<?xml version="1.0" encoding="UTF-8"?><rss version="2.0"
	xmlns:content="http://purl.org/rss/1.0/modules/content/"
	xmlns:wfw="http://wellformedweb.org/CommentAPI/"
	xmlns:dc="http://purl.org/dc/elements/1.1/"
	xmlns:atom="http://www.w3.org/2005/Atom"
	xmlns:sy="http://purl.org/rss/1.0/modules/syndication/"
	xmlns:slash="http://purl.org/rss/1.0/modules/slash/"
	>

<channel>
	<title>tác giả tác phẩm &#8211; T.Vấn và Bạn Hữu</title>
	<atom:link href="https://t-van.net/tag/tac-gi%e1%ba%a3-tac-ph%e1%ba%a9m/feed/" rel="self" type="application/rss+xml" />
	<link>https://t-van.net</link>
	<description>Văn Học và Đời Sống</description>
	<lastBuildDate>Tue, 09 Jun 2026 01:45:24 +0000</lastBuildDate>
	<language>en-US</language>
	<sy:updatePeriod>
	hourly	</sy:updatePeriod>
	<sy:updateFrequency>
	1	</sy:updateFrequency>
	<generator>https://wordpress.org/?v=6.7.5</generator>

<image>
	<url>https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2022/02/t-van-favicon.png?strip=all&#038;resize=32%2C32</url>
	<title>tác giả tác phẩm &#8211; T.Vấn và Bạn Hữu</title>
	<link>https://t-van.net</link>
	<width>32</width>
	<height>32</height>
</image> 
	<item>
		<title>Nguyễn Vy Khanh: Nhà văn TRỊNH Y THƯ</title>
		<link>https://t-van.net/nguyen-vy-khanh-nha-van-trinh-y-thu/</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[Tác Giả]]></dc:creator>
		<pubDate>Mon, 27 Oct 2025 06:38:00 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Góc Văn]]></category>
		<category><![CDATA[tác giả tác phẩm]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://t-van.net/?p=84535</guid>

					<description><![CDATA[Ông tên thật Trịnh Ngọc Minh, sinh ngày 11-2-1952 tại Hà Nội, du học Hoa-Kỳ năm 1970. Trịnh Y Thư làm thơ, viết văn, dịch thuật, làm báo, chủ bút tạp chí Văn Học và Việt Báo Weekly News vùng Orange County CA và chủ trương nhà xuất bản Văn Học Press thời sau này. [&#8230;]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<div class="wp-block-image">
<figure class="aligncenter size-full is-resized"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2025/10/Biasach_all_JPG.jpg?strip=all&w=2560"><img fetchpriority="high" decoding="async" width="970" height="508" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2025/10/Biasach_all_JPG.jpg?strip=all" alt="" class="wp-image-84536" style="width:724px;height:auto" srcset="https://cdn.t-van.net/2025/10/Biasach_all_JPG-300x157.jpg 300w, https://cdn.t-van.net/2025/10/Biasach_all_JPG-768x402.jpg 768w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2025/10/Biasach_all_JPG.jpg?strip=all 970w" sizes="(max-width: 800px) 100vw, 800px" /></a></figure></div>


<div style="height:30px" aria-hidden="true" class="wp-block-spacer"></div>



<p>Ông tên thật Trịnh Ngọc Minh, sinh ngày 11-2-1952 tại Hà Nội, du học Hoa-Kỳ năm 1970. Trịnh Y Thư làm thơ, viết văn, dịch thuật, làm báo, chủ bút tạp chí <em>Văn Học</em> và <em>Việt Báo Weekly News</em> vùng Orange County CA và chủ trương nhà xuất bản Văn Học Press thời sau này. Ông cùng Nguyễn Mạnh Trinh biên tập <em>Tuyển Tập 23 Người Viết Sau 1975</em>(Văn Nghệ, 1989), gồm 23 nhà văn mới xuất-hiện ở hải-ngoại.</p>



<p>Đã xuất bản: Sáng tác: <em>Người Đàn Bà Khác</em> (Hà Nội: Thế Giới, 2010; tb Văn Học Press, 2024); <em>Chỉ Là Đồ Chơi</em> (tạp bút; Hợp Lưu 2012; tb VH 2019, 2023); <em>Phế Tích Của Ảo Ảnh </em>(thơ; VH, 2017; 2023); <em>Đường Về Thủy Phủ</em> (tiểu thuyết; VH, 2024)</p>



<p>Dịch-thuật: <em>Đời Nhẹ Khôn Kham</em>&nbsp; (<em>The Unbearable Lightness of Being</em> của Milan Kundera; Văn Học, 2002; tb Nhã Nam và Hội Nhà Văn, 2018); <em>Căn Phòng Riêng </em>&nbsp;(<em>A Room of One’s Own</em>, tiểu luận của Virginia Woolf; Hà Nội: Tri Thức, 2009; tb 2016; tb VH, 2023); <em>Gặp Gỡ với Định Mệnh</em> (tuyển dịch 12 tác giả; VH, 2020); <em>Tập Sách Cái Cười &amp; Sự Lãng Quên</em> (<em>The Book of Laughter and Forgetting</em> của Milan Kunderra; 2021) cùng <em>Jane Eyre </em>(của Charlotte Bronte; Hà Nội: Nhã Nam và NXB Văn Học, 2016).</p>



<p>Ngoài ra, ông có tập <strong><em>Theo Dấu Thư Hương </em></strong>(VH Press, 2022) viết về Charlotte Bronte, Virginia Woolf, Milan Kundera, Jim Harrison, Albert Camus, Nguyễn Xuân Khánh, Ngô Thế Vinh, Cung Tích Biền, Trần Vũ, Thận Nhiên, Nguyễn Thị Hoàng Bắc, Nguyễn Thị Khánh Minh, Phan Thị Trọng Tuyến, Đặng Mai Lan, Nguyễn Thanh Việt, Lại Thanhhà, Nguyễn Lương Vỵ, Lưu Diệu Vân, Nhã Thuyên, Lưu Mê Lan, Nguyễn Viện, Hoàng Vũ Thuật và Khế Iêm. Theo Lời Ngỏ, “<em>cuốn sách được chia làm ba phần: Phần đầu là những tác phẩm nước ngoài mà do cơ duyên nào đó, một số tôi đã dịch sang tiếng Việt (dịch là một cách đọc.) </em><em>Phần hai là văn xuôi và sau cùng là thơ. Văn bản thường ở dạng bài viết, nhưng đôi khi là một cuộc nói chuyện trao đổi hay phỏng vấn</em><em>”</em><em>.</em></p>



<p>Cũng trong Lời ngỏ: “<em>Cuốn sách này là tập hợp những cảm nhận rời rạc của một người đọc sách. Đọc sách có khó không? Tôi nghĩ là khó</em>. (…) <em>Ngày nay đa số người ta không đọc sách nữa, mà chỉ liếc nhìn trên mạng những thông tin trong vài phút đồng hồ rảnh rỗi hiếm hoi, và những thông tin ấy cũng chỉ lưu lại trong bộ nhớ không quá vài sát-na. Xu hướng của thời đại là thế. Cuộc sống càng hiện đại tân tiến, con người càng tất bật vội vàng, càng chóng lãng quên, một nghịch lý hết thuốc chữa của đời sống.</em></p>



<p><em>Tôi thuộc thiểu số ít ỏi, bơi ngược lại xu hướng thời đại ấy, bởi vẫn còn đọc và lại chọn đọc loại sách văn chương. (Chẳng có gì lỗi thời hơn!) Đọc sách văn chương là để suy ngẫm, bởi đằng sau những câu chữ là ngôi nhà suy tưởng cho người đọc tha hồ bước vào tìm tòi, khám phá, diễn giải theo ý riêng. Và, sau khi chiêm nghiệm được điều gì mình cho là hay ho thì muốn chia sẻ. Đó là lý do vì sao có những bài cảm nhận mà tôi thu gom in thành tập này.</em></p>



<p><em>Việc đọc của tôi giới hạn lắm; tôi chẳng phải con mọt sách, cũng không tin tưởng tuyệt đối vào một hệ thống lý thuyết nào, nên những nhận định của tôi thuộc dạng cảm tính chủ quan nhiều hơn là phân tích phê bình khách quan. Điều này hiển nhiên bởi tôi không phải nhà phê bình…”</em><em></em></p>



<p><strong><em>Chỉ Là Đồ Chơi</em></strong> ghi là “tạp bút” bốn phần: Văn học; Âm nhạc và Hội họa; Tùy bút; Đối thoại và Cảm nhận. Ông xác nhận trong Thay Lời Tựa: <em>“… Tôi không phải người viết tiểu luận bởi tôi dị ứng với các lý thuyết văn học và chủ yếu tôi là người sáng tác. Những bài viết trong cuốn sách này chỉ là những suy nghĩ rời rạc, lúc băn khoăn nghi vấn, lúc sôi nổi xác định, về văn chương nghệ thuật, về những điều tôi hằng trân quý trong cuộc sống bình nhật. Bởi thế tôi gọi chúng là tạp bút, một cụm từ chung chung, hiểu thế nào cũng được, lan man đi từ đề tài này sang đề tài khác, không có chủ hướng, mục đích nào nhất định. Gọi là tản mạn, phiếm luận cũng không sai trật bao nhiêu. Tuy thế, dù không nhận mình là kẻ viết phê bình, những bài viết này phần nào phản ánh quan điểm của tôi về nghệ thuật, một quan điểm rất chủ quan và đôi khi cực đoan”</em> (bản 2023, tr.7)[Chúng tôi chỉ trích văn có thế thôi vì thấy ghi copyright ở đầu sách – cần sự tôn trọng, nhất là trong thể loại lý luận, phê bình].</p>



<p>Trịnh Y Thư đặc biệt thích thú với tác phẩm của nhà văn Pháp gốc Tiệp Milan Kundera và đã dịch <strong><em>Đời Nhẹ Khôn Kham</em></strong>&nbsp;và<strong> <em>Tập Sách Cái Cười &amp; Sự Lãng Quên.</em></strong> Trong Dẫn Nhập cuốn sau, ông cho biết: “&#8230; <em>Giữa tôi và Milan Kundera, tính cho đến ngày nay, hẳn nhiên có một gắn bó trên 30 năm, một quan hệ phi vật thể vì tôi biết ông chứ ông không biết tôi là ai. Nhưng tôi thấy trên trang viết của ông </em><em>nhiều </em><em>điều rất gần gũi và tâm đắc. Gần gũi vì cũng như ông, tôi không được sinh sống trên quê hương mình. Tâm đắc vì hầu như tất cả những gì ông viết, tôi đều thấy lôi cuốn, cầm sách lên khó lòng buông xuống, bỏ đi làm chuyện khác. Ông suy nghĩ thay cho tôi. Ông là nhà văn với khối óc phân tích và tổng hợp uyên áo, câu cuyện kể thường dẫn đến vô vàn những tư duy độc đáo, và đó chính là điểm mạnh của ông</em><em>”</em><em>.</em></p>



<p><strong><em>Đường Về Thủy Phủ</em></strong><strong> </strong>được ghi là “tiểu thuyết” – “<em>có lẽ tôi đã chịu ảnh hưởng của Kundera khi gọi cuốn sách này của tôi là tiểu thuyết gồm ba thiên truyện riêng lẻ nhưng được thắt buộc vào nhau bởi một chù đề: sự thất lạc của con người trong cuộc sống hiện đại…</em>”, như Trịnh Y Thư đã cho biết trong Lời Ngỏ. Ông thêm:<em>“Tôi tuyệt đối không có ý định viết một cuốn sách lịch sử chiến tranh, cũng không phải một cuốn tiểu thuyết lịch sử… mà chỉ viết về </em>ấn tượng <em>của tôi về chiến tranh </em><em>(</em><em>…</em><em>)</em><em> không ngoài mục đích muốn nói lên thân phận con người trong những bối cảnh nghiệt ng</em><em>ã</em><em>, do chiến tranh gây nên mà cũng do chính con người tự tạo cho mình” </em>(tr. 12, 13, 14).</p>



<p>Với <em>Đường Về Thủy Phủ,</em> Trịnh Y Thư đã dụng ký ức chung riêng của tập thể ở thời gian đã qua rất lâu, viết nên một đa loại tiểu thuyết-ký sự trần trình, với lý lẽ và ấn tượng. Siêu thực cái hiện thực! Hiện thực huyền ảo cái lõi lịch sử! Chuyện nhiều thập niên chiến tranh biến thành lịch sử một dân tộc.</p>



<p>Từ ký ức của một ông lão 94 tuổi, tác giả đưa người đọc trở về 80 năm cũ – thời kháng chiến chống Pháp. Ông lão thú thật sống như đã chết, không còn sinh thú ở đời, sống thường trực với những bóng ma (tr. 136)Hư cấu, tưởng tượng, tạo nên những mảnh rời của chiến tranh xen lẫn với những mảnh ghép của tình yêu và đời người.</p>



<p>Nhân vật Tôi và các nhân vật khác ở chương mở đầu <strong>Ký Ức Của Loài Bò Sát</strong>, đều gắn liền với tất cả thăng trầm bi đát của lịch sử khiến người đọc biết được bối cảnh chiến tranh Việt Nam trong suốt những thập niên kháng Pháp, nhất là mảng tối của nó, phản chiếu qua cuộc đời như địa ngục của những nạn nhân mà chính sử không nói đến.</p>



<p>Minh tức “tôi” lớn lên, nhóm 6 thằng ngây ngô nhìn lén một chị trong làng tắm truồng: <em>“…</em><em> c</em><em>hỉ được cái nước da trắng lốp. Khuôn mặt cô bầu bĩnh, mắt lá răm, hai môi dầy, người thấp lùn, nhưng đôi mông thì to lắm. Điều này tôi biết chắc, bởi lúc ôm đống quần áo tất tả chạy vào nhà, cô quên rằng nguyên phía sau cô lõa lồ, không một tí vải che từ đầu đến chân, và trước khi tụt xuống gốc cây bàng tôi đủ thời gian dán mắt vào đôi mông ấy. Núng nính. Nủng nỉnh. Như hai túi bột ai túm lại rồi lắc lắc. Đôi mông vẫn theo tôi ám ảnh mãi đến tận cuối đời, bây giờ</em>” (tr. 42). Đôi mông “núng nính” của cô con út cụ Chánh tổng, đã là ấn tượng ám ảnh đầu đời.</p>



<p>Tác giả nhớ về Hà Nội, đoạn văn tiềm chứa hoài niệm, sâu lắng,&nbsp; những con chữ mang tình quê hương, thiên nhiên, diễn tả khi Tôi bỏ theo kháng chiến: “<em>Tôi còn nhớ cả tiếng chày chí chát của đám thợ đập vàng trên phố Hàng Bông Đệm, hay tiếng chuông leng keng, tiếng bánh xe nghiến trên đường sắt của chiếc tàu điện chật cứng người mỗi ngày tôi lấy đi học hay đi chơi. Những bức tường rêu phong loang lổ, những vỉa hè, những con ngõ nhỏ như ngõ Phất Lộc với những căn nhà bé xíu thụt ra thụt vô, dây leo chằng chịt, trông rất ma quái […] Cũng không thể phai mờ trong tâm trí tôi là rặng bàng khô lá, lối đi quen thuộc từ những ngày còn cắp sách đánh vần với những kỷ niệm tuổi học trò thơ dại. Rồi năm Cửa Ô, cửa nào cũng có vết &nbsp;chân tôi. &nbsp;Cửa &nbsp;Ô Quan Chưởng với gạch ngói cổ xưa, loang lổ dấu vết thời gian. Cửa Ô Cầu Giấy với hàng phượng vỹ mùa hè đỏ ối rợp bóng hai bên đường. Cửa Ô Cầu Dền nơi thuở nhỏ tôi hay theo mẹ đi chợ Tết. Với Cửa Ô Đống Mác, đường đi Bát Tràng, thì tôi không thể quên những quả ổi ương ương chấm muối ớt ăn ngon nhớ đời. Và Cửa Ô Chợ Dừa, muốn ra đó phải đi ngang phường Dạ Lạc, phố Khâm Thiên, có thằng con trai mới lớn đỏ mặt, trống ngực đánh thình thịch mỗi lần thấy các cô gái má đỏ môi son đứng trong nhà nhìn ra cửa. Tất cả quay về tuần tự như khúc phim dĩ vãng vàng ố chiếu giọi chờn vờn trước mắt tôi …” </em>&nbsp;(tr. 59).</p>



<p>Có cả tang thương, đó là nạn đói kinh hoàng năm Ất Dậu ở miền Bắc: “… <em>Suốt đêm tôi không ngủ được mà chỉ nghĩ đến miếng giò. Thằng Cu Vĩnh nhà tôi chết rồi, nó chết từ nửa đêm, và tôi quyết định lóc thịt nó ra giã làm giò. Tôi chẳng nghĩ ngợi gì được, làm như cái máy…</em>”&nbsp; (tr. 48). Người chồng sau khi lóc thịt xác con làm giò, hai vợ chồng ăn, vợ chết vì bội thực, ông cho rằng vợ ông “đứt ruột vì ăn thịt con”. Ông “phát rồ… châm lửa đốt thiêu rụi ngôi nhà” rồi đi lang thang… rồi “<em>đi mãi về phía những doi cát màu hồng. Tôi thấy ông nhúng một chân xuống nước rồi lại rút lên. Tôi nhìn theo ông. Trong mắt tôi, cái bóng ông bây giờ chỉ còn là một điểm&nbsp; nhỏ xíu. Vô cùng bé nhỏ, nhỏ đến độ không một chút trọng lượng giữa vũ trụ bao la này</em>”&nbsp; (tr. 50).</p>



<p>Toại lớn lên say mê chủ nghĩa Marx. Về sau, Toại lên tới đại tá chính ủy và sẽ bị xử bắn vì bị nghi tham gia binh biến: “<em>Thế hệ thanh niên chúng tôi bị thất lạc trong cơn lốc lịch sử này. Tuổi trẻ với bầu nhiệt huyết sôi sục sẵn sàng lao đầu vào chỗ chết, hy sinh mạng sống mình cho đất nước, cho dân tộc. Nhưng tất cả chỉ là huyền thoại. Chúng tôi từng nghe rất nhiều những huyền thoại như thế. Tuổi trẻ chúng tôi mù lòa vì huyền thoại, bởi huyền thoại sáng rực như ngọn đèn một nghìn nến chiếu thẳng vào đồng tử khiến mọi thứ như lóa đi trong cơn đồng thiếp.</em>&nbsp;” (tr. 85-86).</p>



<p>Chính trong thời kỳ tham gia kháng chiến, Tôi được thấy những hình ảnh hãi hùng của cuộc kháng chiến, được nghe kể về để mở đường, đơn vị quyết tử của Việt Minh có nhiệm vụ ôm bom ba càng chạy vào cho nổ xe tăng hay lô cốt quân Pháp, và họ cũng tan xác theo.</p>



<p>Nhân vật xưng Tôi được các cô chủ động đến với anh, như mối tình với cô H’Mông 15 tuổi tên Xụ Phụn Phèn xinh đẹp. Cô ngây thơ, yêu chàng người Kinh 19 tuổi dân quân du kích đang tham dự cuộc chiến chống Pháp. “<em>Tình yêu của cô cho tôi, nó hoang dại như núi rừng này, nhưng nó say đắm và tinh tuyền như tình yêu của loài muông thú. Nhờ nó, muông thú tìm đến nhau, trái đất này còn tồn tại. Nó giữ cho trái đất khỏi nổ tung. Nhưng nó bị người ta lấy mất của tôi, bởi người ta đang có một âm mưu kinh khiếp là toa rập nhau phá vỡ trái đất ra thành nhiều mảnh vụn, không cách gì hàn gắn lại được:.</em></p>



<p>Nhưng cuối cùng, cô Xụ Phụn Phèn chết, trong khi cô có thai vài tháng với nhân vật xưng tôi – sau tôi nghe kể lại. Cô và cả bản làng của cô, có lẽ cả trăm người, bị ông Lê Lân, Tiểu đoàn trưởng Việt Minh, xử bắn toàn bộ vì người dân H’Mông bị nghi là giúp đỡ người Pháp.&nbsp;Tôi còn giữ cái xuyến vàng của Xụ Phụn Phèn “<em>chết oan ức và thảm khốc, nên linh hồn cô không siêu thoát… Tôi và cô vẫn chuyện trò với nhau trong những đêm thanh vắng…”</em><em></em></p>



<p>Đoạn cuối “Hành trình về thủy phủ của mẹ con Xụ Phụn Phèn” là cuộc đối thoại của nàng Xụ Phụn Phèn với đứa con trong bụng, như một cuộc nói chuyện trong mơ. Cô hứa với đứa con là sẽ đưa con về Thủy phủ để gặp bố. Cô ru đứa con thành cuộc nói chuyện mẹ con: “<em>Yêu là gì, hả mẹ?”</em> “<em>Yêu là có thể hy sinh thân mình cho người mình yêu.” “Thế mẹ có yêu bố không” “Mẹ có thể hy sinh mạng sống của mẹ cho bố” … “Bố sẽ về với mẹ con mình mãi mãi…” “Bao giờ, hả mẹ?” “Bố hẹn với mẹ con mình ở thủy phủ. Bố sẽ xây cho mẹ con mình một ngôi nhà rõ to cho mẹ con mình ở</em>” … “<em>Đúng vậy, con ạ. Họ cùng về thủy phủ với mình, nơi không còn bom đạn hay hận thù, nơi mẹ con mình sẽ gặp bố, bố sẽ yêu thương bảo bọc mẹ con mình. Thôi con nhé, con hãy ngủ đi, khi nào mặt trời mọc là mình đến nơi</em>” (tr. 147).</p>



<p>Đó là Thủy Phủ của Trịnh Y Thư, nơi ẩn dụ cho cõi bất tử, nơi chốn của niềm tin và hy vọng, và là nơi không chất chứa hận thù.</p>



<p><strong>Dưới Những Gốc Nho Biển </strong>được mở đầu như sau: “<em>Hôm cô tự kết liễu đời mình, cô mặc chiếc áo lụa trắng ra chợ huyện như một thói quen. Ra chợ nhưng cô không mua thức ăn như mọi lần về nấu cho cô và gã bác sĩ bộ đội ăn tối. Đầu óc cô hoàn toàn trống rỗng như tờ giấy trắng tinh&#8230;”</em> (tr. 153).</p>



<p>Cách vài thập niên sau, khi một cuộc chiến tranh khác – chiến tranh huynh đệ, ngưng tiếng súng đạn. Người phe thắng lộ mặt thật đối xử tàn bạo với đồng loại ở phía Nam. Nhân vật “cô” có chồng đi học tập cải tạo và đã “<em>chết mất xác trên rừng trong lúc lao động</em>”. Cô phải nuôi một đứa con gái, nên đi làm tiếp khách cho một quán cà phê vườn, và có khi cô bán thân. Rồi ông anh chồng của cô vượt biên, và dắt theo đứa con gái của cô lúc cô không có mặt ở nhà. Cô cặp với nhân vật nam không tên, là “gã”, một bác sĩ quân y cũa Bộ đội Nhân dân, tức là bên thắng cuộc. “<em>Gã ngồi ngang đùi cô, từ vị trí đó, gã có thể ngắm mặt cô rồi đến bộ ngực vun tròn, và xuống dần hạ thể nơi cặp đùi đàn bà săn chắc hiện rõ dưới lớp vải mỏng của chiếc quần tây màu đen. Gã ngồi nhìn cô như thế cả nửa giờ đồng hồ, hai người không nói gì với nhau. Cô nhắm mắt lại, lim dim, như tránh cặp mắt u buồn của gã. Cái nhìn của gã không phải để tìm kiếm hưng phấn nhục cảm. Nó chẳng biểu hiện tí gì lòng say đắm ngây dại của người đàn ông bình thường trước thân thể một người nữ đang nằm chờ đợi mình đi vào. Nhưng nói nó vô cảm phẳng lì cũng không đúng. Nó xa vắng buồn bã đến lạ lùng như có điều gì u uẩn chất chứa nhiều năm tháng trong tâm tư. Cô phải công nhận gã có đôi mắt đẹp, hiếm thấy ở một người đàn ông. Đen sâu, long lanh như hai hạt nhãn. Da mặt gã trắng xanh như tất cả các anh bộ đội mới ở trong rừng ra, nhưng đó là khuôn mặt của một người hiểu biết và nhạy cảm</em>” (tr. 159). Mối tình giữa Gã và cô đưa cô theo gã về làm dâu xứ Bắc – tác giả triết lý: “<em>Người nôn nóng muốn lìa bỏ nơi chốn mình đang ở là kẻ đánh mất quá khứ. Vì không có quá khứ nên tương lai là một canh bạc, và kẻ đó hoàn toàn mất mọi khả năng chủ động. Tất cả là sự may rủi không thể ngờ. Tất cả phó thác cho định mệnh. Nhưng định mệnh thì mù loà và không có quả tim” </em>(tr. 171).</p>



<p>Người miền Nam vĩ tuyến XVII đã phải ra đi tìm tự do, vượt biên, tị nạn. Con gái “cô” cũng đã ra đi, cô thành “độc thân” dù bên cạnh đã ông “bác sĩ bộ đội” tỏ ra yêu thương cô. Nhân vật “Cô” trong chuyện này trở thành gạch nối với kẻ thắng cuộc, được Đảng và Nhà nước cho qua. Nhưng “cô” cũng trở thành tiêu biểu nói lên số phận của phụ nữ miền Nam nạn nhân của thời cuộc, không phản kháng, sống cũng như chết, phó mặc cho số phận đẩy đưa. Đấy không hẳn là lối thoát, đưa đến cái chết ở đầu câu chuyện. “Cô” được một ông lão như “<em>là người từ quá khứ trở về</em>” đưa thuyền đến đón vì “<em>Mẫu đang đợi cô đưới thủy phủ” </em>(tr. 207). Gã đàn ông sau nhiều năm tháng, thành một ông lão “<em>già nua đáng dấp tiều tụy, gầy còm, lưng hơi còng, râu tóc bạc trắng, da dẻ nhăn nheo, ra ngồi dưới đôi ba gốc nho biển còn sót lại, dõi mắt nhìn ra biển khơi như mong ngóng cái gì” </em>(tr. 209).</p>



<p><strong>Đường Về Thủy Phủ </strong>với mộtnhân vật nữ tự khám phá nhận ra cô như bước ra từ tiểu thuyết của một nhà văn đang mưu sinh bằng nghề dạy học ở một đại học rất nhỏ ở Hoa Kỳ, vì nhà văn này không thể sống bằng viết sách được. Mối tình giữa cô sinh viên và chàng nhà văn, cũng là giảng viên, bị trở ngại vì trường cấm ngặt chuyện giảng viên giao du tình cảm với sinh viên. Nhân vật “tôi” bước ra từ sách của “gã nhà văn”&nbsp; và vì là nhân vật nên nàng cũng có cảm xúc riêng, và nàng nói rằng nàng căm thù chàng nhà văn đã sáng tạo ra cô: “<em>Tôi thù gã nhà văn khôn tả. Tôi thù gã đến độ tôi muốn giết chết gã. Tôi ao ước có một mũi dao nhọn sắc lẻm cho tôi ấn sâu vào ngực gã với động tác êm nhẹ, từ tốn để trái tim gã khi bị mũi dao đâm thủng vẫn không hay biết đang bị đâm mà tiếp tục hân hoan đập những nhịp đập hối hả như thể sợ ngày mai không còn được đập</em>” (tr. 217).</p>



<p>Đây là một mối tình như cưỡng bức và một chiều: “<em>Cuộc sống tôi trở nên phẳng lặng một cách nhàm chán, mỗi tối gã vẫn dắt tôi vào ăn tại các nhà hàng sang trọng có bồi bàn thắt nơ đen đứng hầu, nhưng khi về phòng gã lăn ra ngủ bỏ mặc tôi lên cơn thèm khát. Tôi là sản phẩm của gã nhưng một khi gã ném tôi ra ngoài này, tôi có cuộc sống của riêng tôi và tôi nổi loạn. Điều đó không có gì là bất thường và mỗi tuần hai ngày, khi gã có lớp dạy chiều, tôi mò lên phòng tên sinh viên làm tình với hắn. Tên sinh viên tôi gặp tại quán cà phê trước cổng trường đại học</em>” (tr. 230).</p>



<p>Nhân vật xưng tôi thứ hai là “gã nhà văn”, chàng kể về cô gái: “<em>Tôi chú ý cô gái ngay hôm khai giảng lớp học. Cô ngồi bàn đầu, cô gái Á Đông duy nhất trong lớp học. Lớp này tôi phụ trách dạy gần mười năm nay từ khi về nhận làm giảng viên nơi đây, một trường đại học nhỏ nằm ngoài rìa một thị trấn mặc dù có tên trên bản đồ nhưng nói ra chẳng ai biết. Khu đại học tiếp giáp với cánh rừng phong bạt ngàn. Tôi ghét nghề dạy học nhưng nó giúp tôi có tiền sinh sống trong lúc cặm cụi viết sách, chờ ngày một nhà xuất bản nào đó chịu xuất bản tác phẩm của mình</em>.” (tr. 237).</p>



<p>Và rồi nhiều trang sau, “gã nhà văn” kể rằng, một hôm cô gái tự nhận là nhân vật nữ trong tiểu thuyết của “gã nhà văn”: “<em>Không hiểu bởi nguyên cớ gì cô tự nhận cô là nhân vật trong một cuốn tiểu thuyết của tôi. Tôi có hai cuốn tiểu thuyết đã xuất bản, một cuốn tôi viết từ khi còn là sinh viên, cuốn kia ra mắt ba năm sau đó có một chút tiếng vang, nhưng ba tập bản thảo thì không nhà xuất bản nào chịu in. Thú thật tôi chẳng bao giờ có can đảm đọc lại những gì mình viết…”</em> (tr. 242).</p>



<p>Sau ba năm sống chung và đi lang thang khắp nước Mỹ, gã mới “<em>biết cô là người nước nào và lý do tại sao cô lưu lạc đến đây. Một mình”</em>. Khi phe kia tràn vào, bố cô bị đi “cải tạo” và chết trong tù, mẹ cô lấy bác sĩ bộ đội – Cô gái đây cuối cùng là đứa bé gái bị ông bác đưa đi vượt biên. Hai người về Việt Nam tìm hiểu và tìm xác Mẹ. Được nghe kể “<em>một năm sau khi mẹ mất tích, không hiểu từ đâu có tin đồn mẹ bị Mẫu bắt về thủy phủ” </em>và người dân đã xây cái miếu nhỏ ngay trên mỏm đất chỗ con sông đổ ra biển. Về cuối, nhân vật nữ, nay rõ ra bị bệnh rối loạn lưỡng cực. Gã đàn ông thì tự vấn “<em>cô gái Việt phải chăng là định mệnh đời tôi hay đó là sự trừng phạt do tội lỗi gây ra với cha tôi? Hay cả hai?”.</em></p>



<p>Để kết lại, sau cái chết già / bệnh của “gã nhà văn”, tác giả cho “cô” và người bác sĩ bộ đội tìm về ngồi dưới những gốc nho biển, nơi Bố và Mẹ của cô trước đây vẫn hay ngồi: &#8220;<em>Trước mặt, hoàng hôn vàng đỏ vỗ về mặt biển nhấp nhô sóng. Những cánh hải âu chao liệng. Một đàn cốc biển bay thành hàng một về phía chân trời xa xa, nơi có những hòn đảo lờ mờ nổi trên mặt nước. Những hình ảnh này, có lẽ mẹ tôi đã trông thấy y như tôi thấy bây giờ. Ý nghĩ này làm tôi ấm lòng</em>&#8221; (tr. 288).</p>



<p><em>Đường Về Thủy Phủ</em> đi bên cạnh lịch sử chung và trải qua nhiều vùng miền, khởi đầu với ký ức một ông lão 94 tuổi, rồi với một nữ nhân bất hạnh của trong nước hậu-30/4 và cuối cùng trở lại với một nam nhân từ cộng đồng hải ngoại tân lập trở về tìm quá khứ của một người nữ Việt. Đi bên cạnh lịch sử hoặc chìm trong thời kháng Pháp ở Bắc, Mậu Thân ở Huế, sau 1975 ở miền Nam, ở hải ngoại tân lập, tất cả cuối cùng con người – qua một số nhân vật tiểu thuyết, được đưa đón hoặc tìm về thủy phủ.</p>



<p>Ba phần/chương rõ ra là ba cái cớ văn chương để tác giả lý giải, bộc bạch suy nghĩ, cảm nhận về lịch sử, con người, cuộc đời, về cái chết và định mệnh. Quá khứ được ông chăm sóc, vẽ lại với nhiều chi tiết, ấn tượng. Theo phong cách <em>hiện thực huyền ảo</em>: cái thực, cái ảo và cái phi lý thay nhau hoặc cùng hiện diện, mà trí tưởng tượng / sáng tạo của nhà văn cũng như của độc giả khi tiếp xúc với văn bản trở nên không giới hạn. Trịnh Y Thư đã làm một chuyến phiêu lưu lịch sử, hy vọng đánh động vô thức tập thể cũng như những khúc mắc chưa được giải tỏa khác. <em>Đường Về Thủy Phủ </em>đã là mảnh đất dù hạn hẹp với vài câu chuyện tiêu biểu – theo ý tác giả – đã phần nào thành công khiến người đọc cùng tìm về lịch sử, nguồn cội. Hiện thực huyền ảo trở thành phương tiện sáng tác hôm nay, cho phép tác giả nhìn vào cuộc sống trước mặt, kể cả những bất thường và phi lý. Qua chúng, tác giả tỏ thái độ với thời cuộc, với hôm nay, với quyền bính và tha nhân. Tác giả không thể tránh bàn đến tâm lý con người ở một giai đoạn lịch sử, một giai đoạn mà tác giả nghĩ đã đến lúc phải đưa ra ánh sáng, đưa ra công luận, đã đến lúc mà con người không thể sống như cũ, nên sống bằng tình nghĩa hơn là sống một cuộc đời thế gian bị bủa vây bởi những phỉnh gạt to lớn của tập thể nhân danh một lý tưởng nào đó.&nbsp;Thiện ác vô lường và thuyết tương đối được hiện đại hoá. Qua những việc và người mà tác giả thấy &#8220;có vấn đề&#8221;. Viết chuyện hiện thực qua cách huyền-ảo, các tác giả còn nhắm kêu gọi cải đổi, giải phóng, bằng cách cho thấy thực trạng của hôm nay, của con người sau bao lầm lỗi và hy sinh. Ở nhiều tầng lớp xã hội khác nhau!&nbsp;Thể loại&nbsp;đương đại này mở ra một chân trời mới, cho người viết cũng như người đọc, một tự do văn chương tuyệt vời! Các tác giả như Trịnh Y Thư đã chứng tỏ tài huyễn hoá&nbsp;văn chương, như một trở về với người xưa văn hoá&nbsp;cũ, với nền tảng, nhưng vẫn là một thẩm mỹ văn chương mới, chứ không phải chỉ vì muốn trốn thực tại hay tránh những vấn đề của xã hội hoặc những tranh luận khoa học nhân văn cấp bách của hôm nay. Thực vậy, hiện thực huyền ảo là cách bám chặt thực tại có thể có hiệu quả lớn, bám và định nghĩa lại các quan hệ. Ban đầu chúng có vẻ là hình thái hình thành bởi ám ảnh quá khứ hoặc ảo tưởng của tập thể. Đám đông không thể sáng suốt nhận chân ra cái ám ảnh đang hủy hoại tập thể, họ sẽ có thể mở mắt nếu phải đi đường vòng qua ngả văn chương. Thể loại này do đó có thể nói là dấu hiệu của một xã hội trưỡng thành, đang-trưỡng-thành, trưởng thành khi tự mở mắt với những bi-hài-kịch thườnh nhật. Điểm-đến của&nbsp;<em>t</em>&nbsp;theo chúng tôi là đã gióng lên tiếng nói đích thực của con người hôm nay, cho bây giờ và mai sau, khi còn có thể lên tiếng và sau một thời gian đã không thể lên tiếng.</p>



<p>Đọc Trịnh Y Thư, người đọc có cơ hội tự xét, soi lại mình cũng như soi chiếu với tâm thức và cái sống chung. Một tiểu thuyết chỉ ra được những cái vướng vất chưa được giải quyết, những âm hưởng, vang vọng thiện-ác cũng như lãng mạn, lý tưởng của cuộc sống hôm nay.</p>



<p>*</p>



<p>Trịnh Y Thư còn là nhà thơ và đã có nhiều nhận định về thi ca trong các tập tiểu luận và tạp bút của ông. Thi tập <em>Phế Tích Của Ảo Ảnh</em> được xuất bản lần đầu năm 2017, gồm 3 phần: Phế Tích Của Ảo Ảnh-trường thi 10 đoạn, Trong Bóng Tối Ta Chẳng Tìm Thấy Nhau và Con Nước Vô Danh.</p>



<p>Phế Tích Của Ảo Ảnh hình như được sáng tác khi nhà thơ về thăm quê nhà, Bắc, Nam:</p>



<p>“<em>Thốt nhiên tôi quay về hướng mặt trời</em></p>



<p><em>một ngày thoát thân – xác quạ lót đường đi</em></p>



<p><em>những đám mây tích vô tích sự</em></p>



<p><em>dửng dưng với bầu trời xanh</em></p>



<p><em>bất chợt một góc trời điêu hao thành lũy</em></p>



<p><em>giữa muôn trùng cảnh lạ bến nước bủa giăng.</em></p>



<p><em>Tôi chờ đợi một tiếng kêu bằn bặt thổ ngơi</em></p>



<p><em>ẩn nhẫn như cơn mộng oan khiên phong vận</em></p>



<p><em>thoát thai thành một nghĩa cử tầm thường</em></p>



<p><em>bốn phía trời căm dù hờn tủi cũng đành.</em></p>



<p><em>Trăm lần như một tôi không có chọn lựa nào</em></p>



<p><em>hiện hữu những cơ ngơi ảo hoặc thánh hóa</em></p>



<p><em>định vị bởi khí hậu nhiệt đới không lối thoát</em></p>



<p><em>như một kẻ hành hương lạ thất lạc</em></p>



<p><em>trong ngôi đền không có nổi một lư hương.</em></p>



<p><em>Đứng dưới rượng hoa già kí ức tràn về khiển trách</em></p>



<p><em>không không tôi không chấp nhận</em></p>



<p><em>lời nguyền rủa ấy xin đừng trút lên tôi</em></p>



<p><em>một mai làm người tôi sẽ gửi lời thâm tạ</em></p>



<p><em>như lá chúc thư trần tình cho phiên bản cuối.</em></p>



<p><em>Dù tôi biết mình không còn chỗ chạy</em></p>



<p><em>không cả một tòa án giả hình</em></p>



<p><em>thu hẹp trong vòng tròn định mệnh</em></p>



<p><em>trên cả những giao ước biển lận trớ trêu.</em></p>



<p><em>Chiều đã xuống quảng trường nhức nhối lói</em></p>



<p><em>cho tôi xin một hồi chuông</em></p>



<p><em>để làm gì tôi chẳng biết</em></p>



<p><em>xung quanh người đeo mặt nạ hóa trang</em></p>



<p><em>ban nhạc luân xướng hân hoan bước lên đoạn đầu đài</em></p>



<p><em>cử chỉ khinh mạn của gã ôm lưỡi hái</em></p>



<p><em>khiến tôi thèm một nụ hôn cuối và bữa tiệc giã từ.</em></p>



<p><em>Những âm hồn rỉ rén trở về – không không</em></p>



<p><em>đây không phải chỗ cho các ngươi khiếu oan</em></p>



<p><em>ôi thật kinh khiếp thế chỗ những cảm xúc chết</em></p>



<p><em>là kí ức của cảm xúc hoen quẹn da non.</em></p>



<p><em>Người con lịch sử khuôn mặt ngươi ở đâu</em></p>



<p><em>sau tấm biển quảng cáo nịt vú đàn bà</em></p>



<p><em>hay bên kia rừng trảng thâm u</em></p>



<p><em>bên dưới những nấm mồ oan khốc.</em></p>



<p><em>Vẫn biết sự thật là tiếng vọng thiên thu</em></p>



<p><em>nhưng hãy cho tôi hòa giải</em></p>



<p><em>bởi cuộc chiến với kí ức</em></p>



<p><em>là cuộc chiến với sự lãng quên.</em></p>



<p><em>Ký ức như mộ phần người chết</em></p>



<p><em>hãy để nó vĩnh viễn nằm dưới đáy ngục sâu</em></p>



<p><em>bởi đào lên chỉ thấy toàn hồn ma và xương xẩu kinh người</em><em>”</em></p>



<p>(đoạn 2, tr. 10-12)</p>



<p><em>“Tôi trở về đây vòng quay của đất trời tê tái</em></p>



<p><em>thăm hỏi những con người bị lãng quên / nằm chen chúc /</em></p>



<p><em>dưới đám ruộng / chiêm trũng / lúc giao mùa phất phơ.</em></p>



<p><em>Họ là ai tôi tự hỏi / những bản văn tự không ấn dấu /</em></p>



<p><em>xung quanh một bến nước / có tiếng hát phù trầm</em></p>



<p><em>quay quắt một đêm mưa / hàng cau đánh sập sân từ đường</em></p>



<p><em>vỡ vụn những viên gạch / khép nép nghìn thu.</em></p>



<p><em>Trên nỗi đau phận người là những lời lừa phỉnh</em></p>



<p><em>dù bóng tối không bao dung / và nỗi khiếp sợ ngập tràn</em></p>



<p><em>nhưng hi vọng ngày mai / tia rực sáng vui đùa cùng cỏ cây</em></p>



<p><em>còn sự lừa phỉnh là bóng tối đời đời</em></p>



<p><em>nhốt chặt những linh hồn muôn kiếp / không cơ may cứu chuộc.</em></p>



<p><em>Hồn ma còn sợ bóng tối không tôi tự hỏi</em></p>



<p><em>hiển nhiên họ không tự biện hộ được</em></p>



<p><em>khi lịch sử kì oan / buộc tội ngay lúc lâm minh</em></p>



<p><em>và sự lừa phỉnh phỉnh lừa chính nó.</em></p>



<p><em>Nằm đếm sao trời đêm đêm / họ gửi chúng ta thông điệp gì</em></p>



<p><em>gia phả không đủ chỗ / viết những lời nhắn nhủ</em></p>



<p><em>cựa mình chạm vào rễ gai /&nbsp; trợn trừng hai hốc mắt</em></p>



<p><em>không &#8211; họ chẳng nói gì / bởi tất cả những điều cần nói</em></p>



<p><em>đã được nói ra / từ trước đó lâu lắm rồi.</em></p>



<p><em>Nhưng tôi quả run sợ bởi đó là bước khởi đầu</em></p>



<p><em>dù không biết gọi nó là gì lịch sử hay kì tích</em></p>



<p><em>của những con người khổng lồ biết bay</em></p>



<p><em>phủ trùm lên ý thức tội đồ tôi nhận ra</em></p>



<p><em>không ai chết cho kẻ khác</em></p>



<p><em>kể cả người bị đóng đinh trên núi Sọ” </em>(đoạn 3, tr. 13-14)</p>



<p>Trích hai đoạn của trường thi, nguyên đoạn, để thấy trọn vẹn hơn tâm tư nhà thơ thể hiện qua con chữ &#8211; những bức xúc, ân oán rất con người. Không hẳn là phê phán lịch sử từ sự kiện, hiện tượng quan sát được, thấm thía được. Gọi là “<em>lịch sử hay kì tích</em>” thì ông vẫn mong sự hòa giải dù “<em>biết sự thật là tiếng vọng thiên thu</em>”, vì<em> “bởi cuộc chiến với kí ức / là cuộc chiến với sự lãng quên”. </em>Còn ký ức ư? “<em>như mộ phần người chết / hãy để nó vĩnh viễn nằm dưới đáy ngục sâu / bởi đào lên chỉ thấy toàn hồn ma và xương xẩu kinh người”.</em></p>



<p>Tình yêu ư? Tìm lại chăng? thì “<em>trong bóng tối ta chẳng tìm thấy nhau</em>”: “<em>Bơ vơ tháng ngày mưa nhanh / thu vén những mảnh đời vụn vỡ / ta còn gì cho nhau / ngoài ánh mắt khoan dung / như lần chia tay trên đồi cát.&nbsp;</em></p>



<p><em>Hoàng hôn rồi cũng xuống / trong bóng tối ta chẳng tìm thấy nhau / chợt một hôm hóa thân cát bụi / gió tê xao xác cõi ngoài…”</em> (tr. 38).</p>



<p>*</p>



<p>Trong dòng chảy của Văn học hải ngoại, Trịnh Y Thư là một thành phần cá biệt. Văn chương nghệ thuật với ông trước hết phải đồng nghĩa với cái Đẹp và ông đã áp dụng trong văn thơ cũng như dịch phẩm của ông.</p>



<p>Sau những tương tàn huynh đệ là di sản, là hậu họa, là ký ức buồn đau… Tác phẩm của Trịnh Y Thư dù ở thế loại nào cũng mang những ám ảnh lo toan cho dân Việt, mang tính tình tự, thông cảm rõ hơn là chính trị.</p>



<p>[Trích <em>Văn-h</em><em>ọ</em><em>c Vi</em><em>ệ</em><em>t-Nam 50 Năm H</em><em>ả</em><em>i ng</em><em>o</em><em>ạ</em><em>i</em>, quyển Hạ, 2025, tr. 613-625]</p>



<p><strong>Nguy</strong><strong>ễn Vy Khanh</strong><strong></strong></p>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Ngộ Không: Tác Giả Tác Phẩm – Dõan Quốc Sĩ</title>
		<link>https://t-van.net/ng%e1%bb%99-khng-tc-gi%e1%ba%a3-tc-ph%e1%ba%a9m-dan-qu%e1%bb%91c-si/</link>
					<comments>https://t-van.net/ng%e1%bb%99-khng-tc-gi%e1%ba%a3-tc-ph%e1%ba%a9m-dan-qu%e1%bb%91c-si/#respond</comments>
		
		<dc:creator><![CDATA[Ngộ Không Phí Ngọc Hùng]]></dc:creator>
		<pubDate>Tue, 21 Oct 2025 06:41:00 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Tác Giả Tác Phẩm]]></category>
		<category><![CDATA[ngộ không]]></category>
		<category><![CDATA[tác giả tác phẩm]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://7076e870b2.nxcli.io/?p=6527</guid>

