<?xml version="1.0" encoding="UTF-8"?><rss version="2.0"
	xmlns:content="http://purl.org/rss/1.0/modules/content/"
	xmlns:wfw="http://wellformedweb.org/CommentAPI/"
	xmlns:dc="http://purl.org/dc/elements/1.1/"
	xmlns:atom="http://www.w3.org/2005/Atom"
	xmlns:sy="http://purl.org/rss/1.0/modules/syndication/"
	xmlns:slash="http://purl.org/rss/1.0/modules/slash/"
	>

<channel>
	<title>tưởng nhớ Phạm Thiên Thư &#8211; T.Vấn và Bạn Hữu</title>
	<atom:link href="https://t-van.net/tag/tuong-nho-pham-thien-thu/feed/" rel="self" type="application/rss+xml" />
	<link>https://t-van.net</link>
	<description>Văn Học và Đời Sống</description>
	<lastBuildDate>Wed, 13 May 2026 22:28:32 +0000</lastBuildDate>
	<language>en-US</language>
	<sy:updatePeriod>
	hourly	</sy:updatePeriod>
	<sy:updateFrequency>
	1	</sy:updateFrequency>
	<generator>https://wordpress.org/?v=6.7.5</generator>

<image>
	<url>https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2022/02/t-van-favicon.png?strip=all&#038;resize=32%2C32</url>
	<title>tưởng nhớ Phạm Thiên Thư &#8211; T.Vấn và Bạn Hữu</title>
	<link>https://t-van.net</link>
	<width>32</width>
	<height>32</height>
</image> 
	<item>
		<title>Lê Chiều Giang: Phạm Thiên Thư/Café âm u</title>
		<link>https://t-van.net/le-chieu-giang-cafe-am-u/</link>
					<comments>https://t-van.net/le-chieu-giang-cafe-am-u/#respond</comments>
		
		<dc:creator><![CDATA[Lê Chiều Giang]]></dc:creator>
		<pubDate>Thu, 14 May 2026 05:49:00 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Góc Văn]]></category>
		<category><![CDATA[tưởng nhớ Phạm Thiên Thư]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://7076e870b2.nxcli.io/?p=50722</guid>

					<description><![CDATA[  “&#8230;Cõi người có bao nhiêu    Mà tình sầu vô lượng…” [PhạmThiênThư] Khi bay tới Havana, tôi không ở tại thành phố có những kiến trúc nửa cổ điển, nửa tân kỳ. Những hào nhoáng của vài building, cố gắng hết sức để từa tựa như White House hay Toà Nhà Quốc Hội ở [&#8230;]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: center;"><strong> </strong></p>
<p style="text-align: center;"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2026/05/4s8rIU6J-image001.jpg?strip=all&w=2560"><img fetchpriority="high" decoding="async" class="alignnone size-medium wp-image-89182" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2026/05/image001-225x300.jpg?strip=all" alt="" width="225" height="300" srcset="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2026/05/image001-225x300.jpg?strip=all 225w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2026/05/4s8rIU6J-image001.jpg?strip=all 300w" sizes="(max-width: 225px) 100vw, 225px" /></a></p>
<p><em>“&#8230;Cõi người có bao nhiêu</em></p>
<p><em>   Mà tình sầu vô lượng…”</em></p>
<p>[PhạmThiênThư]</p>
<p>Khi bay tới Havana, tôi không ở tại thành phố có những kiến trúc nửa cổ điển, nửa tân kỳ. Những hào nhoáng của vài building, cố gắng hết sức để từa tựa như White House hay Toà Nhà Quốc Hội ở Washington DC.</p>
<p>Đáp chuyến xe lửa ầm ĩ, còn nguyên những trăm năm của một chuyến tàu vừa chậm chạp, vừa cũ kỹ. Từ Havana tôi ghé Matanzas Town.</p>
<p>Loanh quanh trong những xóm nghèo, tôi tìm ra con phố bé xíu, nơi tôi hỏi thuê một căn phòng nhỏ, chẳng có chút tiện nghi nào.</p>
<p>Tiện nghi? Có phải đã chẳng đâu bằng nước Mỹ, nhất lại là California&#8230;</p>
<p>Khi đến với Cuba, tôi mê những heo hắt, những nắng tàn mưa sớm, cùng sự quạnh hiu của mỗi đêm về, trong những khu xóm nghèo nàn của phố nhỏ Mantanzas.</p>
<p>Chiều chiều, tôi hay ngồi cafe ở một quán nhỏ ngoài trời. Dựa lưng bên tường vôi loang lở, nhìn những vũng nước chẻ đôi chẻ ba trên nền gạch vừa nghiêng chao, vừa như sắp vỡ.</p>
<p>Tôi ngồi đó tới tối, chờ khi ánh đèn măng xông thắp sáng. Cái ánh sáng không tối, cũng chẳng bao giờ đủ sáng, hắt ra từ cái xóm lạ mà như đã rọi soi, đã theo tôi tìm về chút tàn rơi, của một đời sống từ những tháng ngày vô cùng xưa cũ…</p>
<p>&#8212;&#8212;&#8212;&#8211;</p>
<p>Ôm ấp nhiều mơ màng, tuổi 15, 17 tôi mang thơ Phạm Thiên Thư rải trên tóc thơm tho, viết trong tà áo trắng.</p>
<p><em>“&#8230;Anh khoác áo</em> <em>nâu sòng</em></p>
<p><em>Em chân trời biền biệt…</em></p>
<p><em> </em></p>
<p><em>&#8230;Bây giờ anh qua đó</em></p>
<p><em>Còn thấy chữ trong chuông…”</em></p>
<p><em>                       [PhạmThiênThư]</em></p>
<p>Và rồi khi đất nước điêu linh năm 1975. Những thơ, những văn chương chữ nghĩa đã rụng rơi theo mọi thứ hoang tàn, của một quê hương lầm than với đầy những tai ương và điên đảo.</p>
<p>Lần đầu tiên anh đến nhà chúng tôi ở Cư xá Thanh Đa, Phạm Thiên Thư chẳng mang dáng vẻ gì của một Thi sĩ như tôi từng tưởng tượng qua những vần thơ hằng đọc thời thiếu nữ. Anh cũng chẳng màng gì̀ nữa đến chuyện thi ca, văn chương hay thơ phú.</p>
<p>Nghiêu Đề và Phạm Thiên Thư, hai nhân vật sống vất vưởng trên mây, giờ phải ngồi giữa nhà, bàn chuyện cơm áo. Đó là những tháng ngày của đầu năm 1977.</p>
<p>Anh nói với giọng điềm đạm, chậm rãi. Chú chó nhỏ của tôi nằm bên bàn tay ve vuốt của Anh mà lim dim như sắp ngủ.</p>
<p>“CON CHÓ LIÊM SỈ ”, tên mới anh Nghiêu Đề đặt, khi qua đã nhiều ngày mà nó nhất định không ăn bo bo, mì sợi, khoai sắn, như chúng tôi đã phải ăn mọi sáng, mọi trưa và chiều tối.</p>
<p>Nó có liêm sỉ hơn chúng tôi, nó quyết liệt, nó thà nhịn đói, nó thà chết&#8230;</p>
<p>&#8212;&#8212;&#8212;-</p>
<p>Phạm Thiên Thư giận dữ với câu chửi thề hiếm hoi, quăng hộp diêm mà dù cố gắng lắm, cũng chẳng có que nào cháy, vô lò than. Loại than mà không phải riêng anh, cả nước đã không ai nhóm nổi. Có lần tôi đã phải đầm đìa nước mắt vì khói và với cả tức giận, vì sau 2 tiếng loay hoay, tôi cũng không biết làm sao cho than cháy trước bữa cơm chiều.</p>
<p>“Quán” Cafe mà luôn chỉ có 2 người. Anh Nghiêu Đề và tôi.</p>
<p>Một ông yêu thơ Phạm Thiên Thư, có căn nhà trên đường Phan Thanh Giản, tốt bụng cho Anh Chị kê 2 chiếc bàn nhỏ bên góc hiên nhà để bán cafe, đặc biệt là chỉ được bán buổi chiều, sau 5 giờ.</p>
<p>Quán không có điện, chút ánh sáng vật vờ từ những ngọn đèn đường, không đủ cho chúng tôi nhìn rõ mặt nhau. Nhờ chút ánh lửa từ lò than rực rỡ, có khi đã làm cho đêm bớt tối tăm, và như đã sưởi ấm bốn người chúng tôi, nhỏ to quanh những câu chuyện mà ai cũng chỉ dám thì thào, nho nhỏ&#8230;</p>
<p>Khởi đầu cho những tiếng cười, luôn là lúc anh Nghiêu Đề quăng gói Vàm Cỏ trên bàn mời mọc: “Hút đi ông, hút đại đi cho nó… bổ”.</p>
<p>Mỗi tháng, “Văn nghệ sĩ” được mua 4 gói thuốc lá, anh Phạm Thiên Thư phải để dành Vàm Cỏ để bán lẻ cho khách, anh chỉ hút thuốc “lá đu đủ Lạng Sơn”. Rất chậm rãi, và lặng lẽ, anh quấn những sợi thuốc lá trong tờ giấy lịch, hình ảnh trông hiền lành, lại có chút gì như sắp cam tâm.</p>
<p>Để ý, tôi thấy anh chỉ sôi nổi khi bàn về ‘Dưỡng Sinh Điển Công”, một môn Đông Y mà sau 1975 rất nhiều người theo học, vì cả nước có nhu cầu mà chẳng bao giờ được đầy đủ thuốc men.</p>
<p>Bạn bè thường nhờ anh hướng dẫn về thuốc Nam, nhân tiện anh giúp bấm huyệt cho hết nhức mỏi, đau tứ chi, hay cả đau đầu&#8230;</p>
<p>Có khi tôi thấy anh có tướng của một ông thày bốc thuốc hơn là một Thi sĩ. Tôi đã dần quên đi một Phạm Thiên Thư có những vần thơ trác tuyệt, một Phạm Thiên Thư đã mang đầy hương lửa bay theo gió thơm tho, tỏa hương vào giấy vở học trò thơ mộng của chúng tôi.</p>
<p>Thay vào đó, chị Mai Trinh, hiền thê của anh nhẩn nha đọc thơ của chị như một lời giải bày buồn bã:</p>
<p>“<em>&#8230;Ta với người giữa dâu bể mênh mông</em></p>
<p><em>Ta với  người đã hơn là như thế</em></p>
<p><em>Mới hiểu trái tim hồi chuông tắt lửa</em></p>
<p><em>Suốt đời nhau rên rỉ điệu cầu hồn…”</em></p>
<p><em>[Mai Trinh]</em></p>
<p><em> </em></p>
<p>Với đôi mắt long lanh sáng, bên bếp lửa Cafe, chúng tôi thường được nghe chị đọc những vần thơ đẹp như trăng như sao …</p>
<p>Cafe Phạm Thiên Thư vắng tanh, với những im lìm, dù quán chỉ xao xác với 2 chiếc bàn.</p>
<p>Thỉnh thoảng Thi sĩ Bùi Giáng, vai khoác chiếc túi rách tả tơi, tay kéo theo sợi giây dài có gắn rất nhiều lon sữa bò sét rỉ. Với vẻ mặt hóm hỉnh, Ông nghênh ngang tới ngồi ở chiếc bàn còn lại, thở lấy thở để và hít hà mùi khô khét của khói than.</p>
<p>Tiếng kêu của những lon sữa kéo lê, khi chầm chậm, lúc vội vã trên nền ciment, tạo ra một âm thanh vừa kỳ quái, vừa dễ sợ. Cộng thêm là tiếng cười man dại, đầy cuồng điên của Bùi Giáng…</p>
<p>Nhưng đó là những âm thanh, những lao xao duy nhất của Cafe Âm U.</p>
<p>&#8212;&#8212;&#8212;&#8212;-</p>
<p>Tôi uống tới ly cafe thứ 4, trong buổi chiều cuối cùng ngồi với Cuba.</p>
<p>Mưa lất phất lạnh, tôi vẫn dựa lưng trên vách ướt ngoài trời, vẫn ngó mông xa ra con hẻm nhỏ có những mái nhà hoang sơ ướt.</p>
<p>Chủ quán múa tay cho tôi hiểu phố xá đang bị cúp điện. Bà muốn tôi vô trong ngồi cho ấm áp..</p>
<p>Hơ đôi tay lạnh, tôi nhìn ngọn lửa đỏ chấp chới trong bếp nấu cafe.</p>
<p>Ánh lửa làm bùng cháy nỗi nhớ của tôi về quán cafe tăm tối của Phạm Thiên Thư 40 năm về trước. Cái quán mà bàn ghế cũng quạnh hiu, chỉ có 4 chúng tôi buồn rầu ngồi thở than cùng ế ẩm. Cafe âm u tối, Cafe với những mưa bay, và gió se sắt lạnh của Sài Gòn.</p>
<p>“Quán cúp điện” ở tận Cuba, mà sao tôi lại thiết tha nhớ về những con đường tăm tối, những ngày Sàigon, nhiều khi ánh điện đã chẳng tới được bất cứ nhà ai?</p>
<p>Đêm đó, cũng như mọi đêm không đèn đóm. Cafe Phạm Thiên Thư ngoài ánh lửa, còn có chút trăng soi.</p>
<p>Trăng nghiêng trên tóc anh, và lần đầu tiên chúng tôi nghe anh thầm thì, lan man đọc lại những vần thơ cũ.</p>
<p><em>“Xưa em làm kiếp chim</em></p>
<p><em>Chết mục trên đường cỏ</em></p>
<p><em>Anh làm cội băng mai</em></p>
<p><em>Để tang em mấy thuở</em></p>
<p><em> </em></p>
<p><em>Xưa em làm chữ biếc</em></p>
<p><em>Nằm giữa lòng cuốn kinh</em></p>
<p><em>Anh là Thiền Sư buồn</em></p>
<p><em>Ngồi tụng dưới ánh trăng…”</em></p>
<p><em> </em><em>[Phạm Thiên Thư]</em></p>
<p>Rời Cuba khi trời còn mờ mờ tối, quán Cafe tôi hay ngồi vẫn chưa mở cửa.</p>
<p>Phía trước tôi, là một ông Cuban. Trong ánh sáng mù câm, tôi chẳng thấy gì, chỉ nghe tiếng rớt rơi của những chiếc lon, mà Ông đang quăng ra từ vài đống rác nhỏ ven đường.</p>
<p>Chút lúng túng của những tiếng rơi, sao tôi nghe như nhiều gần gũi?</p>
<p>Suốt chuyến bay dài, tôi đã chẳng nghe thấy gì khác. Bên tai tôi là vang vọng cái âm thanh lạ kỳ&#8230;</p>
<p>Âm thanh từ chuỗi những chiếc lon được kéo rất ngập ngừng, nhưng lê thê buồn của Bùi Giáng.</p>
<p><strong>Lê Chiều Giang</strong></p>
<p><em>[Trích ”Không đứng mãi trong tranh]</em></p>
]]></content:encoded>
					
