<?xml version="1.0" encoding="UTF-8"?><rss version="2.0"
	xmlns:content="http://purl.org/rss/1.0/modules/content/"
	xmlns:wfw="http://wellformedweb.org/CommentAPI/"
	xmlns:dc="http://purl.org/dc/elements/1.1/"
	xmlns:atom="http://www.w3.org/2005/Atom"
	xmlns:sy="http://purl.org/rss/1.0/modules/syndication/"
	xmlns:slash="http://purl.org/rss/1.0/modules/slash/"
	>

<channel>
	<title>Văn công Tuấn chớ quên mình là nước &#8211; T.Vấn và Bạn Hữu</title>
	<atom:link href="https://t-van.net/tag/van-cong-tuan-cho-quen-minh-la-nuoc/feed/" rel="self" type="application/rss+xml" />
	<link>https://t-van.net</link>
	<description>Văn Học và Đời Sống</description>
	<lastBuildDate>Thu, 13 May 2021 02:54:07 +0000</lastBuildDate>
	<language>en-US</language>
	<sy:updatePeriod>
	hourly	</sy:updatePeriod>
	<sy:updateFrequency>
	1	</sy:updateFrequency>
	<generator>https://wordpress.org/?v=6.7.5</generator>

<image>
	<url>https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2022/02/t-van-favicon.png?strip=all&#038;resize=32%2C32</url>
	<title>Văn công Tuấn chớ quên mình là nước &#8211; T.Vấn và Bạn Hữu</title>
	<link>https://t-van.net</link>
	<width>32</width>
	<height>32</height>
</image> 
	<item>
		<title>Văn C&#244;ng Tuấn: Đ&#225;y Nước của &#244;ng Thales</title>
		<link>https://t-van.net/van-cng-tuan-dy-nuoc-cua-ng-thales/</link>
					<comments>https://t-van.net/van-cng-tuan-dy-nuoc-cua-ng-thales/#respond</comments>
		
		<dc:creator><![CDATA[Tác Giả]]></dc:creator>
		<pubDate>Sat, 09 Jan 2021 06:49:00 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Góc Văn]]></category>
		<category><![CDATA[Văn công Tuấn chớ quên mình là nước]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://7076e870b2.nxcli.io/?p=47352</guid>