					<description><![CDATA[Tiểu Sử Doãn Quốc Sỹ Nhà văn Doãn Quốc Sỹ sinh vào giờ Mão (7:00 sáng), ngày mùng Hai Tết năm Quý Hợi tức là ngày 17 tháng hai năm 1923, tại làng Hạ Yên Quyết, tỉnh Hà Đông (nay thuộc vào ngoại thành Hà Nội). Thân Phụ ông là một nhà tân nho và [&#8230;]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: center;"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2012/06/dqsi.jpg?strip=all&fit=202%2C250"><img decoding="async" class="aligncenter size-full wp-image-12943" title="dqsi" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2012/06/dqsi.jpg?strip=all&fit=202%2C250" alt="" width="202" height="250" /></a></p>
<p><strong>Tiểu Sử Doãn Quốc Sỹ<br />
</strong><br />
Nhà văn Doãn Quốc Sỹ sinh vào giờ Mão (7:00 sáng), ngày mùng Hai Tết năm Quý Hợi tức là ngày 17 tháng hai năm 1923, tại làng Hạ Yên Quyết, tỉnh Hà Đông (nay thuộc vào ngoại thành Hà Nội). Thân Phụ ông là một nhà tân nho và thân mẫu thì chuyên về buôn bán.<br />
Ông thường tâm sự với bằng hữu rằng suốt cuộc đời ông đeo đẳng hai cái nghiệp: cầm phấn viết bảng và cầm bút viết văn. Cái nghiệp cầm phấn viết bảng của ông tuần tự từ các trường trung học công lập đến cao đẳng và đại học từ năm 1952 khi ông bắt đầu với trường Nguyễn Khuyến (Nam Định) 1952-1953, Chu Văn An (Hà Nội) 1953-1954, Trần Lục (Sài Gòn) sau đổi là trường Nguyễn Khuyến 1054-1960, năm 1960-1961 ông là Hiệu Trưởng trường Trung Học Công Lập Hà Tiên, Hồ Ngọc Cẩn 1961-1962, Cao Đẳng Sư Phạm Sài-Gòn 1960-1975, Đại Học Văn Khoa Sài-Gòn 1962-1975, Đại Học Vạn Hạnh 1962-1975<br />
Trong khoảng thời gian từ 1962-1975, ông đã từng đi du học ở Hoa Kỳ. 1966-1967 tại FSU (Florida State University); 1967-1968 ông chuyển về Nashville (Tennessee) và theo học tại Peabody College (nay đã sát nhập vào Vanderbilt University). Tại đây ông tốt nghiệp Cao Học về Giáo Dục (Master in Educaton). Chỉ vài năm sau khi bắt đầu nghiệp cầm phấn, ông đã vương nghiệp cầm bút viết văn.</p>
<p><strong>Tác phẩm:</strong></p>
<p><strong></strong><br />
&#8211; Sợ Lửa (tập truyện cổ tích) 1956<br />
&#8211; U Hoài (tập truyện ngắn) 1957<br />
&#8211; Gánh Xiếc (tập truyện nngắn) 1958<br />
&#8211; Cúi Đầu (tân truyện và truyện ngắn) 1972<br />
&#8211; Cò Đùm (tập truyện ngắn và kịch) 1977<br />
&#8211; Đi (truyện dài) 1982 *<br />
&#8211; Dấu Chân Cát Xoá (tân truyện) 1995 **<br />
&#8211; Người Vái Tứ Phương (tân truyện) 1995<br />
&#8211; Mình Lại Soi Mình (truyện dài) 1995<br />
Ông lại còn ra công biên khảo cùng với biên khảo gia Việt Tử qua những tác phẩm như:<br />
&#8211; Khảo Luận Về Đoạn Trường Tân Thanh 1959<br />
&#8211; Khảo Luận Về Nguyễn Công Trứ 1959<br />
&#8211; Khảo Luận về Trần Tế Xương 1959</p>
<p>(Theo TVVN.ORG )</p>
<p>&nbsp;</p>
<h3><strong>Chân dung Doãn Quốc Sĩ</strong></h3>
<h4><strong>Võ Phiến </strong><strong></strong></h4>
<p><em>Lời giới thiệu: </em><em></em></p>
<p><em>Trong lãnh vực nghiên cứu văn học ở hải ngoại từ sau năm 1975, bộ Văn Học Miền Nam gồm 7 tập của Võ Phiến, dù gây nên nhiều tranh cãi sôi nổi và dù mắc một số hạn chế nhất định, vẫn là một trong những thành tựu lớn nhất. Nó không những giúp người đọc nhận diện một khía cạnh khác trong tài năng của Võ Phiến mà còn cung cấp cho người đọc một khối tài liệu đồ sộ và đáng tin cậy về một nền văn học ngỡ đã bị quên lãng: văn học Miền Nam từ năm 1954 đến 1975. Với ý nghĩa như thế, bộ Văn Học Miền Nam của Võ Phiến, đặc biệt tập đầu, “Tổng quan”, đã được đón nhận nồng nhiệt. Cuốn sách đã được tái bản nhiều lần.</em><em></em></p>
<p>Văn học Miền Nam 54-75 không có phê bình, văn học Miền Nam đang bị tiêu hủy. Chưa hết. Chung quanh nó còn diễn ra lắm trò lố bịch: tôi muốn nói đến câu chuyện “văn học giải phóng Miền Nam”. Nhà nước cộng sản dựng lên một nền văn học, cho cán bộ nghí ngố om sòm về nền văn học ấy, cố gây ra cái cảm tưởng đây mới là nền văn học chân chính của Miền Nam, là tiếng nói tự do của nhân dân Miền Nam; còn bao nhiêu sách báo xuất hiện trên khắp lãnh thổ Việt Nam từ vĩ tuyến 17 trở vào trong vòng 20 năm qua không phải là văn hóa phẩm đâu, đó là những món sản xuất theo lệnh của CIA cả đấy. CIA sai khiến ngụy quyền, ngụy quyền sai khiến bồi bút viết cái nọ cái kia, cái thì gieo rắc chủ nghĩa hiện sinh, cái thì mô tả cảnh dâm ô đồi bại, cái thì xúi giục chống cộng v.v&#8230;, tất cả cùng nhằm một mục đích đầu độc quần chúng làm hại nhân dân cả.</p>
<p>“Văn học giải phóng” mới là văn học chân chính của Miền Nam, (Văn học giải phóng Miền Nam, nhà xuất bản Đại Học Và Trung Học Chuyên Nghiệp, Hà Nội, 1975.) ông Phạm Văn Sĩ viết một cuốn sách về nền văn học ấy,<a name="3R"></a><a href="http://www.tienve.org/home/literature/viewLiterature.do?action=viewArtwork&amp;artworkId=3056#3#3">[3]</a> trong sách ông cẩn thận dành ra một phần phụ lục để thóa mạ “văn nghệ vùng tạm chiếm”. Đáng tiếc là không có phần nào dành nói về việc tạo thành văn nghệ giải phóng. Bởi vì việc đánh tráo một nền văn học tất nhiên ngộ nghĩnh, mà sự chế tạo nên một nền văn học cũng ly kỳ, đáng nói lắm chứ, không sao?</p>
<p>Xem nào, văn học giải phóng là do những ai? Ông Phạm Văn Sĩ kể ra những tên như: Nguyễn Đức Thuận, Thanh Hải, Giang Nam, Lê Anh Xuân, Nguyễn Thi, Huỳnh Minh Siêng, Trần Bạch Đằng, Anh Đức, Trần Hiếu Minh, Nguyễn Trung Thành, Phan Tứ, Nguyễn Vũ v.v&#8230; Ông không chịu nói ra cái điều lý thú này: là tất cả những kẻ vừa kể trên đều được phái từ ngoài Bắc vào. Những kẻ mới lớn lên thì được đảng dạy dỗ cẩn thận, cũng có người được cho đi rèn luyện tận bên Tàu bên Nga, có người là con ông cháu cha, xuất thân từ gia đình đảng viên cao cấp, bố là yếu nhân trong chính phủ. Hạng cao niên hơn thì lại là những văn nghệ sĩ đã có tên tuổi ngoài Bắc, đổi tên đổi họ, hóa thân làm người mới: Lưu Hữu Phước hóa làm Huỳnh Minh Siêng, Nguyễn Văn Bỗng hóa thành Trần Hiếu Minh, Nguyên Ngọc hóa ra Nguyễn Trung Thành, Bùi Đức Ái thành ra Anh Đức, Trần Bạch Đằng làm Hưởng Triều, làm Hiểu Trường, Lê Khâm hóa thành Phan Tứ, Nguyễn Ngọc Tấn thành Nguyễn Thi v.v&#8230;</p>
<p>Bảo rằng những văn nghệ sĩ ấy gốc từ Miền Nam nên những gì họ viết ra có thể cho vào văn học Miền Nam? &#8211; Nếu thế thì tác phẩm của Doãn Quốc Sỹ, Nguyễn Mạnh Côn, Vũ Hoàng Chương v.v&#8230; phải trả về văn học Miền Bắc cả?</p>
<p>Lại bảo rằng những người gốc Nam kia đã trở về sáng tác ngay tại Miền Nam cho nên rất có thể cho vào văn học Miền Nam? &#8211; Những cán bộ kia chợt ra chợt vào chưa hẳn đã viết ở trong Nam. Mà giả sử họ có ở lại hẳn trong Nam một thời gian<a name="4R"></a><a href="http://www.tienve.org/home/literature/viewLiterature.do?action=viewArtwork&amp;artworkId=3056#4#4">[4]</a> thì lại vẫn là chuyện kỳ cục. Hãy tưởng tượng trường hợp chúng ta đưa nhạc sĩ Phạm Duy ra thả dù ở một vùng biên giới Hoa Việt nào đó, đổi tên làm ông Trần Doai, thi sĩ Tú Kếu đổi làm Tú Cối, các nhà văn Trần Dạ Từ, Doãn Quốc Sỹ v.v&#8230; thành những ông Phạm Nhật Nghiêm, Hồ Hải Dương v.v&#8230;, rồi trốn nấp trong khoảng núi rừng Bắc Việt, cứ cất lên đều đều tiếng nói của nhân dân cách mạng, nhân dân giải phóng Miền Bắc, được chăng? Lại thử tưởng tượng ngày trước chúa Nguyễn bỗng có ý kiến đưa Đào Duy Từ ra Đàng Ngoài? Vâng, bình thường thì Đào Duy Từ cứ ở Đàng Trong; lấy vợ sinh con đều đặn, ăn lộc chúa Nguyễn, lãnh quan tước Đàng Trong, đến một lúc nào đó chúa Nguyễn thấy “nhân dân” Đàng Ngoài cần lên tiếng bèn hạ lệnh cho Đào Duy Từ mang tay nải lẻn lút trở ra Bắc, đào cái hầm thật sâu nấp thật kín, rồi ngồi dưới đó cất lên tiếng nói giải phóng của toàn thể nhân dân Đàng Ngoài. Người của Đàng Ngoài sáng tác ngay trên lãnh thổ Đàng Ngoài đấy mà. Được chăng?</p>
<p>Nghe chuyện như thế chúng ta ở Miền Nam bò lê bò càng ra mà cười, rồi xúm nhau đàn ngang cung, xúm nhau làm thơ chua thơ đen thơ xám v.v&#8230; Thế là hỏng.</p>
<p>Người cộng sản không cười. Họ trịnh trọng trình bày vấn đề. Xong, họ trịnh trọng đưa hai tay lên ngang ngực vỗ lép bép; tất cả cùng vỗ tay theo. Mọi người nhất trí, họ tiến hành kế hoạch. Chuyện kỳ cục đến đâu họ cũng làm được. Họ làm ra mặt trận giải phóng Miền Nam bằng người của họ, họ làm ra chính phủ giải phóng Miền Nam bằng người của họ, họ làm ra quân đội giải phóng Miền Nam bằng người của họ, tại sao họ không làm ra được một đội ngũ văn nghệ sĩ, một nền văn học giải phóng Miền Nam bằng người của họ mang vào, sau khi đã dạy dỗ kỹ càng và tiếp tục “lãnh đạo”, kiểm soát chặt chẽ. Vả lại trong một xã hội mà người quốc trưởng có thể lần lượt đội hết tên này đến tên kia, ký hết “bút hiệu” này đến “bút hiệu” nọ, viết sách tự ca tụng mình inh ỏi, tự tâng bốc mình lên tới mây xanh, cho in đi in lại phổ biến tưng bừng khắp nước, như thế mà vẫn đẹp mặt như thường,<a name="5R"></a><a href="http://www.tienve.org/home/literature/viewLiterature.do?action=viewArtwork&amp;artworkId=3056#5#5">[5]</a> thì văn nghệ sĩ thay đổi vùng để kể xấu đối phương có gì là kỳ cục đâu? Làm được tất.</p>
<p>Họ làm một cách trịnh trọng, không cười, và thế giới Tây phương trịnh trọng ghi nhận những gì họ nói họ làm. Do chính sách tiêu diệt tàn tích văn hóa Mỹ ngụy, một ngày kia dần dần không ai tìm thấy sách của Chu Tử, Doãn Quốc Sĩ, Nguyễn Mạnh Côn, Vũ Hoàng Chương để đọc nữa, không ai nghe nói đến Nhã Ca, Dương Nghiễm Mậu, Nguyễn Đình Toàn&#8230; nữa, những tên tuổi ấy mỗi lúc một phai mờ, trở nên mơ hồ, rồi tác phẩm của Phạm Văn Sĩ tái bản sẽ lặng lẽ bỏ đi phần phụ lục. Lúc bấy giờ khi cần biên khảo về văn học Việt Nam thời kỳ 1954-75, với tài liệu sách báo do nhà nước Việt Nam phổ biến rộng rãi, cung ứng đầy đủ, các học giả Tây phương tha hồ hăng hái nghiên cứu về cái văn học giải phóng như là nền văn học chân chính, nền văn học duy nhất của Miền Nam Việt Nam, với những tác phẩm sáng chói kể chuyện anh hùng Nguyễn Văn Trỗi, chuyện “tục ăn thịt người” ở Miền Nam<a name="6R"></a><a href="http://www.tienve.org/home/literature/viewLiterature.do?action=viewArtwork&amp;artworkId=3056#6#6">[6]</a> v.v&#8230; với những văn nghệ sĩ cách mạng Nguyễn Trung Thành, Trần Hiếu Minh, Huỳnh Minh Siêng v.v&#8230; thường thường nhất trí quan điểm với những nghệ sĩ cách mạng Miền Bắc Nguyên Ngọc, Nguyễn Văn Bỗng, Lưu Hữu Phước. Và đối với Tây phương sẽ chỉ còn có nền văn học ấy ở Miền Nam. Chúng ta thấy hài hước? Thật hài hước chết người.</p>
<p>Vì những chuyện như thế, rốt cuộc đành miễn cưỡng viết cuốn sách này trong những điều kiện rất không nên viết. Viết như là một sơ thảo, một bản nháp, một gợi ý, nhắc nhở, một cách nêu vấn đề, để sau này những người có đầy đủ tư cách và điều kiện sẽ viết lại một cuốn xứng đáng.</p>
<p>***</p>
<p>Tôi ngờ rằng không hẳn thế. Không hẳn có chuyện thế hệ sau hờ hững với lịch sử. Chỉ có chuyện mỗi thế hệ chú ý đến một thời kỳ lịch sử khác nhau. Hồi tiền chiến hầu hết các tác giả viết về lịch sử (hoặc tiểu thuyết hoặc truyện ký) đều xúm nhau khai thác giai đoạn Lê mạt Nguyễn sơ. Phải chăng vì đó là một thời tương đối gần gũi, còn gây nhiều xúc động trong lòng người? hay vì đó là một thời mà sử học cung cấp được nhiều tài liệu hơn cả? Thế nhưng sau Cách mạng Mùa Thu 45 họ Lê hay họ Mạc hay họ Nguyễn đều vụt trở nên quá xa xôi. Thế hệ này tha thiết đến một cái lịch sử gần hơn, sôi động hơn, mà chứng liệu lại khỏi phải tìm tòi trong sách vở: cái lịch sử dân tộc từ cuối thời Pháp thuộc về sau.</p>
<p>Có phải vì vậy mà vào thời kỳ văn học 1954-75 có bao nhiêu là tác giả muốn viết những bộ trường thiên tiểu thuyết về giai đoạn lịch sử này? Trường thiên tiểu thuyết hóa thành một cám dỗ. Đại khái bấy giờ có chừng sáu bộ nổi tiếng, có bộ đã hoàn tất, có bộ còn lở dở, trong đó bốn bộ liên quan đến đề tài vừa nói: Giòng sông Thanh Thủy (3 cuốn) của Nhất Linh đề cập tới những hoạt động tiền khởi nghĩa bên Tàu, Khu rừng lau (5 cuốn) của Doãn Quốc Sỹ, Vẻ buồn tỉnh lỵ (6 cuốn) của Duyên Anh, và bộ ba Hoa bươm bướm, Như cánh chim bay, Tiếng ca lặng lẽ (chưa in) của Võ Hồng là từ Cách mạng Mùa Thu về sau. Ngoài ra, Bình Nguyên Lộc cũng có một bộ trường thiên tiểu thuyết bắt đầu từ 1942, tức bộ Phù sa, chưa hoàn tất, nói về chuyện mở đất của miền quê ông, cũng là một thứ lịch sử. (Bộ thứ sáu, Xóm Cầu Mới của Nhất Linh là tâm lý tiểu thuyết, không liên quan đến các sự kiện lịch sử.) Khi người ta đã quá tha thiết, quá xem là quan trọng một thời kỳ nào đó, thì chắc chắn không còn mấy hứng thú mằn mò chuyện cũ các thời khác. Sau 1945 kẻ lên voi người xuống chó, kẻ chợt thấy ánh sáng chói lòa người nhìn ra địa ngục tối om om, kẻ hồ hởi người lợm giọng, tất cả đều để hết tâm hồn vào hiện tại. Thế hệ sau 1945 bị hiện tại thu hút đến mê mẩn tinh thần, họ say mê hiện tại, bám dính lấy hiện tại, không thiết dựng lại dĩ vãng: chuyện tẩn mẩn ấy bấy giờ không phải là lúc nghĩ đến . Có lẽ thế chăng? Tuy vậy, tôi không hề bảo rằng những pho truyện vừa kể trên đây cũng là một thứ lịch sử tiểu thuyết về thời hiện đại. Cùng viết về một đề tài, mỗi tác giả nhằm một chủ đích khác nhau.</p>
<p>Nhất Linh chẳng hạn. Trong Giòng sông Thanh Thủy ông theo dõi từng nhân vật, nhẩn nha với một mối tình, phân tích tâm lý, tìm hiểu động cơ tham gia và thái độ hoạt động của mỗi đảng viên cách mạng, động cơ nhiều lúc chẳng ăn nhằm gì với lòng yêu nước. Cái chính yếu ở đây là tâm lý. Nhất Linh hậu chiến trước hết là một tiểu thuyết gia thuộc khuynh hướng tâm lý, bất luận ông viết về đề tài gì.</p>
<p>Còn Doãn Quốc Sỹ, ông làm chúng ta nghĩ đến một nhân vật của ông: Khiết. Khiết “kiên trì theo con đường văn hóa”, nhưng “đã trót đi vào con đường chính trị, biết những ngõ ngách của nó, âu cũng thành nghiệp chướng của mình, khó bỏ lắm.”<a href="http://www.tienve.org/home/literature/viewLiterature.do?action=viewArtwork&amp;artworkId=3281#8#8">[8]</a> Khu rừng lau phơi bày cái hiểm ác của chế độ này, lột trần nền độc tài nọ. Thái độ chính trị của tác giả luôn luôn hiển lộ trong tác phẩm. Tuy vậy, ông Doãn cũng như Khiết, trước sau “kiên trì theo con đường văn hóa”: Ông chê cái này chống cái nọ vì nó xấu nó ác. Mà ông thì nhất tâm phục vụ cái thiện cái mỹ. Thiện tâm thiện ý của tác giả tỏa ra khắp tác phẩm: trong các truyện của ông, nhân vật nào cũng tốt, việc gì cũng có khía cạnh hay. Ông bất lực không tạo nổi người xấu, kể nổi việc xấu. Đọc sách ông, thơm tho cả tâm hồn. Truyện ông Doãn vừa có luận đề chính trị vừa có chủ tâm giáo dục.</p>
<p><strong>(Võ Phiến )</strong></p>
<h3><strong>Doãn Quốc Sỹ, kẻ sĩ thời đại chúng ta </strong></h3>
<h4><strong>Nguyễn Mạnh Trinh</strong><strong></strong></h4>
<p>Với nhiều người bản xứ , hình như dư âm của cuộc chiến tranh Việt Nam vẫn còn nên văn chương và văn hóa Việt nam được đặc biệt chú ý. Tôi có một người bạn cùng lớp Creating &amp; Writing học viết văn người Mỹ gốc Ý rất thích thú với văn chương Việt nam. Một bữa anh khoe với tôi tuyển tập “ Việt Nam: A traveler’s literary companion “ do John Balaban và Nguyễn Quý Đức chủ biên và rất đặc biệt chú ý tới nhà văn Doãn Quốc Sỹ với truyện ngắn “ The Stranded Fish” ( Con cá mắc cạn). Anh còn khoe đã được dự một cuộc seminar với hai giáo sư Doãn Quốc Sỹ và Lê Hữu Mục tháng 6 năm 1999 tại University St Thomas ở Houston với đề tài “ Living Two Cultures : A conference for Vietnamese – Americans”. Và anh hỏi tôi một câu : Bạn nghĩ thế nào về nhà văn Doãn Quốc SỸ . Nhà văn ? Nhà giáo ? một người hoạt động chính trị? Hay một người yêu nước bị chế độ đương thời đầy ải khi ở trong nước? Và một nhà văn luôn hướng về tương lai ở hải ngoại …<br />
Có một người đã làm thơ để dường như trả lời giùm cho cá nhân tôi. Những câu thơ gợi ý và lấy từ những nhan đề của tác phẩm mà nhà văn Doãn Quốc Sỹ đã viết trong suốt hơn một nửa thế kỷ cầm bút :<br />
” Dòng sông định mệnh”, thiên thu<br />
“ Sầu mây” còn đỉnh mịt mù dương gian<br />
nước non mấy nẻo quan san<br />
lốc quay thời thế gian nan một đời<br />
Đến .Đi . Đi .Đến. ngược xuôi<br />
Quê hương. Đất lạ . chỗ ngồi bụi không.<br />
“ Khu rừng lau” lửa mênh mông<br />
“ U hoài “ đâu tiếng bên sông gọi buồn.<br />
Đường ranh lịch sử mỏi mòn<br />
“ Ba sinh “ còn tấc “ lửa hương” chập chờn<br />
ngã tư bước rẽ không hồn<br />
lưu lạc nào để mất còn hoang mang<br />
“ Đàm htoại, độc thoại “ từng trang<br />
“ Tình yêu thánh hóa” trường gian mấy nguồn<br />
biển khơi nào rã rêu rong<br />
ai trăng lụn tưởng nến chong dặm ngoài<br />
“ Giữ ngọc “ thôi cũng “ gìn vàng”<br />
sót thiên lương với ngỡ ngàng tâm tư<br />
“ Vào thiền “ giây phút hoại hư<br />
kiết già ngục tối mắt htù chăm chăm<br />
trong tâm linh thoảng hương trầm<br />
trong lênh đênh có lời thầm đinh ninh<br />
Thì thôi,” Mình lại soi mình”<br />
“ Dấu chân cát xóa bóng hình nổi trôi<br />
“ người vái tứ phương”, một đời<br />
hoa thơm ngát để một trời mông mơ<br />
kinh vạn quyển thiếu một tờ<br />
chữ vô tự nẻo mịt mờ muôn năm<br />
Tâm ai vằng vặc trăng rằm<br />
Lời ca dao vẫn tiếng ngâm triệu đời”<br />
Bài thơ đầy những Dòng sông định mệnh, Sầu mây, U hoài , Vào thiền , Khu rừng lau , Ba sinh hương lửa , Tình yêu thánh hóa , Đàm thoại độc thoại, Gìn vàng giữ ngọc , Mình lại soi mình , Dấu chân cát xóa, Người vái tứ phương , Đi,… và cũng nêu được tính chất riêng của một kẻ sĩ phương đông. Luôn luôn chân thành và tin tưởng vào cuộc đời ở những khía cạnh nhân bản tốt . …<br />
Nhà văn Doãn Quốc Sỹ sinh ra và trưởng thành trong một giai đoạn lịch sử đặc biệt. Như một câu ví von của ông :“ Ba sinh hương lửa “ thành nhan đề của một tập trong trường thiên Khu Rừng Lau. Các nhân vật đã sống trong thời đại Pháp thuộc , Nhật thuộc, rồi việt minh , rồi đảng phái Quốc gia , rồi ở lại kháng chiến , rồi trở về thành phố mà thời ấy gọi là về Tề, bao nhiêu là biến chuyển , bao nhiêu là cảnh bể dâu. Rồi hiệp định Genève chia đôi đất nước , rồi chiến tranh tiếp diễn. .. Hình như , sống trong thời đại ấy , định mệnh đã đẩy con người đi vào những lối ngõ khác nhau và cho đến bây giờ , hàng triệu người lưu lạc xứ người và cuộc chiến vừa qua tới bây giờ vẫn còn hậu quả. Cuộc đời đầy những chuyến ra đi , rời quê Bắc vào Nam , rồi lại phải ra đi lần nữa. Lịch sử toàn là những chia ly tan tác .<br />
Thế mà , ông viết văn trong cái tâm thái ung dung , dù đang trong cảnh tù giam bức bối. Vẫn thái độ tin vào mình , tin vào người , tin ở những điều tốt đẹp của cuộc sống. Độc giả khó tìm thấy những lời hằn học , những tâm trạng phẫn nộ . Viết văn, với ông là một phương cách của “ văn dĩ tải đạo “ Viết , như một cách để làm đời sống đẹp tươi thêm …<br />
Những lúc thấy những cảnh tráo trở tàn nhẫn của người đời với nhau, tôi lại giở những “ Gìn vàng Giữ Ngọc “ hay “ Chiếc chiếu hoa cạp điều “ ra đọc. Những lúc buồn nhớ về quê hương, tưởng tượng ra những Hà Nội, những Saigon, tôi đọc “ Dòng sông định mệnh” để thấy mình tìm lại cái rung động thuở nào khi đọc những câu thơ tả lại cảnh đạp xe theo một tà áo trắng những câu dễ thương“.. Em nghèo ta có giầu đâu. Tịch liêu đổ xuống đôi đầu ngẩn ngơ. Hoe đôi mắt em vơ tà áo. Áo trắng bong ảo não hồn trinh. Lòng ta gợn gió ngây tình .Theo em nào biết chúng mình về đâu..” Và khi nào thấy đời sống có một chút gì sương khói, tôi đọc “ Sầu mây”, “ Vào thiền “…<br />
Có người nói rằng văn chương mà mang thời thế làm đề tài thường tuổi thọ không dài bằng những đề tài xoáy sâu vào chân dung con người muôn thuở. Viết về thời thế khó có tác phẩm lớn. Nhưng tôi lại có ý nghĩ khác. Không có đề tài nào giới hạn cho những tác phẩm lớn. Nếu có tài năng, nhà văn sẽ viết những tác phẩm bất tử bất kỳ đề tài nào. Huống chi, một thời đại đặc biệt của dân tộc Việt nam nếu mô tả những cơn lốc thời cuộc sẽ có biết bao nhiêu chân dung con người điển hình cho những nhân vật tiểu thuyết tuyệt diệu….<br />
Hình như, trong tiểu thuyết của Doãn Quốc Sỹ, thời thế đã đóng vai trò quan yếu và văn chương là những dấu hằn chẳng thể nào phai trong ký ức của dân tộc chúng ta.<br />
Với “Khu rừng Lau”, những ngày kháng chiến chống Pháp được ghi chép lại với tất cả những nỗi niềm của người yêu nước nhưng bị lừa gạt bởi những ý thức hệ ngoại lai. Một tiểu thuyết trường thiên vẽ lại cả một thời kỳ hoành tráng của lịch sử mà trong đó con người bị cuốn vào những cơn lốc dữ dội.<br />
Với những truyện ngắn như “Chiếc chiếu hoa cạp điều” , hay “ Gìn Vàng Giữ Ngọc”, chân dung những con người tốt đẹp vằng vặc như trăng đã khiến nhà văn Võ Phiến viết lên một nhận xét :” đọc sách ông, thơm tho cả tâm hồn…”.Trong bất cứ hoàn cảnh nào , dù khốn cùng đến đâu, cái chất nhân bản vẫn rõ nét.<br />
Quả thật, văn chương của ông bình dị không lên mặt dậy đời mà lại có sức thuyết phục . Thường thường , văn chương cũng như âm nhạc phải theo luật cân phương, có nghĩa là phải thể hiện được đời sống ở nhiều mặt tốt xấu và tất cả phải quân bình cân đối. Nhà văn thời danh Milan Kundura đã ví von công việc viết tiểu thuyết như soạn hòa âm,nhạc đề cũng cần phải có những dạo khúc hoặc những chuyển khúc và cân bằng nó là cả một vấn đề kỹ thuật tinh tế.<br />
Thế mà, ở Doãn Quốc Sỹ, hầu như những nhân vật dều ăm ắp chất thiện ở trong . Ngay những nhân vật ở tuyến ác, cũng có nét khiến độc giả có thể bao dung được và không thể ghét bỏ hoàn toàn. Văn của ông, chuyên chở một phần nào cuộc sống và ở đó , đời sống của người Việt Nam đã được phóng chiếu qua những cảnh ngộ đặc thù của một thời đại đặc biệt.<br />
Nhà văn Doãn Quốc Sỹ là một khuôn mặt văn chương hàng đầu của hai mươi năm văn học miền Nam. Ông sinh năm 1923 tại ngoại ô Hà Nội lớn lên trong thời kỳ kháng chiến, dạy học ở HàNội và Nam Định, rồ di cư vào Nam năm 1954. Nghề chính của ông là dậy học và đã sang Hoa Kỳ tu nghiệp giáo chức trong hai năm. Trên bình diện văn chương, ông là một cây bút chủ lực trong nhóm chủ trương tạp chí Sáng Tạo và cũng là giám đốc nhà xuất bản cùng tên đã giới thiệu được nhiều tác phẩm có giá trị và nhiều cây bút tài hoa có khả năng.<br />
Tác phẩm của ông gồm bộ trường thiên “Khu Rừng Lau” có bốn cuốn :Ba sinh hương lửa, Người đàn bà bên kia vĩ tuyến, Tình yêu thánh hóa, Đàm thoại ,Độc thoại ; truyện dài Dòng sông định mệnh, Sầu mây, Đốt biên giới; truyện ngắn Gìn vàng giữ ngọc, Cánh tay nối dài, U hoài, Gánh xiếc; tùy bút Vào thiền; khảo luận Người Việt đáng yêu;…<br />
Sau năm 1975 , ông bị chính quyền Cộng Sản bắt giam hai lần và sau những cuộc can thiệp của công luận thế giới ông được trả tự do và định cư ở Hoa kỳ với người con trai lớn ở Houston, Texas.<br />
Trường thiên “ Khu Rừng Lau” vẽ lại cả một thời kỳ nhiễu nhương của lịch sử Việt Nam. Đời sống của một lớp thanh niên tiểu tư sản được dựng lại trong cái phong cảnh hoành tráng của một đất nước không may trở thành nơi chốn đọ sức của những ý thức hệ quốc tế. Những nhân vật như Miên, Kha , Tân, Hiển , Hãng , Lăng, Khiết… từ lúc trưởng thành, tham gia kháng chiến chống Pháp ,rồi trải qua những ngày cải cách ruộng đất, trở về thành rồi di cư vào Nam , tất cả những quặn mình của cả một thế hệ được nhà văn tạo thành tiêu biểu.</p>
<p>Tuổi tác họ chênh lệch nhau nhưng cùng có chung một mẫu số yêu đất nước như yêu tự do và cùng mong ước cho một ngày đất nước hùng cường .Hình như , họ có chung nỗi hoang mang của những người trí thức luôn đi kiếm tìm cho mình một con đường nhưng lại thấy bơ vơ khi chọn lựa. Ở với kháng chiến , thấy lòng yêu nước bị lợi dụng bởi những con người Bolcheviks tàn bạo vô nhân, về thành thì thấy giặc Pháp nghênh ngang, chính phủ quốc gia chỉ là cái bóng. Di cư vào Nam, thì chế độ độc tài và gây ra nhiều kỳ thị bất công.<br />
Dòng đời trôi, qua bao năm tháng, chiến tranh lại tiếp chiến tranh, hết độc tài Cộng sản đến độc tài gia đình trị, thế nước nghiêng ngửa như những cuộc đời ngả nghiêng theo. Bộ trường thiên này có lẽ là một phác họa lịch sử hoành tráng và tiêu biểu nhất của văn học Việt Nam…<br />
Nhưng đọc truyện ngắn của ông như “Chiếc Chiếu Hoa Cạp Điều “ hay “ Gìn Vàng Giữ Ngọc” mới thấy được cái Tâm vằng vặc của ông. Hoàn cảnh dù thế nào , con người dù ở trong cảnh ngộ nào, cái tình đối xử với nhau mới là quan trọng. Cái nghèo, cái khổ, cái đói không làm hạ giá trị được con người bằng sự tha hóa tâm hồn. Tình đời thường thay đổi cách ứng xử tùy theo giàu nghèo nhưng cũng có những trường hợp cá biệt như nhân vật xưng tôi trong “Gìn vàng giữ ngọc” hay “ Chiếc chiếu hoa cạp điều “ trời làm loạn lạc ,gây nhiều thảm cảnh nhưng con người với cái tâm hiền vẫn vòi vọi đứng không quỵ ngã. Văn phong đôn hậu, chữ nghĩa thật thà đã có tác dụng ảnh hưởng đến người đọc. Bao nhiêu năm trôi qua, tôi mỗi khi đọc lại những chuyện ngắn này thấy đời sống dù sao cũng còn nhiều người tốt và không phải chỉ toàn là lang sói và lừa lọc như những bi hài kịch thường diễn ra mỗi ngày của thực tế đời thường…<br />
Những năm 1984.1985, nhà xuất bản Lá Bối ở hải ngoại có in một tác phẩm “Đi” với tác gỉa Hồ Khanh . Cuốn sách đã tạo ra dư luận xôn xao một thời lúc đó . Được in ở hải ngoại và chính ông là tác giả mang tên Hồ Khanh để ngụy trang . Câu chuyện kể lại một chuyến vượt biên ở vào thời điểm mà cây cột đèn đường ở Sài Gòn cũng muốn xuống ghe tìm tự do như lời người dân ví von. Có những đại gia đình mấy chục người vùi thân nơi Biển Đông sóng dữ và cũng không biết bao nhiêu người bị bắt giam tù tội cũng như biết bao nhiêu gia đình bị tan nát sống lang thang vỉa hè vì vượt biên không thoát. Nhà văn Doãn Quốc Sỹ đã mang chính cuộc đời những con cháu mình để tạo thành một tác phẩm vẽ lại một thời kỳ cực kỳ đen tối của đất nước. Người dân bị đẩy vào những cảnh ngộ không lối thoát và đã mang chính sinh mạng của mình và gia đình mình đánh bạc với rủi may. Chính vì chất bi thảm nên động tới lương tâm nhân loại và rốt cuộc mới có những đợt thuyền nhân và bộ nhân tới định cư ở các nước tự do.<br />
Riêng với tôi, tôi biết những chi tiết trong “Đi “ thực tới một trăm phần trăm và hình như rất ít hư cấu. Tôi vượt biên cùng chuyến tàu với gia đình con cháu của nhà văn Doãn Quốc Sỹ nên khi đọc lại những trang sách thấy mồn một rõ những nhân vật với cả những cá tính và cả hoàn cảnh nữa. Khi thường đi lại với người bạn cùng Không Quân là con rể của bác Doãn Quốc Sỹ ở căn nhà ở con hẻm đường Thành Thái tôi đã thấy được đời sống tuy thanh bạch mà rất nghệ sĩ. Sau khi bác Sỹ mới được thả về lần thứ nhất và công an để ý, nhưng ở nha các con vẫn tụ họp ca hát những ca khúc ngày xưa mỗi khi có bạn bè mặc kệ công an mặc kệ dò xét. Tôi nhớ có lần buổi tối ghé thăm thì thấy trước cửa con nít trong xóm bu đông lại xúm xít để nghe ca nhạc. Dù đời sống lúc đó khá thiếu thốn nhưng vẫn đầy tinh thần lạc quan. Trong hoàn cảnh căng thẳng như lúc ấy , không phải là dễ để có những phong cách như vậy.<br />
“ Đi “ đã mô tả rất thực hoàn cảnh gia đình nhà văn cũng như cuộc sửa soạn chuyến vượt biển và những ngày trên biển Đông nên có sự lôi cuốn từ người thực việc thực. Những lá thư của con cháu gửi về tả lại đời sống ở trại đảo cũng như ở xứ người biểu lộ tâm tư khá tiêu biểu của những người bị dồn vào thế phải bắt buộc xa quê hương. Ra đi mà vẫn ngoái nhìn về đất nước với những người thân còn ở lại. Riêng tôi , tôi có cảm nhận rằng tác phẩm được viết ra với một tấm lòng thương con thươbg cháu vô bờ. Người thường nếu có tâm tưởng như thế cũng có thể viết xuất sắc huống chi một nhà văn nổi tiếng là đôn hậu thì sự lôi cuốn độc giả sẽ lên đến mức nào!<br />
Nhà văn Nguyên Vũ chủ trương nhà xuất bản Văn Hóa hình như đang tiến hành việc in laị toàn bộ Doãn Quốc Sỹ Toàn Tập. Công việc này quả thực rất hay và cần thiết nữa. Một nhà văn tư cách đức độ có những tác phẩm tiêu biểu nói lên tâm tư của một thế hệ có phải xứng đáng để chúng ta trân trọng thành những di sản cho những thế hệ sau này…</p>
<p><strong>(Nguyễn Mạnh Trinh)</strong></p>
<h3>Doãn Quốc Sỹ một tâm hồn thanh thản, đôn hậu, cao thượng.</h3>
<p>&nbsp;</p>
<h4><strong>Nguyễn Văn Quảng Ngãi </strong></h4>
<p><strong><br />
</strong>Một thoáng hương xưa: Ôi, dòng sông, cánh đồng năm ngàn năm của chúng ta, mênh mông thanh thản dưới mắt nhân loại kẻ nào mà làm hoen ố nổi<br />
Thuở xưa, ngót bốn mươi năm rồi, trong Tiền Kiếp của Gìn Vàng Giữ Ngọc, Doãn Quốc Sỹ đã mạnh dạn, tự hào viết như vậy.<br />
Gìn Vàng Giữ Ngọc. Sao mà cái tên cuả tác phẩm đẹp đến vô cùng! Không ít người đã quên khuấy đi mất cái nguồn gốc từ truyện Kiều: Gìn vàng giữ ngọc cho haỵ Cho đành lòng kẻ chân mây cuối trời mà Kim Trọng đã ân cần dặn dò Thúy Kiều trước khi giã biệt về nhà hộ tang chú. Nhất định cụ Nguyễn Du chẳng những đã không trách họ Doãn mà còn vui mừng khi thấy hậu thế đã biết khéo léo dùng lại ngôn ngữ của mình để khuyên nhủ thế nhân.<br />
Còn nữa, Doãn Quốc Sỹ còn nhiều tác phẩm mà tên gọi vừa đẹp, vừa ý nghĩa như: Dòng Sông Định Mệnh, Ba Sinh Hương Lửa, Trái Cây Đau Khổ&#8230;<br />
Cùng với Lỡ Bước Sang Ngang của Nguyễn Bính, Ngàn Năm Một Thuở của Hồ Hữu Tường, Vang Bóng Một Thời của Nguyễn Tuân&#8230; đó là những tác phẩm có tên gọi hay nhất, đã trở thành những điển tích mà nhiều người hay mượn tiêu đề để trích dẫn nhiều hơn là nội dung của tác phẩm&#8230;<br />
Nhưng khi nói đến Doãn Quốc Sỹ là nhiều người nói đến Dòng Sông Định Mệnh, tác phẩm đã gây xúc động trong lòng rất nhiều người từ năm 1959.<br />
Tôi đã yêu Dòng Sông Định Mệnh từ đó, thuở mà tâm hồn còn xanh tươi, bầu nhiệt huyết còn đầy ắp. Mãi đến ngày nay, đôi khi nhắm mắt ôn lại một thoáng hương xưa thân yêu đó, tôi vẫn còn tìm lại được nguyên vẹn cái cảm giác đầy rung động, thích thú khi đọc Dòng Sông Định Mệnh: Ôi nắng vàng sao mà nhớ nhung Có ai đàn lẻ để tơ chùng Có ai tiễn biệt nơi xa ấy Xui bước chân đây cũng ngại ngùng.<br />
Dòng sông gợi cho chúng ta nhiều cảm giác, lắm suy tư: khi nỉ non tâm sự, lúc ôm ấp hiền hoà, khi giông tố ba đào, lúc trầm tư mặc tưởng. Dòng sông còn gợi cho chúng ta biết bao là kỷ niệm mà bụi thời gian đã phủ mờ theo năm tháng:<br />
Con nước ấy đã bao lần sóng vỗ Chút tàn phai đọng lại dưới chân cầu (Hà Nguyên Thạch)<br />
Ta ngồi lại bên cầu thương dĩ vãng Nghe giữa hồn cây cỏ mọc hoang vu (Hoài Khanh)<br />
Nhưng có ai chận đứng được thời gian nên phương Đông đã tra vấn nước sông: Chảy mãi như thế này ư chẳng kể ngày đêm?<br />
Và có ai tìm lại được những ngày xưa thân ái nên phương Tây đã than thở: Người ta không thể tắm hai lần trên một dòng sông.<br />
&#8230;Với Doãn Quốc Sỹ thì khác!<br />
Dù thời gian có hững hờ trôi như nước chảy qua cầu, dù cuộc đời có gây nhiều đau thương, tang tóc cho nhân thế, dù cuộc thế có đầy rẫy lọc lừa phản trắc, dù cầu Hiền Lương qua sông Bến Hải thuở đó như là một vết thương còn rướm máu mà Định Mệnh vừa mới tàn nhẫn chia cắt đất nước thân yêu&#8230; Doãn Quốc Sỹ vẫn một lòng tự hào tin tưởng: &#8220;Cánh đồng và dòng sông năm ngàn năm của chúng ta kẻ nào mà làm hoen ố nỗỉ&#8221;.<br />
XUÔI DÒNG THỜI GIAN: Là độc giả thường xuyên của Bách Khoa, tờ báo có tuổi thọ cao nhất và thành công nhất ở miền Nam trước 1975, ngoài những bài vở giá trị về nhiều phương diện, có một dạo tôi rất thích thú với những bài phỏng vấn tài tình Sống Và Viết Với&#8230; của Nguyễn Ngu Í. Bài viết về Doãn Quốc Sỹ là bài xuất sắc nhất &#8211; theo tôi &#8211; trong loạt những bài phỏng vấn này và sau được Nguyễn Ngu Í cho in thành sách với tên gọi như trên (Ngày Xanh xuất bản 1966). Ngoài những chi tiết liên quan đến Sống Và Viết&#8230; của Doãn Quốc Sỹ, điều mà cho mãi tới ngày nay vẫn còn ghi đậm trong tôi là bức hình chớp toàn gia đình của ông. Bà Doãn Quốc Sỹ với nét dịu hiền thanh tú của một mệnh phụ Việt Nam (bà là con nhà thơ Tú Mỡ Hồ Trọng Hiếu) cùng ông và rất đông con (đông thật!) mà cô nào cậu nấy đều tươi cười, xinh xắn. Đặc biệt là những đôi mắt: tất cả đều tròn xoe, trong sáng!&#8230;</p>
<p>Đọc sách của ông, cảm được tấm lòng đôn hậu và nhân ái của ông, hiểu được tình yêu dân tộc Việt Nam tha thiết của ông, thấy được niềm tin bao la và sâu sắc của ông về chân-thiê.n-mỹ cho nhân thế, biết được cuộc sống của ông: dạy học (Trung và Đại Học), viết văn, chủ trương nhà xuất bản Sáng Tạo, xem hình cả gia đình ông&#8230; đã cho tôi đi đến kết luận: Đó là mẫu người lý tưởng cho một xã hội Việt Nam lý tưởng!</p>
<p>Trên đây là tất cả những điều tôi biết về Doãn Quốc Sỹ trước năm 1975.<br />
Trong 9 năm tù ngục có thời gian dài tôi ở nhà giam Kim Sơn và Nước Nhóc (K18) thuộc tỉnh Nghĩa Bình (Quảng Ngãi và Bình Định sát nhập) và cùng làm chung một bộ phận lao động với một nhà nho ẩn danh. Anh làm thơ rất hay, có kiến thức về Hán văn rất rộng và đặc biệt là biết rất nhiều về những nhà văn, nhà thơ ở miền Nam. Theo anh thì nhân loại đã và đang bị lún sâu vào cuộc chiến tranh lạnh tranh chấp giữa hai khối (dạo đó).<br />
Nếu những tác phẩm của ông Doãn được dịch ra Anh hoặc Pháp văn để loài người đọc và suy gẫm về cái tâm của ông cho tình yêu (gia đình, bằng hữu, quê hương, nhân loại), về tấm lòng cương quyết và tin tưởng hướng đến chân-thiê.n-mỹ của ông&#8230; thì những điều đó sẽ có ảnh hưởng sâu đậm và Doãn Quốc Sỹ xứng đáng nhận giải thưởng No bel về văn chương. Chúng tôi cũng bàn đến những tác phẩm và văn tài của Võ Phiến, nhà văn Bình Định chòm xóm gần gũi từ thuở Mùa Lúa Mới mà chúng tôi rất quý kính để có cùng chung một kết luận: Doãn Quốc Sỹ và Võ Phiến là hai nhà văn tiêu biểu ở miền Nam về văn tài, về lập trường Quốc Gia &#8211; Dân Tộc và về tư cách và đạo đức.</p>
<p>Sau vài chuyến vượt biển thất bại, bị bắt, vượt ngục, cuối cùng tôi đến được trại tị nạn Galang ở Nam Dương năm 1985. Một hôm tôi đang ngồi tại văn phòng Trung Tâm Thiếu Nhi Không Có Thân Nhân (Unaccom-panied Minors Center) thì anh bạn Chủ Tịch Ban Đại Diện Cộng Đồng đưa một thanh niên đến thăm và giới thiệu:<br />
&#8211; Đây là trưởng nam của nhà văn Doãn Quốc Sỹ đang dạy level C (trình độ cao nhất của ESL).<br />
&#8211; Có phải em đang cho đăng truyện của bố trên tờ Tự Do không? (Tự Do là tờ báo Việt Ngữ của trại).<br />
&#8211; Sao anh biết?<br />
&#8211; Trước <a href="http://dactrung.net/baiviet/noidung.aspx?BaiID=AbTC0UIrCexXc8LuWncy7w%3d%3d##">kia</a> ai đã đọc nhiều sách của bố thì, dù bố có ký dưới bút hiệu nào đi nữa, khi đọc truyện người ta sẽ nhận ngay ra văn phong của bố&#8230; Tôi cố nhớ lại tấm hình chớp toàn gia đình của Doãn Quốc Sỹ trên Bách Khoa thuở trước để đối chiếu với anh bạn thanh niên trắng trẻo, đẹp trai, ăn nói nhỏ nhẹ, lễ phép nàỵ<br />
Vài tháng sau đó, một buổi sáng, anh ăn mặc chỉnh tề, vai đeo chiếc xách nhỏ vội vàng ghé lại thăm tôi trước khi lên đường sang Úc định cự Việc này đã thực sự làm tôi cảm động vì ai đã từng ở trại tị nạn đều biết là ngày cuối cùng vô cùng bận rộn và vội vàng: nào phải lo hoàn tất những thủ tục cần thiết bắt buộc của Cao Ủy tị nạn, của cơ quan IOM, nào phải lo soát xét lại hành trang cá nhân, nào kẻ còn ở lại nhờ nhắn tin, gởi thư, nào bằng hữu đưa tiễn&#8230; nên nhín một chút thì giờ tạt lại thăm nhau quả thật là đặc biệt quý giá!<br />
Mãi đến năm 1996 tôi mới có duyên gặp tác giả Dòng Sông Định Mệnh khi cả hai chúng tôi được Cộng Đồng Việt Nam tại Wichita &#8211; Kansas mời nói chuyện trong dịp lễ kỷ niệm 30 tháng 4. Anh bạn Lê Hồng Long, Chủ nhiệm kiêm Chủ bút tạp chí Thế Giới Ngày Nay đã dành cho chúng tôi sự tiếp đãi ân cần, chu đáo khó kiếm. Chúng tôi mỗi người ở một phòng riêng với đầy đủ tiện nghi tại nhà anh. (Hoàn toàn trong tình văn nghệ chứ anh không có trách nhiệm gì trong cộng đồng hay trong ban tổ chức ngày lễ). Sau những phút xã giao ngắn ngủi chúng tôi dễ dàng trở nên tương đắc khi tâm sư..</p>
<p>Vâng, tôi đang đối diện với tác giả Dòng Sông Định Mê.nh. Dù đã qua tuổi cổ lai hy, với nhiều năm dài trong tù ngục nhưng anh vẫn còn mạnh khoẻ từ thể xác đến tinh thần. Dáng cao, gầy, nước da ngăm đen, khuôn mặt chữ điền. Đôi mắt sáng, vừa hiền hòa vừa cương quyết. Nụ cười cởi mở, bao dung. Nói chuyện với anh tôi có cảm tưởng như mình đang hầu chuyện với một bậc thiền sư vì anh lắng nghe từng chi tiết nhỏ, anh tâm tình chậm rãi, khoan dung trong tinh thần hồn nhiên, phá chấp&#8230;<br />
Đề tài anh nói chuyện với Cộng Đồng là: Đời Sống Văn Nghệ Sĩ Trong Lao Tù Cộng Sản. Anh nói nhỏ nhẹ như đang chia xẻ với bằng hữu thâm giaọ Anh kể một vài mẫu chuyện thoạt nghe tưởng như chẳng có gì đáng nói nhưng gẫm lại thì rất chí lý. Bởi vì anh nói bằng cả con tim của anh. Do đó phải nghe anh bằng cả tâm hồn mình mới tâm đắc được hết tâm sự anh muốn giải bàỵ Nhà văn Võ Đình đã rất chí lý khi viết về Doãn Quốc Sỹ trong ngục tù: &#8230;Ngày nay, dẫu có đắng cay khổ nhục mấy đi nữa, ông vẫn còn nhìn với đôi mắt thương hại những công tố viên đang xỉa xói ông, những cán bộ chấp pháp đang truy vấn ông, những cai tù đang kềm giữ ông. Và như vậy ông mới có &#8220;Tự Do&#8221;, cái tự do ông trả với tất cả đau đớn ê chề cả thể xác lẫn tinh thần. Trái tim ông vẫn không suy suyễn. Bạo lực có thể uy hiếp ông. Nhưng bạo lực không cách gì đập nát trái tim ông và đặt vào đó lò lửa căm thù. Ông chỉ căm thù bạo lực, ông không thể căm thù con người, dù đó là con người dùng bạo lực để hành hạ ông&#8230;<br />
Vâng, chìa khóa của kiếp nhân sinh là cái &#8220;Tâm&#8221;. Các vấn nạn trên thế giới nói chung và của Việt Nam nói riêng chỉ có thể giải quyết bằng cái &#8220;Tâm&#8221;&#8230;<br />
Ba ngày tại Wichita &#8211; với lòng hiếu khách đặc biệt của anh Lê Hồng Long và gia đình &#8211; chúng tôi đã tạo được sự cảm thông quý giá và tôi thật sự vinh hạnh được anh xem như bạn hiền. Từ đó, mỗi lần biên thư cho tôi anh thường nhắc đến nhà báo họ Lê và mong có ngày gặp lại nhau ở thành phố Wichita nhỏ bé xa xôi nhưng thắm tình đồng hương của tiểu bang Kansas.</p>
<p>Tháng 4 năm 1999 anh Doãn Quốc Sỹ và tôi lại có dịp gặp nhau tại thành phố Dallas, Texas khi chúng tôi cùng được mời sung vào ban Giám Khảo cuộc thi truyện ngắn năm 1998 do hai tờ tuần báo Viet nam Weekly News và Người Việt Dallas tổ chức. Một chi tiết nhỏ chứng tỏ tấm lòng luôn luôn vì văn hóa dân tộc của anh. Thoạt đầu quý anh Trần Lộc, Chủ nhiệm kiêm Chủ bút tuần báo Vietnam Weekly News và anh Thái Hóa Lộc, Chủ nhiệm kiêm Chủ bút tuần báo Người Việt Dallas mời hai người điạ phương là anh Đàm Trung Pháp, Giáo sư ngôn ngữ học tại Đại học ở Dallas và tôi sung vào ban Giám khảọ Tự biết mình chỉ viết lách một cách tài tử, nhưng, để khích lệ việc làm ý nghĩa này và tạo dễ dàng cho ban tổ chức, chúng tôi đã vui vẻ nhận lờị Khi thấy số người gởi bài tham dự cuộc thi khá đông (gần 100 người từ nhiều tiểu bang tại Hoa Kỳ và từ một vài nước khác), để tăng giá trị cho cuộc thi và vinh dự cho những người trúng giải, vào giờ chót, hai anh đã nhờ tôi mời anh Doãn Quốc Sỹ vào ban Giám khảo.</p>
<p>Dù biết mời khá muộn là chuyện không phải nhưng tôi vẫn viết thư trình bày chi tiết gởi đến anh kèm theo bản sao của 31 truyện dự thi đã được ban tổ chức chọn vào chung khảọ Anh đã chấm từng truyện cẩn thận, cho điểm, ghi chú và gởi trả lại ban tổ chức trước cả anh Đàm Trung Pháp và tôị Và anh đã về Dallas tham dự lễ phát giải thưởng. Anh Đàm Trung Pháp, dù rất bận rộn với Lễ Giỗ Tổ Hùng Vương của Cộng Đồng, vẫn đưa chị Pháp đến thăm thầy (Giáo sư Pháp vốn là học sinh cũ của anh Doãn Quốc Sỹ). Hành động ấy, mấy lời thăm hỏi nhẹ nhàng, ngắn ngủi ấy đã nói lên cái &#8220;tình thầy trò&#8221; đậm đà cao quý cuả nền văn hóa Việt Nam đầy nhân nghĩa, thủy chung khó tìm được ở xứ này! Dạo đó tôi vừa nhận cuốn hồi ký Việt Nam, Một Thế Kỷ Qua do tác giả, Bác sĩ Nguyễn Tường Bách, gởi tă.ng. Trong sách có đoạn nói đến nhà thơ Tú Mỡ Hồ Trọng Hiếu&#8230; chất phát, hiền hậu, khiêm tốn, ít nói về mình và đặc biệt là luôn luôn đi xe đạp một cách chậm chạp, từ tốn như đi dạo mát&#8230;<br />
Anh Doãn Quốc Sỹ rất cảm động khi đọc đoạn này cùng một số nhận xét đặc biệt nữa về nhạc phụ mình và chép ngay tại chỗ tặng tôi bài thơ cuả cụ Hồ Trọng Hiếu &#8220;Tú Mỡ đi xe bình bịch&#8221;:<br />
Tú rững mỡ cưỡi xe bình bịch Máy nỗ vang sình sịch chạy như bay Bóp còi toe như quát tháo giương vây Khách đường cái vội rãn ngay tăm tắp Tú nhớ thuở còn đi xe đạp Một thứ xe chậm chạp hiền lành Trên đường dù chuông bấm liên thanh Khách đủng đỉnh làm thinh không chịu tránh &#8230;Ồ ngán nhỉ ở trên cõi tục.<br />
Con người ta bất độc bất anh hùng &#8211; Phần phát biểu trong buổi lễ phát giải anh nói về đề tài như một nhắn gởi tha thiết, nhẹ nhàng đến tất cả mọi người hãy cố gắng duy trì tiếng Việt ở miền đất mớị Anh đọc lại bài thơ Ông Đồ Già nổi tiếng của Vũ Đình Liên (thầy cũ của anh ở Hà Nội thuở xa xưa) và một nỗi buồn thấm thía gợn lên trong lòng mọi người về một viễn ảnh suy thoái, tàn lụi của tiếng Việt trong cộng đồng Việt Nam ở hải ngoại:</p>
<p>&#8230; Nhưng mỗi năm mỗi vắng Người thuê viết nay đâủ Giấy đỏ buồn không thắm Mực đọng trong nhiên sầu<br />
Ông Đồ vẫn ngồi đấy Qua đường không ai hay Lá vàng rơ i trên giấy Ngoài trời mưa bụi bay<br />
Anh cũng đọc thơ của hai người bạn thân trong nhóm &#8220;Sáng Tạo&#8221;. Một đã ra đi là nhà văn Mai Thảo: Thế giới có triệu điều không hiểu Càng hiểu không ra lúc cuối đời Chẳng sao khi đã nằm trong đất Đọc ở sao Trời sẽ hiểu thôi</p>
<p>Bốn câu thơ này Mai Thảo làm như là một linh tính báo trước ngày ra đi của mình và đã được khắc trên bia mộ của Mai Thảo ở Nam Calị Một còn sống là nhà văn Nguyễn Sỹ Tế: Đỉnh Trời gió quét mây tan tát Trăng lưởi liềm ngơ ngác lạnh căm Trăng sao giọt lệ u trầm Trăng sao quá đổi âm thầm hỡi trăng?<br />
Bốn câu thơ này anh dịch từ một bài thơ trong tập thơ bằng tiếng Pháp của Nguyễn Sỹ Tế kể lại thời gian hai người cùng ở trại giam Gia Trung. (Hai anh Chủ Nhiệm kiêm Chủ Bút Trần Lộc và Thái Hóa Lộc cùng nhà thơ Nguyễn Xuân Thiệp rất đáng được tuyên dương vì đã tổ chức rất chu đáo và thành công cuộc thi truyện ngắn 1998!)<br />
PHỤ TRANG: Hòa trong nỗi đau khổ chung của cả dân tộc sau biến cố kinh hoàng 30-4-1975, anh Doãn Quốc Sỹ đã phải vào tù hai lần trước sau hơn 12 năm. Khổ đau từ thể xác đến tinh thần của các tù nhân do bạo quyền gây nên chữ nghĩa trần gian đâu đủ viết cho hết, tả cho tròn! Nhưng khổ đau không thay đổi được anh vì anh đã viết, từ 1965, trong Người Việt đáng yêu: &#8220;&#8230; Không có sự trưởng thành đáng kính nào bằng sự trưởng thành trong đau khổ&#8230; khổ đau là một sự thiêng liêng ở trên thế gian này&#8230; Dân tộc Việt Nam phải là một sự thiêng liêng đối với nhân loại&#8230;&#8221;<br />
Thuở xưa anh đã ân cần khuyên nhủ mọi người: &#8220;Hãy quay trở về với chính mình, vun xới tâm hồn mình là chuốc lọc danh dự cho dân tộc, là gieo hươ ng hạnh phúc cho nhân loại&#8221;. (Tiền kiếp)</p>
<p>Và anh tha thiết ước ao: &#8220;Niềm ao ước vĩnh cửu của tâm hồn nhân loại, và cũng là sự thực vĩnh cửu cuả vũ trụ là: bao giờ cuối cùng &#8220;thiện cũng thắng ác&#8221;.<br />
Khổ đau, bạo lực chẳng những không làm anh căm thù mà &#8211; như một sự thiêng liêng &#8211; đã làm tâm hồn anh dịu lạị Trong truyện ngắn Người vái tứ phương, một mặt anh diễn tả thật đầy đủ xã hội miền Nam sau bảy năm bị đọa đày bằng những từ ngữ nhẹ nhàng nhưng sâu sắc, mặt khác anh vẫn tiếp tục ân cần khuyên nhủ mọi người: &#8220;Cuộc sống đầy rẫy những khác biệt và đụng chạm. Hãy cảm thông và bao dung những vui buồn phải trái cuả nhau&#8230; Cuộc đời tự nó đã quá nhiều phức tạp, sầu khổ, còn gây thêm sầu khổ cho nhau mà làm gì!&#8221;.<br />
Noi gương người xưa đem đại nghĩa để thắng hung tàn. Lấy chí nhân mà thay cường bạo nên Giáo sư Hoàn, dù tốt nghiệp tiến sĩ sinh vật học tại Hoa Kỳ đã không được tiếp tục dạy lại tại Đại học Khoa học, vẫn đầy lòng từ tâm thánh thiện đã bình thản, không có một lời nói hay cử chỉ thất thố nào khi đối diện với viên trung tá công an hạ trác đòi mình đến trình diện: &#8220;Tôi rất mực điềm đạm thùy mị trả lời&#8230; Tôi trả lời như thể tự ngàn xưa vốn dĩ tôi như thế và cho tới ngàn sau tôi không thể khác hơn&#8230;&#8221;</p>
<p>Và giáo sư Hoàn đã chinh phục, cảm hóa được viên trung tá nàỵ Một ghi nhận nhỏ là thuở xưa có rất ít người xấu, việc xấu trong các tác phẩm của anh nên nhà văn Võ Phiến đã viết: &#8220;Hầu hết các nhân vật tiểu thuyết cuả Doãn Quốc Sỹ đều tốt &#8230; Hoạ hoằn lắm mới có một nhân vật xấu&#8230;&#8221; (Văn Học Miền Nam &#8211; Truyện I) và đã dí dỏm một cách khéo léo: &#8220;Đọc sách ông thơm tho cả tâm hồn&#8221;. (Văn Học Miền Nam Tổng Quan). Nhưng trong Người vái tứ phương, anh đã viết: Trong cõi tương đối này chúng ta há chẳng thấy thường khi cái đúng và cái sai chỉ là đường tơ kẻ tóc, hoặc giả chính vì cái sai này mà cái đúng kia hiển hiện. Thực ra trên dòng biến dịch không ngừng nghỉ của vạn hữu, cái sai cũng mầu nhiệm như cái đúng&#8230;<br />
Kiếp nhân sinh là như vậy đó: Cái tốt nương tựa cái xấu, nỗi buồn gắn bó với niềm vui, khổ đau quyện theo hạnh phúc.</p>
<p>Rồi anh tiếp tục ân cần khuyên nhủ mọi người:<br />
&#8220;&#8230;Thế giới này là nơi cộng đồng trách nhiệm. Khi cái đẹp, cái thiện đã được khơi nguồn, thắp sáng, người ta dễ bề mở rộng cái tôi cá biệt đi vào cái ta hoà đồng&#8230;<br />
&#8230;Bất kỳ hành động thiện, hành động đẹp nào của bất kỳ ai đều có khả năng mầu nhiệm bảo vệ giá trị sản nghiệp tinh thần của cả nhân loại&#8230;<br />
&#8230; Khi nhân tính vươn vai thức giấc, mọi chủ nghĩa, đảng phái không thành vấn đề&#8230;.&#8221;<br />
Cuối thu năm ngoái, ở tuổi 75, trong một lá thư gởi cho tôi anh đã viết: &#8220;&#8230;Nhà tôi ở hiện giờ còn giữ nguyên màu xanh ngút ngàn của thiên nhiên: đó là những rừng oak và thông đẹp tuyệt vờị Sáng sáng tôi cùng bà xã đi bộ độ nửa giờ, sau đó tôi đạp thêm 1 giờ bằng chiếc xe đạp được một anh học trò cũ tă.ng. Vì vậy sức khoẻ giữ đều không ốm đau vặt như thường thấy khi tới tuổi cổ lai hi của tôi&#8230;&#8221;.</p>
<p>Trong tất cả những tác phẩm cuả anh &#8211; từ tập trường thiên qui mô và quan trọng nhất là Khóm Rừng Lau đến những truyện cổ, truyện ngắn, truyện vừa, truyện dài hoặc khảo luận, tuỳ bút &#8211; tình thươ ng bàng bạc khắp cùng: Anh đã gánh trọn cái trách nhiệm luân lý nặng nề. Ngày nay, ở tuổi hoàng hôn của cuộc đời, ước mong từ miền Houston sầm uất đó, anh hưởng được đầy đủ cái hương nhân loại lâng lâng tỏa ra từ bốn phương tám hướng mà anh đã ước mơ vào một chiều bên hồ Lạc Thiện vùng Ban Mê Thuộc thuở xa xưa trong Gìn Vàng Giữ Ngọc.<br />
Đã có rất nhiều người viết về Doãn Quốc Sỹ. Từ những vị có đầy đủ uy tín và tuổi tác trong văn giới đến những độc giả đã từng mến mộ anh và văn chương anh đã ảnh hưởng nhiều đến đời sống tinh thần của ho.. Những bài viết, nhận xét thật đầy đủ, thật chi tiết. Do đó xin được gọi những dòng tâm tình này là &#8220;Một Phụ Trang&#8221; để bày tỏ lòng quý kính của tôi đối với một nhà văn hàng đầu tôi được biết qua nhiều tác phẩm và, do một duyên lành, được quen thân qua những dịp tâm tình tương đắc. Đã gọi là phụ trang &#8211; mà là một phụ trang tâm tình &#8211; thì không thể viết dài (Mà nếu muốn viết nữa thì cũng vẫn không thể nói hết những điều mình muốn viết).</p>
<p>Để chấm dứt bài viết tôi xin chép lại đây cảm tưởng cuả nhà văn Đổ Thiên Như về lần đầu tiên cô được gặp gỡ tác giả mà cô đã ngưỡng mộ và xem như là thần tượng từ vài thập niên qua và còn giữ mãi cho tới ngày nay tại thành phố Seatt le tháng 6 năm 1995:</p>
<p>&#8220;&#8230; Doãn Quốc Sỹ ngồi đó, và ông đúng như hình ảnh tôi tưởng tượng buổi thiếu thờị Dáng người dong dỏng, gầy, khuôn mặt nhân hậu và trí thức. Hình như bao năm cơ cực tù đày cũng không xóa mất nụ cười khoan hòa và nhân ái, cái nhân ái bàng bạc trong văn chương ông. Những dòng văn chương diễn tả được cái đẹp vô cùng nhân bản và tình người&#8230; Ông hỏi tôi có học với ông không? Tôi thưa là tôi học ở Huế, không được học với thầy nhưng văn chương của thầy đã dạy con biết mơ mộng và tư duy từ thuở hoa niên cho mãi đến bây giờ&#8230; Chỉ trong mấy giây với Doãn Quốc Sỹ tôi tưởng như được trở về với ngày xưa có sắc hương thầm kín lụa là&#8230;<br />
Tôi sống thật đầy, thật đẹp với vầng trăng của Doãn Quốc Sỹ. Đã qua rồi những mùa trăng trầm thống nhưng hồn tôi vẫn giữ mãi vầng trăng mười sáu nguyên vẹn của ông&#8230; Hình như thời gian đang ngừng lại, tôi đang đi trên lối xưa đầy diễm ảo và tôi đã được gặp một nhà văn biểu tượng cho tình yêu, sĩ khí và bất khuất của nhiều thế hê.. Hạnh phúc thay!&#8221;.</p>
<p>(<strong>Nguyễn Văn Quảng Ngãi</strong><strong>)</strong></p>
<p>&nbsp;</p>
<h3><strong>Thầm lặng</strong></h3>
<h4><strong>Kim Khánh</strong></h4>
<p><strong></strong>(con gái của nhà văn Doãn Quốc Sỹ kể lại…)</p>
<p>Một đời thầm lặng mẹ theo bố.<br />
Tháng 9 năm 1954 mẹ theo bố vào Nam. Trước đó bố hoạt động ngang dọc, sáng<br />
ngời lý tưởng rồi ê chề thất vọng. Quyết định vào Nam là của bố, mẹ chỉ bế<br />
hai con và dắt cô em chồng 17 tuổi theo. Trong Nam, bố tưng bừng thi thố<br />
tài năng, tay phấn tay bút. Mẹ thầm lặng ở nhà nuôi dạy con và chăm chút<br />
em. Dân số con từ hai tăng thành tám. Tám con tám tính, có lúc hư lúc<br />
ngoan; mẹ theo từng bước, khen chê mắng mỏ. Cô em chồng tốt nghiệp đại học,<br />
chuẩn bị lên xe hoa, mẹ lo toan chuyện cưới hỏi. Bố vất vả bên ngoài, về<br />
nhà chỉ cần đảo mắt nhìn là thấy mọi sự tươm tất. Ra đường, các con được<br />
gọi là “con bố”, em là “em anh”, không ai biết có một nhân vật thầm lặng đã<br />
làm nên những con người ấy.<br />
Vào những năm thăng tiến trong cả hai nghề dạy và viết, bố hay mời khách về<br />
nhà đãi đằng. Mẹ tiếp khách lịch thiệp, rồi rút về hậu trường trổ tài nấu<br />
nướng. Trước khi ra về các bác bao giờ cũng chào “bà chủ” trong tiếng cười<br />
hỉ hả “Cám ơn chị cho một bữa ngon quá.” Thỉnh thoảng có những vị khách nữ,<br />
khen thức ăn và khen cả ông chủ. Tôi còn nhớ có người còn nói rất chân tình<br />
với mẹ: “Chồng em mà được một phần của anh thì em chết cũng hả.” Hình như<br />
mẹ đón nhận lời nói ấy như một sự khen tặng cho chính mình.<br />
Rồi chính sự miền Nam nóng bỏng; ngòi bút bố cũng nóng theo. Các bạn bố đến<br />
chơi chỉ bàn chuyện cộng sản và quốc gia. Mẹ không mấy quan tâm đến “chuyện<br />
các ông”, nhưng khi bố đi Mỹ du học, mẹ ở nhà điều hành việc bán sách thật<br />
tháo vát. Khoảng hai tuần một lần, mẹ đi xích lô đến trung tâm Saigon, rảo<br />
một vòng các tiệm sách để xem họ cần thêm sách nào. Sau đó mẹ cột sách<br />
thành từng chồng và “đáp” một chuyến xích lô khác để giao sách. Tôi hay mân<br />
mê những sợi giây được cột chắc nịch, suýt xoa: “Sao mẹ cột chặt hay thế?”<br />
Thế rồi chính sự miền Nam đến hồi kết thúc. Con người không chính trị của<br />
bố lại một lần nữa ê chề. Ngày công an đến bắt bố đi, mẹ con bàng hoàng<br />
nhìn nhau. Các con chưa đứa nào đến tuổi kiếm tiền. Mẹ xưa nay thầm lặng<br />
trong vai “nội tướng”, giờ miễn cưỡng ra quân. Tiền dành dụm của gia đình<br />
không đáng kể. Có tám miệng để nuôi, có bố nhục nhằn trong lao tù đợi tiếp<br />
tế. Mẹ vụng về tìm kế sinh nhai. Thoạt tiên mẹ nấu khoai mì trộn với dừa và<br />
vừng, rồi để vào rổ cùng với một ít lá gói. Tôi băn khoăn hỏi:<br />
“ Mẹ nghĩ có bán được không?”<br />
“Mẹ không biết, cứ mang ra chỗ trường học xem sao.”<br />
Nhìn dáng mẹ lom khom ôm rổ, đầu đội xụp cái nón lá, tôi thương mẹ khôn tả.<br />
Chỉ nửa tiếng sau tôi đã thấy mẹ trở về. Rổ khoai mì vẫn còn nguyên, mẹ<br />
ngượng ngập giải thích:<br />
“Hình như hôm nay lễ gì đó, học trò nghỉ con ạ.”<br />
Rồi mẹ lại xoay sang nghề bán thuốc lá. Mẹ mua lại của ai đó một thùng đựng<br />
thuốc lá để bầy bán. Mẹ nghe ai mách bảo, chọn một địa điểm khá xa nhà rồi<br />
lụi hụi dọn hàng vô, dọn hàng ra mỗi ngày. Nghề này kéo dài được vài tháng.<br />
Mẹ kể cũng có một số khách quen, nhưng toàn mua thuốc lá lẻ. Hôm nào có<br />
khách “xộp” mua nguyên bao thì mẹ về khoe ngay. Cũng may thuốc lá không<br />
thiu nên khi “giải nghệ” mẹ chỉ lỗ cái thùng bầy hàng.<br />
Mẹ rút về “bản dinh” là căn nhà ở cuối hẻm, tiếp tục nhìn quanh, tìm một<br />
lối thoát. Hàng xóm chung quanh phần lớn là những người lao động. Họ như<br />
những đàn kiến chăm chỉ cần cù, 4 giờ sáng đã lục đục, người chuẩn bị hàng<br />
họ ra chợ, kẻ kéo xe ba bánh hoặc xích lô ra tìm khách. Suốt mười mấy năm<br />
qua họ nhìn gia đình chúng tôi, gia đình “ông giáo”, như từ một thế giới<br />
khác, kính trọng nhưng xa cách. Nay “ông giáo” đi tù, “bà giáo” hay xuất<br />
hiện ngoài ngõ, có lẽ họ cảm thấy gần gủi hơn. Một hôm, chị bán sương xâm ở<br />
đối diện nhà qua hỏi thăm “ông giáo”. Thấy cái máy giặt vẫn còn chạy được,<br />
chị trầm trồ: “Giặt máy tiện quá bác há!”, rồi nảy ý “Tụi con ngày nào cũng<br />
có cả núi quần áo dơ. Bác bỏ máy giặt dùm, tụi con trả tiền. Bác chịu<br />
không?” Lời đề nghị thẳng thừng, không rào đón. Mẹ xăng xái nhận lời. Kể từ<br />
đó, mổi tuần khoảng hai lần, mẹ nhận một thau quần áo cáu bẩn, bốc đủ loại<br />
mùi khai, tanh, nồng. Mẹ đích thân xả qua một nước, rồi múc nước từ hồ chứa<br />
vào máy giặt, bỏ xà bông và bắt đầu cho chạy máy. Cái máy cổ lỗ sĩ, chạy ì<br />
ạch nhưng nhờ nó mà mẹ kí cóp được chút tiền chợ.<br />
Ít lâu sau, cũng chị hàng xóm đó lại sáng thêm một ý nữa:<br />
“Con bé nhà con nay biết bò rồi, con không dám thả nữa. Bác nhận không, con<br />
gửi nó mỗi ngày từ sáng tới chiều. Con trả tiền bác.”<br />
Thế là sự nghiệp nhà trẻ của mẹ bắt đầu. Mẹ dọn căn gác gỗ cho quang, có<br />
chỗ treo võng, có cửa ngăn ở đầu cầu thang. Cả ngày mẹ loay hoay bận bịu<br />
pha sữa, đút ăn, lau chùi những bãi nước đái. Được ít lâu, chị bán trái cây<br />
ở cuối hẻm chạy qua nhà tôi, nói:<br />
“Bác coi thêm con Đào nhà con nha. Con mang cái võng qua mắc cạnh cái võng<br />
của của con Thủy.”<br />
Hai võng đong đưa một lúc, cháo sữa đút liền tay hơn, căn gác bừa bộn hơn.<br />
Sau đó lại thêm một thằng cu nữa. Mẹ tay năm tay mười, làm việc thoăn<br />
thoắt. Cũng công việc quen thuộc ấy, ngày xưa làm cho con, nay làm kế sinh<br />
nhai, nuôi đủ tám con với một chồng. Mẹ không còn thầm lặng nữa. Mẹ lớn<br />
tiếng điều khiển tám quân sĩ, cần roi có roi, cần lời ngọt có lời ngọt.<br />
Riêng chúng tôi vẫn nhớ ơn những người lao động đã giúp chúng tôi sinh sống<br />
những ngày khốn khó đó.<br />
Nhưng sau những giờ ban ngày ồn ào náo động là những đêm tối trầm ngâm lo<br />
lắng. Nỗi bận tâm không rời của mẹ là chuyện thăm nuôi bố. Mỗi ngày mẹ nghĩ<br />
ra một món, làm dần vào buổi tối, nay muối vừng, mai mắm ruốc, mốt bánh mì<br />
khô. Mẹ để sẵn một giỏ lớn trong góc bếp và chất dần đồ thăm nuôi trong đó.<br />
Khi giỏ đầy là ngày thăm nuôi sắp tới.<br />
Thuở ấy bố bị giam ở núi đồi Pleiku, muốn lên đến đó phải mất hai ngày<br />
đường và nhiều giờ chầu chực xe đò. Mỗi lần thăm nuôi, hoặc mẹ, hoặc một<br />
đứa con được chỉ định đi. Con trưởng nữ hay được đi nhất vì nó tháo vát và<br />
nhanh trí, thằng thứ nam cũng đươc nhiều lần “tín nhiệm”; mẹ nói nó nhỏ<br />
tuổi nhưng đạo mạo, đỡ đần mẹ được. Con thằng trưởng nam đúng tuổi đi “bộ<br />
đội”, mẹ ra lệnh ở nhà. Có lần mẹ đi về, mặt thất thần.<br />
Các con hỏi chuyện thì mẹ chỉ buông hai chữ “biệt giam”. Biệt giam thì bị<br />
trừng phạt không được thăm nuôi. Tôi thảng thốt hỏi:<br />
“Đồ thăm nuôi đâu hết rồi mẹ?”<br />
“Mẹ phải năn nỉ. Cuối cùng họ hứa chuyển đồ ăn cho bố.”<br />
“Mẹ nghĩ họ sẽ chuyển không?<br />
“Họ hẳn sẽ ăn bớt, nhưng nếu mẹ mang về thì phần bố đói còn chắc chắn hơn<br />
nữa.”<br />
Mẹ ngày nào thầm lặng, nay thực tế và quyết đoán như thế.<br />
Ngày bố được thả đợt 1, nhà trẻ của “bà giáo” vẫn còn hoạt động. Mẹ hướng<br />
dẫn bố đu võng khi các bé ngủ. Mẹ cũng dặn bố thường xuyên lau chùi gác và<br />
bỏ giặt tã dơ. Bố một mực nghe lời. Tưởng như cờ đã chuyền sang mẹ một cách<br />
êm thắm…<br />
Tuy nhiên, mẹ không thể ngăn được bố lân la cầm lại cây bút. Thời gian này<br />
là lúc họ hàng ngoài Bắc vào chơi nhiều. Bên ngoại có cậu tôi làm đến chức<br />
thứ trưởng; cậu kể rằng lúc còn sống, ông ngoại (một nhà thơ cách mạng)<br />
phiền lòng vì sự nghiệp văn chương của thằng con rể. Bên nội có chú tôi &#8211;<br />
một nhạc sĩ cách mạng- chú biết ngòi bút đang thôi thúc bố và đã từng rít<br />
lên giữa hai hàm răng:<br />
“Trời ạ! Đã chửi vào mặt người ta, không xin lỗi thì chớ lại cón nhổ thêm<br />
một bãi nước bọt! Lần này mà vào tù nữa thì mọt gông.” .<br />
Mấy mẹ con chết lặng trước viễn tượng “mọt gông”. Bố không màng đến điều<br />
này, vẫn miệt mài gõ máy đánh chữ. Đêm khuya thanh vắng tiếng gõ càng vang<br />
mồn một. Vài lần mẹ can ngăn, có lần mẹ giận dữ buộc tội:<br />
“Ông chỉ biết lý tưởng của mình, không biết thương vợ con.”<br />
Vài tuần sau, chị hàng xóm đối diện nhà chạy sang xì xào với mẹ:<br />
“Công an đặt người ở bên nhà con đó bác, họ theo dõi bác trai.”<br />
Mẹ lại thử can thiệp, nhưng đã quá trễ. Bố bị bắt lần thứ hai năm 1984.<br />
Lần thứ hai bị bắt, bố bình tĩnh đợi công an lục lọi tung nhà. Trước khi<br />
bắt đi, họ chụp hình bố với nhiều tang chứng chung quanh. Trong hình bố<br />
ngẩng cao đầu trông rất ngạo nghễ. Nhiều năm sau, bố vẫn còn được nhắc tới<br />
với hình ảnh này. Không ai biết đến người đàn bà thầm lặng bị bỏ lại đằng<br />
sau. Sau biến cố thứ hai này, mẹ phải đối phó thêm với nhiều khó khăn loại<br />
khác, điển hình là những giấy gọi gia đình ra dự phiền tòa xử bố. Gọi rồi<br />
hoãn, rồi lại gọi lại hoãn. Mỗi lần như vậy cả nhà lại bấn loại tâm trí, lo<br />
cho mạng sống của bố. Riêng mẹ thì vừa lo vừa soạn thêm một số thức ăn thăm<br />
nuôi. Mẹ thực tế là thế đó.<br />
Sau khi bố bị gọi án 10 năm tù, cuộc sống của mẹ không còn những bất ngờ<br />
khủng khiếp, chỉ còn những đen tối và tù túng đều đặn. Tưởng là dễ chịu<br />
hơn, nhưng thực ra nó gậm nhấm tâm thức, tích lũy buồn bực chỉ đợi cơ hội<br />
bùng nổ. Hết ngày này qua tháng nọ mẹ lầm lũi chuẩn bị đồ thăm nuôi, từng<br />
món ăn thức uống, từng vật dụng hằng ngày. Các con lần lượt trưởng thành,<br />
đứa nào cũng có bạn bè và những sinh hoạt riêng. Chuyện thăm nuôi bố và<br />
lòng thương bố quan trọng lắm, những cũng chỉ là một phần trong những cái<br />
quan trọng khác trong đời. Chỉ đối với mẹ, những thứ ấy mới là tất cả, độc<br />
tôn choán ngập tâm hồn mẹ. Mẹ hẳn có những lúc thấy tức tưởi và cô đơn mà<br />
các con nào hay biết. Có vài lần chúng tôi lỡ một lời nói hoặc cử chỉ không<br />
vừa ý mẹ, me òa khóc tu tu, lớn tiếng kể lể, tuôn trào như một giòng lũ<br />
không ngăn được. Lúc ấy chúng tôi mới choàng tỉnh.<br />
Ngày mãn hạn tù về, bố bình an như một thiền sư, để lại sau lưng hết cả<br />
những thăng trầm của quá khứ. Rồi bố mẹ sang Mỹ ở Houston sống cùng cậu<br />
trưởng nam. Mẹ bận bịu với cháu nội, nhưng không quên nhắc ông nội đi tắm<br />
và bao giờ cũng nặn kem đánh răng vào bàn chải cho ông mỗi tối. Thỉnh<br />
thoảng giao tiếp với họ hàng và bạn bè, mẹ lại phải đỡ lời cho bố, khi bố<br />
cứ mỉm cười mà không nói năng chi. Thư viết về cho con cháu ở Việt Nam, ai<br />
cũng nói mẹ viết hay hơn ông nhà văn Doãn Quốc Sỹ. Lúc đó chắc mẹ nghĩ thầm<br />
rằng: “bởi vì mẹ là con của ông Tú Mỡ mà!”<br />
Như thế được mười năm thì mẹ ngã bệnh. Hôm nay, ở giai đoạn cuối của căn<br />
bệnh Alzheimer, mẹ nằm bất động một chỗ và không nói được nữa. Nhưng mẹ vẫn<br />
đưa mắt nhìn bố mỗi lần bố ra vào trong phòng. Hôm nào bố vắng nhà vài ngày<br />
thì mẹ nhìn con trai, mắt dò hỏi lo lắng. Khi bố về thì mẹ vẫn nhìn bố, ánh<br />
mắt yên tâm hơn.</p>
<p>Mẹ thầm lặng hơn bao giờ hết. Dưới mắt bố con chúng tôi, sự thầm lặng ấy càng</p>
<p>ngày càng tỏa sáng.<br />
<strong>(</strong><strong>Kim Khánh</strong> )</p>
<h3><strong>Về Doãn Quốc Sỹ</strong></h3>
<p><strong>(…trích Cát Bụi Chân Ai – </strong></p>
<h4><strong>Tô Hoài )</strong><strong></strong></h4>
<p>Đêm Nôen năm ấy, đi chơi với một người khách trẻ măng không biết tên và trong tối sáng nhấp nhem, cũng không hẳn tường mặt. Những ngọn đèn đường chỉ rình tắt, sắp báo động. Suốt chiều, chốc chốc tiếng loa: Máy bay địch cách Hà Nội sáu mươi ki lô mét&#8230; ba mươi ki lô mét&#8230; hai mươi ki lô mét&#8230; Khách trẻ trung, trắng trẻo vẻ búng ra sữa, giọng Hà Nội nhỏ nhẹ, áo va rơi dạ mặc ngoài, mũ bông có tai ấm. Cũng như chúng tôi, cái bóng bù xù đi trong đêm đông lạnh. Nhưng mà khác chúng tôi.<br />
Những bước thong thả trên đường khuya. Lúc này chỉ còn lại đám người vun quanh khu nhà thờ Hàng Trống và mấy cửa hàng Thuỷ Tạ, Phú Gia mở cửa trắng đêm đón người chơi Nôen. Đâu ai có thể tưởng cái anh chàng non tuổi ấy là một giặc lái bay cùng tốp với phi công Phạm Phú Quốc vượt vĩ tuyến ra đánh nông trường Tây Hiếu ở Nghệ An. Tin tức Sài Gòn tâng bốc rùm beng phi đội Việt Nam Cộng Hoà anh hùng đầu tiên ném bom miền Bắc. Nhưng câm miệng hến về chiếc máy bay rơi này.<br />
Chúng tôi thường viết bài cho mục phát thanh của quân đội nói với thính giả miền Nam. Đọc tài liệu, giấy tờ bắt được ở chiến trường, trò chuyện với phi công tù binh Mỹ. Có lần, tôi vào làng La Cả uống rượu ăn thịt chó với đại tá Phạm Văn Đính, đại tá Vĩnh Phong &#8211; người hoàng tộc đã ra hàng quân giải phóng ở điểm cao Cồn Tiên Dốc Miếu. Hai sĩ quan hàng binh này sơ tán ở một nếp nhà tranh của quân đội ẩn trong lùm cây ổi cây nhãn giữa làng. Thỉnh thoảng, kéo nhau ra thị xã Hà Đông sắp hàng mua bia hơi. Có người đến thăm, khói bếp thịt chó nghi ngút cả ngày<br />
Tôi cũng thường đọc trên đài một Thư Hà Nội gửi nhà văn Quan Sơn ở Sài Gòn. Chẳng mấy ai biết bút hiệu ấy của Doãn Quốc Sỹ ngày trước trên tuần báo Tiểu Thuyết Thứ Năm. Doãn Quốc Sỹ người Cầu Giấy, gần làng tôi. Chúng tôi quen nhau khi mới cầm bút. Một trong những truyện ngắn đầu tiên của Doãn Quốc Sỹ, Đôi mắt của Hiền, cô Hiền ấy, con gái bác Tú Mỡ. Bức thư tình đăng báo mà rồi nên nhân duyên. Doãn Quốc Sỹ theo nhà vợ tản cư ra Bắc Giang ít lâu rồi vào Hà Nội, rồi di cư vào Nam. Báo chí và các nhà xuất bản ở Sài Gòn in sáng tác của Doãn Quốc Sỹ, lại biết Sỹ dạy học ở Hà Tiên, được tu nghiệp ở Mỹ mấy năm. Chẳng biết cách mạng có nợ tiền, nợ máu gì với cái gia đình công chức còm ở một làng làm nghề dệt nghề giấy ngoại ô này không, tôi tin là không, thế mà Doãn Quốc Sỹ viết chửi cộng sản hăng thế. Chắc chẳng khi nào Doãn Quốc Sỹ nghe bài của tôi để biết đến những tiếng nói cùng quê của anh.</p>
<p><strong>(Tô Hòai )</strong></p>
<h3><strong>Đọc văn Dõan Quốc Sĩ</strong></h3>
<h3><strong>Nhìn lại một thời</strong></h3>
<p><a href="https://t-van.net/wp-content/uploads/2012/06/clip_image004.jpg"><img decoding="async" style="background-image: none; margin: 0px 20px 10px 0px; padding-left: 0px; padding-right: 0px; display: inline; float: left; padding-top: 0px; border: 0px;" title="clip_image004" src="https://t-van.net/wp-content/uploads/2012/06/clip_image004_thumb.jpg" alt="clip_image004" width="250" height="496" align="left" border="0" /></a></p>
<p>Năm 1954 hai vợ chồng tôi cùng hai đứa con gái đầu lòng và cô em gái – năm người cả thảy – ra phi trường di cư vô Nam. Danh từ thời thượng mệnh danh là Bắc Cờ Năm Mươi Tư</p>
<p>Thuở đó tôi còn là sinh viên, gặp Trần Thanh Hiệp, sinh viên Luật Khoa, chúng tôi bèn thành lập đoàn thể Đoàn Sinh Viên Hà Nội Di Cư (ĐSVHNDC), Trần Thanh Hiệp đứng ra làm chủ tịch. Để giới thiệu ĐSVHNDC nhân dịp chào mừng mùa Xuân năm đó, chúng tôi cho in tập Xuân Chuyển Hướng. Tôi còn nhớ trước 1954 &#8211; thuở còn ở ngoài Bắc – tôi sớm có khuynh hướng viết văn, hoàn tất được một truyện ngắn đầu tay dưới dạng một truyện cổ tích mang tên là “Sợ Lửa”. Di cư vô Nam năm 1954, may sao tôi có mang theo bản thảo Sợ Lửa và cho đăng vào tập Xuân Chuyển Hướng này! Thế là như lửa gặp gió, tôi tiếp tục . . . tiếp tục sang tác để chính thức đi vào nghiệp cầm bút của nhà văn bên cạnh sự nghiệp cầm phấn của nhà giáo sau này. Sau tập Xuân Chuyển Hướng tôi đứng ra làm chủ nhiệm tờ tuần báo Người Việt nhưng cũng chỉ được vài số là đình bản. Sau đó gặp them Mai Thảo, Nguyễn Sỹ Tế, hai họa sĩ Duy Thanh và Ngọc Dũng nữa, thế là chúng tôi xúm lại chủ trương nguyệt san SÁNG TẠO – vào năm 1956 thì phải, nếu tôi nhớ không lầm! Toà soạn Sáng Tạo ở đường Ký Con. Truyện dài đầu tay Dòng Sông Định Mệnh của tôi đăng trên Sáng Tạo trước khi in thành sách. Sáng Tạo ra được tới số 30 hay 31 thì đình bản. Các văn hữu từ đó vẫn gọi nhóm chúng tôi – Mai Thảo &#8211; Nguyễn Sỹ Tế &#8211; Ngọc Dũng – Duy Thanh là nhóm Sáng Tạo – Tòa soạn ở đường Ký Con !</p>
