T.Vấn

& Bạn Hữu

Văn Học và Đời Sống

THÉRÈSE DESQUEYROUX – CHƯƠNG MƯỜI HAI

Share on facebook
Share on twitter
Share on whatsapp
Share on email
Share on print

CHƯƠNG MƯỜI HAI

“Có thư của ông chủ.”

Thấy Thérèse không buồn chìa tay ra nhận bức thư, Balionte hối thúc: Chắc Monsieur viết thư là muốn báo cho biết ông sắp về nhà; mụ ta cần biết để chuẩn bị sẵn sàng tiếp đón ông chủ.

“Nếu Madame muốn tôi đọc cho . . .”

Nàng bảo: “Thì đọc đi, đọc đi!”. Rồi nàng quay mặt vào tường, như mỗi lần Balionte vào phòng. Nhưng nội dung bức thư mà mụ ta đang đọc đã khiến nàng thoát ra khỏi tình trạng mơ mơ màng màng của mình:

“Tôi rất hài lòng khi được Balion báo cáo rằng ở Argelouse, mọi chuyện đều rất ổn . . .”

Bernard cho biết sẽ về nhà, nhưng bởi vì anh ta định bụng sẽ ghé lại vài nơi trên đường đi, nên không thể cho biết đích xác ngày giờ về đến nhà.

Nhưng chắc chắn sẽ phải trước ngày 20 tháng 12. Cũng đừng ngạc nhiên khi cô thấy có Anne và cậu con trai nhà Deguilhem về cùng với tôi. Họ đã hứa hôn ở Beaulieu, nhưng chưa chính thức: Deguilhem muốn được dịp gặp gỡ cô trước. Cậu ta bảo đó chỉ là vấn đề thủ tục. Nhưng theo tôi, cậu ta muốn được nhìn tận mắt cô để tự mình đánh giá. Cô biết rồi đấy! Cô quá thông minh để bị thất bại trước thử thách này. Hãy nhớ là cô bị bệnh và thần kinh của cô có vấn đề. Tôi hoàn toàn trông cậy vào cô, và mong ước rằng, cô sẽ cố gắng hết sức để không làm cho Anne vuột mất cơ hội này, cũng như làm ảnh hưởng đến kết quả tốt đẹp của kế hoạch chung của chúng ta; kế hoạch mà cho đến hôm nay gia đình đã đánh giá là thành công tốt đẹp – Về phần tôi, tôi sẽ không ngần ngại có những biện pháp khiến cô phải trả giá xứng đáng cho những ý định phá hoại mà cô định làm. Nhưng tôi tin chắc rằng tôi sẽ không phải lo lắng về việc đó.

Đó là một ngày tuyệt đẹp, trời lạnh nhưng trong vắt. Thérèse ra khỏi phòng, ngoan ngoãn làm theo ý Balionte, dựa cánh tay mụ ta đi một vòng quanh khu vườn, dù phải khó khăn lắm nàng mới ăn hết một miếng ức gà. Còn 10 ngày nữa đến 20 tháng 12. Nếu Madame chịu khó luyện tập, vẫn còn quá đủ thời gian để Madame hồi phục.

Balionte thổ lộ với chồng:

“Mình không thể nói là bả cứng đầu. Bả chỉ có thể làm được đến thế thôi. Monsieur Bernard có tiếng là giỏi trị mấy con chó điên. Chỉ cần đeo cái dây đeo cổ thòng lọng vào là xong ngay. Và chắc cũng không lâu trước khi Monsieur biến bả thành con chó ngoan ngoãn biết nghe lời. Nhưng vẫn không thể tin cái bà trời thần đó được.”

Về phần Thérèse, quả đúng là nàng đang cố hết sức để kháng cự lại sự xâm chiếm của thứ tâm trí huyễn hoặc, những giấc ngủ lê thê, những thứ chỉ khiến nàng tự hủy diệt mình. Nàng bắt đầu đi dạo trở lại, ăn uống điều độ, và quan trọng hơn là nàng đã cố để đầu óc được minh mẫn, nhìn con người và sự vật bằng ánh mắt bình thường, chứ không qua lăng kính của thế giới huyền ảo. Và cuối cùng, khi nàng có thể đặt trở lại hai chân trên mảnh đất mà trước đây nàng đốt bỏ, dẫm lên lớp tro bụi còn vướng lại, đi ngang qua những hàng thông đen đúa vì bị lửa táp, nàng cũng sẽ phải nói và cười với những người trong gia đình – gia đình của nàng.

Hôm 18 tháng 12, lúc khoảng 3 giờ chiều của một ngày tuy có mây nhiều nhưng không mưa, Thérèse ngồi trước lò sưởi trong phòng, dựa đầu vào lưng ghế bành, mắt nhắm lại như ngủ. Một tiếng gầm của động cơ máy nổ làm nàng giật mình thức giấc. Nàng nhận ra tiếng của Bernard trên hành lang dưới nhà, và cả tiếng của Madame de la Trave. Khi Balionte chạy đâm sầm vào, thở không ra hơi và cũng không thèm gõ cửa phòng, nàng đã đứng trước tấm gương, dặm chút phấn hồng lên má, tô lại đôi môi. Nàng bảo: “Ta không được làm cho cậu bé nhà Deguilhem hoảng sợ.”

