thơ – T.Vấn và Bạn Hữu https://t-van.net Văn Học và Đời Sống Fri, 02 Sep 2022 13:03:51 +0000 en-US hourly 1 https://wordpress.org/?v=6.7.7 https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2022/02/t-van-favicon.png?strip=all&resize=32%2C32 thơ – T.Vấn và Bạn Hữu https://t-van.net 32 32 Tiểu Lục Thần Phong: TA CŨ KỸ https://t-van.net/tieu-luc-than-phong-ta-cu-ky/ Fri, 02 Sep 2022 12:42:00 +0000 https://7076e870b2.nxcli.io/?p=57411

Đêm Thu – Tranh: Mai Tâm

Tôi vẫn sống như những ngày xưa cũ

Tháng tám về thiên hạ bảo vào thu

Dòng thời gian vốn bất tận liên tu

Đã dừng lại với tôi từ yêu tận

.

Đời vẫn thế năm xoay vần thời vận

Hết cũ rồi ắt trở lại thanh tân

Tình yêu ơi ai cũng đã một lần

Dù thế nào ta vẫn cần nhau lắm

.

Ai một thuở tình đam mê say đắm

Biết bây giờ còn gì lại trong tâm

Ngọn lửa lòng lụi tắt vẫn âm âm

Hình bóng cũ vẫn lặng thầm ngày tháng

.

Trời tháng tám phương ngoại còn hạ trắng

 Đất trời thanh bàng bạc những đêm trăng

 Tiếng lòng ai vẫn muôn thuở đãi đằng

 Tôi cũ kỹ nên ngỡ rằng tâm huyết

.

Bụi thời gian lại trắng trong tinh khiết

Từ ta yêu mắt biếc tạ ơn đời

Cuộc tình ơi ta chưa nói một lời

Còn thấm đẫm từng làn hơi ta thở

.

Đất hai nơi đâu cũng đầy bỡ ngỡ

Có gì chăng hỡi những gã ngu ngơ

Đời bạo liệt, đời không phải bài thơ

Em nhớ cho, ta chưa hề em nhé!

.

Ta cũ kỹ giữa dòng đời tươi trẻ

Ta hoang vu như suối dã bờ khe

Thân lữ khách hoài lận đận đi về

Hờn đa mang thương hai quê một cõi

Dòng sanh tử cứ mịt mờ sớm tối

Đã bao lần còn chỉ chút này thôi

Ta cùng người bao lăn lộn nổi trôi

Tình tương tư còn bồi hồi bất tận

.

Nghiệp mưu sinh áo cơm sanh lẩn thẩn

Tiền quyền năng ràng buộc lấy tâm thần

Tài hoa nào sánh nổi một đồng cân

Chuyện chữ nghĩa chuyện lắm phần phiền toái

Tiểu Lục Thần Phong

Ất Lăng thành, 08/22

©T.Vấn 2022

]]>
Phan Tấn Hải: Thơ Sẽ Chữa Lành Thế Giới https://t-van.net/phan-tan-hai-tho-se-chua-lanh-the-gioi/ https://t-van.net/phan-tan-hai-tho-se-chua-lanh-the-gioi/#respond Mon, 11 May 2020 16:48:04 +0000 https://7076e870b2.nxcli.io/?p=42849

Bến Bình Yên – Tranh: Mai Tâm

Hãy hình dung rằng sẽ tới một thời thế giới không còn bom đạn, và thay cho những trận mưa bom sẽ là những trận mưa thơ. Hãy hình dung rằng những góc phố Sài Gòn, Hà Nội và khắp thế giới sẽ dựng lên các bia đá khắc lên những dòng thơ ca ngợi hòa bình và tình thương. Như thế, thơ sẽ chữa lành thế giới, sẽ đẩy nhân loại bước rời xa các u tối chiến tranh, khi những ánh mắt căm thù hốt nhiên chỉ nhìn thấy những trận mưa hoa đầy chất thơ. Thậm chí, hát thơ còn chữa bệnh được: lịch sử ghi rằng trong thời Vua Hùng Vương, hát thơ chữa được sản nạn, hóa giải chứng đau bụng đẻ để bà bầu êm ái cho ra em bé an lành.

Ông bà mình từ xa xưa đã nhìn thấy tác dụng của thơ. Khi nhìn thấy người thương bước tới sân đình giữa làng, trong khi lời còn rất rụt rè, thì dòng thơ ca dao có thể nói lên rất nhiều, dù là chàng ướm lời với nàng hay ngược lại:

Qua đình ngả nón trông đình,
Đình bao nhiêu ngói, thương mình bấy nhiêu.

Sau khi hai dòng thơ trên được hát lên, lời nói nào sau đó cũng dư thừa. Vì thương nhớ là những gì rất trừu tượng, rất mơ hồ, lấy chữ nào mà gói được ý nghĩa cho trọn vẹn, và lúc đó thơ mới hiện lên.

Hay là lời người con thương nhớ mẹ. Nói gì về mẹ? Cụ bà tóc trắng, thân gầy, một thời lụm khụm sau bếp và trước sân, rồi một thời mẹ ra đi vĩnh viễn. Nói gì về mẹ, khi nước mắt người con ràn rụa và hình ảnh mẹ chỉ còn là quá khứ? Lúc đó, ông bà mình mới dùng tới hát thơ và rồi trở thành ca dao:

Mẹ già như chuối ba hương,
Như xôi nếp mật, như đường mía lau.
Đường mía lau càng lâu càng ngát,
Xôi nếp mật ngào ngạt hương say.
Ba hương lây lất tháng ngày,
Gió đưa mẹ rụng, con rày mồ côi.

Như thế, mẹ trở thành chuối, xôi, đường… là những gì ngon ngọt đã trở thành thân thể người con, và rồi mẹ biến mất theo gió. Hãy hình dung rằng thay vì sáu dòng thơ trên, chúng ta có cách nào nói lên được cảm xúc thiết tha thương nhớ như thế? Có vẻ như bất khả, vì thơ nơi đây đã gói trọn thành công những gì rất mơ hồ thương nhớ trong hồn người, y hệt như làn khói rất khó nắm bắt.

Trong khi đó, tiếp thị kinh doanh cũng là một nghệ thuật. Có khi vài dòng ca dao là đủ để quảng cáo và đưa vào ký ức người nghe các hình ảnh cần thiết. Như các dòng ca dao tiếp thị sau với các địa danh đều ở trong huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hoá:

Ai về nhớ vải Định Hòa,
Nhớ cau Hổ Bái, nhớ cà Đan Nê,
Nhớ dừa Quảng Hán, Lưu Khê,
Nhớ cơm chợ Bản, thịt dê Quán Lào.

Như thế, không nói nhiều, không hô hào ồn ào, nhưng ý thơ sẽ ngấm từ từ vào tâm thức người nghe. Có phải thơ đã tự thân có sẵn một khung trời đón nhận trong não bộ chúng ta? Phải chăng tự trong tâm thức, chúng ta đã dị ứng với các ngôn ngữ trật nhịp thơ?

