<?xml version="1.0" encoding="UTF-8"?><rss version="2.0"
	xmlns:content="http://purl.org/rss/1.0/modules/content/"
	xmlns:wfw="http://wellformedweb.org/CommentAPI/"
	xmlns:dc="http://purl.org/dc/elements/1.1/"
	xmlns:atom="http://www.w3.org/2005/Atom"
	xmlns:sy="http://purl.org/rss/1.0/modules/syndication/"
	xmlns:slash="http://purl.org/rss/1.0/modules/slash/"
	>

<channel>
	<title>thơ văn &#8211; T.Vấn và Bạn Hữu</title>
	<atom:link href="https://t-van.net/tag/th%c6%a1-van/feed/" rel="self" type="application/rss+xml" />
	<link>https://t-van.net</link>
	<description>Văn Học và Đời Sống</description>
	<lastBuildDate>Tue, 09 Jan 2024 23:48:56 +0000</lastBuildDate>
	<language>en-US</language>
	<sy:updatePeriod>
	hourly	</sy:updatePeriod>
	<sy:updateFrequency>
	1	</sy:updateFrequency>
	<generator>https://wordpress.org/?v=6.7.5</generator>

<image>
	<url>https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2022/02/t-van-favicon.png?strip=all&#038;resize=32%2C32</url>
	<title>thơ văn &#8211; T.Vấn và Bạn Hữu</title>
	<link>https://t-van.net</link>
	<width>32</width>
	<height>32</height>
</image> 
	<item>
		<title>Phạm Đức Nh&#236; : M&#211;N QU&#192; EM XIN</title>
		<link>https://t-van.net/ph%e1%ba%a1m-d%e1%bb%a9c-nh-mn-qu-em-xin/</link>
					<comments>https://t-van.net/ph%e1%ba%a1m-d%e1%bb%a9c-nh-mn-qu-em-xin/#respond</comments>
		
		<dc:creator><![CDATA[Phạm Đức Nhì]]></dc:creator>
		<pubDate>Wed, 25 Jun 2014 21:50:07 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Góc Thơ]]></category>
		<category><![CDATA[phạm đức nhì]]></category>
		<category><![CDATA[thơ văn]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://7076e870b2.nxcli.io/?p=18084</guid>

					<description><![CDATA[(Courtesy of http://lindseybuchmann.blogspot.com) Để trả lời bài thơ Anh Nhớ Mang Về Cho Em                      (không biết tên tác giả) Tặng Trần Thị Nga và nhóm Hà Nam Tam Kiệt &#160; Đọc thư em thấy nao nao trong lòng lá thư từ quê hương Việt Nam yêu dấu chúng mình con Lạc cháu Hồng cùng [&#8230;]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<p><a href="https://t-van.net/wp-content/uploads/2014/06/clip_image00216.jpg"><img fetchpriority="high" decoding="async" style="background-image: none; float: none; padding-top: 0px; padding-left: 0px; margin-left: auto; display: block; padding-right: 0px; margin-right: auto; border: 0px;" title="clip_image002" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2014/06/clip_image002_thumb14.jpg?strip=all&fit=354%2C237" alt="clip_image002" width="354" height="237" border="0" /></a></p>
<p align="center">(Courtesy of http://lindseybuchmann.blogspot.com)</p>
<p><em>Để trả lời bài thơ Anh Nhớ Mang Về Cho Em </em></p>
<p><em>                     (không biết tên tác giả)</em></p>
<p><em>Tặng Trần Thị Nga và nhóm Hà Nam Tam Kiệt</em></p>
<p>&nbsp;</p>
<p>Đọc thư em<br />
thấy nao nao trong lòng<br />
lá thư từ quê hương Việt Nam yêu dấu<br />
chúng mình<br />
con Lạc cháu Hồng<br />
cùng chung dòng máu<br />
nên lúc kỷ niệm hiện về<br />
anh thường nghĩ đến em.</p>
<p>món quà em xin<br />
ở đây dẫy đầy, thừa mứa<br />
từ nhà riêng đến công sở<br />
từ tờ báo anh đọc hàng ngày<br />
đến chương trình TV, radio<br />
mỗi sớm mai<br />
anh nghe tin tức<br />
từ việc bầu cử chính quyền các cấp<br />
đến những cuộc họp<br />
để người dân chất vấn quan chức địa phương<br />
và từ trong mỗi tâm hồn<br />
của hơn 300 triệu người Mỹ<br />
ở đây<br />
từ núi đồi, sa mạc đến đồng bằng, biển cả<br />
chỗ nào cũng tràn ngập <strong>không khí TỰ DO</strong></p>
<p>anh định lấy vài cái thùng thật to<br />
hứng rõ đầy, để mang về cho em bên ấy<br />
nhưng nghĩ đi, nghĩ lại<br />
chỉ có vài thùng<br />
thì em thở được mấy hơi<strong>?</strong><br />
<strong>R</strong>ồi còn bao nhiêu triệu người<br />
làm sao mà chia sẻ?<br />
Hỏi dò khắp năm châu bốn bể<br />
không hãng máy bay nào đủ lớn<br />
để toại nỗ<strong>i l</strong>ò<strong>ng</strong> em</p>
<p><strong>E</strong>m ơi! Món quà em xin<br />
lẽ ra, mở mắt chào đời, ai cũng có<br />
dù da trắng, da vàng hay da đen, da đỏ<br />
hai chữ <strong>TỰ DO</strong><br />
<strong>đảng nhân danh cái gì mà lại không cho?</strong></p>
<p>Em phải lên tiếng đòi<br />
đòi cho bằng được<br />
nếu đảng cứ khăng khăng từ khước<br />
<strong>Hãy can đảm đứng lên!</strong><br />
<strong>Anh và hàng triệu triệu người sẽ đứng bên em.</strong></p>
<p>Tháng 6/ 2014</p>
<p><strong>Phạm Đức Nhì</strong></p>
<p>&nbsp;</p>
<p><strong> </strong></p>
<p><strong>©T.Vấn 2014</strong></p>
<p>&nbsp;</p>
<p>&nbsp;</p>
<p><strong>Phụ Lục:</strong></p>
<p><strong>ANH NHỚ MANG VỀ CHO EM</strong></p>
<p>Mai anh về<br />
Nhớ lần theo con đường cũ<br />
Ánh trăng thề, vẫn ấp ủ bờ đê<br />
Hơn ba mươi năm rồi<br />
Quê vẫn là quê<br />
Đời lam lũ&#8230; khối &#8220;nhiêu khê&#8221; anh ạ.</p>
<p><a name="146b93d9c5c9d340_146b7164952fd92c_146b6c"></a>Anh thoát đi<br />
Được nhìn muôn thứ lạ<br />
Em nơi nầy<br />
Muôn kiếp lá thu rơi!</p>
<p>Mai anh về<br />
Chớ cười nhé, anh ơi<br />
Mong thông cảm cho những mảnh đời khó nhọc.</p>
<p>Đằng đẵng bao nhiêu năm<br />
Ngút ngàn lừa lọc&#8230;<br />
Em chứng nhân<br />
Học gần đủ đau thương&#8230;</p>
<p>Ngày ấy anh đi<br />
Lưu lại nỗi vấn vương<br />
Em nghèo quá, chỉ còn đường lao động.</p>
<p>Mai anh về<br />
Nhớ mang theo vùng trời cao đất rộng<br />
Bù cho em một ước vọng.<br />
Tự Do.</p>
<p>Hơn ba mươi năm<br />
Em xin mãi<br />
Chẳng ai cho!<br />
Lòng cố đợi<br />
Như thuở yêu<br />
Mình hẹn hò anh ạ.</p>
<p>Mai anh về<br />
Nhớ mang theo những thứ mà dân mình thấy lạ<br />
Thứ ấy là Dân Chủ Tự Do<br />
Những thứ mà gần cả đời, em xin mãi<br />
Đảng chẳng cho!.</p>
]]></content:encoded>
					
					<wfw:commentRss>https://t-van.net/ph%e1%ba%a1m-d%e1%bb%a9c-nh-mn-qu-em-xin/feed/</wfw:commentRss>
			<slash:comments>0</slash:comments>
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Ngộ Kh&#244;ng : Loạn trung b&#250;t với&#8230;Trường viết văn Nguyễn Du</title>
		<link>https://t-van.net/ng%e1%bb%99-khng-lo%e1%ba%a1n-trung-bt-v%e1%bb%9bitr%c6%b0%e1%bb%9dng-vi%e1%ba%bft-van-nguy%e1%bb%85n-du/</link>
					<comments>https://t-van.net/ng%e1%bb%99-khng-lo%e1%ba%a1n-trung-bt-v%e1%bb%9bitr%c6%b0%e1%bb%9dng-vi%e1%ba%bft-van-nguy%e1%bb%85n-du/#respond</comments>
		
		<dc:creator><![CDATA[Ngộ Không Phí Ngọc Hùng]]></dc:creator>
		<pubDate>Sun, 19 Jan 2014 00:10:00 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Góc Văn]]></category>
		<category><![CDATA[ngộ không]]></category>
		<category><![CDATA[thơ văn]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://7076e870b2.nxcli.io/?p=16048</guid>

