T.Vấn

& Bạn Hữu

Văn Học và Đời Sống

THÉRÈSE DESQUEYROUX – CHƯƠNG BẨY

Share on facebook
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print

CHƯƠNG BẨY

Ngồi trước cửa nhà, Bernard đang sốt ruột mong Thérèse về. Vừa trông thấy bóng chiếc áo của nàng trong bóng đêm, anh ta hét vang: “Anh không bị gì hết! không có bệnh gì hết!”. “Em có tin được không, to lớn vạm vỡ như anh, vậy mà lại thiếu máu! Chuyện khó tin mà có thật; mình không thể chỉ nhìn bề ngoài mà xét đoán. Anh sẽ phải điều trị bằng phương pháp mà họ gọi là Fowler. Phải dùng đến thạch tín (11). Cốt lõi của việc chữa trị là làm sao cho anh cảm thấy muốn ăn trở lại.”

Thérèse nhớ lại. Ban đầu, nàng không thấy Bernard làm cho nàng có cảm tưởng bị quấy rầy: mọi cử chỉ lời nói của Bernard đối với nàng dường như ít làm nàng khó chịu hơn lệ thường (như thể chúng chỉ sướt qua vai nàng). Nàng không chú ý gì đến chồng. Hồn xác nàng bây giờ đang hướng về một vũ trụ hoàn toàn khác, nơi đó người ta háo hức được biết, được học, được hiểu – và bằng cái mệnh đề mà Jean Azevedo đã nói đến với sự tự mãn ghê gớm, “trở thành chính con người của mình”. Cuối cùng, khi ngồi ở bàn ăn, Thérèse cho biết nàng đã gặp Jean Azevedo, Bernard kêu lên: “Hả? em không nói cho anh biết? em thiệt hết sức tức cười! Nào, hai người quyết định như thế nào rồi?”

Thérèse bịa ra một kế hoạch mà họ sẽ thực hiện: Jean Azevedo đồng ý sẽ viết cho Anne một bức thư, trong đó, cậu ta sẽ nhẹ nhàng thuyết phục cô bé hãy từ bỏ mọi hy vọng về một cuộc hôn nhân với cậu ta. Bernard cười hô hố khi Thérèse cho biết cậu này không hề có một ý định gì sẽ kết hôn với Anne: một anh chàng Azevedo không muốn lấy một tiểu thư de la Trave! “Ôi, em có điên không đấy? hết sức dễ hiểu: nó biết điều đó sẽ không bao giờ xẩy ra. Mấy người ấy không bao giờ mạo hiểm nếu họ biết chắc chắn sẽ thua. Cưng ơi, em vẫn còn ngây thơ quá!”

Vì sợ muỗi, Bernard không muốn bật đèn, nên anh ta không nhìn ra được ánh mắt của Thérèse nhìn mình. “Anh đã cảm thấy ăn ngon trở lại rồi”, theo như lời Bernard cho biết. Viên bác sĩ ở Bordeaux đã cho anh ta được sống lại rồi.

“Sau đó, ta có gặp gỡ Jean Azevedo thường không? Khoảng cuối tháng Mười, cậu ta đã rời Argelouse… Chúng tôi có đi dạo với nhau khoảng 5 hay 6 lần gì đó; Ta chỉ có thể nhớ rõ cuộc gặp mà hôm đó bản nháp bức thư mà cậu ta sẽ viết cho Anne được bàn thảo rất sôi nổi. Thật là một cậu bé ngây thơ; cậu ta tưởng những lời lẽ mà cậu ta cho là dịu dàng êm ái, nhưng ta biết mà không tiện nói ra trước mặt cậu, chúng sẽ làm tan nát cõi lòng cô bé tội nghiệp. Những buổi đi dạo cuối cùng giữa ta và Jean đã trộn lẫn vào nhau để chỉ còn đọng lại trong ta một kỷ niệm duy nhất. Jean Azevedo đã mô tả Paris và bạn bè của mình cho ta nghe. Nghe xong, ta tưởng tượng ra một vương quốc nơi đó chỉ có một luật lệ tối thượng, ‘Hãy trở thành chính mình.’ ‘Còn ở đây ư? Bà sẽ bị buộc phải dối trá cho đến ngày bà nhắm mắt chết đi.’ Có phải cậu ta nói thế với một chủ ý? Cậu ta nghi ngờ điều gì ở ta? Theo lời cậu ấy, ta sẽ không thể nào tiếp tục chịu đựng được bầu không khí ngột ngạt, khó thở này. ‘Bà xem đấy, trên cái mặt băng mênh mông một hình dạng giống nhau này, mọi linh hồn đều đã bị đóng băng. Thỉnh thoảng mặt băng hé ra một vết nứt, để lộ mặt nước đen ngòm bên dưới. Có người ngã xuống đó rồi biến mất tăm. Vỏ trái đất liền khép lại. Bởi vì ở đây, cũng như ở bất cứ nơi nào khác, con người ta được sinh ra với những phép tắc luật lệ của riêng mình; ở đây cũng như ở bất cứ nơi nào khác, mỗi người đều mang một số phận dành riêng cho mình, nhưng với tất cả mọi người, mỗi một sinh linh cũng phải bằng lòng tuân phục theo số phận buồn thảm của từng người khác. Một số nhỏ tìm cách phản kháng – do vậy mà có những bi kịch của từng gia đình, người ngoài không bao giờ biết đến. Như ở đây, người ta hay nói: không được nhắc đến chuyện ấy nhé!’