Thơ như thế, là gắn liền với máu thịt của chúng ta. Thơ đã cho chúng ta nhìn thế giới qua chân trời mới: ngả nón là lời mời gọi vào thế giới của nhau, chỉ vào ngói đình là chi vào niềm thương nhớ, sau khi mẹ biến mất là hóa thân ngay vào chuối, vào xôi, vào đường, và những người con Thanh Hóa đi xa đã chỉ vào nỗi nhớ gì rất cụ thể như vải, cau, cà, dừa… Thế giới trước mắt đã hóa thân thành một thế giới trong màn sương khói thi ca. Như thế, sự thật trong thơ không phải là sự thật khả lượng của thế giới vật lý. Trong khi địa cầu chúng ta đầy những hỗn loạn, tranh chấp, bom rơi đạn bắn, với âm vang hàng ngày trên TV từ trên vị trí cao nhất trở xuống cho tới giang hồ đứng bến là những lời chửi mắng chát chúa… thì thế giới thơ hiện ra khi chúng ta mở lại các trang sách cũ, tìm học lại những giá trị ông bà mình để lại trong các dòng thơ. Tại sao thơ làm chúng ta nhẹ lòng được như thế. Có vẻ như nửa thực, nửa hư khi chúng ta nhìn về hình ảnh thương nhớ với ngả nón, ngói đình…

Bài thơ đầu tiên của dân tộc Việt hình như là bài thơ mấy dòng do vua Lạc Long Quân nói lên khi tuyên bố ly hôn cùng bà Âu Cơ để chia trăm con làm hai hướng, nửa đi theo mẹ, nửa đi theo cha. Hình ảnh về truyền thuyết này cũng là cuộc ly hôn thuận thảo nhất trong lịch sử nhân loại, vì cổ sử không nói chuyện xích mích gì giữa hai người khai sinh ra dân tộc Việt.

Tự điển Bách khoa Mở ghi rằng Lạc Long Quân (truyền thuyết ghi rằng sinh năm 2825 trước Tây lịch) có tên húy là Sùng Lãm, là một vị vua truyền thuyết của lịch sử Việt Nam. Lạc Long Quân được xem là vị vua của nhà nước sơ khai Xích Quỷ trước nhà nước Văn Lang.

Thuyết này ghi rằng Lạc Long Quân và Âu Cơ được xem là thủy tổ sinh ra dân tộc Việt Nam theo truyền thuyết “bọc trăm trứng.” Lạc Long Quân có thể là danh hiệu truyền lại trong dã sử của một tù trưởng đã có công trong việc đi đến thống nhất các bộ tộc người Lạc Việt. Con trai ông là tù trưởng bộ lạc Văn Lang đã thống nhất thành công 15 bộ lạc, thành lập nhà nước Văn Lang, xưng hiệu Hùng Vương đời thứ nhất.

Một phiên bản kể về mối tình Rồng-Tiên này ghi rằng vua Lạc Long Quân thường xuyên lên bờ dạy dân việc cày cấy nông tang, đặt ra các đẳng quân, thần, tôn, ti, các đạo cha con, vợ chồng, đôi khi trở về Thủy Phủ mà trăm họ vẫn yên vui vô sự, không biết do đâu được thế. Hễ dân có việc lại lớn tiếng gọi Long Quân rằng: “Bố ơi! Sao không lại cứu chúng tôi!” Long Quân tới ngay, sự linh hiển của Long Quân, người đời không ai lường nổi. Đột nhiên một ngày nọ, xuất hiện một bệnh dịch lớn mà Long Quân không trị được. May mắn thay đã có một tiên nữ tên Âu Cơ từ trên núi xuống ra tay giúp đỡ, nhờ thế mà mọi người mới vượt qua bệnh dịch này. Âu Cơ đi khắp bốn phương để giúp đỡ và chữa trị cho những người đang lâm bệnh và gặp khó khăn. Nàng có lòng từ bi và có tài về y thuật. Một ngày nọ, một con quái vật làm nàng sợ hãi. Nàng liền biến thành một con sếu mà bay đi. Lạc Long Quân, là thần rồng từ biển cả, thấy nàng đang gặp nguy hiểm liền cầm lấy cục đá và giết tên quái vật. Sau đó tình yêu đã nảy nở giữa hai người và họ cưới nhau. Âu Cơ sinh ra một bọc trứng có 100 người con. Một hôm Lạc Long Quân nói với Âu Cơ:

Ta là giống Rồng,
mình là giống Tiên,
thủy thổ khắc nhau,
không ở cùng được.

Than ôi, bài thơ không vần, rất ngắn, rất khô khan này đã đoạn lìa một tình nghĩa phu thê rất thơ mộng của dân tộc. Hai người bèn chia con mà ở riêng. Trăm con vâng theo, sau đó từ biệt mà đi. Âu Cơ và năm mươi con lên ở đất Phong Châu suy phục lẫn nhau, cùng tôn người con cả lên làm vua, hiệu là Hùng Vương, lấy tên nước là Văn Lang, đông giáp Nam Hải, tây tới Ba Thục, bắc tới Động Đình hồ, nam tới nước Hồ Tôn (nay là Chiêm Thành). Vua đời đời thế tập gọi là Hùng Vương, không hề thay đổi.

Sau khi chia tay với Quốc mẫu Âu Cơ, Lạc Long Quân cùng 50 người con còn lại xuôi đường lần ra Nam Hải. Đến đất Bình Đà bây giờ (xã Bình Minh, huyện Thanh Oai, thành phố Hà Nội), cách biển không xa, sông nước mênh mang, Lạc Long Quân truyền cho các con dừng chân dựng trại, chọn đất này làm nơi dựng xây cơ nghiệp.

Tuy nhiên, làn điệu thơ xa xưa dường như là hát, chớ không phải là ngâm, vịnh như đời sau. Một trong những dấu tích thơ được ghi từ xa xưa là trong điệu hát xoan. Một trong các cơ duyên ban đầu này trong thời Vua Hùng Vương, hát thơ chữa lành được chứng đau bụng đẻ. Theo nhà nghiên cứu Phạm Thị Thiên Nga (Về miền Lễ Hội cội nguồn dân tộc Việt Nam – ấn bản 2008), Làng Cao Mại (huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ) có một truyền thuyết như sau:

“Vợ Vua Hùng mang thai đã lâu tới ngày sinh nở, cứ đau bụng mãi mà không đẻ được. Người hầu tâu rằng: Có nàng Quế Hoa xinh đẹp, múa giỏi, nên đón về múa hát có thể làm đỡ đau và sinh nở được, vợ Vua Hùng nghe lời cho mời nàng Quế Hoa tới (Quế Hoa ở thành Phong Châu), vâng lời triệu, Quế Hoa đến chầu vợ Vua. Bấy giờ, vợ Vua đang lên cơn đau đẻ dữ dội mới bảo nàng Quế Hoa đứng trước giường múa hát. Quế Hoa hát hay, tay uốn chân đưa, người mềm như tơ, dẻo như bún ai cũng phải mê. Vợ Vua mải xem múa hát không  thấy đau, sinh được 3 người con trai khôi ngôi đẹp đẽ. Khi ấy đang mùa xuân, Vua Hùng hết lời khen ngợi Quế Hoa mới bảo các Mỵ nương học lấy các điệu múa hát ấy sau được gọi là hát xoan.” Cũng có truyền thuyết giải thích rằng: Xoan là từ gọi chệch tiếng xuân (vì vợ Vua tên thật là Xuân). Do tục kiêng kỵ tên huý, nên hát Xuân được gọi là hát xoan.