					<description><![CDATA[&#160; Thales xứ Milet (Ảnh: Wikipedia) Ngoảnh lại trước, người xưa vắng vẻ Trông về sau, quạnh quẽ người sau [1] (Trần Tử Ngang) &#160; [ 1 ] &#160; Thales xứ Milet của Hy Lạp đi đo Kim Tự Tháp Ai Cập Nói chuyện NƯỚC thì không thể không nhắc đến tên của một người: [&#8230;]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<p>&nbsp;</p>
<p style="text-align: center;"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2021/01/thales.jpg?strip=all&fit=182%2C277"><img fetchpriority="high" decoding="async" class="aligncenter size-full wp-image-47427" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2021/01/thales.jpg?strip=all&fit=182%2C277" alt="" width="182" height="277" /></a><b></b></p>
<p style="text-align: center;"><em>Thales xứ Milet (Ảnh: Wikipedia)</em></p>
<p><i>Ngoảnh lại trước, người xưa vắng vẻ </i></p>
<p><i>Trông về sau, quạnh quẽ người sau <a href="file:///E:/#_ftn1_1482" name="_ftnref1_1482"><b>[1]</b></a></i></p>
<p>(Trần Tử Ngang)</p>
<p>&nbsp;</p>
<p><b> [ 1 ]</b></p>
<p>&nbsp;</p>
<p><b>Thales xứ Milet của Hy Lạp đi đo Kim Tự Tháp Ai Cập</b></p>
<p>Nói chuyện NƯỚC thì không thể không nhắc đến tên của một người: Thales xứ Milet. Ông này lạ và tài lắm.</p>
<p>Thales xứ Milet sinh vào khoảng năm 624 (hoặc 625) và mất vào năm 546 trước Công nguyên Điều này cũng phù hợp với luận cứ rằng, ông Thales ra đời trước ông Socrates (sinh năm 469, mất năm 399 trước công nguyên). Ông Thales xứ Milet chào đời ở Milet xưa thuộc về Hy Lạp – bây giờ Milet là địa phận Thổ Nhĩ Kỳ.</p>
<p>Ta biết ông Thales xứ Milet là một triết gia, nhà toán học, nhà thiên văn học, đạo đức, siêu hình. Ông cũng được xem là triết gia đầu tiên trong nền triết học Hy Lạp cổ đại, người đứng đầu trong bảy hiền triết của Hy Lạp và là “cha đẻ của khoa học”. Trong một chiến dịch chống lại Ba Tư, ông đã giải đáp được bài toán chiến lược nan giải để giúp quân đội của vua Lydia băng qua dòng sông lớn Halys bằng cách đào một đường hầm để làm thay đổi dòng chảy của một khúc sông. Nhờ đó con sông được chia thành hai nhánh nhỏ hơn để có thể bắc cầu qua được.</p>
<p>Ai học toán hình học cũng đều biết định lý Thales. Ở Việt Nam bây giờ gọi là định lý Talet trong chương trình học lớp 8 bậc trung học. Định lý ấy tóm lược như sau đây.</p>
<p><i>Định lý Thales thuận: Có một đường thẳng cắt hai cạnh của một tam giác và song song với cạnh còn lại thì sẽ xuất hiện những cặp đoạn thẳng tỉ lệ trên hai cạnh được cắt đó. </i></p>
<p><i>Định lý Thales đảo: Định lý Thales đảo được phát biểu như sau: Khi xuất hiện một cặp cạnh tỷ lệ trên hai cạnh của một tam giác thì sẽ xuất hiện trên hai cạnh đó một đường thẳng song song với cạnh còn lại. </i></p>
<p><i><a href="https://t-van.net/wp-content/uploads/2021/01/clip_image002.png"><img decoding="async" style="margin-right: auto; margin-left: auto; float: none; display: block; background-image: none;" title="clip_image002" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2021/01/clip_image002_thumb.png?strip=all&fit=307%2C210" alt="clip_image002" width="307" height="210" border="0" /></a></i></p>
<p align="center"><i>Nguồn hình: Internet</i><i></i></p>
<p><i>Định lý Thales được ứng dụng rất nhiều vào thực tiễn. Đơn giản nhất là công việc đo đạc kích thước của một vật rộng lớn mà con người không thể đo trực tiếp. Không cần sang sông mà vẫn có thể đo khoảng cách giữa 2 bờ sông (1). Dùng mặt trời và định lý Thales để đo chiều cao vật (2). <a href="file:///E:/#_ftn2_1482" name="_ftnref2_1482"><b>[2]</b></a></i></p>
<p>Ứng dụng (2) này làm Thales nổi tiếng mấy ngàn năm nay qua giai thoại đo chiều cao Kim Tự Tháp Ai Cập. Giai thoại ấy như sau.</p>
<p>Quốc vương xứ Ai Cập thời đó hãnh diện về Kim Tự Tháp của mình, một công trình cao nhất hành tinh thời ấy. Nhưng ai hỏi là Kim Tự Tháp cao bao nhiêu thì cả vua và quần thần ai cũng… nói cà lăm. Mỗi người nói lên một con số. Thử tưởng tượng, 2.600 năm trước đâu có những phương tiện gì để đo đạt như hôm nay.</p>
<p>Vua đã cho người bò lên đến đỉnh tháp nhưng cũng không xác định được chiều cao vì tháp cả bốn mặt đều có độ nghiêng. Nhân nghe tiếng nhà toán học Thales xứ Milet nên vua cho người đi thỉnh cầu ông làm giúp việc ấy. Ông Thales nhận lời. Ông khăn gói đến Ai Cập và được Vua cũng như triều đình tiếp đón long trọng. Rồi Thales hẹn ngay hôm sau sẽ tiến hành công cuộc đo đạc này. Mọi người ai cũng chờ đợi. Tin đồn đi nhanh hơn gió, dân chúng khắp nơi ai cũng tò mò để xem cách đo đạc như thế nào.</p>
<p>Khi đến hẹn, người ta thấy ông Thales chỉ đến một mình mà không có tùy tùng, thợ thầy gì cả. Cũng không thấy mang theo dây nhợ hay thang để leo lên Kim Tự Tháp. Dụng cụ mang theo của ông Thales chỉ vỏn vẹn một cái cọc và cây thước. Mọi người tỏ vẻ thất vọng, nghĩ rằng ông ta chỉ là kẻ đại ngôn hay bọn phù thủy lường gạt mắt người dân. Nhà vua và quần thần thì yên lặng xem ông ta làm gì để kịp ứng phó.</p>
<p>Mặc họ, ông thản nhiên cắm cọc xuống đất như hình vẽ bên dưới rồi lần lượt đo chiều cao của cái cọc, bóng của cái cọc và bóng của Kim Tự Tháp. Ông dùng thước đo chính xác các khoảng cách x2, y1, y2 như trong hình dưới. Đến đây thì chắc độc giả đã đoán được cách ông Thales tính chiều cao x1 của Kim Tự Tháp ra sao rồi.</p>
<p align="center"><a href="https://t-van.net/wp-content/uploads/2021/01/clip_image004.jpg"><img decoding="async" style="margin-right: auto; margin-left: auto; float: none; display: block; background-image: none;" title="clip_image004" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2021/01/clip_image004_thumb.jpg?strip=all&fit=421%2C206" alt="clip_image004" width="421" height="206" border="0" /></a><br />
<i>Nguồn hình: Internet</i></p>
<p>Từ hai hình tam giác đồng dạng, ta sẽ có phương trình:</p>
<p>X1/X2 = Y1/Y2</p>
<p>Từ đó suy ra:</p>
<p>X1 = (X2 * Y1)/Y2</p>
<p>X1 chính là chiều cao của Kim Tự Tháp Ai Cập.</p>
<p>Đọc chuyện của Thales xứ Milet thật hấp dẫn. Nói chuyện toán học mà nghe như Tây Du Ký. Cũng còn có nhiều giai thoại khác về ông nữa nhưng mục đích chính của tôi là muốn nói về một chuyện khác sau đây.</p>
<p><b>[ 2 ]</b></p>
<p><b>Tìm đâu cái “Chân Không, Diệu Hữu” trong Toán Học?</b></p>
<p>Tuy nhiên, điều tôi thực sự quan tâm về ông Thales chính là ở đây chứ không phải là chuyện đo đạc.</p>
<p>Như chúng ta biết, thời ấy không những người Hy Lạp mà cả Tây phương đều tin rằng mọi hiện tượng trong thiên nhiên, kể cả sự sáng tạo vũ trụ đều là kết quả hành động tùy thương ghét, cảm hứng của thần linh. “Mọi sự vật đều chứa đầy thần thánh” như Thales từng nói. Tất cả mọi triết gia, nhà thần học đều tin như vậy. Thậm chí họ còn cho rằng, thế gian này được tạo ra bởi một “Đấng Tạo Hóa”, mọi sự kiện xảy ra đều được sắp đặt bởi các đấng thần linh. Vậy mà Thales đã suy tư và dám kết luận rằng nước là nguyên lý, là chất cơ bản, là nguyên tố của tất cả: <b><i>“Không có gì có thể xuất phát từ không có gì, tất cả xuất phát từ nước và rồi trở lại về nước</i></b>.<b><i>”</i></b>.<b><i></i></b></p>
<p>Thales xứng đáng được tôn xưng là nhà nghiên cứu về thiên nhiên đầu tiên ở Tây phương. Tuy nhiên, theo thiển ý, nhận định của Thales “Tất cả xuất phát từ nước” là một nhận định mới mà cũ. Tại sao?</p>
<p><i>Mới</i> vì, lời tuyên bố của Thales xác quyết rằng sự vật, rằng các sự kiện xảy ra không phải xuất phát từ những cảm hứng của các đấng thần linh mà do tác động của vật chất. Và cái nguyên tố vật chất ấy – một vật thể &#8211; theo ông là nước, xuất phát từ nước, sau đó rồi lại quay về nước. Mới quá đi chứ! Chỉ một sớm một chiều, ở trong thời điểm khoảng 600 năm trước Công nguyên mà có người dám nói không có bàn tay Thánh Thần trong số mệnh con người và vũ trụ.</p>
