<?xml version="1.0" encoding="UTF-8"?><rss version="2.0"
	xmlns:content="http://purl.org/rss/1.0/modules/content/"
	xmlns:wfw="http://wellformedweb.org/CommentAPI/"
	xmlns:dc="http://purl.org/dc/elements/1.1/"
	xmlns:atom="http://www.w3.org/2005/Atom"
	xmlns:sy="http://purl.org/rss/1.0/modules/syndication/"
	xmlns:slash="http://purl.org/rss/1.0/modules/slash/"
	>

<channel>
	<title>văn học &#8211; T.Vấn và Bạn Hữu</title>
	<atom:link href="https://t-van.net/tag/van-h%e1%bb%8dc/feed/" rel="self" type="application/rss+xml" />
	<link>https://t-van.net</link>
	<description>Văn Học và Đời Sống</description>
	<lastBuildDate>Mon, 17 Nov 2025 22:27:55 +0000</lastBuildDate>
	<language>en-US</language>
	<sy:updatePeriod>
	hourly	</sy:updatePeriod>
	<sy:updateFrequency>
	1	</sy:updateFrequency>
	<generator>https://wordpress.org/?v=6.7.5</generator>

<image>
	<url>https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2022/02/t-van-favicon.png?strip=all&#038;resize=32%2C32</url>
	<title>văn học &#8211; T.Vấn và Bạn Hữu</title>
	<link>https://t-van.net</link>
	<width>32</width>
	<height>32</height>
</image> 
	<item>
		<title>Trần Doãn Nho: TRÒ CHUYỆN VỚI NHÀ VĂN NGUYỄN LỆ UYÊN</title>
		<link>https://t-van.net/tran-doan-nho-tro-chuyen-voi-nha-van-nguyen-le-uyen/</link>
		
		<dc:creator><![CDATA[Nguyễn Lệ Uyên]]></dc:creator>
		<pubDate>Wed, 19 Nov 2025 07:04:00 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Góc Văn]]></category>
		<category><![CDATA[văn học]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://t-van.net/?p=85019</guid>

					<description><![CDATA[ Từ trái: Nguyễn Lệ Uyên &#8211; Trần Doãn Nho &#8211; Hoàng Dũng (Hình: NLU) Trần Doãn Nho (TDN): Anh viết văn từ trước 1975. Sau 1975, anh vẫn tiếp tục viết, khi đăng chỗ này, khi đăng chỗ kia. Có khi nào anh tự hỏi anh thuộc về &#8220;nền&#8221; văn học nào không? Văn học [&#8230;]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<div class="wp-block-image">
<figure class="aligncenter size-full"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2025/11/xraeHNNa-image001.jpg?strip=all&w=2560"><img fetchpriority="high" decoding="async" width="704" height="528" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2025/11/xraeHNNa-image001.jpg?strip=all" alt="" class="wp-image-85020" srcset="https://cdn.t-van.net/2025/11/xraeHNNa-image001-300x225.jpg 300w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2025/11/xraeHNNa-image001.jpg?strip=all 704w" sizes="(max-width: 704px) 100vw, 704px" /></a></figure></div>


<p class="has-text-align-center"><strong> </strong><em>Từ trái: Nguyễn Lệ Uyên &#8211; Trần Doãn Nho &#8211; Hoàng Dũng (Hình: NLU)</em></p>



<p class="has-text-align-center"></p>



<div style="height:30px" aria-hidden="true" class="wp-block-spacer"></div>



<p class="has-text-align-center"></p>



<p><strong>Trần Doãn Nho (TDN)</strong>: Anh viết văn từ trước 1975. Sau 1975, anh vẫn tiếp tục viết, khi đăng chỗ này, khi đăng chỗ kia. Có khi nào anh tự hỏi anh thuộc về &#8220;nền&#8221; văn học nào không? Văn học miền Nam? Văn học hải ngoại? Văn học trong nước? Ở giữa?</p>



<p><strong>Nguyễn Lệ Uyên (NLU</strong>): Trước ngày đứt gãy, đoạn trường tôi cũng có năm, mười truyện ngắn đăng trên các tạp chí văn học&nbsp;ở Sài Gòn như một sự thôi&nbsp;&nbsp;thúc để giải tỏa nhu cầu, cảm xúc trong đầu chớ không nghĩ mình là nhà văn nhà viết gì cả. Cụ Jean-Paul Sartre có phân biệt (giữa)&nbsp;écrivan&nbsp;và&nbsp;écrivain!</p>



<p>Đứt quãng hơn 10 năm mới rị mọ cầm bút trở lại y như sự đòi hỏi sinh lý, không nín nhịn được, nhưng chẳng đâu vào đâu:&nbsp;&nbsp;truyện gửi đi khi báo biếu gửi về, lật ra đọc lại thì thấy một nửa của mình, nửa kia của ai đó, y như khuôn mặt các cô gái sau khi make up, đến tẽn tò!</p>



<p>Miền Nam,&nbsp;Hải&nbsp;ngoại, trong nước… chỉ là cách phân định nơi cư trú cho người viết do lịch sử đưa đẩy; còn khi viết là vì nghệ thuật, vì cái đẹp từ những đam mê không thể dứt bỏ chứ không vì chủ nghĩa này nọ như tiêu chí dưới logo báo Văn nghệ&nbsp;Việt Nam! Khái niệm Miền Nam, Trong nước, Hải ngoại chưa bao giờ hiện hữu trong đầu&nbsp;&nbsp;khi ngồi viết. Nhưng nghĩ và viết chàng hảng như vài ba ông nhà văn cũ đang chơi trò nhí nhố cỏ lau (chữ của&nbsp;Phạm Ngọc Lư) thì tôi không chịu nổi.&nbsp;Tôi nghĩ chỉ có dòng văn học Việt nam duy nhất chia hai nửa: tự do và cung đình. Anh nào thích tung hê, ca ngợi sự lừa bịp, dối trá thì cứ việc; còn sống và tự do viết theo cảm xúc riêng tư như một giá trị nội tại thì anh cứ việc, dẫu trong hay ngoài nước. Tôi luôn tự hỏi mình viết được gì chứ chưa bao giờ nghĩ mình thuộc về dòng văn học nào.</p>



<p><strong>Trần Doãn Nho (TDN)</strong>: Écrivan và écrivain, anh nhắc lại một chuyện khá lý thú, một đề tài nho nhỏ đã từng được đề cập đâu đó trên một vài tạp chí văn chương miền Nam thời trước 1975. Đại khái, Sartre cho rằng “écrivan” là người viết chỉ để mà viết và “écrivain” là nhà văn, là người nhập cuộc, dấn thân, viết để thay đổi xã hội. Dù không nói ra, tôi đoán là anh khiêm tốn tự nhận mình là “écrivan”, không phải “écrivain”. Nhưng nhắc nhở để nhớ một thời cho vui thôi, xin không dám lạm bàn về chuyện này, vì nằm ngoài đề tài.</p>



<p>Chỉ xin anh nói rõ thêm ý của Phạm Ngọc Lư về cái gọi là “viết chàng hảng” và “nhí nhố cỏ lau” để chỉ một số nhà văn nào đó. Có phải Phạm Ngọc Lư muốn nói về thái độ “hàng hai” của những nhà văn này?</p>



<p><strong>NLU</strong>: Có một thời gian khá dài, Phạm Ngọc Lư sống và dạy học tại Tuy Hòa, nơi anh viết những tác phẩm để đời,&nbsp;tiêu biểu là bài thơ&nbsp;<em><strong>Biên cương hành</strong></em>, cùng lúc với Y Uyên,&nbsp;đã thành danh với gần mươi tác phẩm về chiến tranh lấy bối cảnh tại vùng đất&nbsp;&nbsp;này. Lư luôn trân trọng tất cả các bạn văn cùng thời. Nhưng sau ngày đứt gãy, tan tác… có một số quay sang làm “nhà văn 75” viết những bài thơ, truyện ngắn sặc mùi tụng ca, cùng lúc phủ nhận những gì mình viết trước đó. Tới khi Internet tràn vào Việt Nam, đám người này lại vừa viết những tác phẩm ca ngợi những điều không thật đến lố bịch cho các báo văn nghệ địa phương; Và cũng con người đó, lại thấy xuất hiện những bài thơ, truyện ngắn trên các trang mạng Hải ngoại, quay thẳng 180 độ! Phạm Ngọc Lư gọi hiện tượng này là “nhí nhổ cỏ lau”, là&nbsp;“chàng hảng”, hàng hai không chút liêm sỉ, khó chấp nhận!</p>



<p><strong>TDN</strong>: Cách anh phân chia hai dòng văn học Việt Nam hiện nay, “tự do” (ám chỉ văn học haỉ ngoại) và “cung đình” (ám chỉ văn học trong nước), tuy không hẳn là mới, nhưng lạ. Tôi hoàn toàn đồng ý với anh, khi viết, ta viết về cuộc sống y như là cuộc sống chứ không viết cho bất cứ một “nền” văn học nào. Tuy nhiên, viết xong, nhà văn phải chọn lựa chỗ thích hợp để công bố tác phẩm của mình chứ?</p>



<p><strong>NLU</strong>: Tất nhiên, mỗi một nhà văn đều có một thái độ lựa chọn nơi tương xứng với những “đứa con tinh thần” của mình, đó là cách hành xử của riêng từng cá nhân. Đã là nhà văn, người luôn xiển dương cái Đẹp đến cho độc giả thì luôn có nhân cách cao đẹp; vì vậy họ tự biết phải đặt tác phầm đã dốc hết tâm huyết của mình vào nơi nào thích hợp. Cái liêm sỉ của người cầm bút là thái độ lựa chọn đúng đắn chứ không thể đánh đổi bằng những câu hô hào, lừa mị để bảo toàn cuộc sống. Tôi rất kính trọng nhân cách nhà thơ Hữu Loan, nhưng thỉnh thoảng ngồi nhấm nháp lại “Chén trà trong sương sớm” của cụ Nguyễn Tuân sao thấy có chút gì nghèn nghẹn từ những ám ảnh trong tập bút ký “Hà Nội ta đánh Mỹ giỏi” của cụ!</p>



<p><strong>TDN</strong>: Đâu chỉ có Nguyễn Tuân, anh. Và cũng không mấy ngạc nhiên khi có những nhà văn miền Nam 54-75 biến mình thành &#8220;nhà văn 75&#8221; để được tồn tại. Có lẽ (nói như Sartre) họ chọn làm những &#8220;écrivans&#8221; chăng?</p>



<p>Cũng may, cuộc cách mạng kỹ thuật, với Internet, đã xuất hiện kịp thời, đúng lúc, tạo cơ hội cho những nhà văn (và độc giả) trong nước phá vỡ được thế trận &#8220;cung đình&#8221;. Từ chỗ chỉ biết chịu đựng hoặc làm lơ, họ có chỗ chọn lựa để đọc hoặc để viết. Anh đã &#8220;lựa chọn nơi tương xứng với những ‘đứa con tinh thần’ của mình&#8221; như thế nào? Và vào lúc nào?</p>



<p><strong>NLU</strong>: Internet xuất hiện tại Việt Nam, với tôi như một giấc mơ… rồi sau đó vớ được cái&nbsp;máy tính&nbsp;đời 2.0 hay 3.0 gì đó là chiếc phao cho người sắp chìm dưới bùn đất: lập email, liên lạc với bạn bè; mày mò tìm kiếm có, bạn gửi cho địa chỉ các trang mạng có. Giữa&nbsp;&nbsp;đám mây mênh mông kia, mọi thứ diễn ra ngoài sự mong đợi, Tây Ta đủ bộ. Như anh Mán trên rừng lần đầu được ngậm cục đá trong miệng, có khi đọc quên bữa; gặp lại người viết cũ, mới… Được một thời gian ngắn thì số lớn các trang (nước ngoài) bị chặn vì các trang này bị cho là thế lực thù địch, tuyên truyền chống phá Nhà nước… Lại phải khổ sở vất vả cầu cứu cách trèo tường, y chang mấy nhóc hồi xưa trộm ổi, me chua…. Đúng lúc các người anh em Khăn Rằng lao máy bay đánh sập hai tòa tháp&nbsp;ở Nữu Ước ngày 11/9/2001&nbsp;khiến cả thế giới bàng hoàng, thì bất ngờ Phạm Văn Nhàn, Trần Hoài Thư và chị Nguyễn Ngọc Yến (bà xã anh Thư), kẻ trước người sau gọi thăm hỏi sau hơn 30&nbsp;năm&nbsp;mất dấu! Khởi từ bữa đó, tôi bắt đầu gửi những gì viết được cho tạp chí “Thư Quán Bản Thảo” và các tạp chí khác, từ tạp văn ba trợn đến truyện, đến các tác giả&nbsp;&nbsp;Miền Nam tôi yêu thích… kết nối được với các bạn văn cũ, mới; biết thêm các ông nhà văn Miền Nam tha hương nhưng không đoạn trường, cắt đứt dòng văn học 54-75, làm sống dậy những Văn, Văn Học, Khởi Hành, Văn Nghệ,&nbsp; Hợp Lưu, Thế Kỷ XXI… trên đất khách. Đọc mà ứa nước mắt, bồi hồi nhớ lại thuở vàng son của dòng văn học Miền Nam bị thanh đao Bát Lê băm lìa oan nghiệt!</p>



<p>Những tờ báo (giấy) văn học lần lượt đình bản, nhưng các trang mạng (văn học) thì vẫn hiên ngang tồn tại, có mòi ngày càng nhiều, càng khởi sắc kiểu “<em>bách hoa tề phóng xuân mãn viên</em>” (trăm hoa đua nở xuân đầy vườn), nên cũng cuốn theo, hăng say viết, gửi. Có trang còn dành độc quyền: bản thảo gửi cho A làm ơn không gửi&nbsp;cho B&nbsp;hay các trang khác… Có khi&nbsp;Ban Biên Tập&nbsp;thực hiện một chuyên đề nào đó thì hối thúc, cuống cuồng làm nhớ lại bầu không khí mấy ông viết&nbsp;<em>feuilletons</em>&nbsp;cho các tờ nhựt trình ở Sài Gòn ngày nào: hối hả phóng xe mang bản thảo giao cho các tòa soạn để kịp&nbsp;dàn trang, bỏ quên gói thuốc, ly bia uống dở trên bàn!</p>



<p>Bài viết là những hữu thể có hình hài, tay chân, mắt mũi, mập mạp ốm o đủ cả…&nbsp;&nbsp;&nbsp;Nhưng các trang mạng giúp nó sinh ra trên các đám mây chỉ có thể dùng thị giác mà đọc chớ không rờ mó được, không ngửi được mùi mực in, không thấy những chỗ bôi đen, đục trắng! Có điều, nhịp điệu sinh hoạt văn nghệ đó diễn ra cũng nhộn nhịp, tưng bừng; cũng háo hức chờ đợi khi cuối bài mở đóng ngoặc đơn còn tiếp, y chang như độc giả chờ ông Hàn Giang Nhạn dịch từng kỳ truyện kiếm hiệp của Kim Dung&nbsp;ngày trước!</p>



<p><strong>TDN</strong>:&nbsp;Như thế, mãi đến đầu thế kỷ 21, anh mới biết đến văn học hải ngoại. Một số trong bọn tôi, nhờ chương trình H.O, nên may mắn được tiếp cận sớm hơn, khoảng đầu thập niên 1990. Dù muộn màng, nhưng anh thật hăng say. Các bài viết của anh xuất hiện khá đều đặn trên các tạp chí văn học hải ngoại. Tôi còn nhớ đã từng tham gia một cuộc thảo luận bàn tròn về 20 năm Văn Học Miền Nam mà anh là điều hợp viên, sau được in trên tạp chí “Thư Quán Bản Thảo” số 63 (2/2015), khiến có người tưởng anh đang sinh sống ở hải ngoại.</p>



<p>Thật cảm động khi được anh cho biết, “<em>nhịp điệu sinh hoạt văn nghệ</em>&nbsp;[ở hải ngoại]&nbsp;<em>đó diễn ra cũng nhộn nhịp, tưng bừng</em>”, khiến anh “<em>đọc mà ứa nước mắt, bồi hồi nhớ lại thuở vàng son của dòng văn học Miền Nam…</em>”, để rồi từ đó, anh “<em>hăng say viết, gửi</em>”.</p>



<p>Văn học hải ngoại, như thế, là sự “nối dài” hay là sự “tái hiện” Văn Học Miền Nam hay là một “nền” văn học hoàn toàn khác, theo anh?</p>



<p><strong>NLU</strong>: “Nối dài” và “tái hiện”? Nội hàm của hai khái niệm này vừa giống nhưng cũng có chút khác biệt.</p>



<p>Cứ theo nguyên nghĩa thì&nbsp;<strong>nối dài</strong>&nbsp;là làm liền lại những vật, sự vật bị đứt lìa, gãy khúc; trong khi&nbsp;<strong>tái hiện</strong>&nbsp;gần giống với tái chế, tức chế&nbsp;&nbsp;tạo lại những sản phẩm bị hư hỏng, phế&nbsp;&nbsp;thải; nhưng đồng thời cũng có thể hiểu là&nbsp;làm cho một sự vật, sự việc, hình ảnh, cảm xúc, hoặc một trạng thái đã từng tồn tại xuất hiện lại một lần nữa.&nbsp;Nó có thể hiểu là sự khôi phục, làm sống lại, hoặc tái tạo một thứ gì đó đã từng diễn ra hoặc đã từng tồn tại trong quá khứ.&nbsp;Hiểu theo cách giải thích này, thì tái hiện là khôi phục lại, làm sống lại, tạo ra một phiên bản mới. Cụ thể là làm lại, phục chế lại cái đã mất. Vì vậy, tôi nghĩ, từ&nbsp;<strong>tái hiện</strong>&nbsp;gần với hoạt động trên bề mặt trạng thái tĩnh, thụ động; trong khi&nbsp;<strong>nối dài</strong>&nbsp;là một hoạt động cụ thể, sống động, ngay trước mắt.</p>



<p>Nói rằng văn học Hải ngoại là sự tái hiện của văn học Miền Nam không sai. Nhưng theo tôi văn học Hải ngoại là sự nối dài của văn học Miền Nam (VHMN) như một sự tiếp nối liên tục, không bị gãy gập khi chia phân kỳ do biến cố lịch sử 75 để lại. Vì rằng, nền văn học Miền Nam giai đoạn&nbsp;54-75&nbsp;chỉ bị gián đoạn chứ không hề biến mất để các anh chị em cầm bút vì điều kiện chính trị, kinh tế, nhân phẩm…khi định cư ở nước ngoài, phải khôi phục, tái hiện nó (VHMN), tạo ra dòng văn học hải ngoại?</p>



<p>Trong lịch sử Việt Nam thời chia đôi đất nước năm 1954, các văn nghệ sĩ miền Bắc di cư vào Nam đâu có khôi phục, tái hiện lại dòng văn học giai đoạn 1930 – 1954? Họ chỉ mang hồn cốt của Tự Lực Văn&nbsp;Đoàn, Hàn Thuyên, Tân Dân, Xuân Thu… tạo dựng một nền văn học mới mẻ hơn, tiếp cận với các khuynh hướng, trào lưu nghệ thuật phương Tây. Nhóm Sáng Tạo với Mai Thảo, Mặc Đỗ, Thanh Tâm Tuyền, Nguyễn Sỹ Tế… tiên phong cho sự thay da đổi thịt này trên cái nền cũ của dòng văn học trước 54.</p>



<p>Rồi đến giai đoạn tan tác gãy đổ 75, hầu hết các văn nghệ sĩ miền Nam bỏ nước ra đi vì nhiều nguyên do khác nhau, mà tiêu biểu là tự tìm cho chính mình và cộng đồng di tản, bầu không khí thật sự tự do, nhân văn với mọi khuynh hướng sáng tạo nghệ thuật mà không bị câu thúc, ràng buộc, chỉ đạo một chiều.</p>



<p>Như vậy, theo tôi, dòng văn học hải ngoại là sự TIẾP NỐI cho dòng văn học Miền Nam bị bức tử. Dòng văn học mới này, với sự sáng tạo đa chiều, đa khuynh hướng, làm mới, cách tân cả nội dung lẫn hình thức, tiếp cận với văn học phương Tây mà không đánh mất bản sắc Việt, tạo dựng một sinh hoạt phong phú từ thơ, văn, hội họa, nghiên cứu phê bình… Nhiều tác giả trẻ khi định cư ở nước ngoài chỉ mới mươi, mười hai tuổi, cách biệt với bầu không khí đậm&nbsp;sắc màu&nbsp;Việt Nam, thậm chí nói tiếng mẹ đẻ còn chưa sõi, nhưng bước vào thế giới văn chương, trong sự phát triển chung, họ đã có cái riêng, viết nên những tác phẩm gây tiếng vang lớn trên văn đàn thế giới. Đọc họ, ta không tìm thấy kiểu ông Tây bà Đầm viết văn Việt, ngược lại vẫn phảng phất mùi khói đồng, cá kho&#8230; đó là trường hợp của Nguyễn Thanh Việt, Ocean Vuong, Linda Lê, Kim Thúy, Mai Ninh, Ninh Kiều&#8230; làm cho nền văn học Việt Nam&nbsp;rực rỡ, bề thế hơn.</p>



<p>TDN: &#8220;Nối dài&#8221; xuất hiện trong một số bài viết ở hải ngoại để chỉ sự &#8220;tiếp nối&#8221; (chữ của anh) nền văn học bị &#8220;bức tử&#8221; của miền Nam. Hai chữ này là &#8220;thuật ngữ&#8221; do sử gia Tạ Chí Đại Trường đẻ ra trong hồi ký cải tạo “Một khoảnh VNCH nối dài” của ông.</p>



<p>&#8220;Tái hiện&#8221; là chữ chợt đến với tôi khi nghĩ đến công trình của Trần Hoài Thư mà một số anh em, kể cả tôi, đã dùng để mô tả nỗ lực không ngưng nghỉ của Trần Hoài Thư cho đến khi anh ấy từ giã cỏi đời: “Phục hồi di sản văn học miền Nam”. Qua hơn hai thập niên, Trần Hoài Thư cùng với bà xã là chị Ngọc Yến và một số nhà văn khác đã cất công sưu tầm trong các thư viện Hoa Kỳ rồi xuất bản hay đăng lại tác phẩm của những tác giả miền Nam, đồng thời phục dựng/giới thiệu lại các tạp chí văn chương miền Nam.</p>



<p>Dựa theo các ý kiến anh đã phát biểu ở trên, có thể tạm nêu lên mấy tính cách của văn học hải ngoại như sau:</p>



<p>&#8211;&nbsp;&nbsp;tiếp nối và phục hồi văn học miền Nam (54-75) là nền văn học bị nhà cầm quyền tìm cách tiêu diệt ở trong nước</p>



<p>&#8211;&nbsp;&nbsp;sáng tạo, cách tân văn chương cả nội dung lẫn hình thức, vừa tiếp nhận văn học phương Tây vừa giữ gìn bản sắc Việt.</p>



<p>Phải vậy không anh?</p>



<p><strong>NLU</strong>: “Tiếp nối” thì chính xác, bởi sinh hoạt này đa dạng, đa chiều. Bất cứ nơi nào có cộng đồng người Việt cư trú là nơi đó có người viết, có báo giấy, báo mạng thậm chí có cả nhà in, nhà xuất bản, phát thanh, truyền hình… bùng nổ, rầm rộ như thập niên 60, 70 (thế kỷ 20) của Sài Gòn thủ đô văn nghệ! Có phải đây là dòng máu di truyền của người Việt chăng? Vì, hiện tượng&nbsp;&nbsp;này cũng khá giống với&nbsp;&nbsp;dân Do Thái thời thế chiến II, với dòng máu tài chánh ăn sâu vào tận huyết quản nên nơi nào có độ năm, bảy người Do Thái là nơi đó có chuyện cho vay, mua bán đổi chát tiền tệ? So sánh này quả là&nbsp;&nbsp;khập khiễng, nhưng để thấy rằng&nbsp;&nbsp;người Việt mình mê văn chương hò hát đến cỡ nào? Những năm còn sống ở Nam bộ, tối tối tôi vẫn nghe các bà mẹ ru con bằng cách đọc thơ Lục Vân Tiên, Phạm Công-Cúc Hoa, Thoại Khanh-Châu Tuấn&nbsp;&nbsp;cùng những điệu hò trải dài trên các kênh rạch… Nó ăn sâu vào từng vi ti huyết quản rồi, như truyện “Bài ca vọng cổ” của Tiểu Tử viết về cậu thanh niên lai Tây đen, sống ở Côte d’Ivoire, giữa trưa&nbsp;&nbsp;nắng cháy da ở phi trường Touba, bỗng nổi cơn nhớ nhà nhớ quê da diết bèn cất giọng hát một câu vọng cổ nghe đến cháy lòng “Mấy nếp nhà tranh ẩn mình sau hàng tre rủ bóng… đang vươn lên ngọn khói…á…lam…à…chiều…”</p>