Y khoa hiện nay đã chứng minh rằng thơ có chức năng chữa lành nhiều vết thương cho nhân loại. Các bác sĩ tại hai bệnh viện Yale University School of Medicine và University College London School of Medicine trong khi chăm sóc bệnh nhân đã đề nghị thơ như một phương thuốc, trước tiên là để tự hiểu cảm xúc và sau nữa để giúp bệnh nhân bước vào một thế giới thơ, nơi xa lìa bạo lực và đau đớn của đời thường đang tràn ngập màn hình TV. Nhiều bệnh viện tại Hoa Kỳ, Anh quốc và Châu Âu hiện nay dùng thơ như một pháp trị liệu, và phương pháp này gọi là “poetry therapy” với người chăm sóc trong lĩnh vực này sẽ được qua các khóa huấn luyện của tổ chức có tên là International Federation for Biblio / Poetry Therapy (IFBPT, Liên Đoàn Trị Liệu Bằng Sách và Thơ).

Truyền thống dân tộc nào cũng gắn liền với thơ. Chúng ta rất khó hình dung được có một dân tộc nào với một ngôn ngữ riêng lại không có một truyền thống thơ. Dân tộc Việt Nam có thơ bốn chữ, thơ năm chữ, thơ lục bát, thơ bảy chữ, thơ tám chữ, thơ tự do có vần và thơ tự do không vần. Hay, có khi kết hợp chung nhiều hình thức thơ vào một bài, như bài phú Cư Trần Lạc Đạo của vua Trần Nhân Tông.

Gắn liền trong ngôn ngữ là âm thanh. Do vậy, thơ tự động gắn liền với âm thanh. Ngay cả thơ tự do không vần cũng có tác dụng âm thanh. Bởi vì não bộ nhân loại đón nhận âm thanh và giải nghĩa theo kiểu riêng của mỗi ngôn ngữ. Trong y khoa có phương pháp dùng máy đo fMRI (functional magnetic resonance imaging) để xem phản ứng của não bộ phản ứng đối với thơ. Máy đo fMRI khám phá ra một điều ai cũng biết, rằng nhân loại có phản ứng khác nhau khi nghe ngôn ngữ đời thường và ngôn ngữ thơ. Trong ngôn ngữ thơ, bên cạnh âm vang còn có hình ảnh, và hình ảnh đời thường (như: nón, đình, ngói…) khi trở thành hình ảnh thế giới thơ bỗng nhiên có tác dụng trong những phẩn khác nhau của não bộ.

Phương pháp fMRI đo các hoạt động của não bộ bằng cách đo các biến đổi gắn liền với dòng huyết lưu, dựa vào sự kiện rằng dòng máu chảy trong não bộ gắn liền hoạt động của thần kinh. Khi một khu vực nào trong não bộ được sử dụng, lưu lượng máu chảy vào khu vực đó tăng thêm. Máy đo fMRI sử dụng các từ trường và sóng radio để vẽ đồ hình các cơ phận trong cơ thể.

Thực ra, y khoa đã áp dụng thơ trị liệu từ vài thế kỷ nay, với việc đọc văn/thơ và sáng tác văn/thơ dùng làm pháp hỗ trợ trị liệu các bệnh về căng thẳng. Theo sử ghi lại, Pennsylvania Hospital, bệnh viện đầu tiên tại Hoa Kỳ, dùng phương pháp văn học trị liệu từ giữa các năm 1700s. Tới đầu thập niên 1800s, Bác sĩ Benjamin Rush đưa ra phương pháp dùng thơ trị liệu cho các bệnh nhân. Năm 1928, nhà thơ và là dược sĩ Eli Griefer khởi đầu thành lập các nhóm “thơ trị liệu” (poemtherapy) tại hai bệnh viện khác nhau với hỗ trợ từ các bác sĩ tâm lý Jack L. Leedy và Sam Spector. Sau khi Griefer từ trần, Leedy và nhiều người khác tiếp tục đưa thơ vào tiến trình trị liệu, từ đây thành lập Hội Thơ Liệu Pháp (Association for Poetry Therapy) trong năm 1969.

Nhà nghiên cứu James Pennebaker đưa ra kết quả nghiên cứu của ông cho thấy rằng khi hướng dẫn bệnh nhân sáng tác văn học bày tỏ cảm xúc (expressive writing) chỉ trong 15 phút trong vòng 4 ngày cho thấy hiệu quả tốt cho sức khỏe đo lường tương đương như tới khám trong phòng mạch bác sĩ và giảm được các than phiền triệu chứng từ bệnh nhân. Nghiên cứu này của ông sử dụng cách viết văn bày tỏ cảm xúc để chữa các vết thương từ các sự kiện căng thẳng gây chấn thương.  Nghiên cứu này của Pennebaker được ông tường trình trong sách “Writing to Heal: A Guided Journal for Recovering from Trauma and Emotional Upheaval” (Viết để Chữa Lành. Xuất bản lần đầu 2004).

Nghiên cứu trên cho thấy sáng tác văn học (thể loại bày tỏ cảm xúc) làm tăng lực cho hệ thống miễn nhiễm trong cơ thể bệnh nhân, các tác dụng tốt với cả bệnh nhân bị suyễn, ung thư và đau khớp, giảm mức độ căng thẳng bắp thịt, giảm huyết áp và giảm mức độ tốc độ nhịp tim đập, tác phong bệnh nhân thay đổi dài hạn, ảnh hưởng thái độ bệnh nhân giúp tăng hiệu quả làm việc trong sở và trong trường học.

Nhiều cuộc nghiên cứu tương tự cũng đã thực hiện. Tác phẩm “The Writing Cure: How Expressive Writing Promotes Health and Emotional Well-Being” (Chữa Lành Bằng Viết, ấn hành lần đầu năm 2002) của hai nhà nghiên cứu Stephen J Lepore và Joshua M Smyth cũng cho thấy kết quả tương tự, sáng tác văn/thơ thể loại bày tỏ cảm xúc giúp cho cả bệnh nhân ung thư, giúp cả bệnh nhân trẻ em, giảm cao máu, vân vân.