“Đúng rồi! Chính tôi đôi khi cũng có thắc mắc về một ông chú hay một bà dì nào đó mà hình của họ biến mất hẳn khỏi các tập hình gia đình được lưu trữ, nhưng chưa bao giờ – dù chỉ một lần – tôi nhận được một câu trả lời nào khác, đại loại: ‘Cụ ấy biến mất rồi . . .cụ ấy phải biến mất thôi.’

“Jean Azevedo có sợ rằng rồi đây ta cũng sẽ phải chịu chung số phận ấy không? Cậu ta quả quyết với ta chưa từng bao giờ nói với Anne những điều ấy, bởi vì, tuy là một con người rất đam mê, nhưng đó cũng là một linh hồn khá giản đơn; bây giờ thì cô ấy có một chút bất ổn trong lòng, nhưng cô thuộc loại người sớm muộn gì cũng sẽ vào khuôn vào phép thôi. ‘Nhưng với bà, tôi có thể cảm thấy được bà đang hết sức khát khao sự chân tình qua những lời bà thốt ra . . .’ Ta có phải kể lại chính xác những điều này cho Bernard nghe không? Có điên khùng mới hy vọng rằng chàng sẽ hiểu được những điều này. Nhưng dù sao, chàng cần phải biết rằng, ta đã không chịu bó tay mà không có một sự kháng cự nào. Ta nhớ mình có nói với cậu trai rằng những câu chữ mượt mà của cậu chỉ là một thứ mặt nạ, một thứ nỗ lực nhằm hợp lý hóa thái độ sẵn sàng thỏa hiệp với sự sa đọa ở mức độ ghê tởm nhất. Thậm chí ta còn cầu cứu đến trí nhớ về những bài luận đạo đức ta đã nộp cho thầy cô thời học sinh. Ta nói: ‘Để là chính mình ư? Nhưng mình chỉ có thể làm được điều đó trong chừng mực mà mình có thể tự tạo ra chính mình.’ (bây giờ thì không cần lý giải điều này, nhưng về sau có thể ta sẽ cần phải lý giải cho Bernard). Azevedo cứ khư khư cho rằng không có sự suy đồi nào tệ hại cho bằng một người tự hủy hoại bản ngã của chính mình. Cậu ta còn đi xa hơn nữa, bảo rằng mỗi một vị anh hùng, mỗi một vị thánh đã phải nghiêm chỉnh tự xét đoán bản thân mình để biết mình có những giới hạn nào, và lập lại rằng ‘chúng ta phải vượt hơn chính mình để tìm cho được Thượng đế.’ Và, một lần nữa: ‘Chấp nhận bản ngã của chính mình đòi hỏi những kẻ siêu việt nhất trong chúng ta tự đối đầu với chính mình, công khai trong một trận chiến không thể lẩn tránh; và đó là lý do mà chúng ta thấy có những con người mệnh danh là đã được giải thoát lại tự nguyện trở lại đạo, tự nguyện chấp nhận một thứ tôn giáo có những quy định khắt khe nhất.’