<p><i>Cũ </i>vì, cho dù ông Thales đã đưa yếu tố vật chất vào suy tư triết học, nhưng cũng như tất cả những triết gia, nhà siêu hình Tây Phương khác, ông vẫn bám vào tư tưởng một cái “Có”, một cái “Hiện Hữu”. Mãi cho đến thời đại hôm nay ở Tây phương vẫn còn như vậy. Nền triết học Tây Phương đặt nền tảng theo Thần quyền (Thượng Đế), nên tất cả những gì đi ngược lại hệ thống suy tưởng này đều bị chống đối, những người có quan điểm khác có khi bị trừng phạt nặng nề, ví dụ trường hợp bác học Galileo Galilei ở thế kỷ thứ 16.</p>
<p>[Duy chỉ có một ngoại lệ, đến đầu thế kỷ 21 này, nhà vật lý học đại tài người Anh là Stephen Hawking (1942-2018) mới dám tuyên bố rằng, nguyên thủy của vũ trụ là KHÔNG và không phải do Thượng Đế tạo ra. Nhân loại phải chờ đến thế kỷ thứ 21 mới có nhà khoa học Tây phương dám nói như thế.]</p>
<p>Cũng ngay trong thời điểm của Thales, ngay vào năm 624 trước công nguyên, ở miền thung lũng sông Hằng có một con người trí tuệ vừa ra đời: Thái tử Tất Đạt Đa, con vua Tịnh Phạn và hoàng hậu Ma Gia. Năm 29 tuổi Thái tử rời hoàng cung đi tìm đạo và năm 35 tuổi ngài đắc quả Chánh Đẳng Chánh Giác. Sự kiện hai tư tưởng gia này ra đời trong cùng một năm là một điều thật thú vị. Tôi không nghĩ rằng (và cũng không có tài liệu nào nói vậy) hai bậc hiền tài đã có lúc gặp nhau để hàn huyên. Nhưng cũng trong thời gian ấy, đức Phật cũng đi du hóa trên các vùng đồng bằng thung lũng sông Hằng và giảng dạy về lý duyên khởi, về “có, không” – sắc tức thị không không tức thị sắc.</p>
<p>Một bên nói có, hiện hữu là nước và trở về nước. Một bên nói, có mà không, không mà có – có tức là không, không tức là có. Đây là cuộc đối thoại Đông-Tây. Và đây cũng là điểm căn bản về những nét mâu thuẫn giữa Đông phương và Tây phương.</p>
<p>Ông Thales dù tài tình cách mấy không thể bước qua khỏi lằn ranh tầm nhìn của tư tưởng Tây phương được, là cái “Có”. Ở Đông phương có người cùng thời ông dám nói đến cái “Không”. Nhưng công tâm mà nói cái KHÔNG này cũng đã bao trùm lên trên nhiều nền triết lý của phương Đông. Chỉ có điểm đặc biệt trong giáo lý của Đức Cồ Đàm Gotama là “Vô Ngã”. Cả cái “Ta” cũng không. Vũ trụ là không thì tôi cũng không. Giáo lý này là cái nền cho giáo lý Phật giáo. Giáo lý này đã một thời gây chấn động và khó lòng được chấp nhận trong xã hội Đông phương nói chung và Ấn Độ thời đó nói riêng. Một xã hội đặt căn bản trên tương quan giữa Đại Ngã và Tiểu Ngã.</p>
<p>Giờ tôi xin phép đi sâu thêm vào một góc độ khác: Xin nói thêm về việc <i>Có </i>và <i>Không</i> này trên nhãn quan toán học. Bởi triết học thì mông lung quá, kẻ lý luận này, người luận lý nọ. Toán học vốn rõ ràng hơn &#8211; đối với cái đầu của người bình thường &#8211; như một với một là hai.</p>
<p>Rất ít người trong chúng ta, kể cả đến thời điểm hôm nay, có thể hình dung được những sự kiện có ý nghĩa to lớn trong lịch sử nền toán học thế giới này:</p>
<p><b>a. </b><b>C</b><b>on số <i>“zero”</i></b></p>
<p><i>“Trong thế giới toán học, <b>chân không</b> có dạng chính là số 0 (zero). Từ “zero” có nguồn gốc từ Ấn Độ là <b>sunya</b> nghĩa là “trống rỗng” hay “hư vô”. Dịch theo nghĩa đen, sunya sẽ thành <b>sifr </b>tiếng Ả Rập (cũng có nghĩa là “trống rỗng”) và thành <b>zephirum</b> theo tiếng Latin, đó chính là từ đã cho ra đời từ “zero”.<a href="file:///E:/#_ftn3_1482" name="_ftnref3_1482"><b>[3]</b></a></i></p>
<p>Từ khi cắp sách đến trường, biết học toán của nhà trường mình cứ nghĩ toàn bộ hệ thống toán học học đường xuất phát từ nền văn minh Hy Lạp – La Mã.</p>
<p><b>b. Số zero chỉ mới chào đời vào thế kỷ 5</b></p>
<p>Từ khi con người bắt đầu có ý niệm tư hữu là đã có ngay những cuộc trao đổi hàng hóa, dù chỉ là củ khoai trái bắp. Con người phải có cách ghi chú hàng hóa đổi chác, tồn kho, hay để đếm các đàn gia súc. Người ta đã tìm thấy những vết gạch trên đá của người tiền sử. Dần dần cũng có những cách ghi chú khác tùy theo các hệ thống khác nhau, ví dụ như qua các ngón trên bàn tay, nhưng chưa có hệ thống mười số. Xưa nhất là ở Ấn Độ, người ta đã thấy các số 1 đến 9 ngay trước Công nguyên. Nhưng phải chờ đến thế kỷ 5 mới có con số zero. Đây là con số quyết định hàng đầu trong hệ thống toán học. Từ đấy toán học mới có hệ thống thập phân mà chúng ta sử dụng mãi cho đến ngày hôm nay.</p>
<p><i>“</i>Cái Không thể hiện trong thế giới toán học qua số không. Có một điều bí ẩn về vấn đề này đó là: Tại sao số không không sinh ra ở phương Tây, bất chấp những tiến bộ to lớn trong toán học của người Hy Lạp, mà lại sinh ra ở phương Đông? Tại sao số không lại gây ra sự sợ hãi đến như vậy trong tư tưởng phương Tây, trong khi lại được chào đón với vòng tay rộng mở bởi tư tưởng phương Đông? Tại sao lại phải chờ đến tận thế kỷ thứ 5, các thiên tài toán học Ấn Độ cuối cùng mới trả cho số không vị trí của một con số đích thực?” (sđd. tr.8).</p>
<p><b>c. Hệ thống Algorithmus đã có nguồn gốc từ Ấn Độ</b></p>
<p>Ta cũng không thể hình dung được, người được xem là thủy tổ của Toán học Đại Số (algorithmus) là nhà toán học Ả Rập, gốc Ba Tư Muhammad ibn Musa al-Khwarizmi (khoảng 780-850) chính là người đầu tiên mang con số <i>“zero” </i>từ Ấn Độ sang Tây Phương. Từ khi có số <i>“zero” </i>thì Toán Đại Số (Algorithmus) mới thành hình. Xin nói rõ, không phải ông al-Khwarizmi phát minh ra số zero mà là ông tìm được trong sách của Ấn Độ con số này và cả hệ thống thập phân, đặt nền tảng cho hệ thống toán đại số. Ông ta chỉ tìm hiểu và công bố các kiến thức ấy ra.</p>
<p>Thời kỳ này là thời kỳ đế quốc Hy Lạp phải nhường bước cho đế quốc Ả Rập. Bắt đầu từ năm 751 lãnh thổ đế quốc Ả Rập đã vô cùng hùng mạnh, trải dài trên một diện tích rộng lớn từ Tây Ban Nha cho đến Ấn Độ. Vào năm 773 người Ấn Độ mới đệ trình tới Bagdad hệ thống tính toán và các con số của họ. Theo đó, nhà toán học Ả Rập Muhammad ibn Musa al-Khwarizmi học theo cách tính toán này và viết một cuốn sách nổi tiếng mang tên <i>“Sách về phép Cộng và Trừ theo tính cách của người Ấn Độ &#8211; kit</i><i>ā</i><i>b al-</i><i>ḥ</i><i>is</i><i>ā</i><i>b al-hind</i><i>ī</i><i>”</i><i>.<a href="file:///E:/#_ftn4_1482" name="_ftnref4_1482"><b>[4]</b></a></i></p>
<p>Sau đó, tên của ông, Al-Chwarizmi được viết lại theo tiếng La tinh là Algoritmi. Do vậy bây giờ ta mới có chữ Algorithmus, tức đại số học. Sự kiện này không biết vô tình hay hữu ý mà không được nhắc đến. Kể cả cuốn sách của ông Al-Chwarizmi bằng tiếng Ả Rập giờ cũng đã biến mất. May mắn là bản tiếng La tinh hiện nay còn lưu giữ tại nhiều thư viện trên thế giới.</p>
<p>Nhà Thiên văn học Trịnh Xuân Thuận đã viết:</p>
<p>“<i>Theo thời gian, nguồn gốc Ấn của hệ đếm có số không đã phai mờ trong trí nhớ của mọi người. Các chữ số Ấn Độ dần dần trở thành cái gọi là chữ số Ả Rập. Thế nhưng cần phải trả lại cho người Ấn những gì của họ: một hệ đếm theo vị trí tuyệt vời chỉ dựa trên 10 chữ số: 0, 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, có thể biểu diễn mọi con số, điều này đã cho phép xóa bỏ khoảng cách giữa cách viết và tính toán.” <a href="file:///E:/#_ftn5_1482" name="_ftnref5_1482"><b>[5]</b></a></i></p>