Trong khi đó xưa cổ nhất trong phương pháp thi ca trị liệu là Đức Phật, người đã sáng tác hàng trăm ngàn bài thơ trong suốt một đời hoằng pháp. Trong khi Kinh Tập (sách thứ 5 trong Tiểu Bộ Kinh) trọn vẹn là thơ, toàn bộ 71 bài kinh là 71 bài thơ, trong đó hai phẩm cuối trong năm phẩm là các bài thơ do Đức Phật ứng khẩu trong khi trả lời 32 vị học giả Bà La Môn. Nghĩa là, bên cạnh việc trình bày giáo pháp, có thể (chúng ta suy đoán, có thể không chính xác) rằng ứng khẩu làm thơ nơi đây còn là một cuộc trình bày kỹ năng ngôn ngữ để người nghe nhập tâm sâu hơn, và rồi hai phẩm này trở thành kinh nhật tụng sơ thời cho tứ chúng trong những năm đầu hoằng pháp của Đức Phật.

Tương tự, Kinh Pháp Cú là do chư tăng kết tập các lời ứng khẩu thơ của Đức Phật trong nhiều sự kiện, và thơ trở thành kinh và sự kiện trở thành tích truyện. Do vậy, Kinh Pháp Cú có nhiều phiên bản khi chư tăng đi ra nhiều hướng để hoằng pháp, có bản Pali, bản Hán tạng (dịch theo tiếng Sanskrit), bản tiếng Tạng ngữ (cũng dịch từ Sanskrit), bản Gandhara… Như thế, thơ là một phần xương gân máu tủy trong Kinh Phật. Thậm chí, ngay cả văn xuôi cũng mang nhiều chất thơ, như Kinh Duy Ma Cật, Kinh Hoa Nghiêm… Và như thế, khởi đầu phương pháp thơ trị liệu là hệ thống Kinh Phật đồ sộ.

Không chỉ Đức Phật, các trưởng lão tăng và trưởng lão ni cũng để lại khối gia tài thơ đồ sộ. Nghĩa là, sinh thời của Đức Phật, giới trí thức được thu hút quy y và tu học rất là đông, và các vị trí thức từng một thời tinh thông các bộ Vệ Đà đã trở thành các cột trụ đứng bên cạnh Đức Phật để tu học và hoằng pháp.

Như vậy, chữ nghĩa không vô ích. Chúng ta trong cõi này hãy rủ nhau làm thơ, đọc thơ, ngâm thơ, in thơ, hát thơ… Nếu chúng ta không đủ sức nương vào thơ để ngộ nhập tri kiến Phật, và nếu chúng ta cũng không có đủ sức mạnh của hát thơ để chữa sản nạn như thời Vua Hùng Vương, ít nhất thơ cũng giúp chúng ta giảm được những đau đớn của trần gian này, kể cả khi buộc phải nghe tới bốn dòng thơ ly biệt tương tự của Cha Rồng và Mẹ Tiên thời lập quốc dân tộc Việt Nam. Nàng thơ ơi, hãy cứu lấy trần gian này. Hãy biến tất cả những trận mưa bom trên trần gian này thành các trận mưa thơ…

Phan Tấn Hải

 

 

 

 

 

 

 

 

©T.Vấn 2020

 

 

]]>
https://t-van.net/phan-tan-hai-tho-se-chua-lanh-the-gioi/feed/ 0
Yên Đông: CHUYỆN ĐÁ VÀ NGƯỜI https://t-van.net/yen-dong-chuyen-da-va-nguoi/ https://t-van.net/yen-dong-chuyen-da-va-nguoi/#respond Wed, 14 Dec 2016 14:32:40 +0000 https://7076e870b2.nxcli.io/?p=29934  

da

Đá- Tranh: Mai Tâm

 

Đá đè đá ngàn năm khắn khít

Người đè người rục rịch trăm năm

Đá người, người đá-vô tâm

Đảo điên chỉ một chỗ nằm thiên thu

 

Đá xuống đường quê hương mở rộng

Người xuống đường súng ống lao xao

Đá người,người bỏ đi sao

Đá đau lòng đá người đau lòng người

 

Đá nổi chốn biển khơi còn mẹ

Người nổi trôi thành kẻ lưu vong

Đá người còn có chỗ không

Đất trời còn có tấm lòng đại dương

 

Đá chết đứng lên cao thành núi

Người chết nằm xuống bụi thời gian

Hỏi trong cát bụi thế gian

Đứng lên cùng núi ngang hàng mấy ai?

 

YÊN ĐÔNG

 

 

 

 

 

©T.Vấn 2016

]]>
https://t-van.net/yen-dong-chuyen-da-va-nguoi/feed/ 0
Lang Trương : KHÚC CA MÙA HẠ https://t-van.net/lang-truong-khuc-ca-mua-ha/ https://t-van.net/lang-truong-khuc-ca-mua-ha/#respond Fri, 01 Jul 2016 12:24:31 +0000 https://7076e870b2.nxcli.io/?p=27875 ban ve so 1

 

 Em mời ta mua một tờ vé số
Đồng phục trắng, xanh còn in rõ tên trường.
Ánh mắt trong veo, chìa bàn tay bé nhỏ
Đôi má ửng hồng, lấm tấm giọt phong sương.

Trời miền Trung, nắng dài như đổ lửa
Gót chân non, bỏng rát thịt da người.
Trên môi em, vẫn nụ cười thơ trẻ
Em có mơ một mùa hè, đuổi bướm hái hoa.

Em nghỉ trưa ở đâu ? Góc phố hay hàng ba,
Ngày mấy bữa, no cơm hay đói cháo ?
Trên tay em, quay vòng từng con số
Có dãy số nào, cô giáo dạy em không ?

Em sẽ viết gì đây ? Trang nhật ký tuổi hồng
Có khuôn mặt quay đi, kèm tiếng ” Không” cộc lốc,
Và có cả những gợn buồn trong thoáng chốc,
Có nắng lửa ngập trời, khô rốc những hàng tre .

Ta ngồi quán cóc vỉa hè
Ly cà phê cũng nhờ bạn bè trả hộ.
Không đủ tiền mua giúp em tờ vé số
Mùa Hạ thật dài, dông bão chẳng ngừng rơi./.