					<wfw:commentRss>https://t-van.net/le-chieu-giang-cafe-am-u/feed/</wfw:commentRss>
			<slash:comments>0</slash:comments>
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Cù Mai Công: HẠT BỤI NHỎ GỞI THEO “BỤI ĐỎ” PHẠM THIÊN THƯ…</title>
		<link>https://t-van.net/cu-mai-cong-hat-bui-nho-goi-theo-bui-do-pham-thien-thu/</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[Tác Giả]]></dc:creator>
		<pubDate>Mon, 11 May 2026 06:08:00 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Ghi Chép]]></category>
		<category><![CDATA[tưởng nhớ Phạm Thiên Thư]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://t-van.net/?p=89083</guid>

					<description><![CDATA[Quán cà phê Hoa Vàng của nhà thơ Phạm Thiên Thư Nhói lòng, bần thần, bùi ngùi, ngơ ngẩn, tiếc thương… là những cảm xúc rất thật, bao dòng chữ rất hay của muôn vàn trái tim yêu thơ, mơ nhạc khi nghe tin nhà thơ của “bụi đỏ, mây đỏ, động hoa vàng, cội [&#8230;]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<div class="wp-block-image">
<figure class="aligncenter size-full is-resized"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2026/05/hoa-vang.jpg?strip=all&fit=284%2C177&w=2560"><img decoding="async" width="284" height="177" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2026/05/hoa-vang.jpg?strip=all&fit=284%2C177" alt="" class="wp-image-89084" style="width:564px;height:auto"/></a></figure></div>


<p class="has-text-align-center"><em>Quán cà phê Hoa Vàng của nhà thơ Phạm Thiên Thư</em></p>



<div style="height:30px" aria-hidden="true" class="wp-block-spacer"></div>



<p>Nhói lòng, bần thần, bùi ngùi, ngơ ngẩn, tiếc thương… là những cảm xúc rất thật, bao dòng chữ rất hay của muôn vàn trái tim yêu thơ, mơ nhạc khi nghe tin nhà thơ của “bụi đỏ, mây đỏ, động hoa vàng, cội hoa vàng” Phạm Thiên Thư “rũ áo mây trôi &#8211; Gối trăng đánh giấc bên đồi dạ lan” chiều 7-5-2026.</p>



<p>Những ngày này và tôi tin mãi về sau, bao dòng thơ, suối nhạc đẹp như mộng, ảo như mơ của ông, về ông, như con người ông chắc chắn sẽ còn nhắc lại, vang mãi trong lòng bao thế hệ và sẽ một ngày nào đó trong văn học sử.</p>



<p>Trưa nay 8-5, tôi ghé thăm ông lần cuối, không chỉ là nén hương của một kẻ hậu bối ngước lên ông mà còn là một con dân Ông Tạ với một bậc đàn anh vốn ở Ông Tạ hơn nửa đời người, từ sau 1975 cho tới nay. Vốn gốc Bắc 54 Thái Bình, ông tìm đến ở vùng Bắc 54 Ông Tạ cũng là gần gũi, từ thói ăn đến nếp ở.</p>



<p>Trục đường Bắc 54 Ông Tạ này không chỉ có nhà thờ mà có cả những ngôi chùa: Khuông Việt, Hải Quang, Hiển Quang, Thái Hòa, Viên Giác…</p>



<p>Sau 1975, ông ở một con hẻm nhỏ trên đường Phạm Văn Hai, một trong hai trục đường chính tạo nên ngã ba Ông Tạ. Hồi 1980-1984 tôi học đại học, thỉnh thoảng đạp xe đi học ngang qua, thấy ông ngồi uống cà phê ở quán Ngự Uyển trong ngõ Con Mắt (nay là hẻm 766 Cách Mạng Tháng Tám, Tân Bình cũ). Quán này tới nay đã 54, 55 năm, đối diện nhà cũ của mẹ con anh Đỗ Trung Quân. Khung cảnh, style hoa mộng quán Hoa Vàng sau này (và hiện nay) của ông khá giống quán Ngự Uyển. Liệu có chăng ảnh hưởng?</p>



<p>Trục đường Phạm Văn Hai chạy qua nhà ông và nhà tôi, có chợ Ông Tạ, phòng mạch Ông Tạ và ngã ba Ông Tạ, một thời bán buôn sầm uất, nhộn nhịp cả ngày.</p>



<p>Một người sống như những vần thơ thiền, không rành buôn bán như ông rõ ràng có lẽ nơi đây không hợp, ông dời nơi ở về khu Bắc Hải, hai bên đường Bắc Hải, về danh nghĩa thuộc quận 10 nhưng cũng có thể coi là vùng Ông Tạ, mở quán cà phê Hoa Vàng.</p>



<p>Và ông đã ra đi nơi đây, theo bà Trần Thị Như Báu, người vợ gắn bó gần 40 năm của ông: “Ông mất thanh thản lắm, chỉ 30 phút chuyển mình, rồi vĩnh biệt cả nhà, không trăn trối điều gì”. Ông và bà Báu nên nghĩa tào khang khi ông ở vùng Ông Tạ.</p>



<p>Trước đó ông nhiều nơi. Thuở thiếu thời, ông ở khu Tân Định, nơi cũng có một số gia đình gốc Bắc 54. Thời trung học, ông học trường Văn Lang nơi đây, nảy nở một mối tình học trò, “yêu đơn phương”, theo chính ông kể, một cô bạn cùng lớp nhưng kém ông hai tuổi (có lẽ ông học trễ) tên Hoàng Thị Ngọ, nhân vật trong thơ và nhạc phẩm nổi tiếng “Ngày xưa Hoàng Thị”.</p>



<p>Nhà thơ Phạm Thiên Thư có lần chia sẻ trên báo chí: “Hoàng Thị Ngọ dáng người thanh mảnh, tóc thả ngang vai. Xếp hàng vào lớp, nàng đứng đầu hàng nữ, tôi đứng cuối hàng nam. Vào lớp, nàng ngồi bàn đầu, tôi ngồi bàn cuối. Ngọ học giỏi, còn tôi thì giỏi… đánh lộn. Thế mà tôi yêu nàng. Yêu đơn phương. Nhà tôi ở đường Trần Khắc Chân. Nhà Ngọ ở đường Trần Quang Khải. Mỗi lần tan trường, nàng ôm cặp đi bộ về nhà, tôi cứ lẽo đẽo theo sau&#8221;.</p>



<p>Hoàng Thị Ngọ là ai? Đã có vài người tự nhận hoặc suy diễn cô Ngọ là cô A, B, C… nào đó và đã từng bị nhà thơ cười hiền… bác bỏ. Trong một bài báo, ông trả lời ngắn gọn với tác giả Phan Xi Păng về cô Ngọ: “Đang ở San Francisco, Mỹ”.</p>



<p>“Yêu đơn phương” nên tất cả những suy diễn có khi lại ảnh hưởng đến hạnh phúc gia đình của một ai đó.</p>



<p>Còn về phía tôi, khi “ai mang bụi đỏ đi rồi” chỉ xin mạo muội góp thêm một “cô Ngọ” mà tôi biết hồi đầu thập niên 1990, khi “cô ấy” nghe tôi nói nhà thơ Phạm Thiên Thư ở cùng đường Phạm Văn Hai với tôi.</p>



<p>Con “cô Ngọ” ấy tên Chương, lúc đó 16, 17 tuổi, học ở sân võ tôi, đưa thẻ căn cước trước 1975 của mẹ mình cho tôi coi: “Hoàng Thị Ngọ, sanh 1942”.</p>



<p>“Cô Ngọ’ này Bắc 54, mẹ Chương, hơn tôi 20 tuổi nên tôi gọi là cô. Nhà trên đường Ba Tháng Hai, nhưng trước và sau 1975 ở trên đường Trần Quang Khải, khu Tân Định. Thỉnh thoảng cô hay đến nhà gia đình một em gái trong một hẻm nhỏ góc ngã ba Võ Văn Tần &#8211; Trần Quốc Thảo chơi.</p>



<p>(Gia đình một người con của ông “tổ Vọng cổ” Cao Văn Lầu trong con hẻm đối diện, cũng gần ngã ba Võ Văn Tần &#8211; Trần Quốc Thảo. Cháu ông là Cao Tuấn Linh cũng học võ tôi, cùng lứa với Chương, con “cô Ngọ”; nói giọng Bắc vì ba của Linh tập kết. Linh thân với Sơn, em họ cựu bí thư Trung ương Đảng Hồ Đức Việt &#8211; mẹ Sơn là chị ruột anh Việt. Sơn cũng học võ tôi và thân với tôi, nhiều lần tôi kêu chụp ảnh đăng bìa báo Mực Tím)</p>



<p>Lúc ấy, anh “cô Ngọ” là sĩ quan VNCH đi cải tạo về. Vợ ông bán bún riêu đầu hẻm. Tôi lúc ấy trên đường tới tòa soạn báo Mực Tím cạnh hồ Con Rùa, hay ghé chơi với Phương, con trai của cô chú, vốn là môn sinh sân võ tôi ở Nhà văn hóa Thanh niên TP.HCM gần đó.</p>



<p>Thỉnh thoảng “cô Ngọ” cũng tới chơi với anh, hay mặc áo bà ba tím hoặc nâu đỏ, dáng người lúc ấy tuổi U50 nên khá nảy nở chứ không thon thả như cô nữ sinh Ngọ trong “Ngày xưa Hoàng Thị”. “Cô Ngọ” này da trắng trẻo, cười tươi, tóc dày, thắt búi và dù đã gần 50 thật sự vẫn xinh đẹp. Con trai tên Chương, trắng trẻo và khá đẹp trai, vẻ hơi lai Tây. Hồi đó hay theo anh họ mình đi Cub 79 cánh én đến nhà tôi chơi, có lúc ngủ lại.</p>



<p>Anh họ Chương, gọi “cô Ngọ” là cô, tên Hoàng Đình Phương, đai đen của tôi bảo tôi: “Mẹ Chương cho vay tiền góp”. Nghe vậy biết vậy chứ “cô Ngọ” không nói gì với tôi. Khi nhắc về tác giả Phạm Thiên Thư, cô cười: “Hồi đó ai biết ai theo ai đâu. Sau này đọc thơ mới biết tác giả là Phạm Kim Long cùng lớp. Hơn tuổi nên tôi gọi là anh. Anh Long hồi đó ít nói, hơi đen và thấp người”.</p>



<p>Sau đó vài năm, khoảng giữa thập niên 1990, cả gia đình cô em và “cô Ngọ” lần lượt đi Mỹ chính thức.</p>



<p>Nghe vậy và kể lại vậy. Từ một phía nên tôi, kẻ hậu bối chưa bao giờ dám sỗ sàng kể chuyện này với ai, nói gì dám mạo muội thưa với nhà thơ Phạm Thiên Thư.</p>



<p>Đêm nay 8-5 là đêm cuối ở cõi trần với nửa đời người làm dân Ông Tạ, chiều mai 9-5, ông hóa thân thành “bụi đỏ”. Xin được thu hết can đảm của kẻ phàm phu trần thuật, và cũng không dám kết luận gì. Chỉ như thêm một giả thiết “bụi” quanh nhân vật trong một bài thơ của ông.</p>



<p>Để kính tiễn ông đã vào nhẹ nhàng ngả một giấc miên viễn trên đồi dạ lan &#8211; lòng bao người quý trọng, cảm kích về ông và thơ ông…</p>



<p><strong>CÙ MAI CÔNG</strong></p>



<p>*Bài do CTV/TVBH gởi</p>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Kalynh Ngô: CÓ TIẾNG CHUÔNG CHÙA VỌNG THIÊN THƯ</title>
		<link>https://t-van.net/kalynh-ngo-co-tieng-chuong-chua-vong-thien-thu/</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[Tác Giả]]></dc:creator>
		<pubDate>Sun, 10 May 2026 06:49:00 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Ghi Chép]]></category>
		<category><![CDATA[tưởng nhớ Phạm Thiên Thư]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://t-van.net/?p=89073</guid>

					<description><![CDATA[Hai mươi năm sau, Ẩn Lan là ai? Tôi vẫn không biết, và không cần biết. Chỉ cần biết điều ông để lại, “mối tình là một bài thơ vô đề.” Người ta nhớ ông khi nhắc về hình ảnh gần như bất tử của nàng Hoàng Thị Ngọ với dáng người thanh mảnh, tóc [&#8230;]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<div class="wp-block-image">
<figure class="aligncenter size-full is-resized"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2026/05/An-Lan.jpg?strip=all&w=2560"><img decoding="async" width="920" height="657" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2026/05/An-Lan.jpg?strip=all" alt="" class="wp-image-89076" style="width:680px;height:auto" srcset="https://cdn.t-van.net/2026/05/An-Lan-300x214.jpg 300w, https://cdn.t-van.net/2026/05/An-Lan-768x548.jpg 768w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2026/05/An-Lan.jpg?strip=all 920w" sizes="(max-width: 800px) 100vw, 800px" /></a></figure></div>


<p class="has-text-align-center"><em>Hai mươi năm sau, Ẩn Lan là ai? Tôi vẫn không biết, và không cần biết. Chỉ cần biết điều ông để lại, “mối tình là một bài thơ vô đề.”</em></p>



<p class="has-text-align-center"></p>



<div style="height:30px" aria-hidden="true" class="wp-block-spacer"></div>



<p>Người ta nhớ ông khi nhắc về hình ảnh gần như bất tử của nàng Hoàng Thị Ngọ với dáng người thanh mảnh, tóc thả ngang vai. Mối tình với Ngọ trong thơ, và trong nhạc khi qua tay “phù thủy” Phạm Duy, là câu chuyện phản chiếu của biết bao nam thanh nữ tú thời Sài Gòn còn rợp bóng me xanh.</p>



<p>Có người nhớ ông khi nhắc đến một gã nào đó, trong trí tưởng tượng của nhạc sĩ họ Phạm, đã từ quan để đưa em tìm động hoa vàng.</p>



<p>Thật ra thì trong 400 câu thơ Động Hoa Vàng của ông, chẳng có gã nào từ quan cả. Với ông, cõi này, chỉ có “Như Lai thường trụ trên tà áo xuân” cũng đủ làm cho “Người về sao nở trên tay/Với hài đẫm nguyện thêm dài gót mơ.”</p>



<p>Phạm Duy ngây ngất với hình ảnh thiền, chùa, động hoa vàng mát rượi cho tâm hồn, có lẽ thêm vào chất si tình nghệ sĩ, nên ông nói:</p>



<p>“Tôi tự coi mình là kẻ từ quan tìm được nơi ẩn náu là cõi thơ Phạm Thiên Thư. Gặp Phạm Thiên Thư tôi như thoát xác, vượt ra khỏi những đắng cay chán chường và bế tắc của tâm ca, tâm phẫn ca, vỉa hè ca. Tôi muốn thử đi vào đạo với một tu sĩ mà cái uyên thâm về đạo giáo chắc chắn phải hơn tôi rất xa.”</p>



