<?xml version="1.0" encoding="UTF-8"?><rss version="2.0"
	xmlns:content="http://purl.org/rss/1.0/modules/content/"
	xmlns:wfw="http://wellformedweb.org/CommentAPI/"
	xmlns:dc="http://purl.org/dc/elements/1.1/"
	xmlns:atom="http://www.w3.org/2005/Atom"
	xmlns:sy="http://purl.org/rss/1.0/modules/syndication/"
	xmlns:slash="http://purl.org/rss/1.0/modules/slash/"
	>

<channel>
	<title>văn chương &#8211; T.Vấn và Bạn Hữu</title>
	<atom:link href="https://t-van.net/tag/van-ch%c6%b0%c6%a1ng/feed/" rel="self" type="application/rss+xml" />
	<link>https://t-van.net</link>
	<description>Văn Học và Đời Sống</description>
	<lastBuildDate>Thu, 12 May 2022 19:26:47 +0000</lastBuildDate>
	<language>en-US</language>
	<sy:updatePeriod>
	hourly	</sy:updatePeriod>
	<sy:updateFrequency>
	1	</sy:updateFrequency>
	<generator>https://wordpress.org/?v=6.7.5</generator>

<image>
	<url>https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2022/02/t-van-favicon.png?strip=all&#038;resize=32%2C32</url>
	<title>văn chương &#8211; T.Vấn và Bạn Hữu</title>
	<link>https://t-van.net</link>
	<width>32</width>
	<height>32</height>
</image> 
	<item>
		<title>T.Vấn: Giải Nobel Văn Chương 2015 v&#224; sứ mạng nh&#224; văn trong thời đại ch&#250;ng ta</title>
		<link>https://t-van.net/t-van-giai-nobel-van-chuong-2015-v-su-mang-nh-van-trong-thoi-dai-chng-ta/</link>
					<comments>https://t-van.net/t-van-giai-nobel-van-chuong-2015-v-su-mang-nh-van-trong-thoi-dai-chng-ta/#respond</comments>
		
		<dc:creator><![CDATA[T.Vấn]]></dc:creator>
		<pubDate>Sun, 11 Oct 2015 23:21:08 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Góc Văn]]></category>
		<category><![CDATA[ghi chép]]></category>
		<category><![CDATA[giải nobel]]></category>
		<category><![CDATA[T.Vấn]]></category>
		<category><![CDATA[văn chương]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://7076e870b2.nxcli.io/?p=23822</guid>

					<description><![CDATA[Hôm nay, 8 tháng 10 năm 2015, Hàn Lâm Viện Thụy Điển đã chọn nhà văn nữ 67 tuổi người gốc Belarus, Svetlana Alexievich, là người sẽ nhận giải thưởng Nobel về Văn Chương năm 2015. Trong thông cáo báo chí được truyền đi sáng nay, ủy ban tuyển chọn đã cho rằng “những tác [&#8230;]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<h3><strong><a href="https://t-van.net/wp-content/uploads/2015/10/clip_image001.jpg"><img fetchpriority="high" decoding="async" style="background-image: none; float: none; padding-top: 0px; padding-left: 0px; margin-left: auto; display: block; padding-right: 0px; margin-right: auto; border: 0px;" title="clip_image001" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2015/10/clip_image001_thumb.jpg?strip=all&fit=404%2C271" alt="clip_image001" width="404" height="271" border="0" /></a></strong></h3>
<p>Hôm nay, 8 tháng 10 năm 2015, Hàn Lâm Viện Thụy Điển đã chọn nhà văn nữ 67 tuổi người gốc Belarus, Svetlana Alexievich, là người sẽ nhận giải thưởng Nobel về Văn Chương năm 2015. Trong thông cáo báo chí được truyền đi sáng nay, ủy ban tuyển chọn đã cho rằng “<em>những tác phẩm nhiều âm điệu của bà là một tượng đài cho sự thống khổ và lòng can đảm trong thời đại chúng ta&#8221;.</em></p>
<p>Cái tên Svetlana Alexievich vốn không chỉ không mấy quen thuộc với độc giả tiếng Việt mà còn khá xa lạ với người đọc tiếng Anh trên tòan thế giới. Vậy mà trong số các ứng viên nặng ký cho giải văn học năm nay, nữ tác giả người gốc Belarus vượt qua được cả nhà văn Nhật bản rất quen thuộc Haruki Murakami. Bà là người phụ nữ thứ 14 trong tổng số 107 lần trao giải của Hàn Lâm Viện Thụy Điển.</p>
<p>Vậy chúng ta biết gì về một khuôn mặt vừa được tỏa sáng và xuất hiện trên hầu hết các trang mạng, blog điện tử của thế giới văn học hôm nay?</p>
<p>Trước hết, bà là một nhà văn, nhà báo lưu vong. Lưu vong trên đất khách, lưu vong ngay trên chính quê hương của mình. Bà sinh ngày 31 tháng 5 năm 1948 ở Ukraine, cha gốc Belarus và mẹ là người Ukraine. Sau đệ nhị thế chiến, cha của bà được giải ngũ khỏi quân đội Liên Xô và gia đình bà trở về lại Belarus sinh sống. Bà theo học ngành Báo chí, đã từng viết bài về thảm họa hạt nhân ở Chernobyl năm 1986, về cuộc chiến ở Afghanistan với sự tham dự của Hồng quân Liên Xô và các sự kiện nổi bật khác.</p>
<p>Năm 2000, Alexievich bị buộc phải rời khỏi quê hương vì bị chế độ Lukashenko kết án do những sự chỉ trích của bà về chính sách độc tài tòan trị của chính quyền Belarus. Cuộc lưu vong trên những mảnh đất tự do châu Âu Thụy Điển, Đức, Pháp của nhà văn kéo dài 11 năm để cuối cùng, bà trở về lại Minsk (thủ đô Belarus) từ năm 2011 cho đến nay. Chính Svetlana Alexievich đã tuyên bố rằng “<em>Không một nhà văn (chân chính) nào có thể sống yên ổn trong lòng một chế độ độc tài tòan trị&#8221;</em>.</p>
<p>Giờ đây, sống trên mảnh đất quê nhà, bà vẫn mang trong lòng cảm thức lưu vong, nhưng với giải thưởng cao quý nhất vừa nhận được, bà cho rằng “<i>tiếng nói của tôi sẽ có trọng lượng hơn trước đây rất nhiều. Sẽ không dễ dàng cho những kẻ cầm quyền có thể xua đuổi tôi với chỉ một cái phẩy tay. Họ sẽ phải lắng nghe tôi, dù rằng Lukashenko đang giả vờ như không hề biết có tôi hiện hữu trên đất nước này. . . Bởi vì giải thưởng này không chỉ dành cho riêng cá nhân tôi, mà là cho nền văn hóa của chúng tôi, cho đất nước nhỏ bé của chúng tôi bị kẹt giữa cỗ máy nghiền của lịch sử.”</i></p>
<p><a href="https://t-van.net/wp-content/uploads/2015/10/clip_image0025.jpg"><img decoding="async" style="background-image: none; float: none; padding-top: 0px; padding-left: 0px; margin-left: auto; display: block; padding-right: 0px; margin-right: auto; border: 0px;" title="clip_image002" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2015/10/clip_image002_thumb5.jpg?strip=all&fit=404%2C244" alt="clip_image002" width="404" height="244" border="0" /></a></p>
<p>Ngay giữa thủ đô Minsk của chính quyền độc tài Belarus, nhà văn đã có thể dõng dạc nói rằng “<i>trong thời đại của chúng ta, thật khó khăn khi muốn làm một con người trung thực&#8221;. Và với giải thưởng này, “cuộc chiến giành quyền tự do tư tưởng, tự do báo chí ở Belarus, ở Nga sẽ trở nên mạnh mẽ hơn bao giờ hết&#8221;.</i></p>
<p>Chính ở tính cách không khoan nhượng ở người phụ nữ 67 tuổi này, các tác phẩm của bà đã thể hiện được tính nhân bản, sức mạnh không thể thiếu của một nhà văn khi đối đầu thường trực với nhà cầm quyền tòan trị, dù ở bất cứ đâu.</p>
<p>Tính cách ấy bộc lộ ngay từ cách bà chọn lựa thể lọai để nói lên suy nghĩ và cách nhìn thế giới của mình. Svetlana Alexievich là một trong số hiếm hoi nhà văn viết những tác phẩm phi hư cấu (non-fiction) nhận giải thưởng Nobel về văn chương. Tác phẩm của bà dựa trên những sự kiện lịch sử có thật như thảm họa hạt nhân ở Chernobyl, sự tham dự của quân đội Liên Xô vào cuộc chiến tranh ở Afghanistan, chiến tranh thế giới lần thứ hai, sự tan rã của đế chế Xô Viết v..v.. Nhân vật của bà chính là những con người bằng xương bằng thịt, với những cái chết có thực, với những nỗi thống khổ có thực, kể lại câu chuyện của mình trong hàng trăm ngàn những mảnh đời có thực. Trước những tiếng kêu thống thiết từ những con người nạn nhân của những thảm kịch có thực ấy, nhà văn, Svetlana Alexievich chỉ làm công việc ghi chép lại, như một người chép sử.</p>
<p><i>“Tôi không chỉ ghi lại những trang sử khô khan đầy ắp dữ kiện. Tôi đang ghi lại lịch sử những cảm thức của con người”</i> . Đó là những trang sử của cảm xúc, của nỗi thống khổ.</p>
<p>Thế nên, không lạ gì khi người ta biết thêm rằng để viết được những tác phẩm của mình, bà đã tiếp xúc với hàng trăm, hàng ngàn những con người nạn nhân của những thảm kịch đã xẩy ra, những phụ nữ sống sót sau chiến tranh thế giới thứ hai, những thanh niên trở về từ bãi chiến trường Afghanistan, những con người còn đang chịu đựng hậu quả tàn nhẫn của vụ nổ hạt nhân ở Chernobyl v..v.. Bà đã lắng nghe, cảm nhận từng nỗi sợ hãi, từng cơn giận dữ, từng giọt nước mắt chịu đựng, từng cảm thức đầu hàng nghịch cảnh, số phận. Các nhà văn khác viết bằng bút, nhưng Svetlana Alexievich viết nên những tác phẩm của mình bằng tai. Và hiển nhiên, bằng cả trái tim của người đã từng biết đau khổ.</p>
<p>Nhà văn lưu vong trở về lại quê hương năm 2011 vì, theo bà, bà chỉ có thể sáng tác được khi sống trên mảnh đất quê nhà, ở Belarus, nơi mà bà “<i>có thể nghe tiếng người nói chuyện trên đường phố, trong quán cà phê, nơi một góc hẻm hàng xóm . . . Nếu tôi không nghe được những âm thanh này, tác phẩm của tôi không còn là tác phẩm mà tôi muốn viết nữa. Vì thế, bỏ nước ra đi, với tôi không bao giờ là một sự lựa chọn.”</i></p>
<p>Từ đó, nhiệm vụ của nhà văn đã được vạch ra thật rõ ràng:</p>
<p><i>“Điều duy nhất làm tôi luôn nhức nhối là câu hỏi: tại sao chúng ta không học được điều gì từ những nỗi thống khổ mà chúng ta đang phải gánh chịu? Tại sao chúng ta không thể nói: tôi không muốn làm người nô lệ thêm một ngày nào nữa? Tại sao chúng ta cứ tiếp tục chịu thống khổ mà không hề phản kháng? Tại sao chúng ta cứ xem nó như là gánh nặng phải mang, là số phận phải cam chịu? Tôi không có câu trả lời. Nhưng tôi muốn những tác phẩm của mình gợi lên được những suy nghĩ từ người đọc, để từ đó, họ đi tìm câu trả lời cho chính mình .”</i></p>
<p>Thật sòng phẳng, sự sòng phẳng hiếm hoi đến từ tâm thức một người phụ nữ, dù người phụ nữ ấy là một nhà văn.</p>
<p>Nhìn lại những tác phẩm của Svetlana Alexievich, không nhiều, nhưng ngay từ nhan đề, người đọc đã biết được nhà văn đang muốn xóay trọng tâm của mình vào vấn đề gì.</p>
<p>Hãy xem:</p>
<p><a href="https://t-van.net/wp-content/uploads/2015/10/clip_image0042.jpg"><img decoding="async" style="background-image: none; padding-top: 0px; padding-left: 0px; display: inline; padding-right: 0px; border: 0px;" title="clip_image004" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2015/10/clip_image004_thumb2.jpg?strip=all&fit=172%2C244" alt="clip_image004" width="172" height="244" border="0" /></a></p>
<p><strong>War’s Unwomanly Face (1985)</strong> là tập hợp những bài phỏng vấn hàng trăm trong số hàng triệu phụ nữ Nga tham dự đệ nhị thế chiến trong vai trò lính bộ binh, xạ thủ bắn tỉa, y tá, bác sĩ. Viên thư ký thường trực ủy ban trao giải Thụy Điển Sara Danius khuyên chúng ta nên đọc vì tác phẩm “mang chúng ta đến gần với mỗi con người riêng lẻ&#8221; với tư cách người vợ, người mẹ, người em, người chị, người bạn.</p>
<p><a href="https://t-van.net/wp-content/uploads/2015/10/clip_image0062.jpg"><img loading="lazy" decoding="async" style="background-image: none; padding-top: 0px; padding-left: 0px; margin: 0px; display: inline; padding-right: 0px; border: 0px;" title="clip_image006" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2015/10/clip_image006_thumb2.jpg?strip=all&fit=244%2C244" alt="clip_image006" width="244" height="244" border="0" /></a></p>
<p><strong>Zinky Boys: The Record of a lost Generation (1992)</strong>. Câu chuyện về những thanh niên được gởi từ chiến trường Afghanistan về lại nhà, luôn luôn trong những chiếc quan tài bằng kẽm. Julia Robin Whitby, người chuyển ngữ sang tiếng Anh, cho rằng “những thanh niên, thiếu nữ xuât hiện trên những trang giấy của tác phẩm này không cần thiết phải được giới thiệu. Họ đã tự làm việc đó bằng chính sự xuất hiện của mình.&#8221;</p>
<p><a href="https://t-van.net/wp-content/uploads/2015/10/clip_image0071.jpg"><img loading="lazy" decoding="async" style="background-image: none; padding-top: 0px; padding-left: 0px; display: inline; padding-right: 0px; border: 0px;" title="clip_image007" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2015/10/clip_image007_thumb.jpg?strip=all&fit=164%2C244" alt="clip_image007" width="164" height="244" border="0" /></a></p>
<p><strong>Voices from Chernobyl: the Oral History of a Nuclear Disaster (2006)</strong>. Câu chuyện về vụ nổ nhà máy hạt nhân ở Chernobyl ngày 26 tháng 4 năm 1986. Để đối phó với thảm họa chưa từng có trong lịch sử, nhà cầm quyền Xô Viết đã gởi tới hiện trường một đội quân cứu hộ thiếu hẳn mọi trang bị tự bảo vệ cần thiết. Trong tác phẩm, Svetlana Alexievich đã bóc trần sự thiệt hại khủng khiếp về nhân mạng, về những hậu quả thảm khốc, qua lời kể của hơn 500 nhân chứng, bao gồm lính cứu hỏa, nhân viện đội dọn dẹp, các chính trị gia, các bác sĩ, và những dân thường trong chiều dài thời gian hơn 10 năm.</p>
<p><strong>Secon-hand Time (2016).</strong> Bản chuyển ngữ tác phẩm bằng tiếng Anh sẽ được xuất bản năm 2016. Tác phẩm viết về sự tan rã của đế chế Liên Bang Xô Viết. Là lời kinh cầu hồn cho một đế chế vừa suy tàn, tác phẩm ghi lại những lời kể từ hàng trăm nhân chứng sống, và từ đó, phỏng đóan sự ra đời của một con người mới vươn lên từ đống đổ nát lịch sử ấy.</p>
<p>Một giải thưởng văn chương thường chỉ gây tiếng vang trong giới hâm mộ văn chương, những nhà văn, nhà thơ, những độc giả quan tâm. Nhưng giải thưởng năm 2015 trao cho nhà văn gốc Belarus, một nhà văn lưu vong vì tiếng nói phản kháng một chế độ tòan trị, về những tác phẩm phi hư cấu nói lên sự thống khổ của con người do chiến tranh, do những tham vọng cá nhân, do thể chế độc tài đã gợi lên nhiều suy nghĩ không chỉ dành riêng cho những người hâm mộ văn chương. Nhất là với người đọc Việt Nam, bao gồm những nhà văn, nhà thơ, trong nước và ngòai nước. Bao gồm cả những nhà họat động nhân quyền, những người tranh đấu dân chủ ở trong nước, những dân oan tù tội, những người mất đất mất nhà mất mạng do nạn tham nhũng, do thể chế tòan trị của đảng cộng sản cầm quyền.</p>
<p>Lại một lần nữa, kẻ viết bài này mơ ước đến giải thưởng Nobel về văn chương trao cho một nhà văn phản kháng Việt Nam, một nhà văn lưu vong Việt Nam, hay bất cứ nhà văn chân chính nào là nạn nhân của nền độc tài tòan trị trong nước vì những tác phẩm của mình, vì chính kiến của mình.</p>
<p>Để có thể dõng dạc lên tiếng thách thức chế độ như người phụ nữ 67 tuổi trong một cuộc họp báo ở ngay thủ đô của nhà cầm quyền tòan trị hôm nay.</p>
<p>Giới thiệu một tác giả đọat giải thưởng văn chương, không thể không giới thiệu để người đọc có thể đến trực tiếp với tác phẩm. Độc giả tiếng Anh có thể tìm đọc 3 tác phẩm: War’s Womanly Face, Zinky Boys và Voices from Chernobyl qua mạng lưới Amazon hoặc các thư viện địa phương. Độc giả tiếng Việt có thể tìm bản chuyển ngữ tiếng Việt tác phẩm War’s Womanly Face của nhà văn Nguyên Ngọc (<em>Chiến tranh không có khuôn mặt phụ nữ </em>(Nhà xuất bản Đà Nẵng).</p>
<p>Hy vọng, nếu không có gì trở ngại, bản chuyển ngữ tiếng Việt của Voices from Chernobyl sẽ được giới thiệu từng kỳ trên trang T.Vấn &amp; Bạn Hữu trong một tương lai gần.</p>
<p><strong>T.Vấn</strong></p>
<p><strong>Ngày 8 tháng 10 năm 2015</strong></p>
<p>©T.Vấn 2015</p>
]]></content:encoded>
					
