T.Vấn

& Bạn Hữu

Văn Học và Đời Sống

THÉRÈSE DESQUEYROUX – CHƯƠNG BA

Share on facebook
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print

CHƯƠNG BA

Argelouse được mệnh danh là nơi “cùng trời cuối đất”, một trong những vùng đất mà khi đến đó rồi thì chẳng còn chỗ nào để đi nữa. Nhỏ hơn cả một ngôi làng, người ta gọi nơi này là một cái ấp với vài ba nông trại của tá điền ở rải rác để canh tác các cánh đồng lúa mạch. Không một ngôi nhà thờ riêng, không có tòa thị chính riêng, thậm chí không cả nghĩa trang riêng, Argelouse cách Saint-Clair 10 cây số đường bộ, một con đường độc đạo lởm chởm đá đất nối liền hai vùng với nhau. Mặt đường đầy những ổ gà, có chỗ bị lún sâu. Càng tệ hơn nữa sau khi Argelouse bị một trận bão cát, biến con đường dài 25 cây số chạy ra biển trở nên trơ trọi, chỉ còn những đầm nước đọng hai bên đường, những cây thông cành lá khẳng khiu và những cánh đồng khô cằn đến độ vào cuối mùa đông, nhìn từ xa bầy cừu trông như một những đám bụi lờ mờ. Những gia đình giàu có nhất ở Saint-Clair đều có gốc gác từ nơi này. Ở giữa thế kỷ trước, khi mà thu nhập từ nhựa thông và gỗ dùng xây dựng nhà cửa đã làm gia tăng nhanh chóng số lợi tức khiêm tốn có được do chăn nuôi gia súc, tổ tiên của họ đã dọn về Saint-Clair, nhường những căn nhà ở Argelouse cho các tá điền được thuê để canh tác đất đai cho họ. Vẻ ngoài của những căn nhà này, với các mái hiên được đỡ bằng những hàng cột chạm trổ công phu hoặc đôi khi xuất hiện những ống khói làm bằng đá hoa cho thấy cuộc sống của tổ tiên họ không kém phần đĩnh đạc, no đủ. Với thời gian, nền đất chung quanh nhà bị sụt xuống mỗi năm một chút, đến độ có những mái nhà đã dần dần chạm đến mặt đất.

Trong số những điền trang nói trên, có hai nơi những vị chủ nhân của chúng vẫn còn bám trụ. Đó là điền trang của hai gia đình Larroque và Desqueyroux. Cả hai đều giữ nguyên hình dáng căn nhà như khi họ nhận thừa kế. Monsieur Jerome Larroque, vừa là thị trưởng vừa là nghị viên hội đồng thành phố Bazas, tuy cư trú trong tư gia của mình ở thị xã, nhưng vẫn muốn duy trì căn nhà ở Argelouse, vốn là tài sản thừa kế của người vợ chẳng may qua đời khi Thérèse còn nằm trong nôi. Cho nên ông ta không ngạc nhiên khi thấy con gái mình thích về nơi đó nghỉ hè. Thường thì nàng đến đó vào đầu tháng bẩy mỗi năm, dưới sự chăm nom của bà cô ruột, chị cả của bố Thérèse, một bà già điếc đặc. Bà thích ở một mình nơi này, vì theo bà, ở đây bà đỡ phải chú ý nhìn môi người ta mấp máy để đoán xem họ nói gì. Vả chăng, chung quanh bà chỉ có tiếng lá thông rì rào suốt ngày suốt đêm. Con gái về Argelouse, Monsieur Larroque vui tới hai lần. Trước hết là ông ta có được vài tháng rảnh tay với Thérèse; sau nữa, để con gái có dịp gần gủi với Bernard Desqueyroux, người mà nàng sẽ lấy làm chồng trong tương lai theo như mong muốn của cả hai gia đình, mặc dù chưa có lễ hứa hôn chính thức.