					<description><![CDATA[Về Hà Nội chuyến này, sau mấy chục năm là người di tản buồn tôi gặp lại thằng em họ. Lại chuyện cũ sì cũ mốc không ngoài với họ hàng hanh hốc, làm thế nào được qua 20 năm kẻ Bắc người Nam, chúng tôi chẳng có gì để mà chọn lựa, không đứng [&#8230;]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<p><img decoding="async" style="float: none; margin-left: auto; display: block; margin-right: auto;" src="http://pppre.s3.amazonaws.com/3374793288e5880f/a/b13e9aab299f4662ade709f9a1426375.jpg" alt="" width="338" height="253" /></p>
<p>Về Hà Nội chuyến này, sau mấy chục năm là người di tản buồn tôi gặp lại thằng em họ.</p>
<p>Lại chuyện cũ sì cũ mốc không ngoài với họ hàng hanh hốc, làm thế nào được qua 20 năm kẻ Bắc người Nam, chúng tôi chẳng có gì để mà chọn lựa, không đứng bên này cũng bên kia. Tàn cuộc binh đao, nhẩm tính sổ nợ đời rơi rớt lại thằng con bà cô vẫn còn sống nhăn răng cạp đất, chả lẽ mượn chén rượu tao ngộ nói chuyện súng nổ đì đùng cũng mất vui. Số là tôi muốn nhờ vả nó dẫn đi thăm mồ mả gia tiên đang hương tàn khói lạnh ở ven ruộng nào đó.</p>
<p>Ăn cơm mới nói chuyện cũ, quấy quả về lại năm 54, trong khi ông via bà via tôi đang chộn rộn chàng ràng chuyện “ri cư”, bà cô đưa nó từ quê lên gửi gấm ở nhà tôi, sau mấy tháng đánh khăng, đánh đáo cũng thân nhau ra trò. Rồi tôi láo ngáo đeo tầu há mồm vào Nam, nó lớ ngớ ở lại theo…kháng chiến cuối mùa. Sau 75, với cố hương nan khứ hậu nan quy, thế nên chuyến về thăm thổ ngơi bản quán này, tôi tạt qua người anh em xã hội chủ nghĩa, ý đồ là dòm chừng xem với chân cứng đá mềm, con đường cách mạng nó đi về đâu.</p>
<p>Bước qua cửa, mắt tôi đảo tít như rang lạc quanh nhà, bất chợt đập chát vào mặt ngay trên tường là cái hộp kính to đùng giống người ta vẫn thường trưng đàn bầu, đàn gáo. Quái một nỗi trong cái hộp “nổi cộm” tối tăm ấy, thay vì đàn địch lại chình ình…một đôi dép râu.</p>
<p>Lõ mắt nom ròm kỹ hơn cái của nợ này, tôi bụng bảo dạ thể nào cũng nhiễu chuyện đây.</p>
<p>***</p>
<p>Nghe tôi quay quắt muốn về làng viếng…các cụ, thằng em bèn thuê bao một chiếc “xe con”. Ngồi trên xe, để chứng tỏ mình là người chẳng hẳn là…mồ côi văn hóa cho lắm, tôi lẩm nhẩm ôn một mớ tiếng Việt trong sáng qua báo bổ. Tôi “năng nổ” là nhờ nó…“lên khung” nên tôi được “tham gia lưu thông”, hết “kinh qua” đến “ùn tắc”, “quá tải” thế này thì có ngày “tai tệ nạn”, “đốt ngắn công đọan” về thăm ông bà ông vải sớm chứ chẳng chơi. Vậy mà nó cứ ngậm miệng như cóc ngậm thuốc lào. Cái thằng rõ hay! Ắt hẳn phải có…vấn đề tế nhị chi đây…Tôi nghĩ vậy.</p>
<p>Qua một ngày “liên hệ”, tôi thấy cái thằng em cũng không đến nỗi nào, lằng nhằng vậy thôi. Nhưng tôi hơi bị “bức xúc” cái thằng nhà quê sáng tai họ điếc tai cầy<em> </em>thỉnh thoảng lòi tói ra giọng nói nặng chình chịch như chầy giã cối. Ấy là chưa kể là dân đồng chua nước mặn nên nó lạng quạng “L” với “N”, nhưng sau đấy biết mình nói ngọng nó…kịp thời “sửa sai” lại ngay. Được cái “giao lưu văn hóa” với thằng em, tôi mới hay nó là phó biên tập một tờ báo nhớn, thuộc “diện”… phê bình văn học. Thế mới chua! Nhưng tôi cứ tức anh ách vì người ngợm như nó thì bắt cóc bỏ đĩa ai đây hở giời. Vì số là thằng này ở nhà quê chuyên trị cưỡi trâu thổi sáo, chưa một ngày…cắp sách đi học. Lại cũng chưa một lần có cái may mắn trúng tuyển nghĩa vụ quân sự để được đi B, vậy mà nhè trưng đôi dép râu làm cảnh. Tôi vặn óc nghĩ không ra…</p>
<p>Thăm họ hàng làng nước, cúng bái tổ tiên đầy đủ lễ bộ xong, chiều về trở lại nhà nó, hương đèn còn đấy, khói nhang còn mờ mịt gió mây. Với chức phó biên tập bự sự như cái mả liệt sĩ to vật, trộm nghĩ một người làm quan cả họ thơm lây. Thêm nữa, chó dại từng mùa người dại quanh năm, thế nên tôi dại dột hỏi “lập trường chính quy” của nó: <em>Chú làm gì mà…cây đa cây đề quá thế vậy?.</em> Ấy vậy mà thằng em êm ả hoa rơi cửa Phật rằng: <em>Báu gì, phó thì nào có khác gì phó rèn, phó cối. Em học Trường viết văn Nguyễn Du, sau được trên bố trí sang khâu…phê bình văn học</em>, <em>không có chó bắt mèo ăn cứt vậy thôi.</em> Nghe lạ, tôi gặng hỏi cớ sự gì mà tha ma một địa thế! Thế là thằng em đốt nén hương lòng: <em>Chuyện cứt trâu hóa bùn ấy mà, bình thường thôi</em>.</p>
<p>Tôi lẩn mẩn rị mọ: Thời buổi này được bình thường thì chẳng mong đợi gì hơn, không bình thường mới có chuyện. Tôi quên tuốt nó là…thằng dép râu, chỉ thấy đầu óc khuây khỏa qua cuộc sống thằng em bình dị. Chợt nó đon đả ron rỏn: <em>Bác đợi em đun tí nước nhá.</em> Giọng nó reo như ấm nước sôi, mà cũng hay, nó lại đổi tông qua <em>“bác, bác, em, em”</em> đúng điệu Bắc kỳ hương lý.</p>
<p>Trở lại chuyện<em>…</em><em>cây đa cây đề</em>, nói cho ngay, trước khi hồi cố quận, tôi đã…bổ xung văn hóa đầy ấn tượng, nên tôi múa như công múa đĩnh đạc trước cửa nhà về Phạm Thị Hoài, về Nguyễn Huy Thiệp. Chợt nhớ Hữu Thỉnh, Dương Thu Hương cùng tốt nghiệp Trường viết văn Nguyễn Du, thêm Vũ Ngọc Tiến, Bảo Ninh là đồng môn với nó…Ngứa răng buồn miệng, tôi rọ cái mồm vào hỏi cho ra nhẽ về cơ sở văn hóa “cực kỳ xung kích này”.</p>
<p>Bỗng nó nhăn mặt, khó khăn:</p>
<p>&#8211; Bác hỏi đếch gì khó thế!.</p>
<p>Rồi nó vén môi tồ tồ:</p>
<p>&#8211; Cũng bình thường thôi. Tốn bao nhiêu tiền nuôi đám báo cô ấy. Tiền chứ có phải vỏ hến đâu, họ chỉ được cái nước hão, trong khi cả nước đói như ngan ấp, đói vàng mắt ra! Đấy.</p>
<p>Xong, nó tươi tớp:</p>
<p>&#8211; Chả là trường được mô phỏng &#8220;khung chương trình giảng dạy&#8221; Học viện văn học Macxim Gorky của Cộng hòa liên bang Nga. May mà họ không gọi là <em>viện văn học</em>…mà đặt tên là <em>Trường</em> <em>viết văn </em>để đào tạo ra những người làm nghề viết văn<em>…</em>Mà nói dại chứ, cụ Nguyễn Du, cụ Nguyễn Công Trứ có học viết văn hồi nào đâu,<em> </em>thưa bác.</p>
<p>Nhắm chừng thằng em thuộc tạng sáng nắng chiều mưa, năm ngày bảy tật nên chẳng biết đâu mà lần…Nên ngu phu chi tử tôi cũng thăm chừng:</p>
<p>&#8211; Chú “tiếp thu” được nhiều không?.</p>
<p>Nó búng lưỡi đến tách một cái:</p>
<p>&#8211; Bác xá cho, ai chả biết khâu viết văn là…nặn chữ véo câu. Chung quy là gia công những câu văn, họ đánh giá từng câu một: Câu này tốt, câu này hay, câu này kém, câu này bẹt, câu này trẹo logic, câu này viết lười biếng. Cứ léo xéo vậy thôi, chán như canh bí chiều đông ấy.</p>
<p>Rầy rà thật, chợt nhớ tới Dương Thu Hương là học trò của nhà phê bình văn học Nguyễn Đăng Mạnh và Hoàng Ngọc Hiến ở trường…văn học này. Ba thầy trò sau đều phản tỉnh, phản kháng nên “có vấn đề nhậy cảm và tế nhị” mới đây. Tôi bèn…tế nhị hỏi nó:</p>
<p>&#8211; Vậy chứ ai là…quản giáo của chú.</p>
<p>Nó khủng khẳng hành ngôn hành tỏi:</p>
<p>&#8211; Bác làm gì mà hoắng lên thế, đông như nhặng bắng nhắng vào cầu tiêu ấy mà, nếp tẻ đủ cả. Họ đến để…đăng đàn qua quýt, như Tô Hoài, Nguyễn Công Hoan, Xuân Diệu. Giáo trình thì cứ nhè Lỗ Tấn, Mạc Ngôn, hay với Tsekhov, D. Granin. Nói chung là tốt, với những lời dậy và giảng ấy cứ lợn cợn và bốc mùi thoang thoảng của những thứ kiến thức chưa tiêu hoặc cũ mèm.</p>
<p>Tôi đang ỳ cán cuốc, chưa kịp hiểu mốc khô gì, nó tung tóe:</p>
<p>&#8211; Giản đơn họ đến Trường viết văn Nguyễn Du như tới Trại dậy văn Tam Đảo. Chủ yếu là bồi dưỡng văn hóa, là xắng xịt rít thuốc lào, nhai kẹo lạc. Chuyện này cũng bình thường thôi!</p>
<p>Nó nhai văn nhá chữ tiếp:</p>
<p>&#8211; Trở lại những trại bồi dưỡng viết văn, ở đâu cũng vậy. Có điều không bình thường là chẳng thấy ai rỗi hơi cho văn học thực sự. Tất cả những người hành nghề văn học đều muốn dĩ hòa vi quý, đều muốn có những cuộc chơi đèm đẹp, chơi có thưởng. Trong chuyến về nước năm ngoái, một nhà văn nữ lưu vong nhận xét: “Ở trong nước, những người viết văn hiện nay sống sướng quá, nhà nước yêu chiều, cưng chiều họ quá”.</p>
<p>Và nó càm ràm:</p>
<p>&#8211; Ông Tô Hoài (1) làm như nhiều chữ lắm, ông thủ khư khư <em>Sổ tay viết văn</em>, ông rao giảng: <em>Một số anh em khác có thực tế, nhưng công phu sáng tạo còn yếu, chưa làm bật lên được một vấn đề tư tưởng nào sâu sắc, nên cũng chưa gọi là có những truyện ngắn hay được. Nên đọc lại truyện ngắn của ta trước cách mạng với Nguyễn Công Hoan, Nam Cao. Hay đọc các nhà văn nước ngoài Maurice Druon, Alberto Moravia,</em> <em>Anton Pavlovitsh Tsekhov&#8230;</em></p>
<p>Tôi căng tai ra nghe, nó cười cái bép:</p>
<p>&#8211; Riêng ông Nguyễn Công Hoan đứng trên bục giảng mà cứ như đùa : <em>Truyện ngắn của các anh sau cách mạng tháng 8 càng ngày càng hay. Hay hơn thời trước rất nhiều</em>. Một học viên hỏi: <em>Xin bác nêu một tác giả tiêu biểu</em>. Ông tỉnh như ruồi: <em>Tôi có đọc truyện nào đâu mà nêu, nghe sách báo nói thế, tôi cũng&#8230;nói thế</em>.</p>
<p>Rập ràng xong, nó cười sần sật. Cái thằng cười đến hay, như chó khạc xương ấy: ‘’Em kể cho bác nghe chuyện Xuân Diệu nhá’’. Nhá với nhem, nghe sốt cả ruột và chẳng đợi tôi trả lời, nó chẻ hoe trắng phớ:</p>
<p>&#8211; Còn Xuân Diệu xúng xính đăng đàn ngâm thơ ông, kể chuyện kháng chiến nghe điếc cả lỗ đít, ăn uống thì thủng nồi trôi rế, ai hỏi thì ông cười tít: <em>Thì đã bảo bồi dưỡng văn hóc mà</em>…</p>
<p>Khi không, nó nhổ toẹt một bãi nước bọt xuống sàn nhà: ‘’Bác không biết đấy chứ, mỗi lần đi trại viết, ông ấy lãnh vài trăm ngàn, cơm nuôi, với ông là dịp may, một cơ may cải thiện’’. Rồi nó buồn nhiều hơn vui: ‘’Nói chung là tốt, tụi em ngồi đồng ở dưới, mặt thuỗn ra như rặn ỉa và buồn đến sưng cả đít. Nghe chán ngăn ngắt&#8230;’’</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>***</p>
<p>Nghe chán thật, tôi nghĩ quẩn: Nói cho cùng cả một nền văn học miền Bắc từ 54 đến 75, họ dựa hơi vào những nhà văn tiền chiến vang bóng một thời như Nguyễn Công Hoan, Tô Hoài, Nguyễn Tuân. Thế nên đọc họ chẳng động não động tình cho mấy, nhạt nhạt làm sao ấy. Trong đầu tôi lại loáy toáy với nền văn học Nga cũng ảnh hưởng ít nhiều gì đây. Tôi uốn lưỡi và sặc gạch ra mới lôm côm được cái tên Anton Pavlovitsh Tsekhov dài ngoằng.</p>
<p>Nó xổ toẹt:</p>
<p>&#8211; Đấy! Chả dấu gì bác những năm 60, 70, Hà Nội thời Nga hóa sính ngoại ngữ, nhiều mỹ từ học mới đem từ Cộng hòa liên bang Nga về trường. Họ hay thêm chữ “j”, “x” vào như jụng cụ, li jượu, capốtx, garajờx. Tụi em<em> </em>tứ làng quê lên đã phát âm tiếng Việt không chuẩn, lại bị hóc những từ bắt đầu bằng các phụ âm “r”, “d”, “gi” như: rờ, dờ, giờ…đều được đọc giống nhau với chữ…“jờ” của Nga như “rút ra” được viết là “jút ja”, “dọc” trở thành “jọc”. Ngay cả đầu sách “Sờ xoạc” của Trần Dần, cũng biến cải thành” Jờ Joạcx” kia mà, em nào có ngoa ngữ, thưa bác.<em></em></p>
<p>Tôi há họng nói kháy nó:</p>
<p>&#8211; Cũng tốt thôi?</p>
<p>Nó nhướng mắt lên :</p>
<p>&#8211; Bác nói gì nhẩy?</p>
<p>Rồi nó phẩy tay:</p>
<p>&#8211; Cái chuyện này cũng lôi thôi lắm! Đấy. Bây giờ em mới vỡ bọng cứt ra trường dậy chữ chính là một công nghệ lao động đào tạo nhà văn, rồi đẻ ra Hội nhà văn (2) ở 65 Nguyễn Du. Ăn xó mó niêu thì nhà nước ta bỏ ra cả mấy trăm tỷ đồng nuôi hơn 400 đám thợ viết “lao động văn hóa”. Vốn liếng của họ, cái phần gọi là văn hóa cơ bản, nhất là lịch sử và nền tảng triết học quá thấp. Thiếu ngoại ngữ, họ chỉ có hai cửa sổ ngó qua Trung Quốc và Nga Sô. Họ chịu ảnh hưởng của Trung Quốc là lẽ đương nhiên rồi, xưa nay vẫn thế. Họ quên là ‘’Đừng vác trên vai mình con khỉ của người khác’’, nên suốt thời cầm bút họ chỉ ì à ì ạch. Bình thường mà, thưa bác.</p>
<p>Tôi thấy chẳng bình thường chút nào…Ấy là giọng điệu của nó nghe quen quen, dường như của ai đó tôi đã đọc qua. Tôi lại nghĩ đến Trường viết văn Nguyễn Du, tới Hội nhà văn cũng ở đường Nguyễn Du, cụ Nguyễn Du bị “tra tấn” hơi nhiều thì phải.</p>
<p>Đang nghĩ vậy, nó đã càm ràm:</p>
<p>&#8211; Chả bịa tạc tí nào, nhìn chung về nghề văn, họ viết như đang lè nhè giữa một đám chén chú chén anh. Họ nhai chữ những miếng to tướng, vừa ăn vừa nhằn ra nham nhở, chẳng hề nghệ thuật vị nhân sinh tí ti nào. Cứt láng giềng thì thối, cứt đầu gối mình thì thơm, thế là họ vãi cứt vào mặt nhau. Họ đội khăn đóng áo dài vái nhau như tế sống, bốc thối nhau…Họ viết theo cái lối vót nhọn con người như vậy khó mà hay được. Họ đổ vấy cho thời thế, thời trước thế đấy, thời này thế đó. Cái chính là bản thân của các nhà văn, có ai ép họ đâu, họ có thể làm việc khác, viết để đó, sau này thời thế sang trang, họ vẫn có thể “mở bát ra” mà. Theo em, họ cứ viết cho thật hay coi, dầu sống ra sao, người đọc cũng đón nhận hết, bác thấy sao thưa bác.</p>
<p>Thực tình tôi đang nghĩ cách vun chuyện cho…có chuyện thì nó bã bời:</p>
<p>&#8211; Thì đấy, Nguyễn Huy Thiệp gọi họ là bọn vô học. “Cụ tiên chỉ” Nguyễn Tuân được thể nước ao mà vỗ lên bờ, cụ viết truyện tiếu lâm đăng trên báo Người Hà Nội: “Có một ông nhà văn nọ dựng chuyện khơi khơi các nhà văn nước ta “50% là vô học. Bị phản bác, ông nhà văn xin lỗi ngay vì sai thì phải sửa và mau mắn sửa sai là 50%&#8230;có học”.</p>
<p>Tôi cười không nổi, người cứ thủng ra vì những chuyện không đâu. Nó lại táo tác:</p>
<p>&#8211; Tốt nghiệp từ trường Nguyễn Du ra, cùng một khuôn mẫu, họ tư duy lãng mạn với ‘’mặt bằng văn nghệ chính quy’’ toàn những truyện tình từ nhà quê lên thành phố&#8230;</p>
<p>Cốt truyện chỉ quanh quẩn trong không gian&#8230;tĩnh lặng<em> </em>qua hai&#8230;nguyên mẫu: anh&#8230;‘<em>’10 tuổi’’</em>, em&#8230;<em>‘’5 tuổi’’</em>. Lớn lên, anh lên Hà Nội với hoa sữa mùi hăng hắc cao&#8230;<em>‘’20m’’.</em> Tiếp, xuyên suốt thao tác kỹ thuật chữ nghĩa con số ít cảm xúc với anh ‘’thủ trưởng cơ quan’’ thật khá trai&#8230;<em>’’27 tuổi’’</em>, cao<em>&#8230;‘’1,78m’’</em> nhiều cơ bắp, nặng&#8230;‘’80 kílô’’, ở căn hộ&#8230;<em>’’số 15’’</em>, phòng&#8230;‘’<em>4m’’</em> vuông. Rất hiện thực, hiểu theo nghĩa là chẳng phải ảo, anh gặp chị thế hệ @ với 8x hay 9x trên blog, đẹp như người mẫu cao&#8230;<em>‘’1,72m’’, </em>váy ngắn trên đầu gối<em>&#8230;‘’15cm’’</em>.</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>***</p>
<p>Sau khi cho tôi mục sở thị với văn chương con số xong, nó xum xoe: <em>“</em>Bác đợi em pha tí trà nhá<em>”.</em> Tôi săm soi ngó chừng quanh quất: Nhà không vách ngăn, thông thống ra phía sau là cái bếp cạnh cái sân trống hoác. Nhìn lên trời mây xốp và xám bạc như sương khói, tôi cảm thấy thóang đãng ở cái khỏang không gian trống trải này. Nom ròm kỹ hơn một chút nữa, rõ như đêm giữa ban ngày…Tôi …tôi…thấy ở ngay cái sân trống cạnh cái bể nước gần bếp, nó đang vạch cu làm một bãi xèo xèo như…tiếng thở dài. Chuyện này với người Hà Nội cũng bình thường đây. Và nó bình thản quay lại, vừa quơ tách trà trên giá bếp vừa&#8230;cài cúc quần.</p>
<p>Đến lượt tôi thở ra&#8230;nỗi buồn không tên, dường như nó chưa buồn rửa tay thì phải.</p>
<p>Vừa ngồi xuống nó đã tiêu dao chữ nghĩa rất bài bản:</p>
<p>&#8211; Huếch gì cái ngữ ấy, sau đó vì cái sĩ bọ họ chạy chọt, nhờ vả hai hội viên chính thức giới thiệu vào Hội nhà văn mà tiền nộp hội phí với giá mềm để được ngồi chiếu trên chiếu dưới. Lạt mềm buộc chặt, vào hội gặp nhau chỉ kháo ai chạy giải thưởng này, ai thuổng giải thưởng kia. Chót chét họ chỉ là nhà văn có cái thẻ hội viên dằn túi, thỉnh thoảng đến hội điểm danh, về già có tiền hưu bổng, viết hồi ký, đợi khi chết được đọc điếu văn kính, thưa kính gửi&#8230;</p>
<p>Tôi ngẫn ngẫn ra chưa nắm bắt được. Nó đã xằng xịt:</p>
<p>&#8211; Đấy! Để em kể chuyện nhà văn Nguyễn Quang Lập viết rành rành trên báo Thủ đô ấy nha: <em>Mình viết đến tám giờ sáng thì vào buồng ngủ lại, chợt có tiếng điện thoại của anh Trọng Hiếu báo anh Nguyễn Khải mất rồi. Mình gọi lung tung báo cho mọi người. Đến một giờ trưa anh Hiếu lại gọi điện nói ‘’Anh Khải chưa chết’’. Mình hỏi sao, anh nói nhà tang lễ đòi cái thẻ Hội nhà văn mới đủ thủ tục, nhưng anh Khải để đâu chẳng biết nữa, tìm không ra !</em></p>
<p>***</p>
<p>Những chuyện cóc cáy này, tôi áng chừng thằng em vay mượn chữ nghĩa người khác để lất phất chuyện nhà văn, nhà báo chỉ là mõ làng của chế độ. Ngoài ra, tôi còn nghe nói sau Trường Viết văn Nguyễn Du, tùy theo khả năng, họ được bồi dưỡng sáng tác ở Trại sáng tác văn học Đồ Sơn, Trại viết Đà Lạt, Trại bồi dưỡng sáng tác Vũng Tầu. Tùy theo lập trường, Trại sáng tác Quảng Bá cho những nhà văn cần phải học tập như Nguyễn Huy Tưởng, Kim Lân..v..v.. Đến người miền Nam, phân chia thành phần có “Trại sáng tác B dài” cho những nhà văn tập kết sửa soạn đi Nam, trong đó có Trần Vàng Sao, Anh Đức..v..v.. “Trại sáng tác B ngắn”, cho những nhà văn tập kết ở lại công tác ngay tại Hà Nội, có Ngọc Trai, Doãn Triều..v..v.. Rồi hết Trại sáng tác văn học Đồ Sơn đến Trại viết Đồ Sơn của <em>“Văn nghệ quân đội”,</em> trại gì như trại gà công nghiệp, nhiều quá mạng nên tôi hỏi xem nó hươu vượn ra sao?:</p>
<p>&#8211; Thật tình ở Hà Nội đã lâu, em chẳng hay trại B dài nằm ở đâu, riêng ban Văn nghệ miền Nam trụ ở 51 Trần Hưng Đạo chỉ viết báo tường thôi. Họ cách ly Nam, Bắc thế đấy, trừ những nhà văn chi đạo biết ngọn ngành như Nguyễn Tuân, Tô Hoài. Một lần Anh Đức tường thuật trận mưa bom B52 trong Nam. Nguyễn Tuân lên đài Đài Giải phóng ở 58 Quán Sứ động viên Anh Đức. Trên đường về ghé tiệm thịt chó, Nguyễn Tuân cười cười với Tô Hoài: <em>Thằng này học trường dậy văn còn lắm lỗ hổng, nói trên đài hụt hơi ngắn lưỡi, tiếp xúc tay bo thì rất khá. Nhưng viết ra thì không ra sao cả. Nó thích được bốc, tôi bốc nó như bia hơi vậy, cho nó chết&#8230;</em></p>
<p>Nghe nó nhắc đến…bia hơi tôi lại để cái đầu bia bọt đến chả cá Lã Vọng và hội <em>Văn nghệ quân đội </em>vừa mới đảo qua ở trên. Vì Hội nhà văn và Trường viết văn Nguyễn Du từ quán chả cá và hội Văn nghệ quân đội (3) này mà ra. Chuyện là năm 1957, ngoài tờ Nhân Dân, chưa có nhà xuất bản hay Tạp chí Văn nghệ quân đội mà chỉ có <em>“phòng” </em>Văn nghệ quân đội<em>.</em> Thời Vũ Tú Nam, phòng tổ chức Đại hội văn nghệ ở Nhà Hát Lớn, có cả ông Hồ đến dự, chủ trì là Hoàng Ngọc Phách, mục đích là đả kích Ngô Đình Diệm về chuyện bầu cử thống nhất hai miền. Sau đó cả đám kéo nhau ăn khao ở quán chả cá, trong đó có Thái Thị Liên, Thúy Ngần, Nguyễn Văn Tý, Đỗ Nhuận, Hồ Dzếnh, Vũ Ngọc Phan, Nguyễn Xuân Sanh, Nguyễn Tuân, Kim Lân…</p>
<p>Cứ nghe Kim Lân kể lại thì Nguyễn Tuân vừa quạt chả vừa khoe:<em> Tôi đã viết xong một cái về phở. Tôi sẽ viết một cái nữa về chả cá</em>. Trong khi chính bài viết về phở đã mang đến cho Nguyễn Tuân một tai họa. Bà chả cá bảo Nguyễn Tuân: “Cứ im im mà ăn nhá. Thiên hạ người ta ăn chán ra, ăn bao nhiêu cũng chẳng sao. Ông ăn được mấy tí mà đã bị mắng. Rõ khổ!”</p>
<p>Từ bà chả cá, từ Nguyễn Tuân “bị mắng” mới đẻ ra <em>“Hội liên hiệp”</em> (3)<em>. </em>Ông từ giữ đền Vũ Tú Nam là người cai quản đầu tiên của Hội liên hiệp này, là tiền thân của<em> </em>Hội nhà văn. Mãi sau thời Nguyễn Khoa Điềm thì phải, tôi không nắm bắt rõ, mới có Trường viết văn Nguyễn Du.</p>
<p>Đang phân vân định hỏi nó, nó đã&#8230; ‘’năng nổ’’:</p>