					<wfw:commentRss>https://t-van.net/t-van-giai-nobel-van-chuong-2015-v-su-mang-nh-van-trong-thoi-dai-chng-ta/feed/</wfw:commentRss>
			<slash:comments>0</slash:comments>
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Lưu Na: Giã từ đường Sơn Cúc</title>
		<link>https://t-van.net/l%c6%b0u-na-gi-t%e1%bb%ab-d%c6%b0%e1%bb%9dng-s%c6%a1n-cc/</link>
					<comments>https://t-van.net/l%c6%b0u-na-gi-t%e1%bb%ab-d%c6%b0%e1%bb%9dng-s%c6%a1n-cc/#respond</comments>
		
		<dc:creator><![CDATA[Lưu Na]]></dc:creator>
		<pubDate>Thu, 03 May 2012 20:34:47 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Góc Văn]]></category>
		<category><![CDATA[lưu na]]></category>
		<category><![CDATA[văn chương]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://7076e870b2.nxcli.io/?p=5954</guid>

					<description><![CDATA[Ông ạ, Cuối cùng em đã về lại đường Sơn Cúc. Mấy mươi năm rồi em vẫn không nguôi nhớ con đường ấy, con đường hẹp nhìn ra cả một không gian bát ngát hương trời. Ông có biết nơi em ở cũng có con đường Sơn Cúc. Em đã nhất quyết về ở nơi [&#8230;]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<p><a href="https://t-van.net/wp-content/uploads/2012/05/clip_image0023.jpg"><img loading="lazy" decoding="async" style="background-image: none; padding-left: 0px; padding-right: 0px; display: block; float: none; margin-left: auto; margin-right: auto; padding-top: 0px; border: 0px;" title="clip_image002" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2012/05/clip_image002_thumb3.jpg?strip=all&fit=400%2C268" alt="clip_image002" width="400" height="268" border="0" /></a></p>
<p><i>Ông ạ,</i></p>
<p><i>Cuối cùng em đã về lại đường Sơn Cúc.</i></p>
<p><i>Mấy mươi năm rồi em vẫn không nguôi nhớ con đường ấy, con đường hẹp nhìn ra cả một không gian bát ngát hương trời. Ông có biết nơi em ở cũng có con đường Sơn Cúc. Em đã nhất quyết về ở nơi đây vì con đường hẹp theo triền đồi với đầy hoa cúc ấy. Mỗi sáng em cũng lần dò lên đồi, đi dọc theo con đường hẹp giữa muôn hoa vàng đang từ từ bừng nở. Nơi đó em cũng có thể nhìn xuống biển xa dưới chân đồi, với luồng xe cộ uốn quanh bãi cát. Không đâu ông ạ, nơi đây dù thanh vắng nhưng thật là rực rỡ, không đơn sơ nghèo nàn và cũng không có được mùi hương cũ. Em không sao tìm lại được cái mùi nắng khan trong gió ấm, chút bụi chút hương chút hơi đất mờ mờ trong nắng vàng khô.</i></p>
<p><i>Ngày hôm ấy cũng là một ngày nắng vàng khô. Em thơ thẩn trên đường, ghé thăm từng bông hoa nhỏ trước khi vào lớp học. Không khí như đặc lại, mà em chả biết vì sao. Học mới nửa buổi thôi ông ạ, rồi mọi người kéo nhau túa về nhà. Không ai nói với em tại sao. Em nằn nì chị cho được ghé qua con đường ấy trước khi chạy về với Mạ đang chờ em ở cuối khúc quanh. Ông có biết em đã hy vọng sẽ thấy ông dù biết đó là chuyện không bao giờ đến. Em nhìn từng bụi cây, thật buồn cười, như thể ông có thể núp sau bụi cây nào đó để hù em !!! Em thẩn tha rồi nhớ ra Mạ chờ, em bỏ chạy vội vã. Chiếc áo lạnh móc vào một bụi cây, em ngần ngừ rồi không biết sao vuột tay ra khỏi áo. Em bỏ chạy về với Mạ, rồi lại bị lùa đi mà chả biết đi đâu. Nhưng em không thắc mắc nữa. Em biết ông sẽ nhận ra chiếc áo của em. </i></p>
<p><i>Ông đã về thăm em? Ông có tìm thấy chiếc áo ấy, chiếc áo trắng với hàng nút bẹt lóng lánh như hạt trai? Em đã tự hỏi không biết bao nhiêu ngày tháng. Bây giờ, em phải về tìm lại tấm áo len vướng đầu bụi cây lúc em vội vã bỏ đi ấy. Em phải về, vì biết đâu ông đã về thăm em, biết đâu ông vẫn chờ em. Em lo nhỡ ông về thăm mà em đã vắng, và nỗi lo gặm nhắm em từng chút mỗi ngày. </i></p>
<p><i>Gần hai mươi tiếng trên máy bay em cứ tưởng mình lại lạc vào cõi mù sương của chuyến bay năm xưa, dường như mây đã ngừng trôi? Nhưng mặt đất còn xa lạ hãi hùng hơn cả trời rộng bao la. Còn xa lạ hơn cả mảnh đất mà em đã đến những ngày khô ran ấy. Em cứ chực đâm vào xe ông ạ. Chị đón em, huyên thuyên thăm hỏi, vẽ bày mọi điều. Mà em, em chỉ muốn biết con đường Sơn Cúc của em còn hay đã mất. Trong tiếng ồn ào náo nhiệt của xóm làng của muôn cái tên quen mà lạ hoắc đến mừng gọi, em chỉ nghe tiếng gió rì rào rung rinh những bông cúc dại. Em có tìm được ông không?</i></p>
<p><i>Sáng tinh mơ em đã thức, em đã sẵn sàng. Nhưng chị phải dắt em đến đầu con đường dốc ấy vì em đâu còn nhận được lối quen. Chị nhắc em đừng ở quá lâu, phải trở ra vì chị chờ em, ông ạ. Em không sợ dù chị bảo bây giờ có sói rừng. Những bông sơn cúc đang chờ em. Ông có chờ em? Bước chân lên đường khô rạn, em ứa nước mắt. Cỏ dại lấp gần hết lối mòn, sơn cúc của em chỉ còn thỏn mỏn vài bụi bị chen lấn dập vùi. Mắt em rảo nhìn tai em lắng nghe tiếng gió. Con đường Sơn Cúc của em nay chỉ còn một màu đất khô ảm đạm, và tiếng chim ríu rít những sáng tinh mơ những chiều gió mát đùa trên những cánh hoa cụp lại đã không còn. Con đường im vắng đục mờ như chịu đựng với ánh nắng gắt gay và làn gió mỏng mảnh thờ ơ. Em mừng nghe lại cái mùi nắng khô ẩm bụi, dần dần em nhận ra được nơi em hằng đứng thật lâu mỗi sáng khi đến trường. Bụi cây ấy rất may còn đó, nhưng chiếc áo của em, thì em cũng mơ biết đâu còn đó như ước mong. Bụi xum xuê chen cùng cỏ dại, mà chả mấy nhánh bông. Em vạch tìm dưới gốc. Còn được gì đâu, thất vọng lắm ông ạ. Em muốn khóc nơi này, bây giờ, nhưng kìa, có cái gì óng ánh dưới lớp đất cát. Ồ, ông không tưởng được đâu, chiếc nút áo hạt trai, của em, của em, ông ạ. Ông có nhìn thấy chiếc cúc áo ấy? Ông có tìm đến bụi cây này?</i></p>
<p><i>Chị đã trở lại tìm em, em phải về ông ạ. </i></p>
<p><i>Loay hoay suốt đêm, em muốn viết cho ông nhiều hơn nữa, những gì đã đến với em trong chừng đó năm qua. Nhưng không có gì hơn là niềm thương và lòng hoài vọng, ông có biết vậy không? Em muốn gửi cho ông mà không biết ông ở nơi đâu. Ngày mai em sẽ trở lại đường Sơn Cúc, em sẽ cài lá thư này lên bụi cây ấy, nơi chiếc áo len vướng lại năm nào. Hạt cúc áo ấy, em sẽ để lại, để ông biết là em đã về đây. Ngày mai, dù sao em cũng phải đến để giã từ con đường Sơn Cúc, mấy mươi năm trước em đã không có dịp giã từ. Ông có biết em đã muốn quay lui khi sắp bước lên máy bay. Mơ hồ một điều gì đó bảo với em, rằng em về là để mất, để giã từ, dẫu em chỉ muốn đứng hoài nơi đó, để đợi thư ông để đợi ông ghé thăm. Em muốn mãi đi trên con đường Sơn Cúc, thăm những đóa hoa nhỏ nở bừng theo với mặt trời lên, rượt theo tiếng chim và chạy đua với làn gió thoảng. Em mãi muốn được ôm cặp sách có lá thư ông trong ngăn. Nhưng bây giờ…</i></p>
<p><i>Đã mất rồi đường Sơn Cúc. </i></p>
<p>…</p>
<p align="center"><a href="https://t-van.net/wp-content/uploads/2012/05/clip_image0042.jpg"><img loading="lazy" decoding="async" style="background-image: none; padding-left: 0px; padding-right: 0px; display: inline; padding-top: 0px; border: 0px;" title="clip_image004" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2012/05/clip_image004_thumb2.jpg?strip=all&fit=300%2C450" alt="clip_image004" width="300" height="450" border="0" /></a></p>
<p>Ồ, cô nhỏ. Rồi tôi đã thấy lại em. Em có biết đất tung bụi reo cười khi em bước chân lên lối mòn năm cũ? Em có biết gió rì rào mừng đón em về, và em có nghe tiếng tôi gọi em lồng trong làn gió nhẹ. Tôi đã đợi em rất lâu, tôi vẫn đợi em, em nhỏ.</p>
<p>Em có biết hình ảnh của em, những hàng chữ mỏng manh vụng dại của em đã là sức sống giúp tôi trở về sau những tháng ngày vùi dập ở một chốn không có trong cõi chúng ta? Bước chân về, tôi đã về lại con đường Sơn Cúc. Tôi đã không dám ước mong gì hơn là thấy lại em. Con đường Sơn Cúc, điểm đến cuối cùng của một gã phiêu bạt, em có biết tôi đã ở lại đây chỉ để chờ em, chỉ mong một ngày thấy lại hình bóng mỏng manh gầy guộc, nghe lại tiếng cười trong trẻo, và nhìn xuyên qua đáy mắt thơ ngây.</p>
<p>Những ngày tháng đợi chờ nơi đây tôi đã tìm thấy mảnh áo len vàng ố mất một chiếc cúc. Tôi giữ hoài manh áo đất bụi ấy, vì biết đâu đó không là kỷ vật sau cùng của em, em nhỏ? Những sáng âm u tím hồng tôi đã ra đứng nơi đầu lối hẹp, và mãi đến khi ánh cam vàng lịm tắt tôi vẫn chờ em. Ngày tháng rộng quá, dài quá. Những bụi cây ấy dần héo hắt khô cằn. Chúng quắt queo đi dưới nắng, nhưng chúng vẫn cùng tôi đong đưa theo gió, sẵn một tiếng reo mừng để đón bước em. Khi gió bão từ biển xa dưới kia tràn đến, tôi vẫn thường ôm chặt mảnh áo ấy vào lòng, tưởng như tôi đang có tiếng cười dòn của em thách đố lại với mưa giông.</p>
<p>Nhưng em, ngày tháng đã thờ ơ với tôi, đã không đưa em về lại nơi này. Tôi đã đến lúc phải đi. Tôi đã hết hạn kỳ lưu luyến. Tôi vẫn còn lời hứa về thăm em, và nếu không gặp lại em, lời hứa ấy không bao giờ hoàn tất, dẫu tôi đứng nơi đây muôn kiếp. Em nhỏ, tôi đã tới cái hạn kỳ muôn kiếp đó. Nơi em ở có xa không? Đất trời có ấm áp nồng hương hay chỉ một màu trong nhạt nhẽo? Em có bắt gặp con chim nào lạ, có thấy được chú hươu sao ngơ ngác sau gốc thông nào? Ôi, tôi thèm biết bao nghe lại tiếng em, đọc được những lời ngây thơ êm ả. Tôi lắng mãi nơi bụi cây khô chỗ tìm thấy mảnh áo, mong tìm được chút hương nắng còn sót lại mong nghe một tiếng dội mỏng manh…</p>
<p>Và bây giờ em đã về, tôi đã thấy lại em. Em có biết tôi đã đứng bên em nhìn sợi tóc bay bay trong gió nhẹ. Em có biết tôi đã ấp ủ bàn tay gầy guộc của em run khi nhặt chiếc nút hạt trai. Tôi đã thấy nó từ lâu, và tôi hằng đến để canh chừng chiếc cúc áo ấy. Tôi biết sẽ có lúc em về tìm lại, và tôi hằng muốn em tìm lại được chiếc cúc áo long lanh. Em nhỏ, tôi vẫn chờ em.</p>
<p align="center"><a href="https://t-van.net/wp-content/uploads/2012/05/clip_image0061.jpg"><img loading="lazy" decoding="async" style="background-image: none; padding-left: 0px; padding-right: 0px; display: inline; padding-top: 0px; border: 0px;" title="clip_image006" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2012/05/clip_image006_thumb1.jpg?strip=all&fit=300%2C200" alt="clip_image006" width="300" height="200" border="0" /></a></p>
<p>Sớm mai này khi em bước lại con đường hẹp ấy, tôi biết em phải đi và tôi phải giã từ em. Tôi đã mở lá thư em cài trên nhánh cây với chiếc nút hạt trai đính nơi góc thư. Bài thơ em chép lại cho tôi thật lạ, và nó in lên ngực tôi lên làn da tôi thành tấm áo diệu kỳ. Neruda là ai? Bài thơ đó, em nhỏ, tôi chắc em cũng như tôi, chỉ thấm hiểu nó tận đáy tâm hồn mà không nói lại được bằng lời. Tôi đã thuộc nó rồi, em nhỏ. Đây em.</p>
<p><i>I do not love you except because I love you;</i></p>
<p><i>I go from loving to not loving you,</i></p>
<p><i>From waiting to not waiting for you</i></p>
<p><i>My heart moves from cold to fire.</i></p>
<p><i>I love you only because it&#8217;s you the one I love;</i></p>
<p><i>I hate you deeply, and hating you</i></p>
<p><i>Bend to you, and the measure of my changing love for you</i></p>
<p><i>Is that I do not see you but love you blindly.</i></p>
<p><i>Maybe January light will consume</i></p>
<p><i>My heart with its cruel</i></p>
<p><i>Ray, stealing my key to true calm.</i></p>
<p><i>In this part of the story I am the one who</i></p>
<p><i>Dies, the only one, and I will die of love because I love you,</i></p>
<p><i>Because I love you, Love, in fire and blood.</i></p>
<p>Với bài thơ đó, tôi đã cùng đi bên em đỗi đường khúc khuỷu cũ, em có biết tôi đã cùng em hít lại mùi nắng nồng khan và hứng lại chút gió thoảng hương núi đồi. Khi em quay lại nhìn dốc núi, tôi cũng đã cùng em vẫy tay chào giã biệt, và tôi đã ôm em thật chặt, em có cảm thấy làn gió rung trên vạt áo quấn quyện bờ vai. Em nhỏ, em sẽ bốc lên trời cao về lại miền xa lạ. Và tôi, tôi cũng phải đến nơi vùng ánh sáng đang mở rộng đón chờ.</p>
<p><i>Giã từ em. Giã từ đường Sơn Cúc.</i></p>
<p><strong>Lưu Na</strong></p>
<p>04/25/2012</p>
<ul>
<li>Hình trong bài của tác giả .</li>
</ul>
<p>©T.Vấn 2012</p>
]]></content:encoded>
					