Lang Trương

 

ĐỌC “KHÚC CA MÙA HẠ”

Châu Thạch

Tôi đã đọc hàng ngàn bài thơ về mùa hạ, nhưng thú thật “Khúc Ca Mùa Hạ” thơ Lang Trương đem đến cho tôi nhiều ngạc nhiên. Ngạc nhiên đầu tiên về khuynh hướng sáng tác mới của tác giả.  Tôi chỉ biết Lang Trương qua Facebook với những bài phú tuyệt vời, nó xen lẫn nụ cười tiếu lâm trong những kinh nghiệm rút ra từ lịch sử xa xưa và từ xã hội hiện tại, nhất là bài “Văn tế Đông Hải Long Vương” nói về biển đông được yêu thích gần đây. Đọc phú của Lang Trương ta vừa thích thú cười ha hả, vừa chiêm nghiệm lẽ sống sâu xa trong phong cách đối nhân xử thế ở đời. Ngạc nhiên thứ hai là lần nầy Lang Trương không viết phú mà làm thơ, bài thơ nói về khúc ca mùa hạ nhưng không nhắc gì đến chia tay sân trường, hoa phượng đỏ hay lưu bút ngày xanh như hàng vạn bài thơ mùa hạ khác, lại còn là một khúc ca mùa hạ “xúc động và hiện thực” như lời bình luận của bạn Ngọc Dũ Phạm trên facebook. Thật vậy, bài thơ tả thực, cái thực phủ phàng giữa một thời đại được ca tụng là vàng son trên báo, đài  làm cho người đọc dễ dàng xúc động. Bài thơ cũng vô cùng hiện thực, vì viết về một hiện tượng đau lòng xảy ra nhan nhản trước mắt mà không ai không thấy nhưng không mấy ai cảm thấy động lòng. Bài thơ nói về một học sinh bán vé số trong mùa hạ, thiết nghĩ không cần giải thích ý thơ nữa vì nó rất rõ ràng, dễ hiểu, chỉ xin nói về những tứ thơ của nó mà thôi.

Đọc cái đầu đề bài thơ là “Khúc ca mùa hạ” chắc ai cũng nghĩ đến màu sắc, đến âm thanh dịu dàng êm ái. Không ai ngờ cảnh hiện thực bày ra nghịch lý:

Em mời ta mua một tờ vé số
Đồng phục trắng, xanh còn in rõ tên trường.
Ánh mắt trong veo, chìa bàn tay bé nhỏ
Đôi má ửng hồng, lấm tấm giọt phong sương.

Đọc vế thơ nầy ta thấy đồng phục trắng, bảng tên xanh, ánh mắt trong veo và bàn tay bé nhỏ đối nghịch với  “Em mời ta mua vé số”, với “Đôi má ửng hồng, lấm tấm giọt phong sương”. Nhìn sự đối nghịch nầy, diễn ra trong lòng ta dấu hỏi: Mùa hạ là mùa vui chơi của học sinh, sao em học sinh nầy đi bán vé số? Rồi từ đó nẩy ra trong lòng ta biết bao nhiêu là suy tư tiếp diễn. Tác giả đã thành công ngay từ vế thơ đầu khi đưa ra một hình ảnh mùa hạ chưa từng có trong thơ văn  nói về mùa hạ. Tác giả lại thành công tiếp khi làm cho người đọc quên hẳn bài ca mùa hạ để đi theo cái gian khổ mùa hạ của em bé kia:

Trời miền Trung, nắng dài như đổ lửa
Gót chân non, bỏng rát thịt da người.
Trên môi em, vẫn nụ cười thơ trẻ
Em có mơ một mùa hè, đuổi bướm hái hoa.

Vế thơ nầy nổi bật nụ cười trẻ thơ vô tư của em bé, nổi bật giấc mơ đuổi bướm hái hoa của em bé. Từ đó hình ảnh miền trung đổ lửa, gót chân non bỏng rát thịt da đã tá khách vào nụ cười đó, giấc mơ đó, tạo thành hai vế đối song song dấy lên ý niệm phản kháng trong lòng người đọc. Cái nghịch lý của hiện  thực xã hội trong vế thơ đầu được lũy thừa lên qua vế thơ nầy, khiến cho sự xốn xang hay xót xa khơi dậy trong lòng  ta và sẽ thành ngọn lửa bùng cháy trong vế thơ thứ ba:

Em nghỉ trưa ở đâu ? Góc phố hay hàng ba,
Ngày mấy bữa, no cơm hay đói cháo ?
Trên tay em, quay vòng từng con số
Có dãy số nào, cô giáo dạy em không ?

Những câu hỏi liên tiếp, dồn dập như những tiếng kêu phản kháng, khuấy động trong lòng người sự cay đắng về một hiện tượng bất công, vô lý xảy ra giữa cuộc đời. Hai câu thơ “Em nghỉ trưa đâu? Góc phố hay hàng ba/ Ngày mấy bữa, no cơm hay đói cháo?” đã  làm ta buồn, cái buồn thấy con người thảm thiết, nhưng hai câu “Trên tay em quay vòng từng con số/ Có số nào, cô giáo dạy em không” làm cho ta phẫn nộ, phẫn nộ cho số phận hẩm hiu của những em bé đáng ra phải được hưởng nhiều phúc lợi trong thế kỷ mà văn minh con người đã đạt đến đỉnh cao.

Qua vế thứ tư, tác giả kéo ta vào sự bi thương. Tiếng thơ bây giờ than van và kể lể:

Em sẽ viết gì đây ? Trang nhật ký tuổi hồng
Có khuôn mặt quay đi, kèm tiếng ” Không” cộc lốc,
Và có cả những gợn buồn trong thoáng chốc,
Có nắng lửa ngập trời, khô rốc những hàng tre .

Vế thơ trình bày một hoạt cảnh qua nhiều phông đoạn để nêu lên nỗi thiệt thòi của em bé và chỉ trích sự vô cảm của con người. Nhìn hoạt cảnh nầy lòng ta se thắt, nỗi đau như chất chứa đầy. Chữ “Không” trong câu thơ thứ nhì như một cú đấm vào lòng người, và câu “Có nắng lửa ngập trời, khô rốc những hàng tre” thể hiện sự khô héo của những mãnh đời bất hạnh. Câu thơ nầy nói về mùa hạ nhưng thật ra nó diễn tả cuộc đời em học sinh bán vé số kia.

Và cuối cùng tác giả nói về mình. “Mình” của tác giả cũng chỉ là một cây tre héo trong những hàng tre “khô rốc” kia mà thôi:

Ta ngồi quán cóc vỉa hè
Ly cà phê cũng nhờ bạn bè trả hộ.
Không đủ tiền mua giúp em tờ vé số
Mùa Hạ thật dài, dông bão chẳng ngừng rơi./.

Mùa hạ chỉ có ba tháng nhưng tác giả lại nói “Mùa hạ thật dài”. Mùa hạ thì trời nắng nóng nhưng tác giả lại nói “dông bão chẳng ngừng rơi”. Đây là cái tâm trạng “Nhất nhật tại tù thiên thu tại ngoại”. Mùa hạ dài và mưa gió chính là cái tâm lý cảm nhận cuộc đời  của bao em bé bán báo kia và của chính ngay tác giả, khi “Ly cà phê cũng nhờ bạn bè trả hộ”. Câu thơ cho biết họ nhận thấy đời mình khô rốc, không có niềm vui và cứ đi hoài dưới dông bão của cuộc mưu sinh . Vế thơ đưa tác giả vào cuộc, làm một nhân vật không hơn gì em bé để gỉai thích sự đồng cảm của chính mình với nỗi bất hạnh kia, cũng như báo động cùng xã hội còn rất nhiều mảnh đời như thế, không chỉ ở giới trẻ mà ở người già như tác giả cũng có dẫy đầy.