<p>Động hoa vàng và em, hay chốn quan trường và bổng lộc, cuối cùng cả hai đều chọn “ôm trăng đánh giấc bên đồi dạ lan” sau khi khẽ trách “nhìn trăng sao nỡ để lời thề bay.”</p>



<p>Cả hai, một thi sĩ, một nhạc sĩ. Cuộc gặp gỡ của họ “là của một ngọn núi và một đám mây,” như Phạm Duy từng kể lại lời của ông.</p>



<p>Còn tôi, một ngọn cỏ dại vô cùng bé nhỏ, từ lâu từ phương trời xa, biết về ông, qua hình ảnh của một “Ẩn Lan giờ vẫn đẹp tươi/Một chiều bên suối ngỏ lời hằng mơ.”</p>



<p>Trong Đạo Phật, &#8220;chữ tình&#8221; (情) thường bị nhìn nhận là nguyên nhân gốc rễ của u mê, lầm lỡ, mong cầu và sở hữu, của luân hồi sinh tử, căn nguyên của đau khổ. “Ái bất trọng bất sinh Sa-bà&#8221; Nhưng sao chữ tình trong thơ ông nhẹ như khói hương trầm, “mối tình là một bài thơ vô đề.”</p>



<p>Chữ tình trong thơ ông là con đom đóm nhỏ,“cho em, em cất tiếng cười”. Mà nếu lỡ “hất tay em thả đóm trời tung bay” thì cần chi phải càu nhàu nhau? Chỉ cần “Vòi ta đuổi bắt lại ngay/Thả đi, đòi lại mãi đày đọa nhau.”</p>



<p>Khi nhắc về tác phẩm Gọi Em Là Đóa Hoa Sầu, nhạc sĩ Phạm Duy viết trong hồi ký rằng:</p>



<p>“Sau khi đã theo Phạm Thiên Thư ‘đưa em tìm động hoa vàng’, tôi lại cùng anh ‘gọi em là đóa hoa sầu’… Gọi Em Là Đóa Hoa Sầu là những câu thơ của thi sĩ Phạm Thiên Thư, cho rằng dù sao đi nữa thì cuộc đời này rất là đáng sống trong cái mênh mông bao la của phù vân hư ảo. Hành âm nghe rất âm yếm và nhẹ nhàng, hợp với không khí nồng nàn và an ủi của bài ca. Dù ta thấy được sự phù vân của cuộc đời nhưng ta vẫn thấy được cái nồng nàn của tình yêu.”</p>



<p>Tôi yêu Ẩn Lan từ ngày đó.</p>



<p>Ẩn Lan đẹp như bài thơ vô đề. Ẩn Lan sương khói trong “màu áo nhuộm hoàng hôn.” Màu hoàng hôn là màu gì? Vì sao hoàng hôn rồi Ẩn Lan lại “cắp rổ lên cồn hái dâu”? Chắc màu hoàng hôn là một màu lam chiều quyện giữa màu lúa chín với màu ánh nắng đang dần tắt sau đồi, có cả màu khói bếp trắng như sương.</p>



<p>Không gian thơ và tình của ông, tìm mãi không thấy sự đau khổ cằn cỗi của con người. Khi Ẩn Lan “Thế rồi – tăm cá bóng chim/Theo Thầy ẩn dật dời miền đi xa”, để Vương Quan phải “thế rồi vâng lệnh song thân/Se duyên cùng với giai nhân xóm ngoài”</p>



<p>thì ông vẫn không để cho họ phải nếm trải cảm giác chia ly đứt đoạn như Kim-Kiều của Đoạn Trường Tân Thanh.</p>



<p>Có nhớ. Có tìm lại kỷ niệm xưa. Có thấy nơi “năm xưa em tựa cội đào/Tên ai còn dấu khắc vào da cây.”</p>



<p>Ẩn Lan xuất hiện trong thơ ông không nhiều. Chỉ một lần Vương Quan thốt lên gọi “Ẩn Lan ơi! Mái tóc thề.” Chỉ nỗi nhớ rất đơn sơ đó thôi cũng đã làm cho nhạc sĩ họ Phạm ngây ngất. Mái tóc của Ẩn Lan là hình ảnh thực tế duy nhất ông miêu tả về nàng. Mái tóc ấy “buộc chùm hoa ngâu vàng.” Mùi hương mái tóc ấy, qua cảm nhận của chàng nhạc sĩ, nó là “nỗi buồn thơm lâu,” để rồi “gọi em là đóa hoa sầu.”</p>



<p>Nhưng thật ra Ẩn Lan của ông không buồn, không sầu. Ẩn Lan trong Động Hoa Vàng là sương là khói, trong như nước, nhẹ như mây. Từng thanh âm trong bài thơ thoát lên sự nền nã của phù vân. Phù vân trong cuộc đời. Tiếng cười, ánh mắt, mái tóc, đêm trăng… tất cả đều còn đó không hề mất đi. Có chăng là một hình hài khác, ở một nơi khác.</p>



<p>Cái buồn trong thơ ông đẹp và thanh như tiếng chuông chùa vọng lại. Tiếng chuông sẽ dứt, nhưng tiếng ngân để lại âm vang sâu thẳm, để lại trong “mái đình rêu vọng trống chầu nhịp mưa.” Sau khi “sông dài cởi yếm hoàng hôn” thì “bầy chim ngủ đậu bên cồn lại bay” thôi.</p>



<p>Tình trong thơ của ông, nặng như sông như biển, nhưng cũng nhẹ như mây trời.</p>



<p>“Nền trời nhàn nhạt màu mơ<br>Sông đem ráng đỏ sóng hờ hững đi.”</p>



<p>Hai mươi năm sau, Ẩn Lan là ai? Tôi vẫn không biết, và không cần biết.</p>



<p>Chỉ cần biết điều ông để lại, “mối tình là một bài thơ vô đề.”</p>



<p>Và một khung trời có màu nắng nhuộm hoàng hôn, có cả tiếng chuông chùa vọng Thiên Thư.</p>



<p>Nơi đó, người ta sẽ yêu và sống từ tâm.</p>



<p><strong>Kalynh Ngô</strong></p>



<p>(Theo Việt Báo Online)</p>



<p>*Bài do CTV/TVBH gởi</p>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Nguyễn Đông A: Bút điếu người đi &#8230;</title>
		<link>https://t-van.net/nguyen-dong-a-but-dieu-nguoi-di/</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[Nguyễn Đông A]]></dc:creator>
		<pubDate>Sun, 10 May 2026 06:38:00 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Góc Văn]]></category>
		<category><![CDATA[tưởng nhớ Phạm Thiên Thư]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://t-van.net/?p=89071</guid>

					<description><![CDATA[NGỌN ĐÈN THƠ CÒN THỞ GIỮA KHÓI NHANG Chiều Sài Gòn hôm hay tin anh Phạm Thiên Thư mất, trời không mưa mà lòng người yêu thơ hình như nghe có một lớp sương mỏng bay ngang qua. Tin lan đi lặng lẽ lắm, chỉ chậm chậm rơi xuống lòng người như một cánh hoa [&#8230;]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<div class="wp-block-image">
<figure class="aligncenter size-full is-resized"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2026/05/PTT-PN.jpg?strip=all&w=2560"><img loading="lazy" decoding="async" width="650" height="711" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2026/05/PTT-PN.jpg?strip=all" alt="" class="wp-image-89080" style="width:502px;height:auto" srcset="https://cdn.t-van.net/2026/05/PTT-PN-274x300.jpg 274w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2026/05/PTT-PN.jpg?strip=all 650w" sizes="(max-width: 650px) 100vw, 650px" /></a></figure></div>


<div style="height:30px" aria-hidden="true" class="wp-block-spacer"></div>



<p><strong>NGỌN ĐÈN THƠ CÒN THỞ GIỮA KHÓI NHANG</strong></p>



<p>Chiều Sài Gòn hôm hay tin anh Phạm Thiên Thư mất, trời không mưa mà lòng người yêu thơ hình như nghe có một lớp sương mỏng bay ngang qua. Tin lan đi lặng lẽ lắm, chỉ chậm chậm rơi xuống lòng người như một cánh hoa vàng trong “Động Hoa Vàng” năm cũ, mỏng manh vậy mà chạm vô cũng làm mềm đi một khoảng ký ức.</p>



<p>Buổi sáng cùng ngày, người ta còn thấy anh ăn chút yến, còn ngồi nói chuyện với người thân bằng cái giọng chậm rãi, hiền lành quen thuộc. Tôi nghe mà cứ nhớ hoài cái dáng ngồi của anh trong những quán cà phê nhỏ ở Sài Gòn xưa. Người già thì thường già theo tuổi tác. Còn anh, hình như già theo kiểu của mây khói. Càng về cuối đời càng nhẹ. Nhẹ tới mức có cảm giác chỉ cần một cơn gió mạnh hơn thường ngày một chút thôi, anh sẽ tan vào hư không như chính những câu thơ mình từng viết. Bởi thơ anh vốn chưa bao giờ đứng yên trên mặt đất. Nó cứ bảng lảng giữa đạo và đời, giữa tiếng chuông chùa và tiếng guốc học trò, giữa cõi thực và một miền sương khói.</p>



<p>Ngày 9 tháng 5, ngọn lửa sẽ đưa anh đi.</p>



<p>Nghĩ tới điều đó, tôi bỗng thấy lòng mình lạnh ngắt. Không phải bởi anh đi. Hình như chính anh cũng chưa từng sợ chết. Điều làm tôi buồn là từ nay Sài Gòn sẽ thiếu thêm một người biết đi chậm giữa đời này. Mà người biết đi chậm bây giờ hiếm lắm. Đời sống hôm nay ai cũng tất tả, chật vật. Ai cũng muốn đi thật nhanh để theo kịp một điều gì đó, tới chừng ngoảnh lại thì hóa ra mình đã đánh rơi gần hết những rung động đẹp nhất của đời người.</p>



<p>Phạm Thiên Thư thuộc về một lớp người rất lạ của văn chương miền Nam trước 1975. Những người làm thơ không phải để chứng minh mình lớn lao, càng không xem thơ như vũ khí hay khẩu hiệu. Anh làm thơ như người ta thắp một ngọn đèn dầu trong đêm khuya. Chỉ để giữ cho lòng mình còn chút sáng. Chút ấm. Chút người.</p>



<p>Anh tên thật là Phạm Kim Long, sinh năm 1940 ở Hải Phòng, trong một gia đình làm Đông y. Tuổi nhỏ sống ở Đá Trắng, Chi Ngãi, Hải Dương. Rồi năm 1954 theo gia đình vào Sài Gòn, sống ở đó cho tới cuối đời. Cuộc đời ấy có nhiều ngã rẽ rất lạ: đi tu, học Phật, làm thơ, hoàn tục, nghiên cứu dưỡng sinh, thi hóa kinh Phật, rồi lặng lẽ sống như người đứng ngoài mọi xô lệch của thời đại.</p>



<p>Tôi quen anh từ thập niên 1980. Hồi đó chúng tôi hay ngồi cà phê sáng ở mấy quán cóc Sài Gòn. Anh ít nói, trầm tính, nét mặt lúc nào cũng như đang nghĩ chuyện gì xa xăm lắm. Thỉnh thoảng anh đọc thơ mới viết cho tụi tôi nghe. Tôi nhớ nhất giọng đọc của anh. Không diễn cảm. Không nhấn nhá. Chỉ đều đều, nhỏ nhẹ, như thể thơ không phải để khoe mà để thở ra từ lòng mình.</p>



<p>Một bữa nọ, mới quen nhau chưa bao lâu, anh về nhà lục tìm rồi đem tặng tôi cuốn Động Hoa Vàng giấy đã úa vàng theo năm tháng. Tôi cầm cuốn sách mà ngẩn người hồi lâu. Món quà giá trị không nằm ở vật được tặng, mà nằm ở phần đời người ta âm thầm gửi theo trong đó. Rồi tôi tìm đọc nhiều bài thơ khác của anh. Cả một thời Sài Gòn cũ như hiện về. Không phải Sài Gòn bảng hiệu neon sáng choang hay xe cộ nghẹt đường. Mà là Sài Gòn có tà áo trắng đi ngang mùa nắng, có quán cà phê buổi sớm còn thơm mùi thuốc Bastos, có tiếng hát Thái Thanh bay qua radio trong một căn nhà nhỏ cuối hẻm, có Phạm Duy đem thơ người thi sĩ họ Phạm phổ thành nhạc để rồi làm rung động không biết bao nhiêu trái tim Việt Nam suốt nửa thế kỷ.</p>



<p>“Ngày xưa Hoàng Thị” chắc chắn là bài thơ nổi tiếng của anh. Nhưng nếu chỉ nhớ Phạm Thiên Thư bằng bài thơ ấy thì tiếc quá. Dĩ nhiên, bài thơ ấy đẹp thật. Nó đẹp như mùi giấy tập cũ. Đẹp như con đường tan trường đầy nắng. Như cái thời người ta yêu nhau chỉ bằng một dáng đi phía trước.</p>



<p>“Mười năm rồi Ngọ tình cờ qua đây<br>Cây xưa vẫn gầy<br>Phơi nghiêng dáng đỏ…”</p>



<p>Những câu thơ ấy đâu cần hay theo kiểu học thuật. Nó chỉ cần chạm đúng ký ức con người là đủ sống rất lâu. Khi Phạm Duy phổ nhạc, rồi Thái Thanh cất tiếng hát, “Ngày xưa Hoàng Thị” không còn là bài thơ riêng của Phạm Thiên Thư nữa. Nó trở thành ký ức tập thể. Thành một phần của tuổi trẻ lúc bấy giờ.</p>



<p>Nhưng thú thật, tôi vẫn thích “Động Hoa Vàng” hơn. Bởi trong đó có cái cõi riêng nhất của anh. Một cõi thực và mộng, gần mà xa, vừa có tiếng chim chiều ngoài bãi sông, lại có khói thiền bảng lảng trên mái chùa cũ. Ở đó có lau vàng, cánh bướm, có người con gái thấp thoáng như tiên nữ đi qua triền sương. Mùa xuân bay ngang mái tóc người tình rồi tan vào hư vô.</p>



<p>Chiều nay, tôi lại lấy cuốn “Động Hoa Vàng” năm nào ra xem lại. Giấy cũ mèm rồi. Mùi sách cũ bốc lên ngai ngái như mùi thời gian. Ngoài cửa sổ, nắng cuối ngày chảy dài trên hàng cây đứng im thin thít. Tiễn anh đi, tôi đọc “Động Hoa Vàng” lần nữa. Nhưng lần này không đọc bằng đôi mắt hồi trẻ nữa. Đọc bằng cái phần lặng sâu nhất trong lòng mình.</p>