					<wfw:commentRss>https://t-van.net/l%c6%b0u-na-gi-t%e1%bb%ab-d%c6%b0%e1%bb%9dng-s%c6%a1n-cc/feed/</wfw:commentRss>
			<slash:comments>0</slash:comments>
		
		
			</item>
		<item>
		<title>T.Vấn: Giải thưởng Nobel về văn chương năm 2011</title>
		<link>https://t-van.net/t-v%e1%ba%a5n-gi%e1%ba%a3i-th%c6%b0%e1%bb%9fng-nobel-v%e1%bb%81-van-ch%c6%b0%c6%a1ng-nam-2011/</link>
					<comments>https://t-van.net/t-v%e1%ba%a5n-gi%e1%ba%a3i-th%c6%b0%e1%bb%9fng-nobel-v%e1%bb%81-van-ch%c6%b0%c6%a1ng-nam-2011/#respond</comments>
		
		<dc:creator><![CDATA[T.Vấn]]></dc:creator>
		<pubDate>Fri, 07 Oct 2011 00:25:22 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Ghi Chép]]></category>
		<category><![CDATA[giới thiệu]]></category>
		<category><![CDATA[văn chương]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://7076e870b2.nxcli.io/?p=4006</guid>

					<description><![CDATA[Ngày 6 tháng 10 năm 2011, giữa lúc cả thế giới vẫn còn xôn xao, bàn tán về cái chết đã được báo trước của Steve Jobs – một nhân vật lỗi lạc của thế giới điện tóan và khoa học kỹ thuật hiện đại, thì thông báo của Hàn Lâm Viện Thụy Điển liên [&#8230;]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: center;"><a href="https://t-van.net/wp-content/uploads/2011/10/Tomas-Tranströmer.jpg"><img loading="lazy" decoding="async" class="aligncenter  wp-image-11548" title="Tomas Tranströmer" src="https://t-van.net/wp-content/uploads/2011/10/Tomas-Tranströmer.jpg" alt="" width="220" height="314" /></a></p>
<p>Ngày 6 tháng 10 năm 2011, giữa lúc cả thế giới vẫn còn xôn xao, bàn tán về cái chết đã được báo trước của Steve Jobs – một nhân vật lỗi lạc của thế giới điện tóan và khoa học kỹ thuật hiện đại, thì thông báo của Hàn Lâm Viện Thụy Điển liên quan đến người đọat giải Nobel về văn chương năm nay dường như đã bị bóng dáng gầy guộc, lêu nghêu của Steve Jobs phần nào làm lu mờ.</p>
<p>Tuy nhiên, vì là một giải thưởng văn chương quan trọng nhất thế giới với lịch sử tính đến nay đã tròn 110 năm (từ 1901), 104 lần trao giải và đã vinh danh 108 nhà văn nhà thơ mang đủ mọi quốc tịch, nên trước sau gì, người nhận giải năm nay cũng phải đứng trước ánh sáng spotlight để cả thế giới chiêm ngưỡng.</p>
<p>Tomas Tranströmer, nhà thơ 80 tuổi người Thụy Điển đã được chọn để nhận giải thưởng Nobel về văn chương năm 2011. Cuối cùng, bụt chùa nhà cũng đã bắt đầu . . . thiêng. Tomas là người Thụy Điển đầu tiên nhận giải thưởng này kể từ năm 1974, khi hai nhà văn Thụy Điển Harry Martinson và Eyvind Johnson cùng chia nhau vinh dự trong sự nghiệp văn chương của mình. Thụy Điển, nơi khai sinh của giải Nobel, vốn cũng là một “cường quốc văn chương&#8221; không thua kém gì các “cường quốc văn chương&#8221; khác ở Tây Âu, ở Đông Âu, những nơi chôn nhau cắt rốn của phần lớn những nhà văn nhà thơ đã từng được vinh danh trong lịch sử 110 năm của giải, nhưng cho đến nay vẫn khiêm tốn đứng trong bóng tối là vì Ủy Ban chấm giải không muốn mang tiếng là thiên vị người đồng hương. Thực sự, điều này làm giới mộ điệu văn học ở Thụy Điển không mấy hài lòng. Một người dân Stockholm đã chua chát “<em>tôi tưởng rằng cả trăm năm nữa Ủy ban chấm giải vẫn chưa dám chọn một nhà văn Thụy Điển để trao giải&#8221;</em>. Thủ tướng Thụy Điển, khi nhận được tin vui cho xứ sở ông, đã nhanh chóng phát biểu về sự hài lòng và hãnh diện của mình, và hy vọng qua sự lựa chọn đúng đắn (tuy muộn màng) của Ủy ban chấm giải, thế giới sẽ quan tâm nhiều hơn đến nền văn học Thụy Điển. Ông nói thêm rằng nhiều người dân Thụy Điển đã mong đợi tin vui này từ lâu lắm rồi. Về phần Ủy Ban chấm giải, thì theo lời ông Peter Englund, thư ký thường trực của Ủy Ban, “<em>Tôi tin rằng chúng tôi đã hết sức cẩn trọng và kỹ lưỡng&#8221; </em>khi quyết định sự lựa chọn này.</p>
<p>Trong công bố trao giải, Ủy Ban chấm giải cho biết, nhà thơ Tomas Tranströmer được lựa chọn vì qua thi ca ông đã “<em>dùng những hình ảnh cô đọng, mờ ảo để dẫn chúng ta vào thực tại đời sống với nét nhìn tươi rói, mới mẻ&#8221;</em>. Những tác phẩm của Tomas Tranströmer, chú trọng đến những vấn đề lớn lao của nhân lọai. Ông viết về đời sống, về cái chết, về vai trò của lịch sử, về hồi ức và thiên nhiên, những đề tài vốn xuất phát từ chính kinh nghiệm của riêng ông thẩm thấu qua lòng yêu âm nhạc (Tomas còn là một nhạc sĩ Piano nghiệp dư) và thiên nhiên. Neil Astley, thuộc nhà xuất bản Bloodaxe Books ở Luân Đôn, nơi phát hành những tác phẩm của Tomas Tranströmer, đã nhận xét “ <em>tác phẩm của ông đầy hình ảnh. Những hình ảnh về con người, về thiên nhiên, về những lực lượng của thiên nhiên, mối tương quan giữa con người và thiên nhiên, sự tự do và lực kềm chế, rất nhiều những yếu tố xuất hiện trong tác phẩm của ông&#8221;</em>.</p>
<p>Tuyển tập “17 bài thơ&#8221;, xuất bản năm 1954, là một trong những tác phẩm đầu tay của một tác giả, được rộng rãi công chúng mộ điệu văn học ca ngợi và ưa thích.</p>
<p style="text-align: center;"><a href="https://t-van.net/wp-content/uploads/2011/10/Tomas-Tranströmer-2.jpg"><img loading="lazy" decoding="async" class="aligncenter size-full wp-image-11550" title="Tomas Tranströmer 2" src="https://t-van.net/wp-content/uploads/2011/10/Tomas-Tranströmer-2.jpg" alt="" width="179" height="281" /></a></p>
<p>Trong văn học Thụy Điển, Tomas Tranströmer được coi như là bậc thầy về sử dụng những ẩn dụ, đan quyện những hình ảnh đầy sức mạnh vào thi ca mà không cần phải thêm thắt, thêu dệt gì nhiều. Trong quyết định trao giải, Ủy Ban chấm giải cũng đã nhấn mạnh đến tính cách “<em>tiềm lực&#8221;</em> hàm chứa trong những vần thơ mà ông đã sáng tạo.</p>
<p>Trong lời tựa cho tác phẩm “<em>Điều bí ẩn vĩ đại&#8221; (the great Enigma</em>), Tuyển tập mới nhất của ông xuất bản bằng tiếng Thụy Điển năm 2004 và được dịch sang tiếng Anh 2 năm sau đó, ông viết: “<em>Thức dậy sau giấc ngủ giống như vừa nhẩy ra khỏi những giấc mơ. Không còn bị vây bủa bởi những hỗn độn đến ngộp thở, khách lữ hành chìm dần vào không gian xanh mướt của buổi sáng. Mọi vật chợt bừng lên. Từ đôi mắt của con chim run rẩy, anh nhận ra được những cội rễ khổng lồ của bụi cây, những ngọn đèn ngầm dưới mặt đất đang lắc lư, nhưng ở phía trên mặt đất, cây cỏ &#8211; xum xuê như cơn lũ nhiệt đới – vươn cánh lên cao, lắng nghe tiếng đập của một nhịp tim vô hình . . .&#8221;</em></p>
<p style="text-align: center;"><a href="https://t-van.net/wp-content/uploads/2011/10/Tomas-Tranströmer-3.jpg"><img loading="lazy" decoding="async" class="aligncenter  wp-image-11551" title="Tomas Tranströmer 3" src="https://t-van.net/wp-content/uploads/2011/10/Tomas-Tranströmer-3.jpg" alt="" width="346" height="259" /></a></p>
<p>Theo nhiều nhà phê bình, độc gỉa hiếu kỳ muốn tìm hiểu về thi ca của Tomas Tranströmer, nên chọn làm quen trước hết với tuyển thơ “<em>Điều bí ẩn vĩ đại&#8221;</em> (The great Enigma) này, vì qua tác phẩm, độc gỉa ngay lập tức bị chóang ngợp bởi sự tĩnh lặng mãnh liệt mà cũng rất đẹp đẽ của những vần thơ cô đọng.</p>
<p>Là nhà thơ nổi tiếng nhất của Thụy Điển, ông chẳng những được biết đến trong nước, mà còn rộng rãi trên khắp thế giới với bản dịch những tác phẩm của ông ở 60 thứ ngôn ngữ khác nhau.</p>
<p>Sinh năm 1931 ở Stockholm, học đại học cũng ở Stockholm, rồi trở thành chuyên gia tâm lý như một nghề nghiệp, Tomas Tranströmer hầu như sống cả đời nơi đây. Năm 1990, ông bị stroke, liệt nửa người bên phải, gây khó khăn đi đứng, kể cả nói. Nhưng điều đó không cản trở ông trong việc sáng tác. Từ nhiều năm nay, tên ông đã đều đặn nằm trong danh sách đề cử (nomination). Vì thế, vào ngày quy định công bố giải tháng 10 hàng năm, các phóng viên thường túc trực sẵn tại căn apartment của gia đình ông ở thành phố Stockholm để chờ tin và săn hình. Năm nay, họ đã toại nguyện. Từ căn phòng đó, người phát ngôn của nhà xuất bản phát hành tác phẩm của Tomas Tranströmer, đã cho phóng viên biết “<em>nhà văn đã quá đỗi vui mừng&#8221;</em>. Lẽ ra, điều này phải đến với ông từ lâu rồi. Do bệnh tật, ông chỉ có thể cố gắng nói được hai tiếng “<em>tốt lắm&#8221;</em> (very good). Với bản tính khiêm tốn, không muốn xuất hiện nhiều trước công chúng, ông thường tránh né những cơ hội có thể lôi cuốn sự chú ý của nhiều người. Nhưng bây giờ thì ông không còn lựa chọn nào khác. Từ nay, ông sẽ là người của công chúng, mỗi bước đi bước đứng, mỗi thay đổi trong đời sống riêng tư, chắc chắn sẽ có những con mắt soi mói, nhòm ngó. Chẳng vậy mà năm 1969, khi nhà văn người Ái Nhĩ Lan Samuel Beckett đọat giải Nobel văn chương, vợ ông đã gọi sự kiện này là một “thảm họa&#8221; cho gia đình ông, vì sự chú ý, áp lực của công luận và những họat động mới mà một nhà văn đọat giải Nobel không thể nào thóai thác.</p>
<p>Trông người lại nghĩ đến ta. Đến bao giờ thì một nhà văn Việt Nam sẽ được đề cử nhận giải (chưa nói gì đến việc chính thức nhận giải). Chẳng phải vì số tiền hiện kim 1 .5 triệu Mỹ Kim đi kèm với giải, dù đó là số tiền mà không một nhà văn Việt Nam nào dám nằm mơ về giá trị vật chất mà sự nghiệp viết văn cả đời của mình đem lại, mà là khát vọng được thế giới công nhận những nỗ lực văn học của một đất nước gần 90 triệu dân.</p>
<p>Khái niệm “cường quốc văn chương&#8221; không hề là cường điệu. Cùng với những anh chị ruột thịt của mình ra đời trước như khái niệm cuờng quốc kinh tế, chính trị, cường quốc thể thao v..v , khái niệm “cường quốc văn chương&#8221; đã khẳng định sự hiện hữu của mình qua lịch sử 110 năm của giải. Trong số 10 nhà văn nhà thơ mới đây nhất được chấm giải, đã có đến 7 người thuộc về các quốc gia châu Âu, nơi thống trị của ngôn ngữ Anh, Pháp, Đức, Tây Ban Nha, những ngôn ngữ phổ thống khắp nơi trên thế giới. Người ta chê trách rằng Ủy Ban chấm giải đã quá thiên về châu Âu (Euro-centric). Nhưng cũng không vì thế mà phủ nhận một thực tế ưu thắng của những ngôn ngữ trên. Chúng đến được với nhiều người. Ngay đến một cường quốc kinh tế, chính trị như nước Tàu với một nền văn hóa vào hạng lâu đời nhất thế giới cũng không đủ sức vực chữ Tàu lên vị trí quốc tế được vì nó quá phức tạp. Tương tự như vậy với một nước Nhật hùng cường nhất nhì thế giới hiện nay. Trong 108 nhà văn nhà thơ nhận giải chỉ có hai thuộc về nước Nhật là Yasunari Kawabata (1968) và Kenzaburo Oe (1994), 1 thuộc về nước Tàu là Cao Hành Kiện (2000).</p>
<p>Tuy nhiên, thế yếu về vị trí ngôn ngữ vẫn có thể khắc phục được nếu văn học Việt Nam có một đội ngũ dịch gỉa đầy đủ khả năng và thiện chí. Thế giới hiện nay, qua internet, đã thu nhỏ lại hơn trước đây nhiều lắm. Ở ngòai đất nước, số người Việt Nam tinh thông hai ba ngôn ngữ khác nhau không nhỏ. Ở trong nước, cơ hội trau dồi thêm một ngọai ngữ cũng không hiếm hoi. Vấn đề là sự tài trợ của các giới chức thẩm quyền. Điều này là không tưởng theo thực tế hiện nay. Vấn đề khác, quan trọng hơn, là thẩm định giá trị văn học, tư tưởng, giá trị phản ánh trung thực tế lịch sử, đời sống của đất nước của những tác phẩm sẽ được đầu tư để giới thiệu với độc gỉa thế giới. Điều này, trong bối cảnh chính trị hiện nay, cũng không dễ gì đạt được một sự thống nhất.</p>
<p>Nhân cơ hội giới thiệu giải văn chương Nobel năm nay, tôi dài dòng thêm một chút về ước mơ và những suy nghĩ vụn vặt, chưa thành hệ thống của mình. Vẫn biết ước mơ chỉ là ước mơ, và biết chắc rằng trước khi nhắm mắt chia tay trần gian, mình cũng sẽ không có dịp giới thiệu một nhà văn Việt Nam đọat giải văn chương Nobel, nhưng hy vọng rằng không ai nỡ hẹp lượng mà không cho phép tôi được mơ tưởng đến cái ngày đó.</p>
<p><strong>T.Vấn</strong></p>
<p>6 tháng 10 năm 2011</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>©T.Vấn 2011</p>
]]></content:encoded>
					
					<wfw:commentRss>https://t-van.net/t-v%e1%ba%a5n-gi%e1%ba%a3i-th%c6%b0%e1%bb%9fng-nobel-v%e1%bb%81-van-ch%c6%b0%c6%a1ng-nam-2011/feed/</wfw:commentRss>
			<slash:comments>0</slash:comments>
		