<figure class="wp-block-embed"><div class="wp-block-embed__wrapper">
https://www.namkyluctinh.org/tuyen-tap/tieu-tu/tuyen-tap/bai-ca-vong-co.html
</div></figure>



<p>Riêng khoản phục dựng các di sản Văn Học Miền Nam tôi thấy chưa thật đồng đều, đa phần dưới dạng&nbsp;<em>flipbook</em>, đọc không mấy thoải mái, như khi đọc&nbsp;<em>flipbook</em>&nbsp;Nam Phong tạp chí, Bách Khoa, tìm cho ra bài cần đọc, trích dẫn vô cùng mất thời gian. Nhưng trước vụ&nbsp;<em>flipbook</em>&nbsp;thì Talawas đã cho đánh máy và post lại hàng loạt tác phẩm văn học, các tư liệu quý của văn học Miền Nam, của thời Nhân Văn Giai Phẩm; rồi đến Trần Hoài Thư ngồi vá lại những tác phẩm văn học, các tờ báo văn nghệ (Bách Khoa, Văn, Khởi Hành, Tình Thương, Sáng Tạo&nbsp;, Giữ Thơm Quê Mẹ… bị (VC) tiêu hủy thì đúng là kỳ công, như vị cứu tinh cho độc giả và các nhà nghiên cứu! Một vài năm gần đây chưa thấy cá nhân, tổ chức nào ta tay phục dựng lại các tác phẩm trước 75 một cách bài bản?</p>



<p>Về sáng tạo, cách tân, tiếp nhận và gìn giữ, ngoại trừ dòng thơ Tân Hình Thức tôi không tài nào bắt cái đầu mở ra những dây thần kinh để hiểu và cảm xúc; còn lại đa phần các bộ môn khác mới mẻ hơn, hiện đại hơn, đang tiến gần với điểm phát triển của văn học phương Tây. Ví dụ mới đây tiểu thuyết Thuyền của Nguyễn Đức Tùng đang làm “dậy sóng” cả trong và ngoài nước. Khoảng gần 20 bài (tôi đọc được) viết về Thuyền! Chuyện gì đang xảy ra vậy? À, thì ra là&nbsp; một câu chuyện kể về chuyến vượt biển; và chiếc Thuyền như nhân vật chính, mang theo bao nhiêu là cay đắng cuộc đời? Câu chuyện phi tuyến tính; hiện tại và quá khứ đan xen nhau, chính xác là hiện tại đang diễn ra luôn cõng quá&nbsp;&nbsp;khứ trên lưng trong gần 370 trang giấy. Không có chương hồi, chỉ phân mảnh như những truyện nhỏ ghép lại, liên kết với nhau bằng những cảm xúc lặn sâu dưới tầng đáy não bộ để lắng nghe mùi hương, những thổn thức, những mất mát, sự cô đơn, dằn vặt, đau xé cõi lòng… một cách lặng lẽ, không ồn ào; chữ tiếp chữ, câu tiếp câu như đường bay của một bài thơ đẹp, như những bức tranh siêu thực.&nbsp;&nbsp;Nguyễn Đức Tùng thành công ở chỗ xây dựng tác phẩm mới lạ về cấu trúc, sắp xếp trật tự thành hình tháp ngược, càng xa càng rộng. Rồi đến Kim Thúy với “Ru”&nbsp;&nbsp;hay Linda Lê với “Vượt sóng”, Ocean Vuong với tiểu thuyết “On Earth We&#8217;re Briefly Gorgeous” (xuất bản ở Việt Nam với tựa “Một thoáng ta rực rỡ ở nhân gian”)… mỗi tác giả xây dựng tác phẩm theo phong cách riêng,&nbsp;&nbsp;ngôn ngữ riêng, nhưng thảy đều toát ra hơi ấm của văn hóa Việt trong từng chương, đoạn… như một bài thơ của Ocean Vuong viết bằng tiếng Anh, tôi đọc được trên mạng:</p>



<p><em>Ngoại tôi hôn&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;&nbsp;</em></p>



<p><em>như thể bom đang nổ ở sân sau nhà,</em></p>



<p><em>nơi bạc hà và hoa lài thả hương</em></p>



<p><em>qua cửa sổ bếp…</em></p>



<p><em>ngoại hôn như thể để hít lấy</em></p>



<p><em>bạn vào bên trong bà, mũi ép vào má</em></p>



<p><em>để mùi của bạn được biết đến</em></p>



<p><em>và mồ hôi bạn đọng lại thành những giọt vàng</em></p>



<p><em>trong phổi,</em></p>



<p>&nbsp;Một cậu bé đến Mỹ chỉ mới hai tuổi, cách ly hoàn toàn với đời sống văn hóa, phong tục tập quán Việt Nam, bập bẹ tiếng Việt Như trẻ lên ba, thơ truyện đều viết bằng tiếng Anh, nhưng từng câu chữ đều toát ra cái hồn rất Việt Nam, rặt “<em>mùi Việt Nam</em>”, lấy lại tựa đề một truyện ngắn của Trần Doãn Nho! Chắc phải nhờ đến các nhà nhân chủng, di truyền học giải thích mới rõ ràng hơn?</p>



<p><strong>TDN</strong>: Nhân câu hỏi của anh, “Một vài năm gần đây chưa thấy cá nhân, tổ chức nào ta tay phục dựng lại các tác phẩm trước 75 một cách bài bản?”, tôi xin nói rõ, văn học hải ngoại hoàn toàn là một “nền” văn học miễn phí, hiểu từ mọi khía cạnh. Làm chủ biên các tạp chí văn học (giấy cũng như mạng), đứng ra xuất bản sách hay viết lách, sáng tác, phục dựng văn học vân vân, chỉ trừ một số trường hợp rất hiếm hoi, còn thì gần như một trăm phần trăm đều xuất phát từ nỗi đam mê văn chương của từng cá nhân, “ăn cơm nhà vác lá ngà cho quan”: không ai tài trợ, không lương, không nhuận bút, không bán lấy lời…</p>



<p>Xin trở lại với đề tài chính. Theo anh, “có thể nào” hay “có cần thiết không” khi ta nói đến chuyện hai nửa rất khác biệt nhau của dòng văn học Việt Nam hiện nay, “tự do” và “cung đình”, cùng nhập lại? Hay nói một cách khác, khi nào thì dòng “cung đình” hết cung đình và dòng “tự do” được thong dong đi vào trong nước một cách thoải mái?</p>



<p><strong>NLU</strong>: Một câu hỏi quá khó cho người được/bị hỏi, mà lẽ ra nên hỏi cho các vị ở “Trên”, trên cả chủ tịch và ban chấp hành Hội Nhà văn Việt Nam nữa kìa? Họ luôn hô hào hòa giải hòa hợp, họ luôn yêu quý và mong ngóng Khúc ruột Ngàn dặm, nhưng nhân tài ngày càng tìm đến Chốn xa xôi để an trú, thi thố sở học; bỏ lại phía sau một khoảng mênh mông&nbsp;&nbsp;cho các vị&nbsp;có học hàm học vị cao ngất, nói giỏi làm dốt trong mọi lĩnh vực!</p>



<p>Trên hiện thực quá nhiều vị mặn và đắng chát kia thì anh hỏi cái vụ “cùng&nbsp;&nbsp;nhập lại” như một giấc mơ có ngày được ôm thân thể kiều diễm Hằng Nga trong vòng tay, đặt nụ hôn bỏng cháy trên đôi môi thơm ngọt của nàng!</p>



<p>Tôi nhớ, không lầm, thì khoảng thập niên 90 (thế kỷ 20), tuần báo Văn nghệ của hội Nhà Văn&nbsp;&nbsp;Việt Nam có đi một số truyện, thơ của các nhà văn thời danh miền Nam trước 75 như bước mở đường cho sự hòa nhập kia. Mười mấy năm sau, ông Hữu Thỉnh, được sự chỉ đạo của “Trên” mở một hội nghị hòa hợp văn học tại Hà Nội, chủ yếu là mời các nhà văn Việt Nam ở nước ngoài về dự. Anh Phan Nhật Nam đã phản hồi thư mời của ông Hữu Thỉnh với&nbsp;&nbsp;lời lẽ rất “Mùa hè đỏ lửa”. Không ai về nước dự, chỉ lèo tèo vài ba ông và nhớ&nbsp;có một vị viết “huyên thuyên” về triết học, một vị khác – có một bài “đấu tố” cha mình trên Văn Nghệ – lên&nbsp;đọc tham luận nhưng nhạt nhẽo, vô vị hơn nước ốc!&nbsp;“Hội nghị Hòa hợp Dân tộc về Văn học” (6/4/2017) đã thất bại ngay từ trứng nước!</p>



<p>Anh hỏi: “khi nào thì dòng “cung đình” hết cung đình và dòng “tự do” được thong dong đi vào trong nước một cách thoải mái?” Xin thẳng thắn thưa ngay rằng: khi nào thực sự tự do theo đúng nghĩa, khi nào nhân phẩm của con người được tôn trọng, khi nào “Đệ tứ quyền” không bị dán băng keo và Tam Quyền phân lập rạch ròi, dù cho thể chế có là cộng sản, cộng hòa, xã hội hay dân chủ chi chi nữa… thì ngoài trong không còn là vấn đề mà, chỉ có MỘT DÒNG VĂN HỌC VIỆT NAM DUY NHẤT.</p>



<p><strong>TDN:&nbsp;</strong>Cám ơn anh Nguyễn Lệ Uyên.</p>



<p>8/2025</p>



<p></p>
]]></content:encoded>
					
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Nguyễn Hưng Quốc &#8211; VỀ VĂN HỌC MIỀN NAM 1954-1975 (1)</title>
		<link>https://t-van.net/nguy%e1%bb%85n-h%c6%b0ng-qu%e1%bb%91c-v%e1%bb%81-van-h%e1%bb%8dc-mi%e1%bb%81n-nam-1954-1975-1/</link>
					<comments>https://t-van.net/nguy%e1%bb%85n-h%c6%b0ng-qu%e1%bb%91c-v%e1%bb%81-van-h%e1%bb%8dc-mi%e1%bb%81n-nam-1954-1975-1/#respond</comments>
		
		<dc:creator><![CDATA[TV và BH]]></dc:creator>
		<pubDate>Wed, 23 Jul 2014 21:47:45 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Vòng Quanh Thế Giới Ảo]]></category>
		<category><![CDATA[tv&bh]]></category>
		<category><![CDATA[văn học]]></category>
		<category><![CDATA[vòng quanh]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://7076e870b2.nxcli.io/?p=18492</guid>

					<description><![CDATA[(Nguồn: Diendantheky.net) Trong lịch sử văn học Việt Nam hiện đại, từ đầu thế kỷ 20 đến nay, có lẽ không có giai đoạn nào chịu nhiều bất hạnh như giai đoạn từ 1954 đến 1975 ở miền Nam. Theo nhà văn Võ Phiến, đó là nền văn học được đánh dấu bằng hai cuộc [&#8230;]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<h5></h5>
<p><a href="http://1.bp.blogspot.com/-Z8BohB63m2I/U88ESIZVlMI/AAAAAAAAg34/VEaoOtlSnYg/s1600/books1.jpg"><img decoding="async" style="float: none; margin-left: auto; display: block; margin-right: auto;" src="http://1.bp.blogspot.com/-Z8BohB63m2I/U88ESIZVlMI/AAAAAAAAg34/VEaoOtlSnYg/s1600/books1.jpg" alt="" width="400" height="290" border="0" /></a></p>
<h3><a href="http://www.diendantheky.net/2014/07/nguyen-hung-quoc-ve-van-hoc-mien-nam.html" target="_blank">(Nguồn: Diendantheky.net)</a></h3>
<p>Trong lịch sử văn học Việt Nam hiện đại, từ đầu thế kỷ 20 đến nay, có lẽ không có giai đoạn nào chịu nhiều bất hạnh như giai đoạn từ 1954 đến 1975 ở miền Nam. Theo nhà văn Võ Phiến, đó là nền văn học được đánh dấu bằng hai cuộc di cư: một, cuộc di cư của gần một triệu người từ Bắc vào Nam; và hai, cuộc vượt biên ồ ạt của cả triệu người hoặc trên đường bộ, băng qua Campuchia hoặc trên biển cả với cả mấy trăm ngàn người bị chết hoặc do hải tặc hoặc do bị đắm thuyền.<br />
<a name="more"></a></p>
<p>Chưa hết. Giữa hai cuộc di cư khổng lồ ấy là một cuộc chiến tranh kéo dài, hầu như triền miên, giữa hai miền Nam và Bắc. Cũng là chiến tranh, nhưng cuộc chiến tranh chống Pháp trước đó, dù sao, cũng nhiều màu sắc anh hùng ca hơn: Đó là cuộc chiến tranh chống ngoại xâm. Bao nhiêu oán thù đều dồn, chủ yếu, về phía những người ngoại chủng. Còn chiến tranh giữa hai miền Nam và Bắc thì khác. Dân chúng miền Bắc có thể nghĩ đó là cuộc chiến chống ngoại xâm với mục tiêu chính là Mỹ. Nhưng với dân chúng miền Nam thì đó chỉ là một cuộc nội chiến giữa hai anh em một nhà. Tâm trạng của họ, khi tham gia hoặc khi chứng kiến cuộc chiến ấy khác hẳn ở miền Bắc. Khác ở những thao thức và day dứt trước cảnh huynh đệ tương tàn. Giới cầm bút không thể thoát khỏi tâm trạng ấy.</p>
<p>Vẫn chưa hết. Bi kịch thực sự của văn học miền Nam thời 1954-75 chủ yếu là giai đoạn sau 1975.</p>
<p>Hầu hết các cuốn sử hoặc hồi ký về giai đoạn hậu 1975 ở miền Nam đều tập trung chủ yếu vào chính sách lùa các sĩ quan và công chức thuộc chính quyền cũ vào các trại học tập cải tạo, chính sách đánh tư sản mại bản, chính sách ép dân đi kinh tế mới, chính sách dùng hộ khẩu và sổ lương thực để kiểm soát dân chúng, v.v… Nhiều người quên đi một đối tượng mà chính quyền mới sau năm 1975 rất quan tâm, thậm chí, có thể nói, một trong những điều họ quan tâm nhất: văn học nghệ thuật, đặc biệt là văn học.</p>
<p>Trước khi ra lệnh đóng cửa các công ty xí nghiệp tư nhân, chính phủ đã ra lệnh đóng cửa toàn bộ các nhà xuất bản và các nhà sách cũng như quốc hữu hoá hầu như ngay tức khắc các nhà in. Trước khi ra lệnh đổi tiền, chính quyền đã ra lệnh tịch thu toàn bộ sách báo cũ. Cùng lúc với việc bắt bớ các sĩ quan và công chức trung và cao cấp của chính quyền cũ, chính quyền mới tìm bắt hầu hết những cây bút ít nhiều dính líu đến chính trị còn lại trong nước. Trong trại cải tạo, chỉ có giới cầm bút là bị giam giữ lâu nhất, ngang ngửa với các sĩ quan cấp tướng: trên dưới 10 năm.</p>
<p>Không những chỉ có tác giả bị bắt, ngay cả các tác phẩm của họ cũng bị “bắt”. Chiếm Sài Gòn ngày 30 tháng 4 năm 1975, chỉ hơn 3 tháng sau, Bộ Thông tin Văn hoá đã ra chỉ thị cấm lưu hành các tác phẩm bị xem là phản động hay đồi truỵ. Một số chỉ thị có nội dung tương tự lại được lặp lại với những tên sách cụ thể hơn trong các năm sau đó. Trong số những tác giả bị cấm toàn bộ, có những người ít nhiều viết về chính trị hoặc chiến tranh như Võ Phiến, Doãn Quốc Sỹ, Mai Thảo, Nguyễn Mạnh Côn, Duyên Anh, Chu Tử, Hồ Hữu Tường, Nguyên Sa, Nhã Ca, Phan Nhật Nam, Thế Uyên, v.v… Đã đành. Ngay cả những người hầu như chỉ viết thơ tình như Đinh Hùng, Hoàng Hương Trang hay truyện tình như Tuý Hồng, Nguyễn Thị Hoàng, v.v… cũng bị cấm. Cấm, dưới tên tác giả, dường như sợ chưa đủ rõ ràng, người ta còn soạn ra một danh sách dài loằng ngoằng gồm tên tác phẩm của từng người.</p>
<p>Bắt tác giả và cấm tác phẩm. Cũng chưa đủ. Người ta còn tổ chức các cuộc hội nghị để vu khống, xuyên tạc và bôi nhọ văn học miền Nam. Ngoài ra, người ta còn viết bài đăng trên các tạp chí cũng như xuất bản thành sách để tiếp tục công việc vu khống, xuyên tạc và bôi nhọ ấy. Nội dung của chiến dịch vu khống, xuyên tạc và bôi nhọ ấy khá giống nhau; giới cầm bút tại miền Nam nếu không ăn tiền của Mỹ thì cũng tuân theo các chỉ thị của chính quyền Việt Nam Cộng Hoà dùng ngòi bút của họ như một vũ khí chống cộng. Nếu không chống cộng thì cũng làm sa đoạ con người bằng thứ văn chương đồi truỵ nhầy nhụa mùi xác thịt. Ngay cả với những tác giả hoàn toàn không dính líu gì đến chính trị, không viết về tình dục, chỉ viết về tình yêu một cách đầy thơ mộng của tuổi học trò cũng bị vu cho cái tội tâm lý chiến: ru ngủ tuổi trẻ, để không ai còn quan tâm đến đất nước cả. Như vậy, viết về chính trị: có tội; không viết về chính trị: cũng có tội. Với lối quy chụp như thế, hầu như không có ai trong giới cầm bút miền Nam thời 1954-1975 có thể được xem là có lý lịch sạch cả.</p>
<p>Nếu việc bắt bớ và cầm tù các tác giả miền Nam là một chính sách trả thù đối với những người hoặc chống đối hoặc không theo cộng sản trong thời chiến tranh, việc tịch thu và thiêu huỷ sách báo miền Nam là một nỗ lực ngăn chận ảnh hưởng của chúng để trong đầu óc dân chúng không có gì ngoài thứ văn học họ gọi là chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa, trong đó, chỉ có hai màu: hồng cho cách mạng và đen cho các lực lượng phản cách mạng. Riêng việc vu khống, xuyên tạc và bôi nhọ được thể hiện trong các cuộc hội nghị cũng như trên sách báo lại nhắm chủ yếu vào người đọc, nhằm tẩy não người đọc để mọi người xem văn học miền Nam không có gì khác ngoài tính chất đồi truỵ và phản quốc.</p>
<p>Trong ba mục tiêu ấy, có lẽ chỉ có mục tiêu trả thù nhắm vào giới cầm bút miền Nam của chính quyền mới là thành công. Thành công ở số người cầm bút bị chết trong nhà tù hoặc ngay sau khi rời khỏi nhà tù: Vũ Hoàng Chương, Hồ Hữu Tường, Nguyễn Mạnh Côn, Nguyễn Hoạt và Dương Hùng Cường. Thành công ở chỗ giam thật lâu, thật lâu, đến trên 10 năm, một số những người viết văn và làm thơ như Trần Dạ Từ, Tô Thuỳ Yên và Phan Nhật Nam. Còn mục tiêu thứ hai, tiêu huỷ các tác phẩm văn học của miền Nam, có lẽ họ chỉ thành công có mức độ nhờ hai yếu tố: Một là dân chúng, vì yêu mến nền văn học ấy, cố tình cách giấu giếm hoặc mua bán lén lút với nhau; và hai là nhờ cộng đồng người Việt ở hải ngoại tìm cách sưu tập và tái bản khá nhiều, ít nhất là những tác phẩm ăn khách nhất.</p>
<p>Riêng mục tiêu thứ ba, nhằm nhồi sọ dân chúng, tôi ngờ là họ không thành công mấy. Tôi không tin là những người từng sống ở miền Nam có thể tin vào các luận điệu tuyên truyền rẻ tiền của chính phủ. Tôi tin điều ngược lại: chính phủ càng lên án văn học miền Nam một cách ầm ĩ bao nhiêu, càng lôi kéo sự chú ý của dân chúng vào nền văn học ấy bấy nhiêu. Tôi biết có nhiều người, từ miền Bắc vào Nam sau năm 1975, cố tìm kiếm các tác phẩm văn học miền Nam để đọc. Nhà văn Dương Thu Hương có lần kể, sau năm 1975, điều khiến bà ngạc nhiên và, sau đó, làm thay đổi hẳn cách suy nghĩ về chính trị của bà chính là các tác phẩm văn học, cả sáng tác lẫn dịch thuật, mà bà được đọc tại Sài Gòn khi đi thăm gia đình.</p>
<p>Trong các lần về thăm Việt Nam trước đây, tôi gặp nhiều người cầm bút ở miền Bắc. Trong đó có khá nhiều người bày tỏ sự ngưỡng mộ đối với một số cây bút miền Nam thuở trước, đặc biệt là Thanh Tâm Tuyền và Bùi Giáng, về thơ; Phạm Công Thiện về triết học, Võ Phiến về tuỳ bút, và Dương Nghiễm Mậu về tiểu thuyết. Tuy nhiên, sự ngưỡng mộ của họ hầu như chỉ được bày tỏ trong các cuộc chuyện trò quanh bàn nhậu. Trừ Bùi Giáng, hầu như không có ai được nghiên cứu một cách thấu đáo và công bình trong bất cứ một công trình phê bình nào cả.</p>
<p>Nói một cách tóm tắt, nền văn học miền Nam giai đoạn 1954-75, cho đến nay, ít nhất với độc giả trong nước, vẫn là một nền văn học bất hạnh: sau khi bị tịch thu và bôi nhọ, nó tiếp tục bị chôn vùi vào quên lãng.</p>
<p>Do đó, tôi tin cuộc hội thảo về nền văn học ấy do hai tờ nhật báo Người Việt và Việt Báo cùng với hai tờ báo văn học mạng Tiền Vệ và Da Màu được tổ chức tại California vào tháng 12 năm nay là một điều cần thiết.</p>
<p>Thật ra, nó cũng khá muộn. Nhưng muộn còn hơn không.</p>
<p>***</p>
<p><strong>THÔNG BÁO HỘI THẢO VỀ VĂN HỌC MIỀN NAM 1954-1975</strong></p>
<p>Trong hai mươi năm, từ 1954 đến 1975, văn học Miền Nam đã đạt được nhiều thành tựu lớn không những trong lãnh vực sáng tác mà còn trong các lãnh vực dịch thuật, phê bình, lý luận và nghiên cứu. Tiếc, sau khi chiến tranh kết thúc, những người cầm bút nếu không bị bắt bớ thì cũng bị cấm hoạt động, sách báo nếu không bị tiêu hủy thì cũng bị cấm lưu hành, các thành tựu nếu không bị xuyên tạc và bôi nhọ thì cũng bị vùi vào quên lãng. Một số cây bút ở hải ngoại đã tìm cách để phục hồi nền văn học ấy nhưng tất cả đều là những nỗ lực cá nhân. Một cuộc hội thảo về nền văn học ấy, do đó, là một điều vô cùng cần thiết.</p>
<p>Không những cần thiết, nó còn khẩn thiết. Hiện nay, tất cả những cây bút tài hoa và có nhiều đóng góp nhất vào nền văn học Miền Nam trong giai đoạn 1954-75, nếu còn sống, đều đã luống tuổi. Thời điểm này hầu như là cơ hội cuối cùng để nhiều người trong họ có thể lên tiếng về nền văn học do chính họ góp phần xây dựng.</p>
<p>Nhận thức sự cần thiết và khẩn thiết ấy, hai nhật báo Người Việt và Việt Báo cùng với hai tờ báo mạng về văn học Tiền Vệ và Da Màu sẽ cùng nhau tổ chức một cuộc hội thảo về văn học miền Nam 1954-1975 tại Little Saigon, California, Hoa Kỳ trong hai ngày 6 và 7 tháng 12 năm 2014.</p>
<p>Cuộc hội thảo sẽ nhắm vào các mục tiêu chính:</p>
<ul>
<li>Cố gắng nhận diện một số đặc điểm nổi bật nhất trong văn học Miền Nam.</li>
<li>Đánh giá lại những thành tựu chính của văn học Miền Nam trong toàn cảnh văn học Việt Nam nói chung.</li>
<li>Tìm hiểu, phân tích và đánh giá các chính sách đối với văn học Miền Nam của chính quyền Việt Nam sau năm 1975.</li>
<li>Tìm hiểu, phân tích và đánh giá các nỗ lực duy trì và phục hồi văn học Miền Nam của các tác giả hải ngoại.</li>
<li>Tưởng niệm một số cây bút tài năng đã qua đời (có người qua đời trong lao tù hoặc ngay sau khi ra khỏi trại tù).</li>
</ul>
<p>Nhắm đến các mục tiêu trên, đề tài hội thảo sẽ bao gồm một số khía cạnh chính:</p>
<ul>
<li>Sinh hoạt văn học Miền Nam (điều kiện sáng tác, quan hệ giữa văn học và chính trị, giữa Việt Nam và thế giới, v.v…)</li>
<li>Phân tích một số thành tựu, đặc điểm và hiện tượng nổi bật nhất (kể cả hiện tượng các cây bút nữ hoặc các cây bút miền Nam cũng như các cây bút trong quân đội; các tạp chí văn học &amp; các giải thưởng) của văn học Miền Nam.</li>
<li>Nhìn lại văn học Miền Nam trong toàn cảnh văn học Việt Nam hiện đại</li>
<li>Tìm hiểu các chính sách của nhà cầm quyền Việt Nam sau 1975 đối với văn học Miền Nam (tác giả &amp; tác phẩm)</li>
<li>Tìm hiểu các nỗ lực cứu vãn và phục hồi các tác phẩm văn học Miền Nam ở hải ngoại sau 1975.</li>
</ul>
<p>Muốn biết thêm chi tiết, xin liên lạc: Nguyễn Hưng Quốc tuan.nguyen@vu.edu.au, Đinh Quang Anh Thái dinh.thai@nguoi-viet.com, Hoàng Ngọc-Tuấn hoangngoctuan@optusnet.com.au, và Đặng Thơ Thơ dangthotho@aol.com.</p>
]]></content:encoded>
					