<p>&#8211; Cứ theo như nhà phê bình văn học bạn em là Vương Trí Nhàn thì nền văn học miền Bắc, tạm gọi là văn học của chiến công, nền văn học lôi cuốn người ta đi vào cuộc chiến tranh. Nếu mấy trăm năm trước trong truyền thống, chúng ta có mảng văn học chức năng, động viên thôi thúc con người hành động, ví dụ như <em>Bình Ngô Đại Cáo</em> hay thơ văn Nguyễn Đình Chiểu, nay văn học miền Bắc nối tiếp truyền thống ‘’động viên’’ đó rất rõ.</p>
<p>Nó cáo lỗi ra cái bể nước cạnh bếp có cái sân trống, tần ngần nhìn lên trời xanh, mây trắng, nắng vàng như có gì suy nghĩ lung lắm. Vừa vũ qua Bắc hải, nó vừa nói vọng về phía tôi:</p>
<p>&#8211; Trước kia năm 56, ngự sử văn đàn Phan Khôi đã viết rồi:…<em>Đành rằng văn hóa phục vụ chính trị, cho nên chính trị lãnh đạo văn hóa. Nhưng phải hỏi: Nếu chính trị muốn đạt đến mục đích của nó, thì cứ dùng khẩu hiệu, biểu ngữ, thông tri, chỉ thị không được hay sao, mà phải cần dùng đến văn hóa? Trả lời cho thành thật, e chính trị vỗ vai văn hóa mà nói rằng: Sở dĩ tao tha thiết đến mày là vì tao muốn lợi dụng cái văn hóa của mày.</em></p>
<p>***</p>
<p>Qua chuyện văn hóa phục vụ trên, tôi không nghĩ xa hơn là cái thận thằng em có…sự cố. Trở lại chỗ ngồi, tay chùi chùi vào quần, miệng nó chuyển “khâu” qua đề mục khác, tôi cứ rửa tai nghe nó dệt chuyện, nói cho lắm tắm ở truồng là thế:</p>
<p>&#8211; Thưa với bác, nhờ lên Hà Nội em gặp lại một số người Hà Nội thuộc thế hệ cũ, vẫn bắt gặp cái dáng vẻ thanh lịch truyền thống. Ngôn ngữ họ thanh lịch. Tác phong họ thanh lịch. Cách hành xử của họ cũng thanh lịch. Nét thanh lịch ấy không còn thấy ở thế hệ chúng em! Đấy.</p>
<p>Khi không tôi quớ lên và mừng húm vì hai chữ…“thanh lịch” nhẩy bổ ra ngọ nguậy làm quen, tôi lại có cớ bắt quàng với cụ Nguyễn Du qua một nhà phê bình văn học thông kim bác cổ ba đời uống nước “phông tên” Hà Nội.</p>
<p>Ông làm văn học luận giải rặt ròi như thế này đây:</p>
<p>“…Văn học Thăng Long-Hà Nội trong nhiều thời kỳ lịch sử đã có khả năng thu hút các thành tố mới mẻ từ mọi miền đất nước dồn về từ &#8220;văn học Kinh Bắc&#8221;, &#8220;văn học Thanh-Nghệ- Tĩnh&#8221;, v..v.. sau mấy nghìn năm tụ hội. Văn hóa Tràng An buổi sơ khai đã xuất hiện nhiều kỳ sĩ trong đó có Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương. Họ không sinh trưởng ở Thăng Long nhưng chính môi trường văn hóa Thăng Long đã nuôi dưỡng và phát triển tài năng họ.</p>
<p>Chúng ta cũng thường nhắc đến bước đột khởi của văn xuôi Việt Nam trong sáng, nhiều gợi cảm qua Tự lực văn đoàn. Chúng ta thường hay nhắc đến Lê Đạt, Trần Dần lúc nào cũng mê mẩn cách tân, làm &#8220;phu chữ&#8221;. Những tinh kết từ mọi con người đã tìm về đây phải được Hà Nội công nhận, bằng không sẽ bị đào thải. Bây giờ cũng vậy, thời nào cũng thế, Hà Nộị bao giờ cũng là các nơi hội tụ về và thanh lọc đi, cuối cùng những gì tinh hoa nhất lắng đọng lại chính là văn hóa Hà Nội ngàn năm văn vật.</p>
<p>Nhưng trong giai đoạn xáo động gần đây làm vợi bớt đi những kết tinh từ lâu đời. Những xáo động ấy làm Hà Nội bây giờ mất thanh lịch quá nhiều, làm văn hóa truyền thống của Hà Nội phai nhạt đi. Để trở lại thanh lịch như mong muốn thì phải chờ thời gian xác lập lại trật tự hợp với quy luật. Ngày xưa tôi thấy bố tôi nói, người ta đi ngoài đường không nói những lời sỗ sàng, bây giờ thì chuyện ấy có nhiều, nhất là với những nhà văn, nhà thơ, ăn mặc lịch sự thế mà lại hay chửi thề, hoặc đang đi bỗng quay ngang đái toẹt một bãi, rồi bình thản đi thẳng…”.</p>
<p>Quay sang nó, tôi thấy thằng dép râu này nào có khác gì&#8230;cụ Nguyễn Du, cũng từng giã biệt đồng bái quê mùa, mò lên phố thị với văn minh bột giặt, bia bọt, điện thoại tay cầm. Ngặt một nồi giọng nói nó có hơi hám với cua ốc mùi bùn&#8230;Trong khi tôi hoài đồng vọng&#8230;sông kia rày đã lên đồng. Nó lụi đụi đốt lò hương cũ giống hệt tôi lúc nào chẳng hay:</p>
<p>&#8211; Hội nhà văn có một dạo nằm mé khu phố cổ gần chợ Đồng Xuân là một tập thể lãnh đạo. Không chừng hội là âm bản của Tự lực văn đoàn. Ấy là là tổ chức văn học đầu tiên mang đầy đủ tính chất của một hội đoàn sáng tác, thể hiện cung cách một trường phái văn học hoàn chỉnh, khu biệt với kiểu cách tổ chức Hội nhà văn bây giờ, thưa bác.</p>
<p>Khác với tổng thư ký Hội nhà văn, Nhất Linh biết khơi gợi đúng thiên hướng từng người để mỗi tác giả trong văn đoàn trở thành một cây bút cho mỗi thể loại. Như Thế Lữ, dưới mắt Nhất Linh phải là người mở đầu cho thơ mới mà Xuân Diệu chỉ là người kế thừa. Tự lực văn đoàn cũng là nơi phát hiện những tài năng như Nguyên Hồng, Bùi Hiển, Thanh Tịnh, Trần Tiêu cho Hội nhà văn sau này. Ngay cách họ tổ chức giải thưởng văn học cũng khác, hội đồng giám khảo không bao giờ đồng thời lại là ứng viên dự giải. Chẳng như với Hữu Thỉnh vừa là tổng thư ký Hội nhà văn, vừa ghi tên dự giải và vuốt mặt ẵm luôn tiền giải thưởng của hội&#8230;..</p>
<p>***</p>
<p>Nghe thủng chuyện, thấy có…liên hệ đến Xuân Diệu. Chuyện là làm thế nào được sau bao nhiêu năm kẻ Bắc người Nam, tôi chẳng có gì để mà chọn lựa nên đành nói chuyện…súng đạn cho bõ ghét. Tôi chĩa vào thơ…ông Hồ. Nó rúc ráy như chuột cống ngay:</p>
<p>&#8211; Bác hỏi dấm dớ bỏ mẹ, em hỏi lại bác nhá: <em>Bác có thấy bài nào của ông ta hay không? Đừng nói đến cả bài, đến một, hai câu cũng không nốt! Ấy vậy mà kỳ rồi, họ chọn 100 bài thơ hay nhất thế kỷ 20, trong đó có một bài của ông Hồ. Lại là duy nhất một bài thơ…chữ Hán. Đấy!</em></p>
<p>Dậu đổ bìm leo, làm như hoa cỏ dại khờ tôi hỏi đến cu ty tỉ muội:</p>
<p>&#8211; Vậy chứ những nhà thơ có nhiều như…tủ lạnh chạy đầy đường không chú?</p>
<p>Nó cười cái hậc, miệng tòng tọc:</p>
<p>&#8211; Bác nói hay nhể! Bác biết tỏng ra đấy còn hỏi, thì như Nguyễn Huy Thiệp đã tung hê:</p>
<p><em>Trên thực tế cái danh nhà thơ nhìn chung chỉ là nhăng nhít, hữu danh vô thực, chẳng ai muốn dây vào nó, nhà thơ…lên đồng. Làm thơ phải có trình độ chứ không thể tuỳ hứng. Phê bình cũng vậy, không phải cứ mũ cao áo dài, kiểu chiếu hoa một cõi mãi được….</em></p>
<p>Túm được phê bình là nghề của…”chàng”, tôi bèn gãi ngứa:</p>
<p>&#8211; Phê bình văn học miền Bắc, anh thấy cũng bình thường thôi?</p>
<p>Như bị chạm nọc, nó gân cổ cãi inh lên:</p>
<p>&#8211; Bác dở hơi vừa chứ…chứ bình thường thế chó được! Các nhà phê bình thâm tâm đều muốn mỗi nhà văn là một mặt bằng, là một con vật không cựa quậy để họ dễ thọc dao. Nhưng bất cứ ai đều có thể viết bài ca tụng Tố Hữu, Nguyễn Khoa Điềm hoặc một cuốn tiểu thuyết được giải của…Hội nhà văn với <em>“hội chứng chửi có thưởng”</em>. Chả nói ra thì ai cũng biết, phê bình như vậy cũng có vài trăm ngàn…tiền nhuận bút. Hậu quả khâu phê bình là trung thành và tận tụy đối với chế độ. Những nhà phê bình hầu như luôn luôn đứng ở hàng đầu trong mọi danh sách được sắc phong. Đấy! Thưa bác.</p>
<p>Thì cũng thỏa mái thôi. Vì biết đến phê bình trong nước chỉ rặt dọa nạt, mắng mỏ<em>, </em>đe nẹt nhau từ miếng ăn, manh áo, từ thìa đường, quả trứng. Tôi…thọc dao vào mặt…bằng nó:</p>
<p>&#8211; Chú đã “chửi” ai chưa?</p>
<p>Nó cười khùng khục:</p>
<p>&#8211; Úi giào, bác cứ nói thế, bác chỉ hỏi nhăng lấy được…em chỉ phát biểu quan điểm trên cơ sở cảm nhận. Cho ăn gan giời trứng trâu em cũng chả dám bắc kiềng lên lưng ai mà đun, vì trong giới phê bình họ hay dùng từ “đánh”. Gần đây Trần Mạnh Hảo…đánh Nguyễn Huy Thiệp: <em>Các anh các chị có biết thằng Thiệp là thằng phản động không? Nó đã phát biểu bêu riếu cuộc chiến tranh chống Mỹ của dân tộc ta. </em></p>
<p>Phê bình thế này nhảm thật chứ chẳng chơi. Cái đầu đất của tôi lấn về với mảng văn học ngoài nước, tôi thăm dò nó đã “đánh” nhà văn miền Nam nào chưa? Bố khỉ, nó lại…lạc đề nữa:</p>
<p>&#8211; Trong cuộc tán gẫu quanh bàn nhậu ở Hà Nội, vào dịp một nhà phê bình văn học miền Nam về thăm nhà. Nhà phê bình văn học miền Bắc hỏi: &#8220;Nghe nói hình như anh có phê bình một cuốn sách của Võ Phiến?&#8221;. Nhà phê bình miền Nam gật đầu xác nhận. Nhà phê bình miền Bắc tiếp: &#8220;Tôi không hiểu tại sao anh lại mất thì giờ như vậy. Tôi thấy Võ Phiến viết xoàng lắm&#8221;, nhà phê bình miền Nam hỏi lại: &#8220;Anh có đọc Võ Phiến nhiều không?&#8221;, và được trả lời: &#8220;Tôi chỉ đọc vài bài viết của ông ta trên báo thôi.&#8221;. Nhà phê bình miền Nam nói: &#8220;Mới đây Võ Phiến cho in bộ sách văn học miền Nam&#8230;&#8221;. Chưa nói xong thì bị chặn lại và nhà phê bình miền Bắc lên giọng, gay gắt: &#8220;Tôi thấy Võ Phiến chỉ viết linh tinh&#8221;. Nhà phê bình miền Nam ngạc nhiên: &#8220;Ủa, anh đọc rồi hả?&#8221;, nhà phê bình miền Bắc đáp đầy tự tin: &#8220;Chưa. Tôi không có bộ sách đó’’.</p>
<p>Chuyện này tôi cũng nghe qua và cũng…hết ý và cũng muốn…hết chuyện cho rồi. Trộm nghĩ rằng những người Hà Nội “thanh lịch” hôm nay xuất thân từ trường viết văn Nguyễn Du, qua sách báo, tôi đoán chừng họ thường gặp nhau trong quán nhậu, quán ba ba, thịt rắn, thịt rừng. Kém kém một chút thì bia hơi vỉa hè. Bí beng chút nữa, vài chén rượu đế hột mít có cặn trước mâm thịt cầy. Họ hết đứng rồi ngồi, hết đ. cha thì đ. mẹ, hết cười rang rức đến suy tư…Khi say, họ thực sự dấn thân, họ vẫn đang sống giữa phố phường viết văn và&#8230;làm thơ.</p>
<p>Bỗng dưng cái lưỡi đá cái miệng, tôi hỏi nó dạo này còn…liên hệ đến Hội nhà văn nữa chăng? Ý đồ tôi là muốn khép cánh cửa văn học lại, đẩy văng những nhà thơ, nhà văn, nhà phê bình vào bóng tối cho tôi nhờ. Khốn khổ, nó thông minh nhưng chậm hiểu, lại hiểu lộn tèng beng téc béc câu hỏi của tôi, cứ như đồng thiếp, nó róc đời:</p>
<p>&#8211; Dào, nhếch nhác lắm bác ơi, cần phải đổi mới. Không thể viết như cũ được nữa. Tất cả đã cũ mèm, Dương Tường khá hơn cả, song cũng tắc rồi. Trần Đăng Khoa làm thơ bằng cách vất thơ vào rổ rá, cối xay&#8230; là vớ vẩn lắm! Nguyễn Huy Thiệp cũng bí ngô bí khoai, một hồi họ đề cao hơi quá. Phạm Thị Hoài có khá hơn. Em không thích thơ của Nguyễn Đình Thi, chả có gì hay. Bác cứ phản biện đi, hay ở chỗ nào? Bác sắp ngoác mồm ra: “Thơ hay không phân tích, không giảng được!”. Nhưng không phải thế. Nếu hay là phân tích được tất.</p>
<p>Hớp tách trà cái ực như voi uống thuốc gió, nó rỉ rả:</p>
<p>&#8211; Về văn thì Nguyễn Khải có văn. Nhiều người có ý mà không tải được ra văn, cứ tải ra chữ lại hỏng, không ra sao cả. Phải có mắt xanh, cụ Nguyễn Tuân gọi là đầu mày cuối mắt, Tô Hoài thông minh, nhưng thẩm định xoàng. Ngay cả cụ Nguyễn Tuân. Rồi bác hóng mắt ra mà xem, mươi năm nữa người ta không đọc cụ Nguyễn Tuân nữa đâu, cũ sì rồi! Đấy.</p>
<p>Bỗng dưng thằng dép râu phọt ra chữ nghĩa đầy cảm xúc vặc tôi:</p>
<p>&#8211; Mà bác hỏi ngu như lợn ấy! Lăn tăn làm gì cho mệt, em có nói sai bác cứ vả vào mặt em. Mấy năm gần đây em trả lại thẻ hội viên, cắt đứt những giao du với nhà văn, nhà thơ, ngữ ấy em chừa ra. Nhỡ chẳng may Nguyễn Huy Thiệp lại xếp em vào trong đa số các nhà văn Việt Nam đá cá lăn dưa thì bỏ bố!. Xin lỗi bác, em có ngu thì cũng ngu một vừa hai phải thôi còn để cho người khác ngu với chứ. Nói dối phải tội, cái hoạt cảnh chợ chữ buổi này chẳng mấy vui.</p>
<p>Tôi cũng chẳng mấy vui cho lắm vì chẳng hiểu con lợn nó…ngu ở cái khổ nào? Thằng em dép râu đã hâm hấp chập cheng:</p>
<p>&#8211; Đấy! Đa số quần chúng lúc này thỏa mãn văn chương qua âm nhạc, phim ảnh, xòang xòang rau cải chợ, mớ xà lách hay mì ăn liền. Họ được ru ngủ bằng vào mở cửa cho miếng ăn, họ ngoảnh mặt với chuyện văn học và xa lạ với chữ nghĩa. Dường như chính sách nhà nước ta cũng muốn đề ra vậy, nên trong lĩnh vực văn học có không khí suy đồi, có những nhỏ to nhẽ ra phải phát huy đào tạo những nhà văn, nhà thơ, nhà phê bình mới. Thì vài năm trở lại đây, nghe đâu lại có ý kiến hơi bất thường là bỏ đi…trường viết văn Nguyễn Du (4 &amp; 5).</p>
<p>Xin thưa với bác: Rõ ra cái bất thường không ở trên giời rơi xuống. Cái bất thường sinh ra từ những cái bình thường. Cái bất thường rồi sẽ trở nên bình thường. Ở đây đang cần nhiều cái bình thường, thưa bác.</p>
<p>***</p>
<p>Nghe như đấm vào tai, mà nào phải là chuyện của tôi, cha chung không khóc lại đi cái khóc tổ mối, tôi định nói leo theo nó: “Cũng bình thường thôi”. Nhưng bình thường sao được vì tòan gặp những nhiễu chuyện gì đâu! Vì vừa lúc ngửa cổ hớp ngụm trà, mặt tôi nặng như đeo đá với mắc chứng gì nó mang đôi dép râu nhét vào cái hộp kính, rồi đóng đinh treo lên tường&#8230;?</p>
<p>Nhưng ít nhất thì nó cũng đã sơn cái hộp…mầu đen! Đấy.</p>
<p><strong>Thạch trúc gia trang</strong></p>
<p><strong>Hạ chí, Tân Mão 2011 </strong></p>
<p><strong>Phí Ngọc Hùng</strong></p>
<p><strong>Nguồn:</strong><em> Hoàng Ngọc Hiến, Nguyễn Huy Thiệp, Vương Trí Nhàn, Thanh Nam, </em></p>
<p><em>Nguyễn Hưng Quốc, Nguyễn Huệ Chi, Cung Tích Biền, Lý Đợi, Phạm </em></p>
<p><em>Thị Hoài, Vương Văn Quang, Viên Linh, Nguyễn Tự Lập, Nhật Tuấn…</em></p>
<p>&nbsp;</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>©T.Vấn 2014</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>&nbsp;</p>
<p><strong>Phụ đính:</strong></p>
<p>1- Nhà văn Tô Hòai dạy chúng tôi &#8220;Học viết văn cũng như thằng tập bơi ấy. Muốn biết bơi thì trước hết đừng sợ nước. Cứ nhảy đại xuống nước, đâp chân đập tay, uống vài ngụm nước, dăm bảy lần thế nào cũng nổi lên được. Nổi lên được thì sẽ bơi được. Nhưng từ chuyện bơi được, biết bơi đến chuyện trở thành một nhà bơi lội lại là chuyện hoàn toàn khác!&#8221;.</p>
<p>Nhà văn Nguyễn Tuân: &#8220;Người nông dân đi cày thì phải có cái cày, có con trâu. Nhà văn thì phải có chữ. Thế chữ của các anh đâu? Cả tập bản thảo dày đặc như ruồi bu thế này mà tôi chẳng nhìn thấy một chữ nào cả&#8221;.</p>
<p>Nhà văn Kim Lân: &#8221; Văn có thể ngửi được đấy, các ông ạ. Trong văn chương thì truyện ngắn có mùi đặc biệt nhất. Hệt như mắm tôm ấy. Không ai làm giả được mắm tôm, cũng không ai làm giả được truyện ngắn&#8221;, v…v…</p>
<p>(Trích Nguyễn Quang Thụy)</p>
<p>2 &#8211; Hội Nhà văn Việt Nam chính thức được thành lập tại Hà Nội vào tháng 4 năm 1957, thoạt đầu có 60 hội viên, đến năm 1989, tăng lên 477 hội viên. Trong danh sách hội viên ấy có hai người trước đây vốn cầm bút và nổi tiếng tại Sài Gòn, nhờ những hoạt động nằm vùng cho cộng sản, được kết nạp rất sớm sau năm 1975: Vũ Hạnh và Sơn Nam.</p>
<p>Từ năm 1957 đến năm 1958, đứng đầu Ban chấp hành là Nguyễn Công Hoan (chủ tịch), Tú Mỡ (phó chủ tịch), Tô Hoài (tổng thư ký) và ba ủy viên thường vụ: Nguyễn Đình Thi, Tế Hanh, Đoàn Giỏi. Trong cuộc đấu tranh chống lại nhóm Nhân văn-Giai phẩm, tinh thần của Nguyễn Công Hoan cũng như một số ủy viên trong Ban chấp hành Hội Nhà văn bị giao động mạnh khiến giới lãnh đạo miền Bắc nổi giận ra lệnh triệu tập Hội nghị Ban chấp hành Hội Nhà văn vào ngày 2-7-1958 để cách chức Tô Hoài, đưa Nguyễn Đình Thi lên nắm chức tổng thư ký và trên thực tế, hoàn toàn vô hiệu hoá chức chủ tịch và phó chủ tịch của Nguyễn Công Hoan và Tú Mỡ.</p>
<p>Đến Đại hội Hội Nhà văn lần thứ hai, được tổ chức tại Hà Nội từ ngày 10.1 đến ngày 12.1.1963, chức danh chủ tịch và phó chủ tịch dành cho người đứng đầu Hội Nhà văn bị bỏ hẳn. Thế vào đó là danh hiệu tổng thư ký. Chức tổng thư ký lọt vào tay Nguyễn Đình Thi.</p>
<p>(Trích Nguyễn Hưng Quốc)</p>
<p>3 &#8211; Năm 1978 đang ở thị xã Lào Cai, tôi không nhớ do Hội Liên hiệp (3) hay Hội Nhà văn giới thiệu, tôi được triệu tập đi học lớp viết mới mở Khóa I.</p>
<p>Giờ nghĩ lại, chẳng hiểu sao mình từ Lạng Sơn lại tìm được đường tới trường ở đê La Thành tại Hà Nội. Khóa trình 3 năm, lớp có hơn 40 “sinh viên” hầu hết ở độ tuổi trung niên gồm khối quân đội “du thủ du thực”. Nghênh ngang nhất là Hữu Thỉnh, sĩ quan tăng thiết giáp. Hoàng Phủ Ngọc Tường cùng lớp viết văn hệ chuyên tu, cũng là khoa viết văn khóa I mà hình như các anh cán bộ khoa đang rục rịch đề nghị nâng cấp thành Trường viết văn Nguyễn Du.</p>
<p>Lớp có Vương Anh, Mường Thanh Hóa đã nổi tiếng, Ma Trường Nguyên, Tày Thái Nguyên, và tôi, dân mọi từ núi cao Hoàng Liên chân ướt chân ráo tới đô thành nên chúng tôi thường chơi với nhau. Hà Nội bắt đầu trở thu cùng với dòng sinh viên gập ghềnh từ các nơi đổ về. Năm ấy phố cổ vẫn còn nhiều rêu phong, bến xe điện Ngã Tư Sở vẫn còn nguyên tuyến đường ray, sông Tô Lịch còn nhiều thuyền thúng của người thu hoạch rau muống. Ngôi trường năm xưa vẫn nằm đấy, vẫn mái ngói đỏ tươi với dáng dấp một ngôi đền…</p>
<p>(Trích Mã A Lềnh)</p>
<p>4 &#8211; Có thể nói ngay rằng, nếu không học trường Viết văn Nguyễn Du thì bây giờ tôi đang làm một cán bộ đại đội hay tiểu đoàn ở một đơn vị sẵn sàng chiến đấu nào đó.</p>
<p>Sở dĩ tôi khẳng định như thế vì tôi sinh ra ở nông thôn, học trường làng, học hết phổ thông mà số lượng đầu sách đã đọc chỉ đếm được mấy đầu ngón tay thi mơ tưởng chi đến sáng tác văn chương. Nếu tôi không nhầm thì các anh Hữu Thỉnh, Chu Lai, Bảo Ninh, Trung Trung Đỉnh, và cả Trần Đăng Khoa&#8230; nữa đều là cựu sinh viên Trường Viết văn Nguyễn Du. Các anh là một thế hệ mới hơn đang là lực lượng nòng cốt của Văn nghệ quân đội đã có bốn năm tu nghiệp tại Trường này. Thượng tá nhà văn Sương Nguyệt Minh nhường hẳn cho một phòng ba mươi mét vuông ở Nhà số 4 để ở, có hai bảo vệ canh gác hai đầu.</p>
<p>Ngày chúng tôi học Trường Viết văn Nguyễn Du không hề có&#8230; thầy. Không hiệu trưởng, không trưởng khoa&#8230; Không có thầy nhưng bộ phận hành chính thì có đầy đủ. Từ văn thư, tài chính thủ qũy, lái xe, bảo vệ đều có cả. Một ngôi trường không có lấy một người thầy thì cũng đúng là điều lạ.. Trước đó thì có thầy đấy, từ thầy Hoàng Ngọc Hiến đến Tạ Duy Anh&#8230;Nhưng sau một thời gian tan tác, Trường Đại học văn hóa điều một người nghe đâu học ở Khoa quản lý văn hóa xuống quản lý chúng tôi, mà chỉ quản lý về quân số thôi. Lay lắt như thế được hai năm thì trường bị giải thể chuyển thành Khoa Sáng tác và lý luận &#8211; phê bình văn học thuộc Đại học văn hóa Hà Nội. Thêm hai năm nữa rồi chúng tôi cũng tốt nghiệp ra trường, tỏa ra các hướng kiếm sống, người thì viết văn, người làm thơ, viết báo, cũng không ít chị theo chồng bỏ cuộc chơi.</p>
<p>(Trích Nguyễn Thế Hùng)</p>
<p>5 &#8211; Thành lập tháng 10 năm 1979, đến năm 2004, Trường viết văn Nguyễn Du chuyển thành Khoa sáng tác và lý luận- phê bình Văn học thuộc Trường Đại học Văn hóa Hà Nội.</p>
<p>Trường Viết văn Nguyễn Du nay là khoa Sáng tác và Lý luận-Phê bình Văn học (ST &amp; LL- PBVH) thuộc Đại học Văn hóa Hà Nội đã đào tạo 11 khóa chính quy, ra trường với con số tốt nghiệp là 256 người, trong đó 52 người trở thành Hội viên Hội nhà văn Việt Nam.</p>
<p>Trong tổng thể chiến lược của Đại học Văn hóa từ 5 đến 10 năm nữa sẽ đổi tên trường thành Đại học Văn hóa &#8211; Nghệ thuật Quốc gia. Lúc đó, khoa ST &amp; LL-PBVH sẽ trở về tên cũ: Trường viết văn Nguyễn Du và theo mô hình &#8220;trường trong trường&#8221; như đã có từ năm 1996 &#8211; 2004.</p>
]]></content:encoded>
					