“Khúc ca mùa hạ” cho người đọc nhiều cảm xúc, gián tiếp phản kháng những phi lý còn xảy ra trong cuộc sống, bắt con người phải suy nghĩ đến quyền trẻ em và trách nhiệm xã hội. “Khúc Ca Mùa Hạ” cáo trách lòng người bằng hình ảnh hiện thực, sống động và đặc biệt bài thơ thể hiện một tấm lòng vị tha nhân, một tâm hồn nhạy bén dễ cảm xúc. Cảm xúc ấy đã biến thành thơ hay, thật là hay  ./.

Châu Thạch  

 

 

 

 

 

 

 

©T.Vấn 2016

 

]]>
https://t-van.net/lang-truong-khuc-ca-mua-ha/feed/ 0
Châu Thạch : CHÙM THƠ KHAI BÚT TÂN NIÊN https://t-van.net/chu-thach-chm-tho-khai-bt-tn-nin/ https://t-van.net/chu-thach-chm-tho-khai-bt-tn-nin/#respond Mon, 15 Feb 2016 15:16:20 +0000 https://7076e870b2.nxcli.io/?p=25632 clip_image002

 

Ảnh : Lưu Na

 

NỖI RIÊNG ĐÊM GIAO THỪA

Giao thừa đứng ngắm pháo hoa

Lập bàn hương án trước nhà đón xuân

Cúng xong con cháu quây quần

Rượu vang, bánh mứt tưng bừng chung vui

Lòng riêng chợt thấy bùi ngùi

Để hồn lặng lẽ quay lui thuở nào

Đêm ba mươi súng đạn chào

Một cơn khói lửa ào ào trùm lên

Giang sơn đâu nữa êm đềm!

Thây ta, xác địch nằm bên vệ đường!

Nỗi lòng chợt nhớ chợt thương

Chợt nghe tiếng khóc còn vương đến giờ

Quanh bàn vui vẻ tỉnh bơ

Còn ta ngồi ngẫn ngồi ngơ riêng mình

Tay ai đập nhẹ, thất kinh

Thì ra đứa cháu thâm tình hỏi ông

-Cớ sao nước mắt ròng ròng?

Cười xoà với cháu rằng không có gì

Vì già đôi mắt yếu đi

Ngắm hoa pháo sáng nên chi xốn tròng .

 

 

HỒN LINH OÁN THÁN NGÀY XUÂN

Ba mươi nó cúng rước ta

Mồng một nó dẩn cả nhà du xuân

Cửa nhà nó đóng kín bưng

Bàn thờ bàn tự nó ngưng hương đèn

Ba ngày chẳng có chi ăn

Miếng cơm chẳng có, có chăng nỗi sầu

Thà rằng cứ ở mộ sâu

Chúng đừng van vái khấn cầu về đây

Để ba ngày tết đoạ đày

Không con, vắng cháu những ngày tân niên

Nhớ xưa tết rất đoàn viên

Bàn thờ ta ngự luân phiên hương trầm

Cúng cơm mỗi buổi một mâm

Hương linh tiên tổ quây quần hậu sinh

Bây giờ chúng nó văn minh

Đua đòi đời mới quên tình tổ tiên

Để ta đau nhớ, ưu phiền

Đời nay muôn sự đảo điên hết rồi! ./.

                                  Châu Thạch

 

 

 

 

 

 

 

©T.Vấn 2016

]]>
https://t-van.net/chu-thach-chm-tho-khai-bt-tn-nin/feed/ 0
CHÂU THẠCH : CHÙM THƠ VỀ “XIN” https://t-van.net/chu-thach-chm-tho-ve-xin/ https://t-van.net/chu-thach-chm-tho-ve-xin/#respond Wed, 27 Jan 2016 23:39:27 +0000 https://7076e870b2.nxcli.io/?p=25297 Xuân về cây, cỏ trổ hoa

Thơ xin góp một bài ca tình người

Châu Thạch

 

clip_image001

 

Lời khuyên kỳ dị

Hãy trang bị cho mình chiếc gậy
Như thêm chân để đi giữa cuộc đời
Và chiếc túi như chiếc hồ lô nhỏ
Bạn lên đường làm hành khất rong chơi.

Bạn bước xuống đi con đường nhân ái
Nẻo yêu thương gót rải những nhân lành
Đến từng nhà xin chớ gõ tay nhanh
Cứ từ tốn như ngày xưa Chúa gõ.

Ai tiếp bạn và ai lòng mở ngõ
Bạn nhân danh công lý tạ ơn người
Ai quay lưng chế nhạo, bạn tươi cười
Phủi hết bụi, đi xa vùng ô trọc,

Bạn sẽ thấy tay mình ngăn tiếng khóc
Nếu đi xin vì trái đất nhân danh
Băng vết hằn đang rũa cả màu xanh
Lấy tình nghĩa trồng hoa vườn khổ nạn.

Cả nhân lọai nếu ai đồng như bạn
Nhanh bàn tay với gậy, túi yêu thương
Thì thế gian nay đã biến thiên đường
Và đau khổ đâu còn trên mặt đất,

Xin hết thảy đăng quang làm hành khất./.

 

Hãy xin

Hãy đi xuống cuộc đời
Xin
Cho cuộc đời thêm đẹp.
Người giàu có hãy đi xin trước
Người chức vị hãy xin đầu tiên
Và chúng tôi dân lành
Đồng lòng đi xin tập thể.

Xin là ban cho
Xin là tình thương
Xin là làm thay thượng đế
Như Đức Phật ngày xưa ôm bình bát
Như Giê-Xu tại xứ Pa-lét-Tin
Đem thiên đàng gần lại với trần gian
Trồng nhân ái cả trong lòng ma quỷ.

Hãy đi xuống cuộc đời
Xin
Lập trường cô nhi, lập nhà dưỡng lão
Xây bệnh viện trăm tầng bằng của cải đi xin
Và trồng hoa trong nụ cười
Của mẹ, của cha, của anh em và của bạn
Của hết thảy những con người nghèo khó
Đã từng ăn xin
Sẽ không bao giờ còn ngửa tay xin ăn ./.

 

Hãy xuống đường ăn xin

Hãy xuống đường
Ăn xin.
Sẽ không có hàng rào kẽm gai ngăn lại
Hay hơi cay, dùi cui, hay vòi nước cản đường.
Hãy xuống đường ăn xin
Cho những em bé tật nguyền
Cho người già neo đơn
Cho thanh niên hiếu học
Cho những ai đang bạo bệnh không tiền
Cho hết thảy những con người gian khó giữa đời nay.
Hãy xuống đường ngay.
Sinh viên một ngày.
Nhà giáo một ngày.
Tu sĩ một ngày.
Quan chức một ngày.
Và cả nước có thêm nhiều ngày hội
Ngày tình thương, thân ái, nhân lành.
Hãy xuống đường ngay
Công bình sẽ đến
Tự do sẽ đầy
Khi yêu thương lấp kín từng ngày
Khi đau khổ trần gian biến mất.
Hãy đi trong bình yên
Lòng vị tha tràn ngập
Trật tự và an tòan như mặt nước loan ra
Lấp kín những vũng đời để cho ánh trăng soi
Đẹp biết bao bởi đêm và ngày có đầy ánh sáng ./.