<p>Thuở đó anh em chúng tôi ai muốn đem bài đến toà soạn, hay đến toà soạn để sửa bài thì ít nhất cũng phải đợi đến 9 giờ sáng hãy tới, vì tới giờ đó Mai Thảo mới ngủ dậy để ra ngồi trước bàn làm việc.</p>
<p>Từ tám chin giờ tối trở đi đó là giờ Mai Thảo có mặt ở vũ trường để khiêu vũ. Thuở đó đám sinh viên Hà Nội di cư chúng tôi đã có nơi cư trú đàng hoàng, đó là khu Đại Học Xá gần nhà thờ Ngã Sáu Chợ Lớn. Thỉnh thoảng khoảng 8 giờ tối Mai Thảo lái xe đến đón tôi cùng đi khiêu vũ, khoảng 12 giờ khuya thì về, bao giờ cũng rủ theo một em vũ nữ lên xe để cùng tới một tiệm ăn nào đó, vừa ăn uống vừa nói chuyện vui, rồi đưa em vũ nữ về nơi hẻm em ở.</p>
<p>Cùng là nhà giáo kiêm viết văn, chúng tôi có ba người : tôi, anh Nguyễn Sỹ Tế (hiệu trưởng trường Trường Sơn) và anh Nguyên Sa ( hiệu trưởng trường Văn Học).</p>
<p>Nhắc đến Nguyên Sa hầu hết chúng ta đều biết bài thơ nổi tiếng của anh “Áo lụa Hà Đông” :</p>
<p>&#8220;Nắng Sài Gòn anh đi mà chợt mát</p>
<p>Bởi vì em mặc áo lụa Hà Đông</p>
<p>Anh vẫn yêu màu áo ấy vô cùng</p>
<p>Anh vẫn yêu màu áo ấy vô cùng</p>
<p>Anh vẫn nhớ em ngồi đây tóc ngắn</p>
<p>Mà mùa Thu dài lắm ở chung quanh</p>
<p>Linh hồn anh vội vã vẽ chân dung</p>
<p>Bay vội vã vào trong hồn mở cửa</p>
<p>Em chợt đến, chợt đi, anh vẫn biết</p>
<p>Trời chợt mưa, chợt nắng chẳng gì đâu</p>
<p>Nhưng sao đi mà không bảo gì nhau?</p>
<p>Để anh gọi tiếng thở buồn vọng lại&#8230;&#8221;</p>
<p>&#8220;Em ở đâu, hỡi mùa Thu tóc ngắn?</p>
<p>Giữ hộ anh màu áo lụa Hà Đông</p>
<p>Anh vẫn yêu màu áo ấy vô cùng</p>
<p>Anh vẫn yêu màu áo ấy vô cùng</p>
<p>&#8230; Anh vẫn yêu màu áo ấy em ơi&#8221;</p>
<p>Sau này khi sang tới xứ Cờ Hoa này chúng tôi ở cách mấy tiểu bang – tôi ở Houston, Texas, anh ở Quận Cam Cali &#8211; mỗi khi có dịp gặp nhau, tôi vẫn hỏi đùa anh:</p>
<p>Chị vẫn mặc áo lụa Hà Đông, phải không anh?</p>
<p>Nhớ lại kỷ niệm với anh Nguyễn Sỹ Tế, khi Cộng Sản chiếm nốt miền Nam, chúng tôi cùng bị đi tù chung và cùng bị đày lên tận miền Gia Trung thuộc núi rừng cao nguyên Pleiku, Kontum. Vùng này sở dĩ mang tên Gia Trung vì có dòng suối YA YUNG chảy qua. Tiếng địa phương là Ya Yung được chuyển sang tiếng Việt là Gia Trung !</p>
<p>Anh Nguyễn Sỹ Tế có 4 câu thơ bằng tiếng Pháp trong tập thơ Chant d’Ya (Tiếng Hát Gia Trung) của anh như sau:</p>
<p>Sur un fond de ciel balayé</p>
<p>Un engourdi crossant de lune</p>
<p>Parait las et comme épuisé</p>
<p>De sa lumineuse fortune …</p>
<p>Và tôi dịch thoát nghĩa thành 4 câu thơ Việt như sau:</p>
<p>Đỉnh trời gió quét mây tan tác</p>
<p>Trăng lưỡi liềm ngơ ngác lạnh căm</p>
<p>Trăng sao đượm vẻ u trầm</p>
<p>Trăng sao quá đỗi âm thầm hỡi trăng</p>
<p>Vào năm 1956 – cách đây đúng nửa thế kỷ &#8211; khi tập truyện cổ tích Sợ Lửa của tôi ấn hành lần đầu, ông bạn Nguyễn Sỹ Tế của tôi viết TỰA và Thanh Tâm Tuyền viết BẠT . Với tinh thần tri âm tri kỷ, ông bạn Thanh Tâm Tuyền qua bài thơ mang tên “NHỊP BA” đã nêu lên lòng ước muốn thường xuyên nóng bỏng trong tâm tư thầm kín của tôi: đó là ước muốn sao cho đất nước sớm được thống nhất tự do !</p>
<p>Xin quý vị hãy cùng tôi thưởng thức bài thơ “Nhịp ba” của Thanh Tâm Tuyền viết thay lời Bạt cho “Sợ Lửa”</p>
<p><strong>Nhịp ba </strong></p>
<p><strong>(Tặng Doãn Quốc Sỹ)</strong></p>
<p>&nbsp;</p>
<p>Ngực anh thủng lỗ đạn tròn</p>
<p>Lưỡi lê thấu phổi</p>
<p>Tim còn nhảy đập</p>
<p>Nhịp ba nhịp ba nhịp ba</p>
<p>Tình yêu, tự do mãi mãi</p>
<p>Anh về ngồi dưới vườn nhà</p>
<p>Cây liền kết trái</p>
<p>Hoa rụng tơi tơi ủ xác</p>
<p>Anh chạy nhịp hai qua cách trở</p>
<p>Mắt bừng</p>
<p>Thống nhất, tự do</p>
<p>Ngoài xa thành phố</p>
<p>Bánh xe lăn nhịp ba</p>
<p>Áo màu xanh hớn hở</p>
<p>Nhát búa gõ</p>
<p>Long máy quay</p>
<p>Cửa nhà thi nhau lớn</p>
<p>Nhịp ba, nhịp ba, nhịp ba</p>
<p>Tình yêu, tự do, mãi mãi</p>
<p>Sóng bồi phù sa</p>
<p>Ruộng lúa trổ hoa</p>
<p>Núi cao uốn cây rừng</p>
<p>Nhịp ba, nhịp ba, nhip ba</p>
<p>Tình yêu tự do mãi mãi</p>
<p>Đất nước ào vỗ nhịp</p>
<p>Triều biển chập chùng</p>
<p>Hà Nội, Huế, Sàigòn</p>
<p>Ôm nhau nức nở</p>
<p>Có người cầm sung bắn váo đấu</p>
<p>Đạn nổ nhịp ba</p>
<p>Không chết</p>
<p>Anh ngồi nhỏm dậy</p>
<p>khoẻ mạnh lạ thường</p>
<p>Bước ai thánh thót</p>
<p>Nhịp ba<br />
Tình yêu<br />
Tự do</p>
<p>Mãi mãi</p>
<p>Tình yêu tự do mãi mãi</p>
<p>Tình yêu tư do mãi mãi anh ơi</p>
<p><strong>Thanh Tâm Tuyền</strong></p>
<p>* * *</p>
<p>Thấm thoát tính tới nay &#8211; Năm 2005 – đã vừa một nửa thê kỷ qua rồi. Anh em Sáng Tạo chúng tôi nay chỉ còn: Nguyễn Sỹ Tế, Doãn Quốc Sỹ, Thanh Tâm Tuyền và họa sĩ Duy Thanh.</p>
<p>Mai Thảo và họa sĩ Ngọc Dũng đã ra người thiên cổ!</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>&nbsp;</p>
<h3><strong>Gìn vàng giữ ngọc</strong></h3>
<p><a href="https://t-van.net/wp-content/uploads/2012/06/clip_image005.jpg"><img loading="lazy" decoding="async" style="background-image: none; margin: 0px 20px 10px 0px; padding-left: 0px; padding-right: 0px; display: inline; float: left; padding-top: 0px; border: 0px;" title="clip_image005" src="https://t-van.net/wp-content/uploads/2012/06/clip_image005_thumb.jpg" alt="clip_image005" width="300" height="182" align="left" border="0" /></a></p>
<p>(&#8230;) Cuối tháng chạp năm 1945 gia đình tôi và gia đình Huân cùng tản cư một ngày nhưng về hai ngả khác nhau: Huân đưa vợ con về quê mẹ ở Ninh Bình, tôi theo thày mẹ tôi lên Bố Hạ (Bắc Giang). Tới ở Bố Hạ tôi vào công tác ngay ở sở Thông Tin Khu 12, sau sát nhập vào Liên khu I. Rồi thày mẹ tôi cùng toàn thể gia đình rời đi Vĩnh Yên chỉ còn một mình tôi ở lại Bắc Giang để tiếp tục công tác tại chỗ cũ.<br />
Bốn tháng sau tôi nhận được thơ nhà báo tin gia đình một lần nữa chuyển đến làng N.H. ngay bên <a href="http://www.gocnhin.net/##">kia</a> hữu ngạn sông Ðáy, gần chân dãy núi Tam Ðảo. Tôi biết, như vậy vốn liếng gia đình lại một phen hao hụt để sa sút thêm. Những cũng trong thơ đó tôi được cô em gái cho hay là gia đình Huân đã bỏ Ninh Bình chuyển đến một làng nào đó, gần một cái chợ nào đó, thuộc Phúc Yên.Tôi vừa nhẩm ôn đoạn thư vừa nghĩ thầm: &#8220;một làng nào đó, ở gần một cái chợ nào đó, thuộc Phúc Yên&#8221; địa chỉ tuy mơ hồ thật nhưng mình quyết tìm cho ra.<br />
Tôi viết thơ cho một ông cùng làng tản cư ở Phù Lỗ và thường buôn bán hàng ngoại hóa trên con đường Phúc Yên &#8211; Sơn Tây, để nhờ ông chú ý tìm giúp gia đình Huân. Ba tháng sau tôi nhận được hồi âm của ông bảo rõ cho hay thực may mắn chỗ ở Huân: đó là một thôn nhỏ ngay gần chợ Sặt và ở về phía tay phải con đường mòn từ chợ đi huyện Yên Lãng. Vừa đúng dịp tôi xin thôi tại sở những mong sẽ công tác ở ty Thông Tin Vĩnh Yên cho được gần gia đình. Tôi có xin về thẳng thăm nhà đã, rồi nửa tháng sau nếu thuận tiện sẽ đến nhận công tác tại cơ quan mới. Hành trình của tôi được phân chia rất hợp lý. Từ Ða Phúc tôi sẽ đi đến Phố Nỉ bên kia sông Cầu, đường dài mười hai cây số.</p>
<p>Từ Phố Nỉ tôi sẽ vượt qua Kẽm, Dõm để gặp con đường nhựa nối liền Phúc Yên &#8211; Vĩnh Yên, quãng đường này cũng khoảng mười hai cây số. Tôi sẽ theo đường nhựa mấy cây số rồi, rẽ vào con đường đất lớn đi đến chợ Sặt. Ðến chợ Sặt rồi, thì thôn nhỏ gia đình Huân ở, tôi đã &#8220;cầm lỏng&#8221; trong tay. Ðường đi tính ngót bốn mươi cây số; có bỡ ngỡ lắm trong việc hỏi thăm thì cũng chỉ vừa chập tối là cùng, tôi đã nằm trên giường của Huân đợi một mâm cơm nóng sốt, tươm tất. Sau khi đã kể cho nhau nghe hết mọi chuyện tản cư, tôi ngồi uống rượu với Huân. Tôi biết làm gì mà Huân chẳng mua được rượu ngang, chỉ cần một cút thôi. Tửu lượng của tôi và Huân cùng kém cả mà, nhưng chúng tôi sẽ khề khà uống thật lâu cho thực hệt tác phong các bậc tửu đồ ngày xưa.<br />
Chà! như vậy cho bõ một ngày bại cẳng vượt ngót bốn mươi cây số. Ngày hôm sau tôi có thể hoặc đi từ sớm, hoặc ở lại ăn Huân cũng nên, rồi mới lên đường vì quãng hành trình còn lại chỉ chừng ba mươi hay ba mươi mốt cây là cùng. Vừa đi vừa hình dung trước cảnh hội ngộ đó mà tôi thấy hởi dạ, tưởng có thể đi hết ngày mà không biết mỏi chân. Ấy tinh thần tuy có phấn khởi, thêm trí tưởng khéo thêm dệt, nhưng thực tế vẫn giữ được cái uy tín cuối cùng của thực tế. Kể từ sau lúc mặt trời đứng bóng tôi đã thấy hai đầu gối mỏi và hai bắp chân tưng tức. Tôi tìm một quán nước nghỉ chân, mua kẹo vừng và dở nắm cơm nếp ra ăn trưa. Cũng do việc toan tính trước, tôi thổi cơm nếp thật nát để nửa nắm còn lại có thể sang trưa ngày hôm sau ăn còn dẻo.<br />
Lúc mặt trời chếch bóng bước đi thêm lệt bệt, đầu gối đau, bắp chân và đùi tôi thấy nặng ngang nhau; tới lúc mặt trời xế bóng thì hai bên thái dương tôi bừng bừng, trước mắt tôi đổ những hoa cà hoa cải tựa hồ trong đầu có ai đốt một cây bông tí hon và những hoa ánh sáng tóe ra từ hai con mắt. Tôi có cảm tưởng phần thân thể từ háng trở xuống là mình mượn của ai lắp vào. Tôi bước lảo đảo, hình như đi được là nhờ sức gió thổi xuôi nhiều hơn là nhờ ý chí và sức lực của chính mình. Ðến năm cây số cuối cùng thì tôi phải lượm một cái gậy bên vệ đường để chống và cứ đi được một cây số lại ngồi phệt xuống bên lề cỏ để nắn, bóp, chà sát suốt từ đùi đến bắp chân. Mặt trời vừa khuất bóng thì tôi vào đến con đường hẻm do người trong thôn chỉ để tới nhà Huân tản cư. Và cũng đến lúc đó thực tế mới tạm lùi bước nhường sức mạnh của niềm vui tinh thần một chút: tôi ưỡn ngực nhìn thẳng, bước chững chạc.<br />
Cảnh vợ chồng Huân cùng đàn con khi nhận ra tôi thật đúng với câu Kiều &#8220;Nỗi mừng biết lấy chi cân&#8221; hay để cho vui nếu cân được thì cũng đến nặng bằng bộ giò của tôi lúc đó là cùng.<br />
Tôi thở phào sung sướng quẳng ba-lô vào tay Huân, ngồi bệt xuống cái chõng tre ở giữa sân rồi tức khắc nằm xuống ngửa mặt nhìn mấy con diều hâu đương lượn lờ mãi trên cao vút trông chỉ còn nhỏ như mấy con dơi. Lúc bấy giờ tôi mới ôn lại những hình ảnh vừa nhìn và xét rằng vợ chồng Huân cùng các cháu tôi đều gầy và đen đi nhiều. Có tiếng chõng kê ngay góc gần đấy rồi tiếng Nhàn, vợ Huân:<br />
&#8212; Anh Sơn ra nằm đây, chõng ấy để giả ông chủ.<br />
Tôi ngồi nhỏm dậy, mấy sợi tóc dài bị nan chõng cắt đứt mất. Kể ra cũng khá đau nhưng cái mệt lấn mất cái đau, hơn nữa tôi muốn đổi chõng thật nhanh để tiếp tục cho các bắp thịt nghỉ. Ông chủ ở trong nhà vừa ra tôi chỉ kịp cúi chào thật lễ phép và nói một câu xã giao thật ngắn rồi nằm ềnh ngay sang chõng bên. Khi lưng và đầu áp xuống rồi, xúc giác mới báo cho tôi biết là cái chõng này hẹp hơn, ngắn hơn và nan thưa hơn cái chõng kia.<br />
Tiếng Huân hỏi:<br />
&#8212; Anh Sơn mệt lắm hả?</p>
<p>Tôi chặc lưỡi:<br />
&#8212; Gọi là thôi!<br />
&#8212; Anh đi bao nhiêu cây số đến đây?<br />
Nhận thấy nói thật thì không tiện và nói dối thì không nỡ, tôi vờ như không nghe thấy. May sao Huân nói sang câu khác:<br />
&#8212; Tôi bảo thổi cơm thêm xuất anh đấy nhé.<br />
Tôi đáp gọn:<br />
&#8212; À, cố nhiên! Các cậu ăn cơm tối nhỉ, tưởng mình đến giờ này thì các cậu đã ăn xong tám hoánh và phải đi thổi riêng cho mình niêu khác.<br />
Rồi vui câu chuyện tôi nói tiếp:<br />
&#8212; Nếu có gà nhà thì cứ giả vờ thịt đi cho vui.<br />
Huân đáp ngay, nhưng giọng nghe ra hơi ngượng ngập:<br />
&#8212; Ồ, thịt gà&#8230; vâng có chứ!<br />
Nằm ruỗi đã được một phút hưởng gió mát buổi chiều phe phẩy, tôi lấy lại sức nhiều do đấy có sự &#8220;phản tỉnh&#8221; ngay để nghĩ thầm:<br />
&#8212; Bỏ sừ, nói vậy ngộ nhà Huân không nuôi gà, phải đi lùng quanh xóm thì mình cũng hơi khỉ.<br />
Tôi vừa toan hỏi lại Huân xem nhà có gà thực không thì Huân đã đứng dậy đi vào nhà. Không hiểu Huân nói gì, chỉ biết sau đó con cháu lớn Thu Hương tất tưởi đi ra ngõ. Khi Huân tới bên, tôi cũng vừa vỗ lên túi con áo sơ-mi để sực nhớ ra rằng mình có một điếu Cotab của bạn cho mà chưa hút. Vừa rút điếu thuốc ra khỏi túi, tiếng Huân <a href="http://www.gocnhin.net/##">reo</a> vui:<br />
&#8212; À thuốc lá!<br />
Tôi nhớ ngay Huân vốn nghiện nặng thuốc lá thơm nên lanh trí đáp liền:<br />
&#8212; Gặp một thằng bạn giữa đường cho đấy, tôi vốn dưng dửng thuốc lá nên để dành cho cậu.<br />
Tôi vẫn nằm ngửa trên chõng, ruỗi thẳng chân cho máu chảy đều và khẽ đưa mắt để khuôn mặt Huân lọt vào trong nhãn giới; vì lần này trông nghiêng nên khuôn mặt Huân có những nết gầy hốc hác, mà lúc nãy có lẽ vì trông thẳng, có lẽ cả vì chân mỏi mắt hoa nữa nên tôi không nhận thấy. Châm xong điếu thuốc lá, môi Huân dẩu ra để hít lấy khói thuốc, mấy sợi râu mép và râu cằm được dịp nổi bật lên trong ánh chiều bâng khuâng khiến khuôn mặt Huân càng đượm một vẻ xanh xao sầu thảm. Tôi đặt thầm nghi vấn: Hay là ngày nay Huân cũng hoàn toàn khánh tận, và gia đình Huân cũng hoàn toàn sống kiểu độ nhật như gia đình tôi hiện giờ bên bờ sông Ðáy, dưới chân Tam Ðảo?<br />
Huân không biết là đương bị tôi ngắm, vừa hút thuốc lá vừa tuần tự hỏi kỹ về mọi chi tiết tản cư của gia đình tôi. Tôi vẫn đáp lời và vẫn tiếp tục quan sát. Cách Huân hút thuốc quả là cách hút của một người nghèo đã lâu lắm nay mới được một điếu.<br />
Tôi hốt hoảng ôn lại một lần nữa lời vừa nói khi nãy: &#8220;nếu có gà nhà thì cứ giả vờ thịt đi cho vui&#8221; và tự thấy mình vô duyên biết mấy.<br />
Ðến lượt tôi hỏi lục vấn về cách chạy loạn của gia đình Huân. Tôi được biết hồi còn ở Ninh Bình vợ chồng Huân buôn bán khá. Sau vụ quân Pháp nhảy dù ở Ðồng Quan, vợ chồng Huân sợ chúng sẽ tấn công toàn thể Liên khu Tư bèn mang cả con cái theo đường Hòa Bình Vụ Bản đường số 6 rồi vượt sông Hồng sang Vĩnh Yên. Bị bom napalm thiêu chụi hết đồ đạc, một lần nữa Huân chuyển gia đình xuống Phúc Yên, ở đây.<br />
Hỏi về cách sinh sống hiện tại thì Huân cho biết Nhàn cùng đứa con gái lớn lên mười hai Thu Hương vẫn sớm gánh đôi bồ hàng sén ra chợ Sặt bán, chiều gánh về.Tôi hỏi thêm:<br />
&#8212; Thế hàng sén của Nhàn có những thứ gì?<br />
Huân trả lời hoàn toàn ngoài đề:<br />
&#8212; Ðường từ chợ Sặt về đây ngắn, nên việc sớm gánh đi tối gánh về không có gì là vất vả lắm.<br />
Thấy tôi ngồi dậy, Huân cười hỏi, tôi biết để lảng câu chuyện:<br />
&#8212; Anh khỏi mệt rồi chứ?<br />
Tôi gật đầu và đáp với giọng cố làm cho trong sáng để chứng tỏ tôi không có gì thắc mắc:<br />
&#8212; Khỏi mệt rồi! Cậu ở đây rộng và thoáng thật đấy.<br />
Sự thực tôi ngồi nhỏm dậy vì thấy Nhàn đương vo gạo ở đằng góc bể. Cứ trông cái giá vo và cách xóc gạo tôi cũng thấy rõ ràng nồi cơm sắp thổi không thể là nồi cơm đủ cho ba người lớn và ba đứa trẻ. Hai đứa cháu nhỏ của tôi một trai, một gái quãng tuổi lên năm và lên bảy, cùng gầy gò và xanh xao như nhau lúc đó vẫn quấn lấy bên Nhàn.<br />
Cũng cảnh đó, một năm trước đây, đã diễn ra trong gia đình tôi, hồi chúng tôi còn ở Bố Hạ, Bắc Giang. Tôi còn nhớ hôm đó ông bác tôi từ Bến Tuần Lục Liễu sang chơi. Nguyên nửa tháng trước đây, thầy tôi và tôi có tới Lục Liễu thăm người, được người thết cơm rượu thịt gà, trịnh trọng lắm. Lần này lẽ cố nhiên thầy tôi cũng phải nghĩ cách giả nợ, mặc dầu nhà đương rất nghèo túng. Dưới chuồng còn một con gà mái đẻ: phải làm thịt. Trong thúng còn hai đấu gạo định để thổi độn ngô, nay bỏ ngô để thổi cơm trắng. Bữa rượu thết hôm đó ngồi tiếp bác, có thày tôi, tôi và thằng em thứ hai.<br />
Ðể đáp câu nói của bác: &#8220;Thím Hai vào ăn một thể cho vui&#8221; mẹ tôi cười ròn và rất tự nhiên:<br />
&#8212; Mời bác sơi rượu với thày cháu, em phải trông cho mấy cháu bé ăn ở dưới này.<br />
Kỳ thực các em bé tôi có gì mà ăn!<br />
Khi bác tôi ra về, cơm thừa trong nồi còn chừng hai bát. Lẽ cố nhiên là thày tôi, tôi và thằng em thứ hai đã phải hết sức ăn cầm chừng mới được vậy. Mẹ tôi đơm một bát cho thằng em út và bát kia cho đứa em gái thứ tư của tôi, năm đó lên tám. Mẹ tôi ăn cháy. Ðứa em gái lên tám của tôi đỡ bát cơm rồi cúi mặt xuống khóc lặng lẽ. Nó biết là cảnh nhà bần bách quá rồi. Mẹ tôi thấy vậy thì vỗ vai nó rồi vừa cười vừa khóc, cả nụ cười với hai dòng nước mắt cùng chân thành như nhau, hẳn các bạn thừa hiểu vì sao. Tôi cũng vội quay đi để kịp dấu hai giọt nước mắt nóng hổi vừa tràn khỏi bờ mi.<br />
Ngồi nói chuyện hàn huyên với Huân, tôi giữ bề ngoài bình thản nhưng bên trong, lòng tràn ứ kỷ niệm chua chát.<br />
Lẽ nào ngày nay tôi để Nhàn và các cháu tôi tái diễn phần dưới tấn bi kịch năm xưa?<br />
Tôi thoáng thấy cháu Hương hai tay ấp vào ngực đi quanh tường đất thấp nhà hàng xóm để có thể vượt tường vào thẳng trong bếp. Nhưng khi cháu Hương vừa nhảy xuống thì tự hai bàn tay bé nhỏ của nó tuột ra cái mề gà sống có một quãng lòng ngắn dính ở đầu. Tôi vờ ngẩng nhìn ngọn tre lắc lư trong gió chiều như thể mình không biết gì.<br />
Huân bảo vợ:<br />
&#8212; Em làm thức nhắm trước rồi thổi cơm sau.<br />
Nhàn đáp &#8220;vâng&#8221; rồi cười giọng cười ròn tan y như tiếng cười của mẹ tôi ngày nào, hay nói cho đúng, đó là tiếng cười đặc biệt của bất cứ người đàn bà Việt Nam nào trong những cảnh nhường nhịn kín đáo. Tiếng cười tôi nghe mà xót xa, mà tự nhiên có ý nghĩ ngộ nghĩnh: giả sử sau này có quyền hành, nhất định ở mỗi công trường chính của mỗi thành phố tôi sẽ cho dựng tượng bán thân một người đàn bà Việt Nam để tượng trưng cho tình mẫu tử, đức hy sinh đáng được kính mến vào bậc nhất thế giới của dân tộc nhà.<br />
Vừa kịp có một ý định, tôi thấy cần phải hành động nhanh chóng, bèn đứng dậy đủng đỉnh ra ngõ. Huân hỏi:<br />
&#8212; Anh đi đâu đó?<br />
&#8212; À, tôi đáp, đi xem qua phong cảnh thôn này một chút.<br />
Rồi tiến ra đầu thôn trên con đường dẫn tới chợ.<br />
Ánh chiều vừa tắt, vừng trăng rằm tròn vành vạnh lên ngôi, óng ánh như tình cảm một người con gái đến tuổi vừa biết rằng mình đẹp. Nhìn trăng tôi càng thấy vững tâm trên quãng đường trường mà tôi sắp phải đi nốt.<br />
Ðợi mười lăm phút qua, tôi quay về làm giáng hốt hoảng bảo Huân:<br />
&#8212; Hỏng rồi cậu Huân ạ! Như lúc nãy tôi nói là sau nửa tháng nghỉ phép để sống với gia đình, rất có thể tôi sẽ trở lại làm việc trong ty Thông Tin Vĩnh Yên. Tôi vừa gặp ông trưởng ty ngoài chợ, ông ta nhất định kéo mình đi dự hội nghị thông tin liên ty Vĩnh Phúc (Vĩnh Yên &#8211; Phúc Yên) ngay bây giờ.<br />
Huân rẫy nẩy người, chỉ mâm thức ăn úp lồng bàn trên chõng:<br />
&#8212; Sao, ngay bây giờ là thế nào?<br />
Nhàn nghe rõ câu chuyện cũng nhô ra khỏi bếp, tay cầm đôi đũa xào nấu, rồi nói:<br />
&#8212; Ăn cơm đã anh ạ, em đương làm món cánh gà xào chua ngọt mà anh thích.<br />
Tôi tiếp tục buộc lại ba-lô và đáp:<br />
&#8212; Thôi được chẳng lần này thì lần khác, cô nên nhớ từ nay tôi công tác ngay tỉnh bên chứ có đâu xa xôi như trước.<br />
Huân mở lồng bàn cho tôi thấy đĩa miến xào mề gà còn bốc khói và đĩa thịt gà luộc tuy không được đầy đặn nhưng cũng khá tươm, rồi bảo tôi:<br />
&#8212; Ðã thế anh hãy ngồi đây, chúng ta nâng chén luôn, cơm mang lên sau là vừa.<br />
Tiếng Nhàn họa theo lập tức:<br />
&#8212; Phải đấy.<br />
Óc tôi thoáng nhớ lại một kỷ niệm ăn giỗ năm đói (&#8230;) và cương quyết khoác ba-lô lên vai:<br />
&#8212; Ô hay &#8212; (tôi vừa cười vừa nói, tiếng cười, lạ thế, cũng trong và ròn như tiếng cười của mẹ tôi năm xưa, và tiếng cười của Nhàn khi nãy) &#8212; các cậu làm như thể tôi là khách không bằng.<br />
Vừa lúc đó thằng bé cháu út ngã và khóc. Dịp may hiếm có, tôi bảo Huân:<br />
&#8212; Kìa cậu dỗ cháu ngay đi. Thôi tôi đi, cậu đừng phải tiễn.<br />
Nhàn nhô ra khỏi bếp:<br />
&#8212; Khổ, sao anh vội thế? Ðâu phải là khách, nhưng anh em đã lâu quá mới gặp nhau.<br />
Tôi giơ tay chào đùa kiểu quân sự:<br />
&#8212; Ối chà, chuyến này còn nhiều dịp gặp nhau lo gì. A-lê! me-xừ Huân ra dỗ cháu đi kìa. Thôi nhé chào cả nhà.<br />
Vợ chồng Huân buồn thiu không chào lại được tôi, trong khi tiếng hai con cháu lớn lanh lảnh:<br />
&#8212; Lạy bác ạ&#8230; Lạy bác ạ&#8230;<br />
Tôi mỉm cười nhìn chúng một lần nữa, đứa nào cũng gầy và đen. Chúng vẫn còn giữ được lối chào kiểu cách Hà Nội hồi chưa tác chiến.</p>
<p>Tôi vội vã ra khỏi xóm, sợ Huân theo tiễn.</p>
<p>Ra tới đầu làng, nhìn bóng mình in dưới chân, tôi mới biết là chiều đã thật hết, trăng bắt đầu tỏ (&#8230;)</p>
<p>&nbsp;</p>
<h3><strong>Nguyễn Du và đạo Phật</strong><strong></strong></h3>
<p>Nói đến Nguyễn Du là nói đến Truyện Kiều trước hết và dĩ nhiên chúng ta cũng không quên bài Văn Tế Thập Loại Chúng Sinh của ngườì nữạ. Vậy tốt hơn hết chúng ta hãy “Cảo thơm lần giở trước đèn” để xem đạo Phật đã thể hiện ra sao qua nội dung truyện Kiều.<br />
Chúng ta hãy ôn lại Truyện Kiều từ đầu tới cuối<br />
Vào dịp: &#8230;</p>
<p>Thanh minh trong tiết tháng ba<br />
Lễ là tảo mộ hội là đạp thanh</p>
<p>Kiều đã cùng hai em là Vương Quan và Thúy Vân đi chơi xuân, gia nhập vào cảnh:</p>
<p>Dập dìu tài tử giai nhân<br />
Ngựa xe như nước áo quần như nêm<br />
Và Kiều đã chúng kiến cảnh nấm mồ hương khói vắng tanh của nàng Đạm Tiên, một ca nhi tài sắc một thời. Và nàng Kiều đã nói:</p>
<p>Đã không kẻ đoái người hoài<br />
Sẵn đây ta kiếm một vài nén hương</p>
<p>Rồi đối cảnh sinh tình:</p>
<p>Rút trâm sẵn giắt mái đầu<br />
Vạch da cây vịnh bốn câu ba vần</p>
<p>Và Đạm Tiên đã hiển linh để tạ lòng ngưới tri kỷ khiến Kiều càng xúc động:</p>
<p>Lòng thơ lai láng bồì hồi<br />
Gốc cây lại vạch một bài cổ thi.</p>
<p>Kế đó là cuộc gặp gỡ Kim Trọng (bạn của Vương Quan) lần đầu tiên:</p>
<p>Chàng Vương quen mặt ra chào<br />
Hai Kiều e lệ nép vào dưới hoa</p>
<p>Tuy nhiên với Kiều thì tình ý có tế nhị hơn:</p>
<p>Người quốc sắc kẻ thiên tài<br />
Tình trong như đã mặt ngoaì còn e</p>
<p>Đêm đó Kiều mơ thấy Đạm Tiên tới báo cho Kiều hay là:</p>
<p>Một mình lưỡng lự canh chầy<br />
Đường xa nghĩ nỗi sau này mà kinh</p>
<p>Vương bà chợt thức giấc hỏi Thúy Kiều vì sao trằn trọc khóc thầm trong lúc canh khuya như vậỵ, và Thúy Kiều đã thành thực thưa với mẹ về việc Đạm Tiên báo mộng cho biết số kiếp đoạn trường sau này của cuộc đời nàng. Và Vương Bà đã nói với con:</p>
<p>Dạy rằng “Mộng huyễn chắc đâu<br />
Bỗng không mua não chuốc sầu nghĩ nao!</p>
<p>Trở lại với chàng Kim thì lòng chàng cũng</p>
<p>Mành tương phân phất gió đàn<br />
Hương gây mùi nhớ trà khan giọng tình<br />
Bâng khuâng nhớ cảnh nhớ người<br />
Nhớ nơi kỳ ngộ vội dời chân đi.</p>
<p>Nhưng mấy lần tới trước cổng nhà Kiều thì:</p>
<p>Thâm nghiêm kín cổng cao tường<br />
Cạn dòng lá thắm dứt đường chim xanh</p>
<p>Kim Trọng bèn thuê căn nhà của một thương gia ngay sát bên nhà Kiều:</p>
<p>Lấy điều du học hỏi Thuê<br />
Túi đàn cặp sách đề huề dọn sang</p>
<p>Nhưng đã hai tuần trăng qua mà chàng Kim vẫn chưa có dịp đươc thấy mặt nàng Kiều.<br />
Cho đến một hôm:</p>
<p>Cách tường phải buổi êm trời<br />
Dưới đào dường có bóng ngườì thướt tha<br />
Buông cầm xóc áo vội ra<br />
Hương còn thơm nức người đà vắng tanh<br />
Lần theo tường gấm dạo quanh<br />
Trên đào nhác thấy một cành kim thoa</p>
<p>Kim Trọng đã vội lấy cành kim thoa chờ lúc Thúy Kiều từ trong nhà trở ra tìm mới lên tiếng:</p>
<p>Thoa này bắt được như không<br />
Biết đâu Hợp Phố mà mong châu về</p>
<p>Và vào dịp Thúy Kiều xin lại cành kim thoa, Kim Trọng mới có dịp bày tỏ nỗi lòng tương tư của chàng và xin được hứa hôn cùng nàng. Thúy Kiều đã đáp lời chàng:</p>
<p>Dù khi lá thắm chỉ hồng<br />
Nên chăng thì cũng tại lòng mẹ cha</p>
<p>Tuy nhiên chàng Kim đã nhân dịp đó mà cùng nàng Kiều:</p>
<p>Sẵn tay khăn gấm quạt qùy<br />
Với cành thoa ấy tức thì đôi trao</p>
<p>Sau đó nhân ngày sinh nhật ngoại gia, cả nhà đi dự duy có nàng Kiều ở nhà một mình mới<br />
có dịp</p>
<p>Cánh hoa sẽ đặng tiếng vàng<br />
Dưới hoa đã thấy có chàng đứng trông</p>
<p>Và Thúy Kiều đã gặp Kim Trọng ngay tại căn phòng thuê của chàng, ngắm bức họa mới vẽ của chàng, và theo lời đề nghị của chàng, Kiều đã:</p>
<p>Tay tiên gió táp mưa xa<br />
Khoảng trên dừng bút thảo và bốn câu</p>
<p>Câu chuyện cứ tiếp diễn như vậy, Kiều đã có lần đánh đàn cho Kim Trọng nghe. Lần đó Kim Trọng đã:</p>
<p>Xem trong âu yếm có chiều lả lơi<br />
Và Kiều đã phải cảnh giác chàng:</p>
<p>Thưa rằng: Đừng lấy làm chơi<br />
Dễ cho thưa hết một lời đã nao<br />
..<br />
Ra tuồng trên Bộc trong dâu<br />
Thì con người ấy ai cầu làm chi</p>
<p>Rồi sau đó Kim Trọng phải về quê Liêu Dương thọ tang chú Vương Ngoại bị vu oan, Thúy Kiều lâm cảnh bán mình chuộc tội cho chạ Thế là bắt đầu 15 năm lưu lạc cuả nàng, bán mình cho Mã Giám Sinh tay sai cuả mụ Tú Bà. Đi một tháng tròn mới tới Lâm Truỵ Kiều đã dùng dao tử vẫn trước Tú Bà. Trong cơn ngất bằn bặt này, Kiều đã gặp lại Đạm Tiên và được nàng cho hay:</p>
<p>Rỉ Rằng:<br />
“Nhân quả dở dang<br />
Đã toan trả nợ đoạn trường được sao<br />
Số còn nặng nghiệp má đào<br />
Nàng dù muốn quyết trời nào đã cho<br />
Hãy xin hết kiếp liễu bồ<br />
Sông Tiền Đường sẽ hẹn hò về sau.”</p>
<p>Tới đây chúng ta mới thấy Nguyễn Du đề cập tới nhân quả của nhà Phật, nghiệp cuả Nhà Phật.<br />
Trước ý chí cương quyết cuả Kiều, Tú Bà nhượng bộ, và Kiều được ra ở lầu Ngưng Bích. Tại đây Sở Khanh xuất hiện nói là sẽ ra tay tế độ cưú nàng. Nhưng khi Kiều đã ưng theo lời Sở Khanh thì Sở Khanh lẩn trốn và Tú Bà đã bắt Kiều trở lại lầu xanh tại Lâm Truỵ. Nơi đây Kiều gặp được Thúc Sinh &#8211; đã có vợ Cả là Hoạn Thư &#8211; ra tay tế độ cứu nàng ra khỏi chốn lầu xanh. Cha mẹ Thúc Sinh nổi giận đòi trả lại Kiều về chốn lầu xanh. Nhưng qua lời thú thực cuả Thúc Sinh, phủ Quan được biết Thúy Kiều tài sắc vẹn toàn, có tài làm thơ. Phủ Quan ra lệnh Kiều đề thơ và khi xem bài thơ của Kiều phủ Quan đã phải thốt lên:</p>
<p>Khen rằng giá đáng thịnh đường<br />
Tài này sắc ấy nghìn vàng chưa cân</p>
<p>Và Thúc Ông cũng đổi thái độ mà:</p>
<p>Thương vì hạnh trọng vì tài<br />
Thúc ông thôi cũng dẹp lời phong ba</p>
<p>Suốt một năm ròng hương lửa, Kiều khuyên Thúc Sinh nên về thăm vợ cả Hoạn Thư:</p>
<p>Xin chàng kíp liệu lại nhà<br />
Trước người đẹp ý sau ta biết tình</p>
<p>Nhưng Thúc Sinh đã không làm theo lời khuyên của nàng. Vì nghĩ rằng</p>
<p>“Nào ai có khảo mà mình lại xưng”<br />
Sau khi đã xum họp vợ Chồng với Hoạn Thư, đã tới thời Thúc Sinh trở lại Lâm Truy gặp lại Kiềụ Thúc Sinh đi theo đường bộ, Hoạn Thư sai gia nhân đi đường biển gần hơn tới Lâm Truy trước đó để bắt Kiều về. Trong khi đó với Kiều thì:</p>
<p>Đêm thu gió lọt song đào<br />
Nửa vành trăng khuyết ba sao trên trời<br />
Nén hương đến trước Phật đài<br />
Nỗi lòng khấn chưả cạn lời vân vân<br />
Dưới hoa dậy lũ ác nhân<br />
Ầm ầm khốc quỷ Kinh thần mọc ra</p>
<p>Kiều bị tưới thuốc mê mang đi, và để khiến mọi người sau đây tưởng lầm là Kiều đã chết bèn bày bàn thờ:</p>
<p>Sẵn thây vô chủ bên sông<br />
Đem vào để đó lộn sòng ai hay</p>
<p>Quả Nhiên khi đám gia nhân cuả Thúc Ông tới dập tắt lưả cháy thì:</p>
<p>Chạy vào chốn cũ phòng hương<br />
Trong tro thấy một đống xương cháy tàn</p>
<p>Thì ngay tình tin là Kiều đã chết cháỵ Thúc Ông bèn cho thu lượm gom lại, khâm liệm làm tang lễ. Thúc Sinh cũng vừa về tới và dĩ nhiên cũng tin là Kiều đã chết cháỵ. Nhưng gần miếu có một Thầy “Cao tay thông huyền” Thúc Sinh bèn tìm đến hỏi thì được Thầy cho biết: Kiều “Còn nhiều nợ lắm sao đà thác cho”. Hãy đợi một năm nưã thì sẽ biết tin! Và chính vào dịp này Thúc Sinh sẽ lâm vào tình trạng trớ trêu:</p>
<p>Hai bên giáp mặt triền triền<br />
Muốn nhìn mà chẳng dám nhìn lạ thay</p>
<p>Thúc Sinh không tin lời ông Thầy và nghĩ rằng:</p>
<p>Chẳng qua đồng cốt quàng xiên<br />
Người đâu mà lại thấy trên cõi trần</p>
<p>Trong khi đó Khuyển Ưng đã khiêng Kiều xuống thuyền và:</p>
<p>Buồm cao lèo thẳng cánh suyền<br />
Dè chừng huyện tích băng mình vượt sang</p>
<p>Kiêu bị đánh đòn rồi bị chuyển thành thị tì với tên là Hoa Nô.<br />
Bà quản gia thương Kiềụ, Hoạn Thư vào dịp nghe Kiều đàn cũng cảm thương mà nới taỵ<br />
Thế là Kiều không được dip gặp Thúc Sinh ở Lâm Truỵ. Thúc Sinh đành rời Lâm Truy trở về gia hương. Hoạn Thư đón mừng sai Kiều ra chàọ Thúc Sinh biết mình đã mắc mưu ai rồị. Vị trí Kiều với Thúc Sinh nay đã biến đổi thành con ở và chủ nhà. Và khi Kiều bị Hoạn Thư bắt gãy đàn thì Hoạn Thư và Thúc Sinh ở hai tâm cảnh khác nhau:</p>
<p>Cũng trong một tiếng tơ đồng<br />
Người ngoài cười nụ người trong khóc thầm.</p>
<p>Sau đó Hoạn Thư nguôi ngoai cơn ghen và theo lời Thúc Sinh cho Kiều tu tại Quan Âm Các ở ngay vườn nhà với pháp danh Trạc Tuyền:</p>
<p>Áo xanh đổi lấy Cà Sa<br />
Pháp danh lại đổi tên ra Trạc Tuyền</p>
<p>Nhân dịp Hoạn Thư về nhà vấn an cha mẹ, Thúc Sinh vội tìm gặp Kiều, khuyên Kiều hãy nên cao chạy xa bay:</p>
<p>Liệu mà cao chạy xa bay<br />
Ái ân ta có ngần này mà thôi<br />
Bây giờ kẻ ngược người xuôi<br />
Biết bao giờ lại nối lời nước non<br />
Dẫu rằng sông cạn đá mòn<br />
Con tằm đến thác cũng còn vương tơ</p>
<p>Vừa lúc đó Hoạn Thư xuất hiện, nói là:</p>
<p>Tìm hoa quá bước xem người viết kinh<br />
Nhưng sau đó hỏi hoa tì Kiều được hoa tì cho hay:</p>
<p>Hoa rằng bà đến đã lâu<br />
Nhón chân đứng nép độ đâu nửa giờ</p>
<p>Do đó Kiều hốt hoảng tự nhủ thầm:</p>
<p>Thân ta ta phải lo âu<br />
Miệng hùm nọc rắn ở đâu chốn này</p>
<p>Và Kiều đã trốn khỏi Quan Âm Các vào khoảng canh ba mang theo chuông vàng khánh bạc để phòng thân. Đi miệt vừa rạng sáng thì:</p>
<p>Chuà đâu trông thấy nẻo xa<br />
Rành rành Chiêu Ẩn Am ba chữ bài</p>
<p>Tại dây Kiều đã gặp Sư Trưởng Giác Duyên nói thác là:</p>
<p>Tiểu thiền quê ở Bắc Kinh<br />
Quy sư quy Phật tu hành bấy lâu<br />
Bản sư rồi cũng đến sau<br />
Dạy đưa pháp bảo sang hầu sư huynh<br />
Rày vâng diện hiến rành rành<br />
Chuông vàng khánh bạc bên mình giở ra</p>
<p>Trong thời gian được lưu trú lại chùa Kiều đã:</p>
<p>Kệ kinh câu cũ thuộc lòng<br />
Hương đèn việc trước trai phòng quen tay<br />
Sớm khuya lá bối phiến mây<br />
Ngọn đèn khuê nguyệt tiếng chày nện sương<br />
Thấy nàng thông tuệ khác thường<br />
Sư càng nể mặt nàng càng vững chân</p>
<p>Chẳng may có người tới thăm chùa nói với sư trưởng “chuông vàng khánh bạc sao giống loại chuông vàng khánh bạc đã mất cắp tại chùa nhà Hoạn Thư.<br />
Chờ đêm thanh vắng Giác Duyên hỏi Kiều, Kiều thực tình thưa lại sự tình. Giác Duyên khuyên Kiều hãy sang ở tạm nhà Bạc Bà một Phật tử thường hay lui tới chùa nàỵ<br />
“Ai ngờ Bạc Bà cùng với Tú Bà đồng môn”.</p>
<p>Bạc Bà khuyên Kiều hãy lấy cháu mình là Bạc Hạnh tính tình thực thà, có cửa hàng buôn bán ở Châu Thai, 2 người lấy nhau rồi sẽ trở về Châu Thaị<br />
Ngay phút đầu gặp mặt Kiều đã sinh nghi:</p>
<p>Thiếp như con én lạc đàn<br />
Phải cung rày đã sợ làm cây cong</p>
<p>Quả thực sau này vỡ lẽ: Bạc Hạnh cũng là người buôn người và y đã bán Kiều vào lầu xanh. May thay lần này Kiều gặp được Từ Hải và được Từ Hải chuộc ra khỏi lầu xanh để:</p>
<p>Trai anh hùng gặp gái thuyền quyên<br />
Phỉ Nguyền sánh phượng đẹp duyên cưỡi rồng</p>
<p>Nhưng:</p>
<p>Nửa năm hương lửa đương nồng<br />
Trượng phu thoắt đã động lòng bốn phương</p>
<p>Thế là Từ Hải lại ra đi mong sớm thực hiện chí lớn. Ở lại một mình Kiều nhớ nhà, nhớ các em, nhớ chàng Kim.<br />
Từ Hải đã thành công. Binh tướng cuả Từ Hải tới đón Kiều để làm lễ vu quy. Đây là dịp để Kiều trả ân báo oán. Trước hết Kiều báo ân Thúc Sinh, Giác Duyên…sau đó báo oán: Bạc Hạnh , Bạc Bà, Sở Khanh, Khuyển, Ưng, Tú Bà, Mã Giám Sinh.<br />
Giác Duyên Vì trước đó đã được gặp sư Tam Hợp có tài tiên tri nên khi từ biệt Thúy Kiều đã khẳng định với Kiều là trong 5 năm nữa sẽ lại gặp nhaụ.<br />
Hồ Tôn Hiến thuyết Từ Hải hãy quy hàng triều đình để được hưởng công danh phú quý. Từ Hải không muốn hàng, nhưng Kiều nhẹ dạ cả tin cố thuyết phục Từ Hải. Vì nghe theo Kiều, Từ Hải đã mắc mưu Hồ Tôn Hiến. Từ Hải chết đứng vì uất ức. Kiều gắng xin Hồ Tôn Hiến một mảnh đất để chôn Từ Hải:</p>
<p>Xin cho tiện thổ một đời<br />
Gọi là đắp điếm lấy người tử sinh</p>
<p>Tối hôm đó vào lúc tiệc mừng chiến thắng Hồ Tôn Hiến đã ép Kiều phải vào đánh đàn:</p>
<p>Trong quân mở tiệc hạ công<br />
Xôn xao tơ trúc hội đồng quân quan<br />
Bắt nàng thị yến dưới màn<br />
Dở say lại ép cung đàn nhặt tâu<br />
Một cung gió thảm mưa sầu<br />
Bốn dây nhỏ Máu năm đầu ngón tay<br />
Ve ngâm vượn hót nào hay<br />
Lọt tai Hồ cũng nhăn mày rơi châu</p>
<p>Và Hồ hỏi Kiều có muốn làm lại cuộc đời kết duyên cầm sắc với ai không? Kiều đã trả lời:</p>
<p>Thưa rằng: chút phận lạc loài<br />
Trong mình nghĩ đã có người thác oan<br />
Còn chi nữa cánh hoa tàn<br />
Tơ lòng đã đứt dây đàn Tiểu Lâm<br />
Rộng thương còn mảnh hồng quần<br />
Hơi tàn đuốc thấy gốc phần là may</p>
<p>Đến lúc rạng ngày Hồ Công hối hận việc ép Kiều đánh đàn cho mình nghe hôm trước:</p>
<p>Nghĩ mình phương diện quốc gia<br />
Quan trên nhắm xuống người ta trông vào<br />
Bèn gán ép Kiều cho một người thổ quan:<br />
Kiệu hoa áp thẳng xuống thuyền</p>
<p>Và:</p>
<p>Triều đâu nổi tiếng đùng đùng<br />
Hỏi ra mới biết rằng sông Tiền Đường</p>
<p>Kiều sực nhớ lại lời Đạm Tiên xưa đã nói với mình trong mộng:<br />
Sông Tiền Đường sẽ hẹn hò về sau</p>
<p>Thế là Kiều quyết định ngay:<br />
Thôi thì 1 thác cho rồi<br />
Tấm lòng phó mặc trên trời dưới sông<br />
Trông vời non nước mênh mông<br />
Đem mình gieo xuống giữa dòng Trường Giang<br />
Thổ quan theo vớt vội vàng<br />
Thì đà đắm ngọc chìm hương mất rồi<br />
Trở lại với Giác Duyên, từ thuở giã biệt Kiều để tiếp tục trên đường vân du, Sư bà đã có dịp gặp Tam Hợp đạo cô bèn hỏi Đạo cô về trường hợp của Kiều:</p>
<p>Người sao hiếu nghĩa đủ đường<br />
Kiếp sao rặt những đoạn trường thế thôi</p>
<p>Sư bà được đạo cô cho hay là:</p>
<p>Thúy Kiều sắc sảo khôn ngoan<br />
Vô duyên là phận hồng nhan đã đành<br />
Lại mang lấy một chữ tình<br />
Khư khư mình buộc lấy mình vào trong</p>
<p>Khi thầy Giác Duyên nghe nói rụng rời đạo cô bèn trấn an ngay:</p>
<p>Sư rằng song chẳng hề chi<br />
Nghiệp duyên cân lại nhắc đi còn nhiều<br />
Xét trong tội nghiệp Thúy Kiều<br />
Mắc điều tình ái khỏi đường tà dâm<br />
Lấy tình thâm trả nghĩa thâm<br />
Bán mình đã động hiếu tâm đến trời<br />
Hại một người cứu muôn người<br />
Biết đường khinh trọng biết lời phải chăng<br />
Thửa công đức ấy ai bằng<br />
Túc khiên đã rửa lâng lâng sạch rồi</p>
<p>Như vậy là Kiều đã “đức năng thắng số”. Đạo cô khuyên:</p>
<p>Giác Duyên dù nhớ nghĩa nhau<br />
Tiền đường thả một bè lau rước người</p>
<p>Giác Duyên làm đúng theo lời chỉ dẫn của Tam Hợp đạo cô<br />
Vì vậy đã cứu được Thúy Kiều khi nàng gieo mình xuống sông Tiền Đường và mời Kiều về thảo lư ở với mình:</p>
<p>Một nhà chung chạ sớm trưa<br />
Gió trăng mát mặt muối dưa chay lòng<br />
Bốn bề bát ngát mênh mông<br />
Triều dâng hôm sớm mây lồng trước sau</p>
<p>Trở về chuyện chàng Kim. Chàng ở Liêu Dương nửa năm, khi chàng trở về chốn cũ mới hay Kiều đã bán mình chuộc tội cho cha Vương Quan với Thúy Vân sống nghèo túng, may thuê viết mướn kiếm ăn lần hồi. Ông bà Viên ngoại còn sống. Thấy chàng Kim thương nhớ Kiếu, Vương Ông quyết định vội vàng sắm sưả chọn ngày để:</p>
<p>Duyên Vân sớm đã se dây cho chàng</p>
<p>Sau đó Vương Quan, Kim Trọng thi đỗ. Kim Trọng đi nhậm chức tại Lâm Truy, gặp Thúc Sinh mới hay về chuyện Từ Hải chết đứng. Và Kim Trọng quyết định đi tìm Kiều:</p>
<p>Rắp mong treo ấn từ quan<br />
Mấy sông cũng lội mấy ngàn cũng pha<br />
Dấn mình trong áng can qua<br />
Vào sinh ra tử họa là có nhau<br />
Vừa lúc đó có chiếu vua cải nhận Kim Trọng tới Nam Bình, Vương Quan tới Phú Dương. Hai chàng cùng chuẩn bị lên đường thì vưà hay thế giặc đã tan:</p>
<p>Sóng êm Phúc Kiến lửa tàn Chiết Giang</p>
<p>Và:</p>
<p>Được tin Kim mới rủ Vương<br />
Tiện đường cùng lại tìm nàng sau xưa</p>
<p>Tới Hàng Châu tìm hỏi tin tức mới hay chuyện Từ Hải chết đứng, Thúy Kiều bị ép duyên cho thổ quan đã trầm mình xuông sông Tiền Đường. Thật tội nghiệp: cả nhà vinh hiển riêng oan một nàng! Hai chàng bèn làm lễ chiêu hồn giải oan ngay bên bờ sông Tiền Đường thì may sao:</p>
<p>Cơ duyên đâu bỗng lạ Sao<br />
Giác Duyên đâu bỗng tìm vào đến nơi</p>
<p>Vì gặp Giác Duyên mọi người mới biết Thúy Kiều còn sống. Kiều gặp đủ mặt người thân:</p>
<p>Tưởng bây giờ là bao giờ<br />
Rõ ràng mở mắt còn ngờ chiêm bao</p>
<p>Nhưng khi Vương Ông bảo Kiều hãy theo mọi người cùng về thì Kiều đã thưa lại:</p>
<p>Nàng rằng: Chút phận hoa rơi<br />
Nửa đời nếm trải mọi mùi đắng cay<br />
Tính rằng mặt nước chân mây<br />
Lòng nào còn tưởng có rày nữa không<br />
Được rày tái thế tương phùng<br />
Khát khao đã thỏa tấm lòng lâu nay<br />
Đã đem mình bỏ am mây<br />
Tuổi này gởi với cỏ cây cũng vừa</p>
<p>Mùi thiền đã bén muối dưa<br />
Màu thiền ăn mặc đã ưa nâu sồng<br />
Sự đời đã tắt lửa lòng<br />
Còn chen vào chốn bụi hồng làm chi</p>
<p>Vương Ông vẫn khuyên Kiều hãy quay về xum họp, vì chấp kinh cũng phải tòng quyền rồi:</p>
<p>Độ Sinh nhờ đức cao dày<br />
Lập am rồi sẽ rước Thầy ở chung<br />
Và Kiều đã:</p>
<p>Nghe lời nàng phải chiều lòng<br />
Giã sư giã cảnh đều cùng bước ra</p>
<p>Về tới nhà trong bữa tiệc xum họp nàng Vân tuyên bố là xưa vì nạn nhà mà mối duyên của chị với chàng Kim nàng phải đứng ra thay chị nhưng:</p>
<p>Bây giờ gương vỡ lại lành<br />
Khuôn thiêng lừa lọc đã đành có nơi<br />
Còn duyên may lại còn người<br />
Còn vầng trăng bạc còn lời nguyền xưa</p>
<p>Kiều gạt phắt lời em, vì nghĩ thân mình dãi gió dầm mưa đã nhiều Chàng Kim khăng khăng góp ý với Kiều:</p>
<p>Một lời đã chót thâm giao<br />
Dưới dày có đất trên cao có trời<br />
Dẫu rằng vật đổi sao dời<br />
Tử Sinh cũng giữ lấy lời tử Sinh</p>
<p>Kiều vẫn cương quyết khước từ và thưa thẳng với chàng Kim:</p>
<p>Thiếp từ ngộ biến đến giờ<br />
Ong qua bướm lại đã thừa xấu xa<br />
Bấy chầy gió táp mưa sa<br />
Mấy trăng cũng khuyết mấy hoa cũng tàn</p>
<p>Và nàng đề nghị hãy từ tình duyên đổi sang tình bạn:</p>
<p>Chàng dù nghĩ đến tình xa<br />
Đem duyên cầm sắt ra duyên cầm kỳ</p>
<p>Chàng Kim vẫn cương quyết nói với nàng là chữ trinh kia cũng có ba bảy đường:</p>
<p>Như nàng lấy hiếu làm trinh<br />
Bụi nào cho đục được mình ấy vay<br />
Trời còn để có hôm nay<br />
Tan sương đầu ngõ vén mây giữa trời<br />
Hoa tàn mà lại thêm tươi<br />
Trăng tàn mà lại hơn mười rằm xưa</p>
<p>Cả Vương Ông, Vuơng Bà cùng chàng Kim dồn Thúy Kiều vào thế hết lời khôn lẽ chối lời</p>
<p>Cúi đầu nàng những ngắn dài thở than<br />
Và nàng chịu làm lễ đủ đôi với chàng.</p>
<p>Nhưng đêm hôm đó trong phòng chỉ còn riêng hai người nàng mới thỏ thẻ nói lại với chàng lý lẽ của mình. Em Vân đã thay nàng trả nợ tình xưa, còn mình thì:</p>
<p>Chữ trinh còn một chút này<br />
Chẳng cầm cho vững lại giày cho tan<br />
Còn nhiều ân ái chan chan<br />
Hay gì vẫy cánh hoa tàn mà chơi</p>
<p>Sau cùng Kim Trọng hoàn toàn đồng ý với nàng đem duyên cầm sắt ra duyên cầm kỳ. Chàng cũng khẳng định là</p>
<p>Bấy lâu đáy bể mò kim<br />
Là nhiều vàng đá phải tìm trăng hoa<br />
Ai ngờ lại họp một nhà<br />
Lọ là chăn gối mới ra sắt cầm</p>
<p>Và Kiều đã sửa áo cài trâm khấn đầu lạy tạ Chàng Kim:</p>
<p>Thân này gạn đục khơi trong<br />
Là nhờ quân tử khác lòng người ta</p>
<p>Sau đó Kim Trọng lại yêu cầu cho nghe lại tiếng đàn xưa của nàng. Nàng thuận tình chiều ý chàng nhưng lần này thì</p>
<p>Khúc đâu đầm ấm dương hòa<br />
Ấy là hồ điệp hay là Tráng sinh<br />
Khúc đâu êm ái xuân tình<br />
Ấy hồn Thục đế hay mình Đỗ Quyên<br />
Trông sao châu nhỏ duềnh quyên<br />
Ấm sao hạt ngọc Lam Điền mới đông<br />
Thúy Kiều cũng không quên<br />
Nhớ lời lập một am mây<br />
Khiến người thân tín rước Thầy Giác Duyên</p>
<p>Nhưng:</p>
<p>Đến nơi đóng cửa cài then<br />
Rêu trùm kẽ ngạch cỏ lên mái nhà<br />
Sư đà hái thuốc phương xa<br />
Mây bay hạc lánh biết là tìm đâu<br />
Nặng vì chút nghĩa bấy lâu<br />
Trên am cứ giữ hương dầu hôm mai</p>
<p>Thúy Kiều tiếp tục cuộc sống thảnh thơi hạnh phúc của kẻ đã trả nợ xong nghiệp cũ:</p>
<p>Một nhà phúc lộc gồm hai<br />
Nghìn năm dằng dặc quan giai lần lần<br />
Thừa ai chẳng hết nàng Vân<br />
Một cây cù mộc một sân quế hòe</p>
<p>Và Nguyễn Du đã kết thúc Truyện Kiều với những lời thơ đề cập tới chữ tài, chữ mệnh , chữ tâm, thiện căn và nghiệp nơi con người:</p>
<p>Ngẫm hay muôn sự tại trời<br />
Trời kia đã bắt làm người có thân<br />
Bắt phong trần phải phong trần<br />
Cho thanh cao mới được phần thanh cao<br />
Có đâu thiên vị người nào<br />
Chữ tài chữ mệnh dồi dào cả hai<br />
Có tài mà cậy chi tài<br />
Chữ tài liền với chữ tai một vần<br />
Đã mang lấy nghiệp vào thân<br />
Cũng đừng trách lẫn trời gần xa<br />
Thiện tâm ở tại lòng ta<br />
Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài<br />
Lời quê chắp nhặt dông dài<br />
Mua vui cũng được một vài trống canh</p>
<p>Như vậy là đọc lại từ đầu đến cuối Truyện Kiều, chúng ta thấy cụ Tiên Điền đã 6 lần đề cập đến đạo Phật hoặc qua nhân vật hoặc qua tình tiết truyện.<br />
Lần thứ nhất: Khi Kiều dùng dao tự vẫn trước Tú Bà, trong cơn ngất bằn bặt Kiều đã được Đạm Tiên báo cho hay:</p>
<p>Rỉ Rằng: Nhân quả dở dang<br />
Đã toan trốn nợ đoạn truờng được sao<br />
Số còn nặng nợ má đào<br />
Người dù muốn quyết trời nào đã cho<br />
Hãy xin hết kiếp liễu bồ<br />
Sông Tiền Đường sẽ hẹn hò về sau</p>
<p>Như vậy là lần thư nhất này qua lời báo mộng của Đạm Tiên , Nguyễn Du đã đề cập đến luật nhân quả và chữ nghiệp cuả nhà Phật<br />
Lần thứ hai: Khi biết Thúc Sinh “vườn mới thêm hoa” (gian díu với Thúy Kiều), Hoạn Thư đã:</p>
<p>Lửa tâm càng dập càng nồng<br />
Trách người đen bạc ra lòng trăng hoa</p>
<p>Hai chữ lửa tâm trên đây cũng đượm phần giáo lý cuả Nhà Phật<br />
Lần thứ ba: Khi Thúc Sinh trở lại Lâm Truy bằng đường bộ để gặp lại Thúy Kiều thì Hoạn Thư đã sai lũ gia nhân đi bằng đuờng biển gần hơn bắt Thúy Kiều<br />
Trong khi đó với Kiều khi chưa bị lũ gia nhân cuả Hoạn Thư tới bắt thì</p>
<p>Đêm thu gió lọt song đào<br />
Nửa vành trăng khuyết ba sao trên trời<br />
Nén hương đến trước Phật đài<br />
Nỗi lòng khấn chửa cạn lời vân vân</p>
<p>Theo lời bàn xưa thì hình ảnh “nửa vành trăng khuyết ba sao trên trời cũng là gián tiếp nhắc đến chữ Tâm của đạo Phật<br />
Lần thứ tư: Khi Kiều đã bị bán mình cho Mã Giám Sinh tay sai của Mụ Tú Bà, tới đây Nguyễn Du qua lời Đạm Tiên nói với Thúy Kiều đã đề cập tới Luật nhân quả và chữ Nghiệp trong đạo Phật:</p>
<p>Rỉ Rằng: Nhân quả dở dang<br />
Đã toan trả nợ đoạn trường được sao<br />
Số còn nặng nghiệp má đào<br />
Nàng đà muốn quyết trời nào đã cho</p>
<p>Lần thứ năm: Khi Kiều trầm mình xuống sông Tiền Đường nàng được sư bà Giác Duyên cứu sống và Kiều đã theo về thảo lư chung sống với sư bà.<br />
Lần thứ sáu: Với sáu câu sau cùng cuả Truyên Kiều cụ Nguyễn Du đã dùng đến chữ Nghiệp và chữ Tâm cuả Nhà Phật để hàm ý khuyên chúng ta một nếp sống tâm linh lành mạnh:</p>
<p>Đã mang lấy nghiệp vào thân<br />
Cũng đừng trách lẫn trời gần trời xa<br />
Thiện căn ở tại lòng ta<br />
Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài<br />
Lời quê chắp nhặt dông dài<br />
Mua vui cũng được một vài trống canh.</p>
<p>Nam Mô Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni,</p>
<p><strong><em>(Bài viết của Giáo sư Doãn Quốc Sỹ cho chương trình chuyên đề của</em></strong><em><br />
</em><strong><em>Phật Học Ðường Vạn Hạnh Online)</em></strong></p>
<p>&nbsp;</p>
<h3><strong>Chiếc chiếu hoa cạp điều</strong><strong></strong></h3>
<p>Quê tôi cách Hà Nội chừng 5 cây số. Khi cuộc kháng chiến toàn quốc bùng nổ thì gia đình tôi tản cư lên Nhã Nam thuộc huyện Yên Thế, Bắc Giang. Đến năm 1948 khi cậu tôi từ Vĩnh Yên lên thăm chúng tôi lần đầu thì toàn thể gia đình chúng tôi ai nấy đều có màu da nửa vàng nửa xám xịt vì sốt rét rừng.<br />
&#8211; Anh chị phải cho các cháu tản cư về mạn dưới như chúng tôi &#8211; lời cậu tôi nói với thầy mẹ tôi &#8211; chứ cứ như thế này thì không chết cũng chẳng còn ra hồn người nữa.<br />
Sau ngót hai năm tản cư gia đình tôi khánh tận rồi. Có lẽ vì nghĩ vậy nên thầy mẹ tôi tìm cách nói thác:<br />
&#8211; Ngày xưa vùng Yên Thế Thượng này độc nhưng nay vì có nhiều người lên khai phá nên khí hậu cũng không đáng ngại lắm.<br />
Cậu tôi không chịu:<br />
&#8211; Anh chị về Vĩnh Yên gần chúng tôi cho có anh có em, vừa tránh được nạn sốt rét rừng vừa có cơ buôn bán khá. (Dạo đó Vĩnh Yên còn là cửa ngõ của việc thông thương giữa Liên khu III với Bắc Việt).<br />
Rồi cậu tôi về Vĩnh Yên. Hai tháng sau người lại lên, nhất quyết đón gia đình tôi xuôi, nói là nơi ăn chốn ở đã thu xếp đâu vào đó cả.<br />
Thế là gia đình tôi xuôi Vĩnh Yên, còn một mình tôi ở lại Sở Thông Tin Liên khu I. Công tác của tôi là đi tuyên truyền mười điều kháng chiến trong toàn huyện Yên Thế. Vì lưu động như vậy nên tôi cũng quên đi nỗi buồn gia đình phân cách đôi nơi. Nỗi buồn đó chỉ đến thắc mắc lòng tôi mỗi khi trở về trụ sở kiểm điểm công tác. Trụ Sở Thông Tin ở một làng bên tả ngạn sông Thương, gần một bến đò đẹp vào bậc nhất Bắc Giang, bến đò Lục Liễu. Để tăng phần thơ mộng cho cái tên đó tôi vẫn thường dịch nôm là &#8220;Bến đò liễu xanh&#8221;.<br />
Thư của em tôi tới báo cho hay gia đình đã tới tản cư cùng làng với gia đình cậu mợ tôi. Làng đó ở ngay bến Rau, bên này là Vĩnh Yên, bên kia là Sơn Tây rất thuận tiện cho việc buôn bán.<br />
Rủi thay, thầy mẹ tôi vừa đến Vĩnh Yên thì quân Pháp mở chiến dịch càn quét khắp vùng Sơn Tây rồi thiết lập thêm đồn quân dọc theo hữu ngạn sông Hồng từ Sơn Tây ngược lên đến Việt Trì. Các ngả đường giao thông với Liên khu III đều bị quân Lê Dương phục kích ráo riết.<br />
Cậu tôi đã rơi vào ổ phục kích của chúng, dấn vốn khánh tận may thoát được người. Mẹ tôi phải ngừng chuyện buôn bán.<br />
Nghe nói làng N.H. bên hữu ngạn sông Đáy gần chân dãy núi Tam Đảo là một làng trù mật, chuyên bán đỗ, gia đình tôi bèn chuyển đến đây theo sáng kiến của mẹ tôi. khi tới nơi, mẹ tôi mới thấy rằng mình đã nhầm. Trước đấy một năm thì địa điểm này buôn bán được vì hầu như dân chúng toàn hạt Vĩnh Yên đổ xô về để tránh Pháp tấn công, nhưng nay, tình hình tạm yên ai nấy trở về chốn cũ, địa điểm N.H. trở lại chốn trầm mặt của chốn chuyển tiếp giữa vùng trung du bên dưới với vùng đèo heo hút gió bên trên.<br />
Vừa lúc đó tôi xin thôi ở sở Thông Tin về.<br />
Mẹ tôi mừng lắm vì người vẫn thường nói: &#8220;Thời loạn lạc gia đình nên gần nhau nhỡ có thế nào&#8230;&#8221;. Hình như trong óc người &#8211; có thể nói trong óc mỗi người trong gia đình tôi &#8211; đều luôn luôn lo sợ cảnh một người bị chết vì bom đạn rồi mất xác vì gia đình không kịp biết để nhìn nhận. Niềm vui đoàn tụ giúp chúng tôi bớt buồn nản khi thu xếp gồng gánh trở lại huyện Yên Lạc. Lần này gia đình tôi không dám ở gần bến đò Rau nữa vì sợ phi cơ oanh tạc, mà ở một làng cách huyện Yên Lạc chừng gần một cây số. Gia đình cậu tôi ở ngay làng bên. Lẽ cố nhiên cả hai gia đình chúng tôi cùng nghèo túng lắm, nghèo túng đến nỗi cậu mợ tôi, thày me tôi cũng không dám sang nhà thăm nhau, chỉ chiều chiều ra gặp nhau trên quãng đường đá nối huyện Yên Lạc với bến đò Rau.<br />
Tôi gặp lại người yêu cũ từ Phủ Lý (Khu III) chạy lên. Chúng tôi thành vợ chồng, tuy có ký giấy tờ tại Ủy Ban Kháng Chiến Hành Chính Huyện &#8211; cậu mợ tôi là những người làm chứng &#8211; nhưng đám cưới hoàn toàn êm ả, y như một đám cưới vụng trộm.<br />
Em gái lớn tôi xoay đi buôn gạo, ngày ngày kĩu kịt đi về 20 cây số kiếm chút lãi. Ở Yên Thế tuy bị sốt rét nhưng nhà ở giữa rừng ít lo bị địch tấn công bất ngờ; tuy cũng nghèo túng nhưng còn có đất rộng để tăng gia rau cỏ và nuôi được lợn gà.<br />
Về đây những buổi ăn cháo ngô trừ bữa, mẹ tôi thường có ý khép cửa giữa lại.<br />
Em gái tôi đã phải đi chợ thật xa để đong gạo rẻ mà rồi tính ra lời lãi cũng chẳng được là bao. Các cụ giải thích hiện tượng kinh tế này bằng câu: &#8220;Thóc gạo có tinh&#8221;, mẹ tôi làm tương gánh đi các chợ xa bán để kiếm thêm. Vợ tôi tạng người yếu nhưng khéo tay, không làm được việc nặng, nàng phụ trách những việc nhẹ như rang đỗ tương, ủ mốc, pha muối vào nước tương&#8230;<br />
Dạo đó trường Luật mở ở gần chợ Me (Vĩnh Yên), tôi có ghi tên theo học nốt năm thứ ba hy vọng ngày thành tài sẽ ra thẩm phán, đồng lương họa có cao để giúp gia đình. Vì hoàn cảnh kháng chiến các giáo sư thường từ nơi xa lại trường sở dạy liền trong mấy ngày, sau đó sinh viên tự tìm tài liệu nghiên cứu thêm. Có khi thời gian nghiên cứu lấy dài hơn một tháng mới có giáo sư mới. Tôi triệt để lợi dụng khoảng cách này để bon về giúp đỡ gia đình những công việc nặng.<br />
Mùa đông năm đó rét lạ lùng. Gió hun hút giật từng cơn buốt như dao cắt từng mảnh thịt hở, thế mà hôm nào mẹ và em gái tôi cũng phải dậy từ bốn giờ rưỡi sáng để sửa soạn gồng gánh ra đi. Quần áo và chăn chiếu của gia đình tôi thiếu mất nhiều. Thằng em thứ ba của tôi có được cái chiếu rách mướp vừa nằm vừa đắp, chân thò ra ngoài thì nó lấy rơm phủ lên.<br />
&#8211; &#8220;Ấy cứ thế mà ấm ra phết anh ạ&#8221; &#8211; Nó vừa cười khoái trí vừa nói với tôi như vậy.<br />
Các em trai em gái tôi đã lớn cả, chúng tôi hầu như thường thi đua trong việc nhường nhịn nhau. Mẹ tôi chỉ còn thắc mắc về thằng em út của tôi. Nó còn nhỏ tuổi quá chưa thể tìm nguồn vui ở tinh thần để quên đói rét. Tương đối với cả nhà nó được mặc lành nhất. Nó mặc cái áo đỏ chót có những vệt chữ nho đen và những đường kim tuyến (nguyên đó là chiếc câu đối người ta phúng bà tôi hồi chưa tác chiến). Câu đối đỏ thì may áo, còn nẹp sa teng vàng mẹ tôi cố gạn may thêm cho nó chiếc áo di-lê. Chúng tôi gọi đùa nó là &#8220;anh cờ đỏ sao vàng&#8221;. Đêm đến rét quá không đủ chăn ấm, nó thường khóc khậm khạch. Chỉ cần có thêm đôi chiếu nữa thì cả nhà đủ ấm.<br />
&#8211; &#8220;Chiếu cói kỵ gió&#8221;. &#8211; Mẹ tôi bảo thế.<br />
Nhưng đến ăn còn chẳng đủ làm sao chúng tôi mua được đôi chiếu bây giờ?<br />
Hôm đó suốt từ sáng sớm đến trưa phi cơ bay từng đoàn bắn phá và dội bom liên tiếp xuống các chợ lân cận: chợ Me, chợ Vàng, chợ An Lạc&#8230; Mọi ngày chỉ khoảng bốn giờ chiều mẹ tôi có mặt ở nhà. Ngày đó giời đã xế chiều mà người vẫn chưa về. Toàn thể gia đình tôi bắt đầu sốt ruột tuy không ai nói một câu.<br />
Chiều ngả màu xẫm. Gió bấc rít trong bụi tre già làm nền cho tiếng khàn khàn của lũ quạ lục đục trong ổ, gió bấc xoáy từng vòng cuồng loạn dứt từng vốc lá tre, lá bưởi vàng úa rồi lại nhào vút mất hút ra ngoài cánh đồng bát ngát hiu quạnh.<br />
Mẹ tôi vẫn chưa về.<br />
Trong óc tôi thoáng hiện những cảnh chợ bị phi cơ tàn phá, những hình người không kịp xuống hầm bị đạn chết gục bên cột lều tay còn quờ ôm những đồ hàng của mình, những hình người bị bom napalm thiêu rụi như những thân chuối cháy đen&#8230; Và tôi vùng ra cổng.<br />
Thày tôi biết ý hẹn với:<br />
&#8211; Con cứ thẳng đường ra bến Rau. Mẹ con thường về đường ấy.<br />
Ra tới cổng làng, tôi đi như bay theo đường đã định, cổ họng nghẹn ngào, dạ cồn lên như lửa đốt. Con đường như rộng thênh thang, cánh đồng ngập trong bóng chiều xẫm và trong gió bấc, càng trở thành mênh mông. Tôi vun vút nhảy qua các hố phá hoại mà đi như một bóng ma cô độc đương muốn biến theo luồng gió.<br />
Từ xa như có bóng người đi lại. Chắc người đó ở chợ Rau về. Để tôi phải hỏi tin tức về việc phi cơ oanh tạc hôm nay.<br />
Hình như trên đòn gánh người đó có vắt ngang một cái gì.<br />
Tôi lướt vội lên. Trời ơi, mẹ tôi!<br />
Hai mẹ con mừng mừng tủi tủi như gặp nhau ở cửa âm ti.<br />
Tôi hỏi: &#8220;Sao mẹ về muộn thế, cả nhà lo tưởng phát điên lên&#8221;. Mẹ tôi cho biết hàng hôm nay bán ở chợ không hết, người phải đi sâu vào một vài làng lân cận để bán nốt. Rồi khi xuống khỏi đê, qua cái lạch lớn, thấy có chiếc chiếu trôi, vội tìm cách vớt lên và giặt luôn bên lạch. Đó là chiếc chiếu còn khá tốt tuy chiều rộng bị xén đi mất một phần ba.<br />
Mẹ tôi chỉ vào chiếc chiếu phơi trên đòn gánh nói:<br />
&#8211; Về đến nhà thì chiếu vừa khô con ạ. Tối hôm nay thằng Tư &#8211; tên thằng em út tôi &#8211; có chiếu đắp ấm.<br />
&#8211; Mẹ ơi, &#8220;giàu con út, khó con út&#8221;, mẹ chẳng để ý gì đến chúng con, chỉ chăm chút cho chú Tư thôi.<br />
Mẹ tôi đi trước, gió ngược chiều nên tiếng tôi mất hút về phía sau. tuy nghe tiếng được tiếng không nhưng mẹ tôi vẫn hiểu câu nói đùa. Người vừa giữ cái chiếu vừa quay nhìn tôi mỉm cười.<br />
Tối hôm đó khi đi ngủ thằng chú Tư được mẹ tôi đắp cho chiếc chiếu vớt ở lạch. Chân nó thò ra một tí khiến tôi nhận thấy chiếc bí tất cũ vàng xỉn của tôi, chỗ đầu rách được buộc túm lại để các ngón chân xinh của nó khỏi &#8220;thoát ly&#8221; ra ngoài.<br />
Dạo đó chỉ còn một tháng nữa là tết. Tôi lại có dịp tạm rời trường Luật, đợi đến qua giêng mới có giáo sư. Tôi về vừa đúng lúc gia đình đương cần nhân công xay thóc giã gạo. Dấn vốn của gia đình tôi còn đong được năm nồi thóc. Dùng số tiền đó làm tiền đặt mẹ tôi có thể đong về được tám nồi. Theo như mẹ tôi phác tính mỗi nồi thóc làm, được lợi ít ra là hai ca gạo, vị chi với tám nồi thóc, chúng tôi sẽ lợi ít nhất là một nồi rưỡi gạo. Cứ như vậy mà đủ việc liền trong một tháng, nghĩa là vừa đến tết, thì chúng tôi có thừa tiền đong gạo nếp gói bánh chưng và mua thịt cá để đón một mùa xuân kháng chiến tương đối huy hoàng.<br />
Chúng tôi ngoại giao ổn thỏa với các nhà có cối xay cối giã rồi bắt đầu vào việc. Thầy tôi trông nom mấy đứa nhỏ sửa soạn cơm nước. Tôi và thằng em giai xay thóc trong khi mẹ tôi điều khiển vợ tôi và cô em gái sàng gạo. Xay hết thóc chúng tôi đã có gạo đem đi giã, giã đến đâu mẹ và em tôi sàng tấm sẩy cám đến đấy. Trong khi xay thóc tôi nhẩm ôn các đạo luật, các án lệ để sửa soạn kỳ thi cuối niên khóa. Khi giã gạo với vợ, tôi cùng nàng thủ thỉ xây mộng tương lai. Ngày kháng chiến thành công hẳn chúng tôi đã có những đứa con kháu khỉnh, đã trở về quê hương dựng lại căn nhà xinh, sống tự do bình dị trong tổ ấm gia đình.<br />
Ngày đầu chúng tôi làm được tám nồi thóc với số gạo dư là hai nồi. Một cụ già ở đấy gật gù nói: &#8220;Vạn sự xuất ư nho, đúng thật. Học trò thì cái gì cũng làm được. Cứ bảo người Hà nội không chịu được lam lũ!&#8221;. Ngày hôm sau có tin quân Pháp đánh lên Vĩnh yên. Những người có thóc giữ lại. mẹ tôi phải vất vả lắm mới mua được bằng giá khá cao sáu nồi thóc để chúng tôi có việc làm.<br />
Quân Pháp chiếm Vĩnh Yên. Tiền Hồ Chí Minh sụt giá vùn vụt. Vẫn số tiền cũ giờ đây chưa chắc mẹ tôi đã mua nổi bốn nồi thóc. Quân Pháp theo sông đào tiến lên chiếm chợ Me. Dân chúng xao xác chuẩn bị chạy. Số tiền trong tay mẹ tôi hầu trở thành giấy lộn. Chúng tôi ăn một bữa quà bánh đúc, lúc giả tiền thấy vợi hẳn túi. Viễn ảnh những ngày đầu xuân có gạo nếp, có thịt gà, thịt lợn bị giập vùi trong khói súng và biến thành một điểm mong manh chết đuối giữa cảnh tàn phá rùng rợn của bom đạn tơi bời cha lạc con vợ lạc chồng, anh em tán loạn mỗi người một phương.<br />
Dạo đó tuy đã có phong trào &#8220;rèn cán chỉnh cơ&#8221; nhưng chưa có cố vấn Tàu, chưa có chính sách &#8220;ba cùng&#8221;, học tập đấu tố nên mặc dầu kinh tế nguy ngập ai nấy vẫn tin tưởng ở ngày mai huy hoàng của dân tộc, tin tưởng ở thắng lợi cuối cùng dưới sự lãnh đạo sáng suốt của già Hồ (như lời tuyên truyền phát thanh chiều chiều).<br />
Sang hạ tuần tháng chạp, suốt ngày mưa phùn gió bấc lạnh như cắt ruột. Không hiểu là vì rét nhiều hơn hay là vì chúng tôi đã bắt đầu giảm khẩu phần! Chiếc chiếu mẹ tôi vớt ở lạch đắp cho thằng em út đã rách xơ xác. Trong khi gia đình tôi giật gấu vá vai tìm cách nhường nhau miếng cơm manh chiếu thì xảy cuộc hỗn chiến giữa quân đội Pháp và quân đội Kháng Chiến ở chân núi Tam Đảo. Để giữ vững ưu thế quân sự về mình tại mặt trận Vĩnh Yên. Tướng Pháp De L. quyết định hy sinh đoàn quân hắn, và hạ lệnh cho thả bom tận diệt đôi bên.<br />
(Trong cái điên ba của một cuộc thế lọc lừa phản trắc, người ta dày xéo lên tình người, điềm nhiên hy sinh xương máu đồng bào đồng loại nơi này cho quyền lợi thực dân, nơi kia cho học thuyết giai cấp. Tôi không ghê tởm những bộ mặt lãnh tụ như chúng sao được?)<br />
Từ chân núi Tam Đảo quân Pháp đánh tỏa ra ba mặt, đồng thời từ hữu ngạn sông Hồng, một toán Lê Dương vượt sang càn quét bến Rau ở tả ngạn. Dân chúng từ bốn mặt chạy về huyện Yên Lạc, đổ xô vào các làng. Mẹ tôi bèn thổi cơm hàng gánh đến bán cho họ. Trong số rất đông các người ở làng Rau mang đồ đạc chạy đến làng Lũng Thượng, có gia đình ông Lý Cựu vốn là bà con với ông chủ nhà nơi tôi tản cư. Ông Lý nói chuyện với thầy tôi rất tương đắc nhất là khi ông biết tôi đương học trường luật thi ra thẩm phán.<br />
Ông nói:<br />
&#8211; Tôi có thằng cháu năm nay lên sáu; giời cho làm người, sau này kháng chiến thành công, tôi nhất định sẽ gởi cháu lên Hà Nội phiền ông bà và cậu Cả trông nom giúp cho thành thân người.<br />
Quân Pháp sau khi từ chợ Me vượt qua sông Đáy tiến sâu vào huyện Lập Thạch đốt phá một ngày rồi rút lui về tỉnh. Cánh quân tiến sang tả ngạn sông Hồng đốt phá bến đò Rau cũng rút lui về vị trí cũ bên hữu ngạn. Dân chúng chạy loạn lục tục đâu trở về đấy ngay để còn kịp sửa soạn tết.<br />
Làng Lũng Thượng trở lại yên tĩnh.<br />
Trưa hôm đó mẹ tôi ra phía bụi tre đầu nhà thấy cong queo dưới hầm trú ẩn một chiếc chiếu hoa cạp điều. Đúng là chiếc chiếu của một gia đình chạy loạn nào khi về mừng quá bỏ quên.<br />
Mẹ tôi nói: &#8220;Thôi thế cũng là giời thương mà cho nhà mình!&#8221;<br />
Đã lâu lắm, đêm đó tôi mới thấy thằng em út tôi có chiếc chiếu đắp kín chân không trông thấy đôi bí tất buộc túm chỗ rách. Sáng ra, mẹ tôi cẩn thận gấp chiếu rồi vắt lên chiếc giây thừng căng cao ngang mái nhà. Thế là từ đây đêm đêm nghe tiếng gió rít và những hạt mưa táp vào đầu hồi tôi cũng yên chí cho các em đã tạm đủ chiếu nằm, chiếu đắp. Hai ngày sau, tới buổi sớm ba mươi tết, khi sực tỉnh, tôi thấy không khí trong làng có vẻ tưng bừng hơn vì những tiếng bàn tán xôn xao xen với tiếng cười ròn rã ngoài đường xóm. Tôi vùng dậy ra thẳng ngõ. Trời tuy lạnh ngọt nhưng quang đãng và êm ả vô cùng. Tôi gặp mọi người mắt ai nấy sáng sáng ngời tin tưởng. Thì ra ở khắp các tường làng đều đã kẻ khẩu hiệu: &#8220;Chuẩn bị tổng phản công&#8221;.<br />
Đồng bào thủ đô bàn nhau ngày về nhận nhà nhận cửa, đồng bào địa phương hơi có vẻ ngậm ngùi tưởng như giờ phút chia tay đã điểm. Buổi trưa hôm đó ông Lý Cựu từ làng Rau mang theo vài thứ xa xỉ phẩm làm quà biếu ông chủ nhà vào dịp tết. Ông Lý Cựu có xuống căn nhà dưới thăm thầy tôi. Câu chuyện vừa xong phần xã giao thường lệ thì ông ngửng nhìn thấy chiếc chiếu hoa cạp điều vắt ở giây thừng, ông đứng nhỏm dậy chạy lại kéo tuột xuống nói gọn:<br />
&#8211; Chiếc chiếu này của tôi<br />
Mẹ tôi chợt có một cử chỉ phản ứng của một người mẹ gìn giữ con trong cơn nguy biến.<br />
Người nói:<br />
&#8211; &#8220;Ấy chiếc chiếu đó của nhà tôi&#8230;&#8221;<br />
Mẹ tôi vốn là một Phật tử trung thành. Người chỉ nói được đến đấy thì lương tâm Phật tử trở lại và người lúng túng quay nhìn ra ngõ.<br />
Ông Lý Cựu thản nhiên gấp chiếu lại, cắp gọn nách rồi thản nhiên nói:<br />
&#8211; Không, chiếc chiếu của tôi. Tôi mua đôi chiếu cặp điều từ năm mới tác chiến, một chiếc còn trên kia.<br />
Thì ra đôi chiếu đó, ông Lý mang đến gửi ông chủ nhà trong dịp vừa qua, rồi những người đến chạy loạn tự động mượn đem ra giải ở bụi tre nghỉ tạm, lúc về vì chiếu rơi xuống hầm trú ẩn nên họ quên không trả lại chỗ cũ.<br />
Tuy chỉ một thoáng qua nhận biết sự thể là vậy nhưng tôi vẫn chưa chịu và tiếp lời mẹ tôi:<br />
&#8211; Chiếc chiếu này mẹ mua của một người ở chợ Lầm. (Ý tôi muốn nói người đó lấy chiếc chiếu ở đây mang ra chợ Lầm bán).<br />
Ông Lý vẫn thản nhiên, thản nhiên một cách cương quyết:<br />
&#8211; Không, chiếc chiếu này của tôi.<br />
Rồi ông cắp chiếu đi thẳng lên nhà. Lúc đó tôi cũng vừa trở lại với tôi để nhớ ra rằng cuối năm nay tôi đã thi xong, có thể ra làm thẩm phán. Tôi thoáng nghe phía sau tiếng vợ tôi thở dài rồi quay vào buồng.<br />
Tối hôm đó khi thấy tôi lấy chiếc chiếu rách cũ vớt ở lạch đắp cho thằng em út, mẹ tôi chép miệng nói khẽ:<br />
&#8211; Thôi, sang giêng trời bắt đầu ấm, vả lại cũng sắp tổng phản công rồi!<br />
&#8220;Vả lại cũng sắp tổng phản công rồi!&#8221; &#8211; mẹ tôi nghĩ thật chí lý. Tổng phản công để bờ cõi được vinh quang độc lập, để mọi người được trở về dựng lại quê hương yên vui.<br />
Tôi hiểu khi đó hầu hết các gia đình khác cũng như chúng tôi, chịu đựng bao nhục nhằn với những phút sa ngã nhỏ như chuyện chiếc chiếu hoa cạp điều. Tất cả những hy sinh đó &#8211; kể cả hy sinh một chút danh dự cho sự yếu đuối thường tình của con người &#8211; tuy dằn vặt, ray rứt mà không tàn phá nổi niềm vui trong sáng, thanh thản của tâm hồn, vì ai nấy vẫn sống ngợp hy vọng một ngày mai vinh quang. Sớm mùng một năm đó mẹ tôi ra chùa lễ. Người quỳ rất lâu trước bàn thờ Phật. Giọng người thành kính thiết tha cầu đức Phật phù hộ cho chóng trở lại ỵên bình, gia đình được qua thì đói khỏi thì loạn. Tiếng người khấn đôi khi nức nở. Tôi nghe nước mắt như muốn trào ra.</p>
<p>Cộng sản dìm nhân loại trong thiếu thốn để chứng minh nguyên lý &#8220;Vật chất quyết định hết thảy&#8221;. Chúng lầm! Con người càng từng trải cảnh thiếu thốn vật chất, niềm tin và đạo đức càng được hun đúc và tình cảm thêm dạt dào. Sau này khi về vùng quốc gia, rồi di cư vào Nam tôi còn trải qua nhiều gian lao nghèo túng và nhiều lần bị khinh rẻ, nhưng dù nghèo túng đến đâu, dù bị khinh rẻ đến đâu, điều đau nhục nhất với tôi vẫn là chuyện chiếc chiếu hoa cạp điều, tuy thực tình câu chuyện chỉ giản dị có vậy. Cách đây ít lâu khi mua được đôi chiếu hoa Phát Diệm ở đường Hai mươi về giải lên phản cho con nằm, tôi thấy vợ tôi chợt úp mặt vào hai bàn tay trước bàn gương. Có lẽ nàng nghĩ đến câu chuyện chiếc chiếu hoa cạp điều khi xưa.</p>
<p>Chuyện đó như biến thành chiếc phao xẫm màu, bất chấp mọi giông tố vẫn nổi lềnh bềnh trên biển, biển thời gian của đời, biển kỷ niệm của hồn. Cũng kể từ sau ngày xảy chuyện đó, thái độ tôi đối với người đời khác xưa nhiều. Tôi thận trọng tránh mọi thái độ hẹp hòi, kiêu ngạo, ích kỷ, sắc cạnh. Lòng dễ xúc động, tôi thương người như thương chính thân mình vậy. Tôi thương những em nhỏ sớm phải lăn lưng vào cuộc đời để tự nuôi sống, tôi thương những người đói khát ham ăn ham uống, tôi thương những hình ảnh lam lũ một sương hai nắng, những hình ảnh giật gấu vá vai, tôi thương những kẻ thù dân tộc hôm qua, ngày nay thất thế ngơ ngác đi giữa kinh thành. Ở thế giới thực dân tư bản người ta tung vật chất ra để giam lỏng linh hồn, ở thế giới thực dân cộng sản, người ta phong tỏa vật chất để mua rẻ linh hồn. Cả hai cùng thất bại! Linh hồn nhân loại chỉ có thể mua được bằng tình thương yêu rộng rãi và chân thành.<br />
Thấy tôi hằng kiềm chế được nóng giận và nhất là vẫn mỉm cười, khi ứa nước mắt các bạn bè thân thường khen tôi có thái độ hồn nhiên của Trang Chu.<br />
Các bạn yêu quý của tôi! Các bạn có ngờ chăng thái độ hồn nhiên đó là kết quả của biết bao cảnh cơ hàn mà tôi và những người thân của tôi đã trải qua…</p>
<p>Trong đó có chuyện Chiếc chiếu hoa cạp điều!</p>
<h4>Dõan Quốc Sĩ</h4>
]]></content:encoded>
					
