đông lòng không chút hứng thú. Sài Gòn thành phố nóng bức bụi bặm không xứng đáng gợi nên một chỗ xuất quân. Xe lính đi vào trận đánh ngang qua đường phố, đám đông hững hờ xa lạ, chẳng ai lưu ý đến đoàn người gươm [&#8230;]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<p><strong><a href="https://t-van.net/wp-content/uploads/2013/10/clip_image0024.jpg"><img loading="lazy" decoding="async" style="background-image: none; float: none; padding-top: 0px; padding-left: 0px; margin-left: auto; display: block; padding-right: 0px; margin-right: auto; border: 0px;" title="clip_image002" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2013/10/clip_image002_thumb4.jpg?strip=all&fit=396%2C311" alt="clip_image002" width="396" height="311" border="0" /></a></strong></p>
<p>Xe chạy, bỏ Sài Gòn về An Phú Đông lòng không chút hứng thú. Sài Gòn thành phố nóng bức bụi bặm không xứng đáng gợi nên một chỗ xuất quân. Xe lính đi vào trận đánh ngang qua đường phố, đám đông hững hờ xa lạ, chẳng ai lưu ý đến đoàn người gươm đao. Những cau mày bực dọc&#8230; Xe nhà binh bụi quá! Mới Mậu Thân đây, máu của chúng tôi đã đổ ra cho Thủ đô bạc bẽo này. Về phần tôi vì một chuyện lầm lẫn, phải đổi về đơn vị mới không thích hợp, tôi muốn trở về tiểu đoàn 7 Nhẩy dù, đơn vị đầu tiên, nhưng bây giờ phải ở với tiểu đoàn 2, lòng thật khó chịu. Không phải tôi chê gì tiểu đoàn này, đây là tiểu đoàn đánh giặc hách nhất của sư đoàn Dù, đánh ác liệt như tiểu đoàn 5 trong năm 1965, nhưng vì ở đây tôi không có bạn thân, yếu đuối là điểm nầy, luôn luôn phải có người thân sống cùng bên cạnh tôi mới linh hoạt được. Hơn nữa tiểu đoàn này đóng ở Sài Gòn, thành phố tôi ghê sợ đến đến xương cốt. Xe chạy trên đường lồi lõm đá, hai bên hàng dừa xanh, đến xã Thạnh Lộc vòng xuống để vào An Phú Đông. Bộ chỉ huy tiểu đoàn đóng quân bên cạnh đường liên tỉnh lên Lái Thiêu, các đại đội chia nhau rải đều khu vực. Tuần lễ đầu qua, các đại đội tuần tiễu lục soát, sáng đi chiều về chỗ đóng quân, tối lập hội, hội nhậu rượu. Từ bao lâu nay tôi đã luyện được biệt tài về tổ chức ăn nhậu, dù thiếu thốn cực khổ đến thế nào, rảnh rỗi tôi vẫn tổ chức được những cuộc ăn nhậu nổi đình đám bằng tất cả khôn khéo và thông minh &#8211; Nghề của chàng!!! Trong đời về mục ăn uống, tôi nghĩ chỉ thua mỗi mình ông Tản Đà, vì ngay những ngày tang thương rách rưới ở Bồng Sơn, bữa tiệc cũng có đủ tiết canh vịt, vịt trời hầm đu đủ, cá chép hấp. Quảng Điền, với những màn heo sữa quay, sườn chó nướng được thực thi đến mức tối đa cùng chục lít rượu nếp cẩm. Trong thống khoái hơi men với sự nhốn nháo một đám bạn bè, người cởi trần ngồi dưới một hàng mướp xanh, tôi thỏa thuê như con cá trong giòng nước. Những lần say rượu dưới chân núi Ngũ Tây, hòn núi đằng trước ngọn Ngự Bình Huế, gió thổi tiếng thông reo&#8230; Cơn say của mùa đông ở quận Phong Điền, trèo lên mái nhà cởi áo đứng hát trong đêm, hát thật to nhưng nghe buồn buồn những câu&#8230; Đại bác ru đêm&#8230; Trong khi Hiến &#8220;Chó xù&#8221; ngồi gảy đàn buồn chảy ra nước, gió miền Trung cuối năm lạnh giá và đại bác từ quận bắn đi xa&#8230; A! Những cơn say tuyệt đỉnh trên dòng sông Hương, đêm trung thu mờ mịt mưa giăng, ánh đèn dưới cầu Gia Hội chênh vênh vàng vọt, nằm trong khoang thuyền bồng bềnh tưởng người như tan biến vào cơn mưa. Này cơn say thần tiên ở Darkto, đêm mù mù sương muối, căn phòng đầy những tiếng hát buồn phiền khê nặc vang lên như một tiếng kêu thê thảm. Những ngày ở An Phú Đông này tôi lập lại những cơn say. &#8220;Đời là cơn say dài&#8221; — Từ khi tôi phán ra câu này, chúng &#8220;anh hùng&#8221; lấy làm một sự cảm phục. An Phú Đông, chiều trong hàng dừa, hàng chục chai bia ướp lạnh được uống vào với tận cùng thoả thuê, cá lóc nướng, tôm luộc, những cọng ngò gai thơm phức, những lá mùi xanh mát. Tôi đẩy mạnh cơn say lên tột đỉnh thênh thang.<br />
Những ngày bình yên đã hết. Tiểu đoàn nhận thêm khu vực trách nhiệm ở phía tây và bắc xã Thạnh Lộc, dọc theo rạch Bến Cát. Việt cộng một phần của chủ lực đã tấn công vào Sài Gòn trong dịp Mậu Thân cùng với lực lượng mới được tăng cường (xâm nhập từ vùng An Điền, Lái Thiêu tới) đang ẩn trốn ở vùng này, lực lượng này phải cố bám vùng ven đô để sau này dẫn đường cho những đơn vị khác tấn công vào dịp công kích đợt hai. Tiểu đoàn bắt đầu đụng địch. Sáng đi vào phía tây, cách con rạch khoảng năm trăm thước chạm ngay, súng nổ, lực lượng địch không đông nhưng vì không thể rút đi họ phải đóng chốt, trụ lại. Sau lưng là rạch Bến Cát, rạch Sơ Rô bên trái, dọc phải, một chiếc rạch lớn khác, Việt cộng như con thú bị kìm chân, phải đào hầm thật sâu, phòng thủ kiên cố và cố gắng tránh né chúng tôi tối đa. Nhưng các đại đội chúng tôi đã đến quá gần&#8230; Năm thước, bảy thước, họ bắt buộc phải nổ súng. Lính đứng lên xung phong, không được, sình ngập đến háng không thể rút chân để bước thêm một bước, người bị thương nằm cách gang tấc không thể rút về. Ta với địch cách nhau chiếc mương ba thước! Lùi ra xa dội bom. Bom đánh không trúng. Vào lại, anh Khiêm chết. Khiêm, người sĩ quan khóa 17, gã đàn anh tôi chịu nhất trong đám huynh trưởng, thông minh, phóng khoáng và khôi hài hóa tất cả mọi chuyện. Điểm này hợp với tôi quá, tưởng tượng một cảnh tranh luận nào đó, chỉ cần Khiêm với tôi cũng dư sức quạt ngã bất cứ một loại mồm loa mép giải nào.<br />
Nhưng anh Khiêm đã chết, chết như thể một câu khôi hài của thường ngày, chết như một cơn đùa trong buổi nhậu. Tôi nghe qua máy truyền tin tiếng của Khiêm:<br />
&#8211; Trình đích thân (Tiểu đoàn trưởng), tụi nó bắn tùm lum chưa lên được, đích thân để tôi &#8220;nhẩn nha&#8221; thì tôi mới tóm được&#8230; Súng tụi nó bằng sắt cơ mà!<br />