Bernard thừa hưởng được từ người cha một căn nhà ở ngay kế bên nhà Larroque. Một khi mùa săn bắn bắt đầu, không ai buồn để ý đến chàng ta cả. Chẳng là để cho tiện lợi, Bernard đã dựng một cái lều nhỏ ở ngay trong khu vực đi săn, và anh ta chỉ về nhà ngủ vào tháng Mười. Vào mùa đông, anh chàng trẻ tuổi ưa logic này theo đuổi mảnh bằng luật học ở Paris. Mùa hè, chủ đích của Bernard là dành thì giờ ở nhà với gia đình càng ít càng tốt. Anh ta vốn không lấy gì làm thuận thảo lắm với Victor de la Trave, người mà bà mẹ góa bụa của anh ta đã tái giá “một cách không tương xứng”; ông này nổi tiếng khắp vùng về những thói quen xài tiền vô tội vạ. Đối với cô em gái cùng mẹ khác cha của mình, Anne, hình như anh ta cho rằng cô bé còn quá nhỏ để mình chú ý đến. Còn với Thérèse? Anh ta có chút nào quan tâm đến hơn mọi người khác không? Mọi người chung quanh đều mặc nhiên coi như hai người đã kết hôn, bởi vì tài sản của họ được tạo ra là để kết hợp với nhau. Về điểm này thì Bernard hoàn toàn đồng ý với ý kiến mọi người. Nhưng anh ta tâm niệm rằng không thể phó mặc mọi chuyện cho sự may rủi và luôn tự hào về cuộc sống được sắp xếp rất thứ tự ngăn nắp của mình. “May hay rủi đều là do chính mình đem đến cho mình thôi.” Anh chàng Bernard tuy còn trẻ nhưng thân xác đã trở nên đẫy đà thường hay triết lý vụn như thế. Cho đến ngày cưới vợ, cuộc sống của Bernard được chia đều ra cho công việc và các thú vui hưởng thụ. Và tuy không hề chê bai rượu ngon, thức ăn ngon và trên hết là thú săn bắn, mẹ anh ta thường khen ngợi con trai “nó làm việc đến bở cả hơi tai”. Dù sao thì, chồng lúc nào cũng phải có trình độ học vấn cao hơn vợ, và ở đây ai mà không biết đến sự thông minh của Thérèse. Một thiếu nữ vô cùng năng động, không ai nghi ngờ gì về điều đó, nhưng Bernard biết cách làm cho phụ nữ phải nể vì. Ngoài ra, như mẹ anh ta nói, “có được ở mỗi nhà một chân” là điều vô cùng có lợi – có nghĩa là biết đâu sau này có lúc anh ta phải cần đến sự giúp đỡ của bố vợ. Ở tuổi 26, Bernard Desqueyroux, – sau các chuyến đi “với mục đích học hỏi” đến Tây Ban Nha, Ý Đại Lợi, đến các nước Xứ Trũng (Low Countries: Hòa Lan, Bỉ, Lục Xâm Bảo. các nước có mặt đất bằng hoặc thấp hơn mực nước biển – Chú thích của ND) – sẽ kết hôn với một thiếu nữ giàu nhất và thông minh nhất khu vực. Có thể nàng không phải là cô gái đẹp nhất – nhưng, như ta đã biết, “không cần biết nàng đẹp hay xấu, chỉ biết khó mà cưỡng lại được nét lôi cuốn toát ra từ người phụ nữ ấy.”

Thérèse mỉm cười với hình ảnh biếm họa về Bernard mà nàng tự vẽ ra trong đầu. “Nhưng phải thú thật, anh ấy vẫn khá hơn rất nhiều so với mấy cậu con trai mà mình có thể lấy làm chồng.” Phụ nữ ở vùng này hay có tính tự cao, nhất là đối với bọn đàn ông sau khi rời ghế nhà trường đã không tìm cách tu dưỡng bản thân để vươn lên hơn nữa. Họ chỉ biết có đất đai họ sở hữu, có kẻ tuy không sống ở đó nhưng tâm trí luôn hướng về nơi đem lại cho họ lợi tức béo bở. Với họ, lạc thú của đời chỉ có thể tìm thấy ở đất đai. Nếu một ngày nào đó, họ không còn mang dáng dấp một nông dân, không nói được thổ ngữ nông dân, không có tư thái thô bạo đặc trưng cho một gã nhà quê, ngày đó họ xem như mình đã đánh mất chính mình, đã là kẻ bội phản đáng phỉ nhổ. Nhưng đằng sau cái vỏ ngoài cứng cỏi của Bernard, liệu Thérèse có tìm thấy được chút gì dịu dàng, tử tế? Khi anh ta bệnh thập tử nhất sinh, những nông dân trong vùng nói với nhau: “Sau khi Bernard mất rồi, ở đây sẽ chẳng còn ai có thể được gọi là một con người tao nhã.” Phải rồi, ẩn giấu trong trái tim anh ta vẫn có chút lòng nhân hậu, và cả thứ sức mạnh của tâm linh, cộng thêm với một đức tin thuần khiết; Anh ta ít khi nào nói những điều mà anh ta không biết rõ; Anh ta biết những gì là giới hạn, là thiếu sót của mình. Thuở còn là một thiếu niên, anh ta có dáng dấp không thể chê được; anh ta mang hình ảnh của một nhân vật trong thần thoại Hy Lạp Hyppotylus (4) lúc chưa trưởng thành – anh ta thích thú với những con thỏ rừng săn được hơn là những cô gái cùng trang lứa.