<p><a href="https://t-van.net/wp-content/uploads/2021/01/clip_image010.jpg"><img loading="lazy" decoding="async" style="margin-right: auto; margin-left: auto; float: none; display: block; background-image: none;" title="clip_image010" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2021/01/clip_image010_thumb.jpg?strip=all&fit=370%2C389" alt="clip_image010" width="370" height="389" border="0" /></a></p>
<p align="center"><i>Hình: Sự tiến hóa chữ số Ấn Độ theo thời gian (Nguồn: Sđd tr.41)</i></p>
<p>Kể từ thời điểm Al-Chwarizmi công bố cuốn sách này, toán học mới có đủ bốn phép tính: cộng, trừ, nhân, chia và hệ thống thập phân theo kiểu của người Ấn Độ như chúng ta thấy ngày hôm nay. Chúng ta thử tưởng tượng, trong cái ngày ấy các hệ thống ngân hàng, các cơ xưởng đã vui mừng như thế nào khi hệ thống này thành hình.</p>
<p>Một lần nữa nhìn về quá khứ. Căn cứ vào các công trình đào bới khảo cổ ta biết rằng người thượng cổ đầu tiên chỉ biết đếm một và nhiều (1 và &gt;1). Dần dần phát triển một số hệ thống đếm và tính toán khác nhau. Có hệ thống 3 đơn vị, có hệ thống 5 đơn vị v.v&#8230; Trong đó có cả hệ thống 60 đơn vị mà ta còn dùng đến hôm nay, đó là các đơn vị đồng hồ. Bây giờ còn 2 hệ thống phổ biến là hệ thống theo chữ La Mã dựa theo mẫu tự (I, II, III, IV…) và hệ thống Ả Rập theo 10 con số từ 0 đến 9. Hệ thống thập phân với các số Ả Rập còn mang đặc điểm là rất hữu lý khi viết số: các số có trị càng lớn số sẽ càng dài hơn. Ví dụ số 10 sẽ phải ngắn hơn số 1000 (vì 1000 lớn hơn 10 nên có 4 ký hiệu, số 10 chỉ có 2). Trong khi hệ thống số viết bằng ký hiệu chữ không được như vậy, ví dụ số 18 = XVIII (5 ký hiệu) viết dài hơn số 1005 = MV (2 ký hiệu).</p>
<p>Một câu hỏi đặt ra cho chúng ta tại đây ngay bây giờ là, tại sao Tây phương sợ số không? Nhà khoa học, thiên văn học Trịnh Xuân Thuận trả lời giúp chúng ta:</p>
<p>“Câu trả lời có lẽ nằm trong nỗi sợ hãi siêu hình đối với con số này. Đối với các nhà toán học Hy Lạp, ngay ý tưởng về số không đã bị ghét cay ghét đắng, bởi vì làm thế nào “không có gì” lại có thể là “cái gì đó” chứ? Đầu tiên số không khơi dậy trong họ ý tưởng về sự khởi đầu của vũ trụ, tức là sự trống rỗng và hỗn độn nguyên thủy, và điều này đã gây ra nỗi khiếp sợ” (Sđd. tr.32).</p>
<p><b>d. Triết lý các phép toán với số Zéro (hay Nghĩa lý Chân không)</b></p>
<p>Như vậy con số 0 (zero) thật vô cùng quan trọng, có thể nói là quan trọng bậc nhất. Không những nó đã khơi mào cho một hệ thống toán học là các phép tính số, mà cònhàm chứa một triết lý siêu việt. Nó mở ra một số nhận định mới.</p>
<p>&#8211; Tây phương hiểu (qua định đề Archimedes) rằng cộng một số với chính nó thì sẽ tăng lên. Ví dụ 2+2=4; 4+4=8. Do vậy, buổi đầu Tây phương sợ hãi số không vì nó sẽ làm đảo lộn mọi tư duy của họ: Một số cộng với số không thì vẫn là số đó. Ví dụ: 2+0=2. Đây là một phủ định, từ chối làm thay đổi con số trong phép cộng. Đối với phép trừ cũng vậy.</p>
<p>&#8211; Nếu ta lấy vật thể đem nhân lên (do tham lam) với số không thì kết quả sẽ thành không. Ví dụ: 999&#215;0=0</p>
<p>&#8211; Trong phép chia với số không sẽ dẫn tới vô cùng (vô cực). Ví dụ 999/0=∞</p>
<p>&#8211; Nếu đem chia một số, dù lớn bao nhiêu cho vô cực thì sẽ thành không. Ví dụ: 999/∞=0</p>
<p>Giáo sư Trịnh Xuân Thuận nói thêm: <i>Khái niệm zero ngày nay đã rất quen thuộc với chúng ta, tuy nhiên không phải luôn là như thế. Từ lâu, đối với một số xã hội cổ xưa ở phương Tây, nó thể hiện một ý niệm nguy hiểm và đáng sợ, có thể làm phương hại đến cấu trúc của suy luận logic và do đó có thể làm lung lay chính các nền tảng của cả xã hội. (sđd)</i></p>
<p>&nbsp;</p>
<p><b>[ 3 ]</b></p>
<p><b>Chỉ có nước thôi sao? </b></p>
<p>Khi Thales nói <b><i>tất cả xuất phát từ nước và rồi trở lại về nước</i></b> chắc hẳn ông đã nghĩ về một trạng thái hiện hữu rồi sẽ quay về hiện hữu, vật chất quay về vật chất, hữu thể quay về hữu thể. Khái niệm này hoàn toàn khác với ý niệm chân không, diệu hữu trong Phật Giáo. Nó cũng hoàn toàn khác với quan điểm âm và dương (hay số 0 và số ∞) trong triết học Á Đông. Phật Giáo hiểu chân không là <i>thể</i> mà diệu hữu là <i>dụng</i>. Thể và dụng đồng thời hiện hữu, không thể phân chia. Thuật ngữ nhà Phật gọi là “tự tánh bất nhị”.</p>
<p>Chỉ vào cái bàn, cái ghế tôi đang ngồi đây, tôi tìm đến hỏi triết gia Thales thì tiên sinh nói: “Nếu không cái “Có” thì làm sao có mặt cái bàn, cái ghế này cho anh bạn ngồi, sao hỏi lôi thôi – chẳng lẽ anh đang ngồi trên không khí với cái Laptop cũng đang bay lơ lửng hay sao?”.</p>
<p>Tôi tìm đến hỏi Ngài Long Thọ thì Bồ Tát bảo tôi: “Không” là nguồn gốc của muôn vật.</p>
<p><i>Nhất thiết hữu vi pháp,</i></p>
<p><i>Như mộng, huyễn, bào, ảnh,</i></p>
<p><i>Như lộ diệc như </i><i>điển</i><i>,</i></p>
<p><i>Ưng tác như thị quán.</i></p>
<p>&nbsp;</p>
<p><i>Tất cả pháp hữu vi,</i></p>
<p><i>Như mộng, huyễn, bọt, bóng,</i></p>
<p><i>Như sương, như chớp loé,</i></p>
<p><i>Hãy quán chiếu như thế.</i></p>
<p>(Kinh Kim Cang)</p>
<p>Nói thật, trí óc tôi, vốn đã lờ mờ thì giờ lại thêm lơ mơ. Nhưng, tôi nghe ra hình như có tiếng nước reo vui chảy róc rách trong từng tế bào thần kinh hệ. Tiếng dòng suối nước nối liền Đông-Tây, Âu-Á.</p>
<p>Lại xin hỏi thêm: Thế gian này có nhà toán học nào lập nổi một phương trình để giải bài toán: <i>Có bao nhiêu hạt cát ở sông Hằng không?</i> Vì đọc kinh Phật cứ nhắc hoài chữ “Hằng Hà Sa”. Cát sông Hằng nằm ì đó mà còn không biết được huống chi là nước, nước đi nước về. Khó lắm, vì nước có khi là chất lỏng nhưng có khi biến đổi sang băng đá, mây, mưa…</p>
<p>Tóm lại, cái con số KHÔNG to tướng đã đứng sừng sững đó từ khi có sự sống, nhưng mãi đến thế kỷ 5 con người ta mới thấy (ngộ) ra đó thôi. Ngày xưa người thượng cổ đã biết đếm con số lớn hơn số 1 (n&gt;1). Bây giờ ta thử tập đếm các số lớn hơn số không (n&gt;0) của cuộc đời này đi (xin lưu ý: n&gt;0; không phải n&gt;1).</p>
<p>Rồi, giống như khi xưa trong trường học làm toán chạy,<a href="file:///E:/#_ftn6_1482" name="_ftnref6_1482">[6]</a>, nếu có người giải giúp được bài toán hóc búa trên xong thì xin giải giúp bài toán khó hơn: Có số nào là số nhỏ hơn số không (n&lt;0) không?</p>
<p>Một lần nữa lại phải ngồi xuống lật trang Kinh Kim Cang ra đọc: <i>Như mộng, huyễn, bọt, bóng; Như sương, như chớp loé; Hãy quán chiếu như thế!</i></p>
<hr align="left" size="1" width="33%" />
<p><a href="file:///E:/#_ftnref1_1482" name="_ftn1_1482">[1]</a>Tiền bất kiến cổ nhân; Hậu bất kiến lai giả. Thơ Trần Tử Ngang, Trần Trọng San dịch</p>
<p><a href="file:///E:/#_ftnref2_1482" name="_ftn2_1482">[2]</a> https://vi.wikipedia.org/wiki/%C4%90%E1%BB%8Bnh_l%C3%BD_Thales</p>
<p><a href="file:///E:/#_ftnref3_1482" name="_ftn3_1482">[3]</a>Trịnh Xuân Thuận. Phạm Văn Thiều và Phạm Việt Hưng dịch: <i>Sự Đầy của cái Không – La Plesnitude du Vide.</i> NXB Trẻ, 2018 (tr.20)</p>
<p><a href="file:///E:/#_ftnref4_1482" name="_ftn4_1482">[4]</a> kitāb al-ḥisāb al-hindī (&#8216;Book on computation with Indian numerals). Bản tiếng Ả Rập ngày nay đã bị thất lạc, chỉ còn bản dịch tiếng La Tinh tên là Algoritmi de numero Indorum (“Al-Chwarizmi über die indischen Zahlen”, Rom 1857). Nguồn: https://de.wikipedia.org/wiki/Al-Chwarizmi</p>
<p><a href="file:///E:/#_ftnref5_1482" name="_ftn5_1482">[5]</a> Trịnh Xuân Thuận, sách đã dẫn.</p>
<p><a href="file:///E:/#_ftnref6_1482" name="_ftn6_1482">[6]</a> Toán chạy là bài toán được thầy giáo đưa ra, trò nào giải xong trước thì chạy nhanh lên nộp cho thầy. Thầy chấm điểm rồi cho bài mới.</p>
<p>&nbsp;</p>
<p><strong>Văn Công Tuấn</strong></p>
<p>(<em>Trích: Chớ Quên Mình Là Nước)</em></p>
]]></content:encoded>
					