Thế rồi im bặt, người hiệu thính viên run run báo cáo:<br />
&#8211; Đại đội trưởng tôi bị&#8230; thương&#8230; Chết rồi!<br />
Tôi đem xác Khiêm về sau, mắt anh đã nhắm&#8230; Những chiếc râu xanh lởm chởm ở cằm người chết linh động như của đời sống đang còn thở. Nhưng anh chết thật. Rút quân ra ngày mai vào lại.<br />
Quân vượt qua chiếc rạch nhỏ, dàn hàng ngang lội thật nhanh, hết chiếc rạch đến bên kia là vườn cau, gắng lên! Ba người lính lên bờ trước đứng dậy. Một loạt đạn nỗ dòn&#8230; Hai bị thương. Tôi đang ở trong rạch lúng túng băn khoăn, cả đại đội nằm trong nước bùn im lặng, một cây nhỏ lung linh, người lính đeo máy nằm bên cạnh tôi trở mình, loạt đạn bay đến, những nhánh dừa nước rơi tung tóe. Bực mình quá tôi nổi liều, cầm trái M.72 đứng lên&#8230; Chiếc hoả tiễn công phá được phóng đi, một tràng đạn đáp lễ lại xé rách chiếc quần&#8230; Đ.m&#8230; Hầm tụi nó phá không nổi! Hỏi ý kiến Đại uý Liên, tiểu đoàn phó. Cho rút lui vòng tay phải đánh lên? Đồng ý. Tôi cho đại đội lui từng người một. Lẩm bẩm chửi thề.. Mẹ cha chúng mày còn một tí người cũng đòi dở chuyện. Vòng phía phải thật nhanh qua khu vườn mía, bao quanh đánh vào, Việt cộng bỏ chạy để lại ba xác chết nằm thẳng cẳng.<br />
Đúng như tôi ước đoán, Việt cộng ở đây chỉ còn khoảng một đại đội, nhưng một đại đội rải rác khắp một vùng rộng lớn được phân tán thành những tổ nhỏ, có nhiệm vụ phải bám thật chặt các bờ kinh, bờ rạch.Họ có đủ súng trang bị cho cả tiểu đoàn, cối 82 ly, 60 ly, đại liên 12 ly 7 vũ khí của lực lượng lớn nhưng quân số chỉ còn lại khoảng một đại đội, phân tán chui rúc vào những chiếc hầm kín đáo ngập đầy nước, trên có nắp, ngụy trang thật kỹ, ba lỗ nhỏ nhìn ra ba phía, lối vào hầm phủ đầy lá cây, thân dừa nước. Việt cộng chỉ còn có thế, nhưng họ không được lùi, không được thoát, phải bám thân chặt chiếc rạch để chết, cái chết chắc chắn sẽ xẩy đến theo thời gian! Tại sao? Có gì đâu&#8230; Họ kiệt lực, trăm phần trăm kiệt lực. Trung đoàn 101 đánh vào tiểu đoàn 5 Nhảy dù ở Tân Thới Hiệp, Hóc Môn suốt ba ngày không nuốt trôi được tiểu đoàn này, nhả ra và chạy về đây. Thành phần tấn công Gò Vấp, Xóm Mới hôm Tết, thất trận cũng chạy về đây&#8230; Tan nát, thiếu thốn, suy sụp nhưng họ biết rút về đâu nữa? Đường giao liên phải vượt sông Sài Gòn, một mục tiêu lộ liễu dưới phi cơ và tàu hải quân quan sát tuần tiễu thường trực. Cán bộ nằm vùng, dân chúng có cảm tình đã bị lùa ra khỏi vùng. Họ bơ vơ, lang thang, lếch thếch như một đám ma đói khát tuyệt vọng. Nhưng lệnh trên đã bắt buộc:phải bám sát địch, bảo toàn lực lượng để chuẩn bị tổng công kích đợt II! Tham vọng và nhu cầu chính trị đã quên mất con người trong hoàn cảnh nghiệt ngã. Súng cối, đại liên được moi lên từ vườn dừa, đám ruộng, tiểu đoàn phó, y sĩ trưởng, đại đội trưởng súng nặng bị bắt, hồi chánh hay bị tử thương. Việt cộng bị chúng tôi ép vào một thế đường cùng.<br />
Nhưng tháng Năm, Việt cộng cũng mở tổng công kích đợt hai, và kết quả như đã xẩy ra. Các anh bên kia, tôi muốn nói thật với hết cả chân tình trong lòng: Các anh đã hết sức. Sức mạnh huyền hoặc củaa Điện Biên thuở xưa không còn giá trị lúc này nữa. Các anh ôm mộng giải phóng, nhưng giải phóng cho ai? Các anh lao đầu vào cái chết với mục đích gì? Để chiến thắng? Ôi cái aỏ tưởng đó, giờ này các anh vẫn coi là sự thật sao? Các anh lấy gì để chiến thắng? Vũ khí, nhân mạng bị thiệt hại đến độ vô chừng. Nhưng các anh vẫn chiến đấu, điều đó đã xảy ra và đang xảy ra thật đau xót. Vì những người chỉ huy củaa các anh, những Võ Nguyên Giáp, Nguyễn Chí Thanh vẫn nghĩ rằng các anh đang thắng, những người đó muốn chứng tỏ mình là một thứ ngoại hạng, tay kiệt liệt, tinh hoa của dân tộc, kết tụ của thông minh và thiên bẩm, loại &#8220;thiên tài chỉ huy&#8221; của cả dòng dân tộc un đúc. Ôi chính vì những người chỉ huy &#8220;thần thánh&#8221; đó tin rằng có chiến thắng và các anh đã phải chiến đấu. Các anh còn phải chiến đấu để cho đám phù thủy chính trị đặt những lá bài tháu cáy lên canh bạc hòa đàm &#8211; Những món tiền giấy trả bằng xương và máu của các anh. Lá bài tráo trở bảo chứng bởi quả tim hồng mơ ngày dân tộc được giải phóng. Các anh giải phóng hay làm điêu linh tổ quốc và hủy hoại cuộc sống? Các anh thật đáng tội nghiệp.<br />
Sau này tôi còn chứng kiến thêm nhiều lần các anh &#8220;thừa thắng xông lên&#8221;, những cao điểm, những chiến dịch Đông &#8211; Xuân, Hè &#8211; Thu mà thực ra chỉ là một loại lịch trình đã soạn thảo do một thứ chỉ huy u tối mê muội ảo tưởng của quá khứ và sách lược chính trị bỏ quên con người. Làm sao để có thể gọi là cuộc tấn công lớn của một cao điểm khi một đại đội của các anh chỉ còn trên dưới bốn chục người, mặc dù đủ vũ khí, bốn mươi người của các anh phải bố trí trên một trận tuyến dài hơn cây số, ba người một chiếc hầm, chui rúc ẩn trốn, gạo rang nước lã, bị thương cắn răng xuống chịu đựng, tự buộc vết thương bằng miếng vải rách và dòng máu tươi chảy ra, mặt xanh tái nhợt, nhạt sức sống từ từ tắt lịm khi bàn tay mở dần, mở dần phơi dưới ánh mặt trời những đường chỉ tay bất hạnh.<br />