		
			</item>
		<item>
		<title>T.Vấn: Vịn chữ để đứng dậy</title>
		<link>https://t-van.net/v%e1%bb%8bn-ch%e1%bb%af-d%e1%bb%83-d%e1%bb%a9ng-d%e1%ba%ady/</link>
					<comments>https://t-van.net/v%e1%bb%8bn-ch%e1%bb%af-d%e1%bb%83-d%e1%bb%a9ng-d%e1%ba%ady/#respond</comments>
		
		<dc:creator><![CDATA[T.Vấn]]></dc:creator>
		<pubDate>Fri, 25 Jul 2008 00:00:00 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Góc Văn]]></category>
		<category><![CDATA[tùy bút]]></category>
		<category><![CDATA[văn chương]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://7076e870b2.nxcli.io/testsite/wordpress/?p=1116</guid>

					<description><![CDATA[Chữ Tâm (Cuồng Thảo) _ Nguồn: http://luongsonbac.com/gallery/ Nhất sĩ, nhì nông Hết gạo chạy rông Nhất nông, nhì sĩ &#160;(Ca dao) 1. &#160;“Làm văn chương như lao vào con đường quá nhiều khổ nhọc! Dấn thân vào con đường gian truân này tôi ít quan tâm chim kêu, hoa nở, gió mát, trăng thanh&#8230; Tôi [&#8230;]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<p><a href="https://t-van.net/wp-content/uploads/2011/07/clip_image00268.jpg"><img loading="lazy" decoding="async" style="background-image: none; margin: 0px 20px 10px 0px; padding-left: 0px; padding-right: 0px; display: inline; float: left; padding-top: 0px; border: 0px;" title="clip_image002" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2011/07/clip_image002_thumb17.jpg?strip=all&fit=240%2C234" alt="clip_image002" width="240" height="234" border="0" align="left"></a></p>
<p><b><i>Chữ Tâm (Cuồng Thảo) _ Nguồn: http://luongsonbac.com/gallery/</i></b></p>
<p><em>Nhất sĩ, nhì nông</em></p>
<p><em>Hết gạo chạy rông</em></p>
<p><em>Nhất nông, nhì sĩ</em></p>
<p><em>&nbsp;(Ca dao)</em></p>
<p><strong>1.</strong></p>
<p><em>&nbsp;“Làm văn chương như lao vào con đường quá nhiều khổ nhọc! Dấn thân vào con đường gian truân này tôi ít quan tâm chim kêu, hoa nở, gió mát, trăng thanh&#8230; Tôi dành chú tâm nhiều vào con người, đặc biệt tâm tính con người! Việc này, không quan tâm không được, bởi tôi là đồng loại. Nhiều người họ tệ lắm! Còn dưới mắt họ, tôi cũng tệ lắm! Tôi cố tỉnh táo, khách quan, tôi tôn trọng và thận trọng, tôi xem xét và suy tư&#8230; Văn chương đối với tôi là cuộc thám hiểm con người. Thám hiểm con người để biết con người, tìm thấy con người và chiến đấu con người!</em></p>
<p><em>Sa thân chốn chữ nghĩa, tôi thường tự hỏi nhiều câu nhấn chìm mình! Và, tôi cố vùng vẫy ngoi lên.</em></p>
<p><em>&#8211; Con người thương quý cái gì?</em></p>
<p><em>&#8211; Hẳn là con người thương quý cái thiện trong con người!</em></p>
<p><em>&#8211; Con người sợ hãi cái gì?</em></p>
<p><em>&#8211; Con người sợ hãi cái ác trong con người!</em></p>
<p><em>&#8211; Vậy&#8230; cái ác, nó sợ hãi cái gì?</em></p>
<p><em>Và, trong tôi luôn vỡ ra một điều chua xót:</em></p>
<p><em>&#8211; Cái ác chỉ sợ hãi cái ác hơn! Cái ác không sợ cái thiện!</em></p>
<p><em>Tôi cực kỳ căm ghét cái ác, thế nhưng nhiều khi tôi bất lực trước kẻ ác, bởi tôi không làm ác được! Và cũng không có quyền làm ác! Trong văn chương lại cũng thế! Nhưng, dù ở sát bờ tuyệt vọng, tôi vẫn cố gắng xây dựng cái thiện đế làm đối trọng cái ác! Đời văn tôi quá ngắn và bé mọn, biết chắc cái thiện dù dày công hun đúc một đời cũng khó mà đánh bại một cái ác nhất thời nhởn nhơ! Nhưng trận chiến không khoan nhượng và lép vế này đã giúp tôi thanh thản làm người!</em></p>
<p><em>Mỗi khi đặt dấu chấm dứt một truyện ngắn tôi luôn cảm thấy mình cần phải viết lại! Bởi, cây bút tôi quá chật hẹp và bất cập trong biển đời mênh mông gào sóng!</em></p>
<p><em>Bàn viết tôi trông ra cửa sổ. Lãng đãng nơi khung chữ nhật gió lùa ấy, tôi thấy bóng quá khứ trôi qua nhiều buồn thương lẫn lộn. Nhưng nơi ấy, tôi buộc hiện tại phải đi qua bằng lòng tin không mất của tuổi già! Nơi ấy tôi thường ngồi lặng im, nghĩ nhiều hơn viết, nghe nước mắt phận mình không rơi ra ngoài được, vì những đồng cảm bao người dân quê chân lấm tay bùn. Tôi vẫn hài hước để đậy che chua xót, tôi cố bông đùa để lấp đi cay nghiệt, để tôi được sống mà nuôi khao khát&#8230; Tôi bây giờ không dám rời xa cái bàn viết bé nhỏ bề bộn bản thảo, tôi sợ mình không còn gì để vịn, những lúc cô đơn tràn ngập ngả lòng!</em></p>
<p><em>Sống cõi đời, có những lúc phải nín thở, nhói tim vì cái ác diễn ra sờ sờ như thách thức mình! Xem ra, có khá nhiều kẻ đã nỗ lực dùng trí tuệ quý nhất đời họ để phụng sự cái ác miệt mài!</em></p>
<p><em>Già, già rồi! Nghèo, nghèo rồi! Tôi bỏ cày, cầm bút, để chất cao thêm lo toan giữa bao lo toan chất đống! Có lẽ, tôi chưa biết cách già! Và cũng có lẽ, số phận đánh lừa tôi, để tôi trở thành số phận.</em></p>
<p>Tuy Hòa, 1.8.2007. (Ngô Phan Lưu – Chỉ là đôi điều)”.</p>
<p><strong>2.</strong></p>
<p><strong>&nbsp;</strong>Đoản văn trích dẫn ở trên nó ám ảnh tôi từ khi tình cờ đọc được trên một trang báo điện tử. Ám ảnh đến độ tôi không thể không viết đôi điều. Tác giả là một cựu sinh viên đại học Văn khoa ở Sài Gòn, cựu sĩ quan QLVNCH, sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, ông bị đi cải tạo một thời gian rồi về quê làm ruộng. Rồi ông bỏ cầy, cầm bút để viết về những trăn trở của một người, từng là nông dân ngày ngày đổ mồ hôi trên mảnh ruộng làm ra cơm gạo cho gia đình, cho đời. Đó là một cuộc mưu sinh khổ nhọc. Thứ khổ nhọc ở trên tất cả mọi khổ nhọc. Vì thế mà bao thanh niên sinh ra nơi đồng ruộng, ai cũng cố gắng để thoát ra khỏi sự khổ nhọc đáng sợ ấy. Nhưng với một người viết văn bằng bàn tay chai sần vì cầm cầy, cầm cuốc gần nửa đời người ấy, thì &#8220;l<em>àm văn chương như lao vào con đường quá nhiều khổ nhọc&#8221;. </em>Tại sao nó khổ nhọc như vậy, mà gần cuối đời rồi, ông vẫn cứ lao vào, chỉ để &#8220;<em>chất cao thêm lo toan giữa bao lo toan chất đống&#8221;&nbsp; </em>hay sao? Tại sao, ông bỏ cuộc khổ nhọc (tay cầy) chỉ để vác lên vai một khổ nhọc khác (tay viết), dù đó là khổ nhọc để mưu sinh? Hình như tôi tìm thấy đầu mối ở đôi lời ông bộc bạch &#8220;<em>Dấn thân vào con đường (văn chương)&nbsp; gian truân này tôi ít quan tâm chim kêu, hoa nở, gió mát, trăng thanh&#8230; Tôi dành chú tâm nhiều vào con người, đặc biệt tâm tính con người! Việc này, không quan tâm không được, bởi tôi là đồng loại.&#8221; </em></p>
<p>Chữ nghĩa là con người cùng với những hệ lụy cố gắng làm một con người cho ra con người. Bấy nhiêu chưa đủ, còn phải chiến đấu hàng ngày với những điều ác, thứ nước cường toan làm bộ mặt con người biến dạng, trở nên xấu xí và hèn mọn. Nếu không, chữ nghĩa sẽ không có một chút giá trị gì giữa cuộc sống có quá nhiều điều thừa thãi.</p>
<p>Có lẽ vì thế mà cuộc chơi văn chương khổ nhọc hơn cuộc mưu sinh hàng ngày để tồn tại chăng?</p>
<p><strong>3.</strong></p>
<p><strong>&nbsp;</strong>Từ những trăn trở của một người nông dân cầm bút ở Việt Nam, tôi nhìn lại chính mình. Cũng như ông, rất nhiều khi tôi đã vịn chữ nghĩa mà đứng dậy. Rất nhiều khi, tôi đã tự an ủi mình rằng, mình không bất nhân với chữ nghĩa, thì chẳng có con chữ nào nỡ phủi tay bỏ mặc, những khi mình cần chúng nhất. Bội bạc vốn là một thuộc tính của con người, không phải của con chữ. Mỗi khi tôi ngồi xuống, đối diện màn hình trắng lóa, tôi luôn nhủ lòng mình rằng, nếu người nông dân đổ mồ hôi trên mảnh ruộng là để tạo ra cơm gạo cho đời thì người cầm bút, rỉ tâm tư của mình trên mỗi đầu ngón tay, cũng phải tạo ra được chút gì cho đời, hay nói như ông nhà văn nông dân, ít nhất cũng&nbsp; &#8220;<em>cố gắng xây dựng cái thiện đế làm đối trọng cái ác&#8221;. </em>Nếu không, thế giới này sẽ mất cân bằng. Và khi ấy, cái ác sẽ chỉ biết sợ cái ác . . . hơn. Những tội ác, những kẻ sát nhân, những điều trá ngụy, những áp bức, trù dập, những bất công, những chà đạp công lý. Nếu người sử dụng chữ nghĩa không nói lên, không kêu gào, không bộc bạch, thì ai sẽ là người làm việc đó? nạn nhân ư? họ không có cơ hội, thậm chí không còn sống để tố cáo. Thủ phạm ư? chắc chúng cũng chỉ nói lên những điều giả nhân giả nghĩa nhằm biện minh cho tội ác của mình. Chúng ta đang sống trong một thời còn nhiễu nhương hơn cả những ngày nhiễu nhương năm xưa chốn quê nhà. Khi ấy, còn có chiến tuyến hẳn hòi, khi ấy còn có bên địch bên ta mặc hai màu áo khác nhau. Bây giờ, có nhiều nhà tu hành đeo dao bên người sẵn sàng làm đồ tể, còn những tay đồ tể chuyên nghiệp lại lên đường hành hương tìm những nguồn suối nhiệm màu hòng rửa sạch vết máu của một quá khứ thù hận. Và chính chữ nghĩa, đôi khi cũng bất lực như nhà văn ngồi <em>&#8220;lặng im, nghĩ nhiều hơn viết, nghe nước mắt phận mình không rơi ra ngoài được, vì những đồng cảm bao người dân quê chân lấm tay bùn.&#8221;</em></p>
<p><em>&nbsp;</em>Nhớ những năm xưa bị lưu đầy ngay chính trên quê hương của mình. Ngày nắng cũng như ngày mưa, ngày đông lạnh buốt cũng như ngày hè nắng bỏng da, trên những mảnh ruộng bậc thang nhỏ bằng bàn tay của trại cải tạo Vĩnh Quang miền trung du Bắc Việt, tôi hò hét khản cổ con trâu già sứt môi, bắt nó lê từng bước mệt mỏi kéo chiếc cày cũ kỹ dường như có trọng lượng nặng hơn cả tấm thân xác chưa tới 40 kí lô thịt hơi của mình. Tội nghiệp con trâu già thiếu cỏ để gặm. Tội nghiệp cái thằng người hàng ngày thất thểu đi theo nó. Cái thằng người mà thân xác thì nhẹ nhưng cái đầu thì nặng vì chứa đầy không biết bao nhiêu những thứ &#8220;thức ăn hàm thụ&#8221;. Đã có lúc thằng người ấy ngã gục trên đám bùn nhầy nhụa phân xanh, phân chuồng, nhưng nó đã vịn cầy để đứng dậy. Nhưng cũng có lúc quá kiệt sức, thằng người đã sẩy tay đánh rơi cái cầy nhọn hoắt trên chính bàn chân của mình. Máu chảy đầm đìa loang đỏ cả một mảnh ruộng, vậy mà cái đau ngày ấy chưa hẳn đã đau hơn cái nhức buốt ngày hôm nay khi bị những con chữ đâm thẳng vào tim.</p>
<p>Mấy mươi năm đã qua đi. Con trâu già sứt môi bây giờ hẳn đã biến mất trong những cái dạ dày thiếu thịt hàng thế kỷ. Thằng người tội nghiệp năm xưa nay vẫn sống kiếp lưu đầy, nhưng không phải trên mảnh quê hương nghèo khổ của mình nữa, mà là miền đất trù phú xứ người. Chiếc cày thô sơ nặng chình chịch ngày ấy nay hẳn đã bị quên lãng trong một xó xỉnh nào đó của căn nhà kho tồi tàn như chính cái chế độ sản sinh ra nó. Dẫu sao, tôi đã từng vịn nó để đứng dậy.</p>
<p><em>Như bây giờ có một người viết văn ở Việt Nam đã từng vịn chữ để đứng dậy.</em></p>
<p><strong>4.</strong></p>
<p><strong>&nbsp;</strong>Chữ nghĩa còn là nhân chứng của mọi thời đại. Các thế hệ mai sau, biết được&nbsp; những gì xảy ra hôm nay, qua chữ nghĩa. Cũng như chúng ta, hôm nay, nhìn lại nhiều thế kỷ trước cũng qua những gì chữ nghĩa ghi lại. Nếu là một người viết lương thiện, lịch sử sẽ là lịch sử như nó vốn là. Nếu người viết bẻ cong ngòi bút dù vì bất cứ lý do gì, chúng ta có một lịch sử bị nhào nắn theo ý đồ người viết, theo ý đồ của những kẻ có quyền năng sai khiến người viết. Vì thế, làm một người viết trung thực, có trách nhiệm, như ông nhà văn nông dân hiện còn sống ở trong nước, là một cuộc khổ nạn cho sự cứu rỗi cuối cùng của chân lý. Thứ chân lý sẽ chiếu sáng mãi mãi cho nhiều thế hệ mai sau, thứ chân lý đóng vai trò người chứng can trường, chỉ nói những gì mình thấy, nghe, cảm, và cũng là thứ chân lý đem đến bao khó nhọc cho đời sống, cho người cưu mang nó. Sự khó nhọc luôn làm &#8220;<em>nín thở, nhói tim&#8221;. </em>Cái tâm ấy của người viết sẽ hòa cùng bản thể vạn vật để tạo nên một thế giới xứng đáng với tầm vóc con người, xứng đáng với những gì con người tạo dựng, trong đó có chữ nghĩa và những giọt mồ hôi khổ nhọc của những người &#8220;<em>khéo</em> <em>dư nước mắt khóc người ngàn xưa&#8221;.</em></p>
<p>Âu cũng là một cách thế để tồn tại cùng với đời sống, dẫu có phải rỉ máu ngón tay hằng đêm trước màn hình trắng lóa (của máy điện toán) và cuộc tra vấn không ngừng về ý nghĩa thiết thực của những hàng chữ đang nhẩy múa như điên như cuồng.</p>
<p>Nếu không khổ nhọc như thế, chữ nghĩa, sáng tạo đầy kiêu hãnh của nhân loại sẽ chẳng đáng giá một xu khi được đặt cạnh chiếc cày nằm mệt mỏi trên thửa ruộng đất vừa mới vỡ.■</p>
<p>© T.Vấn 2008</p>
]]></content:encoded>
					