Tuy nhiên, những buổi sáng xa xưa ấy, không phải Bernard là người mà Thérèse gặp gỡ. – nàng nhắm mắt lại, đầu ngả vào cửa sổ chiếc xe ngựa – cứ vào quãng 9 giờ, trước khi cái nóng trong ngày bắt đầu tỏa nhiệt cao nhất, trên con đường giữa Argelouse và Saint-Clair, một chiếc xe đạp nhắm thẳng hướng nàng phóng tới. Trên xe, không phải vị hôn phu thờ ơ của nàng, mà là cô em gái bé nhỏ của anh ta, Anne, mặt mày hớn hở. Dưới những tàng cây thông, lũ ve sầu đã bắt đầu thức giấc. Và dưới bầu trời mênh mông đến choáng ngợp, lò sưởi thiên nhiên bắt đầu bung hết công suất. Triệu triệu con ruồi phải vội bay lên những cành cao hơn tránh nóng. Tiếng bà cô Clara. “khoác khăn choàng vào cổ rồi hãy bước qua phòng khách. Lạnh như tủ đá ở trong ấy đấy… Nhớ đợi ráo mồ hôi rồi hãy uống nước nhé bé cưng.”. Anne cố cất cao giọng một cách thừa thãi chào bà cụ già nghễnh ngãng. “Này bồ, không cần phải nói to cho khản giọng. Bà ấy có thể đọc được môi mình nói gì mà…” Nhưng cô gái nhỏ tội nghiệp cứ tiếp tục nói từng tiếng cho rõ, cái miệng nhỏ xíu kéo lên kéo xuống, khiến bà cụ đã ngơ ngác lại càng thêm bối rối rồi tìm cách trả lời chẳng đâu vào đâu, cho đến khi hai cô bạn phải bỏ chạy ra ngoài để cười cho thỏa thích.

Trong góc tối chiếc xe ngựa, Thérèse ngoảnh nhìn những ngày tháng thuần khiết của đời nàng – thuần khiết, cùng với một tia sáng mơ hồ yếu ớt của hạnh phúc chập chờn ẩn hiện. Thuở ấy, nàng chưa biết rằng chút ánh sáng mơ hồ yếu ớt tượng trưng cho cảm thức hạnh phúc ấy là khoảnh khắc hạnh phúc duy nhất nàng có được trong cuộc đời của mình. Không một điều gì báo trước cho nàng biết rằng cả đời nàng rồi đây cũng chỉ hưởng được có bấy nhiêu hạnh phúc, trong căn phòng đầy bóng cây bao phủ và hơi nóng mùa hè hừng hực bên ngoài – Trên chiếc ghế sofa màu sọc đỏ, bên cạnh là Anne, hai đầu gối cô bé khép lại nằm hờ hững tập hình ảnh gia đình. Giây phút hạnh phúc này từ đâu hiện ra? Anne có chung cùng sở thích gì với nàng không? Cô bé chúa ghét sách vở. Cô chỉ ham thêu thùa, chuyện vãn và cười đùa nghịch ngợm, không hề có ý kiến về bất cứ điều gì. Trong khi đó, Thérèse ngấu nghiến  một cách bừa bãi những quyển tiểu thuyết của Paul de Kock, hay Causeries de Lundi, hoặc the History of the Consulat (5),  nói chung tất cả những quyển sách nằm vương vãi trong các phòng khách ở nhà quê. Hai cô gái không có chung với nhau một sự thích thú nào, ngoại trừ cả hai cùng mê mẩn được ngồi bên nhau trong những buổi trưa khi mà bầu trời hừng hực ngăn chặn không cho một ai dám bước chân từ những chỗ ẩn náu dưới các bóng râm mát ra chịu cái nóng đổ lửa bên ngoài. Thỉnh thỏang, Anne sẽ đứng dậy, xem thử trời đã bớt nóng chưa. Nhưng mấy cái màn che cửa sổ vẫn cứ đóng kín mít, e rằng tia nắng mặt trời như kim loại bị nấu chẩy, sẽ xâm nhập vào nhà đốt cháy hết những tấm thảm nằm bất động trong phòng.