					<wfw:commentRss>https://t-van.net/ng%e1%bb%99-khng-tc-gi%e1%ba%a3-tc-ph%e1%ba%a9m-dan-qu%e1%bb%91c-si/feed/</wfw:commentRss>
			<slash:comments>0</slash:comments>
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Hoàng Thị Bích Hà: MẶC THẾ NHÂN -NGƯỜI KỂ CHUYỆN TÌNH BẰNG ÂM NHẠC</title>
		<link>https://t-van.net/hoang-thi-bich-ha-mac-the-nhan-nguoi-ke-chuyen-tinh-bang-am-nhac/</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[Hoàng Thị Bích Hà]]></dc:creator>
		<pubDate>Tue, 19 Aug 2025 09:32:00 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Góc Văn]]></category>
		<category><![CDATA[tác giả tác phẩm]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://t-van.net/?p=82949</guid>

					<description><![CDATA[Nhạc sĩ Mặc thế Nhân (Ảnh: Tác Giả gởi) Nén tâm hương tưởng nhớ nhạc sỹ Mặc Thế Nhân (1939-2025) “Xin trả tôi về ngày xưa thơ mộng đóBên mái tranh chiều, ngồi ngắm áng mây trôiMẹ quê đun bếp nghèo, thơm mùi rơm qua khói mờÔi tình quê trìu mến.Xin trả tôi về miền [&#8230;]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<div class="wp-block-image">
<figure class="aligncenter size-full is-resized"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2025/08/mac-thn.jpg?strip=all&w=2560"><img loading="lazy" decoding="async" width="300" height="386" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2025/08/mac-thn.jpg?strip=all" alt="" class="wp-image-82954" style="width:360px;height:auto" srcset="https://cdn.t-van.net/2025/08/mac-thn-233x300.jpg 233w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2025/08/mac-thn.jpg?strip=all 300w" sizes="(max-width: 300px) 100vw, 300px" /></a></figure></div>


<p class="has-text-align-center"><em>Nhạc sĩ Mặc thế Nhân (Ảnh: Tác Giả gởi</em>)</p>



<div style="height:30px" aria-hidden="true" class="wp-block-spacer"></div>



<p class="has-text-align-right"><br><em>Nén tâm hương tưởng nhớ nhạc sỹ Mặc Thế Nhân (1939-2025)</em></p>



<p><br><br>“Xin trả tôi về ngày xưa thơ mộng đó<br>Bên mái tranh chiều, ngồi ngắm áng mây trôi<br>Mẹ quê đun bếp nghèo, thơm mùi rơm qua khói mờ<br>Ôi tình quê trìu mến.<br>Xin trả tôi về miền quê hương nhỏ bé<br>Có lũy tre vàng, bờ lúa sát ven đê”…<br>(Xin trả tôi về- Mặc Thế Nhân)<br><br>Người viết tình ca hay da diết vừa nằm xuống (ngày 8/8/2025) nhưng những bản tình ca thì vẫn ở lại với người yêu nhạc. Nhạc sỹ Mặc Thế Nhân tên thật là Phan Công Thiệt sinh năm 1939 tại Gò Vấp, tỉnh Gia Định. Trong một gia đình trung lưu. Gò Vấp khi ấy còn là một vùng bán thị thành, cuộc sống vừa đủ để nuôi giấc mộng văn nghệ. Cha mẹ ông không phải là nghệ sỹ nhưng yêu âm nhạc, thầm lặng khuyến khích đã giúp cho cậu bé yêu thích ca từ và giai điệu từ lúc lên mười tuổi, 13 tuổi tham gia văn nghệ học đường. Năm 17 tuổi, ông nộp đơn thẳng vào trường ca vũ nhạc phổ thông Sài Gòn, những tên tuổi âm nhạc miền Nam cũng xuất thân từ cái nôi này (?). Ở đó ông được học với những cây đại thụ của âm nhạc. Ra trường ông gia nhập ban nhạc Hoa Niên, trình diễn qua làn sóng phát thanh. 19 tuổi có ca khúc đầu tiên, và bắt đầu trở thành người đóng góp cho dòng nhạc tình ca Việt với nhiều bút danh như Nhã Uyên, Phan Trần, Trùng Dương, nhiều hơn cả là bút danh Mặc Thế Nhân mà theo ông là “góp chút mực cho đời”. Ông còn mở lớp dạy nhạc lý tại các trường tư thục, một trong những học trò đầu tiên mà ông đào tạo đó là danh ca Hương Lan. Ông chỉ nói rằng: “ Tôi không tạo ra ca sỹ, tôi chỉ giúp họ lắng nghe tiếng hát thật sự bên trong”. Ngoài âm nhạc ông còn là ký giả tân nhạc, kịch trường dưới bút danh như: Mộng Thu và Giáng Ái Sỹ. Cộng tác với các tờ báo như: Lẽ Sống, Bình Dân. Tại đây ông vừa phê bình âm nhạc, vừa viết kịch ngắn và nhận định đời sống văn nghệ Saigon. Như vậy Mặc Thế Nhân không chỉ là nhạc sỹ, nhà báo, khi cần ông còn là đạo diễn sân khấu cho các ban văn nghệ địa phương. Năm 1960 ông thành lập các ban văn nghệ thuộc thông tin quận Nhất, tổng hội học sinh Đô Thành và ban luân vũ. Mặc Thế Nhân âm thầm đóng góp với các vai vừa là nhạc sỹ, ký giả, người đào tạo và tổ chức. Năm 1958 ông ra mắt ca khúc Trăng Quê Hương, năm 1959 ra mắt ca khúc Vui Tàn ánh lửa. Hai bài hát đầu đời chưa nổi tiếng nhưng đánh dấu sự hiện diện của mình trong làng nhạc, bước đầu định hình phong cách nhạc trữ tình da diết. Đầu năm 1970 ông cho ra mắt loạt băng nhạc mang tên Nhã Ca. Đó là tên gọi và khái niệm nghệ thuật mà ông theo đuổi, Âm nhạc là ghi lại cái đẹp được tách ra từ nỗi đau. Ông còn mở lớp dạy nhạc tại khu Đa Kao quận Nhất, đào tạo các giọng ca trẻ cho đến 1975.<br>Nhạc của ông đã lay động trái tim hàng triệu khán thính trong nước và hải ngoại hơn nửa thế kỷ qua và tin rằng sẽ vẫn còn chạm đến rung cảm của thế hệ mai sau. Bởi vì mỗi ca khúc là một chuyện tình có thật. Chắc hẳn ai đã từng yêu, từng đổ vỡ, từng buồn khi tiễn người mình thương lên xe hoa thì âm giai của Mặc Thế Nhân là nỗi đồng cảm sâu lắng nhất. Nó như một bản nhạc ông viết cho chính tâm trạng của người từng yêu và tan vỡ,…Ngoài viết nhạc ông còn làm thơ nữa. Ông đã sáng tác trên 100 ca khúc, nhưng những bản tình ca như bài hay nhất là: Cho Vừa Lòng Em, Xin trả tôi về, Em về với người và tương tư 4. Người ta hát nhạc ông thì nhiều nhưng cái tên Mặc Thế Nhân không phải ai cũng biết cho đến khi ông từ giã cõi đời nhưng nhạc của ông thì những người yêu dòng nhạc trữ tình không ai là không biết, không ai là không thuộc dù chỉ một bài hay một vài câu.<br>Bản nhạc “Em về Với Người” ra đời sau khi ông nhận được thiệp hồng người yêu báo tin đi lấy chồng. Một mối tình không thể quên. Vài tháng sau, vẫn còn day dứt lắm! Ông viết tiếp bài &#8220;Cho vừa lòng em&#8221;. Bản nhạc chẳng cần những ca từ hàn lâm hay kỹ thuật hòa âm cầu kỳ. Chỉ cần chuyển tải tình cảm thật với những ca từ dung dị mà chạm trái tim người nghe: “Thôi rồi em đã xa tôi, kể từ đêm pháo đỏ rượu nồng”, “Em đành quên cả sao em?”,…là đủ để con tim người nghe tan chảy. Có người nói ông ít nói và có phần lãng tử, đa cảm nhưng ông sống thật, yêu thật và cảm xúc cũng hoàn toàn thật. Ông nói: “Tôi không sáng tác bằng trí óc, tôi sáng tác bằng vết xước trong lòng”. Cứ mỗi bóng hồng đi qua đời ông hay chỉ là tình đơn phương đều cho ra đời một hai bản nhạc hay có khi cả bộ 10 bài tương tư. Ở đó là những câu chuyện tình dang dở. Khi trái tim thổn thức, đủ yêu và đủ đau. Ông đã viết nhạc bằng cả trái tim của một người từng yêu, từng xao lòng, từng rung cảm. Mỗi cuộc tình đi qua đời ông đều hóa thành những bản nhạc. Nhưng người để lại dấu ấn sâu đậm nhất trong các sáng tác của ông là một bóng hồng xứ Huế, từng sống ở Nha Trang. Hai bản nhạc hay nhất dành cho người tình ông yêu nhưng không đến được với nhau. Vì vậy trong ca từ và giai điệu bài &#8220;Em về với người&#8221; mang âm hưởng xứ Huế. Đó là người đã khiến ông viết nên hai bản tình ca đau đáu nhất. Hai bản nhạc &#8220;Em về với người&#8221; và &#8220;Cho Vừa Lòng Em&#8221; trở thành những ca khúc hit ở thập niên sau 1970.</p>



<p>Còn bản “Tương tư 4” với câu hát nhức nhối: “Phải chi em đừng có chồng và anh đừng đơn côi” người ta đồn rằng nàng thơ trong bản nhạc là ca sỹ Trúc Mai, nàng tài sắc vẹn toàn nhưng lên xe hoa từ rất sớm. Có chăng chỉ là tình đơn phương ở ông mà thôi. Và ai mới là người khiến ông viết nên bộ tương tư từ 1-10, mỗi bài là một lát cắt của tình yêu. Không ai biết và có lẽ cũng không cần biết, bởi người làm tim ông thổn thức đã đi vào âm nhạc. Cuộc tình trên giấy đã biến thành âm nhạc. Vì vậy sự thật đôi khi không cần xác thực chỉ cần cảm nhận.<br>Ông kết hôn vào lúc ông 24 tuổi (năm 1963) với một người vợ hiền, chung thủy và có với nhau 8 người con. Đôi khi có những rung cảm bên ngoài, những phút xao lòng lại là cách duy trì cảm hứng sáng tác, chỉ xem đó như những cuộc phiêu lưu cảm xúc, và khuếch đại lên để biến thành cảm hứng sáng tạo. Nhưng nhạc sĩ Mặc Thế Nhân vẫn biết điểm dừng, vẫn giữ được gia đình êm ấm với người vợ hiền đầu tiên cho đến tận cuối đời. Nhạc sỹ có thể viết tình ca cho cả thiên hạ nhưng cả đời sống bên một người để bảo toàn mái ấm gia đình và để sáng tác là đủ. Nhạc ông có sức lan tỏa và sống lâu. Bởi vì nó đến từ những rung cảm ngọt ngào và viết ra bằng cảm xúc thật. Nó chạm vào trái tim người thưởng thức và để lại dấu ấn khó quên. Khi người ta yêu, rồi đổ vỡ, chia ly, người ta có chung tâm trạng, họ đến với âm nhạc để tìm tiếng nói tri âm. Đặc trưng của nhạc vàng- một dòng nhạc đầy ám ảnh với nỗi buồn, chất u hoài và âm sắc tan vỡ. Mặc Thế Nhân là một trong những nhạc sỹ đã góp phần làm nên âm sắc đó. Những ca khúc của ông được hàng loạt trung tâm băng nhạc sử dụng trước và sau 1975. Từ Thúy Nga đến Asia hay trong nước nhưng tùy cách người ta nhớ đến ông chứ ông không tự đòi hỏi quyền lợi. Ông cũng ít khi xuât hiện trên sân khấu. Từ chối mọi cuộc mời tham gia talk show hay game show. Ông từng bảo: “Tôi không cần nói thêm vì bài hát của tôi đã nói hết”. Ngay cả Thúy Nga 103 là chương trình hiếm hoi ông đồng ý góp mặt, nhưng cũng chỉ xuất hiện trong 3 phút với vài câu chào hỏi và giới thiệu sơ lược về bài &#8220;Em về với người cho ca sỹ sắp sửa trình bày.<br>Có lần trả lời phỏng vấn ông nói: “Tôi chỉ góp một giọt mực cho đời. Nếu đời nhớ tôi biết ơn. Nếu đời quên tôi không trách”. Có lần bạn bè thân thiết muốn giới thiệu ông đến nhà sản xuất, ông lắc đầu: “Tôi già không còn sức nghe người ta hỏi những điều không liên quan đến nhạc”.</p>



<p>Năm 2020 ông bị tai biến, sức khỏe giảm, không thể viết nhạc được nữa. Ông được vợ con chăm sóc tận tình từng bữa ăn, giấc ngủ. Và rồi như mọi con người trên thế gian, không tránh khỏi quy luật sinh diệt, ông từ giã cõi đời vào lúc 16 h ngày 8 tháng 8/2025 tại phường An Phú Đông, TP HCM, thọ 86 tuổi.</p>


<div class="wp-block-image">
<figure class="aligncenter size-large"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2025/08/cho-vua.png?strip=all&w=2560"><img loading="lazy" decoding="async" width="1024" height="489" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2025/08/cho-vua-1024x489.png?strip=all" alt="" class="wp-image-82955" srcset="https://cdn.t-van.net/2025/08/cho-vua-300x143.png 300w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2025/08/cho-vua-1024x489.png?strip=all 1024w, https://cdn.t-van.net/2025/08/cho-vua-768x367.png 768w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2025/08/cho-vua.png?strip=all 1240w" sizes="(max-width: 800px) 100vw, 800px" /></a></figure></div>


<p><br>“Thôi rồi ta đã xa nhau<br>Kể từ đêm pháo đỏ rượu hồng<br>Anh đường anh, em đường em<br>Yêu thương xưa chỉ còn âm thừa.<br>Em đành quên cả sao em<br>Kỷ niệm xưa sánh như biển lớn”…<br>(Cho vừa lòng em- Mặc Thế Nhân)<br><br>Nhạc sỹ tài hoa Mặc Thế Nhân &#8211; một đời hoạt động nghệ thuật âm nhạc xem như đã hoàn thành sứ mệnh của mình. Ông về cõi vĩnh hằng nhưng những bản nhạc của ông sẽ ở lại với khán thính giả, những người yêu nhạc. Di sản tinh thần ông để lại là những bản tình ca. Trong đó có những nhạc phẩm mà người ta tưởng viết riêng cho mình khi ai đó đã từng yêu, từng đau thương, từng tan vỡ. Ông là người nhạc sỹ kể chuyện tình bằng giai điệu âm nhạc, bằng cảm xúc chân thành, da diết và sâu lắng. Nhớ đến những tâm hồn âm thầm góp một giọng điệu cho âm nhạc Việt Nam, khi tổ chức hay biểu diễn bạn đừng quên tên nhạc sỹ sau mỗi bản nhạc mà họ đã đau đáu viết ra bằng cả nỗi lòng, công sức và trí tuệ!<br>Xin thắp nén tâm hương tiễn biệt nhạc sỹ Mặc Thế Nhân về miền mây trắng!<br><br>Saigon, ngày 13/8/2025<br><strong>Hoàng Thị Bích Hà</strong></p>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Đặng Tiến (Thái Nguyên): CHUYỆN ĐỜI VẶT VÃNH (Tạp Bút)</title>
		<link>https://t-van.net/dang-tien-thai-nguyen-chuyen-doi-vat-vanh-tap-but/</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[Đặng Tiến (Thái Nguyên)]]></dc:creator>
		<pubDate>Mon, 19 May 2025 06:28:00 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Giới Thiệu Tác Phẩm]]></category>
		<category><![CDATA[Chuyện Đời Vặt Vãnh]]></category>
		<category><![CDATA[tác giả tác phẩm]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://t-van.net/?p=80305</guid>

					<description><![CDATA[Đặng Tiến (Thái Nguyên): CHUYÊN ĐỜI VẶT VÃNH (Tạp Bút) (Xin Bấm Vào Đây) LỜI GIỚI THIỆU Gọi là vặt vãnh, vì chính tác giả đã nói thế. Nhưng đọc rồi mới hay, cái vặt vãnh ấy lại chính là những mảnh gương soi tỏ một đời người — đời thầy, đời lính, đời làm [&#8230;]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<div class="wp-block-image">
<figure class="aligncenter size-large is-resized"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2025/05/CHUYEN-DOI-VAT-VANH.jpg?strip=all&w=2560"><img loading="lazy" decoding="async" width="683" height="1024" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2025/05/CHUYEN-DOI-VAT-VANH-683x1024.jpg?strip=all" alt="" class="wp-image-80306" style="width:453px;height:auto" srcset="https://cdn.t-van.net/2025/05/CHUYEN-DOI-VAT-VANH-200x300.jpg 200w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2025/05/CHUYEN-DOI-VAT-VANH-683x1024.jpg?strip=all 683w, https://cdn.t-van.net/2025/05/CHUYEN-DOI-VAT-VANH-768x1152.jpg 768w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2025/05/CHUYEN-DOI-VAT-VANH.jpg?strip=all 1024w" sizes="(max-width: 683px) 100vw, 683px" /></a></figure></div>


<div style="height:30px" aria-hidden="true" class="wp-block-spacer"></div>



<p class="has-text-align-center"><strong>Đặng Tiến (Thái Nguyên): CHUYÊN ĐỜI VẶT VÃNH (Tạp Bút)</strong></p>



<p class="has-text-align-center"><strong>(Xin Bấm Vào Đây)</strong></p>



<div data-wp-interactive="core/file" class="wp-block-file"><object data-wp-bind--hidden="!state.hasPdfPreview" hidden class="wp-block-file__embed" data="https://cdn.t-van.net/2025/05/CHUYEN-DOI-VAT-VANH-FINAL.pdf" type="application/pdf" style="width:100%;height:600px" aria-label="Embed of CHUYEN DOI VAT VANH - FINAL."></object><a id="wp-block-file--media-17a0e6fe-34af-46f7-a35c-404d66bc884f" href="https://cdn.t-van.net/2025/05/CHUYEN-DOI-VAT-VANH-FINAL.pdf" class="mcloud-attachment-80307">CHUYEN DOI VAT VANH &#8211; FINAL</a><a href="https://cdn.t-van.net/2025/05/CHUYEN-DOI-VAT-VANH-FINAL.pdf" class="wp-block-file__button wp-element-button mcloud-attachment-80307" download aria-describedby="wp-block-file--media-17a0e6fe-34af-46f7-a35c-404d66bc884f">Download</a></div>



<p></p>



<p><strong>LỜI GIỚI THIỆU</strong></p>



<p>Gọi là vặt vãnh, vì chính tác giả đã nói thế. Nhưng đọc rồi mới hay, cái vặt vãnh ấy lại chính là những mảnh gương soi tỏ một đời người — đời thầy, đời lính, đời làm người. Những chi tiết tưởng nhỏ như mẩu đối thoại vụng về, bữa cơm lỡ cỡ, một chuyến xe khách lổn nhổn… lại trở thành khoảnh khắc lóe sáng của hiện thực, thậm chí của chân lý.</p>



<p>Chuyện đời vặt vãnh không phải là hồi ký, cũng chẳng hẳn là truyện ngắn hay tản văn. Nó là kiểu &#8220;ký sự ngẫu hứng&#8221; được kể bởi một người viết đã sống, đã yêu, đã giận, đã tha thứ — và quan trọng hơn hết: đã giữ được sự tử tế và hài hước giữa bao điều trái ngang.</p>



<p>Những nhân vật ẩn sau chữ cái A, B, C… không giấu được thân phận thật, nhưng vẫn kịp lưu giữ được phẩm giá người kể chuyện. Trong từng dòng chữ là tiếng nói của một người thầy từng sống trọn ba vai: trò – lính – thầy, và giờ đây, như một bạn già ngồi vỉa hè, vừa uống trà, vừa kể chuyện, vừa để người đọc tự lặng mà ngẫm.</p>



<p>Đặng Tiến không chỉ kể chuyện đời mình — ông kể cả chuyện đời của thời đại mình. Có khi hài, có khi hãi, có khi buồn như muốn nghẹn. Nhưng lúc nào cũng là một giọng nói chân thành, không phấn son và không phán xét.</p>



<p>Một tập sách vặt vãnh — nhưng cần thiết. Đọc để thấy: cuộc sống là những vặt vãnh kết lại thành số phận.</p>



<p><strong>Tháng 5.2025 &#8211; ChatGPT</strong></p>



<p></p>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Nguyễn Thiên Nga: TẢN MẠN TỪ BÀI THƠ CÙNG TUỔI VỚI TÔI…</title>
		<link>https://t-van.net/nguyen-thien-nga-tan-man-tu-bai-tho-cung-tuoi-voi-toi/</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[Nguyễn Thiên Nga]]></dc:creator>
		<pubDate>Fri, 14 Jun 2024 08:03:00 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Giới Thiệu Tác Phẩm]]></category>
		<category><![CDATA[tác giả tác phẩm]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://t-van.net/?p=72267</guid>

					<description><![CDATA[Trên kệ sách của mình, tôi đang chỉ có trên mười đầu sách của Nhà Thơ – Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc. Trong đó có một cuốn tôi mới được bạn tặng và có chữ ký của chính tác giả, đó là tác phẩm “Áo Xưa Dù Nhàu…”,xuất bản năm 2022. So với số lượng [&#8230;]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<div class="wp-block-image">
<figure class="aligncenter size-full is-resized"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2024/06/NTN.jpg?strip=all&w=2560"><img loading="lazy" decoding="async" width="1196" height="602" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2024/06/NTN.jpg?strip=all" alt="" class="wp-image-72339" style="width:689px;height:auto" srcset="https://cdn.t-van.net/2024/06/NTN-300x151.jpg 300w, https://cdn.t-van.net/2024/06/NTN-1024x515.jpg 1024w, https://cdn.t-van.net/2024/06/NTN-768x387.jpg 768w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2024/06/NTN.jpg?strip=all 1196w" sizes="(max-width: 800px) 100vw, 800px" /></a></figure></div>


<div style="height:30px" aria-hidden="true" class="wp-block-spacer"></div>



<p>Trên kệ sách của mình, tôi đang chỉ có trên mười đầu sách của Nhà Thơ – Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc. Trong đó có một cuốn tôi mới được bạn tặng và có chữ ký của chính tác giả, đó là tác phẩm “Áo Xưa Dù Nhàu…”,xuất bản năm 2022. So với số lượng trên 60 đầu sách của ông ở nhiều thể loại tùy bút, tản văn, Y học, Phật học, Thiền học… thì số sách tôi đang có còn quá khiêm tốn.</p>



<p>Tôi có thói quen đọc sách nên luôn mải mê với từng tác phẩm mình đã có trong tay hoặc đi mượn bạn bè. Tuy nhiên có một tác phẩm của bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc mà tôi đọc rất nhiều lần, đó là “Thư Gửi Người Bận Rộn”,NXB Văn Nghệ TP.HCM xuất bản 2005.</p>



<p>Lẽ nào tôi là một trong nhiều người bận rộn nên thích đọc “Thư Gửi Người Bận Rộn” (?)</p>



<p>Cũng có thể lắm chứ!</p>



<p>Cuốn sách này tập hợp 60 bài viết – 60 bức thư thật dễ thương tác giả gửi những người bận rộn. Giọng văn dí dỏm, giàu cảm xúc đan xen nhiều kiến thức y khoa của Đông &#8211; Tây khiến người đọc cảm thấy nhẹ nhàng, thú vị. Con số 60 cũng gợi nhớ đến 60 bức thư trong cuốn “Thư Gửi Người Đàn Bà Không Quen Biết” của André Maurois &#8211; Dịch giả Nguyễn Hiến Lê (điều này đã được bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc nhắc đến một cách hóm hỉnh trong bài viết thứ 61, tôi hiểu đó như thay lời Bạt của “Thư Gửi Người Bận Rộn”).</p>



<p>Tôi dừng mắt nhiều lần hơn ở bức thư cuối cùng: “Về Một Bài Thơ”.Trong đó, tác giả nhắc trọn vẹn “Thư Cho Bé Sơ Sinh”,bài thơ được viết vội sau ca trực đỡ sanh đầu tiên của mình vào một đêm năm 1965. Vốn cũng là “bé sơ sinh” vào cùng năm ấy, tôi bây giờ đã… sắp già, hóa thân vào bạn ấy ngấu nghiến một lần nữa bức thư bác sĩ gửi và cảm xúc luôn dâng trào.</p>



<p><strong>Thư Cho Bé Sơ Sinh</strong><strong></strong></p>



<p><em>Khi em cất tiếng khóc chào đời</em><em><br></em><em>Anh đại diện đời chào em bằng nụ cười</em><em><br></em><em>Lớn lên nhớ đừng hỏi tại sao có kẻ cười người khóc</em><em><br></em><em>Trong cùng một cảnh ngộ nghe em!</em><em></em></p>



<p><em><br></em><em>Anh nhỏ vào mắt em thứ thuốc màu nâu</em><em><br></em><em>Nói là để ngừa đau mắt</em><em><br></em><em>Ngay lúc đó em đã không nhìn đời qua mắt thực</em><em><br></em><em>Nhớ đừng hỏi vì sao đời tối đen!</em><em></em></p>



<p><em>Khi anh cắt rún cho em</em><em><br></em><em>Anh đã xin lỗi chân thành rồi đó nhé</em><em><br></em><em>Vì từ nay em đã phải cô đơn</em><em><br></em><em>Em đã phải xa địa đàng lòng mẹ…</em><em></em></p>



<p><em><br></em><em>Em là gái là trai anh chẳng quan tâm</em><em><br></em><em>Nhưng khi em biết thẹn thùng</em><em><br></em><em>Sẽ biết thế nào là nước mắt trong đêm</em><em><br></em><em>Khi tình yêu tìm đến!</em><em></em></p>



<p><em><br></em><em>Anh đã không quên buộc étiquette vào tay em</em><em><br></em><em>Em được dán nhãn hiệu từ giây phút ấy</em><em><br></em><em>Nhớ đừng tự hỏi tôi là ai khi lớn khôn</em><em><br></em><em>Cũng đừng ngạc nhiên sao đời nhiều nhãn hiệu!</em><em></em></p>



<p><em><br></em><em>Khi em mở mắt ngỡ ngàng nhìn anh</em><em><br></em><em>Anh cũng ngỡ ngàng nhìn qua khung kính cửa</em><em><br></em><em>Một ngày đã thức giấc với vội vàng với hoang mang</em><em><br></em><em>Với những danh từ đao to búa lớn</em><em><br></em><em>Để bịp lừa để đổ máu đó em…</em><em></em></p>



<p><em><br></em><em>Thôi trân trọng chào em</em><em><br></em><em>Mời em nhập cuộc</em><em><br></em><em>Chúng mình cùng chung</em><em><br></em><em>Số phận… Con người…</em><em></em></p>



<p><strong><em>Đỗ Hồng Ngọc&nbsp;</em></strong><em>(Bệnh viện Từ Dũ, Sài Gòn 1965)</em><em></em></p>



<p><em>***</em></p>



<p>“Bé sơ sinh” trong bài thơ được sinh ra ở bệnh viện Từ Dũ, Sài Gòn. Còn tôi, cũng năm 1965 ấy, tôi ra đời tại nhà Bảo sanh cô Nhung, gần cuối con đường Đào Duy Từ, Đà Lạt. Cùng một khoảng thời gian, khác về không gian, nhưng những bé sơ sinh chúng tôi đều chào cuộc đời bằng tiếng khóc, hòa vào chuỗi âm thanh buồn của chiến tranh.</p>



<p><em>Anh nhỏ vào mắt em thứ thuốc màu nâu</em><em><br></em><em>Nói là để ngừa đau mắt</em><em><br></em><em>Ngay lúc đó em đã không nhìn đời qua mắt thực</em><em><br></em><em>Nhớ đừng hỏi vì sao đời tối đen!</em><em></em></p>



<p>Có một sự hồi tưởng nhẹ nhàng về các câu hát của nhạc sĩ Xuân Hồng trong ca khúc “Đôi Mắt”:</p>



<p><em>Mẹ cho em đôi mắt tuyệt vời</em><em></em></p>



<p><em>Để nhìn đời, nhìn rõ đục trong</em><em></em></p>



<p>Thôi thì, “<em>thứ thuốc màu nâu</em><em>” mà bác sĩ đã nhỏ vào mắt dù ngay lúc đó khiến bé “</em><em>không nhìn đời qua mắt thực</em><em>”; sau này hy vọng cũng giúp mắt bé sáng hơn để nhìn rõ cuộc đời trong đục.</em><em></em></p>



<p>Bài thơ được tác giả khai thác một cách tinh tế các khía cạnh tương phản của đời sống. Nghe như lời thủ thỉ mà rất thấm, rất sâu. Giật mình nhìn lại, sau bao nhiêu năm nhập cuộc, tôi có bớt ngỡ ngàng, thôi vội vàng, ít hoang mang (?). Chiến tranh đã lùi xa nhưng chưa mất dấu. Cả những cuộc chiến không bom rơi đạn nổ mà tan nát, đau xé lòng từng năm tháng này qua năm tháng khác.</p>



<p>Từ bài thơ bằng tuổi của tôi, tôi tìm đọc những bài thơ khác của cùng tác giả. Những bài thơ ngắn, rất ngắn, súc tích và mang đến cho tôi thật nhiều cảm xúc.</p>