					<wfw:commentRss>https://t-van.net/nguy%e1%bb%85n-h%c6%b0ng-qu%e1%bb%91c-v%e1%bb%81-van-h%e1%bb%8dc-mi%e1%bb%81n-nam-1954-1975-1/feed/</wfw:commentRss>
			<slash:comments>0</slash:comments>
		
		
			</item>
		<item>
		<title>TV&#038;BH : Nhật K&#253; T&#236;nh Ảo của một &#212;ng Gi&#224; của Ngộ Kh&#244;ng Ph&#237; Ngọc H&#249;ng</title>
		<link>https://t-van.net/tvbh-nh%e1%ba%adt-k-tnh-%e1%ba%a3o-c%e1%bb%a7a-m%e1%bb%99t-ng-gi-c%e1%bb%a7a-ng%e1%bb%99-khng-ph-ng%e1%bb%8dc-hng/</link>
					<comments>https://t-van.net/tvbh-nh%e1%ba%adt-k-tnh-%e1%ba%a3o-c%e1%bb%a7a-m%e1%bb%99t-ng-gi-c%e1%bb%a7a-ng%e1%bb%99-khng-ph-ng%e1%bb%8dc-hng/#respond</comments>
		
		<dc:creator><![CDATA[Ngộ Không Phí Ngọc Hùng]]></dc:creator>
		<pubDate>Wed, 20 Mar 2013 14:03:00 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Góc Văn]]></category>
		<category><![CDATA[ngộ không]]></category>
		<category><![CDATA[văn học]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://7076e870b2.nxcli.io/?p=9350</guid>