					<wfw:commentRss>https://t-van.net/ng%e1%bb%99-khng-lo%e1%ba%a1n-trung-bt-v%e1%bb%9bitr%c6%b0%e1%bb%9dng-vi%e1%ba%bft-van-nguy%e1%bb%85n-du/feed/</wfw:commentRss>
			<slash:comments>0</slash:comments>
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Huyền Chiêu: NGƯỜI ĐI TRÊN ĐỐNG TRO TÀN (*)</title>
		<link>https://t-van.net/huy%e1%bb%81n-chiu-ng%c6%b0%e1%bb%9di-di-trn-d%e1%bb%91ng-tro-tn/</link>
					<comments>https://t-van.net/huy%e1%bb%81n-chiu-ng%c6%b0%e1%bb%9di-di-trn-d%e1%bb%91ng-tro-tn/#respond</comments>
		
		<dc:creator><![CDATA[Huyền Chiêu]]></dc:creator>
		<pubDate>Fri, 17 Jan 2014 00:15:00 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Góc Văn]]></category>
		<category><![CDATA[huyền chiêu]]></category>
		<category><![CDATA[thơ văn]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://7076e870b2.nxcli.io/?p=16055</guid>

					<description><![CDATA[“Reflecting” Photography by Isadora – 2013 &#160; N H, ngày 14 tháng 1&#160; 2014 Anh K thương mến, Những năm trước khi nghe anh nói năm nay anh cũng chưa về VN được, em rất buồn. Hơn 20 năm rồi còn gì. Nhưng năm nay thì em lại nghĩ khác. Anh không về hóa ra [&#8230;]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<p><a href="https://t-van.net/wp-content/uploads/2014/01/clip_image0029.jpg"><img decoding="async" style="background-image: none; float: none; padding-top: 0px; padding-left: 0px; margin-left: auto; display: block; padding-right: 0px; margin-right: auto; border: 0px;" title="clip_image002" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2014/01/clip_image002_thumb6.jpg?strip=all&fit=354%2C241" alt="clip_image002" width="354" height="241" border="0"></a></p>
<p align="center"><strong><em>“Reflecting” Photography by </em></strong><em>Isadora </em>– 2013</p>
<p>&nbsp; N H, ngày 14 tháng 1&nbsp; 2014</p>
<p>Anh K thương mến,</p>
<p>Những năm trước khi nghe anh nói năm nay anh cũng chưa về VN được, em rất buồn. Hơn 20 năm rồi còn gì. Nhưng năm nay thì em lại nghĩ khác. Anh không về hóa ra lại hay. Hãy để VN biến thành tro bụi trong ký ức. Nhưng anh không về mà cứ muốn em kể chuyện VN cho anh nghe. Em sẽ kể nhưng anh đừng khóc đấy nhé.</p>
<p>Em sẽ bắt đầu từ đâu nhỉ?</p>
<p>À. Huyện lỵ của mình bây giờ được gọi là thị&nbsp; xã. Nếu về anh sẽ&nbsp; không nhận ra đâu là đâu. Ngôi trường bé nhỏ dưới mấy gốc bàng nơi anh và em học lớp vỡ lòng, đã bị đập bỏ để&nbsp; xây một cung thiếu nhi nguy nga. Hai hàng tre bên sông Dinh đã được thay bằng bờ kè bằng đá. Đường sá cũng được mở rộng thay cho những con đường làng nhỏ mà thuở bé anh hay đạp xe chở em về thăm quê nội hay rong chơi đây đó. Xem ra thì đướng sá cầu cống, dinh thự, trường học có khang trang hơn xưa nhưng&nbsp; đó là hàng mã. Tất cả đều chỉ đẹp đẽ trong ngày khánh thành, còn sau đó nó hư hỏng nhanh chóng là điều bình thường ở xứ sở này. Trên những con đường ở đất nước gọi là thanh bình này mỗi năm có hàng chục ngàn người chết vì tai nạn xe cộ. Không có ở nước nào mà người dân phải&nbsp; tự di chuyển bằng xe gắn máy. Không có ở đâu mà xe gắn máy chạy chung với xe tải, xe khách, xe chở container. Người mình chết nhiều đã đành. Cứ mỗi lần đọc báo&nbsp; có tin một chuyên viên nước ngoài đến VN làm việc bị xe tông chết thì em vừa&nbsp; xấu hổ vừa thương cho họ. Đáng lẽ họ không nên đến đây , một đất nước mà mạng người chỉ là cỏ rác.</p>
<p>Trong thư anh thường nói phong cảnh ở VN là đẹp nhất. Núi đẹp, rừng đẹp, những ngôi nhà nho nhỏ giữa những thửa ruộng&nbsp; xinh tươi.</p>
<p><em>“Chiều ơi, lúc chiều về là lúc yên vui</em></p>
<p><em>Trâu bò về dục mõ xa xôi …ơi chiều” (*)</em></p>
<p>Anh ơi , làng quê thì vẫn còn màu xanh như cũ nhưng nó không còn là chốn yên lành. Rượu, phim bạo lực, phim sex, thất nghiệp&nbsp; đã làm dậy lên men say cuồng sát và cảnh chém giết nhau anh cũng đã biết rồi trên các báo online.</p>
<p>Anh cũng sẽ không còn tìm ra những nàng thôn nữ</p>
<p><em>“gánh, gánh, gánh, gánh thóc về gánh về gánh về” (*)</em></p>
<p>Hàng Trung Quốc&nbsp; bây giờ vừa rẻ vừa model đã biến cả các phụ nữ nông thôn thành những con rối hồn nhiên háo hức với “quần bò”&nbsp; hở rún, áo hai dây hoặc không có dây nào.</p>
<p>Trước đây người dân được dạy cho biết lao động là vinh quang và mọi người mọi nhà phải tăng gia sản xuất. Lúc đó cây khoai mì&nbsp; đã&nbsp; trở nên một biểu tượng được tôn sùng của đất nước. Nhưng sau đó họ sực tỉnh ra rằng những cây gỗ trăm tuổi, ngàn tuổi&nbsp; bạt ngàn trên rừng Trường Sơn mới là triệu triệu dollars. Và thế là&nbsp; một cuộc thảm sát long trời lở đất chưa từng có đã biến cho đất nước mình thảm hại như một con đại bàng bị vặt trụi lông.</p>
<p>Anh sẽ khóc khi nhìn thấy Dalat mất gần hết&nbsp; rừng thông, anh sẽ&nbsp; thất vọng khi Dalat không còn cái lạnh đáng yêu của một châu Âu giữa lòng một đất nước chỉ có hai mùa mưa nắng. Và anh sẽ phì cười khi thấy đã có tiệm bán quạt máy ở Dalat.</p>
<p>Anh sẽ đau lòng khi nhìn vào đôi mắt buồn vời vợi của những người dân tộc thiểu số khi họ bị dành hết núi rừng . Thật&nbsp; nhẩn tâm khi họ buộc phải xa lìa&nbsp; rừng núi, ngôi nhà kỳ vỹ của họ để về sống trong những ngôi nhà&nbsp; gạch, mái tôn xây vội.</p>
<p>Rồi đây cáp treo sẽ đưa người lên tận đỉnh Langbian, rồi những rùa, nhím, chồn hương, nai hoẳng sẽ bị tận diệt để phục vụ&nbsp; những cái bao tử khốn nạn.</p>
<p>Người ta cũng phát hiện ra rằng&nbsp; ngoài rừng, biển cũng là triệu triệu dollars.</p>
<p>Không biết vua Duy Tân có lỗi gì với dân tộc mà sau năm 1975 con đường tuyệt đẹp mang tên ông trải dọc biển Nha Trang đã đổi thành đường Trần Phú. Và cũng từ đó biển Nha Trang dân dần bị biến dạng. Song song với cuộc tàn sát rừng, biển cũng bị xâm lấn nặng nề. Nếu anh về thăm biển Nha Trang anh sẽ thấy biển&nbsp; không còn gây cho anh cảm giác mênh mông, anh sẽ không còn cái thú được thấy mình như “con ốc bơ vơ nằm trên cát” (*). Biển Nha Trang bây giờ bị bao vây bởi một rừng khách sạn&nbsp; khổng lồ ngạo nghễ nhìn ra biển. Nằm dưới chân những gã khổng lồ khách sạn , biển Nha Trang đã biến thành một cái ao làng với rất nhiều bao ny lông nhớt nhát vật vờ . Bị che chắn, gió biển không còn thênh thang ngập tràn thành phố nên Nha Trang bây giờ không gian vô cùng ngột ngạt.</p>
<p>Nhưng điều đau buồn nhất là một thế hệ con cháu chúng ta đã lớn lên như những&nbsp; con gà công nghiệp trong một chiếc lồng&nbsp; chật chội. .</p>
<p>Làm sao trách chúng được khi chúng lớn lên trong một không gian mù mờ về lịch sử..</p>
<p>Chúng được dạy dổ rằng chúng đang sống rất hạnh phúc trong một đất nước đã&nbsp; được giải phóng và chúng phải biết ơn bác , biết ơn Đảng.</p>
<p>Mà hạnh phúc thật đấy. Một diễn viên nổi tiếng của Hollywood tổ chức đám cưới chỉ mời không đến vài chục khách trong khi bà hai bán phở, ông Chín hiệu trưởng làm đám cưới cho con mời 500 khách. Trong đám cưới&nbsp; có ông cựu binh sĩ VNCH hào hứng lên sân khấu hát bài “Năm Anh Em Trên Một Chiếc Xe Tăng” !!!</p>
<p>Nếu anh về đi thăm bà con anh sẽ chạnh lòng khi nghe thím hai khoe con thím đi làm ở Bưu Điện được cử đi học lớp cảm tình đảng. Điều đó có nghĩa nó có hy vọng vào đảng và lên chức. Buổi tối về nhà anh sẽ nghe mấy đứa cháu anh ê a học “đánh cho Mỹ cút, đánh cho Ngụy nhào…”.</p>
<p>Không thể trách được. Dù là gà công nghiệp, con gà cũng thèm mổ gạo, vẫn thèm sống.</p>
<p>Làm sao trách được người dân Việt khi trong sân bóng đá họ chỉ có một lựa chọn duy nhất là lá cờ đỏ sao vàng để cuồng nhiệt phất lên mừng đội nhà chiến thắng.</p>
<p>Sau năm 1955 chúng ta có một cuốn phim với một tên gọi rất hay “Chúng Tôi Muốn Sống”. Sau 1975 Trương Nghệ Mưu có phim “Phải Sống” .</p>
<p>Phải sống thôi.</p>
<p>Người dân quê mình không còn thời gian, hơi sức đâu mà buồn mà lo. Mà suy nghĩ buồn lo cũng không được với những gông cùm vô hình trói buộc.</p>
<p>Phải chi có anh vào những ngày cuối năm, em sẽ dẫn anh đi thăm một nơi mà em rất thích vì nó yên tĩnh, đẹp và buồn.</p>
<p>Đó là nghĩa trang nơi có mộ ba, má , mộ cậu Sáu, dì Bốn, mộ ông Ba Cà, Bà Tám Tùng, Ông Mười&nbsp; Cảnh……Những người hàng xóm thân thiết của chúng ta đều có mặt ở đây. Đến đây anh sẽ nhớ lại những ngày thơ ấu tươi vui của chúng mình những đứa trẻ nghèo, thiếu thốn nhưng tự do bay nhảy&nbsp; trong khu rừng nguyên sinh tuyệt đẹp của một đất nước tên gọi Việt Nam.</p>
<p>Em thích nhất là được ngắm nhìn những rặng núi xanh thẳm buồn buồn, được nghe tiếng những hàng cây rủ rỉ trong gió chiều tịch mịch.</p>
<p>“<em>Me có hay chăng con về</em></p>
<p><em>Chiều nay thời gian đứng yên để nghe”.</em></p>
<p>Nói vậy, nhưng em vẫn tin rằng anh sẽ về. Anh nhé!</p>
<p>Em gái</p>
<p>HC</p>
<p>(*) Lời trong một số bài hát của&nbsp; Phạm&nbsp; Duy</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>©T.Vấn 2014</p>
]]></content:encoded>
					
					<wfw:commentRss>https://t-van.net/huy%e1%bb%81n-chiu-ng%c6%b0%e1%bb%9di-di-trn-d%e1%bb%91ng-tro-tn/feed/</wfw:commentRss>
			<slash:comments>0</slash:comments>
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Lưu Na: DÒNG CHỮ ĐẦU NĂM</title>
		<link>https://t-van.net/l%c6%b0u-na-dng-ch%e1%bb%af-d%e1%ba%a7u-nam/</link>
					<comments>https://t-van.net/l%c6%b0u-na-dng-ch%e1%bb%af-d%e1%ba%a7u-nam/#respond</comments>
		
		<dc:creator><![CDATA[Lưu Na]]></dc:creator>
		<pubDate>Thu, 02 Jan 2014 14:18:12 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Góc Văn]]></category>
		<category><![CDATA[lưu na]]></category>
		<category><![CDATA[thơ văn]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://7076e870b2.nxcli.io/?p=15883</guid>

					<description><![CDATA[Cuối năm có ông Hưng ca từ D.C. về tiễn bạn.&#160; Ba ngày tang lễ, lúc nào cũng thấy ông đứng hơi&#160; nghiêng nghiêng như cành lá gió đưa, mắt dấu sau cặp kính chả lộ vẻ vui buồn. Vùi xong một nấm mộ, ông xin ly cà phê, bã cả người rồi. Ngồi nơi [&#8230;]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<p><a href="https://t-van.net/wp-content/uploads/2014/01/clip_image002.jpg"><img loading="lazy" decoding="async" style="background-image: none; float: none; padding-top: 0px; padding-left: 0px; margin-left: auto; display: block; padding-right: 0px; margin-right: auto; border: 0px;" title="clip_image002" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2014/01/clip_image002_thumb.jpg?strip=all&fit=304%2C407" alt="clip_image002" width="304" height="407" border="0"></a></p>
<p>Cuối năm có ông Hưng ca từ D.C. về tiễn bạn.&nbsp; Ba ngày tang lễ, lúc nào cũng thấy ông đứng hơi&nbsp; nghiêng nghiêng như cành lá gió đưa, mắt dấu sau cặp kính chả lộ vẻ vui buồn.</p>
<p>Vùi xong một nấm mộ, ông xin ly cà phê, <em>bã cả người rồi</em>.</p>
<p>Ngồi nơi quán vắng cứ tưởng vắng mà cũng gặp người quen, màu áo đen tố cáo vừa đi đám.&nbsp; Ông Hưng ca nhẹ thở một hơi khói buồn.</p>
<p>_Khi nãy hạ huyệt anh có khóc?</p>
<p>_<em>Không, chỉ ứa nước mắt…</em></p>
<p>Giọt cà phê rơi xuống như nặng nỗi ngậm ngùi</p>
<p><em>_&#8230;vì bị giã 800 đô tiền vé máy bay.</em></p>
<p>_Hm. …</p>
<p>Rồi cũng phải giã từ nhau.&nbsp; Thì thôi, anh về.</p>
<p>Qua năm mới ông gửi cho một bài thơ Đường như đã hứa.&nbsp; Ông chọn bài Tống Hữu Nhân của Lý Bạch.</p>
<p>青 山 橫 北 郭</p>
<p>Thanh sơn hoành Bắc quách,</p>
<p>白 水 遶 東 城</p>
<p>Bạch thủy nhiễu Đông thành.</p>
<p>此 地 一 為 別</p>
<p>Thử địa nhất vi biệt.</p>
<p>孤 蓬 萬 里 征</p>
<p>Cô bồng vạn lý chinh.</p>
<p>浮 雲 游 子 意</p>
<p>Phù vân du tử ý,</p>
<p>落 日 故 人 情</p>
<p>Lạc nhật cố nhân tình.</p>
<p>揮 手 自 茲 去</p>
<p>Huy thủ tự tư khứ,</p>
<p>蕭 蕭 班 馬 鳴</p>
<p>Tiêu tiêu ban mã minh.</p>
<p><strong>Tiển Bạn</strong> (bản dịch của Tản Đà)</p>
<p><em>Chạy dài cõi Bắc non xanh,</em></p>
<p><em>Thành Đông nước chảy quanh thành trắng phau.</em></p>
<p><em>Nước non này chỗ đưa nhau</em></p>
<p><em>Một xa muôn dặm biết đâu cánh bồng!</em></p>
<p><em>Chia phôi khác cả mối lòng,</em></p>
<p><em>Người như mây nổi, kẻ trông bóng tà.</em></p>
<p><em>Vẫy tay thôi đã rời xa,</em></p>
<p><em>Nhớ nhau tiếng ngựa nghe mà buồn teo.</em></p>
<p>Tản Đà [Ngày Nay, số 77 ngày 19-9-1937]</p>
<p>Không biết chữ Hán, cứ chực cãi rằng Lạc nhật cố nhân tình nghĩa là ngày tháng qua nhớ đến tình của người xưa, chừng so sánh một số bài dịch và diễn nghĩa mới hay mình dốt.&nbsp; Cố nhân là cố-nhân (người xưa), không phải cố (nghĩ) đến nhân (người).&nbsp; Lơ mơ càng thêm loay hoay, nhưng dù phải đành mình dốt chả hiểu gì vẫn cứ thấy thơ Đường hay, và chút ngậm ngùi.&nbsp; Bài thơ Tiễn Bạn<em> </em>dù khác cảnh khác người vẫn nói được dùm mình nỗi sầu mất bạn, nói dùm được lòng mình chắc cũng đen như màu áo.&nbsp; Khóc bạn nhiều lúc chỉ có thể khóc trong lòng, nỗi buồn thường theo đăng đẳng với thời gian, <em>vết đau dài nối ngậm ngùi.&nbsp; </em></p>
<p>Không chỉ ông Hưng ca mang nỗi buồn không nói ấy _ chúng ta kẻ trước người sau rồi cũng sẽ chia tay, và rồi cũng sẽ gặp lại nhau.</p>
<p><em>Núi biếc dang thành Bắc</em></p>
<p><em>Nước bạc quấn tường Đông</em></p>
<p><em>Đất sầu nay giã biệt</em></p>
<p><em>Vạn dặm ngọn cỏ bồng</em></p>
<p><em>Đi, lòng đau mây nổi</em></p>
<p><em>Về, dạ héo nắng xiêu</em></p>
<p><em>Vung tay nắm đất từ nay hết</em></p>
<p><em>Nhạc hắt chuông rời vĩnh biệt nhau.</em></p>
<p>Dòng chữ đầu năm đáng ra phải tươi đẹp mà phải đành…</p>
<p><strong>Lưu Na</strong></p>
<p><strong>01/01/2014</strong></p>
<p>&nbsp;</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>©T.Vấn 2014</p>
]]></content:encoded>
					
					<wfw:commentRss>https://t-van.net/l%c6%b0u-na-dng-ch%e1%bb%af-d%e1%ba%a7u-nam/feed/</wfw:commentRss>
			<slash:comments>0</slash:comments>
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Khuất Đẩu: NHỮNG BẦY S&#194;U</title>
		<link>https://t-van.net/khu%e1%ba%a5t-d%e1%ba%a9u-nh%e1%bb%afng-b%e1%ba%a7y-su/</link>
					<comments>https://t-van.net/khu%e1%ba%a5t-d%e1%ba%a9u-nh%e1%bb%afng-b%e1%ba%a7y-su/#respond</comments>
		
		<dc:creator><![CDATA[Khuất Đẩu]]></dc:creator>
		<pubDate>Sun, 29 Dec 2013 20:11:50 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Góc Văn]]></category>
		<category><![CDATA[khuất đẩu]]></category>
		<category><![CDATA[thơ văn]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://7076e870b2.nxcli.io/?p=15814</guid>

					<description><![CDATA[Nói đến sâu ai cũng sợ, nhất là quý cô quý bà. Con sâu cải với màu xanh của cải non, trông hiền là thế, nhưng nhỡ rơi vào nồi canh, thì dù có ngon đến mấy cũng phải đem đi đổ. Con sâu làm rầu nồi canh là vậy. Đến con sâu róm thì [&#8230;]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<p><a href="https://t-van.net/wp-content/uploads/2013/12/clip_image00117.jpg"><img loading="lazy" decoding="async" style="background-image: none; float: none; padding-top: 0px; padding-left: 0px; margin-left: auto; display: block; padding-right: 0px; margin-right: auto; border: 0px;" title="clip_image001" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2013/12/clip_image001_thumb6.jpg?strip=all&fit=354%2C226" alt="clip_image001" width="354" height="226" border="0" /></a></p>
<p>Nói đến sâu ai cũng sợ, nhất là quý cô quý bà. Con sâu cải với màu xanh của cải non, trông hiền là thế, nhưng nhỡ rơi vào nồi canh, thì dù có ngon đến mấy cũng phải đem đi đổ.</p>
<p>Con sâu làm rầu nồi canh là vậy.</p>
<p>Đến con sâu róm thì thực là kinh hãi. Bộ lông dựng ngược của nó cứ như một con nhím. Lỡ chạm vào, ngứa gãi đến tuột da.</p>
<p>Nhưng đó là sâu local. Sâu ngoại còn kinh khiếp hơn nữa. Những năm đầu 50 thế kỷ trước, sau những chiến dịch quân sự không thành, thực dân Pháp liền mở mặt trận kinh tế. Chúng đem hàng tấn sâu, nghe nói từ những hoang mạc châu Phi xa xôi, thả xuống những ruộng đồng bốn tỉnh Nam-Ngãi-Binh-Phú.</p>
<p>Những con sâu xanh đỏ, tím vàng, rằn rịt, mặt như mặt quỷ, có sừng có mỏ. Chỉ trong một đêm, bao nhiêu cây lúa tốt tươi bị chúng cắn xé tận ruột gan trở nên vàng úa, nằm chết rũ.</p>
<p>Hồi đó không có thuốc trừ sâu, nên dân làng chỉ có mỗi một cách là lội xuống ruộng, vạch từng bụi lúa ra mà bắt. Sâu nhiều đến nỗi, mỗi sáng “thu hoạch” đến cả trăm ký. Người ta đào những cái hố, đổ chúng xuống, phủ trấu lên, đốt.</p>
<p>Mùi tanh theo khói bay lên, nồng nặc đến tận giời.</p>
<p>Vì ăn lúa non nên con nào cũng béo trục béo tròn, lớn nhanh như thổi. Chỉ mới nở dăm hôm, đã biết quấn lấy nhau rồi sinh con đẻ cái.</p>
<p>Có mấy tay cốt cán thấm nhuần cách mạng lý luận rằng: sâu ăn lúa chớ có ăn cứt đâu. Nó ăn lúa của ta thì ta ăn lại nó. Vừa no cái bụng, vừa thể hiện lòng căm thù giặc. Thế là, bọn họ hào hứng bắc ngay cái nồi to tổ chảng lên bếp, đổ cả chục ký sâu vào luộc, ăn như ăn gỏi.</p>
<p>Có lẽ vì ăn quá nhiều, mà cũng có thể vì lũ sâu quỷ quái ấy rất độc, nên chẳng mấy chốc cả bọn nằm lăn quay, phùi bọt mép xanh lè.</p>
<p>Cả làng phát hoảng, chẳng ai dám xuống ruộng bắt sâu nữa.</p>
<p>Từ đó, sâu nhung nhúc bò đi khắp hang cùng ngõ hẽm. Sâu vào từng nhà, leo lên giường, chui vào tận giấc mơ. Vì vậy những đứa bé thiếu ăn không mơ thấy gặp bác Hồ mà chỉ thấy lổn nhổn toàn sâu là sâu!</p>
<p>May sao, năm đó Trời hành cơn lụt sớm, mà lại lụt rất to, nên bao nhiêu sâu đều bị cuốn trôi ra biển.</p>
<p>Giờ, cả nước hòa bình, lúa khoai tràn bờ, nhưng dân chúng vẫn đói khổ hoang mang, vì xuất hiện một loại sâu mới.</p>
<p>Chúng không rằn rịt xanh đỏ, không trần truồng bò tới bò lui với hai hàng chân nhiều như chân rết. Mà Trời ạ, chúng chỉ có hai chân, lúc nào cũng diện đồ veste, đi xe đời mới và ngự trong những cái tổ xinh đẹp có giá hàng chục, thậm chí hàng trăm tỷ đồng.</p>
<p>Chủ tịch nước bảo không chỉ có một con tên X hay tên Y nào đó, mà cả bầy. Ngài bảo dân phải chỉ mặt điểm tên, mỗi người phải xắn tay vào, như trước kia đã từng xuống ruộng bắt sâu của thực dân Pháp.</p>
<p>Ngài bảo vậy là nghe vậy, chứ cho kẹo dân đen cũng không  dám.</p>
<p>Bên phủ chính trị rất bực mình, bảo nói mà không làm thì ai nghe. Người ta liền lập ra những đội quân diệt trừ sâu bọ có tên rất kêu, từ trung ương đến địa phương. Rồi trống giong cờ mở, bảo kiếm tuốt trần, tưởng chừng một con kiến cũng không trốn thoát.</p>
<p>Nhưng những con sâu thời hiện đại, chẳng những không lo sợ, mà còn hí hửng kéo nhau ra tận phi trường chào đón. Bởi vì, hồ hởi quá, đó cũng lại là những bầy lũ từng trốn núp trên rừng Trường Sơn, hay những cháu con của các bậc đại sâu tiền bối.</p>
<p>Cũng có một vài con được đem ra chường mặt trước bàn dân thiên hạ. Cũng có án tử cho oai danh bốn biển. Nhưng thay vì chích thuốc độc lại âm thầm chích thuốc bổ. Đừng có mơ bắn ngay tút xuỵt trước sân tòa như Kim Yong Un bắn dượng ruột của mình.</p>
<p>Vậy nên, chẳng ai ngạc nhiên khi thấy cả nước tràn ngập lũ sâu hai chân, mỗi ngày một nhiều. Chúng chui vào tận trường học, nhà thương. Chúng không thèm ăn lúa ăn khoai, (bõ bèn gì), chúng ăn rừng ăn biển, ăn dầu khí, ăn than đá, ăn bauxite và ăn cả hài cốt liệt sĩ!</p>
<p>Chúng không chỉ có một bầy mà nhiều bầy, gọi là tập đoàn hay nhóm lợi ích.</p>
<p>Đến nước này thì chỉ có Trời mới diệt được chúng. Nhưng hỡi ôi, ngay cả Trời mà cũng đang thấp thỏm lo sợ. Nghe đâu chúng thò thụt định bán cả cái ông Trời nghèo và nhỏ này cho ông Trời giàu và to hơn bên cạnh, mà không thèm mời Thiên Lôi kia đấy!</p>
<p>Vậy thì, chỉ còn có nước botay.com thôi!</p>
<p><em>29/12/2013</em></p>
<p><strong><em>Khuất Đẩu</em></strong></p>
<p>&nbsp;</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>©T.Vấn 2013</p>
]]></content:encoded>
					
					<wfw:commentRss>https://t-van.net/khu%e1%ba%a5t-d%e1%ba%a9u-nh%e1%bb%afng-b%e1%ba%a7y-su/feed/</wfw:commentRss>
			<slash:comments>0</slash:comments>
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Khuất Đẩu: LIẾM</title>
		<link>https://t-van.net/khu%e1%ba%a5t-d%e1%ba%a9u-li%e1%ba%bfm/</link>
					<comments>https://t-van.net/khu%e1%ba%a5t-d%e1%ba%a9u-li%e1%ba%bfm/#respond</comments>
		
		<dc:creator><![CDATA[Khuất Đẩu]]></dc:creator>
		<pubDate>Mon, 23 Dec 2013 13:58:00 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Góc Văn]]></category>
		<category><![CDATA[khuất đẩu]]></category>
		<category><![CDATA[thơ văn]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://7076e870b2.nxcli.io/?p=15771</guid>