<p>Đó là sự thương yêu dịu dàng, tưởng nhớ “Nụ Cười Của Mẹ” khi Mẹ đã đi xa:</p>



<p><em>&nbsp;Lúc tủm tỉm,</em></p>



<p><em>&nbsp;lúc chế giễu,</em></p>



<p><em>lúc mỉa mai,</em></p>



<p><em>lúc chua chát,</em></p>



<p><em>lúc thứ tha,</em></p>



<p><em>lúc trách mắng&#8230;</em></p>



<p>hay ngậm ngùi, tiếc nhớ về đứa con gái bé bỏng, ra đi còn quá trẻ:</p>



<p><em>Mỗi năm</em></p>



<p><em>Mỗi người</em></p>



<p><em>Thêm một tuổi</em></p>



<p><em>Chỉ mình con</em></p>



<p><em>Mãi mãi</em></p>



<p><em>Tuổi đôi mươi&#8230;</em></p>



<p>(La Ngà 3 -1990)</p>



<p>Có khi là sự đồng cảm, bùi ngùi khi vào “<strong>Trong Một Nhà Giữ Lão Ở Montreal</strong><strong>”. Đó cũng có thể là hình ảnh của mỗi chúng ta sau này:</strong><strong></strong></p>



<p><em>Mới hôm qua thôi<br>Nào vương<br>Nào tướng<br>Nào tài tử<br>Nào giai nhân<br>Ngựa xe<br>Võng lọng</em></p>



<p><em>…</em></p>



<p><em>Họ ngồi đó<br>Không nói năng<br>Không nghe ngóng<br>Gục đầu<br>Ngửa cổ<br>Móm sọm<br>Nhăn nheo</em><em></em></p>



<p>Bài thơ “Rùng Mình” gây xúc động cho nhiều người. Những câu thơ là những câu hỏi không lời đáp, cả sự rùng mình giận dữ khi thiên nhiên bị săn đuổi, hủy diệt đến tận cùng:</p>



<p><em>Người rùng mình hỏi vì sao động đất sóng thần cứ triền miên<br>hết ngày này sang ngày khác?<br></em><em>…</em></p>



<p><em>Trái đất cũng đang rùng mình tự hỏi vì sao<br>những ngọn núi cứ triền miên đổ sập?<br>vì sao những dòng sông nghẽn tắt?<br>vì sao những m</em><em>ũi</em><em> đao cứ ngày đêm xoáy sâu vào lòng đất?<br>vì sao chim rừng cá biển không chốn nương thân<br>vì sao cổ thụ mầm xanh bị tận diệt<br>vì sao lúa bắp phải cấy ghép gen người?…<br>vì sao và vì sao?</em></p>



<p>Và đau đớn, khi mà:</p>



<p><em>Ta nương tựa vào nhau.<br>Nay có vẻ đã không còn cần nhau nữa!<br>Đất rùng mình phận đất…<br>Người rùng mình phận người…</em><em></em></p>



<p>Rùng mình vì lạnh. Cái lạnh buốt khi tình cảm giữa con người và con người với nhau, giữa con người và thiên nhiên, vạn vật đã trở nên quá vô cảm, thờ ơ.</p>



<p>Rùng mình vì sợ hãi. Nỗi sợ hãi khi con người luôn thẳng tay tận diệt tự nhiên, hủy hoại môi trường sống. Nỗi sợ hãi vì những người sống và làm giàu trên mồ hôi, nước mắt của đồng loại một cách thản nhiên. Bao đại án về tham nhũng đang còn đó.</p>



<p>Khủng khiếp quá! Cứ nghĩ về mọi chuyện lại rùng mình.</p>



<p>Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc còn rất nhiều bài thơ hay. Tôi tình cờ được “thưởng lãm” phác họa con đường Thơ của ông qua ngòi bút nhà văn Phan Chính – Hội Văn Học Nghệ Thuật Bình Thuận. Bài viết “ĐỖ HỒNG NGỌC &#8211; Thơ Mãi Với Đời Và Bảng Lảng Trên Những Trang Văn”giúp người đọc hình dung rất rõ nét về người bác sĩ, nhà thơ tài hoa này.</p>



<p>Tôi xin phép trích nguyên đoạn cuối cùng từ bài viết của nhà văn Phan Chính:</p>



<p>“Cuộc hành trình sáng tạo và chia sẻ của Đỗ Nghê/ Đỗ Hồng Ngọc quả là sinh động và đích thực chân dung Đỗ Hồng Ngọc &#8211; một người thông tuệ, nặng tình như lời giới thiệu trên đặc san Văn hóa Phật giáo (2021)/ Viên Giác Tùng Thư, Hannover Đức Quốc:<em> “Ngoài vai trò là bác sĩ, nhà giáo ông còn là một nhà thơ, nhà văn nổi tiếng. Ông viết nhiều tác phẩm đa dạng và rất được độc giả yêu thích”.</em><em>”</em></p>



<p>***</p>



<p>Nhà báo Hồng Dung trong một lần gặp B<em>ác sĩ, nhà thơ Đỗ Hồng Ngọc</em><em> </em>đã nhận xét:<em> “</em><em>Trò chuyện với ông, sẽ thấy một nhà khoa học nghiêm túc, nhưng dí dỏm và đầy thi vị.</em><em>”</em><em></em></p>



<p>Tôi thật tiếc là chưa được gặp ông, tuy nhiên tôi cũng đã nhận ra điều đó khi đọc những tác phẩm của ông. Có thể nói rằng, tôi đã <em>có thêm sự hiểu biết nhất định về Y học Đông Tây để chăm sóc gia đình, chăm sóc bản thân; hiểu thêm về Thiền học, Phật học, để rồi có cái nhìn đa chiều, cởi mở hơn và cảm xúc về cuộc sống dày dặn hơn. Tôi có mặt khá thường xuyên trên “</em><a href="https://www.dohongngoc.com/web/">Trang nhà của Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc</a>”,để đọc, để học, để hiểu và ngưỡng mộ người bác sĩ – văn thi sĩ này vô cùng.</p>



<p><em>Tôi rất thích sự gắn bó giữa văn thơ Đỗ Hồng Ngọc với âm nhạc Trịnh Công Sơn. </em>Không chỉ là tựa những tác phẩm: “Áo Xưa Dù Nhàu…”, “Gió Heo May Đã Về”, “Về Thu Xếp Lại…”,… mà trong nhiều áng văn của mình, BS Đỗ Hồng Ngọc cũng thường đưa những ca từ của nhạc sĩ họ Trịnh vào một cách tự nhiên, như một cách chuyển ý thật mềm mại, tinh tế. Chính điều này giúp người đọc đọc hoài mà không thấy khô khan, dù bài đó đang nói về một sự kiện vừa diễn ra ở đâu đó hay đơn thuần là kiến thức nói về cách tự bảo vệ sức khỏe.</p>



<p><em>Đặc biệt, trong tác phẩm </em>“Về Thu Xếp Lại…”, cả 10 chương đều được đặt tên bằng những ca từ thơ mộng, đầy tính triết học và nhân văn của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn – một người tôi vô cùng yêu kính.</p>



<p>Chương 1: Cát Bụi Tuyệt Vời<br>Chương 2: Tôi Chợt Nhìn Ra Tôi<br>Chương 3: Về Thu Xếp Lại&#8230; Ngày Trong Nếp Ngày<br>Chương 4: Con Tinh Yêu Thương Vô Tình Chợt Gọi<br>Chương 5: Người Đã Đến Và Người Sẽ Về Bên Kia Núi<br>Chương 6: Đôi Khi Thấy Trên Lá Khô Một Dòng Suối<br>Chương 7: Chìm Dưới Sương Thu Là Một Đóa Thơm Tho<br>Chương 8: Trên Hai Vai Ta Đôi Vầng Nhật Nguyệt<br>Chương 9: Trời Cao Đất Rộng Một Mình Tôi Đi<br>Chương 10: Để Lại Trong Cõi Thiên Thu Hình Dáng Nụ Cười</p>



<p>Cư sĩ Nguyên Giác đã có một bài viết về tác phẩm “Về Thu Xếp Lại…”đăng trên website Thư Viện Hoa Sen vào 04/04/2019. Bài viết phân tích rất sâu, rất hay và thấm; dĩ nhiên, tôi đã đọc nhiều lần.</p>



<p>Từ ngày xưa, cứ sau mỗi lần nghe lại một ca khúc của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn, ngẫm nghĩ, tôi lại như “ngộ” ra được một điều mới mẻ. Tôi cứ nghĩ, những giai điệu thiết tha, những ca từ khúc chiết thấm đẫm tình yêu thương con người mà phảng phất “hơi thở thiền” của ông, phải chăng là một loại “thánh ca” của một thứ tôn giáo nào đó? Tôn giáo đó, bây giờ – khi ông đã vĩnh biệt chúng ta hai mươi ba năm – khoảng thời gian quá đủ để lắng lại – tôi đã gọi được tên: tôn giáo Tình Yêu Con Người. Và trong thế giới tôn giáo đó, ông là một nhà tiên tri, một người truyền đạo không mệt mỏi, một thiên sứ đi lang thang trong cuộc đời để mặc khải cho mọi tín đồ về khoảnh khắc vô thường, ngắn ngủi của kiếp người, để mong mọi người sống nhân hậu hơn, bao dung hơn và yêu thương nhau hơn&#8230;</p>



<p>Cho đến bây giờ, đọc “Về Thu Xếp Lại…” và một số tác phẩm khác của bác sĩ, thi sĩ Đỗ Hồng Ngọc, tôi cũng cảm nhận được nguồn cảm xúc ấm áp tương tự vậy. Có chăng, khác một điều là: tác giả Đỗ Hồng Ngọc vừa là bác sĩ, vừa là nhà thơ nên tác dụng “chữa lành” còn bao hàm cả về Y học nữa. Nếu đọc kỹ, ngẫm ngợi lâu sẽ thấy rất tuyệt diệu.</p>



<p>Ông viết về tuổi già, về bệnh tật, về cả cái chết, nhưng giọng văn không hề bi quan, không chút bối rối, nhiều khi hóm hỉnh dễ thương.</p>



<p>Già ư?</p>



<p><em>“Già khú” là giai đoạn một, thêm một bước nữa thì gọi là “già khú… đế”. Khú, Từ điển tiếng Việt bảo là “để thâm lại và có mùi hôi”, thí dụ dưa khú, tức là một thứ dưa để lâu quá, sắp hư. “Khú đế” là “vua” của khú đó chăng?</em><em> </em><em></em></p>



<p><em>(</em>Chương 2 – Về Thu Xếp Lại)</p>



<p>Chết ư?</p>



<p>Ông viết:</p>



<p><em>“Lắng nghe hơi thở của mình</em><br><em>Mới hay hơi thở của nghìn năm xưa </em><em></em></p>



<p><em>Một hôm hơi thở tình cờ</em><br><em>Dính vào hạt bụi thành ra của mình </em><em></em></p>



<p><em>Của mình chẳng phải của mình</em><br><em>Thì ra hơi thở của nghìn năm sau”&#8230;</em><br><br><em>&nbsp;Nói tình cờ chớ chẳng phải tình cờ chi đâu, do duyên, do nghiệp cả đó thôi. Nói cho cùng thì cái thân hơi &#8211; hơi thở &#8211; kia là của ngàn năm trước, ngàn năm sau, chớ chẳng phải của ta, riêng ta gì đâu. Đừng tưởng bở! Nó đến nó đi vô tình, ngạo nghễ. Nó Như Lai. Không phân biệt.</em><em></em></p>



<p><em>… </em><em>Chẳng ai có thể thở giùm ai được đâu. Chẳng ai có thể “thiền” giùm ai được. Cho nên phải quay về nương tựa chính mình “một mình tôi đi, một mình tôi về&#8230; với tôi” mà thôi.</em><em></em></p>



<p><em>(</em>Chương 9 – Về Thu Xếp Lại)</p>



<p>Nhẹ tênh. Lạc quan.</p>



<p>Cư sĩ Nguyên Giác viết rằng:</p>



<p>“<em>T</em><em>ác phẩm</em><em>&nbsp;“</em><strong><em>Về Thu Xếp Lại…” </em></strong><em>của Đỗ Hồng Ngọc không chỉ để đọc&nbsp;</em><em>một lần</em><em>. Sách này có thể nên đưa vào túi xách, nên&nbsp;</em><em>mang theo</em><em>&nbsp;bên người để&nbsp;</em><em>thỉnh thoảng</em><em>&nbsp;đọc lại. Để không sợ già, không&nbsp;</em><em>sợ chết</em><em>, để biết cách đùa giỡn với bệnh, và cũng để biết cách&nbsp;</em><em>Thiền tập</em><em>&nbsp;trong những cách tự&nbsp;</em><em>quan sát</em><em>&nbsp;</em><em>thân tâm</em><em>&nbsp;mình không rời.</em><em>”</em></p>



<p>Tôi đã làm như vậy. Cảm giác thật an nhiên.</p>



<p>***</p>



<p><em>Trả lời một bạn đọc Báo Thanh Niên, khi được hỏi: </em><em></em></p>



<p><em>&#8211;&nbsp;Bác sĩ có thể kể về một kỷ niệm sâu sắc nhất trong cuộc đời làm nghề y?</em><em></em></p>



<p>Ông vui vẻ:</p>



<p><em>&#8211; Đó là lúc thực tập đỡ đẻ ở Bệnh viện Từ Dũ, năm 1965. Khi đỡ được ca đầu tiên mẹ tròn con vuông, tôi xúc động viết liền một mạch bài thơ <strong>Thư cho bé sơ sinh</strong>, sau đó còn chép vào bản phúc trình nộp lên thầy. Thầy rầy: Đỡ đẻ không lo đỡ đẻ, lo làm thơ! Hôm sau đã thấy ai đó viết bài thơ lên bảng đen và được nhiều bạn sinh viên thời đó yêu thích. Còn chú bé sơ sinh của tôi lúc đó nay đã gần 40 tuổi rồi còn gì! Mới thôi!</em><em></em></p>



<p>(Nguồn: Báo Thanh Niên, 07/02/2004)</p>



<p>Tôi thấy vô cùng thú vị với điều này.</p>



<p>Dạ thưa bác sĩ, sang năm thôi, chú bé sơ sinh ấy bước vào tuổi “lục thập”, sẽ được liệt kê là người cao tuổi. (Còn với bác sĩ, nhà thơ Đỗ Hồng Ngọc thì nhẹ nhàng hơn: <strong><em>Già ơi&#8230;, chào bạn!</em></strong>)</p>



<p>Tôi &#8211; cô bé sơ sinh đồng tuổi với chú bé ấy – dù được gọi là người cao tuổi, đã, đang và sẽ vẫn ngồi bên hiên nhà, sáng sáng chiều chiều đọc văn, thơ của Bác sĩ, thi sĩ Đỗ Nghê – Đỗ Hồng Ngọc.</p>



<p>Cô ấy sẽ mỉm cười thư thái, nhẹ nhàng đọc lại những bức “Thư Gửi Người Bận Rộn” được xuất bản lần đầu còn thơm hoài dấu tay lật từng trang sách; tiếp tục “Về Thu Xếp Lại…” khi ngoài kia nắng gió thời gian ân cần nhắc nhớ: “Già ơi&#8230;, Chào Bạn!”.</p>



<p>Chúng tôi luôn cầu mong bác sĩ, thi sĩ Đỗ Hồng Ngọc bình an, khỏe mạnh để tiếp tục được gặp ông trên văn đàn mỗi ngày, để vẫn được đọc những câu thơ “<em>chan hòa, giản dị, như tự bật ra từ trái tim, và khi thấy lòng mình đã lên tiếng vừa đủ, thì thơ ông nhẹ nhàng rút lui hay ẩn mình trong khói sóng</em><em>”. </em>(Nhà NCVH Huỳnh Như Phương).</p>



<p>Khói sóng màu lam dịu dàng, khiêm tốn và đượm mùi hương Ngọc Lan.</p>



<p><em>Dalat, 3/2024</em></p>



<p><strong>Nguyễn Thiên Nga</strong></p>



<div style="height:500px" aria-hidden="true" class="wp-block-spacer"></div>



<p>©T.Vấn 2024</p>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Phạm Hiền Mây: BÙI GIÁNG &#8211; TRĂM NĂM TRONG CÕI SINH TỒN</title>
		<link>https://t-van.net/pham-hien-may-bui-giang-tram-nam-trong-coi-sinh-ton/</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[Phạm Hiền Mây]]></dc:creator>
		<pubDate>Thu, 21 Mar 2024 06:36:00 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Chữ Nghĩa Làng Văn]]></category>
		<category><![CDATA[bùi giáng]]></category>
		<category><![CDATA[tác giả tác phẩm]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://t-van.net/?p=70192</guid>

					<description><![CDATA[Bùi Giáng &#8211; Tranh: PHAN TẤN HẢI (2016) Trước sau, tôi vẫn cho rằng, Bùi Giáng là một tiên ông hay chữ bị mắc đọa. Ổng xuống cõi trần này, làm thơ, viết văn, dịch sách, với đầu óc thông tuệ bất phàm và chịu đựng những tháng ngày nửa điên nửa tỉnh. Trả nghiệp [&#8230;]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<div class="wp-block-image">
<figure class="aligncenter size-full is-resized"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2024/03/bg.jpg?strip=all&fit=203%2C248&w=2560"><img loading="lazy" decoding="async" width="203" height="248" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2024/03/bg.jpg?strip=all&fit=203%2C248" alt="" class="wp-image-70193" style="width:345px;height:auto"/></a></figure></div>


<p class="has-text-align-center"><em>Bùi Giáng &#8211; Tranh: PHAN TẤN HẢI (2016)</em></p>



<div style="height:30px" aria-hidden="true" class="wp-block-spacer"></div>



<p>Trước sau, tôi vẫn cho rằng, Bùi Giáng là một tiên ông hay chữ bị mắc đọa. Ổng xuống cõi trần này, làm thơ, viết văn, dịch sách, với đầu óc thông tuệ bất phàm và chịu đựng những tháng ngày nửa điên nửa tỉnh. Trả nghiệp xong, ổng quay về, chờ, hoặc hoàn nguyên về cõi tiên, hoặc cũng có thể, cần phải xuống cõi tạm này thêm dăm, ba lần vay trả, trả vay nữa, thì ổng sẽ.<br><br>Mấy chuyện đó, may ra, chỉ có trời mới biết.<br><br>Bùi Giáng điên dễ thương. Điên dễ thương là điên mà không làm phương hại đến ai. Điên dễ thương, thế nên, đi đến đâu, người ta cũng lo cho ăn, lo cho uống, đối đãi như người thân ở xa mới về. Thậm chí, người ta vui vẻ mời mọc, bao đãi ông, đổi lợi, chỉ cần ông xé đâu đó tờ giấy to cỡ lòng bàn tay, ghi một mạch bốn câu thơ ông vừa mới nghĩ ra rồi tặng. Chủ nhân của những mảnh giấy cũ mèm, nát nhàu ấy, sẽ vô cùng vui sướng mà cất giữ, mà nâng niu như một kỷ niệm văn nghệ hiếm có, ít dịp trong đời.<br><br>Điên dễ thương còn là, những lúc tỉnh, ông cũng biết rõ mình đã từng điên!<br><br>**<br><br>Ông tự xưng ông là Trung Niên Thi Sĩ, nghĩa là, ông tự nhận mình luôn ở độ tuổi đẹp nhứt của cuộc đời khi làm thơ. Trung Niên nghĩa là đã vượt qua thời kỳ non nớt, bồng bột, dại khờ. Trung Niên còn có nghĩa là chưa già, chưa luống tuổi, chưa xế chiều.<br><br>Bùi Giáng làm thơ như nhân gian dùng lời để trò chuyện. Tự nhiên sinh ra đã thế, không cần phải đi học bất cứ trường dạy làm thơ nào.<br><br>Ông lập nên một đế chế thơ, có tên là thơ Bùi Giáng. Không bắt chước ai, không theo chân ai, thơ ông vô cùng biến hóa. Ông còn, thì thơ còn. Ông mất, các chiêu thức làm thơ ảo diệu khôn lường ấy cũng tuyệt tích võ lâm. <br><br>Thơ Bùi Giáng điên mà tỉnh, khoảnh khắc mà thiên thu, cợt đùa mà rơi lệ, đầu đường xó chợ mà rất đỗi cốt cách thần tiên, bình dị mà ảo diệu mênh mang, chân quê mà muôn vàn triết thuyết.<br><br>******<br><br>1.<br>Bờ Trần Gian nằm trong tập thơ Mưa Nguồn xuất bản năm một ngàn chín trăm sáu mươi hai:<br></p>



<p>BỜ TRẦN GIAN<br><br>Đường cong có cỏ mọc ven bờ</p>



<p>Cây đứng trong vườn lá chuối tơ</p>



<p>Chó sủa sớm chiều đi qua ngõ</p>



<p>Gà con mất mẹ chạy bâng quơ</p>



<p>Cá ở ngoài khe có ít nhiều</p>



<p>Cồn lau cỏ lách có hoang liêu</p>



<p>Em về có hỏi răng ri rứa</p>



<p>Nhắm mắt đưa chân có bận liều.<br><br>**<br><br>Thơ Bùi Giáng, đa số được viết theo thể lục bát, những bài thơ bảy chữ như thế này, lâu lâu mới gặp.<br><br>Người thì hay giỡn hay đùa vậy chớ, lúc làm thơ thì đâu ra đó à nghen. Từ cuối của các câu một, hai, bốn, luôn cùng vần và là vần bằng: bờ, tơ, quơ; nhiều, liêu, liều. Và từ cuối câu thứ ba luôn là vần trắc.<br><br>Ông đặt tựa đề cho bài thơ là Bờ Trần Gian. Đó giờ, vẫn thường nghe bờ đê, bờ cỏ, bờ ao, bờ rào, bờ tường, bờ ruộng. Đây là lần đầu tiên tôi nghe Bờ Trần Gian.<br><br>Bờ Trần Gian có hai khổ. Hãy thử xem cái phần nhô lên đó của cái cõi bụi đất, cõi đời, trong hai khổ này, ông tả gì.<br><br>Bờ Trần Gian trên là một đường cong và có cỏ mọc ven. Kế đó, có cây đứng trong vườn với lá chuối tơ. Bờ này, nháo nhào, hỗn loạn, vô trật tự, không quản được: chó sủa sớm chiều đi qua ngõ / gà con mất mẹ chạy bâng quơ.<br><br>Bờ Trần Gian dưới thì cỏ lau mọc rậm rạp vẻ như còn hoang sơ, chưa bước chân người qua lại. Bờ này khác bờ kia ở chỗ có lạch khe, có tiếng cá bơi lách chách. Và có cả tiếng em hỏi hốt hoảng với chất giọng miền Trung, không lẫn vào đâu được: sao thế, làm sao thế, đâu thế, đi đâu thế, ở đâu ra vậy, khi có kẻ, nhắm mắt đưa chân, liều lĩnh vượt bờ.<br><br>Thì ra vậy, ở trần gian này có đến hai cái bờ, như trời với đất, như âm với dương, như sáng với tối.<br><br>Gì thì gì, cũng phải có đôi, cân đối!<br><br>******<br><br>2.<br>Bờ Tồn Sinh (I) nằm trong tập thơ Lá Hoa Cồn xuất bản năm một ngàn chín trăm sáu mươi ba:<br><br>BỜ TỒN SINH (I)<br><br>Trăm năm trong cõi sinh tồn</p>



<p>Cá bờ mương nhảy xô hồn xuống hang<br><br>Biết bao là gái lộn đàng</p>



<p>Nhớ nhung như nhớ lang thang mây chiều</p>



<p>Ôm đầu tức tưởi đổ xiêu</p>



<p>Cánh tồn hoa hoạt hiện nhiều lửng lơ<br><br>Một ngàn cỏ lá cồn trơ</p>



<p>Đẩy ngang ngửa nhịp nước cờ chiêm bao</p>



<p>Dấn thân thể dấn bước vào</p>



<p>Sịch mành sực tỉnh hàng rào chắn ngang.<br><br>**<br><br>Nguyễn Du viết “trăm năm trong cõi người ta” thì ông Giáng ổng cũng ngon lành “trăm năm trong cõi sinh tồn”.<br><br>Ổng nào có sợ chi ai, ngán chi ai, mà không chớ.<br><br>Và ổng viết đúng. Vì lẽ sống còn, không thể để bị diệt vong, cho nên con cá ở bờ mương, nó cũng phải nhảy vội nhảy vàng, xô nhau đến mất cả hồn vía để kịp xuống hang mà trốn. Không nhảy, để bọn người nó câu, nó quăng lưới, nó chích điện mang dzìa xơi hết thì còn đâu là giống nòi nhà cá chớ.<br><br>Đời nhiều cạm bẫy. Đến con cá mà vì lẽ sinh tồn còn phải ráng giữ thân, huống gì là con người, huống gì các em gái trẻ, còn nhỏ, dễ đi lộn đàng lắm.<br><br>Đàng, miền Nam, là đường đó, dễ đi lộn đường lắm.<br><br>Nên các em gái cẩn thận nha. Mấy thằng con trai ấy mà, nó suốt ngày nhớ nhung các em như mây chiều lang thang. Nhớ quá, tụi nó tức tưởi. Nhớ quá, tụi nó liêu xiêu. Trong đầu chúng nó, lộn xộn, xáo động những hình ảnh của nhiều cánh tồn lơ.<br><br>Nên các em gái cẩn thận nha. Trong đầu bọn con trai ấy mà, nó tơ tưởng lắm, nó mơ tưởng lắm: nó mơ trên những cái cồn cỏ lá nằm trơ ấy, chúng chơi cờ. Hết đi nước ngang rồi chúng sẽ đi nước ngửa, đẩy tới đẩy lui con cờ, đủ chiêu, đủ kiểu. Thậm chí, trong giấc chiêm bao, chúng mơ tưởng đến cả những khi, sẽ ngang nhiên dấn bước vào cổng nhà các em gái.<br><br>May mà đụng phải cái mành mành hàng rào chắn ngang, chúng mới sực tỉnh mộng!<br><br>******<br><br>3.<br>Lá Trút Hoa Cồn nằm trong tập thơ Lá Hoa Cồn xuất bản năm một ngàn chín trăm sáu mươi ba:<br><br>LÁ TRÚT HOA CỒN<br><br>Cuối năm rào giậu khép hàng</p>



<p>Trên thân thể mọc Cô Nàng đi tu</p>



<p>Thiên thanh thái thậm tạc thù</p>



<p>Mắt xanh mày dựng thiên thu thái hằng<br><br>Tình vân nhứ mạo mô lăng</p>



<p>Lên từ cung bậc giá băng năm đầu</p>



<p>Một hàng chậm một hàng mau</p>



<p>Rừng ôi nhớ biển trước sau khôn hàn<br><br>Tấm thân vũ trụ điêu tàn</p>



<p>Hùm beo rống ngục doanh hoàn nở môi</p>



<p>Người về cõi đất xa xôi</p>



<p>Nhớ xuân địa ngục không lời gọi em<br><br>Hoa cồn kiều diễm gió lên</p>



<p>Lá cồn em mọi còn nên trao gì</p>



<p>Chiêm bao phấn diện biên thuỳ</p>



<p>Đêm sầu mộng dại truy tuỳ mê mông<br><br>Một vùng xuôi ngược biển đông</p>



<p>Tam thu chểnh mảng thần thông tựu trường</p>



<p>Trình tâu Hắc Đế U Vương</p>



<p>Già Lam Bản Xứ khuếch trương mối sầu<br></p>



<p>Mộng trường nhất niệm thiên thâu</p>



<p>Tam thu diệu hữu nguyên màu già mông</p>



<p>Một vùng xuôi ngược biển đông.<br><br>**<br><br>Dù với tôi, tập thơ đầu tiên Mưa Nguồn mới chính là tập thơ hay nhứt của Bùi Giáng, nhưng ngộ cái, phải đợi đến tập Lá Hoa Cồn ra đời, thì tên tuổi của Bùi Giáng mới bắt đầu vang dội trên thi đàn.<br><br>Thơ Bùi Giáng, có nhiều bài dễ đọc, dễ hiểu, nhưng cũng lại có nhiều bài thật khó để đoán ra, chứa trong những dòng chữ đó là suy nghĩ gì, là ý tứ gì của ổng.<br><br>Tuy vậy, khi đọc lên, kiểu gì kiểu, ta cũng nghe ra cái thi vị của tiếng Việt, cái vui vui khi phát hiện ra những con chữ, chúng đang thò cả ra, chúng đang ló hết ra, tánh cách nghịch ngợm mà rất hồn nhiên và trẻ thơ của ổng.<br><br>Ví dụ như câu này chẳng hạn, toàn bắt đầu bằng chữ “t”, thiên thanh thái thậm tạc thù.<br><br>Chỗ này cũng xin được nói thêm chút. Thơ Bùi Giáng, nhiều câu tôi không hiểu, nhưng tôi không quan trọng việc ấy, và dứt khoát không đoán mò. Điều đó, chẳng lợi ích gì cho thơ, càng không lợi ích gì cho tác giả lẫn người đọc. Tôi xem những câu tôi không hiểu ấy, là những phần réo rắt của dàn hòa ca, khi ca sĩ ngưng lời.<br><br>Đọc thơ Bùi Giáng riết, tôi cũng rành ổng sáu câu vọng cổ. Thường, vừa đọc thơ ổng, tôi vừa cười, cười nhoẻn, cười mỉm chi cũng có, mà haha cười, tôi cũng có luôn. Chớ không phải thế sao. Không tin tôi, thì các bạn thử đọc đi đọc lại những câu này xem: Hoa cồn kiều diễm gió lên / Lá cồn em mọi còn nên trao gì.<br><br>Ngay cả khi câu thơ, nghĩ hoài mà cũng không ra nghĩa, thì nó cũng rất ngộ. Các bạn sao, thời tôi không rõ, chớ làm thơ mà lanh như ổng, làm thơ mà ảo diệu, biến hóa khôn lường như ổng, thú thiệt, tôi thua.<br><br>Ví dụ như hai câu này chẳng hạn: Chiêm bao phấn diện biên thuỳ / Đêm sầu mộng dại truy tuỳ mê mông.<br><br>Và ví dụ như hai câu này nữa: Trình tâu Hắc Đế U Vương / Già Lam Bản Xứ khuếch trương mối sầu. U Vương có lẽ là Chu U Vương. Già Lam là đền thờ, tu viện. Chịu, không biết giữa chúng có liên quan gì với nhau mà bẩm thưa, mà kể lể, mà hài tội chúng, khuếch trương mối sầu.<br><br>4.<br>Không Nói Nữa nằm trong tập thơ Mưa Nguồn xuất bản năm một ngàn chín trăm sáu mươi hai:<br><br>KHÔNG NÓI NỮA<br><br>Tôi gửi lại bây giờ xin vội vã</p>



<p>Xin vội vàng tôi gửi lại hai nơi</p>



<p>Về Lục Tỉnh một lần chưa chắc đã</p>



<p>Tiếng chào Thu Xuân Mỹ Thọ xa rồi</p>



<p>Không nói nữa Sài gòn hay Chợ Lớn</p>



<p>Tuần Sóc Trăng thổi rộng gió Biên Hoà</p>



<p>Không nói nữa hồn Cửu Long máu rớm</p>



<p>Nước một mùa là sóng đục phôi pha</p>



<p>Tôi bỏ cuộc khi nhìn em bỏ cuộc</p>



<p>Tôi lên đường từ bữa dọc xô ngang</p>



<p>Ôi ở lại miền Nam tìm nẻo thuộc</p>



<p>Tôi đi về sầu dựng Ải Vân San</p>



<p>Làm con gấu con beo con bò rừng con hổ</p>



<p>Làm con chồn lùi lũi chạy vào hang</p>



<p>Cũng không thể quên lời là thổ lộ</p>



<p>Màu hoa niên cổ độ xuống khôn hàn</p>



<p>Bờ nước thẳm em đứng lên đó chớ</p>



<p>Tay ôm đầu và tay nữa giơ ra</p>



<p>Vòng ma nghiệt mấy lần ta rất sợ</p>



<p>Giờ xin em đếm lại một hai và.<br><br>**<br><br>Người ta rải thóc cho gà ăn thế nào thì Bùi Giáng khi làm thơ cũng rải chữ lên trang giấy hệt thế. Tôi cũng nghĩ việc rải chữ này, đa phần hên xui, nhưng nói gì thì nói, Bùi Giáng thật sự tài tình. Chỉ tài tình thì mới vung vãi chữ như vậy mà vẫn ra tấm ra món. Bài nào, không nhiều thì ít, cũng nghe ra thú vị, cũng nghe ra nội dung, cũng nghe ra tối thiểu một vài điều hay ho, ngộ nghĩnh ở trỏng.<br><br>Thơ Bùi Giáng không phải lúc nào cũng cho tôi tiếng cười, thơ ông, đôi lúc lại làm tôi ngậm ngùi, buồn bã, ví dụ như câu này: Không nói nữa hồn Cửu Long máu rớm / Nước một mùa là sóng đục phôi pha. Hồn của dòng sông hay hồn người đầy toan tính. Con sóng đục hay tâm hồn người ta bị vẩn đục bụi rêu. Nước một mùa, nước bạc trắng phôi pha hay tình người, tình yêu, chỉ cần qua một mùa thôi là phai mòn hương sắc.<br><br>Dù làm thơ theo thể lục bát hay bảy chữ, tám chữ, thì khi nào Bùi Giáng cũng nghiêm chỉnh tuân thủ luật bằng trắc và phép đối: Tôi bỏ cuộc khi nhìn em bỏ cuộc / Tôi lên đường từ bữa dọc xô ngang / Ôi ở lại miền Nam tìm nẻo thuộc / Tôi đi về sầu dựng Ải Vân San.<br><br>Chẳng biết Bùi Giáng giận gì, hờn gì, mà Không Nói Nữa. Khi Không Nói Nữa, ông đòi: Làm con gấu con beo con bò rừng con hổ / Làm con chồn lùi lũi chạy vào hang / Cũng không thể quên lời là thổ lộ / Màu hoa niên cổ độ xuống khôn hàn.<br><br>Con hổ, thổ lộ; vào hang, khôn hàn; vần điệu như vậy nên thơ ông, khi đọc lên, rất thích. Nó không vấp, không sượng, à, nhưng coi chừng bị nhịu à nha, nhất là khi đọc nhanh, đọc vội: Làm con chồn lùi lũi chạy vào hang.<br><br>Không Nói Nữa, chứng tỏ, những gì cần nói với đời này, cần nói với thi ca, cần nói với cuộc tình, ông đã nói đủ. Không Nói Nữa vì đã ngộ ra rồi. Không Nói Nữa vì đã sang bờ bên rồi. Không Nói Nữa nghĩa là vô ngôn.<br><br>Trở lại từ đầu, ta sẽ trở lại từ đầu, và giờ đây, xin em đếm lại cùng ta một, hai, và.<br><br>******<br><br>Vui thôi mà, là ba từ chân thành, hồn nhiên và hết lòng nhứt của Bùi Giáng khi trả lời câu hỏi của cuộc đời này, khi trả lời câu hỏi của con người trong cõi trọ này, khi trả lời câu hỏi của văn chương và thi ca trong chốn hồng trần này.<br><br>Có nhiều người cáu kỉnh với ba từ “vui thôi mà” này của Bùi Giáng. Họ cho đó là câu trả lời tránh né và thiếu nghiêm túc.<br><br>Lạ hen.<br><br>Chắc phải trả lời đúng như họ mong muốn, thì đó mới là câu trả lời hay, câu trả lời không tránh né và nghiêm túc quá hà.<br><br>Tránh né là tránh né cái gì các bạn ơi. Đời ổng, còn đau khổ nào chưa trải qua nữa đâu mà tránh với né. Vợ con thì chết sớm. Nhà cửa, sản nghiệp, bản thảo thì cháy rụi, tiêu tan. Đến cái thân ổng còn giữ không được sự tỉnh táo nữa mà tránh cái gì, né cái gì.<br><br>Còn tính cà rỡn của ổng thì có chết ai đâu. Ổng cà rỡn cho cuộc đời ổng bớt thê thảm. Ai biểu bạn nghiêm trọng, nghiêm túc làm chi rồi bạn than phiền ổng thiếu nghiêm túc. Bạn không thích tánh cách ấy của ổng thì cứ đi chỗ khác chơi. Chớ còn yêu cầu người khác phải sống theo ý mình, coi bộ như dzậy là hổng đặng rồi đó đa.<br><br>**<br><br>Thơ Bùi Giáng là thơ của ta bà rong chơi, thơ của sự lãng mạn pha nét tinh nghịch, dí dỏm và uy-mua (từ của tiểu luận gia Đặng Tiến). Tưởng lẩn thẩn mà lại vô cùng thông minh, sáng suốt. Tưởng chuyện phù du, huyễn hoặc mà lại phồn thực, sinh sôi, nảy nở vô cùng<br><br>Cả bốn bài trên đều được viết bằng một giọng thơ như tôi vừa nói ở trên, và chúng có một điểm chung. Điểm chung này, chắc hẳn nãy giờ các bạn cũng đã phát hiện ra lúc đọc bài. Và chắc cũng đã nhiều bạn vừa đọc vừa mỉm cười. Nói cho cùng, thì.<br><br>Vui thôi mà, phải không các bạn!<br><br><em>Sài Gòn 16.03.2024<br></em><strong>Phạm Hiền Mây</strong></p>



<div style="height:500px" aria-hidden="true" class="wp-block-spacer"></div>



<p>©T.Vấn 2024<br><br></p>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Ngộ Không: Tác Giả và Tác Phẩm – TUỆ SỸ</title>
		<link>https://t-van.net/ngo-khong-tac-gia-va-tac-pham-tue-sy/</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[Ngộ Không Phí Ngọc Hùng]]></dc:creator>
		<pubDate>Tue, 05 Dec 2023 10:50:00 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Giới Thiệu Tác Phẩm]]></category>
		<category><![CDATA[tác giả tác phẩm]]></category>
		<category><![CDATA[Thầy Tuệ Sĩ]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://t-van.net/?p=67515</guid>

					<description><![CDATA[XIN BẤM VÀO ĐÂY: Tác Giả và Tác Phẩm Thiền sư Tuệ Sỹ (Xem Thân thế và sự nghiệp) Mục Lục &#160;&#160;&#160; Thân thế và sự nghiệp &#8211; 2 &#160;Thuyền ngược bến không – 4 Tuệ Sỹ, điệp khúc dương trần &#8211; Đặng Tiến &#8211; 7 Piano Sonata 11 Tuệ Sỹ &#8211; Bùi Giáng &#8211; [&#8230;]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<div class="wp-block-image">
<figure class="aligncenter size-full is-resized"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2023/11/TUE-SY.jpg?strip=all&w=2560"><img loading="lazy" decoding="async" width="619" height="301" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2023/11/TUE-SY.jpg?strip=all" alt="" class="wp-image-67516" style="width:619px;height:auto" srcset="https://cdn.t-van.net/2023/11/TUE-SY-300x146.jpg 300w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2023/11/TUE-SY.jpg?strip=all 619w" sizes="(max-width: 619px) 100vw, 619px" /></a></figure></div>


<div style="height:30px" aria-hidden="true" class="wp-block-spacer"></div>



<p class="has-text-align-center"><strong>XIN BẤM VÀO ĐÂY</strong>:</p>



<div data-wp-interactive="core/file" class="wp-block-file"><object data-wp-bind--hidden="!state.hasPdfPreview" hidden class="wp-block-file__embed" data="https://cdn.t-van.net/2023/11/Thien-su-Tue-Sy-TgTp.pdf" type="application/pdf" style="width:100%;height:600px" aria-label="Embed of Thien su Tue Sy - TgTp."></object><a id="wp-block-file--media-30b7cfbf-decd-4df8-a847-a93027fc69ad" href="https://cdn.t-van.net/2023/11/Thien-su-Tue-Sy-TgTp.pdf" class="mcloud-attachment-67517">Thien su Tue Sy &#8211; TgTp</a><a href="https://cdn.t-van.net/2023/11/Thien-su-Tue-Sy-TgTp.pdf" class="wp-block-file__button wp-element-button mcloud-attachment-67517" download aria-describedby="wp-block-file--media-30b7cfbf-decd-4df8-a847-a93027fc69ad">Download</a></div>



<div style="height:30px" aria-hidden="true" class="wp-block-spacer"></div>



<p class="has-text-align-center"><strong>Tác Giả và Tác Phẩm</strong></p>



<p class="has-text-align-center">Thiền sư</p>



<p class="has-text-align-center"><strong>Tuệ Sỹ</strong></p>



<p class="has-text-align-center">(Xem <em>Thân thế và sự nghiệp</em>)</p>



<p class="has-text-align-center"><strong>Mục Lục</strong></p>



<p class="has-text-align-center"><strong>&nbsp;&nbsp;&nbsp; </strong><strong>Thân thế và sự nghiệp &#8211; 2</strong></p>



<p class="has-text-align-center"><strong>&nbsp;</strong><strong>Thuyền ngược bến không – 4</strong></p>



<p class="has-text-align-center"><strong>Tuệ Sỹ, điệp khúc dương trần &#8211; Đặng Tiến &#8211; 7</strong></p>



<p class="has-text-align-center"><strong>Piano Sonata 11</strong></p>



<p class="has-text-align-center"><strong>Tuệ Sỹ &#8211; Bùi Giáng &#8211; 17</strong></p>



<p class="has-text-align-center"><strong>&nbsp; Gốc tùng – 20</strong></p>



<p>                                      <strong> Buổi sáng Thị Ngạn Am &#8211; Nguyễn Đạt – 23</strong></p>



<p class="has-text-align-center"><strong>Phụ đính I</strong></p>



<p class="has-text-align-center"><strong>Hai vị Thiền sư&nbsp;</strong><strong>&#8211; </strong><strong>Phạm Công Thiện</strong><strong> &#8211; </strong><strong>24</strong></p>



<p class="has-text-align-center"><strong>Duy-ma-cật, về sự khai phát trí tuệ* &#8211; Thích Tuệ Sĩ – 27</strong></p>



<p class="has-text-align-center"><strong>Phụ đính II</strong></p>



<p class="has-text-align-center"><strong>Thơ Tuệ Sỹ &#8211; 39</strong></p>



<p class="has-text-align-center"><strong>Mười năm trong cuộc lữ &#8211; Nhớ dương cầm – Phố trưa</strong></p>



<p class="has-text-align-center"><strong>Cây khô – Khung trời cũ – Thơ vô đề &#8211; Tự thuật</strong></p>



<p class="has-text-align-center"><strong>Phụ đính III</strong></p>



<p class="has-text-align-center"><strong>Cuộc khổ nạn của thầy Tuệ Sỹ &#8211; Nguyễn Đức Thành – 42</strong></p>



<p class="has-text-align-center"><strong>Thiền sư Tuệ Sỹ &#8211; ‘‘Cọng lau nằm xuống mà đại ngàn rung chuyển’’ – Dạ Ngân &#8211; 46</strong><br><strong>Ghi chép từ tang lễ của thầy Tuệ Sỹ &#8211; Tuấn Khanh &#8211; 48</strong></p>



<p><strong>&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; &nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;</strong><strong><em>(Tim bài đọc: ở “Keyboard”, nhấn nút “F5”, đánh số trang, rồi “Enter”)</em></strong></p>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Ngộ Không: Tác Giả và Tác Phẩm &#8211; NGUYỄN ĐÌNH TOÀN</title>
		<link>https://t-van.net/ngo-khong-tac-gia-va-tac-pham-nguyen-dinh-toan/</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[Ngộ Không Phí Ngọc Hùng]]></dc:creator>
		<pubDate>Thu, 30 Nov 2023 10:49:00 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Giới Thiệu Tác Phẩm]]></category>
		<category><![CDATA[nguyễn đình tòan]]></category>
		<category><![CDATA[tác giả tác phẩm]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://t-van.net/?p=67511</guid>

					<description><![CDATA[XIN BẤM VÀO ĐÂY: Tác Giả và Tác Phẩm Nguyễn Đình Toàn Tiểu sử &#38; Tác phẩm (Xem Vài hàng về tác giả) &#160;&#160;&#160;&#160; Vài hàng về tác giả &#8211; 2 &#160;&#160;&#160; &#160;&#160;Nguyễn Đình Tòan, nhà văn &#160;&#160;&#160; Hà Nội trong kỷ niệm – 3 &#160;&#160; &#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;&#160;Nguyễn Đình Tòan: Của chữ và người &#8211; Lưu [&#8230;]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<div class="wp-block-image">
<figure class="aligncenter size-full is-resized"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2023/11/ndt.jpg?strip=all&fit=284%2C177&w=2560"><img loading="lazy" decoding="async" width="284" height="177" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2023/11/ndt.jpg?strip=all&fit=284%2C177" alt="" class="wp-image-67512" style="width:474px;height:auto"/></a></figure></div>


<div style="height:30px" aria-hidden="true" class="wp-block-spacer"></div>



<p class="has-text-align-center"><strong>XIN BẤM VÀO ĐÂY</strong>:</p>



<div data-wp-interactive="core/file" class="wp-block-file"><object data-wp-bind--hidden="!state.hasPdfPreview" hidden class="wp-block-file__embed" data="https://cdn.t-van.net/2023/11/Nguyen-Dinh-Toan-TgTp.pdf" type="application/pdf" style="width:100%;height:600px" aria-label="Embed of Nguyen-Dinh-Toan-TgTp."></object><a id="wp-block-file--media-60532b86-c495-4946-92d7-a2a412df8bf3" href="https://cdn.t-van.net/2023/11/Nguyen-Dinh-Toan-TgTp.pdf" class="mcloud-attachment-67513">Nguyen-Dinh-Toan-TgTp</a><a href="https://cdn.t-van.net/2023/11/Nguyen-Dinh-Toan-TgTp.pdf" class="wp-block-file__button wp-element-button mcloud-attachment-67513" download aria-describedby="wp-block-file--media-60532b86-c495-4946-92d7-a2a412df8bf3">Download</a></div>



<div style="height:30px" aria-hidden="true" class="wp-block-spacer"></div>



<p class="has-text-align-center"><strong>Tác Giả và Tác Phẩm</strong></p>



<p class="has-text-align-center"><strong>Nguyễn Đình Toàn</strong></p>



<p class="has-text-align-center"><strong>Tiểu sử &amp; </strong><strong>Tác phẩm</strong></p>



<p class="has-text-align-center">(Xem Vài hàng về tác giả) <strong></strong></p>



<p class="has-text-align-center"><strong>&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; Vài hàng về tác giả &#8211; 2</strong></p>



<p class="has-text-align-center"><strong>&nbsp;&nbsp;&nbsp; &nbsp;&nbsp;</strong><strong>Nguyễn Đình Tòan, nhà văn</strong></p>



<p class="has-text-align-center"><strong>&nbsp;&nbsp;&nbsp; Hà Nội trong kỷ niệm</strong><strong> – 3</strong></p>



<p class="has-text-align-center"><strong>&nbsp;&nbsp; &nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;Nguyễn Đình Tòan: Của chữ và người &#8211; Lưu Na – </strong><strong>5</strong></p>



<p class="has-text-align-center"><strong>Ngày tháng – 11</strong><strong></strong></p>



<p class="has-text-align-center"><strong>Không&nbsp;gần, sao vẫn thấy thân – Nam Dao &#8211; 22</strong></p>



<p class="has-text-align-center"><strong>&nbsp;Vũ Hữu Định – 23</strong></p>



<p class="has-text-align-center"><strong>&nbsp;Chị em Hải &#8211; 25</strong></p>



<p class="has-text-align-center"><strong>Thơ Phùng Cung – 26</strong></p>



<p class="has-text-align-center"><strong>Từ Giờ ra chơi đến Áo mơ phai &#8211; 28</strong></p>



<p class="has-text-align-center"><strong>30 Tháng 4 đọc thơ Thanh Nam – 29</strong></p>



<p class="has-text-align-center"><strong>Áo mơ phai &#8211; 32</strong></p>



<p class="has-text-align-center"><strong>&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; Nguyễn Đình Tòan, nhà thơ</strong><strong></strong></p>



<p class="has-text-align-center"><strong>Thơ Nguyễn Đình Tòan – Khuyết danh – 34</strong></p>



<p class="has-text-align-center"><strong>&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; </strong><strong>Nguyễn Đình Tòan, khi em về trời xanh và gió mát – Nguyễn Đức Tùng &#8211; 36</strong></p>



<p class="has-text-align-center"><strong>&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; Nguyễn Đình Tòan, nhạc sĩ</strong><strong></strong></p>



<p class="has-text-align-center"><strong>&nbsp;Thơ phổ nhạc &#8211; 42</strong></p>



<p class="has-text-align-center"><strong>Nhạc Nguyễn Đình Tòan, tiếng kêu bi thương của thời đại – T.Vấn &#8211; </strong><strong>48</strong></p>



<p class="has-text-align-center"><strong>Nguyễn Ðình Toàn: Dẫn em vào nhạc – Quỳnh Giao &#8211; 50</strong><strong><br></strong><strong>“Nhạc chủ đề” của Nguyễn Đình Toàn – Đào Trường Phúc – </strong><strong>53</strong></p>



<p class="has-text-align-center"><strong>Phụ đính</strong></p>



<p class="has-text-align-center"><strong>Hồi tưởng &#8211; Nguyễn Đình Phượng Uyển –</strong><strong> </strong><strong>56</strong></p>



<p class="has-text-align-center"><strong>Những buổi tối trong căn nhà nơi con hẻm Thành Thái – Đinh Quang Anh Thái &#8211; 60</strong></p>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Nguyễn Phú Yên: ĐÊM NHẠC TƯỞNG NHỚ NHẠC SĨ HOÀNG NGUYÊN</title>
		<link>https://t-van.net/nguyen-phu-yen-dem-nhac-tuong-nho-nhac-si-hoang-nguyen/</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[Nguyễn Phú Yên]]></dc:creator>
		<pubDate>Wed, 27 Sep 2023 06:01:00 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Ghi Chép]]></category>
		<category><![CDATA[tác giả tác phẩm]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://t-van.net/?p=66128</guid>

					<description><![CDATA[Nhạc Sĩ Hoàng Nguyên (Cao Cự Phách) Nhân kỷ niệm 50 năm ngày mất của nhạc sĩ Hoàng Nguyên (21/8/1973-21/8/2023), Chi hội VHNT Diễn Châu, tỉnh Nghệ An đã tổ chức chương trình nghệ thuật tưởng nhớ người nhạc sĩ tài hoa, người con của quê hương Phủ Diễn vào ngày 20/8/2023 vừa qua. Đây [&#8230;]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<div class="wp-block-image">
<figure class="aligncenter size-full is-resized"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2023/09/hoang-nguyen-1.jpg?strip=all&fit=273%2C347&w=2560"><img loading="lazy" decoding="async" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2023/09/hoang-nguyen-1.jpg?strip=all&fit=273%2C347" alt="" class="wp-image-66129" style="width:273px;height:347px" width="273" height="347"/></a></figure></div>


<p class="has-text-align-center"><em>Nhạc Sĩ Hoàng Nguyên (Cao Cự Phách)</em></p>



<div style="height:30px" aria-hidden="true" class="wp-block-spacer"></div>



<p>Nhân kỷ niệm 50 năm ngày mất của nhạc sĩ Hoàng Nguyên (21/8/1973-21/8/2023), Chi hội VHNT Diễn Châu, tỉnh Nghệ An đã tổ chức chương trình nghệ thuật tưởng nhớ người nhạc sĩ tài hoa, người con của quê hương Phủ Diễn vào ngày 20/8/2023 vừa qua.</p>



<p>Đây là lần đầu tiên chúng tôi được biết một chương trình dành riêng cho một nhạc sĩ miền Nam trước năm 1975, lại là một người lính VNCH, được giới thiệu trong một đêm nhạc trên đất Bắc. Điều làm chúng tôi khá bất ngờ là những người tổ chức đã nhận ra giá trị của văn học nghệ thuật nằm ngoài biên giới của hệ quy chiếu chính trị một thời. Phải chăng đây là biểu hiện cho một tầm nhìn biết mở rộng để lòng người xích lại gần nhau mà mấy chục năm qua chưa có được?</p>



<p>Nhạc sĩ Hoàng Nguyên (1930 &#8211; 1973) tên thật là Cao Cự Phúc, sinh ra và lớn lên tại làng Chợ Mới, xã Diễn Bình, huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An, là người dòng họ Cao miền đất Nho Lâm &#8211; Diễn Thọ. Mồ côi mẹ từ lúc lên 3 tuổi, Hoàng Nguyên sống cùng gia đình bên nội, lớn lên học trường huyện, từng được học nhạc với thầy Nguyễn Văn Thương. Do biến động của thời cuộc, ông theo bố vào Quảng Trị tiếp tục con đường học hành. Sau đó ông học ở Trường Quốc Học, Huế, dạy học và sáng tác âm nhạc, rồi lên Đà Lạt dạy Việt văn lớp đệ lục tại Trường tư thục Tuệ Quang. NS Nguyễn Ánh 9 là học trò của Hoàng Nguyên lúc đó.</p>



<p>Năm 1957, NS Hoàng Nguyên hoạt động trong phong trào yêu nước của học sinh &#8211; sinh viên Đà Lạt. Trong một đợt truy lùng của chính quyền, do trong nhà có bản nhạc “Tiến quân ca” của nhạc sĩ Văn Cao, người mà Hoàng Nguyên rất ái mộ, ông bị bắt và bị đày ra Côn Đảo. Ở đây, Hoàng Nguyên được ông chủ nhà tù mến mộ, đưa về tư gia dạy học cho con gái. Không ngờ, lửa tình giữa chàng nhạc sĩ và cô gái 19 tuổi bùng cháy mãnh liệt. Kết quả là ái nữ đã mang thai. Chủ nhà tù buộc ông phải hợp thức hóa chuyện tình và hứa trả tự do cho ông. Như lời hứa của ông chủ, nhạc sĩ được trả tự do về lại Sài Gòn, vừa dạy học ở Trường tư thục Quốc Anh vừa sáng tác.</p>



<p>Năm 1961, Hoàng Nguyên theo học tại Đại học Sư phạm Sài Gòn, ban Anh văn. Trong thời gian này, ông có quen biết với ông Phạm Ngọc Thìn, thị trưởng thành phố Phan Thiết. Bà vợ ông là nữ diễn viên Huỳnh Khanh, mến mộ tài năng của Hoàng Nguyên đã nhận ông làm em nuôi. Ông dạy kèm cho Ngọc Thuận, con gái ông bà Phạm Ngọc Thìn. Hai người yêu nhau và ông trở thành con rể của ông bà. Trước đó ông có ý định quay lại với cô gái ở Côn Sơn, nhưng cô đã đi lấy chồng. Ca khúc “Thuở ấy yêu nhau” ra đời trong khoảng thời gian này.</p>


<div class="wp-block-image">
<figure class="aligncenter size-full is-resized"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2023/09/thuo-ay-1.jpg?strip=all&fit=504%2C282&w=2560"><img loading="lazy" decoding="async" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2023/09/thuo-ay-1.jpg?strip=all&fit=504%2C282" alt="" class="wp-image-66134" style="width:504px;height:282px" width="504" height="282"/></a></figure></div>

<div class="wp-block-image">
<figure class="aligncenter size-full is-resized"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2023/09/thuo-ay-2.jpg?strip=all&fit=375%2C479&w=2560"><img loading="lazy" decoding="async" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2023/09/thuo-ay-2.jpg?strip=all&fit=375%2C479" alt="" class="wp-image-66135" style="width:375px;height:479px" width="375" height="479"/></a></figure></div>


<div style="height:30px" aria-hidden="true" class="wp-block-spacer"></div>



<p>Năm 1965, Hoàng Nguyên bị động viên vào Trường Bộ binh Thủ Đức, sau đó chuyển về Cục Quân cụ, dưới quyền của Đại tá nhạc sĩ Anh Việt Trần Văn Trọng và được giao quản lý ban nhạc Hương Thời Gian của Anh Việt.</p>



<p>Ông qua đời vào ngày 21-8-1973 ở Vũng Tàu trong một tai nạn giao thông. Ông ra đi quá sớm, lúc mới 43 tuổi.</p>



<p>Tác phẩm tiêu biểu: Anh đi mai về (1954), Đàn ơi xa rồi (1954), Tiếng hai đêm (1957), Bài thơ hoa đào (1960), Đường nào lên Thiên Thai (1960), Lá rụng ven sông (1960), Ai lên xứ hoa đào (1961), Anh đi về đâu (1961), Tôi sẽ về thăm em (1962), Em chờ anh trở lại (1963), Tà áo tím (1963), Thuở ấy yêu nhau (1964), Cho người tình lỡ (1970)…</p>


<div class="wp-block-image">
<figure class="aligncenter size-full is-resized"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2023/09/hoang-nguyen-2.jpg?strip=all&fit=285%2C428&w=2560"><img loading="lazy" decoding="async" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2023/09/hoang-nguyen-2.jpg?strip=all&fit=285%2C428" alt="" class="wp-image-66130" style="width:285px;height:428px" width="285" height="428"/></a></figure></div>

<div class="wp-block-image">
<figure class="aligncenter size-full is-resized"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2023/09/hoang-nguyen-5.jpg?strip=all&fit=305%2C396&w=2560"><img loading="lazy" decoding="async" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2023/09/hoang-nguyen-5.jpg?strip=all&fit=305%2C396" alt="" class="wp-image-66132" style="width:305px;height:396px" width="305" height="396"/></a></figure></div>

<div class="wp-block-image">
<figure class="aligncenter size-full is-resized"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2023/09/hoang-nguyen-3.jpg?strip=all&fit=289%2C374&w=2560"><img loading="lazy" decoding="async" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2023/09/hoang-nguyen-3.jpg?strip=all&fit=289%2C374" alt="" class="wp-image-66131" style="width:289px;height:374px" width="289" height="374"/></a></figure></div>

<div class="wp-block-image">
<figure class="aligncenter size-full is-resized"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2023/09/ta-ao-tim.jpg?strip=all&fit=293%2C381&w=2560"><img loading="lazy" decoding="async" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2023/09/ta-ao-tim.jpg?strip=all&fit=293%2C381" alt="" class="wp-image-66133" style="width:293px;height:381px" width="293" height="381"/></a></figure></div>


<p><strong>Nguyễn Phú Yên</strong></p>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Ngộ Kh&#244;ng: T&#225;c Giả T&#225;c Phẩm &#8211; Du Tử L&#234;</title>
		<link>https://t-van.net/ng%e1%bb%99-khng-tc-gi%e1%ba%a3-tc-ph%e1%ba%a9m-du-t%e1%bb%ad-l/</link>
					<comments>https://t-van.net/ng%e1%bb%99-khng-tc-gi%e1%ba%a3-tc-ph%e1%ba%a9m-du-t%e1%bb%ad-l/#respond</comments>
		
		<dc:creator><![CDATA[Ngộ Không Phí Ngọc Hùng]]></dc:creator>
		<pubDate>Thu, 10 Oct 2019 05:58:18 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Góc Văn]]></category>
		<category><![CDATA[du tử lê]]></category>
		<category><![CDATA[tác giả tác phẩm]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://7076e870b2.nxcli.io/?p=4789</guid>