Các anh chiến thắng ở đâu? Khi xác chết của các anh nằm lêu bêu vất vửơng suốt một vùng từ An Phú Đông lên đến Thạnh Lộc qua Tân Thới Hiệp, những xác chết trần truồng, co quắp, tênh hênh, chương sình thối tha đầy dòi bọ bên gốc dừa, sau liếp cửa, trong đụn rơm&#8230; Các anh chết ở đâu nhiều quá, lũ chó hoang tha hồ thỏa thuê với những phần đùi còn tím máu, chiếc đầu bị cấu xé dành giựt, từng tảng tóc xanh kéo lê lết trên khắp một vùng. Các anh đã chết trên một địa danh thật mỉa mai: An Phú Đông&#8230; An phú Đông nơi rừng dừa xanh vang tiếng súng&#8230; An Phú Đông nơi sử Việt viết trên máu hồng. Địa danh này các anh đã một lần thần thánh hóa, địa danh các anh đã xếp vào huyền thoại như sông Lô, Điện Biên. Các anh ở bên kia ơi, dòng đời đã thay đổi, những chiến thắng người Pháp thuở xưa đâu phải là yếu tố làm nên thắng lợi hôm nay. Bây giờ các anh đối diện với chúng tôi, một lũ &#8220;ngụy&#8221; nô lệ đánh giặc mướn, tay sai ngoại bang&#8230; A! Nhưng các anh có tự do nào? Đầu óc đầy thù hận cuồng tín được dẫn dắt vào một mục tiêu không tưởng, vô vọng. Mục tiêu được thiết kế, hoạch định từ trí não những lãnh tụ bị bao cứng bởi hào quang quá khứ, những người có lòng tin tưởng què quặt rằng, chính mình, một loại siêu nhân mà lịch sử dân tộc cần đến&#8230; Chúng tôi chiến đấu trong bi đát nhưng vẫn còn tự do nơi trái tim, trong khi các anh chỉ là một lũ người máy mê muội sâu vực đen của ảo tưởng. Tệ hơn nữa &#8211; Một lũ người máy bất lực.</p>
<p><strong>Tháng 3/1968. An Phú Đông &#8211; Gia Định. </strong></p>
<p><strong>Phan Nhật Nam</strong></p>
]]></content:encoded>
					
					<wfw:commentRss>https://t-van.net/phan-nh%e1%ba%adt-nam-nghi-v%e1%bb%81-m%e1%bb%99t-k%e1%ba%bb-th-ki%e1%bb%87t-l%e1%bb%b1c/feed/</wfw:commentRss>
			<slash:comments>0</slash:comments>
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Phan Nhật Nam : QU&#202; HƯƠNG V&#192; NGƯỜI HUẾ</title>
		<link>https://t-van.net/phan-nh%e1%ba%adt-nam-qu-h%c6%b0%c6%a1ng-v-ng%c6%b0%e1%bb%9di-hu%e1%ba%bf/</link>
					<comments>https://t-van.net/phan-nh%e1%ba%adt-nam-qu-h%c6%b0%c6%a1ng-v-ng%c6%b0%e1%bb%9di-hu%e1%ba%bf/#respond</comments>
		
		<dc:creator><![CDATA[Phan Nhật Nam]]></dc:creator>
		<pubDate>Sat, 05 Oct 2013 23:33:39 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Phan Nhật Nam: Dấu Binh Lửa]]></category>
		<category><![CDATA[dbl]]></category>
		<category><![CDATA[phan nhật nam]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://7076e870b2.nxcli.io/?p=14872</guid>

					<description><![CDATA[Tôi là người Huế, sinh ở Huế, nhưng không lớn lên từ đó, không có kỷ niệm, không nhung nhớ, không một mối tình. Giữa tôi và Huế là xa lạ, dửng dưng, không mong ước trở lại. Nhưng, tôi đã sinh ra ở đấy, đất đai đó là nơi trú ngụ đầu tiên. Và [&#8230;]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<p><strong><a href="https://t-van.net/wp-content/uploads/2013/10/clip_image0022.jpg"><img loading="lazy" decoding="async" style="background-image: none; float: none; padding-top: 0px; padding-left: 0px; margin-left: auto; display: block; padding-right: 0px; margin-right: auto; border: 0px;" title="clip_image002" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2013/10/clip_image002_thumb2.jpg?strip=all&fit=454%2C259" alt="clip_image002" width="454" height="259" border="0" /></a></strong></p>
<p>Tôi là người Huế, sinh ở Huế, nhưng không lớn lên từ đó, không có kỷ niệm, không nhung nhớ, không một mối tình. Giữa tôi và Huế là xa lạ, dửng dưng, không mong ước trở lại. Nhưng, tôi đã sinh ra ở đấy, đất đai đó là nơi trú ngụ đầu tiên. Và cũng chính trên mảnh đất này bạn bè tôi đã đánh những trận đầu tiên trong thành phố, những người bạn từ Sài Gòn, từ một tỉnh miền Nam, từ miền Bắc di cư vào, họ đã chết lạnh lùng, bất ngờ nằm xuống giữa đám gạch xanh rêu không sinh khí. Vậy nên tôi phải viết về Huế. Viết cho tuổi thơ đã qua, lần trở lại bi thảm, viết về một mất mát, nhưng tôi cũng viết cho những tìm thấy thật cảm động. Cảm động rưng rưng nước mắt, cảm động của buổi tái ngộ oái oăm.<br />
Khi lớn lên sau này, ai có hỏi&#8230; Người xứ nào&#8230; Tôi thường tần ngần một lúc. Sự ngập ngừng phát sinh từ những mù mờ về Huế. Tôi là người sinh ra ở đó, nhưng biết được gì trên thành phố ấy, tên đường không thuộc, chùa Linh Mụ ra sao? Thế nào là con gái trường Đồng Khánh? Nhớ, nhớ lại một kỷ niệm xa nhất, những hình ảnh ghi nhận được, những điều còn sót lại trong vùng trí não mông mênh. Nhớ đến chỗ đầu tiên của hoài niệm tuổi thơ, tôi bốn hay năm tuổi gì đó&#8230; Cùng gia đình về Huế trong đêm khuya. Thuyền đi theo giòng sông, giòng sông đen, chiếc thuyền len lỏi qua hàng cây um tùm trên nước. Sông nào, tôi không biết. Cây gì, cây chà là. Sao lại cây chà là? Chắc hẳn đó là do bất chợt nghe đâu một lần nên tôi đặt tên cho những đám cây đêm đó là cây chà là. Thuyền ghé bến tôi lên bờ trên tay của cha, ôm chiếc chiếu trong lòng. Tôi về Huế lần đầu tiên, tôi đến trong đêm, trên giòng sông. Trí nhớ nào đủ để ghi lại vài hình ảnh mông lung như mặt nước lên tâm hồn trẻ nhỏ&#8230; Và đi ra khỏi Huế sau hai năm. Tôi còn lại hình ảnh nào nữa? Những buổi chiều cuối năm gió rét, thổi qua những con đường phố im vắng, hình ảnh một bà già lưng còng, còng xuống thật thấp, bán giò chả, tiếng rao lê dài qua khu phố theo gió đi xa, lành lạnh tái tê. Buồn hơn cả mùa đông. Thế là hết kỷ niệm của Huế. Còn gì nữa không? Chẳng còn gì hơn hình ảnh cô gái nhỏ cùng tôi chơi chiếc xe hai bánh, gồm bàn đạp, tay lái, chân để trên bàn đạp, chân chống xuống đất và chúng tôi thay phiên đẩy vào lưng nhau để tăng tốc độ. Tốc độ của đôi chân trẻ thơ nhưng quá nhanh trên mặt đường lồi lõm đá; đường không người, hai hàng phố cửa đóng, vẽ hoang tàn hậu chiến, nét linh động chỉ là hai chúng tôi&#8230; Thế là hết và tôi đi xa, xa về miền Nam, Huế đó tôi trả lại cho người, tôi về miền có biển có núi. Huế không có biển. Ở biển chúng ta nghe được thằng cuội chặt củi ở trên cung trăng. Một thằng bạn nhỏ khu xóm nghèo đường Gia Hội đã nói như vậy. Tôi đến vùng có biển và lớn lên từ những nơi này. Huế không có biển và tôi yêu biển biết bao nên xứ Huế được lãng quên.<br />