<p>Đọc thơ anh, tôi không có cảm giác mình đang lần theo một trường ca trăm khúc. Cảm giác là giống như mình đang lạc bước vào một động núi bảng lảng khói mây. Nơi mỗi nhịp chân lại chạm một cánh hoa vàng, vừa rơi khỏi cõi mộng. Một tiếng chuông chùa ngân mỏng cuối chiều, hay một bóng người áo lụa đi khuất phía triền sương. Để lại trong lòng kẻ đứng nhìn một khoảng trống đẹp đến nao lòng. Cái đặc dị của bài thơ nằm ở chỗ: nó dài đến bốn trăm dòng lục bát, mà gần như không có cốt truyện theo nghĩa thông thường. Nhưng chính sự phi tuyến, lửng lơ ấy lại làm nên kết cấu tâm linh của tác phẩm. Thơ không đi bằng logic sự kiện, mà đi bằng logic của cảm giác, của ký ức, của vô thức và của thiền quán. Mỗi đoạn như một đợt sóng cảm xúc dạt tới, tan ra, rồi lại tiếp nối bằng một đợt sóng khác, thấp thoáng mà liên hoàn.</p>



<p>Ngay từ những câu mở đầu, anh đã dựng lên một thế giới cổ điển và siêu thực:</p>



<p>“Mười con nhạn trắng về tha</p>



<p>Như Lai thường trụ trên tà áo xuân”</p>



<p>Chỉ hai câu mà đã mở ra đồng thời ba tầng không gian: thiên nhiên, mỹ cảm và Phật học. “Nhạn trắng” vốn là hình ảnh cổ thi phương Đông, thường gắn với ly biệt, tin xa, với mùa thu. Nhưng ở đây, đàn nhạn không bay mà “về tha”. Động từ “tha” nghe mềm, nhẹ, chậm, như một chuyển động mơ hồ giữa cõi thực và cõi mộng. Rồi bất thần, anh đặt vào giữa hình ảnh ấy một ý niệm nhà Phật: “Như Lai thường trụ”. Chữ “thường trụ” trong Phật học không chỉ là tồn tại, mà là bản thể bất sinh bất diệt. Ngay mở đầu, anh đã đặt cái đẹp phù du của nhân gian song song với cái bất biến của chân như. Một bên là “tà áo xuân”, một bên là “Như Lai”. Một bên sắc tướng, một bên bản thể. Và điều tài hoa là anh không triết lý khô cứng. Tư tưởng Phật giáo được hóa thân thành hình ảnh, thành nhạc tính, thành hương sắc.</p>



<p>Những câu tiếp theo càng cho thấy bút pháp tượng trưng điêu luyện:</p>



<p>“Vai nghiêng nghiêng suối tơ huyền</p>



<p>Đôi gò đào nở trên miền tuyết thơm”</p>



<p>Câu thơ mang nhục cảm mà không tục. “Suối tơ huyền”, “gò đào”, “tuyết thơm”, thân thể người thiếu nữ hiện ra bằng chất liệu thiên nhiên. Anh không tả xác thân theo kiểu hiện thực, mà làm cho thân thể tan vào vũ trụ. Đây chính là mỹ học của thơ thiền phương Đông: con người và thiên nhiên không phân ly.</p>



<p>Từ đoạn đầu cho tới khoảng khúc thứ mười lăm, bài thơ chìm trong một không khí tình yêu bảng lảng, u hoài. Nhưng cái tình của anh không phải thứ tình yêu chiếm hữu, mà là thứ tình cảm luôn bị phủ lên bởi ý thức về vô thường. Người đọc gặp đi gặp lại những hình ảnh “sương”, “mây”, “khói”, “hoa rụng”, “chim bay”, “mưa sa”. Đó không chỉ là phong cảnh. Đó là hệ thống biểu tượng của tính “không”.</p>



<p>Chẳng hạn:</p>



<p>“Sông này chảy một dòng thôi</p>



<p>Mây đầu sông thẫm tóc người cuối sông”</p>



<p>Câu thơ đẹp. “Một dòng thôi” mà lại chia cách “đầu sông” và “cuối sông”. Dòng sông ở đây là thời gian, mà cũng là định mệnh. Mây nơi đầu sông đã nhuốm vào tóc người cuối sông. Nghĩa là ly biệt đã có mặt ngay trong tương phùng. Đó là cái nhìn rất Phật giáo: mọi gặp gỡ đều đã hàm chứa chia lìa.</p>



<p>Rồi:</p>



<p>“Con chim chết dưới cội hoa</p>



<p>Tiếng kêu rụng giữa giang hà xanh xao”</p>



<p>Cái hay nằm ở chữ “rụng”. Tiếng kêu vốn vô hình, nhưng anh làm cho nó có trọng lượng, có thân phận. Nó “rụng” xuống giang hà. Cả vũ trụ bỗng xanh xao theo một sinh linh bé nhỏ. Đây là lòng từ bi của thi sĩ. Trong thế giới thơ anh, mọi hữu thể đều có linh hồn.</p>



<p>Đến khoảng những khúc hai mươi trở đi, bài thơ bắt đầu chuyển dần từ tình ái sang thiền vị. Nhưng thật ra, đó không phải chuyển hướng, mà là sự thăng hoa của tình yêu vào cõi tâm linh. Hình bóng người thiếu nữ dần nhập vào hình tượng ni cô, Phật nữ, Bồ Đề.</p>



<p>“Em từ rửa mặt chân như</p>



<p>Nghiêng soi hạt nước mời hư không về”</p>



<p>Đây là một trong những câu thơ hay của “Động Hoa Vàng”. “Chân như” là khái niệm căn bản của Đại thừa: bản thể tuyệt đối của vạn pháp. Một động tác đời thường, “rửa mặt” qua thơ anh bỗng thành một nghi lễ giác ngộ. “Hạt nước” không còn là nước nữa. Nó là tấm gương của hư không. Cái hay của anh là luôn kéo những ý niệm triết học cực lớn xuống bằng những hình ảnh mềm mại, hữu tình.</p>



<p>Rồi:</p>



<p>“Thâu hương hiện kính bồ đề</p>



<p>Phấn son chìm lắng hạt mê luân hồi”</p>



<p>Cụm từ ngắn “chìm lắng” rất đắt. Không phải đoạn tuyệt, cũng không phải phủ nhận dục vọng. Chỉ là “lắng”. Nghĩa là mọi mê lầm rồi cũng tự chìm xuống khi tâm thức tĩnh lại. Đây chính là tinh thần thiền học: giác ngộ không nằm ở chỗ hủy diệt trần gian, mà ở chỗ nhìn xuyên qua nó.</p>



<p>Càng về sau, bài thơ càng ngập tràn biểu tượng Phật giáo:</p>



<p>“Ngừng đây nó hỏi: đâu là vô minh”</p>



<p>“Tiếng chim trong cõi vô cùng</p>



<p>Nở ra bát ngát trên rừng quế hương”</p>



<p>“Một dòng hoa nổi trên trời</p>



<p>Một dòng hoa nở trong người trầm tư”</p>



<p>Ở đây, anh đã đi tới tầng sâu nhất của thi pháp tượng trưng. “Hoa” không còn là hoa. Nó là tâm thức. “Dòng hoa nổi trên trời” là ngoại giới; “dòng hoa nở trong người” là nội giới. Khi hai cõi ấy giao nhau, con người chạm tới giác ngộ.</p>



<p>Đặc biệt, bài thơ có một khả năng rất lạ: biến triết học thành nhạc. Những từ láy như “lãng đãng”, “hững hờ”, “chênh vênh”, “la đà”, “xạc xào”, “bềnh bồng”, “nao nao”, “lấm tấm”… được dùng chính xác, tinh tế, tạo nên một nhịp điệu mơ hồ như sương khói. Anh không dùng từ láy để làm duyên. Anh dùng chúng như những nốt ngân của cảm xúc.</p>



<p>Bút pháp của anh chịu ảnh hưởng sâu từ thơ Đường, thiền thi Nhật Bản và mỹ học Phật giáo Đông Á, nhưng vẫn rất Việt Nam, rất miền Nam ở độ phóng túng và chân tình. Trong thơ anh có cái bảng lảng của cổ thi Trung Hoa, cái u huyền của haiku Nhật, nhưng cũng có cái ngọt ngào, mềm rười rượi của hồn Nam phương. Những dòng thơ như:</p>



<p>“Bới khoai vùi lửa nằm dài nghe chim”</p>



<p>hay:</p>



<p>“Hái bầu nấu bát canh hoa cười khàn”</p>



<p>Thơ mang một vẻ dân dã, ung dung rất miền Nam. Thiền trong thơ anh không ở chùa tháp cao xa. Nó nằm trong giàn thiên lý, trong bát canh hoa, trong tiếng chim chiều.</p>



<p>Một điều đáng nói nữa là cấu trúc thời gian trong “Động Hoa Vàng”. Thời gian ở đây không tuyến tính mà tuần hoàn. Xuân, thu, đông, hạ cứ trở đi trở lại. Người đọc luôn gặp lại “áo tím”, “áo trắng”, “áo hồng”, “tóc mây”, “trăng tà”, “hoa vàng”. Đó không phải cách lặp lại nghèo nàn. Đó là thủ pháp luân hồi hình tượng. Mỗi lần trở lại, hình ảnh mang thêm một lớp nghĩa khác, như một kiếp tái sinh của ký ức.</p>



<p>Và sau cùng, điều làm bài thơ sống lâu chính là nỗi buồn. Nhưng đó không phải thứ buồn tuyệt vọng. Nó là nỗi buồn của người đã hiểu vô thường mà vẫn yêu tha thiết cõi đời. Anh biết mọi thứ sẽ tan biến, nhưng vẫn nâng niu từng cánh hoa, từng dấu chân, từng tà áo.</p>



<p>“Hoa vàng ta để chờ anh</p>



<p>Hiện thân ta hát trên cành tâm mai”</p>



<p>Câu kết như một lời hóa thân. Thi sĩ tan vào hoa vàng, vào tiếng hát, vào tâm mai. Cái “ta” cá nhân không còn nữa. Chỉ còn một bản thể phiêu diêu giữa đất trời.</p>



<p>“Động Hoa Vàng” vì thế không đơn thuần là một trường ca tình yêu, cũng không chỉ là thơ thiền. Nó là hành trình đi từ ái dục tới giác ngộ, từ sắc tới không, từ con người hữu hạn tới cõi tâm linh vô biên. Và điều kỳ lạ nhất: hành trình ấy không khô khan giáo điều, mà mềm như khói, thơm như trầm, lấp lánh như sương đọng trên cánh lan buổi sớm.</p>



<p>Đọc xong bài thơ, tôi cứ nhớ mãi tiếng chuông chiều trong câu:</p>



<p>“Chuông ngân chiều lặng trầm tư</p>



<p>Tiếng lơi đẫm hạt thiên thư bềnh bồng”</p>



<p>Tiếng chuông ấy dường như không chỉ ngân trong chùa. Nó ngân trong ký ức văn hóa Việt Nam, trong cõi cô liêu của thân phận, trong niềm thao thức muôn đời giữa yêu thương và giải thoát. Và anh, người thi sĩ áo mây ấy, đã để lại cho thi ca Việt một động hoa không tàn, nơi mỗi cánh hoa rơi xuống đều mang theo ánh sáng của một cõi tâm linh, mong manh mà mãi còn. “Động hoa vàng” là một cõi thơ đi qua khói sương và kiếp người.</p>



<p>&nbsp;.</p>



<p>Một ít người nói, anh đi tu mà lòng còn vướng cõi tục. Tôi thì không nghĩ vậy. Tôi thấy anh hiểu rất rõ, con người không thể cắt đôi mình ra mà sống. Trong anh, đạo và đời không hề đánh nhau. Chúng soi bóng vào nhau như trăng nằm trên mặt nước. Một lần tôi hỏi chuyện đi tu, anh chỉ cười hiền: “Tôi tu theo cách của mình.” Câu nói nhẹ tênh mà chứa cả một nhân sinh quan. Bởi nếu đọc kỹ thơ anh, người ta sẽ thấy anh chưa bao giờ muốn trở thành một bậc chân tu siêu thoát khỏi nhân gian. Anh vẫn yêu cái đẹp của đời này tha thiết lắm. Vẫn rung động trước tà áo học trò, trước mùa phượng đỏ, trước tiếng guốc gõ trên đường tan học, trước mái tóc người con gái bay ngang chiều gió. Chỉ có điều, cái yêu ấy không vồ vập, không chiếm hữu. Nó bảng lảng như sương khói đứng nhìn đời từ xa, như thể biết trước mọi vẻ đẹp rồi cũng sẽ tan. Cho nên thơ anh mới lạ. Thiền mà tình tứ. Nói chuyện vô thường mà nghe mềm như khói. Dưới mái hiên chùa vẫn có một trái tim biết xao động trước cái đẹp đàn bà.</p>



<p>Mà càng đọc Phạm Thiên Thư, tôi càng thấy anh không phải người trốn đời như nhiều người tưởng. Anh yêu đời sâu sắc lắm. Yêu tới mức không nỡ làm đau nó. Giữa chiến tranh, giữa những biến động dữ dội của lịch sử, khi mà thơ miền Nam phần lớn là thơ thân phận, thơ quê hương tan tác, thơ chiến cuộc, thì thơ anh hiện ra như một dòng suối nhỏ chảy ngang vùng đất cháy. Không hô hào, tranh biện. Chỉ lặng lẽ giữ lại cho con người một nơi để thở. Bởi vậy, nói thơ anh phi chính trị không phải vì anh vô tâm với thời cuộc. Mà vì anh hiểu có những lúc cứu lấy phần người ở trong con người còn khó hơn cứu lấy lập trường.</p>



<p>Năm 1973, anh đoạt giải Văn chương toàn quốc với “Đoạn Trường Vô Thanh”. Cũng năm đó, Du Tử Lê cùng được trao giải thơ. Nghĩ lại mới thấy kỳ lạ. Hai thi sĩ thơ tình của một thời đại đầy bom đạn. Và chính những câu thơ mềm yếu ấy lại là thứ người ta cần nhất giữa những năm tháng hỗn loạn.</p>



<p>Sau 1975, anh ít xuất hiện. Người trẻ sau này thường chỉ biết anh qua vài ca khúc cũ, cũng từng bị cấm nhiều năm. Có người cho rằng thơ anh không còn hợp thời nữa. Nhưng tôi nghĩ không phải thơ anh cũ. Chỉ là đời sống hôm nay quá vội, không thể còn ngồi xuống nghe một tiếng chim hót xa. Người ta bây giờ quen với những thứ gây choáng ngợp tức thì. Còn thơ Phạm Thiên Thư thì phải đọc chậm. Đọc như uống trà, để hơi thơ từ từ thấm.</p>