					<description><![CDATA[Thị Mầu bị đóng đinh – Tranh : Trần Thanh Châu Lời bàn của Kim Quỷ Thán : Thi Trung Hữu Quỷ. Có nghĩa là trong chữ nghĩa có Ma. Ông Ngộ Không bảo vậy. Đọc ông Ngộ bao lâu nay, không cần ông mách nước thi trung hữu quỷ tôi cũng đã “ngộ” được [&#8230;]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: center;"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2013/03/thi-mau.jpg?strip=all"><img decoding="async" class="aligncenter size-full wp-image-13893" title="thi mau" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2013/03/thi-mau.jpg?strip=all" alt="" width="473" height="435" srcset="https://cdn.t-van.net/2013/03/thi-mau-300x275.jpg 300w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2013/03/thi-mau.jpg?strip=all 624w" sizes="(max-width: 473px) 100vw, 473px" /></a></p>
<p align="center"><strong>Thị Mầu bị đóng đinh – Tranh : Trần Thanh Châu</strong></p>
<p><strong>Lời bàn của Kim Quỷ Thán :</strong><strong> </strong><strong></strong></p>
<p>Thi Trung Hữu Quỷ. Có nghĩa là trong chữ nghĩa có Ma. Ông Ngộ Không bảo vậy. Đọc ông Ngộ bao lâu nay, không cần ông mách nước <em>thi trung hữu quỷ</em> tôi cũng đã “ngộ” được điều đó. Đến “ Nhật ký tình ảo của một ông già . . . “ này thì con Ma trong chữ nghĩa của ông Ngộ biến dạng đến độ tôi phải giật mình : Con Ma đang từ một ông gìa sính chữ, miệng khề khà điếu thuốc lào, tay mở toang từng cánh cửa đời với sự điệu nghệ của một người từng “ ngộ “ hốt nhiên trở thành một gã trai si tình, thuộc lòng thơ các thi sĩ tình yêu như thứ vốn liếng cần thiết để bước vào đường tình. Mà người tình đầu sông cuối bãi, đầu bãi cuối sông của ông cũng “ Ma “ không kém. Nàng vừa chính chuyên vừa lẳng lơ như những con Hồ Ly Tinh của Bồ Tùng Linh.</p>
<p>Chữ nghĩa như chữ nghĩa của ông Ngộ khiến người ta ( tôi ) nghi ngờ cả sự hiện hữu của nó. Chữ nghĩa là chữ nghĩa ( chữ và nghĩa ) hay chỉ là chiếc đũa phù phép trên bàn tay ma quỷ của ông Ngộ. Như phù phép của ông trong “ Nhật ký 7 ngày tình ảo của một ông gìa “ có chỗ làm tôi kinh sợ:</p>
<p><em>Và chúng, năm ngón tay bị câu thơ “hãy vì ta, dứt áo” xúi bẩy. Nên chúng bận bịu mày mò…một nút áo ngực…hai nút áo…ba nút…</em></p>
<p><em>Và thoáng như có tiếng chuông chùa vọng lại từ một nơi xa …</em><em></em></p>
<p>Ô hay , sao lại thế ? Sao lại có tiếng chuông chùa khi ngón tay đang lần cởi đến nút áo thứ ba ? độc ác thế hả ông ?</p>
<p>Tại sao không hồn nhiên nhiên hồn như :</p>
<p><em>Cái cúc áo thứ ba được tháo gỡ đủ cho hai bàn tay lùa vào…Hai bàn tay ông đang bận bịu với hai cục u u. Những cái cúc còn lại được giải thoát vội vàng. Bởi ông hay người. Ông vặn óc nghĩ không ra và ghi xuống trang nhật ký viết dở dang: “…Trong giấc ngủ, người nhích người thêm một chút nữa về phía ông. Sát vào ông thêm một chút nữa như hai chiếc lá ướt dính vào nhau&#8230; ‘’.</em><em></em></p>
<p><em>Những cái cúc còn lại được giải thoát vội vàng</em> . Bởi ông hay người ? Chỉ có 4 chữ thôi “ Bởi ông hay người “ đủ chứng minh trong chữ nghĩa của ông Ngộ có con ma thật đáng kinh, đáng kính !</p>
<p>Con ma trong chữ nghĩa ông Ngộ như người tình đầu sông cuối bãi, đầu bãi cuối sông. Nó tha thiết nũng nịu đến “ làm thiu “ cả da thịt khiến mỗi lần đọc ông, người cứ mụ ra, đầu óc điên đảo.</p>
<p>Nhưng ác nỗi, không buông trang sách ông Ngộ xuống được. Ma quỷ thật !</p>
<p>Chẳng trách gì, có những người đàn bà ngộ (độc) chữ “ cố gắng một cách tuyệt vọng “ trong thế giới ảo hàng đêm. Để ông Ngộ có chất liệu mà viết nên “ Nhật ký tình ảo của một ông già “.</p>
<p>T.Vấn</p>
<p>&nbsp;</p>
<h3><strong>Ngộ Không Phí Ngọc Hùng</strong></h3>
<h1><strong>Nhật ký tình ảo của một ông già…</strong></h1>
<p>&nbsp;</p>
<p><em>…ngày…tháng…năm…</em></p>
<p>Nằm trên giường thao thức, loáy ngoáy thế nào chẳng biết nữa, ông bật ra ý nghĩ viết nhật ký không ngày tháng về chuyện người tình cuối sông. Nói cho ngay, ông chưa từng xoay xỏa với nhật ký nên bắt đầu lại từ đầu bằng vào mấy ngày đã qua…Thôi thì giấy bút đây, hãy trang trải với: <em>“</em><em>Hỡi người tình đâu đó &#8211; Một lần gặp trong đời &#8211; Mắt môi đã biểu tỏ &#8211; Nói chi, dẫu một lời!”</em> . Ông nghĩ một ngày nào đấy, người tình đâu đó đọc được với những ngỡ ngàng chẳng thể tránh. Rồi gặp nhau giữa phố chợ, người tình cuối sông nhìn ông và ngó…lơ. Thì cũng đành tạ lỗi thôi…Vì đã là nhật ký thì phải viết cho trọn vẹn, cho đày đặn như cái tình của ông. Chẳng là hơn một lần, ông đã vắng xa, xa vắng với người <em>“</em><em>Này người tình cuối sông &#8211; Nước rong đầy rồi đó &#8211; Hãy giương buồm thong dong &#8211; Đừng vì ta neo ụ”.</em></p>
<p><em></em>Thôi thì cũng đành một lần…neo ụ với những trang nhật ký của một ông già.</p>
<p>&nbsp;</p>
<p><em>***</em></p>
<p>Giữa trưa, ông để hồn đi hoang về một nơi chốn chỉ có…cái giường. Nếu ông nhớ không lầm nhà văn Hery Miller đã cho rằng: <em>“Cái giường không phải để ngủ. Mà là để nói chuyện. Vì ở trên giường, người ta dễ thành thật với nhau nhất”. </em>Bây giờ đây, ông tưởng tượng người đang nằm bên cạnh ông. Trên giường. Người tình cuối sông gối đầu lên cánh tay ông…và cứ ngủ, không cần nghe ông thì thầm…<em></em></p>
<p>Như biết đấy, ông đến với người không vội vã, chẳng hấp tấp. Làm gì phải nháo nhào đâm sầm vào nhau khi mặt trời đất còn nhá nhem khi người tình cuối sông chưa thấy mặt ông. Như người sợ bị lửa&#8230;tam muội đốt cháy qua điện thư:</p>
<p><em>“…Nửa muốn trốn chạy, nửa muốn tới gần, lại thêm lạnh cẳng vì càng gần càng sợ bị lửa&#8230;tam muội đốt cháy. Chừ đọc thư với những lời mật ngọt đúng điệu xứ Bắc, em vừa vui vừa&#8230;thất kinh. Không cách chi chạy lui được nữa rồi, khi ông nhìn em như thấu suốt hết tâm can. Em đang run đây ông, nghĩ tới một ngày nào đó thấy ông trước mặt.., thật không biết làm sao!&#8230;”.</em><em> </em></p>
<p>A! Người bạn văn chương đây rồi, cũng chẳng có gì thúc giục hay đòi hỏi. Có gì mà thôi thúc ở cái tuổi nắng quái chiều hôm này. Ông chậm chạp đến với người, nghe ngóng những âm vọng của những ngày mới lớn. Giống bất cứ ai khác, là ông, là người tình văn chương, hay người tình cuối sông cùng ngu ngơ tình đầu, họ đến với nhau vì khuôn mặt, giọng nói. Vì nét ngây thơ và sự trong trắng quyến rũ, sau đấy họ lấy nhau, sinh con, tạo sự nghiệp…là cũng xong một đời người…là hết. Vậy thôi.</p>
<p>Ấy là chuyện của quá khứ, mây vẫn trôi, ngày vẫn qua đi. Bây giờ bương bả hơn nửa đời người, ông lại đến với người tình cuối sông…Như đã bèo bọt ở trên, bằng những bước chân lặng lẽ cùng những đắn đo, ngại ngùng. Không nói nhưng người hiểu dùm ông chẳng còn trẻ nữa, hiểu theo nghĩa là ông không còn lọng cọng như những ngày mới lớn. Nhiễu sự này, ai mà chẳng hay, nên chữ nghĩa cũng vô ích…</p>
<p>Nghí ngoáy với chữ nghĩa thì ông chẳng quên chuyện cũ ngày nào năm ấy với…<em>một người khác</em> nữa cũng trước là…bạn văn chương, sau là…bạn tình và chót đời là…<em>người tình đầu bãi</em>. Chuyện là cũng qua một bài viết rồi quen nhau, gần gủi nhau. Người tình đầu bãi đã có chồng, rất nhạy cảm trước mọi hoàn cảnh và mơ mộng trong tình yêu đã thủ thỉ với ông: “Có khi chung thủy cũng là một cố gắng tuyệt vọng”. Người tình đầu bãi là một người đàn bà có tâm hồn và biết liều lĩnh như nhà văn nữ Trần Thị NgH., lại biết ngoại tình nên rù rì tiếp: “Ngoại tình là yêu một lần nữa mà không cần phải cố gắng“. Rồi nhỏ to: “Nếu gian díu với đàn ông có vợ là tội lỗi thì đó là một thứ tội lỗi rất quyến rũ”. Vào một ngày không mưa thì nắng, cũng không cần cố gắng lắm, người tình đầu bãi bỏ đi, để ông trong hoang lạnh qua mấy mùa thu chết.</p>
<p>Thế nên hậu sự với người bạn chữ nghĩa hôm nay, Ông bước chậm chạp và âm thầm đến với người. Mỗi bước đi là là một nỗi đau, nghe thì văn vẻ nhưng thực ra là ông bị…đau chân. Cớ sự này, chữ nghĩa gọi là…bệnh già ấy mà.</p>
<p><em>…ngày…tháng…năm…</em></p>
<p>Người tình cuối sông hãy ngủ ngoan, trước khi vào chuyện, hãy để ông hôn nhẹ lên trán một nụ hôn chan chứa những trìu mến. Người vẫn thiêm thiếp ngủ…Ông nhẩm chừng một nhẽ người đang nhủ thầm chuyện gì sau những “thì thầm, thầm thì” tiếp nối. Rõ ra chỉ là chuyện con đường tình ta đi về một nơi chốn không một bóng người. Nhưng có một chiếc giường và chúng mình hai đứa.</p>
<p>Ừ thì hãy trở lại từ đầu bằng vào những ngày đêm thả rong…</p>
<p>Khởi đầu người tình văn chương đến với ông qua cái tình chữ nghĩa, sau đó cả hai lậm dần vào nhau. Một lần người âm u: “…<em>Nhưng cũng cám ơn ông đã gửi bài “Cái Bóng” vừa rồi, một cách tự giới thiệu mình. Cho dù cái “gã thiền giả” dở dở ương ương này có hù dọa người ta, thì bên trong cái ngộ ngộ đó là trí tưởng tượng phong phú. Huống chi &#8220;gã&#8221; lại còn&#8230;thiền đủ thứ, coi mọi sự như qua thì gã là người&#8230;vô hại.</em><em> Có phải &#8220;gã&#8221; nhìn mọi sự như nước chảy mây trôi? Nghi ngờ lắm ! Có lẽ &#8220;gã &#8221; và Phạm Thiên Thư cùng&#8230;một trường phái Thiền, cõng thiếu nữ qua sông, bỏ xuống nhưng không thể phơi phới phất áo ra đi. Hoa mai vẫn mãi mãi hồng thắm, như động hoa vàng mãi mãi vàng hoa. Thì ít ra cũng còn chút gì để làm nguồn cảm hứng, để làm hoa góp mật cho đời có những áng văn, để&#8230;ngẩn ngơ ngơ ngẩn cho ra vẻ&#8230;thiền chứ!&#8230;”</em></p>
<p><em></em>Ông cũng đang<em>&#8230;</em>ngẩn ngơ ngơ ngẩn<em> </em>với chuyên chở của chữ nghĩa với hoa mai vẫn mãi mãi hồng thắm, như động <em>hoa vàng</em> mãi mãi <em>vàng hoa</em>.<em> </em>Ấy là chưa kể người bạn văn chương ngoài nấp bóng, ẩn tuổi ông còn đang mò mẫm làm quen với ông:<em></em></p>
<p><em><br />
Đây cũng là chút chít chắt&#8230;(chiu) thứ thiệt của ông tằng tổ tổ tổ Ngộ Không đây. Và hình dung cũng &#8220;cổ quái&#8221; tương tự&#8230;lão khọm đã gánh dùm phiến đá trên vai thầy thiền để thầy chợt ngộ. Khỉ cái mà già quá cỡ thì gọi là gì? Khỉ khọm? Có lẽ chỉ vậy thôi. Nếu có bản lai diện mục đặt tên, chắc gã sư ông sẽ phán là &#8220;Ngộ Tất&#8221;. Cái gì cũng ngộ tất tần tật nên mọi thứ đều&#8230;không giống ai cả. Nhưng đây&#8230;sẽ không mò đến ngồi cạnh, kéo đầu gã sư ông xuống tìm chấy rận đâu nha. Tìm gì?! Chỉ có Trời mới biết&#8230;</em></p>
<p><em>Mà làm sao mon men lại gần(?) để khều khều &#8220;như muốn làm quen&#8221; được!”.</em><em></em></p>
<p>Chỉ trời mới biết có mấy ai chịu hiểu cho rằng tha nhân sa đà với một mảng văn chương đều là kẻ lạc đường. Bởi vì chỉ những con đường lạc mới dẫn đến chỗ hẹn hò với chữ nghĩa. Có ai đọc văn chương để thấy chữ đâu! Để thấy cái không thấy đằng sau chữ nghĩa. Cái không thấy đó, có thể mỗi người bắt gặp, cũng chỉ thấy cái đó là thực, là <em>không</em> mà <em>có</em>, chữ nghĩa là <em>có </em>mà <em>không</em>. Riêng ông, trong cái không ông tìm thấy cái có: Ông vừa tìm thấy sau một mảng văn chương là một chuyện tình đầu sông cuối bãi. Vậy là ông đã có người tình cuối sông. Người bấy lâu nay ẩn núp sau chữ nghĩa. Đường đời muôn vạn nẻo, ông đang là kẻ lạc đường thì đúng hơn. Đôi khi ông chẳng biết mình sẽ đi về đâu. Nhưng với người ấy, người tình cuối sông… thuyền vừa nhổ neo, cứ để mọi sự đẩy đưa, thuyền trôi theo lái đưa đẩy với nước chẩy theo dòng.</p>
<p>Ông quay sang ngắm người tình cuối sông trong giấc miên trường “<em>Hãy đi, như đã trú &#8211; Ngõ hẹp, phố tồi tàn &#8211; Không đèn, xe ngựa chạy &#8211; Ai đoái hoài dung nhan”</em>. Dung nhan người tình cuối sông sinh động hơn nhìn qua ảnh chụp trên mạng lưới. Ấy là khuôn mặt vừa có những nét trần tục, vừa mang nét không trần thế. Người đang nằm nghiêng, khuôn mặt người tình cuối sông hướng về ông. Tí toáy với chữ nghĩa thì dáng dấp ấy không gợi dục mà gợi cảm, mặc dù chưa một lần thấy trọn vẹn thân thể người tình. Ở cái tuổi tan hoang, với đối tượng, ông chẳng dại gì chui đầu vào cái thòng lọng “còn con gái trẻ đẹp” trong chuyện tình ảo đang…mọc như nấm sau cơn mưa.</p>
<p>Ấy vậy mà cái tình cuối mùa láo nháo đến với ông chẳng thiếu vắng những giao động, những thấp thỏm, những đợi chờ. Ngó ra vườn nhìn trời ngắm mây. Ông lẩn mẩn đi tìm cái đích thực ông muốn đến ở người. Cái mũi ngay trước mặt mà không thấy. Hóa ra nào có khác gì những ông già bà cả, cuối đời đi chùa để mua cái vé đi tắt lên niết bàn mãi ở đâu đâu. Riêng con đường tình ta đi với người tình cuối sông, trải rộng, thênh thang những vô định, những vô ưu. Chẳng là như nhà Phật đã dậy, niết bàn nào tìm đâu xa hay phải đợi hai tấm, bốn tấm vàng tâm mới thấy. Thôi thì cũng đành thì thầm với người rằng niết bàn đang nằm trên giường với ông đây.</p>
<p>Một ngày ông đưa người tình cuối sông vào hạ: <em>“Này người tình dưới phố &#8211; Đại lộ đã lên đèn &#8211; Hãy thoa son đánh phấn &#8211; Đừng vì ta cài then &#8211; Hãy đi, như đã ở”.</em> Người ỉ ôi ngay:<em> “….Á à, ông nói oan cho em quá nhe. Em chỉ làm bộ mời ông ăn phở, xem ông ra sao thôi mờ ! Ai lại xúi dại ông bỏ cái truyền thống tốt đẹp ăn cơm từ ngàn xưa (cho đến ngàn sau) mà ăn cái món phở tuy ngon, đẹp mắt nhưng không thể ăn ngày hai bữa năm này qua tháng nọ…” </em></p>
<p>A! Truyện ngắn ”<em>Tình gác chân mây</em>” mà ông lỡ gửi đến người với ẩn dụ tình cho không biếu không nào đó cũng…xuýt hay. Cái hay là người tình chữ nghĩa đã nắm bắt tuốt tuồn tuột được gia cang nhà ông:<em> “…Nếu có chuyện ấy xảy ra, thế nào bà nhà cũng ng</em><em>ử</em><em>a mặt lên trời mà não nuột than rằng :&#8221;Trời đã sinh cơm sao còn sinh phở !&#8221;. Ông mà ở trong trường hợp này, tự nhiên em thấy&#8230;xấu hổ. Hổng biết sao mà càng nghe ông dặn đừng lạnh cẳng lạnh chân, em càng hồn phi phách tán, hồn bất phụ thể, thể càng lung lay, lay hoài tim muốn rụng. Để em bám chân vào đất cho vững…”.</em></p>
<p><em>…ngày…tháng…năm…</em></p>
<p>Người cựa mình, tóc lùa ra khỏi bờ vai, một mảng da ngập hơi hướng của một người đàn bà chín muồi. Nếu người có hỏi ông “chín muồi” là gì, ông chẳng biết trả lời sao cho thỏa. Và chỉ biết rằng người đây như trái mọng trên cây giữa trời. Trong khi ông đứng dưới đất trông lên, chẳng biết khi nào trái chín rẽ rơi rụng vào tay. Cây dài bóng xế ngẩn ngơ, hồn em đã chín mấy mùa thương đau?<em> </em>Thôi thì người tình cuối sông cứ ngủ với mộng bình thường, quên đi những năm dài “<em>Một dòng sông cạn khô &#8211; Hồn đau đâu tắm mát &#8211; Một cõi đời quạnh cô &#8211; Hãy đi, như đã ngụ”</em>. Người hãy bỏ lại đằng sau những trái sầu rụng rơi để cho ông hôn nơi có khoảng da mọng như trái chín. <em></em></p>
<p>Mới sáng sớm, ông vật vờ với người tình cuối sông vì người mời gọi: <em>“…Sáng sớm đã có người nhắc nhở mình dậy, sướng thiệt. Em đang có cà phê đây, ông có muốn nhấp &#8230;chung với em không hí Để em ẹo qua ẹo lại cho khoan khoái con người cái đã, viết gì tính sau hí.</em><em> </em><em>Ồ, mà có thật ông khoác áo nâu sòng không đấy? Tiếc nhỉ ! Nghe em xúi khôn cởi áo ra đi. Thiền tại tâm mà! Mong lắm thay!&#8230;”</em></p>
<p><em></em>Người tình cuối sông nhắc nhở ông: <em>“…Ông nhớ làm đúng những điều đã viết trong thư nhé, nhưng đừng bắt nạt, đe nẹt, ăn hiếp em nghe. Ăn, thì được. “Hiếp”, xin &#8230;đừng hí. Vì ông vừa&#8230;cởi áo nâu sòng. Em tin và yêu ông, ông yêu của em…”</em><em></em></p>
<p>Ở một cái tuổi nào đó…ông lan man rằng người ta đến với nhau vì hụt hẫng, thiếu vắng. Thì ông đến với người vì những con chữ ngúc nga, ngúc ngắc đầy nhục cảm, ngập nhiễu loạn. <em>Thi trung hữu quỷ</em>, tạm hiểu là trong chữ nghĩa có…ma. Ma đưa lối quỷ dẫn đường người tình văn chương đến với ông. Ông kể lể với người về những…”buông thả” đã qua. Những gì hiện ra trong đầu ông là hình ảnh những người đàn bà trong ký ức. Những gì ông nhớ lại chẳng dính dáng gì đến khoảng thời gian dài hay ngắn với người cũ, với những phóng khoáng, phóng túng của họ. Những gì ông vung vãi, rơi rớt trên họ. Rất may, chỉ một vài lần nắng không ấm đầu, mưa không ướt đất là trôi tuột hết. Những hỗn loạn, hỗn mang của người tình cuối sông lúc này lại không dễ gì tống khứ ra được, cứ bám cứng không rời. Người tình cuối sông khác hẳn họ mà ông đã từng.</p>
<p>Ấy là người tình cuối sông là gái Huế mà ông lọng cọng với “mô, tê, răng, rứa”. Huế có dòng sông Hương. Ông bị cuốn hút mùi hương từ người thật lạ lẫm. Mà cũng lạ như một lần người eo xèo: “<em>Bây giờ thì em ôm chầm lấy ông, không cho ông bận gì cả, được không? Ông ngủ đi, ngủ ngon đi nhé. Cứ tiếc với em một cái hôn hoài hà</em>!”. Để ông rối trí với chữ “<em>bận</em>” của người tình chữ nghĩa. Nào có bận gì đâu, vì ông đang thong dong với ngày trời tháng Bụt mà. Dường như tâm hồn người đang bị nhiễu thì phải.</p>
<p><em>…ngày…tháng…năm…</em></p>
<p>Ông thì thầm sau nụ hôn vội…Người hãy nằm ngủ ngoan như con gà nấp bóng, người không nói. Nhưng làm như thể muốn nói với ông qua điện thư mới hôm nào đây: <em>“…Giờ này em vẫn chưa ngủ được! Chả là vì có nhiều đêm mất ngủ, nên lâu lâu cơ thể đòi bù đắp chỗ…thiếu hụt… Hãy nắm lấy tay em. Tối nay em cứ trằn trọc. Khi thì vui, lúc lại buồn theo những tản bút của ông. Bây giờ em có thể ngủ ngoan được rồi, như con mèo ngái ngủ trong tay ông, thỉnh thoảng khẽ cựa quậy để nhắc nhở ông ôm em sát vào lòng hơn một chút. Hôn ông nhé, em yên tâm nằm ép sát vào người ông&#8230;”</em></p>
<p>Thêm nữa, người thổ lộ rằng người đến với ông như có nghiệp duyên. Ấy là chữ nghĩa lang thang của người. Và ông cứ lếch thếch với “có” và “không” của duyên nghiệp với thân xác ở đâu tới? Tính ở đâu thành? Tính không có thì đâu có thân xác? Thân xác và tính không có thì nghiệp duyên từ đâu mà có? Với chữ nghĩa lỗ mỗ của ông thì tính và thân xác là một. Ấy vậy mà thân xác ông chưa hề thấy. Nhưng tính thì lồ lộ&#8230;</p>
<p>Mà đã là duyên nghiệp thì cũng là lẽ thường tình của đất trời. Hình như cuộc sống đến một lúc nào đó phải chấp nhận những gì<em>…”thường tình”</em> và hãy coi nó như bình thường của đời thường. Ông lọ mọ thêm: Hãy chấp nhận những gì mà người <em>đang có</em> hay <em>sẽ có</em>. Hoặc <em>không.</em> Để chịu đựng qua cơn bão tình, để làm sao biết tìm nơi trú ẩn dưới cơn mưa tình tự. Người tình cuối sông nhắm mắt làm như…ngó lơ, nhíu mày ra điều không…chịu hiểu. Ừ thì cũng chỉ là chuyện bình thường thôi và ông nghĩ thế.</p>
<p>Người tình cuối sông đang trong giấc nồng. Ông bắt gặp môi cười mỉm chi như thể nghe được tiếng rù rì của ông. Nhưng người đâu có hay rằng “<em>Này người tình đầu núi &#8211; Cỏ đã mướt đồi nương &#8211; Đâu cành khô sưởi ấm &#8211; Cho cuộc tình trăm năm”</em>. Vì vậy ông đã phải cất công ngồi ở quán vắng chiều hôm đúng 28 năm hay 10220 ngày (không kể cả đêm) mới gặp được người tình trăm năm. Hay nói một cách khác theo xác suất của một nhà toán học, nếu ông ngồi ở trạm Métro và đếm đến 1 triệu 700 ngàn người…lẻ 1 mới bắt gặp người tình trăm năm trong đám đông, giữa đám đông và người có nhìn thấy ông không. Ừ nhỉ, khi con người đi hết cái vòng đời một trăm năm thì có khác gì được sinh ra một lần thứ hai để bắt đầu một vòng đời mới.<em></em></p>
<p>Ông lắc đầu, rằng có hơi trễ tràng với <em>Nhật ký của một ông già</em>. Ông ngán ngẩm vì đời sống điện toán quá vội vã, ông đuổi theo tình ảo trên mạng lưới muốn hụt hơi. Ấy vậy mà đã mấy ngày trôi qua, ông vẫn lụi đụi chạy sau thời gian…</p>
<p>Và khởi đầu bằng vào một vòng đời mới. Nếu ơn trên cho ông sống đến cái tuổi thất thập cổ lai hy. Ông sẽ bám víu vào người tình cuối sông đến mãn đời, mãn kiếp như cây tầm gửi. Ấy là chưa tính: Ừ thì với cái tuổi già, không có chuyện làm cho qua ngày hay để dựa dẫm theo năm tháng thì…càng ngày càng già đi. Vì vậy ông cần có một cái gì để bám chứ. Và rằng, mọi người quá sai lầm khi cho là đã già thì không còn yêu ai được nữa, mà họ không hề biết chính vì ngừng yêu thương nên họ mới già đi! Với tâm trạng phất phơ của một người đã đi hết chứ không phải tận hưởng hết cuộc đời. Cứ theo ý nghĩ bèo giạt nổi trôi của ông thì không bao giờ được nói hai chữ…chán đời, mà phải sống làm sao cho đời…chán mình. Lại nữa, ai chẳng biết đời là bể khổ…qua được bể khổ là cũng vừa đúng lúc…qua đời đấy thôi.</p>
<p>Với triết lý “đời là bể khổ” và cây tầm gửi “bám víu” vừa khai thông, khai ngộ, thì cũng vừa lúc ông tìm được người tình đầu tiên và cuối cùng (hay cuối đời) của mình…Với người tình trăm năm qua câu thơ <em>trần thế bách niên khai nhãn mộng, </em>hiểu theo nghĩa là<em> </em>cõi trần thế trăm năm chỉ là giấc mơ. Váng vất với giấc mơ của đời người, ông tan trọn vẹn vào đêm giữa ban ngày và đang chơi vơi, ông đang cỏ hoa lạc lối đây. Để rồi một ngày nắng không ấm đầu, mưa không ướt đất, chợt để hồn trốn mây nấp gió với giấc mơ hoang mòn mỏi với tình ở mãi đâu đâu không hẹn mà đến…Vì chẳng bao giờ cạn yêu, ấy vậy mà ông vừa gặp người tình trăm năm, ông đã lao đao, choáng ngợp mỗi khi hình dung đến khuôn mặt đầy cảm tính của người tình cuối sông.</p>
<p>Nói cho ngay, nằm ở cái tuổi tóc muối tiêu mà muối nhiều hơn tiêu thì ai chẳng cần có những dựa dẫm này kia, kia nọ. Ông đang chòng chành trên bến nước trong một ngày ít nắng nhiều mây. Ông đang đợi người tình cuối sông đưa cái sào ra để bám víu. Trở lại với người tình trăm năm và ông. Một ở đầu, một ở cuối thế kỷ. Không còn là đôi đũa lệch nữa mà là cây sào dài để nhảy từ bờ cõi tử sang bờ cõi sinh. Năm ngón tay ông như sinh trưởng và…dài ra. Khúc cuối của bài thơ “<em>Này người tình</em>” của người thơ Đạm Thạch lại hiện về ám chướng ông:<em> Hỡi người tình muôn nơi &#8211; Đừng vì ta bận bịu &#8211; Hãy vì ta, dứt áo &#8211; Nói thêm, ta nghẹn lời! </em>Và chúng, năm ngón tay bị câu thơ “<em>hãy vì ta, dứt áo”</em> xúi bẩy. Nên chúng bận bịu mày mò…một nút áo ngực…hai nút áo…ba nút…<em></em></p>
<p>Và thoáng như có tiếng chuông chùa vọng lại từ một nơi xa vọng về…</p>
<p><em>…ngày…tháng…năm…</em></p>
<p>Mắt ông vướng mắc vào nghiêp chướng sở cuồng…cái cúc áo nằm lệch lạc trên ngực người tình cuối sông. Cái cúc áo ngực được nhẹ nhàng tháo ra…Và thoáng như có tiếng chuông chùa từ đâu đó vang vọng. Nói cho đúng ra âm hưởng chữ nghĩa dăm khoẻn qua một bài viết <em>Cái Bóng</em> mà mới đây ông gửi cho người để dò dẫm:</p>