					<wfw:commentRss>https://t-van.net/v%e1%bb%8bn-ch%e1%bb%af-d%e1%bb%83-d%e1%bb%a9ng-d%e1%ba%ady/feed/</wfw:commentRss>
			<slash:comments>0</slash:comments>
		
		
			</item>
		<item>
		<title>T.Vấn: Văn hóa cà phê</title>
		<link>https://t-van.net/van-ha-c-ph/</link>
					<comments>https://t-van.net/van-ha-c-ph/#respond</comments>
		
		<dc:creator><![CDATA[T.Vấn]]></dc:creator>
		<pubDate>Mon, 22 Oct 2007 15:44:00 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Góc Văn]]></category>
		<category><![CDATA[cà phê]]></category>
		<category><![CDATA[quán]]></category>
		<category><![CDATA[văn chương]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://7076e870b2.nxcli.io/testsite/wordpress/?p=1580</guid>

					<description><![CDATA[1. Hôm rồi, có người bạn bên Úc gởi qua điện thư cho tôi một &#8220;sưu tập&#8221; khá thú vị. Đó là những mẩu chuyện so sánh rất tinh tế về Sài Gòn và Hà Nội, từ thời tiết như mưa nắng cho đến đường phố, cây cối và nhiều nhất là những sinh họat [&#8230;]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<p><a href="https://t-van.net/wp-content/uploads/2011/07/clip_image002112.jpg"><img loading="lazy" decoding="async" style="background-image: none; margin: 0px 20px 10px 0px; padding-left: 0px; padding-right: 0px; display: inline; float: left; padding-top: 0px; border: 0px;" title="clip_image002" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2011/07/clip_image002_thumb54.jpg?strip=all&fit=323%2C214" alt="clip_image002" width="323" height="214" align="left" border="0" /></a></p>
<p><strong>1.</strong></p>
<p>Hôm rồi, có người bạn bên Úc gởi qua điện thư cho tôi một &#8220;sưu tập&#8221; khá thú vị. Đó là những mẩu chuyện so sánh rất tinh tế về Sài Gòn và Hà Nội, từ thời tiết như mưa nắng cho đến đường phố, cây cối và nhiều nhất là những sinh họat hàng ngày như ăn, uống, vui chơi, giải trí v.v.. Trong đó, có một mẩu so sánh về việc &#8220;uống cà phê&#8221; như sau:</p>
<p><strong><em>Uống Cà phê</em></strong></p>
<p><em>Ở Sài Gòn: thường uống cà phê có nhiều đá vào buổi sáng trước khi đi làm </em></p>
<p><em>Ở Hà Nội: thường uống cà phê khi đi chơi vào buổi tối trước khi &#8230;đi ngủ</em></p>
<p><strong><em>Nếu bạn gọi một ly nâu</em></strong></p>
<p><em>Ở Sài Gòn: bạn sẽ được chủ quán mang cho một ly cà phê đen</em></p>
<p><em>Ở Hà Nội: bạn sẽ được 1 ly cà phê có thêm sữa</em></p>
<p><strong><em>Nếu bạn muốn uống cà phê sữa</em></strong></p>
<p><em>Ở Sài Gòn: cho xin 1 ly bạch sửu</em></p>
<p><em>Ở Hà Nội: nếu bạn gọi 1 ly bạch sửu bạn sẽ nhận được câu trả lời &#8211; không có,</em></p>
<p><em>hoặc bạn bị coi là&#8230;hâm.</em></p>
<p><a href="https://t-van.net/wp-content/uploads/2011/07/clip_image00325.jpg"><img loading="lazy" decoding="async" style="background-image: none; padding-left: 0px; padding-right: 0px; display: inline; padding-top: 0px; border: 0px;" title="clip_image003" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2011/07/clip_image003_thumb12.jpg?strip=all&fit=451%2C338" alt="clip_image003" width="451" height="338" border="0" /></a></p>
<p>Đọan so sánh về ly &#8220;bạch sửu&#8221; làm sống lại trong tôi những quán cà phê Tàu, những quán cà phê đã làm nên một đặc tính &#8220;văn hóa cà phê&#8221; rất Sài Gòn. Thực ra, chữ bạch sửu có lẽ là do đọc trại đi từ &#8220;<em>bạc xỉu</em>&#8220;, gọi tắt của cụm chữ &#8220;<em>bạc tẩy xỉu phé</em>&#8220;. Mấy chữ đó là âm từ tiếng Quan Thọai, thứ tiếng Tàu khá phổ thông trong số những người Tàu sống ở Sài Gòn. <em>Bạc</em> là màu trắng, <em>Tẩy</em> là cái ly không, <em>Xỉu</em> là một chút, và <em>Phé</em> là cà phê. Rõ nghĩa hơn, đó là một thức uống theo ý khách hàng: Sữa nóng thêm một chút cà phê. Sữa đặc pha với nước sôi thường có mùi hơi khó uống, nên chút cà phê thêm vào sẽ làm cái mùi ấy mất đi. Ở những quán cà phê bình dân của người Tàu (những năm 50s, 60s, Sài Gòn đầy dẫy những quán cà phê bình dân kiểu này, chúng thường chiếm vị trí thuận lợi ở mỗi đầu con hẻm), khi khách hàng Việt gọi một món thức ăn, thức uống bằng tiếng Việt, <em>phổ ky</em> (người hầu bàn) thường có thói quen đứng từ bàn của khách nói vọng vào bếp (cũng được đặt ngay trong một góc gần ngay chỗ thực khách ngồi ăn uống) món thức ăn, uống ấy bằng tiếng Tàu. Dần dà, người khách Việt thuộc lòng món ăn, uống ưa thích bằng tiếng Tàu và sau đó, đã sử dụng luôn chúng trong lúc gọi thực đơn. Và từ đó, ngôn ngữ Việt đã đồng hóa một số từ thức ăn, thức uống trong tiếng Tàu thành ngôn ngữ riêng của mình, trong đó có từ &#8220;bạc xỉu&#8221;. Vì đó là  đặc tính &#8220;văn hóa cà phê&#8221; riêng của Sài Gòn nên Hà Nội làm sao biết được. Ngay cả Sài Gòn bây giờ, có mấy người trẻ hiểu được thói quen của mấy ông bà lớn tuổi, vào quán cà phê bình dân đầu hẻm, khi vừa ngồi xuống đã vội kéo một chân lên ghế (đẩu), vừa lớn tiếng gọi &#8220;cho cái xây chừng coi!&#8221; (<em>xây chừng</em>: ly cà phê đen nhỏ) , hay &#8220;<em>sang</em>&#8221; hơn một chút: &#8220;Phổ ky! cho cái xây nại!&#8221; (<em>xây nại</em>: ly cà phê sữa nhỏ).</p>
<p>Để nói về &#8220;văn hóa cà phê&#8221; của Sài Gòn những năm đó, người ta cần cả một pho sách.</p>
<p><strong>2.</strong></p>
<p><a href="https://t-van.net/wp-content/uploads/2011/07/clip_image00514.jpg"><img loading="lazy" decoding="async" style="background-image: none; padding-left: 0px; padding-right: 0px; display: inline; padding-top: 0px; border: 0px;" title="clip_image005" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2011/07/clip_image005_thumb5.jpg?strip=all&fit=291%2C436" alt="clip_image005" width="291" height="436" border="0" /></a></p>
<p>Nhưng, &#8220;văn hóa cà phê&#8221; là gì?*</p>
<p>Để &#8220;nắm bắt&#8221; được khái niệm mơ hồ ấy, rất đơn giản. Một buổi sáng đầu thu nhàn rỗi nào đó, với chút không khí se lạnh đầu ngày, bạn mở cửa bước vào một nhà sách quen thuộc (Barnes &amp; Noble chẳng hạn). Điều đầu tiên bạn chú ý là mùi cà phê ngào ngạt &#8220;quánh&#8221;  lại giữa không gian, phát ra từ một góc (trái hoặc phải, hoặc ngay chính giữa) của tiệm. Đó là quán cà phê mang cái tên khá quen thuộc với người Mỹ: Starbuck hay có thể là một cái tên nào khác. Điểm chính là một quán cà phê nằm ngay trong tiệm sách. Khách đến mua sách (hay chỉ đến để xem &#8220;cọp&#8221; như các cô cậu sinh viên cần tài liệu nào đó cho homework của mình, hay đơn giản, thói quen đi dạo hàng sách của những con mọt chữ &#8211; như kẻ viết bài này) có thể cầm vài quyển sách của các tác gỉa quen thuộc, ngồi xuống một góc bàn, mua ly cà phê, vừa nhâm nhi vừa say mê trên những trang sách thánh hiền. Cà phê và sách vở. Hai thứ ấy thường đi chung với nhau. Nhiều văn hào lừng danh trên thế giới (như vợ chồng triết gia người Pháp Jean-Paul Sartre và Simone de Beauvoir) khi ngồi xuống bàn viết, ngòai xấp giấy trắng phải luôn luôn có ly cà phê nóng trước mặt. Từ thế kỷ 15, 16 ở Châu Âu đã xuất hiện khái niệm &#8220;văn hóa cà phê&#8221;, ám chỉ những quán cà phê thường có sự lui tới của các văn nghệ sĩ, các triết gia. Họ đến đó, trước hết như là nơi thường xuyên gặp gỡ hàng ngày, để ăn uống, trao đổi bàn bạc những bản thảo họ đang thai nghén, hay để chia sẻ những ý kiến riêng về các vấn đề văn hóa thời sự nóng hổi. Nhiều tác phẩm quan trọng có tầm vóc thay đổi thế giới đã ra đời từ những quán cà phê như thế. Franz Kapka, nhà văn gốc Do Thái, đã đọc lại bản thảo tác phẩm lừng danh &#8220;Hóa Thân&#8221; (Metamorphosis) tại quán cà phê Café Stefan ở Prague (thủ đô Tiệp Khắc). Tiệm cà phê cổ nhất ở Paris, khai trương năm 1686 (và đến nay vẫn còn họat động (?) ), Le Procope, với vị trí thuận lợi tọa lạc gần hí viện La Comédie-Francaise, đã được sự chiếu cố đặc biệt của các nghệ sĩ, các nhà viết kịch (Molìere, Racine v.v..) nên đã tồn tại một thời gian kỷ lục. Lịch sử về văn hóa cà phê tại châu Âu đã ghi nhận sự ra đời của gần 40 quán cà phê, đến nay vẫn còn họat động tại 20 thành phố, từ Budapest (Hung Gia Lợi) diễm lệ sang trọng đến một góc phố tồi tàn của St. Petersburg (Nga).  Ở Sài Gòn, trước năm 1975, có quán cà phê La Pagode, nằm trên đường Tự Do (bây giờ là Đồng Khởi), chỗ đối diện với công viên Hòa nhạc phía bên kia đường, cũng là nơi tụ tập của các nhà văn, nhà thơ nổi tiếng của miền Nam. Cái tên La Pagode đã có chỗ đứng rất trang trọng trong nhiều tác phẩm văn, thơ xuất bản cả trước lẫn sau 1975. Cũng từ quán cà phê Cái Chùa (La Pagode), một nhóm các nhà văn, nhà thơ lúc ấy đã &#8220;lăng–xê&#8221; mốt &#8220;trí thức thời thượng&#8221;: kính trắng và ống vố (pipe). Và tất nhiên, trước mặt phải có ly cà phê bốc khói, và cái lọ đựng những viên đường thẻ trắng tinh.</p>
<p>Từ năm 1983, nước Mỹ, vốn bị các trí thức Châu Âu gọi mỉa mai là &#8220;anh trọc phú&#8221; (anh nhà giàu ngu dốt), đã xuất hiện hệ thống tiệm cà phê Starbuck, mà chỉ hơn 20 năm sau nó đã trở thành hiện tượng &#8220;văn hóa&#8221; đáng chú ý không những chỉ ở nước Mỹ, mà còn ở các quốc gia có &#8220;nền văn hóa cà phê&#8221; lâu đời ở châu Âu. &#8220;Rót cả tâm hồn vào đáy cốc&#8221; ( tôi muợn câu chuyển ngữ tuyệt vời của Trần Kiêm Đòan từ nhan đề quyển sách viết bởi người sáng lập nên hệ thống cà phê Starbuck: <em>Pour Your Heart into It: How Starbucks Built a Company One Cup at a Time  </em>của  Howard Schultz), đó là triết lý chảy qua từng giọt cà phê Starbuck sóng sánh. Thứ triết lý đi từ đáy cốc đến từng tế bào não bộ của khách mộ điệu đứng xếp hàng mỗi buổi sáng trước 12 ngàn quầy cà phê Starbuck có mặt khắp nơi trên thế giới, từ thành phố Wichita nhỏ bé ở một tiểu bang nông nghiệp quê mùa của nước Mỹ đến những khu phố tráng lệ của Nữu Ước, sang trọng của Seattle, cổ kính của Boston, đến cả thủ đô Paris, cái nôi của văn hóa châu Âu, thành trì kiêu hãnh một thời của giới trí thức châu Âu.</p>
<p>Ngày nay, khi nói đến văn hóa cà phê, người ta (giới trí thức châu Âu) đã không thể bỏ qua &#8220;văn hóa cà phê Starbuck&#8221;. Dù vậy, vẫn có kẻ ganh tị với anh &#8220;trọc phú Mỹ&#8221;, biện luận rằng Starbuck vốn có gốc gác từ một quốc gia châu Âu khác là Ý, mà người sáng lập ra nó là Howard Schultz đã mang nó về từ một chuyến du lịch thành phố Milan. Nhưng nếu không có anh trọc phú Mỹ nhúng tay vào thì liệu cái thứ cà phê có gốc gác từ Milan ấy đến nay có bao nhiêu người biết. Cũng như cái món Pizza (cũng có gốc gác từ Ý)  lừng danh thế giới, nếu không được giới thiệu đầu tiên ở nước Mỹ từ một cái Lều (Hut) nằm khiêm tốn trong một khu hẻo lánh của khuôn viên trường Đại Học Wichita State University (Wichita –Kansas) năm 1958 thì ngày nay mấy ai biết đến Pizza Hut. Mặt khác, phải khâm phục óc sáng tạo kinh tế nhưng lại mang màu sắc văn hóa của những người đầu não Starbuck. Họ đã kết hợp thành công hai tính cách tưởng chừng như đối nghịch nhau, như sao Hôm, sao Mai không bao giờ gặp. Đó là tính cách khoan thai, tà tà, nhàn nhã của châu Âu, biểu tượng qua những giọt cà phê phin (filter)  chậm rãi vào buổi đầu ngày và tính cách &#8220;Fast Food&#8221; của người Mỹ, mọi chuyện đều phải &#8220;ăn liền&#8221; (instant), ngay tức thì, kể cả ly cà phê buổi sáng, biểu tượng qua bình cà phê Folgers hay Maxwell đầy ắp đủ uống cho nhiều người chỉ trong 1, 2  phút sau khi bấm nút máy pha (coffee maker). Hãy thử so sánh, khỏang thời gian trung bình của một người Mỹ từ lúc họ ghé xe vào trạm &#8220;Drive-thru&#8221; để đặt mua bữa ăn trưa cho đến khi họ trả tiền và nhận gói thức ăn từ tay người bán: từ 2 cho đến 4 phút. Có khi nhanh hơn: dưới 2 phút. Bây giờ, trong những buổi sáng ngày làm việc, họ sẵn sàng đứng xếp hàng chờ mua ly cà phê Starbuck với khỏang thời gian chờ đợi từ 7 đến 15 phút. Có thể nói, với ly cà phê Starbuck, người Mỹ đã &#8220;tự điều chỉnh&#8221; nhịp độ hối hả của họ, và sống &#8220;nội tâm&#8221; hơn.</p>
<p>Nói cách khác, cà phê, ngòai tính cách &#8220;văn hóa&#8221; còn đóng vai trò tác động vào lối sống (lifestyle). Nó có thể làm trì trệ thêm lối sống vốn đã trì trệ của một số người, nhưng cũng có thể có tác dụng tích cực, như ly cà phê Starbuck và lối sống Mỹ.</p>
<p><strong>3.</strong></p>
<p><em>Sáng nay cà phê một mình</em></p>
<p><em>Sài Gòn chợt mưa chợt mưa</em></p>
<p><em>(Cà phê một mình- Ngọc Lễ)</em></p>
<p>Câu hát thật dễ thương. Lại nhớ đến Sài Gòn và những quán cà phê buổi sáng, buổi trưa, buổi chiều, buổi tối. Người Sài Gòn lúc nào cũng uống cà phê được. Bạn bè gặp nhau là rủ nhau ra quán cà phê. Tình nhân hẹn hò  là lấy điểm hẹn ở một quán cà phê quen thuộc. Giới làm ăn hẹn nhau ra quán cà phê để trao đổi những điều cần thỏa thuận cho công việc mà các bên cùng quan tâm. Ngay đến hình thức quán cà phê cũng đã rất đa dạng. Từ quán cóc vỉa hè có thể bắt gặp ở bất cứ góc đường nào của thành phố, đến những quán cà phê Tàu có bình trà bằng thiếc to tướng (ngày xưa chúng tôi hay gọi đùa là trà Thiếc Quan Âm), rồi đến những quán cà phê lộ thiên trang nhã dưới một gốc cổ thụ (như cà phê Bạch Tùng Diệp đối diện với Dinh Gia Long cũ), những quán cà phê cửa kính có máy lạnh, có nhạc Trịnh Công Sơn. Đó là Sài Gòn ngày xưa, với không khí văn hóa cà phê, trí thức hay bình dân tùy theo hình thức của quán.</p>
<p><a href="https://t-van.net/wp-content/uploads/2011/07/clip_image006.gif"><img loading="lazy" decoding="async" style="background-image: none; padding-left: 0px; padding-right: 0px; display: inline; padding-top: 0px; border: 0px;" title="clip_image006" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2011/07/clip_image006_thumb.gif?strip=all&fit=384%2C288" alt="clip_image006" width="384" height="288" border="0" /></a></p>
<p>Dù bình dân hay trí thức, thì không khí của quán là thứ không khí mà, nói theo nhà văn quá cố Hòang Ngọc Tuấn, <em>ở nơi đó ai cũng quen nhau</em>. Ở đó, những người khách xa lạ ngồi cùng bàn (thậm chí khác bàn)  có thể nói chuyện với nhau tự nhiên như đã quen nhau từ trứơc. Ở đó, một bác xích lô có thể tranh luận kịch liệt với ông giáo sư trung học về một sự kiện thời cuộc nào đó vừa được đăng trên nhựt trình (báo ngày). Kể cả những lời ta thán, rủa xả một cách hành xử mất lòng dân của chính quyền đương thời v..v…</p>
<p>Nói cách khác, thời đó, quán cà phê là một bức tranh xã hội sinh động, giúp những người thực sự quan tâm đến dân chúng bắt mạch được nhu cầu đích thực của một thành phần công chúng.</p>
<p>Ngày nay, theo lời của nhiều người am hiểu trong nước, quán cà phê vẫn là một hình thức sinh họat văn hóa, nhưng phức tạp hơn, đa dạng hơn và &#8220;trần tục&#8221; hơn.</p>
<p>Dân Sài Gòn bây giờ gọi những hình thức khác nhau của những quán cà phê là &#8220;phong cách&#8221;. Phong cách càng lạ, càng sang trọng, càng thu hút khách. Vẫn còn những quán cà phê vỉa hè, nhưng &#8220;phong cách nghèo nàn, bình dân&#8221; ấy không phải là đầu đề để dân sành điệu cà phê Sài Gòn chuyện trò bù khú. Phải là quán cà phê Panorama tọa lạc ở từng thứ 33, từng cao nhất, của Sài Gòn Center. Người ta đến đây không phải để uống cà phê, mà là để mua chỗ ngồi ngắm thành phố từ trên cao chót vót. Hay cà phê Skyview tại tầng thứ 13 của Diamond Plaza (khu gần Vương Cung Thánh Đường), nơi dành cho những vị khách chuộng không gian lịch sự, lặng lẽ. Hoặc cà phê Highlands dưới chân tòa nhà Metropolitan ở đường Tự Do. Chỉ cần ngồi ở đây một hai tiếng đồng hồ, người ta có thể bắt đúng được nhịp tim đập của thành phố. Từ bảnh sáng đến khuya khoắt mịt mù, hiếm khi nào quán vắng khách. Có mặt đủ lọai các celebrities (những người nổi tiếng) ca sĩ, nhạc sĩ, người mẫu, đại gia, công tử, dân chơi v.v…  Ở những quán cà phê &#8220;đầy phong cách&#8221; như thế, không khí của nó là biểu hiện cho một lối sống, chắc hẳn là không thuộc về đại đa số người dân kiếm ăn từng bữa. Vì thế, khi nói về văn hóa cà phê, người ta vẫn phải nhìn vào những nơi tụ họp đông đảo giới lao động cùng với những lo âu, vui buồn bày tỏ trong lúc họ ngồi nhâm nhi ly cà phê với giá cả phải chăng.</p>
<p>Ở Hà Nội, trước đây cũng có những quán cà phê ra đời từ những năm 50s như cà phê Giảng, cà phê Nhân. Cà phê Giảng, theo lời những người lớn tuổi, là điển hình cho cà phê phố cổ Hà Nội. Cà phê Nhân, năm 1954 đã di cư vào Sài Gòn, và mở lại ở một căn nhà nhỏ xinh xắn mặt tiền đường Lý Thái Tổ, kế bên tiệm phở Tàu Bay và gần nhà thờ Bắc Hà. Sau này, theo giới sành điệu cà phê của Hà Nội, đất ngàn năm văn vật có thêm các quán cà phê đầy &#8220;phong cách văn hóa trữ tình và lãng mạn&#8221; như cà phê Ánh ở đường Quán Sứ, chung quanh tường được trang trí bằng những bức ảnh của nhiếp ảnh gia Hòai Linh, hay cà phê Lâm, cà phê Tùng Hậu cũng trang trí bằng những bức tranh của các họa sĩ nổi tiếng Việt Nam. Và cũng như Sài Gòn, Hà Nội không thiếu những quán cà phê nhạc sống, dưới hình thức nhạc thính phòng .</p>
<p>Xem ra, văn hóa cà phê của Sài Gòn, của Hà Nội cũng không thiếu những đặc trưng cơ bản của văn hóa cà phê thế giới.</p>
<p><strong>4.</strong></p>
<p><a href="https://t-van.net/wp-content/uploads/2011/07/clip_image00822.jpg"><img loading="lazy" decoding="async" style="background-image: none; padding-left: 0px; padding-right: 0px; display: inline; padding-top: 0px; border: 0px;" title="clip_image008" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2011/07/clip_image008_thumb8.jpg?strip=all&fit=406%2C313" alt="clip_image008" width="406" height="313" border="0" /></a></p>
<p>Trong ly cà phê có hương vị của cuộc sống. Vì cà phê vốn đắng, nên người ta phải cho thêm đường. Bỏ bao nhiêu đường, thì lại tùy khẩu vị mỗi người. Giới sành điệu bảo rằng, chớ nên hâm lại cà phê nguội, vì sẽ làm vị cà phê đắng thêm. Cũng như hãy để những gì thuộc về quá khứ lãng quên trong quá khứ, đừng khơi lại, chỉ chuốc lấy thêm nhiều dư vị không lấy gì làm ngọt ngào.</p>
<p>Văn hóa cà phê còn nhắc nhở người ta rằng, hãy uống cà phê khi ly cà phê còn nóng, tức là hãy sống hết mình cho hiện tại. Đừng bận tâm ngỏanh mặt nhìn ngày hôm qua, đừng cố kiễng chân nhìn về ngày sắp tới, vì làm thế chỉ khiến ly cà phê trước mặt nguội dần, mất ngon.</p>
<p>Triết lý cà phê cũng ngụ ý rằng, cuộc đời đôi khi đắng chát như một ly cà phê đen thiếu đường. Nhưng cà phê đắng còn có hộp đường bên cạnh. Còn cuộc đời chẳng may chát đắng, thì phải làm sao?</p>
<p>Lại nhớ câu thơ được nghe từ những ngày còn lưu đầy đất Bắc. Nói lên cảnh ngộ của vợ những người tù cải tạo năm xưa.</p>
<p><em>Cà</em> <em>phê đắng cho thêm đường thì ngọt. </em></p>
<p><em>Đời đắng cay em biết bỏ thêm gì? </em></p>
<p>Văn hóa cà phê thật đa dạng. Triết lý cà phê cũng đủ sâu để luận bàn. Vậy, xin mời bạn, chúng ta hãy &#8220;<em>rót cả tâm hồn vào đáy cốc . . . cà phê</em>&#8221; . Hay, nếu ly cà phê đời của bạn đã có quá đủ chất đắng, thì chúng ta vẫn có thể thưởng thức vị ngọt của ly <em>bạc xỉu, </em>với một chút cà phê đen trong ly sữa trắng, như <em>một chút mặt trời trong ly nước lạnh</em> của Francoise Sagan** .</p>
<p><strong>T.Vấn</strong></p>
<p><strong>Chú thích:</strong></p>
<p>*Tiểu đọan 2, phần viết về văn hóa cà phê châu Âu, lấy ý từ bài &#8220;Văn nghệ sĩ và văn hóa cà phê&#8221; của Thanh Huyền, Evan.com tháng 11-2006. Tiểu đọan 3, phần về văn hóa cà phê Sài Gòn ngày nay, lấy ý từ bài viết &#8220;Cà Phê Sài Gòn&#8221;, VNExpress tháng 5-2005.</p>
<p>** Francoise Sagan (1935-2004), nhà văn nữ người Pháp, mới 18 tuổi đã nổi tiếng trên thế giới với tác phẩm &#8220;Buồn ơi chào mi&#8221; (Bonjour Tritesse). &#8220;Một chút mặt trời trong nước lạnh&#8221; (Un Peu de Soleil Dans l&#8217;eau Froide ) là tên một tác phẩm khác, xuất bản năm 1969 của bà.</p>
<p><em>© T.Vấn 2007</em></p>
]]></content:encoded>
					