<p>Anh chưa bao giờ cố làm mới nghệ thuật. Không cách tân hình thức gì cả. Nhưng chính cái vẻ không cố ấy lại làm thơ anh sống lâu. Nó giống một thứ cây mọc tự nhiên bên bờ sông, không ai chăm mà vẫn xanh. Tôi từng nghĩ hoài vì sao thơ anh tồn tại dai dẳng trong lòng người đọc tới vậy. Có thể vì cái tôi trong thơ anh không tuyệt vọng như cái tôi “lãng mạn tiền chiến”. Anh buồn nhưng không tuyệt vọng. Anh tiếc nuối nhưng không chống cự. Anh hiểu mọi thứ rồi sẽ mất nên càng thương hơn từng khoảnh khắc còn hiện hữu. Ngay cả cái chết, vào thơ anh cũng không gì ghê sợ. Nó chỉ như mùa đổi lá.</p>



<p>“Tàn mùa Đông vào chùa bỡ ngỡ<br>Tiễn đưa em trong áo quan này<br>Từng cội hoa – trầm lặng thương nhớ<br>Tóc em xưa – tơ óng như mây”</p>



<p>Mấy hôm nay, tôi ngồi đọc lại thơ anh, những câu thơ cũ bỗng vang lên khác hẳn hồi mình còn trẻ. Hồi trẻ đọc Phạm Thiên Thư, người ta thường thấy tình yêu. Tới lúc nhiều tuổi rồi mới thấy trong thơ anh có một nỗi cô đơn rất sâu. Nỗi cô đơn của người biết mọi vẻ đẹp rồi sẽ tàn, nhưng vẫn cúi xuống nâng niu từng cánh hoa rơi. Chắc là vậy, nên ngay cả lúc thời thế đổi thay, không khí lãng mạn không còn nữa, thơ anh gần như đứng bên lề mọi trào lưu. Anh vẫn tiếp tục viết, vẫn giữ cái giọng riêng của mình như người giữ một ngọn đèn giữa khuya. Biết chẳng còn bao nhiêu người nhìn thấy, nhưng vẫn không nỡ thổi tắt.</p>



<p>&nbsp;.</p>



<p>Từ hôm nay, mỗi lần nghe “Ngày xưa Hoàng Thị”, người hát vẫn còn, bài hát vẫn còn thì ký ức vẫn còn. Chỉ riêng người đã viết ra những câu thơ ấy là không còn ngồi đâu đó giữa Sài Gòn để mỉm cười hiền lành nữa.</p>



<p>Ngày mai, ngọn lửa sẽ đưa anh đi.</p>



<p>Vậy mà nghĩ kỹ, biết đâu anh chưa từng đi đâu cả. Một ít người chết rồi mới thật sự tan vào đời sống. Biết đâu, ở một con đường đầy lá dầu bay, ở một quán cà phê cũ có ai đó tình cờ nghe “Đưa em tìm động hoa vàng&#8230;”. Hay trong một chiều mưa, một người nào đó bất chợt nhớ lại mối tình học trò đã mất, thì lúc ấy, rất có thể, anh Phạm Thiên Thư lại vừa ghé ngang cuộc đời này thêm một lần nữa.</p>



<p><strong>Nguyễn Đông A</strong></p>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Lãng Thanh: “TÌNH CỜ ANH GẶP NÀNG ĐÂY”                               </title>
		<link>https://t-van.net/lang-thanh-tinh-co-anh-gap-nang-day/</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[Tiểu Lục Thần Phong]]></dc:creator>
		<pubDate>Sun, 10 May 2026 06:22:00 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Góc Văn]]></category>
		<category><![CDATA[tưởng nhớ Phạm Thiên Thư]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://t-van.net/?p=89067</guid>

					<description><![CDATA[Hình (Nguồn: nguoitinhhuvo.wordpress.com) Tình cờ thật sao? Làm gì có chuyện tình cờ! Ta đã gặp nàng từ muôn thuở nào phải đến buổi hôm nay. Bây giờ tái ngộ là duyên, là tình, là thơ…Nàng vẫn gót nguyệt chênh chênh như thuở nào. Nàng vẫn mắt biếc má đào muôn thuở. Nàng vẫn trong [&#8230;]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<div class="wp-block-image">
<figure class="aligncenter size-full is-resized"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2026/05/donghoavang1.jpg?strip=all&w=2560"><img loading="lazy" decoding="async" width="474" height="345" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2026/05/donghoavang1.jpg?strip=all" alt="" class="wp-image-89068" style="width:594px;height:auto" srcset="https://cdn.t-van.net/2026/05/donghoavang1-300x218.jpg 300w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2026/05/donghoavang1.jpg?strip=all 474w" sizes="(max-width: 474px) 100vw, 474px" /></a></figure></div>


<p class="has-text-align-center"><em>Hình (Nguồn: nguoitinhhuvo.wordpress.com)</em></p>



<div style="height:30px" aria-hidden="true" class="wp-block-spacer"></div>



<p>Tình cờ thật sao? Làm gì có chuyện tình cờ! Ta đã gặp nàng từ muôn thuở nào phải đến buổi hôm nay. Bây giờ tái ngộ là duyên, là tình, là thơ…Nàng vẫn gót nguyệt chênh chênh như thuở nào. Nàng vẫn mắt biếc má đào muôn thuở. Nàng vẫn trong ta từ lịch kiếp đến giờ. Nhưng dòng đời đẩy đưa, duyên phận đâu như ý được. Nàng qua sông thì có kẻ chợt buồn, kẻ ấy là ta, kẻ ấy là gã thi sỹ, là gã từ quan để “lên non tìm động hoa vàng ngủ say”.</p>



<p>Tôi cũng “tình cờ” đọc được thơ Phạm Thiên Thư mà cụ thể là tác phẩm Động Hoa Vàng. Suốt quãng đời thơ ấu chỉ được học và đọc văn thơ cách mạng toàn sắt thép máu lửa với xung phong. Văn thơ miền Nam bị đốt hết rồi, bị cấm bế, bị tịch thu…“Tình cờ” thế nào mà tôi lục lọi những quyển sách còn sót lại của gia đình có những quyển Tập san Sử Địa xuân Đinh Mùi, Quốc văn giáo khoa thư…và Động Hoa Vàng. Đọc xong tập thơ mỏng này tôi như người say, như đi lạc vào thiên thai, kể từ đó cứ nghiền ngẫm, suy tưởng, mơ mộng “Động Hoa Hàng”. Tôi như thể chiếc lá đẫm mình trong ánh trăng huyền hoặc nửa thực nửa hư.</p>



<p><em>Đêm về đốt nến làm thơ</em></p>



<p>Cả một cung trời hoài niệm xa xưa ùa về, chàng du tử, gã du thủ… rong chơi khắp chốn giang hà, tiếp bao nhiêu khách:Thanh có tục có, say đắm với vóc hạc thanh thanh, với “mùa xuân em mặc áo hồng”…để rồi đêm đêm chong đèn đốt nến làm thơ. Miền Nam lúc ấy đang là lúc dầu sôi lửa bỏng, cuộc chiến khắc nghiệt ngày càng tàn khốc, lòng người hoang mang không biết tương lai đi về đâu. Cuộc sống căng thẳng ngột ngạt… Thế rồi Phạm Thiên Thư tung ra Động Hoa Vàng, đây như thể một liều thuốc an thần quý báu, giúp mọi người có được phút giây lạc trú tạm quên đi cuộc sống và cuộc chiến. Không khí bàng bạc siêu thực của Động Hoa Vàng đem lại cho người cảm giác nhẹ nhõm, bình yên với những hoài niệm về một quá khứ mơ mộng chưa xa mấy…</p>



<p><em>Đợi nhau tàn cuộc hoa này</em></p>



<p>Ai đợi? đợi ai? Ta đợi nàng? Gã thi sỹ đợi nàng? Nàng là Hoàng Thị Ngọ ư? không, nhất định là không! Nàng không tên tuổi, nàng không có ngày tháng, nàng không thuộc về ai. Nàng là tâm tưởng của người thi sỹ. Nàng là cái đẹp của muôn đời.<br><br><em>Gầy em vóc cỏ mây dời</em></p>



<p><em>Tay em mai nở chân trời tuyết pha<br><br></em>Em gầy như tơ liễu, vóc hạc, gót son, áo lụa, hài thêu</p>



<p><em>Lụa nào phơi nắng sông tây<br>Áo xuân hạ nọ xanh hoài thu đông</em>.</p>



<p>Tàn cuộc hoa nhưng bóng dáng nàng vĩnh viễn không tàn, tình vĩnh kiếp không phai, một mai phai thì còn chi để đợi đến tàn cuộc hoa.</p>



<p>Nàng có qua sông, chàng có lên núi tìm động từ quan, đời có vô thường đổi thay, nhưng em ơi hãy nhớ rằng:</p>



<p><em>Bãi dâu vãn mộ cho dù sắc không</em></p>



<p>Có cũng là không mà không lại là có, thuyết sắc không nhà Phật là vậy, lý là vậy nhưng sự thế nào thì vẫn cứ thế mà làm. Cho dù thân ngũ uẩn là giả hợp, cho dù thế giới này là cõi tạm, cho dù cuộc tình này là “khổ”, là “nợ”, là “duyên”… thì em ơi, xin em về bãi dâu vãn mộ để cho ta còn có cớ “đợi cuộc hoa này”. Mộ em vãn nhưng</p>



<p><em>Khóc anh xin&nbsp; nhỏ lệ vào thiên thu</em>”</p>



<p>Sống chết là lẽ thường, hợp tan là đương nhiên, ngay cả tình ta cũng thế, cho dù có nồng nàn say đắm, có thiết tha sâu đắm thế nào đi nữa thì ta cũng chỉ muốn em “nhỏ lệ vào thiên thu” chứ đừng bi lụy khóc cho ta hay khóc cho cuộc tình. Mình đã sống, đã “đợi tàn cuộc hoa này” rồi thì khóc liệu có phải “hiểu” nhau thật không? Cụ Nguyễn Du cũng từng bảo :”Đã lòng tri quá thì nên” Kia mà!</p>



<p><em>Yêu nhau từ độ bao giờ</em></p>



<p><em>Gặp đây giả bộ hững hờ khói bay</em><em></em></p>



<p><em><br></em>Yêu nhau từ lịch kiếp, tâm tư luôn có bóng hình nàng, vậy mà giờ gặp nhau lại giả bộ hững hờ. Phải chăng là tuổi mới lớn? hay là vì khoác chiếc áo thiền sư? Đời có trăm ngàn duyên cớ để cách ngăn chẻ chia nhưng tình thì chỉ có một. Dù có thế nào đi nữa thì tình này vẫn khảm trong tim, để rồi</p>



<p><em>Em là hoa hiện dáng người</em></p>



<p><em>Tôi là cánh bướm cung trời về say</em></p>



<p>Bây giờ thì bao nhiêu kinh kệ và thuyết sắc không cũng không cản được tim người. Ngắm hoa thấy người. Ta đã hóa thành con bướm say hoa. Ta từ bỏ thân phận thiền sư, từ bỏ phẩm trật quan trường. Ta hạnh phúc làm cánh bướm say bên hoa. Ngày xưa Trang Châu cũng từng ngơ ngác hỏi “không biết ta là bướm hay bướm hóa thành ta?”. Bướm Trang Châu là con bướm thoát tục, tái sinh, biến hóa không lường. Cánh bướm của Phạm Thiên Thư thì rõ ràng từ “thân phận ta” hóa thành để mà say bên hoa.</p>



<p>Động Hoa Vàng bàng bạc như trăng đêm, huyền hoặc như cổ tích ngày xưa. Động Hoa Vàng với nhiều điển tích cổ “Chén rượu quan hà”, “ Quả cầu nhẹ gieo”, “chồn cáo đùn hang”…Càng đọc ta càng lạc vào “cõi động không hư”, áo ta dường như đẫm sương đêm, bỗng dưng ta trở thành gã du tử mà quên đi những nhọc nhằn của đời, tạm gác lại những trí trá trần trụi của cuộc đời. Phạm Thiên Thư đã có chín năm sống đời tu sỹ, nhờ vậy mà ông có đủ kiến thưc Phật học về triết học, nhân sinh quan, ngôn từ Phật học… để viết Động Hoa Vàng, thi hóa kinh Phật. Mở đầu tập thơ, ông viết</p>



<p><em>Mười con nhạn trắng về tha</em></p>



<p><em>Như Lai thường trụ trên tà áo xuân</em></p>



<p>Mười con nhạn trắng phải chăng là thập phương thường trụ? Như Lai xưa nay vẫn thường trụ nào có đi đến, chẳng có sanh có diệt. Pháp thân Như Lai vốn khắp mười phương xuyên suốt ba đời: quá khứ, hiện tại, vị lai. Động Hoa Vàng lơ lửng lưng chừng không hẳn đạo nhưng cũng chẳng toàn đời. đời và đạo dung thông nhau, lồng vào nhau, nương nhau. Đạo từ đời mà ra, đời nhờ đạo thăng hoa. Chín năm khoác áo tu sỹ nhưng tâm hồn thi sỹ vẫn thiết tha với đời, bởi vậy mà ông tự cười cợt chính mình<br><em>Vạc rằng thưa bác Thiên Thư</em></p>



<p><em>Mặc chi cái áo thiền sư ỡm ờ</em></p>



<p>Phạm Thiên Thư đã hóa thân vào nhân vật vô tung trong Động Hoa Vàng. Ông vẽ nên một cảnh giới kỳ diệu</p>



<p><em>Nửa đời mây nước du phương</em></p>



<p><em>Thiền sư ngắt cỏ cúng dường Phật thân</em></p>



<p>Thiên hạ cúng dường tiền bạc châu báu, cúng dường của ngon vật lạ…Ấy thế mà thiền sư chỉ ngắt cộng cỏ cúng dường Phật, vậy có thiếu kính lễ chăng? Thiếu lòng thành chăng? Không, trăm ngàn lần không! Đó là chí thành, chí kính. &nbsp;Một cộng cỏ của lòng thành còn quý hơn thiên kim vạn bạc. Đã ngộ thì ngộ ngay chỗ này, đã vô minh thì dù có mâm cao cỗ đầy vẫn vô minh. Tiền nhân xưa cũng đã từng bảo: “có thì có tự mảy may/không thì cả thế gian này cũng không”. Ôi chao, cúng dường một cộng cỏ mà thấu cả pháp thân Phật, tiếc thay cho thiên hạ, một khi mê thì có cúng dường cỡ nào vẫn cứ mê thì làm sao thấy được Phật thân đây?</p>