<p>“…Tiếng “..u..u..u&#8230;” bên vành tai lão cất tiếng thì thầm: <em>“Ới lão ơi. Nói chuyện được không? Ngó lão…thiền sư quá”.</em> Lão sững người. Âm vọng rù rì tiếp: <em>“Tội nghiệp thiền sư. Đang tuổi yêu lại khóac áo nhà chùa tập đời chay tịnh”. </em>Cái bóng nheo mắt có đuôi hấp háy: “<em>Tội gì không để tóc. Ăn mặn. Làm người trần cho sướng cái thân”</em>. Qua ánh đèn mù u cái bóng thoắt đẹp. Thoắt man dại. Diễn tả thế nào cho đúng đây. Lão chỉ thấy cái bóng rất…”ma”. Lão lắp bắp hỏi: “Tên…tên…gì…”. Có tiếng cười khúc khích: <em>“Cứ gọi ông cái tên nào mà thiền sư thích”.</em> Bụt chỉ là cái tên. Lão nhai văn nhá chữ với một chuyện người đi tìm Bụt. Hóa ra Bụt ngay ở ngay trước cửa nhà. Mở cửa là gặp nào tìm đâu xa. Mãi hậu kiếp lão mới đốn ngộ. Chợt cái bóng giọng chùng thấp, âm vọng dư thừa đam mê bí ẩn: <em>“Phúc bất tận hưởng. Thiền sư chọn điểm. Ông chọn giờ…”</em></p>
<p>Tất cả chỉ là một truyện ngắn của ông đi tìm một người tình không tưởng về tự trăm năm mấy năm trước. Bây giờ ông mới gặp và người tình về tự trăm năm hiện đang cận kề bên ông. Mà đã hư cấu, hoang tưởng thì hiện tại với thực thể, thực tế ông có những chập chờn, e dè rằng người tình cuối sông đang nằm đây như không…có thật.</p>
<p>Có hay không chuyện đâu vẫn có đó. Ừ thì người tình cuối sông cứ nằm đấy. Bất động. Người trong giấc đông miên hay giả vờ ngủ, đôi mắt khép nhẹ, hững hờ, chung quanh bao la là mây trời. Môi người mấp máy như…Nói cho đúng ra sau khi bài viết được gửi đi. Lúc này, môi người động đậy như muốn nói với ông: <em>“…Ông là của em rồi đấy, mà vẫn còn nguyên cảm giác xao động êm ả mỗi khi nghĩ tới ông. Vẫn cảm giác xa xôi mà gần gũi, như không như có, để mỗi khi nghĩ tới ông, em lại mỉm cười vì thấy thật ngộ, không tìm mà &#8220;gặp&#8221; được ông. Không còn sự trống vắng mơ hồ nữa, mà là nỗi nhớ làm ngây ngất cõi lòng và rung động thân thể. Sau một ngày xa vắng, giờ này em lại quay cuồng bên ông đây .Hãy mở chăn ra, nằm nghiêng qua và ôm em vào lòng&#8230;Ông có nghe em thì thầm&#8230;</em></p>
<p><em>Ô, hãy khoan cúi xuống gần mặt em, để em cảm thấy làn sóng rung động lan tỏa khắp người, để em nửa muốn nhắm mắt lại khi ông sát gần em hơn, nửa muốn đẩy ông ra một chút vì&#8230;vì..như thế có vội vàng quá không nhỉ !? ..Thôi đừng nghĩ thêm nữa, hình như&#8230;muốn&#8230;.muốn&#8230;.”.</em></p>
<p><em></em>Ngón tay người động đậy, môi người vừa mấp máy. Mặc dù lời câm, nhưng mắt nói vô cùng, mặc dù người tình cuối sông đang thiếp ngủ. Chỉ thiếu…cái gật đầu, để ông hiểu ngầm là đã đến lúc người cho phép ông cởi áo. Cái cúc rời khỏi khuy. Dường như ông đang tìm lại được những ảo ảnh của thời hoa niên, của sinh lực, của cuộc phiêu lãng ắt hẳn là cuối cùng. Trong khi ấy, người mông lung rằng người đang nằm cạnh một người đàn ông xa lạ. Xa mà gần. Giống như ông…Người cũng có những chập choạng, e chừng người đang nằm bên người đàn ông của định mệnh đã sắp sẵn, mà dám như…&#8221;giống như ngủ với một ông Bụt vô hình&#8221; lắm ạ.</p>
<p>Không nói gì, không nghe gì. Nhưng người lại nói lên mọi điều, nghe được mọi điều, trước một người đàn ông ẩn mình sau ông Bụt còn đủ sức lực làm chuyện đàn ông với đàn bà. Chỉ khác một nhẽ, lòng ham muốn tình dục thì như bất cứ ai, rộng vô hạn và sâu không đáy. Thế rồi, chung quanh những ngày nắng quái chiều hôm, những cô gái trẻ đẹp không ngừng ra đời đỏ da thắm thịt. Những bóng xế chiều hôm ấy, niềm khao khát không nguôi về giấc mộng không thành. Những hụt hẫng cùng năm tháng chưa sống mà đã qua đi. Như người hé lộ mới đây: <em>“…Đêm nay, em lên giường một mình, em quấn mền thật chặt cho khỏi trống trải, nhất định phải đọc cả trăm lần A Di Đà Phật để tên ai, hình bóng ai khỏi len vào đầu làm em chảy nước mắt.</em><em> Thôi không nghĩ đến nữa&#8230;Không nghĩ đến nữa nhưng lại muốn hé lộ: Chỉ còn một chỗ duy nhất để chứa cái quý nhất, mà &#8230;hình như đã có người chiếm giữ!</em> <em>Nếu vậy&#8230;nếu vậy&#8230;ông ơi, em vừa&#8230; lạnh cẳng mà cũng vừa nóng cả người lên nè. Em muốn xách dép chạy ù tới bên ông, để thấy ông bằng xương bằng thịt…Thôi ngưng lại, lại lủi thủi đi về  đường xa lăng lắc ,vì&#8230;đâu là Trúc gia trang? Nói chi nữa&#8230;có nói cũng khôn cùng&#8230;”</em><em></em></p>
<p><em>…ngày…tháng…năm…</em></p>
<p>Cái cúc áo thứ hai được buông thả bằng những ngón tay. Ông đang khai phá trên thân thể người tình, và tay nói thay cho người. Vì tay có ngôn ngữ riêng của nó, người chẳng phải nói. Vẫn có một khoảng cách mênh mông vời vợi. Hai thân thể gần nhau nồng nàn, mà khoảng cách hai thân xác là vải vóc cọ vào nhau xột xoạt. Khuôn mặt người tình cuối sông mông lung xa vắng, da thịt người đầy hoang tưởng vắng xa. Chữ là nghĩa. Bên tai, ông thì thầm : Chữ nghĩa của người là…vô ngôn. Bỗng người tình cuối sông thở hắt ra như muốn nói: <em>“Đừng trải phơi ra như vậy. Mất đi chất thiền sư”…”</em>. Cái đầu ông chắt bóp rằng cũng có thể ông là một thiền sư cũng nên. Hoặc giả ông là một gã thiền…giả bên cạnh một nữ thí chủ đang lâm nạn. Là ai cũng được, giả hay thật, nhưng không phải là người đàn ông đang đói khát dục tình. Một khi dục tình ngủ yên thì tình yêu lại thức. Tình yêu thực ra là anh em sinh đôi của tình dục đấy. Vậy đó, thế đấy.</p>
<p>Ừ thì như đã nói “…<em>Và rằng, mọi người quá sai lầm khi cho là đã già thì không còn yêu ai được nữa, mà không hề biết chính vì ngừng yêu đương nên họ mới già đi</em>…”.</p>
<p>Nhưng ai đấy đâu có hay mà chính ông cũng không biết: Ông cứ ngỡ là ở cái tuổi vắng gió đìu hiu thì chẳng còn thể yêu thêm hay yêu lại được nữa. Vì tuổi trẻ đã phung phí, vương vãi tít mù ở đằng sau, đã khuất nẻo với nghìn trùng xa cách. Ấy vậy mà một ngày không nắng cũng chẳng mưa, người đây bất ngờ xuất hiện trên mạng lưới. Người con gái Huế ẩn hiện qua cây sầu đông, để ông hoài cảm từ người tình cuối sông với <em>hồng bay mấy lá năm hồ hết, thơ thẩn kìa ai vẫn đứng trông</em>. Trông ai chưa biết, để rồi thời gian như quạ bay, ông có mặt trong cuộc tình ảo đúng lúc với<em> mơ khách đường xa, khách đường xa</em>. Qua hình ảnh, người tình cuối sông đã mang tình yêu mờ nhân ảnh đến với ông. Ở tuổi này, ông không nghĩ là ông sa đà mãnh liệt đến không ngờ, và bộc phá như chưa từng. Cái tình ảo cuối mùa bất chợt tới với ông cùng những bần thần&#8230;</p>
<p>Ừ thì biết diễn tả thế nào đây khi…“bần thần” là trạng thái của tình yêu say đắm. Thì cũng giống như khi…tự đái vào chân mình vậy, mọi người cho là rồ. Nhưng chỉ có bản thân mình thấy ấm.<em></em></p>
<p>Bởi vì hơn một lần người làm nũng đến thiu cả thịt da ông: “…<em>Em nhắm mắt lại&#8230;, thỉnh thoảng khẽ cựa mình để ông biết em vẫn thức cùng ông. Ông mỏi cánh tay không? Vì được ngủ trong vòng tay ông êm ấm quá, được ông vuốt tóc, nâng niu, cảm nhận những thiết tha trong mỗi lời ông thầm thì. Nhưng chừ nhắc lại câu ấy, em vẫn còn thấy&#8230; gió luồn qua chân chứ chưa hết lạnh. Vì em sợ&#8230;mình không đáp ứng đúng như ông muốn</em>, <em>ẵm bồng, hôn hít, trò chuyện, nựng nịu, thương yêu, giận tức, bực bội&#8230;đủ mọi thứ trên đời coi có&#8230;đạt quá mà&#8230;thành chánh quả hay chăng? Nếu ông vẫn còn cảm thấy như thiếu như vắng một điều gì đó, thì vẫn còn nửa đạo nửa đời. Vậy hãy…lấp đầy …khoảng trống đi ông, thử khoác áo trần tục tung hê một lần nữa xem sao…”</em></p>
<p>Ừ thì <em>nhật ký bẩy ngày tình ảo </em>cũng sắp đi đến cuối đường để có gặp gỡ. Trông ngóng hẹn hò với những ngày sắp đến. Ông lại lất phất với cây sầu đông xứ Huế như vận vào đàn bà con gái đơn côi, rằng <em>không ai nắm tay được đến tối, gối tay được đến sáng. </em>Hoặc giả như phất phơ với <em>đàn bà con gái</em> <em>thức được nửa đêm về tối, chứ ai thức nửa đêm về sáng</em>. Từ đấy, bụng dạ ông nhìn thấy một điều tình yêu không phải là chiếm đoạt <em>(ở ông).</em> Tình yêu cũng không phải hiến dâng <em>(nơi người).</em> Gần nhau thể xác là cuộc gặp gỡ của hai mảnh đời khởi sự trên một con đường từ hai đầu, đầu sông cuối bãi trong phiên chợ chiều qua những năm tháng liêu xiêu. Và người tình cuối sông liêu xiêu theo: “…<em>Tối qua nghe ông thì thầm bên gối, với vòng tay cùng thân thể ghì siết, giấc ngủ đến với em mang hơi hướm nồng nàn của ông. Ông yêu thương, có ông, em hạnh phúc biết bao, cho dù em chỉ là một người quá &#8220;bình thường &#8220;, thì em đây, ông hãy nhận&#8230; Hãy ôm em; áo em mỏng mảnh, ông lùa tay vào đi&#8230;..với tất cả&#8230;”</em><em><br />
</em></p>
<p>Hai nút áo được thả lỏng…Hồn ma nát thần tính, bất giác ông nhìn quanh quẩn, không gian bốn bề ma mị. Ông chợt hoang tưởng đến cảnh giới này nào có khác gì chuyện liễu trai mà ông là thư sinh…khọm. Đôi vai nữ lang hơi nhô lên, có cái gì ma quái tròn trịa nhú theo. Ông hình tượng ra…hiểu theo nghĩa chỉ là hư cấu. Ông thoáng nhìn thấy bầu ngực nửa đàn bà, nửa con gái trắng như cùi bưởi, nhỏ bằng trái cam. Ông kéo chăn lên để che đậy và hôn nhẹ bờ vai trần. Ông cảm nhận được hương thơm da thịt của sông Hương Núi Ngự. Người co giật theo bờ môi tham lam, thèm muốn của ông. Tay dang ra dưới tấm chăn ôm choàng lấy ông. Ông ôm lấy người…Hai thân thể cọ xát, có những phần thịt dư thừa chạm vào nhau, những đụng chạm vô tình tìm đến với nhau…Và khi không thân thể ông như nghe được tiếng thở ra như tiếng thở dài…</p>
<p>Trong giấc ngủ, người tình cuối sông là một người đàn bà mang dáng dấp của một cô gái. Người tình cuối sông đang đắm chìm với một mảng dĩ vãng nhấp nhô, ký ức qua một nỗi buồn lạnh lẽo bể dâu. Người tình cuối sông đang nằm đó miên man, đôi mắt chan chứa nỗi u sầu, giờ hờ hững khép mở về một vùng u tịch của hiện tại với nỗi lẻ loi vắng bóng của mình. Cô gái của ngày trước hay lúc này đang là đàn bà, đang nằm đây cũng vậy. Cô đang tìm về một khoảng thời gian đã mất. Cô đang hòa nhập vào thời gian còn lại và thèm muốn những vỗ về, những mặn nồng. Tất cả đã ẩn mình từ lâu trong ngõ ngách của tâm khảm, tâm thức mà cô đâu có hay. Viết thì viết vậy, nhưng người không hay lại là ông, vì cô vừa buông xả: “…<em>Bữa ni bậu vắng tiếng , em đợi những lời ân cần đằm thắm ấm áp của bậu hoài mà không thấy. Bậu có sao không? Có ăn uống ngủ nghỉ được không? Bậu đừng làm đau giường đau chiếu nữa, hãy khép mi lại và&#8230;kéo gỗ đi, cho khỏe.</em><em> Hôn bậu thật dài nè, chắc cỡ một phút. Bây giờ thì em ôm chầm lấy bậu, không cho bậu bận gì cả, được không? Chịu nổi không?&#8230;”</em></p>
<p>Người tình cuối sông đang lao xao bấn loạn với thân xác. Ông lại vất vưởng với “thân xác ở đâu tới?” của mấy ông thiền sư ở trên. Mà mấy ông thiền sư nào có biết gì về tình dục để dậy khôn tha nhân. Cứ theo ông hiểu ấy là tiếng thầm thì tự tiềm thức của bản thân người. Tâm hồn người đang lao xao vô định, ông chợt u hoài đến người tình đầu bãi và người tình cuối sông của ông đều đi chung con thuyền cỏ lau về một bến giác. Cả hai đều có những trúc trắc đời sống vợ chồng với những ông chồng trong quá khứ. Bắt nguồn từ chuyện đời thường với không tình yêu thì chẳng thể có tình dục. Để rồi cả hai đều bị bệnh lãnh cảm. Theo ý nghĩ nổi trôi của ông thì hai người tình của quá khứ và hiện tại chẳng thể tồn tại nếu cứ giấu mình mãi trong bọc kén. Vì vậy người tình cuối sông và người tình đầu bãi của ông có những xào xạc thân xác trần trụi cùng chữ nghĩa nghí ngoáy bấn loạn là thế. Thế nhưng những chung đụng thể xác không cứu vãn nổi tâm hồn của người cô đơn lúc này. Ông chợt quan hoài đến chính ông: Chính <em>những chung đụng thể xác không cứu vãn nổi tâm hồn</em> của ngay ông nữa là. Là nếu nói dễ hiểu hơn…thì chỉ có…trời hiểu. Họa may ra những người tình chữ nghĩa của ông hiểu thôi. Thôi thì thêm một lần vay mượn người thơ Mai Thảo trong một cõi đi về: <em>Thế giới có triệu điều không hiểu &#8211; Càng hiểu không ra lúc cuối đời &#8211; Chẳng sao khi đã nằm trong đất &#8211; Đọc ở sao trời sẽ hiểu thôi</em>. Và ông thở ra như tiếng thở dài…</p>
<p><em>…ngày…tháng…năm…</em></p>
<p>Cái cúc áo thứ ba được tháo gỡ đủ cho hai bàn tay lùa vào…Hai bàn tay ông đang bận bịu với hai cục u u. Những cái cúc còn lại được giải thoát vội vàng. Bởi ông hay người. Ông vặn óc nghĩ không ra và ghi xuống trang nhật ký viết dở dang: “…Trong giấc ngủ, người nhích người thêm một chút nữa về phía ông. Sát vào ông thêm một chút nữa như hai chiếc lá ướt dính vào nhau&#8230; ‘’. Người như cảm thông những gửi gấm, rúc đầu vào cánh tay ông đầy gợi tình trong giấc hòe. Hai phần trời cho người đàn bà u u lên để phân biệt với đàn ông vẫn nằm gọn trong bàn tay ông. Ông râm ran rằng tình yêu giúp ông vượt lên những suy nghĩ&#8230; tầm thường và đưa ông tới những suy nghĩ&#8230;tầm bậy. Vì ông trộm cho rằng tình yêu chỉ là&#8230;phù du, sờ mó được u u mới là&#8230;vĩnh cửu.</p>
<p>Trong bóng tối nhập nhòa, chữ nghĩa cũng bằng thừa, ông chỉ u ơ hình tượng có bấy nhiêu. Thế nhưng người tình cuối sông của ông nhậy cảm hơn: <em>“…Em phải đóng &#8220;ấn tín&#8221; lên bậu bằng &#8220;của em&#8221; để chắc ăn bậu không&#8230;ma, không nhúc nhích chỗ nào khác mới được. Mấy đêm rày nằm bên nhau, mình vẫn mơ mơ hồ hồ đâu đó vòng ngoài không thôi. Không vội vã, không thúc dục, dù máu cứ chảy rần rật trong huyết quản. Dù có lúc em đã rướn người nhích gần bậu thêm chút nữa, ép sát vào bậu &#8220;như hai chiếc lá ướt dính vào nhau &#8220;. Câu này của ông thật tuyệt, gợi tình và gợi cả ý gắn bó. Đúng như trước kia em muốn diễn tả bằng hôn ông với tất cả…ý tình &#8221; .</em></p>
<p>Ông như thế đấy, người như thế đó. Làm thế nào để hiểu được rằng chính những người thừa mứa dục tình lại là những người hiểu rõ và thèm khát tình yêu nhất. Và ông thở ra như tiếng thở dài…Người như nghe ra tiếng thở dài của ông và ôm ông thật nồng nàn. Ông nhắm mắt tận hưởng cảm giác ngây ngất, lan tỏa trong ông. Mà dường như người đang ú ớ trong giấc mơ hoa? Có lẽ đấy không phải là một giấc mơ đâu. Mà là những tiếng nói của vô thức, thói quen chống đối của bản năng mỗi khi một người đàn ông đến với một người đàn bà. Với đàn bà thì cội rễ của đàn ông là hay quên, nhất là quên những người đàn bà vừa kề vai tay ấp mặn nồng. Chỉ sau một đêm thôi đã không còn muốn nhận ra nhau huống gì đến ba vạn sáu ngàn đêm. Nhưng đàn bà như người đây thì lại khác. Chỉ một phút giây mà còn chưa quên được nói gì đến cả một đêm.<em> </em></p>
<p>Cứ theo thiển nghĩ ông thì mỗi bản nhạc, mỗi bản văn đều có dòng sinh mệnh của riêng nó. Riêng <em>nhật ký bẩy ngày tình ảo của một ông già&#8230;</em>là ông đây<em> </em>thì không biết ngừng ở chỗ nào. Vì nó thiếu một dấu ấn để đời. Chợt gửi gió cho mây ngàn bay đến những u mê, u ám nơi người tình cuối sông: <em>&#8221; Vậy mà chỉ đọc những câu, chữ âu yếm của bậu nhẹ nhàng diễn tả trong thư, em đã thấy&#8230; khác lạ trong người. Thiền giả gì đâu mà viết cứ như&#8230;Bồ tùng Linh! Ma đầy mình. Đọc mà rợn cả thịt da là vậy. </em><em></em></p>
<p><em>Bây giờ thì em ôm chầm lấy bậu, không cho bậu bận gì cả&#8230; &#8220;, khi viết câu này em không khỏi mỉm cười một mình. Vì bậu đâu có biết chữ “bận” theo nghĩa của người Trung là &#8220;mặc” (áo,quần). Em ôm bậu nè, không cho bậu mặc gì cả nè, được không? Bậu nằm xuống đi (hay&#8230;ngồi cũng được ), để em…vốc hí. Tay em muốn di chuyển đi đâu tùy ý hí, vì&#8230;đó là tay em mà. Em thoa bó</em><em>p</em><em> dần xuống cổ, cúi xuống hôn, xuống nữa, nữa, nữa&#8230; Bậu có lạnh không mà rùng mình trân người lên vậy&#8230;?”.</em><em><br />
</em></p>
<p><em></em>Ừ thì ông hiểu ‘’bận’’ không phải là&#8230;ngày trời tháng Bụt như ông nghĩ. Thế nhưng bươn trải cho mấy, ma cho lắm, thế mà ông chịu hiểu ‘’vôc’’ là gì cho. Ấy là chưa kể ông hiểu lộn câu thì thầm của người và ông cúi xuống ân cần đặt một nụ hôn ở một nơi chốn&#8230;mà ông Mai Thảo đã ẩn dụ : <em>Đặt hôn vào chỗ không thể đặt &#8211; Vậy mà đặt được chẳng làm sao &#8211; Mười năm gặp lại trên hè phố &#8211; Cười tủm còn thương chỗ đặt nào…</em></p>
<p>Nói cho cùng, ông nắm bắt được dường như người đây cũng đang…<em>cười tủm còn thương chỗ đặt nào. </em>Ông có thể nhận bắt được những run rẫy ông đặt môi lên từng phân vuông da thịt. Ở mỗi nơi run rẩy mỗi cách khác nhau. Dù ai đấy ngủ hay giả vờ ngủ thì thịt da tươi mát của người vẫn thức, vẫn nghe được tiếng gọi từ thịt da ông. Lúc này, tình yêu và tình dục đúng là hai em song sinh ngoan ngoản dễ thương, chúng nâng đỡ nhau và tiếp sức nhau để làm nên cái được gọi là ham muốn được…yêu. Hơn một lần, người tình cuối sông gần như cùng cảm nhận với ông: <em>“…Tất cả ham muốn ấy được gợi lên, chỉ do những giòng chữ ông viết những nhớ thương. Vậy mà em cảm nhận được ý tình dào dạt. Chỉ bấy nhiêu thôi, mãnh lực chữ nghĩa của ông đủ để em muốn…&#8221;lăn lóc&#8221; với ông rồi. Như em hay nói, chỉ có tình yêu mới đánh thức dậy được một cõi lòng giá lạnh và các giác quan hờ hững bấy lâu…”.</em></p>
<p>Thêm một lần, chữ nghĩa mẫn cảm của người tình cuối sông đến thiu cả da thịt ông:</p>
<p><em>“…Trời đêm nay se lạnh, da thịt ông nồng ấm mời gọi&#8230;Em nhắm mắt lại tận hưở</em><em>n</em><em>g ngây ngất. Rồi he hé mắt nhìn ông, vừa lúc ông cũng nghiêng xuống mỉm cười. Nụ cười như muốn nói em hư lắm, thôi không văn chương gì nữa, em chỉ muốn…ngủ với ông thôi&#8230;.</em></p>
<p><em>Và mình rúc vào tay nhau&#8230;Chăn gối nệm giường như bị sóng dồi gió dập, xô lệch, nát nhàu&#8230;Ôi, ông có nghe em hổn hển, ngắt quãng. Em…”yêu” ông hết sức lực của em. Em trao tặng ông tất cả&#8230; với vòng tay ghì siết mỗi lúc một mạnh hơn cho đến khi toàn thân rung động, rồi bập bềnh trôi nổi trong cảm xúc hoang sơ mãnh liệt dâng trào&#8230;”.</em></p>
<p>Không gian bốn bề vẫn ma mị, trong mộng mị ông nào có nghe…, có hay tay ông choàng qua bờ vai nửa kín nửa hở và kéo người phía mình. Vừa ôm người ông vừa lan man rằng tận cùng với ông phải chăng chẳng phải là tình dục. Với tình dục lúc này chỉ là những nét chấm phá của bức tranh thủy mặc, những nét thăng hoa của tình yêu trong phiên chợ chiều ở đầu sông cuối bãi. Để rồi một ngày nào đó không nắng cũng chẳng mưa, ông có nên tìm đến với người tình cuối sông trong một ngày nhạt nắng chăng?.</p>
<p>Bất chợt ông bắt gặp chính ông lại…thở ra, lại như…tiếng thở dài.</p>
<p>Nên hay chăng chưa biết, lúc này đây ông đang lọ mọ là gần như ông không hiểu…ông thì phải. Thêm nữa, chẳng hiểu cớ sự gì ông sâu đậm với người tình cuối sông đến như vậy. Vì giọng Huế lót ngót như chim hót. Hay vì người tình văn chương của ông với chữ nghĩa trơ trụi xoắn tít xoắn mù hơn cả Trần Thị NgH. Trước 75, nhà văn nữ Trần Thị NgH viết trong truyện ngắn “<em>Nhà có cửa khóa trái</em>” như sau: “…Tưởng tượng một người đàn ông đứng tuổi, đứng đắn. Một người đàn ông sắp sửa 40 tuổi, có vợ, có địa vị. Không lý tưởng sao, tuyệt vời nữa. Một hôm chàng nói: ‘’Em dám bỏ trốn với anh không?’’. Tôi nhìn chàng nghi ngờ: ‘’Chưa có cuộc ngoại tình nào thành công cả’’. Chàng hỏi: ‘’Ngoại tình là gì?’’. Tôi ngần ngừ : ‘’Là một cố gắng tuyệt vọng!&#8230;’’</p>
<p>Chuyện là người tình cuối sông đã có chồng con, nay chồng một nơi con một nẻo và đang ở cái tuổi chín muồi. Đêm đêm người vẫn “Tôi nhìn tôi trên vách”, thế nên người đây có chẻ hoe trắng phớ với ngôn từ thì cũng là nhẽ bình thường. Như một lần người tỉ tê: “<em>Có ông, em hạnh phúc biết bao. Ông thương yêu ơi, cho dù em chỉ là một người &#8220;bình thường &#8220;</em>. Chỉ chéo ngoe một nỗi ông lại “không bình thường” cho mấy. Ông đang chập choạng ở cái tuổi chuối chín cây, nửa đêm về sáng cứ u u minh minh với: <em>Nghe hơi gió chuyển mùa sang &#8211; Tuổi già cám cảnh đôi hàng rụng rơi</em>. Hồn ma bóng quế của người tình đầu bãi xưa cũ khi không hiện về hú họa ông: “Có khi chung thủy là một cố gắng không tuyệt vọng”. Và lầm rầm tiếp: “Ngoại tình là yêu một lần nữa nhưng cần phải cố gắng“. Và thêm một tiếng thở ra như một tiếng thở dài cho…một cố gắng tuyệt vọng.</p>
<p>Như có tiếng chuông chùa vọng lại từ nơi rất gần, từ thân xác người tình cuối sông vọng về…Trên giường, bên ông, ai đấy khép chân lại. Cả thân xác người đây ngập đầy khêu gợi thiết tha. Người âm ỉ bằng tiếng nói bản năng gịuc giã trong cơn mê tình:</p>
<p>&#8211; Nằm xuống đi.</p>
<p>Ông hồi nhớ người đã thổ lộ “<em>Bậu nằm xuống đi (hay&#8230;ngồi cũng được ). </em>Tại sao lại “ngồi”, ông chịu chết nghĩ không ra. Ông râm ran từ vô thức “trên” hay “dưới” đây. Qua khuôn mặt vừa có những nét trần tục, vừa mang nét không trần thế, người nhíu mày:</p>
<p>&#8211; Trên với dưới, mệt quá !</p>
<p>Và bờ môi người động đậy:</p>
<p>&#8211; Trên sướng chết đi, đâu có bị&#8230;đè&#8230;nặng !</p>
<p>Khóe mắt người đẩy đưa:</p>
<p><em>&#8211; </em>Hay là dưới thành trên?</p>
<p>Ừ thì ông đang nằm trên giường chứ còn ở đâu nữa. Cái đầu ông đang lầng quầng về một ông nhà văn Tây phương nào đó đã vờ vĩnh: <em>“Cái giường không phải để ngủ. Mà là để nói chuyện. Vì ở trên giường, người ta dễ thành thật với nhau nhất”. </em>Và lặng ngắm người tình cuối sông của ông là…người đàn bà ngủ mê. Khi không ông thở ra, như…<em></em></p>
<p><a href="https://t-van.net/wp-content/uploads/2013/03/clip_image0042.jpg"><img loading="lazy" decoding="async" style="background-image: none; padding-top: 0px; padding-left: 0px; display: inline; padding-right: 0px; border: 0px;" title="clip_image004" src="https://t-van.net/wp-content/uploads/2013/03/clip_image004_thumb2.jpg" alt="clip_image004" width="138" height="160" border="0" hspace="12" /></a><em></em></p>
<p>Thạc trúc gia trang<em></em></p>
<p>Lập đông, Nhâm Thìn niên</p>
<p>Ngộ Không Phí Ngọc Hùng</p>
<p>&nbsp;</p>
<p><em>Phụ chú: </em></p>
<p><em>Mặc dù bài viết được gợi ý từ </em><em>“Les belles endormies” </em></p>
<p><em>(Người đẹp ngủ mê) của Yasunari Kawabata, và </em></p>
<p><em>“Memoria de mis putas tristes</em><em>”</em><em>(Hồi ức về những cô </em></p>
<p><em>gái điếm buồn của tôi) của G. Marquez. Nhưng với </em></p>
<p><em>“Nhật ký bẩy đêm tình ảo của một ông già” thì hình </em></p>
<p><em>thái cũng như chi tiết, ngôn từ hoàn toàn khác hẳn.</em></p>
<p>&nbsp;</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>©T.Vấn 2013</p>
]]></content:encoded>
					
