T.Vấn

& Bạn Hữu

Văn Học và Đời Sống

T.Vấn: Thế Vận Bắc Kinh 2008: biểu tượng của sự hào nhoáng đắt tiền

Share on facebook
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print

clip_image002

1.

Ngọn lửa Thế Vận Hội Mùa Hè lần thứ 29 tổ chức tại Bắc Kinh đã tắt. Trước đó, buổi lễ bế mạc đã diễn ra với phong cách “rực rỡ, hoành tráng, vĩ đại,” không thua gì buổi lễ khai mạc. Ngày 08-08-2008, tôi đang xếp hàng để mua ly cà phê sữa đá với giá quảng cáo chỉ có 89 cents tại một tiệm cà phê bánh mì nổi tiếng khu vực Little Sài Gòn, Nam Cali nhân ngày 08-08-08, những con số Tám tượng trưng cho sự may mắn mà người Tàu thường hay nói đến. Hôm sau, trở về lại Wichita, tôi đã được xem lại buổi lễ khai mạc Thế Vận diễn ra tại Sân vận động Quốc Gia “Tổ Chim” (Bird’s Nest) Bắc kinh lúc 8 giờ 8 phút ngày mùng 8 tháng 8 năm hai ngàn lẻ tám. Mặc cho người bình luận không ngớt lời nói về tính cách “Chinese” trong màu sắc buổi lễ và tài năng hơn người của viên tổng đạo diễn chương trình (ông Trương Nghệ Mưu, đạo diễn điện ảnh lừng danh người Tàu, được cả thế giới biết đến với những cuốn phim nổi tiếng như: Anh Hùng, Treo cao đèn lồng đỏ, Thu Cúc đi kiện  v…v ), cũng như những bài báo rất hào phóng nói về nước chủ nhà Trung quốc tôi đọc được trên những Websites ở trong nước (Việt Nam), cảm tưởng của tôi là sự ngộp thở. Cái ấn tượng “hoành tráng” mà tôi có được khi xem lại băng phát hình buổi lễ khai mạc y hệt như 16 ngày sau ngồi xem buổi lễ bế mạc Thế Vận lần thứ 29: Người đâu mà lắm thế. Chỉ thấy người và người chen chúc nhau một chỗ đứng, một chỗ thở, một chỗ để cho cả thế giới nhìn thấy trên sàn diễn. Đó là đặc tính Chinese nổi bật nhất mà tôi chưa có dịp nghe nhà bình luận quốc tế nào đề cập tới. Trong quá khứ, nước Tàu đã từng chứng tỏ cho cả thế giới biết đến dân số trên 1 tỉ người của mình (dân số người Tàu chiếm 1 phần 5 tổng dân số thế giới) bằng “chiến thuật biển người” trong cuộc chiến tranh phân đôi Bắc Hàn, Nam Hàn  1950-1953, hay vào những năm cuối thế kỷ 20 đã dùng chủ trương “kinh tế biển người” để thu hút hầu như tất cả những nhà đầu tư gộc thế giới vào thị trường thật to lớn, mênh mông đang chờ được khai thác. Made in China là một từ thông dụng vào bậc nhất hiện nay, không chỉ trong kho ngữ vựng tiếng Anh, mà còn cả trong nhiều ngôn ngữ khác trên thế giới. Sau Thế vận Mùa Hè lần thứ 29, một lần nữa, theo nhiều giới quan sát Tây phương, Trung quốc đã thành công trong việc tạo nên một hình ảnh nước Tàu mà họ muốn thế giới phải thấy khi nhìn về đất nước của họ. Đó là một siêu cường duy nhất trên thế giới kết hợp nhuần nhuyễn giữa sự toàn trị về thểchế chính trị cộng với một hình thức mới về kinh tế thị trường, đã thành công trong việc đưa Trung quốc chiếm một trong những vị trí hàng đầu của quyền lực thế giới.

Có lẽ, tôi có thể viết mà không sợ mình cường điệu là sau Thế Vận Mùa Hè thứ 29, người ta có thể nói về một thứ nghệ thuật trình diễn “biển người”, thứ văn hóa đặc trưng của người Chinese trong suốt 5 ngàn năm lập quốc của họ, mà cao điểm “biển người” của nền văn hóa ấy được viên đạo diễn Trương Nghệ Mưu đẩy lên đến chỗ cao nhất qua hai buổi lễ Khai mạc và Bế mạc Thế vận vừa qua.