<p><em>Núi nghiêng suối vắt tơ đàn</em></p>



<p><em>Nhìn ngoài thạch động mưa vàng lưa thưa</em></p>



<p>Có lẽ cũng chẳng cần phân tích hay bình luận chi cả, nội thân hai câu thơ đã đủ đầy cả rồi. Tác giả vẽ nên một cảnh đẹp đến nao lòng, cứ ngỡ như hoạt cảnh của phim cổ tích Walt Disney hoặc là hình ảnh trong những truyện Fairy tale. Một trăm khổ thơ lục bát mềm mại, nhu nhuyến, mượt mà như dòng suối chảy qua tâm hồn, càng đọc càng lịm cả thân tâm. Trong lịch sử thơ ca Việt Nam có lẽ Truyện Kiều và Động Hoa Vàng là hai tác phẩm thơ lục bát đẹp nhất, nghệ thuật ngôn từ đạt đến độ tuyệt vời nhất, khó có thể có ai làm thơ lục bát hay hơn được nữa. Khi đọc Động Hoa Vàng, tâm trí tôi vẫn cứ mường tượng tác giả là một người rất lãng tử, mi thanh mục tú, hình dong thanh tú, hành trạng thanh vận…nhưng khi nhìn chân dung thật của tác giả tôi thấy có gì đó mâu thuẫn với những dòng thơ mượt mà kia, quả thật đúng là ngọc trong đá. Khi đọc đến hai câu</p>



<p><em>Xuống đầm tát cá xâu cây</em></p>



<p><em>Bới khoai vùi lửa nằm dài nghe chim</em></p>



<p>Đến đây thì hoàn toàn không còn nghi ngờ gì nữa, quả thật “chàng” thoát tục rồi, thong dong tự tại, không còn bị ràng buộc bởi danh phận hay những thứ mà người đời tranh đoạt cho bằng được. Thiền tông Đông độ xưa có thiền sư Lại Toản đã từng như thế. Sứ giả đến đọc chiếu chỉ của vua ông chẳng thèm nghe, chẳng tiếp, chỉ lúi húi bới khoai vùi trong tro bếp. Sứ giả đọc xong bảo ngài tạ ơn vua ban thưởng, ông bảo: “Ta chẳng bận đến việc của người đời”. “Chàng” đã từ quan, đã nhập động hoa vàng ngủ quên sự đời, quên công danh thân phận thì còn có gì có thể làm cho “chàng” bận lòng được? có chăng đó chỉ là chút :”tình cờ gặp nàng đây” mà thôi! Chỉ chút “tìnhcờ” nhưng cả đời không dứt, thậm chí cho đến mai sau cũng sẽ còn :”lên đồi trẩy một giỏ sim làm quà”. “Chàng”, “thiền sư” nằm dài không phải nghe kinh kệ mà chỉ để nghe chim. Tiếng chim vi diệu kia cũng chính là pháp âm của ca lăng tần già, công mạng, bạch hạc vậy. “chàng” tài hoa quá, tâm hồn mẫn cảm và tinh tế biết bao, dù “chàng” có là thiền sư, là du sỹ hay gì gì đi nữa nhưng tâm hồn chàng vẫn mong manh như cánh hoa, trong vắt như pha lê, mênh mông như mây trời, bồng bềnh như bọt nước trùng khơi. “chàng” đã khảm</p>



<p><em>Một dòng hoa nổi trên trời</em></p>



<p><em>Một dòng hoa nở trong người trầm tư.</em></p>



<p>Kẻ hậu sinh này đã từng bao đêm chong đèn đọc Động Hoa Vàng, đã yêu và đã lậm vào tận tâm can. Nay ông đã nhập “động hoa vàng” ta còn ngồi lại dưới trời hoàng hoa tưởng nhớ và mơ về “ từ vàng hoa nọ bây giờ vàng hoa”. Kẻ hậu sinh này từ phương ngoại ngàn dặm xa xin dâng nén tâm hương vọng về. Xin mượn “nước xuôi làm rượu quan hà” tiễn nhau.</p>



<p><strong>Lãng Thanh</strong></p>



<p><em>Ất Lăng thành, 0526</em></p>



<p><strong>PHỤ LỤC:</strong></p>



<p class="has-text-align-center"><strong>ĐỘNG HOA VÀNG &#8211; THƠ PHẠM THIÊN THƯ</strong></p>



<div data-wp-interactive="core/file" class="wp-block-file"><object data-wp-bind--hidden="!state.hasPdfPreview" hidden class="wp-block-file__embed" data="https://cdn.t-van.net/2026/05/Dong-hoa-vang.pdf" type="application/pdf" style="width:100%;height:600px" aria-label="Embed of Dong hoa vang."></object><a id="wp-block-file--media-eb0812bb-4787-45dd-abf5-e113367ac2aa" href="https://cdn.t-van.net/2026/05/Dong-hoa-vang.pdf" class="mcloud-attachment-89069">Dong hoa vang</a><a href="https://cdn.t-van.net/2026/05/Dong-hoa-vang.pdf" class="wp-block-file__button wp-element-button mcloud-attachment-89069" download aria-describedby="wp-block-file--media-eb0812bb-4787-45dd-abf5-e113367ac2aa">Download</a></div>



<p>(Nguồn: cntyk2.free.fr)</p>



<p></p>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Nguyễn Thiên Nga: Vĩnh Biệt Người Dệt Mộng Cho Nhân Gian</title>
		<link>https://t-van.net/nguyen-thien-nga-vinh-biet-nguoi-det-mong-cho-nhan-gian/</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[Nguyễn Thiên Nga]]></dc:creator>
		<pubDate>Sun, 10 May 2026 06:01:00 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Góc Văn]]></category>
		<category><![CDATA[thơ nguyễn thiên nga]]></category>
		<category><![CDATA[tưởng nhớ Phạm Thiên Thư]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://t-van.net/?p=89086</guid>

					<description><![CDATA[Marguerite &#8211; Ảnh: NTN Nghe tin thi sĩ Phạm Thiên Thư vừa rời gót lãng du để về miền mây trắng, lòng tôi bỗng chùng lại giữa một chiều phố núi trầm mặc. Mở lại trang blog cũ, đọc đoản văn mình đã viết về một “Ngày Xưa Hoàng Thị”, tôi càng bâng khuâng… “Cho [&#8230;]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<div class="wp-block-image">
<figure class="aligncenter size-large is-resized"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2026/05/anh-NTN.jpg?strip=all&w=2560"><img loading="lazy" decoding="async" width="1024" height="768" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2026/05/anh-NTN-1024x768.jpg?strip=all" alt="" class="wp-image-89087" style="width:598px;height:auto" srcset="https://cdn.t-van.net/2026/05/anh-NTN-300x225.jpg 300w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2026/05/anh-NTN-1024x768.jpg?strip=all 1024w, https://cdn.t-van.net/2026/05/anh-NTN-768x576.jpg 768w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2026/05/anh-NTN.jpg?strip=all 1080w" sizes="(max-width: 800px) 100vw, 800px" /></a></figure></div>


<p class="has-text-align-center"><em>Marguerite &#8211; Ảnh: NTN</em></p>



<div style="height:30px" aria-hidden="true" class="wp-block-spacer"></div>



<p>Nghe tin thi sĩ Phạm Thiên Thư vừa rời gót lãng du để về miền mây trắng, lòng tôi bỗng chùng lại giữa một chiều phố núi trầm mặc.</p>



<p>Mở lại trang blog cũ, đọc đoản văn mình đã viết về một “Ngày Xưa Hoàng Thị”, tôi càng bâng khuâng…</p>



<p><em>“</em><em>Cho tôi một ngày trở lại tuổi mười tám, đôi mươi. Một ngày của những ngày còn hồn nhiên sách vở, còn ắp đầy một trời mộng mơ. Một ngày vui vui với câu hát nghêu ngao ai theo về đầu ngõ để chị ra lườm nguýt, dè chừng… &#8220;Em tan trường về, đường mưa nho nhỏ. Ôm nghiêng tập vở, tóc dài tà áo vờn bay&#8230;&#8221;. </em><em></em></p>



<p><em>Tên mình không là &#8220;Ngọ&#8221;, nhưng cũng trùng tí ti âm đầu, để ai đó tha hồ &#8220;copy&#8221; hồn thơ Phạm Thiên Thư và&nbsp; Phạm Duy chắp cánh cho lời thơ quấn quýt bước chân ai ngẩn ngơ&#8230;</em></p>



<p><em>Một ngày, lòng rộn ràng khi nhận được những đoá Marguerite trắng, mà biết chắc tối qua có người vào hái trộm trong vườn hoa Palace Hotel. Người trao ngại ngùng, để người nhận vương chút thẹn thùng. Đôi má con gái đỏ hồng như táo chín, để ai ước được cắn vào một miếng thơm tho. Ánh mắt long lanh rợp một trời nắng hạ, phố nghiêng mình cho lớp lớp mây qua. Ta giữ mãi một nét kiêu sa, về cạnh phố khi chiều về trầm mặc&#8230;</em></p>



<p><em>Một ngày nhận được bài thơ viết vội, chữ nghiêng nghiêng như con dốc hẹn hò. Những vần thơ đầy tiếc nuối &#8220;Sao tóc không còn dài/ Hay tình em ngắn lại..&#8221;<br>Là ngày tóc không còn vương mây trời, và ta cũng loanh quanh &#8220;Ai mang bụi đỏ đi rồi&#8230;&#8221;</em></p>



<p><em>Tình ơi, tình ơi!”</em></p>



<p>Đúng vậy, nhắc đến Phạm Thiên Thư, không thể không nhắc đến <strong><em>Ngày Xưa Hoàng Thị</em></strong>. Bài thơ của ông (và bản phổ nhạc của Phạm Duy) đã trở thành một biểu tượng bất hủ cho tuổi trẻ và có thể nói đó còn là linh hồn của những cuộc tình học trò<strong>.</strong> Ông đã mượn hình tượng một “nàng Ngọ” để dệt nên cả một bầu trời thanh xuân cho bao thế hệ, trong đó có tôi &#8211; một người có cái tên trùng tí ti âm đầu – “ng”, đến hôm nay vẫn “<em>Vai nghiêng nghiêng suối tơ huyền” </em>vàthoáng xao xuyến, rung rưng với chùm hoa Marguerite trắng được ai đó tặng ngày xưa bên thềm trăng mười tám. Nhờ ông, mà những cô gái tuổi mười tám như tôi ngày ấy thấy mình kiêu sa hơn trong tà áo dài trắng vờn bay, thấy đường mưa nho nhỏ cũng hóa thành cung nhạc.</p>



<p>Cảm ơn ông – thi sĩ Phạm Thiên Thư, người đã mang giáo lý nhà Phật hòa quyện vào những vần thơ tình lãng mạn, tạo nên một dòng chảy vừa thoát tục, vừa rất đỗi đời thường; là tu sĩ Phật giáo nhưng ông vẫn nhắc đến Chúa – một tinh thần tự do tuyệt vời:</p>



<p><em>Tiếng em hát giữa giáo đường</em></p>



<p><em>Chúa về trong những thánh chương bàng hoàng</em></p>



<p>(Đoạn 52 – Động Hoa Vàng)</p>



<p>Dẫu biết đời là vô thường, dẫu biết mái tóc rồi sẽ không còn dài và bụi đỏ rồi sẽ mang đi những ngây ngô thuở trước, nhưng “động hoa vàng” mà ông để lại sẽ mãi là cõi trú bình yên cho những tâm hồn đa cảm.</p>



<p>Hôm nay, ông đã về phía bên kia dốc cuộc đời. Phải chăng, ông không ra đi, ông chỉ đang dạo bước sang một phố khác, nơi <em>“đường mưa nho nhỏ</em>” ấy vẫn luôn có những tà áo lụa vờn bay trong cõi vĩnh hằng&#8230;&#8221;</p>



<p>Kính tiễn ông, Phạm Thiên Thư &#8211; người thi sĩ đã mang cả một trời mộng mơ trả lại cho nhân gian. Hẹn gặp ông ở một “ngày xưa” vĩnh cửu, nơi tóc vẫn dài và tình chẳng hề ngắn lại&#8230;</p>



<p><strong>Nguyễn Thiên Nga</strong></p>



<p><strong>PHỤ LỤC:</strong></p>



<p><strong>PHẠM THIÊN THƯ</strong></p>



<p><strong><em>Ngày Xưa Hoàng Thị…&nbsp;</em></strong></p>



<p>Em tan trường về<br>Ðường mưa nho nhỏ<br>Chim non giấu mỏ<br>Dưới cội hoa vàng<br>&nbsp;<br>Bước em thênh thang<br>Áo tà nguyệt bạch<br>Ôm nghiêng cặp sách<br>Vai nhỏ tóc dài<br>&nbsp;<br>Anh đi theo hoài<br>Gót giầy thầm lặng<br>&nbsp;<br>Ðường chiều úa nắng<br>Mưa nhẹ bâng khuâng<br>&nbsp;<br>Em tan trường về<br>Cuối đường mây đỏ<br>Anh tìm theo Ngọ<br>Dáng lau lách buồn<br>&nbsp;<br>Tay nụ hoa thuôn<br>Vương bờ tóc suối<br>&nbsp;<br>Tìm lời mở nói<br>Lòng sao ngập ngừng<br>Lòng sao rưng rưng<br>Như trời mây ngợp<br>&nbsp;<br>Hôm sau vào lớp<br>Nhìn em ngại ngần<br>&nbsp;<br>Em tan trường về<br>Ðường mưa nho nhỏ<br>Trao vội chùm hoa<br>Ép vào cuối vở<br>&nbsp;<br>Thương ơi vạn thuở<br>Biết nói chi nguôi<br>Em mỉm môi cười<br>Anh mang nỗi nhớ<br>&nbsp;<br>Hè sang phượng nở<br>Rồi chẳng gặp nhau<br>&nbsp;<br>Ôi mối tình đầu<br>Như đi trên cát<br>Bước nhẹ mà sâu<br>Mà cũng nhòa mau<br>&nbsp;<br>Tưởng đã phai màu<br>Ðường chiều hoa cỏ<br>Mười năm rồi Ngọ<br>Tình cờ qua đây<br>Cây xưa vẫn gầy<br>Phơi nghiêng ráng đỏ<br>Áo em ngày nọ<br>Phai nhạt mấy màu?<br>&nbsp;<br>Chân theo tìm nhau<br>Còn là vang vọng<br>Ðời như biển động<br>Xóa dấu ngày qua<br>&nbsp;<br>Tay ngắt chùm hoa<br>Mà thương mà nhớ<br>&nbsp;<br>Phố ơi muôn thuở<br>Giữ vết chân tình<br>&nbsp;<br>Tìm xưa quẩn quanh<br>Ai mang bụi đỏ<br>&nbsp;<br>Dáng em nho nhỏ<br>Trong cõi xa vời<br>&nbsp;<br>Tình ơi tình ơi!</p>



<p>(Nguồn: vuonthien.com.vn)</p>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
		<item>
		<title>NGUYỄN AN BÌNH: PHẠM THIÊN THƯ- NGƯỜI HÀNH GIẢ SUỐT ĐỜI LANG THANG TÌM ĐỘNG HOA VÀNG</title>
		<link>https://t-van.net/nguyen-an-binh-pham-thien-thu-nguoi-hanh-gia-suot-doi-lang-thang-tim-dong-hoa-vang/</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[Nguyễn An Bình]]></dc:creator>
		<pubDate>Sun, 10 May 2026 05:41:00 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Góc Văn]]></category>
		<category><![CDATA[tưởng nhớ Phạm Thiên Thư]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://t-van.net/?p=79028</guid>