					<description><![CDATA[(Du Tử Lê dưới mắt Tạ Tỵ) &#160; Tiểu sử: Tên thật là Lê Cự Phách, sinh ngày10,10,1942 tại Hà Nam, qua đời ngày 7 tháng 10 năm 2019 tại thành phố Garden Grove, California, thọ 77 tuổi Tác phẩm: Nhà thơ, tác giả của hơn 30 tập thơ, truyện và tuỳ bút. Mục Lục: [&#8230;]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<p><a href="https://t-van.net/wp-content/uploads/2012/01/clip_image0029.jpg"><img loading="lazy" decoding="async" style="background-image: none; margin: 0px 20px 15px 0px; padding-left: 0px; padding-right: 0px; display: inline; float: left; padding-top: 0px; border: 0px;" title="clip_image002" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2012/01/clip_image002_thumb9.jpg?strip=all&fit=179%2C244" alt="clip_image002" width="179" height="244" align="left" border="0" hspace="12" /></a><b></b></p>
<p>(Du Tử Lê dưới mắt Tạ Tỵ)</p>
<p>&nbsp;</p>
<p><b>Tiểu sử</b>: Tên thật là Lê Cự Phách, sinh ngày10,10,1942 tại Hà Nam, qua đời ngày 7 tháng 10 năm 2019 tại thành phố Garden Grove, California, thọ 77 tuổi</p>
<p><b>Tác phẩm: </b>Nhà thơ, tác giả của hơn 30 tập thơ, truyện và tuỳ bút.</p>
<p><b>Mục Lục:</b></p>
<p><b>Phỏng vấn Du Tử Lê – Cổ Ngư</b></p>
<p><b>Đọc văn Du Tử Lê: Tôi, ấu thơ, và mẹ ; Con dế buồn tự tử giữa đêm sương ; Giờ ra chơi cuối cùng…; Đời ta ; Mai Thảo. mãi mãi. Ký ức .</b></p>
<p><b>Phụ Đính: Đọc thơ Du Tử Lê: Khi tôi chết hãy đem tôi ra biển; Khúc thụy du; Vì em tôi đã làm sa di; Giao khúc tháng sáu; Khi xa Du và T.Ch.; Khi trông thư Thụy-Châm.</b></p>
<p><b>( bạn đọc có thể tham khảo thêm về nhà thơ Du Tử Lê tại trang nhà của ông: <a href="http://www.dutule.com/">http://www.dutule.com/</a> ).</b></p>
<p>&nbsp;</p>
<p><strong><i>Du Tử Lê: </i></strong></p>
<p><strong><i>Văn chương không phải là nơi để biểu diễn những kiến thức hay khuynh hướng của chúng ta</i></strong></p>
<p><i>Cổ Ngư thực hiện</i></p>
<p><i><u>Lời nói đầu</u></i><i>:</i><i> Bài viết này ghi lại cuộc phỏng vấn trực tiếp nhà thơ Du Tử Lê trong chương trình «Du Tử Lê, Thi ca &amp; Âm nhạc» do Thư viện Diên Hồng tổ chức tại Paris, ngày 05.06.2004. Vì thế, người đọc sẽ có dịp so sánh cách sử dụng ngôn ngữ rất «đời thường» của nhà thơ trong bài tường thuật này với các bài phỏng vấn được chuẩn bị trên giấy mực đã thực hiện từ trước đến nay. </i></p>
<p><b>Cổ Ngư</b>:<i> Thưa nhà thơ, độc giả của Thư viện Diên Hồng, có nhiều người đã biết đến và yêu chuộng thơ Du Tử Lê từ lâu. Quá trình sáng tác liên tục của ông có chiều dài của thời gian và độ dày của số lượng các tác phẩm. Nhưng tất cả đều có sự khởi đầu. Xin ông nói về thời gian bắt đầu làm thơ, gửi thơ đăng báo. Những bài thơ đầu tiên ấy có ảnh hưởng gì không đến sự nghiệp của ông, sau này?</i><br />
<b>Du Tử Lê</b>: Bài thơ đầu tiên dùng bút hiệu Du Tử Lê được đăng trên tạp chí <i>Mai</i> năm 1958. Thời đó, người ta đối đãi rất trân trọng với các văn-nghệ sĩ. Tạp chí nhắn tin, mời ông Du Tử Lê ghé toà soạn lấy nhuận bút hay báo biếu gì đó. Lúc ấy, tôi không muốn cho mọi người biết tôi còn quá nhỏ, nên không xuất hiện. Ðược thấy tên mình trên bìa tờ tạp chí, cùng với tên của các ông Dzoãn Quốc Sỹ, Nguyễn Thiệu Lâu, đối với tôi, đó là một hạnh phúc, vượt ngoài mơ ước của mình. Sau đó là tạp chí <i>Văn Hữu</i> của cơ quan Văn hóa Á châu, rồi <i>Bách Khoa</i>. Riêng ở tạp chí <i>Văn</i>, thì tới năm 1964 (?), <i>Văn</i> số 4 mới đăng bài đầu tiên của tôi. Khi đó, tôi không quen ai ở báo <i>Văn</i> cả. Anh Trần Phong Giao cũng nhắn tôi đến toà soạn. Thời đó, báo <i>Văn</i> chia các tác giả ra làm hai loại. Loại thứ nhất, khi có bài đăng, được nhắn đến để cho báo biếu, sau một thời gian, tùy quyết định của tòa soạn, tác giả đó có được nhuận bút hay không. Khi anh Trần Phong Giao nhắn, tôi có nhờ một người bạn lớn tuổi, đến toà soạn, nhận là Du Tử Lê để lấy báo biếu thay cho tôi. Sau này, khi tôi trở thành người viết thường xuyên cho báo <i>Văn</i>, tôi đến, anh Trần Phong Giao hỏi: «Có gì chứng minh là Du Tử Lê không, vì người đến nhận báo biếu trước đây lại là một người khác.» Tôi trả lời: «Không có gì để chứng minh cả, tin thì cho tôi báo và nhuận bút, không tin thì tôi đi về!» Sau đó, anh Trần Phong Giao nói: «Ðược rồi, đưa thẻ căn cước đây!» Anh ấy ghi tên thật của tôi, và tôi ký nhận, là đã nhận năm chục đồng, tiền nhuận bút của báo <i>Văn</i>!<br />
Những bước đầu đó có ảnh hưởng đến tôi rất nhiều. Tôi nghĩ là tôi kém may mắn hơn đa số văn nghệ sĩ có mặt ở đây, ở chỗ, tôi trải qua một đoạn đường đi rất dài, nghiã là tôi luôn luôn ở trong tình trạng «gửi bài lai cảo». Tôi gửi bài rất nhiều cho các báo, và họ thường xuyên in tên tôi trong danh sách «nhận được, cám ơn», bởi vì, nói qua về sinh hoạt văn chương của miền Nam ngày xưa, nếu quý vị không có người trong toà báo, nếu quý vị không có người giới thiệu, không có người đỡ đầu, rất khó có thể trở thành tác giả. Nhưng tôi nghĩ, nếu mình tha thiết với văn chương, nếu mình không có con đường nào khác hơn là con đường văn chương, mình cứ nên theo đuổi nó, cuối cùng, tôi may mắn được chấp nhận. Nhưng tôi tin, các bạn ở đây, không ai trải qua con đường chông gai như tôi cả! Thời của tôi, tôi không được may mắn như những anh chị em khác! Nói như vậy, nhưng cuối cùng, tôi cũng đã được nhìn nhận, bằng chứng, chính là sự hiện diện của quý vị trong chương trình ngày hôm nay.<br />
<b>Cổ Ngư</b>:<i> Xin ông cho biết sơ qua về các khuynh hướng, thể loại, cũng như những đề tài sáng tác chính trong mấy mươi năm qua.</i><br />
<b>Du Tử Lê</b>: Giống như những người cùng thời, lúc đầu, tôi làm thơ lãng mạn, vì ảnh hưởng văn thơ tiền chiến, thời ấy, còn nhiều lắm. Sau này, phong trào thơ tự do lên cao, tôi cũng làm thơ tự do. Nhưng, tôi muốn nói: Thời khởi đầu của tôi, tôi không hề có một ý niệm gì về văn chương cả! Cũng giống như một <i>fashion</i>, một phong trào về quần áo, thời đó, người ta thích cái gì thì tôi đi theo phong trào đó. Mãi về sau này, khi mất nước, nhìn lại, tôi mới thấy: Nhà văn miền Nam đã rất vô trách nhiệm với đất nước, tổ quốc, quê hương của mình. Và tôi nghĩ rằng: Văn chương không phải là nơi để biểu diễn những kiến thức hay khuynh hướng của chúng ta. Sở dĩ tôi nói vậy, vì trước khi mất nước, thì, mặc dù phong trào Nouveau roman &#8211; Tân tiểu thuyết đã có từ lâu ở Pháp, khi du nhập vào Việt Nam, đã qua gần hai mươi năm rồi, đã tàn phai ở Pháp rồi, nhưng lúc đó, nó mới đến với chúng tôi, và chúng tôi lao vào Nouveau roman, rồi Anti-nouveau roman, với tất cả cái hãnh diện, cho rằng mình là <i>avant-garde</i>, bước những bước đầu tiên. Nhưng, thứ nhất, nó đã lỗi thời đối với thế giới, thứ hai, giữa cái tang tóc, chết chóc như vậy, mà nhà văn Việt Nam chạy theo những cái đó, thì tôi cho là hoàn toàn vô trách nhiệm. Sau này, thưa quý vị, kể từ ngày mất nước, tôi mới có ý thức về văn chương của mình. Ý thức đây, không phải là văn chương của tôi phải cứu quốc, cứu nước gì cả, nhưng tôi phải làm một điều gì đó mới mẻ, khác đi cho văn chương của mình. Ít nhất, việc này có thể giúp cho những thế hệ đi sau tôi, hoặc, khi tôi nói chuyện với sinh viên các đại học Mỹ, tôi có điều gì đó để nói. Vì vậy, sau này, tôi có nhiều nỗ lực, mặc dù, tất cả những nỗ lực để cách tân, đổi mới của tôi thường nhận được rất nhiều mỉa mai, phỉ báng. Thí dụ, có nhiều người đăng bài trên báo, viết rằng tôi là người vô học, không biết sử dụng dấu phẩy. Ðại khái là như vậy… Nhưng, sau này, gần đây thôi, ở hải ngoại cũng như trong nước, người ta bắt đầu sử dụng dấu phẩy, dấu chấm, không chỉ trong bài, mà ngay nơi nhan đề, luôn cả nhan đề nơi bìa sách, là điều mà cách đây mười năm, chúng ta không hề thấy có&#8230; Ngay những nỗ lực cách tân thể lục bát của tôi, từ nhiều chục năm qua, bây giờ, cũng đã được nhiều người công nhận, áp dụng; kể cả việc chấm dứt một bài lục bát ở câu 6 chữ thay vì 8 chữ như lệ thường, cũng đã có thêm nhiều người áp dụng&#8230;<br />
<b>Cổ Ngư</b>:<i> Ðã có rất nhiều bài viết xoay quanh nội dung thơ ca Du Tử Lê. Về hình thức, người ta thường chú ý đến hai điểm: sự cách tân lục bát, bằng cách dùng nhịp lẻ, nhịp chỏi, cách ngắt câu, xuống hàng… và việc dùng các dấu câu, như nhà thơ vừa nhắc đến, nhất là dấu gạch nghiêng (slash). Xin nhà thơ cho biết, ông có dụng ý gì trong việc dùng dấu slash trong các câu thơ của mình.</i><br />
<b>Du Tử Lê</b>: Tôi xin nói vắn tắt, vì trên sân khấu và giới hạn thời gian, chúng ta không thể đi sâu vào chuyên môn. Trước hết, văn phạm mà chúng ta có được ngày hôm nay là do mọi người đồng thuận với nhau. Ngoài năm dấu đã có, tôi nghĩ, tại sao lại không thể dùng dấu thứ sáu, dấu <i>slash</i> ( / ). Thứ đến không phải tôi lập dị, nhưng vì tôi nhớ, lúc bé, có đọc được một câu nói của người Pháp: Người đọc là tác giả thứ hai. Sau này, khi lớn lên, suy nghĩ lại, tôi mới thấy đó là một câu mị người đọc. Nếu quý vị đọc truyện của ông Mai Thảo, thơ của ông Nguyên Sa, quý vị thích hay không thích, nhưng quý vị không thể thực sự trở thành một tác giả thứ hai. Tác giả thứ hai là gì? Là người có thể hoán chuyển, có thể làm bài thơ đó trở thành một bài thơ khác. Ðúng lúc ấy, trên thế giới, <i>computer</i> trở thành một biến cố lớn của nhân loại. Chúng ta biết có nhiều cuộc cách mạng lớn: Cách mạng về kỹ nghệ, cách mạng về điện tử, cách mạng về <i>computer</i>… Tôi muốn phản ảnh thời đại của mình, vì chỉ ở thời đại điện toán, chúng ta mới có dấu <i>slash</i>, và tôi đã dùng dấu <i>slash</i> đó cùng với những chữ của tôi. Như vậy, tôi minh thị với người đọc rằng: Người đọc của tôi có thể hoán chuyển các chữ, để tạo một cấu trúc mới cho câu thơ, bài thơ. Nói cách khác, tôi chỉ là người xây dựng sẵn toà nhà và mọi người có thể di chuyển những cột, kèo trong toà nhà đó theo ý muốn của họ. Tôi không đem đến cho người đọc một <i>ready meal</i>, một bữa ăn sẵn mà người đọc không có quyền thay đổi món ăn. Nhưng nếu tôi không dùng dấu <i>slash</i>, người đọc sẽ không hiểu, vì dấu <i>slash</i> chính là một <i>symbol</i>, một ký hiệu, biểu tượng được dùng, để quý vị hiểu rằng: Quý vị có thể biến bài thơ của tôi thành bài thơ, câu thơ của quý vị. Như vậy, tôi xin lặp lại, khi dùng dấu <i>slash</i>, mục đích của tôi là để người đọc thực sự trở thành tác giả thứ hai, chứ sẽ không bị thụ động, không phải ăn một món ăn, một <i>TV dinner</i> chẳng hạn, tức là, người đọc có quyền tham dự vào việc chế biến món ăn của mình.<br />
<b>Cổ Ngư</b>:<i> Ông có dự định gì không cho việc chuẩn bị những hướng đi mới trong hiện tại, cũng như trong tương lai?</i><br />
<b>Du Tử Lê:</b> Chỉ nội việc sử dụng dấu phẩy, dấu <i>slash</i>, cho đến bây giờ, tôi vẫn còn nhận được nhiều biếm nhẽ, bỉ thử, cho nên, chắc tôi cần phải có thêm một thời gian nữa trước khi đưa ra một thử nghiệm nào khác.<br />
Tuy nhiên, nếu cần phải nói thêm thì, trong những năm tháng tới, tôi sẽ khai triển thử nghiệm hoán vị Chủ thể / Subject với Khách thể / Object. Một cách cực kỳ vắn tắt thì: Từ trước tới giờ, chúng ta (chủ thể) quan sát một sự vật, việc (khách thể) và sau đó, cho nó một kết luận. Hơn năm năm qua, tôi đã bắt đầu (chưa nhiều lắm) thử nghiệm cái mà tôi mới nói là hoán đổi vị trí Khách thể thành Chủ thể và ngược lại.<br />
Thí dụ, nếu con chó, con mèo, chiếc lá cành cây&#8230; nói được, thì chúng sẽ nói gì về chúng ta?<br />
<b>Cổ Ngư</b>:<i> Những người theo dõi thường xuyên các hoạt động của nền âm nhạc Việt Nam từ quốc nội ra đến hải ngoại chắc đều có chung một nhận xét: thơ của Du Tử Lê có một cái «duyên» rất lớn đối với nhạc. Xin ông cho biết: Vì sao thơ của ông lại được nhiều nhạc sĩ phổ thành ca khúc đến như vậy?</i><br />
<b>Du Tử Lê</b>: Ðây là một câu hỏi khó cho tôi. Có lẽ phải nhờ các nhạc sĩ nào đã phổ thơ của tôi vào ca khúc trả lời hộ câu hỏi này.<br />
<b>Cổ Ngư</b>:<i> Vậy, xin hỏi nhà thơ câu hỏi khác, chắc là dễ trả lời hơn: Hiện có khoảng bao nhiêu ca khúc phổ từ thơ Du Tử Lê? Và ai là người đưa thơ Du Tử Lê vào nhạc sớm nhất? Trong ca khúc nào? </i><br />
<b>Du Tử Lê</b>: Có khoảng trên ba trăm ca khúc phổ từ thơ Du Tử Lê. Anh Song Ngọc phổ khoảng 50 bài, nhạc sĩ Anh Bằng không dưới 20 bài, Ðỗ Vy Hạ ở Boston cũng không dưới 20 bài. Một người bạn trẻ ở Việt Nam mà tôi chưa được gặp mặt, Khang Thụy, cũng đã phổ trên 50 bài thơ của tôi, và có nhờ nhạc sĩ Trần Quảng Nam chuyển đến cho tôi các ca khúc của anh. Chỉ riêng bốn người vừa nêu tên, đã viết hơn 100 ca khúc phổ từ thơ Du Tử Lê rồi! Nhưng người đầu tiên đưa thơ của tôi đến với âm nhạc lại không phải là nhạc sĩ, mà là một ca sĩ: anh Mai Trường. Anh Mai Trường cũng còn là một lực sĩ đẹp. Anh ấy đọc được bài thơ «Thư cho em» của tôi đăng trên báo <i>Văn </i>số 4, phổ nhạc, và vì anh ấy quen thân với anh Phạm Duy, nên có nhờ anh Phạm Duy sửa chữa, gò nắn gì đấy&#8230; Sau đó, anh Mai Trường mời tôi đến nhà. Tôi còn nhớ, vợ anh ấy thuở đó có một tiệm cắt tóc rất lớn ở trên đường Trần Hưng Ðạo. Anh Mai Trường cầm đàn hát cho tôi nghe. Ðó là người đầu tiên phổ thơ của tôi vào nhạc. Tôi cũng không hiểu vì sao anh Mai Trường lại chọn bài «Thư cho em» để phổ nhạc, với tựa đề «Mai em lấy chồng». Bản nhạc đó may mắn được nhiều người ưa thích, và phổ biến đến độ, nó mở đầu cho phong trào «Tân cổ giao duyên», tức là cứ hát một đoạn «Mai em lấy chồng», rồi lại ca một đoạn cải lương… Bài thơ đó, sau này, các anh Vũ Thành An và Anh Bằng cũng đã cho nó những <i>version</i> âm nhạc khác.<br />
<b>Cổ Ngư</b>:<i> Trong một bài viết, hoạ sĩ-nhà thơ Tạ Tỵ cho biết: ông hoàn toàn không thích các ca khúc phổ thơ. Ông cho rằng nhạc điệu đã huỷ hoại, thậm chí giết chết hồn thơ. Là người có rất nhiều thơ được phổ nhạc, xin nhà thơ Du Tử Lê cho biết ý kiến của ông về nhận định vừa nêu của hoạ sĩ-nhà thơ Tạ Tỵ.</i><br />
<b>Du Tử Lê</b>: Ðây mới là một câu hỏi thực sự khó! Thứ nhất, có ba loại nhạc sĩ. Tôi không đề cập đến những nhạc sĩ nhận tiền của những người làm thơ để phổ nhạc. Hai loại còn lại: Những nhạc sĩ giết bài thơ, và những nhạc sĩ chắp thêm đôi cánh cho bài thơ. Ở trường hợp của tôi, tôi lãnh đủ cả hai loại nhạc sĩ này. Có những nhạc sĩ giúp cho bài thơ đi xa hơn, vì bây giờ, không phải ai cũng đọc, có người chỉ nghe thôi. Nhưng cũng có không ít những nhạc sĩ đã giết bài thơ của tôi. Và, vì tôi có quá nhiều thơ được phổ nhạc, nên tôi đã bị giết rất nhiều lần! Ðó là chưa kể có những nhạc sĩ lấy thơ của tôi, không chỉ là cái ý, mà cả câu thơ, nhiều câu thơ, làm thành ca khúc, mà không hề đề cập đến tên tôi; dù chỉ là hàng chữ «ý thơ» thôi, cũng không có. Thậm chí, có báo nêu đích danh bài thơ ấy, bản nhạc ấy, nhạc sĩ ấy&#8230; nhưng người nhạc sĩ này vẫn lờ đi&#8230; Riêng cá nhân tôi, tôi chưa bao giờ lên tiếng, trong những trường hợp như vậy. Thời anh Nguyên Sa còn sống, tôi từng nói vui với anh Nguyên Sa rằng, tôi có hơn một&#8230; bài thơ. Bạn tôi có lấy của tôi một bài thơ, một đoạn thơ thì&#8230; cũng chẳng sao&#8230; Ðằng nào thì bản nhạc đó, cũng đã «lỡ» nổi tiếng&#8230; Bây giờ, công khai lên báo, bắt người đó, phải&#8230; nói lại, thì tôi e rằng, sẽ không có gì kẹt hơn cho những người nhạc sĩ đó.<br />
<b>Cổ Ngư</b>:<i> Vì thấy thơ Du Tử Lê được phổ nhạc nhiều như vậy, nên không ít người đã đặt câu hỏi: Khi sáng tác một bài thơ, nhà thơ có «chuẩn bị» âm, vần, nhịp điệu… để bài thơ có thể biến thành một ca khúc trong tương lai không?</i><br />
<b>Du Tử Lê</b>: Chắc chắn là không! Vì nếu tôi có sự chuẩn bị như vậy, tôi đã không bị giết nhiều lần như thế!<br />
<b>Cổ Ngư</b>:<i> Trường hợp bài thơ «Kiếp sau, xin giữ lại đời cho nhau» đã lần lượt được hai nhạc sĩ Phạm Duy &amp; Từ Công Phụng phổ thành ca khúc. Xin nhà thơ cho biết thêm một số chi tiết xoay quanh bài thơ và hai ca khúc này. Trường hợp vừa nêu có xảy ra cho bài thơ nào khác của Du Tử Lê không?</i><br />
<b>Du Tử Lê</b>: Bài «Kiếp sau, xin giữ lại đời cho nhau», tôi viết vào năm 1967. Khi bài thơ được in trên báo, anh Phạm Duy tình cờ đọc được và phổ thành ca khúc, dùng điệu <i>ballade</i> &#8211; dân ca, có âm hưởng Tây Nguyên. Ngay sau đó, chị Thái Thanh hát bài này và trung tâm Shotguns của anh Ngọc Chánh đã thu thanh ca khúc. Một năm sau, Từ Công Phụng gặp tôi và nói: Anh ấy tin rằng có thể cho bài thơ một <i>version</i> khác. Vì tôn trọng tác giả, anh Phạm Duy giữ nguyên tưạ đề bài thơ: «Kiếp sau, xin giữ lại đời cho nhau», nên Từ Công Phụng không thể giữ nguyên nhan đề, anh cắt đi, chỉ giữ lại bốn chữ chót: «Giữ đời cho nhau». Bài hát của Từ Công Phụng, cho đến năm 1975, gần như không có ai hát cả. Nhưng khi ra hải ngoại, tôi không hiểu vì lý do gì, bài hát lại được rất nhiều người biết đến và yêu thích dưới cái tên «Ơn em», đến độ họ đem cả vào đám hỏi, đám cưới để hát… Ngoài trường hợp vừa kể, còn có «Ðêm nhớ trăng Sài Gòn» là bài thơ đầu tiên được anh Phạm Ðình Chương phổ nhạc khi anh ấy đến Hoa Kỳ, sau đó, anh Ngô Tín là người thứ hai phổ nhạc và cho thu băng, còn thêm người thứ ba nữa: anh Võ Tá Hân. Bài «Hiến chương yêu» có Nguyên Bích phổ nhạc và sau đó, anh Trúc Hồ ở trung tâm Asia cũng phổ nhạc, nhưng lấy tưạ đề khác. Một trường hợp nưã: chị Khúc Lan, lúc còn hoạt động trong Tổng hội Sinh viên Việt Nam tại Paris, có phổ nhạc bài thơ «Khúc K. riêng chàng», ghi âm qua tiếng hát Nhật Hạ. Bài thơ này, mười năm sau, anh Ðăng Khánh chuyển thành ca khúc, với tên  K. khúc của Lê». Hai anh Phạm Anh Dũng và Võ Tá Hân cũng đã phổ nhạc bài thơ này.<br />
<b>Cổ Ngư</b>:<i> Giữa thi sĩ, người làm thơ, và nhạc sĩ, người đưa lời thơ lồng vào giai điệu, chắc hẳn đã có nhiều mối giao tình đặc biệt. Trong những nhạc sĩ phổ thơ Du Tử Lê, có lẽ ba nhạc sĩ Phạm Ðình Chương, Ðăng Khánh và Trần Duy Ðức có những ca khúc để lại những ấn tượng sâu sắc nhất trong lòng thính giả, cũng như, có thể cả với nhà thơ Du Tử Lê. Xin nhà thơ kể cho mọi người cùng nghe một vài kỷ niệm đặc biệt của ông với các nhạc sĩ Phạm Ðình Chương, Ðăng Khánh và Trần Duy Ðức.</i><br />
<b>Du Tử Lê</b>: Vâng, trong ba nhạc sĩ vừa nêu tên, có một người đã mất, đó là nhạc sĩ Phạm Ðình Chương. Tôi nhớ, năm 1967, anh Mai Thảo gọi tôi, bảo: «Thằng Chương nó rủ Lê đi ăn đó!». Tôi rất ngạc nhiên, hỏi: «Chương nào?». «Thì Phạm Ðình Chương đó, quý lắm, nó mới mời cậu đi ăn đấy!». Khi ấy, tôi quen thân với anh Mai Thảo, nhưng lại chưa có dịp tiếp xúc với anh Phạm Ðình Chương&#8230; Hôm ấy, anh Phạm Ðình Chương mời anh Mai Thảo, anh Vũ Khắc Khoan và tôi ăn ở Tour d&#8217;Argent, tức Ngân Ðình, một nhà hàng toạ lạc trên sông Sài Gòn. Khi đến ăn, anh Phạm Ðình Chương mới cho biết &#8211; anh ấy vẫn giữ thói quen xưng hô <i>moa</i>, <i>toa</i> ngay cả với người trẻ hơn: «<i>Moa</i> thích và có phổ nhạc một bài thơ của <i>toa</i>. Ăn xong, cho <i>moa</i> uống tí rượu, ngà ngà, <i>moa</i> hát sơ cho <i>toa</i> nghe. Tối nay, trở về Ðêm Màu Hồng, cô Thanh, Thái Thanh, sẽ hát cho <i>toa</i> nghe.» Ðó là bài «Khi cuộc tình đã chết». Khi anh Phạm Ðình Chương hát đến đâu, anh ấy lại cho biết là đã thay đổi như thế nào, cầu kỳ lắm, và anh ấy có vẻ hãnh diện lắm. Tôi không hiểu gì về âm nhạc cả, nhưng lại thấy <i>boring</i>, hơi nản chí nữa! Ðến tối, khi được nghe tiếng hát và cách trình diễn rất lôi cuốn của chị Thái Thanh, khi ra về, tôi cám ơn anh Phạm Ðình Chương đã đãi tôi một bữa ăn, còn cho tôi đến nghe nhạc ở Ðêm Màu Hồng mà không phải trả tiền &#8211; ai đến Ðêm Màu Hồng cũng phải trả tiền cả, kể cả anh Mai Thảo, nhưng hôm đó, anh Phạm Ðình Chương mời, nên đã dặn trước người quản lý là chính anh ấy sẽ trả tiền cho bàn chúng tôi &#8211; nên tôi có nói với anh ấy: «Anh Chương ạ, nói anh đừng buồn, hồi chiều nay, ăn thì ngon, nhưng nghe anh hát thì tôi sợ quá! Tối nay, quả thật, khi nghe chị Thái Thanh hát, tôi lại rất thích!» Ðó là bài đầu tiên mà anh Phạm Ðình Chương tìm đến với thơ của tôi, bài «Khi cuộc tình đã chết».<br />
Với anh Ðăng Khánh, kỷ niệm mà tôi sắp kể ra đây, tôi cho là đẹp, nhưng quý vị nghe, có thể hơi khó chiụ. Tôi nhớ, khi anh Mai Thảo còn sống, khoảng năm 1996, anh Ðăng Khánh có mời anh Mai Thảo, chị Kiều Chinh, Hạnh Tuyền và tôi qua Houston để tổ chức một chương trình cho tôi. Chương trình đêm hôm ấy diễn tiến rất tốt đẹp. Ðêm hôm sau, anh chị Ðăng Khánh rủ chúng tôi đi chơi, để anh Mai Thảo ở nhà. Lúc đi, anh Mai Thảo không chiụ đi. Không ngờ, chúng tôi đi lâu quá! Khi trở về, hơi trễ, khoảng mười một, mười hai giờ, anh Mai Thảo đã ngồi sẵn ở bàn bếp, đang uống rượu. Vợ chồng Ðăng Khánh vừa bước vào, anh ấy mắng như tát nước: «Cô cậu đối với tôi như vậy là hỗn! Tại sao mời tôi sang rồi lại để tôi ngồi như thế này?» Tôi, nhà tôi, vợ chồng Ðăng Khánh lặng cả người đi, mặc dù anh Mai Thảo mắng Ðăng Khánh &#8211; chủ nhà &#8211; chứ không phải là tôi. Nhưng tôi rất phục Ðăng Khánh. Anh ấy chạy lại vỗ vai anh Mai Thảo, nói: «Tụi em xin lỗi anh. Tụi em lại nghĩ anh không thích đi, vì hôm qua, anh mệt quá sau khi dự chương trình của anh Lê, nên muốn để anh ở nhà nghỉ ngơi, và em không ngờ lại về trễ, anh tỉnh dậy trước…» Tôi cho đó là nhân cách đáng kể, đáng quý của Ðăng Khánh. Vì đặt tôi vào vị trí Ðăng Khánh, chưa chắc tôi đã bình tĩnh được như vậy. Cùng lắm là tôi bỏ vào phòng, chứ không thể đến vỗ vai, xin lỗi anh Mai Thảo, nhận lỗi một cách vui vẻ như vậy.<br />
Anh Trần Duy Ðức, với tôi, hoàn toàn xa lạ. Năm 1981, tôi có quen mấy người bạn trẻ: Anh Việt Dzũng, anh Lê Văn Hào. Anh Việt Dzũng từ Texas về, không có việc, nói với tôi: «Anh Lê, mình mở quán cà phê!» Lúc đó, ở Mỹ, không có quán cà phê, chỉ có một quán cà phê duy nhất, nhưng lại có tính cách thương mại. Tôi đồng ý, bỏ tiền ra để Việt Dzũng mở quán cà phê. Tôi còn nhớ Việt Dzũng ngồi bệt trên sàn nhà cùng với Lê Văn Hào, đóng bàn ghế, đóng luôn cả bục gỗ sân khấu&#8230; Sau đó, chúng tôi khai trương quán, đặt tên là cà phê «Tay Trái». Tối thứ sáu, thứ bảy, chủ nhật có ca nhạc. Chúng tôi mời những người nổi tiếng đến hát. Xong, đến phần ai muốn hát thì hát. Khai trương được một tuần, có một người khách rụt rè đến nói với Việt Dzũng: «Anh cho tôi hát, tôi muốn hát một hai bài.» Khi ấy, khách đã về gần hết. Anh ấy lên sân khấu, nói: «Tôi tên Trần Duy Ðức, mới ở đảo qua, tôi xin hát một bài thơ phổ nhạc của Du Tử Lê.» Tôi nhớ, đó là bài «Ðời mãi ở phương Ðông», một bài thơ tự do. Tụi tôi nghe, bồi bếp ra nghe hết, rất cảm động! Anh Trần Duy Ðức hát một hơi bốn bài nhạc phổ thơ của tôi, bài thứ năm, phổ từ thơ của anh Cung Trầm Tưởng. Sau đó, tôi hỏi anh Ðức: «Ở đâu ra thế?» Anh Ðức cho biết: Hồi đó, anh ở Sư đoàn 2 Không quân, đóng ở Pleiku. Tất cả những bài thơ của tôi mà anh ấy phổ nhạc là đọc được từ trên báo <i>Văn</i>, đặc biệt, toàn là những bài thơ tự do. Rồi rất nhanh chóng, Trần Duy Ðức trở thành một thành viên quán «Tay Trái» của chúng tôi.<br />
<b>Cổ Ngư</b>:<i> Trên thị trường băng điã nhạc Việt Nam tại hải ngoại, liên tiếp trong ba năm 2000, 2001, 2002, người ta thấy xuất hiện ba CD «K. khúc của Lê 1, 2 &amp; 3», gồm các ca khúc phổ từ thơ Du Tử Lê. Vì sao, bên cạnh những tập thơ, truyện, hồi ký, bán hồi ký…, ông lại quyết định thực hiện các CD nhạc này? Xin ông cho biết tiến trình của việc thực hiện các CD «K. khúc của Lê», cách chọn ca khúc, viết lời dẫn cũng như nhận định của ông về các ca sĩ trình bày.</i><br />
<b>Du Tử Lê</b>: Trước tiên, đây là công của anh Ðăng Khánh. Anh ấy thấy có những trung tâm băng nhạc sử dụng rất nhiều những ca khúc phổ từ thơ của tôi, thậm chí làm <i>video</i> về cuộc đời tôi, xuyên qua thơ nhạc, nhưng tôi lại không nhận được một khoản thù lao nào hết. Ðối với tôi, đó là một vinh dự lớn, vì cho tới bây giờ, ngay cả trong nước, vẫn chưa có ai làm một bộ <i>video</i> về các nhà thơ lớn như Thế Lữ, Xuân Diệu, Huy Cận, hay nhà văn, như Nguyễn Tuân&#8230; chẳng hạn. Tuy nhiên, quý vị và các bạn cũng hiểu, khi thực hiện, bao giờ yếu tố thương mại cũng được các trung tâm chú trọng trước nhất. Vì thế, anh chị Ðăng Khánh mới khuyến khích tôi tự làm lấy CD. Anh chị ấy cho tôi mượn tiền và trả&#8230; góp. Gọi là trả góp, sự thực, tôi viết bài hàng tuần cho anh Ðăng Khánh&#8230; Nên tôi đề nghị anh chị ấy khấu trừ dần, lương hàng tháng của tôi, cho tới khi hết nợ.<br />
Khi thực hiện CD, tôi có quyền chọn bài tôi thích. Các trung tâm, khi thực hiện CD, chỉ chọn những bài mà họ nghĩ rằng đám đông thích, và chọn những ca sĩ thu thanh mà họ nghĩ là sẽ bán được, mà không cần biết bài hát đó có hợp với ca sĩ không, hay ca sĩ, khi hát, có hiểu lời bài hát không. Các trung tâm băng nhạc không cần biết đến điều đó! Khi tôi làm CD, tôi làm cho tôi. Trước tiên, chúng tôi quyết định không dùng tiền bán CD để chi tiêu hàng ngày, mà để riêng ra, để có thể thực hiện một CD thứ hai. Ðó là một cách biết ơn bạn. Cũng nhờ vậy mà CD thứ hai và thứ ba ra được.<br />
Tiến trình thực hiện rất phức tạp. Một CD như vậy, bên Mỹ, chúng tôi sẽ tốn từ mười đến mười lăm ngàn đô-la. Tiền gì? Thứ nhất, bốn ngàn đô-la tiền hoà âm &#8211; <i>arrangement</i> &#8211; cho người nhạc sĩ tôi chọn. Thứ hai, tốn khoảng hai đến hai ngàn rưởi đô-la tiền thâu, trong phòng thâu của Mỹ. Thứ ba, từ năm đến tám trăm đô-la cho mỗi ca sĩ mà tôi chọn. Ðây là giá đặc biệt các ca sĩ dành cho tôi, vì thông thường, giá trung bình để một ca sĩ thu âm một bài hát là từ một ngàn đến một ngàn năm trăm đô-la. Chúng tôi lại phải thuê người in bìa và ruột CD, rồi lại phải chuyển master đến trung tâm để họ sang ra thành năm hay mười ngàn điã CD trước khi tung ra thị trường…<br />
Ðó là sự khởi nguồn cũng như tiến trình thực hiện các CD nhạc của tôi.<br />
<b>Cổ Ngư</b>:<i> Thay mặt độc giả của Thư viện Diên Hồng, xin cảm ơn nhà thơ, qua buổi phỏng vấn này, đã giúp chúng tôi hiểu biết thêm về các hoạt động của ông, bằng những chi tiết lý thú và cảm động.</i></p>
<h1></h1>
<h1><b>Đọc văn Du Tử Lê</b></h1>
<p>&nbsp;</p>
<h2><strong>Tôi, ấu thơ và, mẹ </strong></h2>
<p>Như mọi người, rất khó cho tôi khi phải tự khẳng định: Tôi là ai?<br />
Chưa bao giờ tôi có ý muốn tự vẽ mình bằng những nét vẽ tốt đẹp nhất, huê dạng nhất. Tôi tự biết: tôi không hề là một con người toàn hảo.<br />
Tuy nhiên, tôi cũng không muốn ôm lấy cho mình tất cả những xấu xa, những hèn hạ&#8230; Như vậy, theo tôi, nó cũng chỉ là mặt khác của sự &#8220;lên gân,&#8221; &#8220;cường điệu&#8221; một cách lố bịch mà thôi.<br />
Tôi vẫn nghĩ, như có lần tôi đã viết xuống trong một câu thơ 6 chữ thôi, nhưng đã có tới 4 dấu hỏi&#8230; Câu thơ vài chữ ấy, sau đó, may mắn được nhiều người nhắc nhở. Đó là câu:<br />
Tôi Lê? Lê? Lê? Lê nào?<br />
(Ngoài ý hướng triết lý, tôi muốn nhắc nhở chính tôi rằng:<br />
Sự thực, cuối cùng không hề có một kẻ nào tên Lê trên mặt địa cầu này;) ở mặt phô ra, cụ thể, tôi muôn nói:<br />
Tôi luôn thấy, trong mỗi cá nhân, bao giờ cũng ẩn tàng rất nhiều con người khác.<br />
Để có được một cái nhìn tương đối khách quan về mình, tôi nghĩ, tốt nhất hãy dựa trên những gì mình đã viết xuống; đã ghi lại.<br />
Với tôi, khi một người làm thơ trước trang giấy, hay trên tấm kính chiếc computer của hắn, hắn thường chân thật với hắn hơn lúc nào hết. (Nói thế, tôi không có ý loại bỏ, cũng có những cá nhân, không ít, thấy họ trở thành người khổng lồ trước trang giấy, hay trước chiếc máy computer của họ.)<br />
Tôi mới có lại cuốn thơ thứ hai trong đời làm thơ của tôi. Cuốn Tình Khúc Tháng Mười Một.<br />
Cuốn thơ này được in năm 1965, tại Saigòn; cách đây đã 34 năm. Đó là tuyển tập những bài thơ tôi viết trong khoảng thời gian trước và, sau 1960, khi chưa tới tuổi 20.<br />
Đọc lại, tôi tìm thấy trong tập thơ, một bài thơ nhan đề: Tôi, Du Tử Lê.<br />
Bài thơ có 4 đoạn. Đoạn đầu, tôi viết như sau:<br />
<em>năm mười sáu tuổi, tôi chính thức khai sinh tên tôi lần thứ hai </em><i><br />
<em>sau lần khai sinh của bố mẹ </em><br />
<em>từ đó tôi bắt đầu làm thơ </em><br />
<em>tôi bắt đầu sống &#8211; tôi bắt đầu đời tôi </em><br />
<em>như con sông bắt đầu ra biển </em><br />
<em>như tình người mới lớn, rất nhiều bao dung </em><br />
<em>như lòng tôi bắt đầu mềm sũng </em><br />
<em>bắt đầu yêu ai, bắt đầu bất hạnh </em><br />
<em>bắt đầu từ đó </em><br />
<em>tôi, du tử lê. tôi, du tử lê. </em><br />
</i><br />
Năm 16 tuổi, cũng là năm tôi bỏ nhà ra đi, sống tự lập bằng những khoản tiền kèm trẻ tư gia.<br />
Năm 16 tuổi, cũng là năm thứ ba, tôi phải sống xa mẹ tôi. Một điều, tôi những tưởng không thể nào làm được trong suốt cuộc đời mình.<br />
Với tôi, mẹ tôi không chỉ là người mang nặng, đẻ đau ra tôi. Với tôi, mẹ tôi không chỉ là người nuôi nấng, che chở, ấp ủ tôi, kể từ khi tôi mới lên ba, Thầy tôi chết; rồi một người chị, một người anh của tôi, lần lượt theo nhau, qua đời.<br />
Với tôi, mẹ tôi là toàn thể ký ức thời ấu thơ, niên thiếu tôi; dù cho, đó là một ký ức buồn thảm. Một ký ức đầy khăn tang và, đầy nước mắt. Nhưng ký ức đó, lại chính là cội nguồn, khởi đi của thế giới văn chương tôi, sau này.<br />
Năm 1989 khi mẹ tôi qua đời, tôi ghi lại gần như từng bước hình thành lộ trình ký ức ấu thơ tôi, trong trường khúc &#8220;Mẹ Về Biển Đông,&#8221; (TK/MVBĐ) với những đoạn như:<br />
<em>trí nhớ tôi là ngôi nhà nằm ven sông đáy</em><br />
<em>ngôi nhà có rất nhiều cửa sổ </em><i><br />
<em>có cánh cửa ngó xuống nỗi lầm than của mấy đời chạy giặc </em><br />
<em>những ngôi mộ xới nhanh </em><br />
<em>dấu xác người chết trẻ </em><br />
<em>xác chị, xác anh </em><br />
<em>Nho Quan, mồng ba tết </em><br />
<em>những viên đạn lửa không hận thù </em><br />
<em>những viên đạn lửa rất khoái trá </em><br />
<em>tôi chắc: người xạ thủ Tây Đen, Tây Trắng nào đó </em><br />
<em>đã xằng xặc cười </em><br />
<em>lúc thấy những viên đạn lửa xuyên suốt qua thân thể anh tôi </em><br />
<em>lồ lộ bên bờ ruộng. </em><br />
<em>&#8230;&#8230; nửa đêm người đem tin đập gấp rút cánh cửa gỗ lim tiếng nện thình thịch dội trên những bộ ngực thoi thóp vùng tề mẹ tôi xé vội chiếc áo dài trắng </em><br />
<em>quấn lên đầu chúng tôi </em><br />
<em>và, bà cũng không quên </em><br />
<em>tự quấn lấy cho mình </em><br />
<em>một mảnh tang khác. </em><br />
<em>mai tôi chết, liệu có ai ngồi khóc? </em><br />
<em>như giữa chiều nay, một bến sông!&#8221; </em><br />
<em>&#8230;. </em><br />
</i><br />
Tôi là đứa trẻ không may mắn trong một gia đình nho học cuối mùa.<br />
Tôi sinh ngày mồng 10 tháng 11 năm 1942 tại huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam.<br />
Khu nhà của gia đình tôi, nằm trên lộ chính dẫn xuống một bến sông của con sông Đáy. Từ bậc thềm cao, tôi có thể nhìn thấy bến sông này mỗi chiều, mỗi sáng.<br />
Cũng nhờ bến sông này, mẹ tôi bương bả nuôi nấng chúng tôi, bằng hai nghề chính, kể từ khi thầy tôi mất: Nghề buôn bán vật liệu xây cất và, làm ô mai&#8230;<br />
Khi chiến tranh bùng nổ dữ dội, khi nhân số trong gia đình chúng tôi cứ thưa vắng dần,&#8230;, có những giai đoạn, mẹ tôi phải gồng gánh chúng tôi chạy tản cư vào Đồi Mơ, vào Do Lễ, vào Nho Quan&#8230; Đó là thời gian trước 1950. Khi hồi cư, không còn ai xây cất, không còn ai đặt mua ô mai của mẹ tôi nữa! Mẹ tôi xoay qua nghề buôn hàng chuyến.</p>
<p>Trong thơ tôi, thời điểm này, hình ảnh mẹ tôi được ghi nhận, như sau:<br />
<i>trí nhớ tôi là ngôi nhà nằm ven sông Đáy<br />
ngôi nhà có rất nhiều cửa sổ<br />
có cánh cửa ngó xuống bước chân ngược, xuôi của mẹ tôi<br />
trên lộ trình Hà Nội-Phủ Lý<br />
những đoạn đường bị đắp mô<br />
những đêm bạn hàng phải ngủ trọ<br />
tiếng &#8220;mọc chê&#8221; câu vào đêm đen<br />
tiếng nổ &#8220;cắc bùm&#8221; bắn đi niềm tang chế<br />
mẹ tôi bưng mặt<br />
khấn nguyện vong linh thầy tôi<br />
phù hộ cho bà sống sót<br />
trở về<br />
nuôi lấy những đứa con côi cút<br />
những đứa con không cha<br />
những đứa con mất anh, mất chị.<br />
trí nhớ tôi có những cánh cửa<br />
mở xuống bữa cơm chiều<br />
bữa cơm có cút rượu trắng, cái cốc sành<br />
mẹ tôi vừa uống, vừa kể chuyện ngày&#8230;xưa<br />
&#8220;ngày xưa&#8221; của bà: ngày thầy tôi chưa mất&#8230;!<br />
bữa cơm nào của gia đình chúng tôi cũng chấm dứt bằng nước mắt.<br />
khi ấy tôi còn quá nhỏ<br />
để hiểu mẹ tôi khóc<br />
cho cảnh tình côi cút của chúng tôi<br />
hay bởi vì làm ăn lỗ lã? </i><i></i></p>
<p><i><br />
</i>(Trích TK/MVBĐ)<br />
Chẳng những tôi không có được một tuổi thơ bình thường, như những đứa trẻ cùng thời, (mà,) cả một thơ ấu, một niên thiếu tôi đã trôi lăn theo nước mắt mẹ tôi. Lộ trình tuổi thơ tôi là &#8220;Lộ trình nước mắt.&#8221; Tôi trôi, lăn theo dòng nước mắt không bao giờ ngưng chảy của mẹ tôi, từ Kim Bảng, Phủ Lý, ra tới Hà Nội, 1951. Sau Hiệp định Geneva, cuối năm 1954, theo người anh thứ hai (bị trở thành anh cả,) gia đình chúng tôi di cư vào Đà Nẵng; rồi Hội An; Đà Nẵng; (và,) cuối cùng: Saigòn, 1957. Tháng Tư, 75, ngày 29, gia đình người anh lớn của tôi: Di tản&#8230;<br />
Mẹ tôi không chịu đi&#8230;! Chỉ bởi vì tới chiều hôm đó, mẹ tôi vẫn chưa có tin tức tôi&#8230;<br />
Bà không biết đứa con út của bà, là tôi sống, chết ra sao!<br />
Thời điểm này, tôi đã lớn. Tôi đã trưởng thành; đã ra đời&#8230;<br />
(Tôi đã kiếm ăn với tất cả những trầy trụa, trây trúa của một xã hội chiến tranh, điên đảo&#8230;)<br />
Mẹ tôi ở với anh tôi và, các cháu, ở đường Trương Minh Giảng. Tôi ở Ngã Bảy; Rừng Cao Su Phú Thọ; rồi Thị Nghè; rồi làng Báo Chí, Xa Lộ. Thời gian 1975, tôi đã bước vào tuổi ba mươi. Dù xã hội khi ấy nhìn tôi thế nào, ra sao, (thì,) mẹ tôi, trong sâu thẳm, cũng như qua tất cả mọi lời nói của mẹ tôi, tôi vẫn là đứa con út côi cút, đứa con tật nguyền, đứa con bất hạnh nhất trong số 4 đưa con còn sót lại, sau tất cả 12 lần sanh, nở của bà. Thời gian 1975, dù cho xã hội có đánh giá tôi ra sao, thế nào, (thì,) mẹ tôi vẫn chỉ thấy tôi, trước, sau là &#8220;Chú Phá&#8221; (tên và, cách gọi của mẹ tôi, dành cho tôi, tới phút cuối đời bà.) Một &#8220;chú Phá&#8221; nhút nhát, không bao giờ trưởng thành, như các anh, các chị tôi.<br />
Một &#8220;chú Phá&#8221; vẫn làm nũng, vẫn sà vào lòng mẹ, kéo căng, vầy vò hai núm vú đã nhăn nheo, đã bèo nhèo, đã đen đúa như hai cục đất nhão của bà&#8230;<br />
Nhưng, dù mẹ tôi có yêu thương tôi cách mấy, dù tôi cần thiết biết bao nhiêu, phải có bà cho đời mình; cuối cùng, rồi mẹ tôi cũng qua đời! Bà sống thêm, chỉ được vỏn vẹn hai năm, kể từ ngày tôi đưa được mẹ tôi ra khỏi đất nước. Sự ra đi vĩnh viễn của mẹ tôi, không hề mang ý nghĩa cái &#8220;lộ trình nước mắt&#8221; đời tôi chấm dứt.<br />
Lộ trình dòng lệ không ngừng tuôn, chảy <a href="http://dactrung.net/baiviet/noidung.aspx?BaiID=Hv20cGI6Vo2A0Xe9PQCkrA%3d%3d##">kia</a>, nơi mẹ tôi, lại truyền thừa sang tôi. Tôi trở thành người có thể khóc, bất cứ lúc nào, như một đứa con nít, mỗi khi nhớ, nghĩ tới mẹ tôi.<br />
Nói cách khác, trước sau gì, ký ức tôi, cũng vẫn là ký ức của một kẻ tật nguyền. Ký ức của một kẻ khôn thoát khỏi cái lộ trình nước mắt của chính hắn:<br />
<i>tới lúc chết<br />
mẹ tôi còn ngỡ mình vẫn thở<br />
giữa Saigòn, Trương Minh Giảng, Hồng Thập Tự, Hàng Xanh, Trần Hưng Đạo<br />
những chuyến xa Lam về Hòa Hưng, Ông tạ<br />
những chuyến xe nửa đời, nửa đoạn<br />
những chuyến xe chưa kịp về sông Đáy<br />
đã nghe buồn trên những trở lui&#8230;<br />
biển thở tít chân trời thăm thẳm, chết<br />
biển Đông vào cửa khác, phân, ly<br />
tôi ngồi lại nghe buổi chiều chụp, phủ<br />
nén hương tàn, mộ chí ai kia?<br />
mẹ một thuở theo đàn con đi khuất<br />
để hôm nay mất dấu quay về<br />
trong thân xác đã khô cằn máu đỏ<br />
thịt xương kia rồi cũng rữa, tan.<br />
những ngôi mộ ở bên ngoài đất nước<br />
ngàn năm sau hai tiếng Việt Nam<br />
không ai gọi, không ai còn nhớ nữa<br />
nắm xương xưa rồi cũng quên nguồn.<br />
khi tôi tới những bông hoa ối đỏ<br />
cỏ cây chờ như tượng đã bao năm<br />
tôi muốn chọn một chỗ nằm bên cạnh<br />
không còn cha, môi mẹ máu hoen bầm!<br />
</i>(Trích TK/MVBĐ)<br />
Sau cái chết của mẹ tôi không lâu, một buổi trưa, tôi đang ngồi trong một quán ăn ở miền Nam California, quán Song Long, với Nhà văn Mai Thảo; Bác sĩ Nguyễn Mạnh, một người bạn văn chương (và,) cũng là bạn đồng môn trường trung học Chu Văn An, từ bàn bên cạnh bước qua.<br />
Ông bảo tôi, theo ông (thì,) tôi đã mắc phải chứng bệnh Thyroid&#8230;<br />
Tôi cần phải đi chữa ngay; nếu không muốn chết bất đắc kỳ tử. Lý do, trái tim của tôi có thể ngưng đập, bất cứ lúc nào!<br />
Bác sĩ Nguyễn Mạnh chuyên về quang tuyến X, nên hôm sau, tôi tới phòng mạch một người bạn khác. Phòng mạch Bác sĩ Đặng Đức Nghiêm, cũng là chỗ quen biết với tôi&#8230;<br />
Sau khi thử nghiệm, Bác sĩ Nghiêm nói kết quả thử nghiệm xác nhận: Tôi đã bị mắc chứng bệnh Thyroid. Tôi có cố gắng làm theo những đòi hỏi của B.S Nghiêm, như thử máu, chụp phim,&#8230;, nơi phòng mạch của Bác sĩ Phùng Gia Thanh, trong khu Magnolia Medical Center&#8230; Tuy nhiên, nửa chừng, tôi lại bỏ ngang. Tôi không đủ phương tiện theo đuổi cuộc chữa, trị. (Khi đó, tôi không hề có Medical, cũng chẳng có bảo hiểm.)<br />
Cuối năm 1991, anh em CVA ở Houston, nhân một cuộc họp mặt cuối năm, mời Giáo sư Toàn Phong-Nguyễn Xuân Vinh qua, nói chuyện. Giáo sư Vinh được mời nói chuyện về đề tài &#8220;Hệ thống giáo dục tại Hoa Kỳ.&#8221; Tôi cũng được anh em mời qua, nói về đề tài &#8220;Tình cảnh người cầm bút sau 1975.&#8221; Lúc phải trả lời những câu hỏi của các bạn đồng môn, có một người không đặt cho tôi câu hỏi nào liên quan tới đề tài; (mà,) lại bước ra, hỏi tôi có biết tôi đang mang chứng bệnh Thyroid trong cơ thể?<br />
Ông hỏi tại sao tôi không chữa chạy căn bệnh ấy?<br />
Người đó là Bác sĩ Hồ Tấn Phước; một cựu học sinh CVA.<br />
Khi được biết, tôi rất muốn chữa, trị; nhưng không có điều kiện&#8230;; BS Phước nói, ngay trong buổi họp mặt rằng, anh sẽ chữa, trị cho tôi; chỉ với một điều kiện:<br />
Tôi phải dọn nhà, phải di chuyển về Houston&#8230;<br />
Tôi vô cùng cảm động (và,) cũng vô cùng áy náy trước tấm lòng hết mực tử tế của BS Phước.<br />
Khi trở lại Cali, tôi coi chuyện đó như không có. (Tôi không nhìn thấy nơi tôi một khả năng, một cơ hội đền ơn, dù rất nhỏ, dành cho Bác sĩ Phước.)<br />
Tôi tiếp tục chung sống với căn bệnh Thyroid của mình, thêm một năm nữa.<br />
Người tích cực điên thoại hối thúc, thậm chí đề nghị cung cấp phương tiện di chuyển, nơi ăn, chốn ở, xe cộ &#8230;cho tôi là Trương Trọng Trác, tức nhà báo Trọng Kim, một bạn học thuở thiếu thời của tôi. Trước sự quan tâm, hối thúc tới nao lòng của Trác, cuối cùng, tôi quyết định đình bản tờ báo Tay Phải, di chuyển về Houston. Đó là những ngày đầu năm 1992.<br />
Giai đoạn này, cuộc đời tôi, cũng bắt đầu một khúc quanh khác.)<br />
Theo Bác sĩ Hồ Tấn Phước ở Houston, Texas, người tình nguyện trả tất cả mọi y phí trị bệnh cho tôi, (thì,) Thyroid hay bệnh &#8220;Bướu cổ lộ hầu&#8221; thường xẩy tới cho những người có gia đình đổ vỡ, phá sản, thất tình; hoặc, bị bệnh ưu uất kéo dài quá lâu&#8230; Những lời giải thích kia, của Bác sĩ Phước trùng khớp với hoàn cảnh tôi, thời điểm ấy. Thời điểm cuối thập niên 80, đầu thập niên 90. Trước (và,) sau cái chết của mẹ tôi, đời sống tôi là một loạt những đổ vỡ: Đổ vỡ gia đình. Đổ vỡ tình cảm. Đổ vỡ niềm tin, trong đời thường.<br />
Tôi nhận chịu mọi tai ương, không một lời giải thích.<br />
Tôi nhận chịu mọi kết án, nguyền rủa, không một đính chính&#8230;<br />
Để chống trả những mạng lưới bủa vây trùng điệp bất hạnh này, tôi tìm vào hai nguồn an ủi chính: Tôn Giáo và, Thi Ca.<br />
Đây là thời gian tôi viết được khá nhiều thơ; (mà,) nguồn cảm hứng chính lại khởi đi từ kinh Phật, (và,) kinh Cựu Ước, nhiều nhất là Tân Ước, của Ky Tô Giáo.<br />
Cũng thời gian này, bất ngờ, cố thi sĩ Nguyên Sa cho đăng trên Tạp chí Văn của Nhà văn Mai Thảo; cùng một lúc ba bài thơ. Ba bài thơ mở đầu cho loạt thơ (mà,) ông gọi là &#8220;Thơ Tám Câu Viết Về Bằng Hữu.&#8221;<br />
Đó là các bài có nhan đề &#8220;Mai Thảo;&#8221; &#8220;Doãn Quốc Sỹ;&#8221; &#8220;Du Tử Lê.&#8221;<br />
Mở đầu bài thơ nhan đề: &#8220;Du Tử Lê,&#8221; cố thi sĩ Nguyên Sa viết:<br />
<i>bạn ta bằng nửa con cò<br />
vác trên lưng cái đền thờ con voi<br />
con voi nặng cũng vừa thôi<br />
có em người đẹp lại ngồi bên trên.</i><br />
Bài thơ sau đó được in lại trong cuốn Thơ Nguyên Sa, tập 3, của Nguyên Sa, tính ra cũng đã gần 10 năm. Tuy nhiên, tới ngày hôm nay, vẫn còn rất nhiều người hỏi tôi:<br />
-Đâu là ý nghĩa sâu xa của câu &#8220;có em người đẹp lại ngồi bên trên?&#8221;<br />
Tôi nhớ, trong một bài nói về tôi, Nhà thơ Trần Bát Nhã ở New Orleans đã dành nhiều phút giải thích về bài&#8230; &#8220;Con Cò Du Tử Lê&#8221; kia.<br />
Dường những giải thích của họ Trần không thỏa mãn được nhu cầu tìm hiểu của người đọc.<br />
Họ Trần nhấn mạnh khía cạnh &#8220;đền thờ con voi&#8221; như một ý niệm về sự vĩ đại của ngôi đền thi ca&#8230; Ông không tận giải câu &#8220;có em người đẹp lại ngồi bên trên.&#8221; của Thi sĩ Nguyên Sa.<br />
Riêng cá nhân tôi, trước câu hỏi kia, suốt bao nhiêu năm, khi được hỏi, tôi chỉ cười, hoặc lắc đầu. Hôm nay, tôi nghĩ, có lẽ đã tới lúc nên nói một lần, cho rõ ý nghĩa của câu thơ ấy.<br />
Tôi nghĩ, có dễ, đó cũng là cách bày tỏ lòng trân trọng của cá nhân tôi, trước vong linh Thi sĩ Nguyên Sa, một thi sĩ lớn, có tầm ảnh hưởng rộng rãi trong thời đại chúng ta. Theo tôi, chữ &#8220;người đẹp&#8221; mà tác giả dùng trong câu thơ &#8220;Có em người đẹp lại ngồi bên trên&#8221; không hề mang ý ám thị một người nữ nào, trong đời sống của tôi.<br />
Chữ &#8220;người đẹp&#8221; ở đây, Thi sĩ Nguyên Sa muốn nói:<br />
-Cảm hứng trong thơ của tôi, bao giờ cũng bắt nguồn từ những cuộc tình&#8230;<br />
Dù cho đó là những cuộc tình ồn ào, tan nát, đầy tai tiếng&#8230; Hay những cuộc tình đã âm thầm tan đi; (và,) số người biết được, rất giới hạn.<br />
Nhận định của cố Thi sĩ Nguyên Sa về nguồn gốc thơ tôi, với tôi, là một nhận định rất tinh tế.<br />
Có thể, nhờ từ Việt Nam tới hải ngoại, trong nhiều chục năm, liên hệ giữa chúng tôi không hề bị gián đoạn. Đôi khi, ông cho tôi cảm tưởng, ông hiểu về tôi, nhiều hơn chính tôi nữa.<br />
Quả vậy, ngoài nguồn cảm hứng từ người mẹ, đã qua đời; tất cả những bài thơ tôi viết xuống, dù cho chúng không phải là những bài thơ tình yêu đôi lứa&#8230; Nhưng động lực thúc đẩy tôi viết, vẫn là một hay nhiều người nữ.<br />
Thời gian Thi sĩ Nguyên Sa bắt đầu loạt thơ tám câu viết về bằng hữu, cũng là thời gian tôi cho phổ biến bài &#8220;Cuối Năm Chuyện Vãn Với Bệnh Thyroid.&#8221;<br />
Đó là một trong những bài thơ không hề có chung một khởi nguồn: nguồn tình yêu, với những bài thơ khác của tôi.<br />
Bài thơ có những câu rất đời thường, rất thô tháp, như:<br />
<i>ô kê, cũng tốt thôi Thyroid<br />
dù giờ đây chúng ta mới tình cờ nhận ra mặt mũi nhau<br />
dù bạn ở trong tôi năm, sáu năm trước<br />
dù bạn đã chọn những miếng ngon nhất của thân thể tôi<br />
để xơi<br />
xơi từ từ<br />
xơi kín đáo<br />
(như những nhà chính trị khôn ngoan: ngậm miệng ăn tiền)<br />
bạn xơi<br />
miếng gan mềm có máu thơm luân lưu<br />
miếng tim xốp nhiều lỗ<br />
bao năm đập liên hồi trống trận.<br />
Thyroid, chính bạn<br />
(chứ còn ai vào đấy)<br />
đã xơi của tôi miếng mắt trong<br />
chính bạn chủ mưu đẩy con ngươi tôi lồi ra khỏi hốc mắt<br />
bạn chơi khăm quá đi<br />
chơi đểu quá đi<br />
chơi sát ván<br />
chơi tôi ná thở&#8230;<br />
hơn ai hết<br />
bạn biết Chúa từng dặn dò<br />
nếu để một con ngươi của ngươi có dịp phạm tội<br />
thì thà chịu chột để được vào nước thiên đàng<br />
còn hơn giữ nguyên mà sẽ bị đọa về địa ngục.<br />
bạn vẫn nhất định xơi con mắt của tôi<br />
cũng được đi<br />
nhưng chả việc gì phải chơi nhau tận tình đến thế&#8230;<br />
dù sao tôi cũng chỉ cần con ngươi của mình lúc này thôi<br />
(ngay khi chúng từng có cơ phạm tội)<br />
để nhìn những người tình ra đi<br />
như nhìn dòng nước chảy<br />
(những dòng nước không có khởi nguồn<br />
sẽ lấy đâu làm điểm kết thúc?)<br />
</i>&#8230;..<br />
(Năm 1994, khi Luật sư Phạm Đức Tiến, tổ chức cho tôi, một buổi giới thiệu tác phẩm &#8220;Chấm Dứt Luân Hồi: Em Bước Ra&#8221;, ở Thư Viện Trung Ương Arlington, Hoa Thịnh Đốn, tôi nhớ, Nhà văn Trương Anh Thụy đã đề cập tới bài thơ này, một cách sâu sắc&#8230;)<br />
Đó là thời điểm đầu thập niên 90. Thời điểm mà, những người phụ nữ bỏ tôi ra đi. Thời điểm của những cuộc tình khốc liệt. Những cuộc tình, duyên mang đến cho tôi, cùng lúc hạnh phúc chói, gắt; và, tai tiếng xấu, xa; thậm chí, cả những lời nguyền rủa.<br />
Thời điểm đó, là thời điểm (mà,) cuộc tình giữa tôi và một nữ nghệ sĩ (mà,) tôi gọi là Lãm, hay Lãm Ca, đi tới điểm cực đại của ồn ào, của những lời thêu dệt, của những bài báo, thư rơi&#8230;<br />
Hôm nay, nhớ lại, tôi còn ê chề, tôi còn xấu hổ. Nếu không có hai nguồn cứu rỗi là Tôn Giáo và Thi Ca, tôi nghĩ, hôm nay, tôi đã không còn đứng đây. Bây giờ, ở đây, khi thố lộ những điều này, với tôi, chính là lời cảm ơn, đồng thời, cũng là, lời xin lỗi&#8230; Tôi muốn bày tỏ cùng lúc, lòng biết ơn và, xin tha thứ cho những tội lỗi, những sai lầm, những bầm giập chất chồng từ một quá khứ sắp tròn 60 năm.</p>
<p>(Nếu mẹ tôi có mặt, lúc này, tại đây, bà sẽ không tin tất cả những gì tôi mới tâm sự. Là một người phụ nữ ít học, mẹ tôi lớn lên, lấy chồng, sinh con, nuôi, ru, răn, dạy chúng tôi, bằng kho tàng ca dao, tục ngữ chừng như bất tận; trước sau, với bà tôi không hề là một đứa con trưởng thành. Với bà, tôi không thể là người có thể làm thơ, viết văn, dù chỉ là loại thơ, văn &#8220;vớ vẩn&#8221; (như sinh thời, bà thường nói.) Tôi vĩnh viễn chỉ là &#8220;chú Phá&#8221; tật nguyền, tội nghiệp của riêng bà, mà thôi.)<br />
Mặc dù vậy, hôm nay, xin mọi người, xin quý vị hãy vui lòng nhận đón, không chỉ thơ tôi, (mà,) luôn cả con người tôi, trong đời thường. Một con người, phần nào trần trụi, trước mặt quý vị.</p>
<p>&nbsp;</p>
<h1><b>Con dế buồn tự tử giữa đêm sương</b></h1>
<p>Nhiều năm qua, mỗi lần kéo valise ra xe, đi phi trường, tôi thường tự hỏi: Di chuyển, phải đó là định mệnh mới, chính và, cuối, đời mình? Lần nào tôi cũng nghe được câu trả lời dứt khoát, mạnh mẽ, không. Tôi không hề có chung mơ ước với tác giả Vang Bóng Một Thời; khi ông cho thấy, ông rất tâm đắc với câu nói của một nhà văn tây phương, rằng, lúc chết, ông muốn người ta lột da ông, làm valise, cho ông được đi tiếp.<br />
Tôi vẫn nghĩ, nếu được lựa, chọn, tôi chọn ở bền chặt, ở dài lâu một nơi chốn. Nếu được lựa, chọn, một ngày nào, tôi muốn báo, đền quê hương tôi, phần thịt, xương mục, nát của mình. Ngay nhúm da vô nghĩa, nếu không thành phân bón cho cây, cỏ; tôi cũng mong, chí ít, nó sẽ là thực phẩm cho côn trùng&#8230;<br />
Mấy lúc gần đây, tôi chợt hiểu, tôi không chỉ nợ con người, đất nước, (mà,) tôi còn nợ rất nhiều côn trùng&#8230; Tôi biết, có người sẽ khó nhịn cười, khi nghe tôi, khẳng định: Côn trùng, (thú vật nữa,) là những người bạn thân thiết nhất của tôi, suốt thời thơ ấu!<br />
Nhiều năm qua, mỗi lần kéo valise ra xe, đi phi trường, tôi thường tự hỏi: Di chuyển, phải đó là định mới, chính và, cuối đời mình? Lần nào, tôi cũng nghe được câu trả lời dứt khoát, mạnh mẽ, không&#8230;<br />