Mặc cho ý đồ ban đầu của chính ông Trương nghệ Mưu cho biết sau sự “thành công” của buổi lễ khai mạc là: nhấn mạnh vào nghệ thuật truyền thống và văn hoá lâu đời của Trung Quốc và không thiếu sự kết hợp với những yếu tố của thời kì phát triển, hiện đại. Thế giới muốn chứng kiến những yếu tố đặc trưng của Trung Quốc. Vì vậy,chúng tôi tập trung vào những điểm điển hình và độc đáo của Trung Quốc như những phát minh, nghệ thuật viết chữ của người Trung Quốc, nghệ thuật võ nghệ truyền thống Taiji và nhiều điều khác nữa” (Trương nghệ Mưu trả lời trong cuộc họp báo ngày 9-8-2008 tại Bắc kinh)., ấn tượng mà ông ta gây nên ở tôi, một người Việt Nam vốn không bao giờ quên anh khổng lồ phương Bắc đã từng đô hộ đất nước mình 1 ngàn năm, vẫn không thể nào khác hơn là: Ngộp thở. Đó là chưa kể đến sự có mặt của những người lính mặc quân phục với tư cách là những thành viên chính thức xuất hiện trên diễn đài (nghi lễ chào cờ, nghi lễ cuốn cờ Olympic, nghi lễ đốt đuốc), một hình ảnh chưa từng thấy xuất hiện trong bất cứ Thế Vận Hội nào trong lịch sử 29 lần tổ chức. Có lẽ hình ảnh những anh Hồng quân của Thế vận hội lần thứ 29 là hình ảnh làm tôi mất “khẩu vị” nhất.

Công bằng mà nói, nếu người Việt nam chúng ta không ở sát nách anh Tàu khổng lồ, không từng biết đến kinh nghiệm đau thương 1 ngàn năm Bắc thuộc, không từng nếm mùi Cộng sản mà những học trò xuất sắc của họ đã gieo rắc ở Việt nam hơn 50 năm nay, không từng biết đến khả năng làm hàng giả hàng nhái siêu quần bạt tụy của các vị con trời, không từng biết đến bản chất ngụy quân tử của những người cư ngụ ở Trung Nam Hải, thì hẳn tôi cũng dễ dàng bị cái hào nhoáng của buổi lễ khai mạc (và cả buổi lễ Bế mạc) làm cho tối mắt tối mũi. Để kết thúc chương trình 16 ngày độc quyền phát hình Thế vận Hội 29 tại Bắc kinh trị giá 894 triệu Mỹ kim, viên ký giả thể thao kỳ cựu của đài truyền hình NBC Bob Costa đã thốt lên: Đây là một Thế Vận Hội đáng nhớ nhất từ trước tới nay. Còn viên chủ tịch Olympic Thế giới Jacques Rogge thì dõng dạc tuyên bố trước đám đông 91 ngàn người tụ tập trong sân vận động quốc gia Bắc kinh và trước khán giả truyền hình toàn cầu rằng: Tối nay, chúng ta chứng kiến ngày cuối cùng trong 16 ngày huy hoàng rực rỡ mà chúng ta sẽ mãi mãi ấp ủ trong lòng.

45 tỉ Mỹ Kim đã đổ ra cho Thế Vận hội Bắc kinh lần thứ 29. Riêng chi phí buổi lễ Khai mạc là 300 triệu. Một con số vô địch. Tương tự như con số vô địch thế giới về việc giam giữ các ký giả: 29 người (Cuba đứng hàng thứ nhì, huy chương Bạc với 23 ký giả hiện đang ăn cơm tù, hạng 3 huy chương Đồng hiện chưa ngã ngũ giữa Việt Nam và Bắc Hàn).

Đó là sự hào phóng hiếm thấy nơi một đất nước mà lợi tức trung bình một đầu người chưa tới 2,200 Mỹ kim năm 2007.

clip_image003

Huy hiệu 5 vòng của quốc tế thế vận được vẽ lại như 5 chiếc còng tay

2.