					<description><![CDATA[Khi tôi chuyển về Sài Gòn sinh sống, đó là một cơ hội để tôi được giao du, tiếp xúc gặp gỡ những văn nghệ sĩ thành danh mà mình nghe tiếng hoặc ái mộ, họ có những tác phẩm được nhiều người biết đến trước và sau năm 1975 và nhà thơ Phạm Thiên [&#8230;]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<div class="wp-block-image">
<figure class="aligncenter size-large is-resized"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2025/04/DwXxizYu-image001.jpg?strip=all&w=2560"><img loading="lazy" decoding="async" width="806" height="1024" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2025/04/image001-806x1024.jpg?strip=all" alt="" class="wp-image-79029" style="width:470px;height:auto" srcset="https://cdn.t-van.net/2025/04/image001-236x300.jpg 236w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2025/04/image001-806x1024.jpg?strip=all 806w, https://cdn.t-van.net/2025/04/image001-768x976.jpg 768w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2025/04/DwXxizYu-image001.jpg?strip=all 984w" sizes="(max-width: 800px) 100vw, 800px" /></a></figure></div>


<div style="height:30px" aria-hidden="true" class="wp-block-spacer"></div>



<p>Khi tôi chuyển về Sài Gòn sinh sống, đó là một cơ hội để tôi được giao du, tiếp xúc gặp gỡ những văn nghệ sĩ thành danh mà mình nghe tiếng hoặc ái mộ, họ có những tác phẩm được nhiều người biết đến trước và sau năm 1975 và nhà thơ Phạm Thiên Thư là một trong những người tôi có cái duyên hội ngộ như thế. Tôi gặp nhà thơ lần đầu sau khi ông đã trải qua cơn đột quỵ thứ hai, tuy đã thoát qua cửa ải tử sinh nhưng thần thái không còn mẫn tiệp như trước, tuy nhiên ông vẫn nhớ được nhiều người nhiều việc, vẫn còn sáng tác trong chừng điều kiện sức khỏe cho phép. Ngồi với ông trong các buổi ra mắt của tập san Quán Văn ở quán cà phê Lọ Lem, hay trong chùa Linh Bửu ở Quận 8 hoặc có dịp cùng các bạn văn đến thăm ông ở quán cà phê Hoa Vàng. Nói đến quán cà phê Hoa Vàng các bạn yêu nhà thơ Phạm Thiên Thư thì ai cũng biết, nó nằm trên đường Hồng Lĩnh, một con đường nhỏ khá vắng trong khu cư xá Bắc Hải thuộc quận 10 Tp Hồ Chí Minh, lúc đó trông nhà thơ giống như tiên ông đang phiêu diêu giữa chốn trần gian còn nhiều tục lụy, trong bộ quần áo đời thường ông ngồi im lặng như một thiền sư chiêm nghiệm, một triết gia thâm trầm trong làn khói tỏa từ tẩu thuốc ông hút như một vật bất ly thân, mắt mơ màng nhìn cõi đời một cách ung dung tự tại làm tôi liên tưởng đến một hành giả đã rũ bỏ lòng trần đang trở về non để tìm Động Hoa Vàng ngủ một giấc thật say.</p>



<p>Căn nhà ở đường Hồng Lĩnh nơi ông ở tầng dưới là quán cà phê lấy tên Hoa Vàng nơi người vợ sau của ông kinh doanh để mưu sinh, phía bên kia đường đặt một vài cái bàn, một ít cái ghế để cho khách thập phương thích không khí đường phố ngồi uống cà phê chuyện trò và nơi đây cũng là chỗ ngồi thường xuyên của ông với tẩu thuốc luôn thả khói. Có một giai thoại thú vị về thời kỳ quán cà phê Hoa Vàng mới mở: Vì chưa có nhiều khách nên ông vừa là tiếp viên vừa kiêm luôn việc giữ xe cho khách. Nhiều cô cậu tuổi teen thích những ca khúc phổ từ thơ Phạm Thiên Thư tìm đến Hoa Vàng để được xem “chàng hoàng tử” của “nàng Hoàng Thị Ngọ” ra sao, gửi xe xong hỏi ông lão giữ xe: “Nhà thơ Phạm Thiên Thư có ở đây không ạ?”. Lão giữ xe cục mịch cười “khoe” hàm răng vẩu: “Ông ấy đi vắng rồi”.&nbsp;&nbsp;</p>



<p>&nbsp;Trước mặt chỗ ông ngồi có đặt một tảng đá lớn và thường xuyên có cắm vài đóa cúc vàng còn tươi. Bạn bè đến thăm ông để ý ở mỗi địa điểm cư ngụ mà ông đi qua đều có sự hiện diện của hoa vàng, có lẽ trong cuộc đời thi sĩ hoa vàng là một biểu tượng gắn liền với những ký ức, cuộc tình không quên nào đó chăng? Có lần ông kể với bạn bè : “Năm 1942, khi cả gia đình còn ở xã Chi Ngãi, huyện Chí Linh (Hải Dương), bố tôi mua hẳn ngọn đồi Phượng Hoàng. Hoa cúc dại vàng mọc mênh mông, bát ngát chạy dài che khuất đường chân trời”. Chính hình ảnh hoa vàng ấy đã theo ông suốt cả từ thời niên thiếu đó cho đến khi vào Nam, hoa vàng luôn có mặt những nơi ông ở và nó xuất hiện dày đặc trong thơ Phạm Thiên Thư. Nó trở thành một biểu tượng xuyên suốt, một nỗi hoài niệm khôn nguôi trong lòng nhà thơ.</p>



<p>Trở lại với bài thơ Động Hoa Vàng, ta cũng nên tìm hiểu một chút về sự ra đời của nó: Trước năm 1975 ở miền Nam sống trong bầu không khí chiến tranh đầy bất an, lòng người chán chường luôn tìm cách thoát khỏi cái không khí ngột ngạt chết người, đúng trong thời điểm đó xuất hiện những nhạc phẩm thật trong sáng lãng mạn nói về tình yêu học trò, thanh niên học sinh thời ấy ai mà không si mê các ca khúc mà nhạc sĩ Phạm Duy đã phổ thơ Phạm Thiên Thư, nó như một làn gió mới nổi đình nổi đám tràn qua các đô thị miền Nam thời bấy giờ.</p>



<p>Sự kết hợp thơ nhạc giữa Phạm Duy và Phạm Thiên Thư hình như có mối duyên kỳ ngộ thì phải: Bản thân nhạc sĩ khi đọc thơ của Phạm Thiên Thư đã nhận ra rằng những bài thơ về đạo của nhà thơ lại rất gần với đời nên trong lúc hứng khởi ông đã phổ một loạt 10 bài đạo ca vào năm 1971 và từ duyên nghiệp đó lại chính là chiếc cầu nối để Phạm Duy phổ những bài thơ tình của Phạm Thiên Thư, tính ra khoảng 15 bài tình ca ra đời sau đó như: Ngày xưa Hoàng Thị, Đưa em tìm động hoa vàng, Em lễ chùa nầy, Gọi em là đóa hoa sầu. Loài chim bỏ xứ&#8230;</p>



<p>Sau nầy trong hồi ký của Phạm Duy, người nhạc sĩ cũng cho ta thấy rõ điều đó: Khoăng năm 1970, nhạc Phạm Duy đã trải qua một chặng đường dài phổ biến trong các đô thị miền Nam, ông sáng tác rất nhiều thể loại từ dân ca, tình ca, vỉa hè ca, hoan ca, tục ca, tâm phẫn ca&#8230;sáng tác của Phạm Duy đang đi vào bế tắc. Ngay thời điểm đó, với sự giới thiệu của nhà văn Nguyễn Đức Quỳnh, ông bắt gặp những vần thơ thanh thoát, nhẹ nhàng, vừa mênh mang lại thâm trầm, nửa đạo nửa đời, chứa đựng thiền ý sâu xa của người tu sĩ làm thơ Thích Tuệ Không(pháp danh của Phạm Thiên Thư lúc bấy giờ). Phạm Duy đã tìm ra lối thoát cho việc sáng tác nhạc của mình và những bài Đạo ca được ra đời từ ấy. Cũng trong mối duyên thơ nhạc đó, những bài tình ca dựa vào thơ của Phạm Thiên Thư cũng lần lượt ra đời tạo nên một làn sóng hâm mộ trong lòng người yêu nhạc.</p>



<p>Ca khúc “Đưa em tìm động hoa vàng” là một ca khúc nổi tiếng đi vào lòng người yêu nhạc từ những năm đầu thập niên 1970 cho mãi đến bây giờ được Phạm Duy chọn lọc, lấy ra những câu thơ ấn tượng nhất trong bài thơ Động hoa vàng của Phạm Thiên Thư để viết ra. Phạm Duy đã từng viết về điểu nầy: “<em>Phạm Thiên Thư đưa cho tôi tập thơ Ðưa em tìm động hoa vàng hay bài thơ Gọi em là đóa hoa sầu&#8230; để tôi phổ thành những bài hát thanh cao nhất của thời đại. Ðối với tôi lúc đó, hình ảnh thiền, chùa, động hoa vàng thật là mát mẻ và rất cần thiết. Bài Ðưa em tìm động hoa vàng được rút ra từ mấy trăm câu thơ của thi sĩ, và ta chỉ cần có ba đoạn ca là nói lên hết được cái cảnh ngày xưa, có kẻ từ quan, lên non tìm động hoa vàng&#8230; Ðể làm gì? Không phải chỉ để nhớ nhau mà chính ra là để ẩn náu vậy”.</em><em> (Trích Vang Vọng Một Thời – Mùa hè, 2012)</em></p>



<p>Động Hoa Vàng là một tập trường thi gồm 100 khúc thơ lục bát(mỗi khúc 4 câu) thể hiện tâm thức của một hành giả giác ngộ trước cuộc sống nhân sinh đầy bất trắc muộn phiềnmuốn thoát ly sinh tử tìm về cội nguồn vĩnh cửu của cái đẹp thiên tiên không vướng bụi trần và những tục tụy buông bỏ lại sau lưng. Thoát khỏi vòng luân hồi chìm đắm trong cõi nhân sinh phiền muộn là ý muốn của nhiều người khi đời đã trải qua nhiều thăng trầm của cuộc sống. Ta biết tác phẩm Động hoa vàng được Tuệ Không, tức Phạm Thiên Thư viết ra trong một hoàn cảnh đất nước chiến tranh, giữa một xã hội và thời sự đảo điên, lối sống thực dụng băng hoại nên lời thơ muốn thoát đi những dung tục đó tìm về một thế giới yên bình, hạnh phúc đơn sơ gắn bó với thiên nhiên như sông suối, đồi cỏ, mây hồng, triết lý của đạo phật phảng phất trong từng câu thơ, hình ảnh. Những ai yêu thích, say đắm bài thơ Động Hoa Vàng chắc sẽ bất ngờ khi biết nhiều hình ảnh, ý tứ của bài thơ được nhà thơ lấy cảm hứng từ căn gác gỗ ở khu cù lao Phan Xích Long. Hay nói một cách nào đó, khu cù lao Phan Xích Long chính là “động hoa vàng” thu nhỏ của Phạm Thiên Thư thời kỳ đó. Cũng chính nơi đây, ông đã trải qua những năm tháng sáng tác rực rỡ nhất trong cuộc đời mình.&nbsp;Nơi đây còn là nơi cư ngụ của nhiều văn nghệ sĩ như Trụ Vũ, Thụy Long, cũng là nơi lui tới bàn chuyện con chữ thế sự của Phạm Duy, Sơn Nam&#8230; Năm 1968, gia đình nhà thơ mua 400m<sup>2</sup>&nbsp;đất ở khu cù lao. Rồi ông sáng tác thi phẩm&nbsp;<em>Động hoa vàng</em>&nbsp;với 100 đoạn thơ trong giai đoạn nầy. Mỗi đoản khúc được ví một tiếng hót của loài dị điểu, sẵn sàng yêu và chết, và để tiếng hót của mình rơi rụng trên giang hà.</p>



<p>Nói về Phạm Thiên Thư có người nhận xét:&nbsp;<em>“người hiền sĩ ngồi bên lề cuộc sống ta bà, lặng yên thi hóa kinh phật”</em>. Đọc thơ ông, ta tìm thấy những điều phong phú và mới lạ về tôn giáo, tình yêu và thiên nhiên. Giữa một thời đạn lửa, ông bình thản lập cho mình một cõi thi ca riêng: trong trẻo, trữ tình và đậm chất Thiền…</p>



<p>Trước hết Động hoa vàng theo tôi là một bài thơ &#8230;tình chứa đậm rất nhiều thiền ý và gã từ quan trong bài cũng là người hành giả đang lang thang suốt đời luôn đi tìm một tình yêu trong sương khói mịt mù:</p>



<p><em>Ta về rũ áo mây trôi</em><em><br>Gối trăng đánh giấc bên đồi dạ lan<br>Rằng xưa có gã từ quan<br>Lên non tìm động hoa vàng ngủ say</em></p>



<p>Cái tình ấy bắt đầu từ việc “ Rằng xưa có gã từ quan. Lên non tìm động hoa vàng ngủ say”, người ta những tưởng cái gã từ quan ấy chán ngán mệt mỏi lắm rồi sự gò bó của chốn quan trường đầy xu nịnh, buông bỏ tất cả lên non tìm sự nhàn nhã thanh thản trong phần đời còn lại của mình nhưng không phải thế, nó lại mở ra một cõi tình mênh mông, nỗi khao khát kiếm tìm tỉnh yêu trong một không gian đầy sương khói mờ ảo và mộng mị. Cái tình trong tác phẩm bàng bạc khắp nơi nhưng đó không phải là cái tình dung tục mà là một bản tình ca đôi lứa, có sự hòa quyện giữa đạo và đời đậm hương vị thiền. Giữa đạo và đời, giữa tình yêu và thiền học những tưởng không thể dung hòa với nhau được thế mà cái nhân vật trữ tình ấy, cái gã từ quan ấy mà tôi gọi đó là một hành giả lại vương vấn ở giữa hai dòng nước đời và đạo, giữa tình yêu trần tục và phật pháp trong bản ngã của mình.</p>



<p>Chẳng vậy mà trong suốt 100 khổ thơ lục bát 4 câu được dành nói về nàng, về nét đẹp của người thiếu nữ trong thơ được Phạm Thiên Thư diễn tả trong nhiều mối quan hệ biến hóa thiên hình vạn trạng, khi thì mờ mờ ảo ảo như sương khói khi thì lồ lộ rất trần thế nhưng không dung tục, ngay từ đầu ta đã thấy:</p>



<p><em>Mười con nhạn trắng về tha</em><em><br></em><em>&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; </em><em>Như Lai thường trụ trên tà áo xuân</em><em><br></em><em>&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; </em><em>Vai nghiêng nghiêng suối tơ huyền</em><em><br></em><em>&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; </em><em>Đôi gò đào nở trên miền tuyết thơm</em><em></em></p>