					<wfw:commentRss>https://t-van.net/van-ha-c-ph/feed/</wfw:commentRss>
			<slash:comments>0</slash:comments>
		
		
			</item>
		<item>
		<title>T.Vấn: Nghĩ về những “cử chỉ đẹp” của nhà nước</title>
		<link>https://t-van.net/nghi-v%e1%bb%81-nh%e1%bb%afng-c%e1%bb%ad-ch%e1%bb%89-d%e1%ba%b9p-c%e1%bb%a7a-nh-n%c6%b0%e1%bb%9bc/</link>
					<comments>https://t-van.net/nghi-v%e1%bb%81-nh%e1%bb%afng-c%e1%bb%ad-ch%e1%bb%89-d%e1%ba%b9p-c%e1%bb%a7a-nh-n%c6%b0%e1%bb%9bc/#respond</comments>
		
		<dc:creator><![CDATA[T.Vấn]]></dc:creator>
		<pubDate>Sat, 17 Mar 2007 23:07:00 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Góc Văn]]></category>
		<category><![CDATA[giới thiệu]]></category>
		<category><![CDATA[quê nhà quê người]]></category>
		<category><![CDATA[văn chương]]></category>
		<category><![CDATA[việt nam]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://7076e870b2.nxcli.io/testsite/wordpress/?p=1967</guid>