Đà Nẵng và Nha Trang, thành phố bốn bề là biển, biển trước mặt, biển sau lưng, rẽ qua trái ra biển, rẽ qua phải đến sông, sông cũng dẫn ra biển, ngồi trong nhà gió biển lọt vào, rịn mùi muối trên da tay, đêm mùa đông nghe tiếng sóng cuồng nộ từ xa tưởng chừng như sóng xô đẩy lại kéo trôi phăng thành phố. Thịt bò khô ở Nha Trang, con ghẹ tươi luộc ở bờ biển Đà Nẵng đối với tôi là những món ăn ngon nhất, quyến rũ nhất và đáng nhớ biết chừng nào. Chạy nhảy trên những hòn đá ở Tiên Sa, hà cắt đứt bàn chân, vết thương tươi đỏ đầy máu không tạo thành đau đớn, chỉ nhức nhức nhẹ nhàng, ngâm xuống nước mặn thành xót cay, nồng nàn như tuổi mới lớn, như tình yêu ước vọng của năm mười sáu, mười bảy&#8230; Máu chảy hòa nước biển, nước biển theo vết thương ngấm vào máu thịt, người như hạt muối được hong khô dưới mặt trời. Tôi ham mê đùa giỡn cùng sóng nước, giữa khung trời xa tít không biên giới với luồng gió có hương ngát từ khoảng không trên ngọn hải đăng ở Đà Nẵng; tháp hải đăng xây bằng đá, xanh mướt, trơn bóng vì rêu phủ, gió bào, muối sát, dõi luồng sáng xanh chỉ có ở giấc mơ. Gió từ bốn phía ào ào, lau ngã nghiêng theo tám hướng. Tôi sống, lớn lên, yêu đời, yêu quê hương từ đó. Từ những nơi có gió. Từ một chỗ nào xa xăm tận cùng trời đất.<br />
Đà Lạt nét đẹp não nùng, tưởng chừng như một nốt nhạc ngân hoài không dứt. Đà Lạt đẹp, thành phố, hồ Xuân Hương, hồ Than Thở đẹp nhưng phải đến Ankroet, trèo lên ngọn núi đằng sau nhà máy nước nhìn xuống thác Vàng, thấy cả trời đất hòa chung dưới đáy. Hồ Ankroet trong vắt như thủy tinh, xanh tươi hơn tận cùng ý niệm, nằm trong lòng núi như một chiếc gương yên lặng khẽ gợn vì gió, vì sương đọng, vì núi nghiêng hay vũ trụ đang xoay, hay do người đang rơi vào ảo giác&#8230; Trời ở trên, trời cũng dưới đáy hồ im lặng! Có tiếng động&#8230; Không, chẳng có gì, lá thông rãi, cỏ đang mọc hay nước hồ đang nở&#8230; Nào ai biết, không ai biết gì của thiên nhiên im lặng đó chỉ nhìn và nhìn tận cùng với hết con người. Trong vòng tay của núi và biển, tôi đi xa Huế vô cùng. Huế của đêm tối hồi cư, dòng sông đen đe dọa của tuổi thơ làm sao kéo được tâm hồn tôi trở lại.<br />
Bây giờ là năm 1967. Chiến tranh đầy trên quê hương như đàn ruồi trên đống rác. Tôi đang ở Sài Gòn. Ôi Sài Gòn, làm sao thấy được mặt trời mọc lúc nào, lặn ở đâu. Đâu bốn hướng đông, tây, nam, bắc&#8230; Thế nào là màu xanh, súc vật nuôi trong nhà, màu xanh tím và hơi mát khu đường Cường Để, vùng nhà thương Grall trông tội nghiệp, vá víu giả dối và còm cõi! Sài Gòn với một khoảng thiên nhiên mơ mộng của xa lộ, vài cây dừa xơ xác, một dẫy đất hoang cỏ mọc úa vàng bị đóng khung bởi Cát Lái, Thủ Đức, Bình Lợi&#8230;<br />
Việt Nam 1967, tôi lính chiến như một thanh mã tấu cùn rĩ, ném vào trong một đống rác vĩ đại. Đà Nẵng thì hết rồi biển Thanh Bình, hàng cây dương mới lớn của mười năm về trước nay cằn cỗi vướng vít kẽm gai bao bọc trại lính. Bờ biển thuở xưa có cái lô-cốt bị chìm bây giờ đầy nhà cửa. Thôi còn gì nữa đâu, hết cả khoảng trời xanh, tiếng sóng vỗ cuồng bạo vào bờ đêm mùa đông, biển tối âm u, hàng đường liễu ngập nước như một khu rừng nổi&#8230; Tất cả không còn gì nữa, núi Tiên Sa Mỹ đặt đài radar, con đường lên núi đỏ thẩm giữa màu xanh của lá như một vết thương chưa khép. Vị tiên nào đã sa xuống vùng núi hoang vu tuổi trẻ của tôi ngày xưa chắc bây giờ đã lăn lóc chiếc cánh bên cạnh đống vỏ bia. Tôi còn được một vùng thơ mộng nào trong quê hương?<br />
Trong thời gian này tôi trở về Huế. &#8220;Trở về&#8221;. Sao lại dùng chữ này? Phải đi thì mới gọi trở về. Hay tôi đang trở về quê cũ? Chiếc C-130 xuống phi trường Phú Bài vào buổi chiều mưa mờ mặt. Ôi mưa, mưa đúng nghĩa của mưa, mưa đầy mặt, mưa cách nhau khoảng năm mươi thước không trông thấy, mưa không rõ hạt, chỉ một màn nước dày bao trùm cảnh vật. Tất cả xám xám ốm yếu thê lương, không chân trời, không hàng cây, không nhà cửa. Tất cả dựng khối đen lù mù im nín, không một hoạt động tồn tại, tan biến lặng lờ dưới sức nặng dị thường của hạt mưa. Mưa từ bao giờ? Hỏi người bạn đơn vị đã ra trước. Lâu lắm rồi, cả tuần nay. Không tạnh? Tạnh sao nổi. Mưa khắp nơi như từ một khoảng không bốc hơi và vạn vật đang tan thành nước. Tôi bước xuống trong vũ trụ lạnh tanh đó. Người biến vào mênh mông.<br />
Mưa Huế ào ào phủ xuống đầu chúng tôi khi từ máy bay chạy nhanh vào trạm hàng không. Ai đã ghét mưa Huế vì phải chịu đựng nó quá nhiều, chắc tôi cũng ngao ngán vô cùng khi đi dưới cơn mưa nước ruộng ngập đến háng và bùn gần đến đầu gối từ Quảng Điền lên Phong Điền. Nhưng bây giờ mưa Huế đang chung quanh tôi, mưa của quá khứ, của tuổi thơ, tuổi lớn đang hòa vào nhau trì chậm, quay đều trong một không gian im lặng&#8230;<br />
Huế đón tôi trong cơn mưa, tôi lên xe trở vào thành phố, ra lại ngoại ô, đóng quân ở một làng có cái tên độc đáo, đặc biệt nhất của Việt Nam &#8211; Sịa. Sịa là gì? Là sình đọc trại? Không phải, cái tên đặc biệt, âm vang như một nốt nhạc lạ. Sịa, tôi sẽ hoài hoài nhớ, hoài hoài thắc mắc sao quê hương ta có những địa danh vừa kỳ cục vừa lạ lùng, quê mùa nhưng không thô, mộc mạc, bình dị và độc đáo! Ở đâu có Sịa? Chắc chỉ có Huế và đúng chỉ là có Huế.<br />
Hành quân, mục tiêu 1,2,3&#8230; Đại đội 91, 92 chiếm 1 và 2 xong đợi ở đấy, làm blocking-force về hướng đông để đại đội 94 chiếm mục tiêu 3&#8230; Mục tiêu 3, tôi nhìn vào bản đồ: Đồng Xuyên, làng Đồng Xuyên khu xóm nhỏ phía tây giáp ruộng, phía đông cồn cát. Sau cồn cát là gì? Phá Tam Giang. Phá thì lạ lắm, nhưng phá Tam Giang đã rất quen biết, lớp ba hay lớp nhì, ai chẳng một lần đã ê a trong &#8220;Tập Đọc Vui&#8221; hai mươi năm về trước. &#8220;Đường vô xứ Huế quanh quanh. Non sông nước biếc&#8230; Sợ truông nhà Hồ, sợ phá Tam Giang&#8221;. Phá Tam Giang là tuổi thơ thứ mười của tôi. Tuổi nhìn đời đầy dẫy những câu hỏi: Tại sao đã yêu em nhưng lại không muốn vô? Đấy, phá Tam Giang tôi đã quen thuộc với nó lâu hai mươi năm rồi còn gì nữa? Phá Tam Giang, nỗi mơ mộng đầu tiên của tôi, vùng thần thánh của những lần rung cảm ngây ngất khi đọc đến: &#8220;Yêu em anh cũng muốn vô&#8230;&#8221; Đi dọc theo bờ của phá, bên trái dãy Phố Buồn Thiu, nơi B. Fall vừa chết tuần trước; người thông thuộc biến cố của Việt Nam nhiều nhất trong vòng hai mươi năm qua, nay vì trái nổ oan khiên bỏ lại đời đằng sau.<br />