Khi buổi lễ Bế mạc Thế Vận chấm dứt giữa những tiếng vỗ tay vang trời, và khi màn trình diễn thể thao đầu tiên bắt đầu, tôi biết rằng tất cả những lời phê bình, chỉ trích nước chủ nhà về các vấn đề nhân quyền, vấn đề dân chủ sẽ phải tạm nhường chỗ cho âm thanh vang dội của những lời reo hò cổ vũ các vận động viên đang ra sức tranh tài. Nói cách khác, khi trái bóng đã lăn trên sân cỏ, tất cả mọi chuyện khác đều trở thành thứ yếu. Kể cả những bóng ma Thiên An Môn năm 1989, những nhà sư Tây Tạng xuống đường đòi tự trị, những tai tiếng nổ ra khắp nơi trên thế giới từ thời gian rước đuốc Oplympic  đem lửa thế vận từ Athens về Bắc kinh. Tất cả những đám mây đen ấy đã phải nhường chỗ cho bầu trời mùa hè trong vắt của thành phố chủ nhà.

Hơn ai hết, những người lãnh đạo Trung quốc biết rất rõ điều đó.

Để tô điểm cho bộ mặt nước chủ nhà trong thời gian tranh tài Thế Vận, họ đã thiết lập 3 khu vực dành cho những người biểu tình. Ai cũng có quyền biểu tình, miễn là phải nộp đơn xin phép và chỉ được phép biểu tình sau khi đơn xin biểu tình đã được chấp thuận.

Ký giả Nicholas Kristof của tờ báo Mỹ New York Times đã thử nộp đơn xin biểu tình tại văn phòng sở An ninh công cộng Bắc kinh. Các viên chức ở đây đã  yêu cầu ông phải xuất trình đủ thứ giấy tờ cá nhân. Khi nhìn thấy tấm thẻ nhà báo, họ đề nghị ông hãy làm một cuộc phỏng vấn thay vì biểu tình. Nhưng ông ký giả cương quyết xin được cấp giấy phép để biểu tình. Các viên chức thẩm quyền bèn hoạnh hỏi ông ta đủ điều từ lý do tại sao lại chống đối chính phủ, ai sẽ cùng với ông ta tham dự biểu tình. Sau hơn 1 tiếng đồng hồ căn vặn, ký giả Nicholas được mời vào một phòng hội thật lớn, được mời ngồi xuống chiếc ghế có gắn bảng Applicant và lắng nghe một viên chức khác giảng giải về các luật lệ phải tuân theo khi biểu tình. Xong phần luật lệ, ông ký giả được yêu cầu viết tên tuổi tất cả những người sẽ tham dự biểu tình vào một danh sách, và những người này sẽ lần lượt được Sở Anh ninh gọi đến phỏng vấn. Khi ông ký giả người Mỹ hỏi rằng, nếu sau khi những thủ tục ấy được thỏa mãn thì ông ta có được chấp thuận cho biểu tình không. Câu trả lời từ cửa miệng giới chức thẩm quyền là ông ta không thể quả quyết được điều gì. Ông ký giả báo New York Times đành chịu thua và ra về. Sau đó, viên ký giả mới biết rằng trước ông ta, hàng chục người đến nộp đơn xin biểu tình đã bị bắt về tội dám nộp đơn xin biểu tình.

Có lẽ viên ký giả đến từ nước Mỹ, nơi tọa lạc của vị nữ thần Tự Do, sẽ còn kinh ngạc hơn nữa, nếu lúc ấy ông ta biết rằng có 2 phụ nữ Trung quốc, một người 77 tuổi và người kia 79 tuổi đã bị tuyên án 1 năm lao động học tập cải tạo (re-education through labor) về tội nộp đơn xin biểu tình. Hai bà già bệnh tật, một người thì bị mù, khi đi phải chống gậy, người kia bám vào người này để ngày ngày rảo khắp đường phố Bắc kinh bán cà rem cây. Năm 2001, dự án phát triển cho Thế Vận hội 2008 đã tống cổ (kicked out) hai bà già ra khỏi nhà của họ để lấy đất dành cho việc xây cất cơ sở Thế Vận. Già rồi nên không sợ chết, hai bà đã khiếu nại đến tất cả chính quyền các cấp, kể cả biểu tình ở Thiên An Môn, ở khu Trung Nam Hải quyền quý cao sang. Cuối cùng, nghe lời chính quyền, họ nộp đơn xin biểu tình. Bấy nhiêu đã đủ cớ để hai bà bị trừng trị. Tội danh chính thức được ghi là “phá rối trật tự công cộng” (Disturbing the public order). Liệu hai bà có sống sót để trở về sau 1 năm cải tạo lao động không? Nhiều người Việt nam – như tôi – có thể đoán dễ dàng câu trả lời.