Châu Thạch

 

 

©T.Vấn 2016

]]>
https://t-van.net/chu-thach-chm-tho-ve-xin/feed/ 0
Nguyễn Đức Nhơn : Đêm Noel https://t-van.net/nguyen-duc-nhon-dm-noel/ https://t-van.net/nguyen-duc-nhon-dm-noel/#respond Thu, 24 Dec 2015 22:20:25 +0000 https://7076e870b2.nxcli.io/?p=24832 clip_image001

 

Đêm Noel ta ngồi như tượng đất

Lạnh ngoài trời lạnh cả trong tim

Chuông giáo đường buồn hơn tiếng nấc

Đêm thánh vô cùng, đêm thánh bình yên.

 

Đêm huyền diệu lung linh màu tuyết trắng

Buồn không em, lời sám hối ăn năn

Ta một đời lang thang cùng mộng mị

Chừ ngồi đây lòng bỗng thấy băn khoăn!

 

Xin cho ta một vòng tay ấm áp

Ôm vào lòng giấc ngủ bình yên

Sao đêm nay ta nghe lòng bối rối…

Ngồi bên em, em ngoan đạo, em hiền

 

Đêm Noel chuông giáo đường rộn rã

Em thẹn thùng như bé tuổi đôi mươi

Ta cũng thấy lòng lâng lâng khó tả…

Ngồi bên em nghe ấm áp tình người!

Nguyễn Đức Nhơn

 

 

 

©T.Vấn 2015

]]>
https://t-van.net/nguyen-duc-nhon-dm-noel/feed/ 0
Đào Tấn Hoàng: NĂM MỚI TẶNG NGƯỜI CŨ https://t-van.net/do-tan-hong-nam-moi-tang-nguoi-cu/ https://t-van.net/do-tan-hong-nam-moi-tang-nguoi-cu/#respond Fri, 13 Nov 2015 15:58:18 +0000 https://7076e870b2.nxcli.io/?p=24314 clip_image002

Nhớ nhà – Tranh : Mai Tâm

 

Đời khốn dễ soi người lận đận

Vương triều xuôi tới đụng đầu quan

Đời ta đâu dài bằng thời gian

Sao có kẻ mài dao chờ chém bóng

Ngụp giữa cuộc đời chỉ chừa đôi mắt ngóng

Mà vẫn còn lộ diện với loài ma

Khúc thiên thu ta giả giọng cuồng ca

Mà chân cứ quẩn quanh bờ tuyệt tử

Gẩy tai trâu đàn xưa giờ mệt lử

Nên thản nhìn trăm nước đổ lá môn

Lời tri âm nhắc lại dạ bồn chồn

Ta sực nhớ vàng xưa nhầm kẻ nhận

Dũ sạch chức danh mới lộ ra thân phận

Một hình hài gươm giáo dắt đầy lưng

Ngọn dài bén để giết kẻ xa phương

Mũi ngắn nhất đâm người kề cận

Góp ý vui nghĩ ra lời uất hận

 

Cơn gió hờ thổi mãi lỗ tai đau

Ta về to nhỏ lòng trắc ẩn

Với em yêu và cả đời yêu

Thơ ta giết cả buổi chiều

Đào Tấn Hoàng

 

 

 

 

 

©T.Vấn 2015

]]>
https://t-van.net/do-tan-hong-nam-moi-tang-nguoi-cu/feed/ 0
Phạm Đức Nhì : Đức Tin https://t-van.net/pham-duc-nh-duc-tin/ https://t-van.net/pham-duc-nh-duc-tin/#respond Tue, 22 Sep 2015 14:30:22 +0000 https://7076e870b2.nxcli.io/?p=23644 Philippines Pope Asia

Giới thiệu:

Lòng thấy vui vui khi biết tin Đức Giáo Hoàng Francis đã có một quan niệm “đúng đắn” về Popemobile.

Ngài phát biểu: “a bulletproof car is like a “sardine can” that separates him from the people, adding, “I know that something could happen to me, but it’s in the hands of God.”

“Xe chống đạn giống như hộp cá mòi ngăn cách ngài với dân chúng, và nói thêm, “Tôi biết điều gì đó có thể xảy đến cho tôi, nhưng điều đó nằm trong tay Thiên Chúa.”

Xin chia sẻ bài thơ viết thời “Bush con”.

Phạm Đức Nhì

 

Đ Ứ C     T I N

Putin đi đâu cũng tiền hô hậu ủng

cận vệ một bước không rời

cũng dễ hiểu,

hắn chỉ dựa vào sức người

chứ không tin ở Phật, Trời

hay Thiên Chúa

 

Bush nói Bush tin có Chúa

và thường đi nhà thờ

nhưng mỗi lần công vụ gần xa

an ninh chìm nổi bám theo như kiến

 

Có lẽ tại Bush tâm bất thiện

mới vào Nhà Trắng

đã gây hai cuộc chiến tranh

mấy chục triệu dân lành

lớp chết

lớp bị thương

lớp nhà tan cửa nát

 

Chúa chưa trách phạt

đã là may

còn dám đâu

mong Chúa

cho Thiên Thần theo hộ giá

 

Cả biển người vẫy tay mừng rỡ

Đức Giáo Hoàng

đứng trong chiếc xe

chế tạo riêng cho ngài

kính có thể ngăn được đạn đại liên

 

Mặt ngài thật hiền

và phúc hậu

không lạnh lùng, sắt máu

như Putin

không kênh kiệu, khinh đời

như Bush

 

Ngài đeo nhẫn

đại diện cho Thiên Chúa

dưới trần gian

con chiên

ai cũng tin rằng

Chúa sẽ ở bên ngài

bảo vệ ngài

trên từng bước chân

ai cũng nghĩ rằng

ngài cũng tin như thế

 

Nhưng khi ngài bước vào chiếc xe kiên cố

đức tin của ngài, nếu có

đã rơi hết xuống mặt đường

 

Thu mình trong chiếc xe

trông ngài thật đáng thương

    

    Phạm Đức Nhì

Tháng 04 năm 2004

 

 

©T.Vấn 2015

]]>
https://t-van.net/pham-duc-nh-duc-tin/feed/ 0
Phạm Đức Nhì : HAI BÀI THƠ, MỘT NIỀM TIN https://t-van.net/pham-duc-nh-hai-bi-tho-mot-niem-tin/ https://t-van.net/pham-duc-nh-hai-bi-tho-mot-niem-tin/#respond Thu, 06 Aug 2015 14:54:00 +0000 https://7076e870b2.nxcli.io/?p=23096 clip_image002