Dọc theo phá, đi hoài, đi mãi&#8230; Giữa trời đất bao la, ảnh bao la giăng giăng u uất, không rộng rãi của biển, xanh thẫm của núi, đây là hoang vu tiền sử, cỏ úa xanh nâu trãi dài đến chân trời. Bồ nông, hạc, hải âu bay từng đàn nặng nặng, buồn buồn, chim bay như cố gắng, như thở dài, như hấp hối&#8230; Bay một đoàn đầy trời, rồi cả đàn cùng dừng lại, tiếp tục bay đi, không phương hướng, không ào ạt, không khỏe, không hùng; đàn chim loang lỗ, đen trắng thấp thoáng trên cỏ khô, lúa mục. Đây là hoang vu sao lặng gió, con phá rộng mông mênh không bờ bãi, không vết sóng, chỉ một cánh buồm không no gió&#8230; Phải chăng buồm hoang, thuyền ma. Trời xám, cỏ xám, con sóng nhỏ, cánh buồm phiền, đàn chim mệt mỏi&#8230; Đây là cảnh gần tàn, đời sắp đóng, trời đất âm u để sửa soạn cho lần đổ nát. Bây giờ mới thấy Nha Trang quá trẻ trung, Đà Lạt quá sang trọng, Sài Gòn còm cõi không sinh khí. Đây mới là khuôn mặt thật của quê hương. Tôi nghĩ vậy. Câm nín, u uất, nặng trĩu buồn rầu. Quê hương ta, khuôn mặt thật chắc là đây. Lên đến Phong Điền nhìn lại bản đồ, mười bảy cây số đường chim bay. Người nát rời từng mảnh , trời rét nhưng người quá dơ,bùn từ tóc, từ mặt, bám đầy trong hốc mũi, trong tai, bùn rơi từ cái dụi mắt, chớp mày. Xuống bến sông, bên kia là Quảng Trị, bên này là Thừa Thiên, sông chảy ra phá Tam Giang, sông chảy từ Quảng Trị vào, từ núi ra, một nhánh nhỏ của sông Ô Lâu, nhưng đến đây chảy qua Mỹ Chánh sông mang tên khác. Hỏi cô giáo. Cô giáo thẹn như cô gái mới lớn, cô giáo mặc áo đen quần trắng, áo len đen, da trắng mát tự nhiên, môi đỏ hồng, mắt thật xanh. Cô giáo bao nhiêu tuổi? Dạ hai mươi lăm. Sông gì? Dạ thưa, sông Thu Rơi! Sông Thu Rơi. Tôi cười&#8230; Cô nói đùa hay thật. Dạ thưa sông Thu Rơi. &#8220;Dạ thưa sông Thu Rơi&#8221;. Tôi rưng rưng cảm động. Ai đã đối thoại với lính lễ độ, kính nể đến như vậy. Sông mang tên Thu Rơi, tên thật thường nhưng chất ngất lãng mạn và đôn hậu, dân làng đã nghĩ sao khi chấp nhận tên này. Phải chăng là thi sĩ? Phải chăng tên đã thành tự nhiên như câu hò, câu hát.<br />
Ngược đường về, từ mục tiêu 15 trở lại mục tiêu I, ấp Đồng Xuyên, ấp Mỹ Xá, đã đọc đi đọc lại nhiều lần từ bao nhiêu ngày trên bản đồ, đã đi qua bốn ngày trước, nay trở lại sao lòng nôn nao cảm động — Đồng Xuyên, Mỹ Xá&#8230; Đúng rồi! Nơi chốn này thuở xưa mẹ tôi đã một lần đi đến, sau lệnh tổng phản công của Việt Minh năm bốn mươi sáu &#8220;Vỡ mặt trận rồi chạy về Đồng Xuyên, Mỹ Xá, sau đó mạ gánh con về ở tại Gia Lê&#8221;. Mẹ tôi thường hay nói vắn tắt như vậy để trả lời cho tôi mỗi khi tôi hỏi về những biến cố của &#8220;Vỡ mặt trận&#8230;&#8221;. Tôi nhớ mãi nhớ hoài mẹ tôi với câu nói đó. Bà hay nói những chữ Huế mà những ngày ở Đà Nẵng, chúng tôi, hàng xóm phải ngẩn ngơ không biết. Mẹ tôi là người Huế, nơi này bà đã gánh tôi một đầu đòn gánh, đầu kia áo quần, soong chảo trên cánh đồng này hai mươi hai năm trước, chân trần tay lấm, cong chiếc lưng học trò mảnh mai để gánh tôi băng qua những đồi cát mênh mông bắt đầu từ Mậu Tài ra đến Đồng Xuyên, Mỹ Xá&#8230; Nơi này, cha mẹ tôi đã thương yêu nhau trong cảnh chết, tiếng nổ trên đầu, viên đạn rạch không khí bay xuyên tim người dưới đất. Nơi này cha mẹ tôi đã lấy sức mạnh xác thân và tình thương mang tôi qua gió bão&#8230;<br />
Hôm nay, mùa đông 1967, tôi đi qua, trên đất như có hồn, cỏ có dấu vết, biết đâu mẹ tôi đã ngừng ở đây, lấy nón quạt cho tôi, cha tôi đã cúi mình trên bờ mẫu để gạn lấy phần nước trong mát nhất cho con. Giòng nước luôn trôi chảy, mẹ cha làm sao biết được hơn hai mươi năm sau đứa con trở lại một lần nhìn xuống để thấy gương mặt thật của mình trên suối dòng bất diệt quê hương.<br />
Về Huế, nghỉ quân đóng ở Nam Giao, nơi thuở xưa vua nhà Nguyễn tế lễ trời đất. Trăng mùa đông huyền bí dọi sáng xanh nhạt thếch xuống một vùng cổ mộ&#8230; Emile Bronte, Dostoievsky, Mai Thảo, Võ Phiến, trải dài trên tác phẩm bóng dáng quê hương họ thương yêu, hoài niệm, nếu không phải ca ngợi nồng nàn, thì cũng là bối cảnh cho những tình yêu, thù hận, hay điều ám ảnh. Tôi không là nhà văn, nhưng nếu có chọn lựa tôi sẽ viết về Huế trong tác phẩm của mình. Lạ lùng lắm, bí ẩn lắm, ngôi mộ nằm yên dưới bóng thẩm cây tùng, cây thông, trăng soi xuống, gạch đá như thở, như hấp hối thì thầm, rầu rĩ. Sông Hương đứng từ ngọn đồi lăng Khải Định nhìn xuống, không phải là sông của nước chảy, nhưng là núi xô nhau đi về nơi xa, sức xô đẩy lả lơi theo cỏ tranh, giăng giăng chập chùng đồi sim dại. Núi không cao, không phải núi, gọi là đồi mới đúng, không cây cỏ chỉ có toàn một thứ đá nâu lớn bằng ngón chân. Đồi trùng điệp nối dài, nắm tay nhau, dựa vai vào nhau, chuyển động nô đùa trên mặt nước. Vua Gia Long chọn Huế thật phải, sông có, núi có, rừng thưa, rừng mới lớn chạy bước nhỏ dưới chân đồi như bầu bạn. Và đằng xa kia, xa ở chân trời&#8230; Biển&#8230; đủ hết,cả bốn mùa thời gian, cả vóc dáng thế giới hợp vào đây, không lớn, không vĩ đại, không ồn ào, nhỏ và xinh như non bộ, giả sơn. Như cảnh mơ của em bé.<br />