Ngay cả khi chiều xuống, lúc ánh mặt trời chỉ còn nằm thoi thóp dưới chân các cây thông, và khi những con ve sầu vẫn cố kêu rỉ rả, hơi nóng còn sót lại từ ban ngày cứ tiếp tục lẩn quẩn chung quanh gốc cây sồi. Hai người bạn gái rủ nhau nằm dài trên bờ cánh đồng lúa mạch, tưởng tượng như thể họ đang nằm cạnh bờ một cái hồ. Những đám mây trên trời chậm chạp di chuyển, tạo nên những hình dáng luôn thay đổi. Thérèse chưa kịp nhận dạng hình người đàn bà có hai cánh mà Anne vừa thấy trôi qua trên đầu, thì ngay sau đó bạn nàng đã bảo đó chỉ là hình một con thú kỳ lạ bị gió thổi làm giãn ra mà thôi.

Vào tháng 9, đôi bạn có thể đi dạo bên ngoài sau bữa cơm chiều. Họ lang thang trên những con đường làng nứt nẻ vì khô hạn: khắp các cánh đồng ở Argelouse không có lấy một vũng nước nhỏ nào. Trước khi tới được nơi đầu nguồn của con suối có tên La Hure, họ phải đi qua một quãng đường dài ngập cát. Rải rác khắp cánh đồng cỏ, có rất nhiều những lạch nước nhỏ len lỏi giữa những rễ cây sùi ngoằn ngoèo, khiến bàn chân trần của hai cô gái khi thì bị tê buốt vì nước lạnh, khi thì lại bỏng cháy vì mặt đất khô cằn. Một trong những túp lều của mấy người đi săn gà rừng đã là nơi hai cô gái chọn làm nơi nghỉ chân tránh nắng, giống như khi họ ngồi với nhau trong phòng khách mát rượi. Không ai nói với nhau lời nào, vì lời nói đã trở thành thừa thãi: thời gian cứ thế trôi qua trong sự tĩnh lặng kéo dài nhuốm đầy vẻ tinh khiết; họ chẳng nghĩ đến chuyện sẽ đứng dậy, làm một cử chỉ gì đó; giống như mấy người thợ săn gà rừng, mỗi khi thấy con mồi xuất hiện, họ chỉ có một động tác duy nhất là ngồi im như phỗng đá.Với họ, bất cứ một sự chuyển động nào, dù chỉ là một cái khoát tay, cũng sẽ khiến cho niềm hạnh phúc tuy không mang một hình thù rõ rệt nhưng lại rất tinh khiết ngọt ngào, có thể tan biến vào hư không.

Anne luôn là người thiếu kiên nhẫn. Cô bé nôn nóng muốn đi săn chim chiền chiện khi thấy trời đã bắt đầu sẩm tối. Thérèse không bao giờ thích thú với trò đi săn này, nhưng vẫn đứng dậy theo chân Anne, vì nàng luôn cần đến sự có mặt của Anne bên cạnh mình. Anne bước vào phòng để súng, với tay lấy cây súng nòng dài không giật. Trong khi đó, bạn cô, vẫn ngồi yên trên một cái bệ nhỏ, lặng lẽ quan sát cô đứng trên cánh đồng lúa mạch, tay chỉa súng nhắm thẳng hướng mặt trời như thể cô sẵn sàng bắn hạ nếu cần. Thérèse lấy tay bịt chặt hai tai. Một tiếng nổ khô khan rơi giữa không gian. Người thợ săn gái chạy đến nhặt con chim bị thương, cẩn thận giữ nó trên tay, rồi cô đưa lên môi hôn nhẹ đầy vẻ trìu mến, trước khi mạnh tay bóp cho nó gẫy cổ.

“Mai bồ có đến nữa không?”

“Ồ, không, không đâu. Mình không muốn gặp nhau mỗi ngày.”