					<description><![CDATA[Cái Lưỡi – Tranh : Fred Bell Gã sở hữu một cái lưỡi dài, thật dài. Có thể là dài đến cả tấc, xuống tận cằm. Mà cũng có thể là dài đến cả thước, xuống tận gối. Bình thường, gã cũng như mọi người, nghĩa là không ai thè lưỡi ra liếm được cái [&#8230;]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<p><a href="https://t-van.net/wp-content/uploads/2013/12/clip_image00115.jpg"><img loading="lazy" decoding="async" style="background-image: none; float: none; padding-top: 0px; padding-left: 0px; margin-left: auto; display: block; padding-right: 0px; margin-right: auto; border: 0px;" title="clip_image001" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2013/12/clip_image001_thumb5.jpg?strip=all&fit=304%2C354" alt="clip_image001" width="304" height="354" border="0" /></a></p>
<h3 align="center"><span style="font-size: small;"><span style="font-weight: bold;">Cái Lưỡi – Tranh : Fred Bell</span></span></h3>
<p>Gã sở hữu một cái lưỡi dài, thật dài. Có thể là dài đến cả tấc, xuống tận cằm. Mà cũng có thể là dài đến cả thước, xuống tận gối.</p>
<p>Bình thường, gã cũng như mọi người, nghĩa là không ai thè lưỡi ra liếm được cái mũi của chính mình. Nó nhỏ xíu, cụt ngủn. Cùng lắm là chỉ đủ liếm mép cho đỡ thèm khi nghĩ tới một món ăn ngon, hay đuổi một con ruồi mất dạy nào đó dám đậu trên môi.</p>
<p>Chỉ vậy thôi, người ta múa mỏ khoe môi, chứ không ai khoe lưỡi.</p>
<p>Nhưng khi hữu sự, nghĩa là nghe đâu đó có mùi rượu thịt, gã liền xách theo cái lưỡi của mình như một tráng sĩ mang theo cây kiếm sắc xuống núi.</p>
<p>Đến nơi, gã thò thụt đứng chờ.</p>
<p>Khi những bát đĩa tú hụ cạn dần, chỉ còn chút mỡ thừa canh cặn, là lúc gã tung cái lưỡi của mình ra như một bác chài tung lưới. Cái lưỡi dài và đỏ loang loáng lăn trên đĩa, nhoay nháy xoay trong bát, chỉ trong chớp mắt là sạch sành sanh! Sạch đến nỗi những người có phận sự rửa bát, dù có đưa lên mũi ngửi, khịt khịt mãi cũng không tìm thấy đâu mùi dầu mỡ!</p>
<p>Bầy chó chậm chân hơn, cất tiếng tru nghe như “<em>thua thua</em>” đầy hậm hực.</p>
<p>Nhờ cái tài liếm nhanh, liếm gọn, liếm tận tụy, liếm không công, gã được nuôi ăn để rửa bát ở một nhà hàng. Ngoài việc liếm trước khi rửa (cho đỡ tốn nước), những lúc rổi rãi gã thử liếm những cái bàn. Cũng như bát đĩa, cái lưỡi của gã chỉ một đường liếm là cái bàn sạch bóng không còn một hạt bụi nào.</p>
<p>Chủ rất thích.</p>
<p>Một hôm, nhà hàng thết đãi một vị thượng thượng khách. Người ta bày ra một chiếc ghế chạm trổ sơn son thếp vàng như một cái ngai. Cái lưỡi của gã được dịp múa may và chiếc ghế xưa cũ bỗng trở nên mới cáu.</p>
<p>Sau bữa tiệc, chủ nhà hàng đem gã ra khoe với khách. Để thử tài, khách thò chân ra và gã cũng thè lưỡi ra. Đôi giày đen được cái lưỡi như một con rắn trườn qua, trườn tới đâu bóng lộn tới đó như mới đánh xi.</p>
<p>Khách nói: hắn có tài đấy. Tài như thế mà để liếm giày cũng uổng. Thôi hãy về với ta.</p>
<p>Từ đó, thừa lệnh chủ, cái lưỡi của gã dài và xòe ra như chiếc chổi chà, làm cái công việc gọi là quét sạch, (chứ liếm không xuể) những thứ được gọi là rác rưởi, nọc độc tàn dư, những thứ diễn tiến hòa bình hay không hòa bình…Cái lưỡi của gã chẳng mấy chốc trở thành siêu quần bạt chúng, dài đến nỗi thọc sâu vào tận các trang mạng, cắm những tấm biển <em>sinh tử phù</em> như Mỹ cắm cờ trên mặt giăng.</p>
<p>Vậy nên, những kẻ lừng khừng hay sắp lừng khừng, trở cờ hay sắp trở cờ chớ có nghe xúi dại mà chui ra khỏi cái hang gọi là Đảng. Gã sẽ liếm như con kỳ nhông liếm mối, lần này là liếm tận óc!</p>
<p>Chớ có mà đùa dai! Nhớ đấy!</p>
<p><em>21/12/2013</em><em></em></p>
<p>&nbsp;</p>
<p><em><strong>Khuất Đẩu</strong></em></p>
<p>&nbsp;</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>©T.Vấn 2013</p>
]]></content:encoded>
					
					<wfw:commentRss>https://t-van.net/khu%e1%ba%a5t-d%e1%ba%a9u-li%e1%ba%bfm/feed/</wfw:commentRss>
			<slash:comments>0</slash:comments>
		
		
			</item>
		<item>
		<title>HươngKiềuLoan &#038; NGG:N&#192;NG C&#212;NG CH&#218;A V&#192; T&#202;N DU MỤC</title>
		<link>https://t-van.net/h%c6%b0%c6%a1ngki%e1%bb%81uloan-nggnng-cng-cha-v-tn-du-m%e1%bb%a5c/</link>
					<comments>https://t-van.net/h%c6%b0%c6%a1ngki%e1%bb%81uloan-nggnng-cng-cha-v-tn-du-m%e1%bb%a5c/#respond</comments>
		
		<dc:creator><![CDATA[Hươngkiềuloan]]></dc:creator>
		<pubDate>Fri, 20 Dec 2013 15:16:42 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Góc Văn]]></category>
		<category><![CDATA[hkl]]></category>
		<category><![CDATA[thơ văn]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://7076e870b2.nxcli.io/?p=15722</guid>

					<description><![CDATA[(Cô gái và ngựa – Nguyễn Trung – Tranh sơn dầu 1967) (1). Gã được gọi khẩn cấp về vì vụ thử &#8220;mất tải&#8221; tại nhà máy Danhim Người ta muốn nhúng cái điện trở từ từ xuống nước để thay đổi điện trở, coi cái máy &#8220;xoay sơ&#8221; ra sao. Thử &#8220;mất tải&#8221; là [&#8230;]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<h5><a href="https://t-van.net/wp-content/uploads/2013/12/clip_image00110.jpg"><img loading="lazy" decoding="async" style="background-image: none; float: none; padding-top: 0px; padding-left: 0px; margin-left: auto; display: block; padding-right: 0px; margin-right: auto; border: 0px;" title="clip_image001" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2013/12/clip_image001_thumb3.jpg?strip=all&fit=404%2C256" alt="clip_image001" width="404" height="256" border="0" /></a></h5>
<p align="center"><strong>(Cô gái và ngựa – Nguyễn Trung – Tranh sơn dầu 1967)</strong></p>
<p>(1).</p>
<p>Gã được gọi khẩn cấp về vì vụ thử &#8220;mất tải&#8221; tại nhà máy Danhim Người ta muốn nhúng cái điện trở từ từ xuống nước để thay đổi điện trở, coi cái máy &#8220;xoay sơ&#8221; ra sao. Thử &#8220;mất tải&#8221; là cho cái điện trở văng ra khỏi lưới để máy bị &#8220;hổng giò&#8221; hú lên như con hổ bị mất mồi Thực ra có gã hay không thì &#8220;chợ vẫn họp&#8221;. Nhưng có gã thì vẫn yên trí hơn vì cái mặt lúc nào cũng tỉnh bơ của gã. Hơn nữa, có gã cũng đỡ hơn vì rủi có chuyện gì thì có người để đổ thừa.</p>
<p>Gã kéo bà con qua chợ nhỏ để làm lễ tiễn gã cho phải phép. Thực ra gã đã chán cái nơi đồng bằng phẳng lỳ này. Ba cái máy diesel tý hon cũng đã &#8220;ăn dơ&#8221; với nhau. Gã chẳng có việc gì làm ngoài chuyện ngồi viết báo cáo và làm bảng chia phiên. Gã lại không hợp mấy với ba chuyện tầm phào này. Gã vốn có số làm một tên du mục. Gã vốn có số làm một tên du mục đi mãi &#8220;rêu không kịp bám&#8221;.</p>
<p>Ba V buồn ra mặt. Bình thường cặp &#8220;bạch mi&#8221; của Ba V đã rũ xuống. Khi buồn cặp &#8220;bạch mi&#8221; này còn rũ thấp hơn, che tới nửa con mắt. Mới chiều qua, Ba V còn kéo gã về Cân Thơ ăn chim cút. Chim cút vớt ra từ chảo mỡ sôi ròn như bánh đa. Ba V còn phải &#8220;nằm ăn vạ&#8221; ở đây cho đến khi nhà máy lớn lên lại. Ba V lại đã qua cái thời đi &#8220;rêu không kịp bám&#8221;. Ba V đã nhớ nhà, nhớ &#8220;má bầy trẻ&#8221;. Có gã thì còn đỡ. Không có gã thì&#8230;</p>
<p>(2)</p>
<p>Gã tới Bắc Mỹ Thuận thì nhường tay lái cho bác tài xế rồi qua phà trước. Con bé vẫn thích ổi xá lỵ Bắc Mỹ Thuận. Môt phần vì ổi ở đây to nhất nước. Một phần vì cái ruột màu hồng tươi. Một phần vì cái mùi thơm đặc biệt. Mua ổi thì không khó gì. Chỉ khó là làm sao đừng mua hớ. Con bé luôn luôn hạch hỏi gã cặn kẽ giá cả, mặc dù con bé cũng không rành gì. Con bé còn đếm coi gã bị &#8220;lừa&#8221; một chục là bao nhiêu. Chả là con bé nghe đâu đó môt chục ở đây không phải là 10, không phải là 12, mà có khi là 16. Hồi đầu gã bị mắc bẫy vì tật &#8230;nói thật. Dần dần gã khôn hơn. Khi bị hỏi giá, gã chỉ việc nói môt nửa giá gã mua. Gã cũng chia cho 2 cái số &#8220;chục&#8221;. Như gã trả tiền 4 chục nhưng chỉ nói với con bé là mua 2 chục.</p>
<p>Lần nào qua phà gã cũng ngồi uống ly cà phê đá đợi xe qua. Gã vẫn thích cái không khí ồn ào ở đây. Cái không khí cởi mở thân mật. Gã được gọi là &#8220;chú Tư&#8221;, còn thua cái bác tài xế gìa &#8220;bác Ba&#8221; của gã. Giá có con bé ở đây. Giá con bé được đi theo gã xuống đây. Gã mỉm cười nhẹ khi nghĩ đến cái tên &#8220;cô Tư&#8221; mà chắc chắn con bé sẽ được gọi.</p>
<p>(3)</p>
<p>Gã thả bác tài xế xuống bên hông Trường Đua, xong rú ga chạy về Ngã Sáu. Con bé đi học buổi chiều. Giờ này xe trường sắp thả con bé xuống gần chợ Thái Bình. Giờ này &#8230;Gã mỉm cười rú ga chạy giữa hai hàng cây cao trước khu trường mù. Chỉ nghĩ tới con bé thôi cũng đủ thấy mát dạ. Chỉ nghĩ tới con bé thôi cũng đủ thấy ấm lòng.</p>
<p>Gã ngừng xe trước một cái quán nhỏ bán bánh kẹo trước cửa trường học. Con bé vẫn thích ô mai. Ô mai thì nổi tiếng vẫn là ô mai mơ ở đường Nguyễn Phi Khanh. Nhưng ăn quen đâm ngán. Hơn nữa hồi này con bé đã &#8220;nhớn&#8221; hơn, con bé phải tập &#8220;ăn chua&#8221; hơn. Chị Y vẫn đùa vậy, khi không có mặt bố. Ô me chua thì có ô mai me. Con bé nghe đồn là chỉ có cái quán bánh kẹo nhỏ này có. Chua đến rụng răng. Chỉ nghĩ đến cũng đã thấy chua. Chỉ nghĩ đến cũng đã thấy chảy nước miếng.</p>
<p>(4)</p>
<p>Gã vòng xe lên đường Lê Lợi. Con bé vẫn thích sách. Mấy tháng trước, gã có thấy một cuốn tự điển nhỏ &#8220;xí&#8221; rất dễ thương. Chỉ có điều nó là tự điển Pháp &#8211; Tây Ban Nha. Gã đã đặt cọc cái ông Chà Và bán sách cũ một cuốn Thánh Kinh loại bỏ túi này cho con bé. Cuốn sách phải thật mỏng. Cuốn sách phải thật nhỏ. Thật nhỏ để chữ dính vào nhau. Thật nhỏ để không có cách chi đọc được dù là mang kính &#8220;lúp&#8221;.</p>
<p>Gã vòng xe qua đường Nguyễn Huệ lấy cho con bé một bông hồng. Gã vốn ghét hoa cắt. Nhìn thấy người ta cắt hoa là gã nổi sùng như nhìn thấy tội ác. Nhưng mua hoa cho con bé thì OK. Con bé sẽ ôm bông hoa vào cái ngực nhỏ &#8220;xi'&#8221; của con bé. Con bé sẽ áp đôi môi hồng vào chiếc lá non. Con bé sẽ nâng niu cái bông hồng như một tín đồ nâng niu tà áo chúa.</p>
<p>(5)</p>
<p>Gã không thấy con bé bước xuống chiếc xe micro bus trắng. Chỉ có mộ chuyến xe về từ trường con bé. Gã đã đợi 15 phút trước giờ xe đến. Chiếc xe chưa ngừng là gã đã biết không có con bé trên xe. Bình thường con bé cười nhiều nhất. Bình thường tiếng con bé ríu rít như tiềng chim. Chiếc xe micro bus đi đã lâu mà gã còn ngồi đó. Chưa bao giờ gã thấy con bé xa thật xa như vậy. Ngay cả khi gã ở thật xa. Ngay cả khi gã đang lặn lội ở một nơi nào thật xa con bé.</p>
<p>Gã chạy tới hội Việt Mỹ &#8230;cầu âu. Chả là có lần gã nghe con bé muốn đi học lại anh văn. Vẫn không có tăm hơi con bé. Nhìn những cái váy &#8220;Mỹ không ra Mỹ Việt không ra Việt&#8221; là gã biết ngay không có con bé ở đó. Nghe những tiếng cười gượng là gã biết ngay không có con bé ở đó. Gã vẫn chờ cho đến khi cái váy cuối cùng khuất sau ngã ba. Chưa bao giờ gã thấy con bé xa thật xa như vậy. Ngay cả khi gã ở thật xa. Ngay cả khi gã đang lặn lội ở một nơi thật xa con bé.</p>
<p>(6)</p>
<p>Gã đậu xe bên hông trường Hưng Đạo. Cơn mưa nhẹ đã đến từ bao giờ. Những ngọn đèn đường vàng vọt đã soi bóng trên con đường Cống Quỳnh ướt nước từ bao giờ. Con bé không có ở nhà. Căn gác nhỏ của con bé tối đen như mực. Căn gác nhỏ của con bé lạnh như một lâu đài bỏ hoang. Chưa bao giờ gã thấy căn gác nhỏ của con bé xa mặt đường như vậy. Chưa bao giờ gã thấy căn gác nhỏ của con bé xa những ngọn đèn vàng như vậy. Chưa bao giờ gã thấy căn gác nhỏ của con bé xa những cơn mưa nhỏ như vậy.</p>
<p>Gã đậu xe sau nhà thờ Huyện Sỹ. Gã vẫn nghe con bé nhắc nhà VK ở gần đâu đây. Gã vẫn nghe con bé kể những lần đi đến nhà VK chơi về qua nhà thờ Huyện Sỹ. Cơn gió lạnh đã đến từ bao giờ. Cơn mưa nhẹ đã lớn hơn từ bao giờ. Chưa bao giờ gã thấy con bé xa những con gió lạnh như thế. Chưa bao giờ gã thấy con bé xa những cơn mưa như thế. Chưa bao giờ gã thấy con bé xa gã như thế.</p>
<p>(7)</p>
<p>Gã rời quán DaDa vào gần giờ giới nghiêm. Cơn mưa dầm đã đi qua. Cơn mưa dầm đã nhường chỗ cho cơn mưa nặng hạt. Con đường loang loáng nước. Con đường chỉ có gã và những ngọn đèn đường. Gã đã thấy con bé dời quán trước khi cơn mưa nặng hạt. Gã đã thấy con bé được che lên vai chiếc áo khoác dầy. Gã đã thấy con bé được che lên đầu chiếc ô thật lớn. Gã đã thấy con bé được vây quanh bởi một đám đông người, cái đám đông xa la. Gã thấy con bé sao xa lạ.</p>
<p>Gã không ghé về nhà mà lái xe lên thẳng cư xá Thủ Đức. Gã sẽ phải đi xa trở lại vào sáng sớm mai. Thì ra con bé là một nàng công chúa. Mà gã, gã lại chỉ là môt tên du mục. Một tên du mục đi nhiều đến nỗi &#8220;rêu chẳng kịp bám&#8221;.</p>
<h3><span style="font-weight: bold;">Người Gọi Gió &amp; HươngKiềuLoan</span></h3>
<p>Tặng &#8221; Gío.&#8221;</p>
<p>( Trích series Cầu Gió. no. 7/22)</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>©T.Vấn 2013</p>
]]></content:encoded>
					
					<wfw:commentRss>https://t-van.net/h%c6%b0%c6%a1ngki%e1%bb%81uloan-nggnng-cng-cha-v-tn-du-m%e1%bb%a5c/feed/</wfw:commentRss>
			<slash:comments>0</slash:comments>
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Lưu Na: CUỐI MẮT, TRỜI NGHIÊNG</title>
		<link>https://t-van.net/l%c6%b0u-na-cu%e1%bb%91i-m%e1%ba%aft-tr%e1%bb%9di-nghing/</link>
					<comments>https://t-van.net/l%c6%b0u-na-cu%e1%bb%91i-m%e1%ba%aft-tr%e1%bb%9di-nghing/#respond</comments>
		
		<dc:creator><![CDATA[Lưu Na]]></dc:creator>
		<pubDate>Wed, 27 Nov 2013 15:10:00 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Góc Văn]]></category>
		<category><![CDATA[lưu na]]></category>
		<category><![CDATA[thơ văn]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://7076e870b2.nxcli.io/?p=15483</guid>

					<description><![CDATA[Mùa hè, mùa hè. Nơi tôi ở không có tiếng ve. Tôi chắc mình không còn bao giờ được nghe lại tiếng ve. Trong gắt gay nhăn nhíu tôi đi tìm một hương mát, và thực không biết mình mong tìm kiếm gì ở đất trời này. Dốc quanh không cao cũng chẳng xa, nhưng [&#8230;]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<p><a href="https://t-van.net/wp-content/uploads/2013/11/clip_image00221.jpg"><img loading="lazy" decoding="async" style="background-image: none; float: none; padding-top: 0px; padding-left: 0px; margin-left: auto; display: block; padding-right: 0px; margin-right: auto; border: 0px;" title="clip_image002" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2013/11/clip_image002_thumb18.jpg?strip=all&fit=354%2C386" alt="clip_image002" width="354" height="386" border="0"></a></p>
<p>Mùa hè, mùa hè. Nơi tôi ở không có tiếng ve. Tôi chắc mình không còn bao giờ được nghe lại tiếng ve. Trong gắt gay nhăn nhíu tôi đi tìm một hương mát, và thực không biết mình mong tìm kiếm gì ở đất trời này.</p>
<p>Dốc quanh không cao cũng chẳng xa, nhưng nó đưa mình rời hẳn dòng xe cộ bụi mờ, biệt hẳn tiếng lao xao của phố phường chộn rộn. Ngửa mặt hít vào chút gió. Nằm dài trên bờ thành, toàn thân thấm chút hơi ấm của nắng nung bờ đá, mặt đón làn gió mỏng vờn qua. Cuối bờ mắt khép là cả một vòng thành phố xanh mờ, nghiêng xa dưới chân đồi. Thành phố nghiêng nghiêng, trời nghiêng nghiêng. Tưởng như mọi thứ đang từ từ tuột xuống một bên, và những gánh nặng tả tơi như cũng dần buông lỏng trôi đi. Tưởng như trời nghiêng vai trút bớt vào hư không những buồn phiền của nhân thế. Là cái nghiêng của đất trời, hay là cái nghiêng của lòng, mà cuối mắt tôi vương hạt bụi trong. Khi xưa tôi vẫn có cái thú nheo mắt nhìn sâu vào một hạt trong, của bụi nước, của bụi kim tuyến lấp lánh, hoặc vành ly thủy tinh, để thấy phản chiếu một ảo ảnh, một hình dáng lạ nơi đáy giọt trong nhỏ bé ấy… Tôi lăn mình xuống thảm cỏ êm. Giọt nước mắt âm thầm nhỏ xuống.</p>
<p>Em nhỏ, rồi em đã đến đỉnh đồi này. Nằm xuống đây em. Em nằm dang tay úp mặt. Em có hít vào lồng ngực mùi cỏ nồng, mùi đất ẩm. Em có sung sướng nghe làn gió thoảng qua tai rì rào. Có tiếng cười lao xao vỡ ra trong nắng. Sao tôi giạt tới nơi này, sao em giạt tới nơi này. Sơn cúc ở đây, bên vòng cỏ xanh non, là sơn cúc trắng; không phải đóa sơn cúc võ vàng bên đồi khô của người lính năm xưa. Em chắc không biết người lính ấy vẫn theo em góc bể chân trời. Nhưng em nhỏ. Này em nhỏ. Tôi với em như hai trong vạn mảnh gỗ ngắn ngủi gập ghềnh nằm chặn giữa hai đường sắt song song của cuộc đời. Chuyến xe lửa đời chạy miên man hoài trên đường sắt đó, tràn qua tôi, tràn qua em, chạy suốt trên chuỗi thời gian lành lạnh mịt mù. Chuyến xe đời đó cũng đã có lần qua ngọn đồi có con đường Sơn Cúc, em biết không. Bây giờ, nằm ở đây, nơi cuối mắt có vạt trời nghiêng, em có thầm thương nhớ một khoảng trời xanh úa cũ. Giữa xanh mướt cỏ êm giữa biếc trời mây trắng, đóa cúc héo khô năm nào vẫn đứng trong mắt tôi. Vạt trời xanh nghiêng vẫn không che khuất nổi chân đồi dĩ vãng. Tôi vẫn nuôi hoài ước ao có được một phút êm đềm mát ngọt giữa đất trời nắng cháy bên em. Và tôi đã có em, một ngày nắng hạ. <em>Này em, có nghe đời nghiêng…</em></p>
<p>Em vẫn nằm im trên thảm cỏ, dang tay úp mặt. Nhưng dường như vai em rung, phải em đang khóc? Ồ em, tôi muốn ngăn tôi lại để đừng nhìn vào lòng em, để em vẫn còn một khoảng trời riêng, nhưng giọt nước mắt em rơi thấm xuống làn cỏ mềm êm ả cũng đang nhỏ giọt trong lòng tôi. Tôi ước không gian thời gian cùng đứng lại, để tôi nghe được giọt thầm gieo. Có phải em giận mình thờ ơ , có phải em giận mình nông nổi, có phải em buồn uổng chút chân tình. Em nhỏ, em hãy khóc, khóc cho vơi bớt nặng nhọc của cõi lòng. Rồi em hãy nghiêng mắt nhìn thành phố. Em xem, nghiêng theo triền đồi, thành phố kỳ ảo nơi cuối mắt là điều có thực. Những khi lòng quá tràn đầy những nỗi niềm riêng, em hãy đến đây để được thấm chút hơi ấm nơi lưng chút xanh nghiêng nơi cuối mắt, chút hoan lạc của gặp gỡ tình cờ. Hạnh phúc là điều rất đơn giản, có khắp mọi nơi, mà sao chúng ta cứ quẩn quanh tìm trong vô vọng? Em nhỏ, hãy về nơi triền đồi nghiêng nơi đây. Em sẽ tìm lại được im ả của lòng. Lắng trong tiếng gió em sẽ nghe được lời vỗ về của đất trời. Và em nhỏ, tôi sẽ luôn có nơi đây để hứng những giọt buồn phiền. Em nhé…</p>
<p>Chiều đã tàn. Mảnh trăng tròn đã nhô lên nơi cuối đường, trong ánh chập choạng của hoàng hôn và lập lòe đèn sao mới tỏa. Tôi phải về, về lại chốn đời lao xao dẫu ước mình được nằm mãi nơi đây. Đã không còn ánh mây tím ngoài xa ven biển, và gió đã mang theo hơi lạnh phủ chân đồi. Tôi phải về. Ngập ngừng một bước chân. Đời đã cạn, nhưng có hề chi. Khi tới lúc, tôi mong mình về kịp nơi này để nằm xuống đây nghiêng nghiêng triền dốc, cho mọi khổ đau tuột khỏi vai mình. Nhè nhẹ im hơi hồn tôi sẽ được bay trôi lên ngọn cao kia đang đùa trong gió. Tôi sẽ được quyến với mây trời với gió biển. Biết đâu tôi sẽ được nghe tiếng một người. Trên dốc dồi nghiêng.</p>
<p><strong>Lưu Na</strong></p>
<p><strong>09/14/2012 </strong></p>
<p>&nbsp;</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>©T.Vấn</p>
]]></content:encoded>
					