					<wfw:commentRss>https://t-van.net/van-cng-tuan-dy-nuoc-cua-ng-thales/feed/</wfw:commentRss>
			<slash:comments>0</slash:comments>
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Văn C&#244;ng Tuấn: Cụ Phan gọi tr&#224;</title>
		<link>https://t-van.net/van-cng-tuan-cu-phan-goi-tr/</link>
					<comments>https://t-van.net/van-cng-tuan-cu-phan-goi-tr/#respond</comments>
		
		<dc:creator><![CDATA[Tác Giả]]></dc:creator>
		<pubDate>Mon, 04 Jan 2021 06:45:00 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Góc Văn]]></category>
		<category><![CDATA[Văn công Tuấn chớ quên mình là nước]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://7076e870b2.nxcli.io/?p=47330</guid>

					<description><![CDATA[Cụ Sào Nam Phan Bội Châu (Ảnh: Internet) … Lũ bé thấy ông, nghi bệnh rượu Hóa ra nghiện nước, vậy mà say. (Sào Nam: Cười Mình) &#160; [ 1 ] Khát Nước Cụ Phan nói ở đây là cụ Sào Nam Phan Bội Châu, là một nhà yêu nước, đầy nghĩa khí và hết [&#8230;]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: center;"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2021/01/PBC.jpg?strip=all&fit=189%2C267"><img loading="lazy" decoding="async" class="aligncenter size-full wp-image-47334" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2021/01/PBC.jpg?strip=all&fit=189%2C267" alt="" width="189" height="267" /></a></p>
<p style="text-align: center;"><em>Cụ Sào Nam Phan Bội Châu (Ảnh: Internet)</em></p>
<p><i>… Lũ bé thấy ông, nghi bệnh rượu</i></p>
<p><i>Hóa ra nghiện nước, vậy mà say. </i></p>
<p>(Sào Nam: <i>Cười Mình</i>)</p>
<p>&nbsp;</p>
<p><b>[ 1 ]</b></p>
<p><b>Khát Nước</b></p>
<p>Cụ Phan nói ở đây là cụ Sào Nam Phan Bội Châu, là một nhà yêu nước, đầy nghĩa khí và hết lòng tận tụy cho công cuộc giành độc lập của Việt Nam từ tay thực dân Pháp. Cụ đã thành lập phong trào Duy Tân (1904), chủ trương tôn quân và đấu tranh vũ trang đánh đổ đô hộ Pháp để khôi phục nền độc lập cho nước nhà. Cụ và các nhà ái quốc đồng thời suy tôn Kỳ Ngoại Hầu Cường Để làm minh chủ và khởi xướng phong trào Đông Du (1905), vận động người trong nước xuất dương qua Trung Hoa, Nhật Bản du học để thâu nhận kiến thức mới của nước ngoài về giúp nước nhà.</p>
<p>Rồi sau đó do có người phản và chỉ điểm nên cụ bị người Pháp bắt cóc ở Thượng Hải, mới đầu họ định thủ tiêu nhưng kế hoạch bại lộ nên giải cụ về nước và xử án tù chung thân. Trước phong trào đấu tranh bãi khóa, đình công, bãi thị của nhân dân cả nước đòi thả chí sĩ Phan Bội Châu, và nhờ sự can thiệp của Toàn quyền Varenne, cụ Phan được đưa về an trí tại Bến Ngự (Huế). Trong 15 năm bị giam lỏng cuối đời này &#8211; lúc bấy giờ được gọi là Ông Già Bến Ngự &#8211; cụ vẫn giữ trọn phẩm cách cao thượng, sáng tác văn thơ để kêu gọi tinh thần yêu nước.</p>
<p>Ngôi nhà cụ ở tại Huế khi xưa bây giờ vẫn còn lưu giữ, là Khu lưu niệm Danh nhân Phan Bội Châu nằm tại số 119 đường Phan Bội Châu, phường Trường An, Thành phố Huế.</p>
<p>Cũng trong thời gian ở đây, vào năm 1931 cụ Phan viết bài thơ “Gọi Trà” sau đây.</p>
<p><i>Gọi trà</i></p>
<p><i>Vì cớ sao mà khát nước hoài?</i></p>
<p><i>Trà đâu ta sẽ nếm mày chơi.</i></p>
<p><i>Chẳng Tàu thì Huế tha hồ thú,</i></p>
<p><i>Pha tục và tiên đặc bỏ đời.</i></p>
<p><i>Nóng nguội tình người năm bảy chén,</i></p>
<p><i>Lạt nồng mùi thế một vài hơi.</i></p>
<p><i>Trà ơi! Còn nước là vinh hạnh,</i></p>
<p><i>Cháy lưỡi khô môi, thảm những ai. <a href="file:///E:/#_ftn1_8997" name="_ftnref1_8997"><b>[1]</b></a></i></p>
<p>Trà Tàu là loại trà hạng sang thời đó, trà Huế là trà bình dân ai cũng có thể mua uống được. Mới đọc bài thơ, tôi thoáng nghĩ, có thể thời gian này cụ Phan bị bệnh, hoặc bệnh tim hay bệnh tiểu đường. Do vậy nên cứ khát nước hoài. Nhưng càng đọc càng thấm ý của cụ. <i>Trà ơi, còn nước là vinh hạnh.</i> Cụ thương nước thương nòi, nhưng bấy giờ phải lâm tình cảnh bị giam lỏng, bó tay bó chân nên cụ cứ phải “khát nước hoài”. Nước hiểu theo đầy đủ tất cả nghĩa. Một lối chơi chữ quá tài hoa: vừa là đất nước vừa là dòng nước mà cũng là dòng đời lênh đênh của cụ. Cái nào cũng quý và cái nào cũng đang lâm nạn. Mình chỉ nhận ra khi không còn có nữa.</p>
<p>Tâm sự đó cứ luôn canh cánh bên lòng, mấy năm sau (1937) cụ viết nên lời thắm thiết trong bài thơ Tự Trào:</p>
<p><i>Tự trào</i></p>
<p><i>Râu mày trơ trẽn với non sông,</i></p>
<p><i>Thiệt phải mình chăng? Lòng hỏi lòng.</i></p>
<p><i>Sấm điếc gió câm trời đất trọi,</i></p>
<p><i>Muông qua chim lại tháng ngày chung.</i></p>
<p><i>Có đôi (ném) xác thịt, đôi không đặng,</i></p>
<p><i>Toan vớt đồng bào, vớt chẳng xong.</i></p>
<p><i>Biết nói cùng ai, cười với bóng,</i></p>
<p><i>Ông xanh xanh hỡi thấu chăng ông?</i></p>
<p><a href="https://t-van.net/wp-content/uploads/2021/01/clip_image001.jpg"><em><img loading="lazy" decoding="async" style="margin-right: auto; margin-left: auto; float: none; display: block; background-image: none;" title="clip_image001" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2021/01/clip_image001_thumb.jpg?strip=all&fit=366%2C245" alt="clip_image001" width="366" height="245" border="0" /></em></a></p>
<p align="center"><em>Di tích ngôi nhà của cụ Phan Bội Châu lúc bị đưa đi an trí tại Huế</em></p>
<p align="center"><em>Nguồn: Bảo Tàng Lịch Sử Thừa Thiên Huế </em><a href="file:///E:/#_ftn2_8997" name="_ftnref2_8997"><em>[2]</em></a></p>
<p>&nbsp;</p>
<p><b>[ 2 ]</b></p>
<p><b>Nhà Nho với Nhà … Chùa</b></p>
<p>Về an trí ở Bến Ngự Huế, suốt ngày quanh quẩn trong căn nhà nhỏ cụ Phan đã sáng tác nhiều văn thơ kêu gọi, đánh thức lòng ái quốc của toàn dân. Nhưng trong con người đầy nhiệt huyết, luôn hoạt động, đã từng bôn ba bốn phương, từng lăn xả vào các sinh hoạt chính trị như vậy đâu thể nào một sớm một chiều ngồi rung đùi đọc sách viết văn được. Tuy cùng thời và cùng lý tưởng như cụ Phan Châu Trinh nhưng cụ Phan Bội Châu là người chủ trương dùng vũ lực chống thực dân Pháp, xây dựng chính thể quân chủ qua hình ảnh minh chủ Kỳ Ngoại Hầu Cường Để. Cũng xin mở ngoặc nói thêm ở đây: Kỳ Ngoại Hầu Cường Để là hoàng thân thuộc dòng dõi chính thống trong hoàng tộc, là con của Hàm Hóa Hương Công Tăng Du. Ông là cháu đích tôn năm đời của vua Gia Long, là cháu trực hệ của Hoàng tử Cảnh. Do Hoàng Tử Cảnh mất sớm, tổ phụ ông là Hoàng Tôn Đán bấy giờ còn nhỏ tuổi, ngôi vua truyền cho dòng thứ 2 là Hoàng Tử Đảm, tức Vua Minh Mạng. Các nhà ái quốc thời đó như các cụ Phan Đình Phùng, Phan Bội Châu… đã có kế hoạch lập lại ngôi vua, thay cho Vua Khải Định vì vị vua này hợp tác với thực dân Pháp.</p>
<p>Là nhà nho Cụ Sào Nam Phan Bội Châu từng soạn tác phẩm giá trị <i>Khổng Học Đăng </i>(bộ 2 cuốn). Nhà xuất bản Khai Trí đã nhận định về bộ sách này là: “… Cụ Phan đã diễn giải tất cả những phần cốt yếu trong bộ Tứ Thư (gồm Luận ngữ, Đại học, Trung Dung, Mạnh Tử). Cụ trình bày mạch lạc kèm theo những thí dụ xác thực để người đọc có thể thấu đáo ý nghĩa trong lời nói của thánh hiền. Cụ lại đính chánh những chỗ chú giải sai lầm của các tiên nho, sai lầm vì kiến thức bất cập hay vì cố ý xuyên tạc (nhất là của giới Tống nho). Cụ biện luận rành rẽ, lại nêu ra nhiều chứng tích Đông, Tây kim, cổ. Những câu trong sách cổ rất súc tích, chỉ thay đổi một dấu chấm câu, người ta có thể hiểu bằng nghĩa khác. Ngoài ra có những chữ có nhiều nghĩa, muốn hiểu cách nào tùy người đọc. Đấy là những điểm để cho các nhà phản nho lợi dụng xuyên tạc, và cũng là cớ để kẻ nông cạn hiểu lầm”.</p>