Hình ( Coustesy of www.marian.edu)

1/ CHẮC NGÀI KHÔNG NGHE THẤY

Hãy xin, sẽ được; hãy tìm, sẽ gặp; hãy gõ cửa, sẽ mở cho

                    (Mathew 7:7)

Khi siêu bão Haiyan

đang gầm gừ ở hướng đông

đài khí tượng tiên đoán

bão sắp tràn vào Tacloban (1)

Hơn 90 phần trăm dân ở đây

là con Chúa

sấp mình cầu nguyện

xin Chúa xót thương

Khi bão rít trên đầu

sóng biển dâng cao

tiếng kêu cầu càng lớn

càng khẩn thiết

Bão yên, nước rút

cảnh tượng thật kinh hoàng

thành phố tan hoang

xác người nằm xếp lớp

Cha xứ

mở cửa

ngôi giáo đường đổ nát

Chúa Giê-Su vẫn ngoẹo đầu

dang tay trên thánh giá

sợi dây điện

lủng lẳng dưới tai

Ai đó đã đeo cho ngài

một bộ máy trợ thính

Chú Thích:

1/ Thủ phủ của Leyte

“Many of you lost everything. I don’t know what to say to you. Many have asked, why, Lord?” He said: “All I can do is keep silent.”  (Pope Francis said when visited Tacloban on 01/17/2015, 14 months after the Super Typhoon Haiyan.)

“Nhiều người trong số các con đã mất tất cả. Ta không biết phải nói gì với các con. Nhiều người đã hỏi, tại sao, Chúa ơi?” Rồi ngài nói: “Tất cả ta có thể làm là im lặng”( Đức Giáo Hoàng Francis nói khi viếng thăm Tacloban hôm 01/17/2015, 14 tháng sau Siêu Bão Haiyan.)

 

2/ NGÀI  NGHE, THẤY VÀ BIẾT HẾT

Dù người đời nói ngả, nói nghiêng

tôi vẫn tin

có một Thiên Chúa toàn năng

ngài nghe, thấy, và biết hết

mọi chuyện ở thế gian

“một sợi tóc trên đầu rụng xuống

cũng không ngoài thánh ý của ngài”

Tôi cũng tin

ngài yêu mến loài người

và chính ngài đã tạo nên vũ trụ

những quy luật vận hành của nó

trong đó có quy luật của linh hồn

Tâm trong sáng

ăn ở hiền lành

sẽ sống giữa cảnh thiên đàng

ngay trên mặt đất

khi chết

hồn sẽ bay về chốn an lạc

Lòng dạ tối đen

hành xử nham hiểm, độc ác

sẽ sống giữa lửa thiêu địa ngục

dù giàu có

cửa rộng

nhà cao

và khi từ giã kiếp người

sẽ phải đọa xuống một nơi

rất xa Thiên Chúa.

Ôi Thiên Chúa lòng lành vô cùng

ngài là ngọn đuốc

đưa con người tránh xa địa ngục

hướng đến thiên đàng

Nhưng những chuyện sống chết, thành bại, sướng khổ

của thế gian

chuyển động của đất trời vạn vật

ngài tạo ra quy luật

và để chúng tự vận hành

 

Những ai rao giảng

rằng cứ tin

cứ thành khẩn cầu xin

là điều gì Chúa cũng sẽ cho toại nguyện

hoặc là họ không “hiểu chuyện”

hoặc là họ phỉnh lừa

ngài đâu phải phù thủy, thầy bùa

có người dâng lễ vật van xin

là “hô phong hoán vũ”

Riêng tôi

đã nguyện tin thờ Thiên Chúa

hàng đêm tâm sự với ngài

những suy nghĩ, lời nói, hành động trong ngày

tôi trải lòng ra

để đúng sai ngài chỉ bảo

Nhưng những chuyện

vợ đẻ con đau

gạo tiền cơm áo

sự nghiệp công danh

thế giới hòa bình hay chiến tranh

núi lửa, bão lụt

sóng thần hay động đất

dĩ nhiên

là ngài biết hết

nhưng như một Quân Vương

chính trực công minh

ngài lặng yên

để quy luật tự nó vận hành

Vì ngài là Thiên Chúa

nhân loại kính mến ngài vì lẽ đó.

PHẠM ĐỨC NHÌ

 

Đọc Thêm:

THÔNG CÔNG CÙNG THIÊN CHÚA

Có lần

được đại diện một nhóm đông đồng đạo

dâng lời cầu nguyện

tôi nhắm mắt suy nghĩ mông lung

“cầu xin những gì ấp ủ trong lòng

hay chỉ dựa theo Thánh Kinh

để khỏi ai bắt bẻ?

“nói chung chung” để mọi người vui vẻ

hay xen vào đôi chút riêng tư?”

Cuối cùng mọi chuyện cũng qua

có người khen

lời cầu nguyện của tôi rất khéo

thật ra

lúc ấy tôi đang ở trên sân khấu

đóng vai thằng Ba Xạo

xạo với Thiên Chúa

với người đời

và xạo cả với chính tôi

Đêm về

tôi cũng cúi đầu cầu nguyện

nghe từng nhịp thở của mình

giữa bốn bề vắng lặng

bên cạnh tôi là Thiên Chúa toàn năng

Trước đôi mắt nhân từ của ngài

không cần nói một lời

tâm hồn tôi tự động trải ra

như trang giấy rất phẳng

khoảng đen, khoảng trắng

Ngài nhìn khoảng trắng

thân thể khoan khoái nhẹ nhàng

ngài liếc qua khoảng đen

lòng xốn xang khó chịu

và thế là tôi hiểu

Trong đời sống tâm linh

sau khi đã biết

đã chấp nhận

đã tin

tôi chỉ muốn tự mình

thông công (1) cùng Thiên Chúa

Thiên Đường hay Niết Bàn, nếu có

tôi muốn tự mình đi tới

dù phải lội suối trèo non

những Công Ty Dịch Vụ

đưa rước linh hồn

dẫy đầy trên trần thế

(chỉ cần gật đầu

sau đó còng lưng trả tiền cước phí) (2)

nhưng sự sống đời đời

tôi đâu dám giỡn chơi.

Chú Thích:

1/ Thông công còn có nghĩa là hình thức giao tiếp bằng tinh thần với thế giới khác.

Hình thức giao tiếp này thông qua các nghi thức tôn giáo như thánh lễ, cầu nguyện…
(https://vn.answers.yahoo.com/question/index?qid=20080422011216AAdHqbV)

2/ Nhiều nơi đề cập đến con số 10% thu nhập.

07/2015

Phạm Đức Nhì

 

 

 

 

©T.Vấn 2015

]]>
https://t-van.net/pham-duc-nh-hai-bi-tho-mot-niem-tin/feed/ 0