					<wfw:commentRss>https://t-van.net/l%c6%b0u-na-cu%e1%bb%91i-m%e1%ba%aft-tr%e1%bb%9di-nghing/feed/</wfw:commentRss>
			<slash:comments>0</slash:comments>
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Đỗ Xu&#226;n T&#234;: Thanksgiving &#8211; m&#249;a biết ơn, m&#249;a tạ ơn</title>
		<link>https://t-van.net/d%e1%bb%97-xun-t-thanksgiving-ma-bi%e1%ba%bft-%c6%a1n-ma-t%e1%ba%a1-%c6%a1n/</link>
					<comments>https://t-van.net/d%e1%bb%97-xun-t-thanksgiving-ma-bi%e1%ba%bft-%c6%a1n-ma-t%e1%ba%a1-%c6%a1n/#respond</comments>
		
		<dc:creator><![CDATA[Đỗ Xuân Tê]]></dc:creator>
		<pubDate>Mon, 25 Nov 2013 22:54:00 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Góc Văn]]></category>
		<category><![CDATA[thơ văn]]></category>
		<category><![CDATA[đỗ xuân tê]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://7076e870b2.nxcli.io/?p=15478</guid>

					<description><![CDATA[Từ thuở sơ khai, con người vốn có hai đặc điểm là lòng hay kiêu ngạo và có tật hay quên. Kiêu ngạo càng cao khi thấy mọi vật mình có đều do công sức mình làm ra, mọi vật làm ra thì ta phải hưởng, chẳng cần biết trên đầu có ai, dù việc [&#8230;]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<p><a href="https://t-van.net/wp-content/uploads/2013/11/clip_image00220.jpg"><img loading="lazy" decoding="async" style="background-image: none; float: none; padding-top: 0px; padding-left: 0px; margin-left: auto; display: block; padding-right: 0px; margin-right: auto; border: 0px;" title="clip_image002" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2013/11/clip_image002_thumb17.jpg?strip=all&fit=354%2C223" alt="clip_image002" width="354" height="223" border="0" /></a></p>
<p>Từ thuở sơ khai, con người vốn có hai đặc điểm là lòng hay kiêu ngạo và có tật hay quên. Kiêu ngạo càng cao khi thấy mọi vật mình có đều do công sức mình làm ra, mọi vật làm ra thì ta phải hưởng, chẳng cần biết trên đầu có ai, dù việc ngày mai chẳng ai biết chắc, để rồi tự mình quên đi Đấng làm ra mọi sự, cầm chắc mọi sự, kể cả sự sống của từng người, ‘chẳng qua như hơi nước, hiện ra một lát rồi lại tan ngay’.</p>
<p>Cho nên tôn giáo nào cũng vậy, luôn dạy dỗ tín đồ <em>khá cẩn thận, e quên Đấng Tạo Hóa là Cha chung của chúng sinh,</em> đặc biệt khi đã no đủ, làm ăn hanh thông, của cải tài sản dư dật, lòng người dễ sanh thái độ tự cao, và nảy mầm thói vô ơn.</p>
<p>Nhận biết được điều này, không ai thấm thía bằng những người di dân đầu tiên đặt chân lên xứ Mỹ, sau khi bôn ba trải qua phong ba sóng dữ, đi bảy còn ba, đến được đất liền lại phải đương đầu với cảnh đói khát, dịch bệnh, khí hậu, thổ nhưỡng, thổ dân, ác thú, thiên tai…cuối cùng họ đã sống sót và có mùa gặt hái thu hoạch sản vật đầu tiên trên vùng đất mới.</p>
<p>Biết tạ ơn trời đất, họ lập ra lệ Tạ ơn hàng năm vừa là dịp bày tỏ không quên Ơn phước Thượng Đế ban cho và cũng để nhắc nhở những người đến sau theo dấu chân họ luôn hiểu rằng <em>Thanksgiving, đồng nghĩa với mùa biết ơn, mùa tạ ơn, </em>chẳng phải trên xứ Mỹ này mà ý nghĩa của nó đã lan tỏa càng ngày càng phổ cập trên phạm vi cư dân toàn cầu. <em></em></p>
<p>Nhắc đến Thanksgiving người ta hay nói theo ‘mùa’ do xuất phát từ truyền thống của nó, nhưng thái độ biết ơn và hành động tạ ơn từ thuở khai thiên lập địa lại là những việc con người hành xử thường xuyên. Tôi nhớ đâu đó, một tông đồ của Chúa Giê-su, ông đã dạy tín đồ, ‘<em>Chớ lo phiền chi hết, nhưng trong mọi sự hãy dùng lời cầu nguyện<strong>, nài xin và sự tạ ơn</strong> mà trình các sự cầu xin của mình cho Thiên Chúa.’</em></p>
<p>Mặc nhiên hai chữ ‘tạ ơn’ sợ con cái Chúa hay quên, sứ đồ Phao-lô đã đặt ngay trong ngữ cảnh ‘nài xin, tạ ơn’ đi đôi với nhau để ngay trong lúc xin đã biết tạ ơn.</p>
<p>Nhớ lại chuyện xưa, người lãnh đạo dân Do Thái đã dặn dò dân sự của ông vừa thoát vòng nô lệ một khi vào được đất hứa khá biết ơn Đức Chúa Trời, và ăn ở trung tín cùng Ngài trong nơi đất mới, ta thấy có nhóm từ, ‘Vậy ngươi sẽ được ăn no nê…’ nên chi ngày nay qua lễ Tạ ơn, theo tập tục xứ Mỹ, họ tổ chức một bữa ăn gia đình, xum họp con cháu bạn bè vào đúng giấc xế trưa ngày Thứ năm của tuần lễ cuối tháng 11 mỗi năm, một bữa ăn thật no nê đúng nghĩa, kiểu như bữa chiều 30 Tết của người Việt quê mình cũng không ngoài ý nghĩa tạ ơn Trời đất tổ tiên qua một năm làm ăn sinh sống theo chu kỳ vận hành của thời gian.</p>
<p>Cũng trong ngày này, không phải chỉ no nê cho chính mình, mà còn phải nghĩ đến những người chung quanh, những khách kiều ngụ, các người góa bụa, các kẻ mồ côi ở trong thành cùng đến ăn uống no nê cho vui. Một thông lệ đã thành thói quen hàng năm, cứ gần đến Lễ Tạ Ơn, chỗ tôi ở lại nhận được một phiếu kêu gọi ủng hộ tùy tâm 5 đô/phần, để họ tổ chức hàng chục ngàn khẩu phần ăn Thanksgiving cho cả chục ngàn người vô gia cư quanh vùng L.A. và phụ cận.</p>
<p>Là những người di dân gốc Việt đã một lần bỏ nước ra đi vì những động cơ khác nhau, nay trên đất kiều ngụ chúng ta đã được no đủ, nhưng đất Mỹ chưa phải là ‘thiên đàng’, mà nhìn quanh biết bao nan đề của cuộc sống vẫn xảy ra nhãn tiền trong mỗi gia đình, trong từng cộng đồng, trên toàn xứ Mỹ. Vẫn còn cảnh những người không đủ cơm ăn áo mặc, những người vô gia cư, mất việc, phá sản, những gia đình có sự xào xáo, bạo hành, đổ vỡ, mất mát, chia ly, những linh hồn còn lạc mất, những cá nhân đánh mất niềm tin, những người mắc vòng lao lý trong chốn lao tù, những số phận bị hàm oan vu khống, những người ốm đau nan y bệnh tật, những thanh niên lâm cảnh nghiện ngập, những người già cả neo đơn, những em bé bị bỏ rơi lang thang ngoài phố, chưa kể những nạn nhân của thiên tai, chiến tranh, dịch bệnh, khủng bố, kỳ thị xảy ra hàng ngày trên trái đất này…</p>
<p>Biết được như vậy, để rồi cùng nhau chúng ta tùy theo thói quen tâm linh của mỗi người dâng lời tạ ơn Thượng Đế và nài xin Thiên Chúa thương sót, thêm sức, an ủi, vỗ về, chữa lành, bù đắp, giải oan…cùng ban sự bình an, tình yêu thương, và sự no đủ cho mỗi cá nhân, cho từng gia đình trong Mùa Tạ Ơn năm nay.</p>
<p>(*)<em>Trùng hợp với thời điểm đất nước láng giềng là Philippines với hàng triệu người đang lâm cảnh màn trời chiếu đất vì cơn bão cực mạnh Haiyan, để tỏ lòng với người anh em đã cưu mang giúp đỡ người Việt tỵ nạn hàng mấy thập niên qua, xin quí độc giả quan tâm hỗ trợ bằng sự hiệp thông cầu nguyện và đóng góp cụ thể qua những cơ quan cứu trợ gần gũi với cộng đồng hoặc cơ sở tôn giáo gần nhất. (xin đọc thêm bài của <a href="https://t-van.net/?p=15168">Trần Trung Đạo</a> trên website này)</em></p>
<p><strong><em>Đỗ Xuân Tê</em></strong></p>
<p>Cali, Thanksgiving, 2013</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>©T.Vấn 2013</p>
]]></content:encoded>
					
					<wfw:commentRss>https://t-van.net/d%e1%bb%97-xun-t-thanksgiving-ma-bi%e1%ba%bft-%c6%a1n-ma-t%e1%ba%a1-%c6%a1n/feed/</wfw:commentRss>
			<slash:comments>0</slash:comments>
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Lưu Na: BÓNG TỐI (2)</title>
		<link>https://t-van.net/l%c6%b0u-na-bng-t%e1%bb%91i/</link>
					<comments>https://t-van.net/l%c6%b0u-na-bng-t%e1%bb%91i/#respond</comments>
		
		<dc:creator><![CDATA[Lưu Na]]></dc:creator>
		<pubDate>Wed, 20 Nov 2013 00:33:00 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Góc Văn]]></category>
		<category><![CDATA[lưu na]]></category>
		<category><![CDATA[thơ văn]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://7076e870b2.nxcli.io/?p=15300</guid>