clip_image004

Bà Wu Dianyuan, 79 tuổi, và Wang Xiuying, 77 tuổi: những kẻ “phá rối trật tự công cộng”

Thú vị hơn nữa, nếu viên ký giả của tờ New York Times, tờ báo có số phát hành lớn thứ nhì nước Mỹ, nhớ được rằng viên tổng đạo diễn của hai buổi lễ khai mạc và bế mạc Thế vận hội Bắc kinh Trương Nghệ Mưu lại chính là đạo diễn điện ảnh được cả thế giới biết đến nhờ một trong những cuốn phim xuất sắc nhất của ông ta: phim Story of Qiu Ju, kể câu chuyện một phụ nữ nông dân Trung quốc, bất chấp mình bụng mang dạ chửa, quyết lặn lội hết xã, quận, tỉnh rồi thành phố để đòi công lý cho chồng mình bị viên xã trưởng đánh đến bị thương khiến phải bỏ việc đồng áng trong nhiều ngày.

Những câu chuyện như thế này, có bao nhiêu người trong số 1 tỷ 3 trăm triệu người Tàu biết đến? có bao nhiêu người trong số gần 80 triệu người ở Việt Nam biết đến? Nhưng chắc chắn họ đã được xem cái ánh sáng rạng rỡ của những chùm pháo bông được bắn thật hào phóng trong ngày khai mạc Thế Vận.

Sau 16 ngày “huy hoàng rực rỡ” của Thế Vận Hội mùa hè lần thứ 29, cả 3 khu vực mà chính quyền dành cho người biểu tình vẫn sạch sẽ, không một cộng rác, không một dấu chân người, không một tiếng hoan hô hay đả đảo mà cư dân Bắc kinh ở gần đó có thể nghe được.

3.

Một Thế Giới Một Ước Mơ (One World One Dream), là khẩu hiệu của Thế Vận Hội Mùa hè thứ 29 ở Bắc kinh. Những người tổ chức tin tưởng rằng khẩu hiệu ấy phản ánh trung thực bản chất và giá trị phổ quát của tinh thần thế vận: hiệp nhất, hữu nghị, phát triển, tham dự và ước mơ.

Khẩu hiệu ấy, theo sự dẫn giải của guồng máy tuyên truyền Bắc kinh, còn có một ý nghĩa khác, sâu sắc hơn. Đó là ước mơ của một nước Trung quốc, muốn được cùng sánh vai với các dân tộc khác trên toàn thế giới trên con đường xây dựng một cộng đồng toàn cầu (global community), chia sẻ những thành tựu văn minh, cùng tiến đến một tương lai tươi sáng cho tòan thể nhân loại qua sự phát triển hòa bình, hài hòa xã hội và vì hạnh phúc cho con người.

Những khẩu hiệu bao giờ cũng rất đẹp đẽ. Nhưng vấn đề là khoảng cách giữa khẩu hiệu và thực tại. Một tập thể dù to lớn cỡ 1 tỉ 3 trăm triệu con người cũng vẫn là tổng số của những cá thể. Nếu đã không quan tâm đến từng cá thể, từng niềm vui nỗi buồn, từng mâm cơm mái nhà của mỗi một con người trong số 1 tỉ 3 trăm triệu con người  ấy, thì khoảng cách từ khẩu hiệu đến thực tại vẫn dài bằng chiều dài của bức Vạn Lý Trường Thành.

Vì lẽ đó, tôi nhìn sự “hoành tráng” của việc tổ chức Thế Vận Hội Mùa Hè thứ 29 tại Bắc kinh như là một biểu tượng cho sự hào nhoáng, một thứ thể diện hão huyền (face-saving) và là một cuộc phô diễn vô hồn vô cảm vô nhân tính, hoàn toàn máy móc dù cho đã có mấy chục ngàn con người được huy động phục vụ cho cuộc trình diễn này, dù cho 6 ca sĩ thượng thặng của Bắc kinh đã khản cổ hát bài Bắc kinh, Tôi yêu Bắc kinh (Beijing, Ngộ ái Beijing) trong buổi lễ Bế Mạc.

© T.Vấn 2008