Tôi vẫn nghĩ, nếu được lựa, chọn, tôi chọn ở bền chặt, ở dài lâu, một nơi chốn&#8230;<br />
Như vừa qua, khi kéo chiếc valise lên xe của N., ra phi trường John Waynes, chờ chuyến bay đi Hoa Thịnh Đốn, tôi trực nhớ, cách đây đúng một tuần, chuyến bay từ Sydney mới thả tôi xuống phi trường LAX. Khả năng tự điều chỉnh giờ giấc, điều chỉnh thân, tâm với mỗi nơi chốn, trong tôi, chưa thích ứng; tôi lại giam, nhốt tôi trong một chuyến bay đằng đẵng, khác.<br />
Lúc được mời lên lên sân khấu, phát biểu, đầu óc, máu huyết tôi còn bồng bềnh, nhập nhoạng Sydney, Blue Mountain, Melbourne, Yra, Garden Grove, Westminster, Cleveland, Falls Church&#8230;<br />
Tôi tự hỏi, phải xu hướng định cư, xu hướng bền chặt&#8230;(nên,) trước mấy trăm thân hữu, cuộc họp mặt ở Hoa Thịnh Đốn, tôi nói: Nơi chốn, tự nó không có một giá trị, một ý nghĩa nào, nếu không có con người. Chính con người cho nơi chốn một linh hồn, một trái tim, và từ đó, nơi chốn mang ít, nhiều ý nghĩa&#8230;”<br />
Tôi nói, chính những người có mặt ở đấy, đêm đó, đã cho Hoa Thịnh Đốn, một linh hồn, một trái tim. Và, một trong những nơi chốn, tôi mơ ước trở lại, khao khát được sống với, là Hoa Thịnh Đốn&#8230; Nửa đêm, tôi mang niềm mơ ước được sống với một số nơi chốn, cùng tôi, lên xe Phó Ngọc Văn. Nửa đêm, mơ ước về một nơi chốn, cùng tôi, trôi trong biển sương mù, Virginia, mùa đông. Trôi cùng tôi, còn là hình ảnh những pho tượng trắng co ro, ké né cạnh những gốc phong cổ thụ, trơ xương, và, con suối đóng băng, chẻ đôi cánh rừng, sau lưng ngôi nhà Nguyễn Mạnh Hùng, đường Wynford.<br />
Trôi cùng tôi, còn là những bờ, luống kỷ niệm Victoria, tươm, nóng lênh đênh. Trôi cùng tôi, còn là ngọn đèn, tiếng hát, căn phòng Melbourne, lỗ mỗ thương yêu, loang lổ ký ức.<br />
Trôi cùng tôi, còn là những ngọn nến, đêm, sông Hương, rằm tháng Bảy, (với Hạnh, xưa,) khi ngược chiều xa lộ 95, là những đôi mắt xe, bập bềnh, trôi, chậm. Trôi cùng tôi, còn là câu thơ mới của Phó Ngọc Văn: Chẻ đôi xa lộ, bỗng sầu tự nhiên&#8230;<br />
Tôi không nghĩ Phó Ngọc Văn chỉ muốn đọc tôi nghe, câu thơ kia, như một bộc bạch tâm sự Văn, những năm, tháng gần đây. Tôi nghĩ, có thể, Văn muốn chia sẻ với tôi, những chia cắt, đứt lìa tự nhiên, tựa đó mới chính là khuôn mặt đích thực đời sống. Tôi nghĩ, bạn tôi, có thể, muốn nhắc nhở, dẫu cho chúng tôi có gánh, vác trên vai, mối sầu muộn nào, (thì,) cũng là lẽ đương nhiên, thường hằng của mỗi con người. Mối sầu, (sự phiền muộn) dường không còn là loại xa xí phẩm, đồ trang sức cần thiết cho tâm hồn, thuộc riêng một giới nào nữa. Nó không còn thuộc về một chiếc linh hồn nhỏ / mang mang thiên cổ sầu, như hế hệ đàn anh của chúng tôi. Thế hệ Huy Cận.<br />
Bất hạnh, (khuyết tật,) tôi nghĩ, đã là tấm thẻ nhận dạng của thế hệ chúng tôi, cùng nhiều thế hệ kế tiếp. Bất hạnh, (khuyết tật,) như tình yêu, giúp chúng ta trưởng thành; đồng thời giúp thế hệ sau, sống được, sống cùng, lớp trước. Tôi biết, tôi đã mang câu thơ bạn tôi, đi xa, quá xa chiếc bóng nó. Bởi vì khi bạn tôi viết chẻ đôi xa lộ, bỗng sầu tự nhiên, có dễ, nó chỉ có nghĩa: chẻ đôi xa lộ, bỗng sầu tự nhiên thôi. Chính tôi, đúng vậy, chính tôi phá hỏng chữ tự nhiên (mà,) tôi thích. Tôi cho là đáng kể nhất trong câu thơ đó.<br />
Nhưng, tôi cũng tin, bạn tôi đủ rộng lòng, xóa bỏ lỗi tôi; như Hoa Thịnh Đốn, đủ bao dung, để tha thứ, cảm thông tôi, một khi Hoa Thịnh Đốn biết, giữa Virginia, (mà,) tôi nhớ biết bao, Melbourne.<br />
Nhiều năm qua, mỗi lần kéo valise ra xe, đi phi trường, tôi thường tự hỏi: Di chuyển, phải đó là định mệnh mới, chính và, cuối, đời mình? Lần nào tôi cũng nghe được câu trả lời dứt khoát, mạnh mẽ, không&#8230;<br />
Nếu được lựa, chọn, tôi chọn ở bền chặt, ở dài lâu, một nơi chốn. Thí dụ, Melbourne.<br />
Tôi trở lại Melbourne, sau mười hai năm. Mùa hè, Melbourne, thành phố vẫn nhận được những cơn mưa bụi vào sớm mai, buổi chiều, hay cuối khuya kia, nhưng chẳng nhờ thế (mà,) nó không khô, cháy cuống họng vì mùa hè, chói gắt đường phố.<br />
Mùa hè, Melbourne, mười hai năm gặp lại, đã mở lớn cánh cửa tình yêu thứ nhất, dành cho tôi, như sự dang rộng đôi tay nhung lụa của người mẹ (thay vì cha) mừng đón đứa con hoang đàng trở về.<br />
Melbourne, mười hai năm gặp lại, đã mở hết cánh cửa tình yêu, mùa hè, cho tôi, sớm hôm, đời khác. Ngay cả mùa hè, có như ai đó, (phải chăng, Phạm Duy,) cho rằng, chúng ta chỉ có một mùa hè thôi&#8230;, (thì,) nó cũng đã là một ân sủng, một tặng phẩm lớn lao, tôi không hề mơ tưởng, nhận được từ Thượng Đế.<br />
Melbourne, mùa hè, mở cho tôi cánh cửa mang tên Hà Công Phúc, Lê Văn Thanh, Hồ Công Lộ, Nguyễn Thuyên&#8230;những con người quá mức thiết tha với Việt Nam; những trái tim qúa mức mẫn cảm với tổ quốc.<br />
Melbourne, mùa hè, mở cho tôi cánh cửa, bước vào ngôi nhà Lê Thanh Cảnh. Nơi tôi không chờ đợi được thấy dáng ngồi rất Serenata, được nghe tiếng đàn (hay nỗi lòng) rất Serenade, từ những ngón tay mười chín, hai mươi, chạy trên phiếm dương cầm của một giáo sư piano, là chị Cảnh. Cùng với mưa (như bụi,) rơi bên ngoài tòa lâu đài, tôi cũng cũng không chờ đợi được nghe Giáo sư Nguyễn Xuân Định, nói về ngữ pháp, và, nhất là, tiếng hát rất Anh Ngọc, của ông.<br />
Melbourne, mùa hè, mở cho tôi cánh cửa, bước vào ngôi nhà của một Trần Quốc Đông, người bạn thời niên thiếu.<br />
Cùng với mùa hè Melbourne, Đông cho tôi những chăm sóc chu đáo, những lo lắng tế nhị, những thăm hỏi, nhắc nhở dịu dàng&#8230;Như thể tôi không phải là thằng bạn thời niên thiếu của Đông; (mà,) tôi là đứa em út, thất lạc bao năm, bỗng không Đông tìm lại được&#8230;<br />
Tôi nghe lòng mình mềm, sũng với cảm tưởng, vợ chồng Trần Quốc Đông muốn chăm chút, đền, bù cho đứa em út kém may mắn&#8230; Và, tôi đã thọ, hưởng một cách tận tình, hạnh phúc, những tình cảm này, từ bạn. (Tuồng ngay tôi, cũng thấy tôi là đứa em út thiếu may mắn của vợ, chồng Đông vậy.)<br />
Cũng tại tòa nhà mới mua của Đông, mùa hè, Melbourne, tôi được nghe, biết bao tiếng hát. Tôi thọ, hưởng biết bao thương yêu; nhất là tấm lòng, tiếng hát Hương-Thuận.<br />
Tôi muốn nói với Hương-Thuận, đừng cho tôi thêm nữa, thương yêu. Đừng cho tôi thêm nữa, trên ngọn tình sầu; k. khúc của lê; ơn em; trong tay thánh nữ, có đời tôi&#8230;<br />
Đừng cho tôi thêm nữa, chỉ nhớ người thôi, đủ hết đời; đêm, nhớ trăng saigòn, người về như bụi; hãy bảo tôi; em ngủ trong một mùa đông,&#8230;<br />
Cũng trong tòa nhà của Đông, tôi muốn nhờ Hương-Thuận, nói với người con gái, dừng cho tôi thêm nữa: ngày dù xa khơi có luyến tình người &#8211; giọng buồn không vơi sẽ tắt nụ cười &#8211; một ngày yêu nhau, buồn cho chín kiếp thương đau &#8211; rồi về mai sau, có nhớ tình đầu &#8211; ngày buồn không vơi, chắp nối hận sầu &#8211; một ngày xa nhau &#8211; chỉ còn thương đau &#8211; chỉ còn thương đau&#8230;<br />
Duyên Thề, phải đó là nhan đề ca khúc? Tôi cố để không nói với Hương-Thuận, với người hát rằng, đó là bài hát đã ở với tôi, khi tôi còn tấm bé. Ca khúc mà người anh thứ hai của tôi, (anh Dư,) cuối năm 1954, từ chối di cư vào Nam; trước khi lặng lẽ bỏ nhà, bỏ Hà Nội, một mình trốn về Hà Nam, tìm lại ngôi nhà chôn nhau cắt rốn, từng hát, từng tặng lại chị Quy tôi, như kỷ niệm (tường chừng duy nhất, cuối cùng, cho một chia tay chị, em, vĩnh viễn!)<br />
Melbourne, mùa hè, mở cho tôi cánh cửa tiếp xúc với những người trẻ đặc biệt của Victoria.<br />
Như Quốc Tuấn, đã làm tôi bất ngờ, tới ngỡ ngàng, khi trên sân khấu Happy Receptions, Quốc Tuấn hát Dòng suối trăm năm. Tôi không chờ đợi Tuấn yêu thích bài này. Tôi càng không chờ đợi Tuấn hát nó. Vậy mà, Tuấn đã hát. Tuấn hát với tất cả trân trọng, tấm lòng gửi vào những vết thương tôi, e nhiều đời khôn khép miệng.<br />
Chẻ đôi sông, núi: kênh, mương cạn / đêm quấn khăn vào sâu ấu thơ / chẻ đôi thân, thế: mù tăm tích / ta nghĩa trang nào chôn cất nhau?<br />
Không! Tôi không chờ đợi, điều đó. Cũng như tôi không chờ đợi, nghe tâm sự của Trần Quốc Hùng, người lính, người tù cải tạo, (luật sư hôm nay,) sau hai mươi sáu năm bặt tin nhau, nơi quê người.<br />
Tâm sự hay, mối tình đầu đời của Hùng, với Lê Thị Kim Hường Trâm, cháu ruột của tôi? Tâm sự hay, niềm ngậm ngùi, nỗi bất hạnh (tật nguyền) của thế hệ Hùng và Trâm?<br />
Tôi không biết tôi phải chọn điểm đứng nào giữa hai đầu tan vỡ?<br />
Bây giờ Trâm đã có gia đình. Hùng cũng vậy.<br />
Tôi chỉ có cho tôi, xúc động. Tôi nghe gai ốc trên da thịt, từng hồi. Tôi điếng lặng, nghe Hùng kể, trong một lá thư nào đó, Trâm thẳng thắn cho Hùng biết, hãy quên Trâm đi. Thời gian, khoảng cách, quê người đã biến Trâm thành một kẻ khác, từ tâm hồn tới hình hài! Trâm thực tế, Trâm mặt đất&#8230;như bất cứ một người phụ nữ Việt Nam nào, khi bước ra từ cái melting pot của xã hội Hoa Kỳ&#8230;<br />
Và, Hùng, một mình, đi tiếp con đường lý tưởng thời tuổi trẻ. Hùng, một mình, đi tiếp con đường Hướng Đạo, con đường Cao Ủy Tỵ Nạn Liên Hiệp Quốc&#8230;<br />
Bây giờ, mỗi ngày, với bút hiệu Quốc Việt, Hùng gửi tấm lòng, trái tim nước non của mình, trên làn sóng SBS, Victoria&#8230;<br />
Sau khi chia tay Hùng, tôi chợt nghiệm thấy: Nếu có những giọng nói có khả năng mang chúng ta bay thẳng tới tương lai, thì cũng có những giọng nói, tự thân, có âm lực ném trả chúng ta, ngược về quá khứ.<br />
Quá khứ, gần ba chục năm. Quá khứ, ngôi nhà, Trương Minh Giảng. Quá khứ, Huế, Quảng Trị, Vũng Tầu, Thị Nghè&#8230;Quá khứ, những ngày chinh chiến một thời của Hùng, và Hường Trâm; và tôi, hôm nay, tật nguyền (trong nghĩa nào,) trước mối tình của họ!<br />
Quá khứ, tôi nghĩ, nếu muốn, tự nó cũng có thể làm lấy cho nó một buổi kỷ niệm, mang tên ba mươi năm. Như người ta thường tổ chức những buổi kỷ niệm&#8230; ba mươi năm lấy nhau vậy!<br />
Nhưng, nồng nàn trên mọi nắng, gió; sâu, lắng dưới mọi bất hạnh (tật nguyền,) Melbourne, mùa hè, đã mở cho tôi cánh cửa bé dại; cho tôi gặp lại những người bạn côn trùng, thời thơ ấu.<br />
Đó là người con gái tên K., từ hàng ghế khán giả, đứng lên, xúc động hỏi tôi về con dế trong Trên ngọn tình sầu.<br />
Trên sân khấu Happy Receptions, mười hai năm, gặp lại, tôi nói, tôi là đứa trẻ không may mắn. Với một bàn tay, có tới sáu ngón tay, tôi không chỉ tật nguyền tinh thần, như nhiều người thế hệ tôi, mà, tôi còn tật nguyền thể chất nữa&#8230;<br />
Tôi nói, tuổi thơ tôi, giới hạn trong khu nhà của gia đình tôi, ở Phủ Lý. Tuổi thơ của tôi, quanh quẩn với mẹ, chị vú, u già, người chị gái sát tôi&#8230; Bạn tôi là&#8230;côn trùng, cùng nhiều sinh vật nhỏ bé, khác&#8230;<br />
Tôi kể tên những người bạn tôi thời thơ ấu. Tôi nói, họ có tên là cào cào, châu chấu, dế cơm, dế trũi, dế đá&#8230;<br />
Tôi kể tên những người bạn tôi thời thơ ấu. Tôi nói, họ có tên là ếch, nhái, chuột bạch; chim sẻ, chào mào, chim sáo&#8230; Tôi nhắc tới tên cá đuôi cờ, cá rô, cá bò, cá trê, cá chép&#8230; Những con cá tôi lấy trộm từ mỗi mẻ cá mẹ tôi mua từ chợ hay, người ta mang đến tận nhà&#8230; Tôi thả bạn tôi vào những chum, vại chứa nước mưa. Tôi cũng thả các bạn tôi vào bể nước lớn&#8230; Nơi hàng năm, tới mùa mơ chín, mẹ tôi mua mơ về, ngâm muối, làm ô mai cung cấp cho các đại lý&#8230; Các Bạn tôi, dù khỏe như cá bò, cá trê, dù tôi có lén thăm nom, thả cơm cho bạn hàng ngày, thì, cuối cùng, bạn tôi vẫn bỏ tôi đi! Bạn tôi vẫn&#8230;chết.<br />
Sự bỏ đi vĩnh viễn của các bạn tôi, dĩ nhiên chỉ khiến một mình tôi buồn. Nhưng ngặt nỗi, cái chết của các bạn tôi, lại làm tanh, thối bể nước, chum, vại&#8230; Với chum, vại còn dễ, chúng nhỏ thôi; nhưng cực nhất, phiền phức nhất, là sự xúc bể&#8230; Những người làm của mẹ tôi phải dùng bàn chải cứng kỳ cọ thành và, đáy bể trước khi đổ nước mới vào, ngâm nhiều ngày&#8230;và, cứ thế, cho đến khi bể nước thực sự hết mùi&#8230;<br />
Tôi nghĩ, mẹ tôi biết tôi là thủ phạm chứ! Nhưng lần nào bà cũng la toáng lên. Bà làm bộ hỏi u-già, chị vú của tôi, biết đứa nào thả cá vào hồ, chỉ cho bà, bà sẽ, đánh cho nó một trận&#8230; nên thân&#8230;cho nó chừa!<br />
Lần nào, tôi cũng trốn sau các vựa lúa, hoặc chạy băng qua mấy chiếc sân lớn, tới khu đất bán đồ xây cất&#8230;Tôi làm bộ tha thẩn đứng nhìn mấy dây thiên lý bò dọc theo bờ tường, như thể chẳng một liên hệ mảy may gì tới những xáo trộn, ồn ào kia!&#8230;<br />
Trên sân khấu Happy Receptions, tôi trả lời K., khi tôi viết con dế buồn tự tử giữa đêm sương&#8230;, ý tôi chỉ muốn nói, tôi không có tuổi thơ, hay tuổi thơ tôi bị thắt cổ chết một cách tức tưởi, âm thầm, không ai hay biết, chẳng ai buồn để ý&#8230;<br />
Tôi đâu ngờ, sự thành thật, như một đền đáp của riêng tôi, trước lòng chân thiết của những người trẻ ở Happy Receptions, như Hồng Liên, Đinh Hương, Tuấn Kiệt, Xuân Hùng, Nghiêm Lệ, Anh Đào&#8230;lại khiến K. bưng mặt khóc suốt&#8230;<br />
Nếu Anh Đào không kể lại, tôi đâu biết, câu trả của tôi, làm K. nhớ lại người chị, vài năm trước, một đêm, cũng tự tử bằng cách&#8230;thắt cổ.<br />
Tôi không biết, liệu có liên hệ gần, xa nào giữa con dế buồn&#8230;trong thơ tôi và cái chết của người chị của K.(?) Vì, khi tôi hỏi Anh Đào, K. đâu? K. đâu rồi? Thì Anh Đào bảo, cô đã bỏ về ngay lúc chương trình vừa chấm dứt. Lúc mọi người bận rộn, tíu tít chụp hình, chụp ảnh với tôi, trên sân khấu! Nhưng một chuyện cũng liên quan tới những người bạn tôi thời thơ ấu, tôi biết rõ, nhờ nhân vật trong chuyện, còn sống, sau này, trở thành bạn tôi, là Nguyễn Vũ Nhã. Nhã kể, những năm đầu tỵ nạn, một đêm, cuối thập niên 70, ở San Jose, khi tuyệt vọng như những cánh tay bạch tuộc, chặn bít mọi nẻo đường sự sống, Nhã quyết định bước vào ngõ hẹp duy nhất (mà,) tuyệt vọng chừa lại cho Nhã là: tự vẫn!<br />
Trước khi uống thuốc, tự kết liễu đời mình, Nhã viết nguệch ngoạc mấy chữ vào tấm napkin, nơi bàn ăn: con dế buồn tự tử giữa đêm sương&#8230;<br />
Nhã kể, sớm mai, các bạn chung nhà, không thấy Nhã dậy để chuẩn bị đi học, lại tình cờ đọc được dòng chữ nguệch ngoạc của Nhã, họ chạy lên lầu, xô cửa phòng Nhã&#8230;<br />
Khép lại một trong những chương sách buồn bã nhất đời mình, Nhã gượng cười, bảo tôi, Nhã đâu ngờ, chính con dế, (một trong những người bạn tôi thời thơ ấu, đã tự tử trong thơ tôi,) lại là keû cứu mạng Nhã.<br />
Sau này, trong bài Thơ từ note book tháng 12-96 hay những cám dỗ của nửa sự thật, bên kia, đề tặng Nguyễn Vũ Nhã, có đoạn, tôi viết:<br />
ngọn đèn cám dỗ tôi / bằng ly nước, những viên thuốc độc và, quyết định tự tử của con dế / em cám dỗ tôi / bằng bước trở lại / (của chính tôi) / từ bên kia cánh cửa thần chết /&#8230;(*)<br />
Nhưng, nồng nàn trên mọi nắng, gió; sâu, lắng trên mọi bất hạnh (tật nguyền,) Melbounre, mùa hè, cũng đã mở cho tôi cánh cửa tuổi trẻ, với Kiệt, Hùng, Chí Thượng, Thanh Trúc&#8230; ở chương trình phát thanh mang tên VVV&#8230;<br />
Từ những người trẻ này, một người trẻ, có dễ trẻ nhất, trong số họ, bước ra, hỏi tôi có đọc The Thorn Birds, của Colleen McCullough? Cô bé hỏi tôi, có đọc Hermann Hesse? Câu chuyện dòng sông? Tôi nói, có. Có chứ. Chẳng những tôi đọc, mà nó còn là một trong những cuốn sách tôi thường mang theo, trong những chuyến đi dài ngày.<br />
Tôi nói và, chỉ cho cô bé thấy những đoạn tôi gạch dưới. Chẳng hạn đoạn đối thoại giữa Meggie và cha Ralph, nơi chương thứ 16:<br />
“&#8230;Her hand stole along his bare arm, tenderly. ‘Dear Ralph, I do see it. I know, I know&#8230;. Each of us has something within us which won’t be denied, even if it makes us scream aloud to die. We are what we are, that’s all. Like the old Celtic legend of the bird with the thorn in its breast, singing its heart out and dying. Because it has to, it’s driven to&#8230;&#8230; Everyone singing his own little song, convinced it’s the most wonderful song the world has ever heard&#8230;.. All we can do is suffer the pain, and tell ourselves it was well worth it.’ ” (**)<br />
Tôi trả lời cô bé, cùng lúc nhận ra, cô cũng chính là người hát Duyên Thề, buổi tối, trong ngôi nhà Trần Quốc Đông. Tôi nhớ, khi đọc truyện này, tôi rất thích những đoạn cậu học trò Tất Đạt, ngây ngô trong vòng tay ái ân lão luyện của kỹ nữ Kiều Lan&#8230; Tôi cũng rất thích cái theme hay cái manifesto (theo cảm nhận của tôi,) khi Hermann Hesse nhấn mạnh ý niệm mọi tìm kiếm chân lý, chỉ có thể thực hiện được bằng sự kinh qua bản thân, chính mình. Nó không thể từ kẻ khác; dù người ấy là Đức Phật&#8230;<br />
Bởi, một khi phải dùng tới ngôn ngữ, để truyền đạt, thì ngay Đức Cồ Đàm cũng phân chia sự vật, ý niệm thành nhiều phần, dạng khác nhau. Trong khi chân lý, đại ngã, thậm chí hòn đá, là một &#8212; là hòn đá, vậy thôi&#8230;<br />
Tôi nhớ, tôi đã không thấy cần thiết hỏi tên, địa chỉ, hoặc số điện thoại của cô bé. Vì cô bước ra từ đám người trẻ nhất, tôi được tiếp xúc, sinh hoạt, sống cùng, như Kiệt, Hùng, Chí Thượng, Thanh Trúc, nên tôi gọi cô là Thanh Tịnh. Và, tuồng, cô cho tên gọi, chỉ là chuyện nhỏ.<br />
Phải, tất cả chỉ là chuyện nhỏ, khi chúng tôi có thể nói chuyện với nhau, về những chuyện (tưởng chừng) ghê gớm, lớn lao hơn&#8230;<br />
Như khoảng cách chỉ một đường tơ mơ hồ giữa chính, tà, một trong vài theme lớn của truyện Kim Dung. Như tính tri kỷ tới não lòng (bất nhân?) của đôi bạn Khúc Dương / Lưu Chính Phong trong bộ Tiếu Ngạo Giang Hồ.<br />
Thanh Tịnh hỏi tôi có chú ý tới sự bình thản của Lưu Chính Phong, khi tiếp nhận tin con ông bị giết? Thanh Tịnh hỏi tôi, có quan tâm đoạn Cha Ralph trong The Thorn Birds, thú nhận với Cha Bề Trên: ông thấy mình là kẻ tội lỗi &#8212; Thì, Cha Bề Trên bảo cha Ralph rằng, con người, dù là ai, cũng không thể xét tội mình&#8230;<br />
“Vì phán xét là quyền của Chúa. Chỉ riêng Chúa mới có quyền năng ấy.”<br />
Chuyện nhỏ! Nhỏ thôi. Nhỏ quá đi chứ, khi cô cho tôi biết, cô đã đọc vì em, tôi đã làm sa di; tiếng kêu nào / bên kia thời tiết /; tôi, ấu thơ và, mẹ; ở chỗ nhân gian không thể hiểu&#8230;<br />
Nhưng tôi không biết, có phải là chuyện nhoû chăng, khi cô nêu vấn đề kiếp khác, đời sau theo quan điểm Phật giáo, và sự phủ nhận tin tưởng này, theo Ky Tô giáo&#8230;<br />
Cô nêu vấn đề Việt Nam, đất nước sau 1975&#8230;<br />
Trở lại California, với nợ áo, cơm, đời thường, đọc lại Câu Chuyện Dòng Sông, The Thorn Birds, Tiếu Ngạo Giang Hồ&#8230;; nhớ lại những phát biểu bất ngờ của Thanh Tịnh, những câu nói / hỏi (cũng đầy bất ngờ Thanh Hồng, Hương Thuận, Chí Thượng, Kiệt, Hùng, Thanh Trúc&#8230; ở Melbourne, mùa hè, tôi càng nghiệm ra: Tên gọi hay, bất cứ một danh từ, một lý thuyết, một nhân danh nào, xét tới rốt ráo, cũng chỉ là&#8230;chuyện nhỏ.<br />
Đúng vậy! Chuyện nhỏ!<br />
Qua Thanh Tịnh, qua các tác phẩm, tôi thêm hiểu rõ, đạo đức, chân lý nào cũng đều có đủ, hai mặt. Như Tất Đạt nói với Thiện Hữu rằng, thế giới<br />
&#8230;Hoàn hảo trong mọi giây phút, mọi tội lỗi đều mang theo với nó sự ân xá, mọi trẻ con đã là những ông già tiềm tàng, mọi mầm non đã sẵn mang chết chóc, và trong mọi người hấp hối, đã có sự sống vĩnh cửu. Một người không thể nào thấy được người khác đã đi bao xa, đức Phật hiện hữu trong kẻ trộm cướp và tay bạc bịp. (&#8230;) Bởi thế đối với tôi dường như mọi sự vật hiện hữu đều tốt cả &#8211; chết cũng như sống, tội lỗi cũng như thánh thiện, khôn ngoan cũng như điên rồ&#8230; (***)<br />
Trở lại California, với nợ áo, cơm, đời thường, những lúc dành giựt được từ bàn tay khắc nghiệt ngày, tháng dăm mụn, miểng thời gian thư thả, tôi lấy làm tiếc, đã không nói được với những người trẻ, với Thanh Tịnh, mùa hè, Melbourne, những suy nghiệm mới của mình.<br />
Chẳng hạn, tôi cho rằng, người ta không chỉ học được nhiều điều, từ kho kinh nghiệm của những người từng trải, mà, người ta còn học được rất nhiều điều, từ những trong sáng, tinh khiết nữa.<br />
Chẳng hạn, tôi cho rằng, khi Tất Đạt hay, Hermann Hesse còn đặt vấn đề đại ngã, sự không có thời gian, vì chỉ có cái duy nhất là hiện tại, hiện hữu, thì, mặc nhiên, ông đã làm một so sánh, hay liên tưởng tới tiểu ngã, quá khứ, tương lai&#8230;<br />
Bởi, cũng ông, chính ông nói, khi chúng ta còn phải dùng tới văn tự, ngôn ngữ để truyền chân lý, thì tính giới hạn, nhị nguyên cũng đã có mặt trước khi văn tự hay, ngôn ngữ được sử dụng&#8230;<br />
Tôi nghĩ, có dễ, chúng ta chỉ nên tự hỏi mình: Chúng ta có đang thực sự sống (?) Và sống thế nào? Sống với một đấng thiêng liêng, (tôi gọi là Đấng Một,) hay mình ên, ngoài vũ trụ?<br />
Ngay vấn đề huyết thông, tương quan cha mẹ, con cái, tình yêu, vợ chồng, tôi cũng muốn kể với các bạn trẻ, với Thanh Tịnh rằng, tôi đọc được đâu đó, những câu hỏi (nhắc nhở?) đại loại:<br />
-Chẳng qua, chúng ta đã không chịu nhận chân sự thật: Những đứa con chỉ mượn cửa ngõ cha mẹ, để với dạng con người, chúng tiếp tục nghiệp chúng?<br />
Hoặc:<br />
-Qua nhiều đời kiếp, thế hệ, chúng ta vẫn không đủ ngay thẳng, công bình, để nhìn nhận rằng, việc sinh thành ra những đứa con, từ chúng ta, cũng chỉ là một thứ nghiệp, (mà,) chúng ta phải trả, vậy thôi!&#8230;<br />
Nhiều năm qua, mỗi lần kéo valise ra xe, đi phi trường, tôi thường tự hỏi: Di chuyển, phải đó là định mệnh mới, chính và, cuối, đời mình? Lần nào tôi cũng nghe được câu trả lời dứt khoát, mạnh mẽ: không&#8230;<br />
Tôi vẫn nghĩ, nếu được lựa, chọn, tôi chọn ở bền chặt, ở dài lâu một nơi chốn. Nếu được lựa, chọn, một ngày nào, tôi chọn báo đền quê hương tôi, phần thịt, xương mục, nát của mình. Ngay nhúm da vô nghĩa, tôi cũng mong, nếu không thành phân bón cây, cỏ; chí ít, cũng sẽ là thực phẩm cho côn trùng. Mấy lúc gần đây, tôi cũng chợt nhận ra, tôi không chỉ nợ con người, đất nước; (mà,) tôi còn nợ rất nhiều những người bạn tôi, thời thơ ấu&#8230;<br />
Và, hôm nay, tôi lại cảm nghiệm thêm (rằng,) tôi đã nợ mùa hè, Melbourne&#8230;<br />
Một trong những nơi chốn, tôi sẽ chọn ở bền chặt, ở dài lâu, nếu được phép.<br />
Nhưng trên tất cả, tôi nghĩ, chung quy, vẫn là cái nghiệp và, sự kỳ diệu của bàn tay Đấng Một.<br />
Như con dế tôi bắt nó phải tự tử (trong thơ tôi, cách đay nhiều chục năm) âu cũng là nghiệp của nó! Như mùa hè, Melbourne, những cánh cửa, đêm, tiếng hát, mưa, tôi và những người bạn tôi, thời thơ ấu, lại đang nắm tay nhau, bước vào nghiệp, khác?</p>
<h1><b>Giờ ra chơi cuối cùng </b></h1>
<p>&nbsp;</p>
<h1><b>của những cậu học trò 60 tuối</b><b></b></h1>
<p>&nbsp;</p>
<p><b></b><b></b><br />
và, Thành, cùng T.riêng.<br />
Tôi mới được tham dự đám cưới một người bạn. Một đám cưới, tôi tin, nếu nhóm thực hiện cuốn sách &#8220;Những kỷ lục thế giới&#8221; biết được, nhiều phần họ sẽ xin phép để ghi lại.<br />
Tính kỷ lục hay, kỳ cục của đám cưới này, không phải vì sự chênh lệch quá xa vể tuổi tác, giữa cô dâu, chú rể. Nó cũng không nằm nơi sự tốn kém, chiếc bánh cưới, to, cao, nhất thế giới. Không. Tất cả những gì mọi người có thể nghĩ tới, để trở thành kỷ lục, dù là kỷ lục&#8230;kỳ cục, đều không nằm trong trường hợp đám cưới bạn tôi.<br />
Tính kỷ lục hay kỳ cục của đám cưới Nguyễn Quang Minh, hỗn danh &#8220;Minh Dê,&#8221; bạn tôi, nằm nơi những người bạn của anh. Những người bạn thời niên thiếu. Những người bạn của Minh từ các mái trường Chu Văn An, Trần Lục, (và,) Nguyễn Trãi, Saigòn, giữa thập niên 50. Những người bạn hầu hết, tóc hoa râm. Có người đầu bạc trắng. Những người bạn, hầu hết đã thành danh. Có người đang là ông nội, ông ngoại. Có người là chức sắc đáng nể của những tôn giáo lớn. Có người giữ tiền viện trợ cho những quốc gia nghèo khó (trong số đó, có cả Việt Nam.) Có người đang nắm giữ vai trò chủ nhiệm, chủ bút của những tờ báo Việt ngữ, với tầm ảnh hưởng ra khỏi nước Mỹ. Có người đến từ Úc châu. Có người mới về từ Bắc Kinh, sau nhiều tháng nghiên cứu thị trường tại xứ sở nổi tiếng vì đông dân nhất thế giới. Có người là nhạc sĩ, tiếng tăm trải dài nhiều thế hệ&#8230;<br />
Nhưng, điều đáng nói, trên tất cả mọi danh tánh, hình tướng, chức vụ, địa vị, theo tôi, ở chỗ, họ là những người đã có với nhau một tình bạn, gần năm mươi năm. Một nửa thế kỷ.<br />
Nhưng, điều đáng nói, trên tất cả, năm nơi, chú rể Nguyễn Quang Minh, một người hùng của binh chủng Thiết Giáp, kẻ được báo chí saigòn, 1972, tước phong là &#8220;Tư Lệnh Đệ Thất Hạm Đội&#8221; trên chiến trường sông, nước miền Trung; cũng nhìn đám cưới của mình, như một cái cớ, cho những người bạn thuở niên thiếu, tìm về, nhận nhau. Và, cũng rất đáng nói, khi cô dâu Kim Liên, đã chia sẻ ngày vui một đời của mình, cho những người bạn chồng, đã xế chiều, tóc trắng. Và, cũng đáng nói, khi những nàng dâu Chu Văn An, Trần Lục, Nguyễn Trãi, những hương sắc một thời, những vàng son một thuở, cùng chia sẻ với chồng, với nhau, niềm hãnh diện (ngậm ngùi?); nỗi hân hoan (thất lạc,) trong &#8220;giờ ra chơi cuối cùng&#8221; của chồng mình.<br />
Với một phần ba tổng số bàn, được dành cho đám bạn thời niên thiếu của chú rể, (và,) những nàng dâu thảo của các mái trường cũ, nhiều lúc, tôi bỡ ngỡ, như lọt giữa một sân trường trung học, giờ ra chơi, hay, một góc sân vận động, giờ thể thao.<br />
Khắp nhà hàng vang, dội tiếng &#8220;mày, tao.&#8221; Khắp nhà hàng, vang, dội tiếng gọi nhau, tiếng cười ầm ấm, hô hố của những người được sống lại niên thiếu, hồn nhiên, cảm động, tới rưng rưng.<br />
Tôi thấy đâu đó, giữa lớp sóng đầu người, lao xao, gương mặt Nguyễn Quang Minh, rạng rỡ. Cái rạng rỡ ngời ngợi, của những cậu học trò&#8230;giờ ra chơi. Giờ ra chơi cuối cùng.<br />
Đâu đó, tôi thấy Ngọc Hoài Phương, chủ biên Hồn Việt, tạp chí đầu tiên (và,) lâu đời nhất của Việt tỵ nạn. Vẫn phong cách tay chơi hào hoa, ký giả trẻ tuổi nhất của làng báo Saigòn, những năm cuối thập niên 50, tác giả &#8220;Cõi Tạm&#8221; bắt tay người này, chụp ảnh với người kia. Ngọc Hoài Phương nhắc nhở kỷ niệm với Tài &#8220;Con,&#8221; về từ Saint Louis. tài &#8220;Con&#8221; khuôn mặt du đãng thời học sinh rất có hạng, nhưng khi về tới nhà, thì Tài &#8220;Con&#8221; lại là một cậu bé bụ&#8230;sữa, non choẹt&#8230;<br />
Đâu đó, giữa lớp sóng đầu người lao xao, tôi thấy một Nguyễn Hữu Hiệu, dịch giả &#8220;Bác Sĩ Zhivago,&#8221; đang nghiêng đầu nói chuyện với Phương Dung, người bạn đời hiện nay của Ngọc Hoài Phương, về hiện tượng mới nhất của nhân loại: chữa bệnh bằng tâm linh. Chữa bệnh bằng con đường truy tầm tiền kiếp, soi dấu trăm năm. Tôi không biết tác giả &#8220;Sự Tái Sinh Của Những Lạt Ma Tây Tạng&#8221;- Phương Dung, nói gì với họ Nguyễn. Chỉ biết họ Nguyễn rất hăng hái trình bày kiến thức, hiểu biết mới của anh với các bạn cũ, chung quanh.<br />
Đâu đó, giữa lớp sóng đầu người, lao xao, tôi thấy Phạm Duy Ánh, người cựu sĩ quan cấp tá, Lực Lượng Đặc Biệt, người tù binh, được thả về sau hơn 10 năm tù đầy, từ nam chí bắc, với đôi hàm răng&#8230;trống trơn, với một chiếc chân trở thành tật nguyền, (coi như cái giá phải trả của kẻ thua trận,) rất trẻ thơ khi năm tay Hùng &#8220;World Bank.&#8221;về từ Hoa Thịnh Đốn, cùng người bạn đời N.T. của anh. Lần đầu tiên, tôi thấy Hùng &#8220;World Bank&#8221; trút bỏ được cái cung cách chững chạc, đạo mạo của một chuyên viên Ngân Hàng Thế Giới thâm niên, hồn nhiên đùa vui với Dinh &#8220;Kèn,&#8221; tức Trần Trung Ginh. Bằng vào tài năng trời cho, Ginh đã kiếm ra tiền từ thời còn đi học bằng tiếng kèn đồng của mình, tại các vũ trường. Bây giờ, Ginh bỏ kèn, làm công việc: sưu tầm tin tức, địa chỉ của những anh em thời niên thiếu. Ginh trở thành &#8220;Ginh &#8220;Ông Trùm,&#8221; với vết sẹo cắt ngang môi, như một tay hảo hán thời hậu&#8230;Chiến Quốc.<br />
Đâu đó, giữa lớp sóng đầu người, lao xao, tôi thấy một Vũ Gi Mưu, Thợ Nhổ Răng, đang thảo luận một cách &#8220;gay go&#8221; với Định &#8220;Mục Sư,&#8221; với Nguyễn Huy Yên &#8220;Đỡ Đẻ.&#8221; Yên về từ Fresno, vẫn với nụ cười, giọng nói, điệu bộ&#8230;rụt rè, của một cậu học sinh ngoan từ mấy chục năm trước. Định &#8220;Mục Sư,&#8221; đến từ Nam Ca Li, là một Định từ tốn, đạo mạo, như giờ phút nào cũng là giờ phút Thánh Lễ.<br />
Đâu đó, giữa lớp sóng đầu người, lao xao, tôi thấy dáng ngồi võng xuống, với chiếc mũ nồi che hết phần trán mênh mông bác học, của Vũ Thành An. Tôi được nghe lại tiếng hát của Vũ, qua một số tình khúc của anh. Những tình khúc, được Vũ viết khi còn ngồi trên ghế, trung học đệ nhất cấp. Tác gỉa &#8220;Những Bài Không Tên&#8221; ân cần nắm tay Vũ Văn Năm, tức Năm Đen, Nguyễn Ngọc Chấn, tự Chân Cậu Trời, hay Chân &#8220;mã Tấu,&#8221; ngày xưa. (Ngày xưa) khi Chân bước vào giang hồ ở năm thứ ba trung học, Chân đã nổi tiếng là Chân &#8220;Mã tấu&#8221; khi Chân cùng với một đám giang hồ thứ thiệt, vác một chiếc mã tấu từ Saigòn, ra tận Nha Trang &#8220;tầm thù.&#8221; Tôi thấy An &#8220;Thầy Sáu&#8221; cười rất tươi với Phạm Tuấn Bách, còn được gọi là &#8220;Bách Trưởng Tộc,&#8221; khi Bách, Thuần tự &#8220;Thuần Mật Khu,&#8221; Định &#8220;Đầu Bạc,&#8221; Kiệm &#8220;Luật Sắt&#8221; đại diện &#8220;nhà trai,&#8221; đi hỏi vợ cho Minh&#8230;Dê.<br />
Tôi nghĩ Bách Trưởng Tộc là nickname mà, các bạn Bách mới đặt cho anh, sau khi anh &#8220;de đọa&#8221; họ nhà gái bằng một màn &#8220;trịnh trọng&#8221; đối đầu với nhà gái. Nếu nhà gái biết Phạm Tuấn Bách, đẹp trai, học giỏi nổi tiếng, đứng trước mặt họ, trong quá khứ, cũng là một tay du dãng lừng danh, thì chắc họ sẽ không dám&#8230;nhận sính lễ của Bách mang tới. Ngày xưa Bách Công Tử nổi tiếng&#8230;ít nói. Bởi vì, Bách Công Tử có một cách nói&#8230;khác. Tiếng &#8220;nói&#8221; khác của Bách là những trái đấm, những &#8220;lưỡi dao&#8221; ngọt ngào&#8230; Chính vì chọn nói chuyện với cuộc đời bằng một tiếng&#8230;nói khác, cho nên Bách &#8220;tái hồi&#8221; trường Y Khoa Saigòn, cũng có tái ba hồi, bốn bận&#8230;<br />
Tôi nghĩ Thuần &#8220;Mật Khu&#8221; là tên mà, Ngọc Hoài Phương đặt cho Thuần mới đây, sau<br />
khi biết chuyện Nha sĩ Nguyễn Đức Thuần, &#8220;rút quân&#8221; về khu khỉ ho cò gáy ở vùng núi San Fernando, mở phòng nhổ răng cho&#8230;Mễ Tây Cơ (và,) mọi da Đỏ&#8230;<br />
Đâu đó, giữa lớp sóng đầu người, lao xao, tôi thấy Trương Trọng Trác, tức nhiếp ảnh gia Tr3, tức Trọng Kim, chủ bút bán nguyệt san Ngày nay, Houston, ôm vai Bùi Vĩnh Hưng, H.O., tác giả của những bài thơ tình nhẹ nhàng, trên Hồn Việt. Điều trớ trêu, ở chỗ, Hưng bị chính những &#8220;đồng hương&#8221; bên vợ Hưng giam nhốt, hành hạ Hưng, một cách tận tình. Vì, vợ Hưng là dân&#8230;Củ Chi &#8220;Thành Đồng Đất Thép.&#8221; Cho nên Hưng được gọi là Hưng&#8230;Củ Chi (đôi khi hai chữ sau, còn được đọc ngược lại một cách rất thân yêu&#8230;)<br />
Khi được biết nickname mới của Hưng, Trương Trọng Trác thích lắm, bảo:<br />
&#8220;Như vậy tớ có bỏ ngang chuyến đi nguyên cứu thị trường ở Bắc Kinh cho tụi Mẽo, để về đây dự đám cưới thằng Minh, cũng không có chi ân hận&#8230;&#8221;<br />
&#8220;Ân hận cái&#8230;củ chi ấy,&#8221; Hưng Củ Chi nhăn nhó.<br />
&#8220;Nếu mày không có mặt ở đây hôm nay, mày đâu có gặp được thằng Chi&#8230;Bán Nước.<br />
Chi đây là Vũ Chi, nguyên gíao sư tốt nghiệp Lý Hóa ở Saigòn. Qua Mỹ từ năm 1975, &#8220;mất dậy,&#8221; (chữ của Chi,) trải qua nhiều nghề, cuối cùng, Chi chọn nghề bán&#8230;nước. Nhưng Chi không chịu cái nickname &#8220;bán nước&#8221; mà Hưng đặt cho. Chi tự nhận mình là &#8220;Chi Bán Nước&#8230;Mỹ.&#8221;<br />
Giữa lúc Thầy Chi ung dung, tự tại với cái &#8220;nickname&#8221; &#8220;Chi Bán&#8230;Nước&#8230;Mỹ,&#8221; trong giờ ra chơi cuối cùng,&#8221; có lại lần đầu tiên, sau hơn bốn chục năm, của những người đàn ông từng giữ những vai trò, những chức vụ trong quân đội, trong chính quyền miền Nam Việt Nam&#8230;, không biết tôi có lầm chăng, khi cảm tưởng, cái &#8220;đinh&#8221; trong đêm San Jose kia, là ông&#8230;già trán hói, răng rụng, di chuyển khó khăn (mà lại thích di chuyển) giữa sân cỏ niên thiếu này. Tôi muốn nhắc một lần nữa, Phạm Duy Ánh. Một lần nữa, người cựu TrungTá Lực Lượng Đặc Biệt, về từ Sydney.<br />
Tôi nghĩ, có dễ Ánh, chính Ánh mới là &#8220;tâm bão&#8221; của &#8220;giờ ra chơi cuối cùng&#8221; đó. Không mặc cảm (tự tôn cũng như tự ti,) không &#8220;show off,&#8221; không chứng tỏ, không lấy điểm với bất cứ người nào, Ánh mới chính là kẻ thực sự hưởng được tới lớp cặn lạt sạt của &#8220;ly chè đậu đen hạnh ngộ.&#8221;<br />
Tôi nghĩ, có dễ, Ánh mới chính là kẻ &#8220;enjoy&#8221; từng giây từng phút &#8220;giờ ra chơi của những cậu học trò 60 tuổi.&#8221; Ánh hân hoan móm mén với hàm răng &#8220;vắng vẻ&#8221; (mặc dù thời CVA, Ánh đã nổi tiếng là Ánh Vẩu, vì quá nhiều&#8230;răng.)<br />
Ánh &#8220;vẩu&#8221; cười văng&#8230; &#8220;coca&#8221; khi B.S. Văn Sơn Trường lên sân khấu, kể một câu chuyện liên quan tới tật bẩm sinh của cô dâu, chú rể, bằng vào thẩm quyền nghề nghiệp y khoa của của họ Văn. Ánh &#8220;Vẩu&#8221; cười rung&#8230;.một bụng&#8230;phở, khi ôm Trần Quốc Bá, một trong những hạm trưởng của Hải Quân VNCH, cũ.<br />
Ánh &#8220;Vẩu&#8221; cười trơ&#8230;lợi, khi chọc Trung &#8220;Thượng cổ&#8221; tức nhiếp ảnh gia Huy Trung: Một tên &#8220;ngụy cực kỳ ngoan cố.&#8221; Nhưng sau 75, những &#8220;chủ nhân mới&#8221; của Saigòn, vẫn phải trao những giải thưởng nhiếp ảnh cao quý nhất cho Huy Trung, chỉ vì không thể phủ nhận tài chụp ảnh của Trung; nhất là những bức ảnh mang đầy tính chuyển động. Aûnh thao trường.<br />
Ánh &#8220;Vẩu&#8221; cười rung&#8230;những miểng đạn, mìn còn nằm sâu trong ngực, vai, chân, bụng, lưng, khi ôm Vũ Đắc Ánh&#8230; Khi Vũ Đắc Ánh đỏ mặt, nổi khùng, (nhiều lần, tôi những tưởng khó tránh một màn đánh nhau ngay giữa tiệc cưới,) chỉ vì Ngọc Hoài Phương và, Trương Trọng Trác khăng khăng, đề quyết Vũ Đắc Ánh là Ánh &#8220;Nhỏ,&#8221; mặc cho họ Vũ khô nước miếng &#8220;đính chính&#8221;:<br />
&#8220;Ánh Nhỏ là thằng Nguyễn Ánh, không phải tao. Thằng Ánh&#8230;Nhỏ không có mặt đêm nay ở đây.&#8221;<br />
(Chỉ một người có thẩm quyền xác định Ánh Vũ hay Ánh Nguyễn là Ánh&#8230;Nhỏ. Tiếc thay, người đó, tấu xảo làm sao, cũng không có mặt, là &#8220;Thầy cãi&#8221; Nguyễn Thế Toàn, một nhân vật &#8220;danh trấn giang hồ&#8221; trong vòng mười năm qua, với hỗn danh Toàn&#8230;Bò. Nghe đâu ông Thầy cãi này, kể từ ngày tỵ nạn tới Hoa Kỳ, để tỏ lòng nhớ nước non, ông ta chỉ&#8230;bò, chứ không&#8230;đi, cũng không&#8230;lết!)<br />
Nhưng trên tất cả, trong ghi nhận của tôi, lặng lẽ từ một góc phòng ở cái &#8220;giờ ra chơi cuối cùng,&#8221; của thế hệ Chu Văn An, Trần Lục, Nguyễn Trãi 1955-1961, là những giọt lệ long lanh, được giữ lại, được dấu đi một cách kín đáo, nơi đôi mắt Vũ Thành An, Phạm Tuấn Bách, Bùi Vĩnh Hưng, Nguyễn Đình Hùng, Huy Trung, Nguyễn Đức Thuần, Trương Trọng Trác, Nguyễn Ngọc Chấn, Ngọc Hoài Phương, vân vân&#8230;Và, nhất là trong đôi mắt đục, lầm năm tháng đìu hiu của Phạm Duy Ánh, cu li, bỏ báo dạo, trên đường phố Sydney, Úc châu, nắng, gió&#8230;<br />
Từ ghi nhận này, tôi chợt nghĩ tới những người nữ đang là những người bạn đời (cuối đời) của các bạn tôi, (những người có hay vắng mặt trong &#8220;giờ ra chơi cuối cùng&#8221; của những cậu học trò sáu mươi tuổi!)<br />
Từ ghi nhận này, tôi chợt nhớ tới những người nữ đã ra khỏi cuộc đời của các bạn tôi, (những người nữ chẳng những không có mặt; cũng không hề biết tới &#8220;giờ ra chơi&#8221; của những người đàn ông (mà,) họ từng có một thời yêu thương, một thời chung sống&#8230;) Tôi muốn nói với họ, đúng hơn, tôi muốn xin họ, (nếu tình cờ đọc được những giòng chữ này,) hãy thông cảm, hãy tha thứ cho các bạn thời niên thiếu của tôi. Thông cảm và, tha thứ cho họ những lỗi lầm, những hư hỏng, những tan hoang, những đổ vỡ, những máu xương bất hạnh (mà) họ (cũng như tôi,) đã từng giáng, trút xuống phần đời thiếu nữ, phần đời thanh xuân, một lần, của quý vị.<br />
Tôi tin, quý vị sẽ thông cảm, sẽ tha thứ cho những người bạn thời niên thiếu tôi, (luôn cả tôi,) nếu quý vị biết rằng, hôm nay, khi tất cả sắp hay, đã bước vào tuổi 60, nhưng họ vẫn còn là những những cậu học sinh trung học trong &#8220;giờ ra chơi cuối cùng&#8221; kỳ diệu.<br />
Sâu, xa trong họ, theo ghi nhận của tôi, vẫn là bản chất hồn nhiên, vô tư, trẻ thơ tới tội nghiệp.<br />
Sâu, xa trong họ, theo ghi nhận của tôi, thủy chung, họ vẫn chỉ là những đứa trẻ con. Những &#8220;đứa trẻ con&#8221; kia, sẽ theo họ tới phút cuối, đời họ. Tôi biết chắc, điều đó!<br />
Bởi vì, trước khi chia tay, họ còn hân hoan, vô tư đến đau lòng, khi hò hẹn:<br />
&#8220;Sẽ gặp lại nhau, 44 năm nữa&#8230;!&#8221;</p>
<p>&nbsp;</p>
<h1><b>Đời ta</b></h1>
<p>&nbsp;</p>
<p><b></b>Chắc chị Giao sẽ thất vọng không ít với chuyến trở về lần này của tôi. Những việc chị dặn dò tôi không làm được một phần ba. Tổng kết thiện chí tối đa trong bấy nhiêu ngày trở về phố cũ, ngoài hai xấp hàng và đôi giầy đặt theo mẫu chân đo sẵn, tôi không làm thêm được một việc nào khác cho chị, đúng hơn những việc còn lại, chất cao như núi kia, cũng có loé lên đôi lần trong trí nhớ mù mờ của tôi. Tôi không muốn đổ lỗi cho chàng. Bởi với tôi, thời gian được gần gũi bên chàng, như thế vẫn là chưa đủ, dù sự thực nó đã quá mức, nó đã quá đáng trong mắt nhìn thấy rõ của mẹ tôi, những buổi tối ngồi chờ tôi trở về, những khuya khuoắt khi ba tôi rời chiếc xe lăn của ông để nằm vào chỗ nằm bao năm khô cứng và lạnh lẽo như ba mặt ván khô của một chiếc quan tái không nắp. Một lần nào đó, khi tôi chưa lìa khỏi chiếc bàn ăn âm thầm với người mẹ lặng lẽ chiu chắt từng bữa, với người anh lạnh lùng cùng những nếp nhăn như những sợi dây thung chùng giãn, dán sâu trên vầng trán tối, và người chị dâu nín giữ nụ cười mình, để quên đi tuổi thanh xuân vừa chớm, ba tôi bảo, khi tôi leo hết những bậc thang gác chênh vênh, lên chỗ người ngồi, bên một cửa sổ nhỏ, để đỡ người vào giường nằm :<br />
Con để ba ở đây thêm chút nữa. Ba sợ lắm, chỗ nằm của ba. (Ông nói và nhìn vào chiếc giường nệm võng cuống, in dấu một hình thù nào đó, không phải là hình người). Con có thấy trời đêm nay nhiều sao ? Ba chỉ nhìn được có một vì sao mà thôi. Sao hôm đó con. Bao giờ cũng thế, sao hôm. Sao hôm. (Ông lập lại hai chữ này với cái giọng khác thường. Cái giọng nghe thoáng như một hơi thở yếu, hắt ra từ một lồng ngực lép). Tôi rùng mình lùi lại, dựa lưng nơi vách ván, dìm sâu mặt mình trong khoảng tối sệt đặc sau lưng ông. Hình như cùng lúc, ở trong tôi, dấy lên những cảm giác và ý nghĩ mâu thuẫn. Tôi chợt thấy thương ông như thể sau câu nói thều thào kia, chắc chẳng bao giờ ông còn nói nữa. Ông đã tắt thở và tôi là người cuối cùng, được nghe cái giọng nói (không phải) của ông – giọng nói của một kẻ xa lạ. Chính cái cảm giác này, đã đưa tới những gai ốc trên hai cánh tay và dọc theo sống lưng. Tôi đưa tay bưng lấy ngực mình. Hình như tôi tin tưởng cử chỉ này sẽ giữ tôi đứng vững hơn và sẽ giúp tôi nhìn tấm lưng của kẻ lạ mặt chính là ba tôi. Chính là người đã nuôi tôi từ những ngày còn trong bào thai. Chính là người mỗi buổi sáng đã ôm cặp bước ra khỏi nhà, để nuôi cả gia đình, và tôi là người đang tiếp tục công việc còm cõi ấy. Tôi không muốn đổ lỗi cho chàng, mặc dù chàng là cái cớ hay nhất và đáng nêu nhất, như những người con gái khác thường viện dẫn, để đánh lừa, để gìn giữ một cách không thực, một cách mong manh, giả dối với chính lòng mình. Không. Tôi nhìn nhận, tôi đã đi chơi với chàng. Tôi đã trở lại những con đường của bao năm trước đây. Tôi đã hít thở cái lượng không khí của những năm tháng cũ. Những năm tháng chưa có hình bóng chàng trong đời tôi.<br />
Những năm tháng tâm hồn tôi còn như một dải khói, trí óc tôi còn chỗ cho những mơ mộng như cỏ xanh vươn lên sau một trận mưa tơi tả. Bây giờ tôi trở lại trên những con đường đó, dưới những tàng cây và hít thở cái lượng không khí đó. Tâm hồn tôi đã không còn là một dải khói. Trí óc tôi đã không còn là nơi ươm giữ những mơ mộng của một thời trẻ dại, mà tâm hồn tôi đã trở thành nơi cất giấu những nồng nàn, những đam mê, những run rẩy, sáng lên từ đôi mắt chàng đăm đăm, từ cánh tay chàng buồn bã (và thô bạo). Tôi không muốn đổ lỗi cho chàng bởi quả thực, chính tôi, mới là người hưởng được từ chàng những gì mà tự tôi, không thể có. Vậy thì có lý gì, tôi lại đổ lỗi cho chàng khi chính tôi đã nâng những ngón tay chàng thơm khét mùi thuốc lá lên môi hôn. Có lý gì, khi chính tôi, đã ngả đầu vào ngực chàng và thở mùi thịt da chàng ngái ngái. Có lý gì khi được chàng ghì siết, tôi đã tan đi (để trở thành một tôi), thênh thang bát ngát, một tôi như trăm nghìn con sóng lớn, một tôi như bát ngát chân mây. Có lý gì, khi chàng cúi hôn, đôi mắt tôi nhắm lại, hơi thở chàng nồng nồng, và những tế bào như nở ra, như lớn phồng lên để chứa đựng cho căng hết thể tích có được ? Cái rung động ngây ngất, cái cảm xúc như dao nhọn, cắt vạch từng đường máu chảy, trên cùng khắp thân thể. Có lý gì, như tôi đang ngồi với chàng trong ngôi quán này. Buổi chiều bị những lưới sắt nặng cắt thành từng miếng vuông, với những sợi nắng còn đọng lại ở bên kia đường và trong những sợi tóc tôi đang bị những ngón tay chàng lấy đi khỏi đôi môi. Cũng những ngón tay đó, chàng vuốt lần từ vai xuống tới những đầu ngón tay. Toàn thân tôi run rẩy.<br />
Chàng nói :<br />
&#8211; Nhỏ, đang nghĩ tới ngày đi ?<br />
&#8211; Em không thích anh nhắc tới chuyện đó.<br />
Chàng cười, đốt điếu thuốc mới :<br />
&#8211; Không thích bởi đó là điều trước sau gì cũng phải tới.<br />
&#8211; Hay nó không bao giờ tới.<br />
Tôi trả lời chàng và nhớ tới đêm nói chuyện với anh Long. Anh không muốn tôi xa gia đình thêm. Anh muốn tôi bỏ tất cả công việc để trở về. Anh nói mẹ đã già, ba sống chết ngày nào không biế.<br />
Em nên về, và tiếp tục học lại.<br />
Tôi còn nhỏ để đi học lại, nhưng đời sống đã cho tôi những cái nhìn không còn thích hợp với giảng đường, với giáo sư, với bằng hữu. Tôi hỏi chàng phải chăng như vậy. Chàng bảo &#8220;Nhỏ không còn thích hợp với bất cứ một việc làm nào, ngoại trừ việc yêu anh&#8221;.<br />
Chàng cười nhìn sâu vào mắt tôi :<br />
&#8211; Dù sao thì em cũng nên thu xếp những công việc còn đang dở dang. Em ở lại thành phố này hay ra đi để sống lại những ngày tháng đã qua, với anh, ở đâu cũng được. Ở đâu, em cũng vẫn là em. Là nhỏ. Nhỏ của anh. Láu lỉnh thơ ngây và tuyệt diệu.<br />
Tôi nép vào người chàng và giữ lấy bàn tay chàng trong đôi tay mình chan chứa. Tôi không biết phải nói gì, để chàng hiểu tôi đang sung sướng. Tôi đang xúc động. Mỗi khi sung sướng, mỗi khi những xúc động chợt vẩn lên như vậy, thường tôi không nói được. Hình như ở trong tôi lúc đó tất cả đều nhẹ đi, đều loãng ra, để chỉ thấy một điều, quả thực tôi còn nhỏ. Tôi còn nhỏ lắm. Tôi chưa qua tuổi trưởng thành để phải bước vào đời sống. Tôi cũng chưa qua cái tuổi đủ, để có thế tự mình, đứng như cây. Tự mình, đứng như núi. Tôi vẫn còn cần một mái nhà để trở về. Tôi vẫn còn cần một bàn tay chăm sóc và hơn thế, tôi mới khám phá thấy (gần đây thôi, từ ngày gặp chàng) tôi cần, một ánh mắt, một ánh mắt như ánh sáng của sao hôm (trong đời sống những ngày tuổi già bệnh hoạn của ba tôi) để nương vào đó, tôi bước đi, những ngày gió lớn. Để nương vào đó, tôi bước đi, những đêm dông lên. Tôi cần, phải tôi cần, một cái gì khác hơn những thứ mà mẹ tôi có thể cho, anh chị tôi có thể chia sẻ. Nhưng bản chất tôi, vốn là bản chất của phiến đá, nếu có thể ví von như vậy. Tôi là một cái gì đã thành khối, đã kết tụ, và tự đó, bao nhiêu va chạm, bao nhiêu xô đẩy trên tôi chỉ là những giọt nước xối trên một mặt gương dốc. Cho tới khi tôi gặp được chàng. Có người sẽ cho là tôi lãng mạn, hay bị nhiễm độc bởi tiểu thuyết, nếu tôi ví sự gặp gỡ chàng, ở tôi, như giọt lệ của nàng Mỵ Nương nhỏ xuống chén trà trên chính tay nàng, và hình ảnh não nùng khổ lụy của anh Trương Chi lúc đó mới tan đi. Nhưng có một điểm khác biệt, tôi nghĩ, cũng nên nói ngay rằng ở một mặt nào đó, âm thầm, của mặc cảm và tiềm thức, tôi đã tự ví mình như một thứ Tương Chi. Cái vết chàm trên trán, ở một góc khuất, ở một chỗ tôi có thể kéo cho những sợi tóc che đi, chính là cái nguyên đã nung náu trong tôi cái ý nghĩ chua chát ấy. Tôi muốn trả lời chàng tôi bắt đầu cảm thấy ghê tởm thành phố đó. Cái thành phố của ác ý, những độc địa tin đồn. Cái thành phố, không dĩ vãng. Cái thành phố của những gì tạm bợ nhất và trâng tráo nhất. Nhưng rồi tôi lại chỉ có thể nói được một câu ngắn ngủi :<br />
&#8211; Em sợ. Trở lại.<br />
&#8211; Ai cũng sợ những trở lại, và ai cũng mơ ước trở lại.<br />
&#8211; Đó không phải là chỗ của em. Chỗ của mơ ước.<br />
&#8211; Sự thực, chẳng bao giờ chúng ta có chỗ. Chúng ta chỉ có một nơi chốn, hiểu theo nghĩa nào đấy mà mình tự lựa chọn lấy.<br />
&#8211; Là trái tim của tình yêu ?<br />
Chàng gật đầu buồn bã :<br />
&#8211; Và những kỷ niệm.<br />
&#8230;. Hình như anh hay nói với em về những kỷ niệm, những ngày thơ ấu bần hàn trong một quá khứ rách rưới, Hình như anh ưa nhìn sâu, thật sâu nơi mắt em. Ôi đôi mắt chim. Đôi mắt mà ai đó, viết :<br />
đó là nơi người ta có thể tìm thấy những bóng chim mỏi cánh giang hồ đậu lại. Và ngủ yên. Rất ngoan. Hình như anh đã yêu em, anh đã yêu em từ phút giây đầu tiên của gặp gỡ thứ nhất. Hình như, anh cũng đã nói với em, ở đâu đó, trong một góc xó tối tăm nào, dưới một tàng cây, ở một hè đường, trên một bệ đá, anh yêu em. Anh yêu em. Hỡi nhỏ. Em không thể hiểu được tình yêu của anh, nếu em chưa hiểu cái nghĩa của núi thì nghìn năm cô đơn, và ngựa thì một đời bương bả. Em không thể hiểu được tình yêu của anh, nếu em chưa hiểu điều đáng nói không phải là tình yêu thứ nhất, mà chính là cuối cùng. Một kiếp, tình yêu có còn đấy ? Hình như, phải hình như, anh đã ôm em và hôn em lần đầu, khi chúng ta chọn góc tối của một quán vắng, và giữa bóng đêm, giữa tiếng nhạc bập bùng của một ngày cuối năm, của một ngày vừa bước qua đời em, một tuổi khác. Và em, những giọt lệ vu vơ đã ứa chảy. Và anh, bàn tay nám khô đã xòe ra cho chính mắt nhìn mình, ngó xuống. Hình như anh đã muốn quỳ xuống dưới chân em, như một con chiên trước một thiên thần thánh thiện. Và em, đã mắt mở lớn nhìn buồn, đã tóc mềm trên môi, níu giữ anh, như níu giữ một sợi khói mong manh, nhẹ hẫng. Hình như anh đã nói với em, nhiều lần về một tương lai tơi tả đang đợi chờ em ở cuối đường đắm đuối, và em đã trả lời :<br />
Em biết. Và em đã gật đầu, lặng lẽ quay đi. Hình như anh đã hôn em lâu nhất, một lần, khi chúng ta ngả lưng ở giữa chừng con đường dần lên đỉnh trời, mà biển xanh thì dưới thấp. Khi anh buông em, em lặng chết như một tàu lá non vừa lìa cành, thiếp đi khi bão tạnh. Hình như dĩ vãng em đã mở ra trong anh, cùng những nhọc nhằn, những u uẩn tưởng sẽ theo em âm thầm về thế giới bên kia của sự nín thinh bằn bặt. Và đêm đó, phải không, em đã khóc. Em khóc thật ngon, trong tay anh, và trái tim em thì lại đập quá nhịp. Hơi thở em nghẹn lại và ngực em nóng ran những hơi thở không thoát được. Em hiểu gì, hỡi nhỏ ? Hỡi nhỏ dấu yêu kia. Em hiểu gì khi toàn thân anh run lên và hàm răng nghiến lại. Đó là lúc anh cắm sâu trên da thịt em thơm mùi trinh nữ, những vết hằn của những chiếc răng chứa đầy dục vọng. Em hiểu gì khi anh đưa em về, chị Giao đứng chờ em sau tấm màn lay động. Anh nâng cằm em lên và nụ hôn được gửi tới. Nụ hôn được gửi tới vết chàm trong một góc nhỏ của vuông trán em, bập bùng sầu tủi. Em xuống xe và những bước chân run chạy đau, nhầu trên nền sương đất đỏ. Em biến nhanh. Biến đi thật nhanh trong bóng tối, như một nàng tiên không có thật.<br />