					<description><![CDATA[Tranh: Trần Thanh Châu NƯỚC ĐI LÀ NƯỚC KHÔNG VỀ (1) ĐẤT VỠ TRO TÀN (3) 1. Mải chơi game, Thái không biết xe đã qua những trạm nào và trạm đang dừng đây là trạm nào. Người ào xuống chưa hết hẳn đã có chân thò lên len vào. Thái xuống đại. Ra khỏi [&#8230;]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<p><a href="https://t-van.net/wp-content/uploads/2013/11/clip_image00212.jpg"><img loading="lazy" decoding="async" style="background-image: none; float: none; padding-top: 0px; padding-left: 0px; margin-left: auto; display: block; padding-right: 0px; margin-right: auto; border: 0px;" title="clip_image002" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2013/11/clip_image002_thumb10.jpg?strip=all&fit=354%2C266" alt="clip_image002" width="354" height="266" border="0" /></a></p>
<p align="center"><em>Tranh: Trần Thanh Châu</em></p>
<p><a href="https://t-van.net/l%c6%b0u-na-n%c6%b0%e1%bb%9bc-di-l-n%c6%b0%e1%bb%9bc-khng-v%e1%bb%81/">NƯỚC ĐI LÀ NƯỚC KHÔNG VỀ (1)</a></p>
<h4 class="elementor-heading-title elementor-size-default"><strong><a href="https://t-van.net/?p=57337">ĐẤT VỠ TRO TÀN (3)</a></strong></h4>
<p><strong>1</strong>.</p>
<p>Mải chơi game, Thái không biết xe đã qua những trạm nào và trạm đang dừng đây là trạm nào. Người ào xuống chưa hết hẳn đã có chân thò lên len vào. Thái xuống đại. Ra khỏi trạm 2 góc đường, Thái đứng trước một club có tượng ba con khỉ nho nhỏ trên vòm cửa ra vào. Biết chỗ nào rồi. Thái thẩn thơ dạo phố phường, ghé một tiệm sách. Ngày thường, tiệm không đông lắm. Thái đứng lẩn quẩn nhìn những món đồ chơi nho nhỏ bán kèm, như một tiệm chạp phô ở quê nhà. Đứng lâu lâu, Thái lại đi, rồi lại dừng ở một tiệm khác. Quanh một góc đường, cờ phướn đủ sắc màu phần phật bay, những lá phướn hình chữ nhật treo dài theo chiều cột vươn cao, vẽ những logo, tranh cảnh, và hoa văn trang trí. Tuần này nhạc hội opera diễn vở mới. Dưới lòng đường, xe bus nhịp nhàng ghé bến rồi lại nhập vào lòng đường với taxi và những chiếc xe hơi màu sắc xinh tươi. Taxi ở đây không “hỗn” như taxi bên Los Angeles, xe hơi chạy cũng nhanh nhưng không inh ỏi hùng hổ như những thành phố đông người nơi khác. Quẩn quanh, dù đây là phố trung tâm thì cũng dường chỉ vài chục con đường, những địa điểm du lịch cách nhau chẳng bao xa.</p>
<p>Gió bắt đầu nổi lên nhè nhẹ và ánh trời đã dịu. Có lẽ Thái phải về. Thái trở lại trạm lấy chuyến ngược về và xuống ở đường John. Giờ tan sở xe cộ tấp nập, Thái thong thả leo từng bực thang lên cầu bắc ngang đường sắt ngó xuống đám đông thân mật ấm cúng ở bên dưới. Ga buồn hiu hiu, không biết xe lửa có còn chạy ngang qua. Quang cảnh thật đơn sơ, tựa như cái ga xe lửa ở ngã sáu Sài Gòn năm nào _ một chút nhếch nhác một chút thờ ơ vào những buổi chiều tắt nắng, như bây giờ.</p>
<p>Thái nhớ chuyến đi núi Bửu Long với Mây năm lớp 7. Hai đứa nghe ai chỉ vẽ không nhớ, ra ga xe lửa ngã sáu mua vé đi Thủ Đức. Xuống xe lửa bắt xe lam hay xe lôi gì đó vào núi Bửu Long. Lên chùa trên núi vòng quanh thẩn thơ, leo trèo ngắm ngó và cãi nhau vặt với mấy thằng nam sinh cũng bầy đặt lên núi trêu gái. Ba bốn giờ hai đứa lục đục đón xe trở lại ga để về Sài gòn. Vui nhất là chặng băng ngang đồng vắng, chỉ có cây lau và hoa cỏ không tên hai bên đường rầy. Thái và Mây rủ nhau ra ngồi bậc thềm xe cho mát, nhìn hàng cây chậy giật lùi khi xe lửa băng qua. Chợt dưng một ông lính ở đâu bước ra nạt,</p>
<p>_<em>Hai cô không được ngồi như vậy, nguy hiểm lắm!</em></p>
<p>_Mắc mớ gì tới ông ?</p>
<p>_<em>Nhưng tôi có bổn phận giữ gìn an toàn cho dân!</em></p>
<p>_Ớ, ai làm gì đâu mà thiếu an toàn.</p>
<p>Lằng nhằng, Mây và Thái vẫn ngồi lì ngắm cảnh. Ông lính không biết còn hay đã vào trong, nhưng chỉ 5, 10 phút sau Mây và Thái bật cười nghe tiếng ông trên đầu:</p>
<p>_&#8230; <em>Ở đây bốn mùa Xuân Hạ Thu Đông, nhưng bây giờ mùa Xuân không còn nở hoa …</em></p>
<p>Ngó lên hóa ra anh đang tán một chị bà ba lụa đen da trắng nõn son phấn phơn phớt nhưng nét tỉ mỉ coi rất đẹp gái. Thái háy Mây rồi cất to giọng :</p>
<p>_<em>Ê mày, tao nhớ mình chỉ có 2 mùa mưa nắng chứ làm gì có 4 mùa Xuân Hạ Thu Đông phải không?</em></p>
<p>_Đúng, mày nói đúng. Mây cũng to mồm phụ họa mắt liếc lên.</p>
<p>Chị đẹp cười tủm tỉm có vẻ ngượng vì bị tán một cách nhà quê, ông lính trợn mắt rồi đánh trống lãng nói chuyện khác… Xe về tới ga, hai đứa nhảy uỵch xuống rồi mỗi đứa mỗi ngả về nhà cho kịp giờ cơm chiều nếu không sẽ bị cú đầu.</p>
<p>Những kỷ niệm vớ vẩn thời thơ dại mà nhớ hoài, Thái có cảm nghĩ mỗi đứa nhóc lớn lên trên xứ nghèo đều quí đồ chơi và kỷ niệm rất mực vì nó trở nên một phần nào đó trên thân thể tâm trí mình, đến như cái ga xe lửa một lần qua cũng vương vào óc mấy mươi năm để bây giờ Thái đứng nơi đây mà tưởng đứng tại quê nhà năm cũ. Thái hiểu vì sao mình cắt ngắn một tuần thăm quê hương để vòng về đất Úc, chốn quê hương thứ hai những tưởng là cuối cùng.</p>
<p>Trong cái lạnh bắt đầu loang theo bóng tối, Thái chầm chậm xuống bậc thang đón taxi trở về căn nhà Thái vẫn còn giữ trống từ ngày rời sang Mỹ.</p>
<p>Một mình trong chốn của mình, Thái thay quần áo, mở gói giấy lấy mấy món ăn đã mua sẵn lúc xuống phố xếp ra bàn. Thái pha một bình trà nhỏ và bắt đầu ăn bữa tối. Căn nhà vẫn sạch sẽ ngăn nắp nhờ anh Thắng vẫn thường xuyên qua thăm ngó giữ gìn giúp Thái. Một chốn để tình thân có nơi bám víu, như dây tơ hồng phải quấn vào một hàng rào nào đó rồi mới có thể đong đưa. Thái ăn xong vào giường thầm nghĩ đến những việc cần phải làm ngày mai, những nơi muốn ghé, thăm hỏi người quen bè bạn. Chỉ thoáng chốc là Thái đã sắp xếp xong những cái tên và nơi chốn. Nằm trên giường nệm cũ, Thái nghe một nỗi hân hoan ấm áp, một chút gì đó như hơi thở phào sau cuộc phiêu lưu. Thái không biết mình có còn trở về sống lại nơi đây nữa hay không, nhưng rõ ràng căn phòng này mảnh đất này đã giữ một phần con người Thái mà chỉ khi trở về nằm vào chỗ cũ Thái mới thấy ra cái phần thiếu vắng trong mình khi xa Úc.</p>
<p>Trong cái êm ấm của chốn rất riêng, Thái an tâm nghĩ lại chuyến đi vừa qua. Thái chẳng biết mình đi tìm cái gì, chỉ là một thôi thúc ngày càng mãnh liệt từ ngày đến bên ông K.</p>
<p>Ông K. đã nhiều tuổi lắm, nhưng dường như ông không có tuổi. Bên những cái cằn cỗi mệt mỏi của tuổi đời hình như trong ông luôn có một tuyển thủ hằng hướng về một cuộc tranh tài nào đó một cách không mệt mỏi. Thái luôn thấy mến trọng ông như mến trọng một đội trưởng can trường trước trận đời. Và Thái thích ngồi bên ông để biết một mảng lịch sử đang từ từ trôi xa, xa khuất tầm mắt, xa khỏi ký ức níu kéo góp nhặt của mọi người trên đất tạm dung này.</p>
<p>Mỗi câu chuyện ông kể, về một người, về một việc, đều làm sống lại một phần lịch sử mịt mờ mà Thái không thể tìm thấy nơi trang sách. Bởi vì chính ông là một trong những phần lịch sử ấy đang thoi thóp chờ ngày vào sách.</p>
<p>Ông như cây thông ngàn năm đang chuẩn bị tự chết, héo mòn từ trong ruột trở ra. Mỗi lời ông nói như tiếng lá thông xào xạc với gió, dù chỉ là những tiếng xào xạc rã rời nhưng vẫn đầy đủ hương thơm và tiếng rì rào riêng của lá thông chạm vào nhau, chạm vào cành. Nhìn ông ngày một ngày hai tự tàn héo, lòng Thái dậy một niềm xót thương cho phận người bất lực, muốn sống tràn mà ai rồi cũng phải thua trong trận tranh tài cuối với tử thần. Một ngày, Thái đến bên ông mà lạ sao ông không nhìn đến Thái, chỉ hững hờ nhìn ra cửa sổ hướng về phía mặt trời sắp tắt, ánh mắt trống rỗng lặng lờ. Lúc đó Thái thấy một niềm tuyệt vọng dâng tràn, và thực buồn cười, Thái nghĩ đến câu “đồng trụ chiết, Giao chỉ diệt.” Thái chả hiểu lắm, nhưng câu nói ấy gieo vào lòng Thái nỗi lo như một lời nguyền sắp đến kỳ hạn. Thái vẫn chưa thực hiểu ông, chưa biết hết con người ông, tựa như vẫn lờ mờ về đất nước của mình. Ông K., Thái đến với ông quá muộn màng cho kiếp này hay quá sớm cho kiếp sau? Ông quay nhìn Thái hay ông đang vọng về cuối chân trời? Thái không bao giờ hiểu rõ hết cảm nghĩ của mình về ông, chỉ thấy như bị ai xô tới lao về phía ông, như bị cuốn vào một dòng nước xoáy, và ông nghĩ gì về Thái thì là một bí mật thiên thu.</p>
<p>Thái chỉ biết, những khi ngồi bên ông, dù khác biệt cá tính, thời đại, và xã hội, giữa Thái và ông vẫn có một sự đồng cảm sâu xa bên ngoài lời nói, một niềm thông cảm như sợi chỉ chạy suốt từ xa xưa xuyên qua tâm hồn của hai người đến mãi sau. Đứng trước ông Thái thấy như tìm lại được một cái tôi đã mất nhưng rồi lại như không thấy hình ảnh mình trong gương. Và cũng có lúc Thái thấy mình bị phản bội _ ông không như là người mà Thái hết lòng mến trọng, tựa như cái quê hương mình hằng thương tưởng đó không còn phải là quê hương của mình. Lần lữa, cái thôi thúc âm thầm dần rõ rệt. Thái phải về để nhìn lại đất nước, tìm cho ra vóc dáng bóng hình của một con người sắp đi vào quên lãng.</p>
<p>Thái về, như Từ Thức về trần, thấy mình xa lạ. Thái co rúm như con sâu trước mọi người. Con người chung quanh hoặc hững hờ vô cảm hoặc xăm xoi như sẵn sàng xẻ thịt con mồi, không còn dấu tích gì của chốn xưa, đứng giữa xóm nhà mà tưởng mình đi lạc.</p>
<p>Thái đến nghĩa trang Bắc Việt thăm cô Xồi. Đất nghĩa trang mênh mông xưa đã dỡ, mồ mả hay nương rẫy đều phải chung số phận làm sân đánh golf, sân chơi tennis, cho thượng lưu mới. Nghĩa trang ấy nay chỉ còn lại một góc sau chỗ giáp với đồng không, và mang một cái tên gì đó. Cô Xồi vẫn ở căn nhà cũ bên mấy luống huệ và cúc vạn thọ. Mùa này đang gieo thược dược, không bán hoa cho khách thăm mộ thì cũng giao cho các chỗ chung quanh bán tàm tạm qua ngày.</p>
<p>Căn nhà vắng lặng êm ả, thấp thoáng ngoài kia bóng vài người lần dò thăm mộ với thẻ nhang và bó hoa trên tay. Bích mở cửa cho Thái rồi vào gọi mẹ. Cô Xồi choắt lại như một cái nắm tay, nhưng trông khỏe khoắn và đôi mắt vẫn tinh anh. Thái chào thăm hỏi, cô vui vẻ thân mật lắm mà Thái có cảm tưởng cô không biết Thái là ai. Bích khẽ gật đầu xác nhận. Lát sau cô kiếu vào nhà sau lo cơm nước. Như đồng lòng, Thái và Bích im lặng.</p>
<p>_Chú đâu?</p>
<p>_<em>Bố em đi Bắc rồi!</em></p>
<p>_???</p>
<p>_<em>Thăm thiên hạ</em>!!! Cười to. <em>Chị quên bố em là người tiếng tăm rất được yêu mến sao</em>.</p>
<p>Thái liếc mắt nhìn bàn viết kê kế bên cửa sổ. Bàn sạch tuy nhiều vật dụng lỉnh kỉnh _ cái ly đựng viết, mấy miếng giấy chi chú lăng quăng, kẹp giấy, vài quyển sách… chiếm bên phải, mé cửa sổ. Bên trái là computer với bàn phím.</p>
<p>_Chú vẫn còn viết kịch?</p>
<p>_<em>Ai cho viết mà viết. Mà cho thì cũng thôi. Bố nói cái gì người ta cho thì người ta lấy lại được. Bố chỉ làm cái điều bố muốn làm và được tự do làm, mà</em> <em>cái thời ấy qua rồi, chỉ còn là vang bóng. </em></p>
<p>_Vang bóng mà được đó đây không sướng sao.</p>
<p>_<em>Thì có bao giờ bố khổ đâu.</em></p>
<p>_Em nói vậy, chứ cả họ nhà mình cũng như thiên hạ, có ai thoát cảnh…</p>
<p>_<em>Ừ, nhưng bất cứ nơi đâu cũng có những người “bình đẳng” hơn người khác</em>!!!</p>
<p>Hai đứa cười to. Bích cười thật vô tư, nhưng Thái nghe chút điều cay đắng.</p>
<p>_Chú rất được quí trọng, em biết vậy không ?</p>
<p>_<em>Sao em lại không biết. Bố có rất nhiều bạn, nhiều người thương mến. Không những quí tài, họ còn quí nhân cách của bố</em>.</p>
<p>Thái nghe một chữ “nhưng mà” âm thầm sau lời nói của Bích. Cô Xồi gọi hai đứa vào ăn cơm. Thái sung sướng tìm lại được chút ấm áp của tình thân, của đất quê. Cô Xồi luôn ép Thái ăn món này ăn món kia còn cô thì ăn rất ít, chỉ gặm gạp xương xẩu dù đồ ăn ê hề trên bàn. Bích thản nhiên như đã quen với tính mẹ.</p>
<p>_<em>Mẹ đã quen nhường cho chồng con, cho bè bạn lúc đói khổ đến tìm mình, tới nỗi ăn sâu vào tiềm thức. Có bố hào sảng với bạn, khí phách với kẻ thù thật hãnh diện, có mẹ đảm đang hiền lành chịu đựng thật hạnh phúc. Nhưng giá mà được no thì hãnh diện và hạnh phúc hơn</em>. Lại cười to vô tư.</p>
<p>Thái đứng lên giúp cô Xồi dọn dẹp mâm chén, nhưng cô không cho Thái đụng tay vào, đuổi Thái và Bích ra trước ngồi chơi. Cô bảo Bích dẫn Thái ra thăm mấy luống hoa.</p>
<p>Hoa huệ vừa cắt giao, chỉ còn mấy thân non yếu bị gẫy gập chờ nhổ lên trồng đợt mới. Bích chỉ mái ngói tầm tầm ở cạnh cổng vào nghĩa trang nói “<em>mộ ông bà đã bốc, mẹ để cốt trong chùa đó cho dễ khói nhang.</em>” Thái nhìn không nhận ra đó là chùa, cách đó không xa cũng là một mái nhà tầm thường khác, Thái nhẹ liếc, Bích gật đầu “chị nhìn kỹ sẽ thấy thánh giá nhỏ trước cửa vào.”</p>
<p>Trời đã trưa, nắng gắt. Hai đứa vào nằm trên phản gỗ. Trời nóng nhưng nơi đây xa thành phố cũng được một khoảng thoáng gió. Tỉ tê, Thái hỏi :</p>
<p>_Em có đọc kịch của bố?</p>
<p>_<em>Không!</em></p>
<p>_Tại sao?</p>
<p>_<em>Hồi bé thì chưa biết để đọc. Lớn một chút thì đói xanh mắt đầu óc đâu mà đọc</em>.</p>
<p>_Trước 75 đâu đã khổ!</p>
<p>_<em>Mà vẫn đói đấy vì mẹ là nữ sinh, lấy bố rồi đâu có biết làm ăn gì!</em></p>
<p>Thái mơ màng suy nghĩ. Nhà Thái gần trường Bàn cờ, kể thì cũng hơi xa nhà cô Xồi nên chỉ có dịp giỗ chạp mới gặp dù Thái trạc tuổi Bích, chỉ chú Xồi thì vẫn thỉnh thoảng ghé thăm anh, đi uống cà phê. Thái ngắm nghía Bích, Bích hiền lành vô tư và rất ngoan. Bích không lấy chồng, ở vậy để chăm sóc mẹ dù bố mẹ thúc dục mãi, giờ thì đã lỡ tuổi lỡ thì, nhưng dường như Bích không bận lòng.</p>
<p>Bích nhìn Thái cười cười:</p>
<p>_<em>Chị biết không, hồi mới lớn em cũng có bồ, cũng có nhiều người thăm hỏi. Nhưng em sợ những giọt nước mắt thầm lặng trong phòng vắng của mẹ. Em sợ tiếng vét lon gạo cuối ở đáy khạp. Em sợ bộ pyjama bố cầm về những ngày ở nhà của ai đó, những lần mẹ ngã xỉu. Em không can đảm đánh canh bạc tình duyên. Có lần bố đưa em ra Bắc đi cùng cô ấy hình như để vượt biên, nhưng không biết sao bố quay về chỉ để em đi với người ta. </em></p>
<p><em>_</em>Em có bao giờ hỏi vì sao<em>? </em></p>
<p><em>_Không, cái em muốn hỏi là vì ai bố quay về, nhưng hỏi làm gì khi em cũng không dám biết câu trả lời.</em></p>
<p>_Nhưng em vẫn may mắn có người bố như chú.</p>
<p>_<em> Khi em đã lớn không còn bị cơn đói hành hạ, nhiều lúc lần giở những gì bố đã viết mong hiểu bố hơn, nhưng mở ra em thấy ngấn nước mắt của mẹ, lật một trang thấy nét xanh tái lúc mẹ ngã xuống. Thôi.</em></p>
<p>Trời chợt sập xuống, trong tích tắc mưa ào ạt đổ, rồi cũng chỉ vài phút sau tạnh hẳn. Thái ngó ra ngoài, cũng sắp tắt nắng chiều. Thái từ giã cô Xồi và Bích, nói muốn ra thăm mộ người quen. Thái chả quen ai, chỉ thấy thèm dạo quanh nghĩa trang mà không biết vì sao.</p>
<p>Thái đi vòng vòng quanh những ngôi mộ. Mưa ướt, những ngôi mộ chưa xây chẹp nhẹp đất chẩy nhão, hoa rũ ngả nghiêng bên mấy chân nhang. Mấy cái huyệt đào sẵn nước đã lưng như những cái ao tí hon. Mùi đất ẩm dậy lên sau cơn mưa, Thái choáng váng khi mới hít vào, nhưng một giây sau lại thấy lâng lâng ngây ngất. Ah, quê hương của Thái vẫn còn đó, trong gió, trong những huyệt sâu. Trời lúc nắng lúc mưa thật khó chịu. Thái kêu taxi ra về, những ngôi mộ ướt vẫn lờn vờn trong trí. Qua phố vắng một chút rồi xe nhập vào dòng bụi bặm của thành phố bận rộn. Hai bên lề những đứa trẻ chạy đuổi cười vang trong gió. Khi nhìn bọn con nít mồ hôi mồ kê mặt đỏ bừng Thái mới thấy được chút thân quen của quê nhà.</p>
<p>Xe đã vào đường Vườn Chuối, tài xế theo địa chỉ Thái ghi tính quẹo vào con hẻm lớn nhưng Thái ra dấu xuống xe. Bên kia đường là lối đâm ngang vào chợ, Thái chầm chậm đi bộ vào con hẻm to trước khi quẹo vào hẻm nhà mình. Cách đường vài căn sẽ là một nhà lầu 3 tầng của nhỏ tên Minh Phụng, rất xinh và có một nốt ruồi to ngay trên sống mũi giữa 2 mắt. Thái không biết mình nhớ con nhỏ vì cái nút ruồi lạ, hay vì cái hộp vuông vuông mà anh Thắng dạy Thái gọi là cái in-tơ-côm gắn trên tường lúc mới vào nhà nó. Con nhỏ nói để dưới gọi lên lầu trên gọi xuống không cần phải đi. Lúc đó Mây thấy nhà nó tân kỳ hết biết.</p>
<p>Gần cuối ngõ trước khi quẹo sang hẻm nhà Thái sẽ là hẻm vào nhà cô Trang, đồng tuổi với Thái nhưng là em họ của cậu. Cô Trang đẹp lắm, mắt to my rậm và môi đỏ. Hình như họ nhà Thái ai cũng da trắng má hồng. Trong xóm vẫn khen Thái đẹp, nhưng buồn cười, năm Thái 20 cũng chưa có “một mối tình để vắt vai!” Dường như lũ con trai thích yểu điệu thục nữ, không thích những cô chạy vòng sân Cộng Hòa tập cho chân dẻo cho hơi thở đều để thi bơi như Thái!!!</p>
<p>Thái vào nhà, mợ hỏi Thái thăm chú và cô Xồi ra sao. <em>Còn con Bích</em>? <em>Thì nó vẫn ở không, mợ</em>. Mợ quay vào trong dọn cơm chiều. Chỉ có hai mẹ con, ăn cơm xong mợ sang hàng xóm, Thái lên lầu.</p>
<p>Ngồi một mình nơi hàng ba, Thái nhìn xuống chung quanh lối xóm. Đèn đóm sáng choang, không hiu hắt như xưa. Không còn những tiếng cãi nhau trong một gia đình nào đó, không còn chuyện cãnh quẹ của những nhà láng giềng. Bây giờ chỉ nghe nhạc ở máy karaoke và chương trình TV trên nhiều đài khác nhau đua tiếng, những tiếng véo von liếng thoắng Thái không nghe kịp hiểu kịp. Người ta đi về xoành xoạch mà không thấy ai nói với ai một lời. Ngồi cho đến khi không còn thấy gì chung quanh chỗ mình đang ngồi, Thái trở vào nhà. Một niềm mệt mỏi cô đơn tràn ngập lòng. Từ lúc nói chuyện với Bích, Thái cứ hỏi lòng những điều Bích nói không có gì mới lạ sao mang lại cho Thái niềm tuyệt vọng, nhưng bây giờ Thái hiểu, Bích đã vẽ cho Thái chân dung ông K., hay đúng hơn, chân dung cả một thế hệ. Thái không hề can dự vào quá khứ, nhưng cứ có cảm tưởng mình có tội, dù nghĩ cho cùng Thái cũng chỉ là một nạn nhân nếu Thái đã có liên can đến những người ấy.</p>
<p>Thái muốn khóc mà không khóc được. Có những lúc Thái thèm khóc dễ dàng như Mây, nhưng chỉ thấy ráo hoảnh. Muốn không là mình cũng không phải dễ. Mây nào biết, Thái phải trốn Mây cả tuần chỉ vì sợ những giọt nước mắt sẵn sàng tuôn ra ấy. Hôm ông K. được mời làm diễn giả, Thái đến lúc cuối giờ định đón Mây và ông đến một tiệm ăn. Nhưng ông điềm nhiên giả lả rủ Thái đi cùng các người “ái mộ, ” tưởng chừng như Thái cũng là một trong những con thiêu thân. Thái lui lại, quay mặt nhìn quang cảnh nhốn nháo quanh mình. Bên trong, bóng Mây thấp thoáng sắp ra đến cửa rồi không biết sao lại trở vào. Thái chuồn thẳng để khỏi phải nhìn câu hỏi trong mắt Mây. Bây giờ nằm trong bóng đêm Thái nhớ ông K., đến cái quan hệ không thể giải thích ấy. Giải thích e buồn hơn. Mợ đã về và đã vào giường ngủ từ lâu mà Thái vẫn còn thao thức.</p>
<p>Thấy Thái chỉ quanh quẩn trong nhà không đi đâu, mợ hỏi :</p>
<p>_S<em>ao con tính ra Bắc mà lại không đi</em>?</p>
<p>_Để lần tới, mợ.</p>
<p>Đi Bắc hay đi đâu chăng nữa trên mảnh đất này, Thái có hy vọng tìm được gì không? Quê hương không thể thiếu con người, Thái mong gì một quê hương đổi khác khi lòng nhân không bắt đầu từ chính chỗ nằm của mỗi người, từ trong cái dúm nhỏ xíu giữa vợ, chồng, cha mẹ và con. Thái mong gì một nén hương giải oan cho nhau khi mình không nhận được với nhau điều lầm lỗi để tự giải oan. Ừ, thì mỗi người có quyền được giữ cho mình một bí mật, một niềm riêng, nhưng Thái thấy dường như tất cả chúng ta đã không sòng phẳng với nhau khi có thể _ chúng ta chỉ dối nhau khi có thể!!! Gia sản để lại ngày một hao hớt mà khi xem lại cũng chỉ toàn đồ giả, những đứa trẻ sẽ lớn lên, như Thái như Bích như Mây, rồi nó có sẽ thất vọng? Sẽ rất may nếu nó không biết chúng ta là ai và sẽ rất buồn vì như vậy nó không có quá khứ. Thái nhớ một bài hát đã nghe :</p>
<p><em>Rồi ngày nao yên vui</em></p>
<p><em>Ở một nơi xa xôi</em></p>
<p><em>Tim chợt nhớ tới người phương trời</em></p>
<p><em>Nghe một tiếng chim kêu lẻ loi giữa cây…</em></p>
<p><em>Thôi đất đã chua cành đã chết</em></p>
<p><em>Xin lấy dao chia lòng luyến tiếc…</em></p>
<p><em>Rừng người cây xanh tươi</em></p>
<p><em>Biển người như tay nôi</em></p>
<p><em>Ru người sống trong tình yêu người</em></p>
<p><em>Xin hãy nhớ quê hương tả tơi đắng cay</em></p>
<p><em>Nơi máu đã xây thành đắp núi</em></p>
<p><em>Nơi có gươm trong từng tiếng nói</em></p>
<p><em>Và lưới đời giăng khắp nơi… ***</em></p>
<p>Thái cắt ngắn một tuần lễ ở Việt Nam, lấy vé ghé lại Úc. Hôm từ giã mợ, Thái vào bàn thờ thắp hương cho cậu. Một giọt nước mắt tủi cực rơi trong lòng Thái. Mai sau, cho dẫu cái lý do khiến Thái bỏ quê không còn, nhưng khi đó Thái vẫn là một công dân hạng nhì như đã sinh ra, sao cam. <em>Cậu, con ước xương con được rữa trong cái huyệt võng nước kia hòa cùng máu xương cậu. Con ước hồn con quấn lấy cành huệ gẫy dập kia quyện với hồn mợ khi đó chắc cũng đã về với đất. Đó nào phải chuyện cao vời, nhưng bước chân đi thì đã xóa đường lấp lối _</em> <em>có còn cái huyệt võng nước nào cho con. Ôi, cậu, con ước cậu được nghe bài hát ấy, con mừng cậu đã không phải hát bài hát ấy</em>.</p>
<p>Thái cùng mợ mang va li ra taxi. Thái về thường xuyên nên mợ đã quen giã biệt, không khóc như lần đầu Thái về thăm. Chỉ riêng Thái vẫn khóc hoài khi đã ngồi trong lòng phi cơ dù khi về tới Sài gòn chỉ vài ngày là Thái đã nhấp nhổm muốn rời. Úc, Thái về để tìm nhặt nốt những mảnh vụn. Ở chốn rất riêng ấy Thái sẽ có thì giờ chắp vá lại mọi mảnh vụn mong tìm ra mình trong gương vỡ.</p>