					<wfw:commentRss>https://t-van.net/tvbh-nh%e1%ba%adt-k-tnh-%e1%ba%a3o-c%e1%bb%a7a-m%e1%bb%99t-ng-gi-c%e1%bb%a7a-ng%e1%bb%99-khng-ph-ng%e1%bb%8dc-hng/feed/</wfw:commentRss>
			<slash:comments>0</slash:comments>
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Khuất Đẩu: Đọc Kịch Lữ Kiều</title>
		<link>https://t-van.net/khu%e1%ba%a5t-d%e1%ba%a9u-d%e1%bb%8dc-k%e1%bb%8bch-l%e1%bb%af-ki%e1%bb%81u/</link>
					<comments>https://t-van.net/khu%e1%ba%a5t-d%e1%ba%a9u-d%e1%bb%8dc-k%e1%bb%8bch-l%e1%bb%af-ki%e1%bb%81u/#respond</comments>
		
		<dc:creator><![CDATA[Khuất Đẩu]]></dc:creator>
		<pubDate>Tue, 19 Mar 2013 15:25:00 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Góc Văn]]></category>
		<category><![CDATA[khuất đẩu]]></category>
		<category><![CDATA[văn học]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://7076e870b2.nxcli.io/?p=9341</guid>

					<description><![CDATA[&#160; Lời Giới Thiệu : Trong nỗ lực giới thiệu một mảng văn học miền Nam cũ ( hiểu theo nghĩa một nửa đất nước từ dòng sông Bến Hải đổ vào ) , nhất là những tác phẩm mang đậm dấu ấn thời cuộc, chúng tôi trân trọng giới thiệu bài viết về kịch [&#8230;]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<p>&nbsp;</p>
<p style="text-align: center;"><a href="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2013/03/lukieumangvienlong.jpg?strip=all"><img loading="lazy" decoding="async" class="aligncenter size-full wp-image-11805" title="lukieumangvienlong" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2013/03/lukieumangvienlong.jpg?strip=all" alt="" width="360" height="303" srcset="https://cdn.t-van.net/2013/03/lukieumangvienlong-300x252.jpg 300w, https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2013/03/lukieumangvienlong.jpg?strip=all 360w" sizes="(max-width: 360px) 100vw, 360px" /></a></p>
<p><strong>Lời Giới Thiệu</strong> : Trong nỗ lực giới thiệu một mảng văn học miền Nam cũ ( hiểu theo nghĩa một nửa đất nước từ dòng sông Bến Hải đổ vào ) , nhất là những tác phẩm mang đậm dấu ấn thời cuộc, chúng tôi trân trọng giới thiệu bài viết về kịch Lữ Kiều của nhà văn Khuất Đẩu. Như thường lệ, ở cuối bài, chúng tôi có phần phụ lục ngyên văn vở kịch : “Kẻ Phá Cầu “ của Lữ Kiều.</p>
<p><strong>Theo </strong><strong>nhà văn Trần Hoài Thư:</strong> “<em>Vở kịch này được viết sau biến cố năm Mậu Thân và được phổ biến trên tạp chí Ý Thức vào năm 1969 mà tòa soạn &#8220;lưu động theo chân người viết&#8221; (có nghĩa là tòa soạn không có chỗ nhất định, bởi những người chủ trương hầu hết mang bộ đồng phục tứ tán khắp nơi).</em><em> </em><em>Chúng ta sẽ thấy những nhân vật đại diện cho từng thành phần và giai cấp. Từ trí thức, hay kẻ không học. Từ bên này hay bên kia hàng ngũ. Thương binh, phụ nữ, bà cụ, thanh niên…Từ hữu khuynh đến tả khuynh. Tất cả tình cờ tụ họp và gặp nhau vào một đêm trong một căn nhà không phải do <strong>chính họ chọn mà lịch sử đã thay họ chọn dùm.(<a href="http://damau.org/archives/9907">Damau.org</a>)</strong></em><strong><em>”.</em></strong><em></em></p>
<p>TV&amp;BH</p>
<h3><strong>Đọc Kịch Lữ Kiều</strong><strong></strong></h3>
<p><strong>Khuất Đẩu</strong><strong><br />
<em></em></strong></p>
<p><strong><em>Mở</em></strong></p>
<p>Kịch là một từ Hán Việt. Theo định nghiã của Đào Duy Anh, là rất mạnh. Như một cơn địa chấn tạo nên những đứt gãy, những hố sâu.</p>
<p>Từ đó, Kịch được dùng để gọi những tuồng hát, những tuồng đời.</p>
<p>Trái đất là một tinh cầu. Mỗi vở kịch là mỗi tiểu tinh cầu. Và tác giả chính là mỗi tiểu thượng đế. Như trong kinh thánh, tác giả tạo ra ánh sáng và bóng tối, tạo ra gió và mưa, tạo ra không khí và sau cùng tạo ra nhân vật. Nhân vật được tác giả cài đặt định mệnh. Những định mệnh nâng đỡ nhau, va đập vào nhau tạo nên những số phận. Tất cả những chuyển động âm thầm ấy làm nên kịch.</p>
<p>Vở kịch được coi là thành công khi tạo được những dư chấn trong hồn người xem sau khi đã cho họ thấy những đứt gãy, những hố thẳm.</p>
<p>Nhưng nếu vở kịch được viết mà chưa lên sân khấu, thì vẫn chỉ là một tinh cầu chưa chuyển động. Chúng nằm im trên giấy như cô công chúa ngủ trong rừng chờ hoàng tử đến thức dậy. Hoàng tử ấy là đạo diẽn. Anh ta dùng bàn tay kỳ ảo của mình như phù thuỷ hô phong hoán võ kêu gọi âm binh, làm chuyển động ánh sáng, bóng tối, gió mưa và những nhân vật. Vở kịch có da có thịt trở nên sống động là nhờ anh.</p>
<p>Hiểu như thế để thấy rằng từ tim óc người viết cho dù là tiểu thượng đế cũng phải cần có nhiều cơ may mới có thể đến được với người xem.</p>
<p>Trên các sân khấu VN, có rất ít cơ may như thế. Thì đành phải “đọc” vậy.</p>
<p>Đọc như thế nào? Đọc một cách ơ hờ như đọc môt thông báo? Hỏng! Đọc như một chút tình bè bạn, cũng hỏng! Phải đọc như một đạo diễn có tài đang dựng kịch. Tức là phải làm cho vở kịch chuyển động, phải đánh thức những con chữ để nó phát ra tiếng nói. Và phải nghe bằng sáu giác quan, trong đó giác quan thứ sáu là vô cùng cần thiết. Như Kim Thánh Thán “nghe” Tây Sương ký. Như Bùi Giáng “nghe” Malentendu, kịch của Albert Camus.</p>
<p>Tôi cũng tin là mình đang “nghe” như thế trước những tiểu tinh cầu của Lữ Kiều.</p>
<p><strong><em>Thức dậy đi kẻ phá cầu! </em></strong></p>
<p>Kịch được viết năm 1969, sau Mậu thân đúng một năm. Cứ cho là vào những ngày giỗ đầu của hàng vạn con người đã chết oan để làm nên một tiếng nổ lớn còn hơn bom nguyên tử. Chiếc cầu tuy không gọi tên nhưng ai cũng biết là cầu Trường Tiền. Cây cầu yểu điệu thục nữ đưa những bờ vai “như giấy mới” bắc qua hai bờ sông Hương, con sông như kiếm dựng trời xanh dưới mắt nhìn Cao Bá Quát.</p>
<p>Cây cầu còn là một niềm kiêu hãnh như một nét mày cong vẽ trên tâm hồn Huế.</p>
<p>Vậy mà có kẻ muốn phá, dám phá!</p>
<p>Kẻ ấy là Trung, tổ trưởng đặc công, là người từng lớn lên bên bến sông ấy, từng tắm dưới chân cầu kia. Trung còn là bạn của Miên một thương binh “nguỵ” mù mắt, và đã từng thầm yêu Kim, chị của Miên, từng biết Văn chồng của Kim, từng lui tới đề huề coi mẹ Kim như mẹ. Anh cùng đồng chí chọn đúng ngôi nhà thân quen để làm nơi xuất phát cho cuộc tàn sát một cây cầu.</p>
<p>Khi biết được nhiệm vụ của anh, Kim và Miên ra sức cản ngăn. Nhân danh tình bạn, một thời đã rất lãng mạn cùng ầm ĩ hát bài Chiều vàng dưới nắng vàng để tương tư một người con gái, Miên đã tranh luận với Trung, quyết liệt đến nỗi, <em>ngày mai, khi nghe tin cầu gãy, nếu tôi còn sống, tôi xem như cậu đã chết</em>. Nhưng Trung vẫn khẳng định là cầu phải bị phá huỷ. Đẻ chi vậy? Để ngăn đường tiến quân của địch? Không! Mà chỉ để xác tín bọn họ có mặt ở thành phố này và để cho thế giới biết được sức mạnh của họ. Cuộc chiến ý thức giữa hai người một thời là bạn dữ dội không kém những cuộc đấu kiếm hay đấu súng. Cuối cùng kẻ mù loà nhưng sáng suốt đã thua kẻ sáng mắt có sức mạnh mù quáng.</p>
<p>Cây cầu đã bị giựt sập. Và Trung đã chết cùng với cây cầu.</p>
<p>Gần một phần tư của vở kịch, tác giả để Trung khạc nhổ vào quá khứ, hận thù hiện tại, <em>nhưng lạ một điều là Trung không thuyết giảng về tương lai,</em> một tương lai màu hồng như ta thường nghe thấy từ miệng lưỡi của “những đứa con mang gươm đao về xóm làng”. Từ lời nói, từ cử chỉ, rắn và lạnh như thép súng. Trước mặt người chỉ huy và đồng chí Út, Trung có vẻ sừng sững cao ngạo của một kẻ mà lập trường đã được trui rèn trong lửa đạn. Ở đây ta thấy sức mạnh của nguỵ tín đã thắng áp đảo những mong manh yếu đuối của tâm hồn.</p>
<p>Trung cho thấy dưới mắt nhìn của cả hai phía, tâm hồn anh đã hoá thạch. Một tâm hồn còn chai cứng hơn cả Martha trong Malentendu của Camus.</p>
<p>Nếu Trung còn sống trở về hay bị tử thương vì chất nổ thì toàn bộ những sự kiện, những nhân vật chỉ là vật chứng, người chứng dể tôn vinh là anh hùng của phía bên kia, hay để kết tội là kẻ phá hoại của phía bên này.</p>
<p>Nhưng, qua lời nói hổn hển của người chỉ huy bị thương trở về, chứng nhân cuối cùng của cuộc ám sát, ta bỗng thấy dung nham của sự thật đang trào lên sau tiếng nổ lớn. Như đêm bỗng sang ngày. Như chết bỗng thành sống. Tất cả đã quay ngoắt 180 độ.</p>
<p>Giật mình nhớ lại một phần tư vở kịch, ta thấy Trung đóng kịch. Anh đóng kịch trước Miên, trước Kim, trước đồng đội. Đóng kịch quá giỏi. Không ai có thể moi ra lời nào, cử chỉ nào để xác tín anh là kẻ sẽ chết theo cây cầu. Vậy mà chỉ một lời như trối trăng của người chỉ huy, <em>phía bên kia</em> Không thể tôn vinh anh là anh hùng, <em>phía bên này</em> không thể kết án anh là kẻ phá hoại.</p>
<p>Anh là kẻ tuẩn tiết.</p>
<p>Anh chết theo cây cầu như trước đó anh nói với Miên<em>, tôi còn thân thiết cây cầu hơn cả cậu.</em>Từ một kẻ tâm hồn tưởng chừng hoá thạch, bỗng trở nên nóng ấm vì sự phục sinh của một tâm hồn đắm đuối.</p>
<p>Cái quyết định bi tráng ấy không phải bỗng dưng mà có. Nó bùng nổ trong tâm hồn Trung khi được biết cây càu sẽ bị phá để gây một tiếng vang lớn trên toàn thế giới sau khi cuộc tổng tấn công đã bị thất bại. Trung được chọn, còn hơn thế, tự nguyện trở về để làm cái việc mà trước khi lên núi anh không hề nghĩ đến. Anh vẫn tưởng làm cách mạng là lau rửa khuôn mặt Huế đã nhớp nhơ, xấu xí vì bàn tay lông lá của ngoại xâm, để giữ cho nét mày cong ấy đẹp hơn, tô điểm cho xứ Huế thêm yêu kiều lộng lẫy.</p>
<p>Cái chết của anh chính là một thức tỉnh sau những đêm dài ngộ nhận. Nó còn là một lời tạ tội với những người thân quen cũ, là sự đoạn tuyệt dứt khoát với những người “bạn” mới, mặc dù dưới mắt họ, trước đó anh là một anh hùng. Cái chết của anh bỗng dưng bi tráng hơn cả Kinh Kha. Vì sao? Vì Kinh Kha còn có cả ba ngàn tân khách tiễn đưa bên bờ sông Dịch, còn tỏ được cái hào khí trên sông lạnh với những câu hát làm tóc trên đầu tân khách dựng ngược. Còn Trung lặng lẽ, âm thầm. Một mình mình biết, một mình mình hay. Khi bơi đến đặt chất nổ vào lòng cầu, trái tim Trung chắc đập dữ dội. Cây cầu bình yên ôm lấy anh như đã ôm anh suốt cả thời thơ ấu. Lúc này anh như một kiếm khách, một tay ôm chặt người yêu, mặt sát mặt, môi sát môi, một tay đâm cây kiếm bén ngót từ phía sau, xuyên qua tim nàng và xuyên qua tim mình !</p>
<p>Từ trong sâu thẳm, nhân vật Trung cho ta thấy vẫn còn chất người. Còn rất nhiều. Một người dám chết với những gì mình dấu yêu còn người hơn một người sống thấp hèn với những gì mà mình căm ghét. <em>Chỉ một cái chết nhưng dưới hai mắt nhìn, một bên cho Trung là kẻ phản bội, một bên có thể gọi Trung là kẻ chung tình.</em></p>
<p>Còn một nhân vật khác, cô đọng như một giọt máu khô. Đó là mẹ Kim, một người đàn bà câm (hay bỗng dưng bị câm?). Bà chỉ kêu lên A! A!, những tiếng kêu quái dị khi nhìn những xác chết. Bà là hình ảnh tượng trưng của Linh Hồn Huế. Trước nỗi đau sâu dài khiến bà hoá câm, chỉ phát ra những tiếng kêu đứt ruột.</p>
<p>Đọc xong vở kịch, tôi mơ hồ tưởng như mình đang ngồi trước một sân khấu mà ánh sáng và bóng tối được sử dụng bỡi những kỹ sư tài giỏi, một dàn nhạc biết rải vào khoảng lặng những âm thanh nhiều màu sắc, những nhân vật được thể hiện bỡi những nghệ sĩ đích thực, và tất cả được phù phép dưới bàn tay của một đạo diễn bậc thầy. Tôi như trông thấy ngọn lửa của cây cầu đã hoá thân trong đó có máu thịt của Trung. Ngọn lửa ở phía sau và người Mẹ câm ốm yếu, đen đúa ở phía trước. Bà đưa hai tay lên trời kêu A!A! trong khi màn từ từ hạ. Tôi nghe như Trời Đất ơi!</p>
<p>Tiếc rằng đó chỉ là giấc mơ. Cũng như tiếc rằng tác phẩm ai điếu cho một cây cầu này của Lữ Kiều chỉ là những trang bản thảo cho dù đã được bạn in thành sách như một tiếng thở dài.</p>
<p><strong><em>Con sâu trong mắt</em></strong></p>
<p>Kịch được viết năm 1972, năm ký kết hiệp định Paris. Ở thời điểm này cuộc chiến tranh đã xuống thang, một số tù binh sẽ được hai bên trao trả. Nhưng trước đó và sau đó, những tù binh ở Phú Quốc vẫn không phải là tù chính trị như ở Côn đảo. Một chừng mực nào đó, người ta vẫn phải tuân theo công ước quốc tế Genève về tù binh. (không có những cai ngục miệng luôn mắng chửi, tay luôn đánh đập). Bên cạnh những giám thị ăn nói khá hoà nhã (gọi tù là các anh) còn có thêm những bác sĩ mặc áo lính. Một trong những bác sĩ ấy là tác giả.</p>
<p>Chứng kiến những người tù đói khát, ốm đau, thương tật, những âm mưu đào thoát, một người đã từng tuyên thệ trước Hypocrate cảm thấy những nỗi đau âm ỉ, khạc chẳng ra nuốt chẳng vào, nên phải viết thành kịch. Viết cho chính mình, trước hết, như một băng bó tạm thời trước khi có một cuộc đại phẩu. Viết, sau đó, những mong để lại trong văn học một nét khắc cho dù không bóng bẩy tài hoa như Chữ người tử tù của Nguyễn Tuân, nhưng vẫn là một vết khắc của lịch sử.</p>
<p>Cái tập thể với hơn 500 con người tạm thời thua một vài trận nhưng vẫn tin ở chiến thắng cuối cùng. Dù bị giam cầm canh giữ nghiêm mật, họ vẫn nung nấu một ý đồ vượt thoát. Kịch phơi bày cái khát vọng tự do dưới hình thức một cuộc tuyệt thực để đấu tranh những đòi hỏi mà họ cho là chính đáng: thả những người bị biệt giam mà họ nghi ngờ là bị thủ tiêu. Trả xác những người đã bị bắn chết khi vượt thoát. Họ không còn vũ khí để chiến đấu. Họ chỉ còn cái quyền từ chối được ăn. Dĩ nhiên là để làm reo. Ta chẳng lạ gì cách đấu tranh của họ. Chỉ lạ là họ ngồi lì giữa trời nắng cháy hay giữa trăng khuya lạnh buốt để che dấu cho một âm mưu táo bạo. Họ âm thầm đào một địa đạo dưới lòng đất dài cả trăm thước, đào bằng cà men, bằng tay không, để đưa cả trăm người tù thoát qua bãi mìn rồi biến mất giữa rừng lau lách. Công cuộc ấy kể ra cũng khá vĩ đại nếu thành công. Đó là công cuộc quật khởi giữa lòng quân thù, là thắng trước mũi giặc, là tiếng nổ lớn vang dội tận hoà đàm Paris.</p>
<p>Nhưng họ không thành công. Cuộc vượt thoát đầy mưu trí và kiêu hãnh ấy bị nhận chìm trong biển máu. 99 con người bị bắn chết ngay khi vừa ló đầu ra khỏi miệng hầm, mũi chưa thở được chút khí trời tự do. Chỉ có một người bị thương may mắn sống sót nhờ giả chết. Người mà số phận bỗng được nuông chiều một cách kỳ lạ ấy bắt đầu một cuộc trả thù. Không phải những kẻ đã vãi những tràng đạn đại liên trên lưng anh em đồng đội, mà là kẻ phản bội đã bán đứng cả trăm con người cho địch.</p>
<p>Kẻ ấy là ai? Là người đàn ông trung niên tên Quyết, người đã bằng đầu óc kỹ sư của mình vẽ ra cái địa đạo tuyệt mật ấy, người đã khước từ cái phần thưởng xứng đáng là được đào thoát, người cao thượng hão, người để lộ cái bản chất tiểu tư sản kiêu bạt khi tuyên bố chỉ ra đi cuối cùng với địa đạo sau cùng. Và nếu có chết thì cũng chết như một thuyền trưởng dày dạn chết theo con tàu của mình sau khi thuỷ thủ đã xuống hết thuyền cứu hộ. Chính cái lãng mạn bi tráng ấy đã bị những người tù còn lại kết án là phản bội, vì sau đó ông ta đã được đưa vào trại giam khác để rồi lặng lẽ biến mất.</p>
<p>Người thanh niên suốt ba năm đi tìm ông ta với một quyết tâm không gì lay chuyển: phải giết ông ta bằng được để giải oan cho những linh hồn của những người đã chết. Đã tìm là phải gặp. Người thanh niên đã gặp ông ta nằm ngủ trước cổng tam quan một ngôi chùa nhỏ cô tịch. <em>Máu kêu trả máu, đầu kêu trả đầu</em>. Anh ta đã giết được người kỹ sư sau khi đã trưng ra những bằng chứng không thể chối cãi của sự bội phản.</p>
<p>Kẻ phản bội đã phải đền tội nhưng câu chuyện chưa phải đã hết. Vì như thế thì có khác gì những cuộc trả thù nhàm chán trong những phim kiếm hiệp. Cái đáng xem của vở kịch này là mặt trái của câu chuyện, là thấy vậy mà không phải vậy. Cũng như Trung kẻ phá cầu, thực ra là kẻ, bằng cái chết của mình, đã bắc một cây cầu mới nối những tâm hồn đồng điệu.</p>
<p>Ở đây, kịch là một bí mật được gói kín bỡi nhiều dữ kiện. Người xem giống như những nhân vật trong Quán củ hành trong Chiếc trông thiết của G. Grass. Mỗi người được phát cho một củ hành, một con dao. Cứ thế mà bóc vỏ, mà băm vằm cho đến khi nước mắt nước mũi lòng thòng, nổi khùng lên ôm nhau hôn, ôm nhau khóc.</p>
<p>Trong kịch Lữ Kiều, cái lớp vỏ lụa vàng óng bên ngoài là cuộc đối thoại ngắn giữa một chú tiểu vừa mới nhập môn, hãy còn những nét trẻ con ngây ngô của thế tục với một người đàn ông trần tục lại nói ra toàn những lời của nhà Phật. Cái vỏ ấy kêu lạo rạo đôi chút, chẳng có gì là mùi vị hăng nồng đặc trưng của củ hành.</p>
<p>Lớp vỏ thứ hai là cuộc gặp giữa người đàn ông và người thanh niên. Người đàn ông chưa nhận ra người thanh niên, nhưng người thanh niên thì biết ông ta quá rõ. Ông ta tên Quyết, người mà anh ta kiếm tìm để kết thúc cho một mối hận thù. Khi nghe nói đến hận thù ông ta liền nhận ra anh ta đã từng là người tù như ông, những người cùng chí hướng cùng lý tưởng ở trại tù A trên đảo Phú Quốc. Lẽ ra họ đã ôm chầm lấy nhau mừng mừng tủi tủi, nhưng giữa họ đã có một con dao dấu sẵn trong áo của người thanh niên. Đến đây người xem đã chắc một điều rằng, đây chính là củ hành chứ không phải củ khoai tây.</p>
<p>Nhưng vẫn chưa thấy mùi hăng. Phải đến lớp vỏ thứ ba mới thấy. Đó là một lớp vỏ đã ngã màu hư thối, dậy lên một mùi khó chịu, vừa cay vừa chua, mùi của một lớp tuồng đã cũ. Sân khấu chuyển cảnh bằng cách sử dụng nhuần nhuyễn ánh sáng và bóng tối, đưa ta trở lại ba năm trước. Cảnh hàng trăm tù binh tuyệt thực và biểu tình ngồi để đòi trả xác những người bị bắn chết. Người chỉ huy, tên Năm, đưa ra những yêu sách rất cương quyết nhưng cũng rất ôn hoà. Một người cho dù là đã bị tước khí giới, bị nhất thời làm người thua cuộc, vẫn bằng lời nói đĩnh đạc chứng tỏ mình xứng đáng là người chỉ huy, thay mặt cả 500 con người, hiên ngang đứng thẳng, mặt đối mặt với kẻ địch.</p>
<p>Trước một cuộc đấu tranh bất bạo động và được điều khiển bỡi một người có tư cách, ban giám thị cũng đã tỏ ra là những quân nhân có giáo dục. Họ đã trả lời một cách hoà nhã tuy không kém phần cương quyết. Ở nơi tưởng chừng chỉ có gậy sắt bọc cao su, chó berger, những khuôn mặt lầm lì, không ngờ lại được nghe những lời đối đáp khôn ngoan kín kẽ như những nhà ngoại giao trong các cuộc đàm phán lâu dài mỏi mệt. Ta bất ngờ cảm được cái vị ngọt ít ỏi trong cái cay nồng của củ hành.</p>
<p>Lớp vỏ tiếp theo đã bắt đầu làm ta cay mắt. Những người tù đang âm thầm tổ chức cuộc vượt thoát. Cái cảnh sử dụng quyền không muốn ăn của bọn họ chỉ là bức màn làm bằng 500 con người ngồi để che dấu những lớp đất đựng trong thùng phân được chuyển lên từ hố sâu. Một địa đạo dài gần 100 mét sắp hoàn thành. Nhưng nếu mở miệng hầm thì tất cả sẽ phải đi qua một bãi mìn, tức là tự sát.</p>