Như người con gái anh chỉ gặp trong giấc mơ lẻ loi giữa gối chăn anh về sáng. Em dấu yêu. Em dấu yêu ngàn đời, hỡi nhỏ. Hỡi nhỏ của lòng anh anh điên rồ và tham lam, ích kỷ.<br />
Lạy Chúa chúng tôi yêu nhau và không cần có ngài chứng giám.<br />
Chuyến xe đem chúng tôi vào khu vực của những người xa lạ từ tiếng nói tới nếp sống. Phải nói là tôi biết trước nơi đến nhưng tôi im lặng và chỉ giữ trong tay mình, những ngón tay chàng yên lặng. Sự trở lại, thêm một lần, không đủ cho tôi cái cảm giác quen thuộc và bớt hoảng hốt. Tuy nhiên, vì yêu chàng, vì đã tự nguyện hiến đời mình cho chàng, đúng như những ý niệm dứt khoát của tôi về tình yêu, về người-một- đời, nên tôi cố tạo cho mình một bề ngoài cứng cỏi, lạnh lùng, sau khi nói với chàng một câu ngắn, một câu mà tôi biết trước chàng sẽ chỉ đáp lại bằng cái nhìn đăm đăm, xoáy buốt :<br />
&#8211; Anh&#8230;.<br />
Một chữ, tôi không hiểu, đã đủ chưa ? Đủ không ? Diễn tả tâm trạng cũng như tình yêu và lòng tin cậy phó thác nơi chàng. Lần này, chàng đáp lại, cũng chỉ bằng một tiếng thốt kêu se sẽ, tiếng chiêu dụ mơ hồ của loài chim cánh lớn.<br />
&#8211; Nhỏ.<br />
Căn phòng mở ra, tôi lao chao trước khi ngã xuống. Chàng vẫn thô bạo và tham lam với một trận mưa hôn trên khắp thân thể tôi. Hình như, tôi đã thành một con sâu kèn. Một con sâu kèn. Tôi cuốn gọn mình lại, trong chiếc kén chàng, nóng hổi và nháp cứng. Thời gian đã không còn là một ý niệm, vì nó đã ngưng đọng. Nó đọng lại ở một góc của căn phòng, ở nơi ngọn đèn tím trên vách tường vôi sần, ở tấm màn nhung thả xuôi óng ả màu huyết dụ, cách ngăn với bầu trời phía ngoài và những tiếng động ồn ào ở dưới thấp. Thời gian chảy trũng xuống hố thẳm của cảm xúc thênh thang lửa ngọn. Lát sau, chàng buông tôi ra, để loay hoay tìm đôi mắt. Tôi giấu mặt mình vào ngực chàng. Tôi bẽn lẽn và xấu hổ trong tình yêu, trong những ve vuốt xúc động. Tôi xấu hổ với những bốc cháy rực rỡ tự nhiên, bừng bừng trên từng tấc thịt da đẫm đẫm mùi thuốc lá và mùi hơi của chàng. Tôi xấu hổ nhưng tôi nhìn nhận nó.<br />
Tôi nói:<br />
&#8211; Đừng nhìn em.<br />
Chàng hỏi:<br />
&#8211; Tại sao ?<br />
&#8211; Không biết. Nhưng anh đừng nhìn. Em không cho anh nhìn đâu.<br />
Tôi nói qua lớp vải mang mùi mồ hôi chàng. Hình như chàng cười, và ngửa mặt lên trần thả những hơi thuốc đã bắt đầu dễ chịu với tôi.<br />
Chàng bảo:<br />
&#8211; Em biết tại sao anh yêu em ?<br />
Tôi dụi dụi mặt mình vào cạ nh sư ơờ n chà ng, thay cho cái lắc đầu.<br />
&#8211; Tại em trẻ con. Em trẻ con, em thơ ngây và khờ dại. Đôi khi anh nghi ngờ ngay cả em, có thực ?<br />
Ngay cả tình yêu chúng ta, có thực ? Có thực không, chúng ta đang nằm với nhau ở đây ?<br />
Tôi hỏi tại sao chàng lại có thể nghi ngờ cái mà lẽ ra chàng phải thấy không thể thực hơn. Phải, không thể thực hơn, khi tay anh lần mò trên mặt em, khi môi anh lướt lần trên người em. Khi những ngón tay anh kẹp lại, kéo dài cái mũi nhọn của em. Cái mũi mà anh vẫn gọi đùa là của ông De Gaulle. Cái mũi của Cléopâtre, nếu có đẹp chắc cũng chỉ đến thế là cùng.<br />
Chàng đáp:<br />
&#8211; Tại vì em tuyệt vời quá. Em gày gò, em ốm yếu. Em mong manh khiến anh luôn lo sợ, như lo sợ một cái gì đã rạn nứt&#8230;.<br />
Tôi giảm bớt trang nghiêm và nén xuống phần nào ngọn sóng cảm xúc vừa dềnh lên sau câu nói của chàng:<br />
&#8211; Hóa ra em tuyệt vời chỉ vì em là đại diện của hãng tăm tre&#8230;. ? Và đẩy lý luận tiếp thêm một bước nữa, thì những người đại diện cho hãng tăm tre là những ngưòi tuyệt vời nhất nước ?<br />
Chàng cười thành tiếng, tát liên tiếp mấy cái trên má tôi:<br />
&#8211; Nhỏ. Lém vừa chứ.<br />
Tôi cãi:<br />
&#8211; Bộ không đúng như lời anh nói sao ? Ơ&#8230;.<br />
Những trái xanh hạnh phúc rớt xuống cuộc tình chúng tôi như những hạt mưa liên tiếp. Những hạt mưa thật lớn của những cơn mưa rào, không dứt. Vậy mà không hiểu sao tôi lại sợ hãi hơn cả : những giây phút một đời đó !<br />
Tôi bắt đầu kể cho chàng nghe những gì đến với tôi, từ khi gặp chàng. Những gì trong lớp học, những gì trong gia đình và những quen biết với cả hai đứa. Tôi không có ý để chàng thấy cái mặt thật ẩn sau những chiếc mặt nạ tốt đẹp là tình thân, là tình bằng hữu (đáng quý theo chàng) nơi những người bạn của chàng. Những người mà có lẽ tôi gần họ, tôi va chạm với họ hàng ngày, nhiều hơn chàng. Tôi đã cố tránh và giấu giữ được nhiều lần, những chuyện đó. Vậy mà, giờ đây, tôi đã kể. Tuy nhiên, tôi lại thấy mình đáng được giảm khinh phần nào vì tôi vẫn còn giữ lại được một điều, một điều đau lòng, một điều khó nói&#8230;. Chẳng bao giờ nên nói, phải không anh cái điều ấy. Và nhỏ nghĩ, chính anh, anh cũng không muốn nghe lại dù là sự thực. Một sự thực như máu đang rào rạt cuốn trôi tình yêu anh nồng nàn ngược xuôi trong tim em. Một sự thực nếu được lập lại, cái chua xót sẽ khủng khiếp cả trăm lần hơn, ở em. Đó là đời sống của anh với những bủa vây, những vòng dây trói siết. Những điều đó, không phải em không biết. Không. Em biết từ những ngày chúng ta chưa yêu nhau. Em biết từ những ngày em còn một mình tóc ngậm ngang môi, hiu hắt giữa những hàng ghế của giảng đường. Khi mà tâm hồn em còn thơm mùi sách vở, còn mát buồn guốc gỗ đôi chân. Nhưng người ta, phải người ta, cái đám đông có mặt mũi, có đầu óc, chứa đựng những mũi tên tẩm độc đã không ngớt bắn vào tâm hồn em, những lượng thuốc giết người, những mũi dao nhỏ nhen, hèn hạ. Nhưng cái đám đông kia, những con mắt đó, những hình thù thú vật nọ, đâu có biết, chính những bất toàn, chính những đe dọa chập chờn, những hứa hẹn tương lai thảm thiết, những đường gươm định mệnh chờn vờn trên đầu cuộc tình chúng ta, trên chính ý nghĩa tận cùng và duy nhất của đời sống em, đã làm em, thấy thiết tha hơn, đời sống mình. Thấy cao cả hơn, tình yêu của em, thấy hùng vĩ hơn đời sống và tâm hồn em nguy nga. Dù cái hùng vĩ đó có là một hùng vĩ hắt lại từ một mặt khác của điêu tàn. Dù cái nguy nga đó, có là một nguy nga hắt lại từ một mặt khác của tối tăm, tơi tả. Nhưng em chấp nhận, như em đã chấp nhận đời sống này. Chấp nhận đám đông, chấp nhận định mệnh (dù thế nào) khi em bước những bước chân đầu tiên rời xa khỏi vòng tay che chở rào đón của mẹ. Họ, cái đám đông hèn hạ, cái đám đông có hình thù, biết đâu rằng, em quan niệm, thà sống được một phút với ước mơ mình đã tưởng, thà hưởng được một giây đời sống mình đã ước, còn hơn sống một đời, sống cả kiếp nhạt tẻ, còn hơn ôm trong tay, cả đời một hình thù mà mình không chút cảm kính, yêu thương và đắm ngất. Tình yêu hiểu theo một nghĩa nào, phải là dông bão bất ngờ từ trời cao trút xuống.<br />
Tình yêu, cơn địa chấn giật sập, bóp vụn thành từng mảnh nhỏ những kiên cố nghìn năm. Tình yêu không là một van xin, một nài nỉ. Tôi nghĩ thế. Và tôi yêu chàng, và tôi, trong tình yêu chàng như một chiếc lá bị xoáy vào giữa tâm bão. Tôi không đắn đo, không so kè, chẳng tính toán. Tôi yêu chính tình yêu (đau xót ?) của tôi. Có lẽ thế. Có lẽ đó là cái lý do giải thích được tại sao tôi chọn chàng để yêu trong một nhìn trước, bi đát. Trong một nhìn trước, tang thương. Đám đông kia hỡi, đã hiểu gì ? Mai kia, có thể chàng sẽ bỏ tôi, và một kẻ trong đám đông có thể vẫn còn mơ ước được có tôi làm vợ. Ôi thảm hại thay kẻ nào đấy! Tôi kể cho chàng nghe những buổi sáng sau cuộc chia tay, một mình lủi thủi tới trường.<br />
Những buổi trưa trở về trên những con đường dấu xe còn nguyên vẹn. Những buổi tối nằm giấu mặt vào chiếc gối lạnh và tưởng tới mùi hơi chàng thoang thoảng. Tôi nói với chàng miên man, đủ chuyện. Tôi đem cả chuyện chị gì đó, anh gì đó, những người mà chàng không hề biết mặt, kể với chàng như thể chàng cũng đã từng tham dự ít nhiều vào đời sống họ. Tôi nói nhiều, tôi cố gắng và tìm mọi cách nói không dứt, như để khỏa lấp xúc động đang ứ nghẹn ngực thở. Chàng lắng nghe với một tai và óc thì nghĩ tới những gì, đâu đâu. Một chốn nào ? Một cõi mù tăm nào ? Mà tôi, không có đó. Tôi nhận thấy chàng thường có những lúc xa vắng cách biệt hoàn toàn như vậy. Dĩ vãng và kỷ niêệ m của chàng như rừng.<br />
Trong khi tôi chỉ là một con sóc nhỏ. Những cố gắng của tôi chỉ đủ để khám phá từng nhánh cây, trong khu vực nhỏ trong cánh rừng đời sống chàng thênh thang. Tôi không một chút ghen tỵ với phần chiếm giữ khiêm nhường có được trong mênh mông đời chàng, tít tắp. Tôi bằng lòng với hiện tại, chàng ở bên tôi và tôi ở trong chàng. Tôi bằng lòng với những phút giây chàng nhìn ngắm tôi như một báu vật. Một báu vật linh thiêng và kỳ diệu. Phải chăng chàng đã làm tôi lớn lên và nhỏ lại, cùng lúc, trong những tia nhìn, những vòng tay, những nụ hôn tán bạo, và&#8230;. quá lắm.<br />
Tất nhiên dù tôi có miên man với những chuyện kể của mình tới đâu, cuối cùng rồi cũng phải ngừng lại. Cuối cùng, tôi phải im lặng để lắng nghe trở lại (cái mà mình muốn trốn chạy) những xúc động lần đầu, những thắp sáng có một, chưa hai, nơi con người, nơi những miền bí mật trong tôi. Lẫn với cảm xúc quặn thắt là những đau đớn xé nát thịt da, thấu tới xương, đụng tới tủy. Tôi kêu lên những tiếng kêu xa lạ chưa hề. Tôi cố cắn răng nhưng những giọt nước mắt đau đớn vẫn ào ạt tuôn. Chàng ghì lấy tôi, trong cơn mê và trong xót xa yêu dấu. Chàng giấu mặt trên ngực tôi. Chàng giấu mặt vào những lọn tóc tôi lòa xòa đẫm mồ hôi cùng nước mắt. Có lẽ chàng không đành lòng nhìn tôi đầm đìa của cảm xúc và lòng tin yêu tuyệt đối. Có lẽ chàng không chịu đựng nổi những giọt nước mắt lăn đi từ đôi mắt tôi mở lớn kinh hoàng. Có lẽ chàng chỉ có thể trả lời những tiếng gọi (như tiếng dội lại của những hạt mưa trên thềm nhà) anh&#8230;. anh&#8230;. anh&#8230;. bằng những đáp ứng cũng mơ hồ xa ngái:<br />
Nhỏ&#8230;. anh đây&#8230;. Nhỏ&#8230;. anh đây&#8230;.<br />
Những đau đón trào bật, như những phún xuất thạch tràn từ một miệng núi lửa hung dữ nhưng mau nguội. Tôi giữ ghì lấy chàng và ngưng bặt tiến khóc. Mắt tôi mở trong cạnh sườn chàng tối và ẩm mùi hơi bịn rịn. Chàng ve vuốt phần lưng trần tôi bỏ ngoài ánh sáng. Bàn tay chàng như kéo theo một tình nghĩa nào, mới mẻ, mới hơn cả tình yêu, đi khắp thân thể tôi. Hình như cả hai đứa cùng mưng mưng trong một thứ buồn phiền thân mật và tin cậy. Tôi thiếp đi trên cánh tay chàng. Lúc tỉnh dậy, trời đã sẫm tối, tôi thấy chàng đăm đăm nhìn tôi với một bàn tay cời cời những sợi tóc trên trán. Tôi lại giấu mặt mình váo ngực chàng. Tôi muốn nói :<br />
Em sung sướng, em hạnh phúc, dù anh làm em đau đớn và sợ hãi.<br />
Không biết anh có nên nói với em dù thế nào thì chúng ta cũng chẳng thể xa nhau. Dù thế nào thì cuộc đời cũng đã gắn liền ta với nhau, như một khối, thuần nhất và thuần chất. Không biết anh có nên nói với em, cái lo sợ kia, cái hoảng hốt nọ, khi em nghĩ anh chẳng thể suốt đời ở bên em, chỉ là cái lo sợ viển vông, cái mặt váng bên trên của một dòng nước siết. Có bao giờ anh nghĩ anh sẽ xa em ! Có bao giờ anh nghĩ, em không còn là của anh, và một ngày kia, chúng ta sẽ nhìn nhau như một người lạ mặt. Chẳng bao giờ. Chẳng bao giờ có thế. Hỡi nhỏ, hỡi nhỏ dấu yêu của lòng anh đắm đuối. Anh có thể đánh lừa những khôn ngoan lanh lợi của kẻ khác. Anh có thể thích thú trong trò chơi đấu trí với tất cả ý nghĩa đầu tiên của cuộc chơi là mưu mô, là thủ đoạn. Nhưng với em, ôi nhỏ của lòng anh già cỗi, anh không thể đánh lừa em, đánh lừa kẻ đã phó thác đời mình cho anh, ngay từ tia nhìn thứ nhất,.<br />
Anh không thể gian dối với em, bởi vì em không thể tuyệt vời, thơ ngây và tin cậy nơi anh, hơn bất cứ một người yêu nào có thể tin nơi một người khác. Anh cần và anh cảm động. Anh nâng niu và anh thấy ngay từ phút giây đầu, cái thiêng liêng lẫm liệt của một tin cậy phó thác ấy. Suốt đời anh chỉ ước mơ, một lần, được có thế. Và có lẽ cả một đời người đàn ông, cũng chỉ mong một lần có được thế. Em hiểu không hỡi nhỏ, một lần được có trong tay, một bé nhỏ, như một báu vật, như một tượng trưng cụ thể của lòng tin tưởng tuyệt đối và một phó mặc tiêu biểu cho một đam mê đẫm ngất nhất. Em đã cho anh những giây phút nhớ lại, những hãnh diện với chính bản năng giống đực của mình :<br />
Anh cao cả và uy nghi. Anh hạnh phúc tột cùng và tan đi tận kiếp.<br />
Em yêu dấu, không biết anh có cần phải nhắc lại ở đây với em, một lần nữa, chẳng bao giờ anh nghĩ đời anh với những phút giây đứng bóng trưa này, lại được gặp em, lại được nâng niu và cất giữ em trong tay, cho riêng mình, như cất giữ em và dấu yêu chính đời mình bao năm tìm kiếm. Giữa những ảnh ảo của một đời anh tối tăm, anh không dám quả quyết tình yêu kia, em dấu yêu đó, có thực. Hay cuối cùng cũng chỉ là hư tưởng! Có lẽ tại đời anh thê thảm quá. Đời anh những ngày mới lớn, những ngày niên thiếu bơ vơ, chạy suốt một đường dài không tìm lấy được cho mình lấy một bóng mát. Anh khô nẻ, anh cỗi cằn, như củi. Và khi yêu em, phải thế chăng, anh yếu đuối và hơn ghen như trẻ nhỏ. Đã giữ em trong tay, đã giấu em trong lòng, đã giam nhốt em một đời trong chiếm đoạt tận cùng, mà vẫn còn âu lo một ngày bão bùng chim kia vỗ cánh. Anh làm sao yên lòng, khi xa em. Anh làm sao không thảng thốt, sau những giấc mơ hung dữ. Em ở đâu, hỡi nhỏ. Nhỏ dấu yêu, nhỏ tuyệt vời và luôn luôn thấy ghét. Hãy nhìn anh, hãy nhìn nữa đi, sâu thấu vào đôi mắt anh. Đôi mắt anh buồn quá, phải không em. Hãy trả lời anh, hãy trả lời câu hỏi thừa thãi, câu hỏi không cần thiết giữa chúng ta :<br />
Em yêu anh ? Em yêu anh ? Anh hỏi em cả trăm lần và cả trăm lần em chỉ nhìn anh, bằng đôi mắt chim sáng long lanh một trời ngọc thạch. Và em im lặng. Và em nhắm mắt đem đôi môi mình vói lên khuôn mặt anh cũng dần dần khép lại.<br />
Lạy Chúa, chúng tôi yêu nhau trong bão bùng của một tương lai khổ lụy chập trùng. Nhưng ở đây vẫn là một lời nguyện cầu, không cần ngài chứng giám.<br />
Dòng sông thăm thẳm như tâm hồn chàng. Và những đợt sóng lăn tăn, là những giao động thường xuyên của tâm hồn tôi trên mặt nổi của tình yêu u kín đó. Hầu như chàng không ăn mà chỉ nhìn tôi qua làn khói. Tôi biết chàng chăm chú nhìn, nhưng vẫn líu lo nói, và ríu rít ăn, để chàng mãn nguyện với ý thích được ngồi nhìn tôi ăn. Món ăn không đem tới vị giác tôi một cảm giác nào, bởi tất cả đã trở thành chàng. Tất cả đã trở thành tình yêu của hai đứa, và tôi ăn, tôi nhai chính tình yêu của chúng tôi, chính cái âu yếm và nồng nàn chàng đã phà thở vào đó. Chàng kể tôi nghe chàng thường tới chỗ ngồi này, những ngày xưa với một người đàn bà. Tôi nhớ rõ tên người đàn bà đó. Nhưng có lẽ tôi cũng chẳng nên kể tên người đó ra làm chi. Tôi chỉ muốn nói khi nghe chuyện này, tui đã nghe với tất cả thích thú và sung sướng. Cái sung sướng của cảm tưởng đã là vợ chàng và chàng không còn gì để phải giấu giếm, để phải che đậy hay chối quanh. Tôi bằng lòng với sự thành thực chan chứa tình nghĩa vợ chồng đó. Tôi mỉm cười với những mẫu chuyện nho nhỏ chàng thuật lại giữa hai người. Hình như giây phút ấy, tôi không còn là trẻ con nữa (mặc dù chàng vẫn không quên gọi tôi bằng nhỏ) tôi đã là một người khác. Một người lớn ít ra là trong tình yêu của chàng. Có thể vì thế mà tôi không một chút hờn ghen, khó chịu. Tôi thích thú và hài lòng một cách rất thiệt thà. Tôi còn muốn nghe chàng nói nhiều hơn thế. Về người đàn bà đó. Tôi còn muốn nghe chàng nói nhiều hơn nữa về những người khác. Và tôi nghĩ, tôi còn là một người bạn, một người bạn nhỏ, tri kỷ (phải không anh) của chàng. Tôi hỏi:<br />
&#8211; Sao anh không tới với em những ngày em còn trên ghế nhà trường ?<br />
Chàng đáp:<br />
&#8211; Làm sao tới được với em khi anh đã lớn và em thì còn mặc quần&#8230;. xẻ đũng.<br />
Tôi không thể nín tiếng cười lớn và nhanh tay ngắt chàng. Chẳng biết cái ngắt của tôi có đau không nhưng chàng cũng làm vẻ xuýt xoa.<br />
&#8211; Anh chỉ được cái chọc em là không ai bằng.<br />
Chàng gật đầu, và cốc nhẹ nhẹ lên đầu tôi:<br />
&#8211; Ai bảo nhỏ không là người lớn.<br />
&#8211; Để ăn hiếp được anh ?<br />
&#8211; Không phải. Để anh bớt cú đầu em thì đúng hơn.<br />
&#8211; Chứ không phải để anh sớm hết yêu em ?<br />
Tôi nói nhanh và nhìn vào mặt chàng. Chàng nhìn lại tôi. (Đôi mắt lại đăm đăm) lắc đầu:<br />
&#8211; Chẳng bao giờ. Nhỏ.<br />
Tôi cúi xuống:<br />
&#8211; Dạ.<br />
&#8211; Anh yêu em.<br />
Tôi đưa bàn tay mình sang phía chàng. Chàng nắm lấy, siết lại. Những ngón tay tôi vẹo đi trong cái siết này. Tôi đau đớn nhăn mặt nhưng cố để khỏi kêu thành tiếng.<br />
Ở phía xa một chiếc tàu tuần pha đèn chạy, tạo thành những con sóng lớn xô táp mạn bờ. Tiếng dội ì ào, khơi lên cái cảm giác buồn ngủ.<br />
Tôi nói với chàng tôi cũng yêu sóng. Những ngày còn đi học, tôi cũng đã có những buổi chiều lang thang một mình ra bờ sông. Nhìn dòng nước chảy. Và nhìn lại lòng mình, trống không.<br />
&#8211; May quá.<br />
Tôi hỏi lại tại sao. Chàng bảo:<br />
&#8211; Nếu lòng em những ngày đó, đã được làm đầy thì anh đâu còn có ngày nay. Buổi tối này, ngồi đây.<br />
Tôi muốn mắng yêu chàng :<br />
lúc nào cũng chỉ kiếm chuyện để ghen với em. Trong khi, anh thấy, em có gì đâu, về quá khứ của anh.<br />
Tôi ngã người theo cánh tay choàng qua và kéo về của chàng. Tôi đáp nhỏ :<br />
&#8211; Em hoàn toàn của anh. Của anh mà thôi. Anh thấy đó.<br />
Chàng tỳ cằm lên đầu tôi, im lặng. Tôi biết chàng yêu tôi nồng nàn và có pha lẫn chút gì của một người lớn, kẻ cả. Tôi cũng im lặng. Mặt sông đêm trở lại bình thường với những con sóng lăn tăn (là những giao động của tâm hồn tôi trên mặt phẳng của tình yêu hai đứa). Tiếng súng ở đâu đó vọng lại.<br />
Tôi hỏi chàng cho có chuyện:<br />
&#8211; Ngưng bắn rồi mà anh ?<br />
Đã đành. Nhưng vẫn còn đánh lẻ tẻ. Nhỏ không đọc báo sao ?<br />
Tôi lắc đầu:<br />
&#8211; Tình yêu đã choán hết tất cả thì giờ của em.<br />
Chàng chải chải tóc tôi bằng mấy ngón tay:<br />
&#8211; Em ngoan lắm.<br />
Tôi nghiêng mặt vào trong và lại nghe rõ mùi hơi chàng.<br />
Hình như chúng tôi, nếu có lúc cả hai đứa cùng tranh nhau nói, thì cũng có lúc cả hai đột nhiên, cùng im lặng. Có lẽ đó là lúc mà cả hai đứa cùng chìm rơi, hụt hẫng vào khoảng không nào đó. Một khoảng chân không. Phải, những khoảng chân không của tình yêu. Và khi ấy, không bảo, chúng tôi cùng cảm thấy, có nói mấy cũng bằng thừa. Có nói gì, cũng chẳng thể bằng được một góc nhỏ của cái im lặng đang giàn ra, đang trải rộng và đang từ từ, cuộn tròn hai đứa vào nhau. Những lúc đó, thường tôi nghe rõ nhịp đập điều hòa của trái tim chàng và hơi thở nhẹ nhẹ bay ngang qua đỉnh đầu tôi. Cũng trong những phút giây im lặng của hạnh phúc ngọt tới không thực kia, tôi thấy trước sau, tôi vẫn chỉ là một đứa bé, quá bé nhỏ, tựa nương trong cái bóng lớn lầm lì và khuôn mặt chàng khắc khổ.<br />
Mấy người bồi qua lại, liếc nhìn chúng tôi một cách kín đáo. Chắc họ ngạc nhiên nghĩ chúng tôi đến đây, như không phải để ăn mà để lắng nghe một cái gì, rất vu vơ, rất mơ hồ ở chung quanh, trong bóng đêm và trên mặt sông nháng tối.<br />
Tôi gỡ tay chàng và ngồi ngay người lại. Chàng im lặng trong cử chỉ của tôi, thế rồi khi tôi vừa vuốt lại hai lọn tóc ở hai bên má, thì đột ngột chàng nâng cằm tôi lên và kéo giật tôi lại. Chàng hôn tôi.<br />
Nụ hôn chớp nhoáng khiến tôi chỉ cảm giác sau khi chàng đã ngay người lại và đang xa, và lạnh lẽo. Tôi nói:<br />
&#8211; Anh đừng hôn em như thế. Người ta nhìn cho.<br />
Chàng cười và hút một hơi thuốc dài.<br />
&#8211; Mình về nha ?<br />
Tôi gật đầu.<br />
Những con đường đêm mang một vẻ gì cũ kỹ và dể thương. Chàng chở tôi trên chiếc xe của tôi ọp ẹp. Gió từ phía sau lưng đuổi theo. Tóc tôi bay và đập vào vai chàng. Chàng hát :<br />
Người đi qua đời tôi, không nhớ gì sao người&#8230;.<br />
Tiếng hát được gió đem đi về phía trước. Tôi chỉ còn nghe được hơi thở của chàng, gần gũi. Thật gần gũi.<br />
Lạy Chúa, chúng tôi yêu nhau, trong bất trắc và rất nhiều khổ lụy. Nếu ngài thấy được tình yêu chúng tôi, xin ngài hãy nhỏ xuống, với chúng tôi, một giọt lệ. Và xin là giọt lệ của một người, yêu kính tình yêu, như yêu kính Chúa. Bởi vì mai đây, có thể tôi lại bỏ thành phố này. Tôi ra đi, trong khi chàng ở lại. Chúa có thấy xót xa và muốn chia sẻ cùng tôi chăng ? Xin Chúa hãy đem ngày trở lại, về với tôi thật sớm. Và riêng tôi, tôi sẽ tự tìm lấy, nơi chốn ước mơ của đời mình. Chúa ở xa, ôi sao Chúa ở quá xa. Mịt mờ và tít tắp.</p>
<h1><b>Mai Thảo. mãi mãi. Ký ức.</b></h1>
<p><strong><i>Lời nói đầu:</i></strong><em> Nhân dịp kỷ niệm 12 năm, ngày mất (10 Tháng Giêng, năm 1998) của nhà văn Mai Thảo, chúng tôi xin được gửi tới quý bạn đọc và thân hữu, hai bài viết về nhà văn này, của chúng tôi.</em> <i>Bài thứ nhất, chúng tôi viết một ngày sau khi ông mất. Bài thứ hai, chúng tôi viết 30 ngày sau đó, dưới bút hiệu Lê Hà Nam, cho tạp chí Hợp Lưu, số “Tưởng Mộ Mai Thảo,” Tháng Hai và Ba, năm 1998.- Du Tử Lê</i></p>
<p><i>***</i></p>
<p><b><i>1. Mai Thảo, thế giới đèn màu, Saigon, trước 1975</i></b></p>
<p>Nói tới nhà văn Mai Thảo, trong hơn hai mươi năm qua, ở hải ngoại, người ta chỉ có thể hình dung ông trong cung cách lạnh lùng, lừng khừng của một nhà văn lưu vong. Hoặc người ta nhớ tới ông, trong câu chuyện của một ông già, mỗi buổi sáng thường lững thững trên một đoạn đường Bolsa (khúc nối liền giữa khu chợ 99 và Phước Lộc Thọ).</p>
<p>Cũng chính ở khúc đường này, nhiều lần, cảnh sát đã chặn ông lại, nhét vào túi ông những tấm giấy phạt vì tội&#8230;“ vi phạm luật đi&#8230; bộ!”</p>
<p>Ông bị phạt nhiều tới độ ông trở thành một nhân vật&#8230; nổi tiếng của Hội Ðồng Thành Phố Westminster. Tôi nhớ, năm 1996, một nhóm anh em văn nghệ sĩ đứng ra tổ chức “Ðêm Mai Thảo,” tại hý viện Westminster Auditorium, thuộc thành phố Westminster. Nghị Viên Lâm Quang, lúc đó còn là quyền thị trưởng thành phố Westminster, lên sân khấu trao bảng “Ngợi Ca Thành Tích Văn Học” cho nhà văn Mai Thảo.</p>
<p>Trong phần phát biểu, Nghị Viên Lâm Quang chuyển lời xin lỗi của Hội Ðồng Thành Phố và, của cảnh sát trưởng thành phố này, tới tác giả “Ta Thấy Hình Ta Những Miếu Ðền.”</p>
<p>Họ Lâm nói, dù biết Mai Thảo là một nhà văn nổi tiếng của miền Nam Việt Nam, nhưng sự việc ông băng qua đường một cách bừa bãi là một điều nguy hiểm cho sinh mạng của ông trước nhất; kế tới, cản trở lưu thông và, sau chót&#8230; “vi phạm luật dành cho người đi bộ!”</p>
<p>“Bởi thế, nếu không phạt ông, thì cảnh sát Westminster chúng tôi cũng sẽ không thể phạt những người&#8230; đi bộ khác,” Ông Lâm Quang nói.</p>
<p>“Và trong ‘Ðêm Mai Thảo’ này, chúng tôi xin cầu chúc nhà văn Mai Thảo, tương lai sẽ không còn bị phạt vì tội đi&#8230; bộ nữa. Ðược như vậy, cá nhân chúng tôi cũng bớt phần&#8230; áy náy.”</p>
<p>Ðêm đó, hội trường rung rinh vì những chuỗi cười ngặt nghẽo, ném lên từ khán giả.</p>
<p>Trên sân khấu, người đàn ông vừa bước vào tuổi 70, cũng bật cười. Nụ cười móm mém. Nụ cười hóm hỉnh. Thân ái. Nhẹ nhàng chấp nhận.</p>
<p>Trong số 500 khán giả, những người yêu mến Mai Thảo kia, tôi nghĩ, có dễ ít ai biết, cái ông già hom hem, móm mém đang đứng trước họ đó, hai mươi năm trước, từng là “Ông Hoàng Của Ngàn Lẻ Một Ðêm Sài Gòn.”</p>
<p>Tôi nghĩ, trong số 500 khán giả, những người yêu mến Mai Thảo kia, có dễ ít ai biết, cái ông già chỉ còn vài chiếc răng trệu trạo, lung lay, loáng thoáng đâu đó trên gương mặt xanh rớt ấy, hơn hai mươi năm trước, là một tay chơi từng đương đầu với nguyên băng thảo khấu, đàn em của Bảy Viễn: Băng Lai Văn Sang. Giữa thập 1950, một đêm, băng Lai Văn Sang, xuất quân từ sòng bài Ðại Thế Giới ở Chợ Lớn, đại náo một vũ trường ở đầu đường Trần Hưng Ðạo, trong một cuộc biểu dương quyền lực, để tranh giành một vũ nữ hoa khôi, tên C. thời đó&#8230;</p>
<p>Tình địch của băng Lai Văn Sang, ngày ấy, không ai khác hơn: Mai Thảo.</p>
<p>Tôi nghĩ, trong số 500 khán giả, những người yêu mến Mai Thảo, yêu mến ông già có nụ cười hóm hỉnh, móm mém, chưa từng lập gia đình kia, có dễ ít ai biết, giữa thập niên 50, từ Saigon, đã một mình, bay ra cố đô Huế. Ông lừng lững tới tận nhà nữ ca sĩ họ Lục, (sau này trở thành danh ca dưới tên H.Th.) để xin hỏi cưới nàng. Người đàn ông đó, cũng là Mai Thảo.</p>
<p>Không chỉ đa số khán giả của “Ðêm Mai Thảo” kia, không biết mà, ngay song thân của người nữ ca sĩ họ Lục, ngỡ ngàng, kinh ngạc khi nghe Mai Thảo tự giới thiệu&#8230; “thân thế” mình:</p>
<p>“Tôi là Mai Thảo. Từ Saigon ra. Chúng tôi thực sự muốn lấy L.H. làm vợ. Nếu hai cụ đồng ý thì, tôi hứa, trong vòng một tháng, bố mẹ chúng tôi sẽ bay ra đây, nói tiếp phần còn lại&#8230;”</p>
<p>Liền sau đó, ông xin phép song thân họ Lục, để được đưa con gái họ&#8230; đi chơi!</p>
<p>Cũng liền sau đó, song thân của người con gái họ Lục, cho hay, sẽ khó khăn cho họ biết là chừng nào, nếu có một chàng rể như&#8230; Mai Thảo!</p>
<p>Tôi nghĩ, trong số 500 khán giả, những người yêu mến ông già có nụ cười móm mém, hóm hỉnh kia, có dễ ít người biết, giữa thập niên 1950, khi lớp người miền Bắc di cư vào Nam, còn bị người địa phương ngắm nhìn như những người&#8230; ngoại quốc&#8230; (Những người không phải là người&#8230; “Diệc”&#8230; Những người ăn&#8230; thịt người, chuyên bắt cóc con nít?!) thì, Mai Thảo đã trở thành người em nhỏ trong tình thương, quý của nữ nghệ sĩ Phùng Há, của lão nghệ sĩ Năm Châu&#8230; Mai Thảo cũng trở thành người anh đáng tin cậy của Thành Ðược, Kim Chung, Bích Hợp, Dũng Thanh Lâm&#8230;</p>
<p>Nghệ sĩ lừng danh Thành Ðược, hiện cư ngụ tại miền Bắc Cali, thuở xa xưa, mỗi lần gặp nhà văn Mai Thảo, thường dùng hai chữ “văn nhân” để tỏ lòng quý, trọng ông.</p>
<p>Mai Thảo, với những đêm lăn lóc ở Tổ Ðình, chờ tan một xuất diễn, đợi hết một buổi tập tuồng, để được theo chân bà chị Phùng Há, ông anh Năm Châu đi vào thế giới Saigon ban đêm. Thế giới của những nghệ sĩ cải lương, chèo cổ nổi tiếng đương thời.</p>
<p>Chính Mai Thảo là người đầu tiên, vào từ miền Bắc, mở được cánh cửa tương thông, thân ái giữa những người làm nghệ thuật ở hai đầu “thế giới” lạ lẫm. Không có ông, tôi nghĩ, khó ai biết được tới lúc nào, cánh cửa tương thông, thân ái nọ, mới được mở rộng?!)</p>
<p>Tôi nghĩ, trong số 500 khán giả, những người yêu mến ông già đã tận hiến trọn vẹn cuộc đời của mình cho dòng văn học Việt Nam ở quê hương, cũng như tại quê người, có dễ ít ai biết, hơn 20 năm trước, chính ông già lạnh lùng, lừng khừng, đôi lúc giống như bất thường đó, lại là người phong tặng danh hiệu cho nhiều tiếng hát miền Nam. Những danh hiệu mà, hôm nay, ở hải ngoại, mỗi khi nhắc tới họ, một số người trong chúng ta, chưa quên. Như, Thanh Thúy, “Tiếng hát liêu trai.” Thái Thanh, “Tiếng hát vượt thời gian,” Lệ Thu, “Tiếng hát mùa thu sương khói”&#8230;</p>
<p>Ðó là một phần chân dung đời thường của nhà văn Mai Thảo. Người đứng đầu tạp chí Sáng Tạo. Một tạp chí trương cao ngọn cờ cổ xúy phong trào “giải phóng” dòng văn học, nghệ thuật miền Nam, từ những năm giữa thập niên 1950, khỏi ảnh hưởng của phong trào văn chương tiền chiến.</p>
<p>Ðó cũng là một phần nhân-cách-Mai-Thảo. Người đi hết một đời nhà văn của mình mà, không hề lưu lại một dòng, một chữ gây thương tổn bạn văn.</p>
<p>Nhớ lại, biết được như thế, chúng ta sẽ không ngạc nhiên, tại sao đám tang ông, đám tang một nhà văn, (dù là nhà văn hàng đầu,) lại có nhiều, quá nhiều những khuôn mặt, những tên tuổi tiêu biểu cho nửa thế kỷ tân nhạc và, sân khấu Việt Nam, quê người; cũng như giới tay chơi, giang hồ hữu hạng&#8230; bên cạnh những khuôn mặt thuộc văn giới. Ðủ loại!</p>
<p>Từ đó, tôi nghĩ, Mai Thảo không chỉ lớn lao trong văn học, mà, ông còn lớn lao trong nhiều lãnh vực khác của đời sống Việt Nam nữa.</p>
<p><b>2. </b><b>Mai Thảo, những giờ phút cuối cùng hay, ‘ly cà phê sữa đá’ </b><b></b></p>
<p>Thứ Năm, 8 Tháng Giêng, 1998:</p>
<p>&#8211; 4:45PM: Mưa tiếp từ đêm trước. Nhưng bầu trời vẫn óc ách, xộc xệch những đám mây õng nước. Tôi vừa bước vào nhà. Ðiện thoại reo. Ðầu dây bên kia, giọng nói nhanh, trẻ, gẫy gọn, và rất mực lễ phép.</p>
<p>“Thưa bác cháu là Tâm, bác cháu, bác Mai Thảo muốn gặp bác gấp, nếu có thể được&#8230;” Tôi nhận ra ngay. Ðó là người con gái lặng lẽ, trong nửa năm qua, nhiều lần đứng tựa tường, dọc hành lang bệnh viện Fountain Valley, những ngày đầu Tháng Tám. Tôi hình dung được ngay, đôi mắt mở lớn, dáng đi nghiêng, hắt về phía trước. Người con gái tôi từng gửi gấm để xin dành ưu tiên cho Hoàng Anh Tuấn và Ðỗ Vẫn Trọn từ San Jose về, được vào thăm ông bác của cô, sau chuyến đi hộc tốc. Họ hốt hoảng chạy vào bệnh viện. Họ ngỡ ngàng bị chặn lại bên ngoài khung kính khu ICU. Ðó là Tâm. Con của một trong mấy người em gái ruột của tác giả “Ðêm Giã Từ Hà Nội.”</p>
<p>“Thưa bác, bác cháu không còn ở dưỡng đường Haster nữa. Bác cháu đang nằm ở bệnh viện Garden Gorve&#8230; Lầu 6 phòng 608&#8230; Bác biết đường Garden Grove&#8230; Bác biết đường Harbor?</p>
<p>“Biết. Biết.”</p>
<p>“Cháu không có địa chỉ. Nhưng dường như nó là Garden Grove <a href="http://www.nguoi-viet.com/absolutenm/templates/viewtemplate.htm##">Art</a> Hopistal, lầu 6. Bác nhớ.”</p>
<p>“Nhớ, bác ghi được rồi.”</p>
<p>“Nhân tiện, nếu bác gặp bác Ðỗ Ngọc Yến, cũng xin bác nhắn hộ là bác cháu cũng muốn được gặp bác Yến&#8230;”</p>
<p>“Có chuyện gì Tâm biết không?”</p>
<p>“Dạ cháu không biết.”</p>
<p>“OK. Bác sẽ nhắn bác Yến. Bác sẽ đi ngay.”</p>
<p>&#8211; 5:00PM: Mưa tiếp từ đêm trước. Bầu trời vẫn óc ách, xộc xệch những đám mây õng nước.</p>
<p>Chiếc xe trôi chậm rì trong gió và, bóng tối lép nhép. Khúc đường gần xịt, bỗng trở nên dài đẵng. Một chiếc quạt nước gẫy tiếp tục đào sâu đường rãnh có sẵn, hình cánh cung trên kính xe. Linh cảm tôi dự báo điều bất thường. Ðiều tôi chờ đợi từ nhiều tháng qua, phải chăng đã tới? Chúng tôi im lặng. Chúng tôi ghìm giữ trong lòng những cảm nhận, những suy nghĩ riêng của mình. Tuồng, nếu không giữ được, tai họa, bất hạnh sẽ không có cơ hội sập xuống. Tuồng, nếu hai đứa tôi, dối gạt được nhau, thì, cũng có nghĩa là đã dối gạt được định mệnh!</p>
<p>Mưa tiếp. Nặng hạt hơn. Một chiếc quạt nước gẫy, đào nhanh hơn, sâu hơn đường rãnh có sẵn, hình cánh cung trên kính xe. Tôi không thể nghĩ, đoán bất cứ một lời trối trăn nào của người đàn ông mà Tâm gọi bằng “Bác”; và, anh em chúng tôi quen gọi bằng “Anh”, với tất cả yêu mến, kính trọng gần như tuyệt đối.</p>
<p>Tôi cố để không nhớ lại lời anh kể với chúng tôi rằng:</p>
<p>“Vũ Tài Lục bảo tôi, nhiều lắm thì cũng chỉ hai tới ba năm nữa là cùng.”</p>
<p>Tôi nói lớn trong đầu, cũng có khi Vũ Tài Lục sai chứ. Sai quá đi chứ. Bằng chứng Anh đã bước qua biên giới sinh tử. Anh đã được đưa về Convalestion Home để tập ăn, nói, đi lại, một đời thường. Tôi nhắc nhở tôi, câu nói đùa của một người bạn, chưa lâu, rằng: “Biết đâu một ngày nào, người ta lại thấy ông Mai Thảo lại lững thững đi trên đường Bolsa. Ông lại băng ngang khu Phước Lộc Thọ&#8230; Có thể lắm chứ. Who knows? Và trong túi người bạn già của chúng ta, lại có thêm vài cái ticket phạt người đi&#8230; bộ&#8230;</p>
<p>Mưa tiếp. Chúng tôi vượt qua ngã tư Harbor. Vượt qua ngã ba, nơi có nhà hàng Pháp mà người bác của Tâm thỉnh thoảng vẫn ghé lại. Nơi anh đã đem Nguyễn Bá Khanh tới để chụp những tấm hình cho một ngày trong đời anh. Nơi (đi tới vài phút) là đầu đường Fairview. Ðường Fairview sẽ xắn ngang Ranchero Way. Ranchero Way, 1980. Căn nhà, con đường đã nhiều lần xuất hiện trong văn chương, bền lâu, của ký ức anh. Ranchero Way. Căn nhà. Con đường anh tìm đến, ở lại nhiều ngày, đêm những tháng ngày đầu đời lưu vong.</p>
<p>&#8211; 5:20: Mưa bị tòa building 8 tầng chặn lại. Tôi bị người phụ nữ Mễ Tây Cơ, mặc áo blouse mầu hồng, lớn tiếng, đuổi ra khỏi căn phòng 608. Bà ta đang vật lộn với trở ngại ngôn ngữ. Với bộ xương dài ngoằng, bất động trên chiếc giường sắt.</p>
<p>Hành lang lạnh. Trắng. Hun hút những câu hỏi không câu trả lời nơi những cửa phòng đánh số và, những ngã rẽ. Ðôi ba bóng người hiện ra, rồi biến đi, tựa hình ma hay, bóng quế!</p>
<p>Bình nước tiểu sóng sánh chút nước đỏ cạch cùng những tấm drap được mang ra cùng nụ cười của người đàn bà Mễ Tây Cơ. Chúng tôi bước vào. Ðôi mắt anh sáng lên. Có dễ cũng cả nửa năm qua, tôi mới gặp lại ánh mắt tinh, ranh, thoáng chút riễu cợt, khinh mạn nơi đuôi mắt. Linh tính tôi sai bét. Dự báo nhảm.</p>
<p>“Vũ Tài&#8230; gì thì lần này cũng té giếng thôi&#8230;” Tôi nghĩ.</p>
<p>Không một chờ đợi trầm trọng nảo trong phỏng đoán nào của chúng tôi, xảy ra. Anh ra dấu bảo tôi cho anh một điếu thuốc. Những ngón tay dài ngoẵng, đúng hơn những lóng xương nối nhau, khó nhọc, vất vả đưa lên gần đôi môi mỏng, mím, nơi khuôn mặt đã biến dạng. Anh ra dấu. Ra dấu. Ra dấu.</p>
<p>Vài giây im lặng qua đi. Tôi hỏi:</p>
<p>“Anh cần gì? Thuốc lá phải không anh?”</p>
<p>Ánh rạng rỡ nơi đôi mắt anh, tăng cấp số nhân. Lại thêm vài giây im lặng lăn qua. Ánh rạng rỡ ngúm tắt. Tôi đọc được ý nài nỉ nơi cái đầu Anh cố gắng đưa xuống gần ngực. Tôi đọc được ý nài nỉ nơi đuôi mắt anh chuyển động. Nháy. Nháy.</p>
<p>T. buột miệng bảo tôi:</p>
<p>“Không được anh. Anh phải ra hỏi y tá thôi. Nguy hiểm lắm. Máy báo động sẽ kêu. Còn giường bên cạnh&#8230;”</p>
<p>Ðuôi mắt tiếp tục nháy. Nháy. Cường độ nài nỉ tăng cấp số nhân, với toàn bộ khuôn mặt anh: Những phần da, xương còn khả năng biểu lộ. Tôi ra khỏi phòng, tựa vách tường.</p>
<p>Hành lang lạnh. Trắng. Hun hút những câu hỏi không câu trả lời nơi những căn phòng đánh số và những ngã rẽ. Ðôi ba người hiện ra, biến đi, tựa những hình ma hay bóng quế.</p>
<p>T. bước ra, trên tay lắt lẻo miếng plastic mầu xanh, ghi hàng chữ: “Patient: Nguyễn, Quý. Dr. Nguyễn Khiêm.” Tôi hỏi, ở đâu ra cái này? T. đáp:</p>
<p>“Em gỡ. Anh ấy đòi. Em sợ anh ấy muốn giựt bỏ mọi thứ giây nhợ chạy quanh người. Triệu chứng gì em không biết. Nhưng đây là lần đầu tiên&#8230; Phải báo y tá ngay!</p>
<p>Tôi gật đầu. “Phải báo y tá ngay”!</p>
<p>Tôi báo sự việc bất thường này với bà y tá già và, người đàn bà Nurse Aid, Mễ Tây Cơ rồi trở vào phòng. Những lóng xương xếp thành hình dạng những ngón tay dài ngoẵng, lại lẩy bẩy nhấc lên. Chúng lại khó khăn, vất vả đưa về gần đôi môi mỏng, mím. Lần này, cùng với thủ hiệu, là đuôi mắt trái của anh nháy. Nháy. Tôi chỉ còn chọn lựa sau cùng, dối gạt nài nỉ kia:</p>
<p>“Vâng. Anh để tôi xuống xe lấy thuốc lá cho anh.”</p>
<p>Tôi đi thẳng một mạch ra thang máy.</p>
<p>Những mẩu thuốc nở, trương, sũng nước hớ hênh cười nhạo trên dưới ánh đèn. Mưa tiếp. Núp dưới hiên, tôi rút một điếu thuốc. Ðốt cho chính mình, cho mưa, và, cho sự dối gạt còn mặn, ướt trên môi tôi.</p>
<p>5:30PM: T. xuống. Ðưa tôi miếng giấy. Ðúng hơn, là bao đựng mấy miếng sponges của nhà thương. Miếng giấy có hàng chữ sau cùng của một người có trên nửa thế kỷ ăn ở trân trọng, nghiêm chỉnh với chữ nghĩa. Giòng chữ viết:</p>
<p>“1 cà phê sữa đá.”</p>
<p>Mưa xấn sổ ném lên những con chữ, như thể muốn nuốt chửng, muốn bôi xóa chúng. Hay tố giác sự bất lực, đớn hèn tới đốn mạt của chúng tôi?</p>
<p>8:10PM: Mưa tiếp. Tôi điện thoại xin gặp Tâm. Tôi muốn báo cho Tâm biết tôi đã hoàn tất lời Tâm nhắn. Tâm không có nhà. Tôi nói chuyện với mẹ Tâm.</p>
<p>Chị Yến kể cách đây 10 phút nhà thương đã đưa anh ấy trở về lại đường Haster. Một lần nữa, linh tính tôi sai toét. Dự báo lầm. “Vũ Tài&#8230; gì thì cũng có lần phải sai chứ&#8230;” Tôi nói với chị, ngày mai, chị lén mang cho anh ấy một điếu thuốc và, “một cà phê sữa đá.” Bệnh viện không thể, nhưng Convalestion Home thì được.</p>
<p>Tôi kể chị nghe về khuynh hướng muốn dứt bỏ mọi thứ giây nhợ. Chúng tôi đồng ý với nhau, tình trạng anh, trở lại mức khởi điểm đầy hy vọng:</p>
<p>“Bolsa &#8211; Phước Lộc Thọ &#8211; Và dăm tấm giấy phạt người đi&#8230; bộ.”</p>
<p>8:20PM: Mưa tiếp. Nằm trên chiếc sofa, vẫn bằng vào lạc quan kia, trả lời điện thoại Ðỗ Ngọc Yến, tôi nói. Nói. Nói:</p>
<p>“&#8230;Tuy nhiên, ngày mai bác cố gắng đến Haster, thăm anh ấy. Haster, chứ không phải nhà thương Garden Gorve. Có thể ông ấy nghĩ bác ba đầu sáu tay sẽ đốt được cho ông ấy một điếu thuốc và 1 cà phê sữa đá&#8230; không chừng&#8230;”</p>
<p>Yến ậm ừ. Tôi nghĩ nhiều phần có thể Yến không đến Haster, ngày mai&#8230; Cuộc nói chuyện chấm dứt khi tôi có đường dây khác tới.</p>
<p>9:00 PM: Mưa tiếp. Anh Nguyên Sa gọi. Hỏi thăm. Tôi tóm tắt những diễn biến chính. Anh bảo:</p>
<p>“Vậy thì tốt.”</p>
<p>“Tốt hả anh?”</p>
<p>“ Tốt chứ. Về lại Nursing home mà. Ðâu có ở nhà thương nữa.”</p>
<p>Thứ Bảy 10-1-1998</p>
<p>Houston, 9:30AM: Ðường Tuam. Trời the lạnh. Tin thời tiết cho biết Texas sẽ có một ngày nắng ráo. Nhiệt độ thấp nhất 50. Cao nhất 65. Bão sẽ đi qua Houston và vùng phụ cận vào ngày hôm sau, từ 12 giờ trưa, tới 4 giờ chiều. Có “chill wind” và mực nước mưa có thể từ 2 tới 5.” Tùy khu vực. Quán mới mở cửa. Hào gọi cho tôi “1 cà phê sữa đá” và tô phở. Cửa mở. Bung. Nắng rỡ ràng. Một phụ nữ tất tả bước vào. Chị tới thẳng bàn chúng tôi. Mừng rỡ, tôi chào. Hỏi:</p>
<p>“Chị ăn gì chị Phương Hoa?”</p>
<p>Chị nói, ăn rồi.</p>
<p>“Cho tôi 1 cà phê sữa đá.”</p>
<p>Hào tìm người chạy bàn. Tôi nhúng thìa, đũa vào tô phở của mình. Nhạc xuân. Một bài hát cũ. Rất cũ. Của Nguyễn Văn Ðông? Nói về một người lính ôm súng trong vọng gác, đón giao thừa. Phương Hoa khuấy ly cà phê sữa đá. Tiếng muỗng, đá va vào thủy tinh, lanh canh. Tiếng lanh canh bứt rứt. Ngập ngừng. Ðứt đoạn. Tôi ngước nhìn chị. Ðôi mắt chị đỏ hoe. Chuyện gì? Tôi không đoán. Chị cúi xuống ly cà phê sữa đá. Tiếng lanh canh bứt rứt khua động thêm một vài hồi rời rạc. Rồi tắt.</p>
<p>“Tôi không thể đợi tới lúc anh ăn xong tô phở,” vẫn cúi xuống ly cà phê sữa đá của mình, chị tiếp:</p>
<p>“Anh Mai Thảo mất rồi. T. mới báo cho chúng tôi biết. Anh Thăng kẹt bệnh nhân. Tôi nghĩ phải ra đây cho anh biết, trước khi anh đi Austin&#8230;”</p>
<p>Tôi đặt đũa, muỗng xuống. Hào đặt muống, đũa xuống. Chiếc muỗng trong ly cà phê sữa đá của chị Hoa vẫn được những ngón tay chị giữ chặt. Có phần chặt hơn. Những ngón tay bầm, thâm vì máu không thể đi tới.</p>
<p>“Khi nào?”</p>
<p>“Ba giờ sáng nay.”</p>
<p>Trước mặt chúng tôi, là ba “ly cà phê sữa đá.”</p>
<p>Austin 2:50PM: Khi đã tìm được exit vào đường Jamestown, Hào thuận miệng hỏi:</p>
<p>“Anh có thèm một ly cà phê sữa đá?”</p>
<p>Tôi gật đầu:</p>
<p>“Nên lắm chứ. Hạnh phúc biết bao nếu lúc này, chúng ta có được một ly cà phê sữa đá. Thật ra, tôi muốn nói với Hào rằng: “Hạnh phúc biết bao, trong đời sống này, chúng ta có được một người tên Mai Thảo.”</p>
<p>Suốt cuộc hành trình trên xa lộ 290 W., trong tôi cứ lẩn quẩn hoài câu nói của Khổng Tử (?)rằng: “Ðược làm người đã khó, nhưng sống cho ra một con người còn khó hơn nữa!” Chưa bao giờ tôi thấm thía câu nói đó, bằng lúc này. Và, nếu được phép sửa một chút, tôi sẽ xin được sửa thành:</p>
<p>“Sống cho ra một con người đã khó, nhưng sống như Mai Thảo/Nguyễn Ðăng Quý trong đời sống này, còn khó hơn một bậc nữa vậy!”</p>
<p>Mặc dù, mỗi chúng ta, hằng ngày, bất cứ lúc nào, ở đâu, cũng có thể gọi được, tự làm được cho mình “một ly cà phê sữa đá.” Chỉ riêng anh thì không.</p>
<p>Chẳng bao giờ. Chẳng bao giờ, có nữa!</p>
<p>***</p>
<h1><b>Phụ đính thơ Du Tử Lê</b></h1>
<p>&nbsp;</p>
<p>&nbsp;</p>
<p><a href="https://t-van.net/wp-content/uploads/2012/01/clip_image0042.jpg"><img loading="lazy" decoding="async" style="background-image: none; padding-left: 0px; padding-right: 0px; display: inline; padding-top: 0px; border: 0px;" title="clip_image004" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2012/01/clip_image004_thumb2.jpg?strip=all&fit=250%2C356" alt="clip_image004" width="250" height="356" border="0" hspace="12" /></a></p>
<p>&nbsp;</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>&nbsp;</p>
<p><strong>Khi tôi chết hãy đem tôi ra biển</strong></p>
<p>&nbsp;</p>
<p>Khi tôi chết hãy đem tôi ra biển<br />
đời lưu vong không cả một ngôi mồ<br />
vui đất lạ thịt xương e khó rã<br />
hồn không đi sao trở lại quê nhà<br />
Khi tôi chết hãy đem tôi ra biển<br />
nước ngược dòng sẽ đẩy xác trôi đi<br />
bên <a href="http://dactrung.net/tho/noidung.aspx?BaiID=HsqNZeRssSxvOOpjzKiUrw%3d%3d##">kia</a> biển là quê hương tôi đó<br />
răng tre xưa muôn tuổi vẫn xanh ri<br />
Khi tôi chết hãy đem tôi ra biển<br />
và nhớ đừng vội vuốt mắt cho tôi<br />
cho tôi hướng vọng quê tôi lần cuối<br />
biết đâu chừng xác tôi chẳng đến nơi<br />
Khi tôi chết hãy đem tôi ra biển<br />
đừng ngập ngừng vì ái ngại cho tôi<br />
những năm trước bao người ngon miệng cá<br />
thì sá gì thêm một xác cong queo<br />
Khi tôi chết hãy đem tôi ra biển<br />
cho tôi về gặp lại các con tôi<br />
cho tôi về nhìn thấy lệ chúng rơi<br />
từ những mắt đã buồn hơn bóng tối<br />
Khi tôi chết hãy đem tôi ra biển<br />
và trên đường quốc hãy nhớ hát ca<br />
ôi lâu quá không còn ai hát nữa<br />
(bài hát giờ cũng như một hồn ma)<br />
Khi tôi chết nỗi buồn kia cũng hết<br />
đời lưu vong tận tuyệt với linh hồn.</p>
<p>&nbsp;</p>
<p><strong>Khúc thụy du </strong></p>
<p>1.<br />
như con chim bói cá<br />
trên cọc nhọn trăm năm<br />
tôi tìm đời đánh mất<br />
trong vụng nước cuộc đời<br />
như con chim bói cá<br />
tôi thường ngừng cánh bay<br />
ngước nhìn lên huyệt lộ<br />
bầy quạ rỉa xác người<br />
(của tươi đời nhượng lại)<br />
bữa ăn nào ngon hơn<br />
làm sao tôi nói được!<br />
như con chim bói cá<br />
tôi lặn sâu trong bùn<br />
hoài công tìm ý nghĩa<br />
cho cảnh tình hôm nay<br />
trên xác người chưa rữa<br />
trên thịt người chưa tan<br />
trên cánh tay chó gậm<br />
trên chiếc đầu lợn tha<br />
tôi sống như người mù<br />
tôi sống như người điên<br />
tôi làm chim bói cá<br />
lặn tìm vuông đời mình<br />
trên mặt dài nhiên lặng<br />
không tăm nào sủi lên<br />
đời sống như thân nấm<br />
mỗi ngày một lùn đi<br />
tâm hồn ta cọc lại<br />
ai làm người như tôi?<br />
2.<br />
mịn màng như nỗi chết<br />
hoang đường như tuổi thơ<br />
chưa một lần hé nở<br />
trên ngọn cờ không bay<br />
đôi mắt nàng khôn khép<br />
bàn tay nàng khôn thưa<br />
lọn tóc nàng đêm tối<br />
khư khư ôm tình dài<br />
ngực tôi đầy nắng lửa<br />
hãy nói về cuộc đời<br />
tôi còn gì để sống?<br />
hãy nói về cuộc đời<br />
khi tôi không còn nữa<br />
sẽ mang được những gì<br />
về bên <a href="http://dactrung.net/tho/noidung.aspx?BaiID=V9SvzEpIVfQ%2farTdF%2fiLBw%3d%3d##">kia</a> thế giới<br />
thụy ơi và thụy ơi<br />
3.<br />
tôi làm ma không đầu<br />
tôi làm ma không bụng<br />
tôi chỉ còn đôi chân<br />
hay chỉ còn đôi tay<br />
sờ soạng tìm thi thể<br />
quờ quạng tìm trái tim<br />
lẫn tan cùng vỏ đạn<br />
dính văng cùng mảnh bom<br />
thụy ơi và thụy ơi<br />
đừng bao giờ em hỏi<br />
vì sao mình yêu nhau<br />
vì sao môi anh nóng<br />
vì sao tay anh lạnh<br />
vì sao thân anh rung<br />
vì sao chân không vững<br />
vì sao anh van em<br />
hãy cho anh được thở<br />
bằng ngực em rũ buồn<br />
hãy cho anh được ôm<br />
em, ngang bằng sự chết!<br />
tình yêu như dao nhọn<br />
an đâm mình, lút cán<br />
thụy ơi và thụy ơi<br />
không còn ý nghĩa gì<br />
ngoài tình em tình em<br />
đã ướt đầm thân thể<br />
anh ru anh ngủ mùi<br />
đợi một giờ linh hiển.</p>
<p>&nbsp;</p>
<p><b>Vì em tôi đã làm sa di</b><b><br />
</b><br />
thiền viện tôi trưng chỉ ảnh em<br />
kinh kệ nghìn pho có một tên<br />
viết hoa một chữ không ai hiểu<br />
Phật bảo: kinh mà không phải kinh<br />
thế giới vì em sẽ dịu hiền<br />
biển đời phút chốc bỗng bình yên<br />
cánh chim tịch mịch miền vô niệm<br />
vô chấp, em ngồi như Quan Âm<br />
ba nghìn thế giới quy về đây<br />
vóc ốm em đi. Ngón cũng gầy<br />
thấy trong Địa Tạng em và mẹ<br />
Tam Bảo theo tôi: có dáng người<br />
muông thú vì em ở với rừng<br />
tôi vì em ở với thi ca<br />
thấy nhau là một đâu còn ngã<br />
thân chẳng riêng thì tâm nào riêng?<br />
phá chấp. Như Lai ở dưới trần<br />
hiện thân Bồ Tát cứu nhân gian<br />
cây oan khuất vẫn nghìn tay vẫy<br />
tôi vẫn nhìn em là chân kinh<br />
xuống tóc. Theo em khép cửa đời<br />
vào thiền để chỉ thấy viền môi<br />
yêu nhau ai bảo tâm không trụ?<br />
quên hết. Nhìn nhau. Nhất quán rồi.<br />
vì em tôi biến thành sơn tự<br />
mái đỏ tường rêu. Hoa hổ ngươi<br />
tình tôi là thảm xin em bước<br />
rất khẽ mà nghe đất nhớ trời<br />
nước mắt em trên chánh điện tình<br />
nở hoa siêu độ hoá tâm kinh<br />
đêm đêm tôi nhớ bàn tay cũ<br />
và thấy trong kinh đủ bóng, hình<br />
vì em tôi đã làm Sa Di<br />
không đi nên ý vẫn quay về<br />
bế quan toạ thị. Tôi và vách<br />
em tụng kinh gì? Cho nghe đi<br />
hôn em Bồ Tát. Chuông kinh hãi<br />
rung hoảng vì tôi? hay cả em?</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>&nbsp;</p>
<p><b>Giao khúc tháng sáu</b></p>
<p>&nbsp;</p>
<p>tôi từ đó nhỏ nhoi như chấu chấu<br />
như cào cào vỗ cánh chả bay xa<br />
người yêu tôi là thảm cỏ mượt mà<br />
khi tôi đậu nàng uốn mình cảm động<br />
tôi từ đó rêu xanh ôm đá tảng<br />
khinh loài người nên chọn kiếp vô tri<br />
người yêu tôi con suối nhỏ thầm thì<br />
âu yếm mãi nỗi sầu tôi một đời chín ủng<br />
tôi từ đó dật dờ như bóng mộng<br />
như chuồn chuồn cánh rã một đêm mưa<br />
người tôi yêu con dế biết đợi chờ<br />
biết nghe hát và thường ưa than thở<br />
tôi từ đó bơ vơ như chiếc lá<br />
cơn gió lùa tôi se sẽ rung rinh<br />
người yêu tôi là tượng đá chung tình<br />
thấy tôi rụng nhìn theo mà chả khóc<br />
tôi từ đó khật khừ như bọ ngựa<br />
tình đam mê không dấu nổi mọi người<br />
hồn đắm đuối làm sao che sự thật<br />
tôi từ đó ải dòn như củi mục<br />
như mảnh bom miếng đạn vỡ trên không<br />
người tôi yêu đêm nước mắt đanh tròng<br />
tôi chợt nhớ từ lâu đã già trước tuổi</p>
<p><b>Khi xa Du và T.Ch. </b></p>
<p>nhớ người gần gụi môi hôn<br />
đắp chăn ngang ngực nghe buồn đôi chân<br />
tay thừa thãi nhớ lưng ngoan<br />
nhớ em hơi thở phà quanh cổ trần<br />
nhớ hơi hướm, nhớ tình gần<br />
nhớ cơn mơ lẻ những lần xót xa<br />
nhớ trăm năm, nhớ mù lòa<br />
nhớ em vóc ốm, bây giờ biệt tăm</p>
<p>&nbsp;</p>
<p><b>Khi trông thư Thụy-Châm</b></p>
<p>cũng đành người đã quên tôi<br />
con chim nào cũng một đời kêu khan<br />
cây phong đã đỏ lá vàng<br />
quán sâu tôi quấn khăn quàng đợi đêm<br />
phải người quá nhẹ chân êm?<br />
tôi nghe như thể gió vin cửa ngoài<br />
cũng đành người đã ham vui<br />
núi non nào cũng một đời cô đơn<br />
tuyết trên mái cổ nghiêng hồn<br />
dưới chân cổ tượng cũng bồn chồn theo<br />
xe không nào sẽ qua đèo<br />
đêm nay chắc lá lại nhiều chiếc rơi<br />
cũng may tôi có một đời<br />
để đau, để khổ, để ngồi trông thôi</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>©T.Vấn 2012</p>
]]></content:encoded>
					
					<wfw:commentRss>https://t-van.net/ng%e1%bb%99-khng-tc-gi%e1%ba%a3-tc-ph%e1%ba%a9m-du-t%e1%bb%ad-l/feed/</wfw:commentRss>
			<slash:comments>0</slash:comments>
		
		
			</item>
	</channel>
</rss>

<!--
Performance optimized by W3 Total Cache. Learn more: https://www.boldgrid.com/w3-total-cache/?utm_source=w3tc&utm_medium=footer_comment&utm_campaign=free_plugin

Page Caching using Disk: Enhanced 

Served from: t-van.net @ 2026-06-19 01:09:45 by W3 Total Cache
-->