<p>Thái với tay tắt đèn ở đầu giường, nhưng vẫn chưa ngủ ngay. Đêm đất Úc thì cũng như đêm mọi nơi, nhưng nó cho Thái được chôn một mảnh hồn khi đến cư ngụ, nó là nơi Thái chôn những kỷ niệm còn sót lại khi bỏ quê nhà đến đây xây lại cuộc đời. Ngày mai, sau khi đã thăm viếng gia đình bè bạn, Thái biết mình sẽ lại về ga xe lửa lúc xế chiều. Và Thái biết, khi trở lại Mỹ Thái cũng sẽ lại đến ngồi bên ông K., dù một chút lòng đã héo. Cái chưa kịp bắt đầu đã chết từ một lúc nào, chậm rải, từ từ, thắt thẻo.</p>
<p><strong>2</strong>.</p>
<p>Chiều mai Thái sẽ về tới. Mây vẫn còn một tác phẩm phải đọc trước khi kết thúc phần biên soạn về ông K., và Mây muốn mình hoàn tất công việc mà không bị ngoại cảnh chi phối. Mây lấy một ngày nghỉ.</p>
<p>Cuốn truyện không khó đọc, nhưng sao một nỗi mệt mỏi chán chường chợt thấm nhập lòng Mây. Một cuộc tình tay ba, một cuộc ngoại tình bắt đầu ngay từ chỗ chưa ai là của ai, những dằn vặt âm thầm, những lời nghi ngờ những cử chỉ cảm xúc mơ hồ tưởng là vô nghĩa được tách bạch phơi bày trần trụi. Mây chợt nhận ra mọi trang sách ông đã viết đều chỉ là nhật ký, của chính ông, trá hình dưới các nhân vật. Thiên biến vạn hóa, mọi lời nói chính là của ông _ nói với chính mình, nói với cuộc đời; chi li từng hạt bụi, cũng chỉ là ông trước cuộc đời, là trang nhật ký viết dài theo ngày tháng với những kỷ niệm, những cuộc chơi. Những cuộc chơi, a ha, Mây nghĩ mình đã bắt được ông trong những cuộc chơi. Tình yêu, ở cuốn truyện này, cũng như các mối tình trong những cuốn sách khác, đều có một khuôn mẫu: người ta tự nghi ngờ tình cảm của mình hoặc người ta mổ xẻ, thử thách cái cảm xúc của mình. Mọi mối tình đã ghi đều như những que diêm bật sáng, soi một cái gì đó trong lòng ông để ông ghi lại khi nó tắt đi, soi một góc tương lai của ông để ông hồi tưởng tương lai ấy ngay khi còn trong tuổi thanh xuân, tựa như sau khi hớp cạn lớp bọt bia trắng lạnh thì ông ngồi tỉ mỉ tả lại cái mầu vàng nâu đã nguội nhạt. “Làm phì nhiêu người tình” _ đó là lời, là ước vọng _ vô vàn chân thật, nhưng ông có bao giờ nghĩ, biết, rằng khi yêu là khi mình chả biết mình đang yêu, mình chả nghĩ được gì cả và mình chỉ thấy nao nao bồi hồi thắt thẻo? Phì nhiêu hay không, không phải rằng chính đồng cỏ yêu đương dậy mầm tươi ướt run rẩy tự nói hay sao? Không thể lắng nghe, không thể soi ngắm. Ông quá tỉnh táo trong những mối tình thì ông chả yêu ai, chỉ yêu cảm xúc suy tư của riêng mình, tựa như người đi trong bóng tối nhìn ngắm kẻ khác. Bóng tối nào che lấp hay chính ông đã tự tạo bóng tối để che lấp mình? Từng lời nói của từng nhân vật, tất cả đều thật, thật như chính ông có lần nói “<em>khi viết, điều kiện đủ là thành thật cho đến cùng, sự thành thật biểu lộ trong những cái mình viết, chứ không phải trong ý nghĩ.”</em></p>
<p>Một mình trong căn nhà của mình, hình ảnh ông K. đi lại như hiện rõ rệt trước mắt Mây, những lần hội họp, gặp gỡ, những lời đã nói những cử chỉ vô nghĩa… Ông như nhà diễn kịch tài ba trên sân khấu cuộc đời, không cần kịch bản, chỉ thuận theo hoàn cảnh mà diễn xuất. Tất cả những người từng có mặt trong những buổi gặp gỡ ấy đều trở thành nhân vật trong truyện của ông, đứng cùng ông viết từng chương sách vào không gian. Những lời ông nói, bất cứ lời nào ông nói, có khác gì đâu những câu Mây đã đọc, ở bất cứ tác phẩm nào của ông. Ông đã sống xong cuộc đời mình mấy mươi năm trước. Ông đã nhỏ xong giọt lệ “tiếc thương tuổi trẻ” tiếc thương một “nguyên đán của tình yêu.” Còn gì không cái quãng đời còn lại? Cái quan hệ giữa ông và Thái và những người chung quanh, tất cả, chỉ còn là khúc phim quá khứ quay chậm trước mắt Mây, bao vây tầm nhìn của Mây. Mây chợt thấy mình hết hơi. Thái, Thái có sợ mình sẽ thành, có biết mình đã thành một nhân vật của ông?</p>
<p>Mây buông cuốn sách. Thôi. Bây giờ phải làm cho xong một công việc đã định trước khi hết can đảm hết sức lực.</p>
<p>***</p>
<p>Mây đón Thái về, vừa kịp lúc ông K. ngã xuống. Hai đứa bước vào thấy ông đang nôn thốc tháo rồi nằm lịm. Mây gọi ambulance, khi xe đã đưa ông đi, Mây đưa Thái về nhà lấy xe rồi hai đứa cùng lái xe theo vào nhà thương. Họ đã đẩy ông vào phòng thử nghiệm. Lúc họ đưa ông trở lại phòng, ông K. đã tỉnh. Ông nằm như tàu lá chuối te tua héo úa trên chăn nệm để mặc những bàn tay khéo léo chuyền dây thay áo. Bác sĩ vắn tắt về những xét nghiệm cần thiết rồi biến mất. Dưới ánh đèn bệnh viện ông mệt mỏi khép hờ đôi mắt, bất động, chỉ bàn tay nắm lấy bàn tay của Thái là dấu hiệu của sự sống còn hiện diện. Khi ông đã thiếp vào giấc ngủ, Mây nhắc Thái về nhà tắm rửa, Mây sẽ ở lại chờ.</p>
<p>Ngồi một mình, Mây chợt ý thức mình đã quen với sự im lặng bên cạnh ông những ngày Thái vắng mặt, đến nỗi nó không còn là điều phải quan ngại, dù ngay bây giờ ông K. đang nằm bịnh. Giường bên cạnh, thân nhân đã lần lượt chào ra về vì đã gần hết giờ thăm. Ông K. đã thức từ lâu vì những cuộc chuyện trò thăm hỏi ở sát bên. Ông khẽ khàng nhắc Mây cứ về đi, không cần phải trông chừng ông. Mây đứng lên ra ngoài lấy thêm tấm chăn cho ông K. Đi đến cuối hành lang thì gặp Thái vừa ra khỏi thang máy. Hai đứa đứng lại, Mây vắn tắt những gì bệnh viện đã làm cho ông K. trong lúc Thái về nhà. Trao tấm chăn cho Thái, Mây hẹn mai sẽ trở lại, hai đứa sẽ có thì giờ nói chuyện nhiều hơn.</p>
<p>Thái bước nhẹ nhàng ngang qua giường bên ngoài, ông K. nằm giường trong. Sau tấm màn, ông vừa bấm điện thoại gọi cho ai đó. Thái nhìn vào phone trên tay mình, gần 9 giờ tối. Ông từng nói không nhớ được số phone nữa, mà lại sẵn một số để gọi, vào lúc này, giờ này? Ông K. gọi một cái tên, Thái lật đật lui ra cửa, đi dạo dọc theo hành lang. Khi Thái trở lại, ông vẫn chưa dứt cuộc nói chuyện. Thái ngẫm nghĩ rồi lặng lẽ mang tấm chăn bỏ vào chỗ chờ giặt, ra về.</p>
<p>Gió đêm thoảng nhẹ, Thái quay kính xe xuống đón chút hơi mát, rũ những sợi tóc ướt chưa kịp sấy khô lúc tắm ra. Thái lái xe chầm chậm qua hàng cây, rời khỏi khu vực nhà thương và không biết phải đi đâu vì Thái không muốn về nhà, để khỏi phải nghĩ ngợi. Mây chắc còn thức, nhưng có lẽ Mây cũng cần sự tĩnh lặng sau nửa ngày loay hoay nơi bịnh viện. Những hàng cây mờ mờ dưới ánh đèn lướt qua lướt qua. Ngang một khu mobile homes đến một bãi trống, Thái đã ra đến bờ biển. Hai ống khói cao nghệu của nhà máy lọc dầu tuôn khói trắng mờ trên nền trời đen. Xe cộ đã thưa thớt, nhưng trên cầu vẫn còn những bóng người dắt nhau ra ngắm biển đêm. Thái cũng tắt máy xe ngồi lắng nghe tiếng sóng. Một cảm giác êm ả len vào lòng. Sóng gầm rú dập vùi khi trên biển khơi, sóng dồn đập ghềnh đá những đêm đen nơi trại tỵ nạn, sóng rạt rào những lúc gió lên, sóng òa reo trải trên bãi cát. Đủ loại âm thanh nhưng có bao giờ sóng tung lời gian dối. Thái lắng im nghe, càng lúc lòng càng lắng xuống. Thiên nhiên có dối lừa ai không? Núi có dối lừa ai không? Đêm càng lúc càng trong, sắc đen như sâu thẳm. Thái quay xe ra về.</p>
<p>Buổi sáng khi Mây vào, Thái đã ngồi bên ông K. Trông ông tươi tỉnh, mặt mũi đã rửa sạch sẽ, mái tóc cũng chải gọn. Tấm áo nhà thương được tấm chăn kéo đến gần ngực chặn lại gọn ghẽ. Dẫu hơi xanh yếu, trông ông vẫn tươm tất. Thái đã dựng giường lên để ông có thể ngồi đọc báo, đầu bàn phần ăn sáng đã úp lại chờ người dọn phòng ghé lấy. Mây mỉm cười nhớ câu thơ gì đó, đại khái “tặng em cái lược chải đầu để trong giấc ngủ gặp nhau cho đàng <em>goàng</em>.” Ông đã sẵn sàng đi gặp diêm vương lúc này.</p>
<p>Mây và Thái kéo ghế xích ra cửa sổ, ngồi chỗ này có thể nhìn xuống hàng cây bao bọc chung quanh bãi đậu xe và cũng đủ khoảng cách cho ba người nói chuyện thoải mái. Thái kể chuyện Việt Nam, chuyện mợ và họ hàng, Thái tả chỗ ở bên Úc. Bác sĩ ghé vào dặn hôm nay ông K. phải làm thêm vài thử nghiệm rồi mới được về, nhưng có vẻ yên ổn. Bạn bè lục đục ghé thăm, sáng nay có người gọi, ông đã báo tin nằm bịnh viện. Nhìn quanh, Mây và Thái đồng loạt đứng lên rủ nhau đi ăn hẹn sẽ trở lại.</p>
<p><strong>3</strong>.</p>
<p>Chiếc xe đã chật cứng đồ dùng, Thái và Mây lên đường lòng phơi phới. Lộ trình vạch ra là đến Bryce Canyon, qua Zion park, rồi dừng lại ở Grand Canyon. Đi chơi cái kiểu Tây ba lô rất thú và thích hợp với Mây. Hai đứa băng ngang Las Vegas ăn bữa lỡ lúc 11 giờ sáng rồi đi tiếp. Hóa ra phải tới Zion trước rồi mới đến được Bryce Canyon. Thái cười cười như ngầm nói “đồ ngu!”</p>
<p>Zion National Park thì đẹp, nhưng gặp lúc nước cạn, giòng suối không ồ ạt được mà chỉ thắt thẻo ngang bắp chân nên Mây mau chán. Chiều tắt nắng thì Thái và Mây đã thẳng tới Bryce Canyon. Vào một nhà trọ, hai đứa vội vã vào nhà tắm bật cái bếp gas tí hon nấu hai gói mì ăn với gói rau xà lách thập cẩm mua sẵn, vài miếng chả lụa cho xong bữa rồi lăn quay ra ngủ. Lơ mơ trong cái mệt mỏi ê ẩm của một ngày trên đường, hình ảnh ông K.lủi thủi một mình bên bàn ăn như chờn vờn muốn gọi Mây thức giấc, nhưng không, Mây mệt quá rồi…</p>
<p>Hừng sáng, Thái gọi Mây dậy lên đường. Ly cà phê sáng cho một ngày rong chơi thơm chi lạ, thú nhất là biết mình sắp đến được cái nơi muốn đến, chứ có khi đến rồi lại hỡi ơi. Đường dài khô khốc, nhiều bụi lùm xùm chứ không có cây cao, nắng sáng thì chưa sao nhưng đến 10 giờ thì đã muốn tươm mồ hôi dù xe bật máy điều hòa. Mây bắt đầu lôi thức ăn vặt ra ăn lai rai giết thì giờ. Có hai đứa con gái đi chơi, mà mua nào là khô bò, kẹo, bánh, trái cây khô, mứt khô để ăn vặt; rồi là ruốc, giò lụa, lạp xưởng, mì gói, mì ly, dầu ăn, xì dầu, nước mắm, gạo, một nồi cơm điện nhỏ, một bếp gas nhỏ, một cái soong nhỏ nấu bá vạn thứ, và một bình nấu nước sôi bằng điện, trà, cà phê… Tuy nhiều món lặt vặt vậy, nhưng Thái xếp gọn ghẽ trong hai thùng giấy, và cốp xe vẫn đủ chỗ cho một cái lều với 2 túi ngủ. Nhìn Thái xếp đồ dùng vào xe, Mây tự hỏi không biết Thái ngủ giường nhiều hay ngủ lều nhiều?</p>
<p>Bryce Canyon thiệt đẹp, thiệt thỏa lòng Mây hằng mong trở lại. Hai đứa ghé vào chỗ có bán thức ăn và nước uống, ăn no một bụng rồi lấy bản đồ bắt đầu tìm lối vào núi. “Đường vào tình yêu có trăm lần vui có vạn lần buồn…” Mây ư ử hát, cái bản đồ chỉ, có nhiều tuyến cho du khách tản bộ thăm cảnh, mỗi tuyến ghi rõ khoảng cách, mức độ khó khăn và những đặc điểm của vùng. Biết sức mình nên Mây đề nghị đi tuyến dễ nhất ngắn nhất. Hình như đây cũng là tuyến được đi nhiều nhất, đường phẳng mòn vì bước chân, lúc nào cũng nghe có tiếng lao xao cười nói của tốp người đã đi qua, của tốp người sắp đi tới.</p>
<p>Tuy dễ cũng phải lên cao xuống thấp. Khi đứng dưới lòng khe núi nhìn lên khoảng trời hẹp xanh biếc trên cao, nhìn những bờ vách cam cam dập dờn lượn vòng lúc thụt sâu lúc vươn ra che lối đi bên dưới Mây thấy lòng lao xao như miếng lá khô sắp vỡ mà vẫn bay là là trong gió cho đến tận cùng của sức đưa. Những cây phong. Mùa này nơi Mây ở lá chỉ mới hơi chớm vàng. Lần đầu tiên thấy rừng lá chuyển màu khi thu đến, Mây thấy không có gì kỳ diệu hơn. Mây thích những cây phong thân trắng lá đỏ, thân cây thon nhỏ vừa vừa như một hàng rào xinh xắn dọc đường, đẹp như một bức tranh. Dần dà, tầm mắt đưa lên, Mây bắt đầu thích những cây sycamore cao với nhiều màu sắc xanh vàng cam nâu đỏ cùng lúc reo vui trong gió, cây sugar maple cao tàn thâm nâu cành rậm đan vào nhau như thể một trời lá vàng che phủ trên đầu. Những loại cây to này có sắc lá đậm đà chứ không thắm trong như phong Na Uy, phong Canada. Đến một lúc nào đó, Mây thấy có những cây lá thu không khoe sắc. Thân cổ thụ rất to và cao, mầu trắng mốc loang lổ, lá xanh xạm như có lớp lông mịn che mờ. Bọn hắn đứng bên đường, trong công viên rộng, nơi sân trường, sừng sững mà như xa lánh trần gian. Những chiếc lá cũng vàng theo với mùa thu, nhưng không thắm sắc như những loại phong khác. Loại cây này chỉ đẹp khi lá vàng khô. Những chiếc lá to dầy, đeo dai dẳng trên cành đu đưa theo gió cho đến khi giờ của nó điểm, nó phải lìa cành. Nó chao chao như diều bay la đà trong không gian rồi đáp xuống mặt đất lao xao rộn rã chứ không rơi lả tả như đám lá phong đỏ quặt quẹo héo rũ quắt queo (!) Dưới thân cây cô tịch, những chiếc lá dầy khô chồng lên nhau thành một biển lá dầy mấy tấc, và vỡ tan lạo xạo dưới bước chân người. Từ lúc nghe được “tiếng” thu thì lòng yêu mến của Mây dành cho cây phong trắng lá đỏ như phai lạt bớt, Mây thấy những thân cây trắng muốt với lớp lá màu đỏ chói chang quả đúng là một thứ trang sức, tựa như những trái cầu thủy tinh hay những ngôi sao lấp lánh treo trên cành thông cho dịp Giáng Sinh, một thứ trang sức, không thực là thu _ của đất trời, của tiếng êm đềm tịch lặng, của phong sương…</p>
<p>Cứ ngửa mặt mà mơ tưởng, Mây suýt té vì vấp phải mô đá trên đường mòn. Thái đã kịp thời túm Mây lại, không quên mắng cho mấy câu té tát cái tật đứng nơi này tưởng nhớ nơi kia. Mây cười, xin ngồi nghỉ thêm một lúc. Chặng đường mà bản đồ ước lượng một tiếng rưỡi được hoàn tất sau ba tiếng vừa đi vừa nghỉ, vì Mây không đủ sức đi đường dài như Thái. Hai đứa lên tới điểm vọng cảnh thì trời cũng sắp tắt nắng, Thái dục Mây đi thêm vài nơi trước khi về chỗ ngủ.</p>
<p>Trên đường ra khỏi park, Mây và Thái ghé một cái chợ nhỏ mua ít rau cải. Hai đứa lấy phòng xong thì bắt đầu nấu nướng “lén.” Nồi cơm điện cắm dưới đất, trên mặt bàn phòng tắm đặt bếp ga nấu chút canh rau cải, sau đó chiên vài cái lạp xưởng. Cơm chín, hai đứa ăn cơm với lạp xưởng, ruốc và canh. Cuối một ngày ăn bữa cơm của mình thấy đã, biết chắc mình không bao giờ lạc mất khi còn ăn được món ăn của quê hương.</p>
<p>Thứ bảy, Thái và Mây đến Grand Canyon. Mây nhớ lần đầu tiên bước chân đến nơi này đã nín thở. Grand Canyon, hai tiếng vĩ đại mà người ta cứ gán cho nhau cho một công trình gì đó của loài người trở thành lố bịch trước cái hùng vĩ của thiên nhiên. Thái vào đất cắm trại ghi tên rồi tìm vào miếng đất của mình sửa soạn hạ lều. Mây chỉ đứng bên làm thợ vịn để đưa Thái những thức cần, nắm cái này kéo cái kia. Sau 1 tiếng loay hoay, lều đã dựng xong. Thái và Mây đi rửa mặt rồi bắt đầu đi thăm cảnh. Núi đá sừng sững, trùng trùng điệp điệp, màu sắc rực rỡ thay đổi theo ánh nắng theo thời tiết ấm lạnh. Những nơi khuất nắng, màu núi xanh tím và như có ánh biếc. Những nơi nắng chói chang, màu cam vàng bạc xám đua nhau lấp lánh. Xa xa những vầng sương mây bao quanh núi, thỉnh thoảng có những cánh chim ưng chao liệng như những vệt đen mờ đâm thẳng xuống vực sâu. Trời đứng gió, trong và ấm.</p>
<p>_Thái có đọc Đường Xưa Mây Trắng?</p>
<p>_<em>Sao?</em></p>
<p>_Có chương “Con hãy học hạnh của đất,” đại khái đất thu chứa mọi thứ nhơ bẩn của thế gian nhưng bản chất nó không dơ, không vì thế mà dơ. Giờ đứng nơi đây, Mây cảm nghĩ hạnh của núi e còn to tát hơn. Nắng mưa cây cỏ cùng muông thú, mây trời, sương, gió, những cơn bão lốc hay thú dữ… mọi thứ chỉ như làn gió thoảng, bám lấy núi mà không xao động được núi, nương lấy núi mà không thêm không bớt được gì cho cái vĩ đại thâm sâu. Núi đứng im lặng bình thản, như dung chứa như chấp nhận như che chở như thờ ơ… Mây nghĩ…</p>
<p>_<em>Mà Mây có nghe được tiếng núi?</em></p>
<p>_Không.</p>
<p>_<em>Không phải ai cũng nghe được</em>.</p>
<p>Mây nhìn Thái ngẩn ngơ.</p>
<p>Chiều đã tắt. Mây và Thái về lều làm bữa cơm chiều. Hai đứa ăn cơm trong yên ắng của núi đá. Chỉ có tiếng gió xào xạc chung quanh. Cái lạnh chụp xuống thật nhanh chóng.</p>
<p>Vào lều chui vào túi ngủ, bây giờ Mây mới cám ơn Thái vì cái ngăn nắp và thành thạo trong việc chuẩn bị những thức cần khi đi trại vùng khí hậu lạnh. Thái đã dắt Mây đến chỗ chuyên bán đồ dùng cho sinh hoạt ngoài trời để mua loại túi ngủ, mền lót lưng, cũng như quần áo ngủ, làm bằng loại hàng đặc biệt _ nhẹ nhưng giữ ấm đủ cho nơi băng giá. Loại quần áo đồ dùng thông thường không thể đáp ứng được khí hậu khắc nghiệt của miền núi.</p>
<p>Trong lều, hai đứa bật ipad lên xem phim Mây đã download sẵn.</p>
<p>_Điên. Mây nói. Ở nhà êm ấm coi TV màn ảnh lớn thì không, rồi lên đây lạnh giá gập ghềnh để xem phim bằng cái thứ nhỏ như tấm bảng của học trò Bàn Cờ!</p>
<p><em>_Thú đau thương</em>, Thái nháy mắt với Mây.</p>
<p>Nhưng chỉ xem được một lúc thì 2 đứa cùng chán, xoay ra tán dóc.</p>
<p>_Sao mày bỏ Úc tới đây?</p>
<p>Thái trầm ngâm.</p>
<p>_<em>Tao nghĩ mình đã không cẩn thận để lạc bước tới đất này, và tao đã hối tiếc. Bằng lòng ở lại là chuyện đẩy đưa, nhưng rồi tao hiểu rõ hơn điều gì quan trọng với tao. </em></p>
<p>_Nghĩa là?</p>
<p>_<em>Tao vốn không bỏ đất Úc đến đây vì ông K. Quá khứ và danh tiếng của ông không là gì với tao, tác phẩm của ông cũng là vô nghĩa. Ông K. nghĩ gì về tao là một chuyện mù mờ, mà tao cũng không mong muốn một quan hệ gì hơn là tình bạn. Nhưng có những lằn ranh đi qua rồi không lùi lại được. </em></p>
<p>_Đâu có gì ngăn mày bước qua lối khác?</p>
<p>_<em>Có những cảm thông sâu xa không thể ép uổng hay chối từ, điều đó làm tao lưu luyến. Nhưng có lẽ bản chất của tao làm cho việc bước đi khó khăn hơn</em>.</p>
<p>_???</p>
<p>_ <em>Thi bơi, thắng hay thua không quan trọng. Quan trọng là phút vươn tay rẽ nước sãi tới trước, chạm bàn chân vào thành hồ búng mình xoay lại tiếp vòng sau. Giây phút vượt lên, nước rẽ tuôn theo tấm thân thấy như mình vừa được sinh ra vừa tan trong nước. Vượt lên, vượt lên. Thắng, huy hoàng trong 5 phút, thua _ buồn mấy tháng, nhưng nước là vĩnh cữu, cuộc chơi là vĩnh cữu, đồng đội là vĩnh cữu.</em></p>
<p><em>_</em>Dính líu gì tới ông K.<em>?</em></p>
<p>_<em> Tao đọc tất cả những gì ông đã viết, để thấy tâm hồn và khối óc đó lớn tới nỗi tao tiếc những dấu vết thế hệ đã bám trên con người ông, tao tiếc những nếp gấp trong cư xử của ông, tao tiếc những vạt bóng tối đã bao quanh ông. Gạt đi những eo sèo nhân thế, ông là một người bạn lớn, trọn nghĩa chữ lớn, một người bạn tao hết lòng cảm quí. Sao đành bỏ đồng đội trong một cuộc giao tranh, bỏ bạn trong một cuộc thử thách? Tao không bỏ bạn.</em></p>
<p>Những lời của Thái nhắc Mây nhớ một cái chết, tình bạn của 2 người lính. Một người vượt đại dương để đến với một người những giây phút sau cùng. Người ấy ân cần chăm sóc nâng đỡ chùi rửa, nắm chặt bàn tay nhau để bạn mình thơ thới đường hoàng phút tử sinh. Và người ấy khóc giọt nước mắt can trường thương bạn phải đau đớn lúc lâm chung. Ôi, Mây đổi kiếp này và nhiều kiếp nữa để được gặp những phút ân tình đó, để được chia cái tình tinh tuyền ấy, cái tình trong ngần như nước mưa mà Thái đã làm cho ông K. Nơi nhà thương Thái đã không lăng xăng âu yếm chăm lo cho ông như những bà vợ, những người tình _ trong những yêu thương ấy còn có bóng dáng cái tôi, vì chưng người ta có sự ràng buộc với nhau. Thái chỉ tận tình săn sóc ông với tất cả chân thành yêu mến để một người đã quyết không lỗi hẹn với tử thần được ung dung thư thái đàng hoàng bước tới điểm hẹn.</p>
<p>Khi nãy Thái hỏi Mây có nghe được tiếng núi. Đêm núi im mà lại rất nhiều âm thanh không thể phân biệt được là tiếng gì. Chỉ muôn loài sinh vật cỏ cây quanh núi có thể nghe và hiểu tiếng núi. Bây giờ trong cái trong lặng của trời đêm, Mây nghe như có tiếng u u mơ hồ từ vách núi, vọng lại những âm vang của ý tưởng trong đầu Mây. Gió thổi không mạnh nhưng đủ tạt vách lều, làm cho mảnh trời sao trên cao cũng như đong đưa theo gió. Trong cái hoang vu, Mây tự hỏi, lần này nữa là bao nhiêu lần Thái đã đi, đến một nơi nào đó, đến bên núi, một mình? Thái dường quen thuộc và thân mật với núi. Bên cạnh, Thái im lặng ngước nhìn bầu trời qua màn lưới trong ở chóp lều. Mây thấy hối mình đã dồn bạn tới chỗ khó khăn, nhưng vẫn không dừng được niềm thắc mắc.</p>
<p>_Mày vẫn không nói được tại sao chưa bước đi?</p>
<p>Thái vẫn lặng im. Ánh đèn măng xông tạt ngang khuôn mặt trắng như thạch cao của Thái, bao bọc nó bằng một ánh vàng trong. Những tia máu hồng li ti dưới má của Thái như ửng lên, nhưng nét mặt Thái không tỏ một cảm xúc gì. Thái mím môi, thong thả nói:</p>
<p>_<em>Nhiều lúc tao cũng tự hỏi mình một câu từa tựa như vậy. Ngồi bên ông K., có những lời không nói, như tiếng núi, âm thầm mà lại vang xa, khiến mình mãi lắng nghe. Những điều buộc tao với ông dường như quanh quẩn với kiếp người với đất nước. Lâu dần có lúc tao cảm nghĩ ông là một miếng quê hương còn sót lại, trôi giạt trên đất này, miếng quê hương mà tao muốn hay không cũng không thể buông bỏ dẫu đi xa đến đâu…</em></p>
<p>Thở dài. Thái sẽ còn đi, Mây biết vậy.</p>
<p>_Thái có e một lúc nào đó mình không về kịp?</p>
<p>_<em>Phải đành. Xuống nước, không muốn chết chìm thì đừng đương cự với nước. Cách thua tốt đẹp nhẹ nhàng nhất là chấp nhận mình thua. Và bước đi. Tao đang tập thua, tập bước đi</em>.</p>
<p>Tiếng núi u u dồn vang lên như tới chỗ bao la của một bản hòa tấu. Mây thấy bồi hồi. Cũng đành. Thái, thì cứ vậy đi. <em>“Thua, thua nữa, thua cho bảnh,” </em>Mây bật thốt. Thái nhìn Mây đợi một lời giải thích. <em>“Fail, fail again, fail better,” Nguyễn Quốc Trụ dịch.</em> Thái im lặng. Mây cũng im lặng. Hai đứa ngó nhau, bất chợt cùng thốt “điên” rồi bật cười vang. Tiếng cười dội vào bóng tối.</p>
<p><strong>Lưu Na</strong></p>
<p>11/02/2013</p>
<p>***Nhìn Lại Em Đi Anh, Nguyễn Đình Toàn.</p>
<p>©T.Vấn 2013</p>
]]></content:encoded>
					
					<wfw:commentRss>https://t-van.net/l%c6%b0u-na-bng-t%e1%bb%91i/feed/</wfw:commentRss>
			<slash:comments>0</slash:comments>
		
		
			</item>
	</channel>
</rss>

<!--
Performance optimized by W3 Total Cache. Learn more: https://www.boldgrid.com/w3-total-cache/?utm_source=w3tc&utm_medium=footer_comment&utm_campaign=free_plugin

Page Caching using Disk: Enhanced 

Served from: t-van.net @ 2026-07-05 22:18:47 by W3 Total Cache
-->