Dừng xe trên đồi, tắt máy, tắt đèn, đốt điếu thuốc nhìn xuống dòng sông, thả khói bay vào núi, bay xuống mặt nước xám mờ, sương lạnh, mưa sa hạt nhỏ&#8230; Có ai hỏi gì bây giờ, chỉ xin im lặng như cơn thở than trầm mặc&#8230; Vì tiếng hò đã cất lên. Tiếng hò xua nhau như sóng nhỏ vướng phải bụi bờ chìm xuống nghe thê thảm, quá đỗi buồn rầu. &#8220;À&#8230; ơ&#8230; Ai về Đại Lược.&#8221; Chữ &#8220;lược&#8221; xuống thật thấp như cố nuốt tủi hờn, chặn giòng nước mắt, che dấu cô đơn. À&#8230; ơ&#8230; Không thêm một chữ nào có ý nghĩa, chữ &#8220;ơ&#8221; đưa lên cao từ từ rồi mất vào với gió với trăng, làm rợn những gai ốc trên da thịt. Hò như thế mới gọi là hò, Nam Ai như thế mới đủ năng lực diễn tả hết nỗi buồn rầu chất chứa toàn thể đời người phổ vào những tiếng à, tiếng ơi vô nghĩa. Một phút, hai phút trôi qua, thuyền đi được khoảng sông, câu hò chỉ được bốn chữ &#8220;à, ơ&#8221; ngân dài trên nước, oan uổng thê lương dật dờ như thây ma trôi sấp. Tôi nghe bằng tai nhưng hồn tôi ai đem treo trên đầu ngọn gió, ai đem ướp dưới đáy sông&#8230; Thật muốn khóc&#8230; Muốn rưng rưng nước mắt!! Sao có cảnh trầm mặc, sao tiếng hò thê lương, buồn đến thế này&#8230; Nguồn đau thương dân tộc đã mất những gì, còn lại những gì&#8230; Hay mãi mãi đổ vỡ tận cùng, không bao giờ sống lại&#8230;<br />
Tôi ở Huế một tuần, bún nước, bún khô, bánh khoái, nem chua, ăn thật nhiều, thật ngon. Tôi vốn không thích ăn ngon, không coi trọng chuyện ăn uống. Lính tráng kham khổ quen cơm hẩm, dăm miếng thịt mỡ, vài cọng rau, bi đông nước lã là xong bữa ăn. Bao nhiêu năm tôi không có dịp để chọn món ăn. Về đến Sài gòn gặp gì ăn đó cho lạ miệng, ăn với bạn cho vui, không hề ham. Nhưng ở Huế ăn phải thích, ăn nữa không chán, ăn bao nhiêu bún cũng không vừa. Phải tới quán cho kịp giờ, trễ là hết, quá năm giờ tiệm bún ở đường ngang với đường Gia Hội nhất định hết. Người Huế lạ lùng như vậy, không thay đổi, không bị lôi cuốn. Mười năm trước vẫn một nồi bún, bây giờ cũng vậy, khách đông, khách chờ, khách đòi hỏi. Mặc! Hết là hết không nấu thêm. Ngày ế khách, ngày mưa gió, không bớt. Vì khách là khách quen, xóm bên kia đường, đằng cuối phố, nhà nào, mấy người, ý thích của mỗi ai&#8230; Người bán tất biết rõ. Bán như thể rảnh rỗi, thức ăn như một tác phẩm, nhiều quá sẽ thành thừa mứa, tầm thường. Giữa khách và chủ là bạn thân, họ hàng. Người Huế sống với nhau thật khít khao. Nhà anh ấy, bác ấy có con thi đỗ cùngmừng; kÿ đám cả xóm xúm vào giúp nhau. Nhưng chính ở đây cũng là nơi xuất phát những cực đoan lộ liễu. Thầy trên chùa nhất định là đại từ, đại bi, dù vào đến Sài Gòn nghe ai nói xấu đến thầy tức khắc lồng lộn, tức tối&#8230; Không thế được, thầy không xấu như người ta nói!!<br />
Chúng tôi trở lại Huế bằng máy bay trực thăng trong ngày mùng bốn Tết Mậu Thân. Trời thật lạnh, mưa phùn, u ám thê lương bao phủ thành phố. Máy bay nghiêng nghiêng trên đà xuống, hạ thấp dần, khu doanh trại Bộ chỉ huy Sư Đoàn 1 Bộ Binh. Chúng tôi ùn ùn kéo ra khỏi phi cơ. Sau ba ngày đánh nhau ở Quảng Trị với số mất mát khá lớn mặc dù chúng tôi đã được cả một đống vũ khí chất đầy một GMC. Mới đây, Giao thừa chúng tôi còn gọi nhau trong máy truyền tin để chúc tụng những lời đầu xuân, rồi ngày mùng Một, tôi nhớ rõ, bốn giờ sáng, từ đó là khởi đầu máu chảy&#8230; Vừa hay tin Thừa chết, đến Lộc, đến Hổ, bạn quen lâu, mới quen, thương mến thật nhiều, tất cả ra đi từng loạt từng loạt. Trong những ngày đầu năm, trong những ngày đầy sương muối và mưa phùn, chúng tôi đã chiến đấu đơn độc và tuyệt vọng. Lính Mỹ án binh bất động nằm chờ thời. Không phi cơ, không pháo binh yểm trợ. Chúng tôi đến Huế với vô cùng mỏi mệt.<br />
Kiểm điểm lại quân số, tấn công và chiếm lại Huế, mục tiêu là mấy cổng thành. Ngày đầu quân tiến thật nhanh tràn qua Tây Lộc, xong tiếp đến cửa Chánh Tây, giao lại cho bộ binh. Tối đến cổng thành lại mất. Chúng tôi bắt đầu chiếm lại, và từ lúc này chiến trận đã xảy đến ác liệt. Phi cơ bắt đầu can thiệp, pháo binh yểm trợ và địch tăng cường cố thủ. Chúng tôi tiến lên từng đường, từng ngõ, từng nhà. Thành nội Huế với đường nhỏ vuông vức bàn cờ, tiến quân như đi trên cái chết. Qua được một đường, tiếp tục bắn che chở cho khinh binh; khinh binh chạy thật nhanh, nhanh hơn nữa, nhanh để đua với tử thần, nhanh để sống, để thở, để cười, để còn về lại Sài Gòn. Quân tiến thật chậm đến con đường Mai Thúc Loan thì bị chận đứng. Can đảm đứng lên băng qua là chết. Bộ chỉ huy Việt cộng đóng ở trường Bồ Đề nên con đường biến thành tuyến phòng thủ. Cửa Đông Ba cách hai trăm thước không thể nhào vào được. Việt cộng đào giao thông hào, phát súng cho trẻ con mới lớn, gã du đãng muốn làm anh hùng, chủ tiệm bán cà phê được lên làm cấp chỉ huy. Tất cả mặc cảm về yếu kém, vô ích, mặc cảm bị xem thừa, bỏ rơi, tất cả được Việt cộng lợi dụng đến triệt để và tập hợp thành lực lượng lớn để đè bẹp chúng tôi. B40 nổ như muốn nhức có. Em bị rách áo, hai đứa con nghỉ phép dài hạn. Dồn dập, dồn dập. Đơn vị mệt và căng thẳng như con khô nung chín.<br />