<p>Một cuộc tranh luận gay gắt giữa anh Năm và người thanh niên, trưởng toán đào hầm. Người thanh niên sôi nổi muốn vượt thoát bằng bất cứ giá nào. Nếu phải hy sinh 50 cũng đã là một chiến thắng. Nhưng anh Năm thì không, một người cũng không. Dù có phải lấp lại hầm để bảo toàn bí mật, lấp vùi luôn bao nhiêu công sức của cả trại A, ông vẫn cứ làm. Sau cùng, theo lời người đàn ông tên Quyết, nếu kéo dài thêm 6 tiếng thì mọi việc sẽ hoàn thành trọn vẹn. Người chỉ huy đã chứng tỏ tài lãnh đạo của mình khi thuyết phục được ban chỉ huy trại tù cho kéo dài thêm 6 giờ để ngồi mặc niệm những người bạn đã hy sinh. Hãy nghe ông nói, <em>chúng tôi xin ngồi đến giờ giới nghiêm của trại. Bỡi vì đêm nay là đêm rằm, đêm rằm tháng bảy, ngày xá tội vong nhân…Chúng tôi sẽ im lặng mặc niệm cho tất cả anh em, bạn cũng như thù đã chết…</em>Một lời thỉnh nguyện có tình như thế làm sao ban chỉ huy từ chối được. Họ đồng ý và địa đạo được đào xong.</p>
<p>Vấn đề đặt ra cấp bách ở đây là ai đi ai ở lại. Anh Năm thưởng công cho người kỹ sư bằng cách bảo đêm nay anh hãy trốn đi. Nhưng người kỹ sư bảo anh Năm phải đi để lãnh đạo những người vượt thoát trốn lên phía bắc. Phần ông, cho dù bị kết tội là anh hùng cá nhân ông vẫn muốn ở lại để đào thêm những địa đạo mới mặc dù biết rằng ở lại là phải chịu đựng những cây gậy sắt bịt cao su quất vào đầu vào lưng.</p>
<p>Lớp vỏ tiếp theo, qua lời kể của người thanh niên trưởng toán đào hầm, tất cả đã bị ba khẩu đại liên dấu trong rừng lau quét sạch trừ anh ta.</p>
<p>Chưa hết bàng hoàng bỡi cái chết của 99 con người đói khát, ta lại đối mặt trước một toà án kỳ dị với một bồi thẩm đoàn 8 người trong đó có người kỹ sư, vừa ở tư thế quan toà vừa ở vai bị cáo. Mỗi đêm, cứ một ai đó khả nghi là kẻ phản bội liền bị đưa ra trước hội đồng. Chỉ cần 5 cánh tay của 5 người trong bọn là kẻ đó liền bị hành quyết ngay giữa hội đồng bằng cách đâm một vật nhọn vào giữa ngục. Cứ thế, mỗi đêm một người mới trước đây là đồng chí phút chôc đã trở thành kẻ phản bội. Mỗi đêm một người chết và sáng ra tất cả tù còn lại phải chịu tra khảo để tìm cho ra ai là kẻ chỉ huy của cuộc thanh trừng.</p>
<p>Cái cảnh những người tù xử với nhau thật kinh hoàng. Còn hơn cửa ngục thứ mười vì ở đó là những con quỷ bảy màu với cái chỉa ba, chứ không phải những người anh em đã cùng sống chết có nhau. Mà bằng chứng tội phạm của những kẻ bội phản là gì? Chỉ là nửa mẫu thuốc lá thừa, một chút cặn trong lon đồ hộp, hay vô ý đánh rơi một miếng giẻ rách dùng làm khăn…Bằng chứng còn là được thân nhân ở bên ngoài tiếp tế mà lại lén lút để ăn riêng…Nếu không có một người trước cái án oan của mình hốt hoảng đặt ra một nghi vấn, <em>anh Quyết ấy sao không đi? Sao không nghi ngờ anh ấy mà lại nghi ngờ em chỉ vì em thèm thuốc quá!</em> Thì mỗi đêm một người cứ phải chết cho dù có phải lần lượt chết đến người thứ gần bốn trăm!</p>
<p>Mọi nghi ngờ dấu kín được trút hết vào người kỹ sư. Ông ta bị đóng đinh câu rút giữa những người anh em mà ông đã yêu từ lúc còn trẻ tuổi. So với người thanh niên, ông là thế hệ đi trước. Ông có bằng kỹ sư. Ông yêu cuộc cách mạng này, ông nguyện hiến cả đời mình cho sự nghiệp ấy. Thế nhưng ông bị buộc tội tổ chức đào cả một đường hầm để đưa cả trăm chiến sĩ vào giữa những họng súng của kẻ địch. Ông bị tội chết là phải lắm. Người thanh niên có nghĩa vụ to lớn và chính đáng giết ông ta.</p>
<p>Người kỷ sư tuyệt vọng, không phải vì phải chết mà vì niềm tin đã sụp đổ. Khi một người sống mà không niềm tin nào cả thì chết là một giảo thoát. Ông ta chịu để cho người thanh niên đâm dao vào ngực mình. Cái lớp vỏ cuối cùng của củ hành này tuy có cay nồng thật đấy nhưng chưa làm người bóc vỏ nổi cơn điên gào thét. Phải đến khi người thanh niên chùi máu dính trên con dao vào tay áo mình, cười lớn trước sự ngây thơ ngờ nghệch của người kỹ sư và nói những lời làm cho tóc ta dựng ngược, <em>tôi biết anh vô tội nhưng tôi phải giết anh…tôi là kẻ duy nhất biết ba khẩu đại liên đang chờ những người tù…tôi là kẻ lên sau cùng khi 99 người đã bị giết</em>. Thì lúc ấy khi những lời nói của hắn ta trào ra khỏi miệng như những con rắn độc, ta sững sờ nín lặng, rồi hai tay bịt lấy tai mình mà hét toáng lên. Sao lại có một sự thực tàn nhẫn và lạ lùng đến như vậy. Một sự thực cay xè còn hơn là một củ hành thúi.</p>
<p>Sau cơn cuồng điên vì không thể tin được lại có một kẻ bội phản yêu quái ranh ma như thế, ta rơi xuống vực sâu của sự im lặng. Sự im lặng của thao thức. Sự im lặng của tuyệt vọng. <em>Trong mơ hồ ta thấy những khuôn mặt dị kỳ với những con mắt không phải chỉ có những con sâu mà còn có cả cọp beo rắn rít, những con mắt của bạch cốt tinh chỉ nhìn vào ai là kẻ đó lạnh toát biến thành xác chết.</em></p>
<p>Ta giật mình nhớ lại những lời nói, tiếng cười của tay thanh niên, trưởng toán đào hầm. Hắn sôi nổi nhiệt tình bao nhiêu càng đáng sợ bấy nhiêu. Hắn sẵn sàng hy sinh cả 50 và như ta thấy đó. Cả 100 nếu tính luôn cái chết sau cùng của người kỹ sư để tạo nên cho mình cuộc vượt thoát hào hùng. Khi người kỹ sư mà hắn xem như cái đuôi quá dài của bọn tiểu tư sản bị giết thì trên đời này còn ai biết được sự thật của hắn. Sự sống sót của hắn đã là một trang anh hùng trong lý lịch của hắn. Giờ lại thêm cái chiến công giết kẻ “phản bội” để trả thù cho anh em, thực ra là để bịt miệng, hắn trở thành kẻ đi đầu trong đoàn quân chiến thắng. Thử tưởng tượng từ đó đến nay, nếu chưa chết, hắn đã leo lên bao nhiêu bậc? Hắn đã giết thêm hại thêm bao nhiêu người vô tội để xây đắp tượng đài cho mình?</p>
<p>Mà đâu phải chỉ có một trại tù như thế ở Phú Quốc mới có những kẻ như hắn. Còn bao nhiêu trại tù trên đất nước chúng ta!</p>
<p>Thôi mệt quá, không hơi sức đâu mà nghĩ tới hắn nữa. Nói một đôi điều ngoài lề với tác giả.</p>
<p>Là như thế này, sao lại để cho hắn nói quá nhiều. Chỉ một vài tiếng là đủ. Chỉ cần “mô Phật” khi chùi xong lưỡi dao vào áo là đã quá cay chua rồi. Cần gì phải để hắn hỏi chú tiểu bé con có thấy trong mắt hắn có con sâu hay không. Ngoài tiếng <strong><em>con người</em></strong> mà hắn không xứng đáng được gọi thì con gì chẳng được, cứ phải là con sâu. Những cảnh không lời của cái hội đồng kỷ luật 8 người đó với một ngọn đèn con khi sáng khi tắt (như lương tâm) và những người bị giết lặng lẽ là tuyệt đỉnh của vở kịch này. Những cảnh đó nói lên biết bao điều tối ám trong lòng hắn. Nếu vở kịch này diễn ra trước cổng tam quan mà không có chú tiểu ở đầu và cuối mà thay vào đó là những tiếng chuông chùa vọng ra từ hậu trường thì đúng là cả một sự im lặng kinh hoàng như cả trái đất này đã biến thành một lỗ đen.</p>
<p><strong><em>Kết</em></strong></p>
<p>Kịch của Lữ Kiều là những dấu hỏi lớn, những phân định một cách công bằng về công và tội, về Thiện và Ác, về ánh sáng và bóng tối. Không một sân khấu nào giữa thời buổi này dám dựng. Hãy dựng nên trong đầu ta, mệt thật đấy, đau thật đấy, nhưng chỉ một mình ta cùng sông và cùng chết với kịch, nói như Thánh Thán, không sướng sao?</p>
<p>20/5/09</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>&nbsp;</p>
<h3><strong>Phụ Lục :</strong></h3>
<h2>Lữ Kiều</h2>
<h1>Kẻ Phá Cầu</h1>
<p>KỊCH MỘT MÀN MỘT CẢNH</p>
<p>&nbsp;</p>
<p><strong>Các Nhân Vật:</strong></p>
<p><strong>VĂN : Người chồng</strong></p>
<p><strong>KIM : Người vợ</strong></p>
<p><strong>MIÊN : Em người vợ, thương binh mù</strong></p>
<p><strong>TRUNG : Tổ trưởng đặc công</strong></p>
<p><strong>NGƯỜI CHỈ HUY: Đặc công</strong></p>
<p><strong>ÚT : Du kích</strong></p>
<p><strong>DU KÍCH QUÂN : (3-5 người)</strong></p>
<p><strong>BÀ MẸ : Câm, bất thường</strong></p>
<p>&nbsp;</p>
<p><strong><em>CẢNH</em></strong><strong></strong></p>
<p><em>Bên trong một căn nhà dưới mức trung lưu, trong thời chiến. Cái hầm nổi xây bằng bao cát và gỗ ván chiếm phần bên mặt. Trên cái hầm là khuôn cửa sổ lớn, khép lại, chỉ mở ra để hé thấy hình ảnh chiếc cầu phía sau. Một cánh cửa ở bên trái là cửa chính. Cánh cửa nhỏ hơn, bên cánh gà sân khấu, để ăn thông với nhà sau.</em></p>
<p><em>Sự bày biện sơ sài. nghèo nàn.</em></p>
<p><em>Kịch xảy ra vào cuối năm 1968.</em></p>
<p>&nbsp;</p>
<p><strong>MÀN ĐỘC NHẤT</strong></p>
<p><em>Mọi người trong gia đình vừa xong buốt cơm tối. Ngọn đèn dầu leo lét trên bàn. Người Mẹ ngồi khuất trong một xó, nhìn về phía khán giả. Văn đọc báo. Kim dọn dẹp. Miên ngồi tựa lưng vào những bao cát, mãi đeo kính đen, hút thuốc. Tiếng chó sủa xa xa.</em></p>
<p>&nbsp;</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>VĂN</p>
<p>Em đóng cửa chưa?</p>
<p>KIM</p>
<p>Rồi, anh ạ.</p>
<p>VĂN</p>
<p>Miên, vào hầm trước đi. Vào với mẹ.</p>
<p>MIÊN</p>
<p>Tôi ngồi một lát cho thoáng.</p>
<p>KIM: <em>(Đến bên Miên, dịu dàng)</em></p>
<p>Hình như mấy hôm nay Miên không được khỏe.</p>
<p>MIÊN</p>
<p>Không sao đâu chị.</p>
<p>KIM<em>: (Ngồi xuống cạnh Miên, mệt mỏi)</em></p>
<p>Đêm nào cũng phải chui vào hầm. Thật khó chịu. Mẹ và anh Văn hay lo nên tôi đành chìu lòng. Chứ tình thật tôi chỉ thích ngủ thoải mái. Ở ngoài hiên kia!</p>
<p>MIÊN:</p>
<p><em>(Gượng cười)</em></p>
<p>Tôi cũng thích như vậy <em>(một lát)</em> Dù sao, chị cũng cần nhiều cố gắng và can đảm nhất trong nhà.</p>
<p>VĂN</p>
<p>Em đã cài then hết cửa rồi chứ?</p>
<p>KIM</p>
<p>Hết cả rồi, thưa anh.</p>
<p>VĂN</p>
<p>Dạo này, em cũng gầy đi nhiều đó.</p>
<p>KIM: <em>(Gượng cười)</em></p>
<p>Có gì đâu anh. Em vẫn mạnh khỏe! <em>(nói với Miên)</em> Phải không Miên?</p>
<p>MIÊN</p>
<p>Tôi chẳng thấy gì.</p>
<p>KIM: <em>(Chạnh lòng)</em></p>
<p>Chị quên… <em>(nắm tay Miên bối rối trong lúc Miên cười lặng lẽ)</em></p>
<p>&nbsp;</p>
<p>VĂN</p>
<p>Kim, em đưa mẹ vào hầm trước đi. Anh chưa muốn ngủ.</p>
<p>KIM</p>
<p>Em cũng muốn ngồi một lát nữa.</p>
<p><em>Tiếng phản lực. Tiếng bom dội về. Người Mẹ nãy giờ ngồi ngó ra khán giả, bỗng đứng dậy. Bà cử động như cái bóng lẩn lút, âm thầm. Bà vào trong hầm</em>.</p>
<p>MIÊN</p>
<p>Hồi nãy, tôi nghe chị hát. Chị hát bài gì vậy, chị Kim?</p>
<p>KIM</p>
<p>Bài ca Hòa Bình. <em>(Ngượng nghịu, một lát)</em> Miên còn thích bài Chiều Vàng chứ?</p>
<p>MIÊN<em> (gượng cười)</em></p>
<p>Còn, chị ạ. Chị nhắc làm tôi nhớ Trung. Chúng tôi đã sống với nhau những ngày ruột thịt. Cả hai đều hát bài Chiều Vàng ầm ỉ và hăng hái, để cùng tương tư một cô gái không có gì đặc sắc hơn các cô gái khác.</p>
<p>KIM</p>
<p>Ừ nhỉ. Vậy mà Trung bỏ đi. Lên núi.</p>
<p>MIÊN</p>
<p>Đáng buồn. Cả tôi lẫn Trung đều sống quá vội. <em>(Một lát)</em> Chị Kim ạ, bây giờ, trước mắt tôi thỉnh thoảng cũng hiện ra những chiều vàng rực rỡ trên thảm mạ xanh rợn người. Bác sĩ bảo giây thần kinh thị giác của tôi chưa chết hẳn.</p>
<p>&nbsp;</p>
<p><em>Văn bị câu chuyện giữa hai chị em làm chú ý. Chàng cảm động nhưng chẳng thể biểu lộ. Sân khấu tối dần lại chỉ chừa hình ảnh Văn loay hoay bứt rứt giữa ghế ngồi, tờ báo; hình ảnh gây ấn tượng một người bị trói buộc bởi nhiều sợi dây căng ra từ những tĩnh vật và tiếng động chung quanh &#8211; tiếng phản lực, tiếng chó sủa, tiếng mèo, tiếng đại bác. Trong lúc ấy, câu chuyện giữa hai chị em vẫn trầm trầm, đều đặn.</em></p>
<p>KIM</p>
<p>Miên ạ, một mai, khi hòa bình, đời sống sẽ khác.</p>
<p>Chúng ta sẽ gặp lại những người thân, sẽ trở về làng cũ, chị sẽ đưa Miên đi.</p>
<p>MIÊN <em>(cười)</em></p>
<p>Chị vẫn bền lòng hy vọng ư ? Dù sao, chúng ta cũng không được già cỗi để chờ ngày hòa bình trở lại.</p>
<p>KIM</p>
<p>Miên làm chị cảm động. Chị hát Chiều Vàng cho Miên nghe nhé. <em>(Khẽ hát)</em></p>
<p>MIÊN</p>
<p><em>(Làm bộ vô tình không nghe, ngắt ngang.)</em></p>
<p>Anh Văn, hôm nay có tin gì về hòa đàm Ba Lê?</p>
<p>VĂN</p>
<p>Vẫn luận điệu cũ. Chưa tiến triển. Người ta đề nghị rút quân về cả hai phía…</p>
<p><em>Không khí trong nhà rời rã. Mỗi người như theo dõi tư tưởng của chính mình. Có tiếng còi tàu thật xa. thật rền.</em></p>
<p>KIM</p>
<p>Chín giờ rồi.</p>
<p>MIÊN</p>
<p>Vẫn tiếng còi tàu ấy.</p>
<p>KIM</p>
<p>Nghe thật buồn, phải không?</p>
<p>MIÊN</p>
<p>Buồn lắm!</p>
<p><em>Im lặng, một lát. Rồi tiếng chó sủa ở xa gần lại. Tiếng mèo. Tiếng chó rộn rã hơn. Tiếng chân người rào rào. dừng lại. Văn thất sắc đứng dậy.</em></p>
<p>VĂN <em>(nói nhỏ)</em></p>
<p>Có người đến. Tất cả mọi người vào hầm. Để mặc tôi.</p>
<p>KIM</p>
<p>Không được. Anh hãy tránh đi. Giờ này đã giới nghiêm rồi. Có lẽ soát gia đình. Để em liệu.</p>
<p>MIÊN</p>
<p>Anh Văn hãy tránh đi một lát. Để tôi và chị Kim.</p>
<p>VĂN<em> (lo sợ)</em></p>
<p>Họ đông người. Có lẽ họ vào đây. Kim hãy vào hầm với mẹ. Anh và Miền ở đây.</p>
<p><em>Những tiếng động chợt im. Một lát. Rồi có tiếng gõ cửa.</em></p>
<p>MIÊN</p>
<p>Hãy nghe lời tôi. Anh Văn tránh vào nhà sau đi. Lát nữa anh ra vẫn chưa muộn. Anh nên nhớ là nhà này ở vùng xôi đậu giữa hai chính quyền.</p>
<p>KIM <em>(năn nỉ)</em></p>
<p>Anh Văn, hãy nghe em, hãy vào nhà sau tránh đi. Sau tủ áo. Nghe anh. <em>(nắm lấy áo Văn đẩy đi)</em> Cố gắng lên anh. Nghe em.</p>
<p><em>Văn khuất vào nhà sau. Tiếng gõ cửa rụt rè. Rồi dồn dập. Rồi tiếng một người.</em></p>
<p>NGƯỜI LẠ</p>
<p>Có ai ở nhà, xin mở cửa.</p>
<p>KIM: <em>(lớn tiếng)</em></p>
<p>Ai đó?</p>
<p>NGƯỜI LẠ</p>
<p>Xin mở cửa.</p>
<p>KIM</p>
<p>Xin cho biết các ông là ai? Chúng tôi ở đây chỉ có đàn bà.</p>
<p>NGƯỜI LẠ: <em>(Vẫn nhỏ tiếng)</em></p>
<p>Xin mở cửa. Chúng tôi đây.</p>
<p><em>Kim tần ngần một lát rồi mở cửa. Những người lạ ùa vào nhà rất nhanh, súng cầm tay. Họ bao vây cái hầm, chắn trước những cánh cửa. Một người mở hé cánh cửa sổ cho nhìn thấy hình ảnh cây cầu phía sau rồi khép lại.</em></p>
<p>NGƯỜI CHỈ HUY</p>
<p>Xin mọi người đứng yên, <em>(lớn giọng)</em> yêu cầu những người trong hầm hãy ra ngay.</p>
<p>MỘT DU KÍCH</p>
<p>Theo báo cáo nhà có bốn người.</p>
<p>KIM</p>
<p>Thưa ông, chỉ còn má tôi trong hầm. Má tôi lãng tai.</p>
<p>NGƯỜI CHỈ HUY</p>
<p>Tôi hiểu. <em>(Nói với những người du kích quân)</em> Các đồng chí hãy bố trí canh gác vị trí này. Đầy là hậu cứ cho mục tiêu hoạt động đêm này.</p>
<p>NGƯỜI DU KÍCH</p>
<p>Rõ.</p>
<p>NGƯỜI CHỈ HUY</p>
<p>Đồng chí Út!</p>
<p>ÚT</p>
<p>Có mặt.</p>
<p>NGƯỜI CHỈ HUY</p>
<p>Báo cáo với tổ trưởng giai đoạn một đã hoàn tất.</p>
<p>MỘT DU KÍCH</p>
<p><em>(ngập ngừng)</em></p>
<p>Còn những người trong hầm?</p>
<p>NGƯỜI CHỈ HUY</p>
<p>Đây là những người quen. Tôi biết. <em>(nói với những người du kích)</em> Các đồng chí hãy y lệnh. Bây giờ, tôi ở đây một mình. Các đồng chí nhớ mật hiệu vào nhà chứ.</p>
<p>NGƯỜI DU KÍCH</p>
<p>Dạ nhớ, thưa đồng chí <em>(rút lui dần).</em></p>
<p>NGƯỜI CHỈ HUY <em>(cứng rắn)</em></p>
<p>Thưa bà tôi cho bà một phút để gọi người trong hầm ra. Còn ông kia <em>(gọi Miên)</em> ông hãy ngồi đó, yên lặng. Tôi biết ông mù.</p>
<p>KIM <em>(lo âu gọi lớn)</em></p>
<p>Má, Má<em>.(Người chỉ huy tiến thêm một bước, chĩa súng vào hầm. Kim gọi thêm)</em> Má! Má!. <em>(Trong lúc này bà mẹ từ từ ra khỏi hầm, nhìn người lạ, không nói năng).</em></p>
<p>KIM <em>(nhìn mẹ rồi ngập ngừng)</em></p>
<p>Má ra ngoài này cho người ta xét nhà.</p>
<p>NGƯỜI CHỈ HUY</p>
<p>Còn một người nữa!</p>
<p>KIM</p>
<p>Chồng tôi vắng nhà!</p>
<p>NGƯỜI CHỈ HUY <em>(nạt)</em></p>
<p>Hừ, vắng nhà, bà nói dối! <em>(một lát, dịu dàng hơn)</em> Thôi được. Trong trường hợp này, tôi được lệnh xử sự đặc biệt <em>(mỉa mai)</em> Dù sao, dù chồng bà có lánh mặt thì cũng chẳng thể làm gì hơn. Bà biết chứ, bà biết chúng tôi là ai. Chúng tôi đã bố trí quanh nhà này, để không ai vào ra được <em>(dịu dàng)</em> Nhưng xin bà đừng sợ, chúng tôi chỉ mượn tạm căn nhà này trong một thời gian ngắn.</p>
<p><em>Đến ngồi giữa ghế, nhìn mọi người lơ đãng.</em></p>
<p>KIM</p>
<p>Các ông định làm gì?</p>
<p>NGƯỜI CHỈ HUY</p>
<p>Một công tác mà bà có biết cũng chẳng ích lợi. Nhưng chúng tôi hứa sẽ không làm hại gia đình bà.</p>
<p><em>Sân khấu tối đần. Kim đứng gần lại Miên đang gục mặt. Người mẹ tiến về xó tối, ngồi xuống, bó gối nhìn khán giả.</em></p>
<p>KIM <em>(Giọng mất bình tĩnh)</em></p>
<p>Chúng tôi chỉ có bà mẹ già. Và một người tàn tật.</p>
<p>NGƯỜI CHỈ HUY</p>
<p>Tôi đã hứa không làm hại gia đình bà. Chúng ta là người quen cũ.</p>
<p>KIM</p>
<p>Người quen?</p>
<p>NGƯỜI CHỈ HUY</p>
<p>Vâng. Người quen. Bà không nhận ra tôi đâu, bà Văn ạ. Nhưng tôi thì không thể quên bà. <em>(cười khan)</em> Không hề quên bà.</p>
<p>KIM <em>(Lúng túng)</em></p>
<p>Xin ông cho biết tên.</p>
<p>NGƯỜI CHỈ HUY</p>
<p>Sá gì một cái tên, thưa bà. Chúng tôi đến, rồi đi. <em>(một lát)</em> Nhưng chốc nữa đây sẽ có một người đến, và bà sẽ nhận ra.</p>
<p><em>Nhìn về Miên. Ánh sáng hướng về Miên: Miên đang nhíu mặt, đau đớn, bất lực, nghe ngóng. Lúc bấy giờ, tiếng chó sủa. Tiếng chân người. Người chỉ huy đứng bật dậy, rút súng ngắn, lên đạn, đứng nép một bên cửa chính.</em></p>
<p>NGƯỜI CHỈ HUY</p>
<p>Không ai được lên tiếng!</p>
<p><em>Tiếng chân dừng lại. Tiếng chó sủa. Rồi tiếng gõ cửa. Hai tiếng ngắn, ngừng lại, ba tiếng rời. Cánh cửa từ từ mở. Một bóng người len vào. Người chỉ huy hạ súng xuống.</em></p>
<p>TRUNG <em>(khuất vào bóng tối)</em></p>
<p>Chào đồng chí.</p>
<p>NGƯỜI CHỈ HUY</p>
<p>Chào đồng chí.</p>
<p><em>Trung di động trong phần tối của sân khấu. Chỉ thấy cái bóng sinh hoạt</em></p>
<p>TRUNG</p>
<p>Giai đoạn đầu đã hoàn tất?</p>
<p>NGƯỜI CHỈ HUY</p>
<p>Vâng.</p>
<p>TRUNG</p>
<p>Còn những người trong nhà?</p>
<p>NGƯỜI CHỈ HUY</p>
<p>Ông Văn lánh mặt.</p>
<p>TRUNG</p>
<p>Thôi, được rồi. <em>(Trung đến cánh cửa sổ, mở rộng ra, y đứng quay lưng về phía khán giả, bóng người nổi bật trong đêm)</em> Đồng chí còn thắc mắc gì về công tác đêm nay?</p>
<p>NGƯỜI CHỈ HUY</p>
<p>Xin trình bày lại kế hoạch. <em>(Nhìn những người trong nhà, ngập ngừng)</em></p>
<p>TRUNG: <em>(trầm ngâm)</em></p>
<p>Đồng chí cứ nói. Những người này không làm hại chúng ta.</p>
<p>NGƯỜI CHỈ HUY</p>
<p>Vâng, mục tiêu đã được nghiên cứu kỹ. Đồng chí Tư và Hào mở đường. Đồng chí Vui giữ đường liên lạc. Tôi và đồng chí là những kẻ mang chất nổ và thực hiện công tác. Căn nhà này là hậu cứ của chúng ta. Đồng chí Út sẽ ở lại đây.</p>
<p>TRUNG</p>
<p>Vâng.</p>
<p>NGƯỜI CHỈ HUY</p>
<p>Vậy, tôi xin rút lui.</p>
<p>TRUNG</p>
<p>Lệnh cuối: Chúng ta không nổ súng. Hẹn đồng chí giờ N.</p>
<p>NGƯỜI CHỈ HUY <em>(ngập ngừng)</em></p>
<p>Còn điều này, những kẻ ở trong nhà&#8230;</p>
<p>TRUNG</p>
<p>Tôi sẽ liệu.</p>
<p>NGƯỜI CHỈ HUY</p>
<p>Còn người đang trốn?</p>
<p>TRUNG <em>(lạnh lùng)</em></p>
<p>Được rồi. Chúng ta đã hoàn tất giai đoạn một êm đẹp.</p>
<p>NGƯỜI CHỈ HUY</p>
<p>Chào đồng chí <em>(rút lui)</em></p>
<p><em>Trung giơ tay phát một cử chỉ mệt mỏi. Ánh sáng chiếu lên cái lưng của Trung đang đứng yên lặng nhìn cây cầu.</em></p>
<p><em>Trong lúc đó, Miên, trong một dáng điệu cực kỳ đau đớn, sờ soạng đứng dậy</em>.</p>
<p>MIÊN <em>(run giọng)</em></p>
<p>Trung đó hả?</p>
<p>TRUNG <em>(quay lại từ từ)</em></p>
<p>Phải, Trung đây!</p>
<p>KIM <em>(thốt kêu lên, đứng bật dậy).</em></p>
<p>Trời! Trung!</p>
<p><em>Mọi người im lặng sững sờ một giây.</em></p>
<p>TRUNG</p>