“Đừng bận tâm thảo luận những vấn đề về luân lý đạo đức với Bernard – cũng đừng nên khêu lên cho chàng biết rằng thực ra trong đó không phải là không có chút ngụy biện. Nhưng chàng phải hiểu, và phải làm sao cho chàng hiểu được rằng một người phụ nữ như ta phải được tiếp cận như thế nào và ta đã cảm thấy như thế nào trong cái buổi chiều trong phòng ăn ở Argelouse. Bernard, lúc ấy đang tháo ủng và kể lại cuộc đi săn trong ngày bằng thổ ngữ ở căn phòng sát nách với nhà bếp. Mấy con gà săn giãy giụa, làm chiếc túi cứ di chuyển trên bàn. Bernard nhai một cách chậm rãi, vẻ thích thú với sự ngon miệng vừa có lại được. Vừa ăn, chàng vừa đếm những giọt thuốc một cách trìu mến. “Đây là sức khỏe đây,”. Chàng lập đi lập lại điều mình nói. Trong lò sưởi, lửa đang cháy lớn. Đến món tráng miệng, chàng chỉ phải xoay chiếc ghế lại, rồi đứng dậy xỏ chân vào dép là đến được gần lò. Với tờ báo Petit Gironde trên tay, hai mắt chàng đã nhắm lại. Đôi khi, ta có nghe chàng ngáy nhẹ, nhưng cũng có khi ta chẳng nghe được cả hơi chàng thở. Tiếng dép của Balionte (12) – vợ người quản gia – kéo lê trên nền bếp; cô ấy đang thắp mấy cây đèn cầy. Rồi sau đó, là sự tĩnh lặng – cái tĩnh lặng của Argelouse! Những người không biết đến vùng đất hẻo lánh này sẽ không thể biết thế nào là sự tĩnh lặng. Nó vây bọc lấy căn nhà như thể một vật chắc nịch thoát ra từ khu rừng rậm, nơi không một sinh vật nào tồn tại, chỉ có những tiếng cú kêu thê lương – và có lúc, ta tưởng như nghe thấy tiếng nấc của chính mình bị nén lại.

“Thực ra, chỉ sau khi Jean Azevedo ra đi ta mới cảm nhận được nỗi ghê gớm của sự tĩnh lặng này. Khi biết mình sẽ gặp lại cậu ta vào ngày hôm sau, sự trông đợi ấy đã chế ngự được bóng tối vây bủa chung quanh; biết rằng cậu ta còn quanh quẩn đâu đây giúp ta tin rằng mảnh đất này đâu đến nỗi hoang vu và đêm đâu đến nỗi cô quạnh. Nhưng khi cậu ấy rời bỏ Argelouse, sau cuộc gặp gỡ lần cuối cùng với lời dặn dò một năm sau chúng ta sẽ lại gặp nhau, và niềm hy vọng, đến lúc ấy ‘tôi sẽ tìm ra được cách giải phóng mình’ Cho đến hôm nay, ta cũng không biết rõ cậu ta nói câu đó chỉ là để nói hay có một động cơ nào tiềm ẩn bên trong. Ta thiên về ý tưởng tin rằng anh chàng tuổi trẻ này sẽ không thể nào chịu đựng nổi nỗi im lặng; cậu ta thích mình chẳng qua là vì ta là người duy nhất ở đây biết lắng nghe… Nhưng một khi cậu ấy bỏ đi, ta có cảm tưởng như mình đang bước chân vào một con đường hầm vô tận, rồi chìm nghỉm trong đó với bóng tối chung quanh cứ ngày một dày đặc hơn; có lúc ta không biết liệu mình có ra tới được khung trời thanh thoát bên ngoài trước khi bị chết vì ngạt thở không. Cho đến khi sinh nở, một ngày trong tháng Giêng, chẳng có gì khác lạ xẩy ra…”