Lệnh tấn công trở lại, có pháo binh và phi cơ yểm trợ. Lần đầu tiên của đời lính, tôi đánh nhau trong thành phố và hủy diệt thành phố. Huế, Huế của tôi vừa tìm được, Huế của Việt Nam luôn cố duy trì để trường cửu đang sụp đổ, đang cháy đỏ tươi. Trước mắt tôi tường vôi, mái ngói bị ném lên tung vỡ. Lửa cháy thành ngọn yêu ma kinh dị. Lửa củi, lửa than nghe ấm, nghe vỗ về. Lửa nhà cháy có tiếng kêu như than, như khóc, như tức tưởi, nhu hú lên vì sợ. Lửa nhà cháy ở thành phố là lửa tai ương, lửa bất hạnh, lửa có mùi&#8230; Mùi người chết, mùi của xương, của da, của thịt bị nung nóng thành than, thành một vật chất quái dị, khô đặc, nức nẻ, đụng vào thấy ươn ướt nhầy nhầy&#8230; Huế trước mặt tôi sụp đổ từng miếng một, nghe đau xót như tình nhân bị cưỡng hiếp. Tôi đã từng chứng kiến nhiều đám cháy ở Kiến Hòa, Bồng Sơn&#8230; Tiêu điều, tan nát! Đúng như vậy, nhưng chưa đến độ thấm đau đến phải bật khóc. Ở Kiến Hòa thì thấy tiếc &#8211; phải &#8211; chỉ tiếc nuối một phần vật chất bị hủy hoại. Nhưng Huế cháy, gạch bát tràng, ngói âm-dương, tượng Di Lạc, tượng Thích Ca, Kim Cang, Thiện-Ác, lớp rêu trên viên đá, đầu trường thành cây kiểng trồng từ đời Gia Long, Khải Định&#8230; Tất cả chúng đều có linh hồn, không chỉ là đất đá, cây thuần túy&#8230; Chúng có kỷ niệm trong lòng, chúng là vết tích hoài hoài mà chúng ta luôn nhớ. Đó là cổng thành vua đã đi qua, đó là Phú Văn Lâu nơi xướng danh những người thi đỗ, này cung vua, lầu Hoàng hậu, con đường đi có mái để đưa hậu về cung son. Con người đã đi qua, nhưng dấu vết lịch sử còn đó. Tôi người mới lớn trên quê hương, thấy lạc loài, bây giờ vừa tìm được, mong tay bắt mặt mừng, thì Huế đã cháy, đã đổ. Tôi thấy đau, đau ngẩn ngơ, như thuở bé có món đồ chơi, rồi phải tự tay đập phá. Chiếc cổng thành xây bằng đá tảng đi qua mát lạnh mênh mông, bây giờ đổ xuống thiểu não như một thi thể già nua. Phi cơ xuống ầm ầm, tiếng nổ, đám khói mù mịt&#8230; Huế rên lên từng tiếng não nùng, tiếng kêu la gào thét của những mái cung điện, hàng cửa sổ trên lầu Ngọ Môn. Vong linh tiền nhân còn có nơi đây? Không còn ai! Chỉ còn bức tượng đá đăm chiêu nhìn ra một sân chầu bị trốc ngược.<br />
Trong lửa cháy người Huế dẫn nhau chạy loạn, cha cõng con, chồng dìu vợ, con bế cha, mẹ già. Tất cả bình yên đẹp đẽ, đài các của ngày xuân tan thật nhanh trong lửa đạn. Đào thêm một nhát cuốc nữa cho đủ sâu, cô gái tóc xanh hôm qua nay đầy bụi bặm, vành khăn tang quấn vội trên đầu, tay nắm chặt cán cuốc, cuốc những nhát cuốc đầu tiên trong đời để nên huyệt cho người thân. Người chết ở đâu nhiều quá, xác chết của lính, dân hay Việt cộng, chon ở lề đường, sân chùa, sân trường, chôn ở đâu có đất. Chôn ngay chỗ ngã xuống, nằm yên lần cuối. Thôi người chết hãy ngủ yên. Thôi Huế hãy nuốt cơn đau.<br />
Người Huế chết như trò chơi, như nằm ngủ, theo lính chạy về Mang Cá, bị B.40, AK quét ngã, ở khu Gia Hội thì do pháo binh, ở khu Đập Đá chết bởi súng cối từ chùa Diệu Đế bắn về&#8230; Chết, chết ở đâu cũng có, vì đạn, vì mảnh, vì hơi ép, vì chôn sống. Một ngàn cách chết, đầu đường, góc phố, xác chết nằm cong queo, nằm thẳng cẳng, sấp ngữa, kinh hoàng, uất ức, trăn trối&#8230; Làm sao nói cho hết, làm sao nói cho cùng. Hỏi trời, hỏi đất, hỏi Thượng Đế&#8230; Tôi muốn hỏi, muốn kêu, muốn hét nhưng hình như mọi phản ứng đã thừa, đều thiếu hụt, không đủ nghĩa. Im lặng. Chỉ có tiếng than im lặng đó, chỉ có nó. Chỉ có nó vang lên, vang lên.<br />
Phi trường Phú Bài, đoàn quân sau mười lăm ngàylửa đỏ đi trong nghẹn ngào xơ xác, không tăng viện được, chúng tôi trả lại Huế cho đơn vị bạn. Đoàn quân im nín, trong mắt mọi người đều sáng lên ánh lửa &#8211; Xin cho tôi xa nơi này, nơi địa ngục. Riêng tôi, tôi hứa rằng sẽ trở lại. Trở lại nơi đây, nơi bạn bè tôi đã nằm xuống không quan tài, vùi xuống ở khoảng địa cô quạnh bên cạnh đồn Mang Cá.Tôi sẽ trở lại nơi đây vì tôi bỏ qua hình ảnh những gã trai hai mươi, mười chín, những cô gái muốn làm anh hùng ngã tắt, những trí thức làm dáng một lần vì mặc cảm rồi lao theo quỉ sứ. Những kẻ đó mới hôm qua còn tầm thường, còn đứng trong bóng tối, nay trở thành Uỷ viên, nay làm cách mạng, mang AK, đeo băng đỏ đi xe Honda, Suzuki, ném lựu đạn&#8230; Ôi cái ảo tưởng anh hùng sao mà vẫn còn hấp dẫn đến thế! Tôi quên những hình ảnh lố bịch và đáng phẫn nộ đó vì tôi biết rằng ở Phú Cam, người Huế đã chống cự bằng Garant, Carbin M.1 suốt mười mấy ngày dài. Họ đã chiến đấu trong dũng cảm nhất với ý thức rõ ràng về sự chọn lựa cho con người một vị thế.<br />
Đáng lẽ tôi phải viết thêm để nói về trận đánh bi tráng và tuyệt vọng của tiểu đoàn tôi, tiểu đoàn 2 và 7 Nhảy dù trong suốt mười lăm ngày, kể từ ngày mùng một và mùng hai tết&#8230; Những trận đánh từ làng Đốc Sơ nơi cầu An Hòa vào đến sân bay Tây lộc. Những đơn vị bạn đã chiến đấu trong đơn độc không yểm trợ để chiếm cho được cổng An Hòa. Tôi phải nói cho rõ, nói cho cùng cái can đảm thần thoại của đại đội 92 với quân số trên bốn mươi người, chỉ hơn một trung đội Mỹ năm người, Thành &#8220;Râu&#8221;, đại đội trưởng bị thương phải chống gậy chỉ huy chiếm cửa Thượng Tứ, bị kẹt lại suốt hai ngày đói và khát. Tôi phải nói cho hết niềm kinh hoàng tột độ của thằng bạn thân – Lô &#8211; đại đội trưởng 74, người cao chỉ đến một thước sáu, lưng mang máy truyền tin, vừa chỉ huy vừa liên lạc, sử dụng luôn khẩu đại liên 60 chận địch cho quân sĩ rút lui trước, bị thương gãy chân kẹt giữa hai lằn đạn trong suốt một buổi chiều. Nhưng khốn nỗi tôi không tham dự trực tiếp trận đánh nên không thể viết trung thực được và điều giả dối ai nỡ đem vào trong văn chương. Nên nhân cảnh loạn ly tôi nói đến con người. Không nhớ có ai đã phán ra câu đại để: &#8220;Trong gian nguy mới nhìn rõ mặt người&#8221;. Điều này đúng quá, những ngày khói lửa ở Huế, tôi mới có dịp để nhìn thấy người Huế, người của quê hương từ lâu tôi không gặp.<br />