<p>Một năm sau khi về bị quản thúc tại Bến Ngự, nhân ngày giỗ đầu của cụ Phan Châu Trinh (3/1927), cụ Sào Nam viết mấy lời thắm thiết tưởng niệm như sau:</p>
<p><i>“Than ôi! Ông có thứ cho tôi chăng? Lúc ông </i>[từ Nhật Bản]<i> về nước </i>[1906], <i>tôi tiễn chân ông đến Hương Cảng, ông cầm tay tôi dặn mấy lời sau hết: ‘Từ thế kỷ 19 về sau, các nước tranh nhau ngày càng dữ dội, cái tính mạng một nước, gửi trong tay một số người đông, chứ không thấy nước nào không có dân quyền mà khỏi mất nước bao giờ. Thế mà nay Bác lại còn dựng cờ quân chủ lên hay sao?’ Ông nói thế, lúc bấy giờ tôi chưa có câu gì đáp lại, nay đã hơn 20 năm rồi, lời ông càng lâu, càng nghiệm. Tôi mới biết cái óc suy nghĩ cùng cái mắt xem xét của tôi thiệt không bằng ông! Phỏng ngày nay ông còn sống thì cầm cờ hướng đạo cho chúng ta, hẳn phải nhờ tay ông mới được. Than ôi! Ngày nay những kẻ cúng vái ông, kính mến ông, có phải là chỉ ngắm tượng ông, đọc văn ông góp nhặt năm ba câu làm bộ ái quốc, ái quần đầu miệng mà thôi ư? Phải biết rằng ông Hy Mã mà được danh tiếng lưu truyền với sử xanh là vì ông có chủ trương thiệt, tinh thần thiệt.”</i></p>
<p>Vậy con người Nho Sĩ là cụ Sào Nam Phan Bội Châu đã làm gì những ngày ấy, những ngày bị quản thúc trong suốt 15 năm cuối đời ở Bến Ngự? Thưa, cụ Phan cũng đã làm như những nhà Nho khác từng làm: Nhà Nho tìm đến cửa Phật. Tôi nhớ rõ như in hình ảnh mà Giáo sư Cao Huy Thuần viết về cụ Hoàng Xuân Hãn ở Paris khi anh nhìn thấy cụ Hãn mỗi ngày đến chùa Trúc Lâm nghiên cứu kinh điển nhà Phật: “Bác Hãn lên chùa là chuyện dĩ nhiên. Bởi vì nhà Nho nào rồi cũng lên chùa. Con người trong Khổng là con người cực động. Cực động thì phải tìm đến tĩnh. Như cái vụ quay tít đến một lúc thì sẽ đứng yên.”<a href="file:///E:/#_ftn3_8997" name="_ftnref3_8997">[3]</a></p>
<p>Bây giờ tôi cũng nhìn thấy hình ảnh cụ Phan Sào Nam như vậy. Con người Khổng Nho ấy, lúc trẻ bôn ba khắp nơi, ở tuổi 60 (thời ấy tuổi đó cũng có thể gọi là đã già) lại đang bị giam lỏng trong căn nhà ba gian ở Huế, thì cụ tìm vui với giáo lý Phật Đà. Và cụ Sào Nam đã thường xuyên lui tới chùa thật. Cụ thường tìm đến Hòa Thượng chùa Tường Vân để hàn huyên, bàn chuyện văn thơ, chuyện thế sự và Phật pháp – vị ấy chính là cố Hòa Thượng Thích Tịnh Khiết, đệ nhất Tăng Thống GHPGVNTN. Hai con người uyên thâm Hán học ấy đã một thời là bạn tâm giao, chỉ khác: một người là Hòa Thượng một người là Nho Sĩ. Trong một dịp cụ Phan Sào Nam vào chùa vấn đạo, Hòa thượng đã biếu cụ một cây hoa ngọc lan. Sau đó, Phan tiên sinh mượn nét tinh khiết và hương thơm của hoa để viết tặng Hòa thượng một bài thơ, tán thán mật hạnh vô vi của Ngài. Bài thơ như sau:<a href="file:///E:/#_ftn4_8997" name="_ftnref4_8997">[4]</a></p>
<p>Nguyên văn chữ Hán:</p>
<p>前身種出自蓬莱</p>
<p>唯向菩提院裏栽</p>
<p>素萬光争冬夜雪</p>
<p>奇芳品奪領頭梅</p>
<p>真香真王者天垂賞</p>
<p>荘此嫦娥月暗猜</p>
<p>唯佛從来能識佛</p>
<p>慇勤惠我此花魁</p>
<p>巢南</p>
<p>Phiên âm:</p>
<p><i>Tiền thân chủng xuất tự </i><i>B</i><i>ồng </i><i>L</i><i>ai,</i></p>
<p><i>Duy hướng </i><i>B</i><i>ồ</i><i>&#8211;</i><i>đề viện lý tài.</i></p>
<p><i>Tố vạn quang tranh đông dạ tuyết,</i></p>
<p><i>Kỳ phương phẩm đoạt lãnh đầu mai.</i></p>
<p><i>H</i><i>ương</i><i> chân</i><i> vương giả thiên </i><i>thùy</i><i> thưởng,</i></p>
<p><i>Trang thử thường nga nguyệt ám </i><i>sai</i><i>.</i></p>
<p><i>Duy Phật tùng lai năng thức Phật,</i></p>
<p><i>Ân cần huệ ngã thử hoa khôi.</i></p>
<p><i>Sào Nam</i></p>
<p>Bản dịch của Hòa Thượng Chơn Thiện:</p>
<p><i>Thân trước vốn người tự cõi tiên</i></p>
<p><i>Sau</i><i> vì trí giác đến rừng thiền,</i></p>
<p><i>Sắc màu đông tuyết còn thua thắm</i></p>
<p><i>Hương chất hoàng mai lại kém duyên.</i></p>
<p><i>Dáng vẻ triều vương trời ái mộ</i></p>
<p><i>Hằng nga trang tỉ nguyệt ưu phiền.</i></p>
<p><i>Phật duyên tương cảm nên tương ngộ</i></p>
<p><i>Cành ngọc lan trao tới cựu hiền.</i></p>
<p>Bản dịch của Nguyên Hồng:</p>
<p><i>Giống tự Bồng lai đến cõi này,</i></p>
<p><i>Bồ-đề viện nội trổ nên cây.</i></p>
<p><i>Sắc màu rực rỡ đêm đông tuyết,</i></p>
<p><i>Hương </i><i>tỏa</i><i> đầu non tựa lão mai.</i></p>
<p><i>Vương giả chân hương trời bủa xuống,</i></p>
<p><i>Hằng nga cốt cách nguyệt nhường ngôi.</i></p>
<p><i>Chỉ Phật mới hay thân Phật Tổ,</i></p>
<p><i>Ân cần trao gửi nhánh hoa tươi.</i></p>
<p><a href="https://t-van.net/wp-content/uploads/2021/01/clip_image003.jpg"><img loading="lazy" decoding="async" class="" style="margin-right: auto; margin-left: auto; float: none; display: block; background-image: none;" title="clip_image003" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2021/01/clip_image003_thumb.jpg?strip=all&fit=341%2C201" alt="clip_image003" width="341" height="201" border="0" /></a></p>
<p align="center">Hình chụp bài thơ của cụ Sào Nam Phan Bội Châu, mượn cành hoa ngọc lan<br />
tán thán mật hạnh của HT Thích Tịnh Khiết</p>
<p>Cụ Phan Bội Châu mất vào ngày 29.10.1940 ở tuổi 73. Bên cạnh nhiều tác phẩm giá trị nhưViệt Nam vong quốc sử, Hải ngoại huyết thư, Tân Việt Nam, Việt Nam quốc sử khảo v.v&#8230;cùng với những bộ sách biên khảo như Chu Dịch, Nhân Sinh Triết Học, Khổng Học Đăng, cụ còn để lại một tác phẩm Phật học có tên là Phật Học Đăng và gần ngàn bài thơ nôm, phú, văn tế. Tiếc là tác phẩm Phật Học Đăng nay không còn tìm thấy nữa. Tư tưởng Phật học của cụ giai đoạn sau này cũng thể hiện rõ nét qua câu đối mà cụ đã tặng Chùa Từ Đàm ở Huế.</p>
<p><b>Nghiệp duyên bình hiệp, niên niên bạch phát thôi, đối diện tức không, ninh bả thiều hoa phó lưu thủy.</b></p>
<p>Nghĩa:<i> Nghiệp duyên như bèo hợp, năm năm tóc bạc đầu, trước mặt là không, sao nỡ đem tuổi xuân quăng theo dòng nước </i><i>chảy</i><i>.</i></p>
<p><b>Thế sự kỳ phân, xứ xứ hoàng lưu mộng, hồi đầu thị ngạn, nguyện phiên bối diệp xuất ưu đàm.</b></p>
<p>Nghĩa:<i> Thế sự rối bàn cờ, nơi nơi kê vàng mộng, quay đầu là bến, nguyện dịch kinh </i><i>lá</i><i> bối </i><i>tỏa</i><i> ngát hương ưu</i><i>&#8211;</i><i>đàm.<a href="file:///E:/#_ftn5_8997" name="_ftnref5_8997"><b>[5]</b></a></i></p>
<p>Nho gia hiểu Phật học thâm thúy như thế thì quả là đạt đến mức cao siêu: “đối diện tức không”, rồi “hồi đầu thị ngạn”.</p>
<p>Kể từ đó không còn nghe cụ Phan than khát nước nữa!</p>
<p><strong>Văn Công Tuấn</strong></p>
<p><em>(Trích: Chớ Quên Mình Là Nước)</em></p>
<hr align="left" size="1" width="33%" />
<p><a href="file:///E:/#_ftnref1_8997" name="_ftn1_8997">[1]</a> Nguồn: https://www.thivien.net (đọc 14.06.2019)</p>
<p><a href="file:///E:/#_ftnref2_8997" name="_ftn2_8997">[2]</a>http://baotanglichsu.thuathienhue.gov.vn/trung-bay/tid/Di-tich-luu-niem-danh-nhan-Phan-Boi-Chau-tai-thanh-pho-Hue/ (đọc ngày 14.06.2019)</p>
<p><a href="file:///E:/#_ftnref3_8997" name="_ftn3_8997">[3]</a>Cao Huy Thuần: <i>Bác Hãn lên Chùa,</i> trong tác phẩm <i>Nắng và Hoa</i>. NXB Văn Hóa Văn Nghệ, 2013</p>
<p><a href="file:///E:/#_ftnref4_8997" name="_ftn4_8997">[4]</a>Văn Công Tuấn: <i>Thiền Môn Pháp Kệ</i> trong tác phẩm <i>“</i><i>Cổ Thụ Lặng Bóng Soi”</i>, NXB Tôn Giáo, 2017</p>
<p><a href="file:///E:/#_ftnref5_8997" name="_ftn5_8997">[5]</a>https://vi.wikiquote.org/wiki/ (đọc 25.05.2019)</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>©T.Vấn 2021</p>
]]></content:encoded>
					