Đến đây, Thérèse bắt đầu ngập ngừng. Nàng buộc mình phải cố nhớ lại xem điều gì đã xảy ra trong căn nhà ở Argelouse sau khi Jean đã bỏ đi Paris. Nàng nghĩ “Ồ không được đâu. Những thứ đó chẳng liên quan gì đến câu chuyện mà ta phải giải thích với Bernard tối nay; ta không thể nào để mình mất dấu trong cái ngõ ngách nó chẳng đưa mình tới đâu.” Nhưng ý tưởng biết cách phản kháng; chúng không chịu dừng lại trên con đường chúng hướng tới. Thérèse không thể nào xóa được hồi ức về cái đêm tháng Mười đó ra khỏi trí nhớ của nàng. Ở tầng trên trong căn nhà, Bernard đang thay quần áo. Thérèse muốn chờ cho đến khi lửa trong lò sưởi tắt hẳn hoàn toàn trước khi lên phòng với chồng, với một chút niềm vui được ngồi một mình – Giờ này, Jean đang làm gì nhỉ? Có lẽ cậu ấy đang uống rượu trong một quán bar nhỏ mà cậu ấy đã có lần nhắc đến; có lẽ (đêm hôm ấy thật đẹp) cậu ta đang lái xe ngang qua khu rừng Bois de Boulogne hoang vắng cùng với một người bạn. Có lẽ cậu ta đang ngồi làm việc trên bàn giấy của mình trong lúc phía xa xa, thành phố Paris đang ồn ào sôi động. Jean là người có thể tạo ra được sự im lặng của riêng mình, không đếm xỉa gì đến cái ồn ào huyên náo của thế giới chung quanh. Sự im lặng của Jean không đến từ sự áp đặt bên ngoài, giống như nỗi im lặng đang làm Thérèse ngộp thở; sự im lặng của Jean chính là công việc cậu ta đang làm, nó không vượt ra ngoài khoảng sáng mà chiếc đèn bàn đang chiếu xuống, những tia im lặng phủ đầy trang sách mở rộng . . .Cứ như thế, nàng ngồi mơ mộng. Bỗng nhiên, tiếng chó sủa vang, rồi trở thành rên rỉ vui mừng. Nó đã nhận ra giọng nói quen thuộc. Anne de la Trave mở cửa bước vào. Cô bé đi bộ, vào ban đêm, suốt con đường từ Saint-Clair đến đây, giầy dính đầy bùn. Trông Anne già hẳn đi. Ném cái mũ trên mặt ghế bành, cô hỏi: “anh ấy hiện đang ở đâu?”

Với Thérèse và Jean, sau khi hoàn tất bức thư và gởi đi theo đường bưu điện, họ nghĩ rằng vấn đề như vậy là đã giải quyết xong. Họ không ngờ tới rằng Anne – như thể tin cô ta sẽ thuận theo các lý lẽ hợp lý – vẫn cứ nuôi hy vọng – làm sao cô từ bỏ nó dễ dàng như vậy được khi, với cô, đây là một vấn đề sống chết của đời mình. Cô đã tìm cách thoát khỏi được sự trông chừng của bà mẹ và nhẩy lên một chuyến xe lửa. Trên con đường tối tăm của Argelouse, cô chỉ nhìn theo khoảng sáng từ bầu trời trên cao, ẩn hiện qua các tàng cây để đến được đây. “Mọi chuyện sẽ được giải quyết nếu Anne gặp được Jean. Thấy mặt Anne, Jean sẽ mũi lòng đổi ý; vì thế, Anne phải gặp cho được Jean.” Cô đã trượt ngã nhiều lần trên con đường đất lầy lội đến Argelouse, vượt qua tất cả để thỏa mãn ước vọng khẩn thiết ấy. Vậy mà giờ đây Thérèse nói rằng Jean đã đi rồi, đã bỏ nơi này đến Paris rồi. Cô bé lắc đầu, bảo không thể được, cô không tin cậu ấy đã đi rồi. Cô cần phải tiếp tục không tin điều đó, hầu giữ cho mình không bị quỵ ngã vì tuyệt vọng và kiệt sức.

“Chị nói dối; chị lúc nào cũng nói dối.”

Khi Thérèse phản đối, cô bồi thêm, “Phải rồi, chị đã làm được một việc rất tốt, với danh nghĩa đại diện của gia đình! Chị giả vờ là người cấp tiến . . . nhưng kể từ khi lấy chồng, chị đã trở thành một người phụ nữ thực sự của gia đình. Phải rồi, giờ thì em hiểu rồi. Chị đã làm được một việc rất đáng khen, phản bội em để có thể cứu được em, phải thế không chị? Và em rất biết ơn với tấm lòng tốt của chị!.”

Cô đứng lên, mở cửa. Thérèse hỏi cô định đi đâu.

“đi Vilmeja, đến chỗ anh ấy!”

“Chị đã nói với em, cậu ấy rời khỏi nhà từ hai hôm nay rồi.”