Tôi có một người chú họ, chú Bộ làm Cảnh sát, bị Việt cộng bắt cùng đám người công chức hoặc quân nhân, Việt cộng dẫn họ đi tải đạn và cuối cùng thì bắn chết tập thể. Chú tôi, một người chậm chạp, có thể gọi là lù đù, ngớ ngẩn vì rượu đã làm cho ông suy nhược trí óc lẫn thể xác, thế nhưng khi Việt cộng bắt đi theo vác nặng bao nhiêu ông cũng chịu đựng nổi, mặc dù một chân đã bị gãy từ trước, và đến lúc Việt cộng bắt đầu hành quyết, không biết do một sức mạnh và khôn khéo nào, ông đã trốn thoát được. Về nhà sau năm ngày lẩn trốn, ông vẫn chậm chạp và ngớ ngẩn như thuở nào. Bác Soạn, người có ngôi nhà cạnh nhà bà nội tôi, luôn luôn đứng vào hàng ngũ những người chống đối chính phủ, bác thuộc phe phái thầy ở trên chùa, từng bị Chi bắt đem giam tại trại bài trừ du đãng mấy tháng sau vụ biến cố miền Trung năm 1966. Việt cộng vào thành phố Huế cùng với sự trở về của những thanh niên trên dưới ba mươi, lớp tuổi của những đồng chí của Ngô, Dinh&#8230; Những người bạn tôi đã trốn ra khu trong những năm trước, nay trở về với chức ủy viên này nọ. Tôi không hiểu có những gì đã biến đổi những người trẻ tuổi đó, những trí óc trẻ trung vị tha, trí thức ngày nào bây giờ trở nên những tâm hồn cứng rắn, trì trệ, hung tàn và hiếu sát. Có gì đã biến đổi họ để ủy ban nhân dân có đủ quyết định chôn sống từng loạt người sau trường tiểu học Gia Hội? Công chức, thuế vụ, công chánh, cảnh sát&#8230; Tội ở đâu? Hay vì đã từng bắt giữ một người đi xe đạp không đèn, người ấy bây giờ làm ở uỷ ban nhân dân?! Hận thù nào để chôn sống một nhân viên công an vì người này đã một lần dọa &#8220;bắn vỡ đầu&#8221; một người bà con của một ủy viên, thật tình tôi không hiểu động lực căm thù, chính sách khủng bố nào đã chỉ đạo cho những cuộc tàn sát tập thể trên. Người Việt cộng vào thành phố, được đón tiếp bởi những kẻ nằm vùng, chính lớp người này mới thật khó chịu, hống hách, cuồng sát và thâm hiểm một cách đáng sợ. Hình như bao nhiêu mặc cảm yếu đuối, thừa thãi từ bao năm được bù trừ lại bằng vinh quang nhất thời, họ hối hả hưởng cho hết cái uy quyền què cụt trong giây lát. Họ tố người này, bắt người kia, tuyên án giết người thể như một trò đùa. Những tên trẻ tuổi tay mang băng đỏ, lưng đeo AK, lái xe Honda lượn khắp thành phố, kênh kiệu và tàn ác như một loài thú. Một cô gái trong ba ngày tố khổ và tuyên án gần hai mươi người. Nữ sinh viên mắt sáng, mũi cao, đẹp thật tươi, nhưng sao độc ác đến ngần ấy? Khi tiểu đoàn tôi bắt được, cô ả kháng cự lên tiếng thách thức, nhưng khi nòng súng của Sơn Bum dí vào người, cô gái mới tỏ vẻ sợ hãi. Tôi nghĩ rằng giây phút sợ hãi đó là cơn tỉnh giấc của một thời gian mộng du đẫm máu.<br />
Những ngày ở Huế tôi còn được nghe tin Việt cộng bắt Thượng Nghị sĩ Trần Điền và sau này chúng chôn sống ông. Tôi thuộc về hàng hậu bối, xa xứ Huế không biết nhiều về ông, chỉ biết ông qua vóc dáng một trưởng Hướng Đạo. Ông có Đệ Ngũ đẳng Bảo Quốc Huân Chương, khi chính quyền ông Diệm kết án ông về vụ Ba Lòng, ông đưa chiếc huy chương đó để biện minh lòng yêu nước. Thuở ấy Bảo Quốc Huân Chương là một cái gì hiếm có chứ không phải như những anh nhà binh sau này cứ đi lính lâu năm, hội đủ điều kiện thâm niên, một vài cái huy chương văn phòng nhưng tính điểm cao hơn Anh Dũng bội tinh nhành dương liễu, cộng chung tất cả lại đủ để có Bảo Quốc huân chương, ra tòa án với các vụ lẩm cẩm như ăn cắp, thụt két, hiếp dâm, giết người vì ghen hoặc thủ tiêu đàn em vì sợ thằng nhỏ &#8220;khui&#8221; mình&#8230; Thường đem Bảo Quốc huân chương ra chạy tội!? Kết quả vụ án trên ông được giảm khinh. Nhưng điều tôi nhớ về ông nhiều hơn hết là giọng nói đĩnh đạc, hùng hồn, âm thanh cuốn hút người nghe. Lòng trẻ con của tôi thuở trước mở ra nhìn ông như một vị huynh trưởng sáng giá, ông có tên rừng &#8220;Gà Hùng Biện&#8221; theo luật của Hướng Đạo. Bây giờ nghĩ lại, ông quả là một huynh trưởng sáng giá thật, khi bị bắt, ông thẳng thắn nhận mình là một Thượng Nghị sĩ của chế độ Cộng Hòa, ông vẫn giữ nguyên tinh thần bất khuất của một Tráng Sinh đã lên đường. Con ông là San, khóa sau tôi đi Biệt động quân, tôi nghĩ rằng với uy tín ở miền Trung ông có thể &#8220;chạy&#8221; cho San về một chỗ ở văn phòng, nhưng ông không làm như vậy, San đã đánh trận đánh đáng tiền nhất của Vùng I Chiến thuật năm 1965 &#8211; Trận Ba Gia. Ngày Việt cộng phản công chiếm lại đồi, tiểu đoàn San bị tổn thất nặng, nó thoát chết chạy về Đà Nẵng ngơ ngác như một bóng ma. Có phải thế không San? Mày không biết tao là ai, nhưng tao biết mày là đội trưởng đội Hổ đoàn Nguyễn Trường Tộ, thuở nhỏ tao muốn được hãnh diện của mày &#8211; Con của trưởng Điền, &#8220;Gà Hùng biện&#8221;. Bây giờ ông chết như một người Hướng Đạo sinh trong sạch từ tư tưởng, lời nói&#8230; Mày cho tao chia sẻ cùng vinh dự này.<br />
Người Huế thuở xưa đã thực hiện một chiến công không thành nhưng biểu lộ cách can đảm hùng tâm, dùng sức người vây hãm, tấn công vào khu Morin của người Pháp trấn giữ đầy vũ khí. Mùa xuân năm nay cũng vậy, những con người bình thản như dòng sông kia đã chịu đựng nghiệt cảnh bi thảm không biên giới, và họ đã chiến đấu hết sức của một người. Khu Phú Cam, bằng Garant và Carbin M1, thanh niên và lính chuyên môn ở các trại quân cụ, công binh đã chống cự với Việt cộng cho đến ngày cuối cùng. Và tôi nghĩ rằng hình ảnh bi tráng nhất của chiến tranh này là trong buổi Huế điêu tàn người Huế đã hát quốc ca khi lá cờ Vàng dần lên cột cờ loang lổ dấu đạn&#8230; Người Huế đã cất cao giọng hát trong gió lạnh, hòa mưa bay khi nước mắt lăn dài trên gò má. Huế ơi! Quê Hương! Tôi muốn khóc hôm ấy. Tôi muốn khóc biết bao nhiêu&#8230;</p>
<p><strong>Tháng 2-1968. Huế Mậu Thân. </strong><strong></strong></p>
<p><strong>Phan Nhật Nam</strong></p>
]]></content:encoded>
					
					<wfw:commentRss>https://t-van.net/phan-nh%e1%ba%adt-nam-qu-h%c6%b0%c6%a1ng-v-ng%c6%b0%e1%bb%9di-hu%e1%ba%bf/feed/</wfw:commentRss>
			<slash:comments>0</slash:comments>
		
		
			</item>
	</channel>
</rss>

<!--
Performance optimized by W3 Total Cache. Learn more: https://www.boldgrid.com/w3-total-cache/?utm_source=w3tc&utm_medium=footer_comment&utm_campaign=free_plugin

Page Caching using Disk: Enhanced 

Served from: t-van.net @ 2026-07-06 05:06:58 by W3 Total Cache
-->