Cô bé không muốn gặp bạn mình mỗi ngày; chẳng cách nào cãi lại được với cái lý luận chắc nịch đó. Phản đối Anne ư? Thérèse không thấy có lý do gì để ép buộc bạn mình. Anne không thích quay lại đây; dĩ nhiên là cô có thể quay lại bất cứ lúc nào cô muốn, nhưng đúng rồi, sao lại phải đến đây mỗi ngày. Anne giải thích là làm như vậy sẽ khiến hai người bạn mau chán nhau thôi. Thérèse đồng ý. “Phải đấy, đừng xem đó như là một bổn phận. Đến đây bất cứ lúc nào bồ muốn, khi không có việc gì khác tốt hơn, vui hơn để làm.”

Rồi cô gái trẻ và chiếc xe đạp biến mất trên quãng đường đã bắt đầu tối hẳn, cùng với tiếng chuông xe kêu leng keng.

Thérèse bước trở lại nhà. Những nông dân vẫy tay chào nàng từ xa; nhưng đám trẻ con vẫn cứ đứng nguyên tại chỗ. Giờ này thì bầy cừu đang xúm xít dưới gốc cây sồi. Bỗng nhiên chúng ùa chạy như bị ai đuổi khiến mấy người chăn cừu phải la hét vang trời. Bà cô nàng đã đứng chờ nàng về trước cửa. Như mọi người nghễnh ngãng khác, bà nói huyên thuyên khiến Thérèse không thể chen vào được điều gì.

Sao mình lại cảm thấy buồn bã như thế này? Thérèse không muốn đọc sách, không muốn đụng tay vào bất cứ việc gì hết. Nàng bắt đầu đi lang thang vô định. “Đừng đi đâu xa quá, nghe con! Cơm chiều sắp xong rồi!” Nàng bước về phía con đường đất, giờ thì vắng tanh vắng ngắt không một bóng người. Tiếng đồng hồ trong nhà bếp ngân nga điểm giờ. Có lẽ tối nay phải thắp sáng mấy ngọn đèn. Cái lặng lẽ chung quanh, đối với bà cụ già điếc đặc đang ngồi khoanh tay trên bàn ăn kia, chắc cũng chẳng nặng nề hơn đối với một cô gái mang khuôn mặt hầu như hốc hác vừa bước vào nhà.

Bernard, Bernard, chàng ơi, tại làm sao mà tôi có thể chèo kéo chàng vào trong thế giới thật khó hiểu như thế giới của tôi, mà chàng, chàng thuộc về chủng loại người đơn giản nhưng lại cố chấp một cách mù quáng?

“Nhưng mà”. Thérèse miên man suy nghĩ. “Chàng sẽ ngắt lời ta ngay từ câu đầu tiên: Vậy sao cô lại lấy tôi? Tôi không hề theo đuổi cô mà

Tại sao nàng bằng lòng lấy Bernard? Quả đúng anh ta đã không tỏ ra vội vã. Thérèse nhớ lại, mẹ anh ta, Madame Victor de la Trave, cứ nhắc đi nhắc lại. “Thằng Bernard sẵn sàng chờ đợi, nhưng cô ta muốn lấy nó, muốn lắm, muốn lấy ngay nó. Thật xui xẻo, cô ta không giống như chúng tôi. Hút thuốc như cái ống khói tàu. Một thứ kiểu cách màu mè đó mà! Nhưng được cái cô ta rất thẳng ruột ngựa, không che đậy gì hết. Chúng tôi sẽ cố để khuyến khích cô ta nuôi những ý tưởng lành mạnh hơn về cuộc sống. Dĩ nhiên rồi, trong hôn nhân không phải cái gì cũng như ý mình muốn. Như bà cố Ballade đấy – ừ, tôi biết hết chứ. Nhưng giờ thì có còn ai nhớ đến điều gì đâu. Không thể nói đó là một vụ tai tiếng um sùm, vì người ta bưng bít câu chuyện thật gọn ghẽ. Mà này, cái chuyện di truyền ấy, có đáng tin không? Người cha có thể có những ý tưởng cần phải được xem xét lại, nhưng có người cha nào lại không dạy con gái mình những điều tốt đẹp nhất – ông ta là một vị thánh giữa đời thường. Lại nữa, ông ta có cánh tay rất dài. Trong đời sống, mình cần hết thẩy những sự giúp đỡ có thể có được. Vả lại, đôi khi, để cho dễ sống, mình cần phải bỏ qua một điều gì đó. Và, tin hay không tin tùy ý, cô ta giàu hơn chúng tôi đấy. Khó tin, nhưng thật là vậy. Cô ta mê thằng Bernard dữ lắm. Cũng môn đăng hộ đối đấy chứ!”.