					<description><![CDATA[(Nhân sự kiện bốn tác giả trong nhóm Nhân văn–Giai phẩm được tặng Giải thưởng nhà nước về văn học nghệ thuật năm 2007) Tôi khóc những chân trời không có người bay Lại khóc những người bay không có chân trời Trần Dần 1. Nhà nước Việt Nam vừa công bố Giải thưởng văn [&#8230;]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<p><a href="https://t-van.net/wp-content/uploads/2011/07/clip_image00179.jpg"><img loading="lazy" decoding="async" style="background-image: none; margin: 0px 20px 10px 0px; padding-left: 0px; padding-right: 0px; display: inline; float: left; padding-top: 0px; border: 0px;" title="clip_image001" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2011/07/clip_image001_thumb54.jpg?strip=all&fit=217%2C294" alt="clip_image001" width="217" height="294" align="left" border="0" hspace="12" /></a></p>
<table border="0" cellspacing="0" cellpadding="0">
<tbody>
<tr>
<td width="137"></td>
</tr>
<tr>
<td width="137"></td>
</tr>
</tbody>
</table>
<p>(Nhân sự kiện bốn tác giả trong nhóm <i>Nhân văn–Giai phẩm</i> được tặng Giải thưởng nhà nước về văn học nghệ thuật năm 2007)</p>
<p><i>Tôi khóc những chân trời không có người bay</i><br />
<i>Lại khóc những người bay không có chân trời</i><br />
<strong><em>Trần Dần</em></strong></p>
<p><strong>1.</strong></p>
<p>Nhà nước Việt Nam vừa công bố Giải thưởng văn học nghệ thuật năm 2007. Trong số những người được giải có tên bốn nhà thơ: Lê Đạt, Hoàng Cầm, Phùng Quán và Trần Dần. Riêng nhà thơ Hữu Loan, tác giả bài thơ &#8220;Màu tím hoa sim&#8221; nổi tiếng hơn nửa thế kỷ nay (bài thơ này cũng có <a href="http://www.vnn.vn/vanhoa/vandekhac/2004/12/354730/">trị giá tác quyền cao nhất trong lịch sử văn học Việt Nam:</a> 100 triệu đồng Việt Nam hiện hành), tuy cũng có tên trong danh sách đề cử nhận giải nhưng đã không nằm trong danh sách những người trúng giải. Tên tuổi những nhà thơ nói trên không xa lạ gì với người đọc miền Nam Việt Nam từ những năm trước 1975. Họ là những nhà văn thuộc nhóm <i>Nhân văn-Giai phẩm</i> (NVGP) được hình thành vào năm 1956 ở miền Bắc. Chủ trương của nhóm là đòi hỏi quyền tự do sáng tác cho người nghệ sĩ, không chịu lệ thuộc vào sự chỉ đạo của Đảng và nhà nước cộng sản. Vì thế, họ bị trù dập, bị buộc tội là kẻ thù của nhân dân, có người còn bị gán cho tội danh &#8220;gián điệp của Mỹ Diệm&#8221; <a href="http://www.hopluu.net/tryenhaingoai/thuyekhue1.htm">như nữ sĩ Thụy An</a> và bị đày vào những trại cải tạo. (Năm 1978, khi ở trại tù Phong Quang, tỉnh Hoàng Liên Sơn, tôi đã được nghe những tù nhân miền Bắc kể về những cơ cực mà bà Thụy An phải chịu đựng khi ở trại tù này và cả câu chuyện bà đã dùng cây nhọn (?) tự đâm mù mắt mình để phản đối sự đàn áp văn nghệ sĩ của giới cầm quyền).<br />
Trong số bốn người được trao giải thưởng văn học nói trên, chỉ có hai người còn sống: Hoàng Cầm &#8211; năm nay đã trên 86 tuổi, và Lê Đạt – cũng đã trên 80 tuổi. Hai người khác, nhà văn Phùng Quán đã qua đời năm 1995 và Trần Dần, mất năm 1997. Dư luận trong nước cho rằng hành động nói trên của nhà cầm quyền cộng sản đối với những cây bút chủ chốt của phong trào NVGP 50 năm về trước là &#8220;<i>một thái độ ứng xử, một cách nhìn mới, một tư duy mới, một lời xin lỗi cùng các tác giả…&#8221;</i> (<a href="http://www.talawas.org/talaDB/showFile.php?res=9358&amp;rb=0102">Báo<i> An ninh thủ đô</i>, số ra ngày 28 tháng 2 năm 2007)</a>. Trả lời phỏng vấn của báo chí, <a href="http://www.talawas.org/talaDB/showFile.php?res=9358&amp;rb=0102">nhà thơ Hoàng Cầm</a> nghĩ rằng thái độ đó của nhà nước với nhóm NVGP là &#8220;hơi chậm&#8221;, nhưng &#8220;chậm còn hơn không&#8221;. Còn <a href="http://vietnamnet.vn/vanhoa/tintuc/2007/02/666038/">nhà thơ Lê Đạt</a> thì cho rằng đây là &#8220;một cử chỉ đẹp&#8221; của nhà cầm quyền.<br />
Đáng tiếc hai nhà văn quá cố Trần Dần và Phùng Quán đã không còn cơ hội để bày tỏ thái độ của mình trước hành động được xem là &#8220;thiện chí&#8221; trên của cái chính thể đã từng vùi dập cuộc đời của hai ông.<br />
Trả lời câu hỏi: &#8220;<i>Thời gian đã qua lâu rồi, mọi chuyện cũng đã qua đi, có điều gì làm nhà thơ oán trách mỗi khi ngoái nhìn lại quá khứ?</i>&#8220;, nhà thơ Hoàng Cầm đã rất &#8220;khéo léo&#8221; khi phát biểu:<br />
<i>&#8220;Nếu có oán trách thì phải oán trách từ lâu rồi, khi mình đã biết mình, biết người, tôi không hề oán trách ai cả. Mỗi khi cầm bút viết văn, tôi luôn thầm nghĩ rằng con người ta phải biết yêu thương. Thù hận và ghét bỏ thì phải tránh cho xa. Một người nghệ sĩ có cái tâm biết yêu thương thì sáng tác mới hy vọng hay được. Còn nếu trong tâm anh còn thù hận, cái tâm không sáng thì văn chương cũng vứt đi. Một nhà thơ có thể mắc tội ăn cắp bị đưa ra toà, nhưng đó chỉ là sự nhất thời, cái căn bản là phải tìm xem cái tâm anh ta như thế nào, có trong sáng không. Một tác phẩm hay bao giờ cũng chảy ra từ cái tâm trong sáng, còn cái tâm u tối không bao giờ có tác phẩm tử tế được. Trên thế giới cũng vậy, những nhà văn lớn đều có cái tâm lớn. Hơn nữa đây là lỗi do sự ấu trĩ của một số cá nhân của một thời, chứ không phải đường lối của Đảng, Nhà nước là như thế. Bệnh ấu trĩ là bệnh khó tránh khỏi ở một Đảng mới cầm quyền. Trên thế giới ở một số nước cũng vậy, làm sao mà tránh được. Không phải lỗi của Đảng mà cũng không phải là lỗi của Nhân văn. Bây giờ nền kinh tế của ta đã trưởng thành, vững mạnh, người ta mới đủ bình thản để nhìn lại chuyện này. Đó là điều đáng mừng.&#8221; </i>(Báo<i> An ninh thủ đô</i>, số ra ngày 28 tháng 2 năm 2007)<br />
Riêng nhà thơ Hữu Loan, có lẽ ông chẳng bận tâm lắm đến cái gọi là &#8220;cử chỉ đẹp, tuy hơi chậm&#8221; này. Cả đời ông, mãi cho đến ngày hôm nay, vẫn là một thái độ bất khuất. <i>&#8220;Cái hồi ấy, ai cũng tôn vinh ông Hồ nhưng mà riêng tôi, tôi bới, chửi luôn ngay trước Đại hội. Cái bữa tôi bới như thế, giới phụ nữ hoan nghênh lắm. Họ mang bao nhiêu là hoa đến tặng, để đầy cái bàn của tôi, và nói rằng &#8220;Cái người nói thẳng, nói thật như ông là nên sống để cho dân nhờ, còn cái loại ăn điêu nói hớt thì nên chết lãng bay đi&#8221;. </i>(Nhà thơ Hữu Loan – <a href="http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/2006/08/20/AnecdoteOverPoetHuuLoanP2_TNga">Trả lời phỏng vấn Đài RFA 20 tháng 8 năm 2006</a>). Trong suốt thời gian bị giới lãnh đạo văn nghệ Đảng trù dập, ông là người duy nhất không chịu tham gia học tập, kiểm điểm, mà tự bỏ tất cả, về quê thồ đá, làm ruộng kiếm sống. Đến nay, nhà thơ Hữu Loan vẫn không chịu làm đơn xin khôi phục lại đảng tịch.<br />
Vì thế, theo lời ông Thanh Thảo, một thành viên của hội đồng chấm giải văn học, người đã tận mắt nhìn thấy tên của năm người thuộc nhóm NVGP (Hữu Loan, Trần Dần, Phùng Quán, Hoàng Cầm, Lê Đạt) có tên trong danh sách được sự đồng thuận tuyệt đối của hội đồng, đề nghị cho nhận giải. Nhưng sau đó thì<i> &#8220;Người thứ 5 – Hữu Loan – đã bị gạt tên bởi Hội đồng quốc gia. Lý do không được công bố, và người ta chỉ có thể đoán vì thế này vì thế kia…&#8221; </i>(Thanh Thảo, <a href="http://213.251.176.152:8080/diendan/giot-muc-giot-doi/cuoc-111oi-va-van-hoc/"><i>Diễn đàn</i>, 25 tháng 2 năm 2007</a>).<br />
<b>2.</b><br />
Trước đó, hôm 8 tháng 2 năm 2007, ông Nguyễn Hữu Đang, vị thủ lĩnh thực sự của nhóm NVGP, qua đời. Tang lễ, ngoài sự tham dự của những người ngưỡng mộ sự đảm lược của ông với tư cách thủ lĩnh NVGP, còn có vị đại diện của cấp lãnh đạo trung ương (Bộ Giáo dục và Đào tạo). Trong bài điếu văn đọc trước linh cữu người quá cố của vị đại diện này, có đoạn như sau: &#8220;<i>Từ tháng 11 năm 1954 đến tháng 4 năm 1958 làm biên tập viên tuần báo </i>Văn nghệ<i> &#8211; Hội Nhà văn Việt Nam. Trong thời gian này cụ mắc sai lầm tham gia nhóm Nhân văn-Giai phẩm. Sau khi được trở lại quyền công dân, cụ được Đảng, Nhà nước có chính sách đãi ngộ và chăm sóc chu đáo.</i> (Điếu văn cụ Nguyễn Hữu Đang, ông Quang Quý, đại diện Bộ Giáo dục và Đào tạo đọc lúc 11 giờ 30 ngày 10/2/2007 tại tang lễ ông Nguyễn Hữu Đang – Trích lại từ diễn đàn <a href="http://www.talawas.org/talaDB/showFile.php?res=9197&amp;rb=0401">talawas</a> ngày 12 tháng 2 năm 2007).<br />
Ông Nguyễn Hữu Đang qua đời năm ông 94 tuổi. Vì vụ NVGP, ông bị Tòa án Nhân dân thành phố Hà Nội xử án 15 năm tù giam (cùng với nhà văn Thụy An), nhưng thực ra, phải sau 18 năm lăn lóc hết nhà tù này đến nhà tù nọ, ông mới được thả. Ra tù, ông vẫn kiên quyết theo đuổi con đường đã chọn của mình. Cả thời tuổi trẻ bị đày ải chốn lao tù, đến khi được tự do thì tuổi đã già, ông không có cơ hội để lập một mái gia đình riêng. Một số nhà văn sinh sau đẻ muộn cảm phục tư cách ông, đã gọi ông là một bậc hào kiệt. Trong suy nghĩ của họ, ông chính là biểu trưng sống cho sĩ khí của sĩ phu Bắc Hà. Ông đã sống và chết như một nhân sĩ luôn trung thực và can đảm. Chung quanh quan tài ông là những vòng hoa chân thành nhất của những người ngưỡng mộ nhân cách ông. Mặc dù ông không có vợ con nhưng đứng bên quan tài ông để nhận lời chia buồn của thân hữu bạn bè, có hai người phụ nữ chít khăn tang thay chồng. Đó là vợ của hai nhà văn thuộc nhóm NVGP đã quá cố: Phùng Quán và Phùng Cung.<br />
Hà Nội sắp bước vào kỷ niệm một nghìn năm. Mảnh đất văn vật còn lại quá ít những người còn xứng đáng với danh hiệu sĩ phu Bắc Hà. Một trong những người hiếm hoi ấy vừa nằm xuống. Đau đớn thay, lời ai điếu đọc trước vong linh của người quá cố vẫn cứ lải nhải mấy lời đạo đức giả với một giọng điệu cạn tình cạn nghĩa: &#8220;<i>Trong thời gian này cụ mắc sai lầm tham gia nhóm Nhân văn-Giai phẩm&#8221;.</i><br />
Và chỉ hơn hai tuần lễ sau những lời ai điếu đạo đức giả ấy, nhà nước chính thức trao giải thưởng văn học nghệ thuật cho những người đã từng một thời sát cánh cùng ông Nguyễn Hữu Đang trong vụ NVGP.<br />
<b>3.</b><br />
Cũng những ngày cuối tháng hai vừa qua, cựu linh mục, nhà trí thức thiên tả nổi tiếng của Sài Gòn trước 75<a href="http://www.tienve.org/home/activities/viewActivities.do?action=viewnews&amp;newsId=119">, giáo sư Nguyễn Ngọc Lan qua đời</a>. Ông cũng thọ hơn 70 tuổi. Dù dưới thời Việt Nam Cộng hòa hay dưới thời cộng sản cai trị, ông cũng đều là cái gai trong mắt chính quyền. Chỉ khác một điều, dưới chế độ cộng sản, cựu linh mục Nguyễn Ngọc Lan không được tự do muốn làm gì thì làm như trước nữa. Dầu vậy, bằng mọi hình thức kháng cự mà ông có thể tận dụng để bảo vệ chính kiến của mình, ông đã chứng tỏ mình không giống như những nhà trí thức thiên tả khác như Lý Chánh Trung, Lý Quý Chung, v.v&#8230;<br />
Tin cựu linh mục Nguyễn Ngọc Lan từ trần, ở trong nước, không được biết đến nhiều. Trên phương tiện truyền thông chính thống, chỉ có bài viết của Trần Bạch Đằng, vốn là một chính ủy văn hóa mẫu mực, nhắc đến sự kiện này. Cần phải nghĩ như thế nào về thái độ này. Tôi xin dẫn ra đây ý kiến của một người đang sống trong nước:<br />
&#8220;<i>Tôi đang đi xa nhà, được tin anh Nguyễn Ngọc Lan vừa qua đời. Không quen biết anh nhiều &#8230; song tôi thấy xúc động, tôi hỏi: tin từ đâu?&#8230; Tin từ báo </i>Thanh niên<i>&#8230; Có lẽ là báo duy nhất hiện nay đưa tin này ở SG.</i><br />
<i>Vào web </i>Thanh niên<i>, tìm thấy <a href="http://www.thanhnien.com.vn/Xahoi/2007/2/27/182964.tno">bài của ông Trần Bạch Đằng</a>. Đọc nhanh, tôi thấy phân vân, không tránh khỏi ý nghĩ: &#8216;nếu không phải ông này viết thì chắc báo này chẳng dám đưa tin&#8217;. Và tự hỏi:&#8230; nước mắt ấy là nước mắt nào đây?&#8230; Chắc người ta lại sắp &#8216;vinh danh&#8217; Nguyễn Ngọc Lan, cũng như vừa trao giải thưởng lớn cho Trần Dần, Phùng Quán&#8230; Ông Trần Bạch Đằng hứa hẹn sẽ in lại tuyển tập Nguyễn Ngọc Lan&#8230;., dĩ nhiên những bài viết ca ngợi chế độ ta.</i><br />
<i>Con người khi sống nhân cách bị/được nhân đôi, cuộc sống thì được chia vùng&#8230; Khi sống thì bị đày đọa vùi dập, đến khi chết thì được vinh danh&#8230; Chắc khi đọc điếu văn, ông đại diện Hội Kính Chúa Yêu nước sẽ nói: &#8216;ông đã đóng góp tốt cho cách mạng, song có thời kỳ bị sai lầm!</i>.<i>..&#8217; </i><br />
<i>Cái nước ta nó thế!&#8221; </i>(Nguyễn Minh Thọ <a href="http://213.251.176.152:8080/diendan/BanDocVaZD/nghe-tin-ong-nguyen-ngoc-lan">&#8211; <i>Diễn đàn Forum</i></a> 2 tháng 3 năm 2007)<br />
Dư luận ngoài nước, tất nhiên, cũng không hẳn đều đồng tình về trường hợp cựu linh mục Nguyễn Ngọc Lan và những hoạt động có lợi cho cộng sản của ông thời gian trước 1975. Nhưng ít nhất, có một sự tôn trọng người vừa nhắm mắt qua đời. Cái đúng &#8211; sai ở một con người nhiều khi rất khó để buông một phán xét dứt khoát như việc cầm cái búa lên mà đóng một lần cuối cùng chiếc đinh trên nắp quan tài. Đối với người sống thì may ra còn có dịp sửa chữa, xin lỗi, bù đắp. Người chết thì đã xong, có xin lỗi thì oan khuất cũng đã tạo, nghiệp chướng cũng đã xây. Vì thế, người Việt Nam có câu &#8220;Nghĩa tử nghĩa tận&#8221;. Chẳng ai đến trước linh cữu một người rồi mở miệng nói như một cái máy phát băng đã nhão: &#8220;<i>Có một thời ông/bà đã mắc sai lầm&#8221;. </i><br />
Vậy mà điều ấy đã xảy ra, từ cửa miệng người đại diện Bộ Giáo dục và Đào tạo nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam – cái bộ vốn lãnh trách nhiệm giáo dục thế hệ trẻ nhân cách, tri thức.<br />
<b>4.</b><br />
Cải cách ruộng đất. <i>Nhân văn-Giai phẩm</i>. Cải tạo công thương nghiệp. Những nhà tù khổng lồ mọc lên trên thân thể đất nước sau ngày 30 tháng 4 năm 1975. Cuộc chiến tranh 30 năm khốc liệt. Những thảm họa lẽ ra có thể tránh được. Những vết thương cứa vào lòng người, để lại những cơn đau âm ỉ. Mỗi khi trái gió trở trời, cái nhức buốt của vết thương cũ lại tấy lên như thể vẫn còn mưng mủ.<br />
Lần giở những trang sách cũ, nhìn nhận những sai lầm, theo cách nói của người trong nước hiện nay, là một thái độ sòng phẳng với quá khứ, để xây dựng niềm tin cho hiện tại và tạo sức mạnh hướng tới tương lai. Vấn đề đặt ra là: Liệu những con người đã từng vượt Trường Sơn vào Nam mang theo trong lòng ảo tưởng giải phóng một nửa đất nước &#8220;nghèo khó, bị kìm kẹp bởi Mỹ Ngụy&#8221;, lần này có dám vượt &#8220;Trường Sơn&#8221; một lần nữa, cái rặng Trường Sơn cao ngất được dựng nên từ những vị kỷ cá nhân, từ lòng kiêu hãnh giả tạo và từ những đồng đô-la Mỹ béo bở để mở mắt ra nhìn nhận những sai lầm chết (bao nhiêu con) người của mình mà đấm ngực thống hối?<br />
Đã chắc gì việc trao giải thưởng văn học nghệ thuật quốc gia cho các nhà văn trong nhóm NVGP là &#8220;<i>sự ghi nhận một thái độ trở về lại với sự thật, tôn trọng và nhìn thẳng vào sự thật, một ứng xử chính trị nhằm khẳng định một cách nhìn mới, một tư duy mới mở đường cho phát triển trong thời đoạn lịch sử mới? &#8221; </i>như hiện nay dư luận trong nước đang cố nuôi hy vọng? Nếu quả thật như thế, sao mới trước đó hai tuần lễ, họ lại nỡ đứng trước quan tài ông Nguyễn Hữu Đang, thủ lãnh của nhóm NVGP, nói ra một lời tận tuyệt: <i>cụ mắc sai lầm tham gia nhóm Nhân văn-Giai phẩm</i>? Nếu quả thật như thế, sao họ lại gạt tên nhà thơ Hữu Loan ra khỏi danh sách nhận giải? Vì tác giả &#8220;Màu tím hoa sim&#8221; đã không &#8220;biết điều&#8221; như tác giả <i>Về Kinh Bắc</i> &#8211; nhà thơ Hoàng Cầm?<br />
Hay lại đành nói theo kiểu một nhà văn trong nước:<i> Cái nước mình nó thế.</i><br />
_______________________________________________________________________________</p>
<p>© T.Vấn 2007</p>
]]></content:encoded>
					
					<wfw:commentRss>https://t-van.net/nghi-v%e1%bb%81-nh%e1%bb%afng-c%e1%bb%ad-ch%e1%bb%89-d%e1%ba%b9p-c%e1%bb%a7a-nh-n%c6%b0%e1%bb%9bc/feed/</wfw:commentRss>
			<slash:comments>0</slash:comments>
		
		
			</item>
		<item>
		<title>T.Vấn: S&#224;i G&#242;n v&#224; những trang s&#225;ch cũ</title>
		<link>https://t-van.net/si-gn-v-nh%e1%bb%afng-trang-sch-cu/</link>
					<comments>https://t-van.net/si-gn-v-nh%e1%bb%afng-trang-sch-cu/#respond</comments>
		
		<dc:creator><![CDATA[T.Vấn]]></dc:creator>
		<pubDate>Wed, 12 Jul 2006 19:50:00 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Góc Văn]]></category>
		<category><![CDATA[sài gòn]]></category>
		<category><![CDATA[văn chương]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://7076e870b2.nxcli.io/testsite/wordpress/?p=1033</guid>