					<wfw:commentRss>https://t-van.net/van-cng-tuan-cu-phan-goi-tr/feed/</wfw:commentRss>
			<slash:comments>0</slash:comments>
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Văn Công Tuấn: Khối tình  Nước Nước Non Non</title>
		<link>https://t-van.net/van-cong-tuan-khoi-tinh-nuoc-nuoc-non-non/</link>
					<comments>https://t-van.net/van-cong-tuan-khoi-tinh-nuoc-nuoc-non-non/#respond</comments>
		
		<dc:creator><![CDATA[Tác Giả]]></dc:creator>
		<pubDate>Sat, 26 Dec 2020 06:42:36 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Góc Văn]]></category>
		<category><![CDATA[Văn công Tuấn chớ quên mình là nước]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://7076e870b2.nxcli.io/?p=47219</guid>

					<description><![CDATA[  Ảnh (Nguyễn Minh Tân) Năm mươi năm giữ mãi một nụ cười Anh chẳng bao giờ một phút nguôi (Bùi Giáng)    Nước non nặng một lời thề Nước đi đi mãi không về cùng non  Một lời trách móc? Một lời tự thán Hay cả hai? Nói gì thì nói, cảnh ấy là [&#8230;]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: center;"><strong><em> <a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2020/12/tay-vuon-toi-nuiNMTan.jpg?strip=all"><img loading="lazy" decoding="async" class="aligncenter wp-image-47220" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2020/12/tay-vuon-toi-nuiNMTan-212x300.jpg?strip=all" alt="" width="238" height="337" srcset="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2020/12/tay-vuon-toi-nuiNMTan-212x300.jpg?strip=all 212w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2020/12/tay-vuon-toi-nuiNMTan.jpg?strip=all 646w" sizes="(max-width: 238px) 100vw, 238px" /></a></em></strong></p>
<p style="text-align: center;"><em>Ảnh (Nguyễn Minh Tân)</em></p>
<p><em>Năm mươi năm giữ mãi một nụ cười</em></p>
<p><em>Anh chẳng bao giờ một phút nguôi</em></p>
<p>(Bùi Giáng)</p>
<p><strong> </strong><em> </em></p>
<p><em>Nước non nặng một lời thề</em></p>
<p><em>Nước đi đi mãi không về cùng non</em></p>
<p><em> </em>Một lời trách móc? Một lời tự thán Hay cả hai?</p>
<p>Nói gì thì nói, cảnh ấy là cảnh tôi chứng kiến hàng trăm lần trong quãng đời niên thiếu. Buồn có mà vui cũng có.</p>
<p>Tôi có bà cô, em út của ba tôi, thứ mười lăm. Con út nên là người con cưng nhất của ông nội. Cô út lấy chồng trong thời chiến tranh, nên lấy chồng chẳng bao lâu thì dượng út phải đi quân dịch. Chữ quân dịch này chỉ có trong thời Đệ nhất Cộng hòa. Nghĩ mà thêm buồn, cả việc mình có quá nhiều từ cho chuyện này cũng đủ rõ là đất nước này sao mà chiến tranh triền miên. Quân dịch, như vừa nói. Rồi đến nhập ngũ, tổng động viên… Ôi thôi, còn nhiều từ nữa. Sau này còn có chữ nghĩa vụ quân sự. Nói chung, dượng Út phải đi lính. Hết thời gian quân trường, dượng Út có một lần về thăm nhà rồi thuyên chuyển đi Tây nguyên. Sau đó chẳng tăm chẳng hơi gì cả. Ước chi hồi đó có email, có điện thoại cầm tay… Cô Út tôi trông chồng chỉ biết ngắm mây trời. Nhiều nhất là gởi tin theo gió: “Gió ơi gió đưa chim về cùng ta kẻo ta mong, gió im gió chẳng trả lời” (nhạc Tu My).</p>
<p>Sau một thời gian, viện cớ về chăm sóc cha bị bệnh, cô Út dọn về ở với ông nội. Rồi cô Út hạ sinh giọt máu của dượng, một cậu con trai khôi ngô. Vậy là cậu ấm của cô dượng Út nhỏ nhất nhà là cục cưng của ông nội tôi. Nhiều khi đám cháu chúng tôi tôi còn ganh tức với cậu em bà con cô cậu này, khi nghe hàng xóm cứ nói với nhau sao ông cưng cháu ngoại nhiều hơn cháu nội. Nhưng nghĩ cũng phải, cậu em họ này cũng đáng thương. Tôi tuy mồ côi cha mẹ lúc về ở với ông nội, nhưng hoàn cảnh đã an bài cho mình như thế. Chấp nhận sống tới. Cậu em tuy ngồi êm ả trên chiếc xe kéo (quê tôi gọi là xe bò), nhưng chỉ có một bánh trên mặt đất còn bánh kia bay lơ lửng trên không. Cuộc đời cậu ta lúc lắc nhiều hơn tôi chứ. Ông nội kéo chiếc xe đi, ngoài nhìn vào thì có vẻ như bình yên êm ả nhưng đường làng đất sét nhiều ổ gà nên cũng ì ạch lắm.</p>
<p>Chuyện còn dài lắm nên tôi xin không kể hết ở đây. Sau chừng mười năm thì dượng Út cũng quay về. Cô Út cũng không thắc mắc thời gian mười năm ấy mây bay đi đâu, mây đậu chỗ nào. Họ lại đoàn tụ, lại sống với nhau. Nhưng éo le thay, chuyện đoàn tụ cũng nhiều đau thương chẳng kém gì cái đoạn chờ mong nhìn mây trắng bay thuở trước. Mây thơ mộng và tan biến nhanh, chứ con người cứ sờ sờ ra đó.</p>
<p>Sau này bắt đầu đi học, cứ mỗi lần đọc bài thơ <em>Thề Non Nước</em> của Tản Đà, tôi lại nghĩ đến cô Út của tôi. Nghĩ và thương cô nhiều lắm. Sống trong chờ đợi, trong nghèo khổ, rồi chết đi cùng bệnh hoạn và nỗi lo lắng cho cậu con trai còn nhỏ dại không biết rồi sẽ ra sao.</p>
<p>Nghĩ cho cùng, trong một đất nước chiến tranh dai dẳng, con người ta chỉ biết chịu đựng, chỉ có thể chờ đợi. Rồi ra sao đó thì ra. Biết bao điều xảy ra nằm ngoài tầm tay mình. Không thể như thời nay, tính kế hoạch A, plan B, chương trình C. Con người thời đó chỉ nói đơn giản: thì vậy đó, nước đã hẹn với non nhưng chưa đến được thì non chờ &#8211; <em>nước đi chưa lại non còn đứng không</em>. Vậy thôi!</p>
<p>Cụ Tản Đà quá tài tình khi diễn tả lời thơ như vậy, không một lời trách móc. Tài tình hơn, cụ đã dùng hình ảnh Nước và Non. Thiếu gì hình ảnh nói đến cuộc phân ly: đôi chim, cặp thiên nga, bến tàu, sân ga, hàng cây rũ lá…</p>
<p>Không, Núi và Nước. Cái cao kiến là chỗ đó. Núi và Nước là hai trong bốn phần tứ đại: đất nước gió lửa. Chỉ hai thôi sao? Có cả tứ đại ở đây chứ. Trong non có đất, trong nước có gió mây. Đất trời có hơi nóng thì nước kia mới bốc hơi thành mây. Hay nói đúng hơn, có đủ bốn yếu tố này trong cả hai.</p>
<p><strong> </strong><strong>Con người của núi Tản sông Đà</strong></p>
<p>Cứ đọc tiểu sử cụ Tản Đà tôi lại nghĩ đến thi sĩ Bùi Giáng. Tuy mỗi người mỗi hoàn cảnh có khác nhau – thì bao giờ chẳng vậy. Có điều chắc chắn, hai thi sĩ này là hai thi sĩ hạng thượng thừa. Họ là nhân vật xứng đáng với lời định nghĩa mà có lần thời còn trẻ tôi đã đọc được (hình như của Hölderlin) rằng: <em>Thi sĩ là kẻ tiên tri của thời đại. </em></p>
<p>Tản Đà là hai chữ ghép của núi Tản, sông Đà, quê hương của thi sĩ.</p>
<p>Tản Đà tên thật là Nguyễn Khắc Hiếu, sinh ngày 19 tháng 5 năm 1889, ở làng Khê Thượng, huyện Bất Bạt, tỉnh Sơn Tây cũ, nay thuộc Thành phố Hà Nội. Tản Đà sinh trưởng trong một gia đình danh giá. Cụ thân sinh là cụ Nguyễn Danh Kế làm quan đến chức Án Sát, mẹ trước là một đào hát hay và làm thơ giỏi. Cụ thân sinh mất đi khi nhà thơ mới 3 tuổi, cuộc sống gia đình trở nên cùng túng. Từ nhỏ Tản Đà theo Hán học. Đi thi Hương 2 lần nhưng cả hai đều trượt. Lớn lên Tản Đà viết văn làm báo. Cộng tác với Nam Phong Tạp Chí, Đông Dương Tạp Chí. Có thời ông làm chủ tờ An Nam Tạp Chí, nhưng do cách điều hành quá… thơ nên sau phải đình bản.</p>
<p>Hai nhà phê bình văn học nổi tiếng của Việt Nam là Hoài Thanh và Hoài Chân trong tác phẩm “Thi nhân Việt Nam” đã cung kính tôn xưng Tản Đà lên ngồi ghế “Chủ Súy” của Hội Tao Đàn, ca tụng ông như là người mở lối cho thi ca Việt Nam bước vào một giai đoạn tươi đẹp mới.</p>
<p>Vâng, ông chính là một thi sĩ tài danh của cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20 và là cái gạch nối tuyệt vời giữa hai thế kỷ, hai nền văn học.</p>
<p>Bùi Giáng viết về Tản Đà như sau:</p>
<p><em>“Tản Đà thi sĩ có tiếng là ngông ấy không sánh nổi với thiên tài của thế kỷ trước và thiên tài của thế kỷ mình đương tấp tểnh, là những đàn em tập tò gieo vần nhịp. Từ lâu ta như đã nhận thấy những giới hạn của Nguyễn Khắc Hiếu, ta nghĩ rằng ông không thể nào là một thiên tài có cái tầm vóc của Nguyễn Du ngự trị trên thời gian với một quan niệm về đời người mênh mông thăm thẳm. Không, không thể đã đành mà Tản Đà cũng không thể nào sánh kịp bọn trẻ trong tâm tình lãng mạn. Cái bầy em đông đảo sinh ra đã thở ngay bầu không khí xao xuyến của thời đại. Cái bầy em mà bản ngã không được un đúc từ trong khuôn phép Nho phong để có thể trước thời cuộc giữ vững một cốt cách vững vàng, một phong thái ung dung.</em>”<a href="#_ftn1" name="_ftnref1"><em><strong>[1]</strong></em></a></p>
<p>Tôi đọc mà thấy ngay nỗi niềm mến phục của Bùi Giáng với Tản Đà, rất hiếm khi thấy ở Bùi Giáng &#8211; cũng là một chúa ngông. Tôi biết, những người từng gần gũi Bùi Giáng sẽ hiểu rõ lối lập ngôn này của anh. Sẽ hiểu rằng, cái ngông của Bùi Giáng trước cái ngông của Tản Đà có phần hơi lép vế. Và chính Trung niên thi sĩ cũng tự nhận ở đây như thế. Viết như trên, chính thi sĩ Bùi Giáng đã tự nhận mình cũng thuộc vào “bầy em” của thi sĩ Tản Đà. Sinh sau Tản Đà 37 năm, bắt đầu làm thơ khi Tản Đà đã viết và dịch nhiều tác phẩm tuyệt tác, đã có một chỗ đứng vững vàng trên văn đàn, Trung niên thi sĩ đã thực sự ngưỡng mộ một bậc đàn anh đi trước. Bùi Giáng cho rằng Tản Đà dịch thơ cổ của các thi nhân Trung Hoa còn hay hơn cả chính bản! Việc này cũng dễ hiểu. Hai tâm hồn tài ba gặp nhau nên hiểu nhau, cùng ngông với nhau.</p>
<p>Trong tất cả những người viết về Tản Đà, tôi nhận thấy Bùi Giáng qua tác phẩm <em>Giảng luận về Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu</em> là tuyệt hơn tất cả. Bằng tâm hồn thi sĩ Bùi Giáng đã thấu rõ nỗi lòng của thi sĩ, phân tích rõ hoàn cảnh, rõ những con người cùng thời của Tản Đà. Bùi Giáng muốn nhìn Tản Đà bằng con mắt: <em>Bỏ con mắt của nhà bình phẩm, lấy tình cảm của người bạn. </em>Nhà thơ nói về nhà thơ.</p>
<p>Bùi Giáng cũng thương cảm cho Tản Đà và nhắc đến cái gọng kềm đã đeo đuổi Tản Đà nhiều năm dài đằng đẵng. Đó là ông chủ bút Nam Phong Tạp Chí Phạm Quỳnh nhiều lần muốn nhận chìm tài năng của Tản Đà, phê bình sát nút cái ngông của Tản Đà. Thử hỏi một thi sĩ nghèo làm sao đối đầu với ông Chủ bút tờ báo lớn, người thân thích chính quyền thuộc Pháp, rồi lại là một Thượng Thư (tức Bộ Trưởng ngày nay) của triều đình. Thi sĩ thì nghèo, không đủ tiền sống và nuôi đám con dại tám đứa. Anh Nguyễn Hiền-Đức kể tôi nghe rằng, cứ mỗi lần ngồi ở phòng 412 Nội Xá Vạn Hạnh mà nhắc đến Tản Đà là anh Bùi Giáng đều nổi giận khi nói về cung cách đối xử của ông chủ bút Nam Phong Tạp Chí với Nguyễn Khắc Hiếu. Mỗi lần như thế là Trung Niên Thi Sĩ lại điên tiết lên. Chúng tôi biết tính khí của Trung Niên Thi Sĩ họ Bùi là vậy. Chuyện thường tình thì rất dễ dãi, ai làm gì cũng được, chẳng bao giờ phiền giận. Mà chuyện chữ nghĩa văn chương thì ngô phải ra ngô mà khoai phải ra khoai, cùi bắp phải ra cùi bắp. Không thể cò kè bớt một thêm hai được. Một dấu chấm, một dấu phẩy cũng không tương nhượng. May cho tôi, tuy cũng ở trong phòng đó mà mấy lần ấy tôi lại vắng nhà. Bùi Giáng gọi đó là tấm thảm kịch cuộc đời Nguyễn Khắc Hiếu.</p>