Phải, Thérèse mê đắm Bernard. Chưa bao giờ nàng tỏ ra muốn dấu diếm điều đó. Trong căn phòng khách ở Argelouse, trên bờ ruộng dưới những rặng sồi, nàng chỉ cần giương đôi mắt hướng về phía anh ta. Đó cách thế nàng bầy tỏ một tình cảm trang trọng và chân thực. Một con mồi như thế phủ phục dưới chân làm Bernard khoái trá, nhưng anh ta không ngạc nhiên.

Bà mẹ anh ta đã cảnh giác con trai. “Cẩn thận với cái của ấy đấy. Coi chừng có ngày lại mua hoạ vào thân.”

“Mình lấy Bernard là vì . . .” Thérèse nhíu mày, lấy tay che mắt, cố lục lọi trong trí nhớ của mình. Có một chút gì gọi là niềm vui con nít trong việc nàng thành chị dâu của Anne qua hôn nhân với anh trai cô bé. Nhưng Anne lại là người thích thú nhất với mối quan hệ đó. Với Thérèse, nó chẳng đem lại cho nàng sự khác biệt nào.

Nào, sao lại phải xấu hổ khi thú nhận điều này? Nàng đâu có coi thường hai ngàn mẫu rừng mà Bernard sở hữu. “Đất đai lúc nào cũng ở trong máu của nàng.”

Sau khi những bữa tiệc tối kéo đã dài chấm dứt, bàn ăn được dọn sạch sẽ và những chai rượu được mang ra. Thérèse thường nhập bọn với cánh đàn ông, lôi cuốn bởi những câu chuyện của họ về trang trại, hầm mỏ, nhựa thông, dầu thông. Nàng tỏ ra quan tâm đến việc định giá tài sản. Không có gì nghi ngờ về việc tâm trí nàng đã bị lôi cuốn bởi viễn ảnh một ngày nàng sẽ làm chủ sở hữu một cánh rừng mênh mông đến nhường ấy. “Dù sao, chàng cũng vậy mà. Chàng cũng say đắm khu rừng thông của mình không kém.” Nhưng dường như Thérèse đang bị chi phối bởi một cảm giác mù mờ, khó nhận diện hơn là những gì nàng đang cố đem ra để lý giải sự việc. Có lẽ, khi quyết định kết hôn, cái ý tưởng ham muốn một sự sở hữu tài sản sẽ có được do hôn nhân đem lại không nhiều bằng ý tưởng đi tìm một nơi ẩn náu. Sau rốt thì, điều gì đã khiến nàng đi đến quyết định ấy? có phải một nỗi hoảng sợ nào đó? Là một cô gái thực tế, mất mẹ từ sớm nên phải gánh vác công việc nội trợ trong nhà, nàng đã vội vã tìm một bến đỗ cố định, chắc chắn trong đời; nàng muốn được ẩn náu an toàn trước một mối nguy hiểm mơ hồ nào đó mà nàng không thể đặt tên. Trong suốt thời kỳ sau lễ hứa hôn, nàng luôn tỏ ra kiên định và sáng suốt hơn bao giờ hết. Nàng tự đặt mình trong khuôn khổ một gia đình. Nói cách khác, “nàng đã ổn định đời mình”. Nàng bước vào quỹ đạo đã được xếp đặt sẵn. Nàng đã tự cứu chuộc chính mình.

Vào mùa xuân sau lễ hứa hôn, họ đi từ Argelouse đến Vilmeja bằng con đường ngập cát. Những chiếc lá chết còn nằm trên các tàng cây sồi rậm rạp đã làm vẩn đục bầu trời mùa xuân trong xanh. Những bụi dương xỉ chết khô từ mùa đông năm ngoái vẫn còn nằm rải rác đây đó dù những mầm non cũng đã bắt đầu nhú lên từ dưới gốc. Bernard bảo nàng: “Cẩn thận với tàn thuốc lá của em. Vẫn có thể bị bốc cháy được. Đất khô khốc không một giọt nước.” Nàng hỏi lại. “Có thật là trong cây dương xỉ có chứa chất acid cực độc?” Bernard không biết rõ liệu chất acid trong cây đủ nhiều để biến thành chất độc chết người. Anh ta dịu dàng hỏi vị hôn thê. “Sao em hỏi vậy? quan tâm đến cái chết chăng?” Nàng cười lớn. Anh ta đã quả quyết rằng Thérèse ngày càng tỏ ra ít rối rắm hơn. Nàng nhớ lại, lúc ấy hai mắt nàng nhắm lại, cảm thấy hai bàn tay cứng cáp ve vuốt khuôn mặt mình, và một giọng nói rót vào bên tai “nhưng vẫn còn những ý tưởng điên khùng nằm ngủ trong đó.” Và Thérèse đã trả lời “chúng chờ anh đuổi chúng ra khỏi đầu em đấy, Bernard ạ!”