<p>Vâng. Tôi từ núi về. <em>(Một lát)</em> Tôi mừng thấy Miên còn sống sót.</p>
<p>MIÊN <em>(Tiến tới, đưa tay ra với Trung.)</em></p>
<p>Trung thật đó hả? <em>(cảm động)</em> Chúng ta đều còn sống&#8230;</p>
<p>TRUNG: <em>(Nén xúc động, thẳng thắn.)</em></p>
<p>Tôi chỉ còn rất ít thời giờ. Chị Kim, chị hãy gọi anh Văn ra đây. Tôi hứa với chị không để ai làm hại anh ấy.</p>
<p>KIM <em>(yếu đi)</em></p>
<p>Anh ấy không có nhà.</p>
<p>TRUNG</p>
<p>Chị không còn tin tôi nữa. Thôi được. <em>(ngừng một lát)</em> Tôi chỉ muốn thăm anh ấy.</p>
<p>MIÊN</p>
<p>Trung, cậu về đây làm gì?</p>
<p>TRUNG</p>
<p>Miên biết rồi. <em>(ngồi xuống ghế)</em> Miên hãy ngồi. Chị Kim cho tôi ly nước. Chúng ta còn rất ít thời giờ nói chuyện với nhau. <em>(nhìn người mẹ)</em> Thưa bác, bác vẫn mạnh?</p>
<p><em>Người mẹ nhìn Trung, khoát tay ra dấu từ chối.</em></p>
<p>KIM</p>
<p>Chị ra sau lấy nước cho Trung.</p>
<p>TRUNG</p>
<p>Hãy nói với anh Văn: đừng trốn khỏi nhà. Chúng tôi chỉ chọn tạm nơi này làm hậu cứ. Mọi người chỉ cần giữ thái độ không nghe, không biết, không thấy.</p>
<p>KIM</p>
<p>Tôi nghe lời Trung <em>(khuất về sau).</em></p>
<p>MIÊN</p>
<p>Trung! Bây giờ cậu ra sao?</p>
<p>TRUNG <em>(khinh bạc)</em></p>
<p>Thế đó!</p>
<p>MIÊN</p>
<p>Tôi không còn nhìn thấy cậu.</p>
<p>TRUNG</p>
<p>Chúng ta đều thay đổi.</p>
<p>MIÊN</p>
<p>Hãy lại gần đây <em>(giơ tay quờ quạng trong lúc Trung bước lại gần)</em></p>
<p>TRUNG</p>
<p>Ở trên núi, tôi nghe tin cậu đã chết.</p>
<p>MIÊN <em>(nắm lấy tay Trung)</em></p>
<p>Tôi không thể tưởng tượng ra cậu. Có lúc, tôi cũng nghĩ là cậu đã chết.</p>
<p>TRUNG</p>
<p>Chúng ta đều còn sống. Nhưng không thể còn như xưa.</p>
<p>MIÊN</p>
<p>Tôi không tin. Người như cậu không thể gột bỏ quá khứ.</p>
<p>TRUNG</p>
<p>Tôi học được điều này: chúng ta đã có một tuổi trẻ lãng mạn. Quá khứ ấy phải biết quên đi. Tôi nghĩ đến hiện tại. Cái quá khứ khốn nạn đã đày đọa đời sống chúng ta, đã bắt tôi rời gia đình, xa bạn bè. Cái hiện tại đã dạy cho tôi lao tù tủi nhục, đã cho tôi hiểu thấm thía một thứ tình cảm mạnh hơn tình yêu.</p>
<p>MIÊN</p>
<p>Là gì?</p>
<p>TRUNG</p>
<p>Hận thù.</p>
<p>MIÊN</p>
<p>Thật thế ư?</p>
<p>TRUNG <em>(hăng hái)</em></p>
<p>Chính hận thù đã đẩy tôi lên núi.</p>
<p>MIÊN</p>
<p>Đó cũng là sức mạnh xui cậu phá cầu?</p>
<p><em>Im lặng sững sờ. Một lát.</em></p>
<p>TRUNG <em>(ngập ngừng)</em></p>
<p>Miên, cậu không hiểu đâu. <em>(thẳng thắn)</em> Phải, tôi sẽ phá cầu. Tôi về đây để phá cầu.</p>
<p>MIÊN</p>
<p><em>(Kêu lên, lùi xa.)</em></p>
<p>Trung, cậu không được làm vậy.</p>
<p>TRUNG</p>
<p>Quyết định không phải của tôi. Tôi không đi ngược lại với nghị quyết. Tôi chấp nhận. Vì vậy, tôi tình nguyện về đây, phá cầu.</p>
<p><em>(Im lặng, nặng nề.)</em></p>
<p>MIÊN <em>(Cố nén xúc cảm)</em></p>
<p>Trung, tôi đồng ý chúng ta đã đứng ở hai phía. Nhưng chiếc cầu trung lập. Nó không phải là mục tiêu quân sự của bên này, hay bên kia.</p>
<p>TRUNG</p>
<p>Trong cuộc chiến này, không có nơi nào trung lập. Bên này. Hay bên kia.</p>
<p>MIÊN</p>
<p>Không, chiếc cầu không phải của bên nào cả. Nó là của thành phố chúng ta. Nó là của lịch sử. Chiếc cầu đã có từ khi chúng ta chưa sinh ra. Nó có lịch sử của nó, gắn liền với lịch sử đất nước. Phá cầu là một hành động phá hoại thuần túy.</p>
<p>TRUNG</p>
<p>Phá hoại nào cũng thuần túy cả. Miên ạ, tôi cũng yêu quý cây cầu <em>(mơ màng)</em> Đâu phải dễ dàng quên hết những liên hệ giữa mình và cây cầu kia. Nhưng nó phải bị hủy diệt.</p>
<p>MIÊN</p>
<p>Sự phá hoại kia mang ý nghĩa gì?</p>
<p>TRUNG</p>
<p>Tôi không muốn cắt nghĩa. Nhưng cậu thử nghiệm xem. Giờ là chiến tranh. Sáng mai, thức dậy, cả thành phố này kinh hoàng: chiếc cầu đã gãy. Chiếc cầu huyết mạch của đô thị đã bị phá bởi những người trên núi trở về. Chỉ sự kiện ấy thôi, đủ mang cái ý nghĩa có mặt của chúng tôi.</p>
<p>MIÊN<em> (hằn học)</em></p>
<p>Sự có mặt của phá hoại.</p>
<p>TRUNG</p>
<p><em>(chán nản)</em></p>
<p>Cậu không thể nào hiểu nổi. Con đường tôi Đi dạy cho tôi nhiều điều, trong đó, có sự mù quáng của tình cảm. Phải biết hy sinh tình cảm. Cây cầu có sá gì, so với những bất công, đau khổ, chết chóc kia? Tại sao cậu mù lòa? Sao tôi lên núi? Tại sao hàng vạn thanh niên như cậu như tôi không được sống bình an?</p>
<p>MIÊN</p>
<p>Cậu muốn thuyết phục tôi đó ư?</p>
<p>TRUNG</p>
<p>Tôi không còn thì giờ. Dù sao, chúng ta cũng đã chọn lựa.</p>
<p>MIÊN</p>
<p>Cậu sẽ không hối hận? Sáng mai, khi cầu gãy, những người dân mà cậu muốn giải phóng sẽ oán trách các cậu.</p>
<p>TRUNG</p>
<p>Những người nặng tình với chiếc cầu chỉ là thiểu số. Trong đó có cậu và tôi. Còn bao nhiêu người trên đất nước này chẳng biết chiếc cầu kia ra làm sao. Nhưng sáng mai, hàng triệu người ở đây, ở khắp nước, ở khắp thế giới sẽ biết đến chiếc cầu, chiếc cầu gãy, chiếc cầu bị phá bởi chúng tôi.</p>
<p>MIÊN</p>
<p>Cậu tin ở áp lực phá hoại?</p>
<p>TRUNG</p>
<p>Đó là chiến tranh.</p>
<p>MIÊN</p>
<p>Phá hoại là sức mạnh của kẻ yếu.</p>
<p>TRUNG <em>(riễu cợt)</em></p>
<p>Cậu lý luận như tên tiểu tư sản lãng mạn.</p>
<p>MIÊN</p>
<p><em>(bất mãn)</em></p>
<p>Cậu đã lột xác đến thế ư?</p>
<p>TRUNG</p>
<p>Cậu phải hiểu rằng suy nghĩ bằng hận thù khác hơn suy nghĩ bằng tình ái <em>(cười khan)</em> Nhưng, dù sao tôi cũng chưa thể quên hết. <em>(buồn bã)</em> Tôi không thể bất hòa với đời mình. <em>(thân ái)</em> Miên, cậu không thay đổi. Ở xa, nghĩ tới cậu tôi không tưởng tượng ra được một hình ảnh về cậu mà khác đi. Nhưng còn tôi&#8230;</p>
<p>MIÊN <em>(cảm động)</em></p>
<p>Chúng ta đã khác.</p>
<p><em>Im lặng bịn rịn. Hai người bạn đứng gần nhau. Miên sờ lên người Trung, rồi dứt khoát.</em></p>
<p>Trung, tôi phản đối cậu phá cầu. Ngày mai, khi nghe</p>
<p>tin cầu gãy, nếu tôi còn sống, tôi xem như cậu đã chết.</p>
<p>TRUNG</p>
<p><em>(Bình tĩnh)</em></p>
<p>Miên ạ, <em>(ngập ngừng)</em> Miên hãy nhớ điều này: Chiếc cầu kia còn thân yêu với tôi hơn với cầu<em>. (dịu giọng)</em> Nhà tôi ở đầu cầu tôi đã lớn lên bên bến sông ấy, xuống tắm dưới chân cầu kia. Nhưng tôi tình nguyện phá. Vì không thể làm khác.</p>
<p><em>(Rời Miên, đứng quay lưng, nhìn về phía cầu, ngậm ngùi)</em></p>
<p>Tôi phải đi. Chúng ta là những kẻ bất hạnh. Cậu đã mù nên chẳng trông thấy hòa bình. Còn tôi thì không sống đến ngày ấy.</p>
<p>MIÊN</p>
<p>Trung, tại sao?</p>
<p>TRUNG <em>(xúc động)</em></p>
<p>Phá cầu, tôi đau đớn lắm. Tôi vẫn là bạn cậu, Miên hãy nhớ thế<em>. (Khinh bạc)</em> Dù là hận thù, dù là tình ái, thì cũng chỉ là tình cảm.</p>
<p><em>Trung gục mặt trên những song cửa sổ. Miên mò mẫm đứng gần bạn. Hai người quay lưng lại phía khán giả, ánh sáng trên hai phần lưng và chiếc cầu rực rỡ đằng xa. Im lặng, Kim bước vào, mang theo ly nước..</em></p>
<p>KIM <em>(nhìn hai người một lát)</em></p>
<p>Trung uống nước.</p>
<p>TRUNG</p>
<p><em>(Quay lại, gượng cười, vỗ vai Miên, lấy lại bình tĩnh)</em> Cám ơn chị <em>(Cầm ly nước uống một hơi)</em> Chị Kim!</p>
<p>KIM <em>(sợ sệt)</em></p>
<p>Dạ.</p>
<p>TRUNG</p>
<p>Tôi mừng còn gặp lại chị. Tôi không còn người thân nào. Tôi mãn nguyện lắm, <em>(cứng rắn)</em> chị hãy nhớ đây: giữ thái độ không nghe, không biết, không thấy!</p>
<p>KIM</p>
<p>Tôi nghe lời Trung.</p>
<p><em>(Tiếng chó sủa rõ dần. Tiếng gõ cửa theo mật hiệu.)</em></p>
<p>TRUNG</p>
<p>Cứ vào.</p>
<p>NGƯỜI CHỈ HUY</p>
<p><em>(bước vào)</em></p>
<p>Đồng chí, đã đến giờ <em>(quay lui)</em> Đồng chí Út!</p>
<p>ÚT</p>
<p>Dạ.</p>
<p>NGƯỜI CHỈ HUY</p>
<p>Đồng chí ở lại đây, canh giữ những người trong nhà, cho đến khi có lệnh.</p>
<p>ÚT</p>
<p>Rõ. Tuân lệnh!</p>
<p>TRUNG</p>
<p>Chúng ta đi.</p>
<p><em>Trung khép cánh cửa sổ lại, bước đi, lạnh lùng, dứt khoát, không nhìn Miên và Kim. Bổng Trung dừng lại, tiến đến trước mặt người mẹ, đưa tay ra, nhưng bà mẹ lùi lại, ra dấu từ chối.</em></p>
<p>KIM <em>(gọi)</em></p>
<p>Trung!</p>
<p>NGƯỜI CHỈ HUY</p>
<p><em>(bước sau Trung)</em></p>
<p>Bà Kim, xin bà ngồi yên. Mọi người tạm dưới sự canh gác của người này <em>(chỉ tên Út)</em></p>
<p><em>Trung khuất sau cửa. Người cjỉ huy trước khi khép cửa, còn nhìn lui.</em></p>
<p>KIM <em>(gọi theo)</em></p>
<p>Trung!</p>
<p>NGƯỜI CHỈ HUY <em>(bình thản, buồn bã)</em></p>
<p>Bà Kim. Bà vẫn không nhận ra tôi. Xin từ biệt Bà.</p>
<p><em>Miên đến sau lưng chị, nét mặt đau khổ. Mọi người yên lặng. Út nãy giờ đứng bất động đang dời bước nhìn khắp mọi người. Người mẹ lại tìm xó tối, ngồi xuống, bó gối, nhìn ra khán giả.</em></p>
<p>ÚT <em>(súng nơi tay, đi lại bứt rứt)</em></p>
<p>Các người hãy ngồi!</p>
<p><em>Miên và Kim ngồi xuống hai chiếc ghế đặt gần cửa sổ. Cả hai như chưa thoát ra khỏi những xúc động dồn dập vừa xảy đến. Những tiếng động ở xa vọng về. Không khí trống trải.</em></p>
<p>ÚT</p>
<p>Này, anh kia?</p>
<p>MIÊN</p>
<p>Ông gọi tôi?</p>
<p>ÚT</p>
<p>Anh tên gì?</p>
<p>MIÊN</p>
<p>Miên.</p>
<p>ÚT</p>
<p>Còn bà kia.</p>
<p>KIM</p>
<p>Tôi tên Kim</p>
<p>ÚT <em>(hằn học)</em></p>
<p>Hai người ngồi xa nhau ra.</p>
<p><em>Kim đỡ Miên đến ngồi xuống trước hầm, gần bà mẹ, rồi trở về chỗ cũ. Mọi người im lặng. Một lát.</em></p>
<p>ÚT <em>(đi lại, khó chịu)</em></p>
<p>Hừ, rồi các người cũng không tránh được ngày đền tội trước nhân dân!</p>
<p>KIM</p>
<p>Ô hay! Chúng tôi có làm gì?</p>
<p>MIÊN</p>
<p>Chị Kim, xin chị đừng cãi lời ông ta.</p>
<p>ÚT</p>
<p>(<em>Giận dữ, bước tới trước mặt Miên, thẳng tay tát vào má Miên.)</em> Khốn nạn. Bộ tao không đáng nói chuyện với con đàn bà kia hả. Hừ, nếu mày không mù lòa thì tao đã thí cho mày viên đạn.</p>
<p>KIM</p>
<p><em>(đứng dậy)</em></p>
<p>Ông không hổ thẹn đánh một người mù?</p>
<p>ÚT</p>
<p>Hắn khiêu khích tôi.</p>
<p>KIM<em> (cố gắng)</em></p>
<p>Nào chúng tôi có làm gì đâu&#8230;</p>
<p>ÚT</p>
<p>Câm miệng. Lải nhải. Khi đứng trên núi cao nhìn xuống thành phố ban đêm, tôi thấy một vùng ánh sáng. Tôi hiểu ra rằng tôi không được sống trong vùng sáng đó vì các người đưa tôi đi. Các người là những đống rác mà chúng tôi phải dọn.</p>
<p>KIM</p>
<p>Ông bất công.</p>
<p>MIÊN</p>
<p><em>(can ngăn)</em></p>
<p>Chị Kim. Tôi van chị. Lời nói chẳng đi đến đâu. <em>(nhẫn nhục)</em> Xin ông đừng nóng. Chúng ta là những kẻ thù địch không hiểu nhau được.</p>
<p>KIM</p>
<p><em>(vẫn bực tức)</em></p>
<p>Hừ, các ông ghen tỵ. Các ông ganh ghét chúng tôi, các ông ganh ghét luôn với cây cầu. Vì bởi nó còn nguyên lành nên các ông phải phá gãy nó.</p>
<p>ÚT</p>
<p><em>(đắc chí)</em></p>
<p>Hà. Hà. Bà rắc rối quá. Về chuyện cây cầu, đó là lệnh. Bà nghe chưa. Là lệnh. <em>(xem đồng hồ)</em> Hà hà, các người ráng chờ. Ráng chờ. Chỉ còn ít phút nữa thôi. Còn ít phút thôi &#8211; ừ, đúng vậy &#8211; cầu sẽ nổ tung. Hà hà&#8230;</p>
<p>KIM</p>
<p>Trời! <em>(bưng mặt khóc</em>)</p>
<p>ÚT</p>
<p>Lại khóc rồi. Sao mà dễ khóc lắm vậy. Nín đi. Bà nghe chưa. Nín!</p>
<p>KIM</p>
<p>Ác độc!</p>
<p>ÚT</p>
<p>Hà! Hà! Giữ nhiệm vụ canh gác các người thật khó chịu. Lải nhải. Khóc lóc. Giữ trâu còn sướng hơn! <em>(một lát) </em>Anh kia!</p>
<p>MIÊN</p>
<p>Ông gọi tôi.</p>
<p>ÚT</p>
<p>Chứ ai nữa. Ở đây chỉ có tôi và anh là đàn ông!</p>
<p>MIÊN</p>
<p>Tôi tên Miên.</p>
<p>ÚT</p>
<p>Biết rồi, các người ưa được gọi tên lắm. Này, sao anh mù vậy?</p>
<p>MIÊN</p>
<p><em>(bình tĩnh trong lúc Kim uất ức)</em></p>
<p>Tôi bị thương.</p>
<p>ÚT</p>
<p>À, lính phế thải! Thật ra, cho dù anh có lành lặn, có sáng mắt, thì nhân dân cũng đã phế thải anh rồi. Hiểu chưa?</p>
<p>MIÊN</p>
<p><em>(bình thản)</em></p>
<p>Vâng. Tôi hiểu.</p>
<p><em>Cánh cửa mé bên hé mở. Văn xuất hiện, tay cầm dao, định tiến ra nhưng thụt vào khi thấy Út tiến về phía Kim.</em></p>
<p>ÚT</p>
<p>Bà kia! Tôi đã nói bà im đi. Sao cứ sụt sùi hoài. Khó chịu lắng <em>(Út lại xem đồng hồ. Tiếng chó sủa)</em> Việc gì mà khóc chứ! Có ai chết đâu!</p>
<p>MIÊN <em>(bình thản)</em></p>
<p>Có nhiều người chết lắm ông ạ.</p>
<p>ÚT <em>(nhìn quanh)</em></p>
<p>Đâu ? Đâu ?</p>
<p>MIÊN</p>
<p>Nhìn bằng mắt thì chẳng thấy đâu. Nhưng ông thử nhớ lại xem. Bao nhiêu người bạn của tôi, của ông đã chết!</p>
<p>ÚT</p>
<p><em>(gật gù)</em></p>
<p>Ừ. Bao nhiêu người chết. Nhưng ăn chung gì đến bà mà khóc.</p>
<p><em>Bà mẹ trong xó tối bỗng phát những cử chỉ khích động và òa khóc lớn tiếng &#8211; tiếng khóc như của trẻ con.</em></p>
<p>ÚT: <em>(xao động)</em></p>
<p>Ô hay! Bà già kia! Các người điên hả, Im! <em>(hét lên)</em> Im!</p>
<p><em>Sân khấu đột ngột yên lặng. Út cũng sững sờ. Y đi lại, bối rối, mỗi lần y bước gần cánh cửa, Văn lại thụt lùi tránh né. Cuối cùng khi y đến gần, Văn nhảy ra và giơ cao tay đâm vào lưng. Út hét lên. Văn bồi thêm một nhát. Súng nổ. Văn đẩy Út gục xuống.</em></p>
<p>VĂN <em>(hổn hển)</em></p>
<p>Kim! Miên! Anh hạ nó rồi. <em>(Nhặt súng cầm tay) </em>Em hãy thoát ra cửa sau, chạy đến vọng gác báo tin. Không thể để họ phá cầu.</p>
<p>KIM</p>
<p>Em sẽ ráng. Anh hãy cẩn thận. <em>(quay lui)</em> Ô kìa, Miên!</p>
<p>MIÊN</p>
<p>(<em>Dựa lưng vào bao cát, tay ôm ngực mặt tái xanh thất sắc nhưng không lộ vẽ đau đớn.)</em></p>
<p>Tôi bị trúng đạn!</p>
<p>BÀ MẸ</p>
<p><em>(Đứng bật dậy, kêu lên những tiếng quái dị.)</em></p>
<p>A! A ! A! A!</p>
<p><em>(Miên từ từ ngã xuống, kịp lúc Kim và Văn chạy đến đỡ.)</em></p>
<p>VĂN</p>
<p>Xé áo buộc vết thương cho Miên. <em>(Kim xé ngay áo của mình.)</em></p>
<p>MIÊN <em>(cố gắng)</em></p>
<p>Thôi khỏi. Tôi không sống nổi đâu. (<em>Bà Mẹ chạy lại gần, Miên ngã người vào Bà)</em> Con không sống nổi đâu mẹ ạ. <em>(Kim đỡ Miên) </em>Đừng cố gắng làm gì. Rất tiếc. Tôi không còn sống đến ngày hòa bình, chị Kim ạ. <em>(thở dốc</em>)</p>
<p><em>Tiếng ầm lớn vang dội sân khấu, đẩy cánh cửa sổ mở rộng, cho thấy chiếc cầu đang chìm trong biển lửa từ từ gãy.</em></p>
<p>KIM</p>
<p>Miên! Miên! <em>(thất thanh)</em> Miên! Tỉnh dậy em. Tỉnh dậy <em>(khóc)</em> Miên!</p>
<p>VĂN</p>
<p>Muộn rồi. <em>(Miên gục đầu qua một bên)</em> Chiếc cầu cũng đã gãy</p>
<p><em>Kim ôm chầm lấy xác Miên khóc. Bà mẹ qua cơn xúc động ngồi dậy, bắt đầu sờ mó xác Miên &#8211; từ hai bàn chân lần mò lên người. Văn đứng sững nhìn chiếc cầu đang cháy. Lúc bấy giờ, những tràng súng lớn, súng nhỏ dội về. Tiếng chó sủa rân. Rồi tiếng trực thăng bay tới. Tiếng trực thăng xạ kích !</em></p>
<p>VĂN</p>
<p>Hãy tắt đèn. Chúng ta phải trốn.</p>
<p><em>Tiếng trực thăng bay sát mái nhà. Tiếng oanh kích ầm ầm. Một mảnh trần sập xuống, bụi cát bay tứ tung. </em>Mọi người nằm bẹp xuống!</p>
<p>KIM</p>
<p>Chết rồi, máy bay oanh kích nhà ta. Chạy đâu bây giờ?</p>
<p>VĂN</p>
<p><em>(Bò đến, kéo bà mẹ và Kim vào hầm.)</em></p>
<p>Ra ngoài là chết. Vào hầm. Vào hầm đí!</p>
<p><em>Mọi người chui vào hầm. Đèn phụt tắt. Tiếng xạ kích. Thêm một mảnh trần sụp đổ. Bụi cát. Sân khấu tối đen. Chỉ còn hai cái xác mờ mờ. Tiếng trực thăng bay xa. Bay trở lui, ánh đèn từ trực thăng rọi xuống, qua lỗ thủng trên trần cho thấy hai cái xác. Rồi bay luôn. Lúc bấy giờ tiếng chó sủa vang dội. Một khoảng im lặng. Sân khấu chết. Rồi có tiếng bước chân. Tiếng gõ cửa theo mật hiệu. Văn từ trong hầm bò ra, nhặt lại khẩu súng của Út, đứng nép bên cánh cửa lớn. Tiếng gõ lần thứ hai.</em></p>
<p>NGƯỜI CHỈ HUY</p>
<p>Còn ai trong nhà không? <em>(Im lặng một lát)</em> Bà Kim. Bà Kim. Bà còn sống không? Tôi bị thương…</p>
<p><em>Cánh cửa bật mở nhẹ nhàng như thể đã mở từ trước. Người chỉ huy ôm bụng, lảo đảo bước vào.</em></p>
<p>VĂN <em>(hét lên)</em></p>
<p>Đứng lại. Giơ tay lên.</p>
<p>NGƯỜI CHỈ HUY</p>
<p><em>(Cố gắng đưa một tay tên, té tựa vào những bao cát, phều phào.)</em></p>
<p>Tôi bị thương nặng.</p>
<p>VĂN</p>
<p><em>(Bước khỏi chỗ núp)</em></p>
<p>Còn ai rút về nữa không?</p>
<p>NGƯỜI CHỈ HUY <em>(phều phào)</em></p>
<p>Không. Họ chết rồi. Làm ơn cho tôi nước.</p>
<p>KIM</p>
<p><em>(Từ trong hầm chui ra đến gần người chỉ huy.)</em></p>
<p>Ông bị thương ở bụng. Máu ra nhiều. Ông không nên uống nước.</p>
<p>NGƯỜI CHỈ HUY</p>
<p>Bà Kim. Bà còn sống ư? Tên út đâu.</p>
<p>VĂN</p>
<p>Nó không còn nữa.</p>
<p>KIM</p>
<p>Ông cố gắng. Trời sáng sẽ có người đưa ông đến bệnh viện.</p>
<p>NGƯỜI CHỈ HUY</p>
<p><em>(Gục xuống, tựa lưng vào những bao cát, bên cạnh xác Miên.)</em></p>
<p>Tôi không chịu nổi&#8230; <em>(đụng vào xác Miên)</em> Ông Miên cũng nằm đây sao. . .</p>
<p>KIM</p>
<p>Ông cũng biết Miên nữa sao? Còn Trung đâu?</p>
<p>NGƯỜI CHỈ HUY</p>
<p>Chết rồi.</p>
<p>KIM <em>(Xúc động)</em></p>
<p>Trung chết rồi? Bị bắn khi rút về?</p>
<p>NGƯỜI CHỈ HUY</p>
<p>Không.</p>
<p>VĂN</p>
<p>Em để cho ông ta nghỉ. Chúng ta chờ sáng.</p>
<p>NGƯỜI CHỈ HUY</p>
<p>Bà Kim, tôi là kẻ bị hạ khi rút lui. Còn Trung thì không vậy. Chúng tôi đã đặt chất nổ phá cầu&#8230; <em>(thở khó khăn)</em></p>
<p>KIM</p>
<p>Rồi sao? Sao Trung chết?</p>
<p>NGƯỜI CHỈ HUY</p>
<p>Chúng tôi cùng bơi tới chân cầu và leo lên gầm. Chúng tôi dùng ngòi nổ chậm để có thì giờ thoát thân. Chính tôi kéo ngòi cho giây cháy. Nhưng khi tôi rút lui thì Trung ở lại.</p>
<p>KIM</p>
<p><em>(xúc động rõ rệt.)</em></p>
<p>Trời. Trung ở lại?</p>
<p>NGƯỜI CHỈ HUY</p>
<p>Tôi&#8230; không&#8230;hiểu&#8230; nổi&#8230; Trung ở lại để tan xác với cây cầu.</p>
<p>KIM</p>
<p>Trung tan xác với chiếc cầu! Sao vậy. Sao Trung không rút lui. Sao Trung ở lại? Anh Văn, sao vậy?</p>
<p>VĂN <em>(ngậm ngùi)</em></p>
<p>Trung tự sát.</p>
<p>KIM</p>
<p>Tự sát! Miên chết! Trung chết! Cầu gãy!</p>
<p>VĂN</p>
<p>Bọn họ cùng chết với cây cầu.</p>
<p>KIM <em>(khóc)</em></p>
<p>Họ chưa đầy ba mươi tuổi.</p>
<p>NGƯỜI CHỈ HUY <em>(rên)</em></p>
<p>Tôi kiệt sức. Tôi không còn thở nổi. Xin ông thí cho tôi một viên đạn vào đầu.</p>
<p>VĂN <em>(đau khổ)</em></p>
<p>Ông hãy ráng. Có quá nhiều người chết trong đêm nay rồi.</p>
<p>NGƯỜI CHỈ HUY <em>(rên rỉ)</em></p>
<p>Bà Kim. Bà Kim. Tôi chẳng thể nào quên bà. <em>(ói máu ra miệng)</em> Bà có nhận ra tôi không?</p>
<p>KIM <em>(khóc lớn tiếng)</em></p>
<p>Không!</p>
<p><em>Bà mẹ lúc bấy giờ cũng từ từ ra khỏi hầm, bà nhìn những xác chết rồi kêu lên những tiếng quái dị.</em></p>
<p>BÀ MẸ:</p>
<p>A! A! A! A!</p>
<p><em>Văn vứt súng, đến ôm lấy bà mẹ trong lúc bà mẹ càng lúc càng lớn tiếng và càng khích động.</em></p>
<p>Màn hạ</p>
<p>1969</p>
<p>(Trích Tạp chí Ý Thức số 1 ngày 1 tháng 10 năm 1970)</p>
]]></content:encoded>
					
					<wfw:commentRss>https://t-van.net/khu%e1%ba%a5t-d%e1%ba%a9u-d%e1%bb%8dc-k%e1%bb%8bch-l%e1%bb%af-ki%e1%bb%81u/feed/</wfw:commentRss>
			<slash:comments>0</slash:comments>
		
		
			</item>
	</channel>
</rss>

<!--
Performance optimized by W3 Total Cache. Learn more: https://www.boldgrid.com/w3-total-cache/?utm_source=w3tc&utm_medium=footer_comment&utm_campaign=free_plugin

Page Caching using Disk: Enhanced 

Served from: t-van.net @ 2026-04-11 22:20:07 by W3 Total Cache
-->