<p>Ông còn ví cuộc đời Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu với Thúy Kiều của cụ Nguyễn Du. <em>Kiều ơi em còn may mắn chán, em bạc mệnh cho trọn kiếp cũng đành. Tấm tình em chàng Kim có thấu. Chữ hiếu của em bà con cô bác có hiểu rồi. Mười lăm năm gió bụi càng làm sáng tỏ nỗi đau đớn của lòng em… Thuở sinh thời thở than cho phận mình em có hiểu, nghìn năm sau trên đất Việt còn những người tài hoa bạc mệnh gấp nghìn em.</em></p>
<p>Thương cho người đi trước, Trung Niên Thi Sĩ viết: <em>Tấm lòng người thơ vốn là món hàng ế. Bán thì người ta không biết giá, mà cho họ nhận cũng chẳng ra tuồng… Đem giấc mộng con mà nói với Phạm Quỳnh. Đem giấc mộng lớn mà nói với Nguyễn </em><em>V</em><em>ăn Vĩnh… </em></p>
<p>Tản Đà cũng từng làm chủ báo, nhưng do cung cách sống và làm việc kiểu thi sĩ, chỉ lấy chữ tín làm đầu nên báo cứ bị đình bản. Có lúc nghèo khổ quá ông phải đăng quảng cáo kiếm việc trên báo: “Nhận làm thuê các thứ văn vui, buồn, thường dùng trong xã hội”. Cũng không khá hơn, ông mở các lớp dạyQuốc văn hàm thụ, Hán văn diễn giảng nhưng không có học trò. Rồi túng quẫn phải mở gian hàng đoán số tử vi Hà Lạccũng không có khách.</p>
<p>Tản Đà qua đời ngày 07.06.1939 (ở tuổi 50) vì bệnh gan, để lại vợ và tám đứa con.</p>
<p>Trong phạm vi bài này tôi không muốn đi sâu vào cuộc đời của thi sĩ. Nhưng khi nhắc đến cái ngông của Tản Đà thì cũng xin nhắc lại câu chuyện ngắn, được cụ Nguyễn Hiến Lê kể lại trong tác phẩm “Mười câu chuyện Văn chương”.</p>
<p><em>Khoảng bốn chục năm trước, cụ Tản Đà phàn nàn rằng “văn chương hạ giới rẻ như bèo.” Lời đó tác giả Vũ Trọng Phụng thốt ra thì phải hơn. Vì cụ Tản Đà còn có lần nhờ cây bút mà sống khá phong lưu. Lần đó Diệp Văn Kỳ ra một tờ nhật báo, đón cụ vô Sài Gòn giữ mục thi đàn, cung phụng cụ rất chu tất: một căn phòng riêng, bữa nào cũng có rượu và đồ nhắm, đi đâu thì có xe, và chỉ xin cụ mỗi tuần cho một bài thơ thôi, mà có kì bị thúc giục, cụ còn gắt lên: <strong>“Làm thơ chứ đâu phải bổ củi</strong>!” Thời kỳ đó tuy không bền, được đâu sáu bảy tháng hay nhiều lắm non một năm, nhưng dù sao cụ vẫn còn sướng hơn Vũ Trọng Phụng.<a href="#_ftn2" name="_ftnref2"><strong>[2]</strong></a></em></p>
<p>Quay lại bài thơ tài tình trong hàng khối các bài thơ tuyệt diệu của Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu.</p>
<p><em>Nước non nặng một lời thề</em></p>
<p><em>Nước đi đi mãi không về cùng non</em></p>
<p><em>Nhớ lời “nguyện nước thề non”,</em></p>
<p><em>Nước đi chưa lại non còn đứng không.</em></p>
<p><em>Non cao những ngóng cùng trông,</em></p>
<p><em>Suối khô giòng lệ chờ mong tháng ngày.</em></p>
<p><em>Xương mai một nắm hao gầy,</em></p>
<p><em>Tóc mây một mái đã đầy tuyết sương.</em></p>
<p><em>Trời tây ngả bóng tà dương,</em></p>
<p><em>Càng phơi vẻ ngọc nét vàng phôi pha.</em></p>
<p>Nước mãi đi, non vẫn còn đứng đó. Và vẫn chờ. Chờ là chuyện non coi như là chuyện dĩ nhiên, không than van. Lệ đã khô cạn, tóc cũng bắt đầu điểm đôi ba sợi trắng. Tấm thân thiếu nữ xinh đẹp ngày nào bây giờ cũng đã héo mòn vì chờ đợi. <em>Xương mai một nắm hao gầy, Tóc mây một mái đã đầy tuyết sương</em>. Rồi những buổi chiều hoàng hôn đổ xuống, khi ru con ngủ chinh phụ làm sao không da diết nhớ đến kẻ ra đi. <em>Trời tây ngả bóng tà dương, Càng phơi vẻ ngọc nét vàng phôi pha. </em>Đó là hình ảnh của cô Út tôi mà bây giờ nghĩ lại tôi còn hình dung đôi chút. Nhưng đó cũng là hình ảnh NON nhớ NƯỚC. Trời tây ngả bóng, bóng dáng non trong buổi chiều vàng hoàng hôn càng phơi thêm vẻ đẹp.</p>
<p><em>Non cao tuổi vẫn chưa già,</em></p>
<p><em>Non thời nhớ nước, nước mà quên non.</em></p>
<p><em>Dù cho sông cạn đá mòn,</em></p>
<p><em>Còn non, còn nước, vẫn còn thề xưa.</em></p>
<p>Lẽ tất nhiên tấm lòng của người ở lại, có chút trách móc. Có khi tự hỏi, không biết lúc nước đi biền biệt nước đã quên non chăng? Nhưng chỉ là lời trách rất nhẹ. Và một lời tin tưởng: <em>Còn non, còn nước, vẫn còn thề xưa</em>. Người chinh phu dù có biền biệt rồi cũng quay về, vẫn nhớ lời thề xưa.</p>
<p><em>Non xanh đã biết hay chưa?</em></p>
<p><em>Nước đi ra bể lại mưa về nguồn.</em></p>
<p><em>Nước non hội ngộ còn luôn,</em></p>
<p><em>Bảo cho non chớ có buồn làm chi.</em></p>
<p>Nước đi tưởng như biền biệt nhưng có lúc phải quay về nguồn. Trong một ý nghĩa khác, cuộc hội ngộ này vẫn luôn luôn xảy ra trong từng giờ từng phút: <em>Nước non hội ngộ còn luôn.</em> “Còn luôn”, chữ dùng sao mà khéo và tài tình vậy!</p>
<p><em>Nước kia dù hãy còn đi,</em></p>
<p><em>Ngàn dâu xanh tốt non thì cứ vui.</em></p>
<p><em>Nghìn năm giao ước kết đôi, </em></p>
<p><em>Non non nước nước không nguôi lời thề.</em></p>
<p>Đọc đến mấy câu này của Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu có lúc tôi lại nghĩ theo hoàn cảnh mình: cái ngàn dâu mà thi sĩ nói chính là hiện thân chú bé em họ tôi. Trong bao năm chiến tranh dai dẳng còn có bao nhiêu người chinh phụ khác nữa chứ. Cô Út lo và cưng cậu con trai hết mực. Cộng thêm sự bảo bọc của ông nội tôi, cậu bé ấy muốn gì cũng được chiều, kể cả lúc cậu hứng chí đòi nhai thuốc tể (thuốc bổ) của ông, ông cũng cho. Sau này đi nhiều nơi, tôi có thấy khác hơn chút. Tôi đã thấy nhiều cánh rừng trải dài theo triền núi, thấy nhiều đồng lúa chạy dưới chân núi. Đó chính là những sứ giả của nước gởi về non. Đó là những hiện hữu của nước bên non.</p>
<p>Và phải chăng, non đứng đó nhưng non cũng mãi đi? Non đã đi nhưng non vẫn luôn đứng đó. Non là chỗ dựa của 50 đứa con theo mẹ Âu Cơ lên núi. Nước là dòng chảy của 50 đứa con theo cha Lạc Long Quân đi về biển cả. Non vĩ đại nước bao la. Non và Nước là Rồng là Tiên.</p>
<p>Một trăm trứng sinh ra một trăm con trong cùng một chiếc bọc. Bởi thế con thứ “không một” hay “chín chín” cũng đều là con. Bởi thế trong nước có non, trong non có nước. Trong cả hai bình diện tư tưởng lẫn thực tế. Thi sĩ đã chẳng may sinh và sống trong buổi giao thời, bị quá nhiều sức ép của các bậc đồng môn, đồng sàng. Tản Đà với chất ngông có tự trong lòng không thể luồn cúi nên càng bị bủa vây. Càng bị bủa vây thì lại càng ngông.</p>
<p>Tóm lại, bài thơ chở tư tưởng của Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu, là bức tranh tuyệt đẹp vẽ lên bao nhiêu mối tình của kẻ chinh phu người chinh phụ trong xã hội Việt Nam của mình. Ở đây, tôi cảm nhận trí tuệ của thi sĩ, bằng lời thơ đã giải thích được bước luân chuyển của NƯỚC. Khi đầu nguồn, khi góc bể, khi cao xanh!</p>
<p>Trung Niên Thi Sĩ Bùi Giáng nhận xét thật tinh tế khi so sánh thi tài của Tản Đà với Nguyễn Du, anh xem là một bước tiếp của thiên tài Nguyễn Du:</p>
<p><em>“</em><em>Nước kia dù hãy còn đi; Ngàn dâu xanh tốt non thì cứ vui. Tản Đà đã bước thêm một bước để cho hồn thơ Tố Như được nối tiếp trong dư hưởng âm thầm. Kiều Kim, Kiều Thúc, Kiều Từ, ba mối tình dở dang cùng ngân lên trong một vần thơ của Tản Đà, cùng sáng lên để cùng giao thoa cho một thành tựu.</em><em>”</em>(Bùi Giáng, sđd.)</p>
<p>***</p>
<p>Tính đến năm nay (2019) thi sĩ Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu đã giã từ cõi đời này đúng 80 năm, sau 50 năm ở dương thế. Không biết trong 80 năm qua thi sĩ đã lưu lạc về đâu, đã ở nơi đâu? Đã đi “Hầu trời” hay ở “Cung Quế”? <a href="#_ftn3" name="_ftnref3">[3]</a>. Trên Cung Quế của Hằng Nga chắc thi sĩ vẫn nhìn xuống đây, xem thiên lạ điên cuồng múa may và… cười</p>
<p><em>Đêm thu buồn lắm! Chị Hằng ơi!</em></p>
<p><em>Trần thế em nay chán </em><em>nữa</em><em> rồi.</em></p>
<p><em>(&#8230;)</em></p>
<p><em>Rồi cứ mỗi năm rằm tháng tám.</em></p>
<p><em>Tựa nhau trông xuống thế gian, cười.</em></p>
<p>Riêng thi sĩ Bùi Giáng thì quả quyết rằng ông đã biết thi sĩ Tản Đà đang ở đâu. Anh viết trong sách đã dẫn:</p>
<p><em>Mai sau, ta về địa ngục, ta sẽ tìm ông Hiếu để thăm, thì sổ hộ tịch cõi âm sẽ không có ghi tên ông Hiếu. Ta ngạc nhiên hỏi vậy thì ông Hiếu đi đâu? Người ta sẽ trả lời rằng còn đi đâu nữa! Không ở Hoàng Tuyền thì tất nhiên là ở Bích Lạc. Rồi chầy ngày chầy tháng, sẽ có những trích tiên ở trên trời bị đày xuống cho ta hay rằng trên Thiên Đường quả có một vị Thiên Thần cao tốt với tên là Nguyễn Khắc Hiếu, trong những yến tiệc ở Thiên Cung vẫn luôn luôn ngồi cùng bàn với Thượng Đế. Ông Hiếu ngồi bên hữu, cùng với Nguyễn Du và Chu Mạnh Trinh. Bên tả có Chiêu Quân, Thúy Kiều, Olivia Curtiss (&#8230;)</em></p>
<p>Vô tình tôi kết thúc bài này hôm nay cũng vào ngày 06.06.2019, ngày giỗ thứ 80 của thi sĩ. Tôi cung kính ghi lại vài dòng để tạ ơn người kỹ-sư-thi-sĩ tài ba Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu, người đã bắc thành công một chiếc cầu. Chiếc cầu nối hai giai đoạn của văn học Việt Nam, của cái khúc chuyển mình đau đớn văn học. Không có cái cầu đó là cả nền văn học thi ca của chúng ta hôm nay đã phải… rớt sông!</p>
<p>Xin thành kính đốt một nén hương lòng, kính viếng anh linh một bậc tài hoa của văn học nước nhà. Xin cúi đầu trước một bài thơ tuyệt tác Non Non Nước Nước.</p>
<p><strong>Văn Công Tuấn</strong></p>
<p><em>(Trích: Chớ Quên Mình Là Nước)</em></p>
<p><a href="#_ftnref1" name="_ftn1">[1]</a> Bùi Giáng: <em>Giảng luận về Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu</em>. NXB Tân Việt. Ghi lại theo Audiobook, Hướng Dương đọc.</p>
<p><a href="#_ftnref2" name="_ftn2">[2]</a> Nguyễn Hiến Lê: <em>Mười câu chuyện Văn chương</em>. NXB Văn Học, 2009</p>
<p><a href="#_ftnref3" name="_ftn3">[3]</a> Tựa của bài thơ <em>Hầu Trời</em> và ý bài thơ <em>Muốn làm thằng Cuội</em> của Tản Đà.</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>©T.Vấn 2020</p>
]]></content:encoded>
					
					<wfw:commentRss>https://t-van.net/van-cong-tuan-khoi-tinh-nuoc-nuoc-non-non/feed/</wfw:commentRss>
			<slash:comments>0</slash:comments>
		
		
			</item>
	</channel>
</rss>

<!--
Performance optimized by W3 Total Cache. Learn more: https://www.boldgrid.com/w3-total-cache/?utm_source=w3tc&utm_medium=footer_comment&utm_campaign=free_plugin

Page Caching using Disk: Enhanced 

Served from: t-van.net @ 2026-07-12 04:56:16 by W3 Total Cache
-->