Họ có dịp quan sát mấy người thợ xây dựng làm một cái phòng cạnh căn nhà chính ở Vilmeja. Chủ nhà, gốc Bordeaux, dựng căn phòng đó cho con trai. Họ muốn cậu ta sống ở đó “để chữa bệnh phổi”. Em gái cậu ta đã chết vì cũng căn bệnh này. Bernard tỏ vẻ không ưa gì gia đình Azevedo. “Họ thề trước Chúa rằng họ không phải gốc Do Thái, nhưng em thử nhìn kỹ hình dáng bên ngòai của họ xem. Và bên cạnh đó, cái chứng bệnh lao phổi này – và nhiều thứ bệnh khác nữa.” Thérèse im lặng, không nói gì. Anne từ trường dòng Saint Sebastian về nhà để dự hôn lễ của anh trai. Trong lễ cưới, cô bé sẽ được sánh đôi với một cậu bé từ gia đình Deguilhem. Cô bé đã yêu cầu Thérèse mô tả cho cô “bằng thư hồi âm” – những chiếc áo đầm mà cô phù dâu chính sẽ mặc. “Chị gởi cho em mấy cái hình mẫu được không? Tốt nhất mình nên chọn màu sao cho phù hợp với mọi người…”

Thérèse chưa bao giờ hưởng được sự an bình như vậy trong lòng – đúng hơn, cảm thức mà nàng gọi là sự an bình; trong khi, thực ra, đó chỉ là trạng thái nửa thức nửa ngủ, lờ đờ lẫn đẫn, của con rắn độc đang nằm im dưới lớp da của mình.

(Còn Tiếp)

CHÚ THÍCH:

4.Hippolytus là một anh thợ săn trẻ trong tác phẩm Phaedra của Jean Racine (1677), một câu truyện thần thoại cổ Hy Lạp được cách tân và Phaedra được coi như một tác phẩm bậc thầy vĩ đại nhất của văn học Pháp. Hippolytus là con trai của Theseus và là con chồng của Phaedra. Trong lúc Theseus vắng nhà, Phaedra đã đem lòng say mê cuồng nhiệt đứa con của chồng. Sau đó, cả hai đều bị giết. Racine đã tạo vài biến thể quan trọng so với nguyên gốc câu truyện: Chàng trai trẻ của Racine phải lòng công chúa Aricia. Biết được việc này, Phaedra nổi cơn ghen tuông dữ dội. Trong thần thoại Hy Lạp, viết bởi Euripides, không có nhân vật Aricia. Hippolytus là người hâm mộ Artemis, vị nữ thần của sự trinh bạch và chàng ta chỉ có thú say mê săn bắn.

5.Paul De Kock (1794-1871) là một tiểu thuyết gia tác giả của rất nhiều tác phẩm. Tiểu thuyết của ông phần nhiều thiên về hài hước, thông tục, ít nhận được sự kính trọng của các nhà phê bình.

Causeries de lundi là những bài báo đăng nhiều kỳ rất được ưa chuộng, chủ yếu có tính cách phẩm bình và tiểu sử cá nhân, tác giả là Charles-Augustin Sainte-Beuve (1804-1869).

The history of the Consulat (một thời kỳ dưới triều đại trị vì của Napoleon), tác giả là Adolphe Thiers (1797-1877);

Các tác phẩm nhắc đến ở đây đều có một lượng độc giả rất lớn. Mục đích của việc liệt kê ra ở đoạn này tên các quyển sách mà Thérèse đọc nhằm cho thấy tính cách pha tạp của kiến thức mà nàng có được từ sách vở – và có lẽ, cũng là một hình thức thủ tục: liệt ra cho có.