<p>Nhà thơ như muốn gởi một thông điệp đến người đọc một cảm thức một tình yêu thi vị đầy thiên tiên, người tình được nhìn,cảm nhận bằng một ngôn ngữ trong veo đầy thiền vị:</p>



<p><em>&nbsp;</em><em>Em nằm ngó cội thu xanh</em><em><br></em><em>&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; </em><em>Môi ươm đào lý một nhành đôi mươi</em><em><br></em><em>&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; </em><em>Về em vàng phố mây trời</em><em><br></em><em>&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; </em><em>Tay đơm nụ hạ hoa dời gót xuân</em><em></em></p>



<p>&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; Nỗi buồn, nỗi đoạn trường lại được nhắc đến rất nhẹ nhàng:<em><br></em><em>&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; </em><em>Thì thôi tóc ấy phù vân</em><em><br></em><em>&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; </em><em>Thì thôi lệ ấy còn ngần dáng sương</em><em><br></em><em>&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; </em><em>Thì thôi mù phố xe đường</em><em><br></em><em>&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; </em><em>Thì thôi thôi nhé đoạn trường thế thôi”</em><em></em></p>



<p>Đôi khi những kỷ niệm của tình yêu chợt ùa về trong tâm tưởng tạo nên sự hoài niệm khôn nguôi về những ngày xưa cũ nhưng thật tinh khôi:</p>



<p><em>Nhớ xưa em chửa theo chồng</em><em><br></em><em>&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; </em><em>Mùa xuân em mặc áo hồng đào rơi</em><em><br></em><em>&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; </em><em>Mùa thu áo biếc da trời</em><em><br></em><em>&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; </em><em>Sang đông em lại đổi dời áo hoa</em><em></em></p>



<p><em>Trong một đoạn thơ khác, Phạm Thiên Thư đã dùng hình tượng con chim để nói lên điều đó:</em></p>



<p><em>Con chim mùa nọ chưa chồng</em><em><br></em><em>&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; </em><em>Cũng bay rời rã trong dòng xuân thu</em><em><br></em><em>&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; </em><em>Từ em giặt áo đông tơ</em><em><br></em><em>&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; </em><em>Nay nghe lòng suối hững hờ còn ngâm</em><em></em></p>



<p>Và trong Động Hoa Vàng ta còn bắt gặp những hình ảnh gần gủi quen thuộc trong điển tích hay trong cổ thi được nhà thơ vận dụng một cách khéo léo nhuần nhuyễn để hiện chủ đích của mình:</p>



<p><em>Ta về rũ áo mây trôi</em><em><br></em><em>&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; </em><em>Gối trăng đánh giấc bên đồi dạ lan</em><em><br></em><em>&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; </em><em>Rằng xưa có gã từ quan</em><em><br></em><em>&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; </em><em>Lên non tìm động hoa vàng ngủ say</em><em></em></p>



<p>Đoạn thơ làm ta nhớ đến Từ Thức gặp tiên trong Truyền Kỳ Mạn Lục của Nguyễn Dữ, chán ngán trước những ràng buộc, gò bó của chốn quan trường mà treo ấn từ quan đi chu du thiên hạ còn ở Phạm Thiên Thư ông có làm quan đâu mà từ, như vậy nó chỉ là một cái cớ, một tiền đề thể hiện quan niệm sống của một tu sĩ có pháp danh Tuệ Không xem đời chỉ là cõi phù vân nên “rũ áo mây trôi” và bắt đầu cái ý tưởng phiêu bồng bằng việc “Lên non tìm động hoa vàng ngủ say” vậy.</p>



<p>Hình ảnh Từ Thức tìm về thiên thai phải chăng được thể hiện qua đoạn thơ đầy biểu tượng nầy:</p>



<p><em>Chênh vênh đầu trượng thiền sư</em><em><br></em><em>&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; </em><em>Cửa non khép ải sương mù bóng ai</em><em><br></em><em>&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; </em><em>Non xanh ướm hỏi trang đài</em><em><br></em><em>&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; </em><em>Trăm năm còn lại dấu hài động hoa</em></p>



<p>Ta còn bắt gặp một chút sự giống nhau về tâm thức của nhà thơ trong một đoạn khác:</p>



<p><em>&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; Đợi nhau tàn cuộc hoa nầy</em></p>



<p><em>&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; Đành như cánh bướm đồi Tây hững hờ</em><em></em></p>



<p>&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; Làm ta nghĩ đến Trương Quân Thụy và Thôi Oanh Oanh gặp nhau lần đầu ở chùa Phổ Cưu, ở đồi Tây trong Tây Sương Ký của Vương Thực Phủ. Một số câu thơ khác cũng vậy:</p>



<p>&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; <em>Tưởng xưa có kẻ trên lầu</em><em><br></em><em>&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; </em><em>Ngày xuân gieo nhẹ trái cầu gấm hoa</em><em></em></p>



<p><em>&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; </em><em>Đường về hái nụ mù sa</em><em><br></em><em>&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; </em><em>Đưa theo dài một nương cà tím thôi</em><em><br></em><em>&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; </em><em>Thôi thì em chẳng yêu tôi</em><em><br></em><em>&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; </em><em>Leo lên cành bưởi nhớ người rưng rưng</em></p>



<p>Ta còn bắt gặp trên bước lang thang tìm Động hoa vàng cho riêng mình, người hành giả ấy đã tự tạo cho mình một cuộc sống hòa vào thiên nhiên để từ đó thấy được niềm vui bất chợt và tâm hồn như được gột sạch bao nỗi buồn phiền:</p>



<p><em>Lên non cuốc sỏi trồng hoa</em><em><br></em><em>&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; </em><em>Xuôi thuyền lá trúc la đà câu sương</em><em><br></em><em>&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; </em><em>Vớt con cá nhỏ lòng đòng</em><em><br></em><em>&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; </em><em>Mải vui lại thả xuống dòng suối tơ</em><em></em></p>



<p><em><br></em><em>&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; </em><em>Một đêm nằm ngủ trong mây</em><br>&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; <em>Nhớ đâu tiền kiếp có cây hương trời</em><em><br></em><em>&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; </em><em>Cây bưởi trắng ngát hương đời</em><em><br></em><em>&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; </em><em>Nụ là tay phật chỉ người qua song</em></p>


<div class="wp-block-image">
<figure class="aligncenter size-large is-resized"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2025/04/JzcHz7vz-image003.jpg?strip=all&w=2560"><img loading="lazy" decoding="async" width="1024" height="768" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2025/04/image003-1024x768.jpg?strip=all" alt="" class="wp-image-79030" style="width:590px;height:auto" srcset="https://cdn.t-van.net/2025/04/image003-300x225.jpg 300w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2025/04/image003-1024x768.jpg?strip=all 1024w, https://cdn.t-van.net/2025/04/image003-768x576.jpg 768w, https://cdn.t-van.net/2025/04/image003-1536x1152.jpg 1536w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2025/04/JzcHz7vz-image003.jpg?strip=all 1920w" sizes="(max-width: 800px) 100vw, 800px" /></a></figure></div>


<p>&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; Chính vì thế chất thiền trong Động hoa vàng được nhà thơ thể hiện thông qua nhiều hình tượng, hình ảnh ẩn dụ, phóng dụ như: thông xanh, suối biếc, miền tuyết thơm, suối hoa rừng, thềm trăng, đồi Dạ Lan, miền cỏ hoa, bến hoa tươi&#8230;Tất cả những hình ảnh ấy rất đơn sơ, bình dị nhưng thật trong sáng thoát tục. Chúng ta thử điểm qua vài đoạn thơ như thế:</p>



<p><em>&nbsp; </em><em>&nbsp;</em><em>Ta về rũ áo mây trôi</em><em><br></em><em>&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; </em><em>Gối trăng đánh giấc bên đồi dạ lan</em><em></em></p>



<p>&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; Mùi hương hoa trong ấm trà mùa đông:</p>



<p><em>&nbsp; </em><em>Đất nam có lão trồng hoa</em><em><br></em><em>&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; </em><em>Mùa hoàng cúc nở ướp trà uống đông</em><em></em></p>



<p>Có thể là cánh hoa dại ven đường mùa đông:</p>



<p><em>&nbsp;</em><em>Bông hoa trắng rụng bên đường</em><em><br></em><em>&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; </em><em>Cánh thơm thông điệp vô thường tuyết băng</em><em></em></p>



<p>Hay ánh trăng in dấu hài hoa:</p>



<p><em>&nbsp; </em><em>Người về sao nở trên tay</em><em><br></em><em>&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; </em><em>Với hài đẫm nguyệt thêm dài gót hoa</em><em></em></p>



<p>Hoặc bóng trăng thanh bình nơi thôn dã:</p>



<p><em>&nbsp; </em><em>Bóng trăng tịch mặc hiên nhà</em><em><br></em><em>&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; </em><em>Thành đàn nảy hạt tỳ bà quyện hương</em><em></em></p>



<p>Bóng hạc nhuốm màu huyền thoại như trong bài thơ Hoàng Hạc Lâu:</p>



<p><em>&nbsp; </em><em>Hạc xưa về khép cánh tà</em><em><br></em><em>&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; </em><em>Tiếng rơi thành hạt mưa sa tần ngần</em><em></em></p>



<p><em>Mùa xuân trong Động hoa vàng được nhắc đến rất nhiều lần tràn đầy tiếng chim, hương hoa cây cỏ bốn mùa xanh mát, ánh trăng huyền diệu soi mái thề và ngay cả sự hoài niệm cũng mang hơi thở ấm áp nồng nàn của mùa xuân:</em></p>



<p><em>&nbsp;</em><em>&nbsp;</em><em>Mười con nhạn trắng về tha</em><em><br></em><em>&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; </em><em>Như lai thượng trụ trên tà áo xuân</em><em></em></p>



<p><em>&nbsp;</em><em>Mùa xuân bỏ vào suối chơi</em><em><br></em><em>&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; </em><em>Nghe chim hát núi gọi trời xuống hoa</em><em></em></p>



<p><em>&nbsp;</em><em>&nbsp;</em><em>Có con cá mại bờ xanh</em><em><br></em><em>&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; </em><em>Bơi lên nguồn cội tắm nhành suối xuân</em><em><br></em><em>&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; </em><em>Giữa dòng cá gặp phù vân</em><em><br></em><em>&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; </em><em>Hỏi sao mây bỏ non thần xuống chơi</em><em></em></p>



<p><em>Con khuyên nó hót trên bờ</em><em><br></em><em>&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; </em><em>Em thay áo tím thờ ơ giang đầu</em><em><br></em><em>&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; </em><em>Nhớ xưa có kẻ lên lầu</em><em><br></em><em>&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; </em><em>Ngày xuân gieo nhẹ trái cầu gấm hoa</em><em></em></p>



<p>Rượu cũng thể thiếu với gã hành giả lang thang trên đồi cao cỏ biếc, đó cũng là lẽ thường tình được nhắc đến để nhà thơ thỏa mãn cảm hứng đề thơ hay ngâm vịnh, mượn rượu để gởi gấm tình yêu của mình:</p>



<p><em>Đưa nhau đổ chén rượu hồng</em><em><br></em><em>&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; </em><em>Mai sau em có theo chồng đất xa</em><em></em></p>



<p><em><br></em><em>&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; </em><em>Qua đò gõ nhịp chèo ca</em><em><br></em><em>&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; </em><em>Nước xuôi làm rượu quan hà chuốc say</em><em></em></p>



<p><em>Đưa nhau đấu rượu hoa này</em><em><br></em><em>&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; </em><em>Mai đi dã hạc thành ngoài cuồng ngâm</em><em></em></p>



<p><em>Cửa sương nhẹ mở âm vào</em><em><br></em><em>&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; </em><em>Lay nghiêng bầu nậm rượu đào trầm ca</em><em></em></p>



<p><em>Lại đem bầu ngọc ra trồng</em><em><br></em><em>&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; </em><em>Bầu khô cất nậm rượu hồng uống xuân</em><em></em></p>



<p><em>Động nam hoa có thiền sư</em><em><br></em><em>&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; </em><em>Đổi kinh lấy rượu tâm hư uống tràn</em><em></em></p>



<p><em>Nghiêng ly mình cạn bóng mình</em><em><br></em><em>&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; </em><em>Tay ôm vò nguyệt một bình mây bay</em></p>



<p>Đọc Động Hoa Vàng ta cảm nhận nó như một dòng suối chảy miên man trên một triền núi xa xăm đem nước nguồn tinh khiết vun bồi cho đất đai thêm màu mỡ, như một đám mây trôi bàng bạc khắp trời nhiều màu sắc tấu thành một khúc nhạc mong tìm thấy tri âm tri kỷ như Bá Nha Tử Kỳ nhưng thử hỏi trên đời nầy có được mấy người đạt được sở nguyện như thế nên người hành giả ấy vẫn mãi lang thang đi tìm Động hoa vàng khắp đầu non cuối bể giống như Từ Thức giầy rơm nón cỏ chống thiền trượng tìm về thiên thai nhưng lối xưa đã che lấp dấu giầy của tiên nương mất rồi.</p>



<p><em>Chênh vênh đầu trượng thiền sư</em><em><br></em><em>&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; </em><em>Cửa non khép ải sương mù bóng ai</em><em><br></em><em>&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; </em><em>Non xanh ướm hỏi trang đài</em><em><br></em><em>&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp; </em><em>Trăm năm còn lại dấu hài động hoa</em><em></em></p>



<p>Phải chăng đến một lúc nào đó ta cũng nên đi tìm một ĐỘNG HOA VÀNG cho riêng mình các bạn nhỉ?</p>



<p><em>&nbsp;</em><em>Sài Gòn, b</em><em>ên bờ Kênh Tẻ, Quận 7, tháng 10-2020</em></p>



<p><strong>NGUYỄN AN BÌNH</strong></p>



<p><em>Tham khảo:</em></p>



<ul class="wp-block-list">
<li><em>Tìm “Động hoa vàng” của Đặng Tiến trên tập san Quán Văn số 32</em></li>



<li><em>Ý nghĩa của bài thơ Động hoa vàng của Nguyễn Mộng Khôi</em></li>



<li><em>“Động hoa vàng” của Phạm Thiên Thư trên báo Tuổi Trẻ online ngày 5/12/2016</em></li>



<li><em>Bài thơ Động hoa vàng của Phạm Thiên Thư nhìn từ Văn Hóa Thiền của Hồ Tấn Nguyên Minh.</em></li>



<li><em>Đến Động hoa vàng gặp “Gã từ quan” của Lê Bá Lư</em></li>
</ul>



<p></p>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
	</channel>
</rss>

<!--
Performance optimized by W3 Total Cache. Learn more: https://www.boldgrid.com/w3-total-cache/?utm_source=w3tc&utm_medium=footer_comment&utm_campaign=free_plugin

Page Caching using Disk: Enhanced 

Served from: t-van.net @ 2026-05-31 01:36:47 by W3 Total Cache
-->