“Em không tin chị nữa.”

Rồi Anne bước ra. Thérèse thắp sáng cây đèn treo ngoài cửa, cố theo cho kịp cô bé.

“Em đi lộn đường rồi Anne. Đường này đi Biourge. Đường kia mới dẫn đến Vilmeja.”

Họ đạp lên lớp sương mù bay lơ lửng trên mặt cánh đồng. Lũ chó bị đánh thức, sủa rân. Căn nhà nằm dưới những gốc sồi rậm rạp, không phải ngủ mà chết. Anne đi vòng quanh ngôi nhà như ngôi mộ cổ không một bóng người, đấm mạnh cửa với cả hai nắm của bàn tay. Thérèse đứng yên như phỗng trên mặt cỏ, tay cầm chiếc đèn lồng. Nàng nhìn bạn mình y hệt một bóng ma ốm đói, xăm soi từng cửa sổ của tầng dưới căn nhà. Anne liên tục kêu tên của cậu ta, nhưng giọng cô như thầm thì, vì biết rằng có lớn hơn cũng vô ích mà thôi. Có lúc như cô bé ẩn trốn đâu đó quanh căn nhà, rồi lại xuất hiện; cô bước về phía trước cửa nhà, lặng lẽ ngồi xuống, hai tay ôm chặt lấy hai đầu gối. Thérèse đỡ cô bé đứng dậy, dẫn cô rời khỏi căn nhà. Anne trượt chân, miệng nói liên tu: “Em sẽ đi Paris ngay ngày mai. Paris đâu có rộng lớn gì; Em sẽ tìm được anh ấy ở Paris.” Nhưng giọng điệu của cô bé mang âm hưởng của một đứa bé biết mình đã chạm mức giới hạn của sự phản kháng và sắp sửa chuẩn bị cho sự đầu hàng.

Bernard, bị tiếng nói của hai chị em đánh thức dậy, đã ra ngồi chờ họ ngoài phòng khách trong chiếc áo ngủ. Thérèse đã lầm khi cố gắng nhớ lại những gì đã xẩy ra giữa hai anh em.

“Người đàn ông này, kẻ có đủ khả năng để, một cách hung bạo, nắm tay một cô gái tuyệt vọng và lôi xềnh xệch lên lầu trên, đẩy cô vào phòng rồi khóa chặt cửa lại. Gã đàn ông đó là chồng mày đấy, Thérèse ạ! Cũng cái anh chàng Bernard này, trong hai tiếng đồng hồ nữa, sẽ ngồi ghế phán xử mày! Tinh thần gia đình nâng đỡ và khuyến khích anh ta trong mỗi việc làm và anh ta chưa bao giờ ngần ngại điều gì. Anh ta biết, trong mỗi tình huống, điều gì là có lợi nhất cho gia đình. Mày, dựa trên nỗi đau khổ mày đang hứng chịu, chuẩn bị cho mình những lời biện hộ lê thê; nhưng chỉ những anh đàn ông không mang tính cách như Bernard mới có thể chấp nhận những lý lẽ có tình có lý của mày. Rồi thì chồng mày sẽ mỉa mai: ‘Anh biết anh phải làm gì!’. Anh ta luôn biết mình phải làm gì. Nếu có bao giờ anh ta còn ngần ngừ, thì anh ta sẽ bảo: ‘tôi sẽ bàn bạc lại với gia đình rồi quyết định sau . . .’. Làm sao mà mày lại không tin rằng anh ta đã sẵn sàng cho mày một bản cáo trạng? Số phận của mày đã được định đoạt rồi. Và nó sẽ là mãi mãi. Bây giờ thì mày hãy nên tìm một giấc ngủ đi nhé!”

(Còn Tiếp)

CHÚ THÍCH:

11. Cách điều trị này được đặt theo tên của người phát minh ra nó, viên bác sĩ người Anh Thomas Fowler (1736-1801). Ông là người đầu tiên chủ xướng việc pha trộn một số lượng nhỏ thạch tín dùng trong việc chữa bệnh tim.

12.Tên của cặp vợ chồng người quản gia giúp việc trong nhà, lẽ ra có thể gọi là Madame Balion để ám chỉ người vợ. Nhưng để phân biệt với người chồng, người ta thêm tiếp vĩ ngữ giống cái: Balionte.