					<description><![CDATA[● Đừng tưởng rằng sau một cuộc phần thư, cái còn lại chỉ là đống tro tàn của quá khứ . . . Ngày xưa, ở nước Trung Hoa phong kiến, có bạo chúa Tần Thủy Hoàng đốt sách, chôn học trò. Ngày nay, ở Việt Nam giữa thế kỷ 20, cũng có những bạo [&#8230;]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<p><a href="https://t-van.net/wp-content/uploads/2011/07/clip_image00264.jpg"><img loading="lazy" decoding="async" style="background-image: none; margin: 0px 20px 10px 0px; padding-left: 0px; padding-right: 0px; display: inline; float: left; padding-top: 0px; border: 0px;" title="clip_image002" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2011/07/clip_image002_thumb13.jpg?strip=all&fit=240%2C181" alt="clip_image002" width="240" height="181" align="left" border="0" /></a></p>
<p>● <em>Đừng tưởng rằng sau một cuộc phần thư, cái còn lại chỉ là đống tro </em></p>
<p><em>tàn của quá khứ . . .</em></p>
<p>Ngày xưa, ở nước Trung Hoa phong kiến, có bạo chúa Tần Thủy Hoàng đốt sách, chôn học trò. Ngày nay, ở Việt Nam giữa thế kỷ 20, cũng có những bạo chúa đi theo con đường dại dột của Tần Thủy Hoàng, cũng đốt sách, cũng tìm cách chôn học trò (trí thức) bằng những hình thức trấn áp, lưu đày, cưỡng bức.</p>
<p>Dù cuộc đốt sách chôn học trò của Tần Thủy Hoàng có tàn bạo đến đâu, thì nước Trung Hoa vẫn còn giữ được những di sản văn hóa, lưu truyền những tư tưởng sáng chói khiến ngày nay cả thế giới ngưỡng mộ, tìm hiểu và học hỏi.</p>
<p>Thế còn cuộc đốt sách, tiêu diệt hết những văn hóa phẩm, &#8220;<em>những tàn dư, nọc độc của nền văn</em> <em>hóa Mỹ Ngụy đồi trụy</em>&#8221; của những Tần Thủy Hoàng tân thời thì sao?</p>
<p><em>Đừng tưởng rằng sau một cuộc phần thư, cái còn lại chỉ là đống tro tàn của quá khứ!</em></p>
<p>Đó là ý nghĩ cứ chập chờn trong đầu tôi trong những ngày tháng 7 nắng cháy da (năm rồi), có mặt ở Sài Gòn, mỗi ngày đều say mê bước vào những cửa hàng sách cũ trên đường Hồng Thập Tự cũ (nay là Nguyễn thị Minh Khai), tay mân mê những quyển sách giấy đã ố vàng, mắt nhắm lại mà như thấy hết những ngày ấy Sài Gòn, mũi hít sâu cái mùi giấy cũ ẩm mốc, và tâm tư là của anh học trò nghèo gần 40 năm về trước, mê sách hơn bất cứ thứ gì trên đời.</p>
<p>Con đường Hồng Thập Tự cũ, chỗ có tòa nhà rất lớn của Hội Hồng Thập Tự Việt Nam (nay là trụ sở một công ty trang trí nội thất), ngó qua bên kia là bệnh viện phụ sản Từ Dũ, lúc nào cũng đông đảo người qua lại. Đây là quãng đường quen thuộc của tôi trong suốt 7 năm mài đũng quần (vá) trên ghế Trung Học ở trường Petrus Ký. Nhiều năm sau đi lại cũng trên con đường ấy, tôi như người mộng du. Phố xá đã thay đổi quá nhiều (<em>bao nhiêu năm rồi chứ đâu phải mới</em> <em>hôm qua</em>), hàng cây hai bên đường có chỗ đã bị đốn đi, thay vào bằng những cây trẻ hơn. Quán cà phê ghế đẩu trong sân che của một biệt thự cũng không còn nữa (tất nhiên!). Nhưng dường như bây giờ khúc đường này có nhiều nhà sách hơn. Từ những nhà sách lớn có các cô gái trẻ bán hàng tha thướt trong những chiếc áo dài xanh (nhưng khuôn mặt thì luôn thiếu vắng nụ cười) cho đến những quán sách nhỏ hơn, có tính cách gia đình. Và bên cạnh đó, là những cửa hàng sách cũ, chật hẹp, ẩm mốc. Ở đây, người ta có thể tìm lại được những quyển sách hiếm hoi xuất bản từ những năm 60s hay 70s ở Sài Gòn mang tên những nhà xuất bản An Tiêm, Lá Bối, Khai Trí, Giao Điểm, Văn .v..v.. Chúng lẫn ở trong hàng hàng lớp lớp sách cũ chồng lên nhau, nhưng khi hỏi chủ nhân tiệm sách tên một quyển sách nào đó, tôi ngạc nhiên khi nhận được câu trả lời rất quả quyết là họ có hay không có quyển đó. Chứng tỏ, tuy không sắp xếp sách vở theo một thứ tự khoa học, nhưng người bán biết và nhớ những gì họ có.</p>
<p><em>Và cả khả năng thẩm định giá trị những quyển sách cũ hằng 30 năm, 40 năm nữa. </em></p>
<p>Cầm quyển Ý Thức Mới Trong Văn Nghệ và Triết Học của Phạm Công Thiện (quyển sách đã là sách gối đầu giường của rất nhiều người trẻ những năm ấy) do nhà An Tiêm (hay Lá Bối?) xuất bản khoảng năm 1964 hay 1965 ở Sài Gòn, gáy đã long được dán lại bằng nhiều lớp băng keo (tape), trang trong có nhiều chỗ bị mối mọt lỗ chỗ, chủ nhân của nó cho tôi biết đây là quyển thứ hai ông &#8220;có&#8221; được. Quyển thứ nhất ông đã &#8220;nhượng&#8221; lại cho một người quen với giá ba trăm ngàn Việt Nam (tương đương 20 đô la Mỹ), mà quyển ấy so với quyển tôi đang cầm trên tay còn tệ hơn nhiều: mất trang, bìa chỉ là một tờ giấy trắng với tên tác phẩm viết bằng tay. Tôi còn hỏi ông một số tác phẩm nổi tiếng khác thời ấy, ông trả lời vanh vách và cho biết, phần lớn ông đều đã có cơ hội &#8220;cầm xem lại&#8221;, và, một cách hãnh diện, ông cho biết, &#8220;hiện nay chúng đã nằm rất trang trọng trong những tủ sách ở rải rác khắp nơi trên toàn thế giới.&#8221;</p>
<p>Ở một tiệm sách cũ khác, cũng ở gần đó, tôi nhìn thấy có vài số tạp chí Thiếu Nhi của ông Nguyễn Hùng Trương (tức ông Khai Trí, chủ nhân nhà sách Khai Trí lớn nhất Sài Gòn thời ấy. Ông Khai Trí vừa qua đời ở Sài Gòn hồi đầu năm ngóai) và nhà văn Nhật Tiến xuất bản từ năm 1971. Chủ nhân cho tôi biết, họ vừa bán xong nguyên bộ tạp chí Thiếu Nhi nhiều tập, vì thế tôi chỉ còn thấy vài quyển lẻ nằm đó. Họ cũng vui vẻ chỉ cho tôi qua gian hàng sách cũ bên kia đường, nơi đó, tôi có thể tìm thấy nhiều hơn những quyển sách cũ. Và nơi đây, cha con tôi đã say mê lê la ngồi phệt xuống đất cầm từng số báo Tuổi Ngọc của nhà văn quá cố Duyên Anh. Với con tôi, đó là những hình vẽ con gái mà nó cho là &#8220;cool&#8221;, và nhất là hàng chữ ngoài bìa mỗi số báo: <em>Tuổi Ngọc, tuần báo của tuổi vừa lớn. </em>Nó nghĩ rằng sẽ tìm thấy nhiều điều thú vị trong đó. Còn tôi, là cảm giác nôn nao khó tả, khi lật từng trang giấy ố vàng, thỉnh thoảng bắt gặp đôi hàng chữ viết tay (chỉ là ngày tháng, hay một hai câu thơ mơ mộng, hay đơn giản chỉ một cái tên . . . con gái), mà mường tượng ra chủ nhân trước đây của những số báo Tuổi Ngọc này là những cô cậu mới lớn ngày ấy, nay, nếu còn sống, hẳn đã là những ông lão, bà lão già nua tóc bạc (như tôi). Lật vội qua những trang thư độc giả, tôi bắt gặp vài cái tên nay đã trở nên quen thuộc với độc giả trẻ trong nước. Tôi cũng nhìn thấy tên một người bạn học từ năm đệ thất (lớp 6) ở Petrus Ký. Một cây bút học trò rất có hạng trên các trang bích báo (báo tường) của lớp, báo Xuân của trường. Ước ao của anh khi lớn lên sẽ trở thành nhà văn chuyên viết truyện cho tuổi thơ, mặc dù, tuổi thơ của anh rất ảm đạm. Mẹ chết sớm, bố là phu đạp xích lô, và không buổi chiều nào ông trở về nhà mà không say khướt. Nhưng đến năm đệ ngũ (lớp 8), sau một buổi đánh nhau dữ dội có đổ máu với băng du đãng khu vực Nguyễn Hoàng của một nhóm học sinh Petrus Ký, mà anh bạn tôi là người cầm đầu, lớp Ngũ 6 của Petrus Ký chúng tôi mất luôn người bạn nhà văn học trò. Anh bỏ học mà cả lớp không ai hiểu nguyên do. Rồi những giờ học căng thẳng của của một trường trung học luôn luôn có tỉ số học sinh thi đậu tú tài cao nhất thành phố đã cuốn chúng tôi chìm nghỉm trong những trang vở học trò. Anh bạn nhà văn thời hoa niên cũng ra khỏi tâm trí tôi hằng mấy chục năm. Chỉ đến hôm nay, sau bao nhiêu chặng đường đời có đầy đủ nước mắt nụ cười, về lại thành phố tuổi thơ, đi trên con đường đi học ngày nào, cầm quyển báo ố vàng thấy tên bạn mình tôi mới nhớ rằng mình đã có một người bạn như thế. Thành thực mà nói, nếu bây giờ chúng tôi có gặp lại nhau đâu đó, chưa chắc chúng tôi đã nhận ra nhau.</p>
<p>Khệ nệ ôm nguyên một chồng báo Tuổi Ngọc trên tay, tôi nói bâng quơ với chủ nhân cửa hàng sách cũ về những đợt thu gom sách báo chế độ cũ hồi 1975 của chính quyền cộng sản sau khi tiếp thu Sài Gòn, những buổi các cán bộ văn hóa thành phố, phường khóm phát động thanh niên sinh viên học sinh gom sách báo lại và đốt như đốt những uế vật ghê tởm. 30 năm, một cuộc phần thư với mưu toan chôn vùi lịch sử trong những đống tro tàn, chôn vùi những thành tựu văn hóa của một nửa nước Việt Nam vì sợ rằng với tính đa dạng, phóng khoáng, nhân bản và tự do của nó, kẻ thắng trận trên mặt trận quân sự sẽ trở thành kẻ bại trận ngay trên mảnh đất mình vừa chiếm đoạt trên một mặt trận khác. Nhưng vô ích. Những thứ tôi đang có trên tay là một chứng minh. Chúng đã sống sót như chúng tôi đã sống sót. Với sự bảo bọc nuôi dưỡng của lòng dân. Bất giác tôi nhớ đến những chuyến xe lửa chuyển tù từ Bắc trở lại miền Nam những năm 82, 83. Chuyến ra Bắc, chúng tôi bị nhốt trong những toa chở súc vật hay hàng hóa. Đi ngang qua những địa danh nổi tiếng trong cuộc chiến tranh vừa qua trên lãnh thổ phía Bắc, chúng tôi được dàn chào bằng những viên gạch ném lên từ hai bên đường. Hơn 5 năm sau, trên đường trở lại quê nhà, chúng tôi cũng được dàn chào một cách cuồng nhiệt hơn bằng những gói bánh, trái cây, thuốc lá ném tới tấp vào cửa sổ xe lửa từ những con người mà 5 năm trước có lẽ cũng là họ đã ném đá vào chúng tôi. Một nhà văn miền Bắc, sau này đã thú nhận rằng không phải đợi lâu, ngay sau khi theo chân đoàn xe tăng tiến vào thành phố Sài Gòn, bà đã biết rằng mình và mấy chục triệu dân miền Bắc đã bị lừa gạt từ bao nhiêu năm nay. Và cuộc đốt sách chưa từng có trong lịch sử Việt Nam chỉ là một hành động ngu xuẩn hòng cố sức che dấu sự lừa dối của giới cầm quyền.</p>
<p><a href="https://t-van.net/wp-content/uploads/2011/07/clip_image00436.jpg"><img loading="lazy" decoding="async" class="alignnone" style="background-image: none; padding-left: 0px; padding-right: 0px; display: inline; padding-top: 0px; border: 0px;" title="clip_image004" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2011/07/clip_image004_thumb7.jpg?strip=all&fit=450%2C337" alt="clip_image004" width="450" height="337" border="0" /></a></p>
<p>Sau này, những người vượt thoát được từ 1975 đã tìm cách tái bản lại một số sách báo cũ của miền Nam trước 1975 dưới hình thức photocopy những ấn bản mà họ mang theo được hay in ấn lại hoàn toàn mới và phát hành khắp nơi ở hải ngoại. Công việc ấy cũng góp phần phổ biến và gìn giữ những di sản văn hóa dân tộc cho cả người Việt sinh sống ở ngoài nước lẫn trong nước. Và bây giờ, với mạng lưới điện toán toàn cầu, rất nhiều những bộ sách cũ xuất bản ở miền Nam trước chính biến 1975 đã được đánh máy lại, đưa lên các trang thư viện điện tử, hình thành nên một sự giao lưu văn hóa khắp nơi, từ trong nước cho đến hải ngoại (tất nhiên, vẫn có những hạn chế từ trong nước vì các bức tường lửa &#8211; firewall &#8211; tạo ra bởi nhà cầm quyền nhằm ngăn chận người trong nước tiếp xúc với các luồng sóng cổ vũ cho dân chủ tự do ở bên ngoài).</p>
<p><em>Trước một tình hình như thế, liệu những cuộc phần thư của các bạo chúa Tần Thủy Hoàng đương thời có đạt được mục đích là tiêu diệt hết thảy những giá trị văn hóa đối nghịch với đường lối của họ và nhằm ngu dân để dễ bề cai trị hay không? </em></p>
<p>Thực ra, câu trả lời KHÔNG đã có sẵn trong đầu của chính những người đề xướng ra các nỗ lực tuyệt vọng nói trên, nhưng họ vẫn cứ nhắm mắt thực hiện vì, xét cho cùng, họ không còn sự lựa chọn nào khác để cứu vãn một chế độ mà, nếu không có nó, họ không thể tồn tại.</p>
<p>Với tôi, khi cầm những quyển sách cũ trên tay, tôi không chỉ nghĩ đến giá trị văn hóa tư tưởng mà chúng hàm chứa đã khẳng định sự tồn tại cần thiết của chúng, mà còn trân trọng cả những trang giấy ố vàng, những cái gáy sách sờn bạc, vì những dấu vết quá khứ ấy là chứng tích của bao nhiêu con người, trải qua bao thời đại, đã từng đặt bàn tay mình trên những trang sách, đã từng trăn trở suy tư, đã từng băn khoăn thao thức. Ở một nghĩa nào đó, với tôi, những quyển sách cũ ẩn dấu sự sống của một lịch sử dân tộc, sự tồn tại tâm linh của một nền văn hóa và trên hết, mang ý nghĩa rất cụ thể về một bóng dáng tiền nhân hàng chục năm, hàng trăm năm về trước đã từng hiện hữu.</p>
<p>Chẳng phải chúng ta hằng năm, cứ vào độ đầu xuân, lại giở bài thơ &#8220;Ông Đồ&#8221; của Vũ Đình Liên ra mà bâng khuâng cảm khái:</p>
<p><em>Những người muôn năm cũ</em></p>
<p><em>Hồn ở đâu bây giờ</em></p>
<p><em>(Ông Đồ &#8211; Vũ Đình Liên)</em></p>
<p>Đó sao??</p>
<p>© T.Vấn 2006</p>
]]></content:encoded>
					
					<wfw:commentRss>https://t-van.net/si-gn-v-nh%e1%bb%afng-trang-sch-cu/feed/</wfw:commentRss>
			<slash:comments>0</slash:comments>
		
		
			</item>
	</channel>
</rss>

<!--
Performance optimized by W3 Total Cache. Learn more: https://www.boldgrid.com/w3-total-cache/?utm_source=w3tc&utm_medium=footer_comment&utm_campaign=free_plugin

Page Caching using Disk: Enhanced 

Served from: t-van.net @ 2026-05-06 05:17:12 by W3 Total Cache
-->