Nhưng Bernard đã phạm phải một lỗi lầm khi anh ta không chạy lên phòng vợ mình ngay khi vừa về tới. Cậu trai con nhà Deguilhem, đã hứa với gia đình cậu là sẽ “mở to mắt cảnh giác mọi chuyện”, tự bảo mình rằng “sự kiện không vội vã lên gặp vợ mình là điều mình phải tìm hiểu cho kỹ”. Cậu ta bước xa Anne một chút, tay kéo cao cổ áo khoác, nhận xét  “không thể nào sưởi ấm đúng mức một căn phòng khách ở nhà quê được”. Cậu quay qua hỏi Bernard: “Nhà có tầng hầm ở phía dưới không? Anh thừa biết, không có một lớp xi măng phủ phía dưới thì ván sàn lót nền nhà như thế này rất dễ bị hư mọt.”

Anne de la Trave mặc một chiếc áo khoác màu xám nhạt, đội chiếc mũ thường, không nơ không dải hoa (Madame de la Trave khoe “dù không có trang điểm thêm thắt gì hết, vậy mà giá chiếc mũ vẫn cao hơn nhiều so với mũ thường đội có đầy đủ lông chỏm. Tất nhiên là  đội trên đầu rất êm. Mũ bày bán ở cửa tiệm Lailhaca ở Bordeaux, nhưng kiểu mũ là từ tiệm Reboux ở Paris.”). Madame de la Trave duỗi chân về phía lò sưởi, chân này sau chân kia, khuôn mặt trông vừa có vẻ hống hách, vừa có vẻ hiền lành tự nhiên, mắt hướng về phía cửa. Bà ta  đã hứa với Bernard rằng mình sẽ tỏ ra lịch sự; nhưng chỉ đến thế thôi. Thí dụ, bà cảnh cáo anh ta: “Đừng bắt mẹ phải ôm hôn nó. Đòi hỏi một người mẹ như vậy là quá nhiều đấy. Chạm vào tay nó không thôi cũng đã đủ khiến mẹ chết khiếp rồi. Con hiểu mà! Chúa biết điều con đó làm là kinh khủng, nhưng với mẹ, đó không phải là điều mà mẹ ghét bỏ nó. Ở đời này thiếu gì những kẻ có đủ khả năng phạm tội giết người. Nhưng ở con này, là cái thói đạo đức giả của nó làm mẹ phát tởm. Con có nhớ không chứ còn mẹ thì vẫn chưa quên. ‘Mẹ này, ngồi cái ghế này mẹ sẽ cảm thấy thoải mái hơn . . .’. Còn nữa, khi nó sợ làm cho con phải lo lắng. ‘Tội nghiệp anh ấy quá, ảnh sợ chết lắm! bây giờ mà kêu bác sĩ đến thì chỉ làm anh ấy mau chết vì sợ thôi . . .’. Chúa biết mẹ không nghi ngờ nó điều gì hết, nhưng cái câu ‘tội nghiệp anh ấy’ phát ra từ miệng nó làm mẹ ngạc nhiên . . .’

Nhưng giờ đây, trong căn phòng khách ở Argelouse, Madame de la Trave chỉ cảm thấy một nỗi ngượng ngùng mà mọi người chung quanh đều có cùng cảm giác. Bà thấy đôi mắt dò xét của Deguilhem chằm chằm nhìn Bernard.

“Bernard, con nên đi lên xem coi Thérèse ra sao, có thể cô ấy hôm nay không thấy khỏe lắm!”

Bỗng Anne – người có vẻ dửng dưng với mọi chuyện xẩy ra chung quanh, như thể chẳng có gì dính dáng đến cô ta – người đầu tiên nhận ra bước chân quen thuộc, kêu lên, “Con nghe có tiếng chân chị ấy đi xuống.”. Bernard, tay đè lên tim, đang che giấu sự hồi hộp. Anh ta tự trách mình sơ ý, đã không về nhà từ tối hôm qua để tập dượt cho Thérèse biết những gì phải làm, phải nói. Cô ta sẽ nói gì đây? Cô ta có thể dễ dàng làm hỏng hết mọi điều anh ta dự định, thậm chí cũng không cần phải làm hay nói một việc gì để anh ta vin vào đó mà trách cứ. Sao cô ta đi chậm thế! Mọi người đều đang đứng lên, mắt hướng về phía cửa chờ cho Thérèse cuối cùng xuất hiện.

Nhiều năm về sau, Bernard vẫn còn có thể hồi nhớ lại những chữ đầu tiên xuất hiện trong trí mình khi nhìn thấy cái thân xác tiều tụy, nhỏ thó, nước da nhợt nhạt, mặt phủ đầy son phấn che đậy – bước qua cánh cửa: “Tòa án hình sự”. Nhưng không phải vì tội mà Thérèse đã phạm. Ngay lập tức, anh ta nhớ đến bức hình cắt ra từ tờ báo Petit Parisien (Người Pari nhỏ bé) được dántrên bức tường nhà xí ở Argelouse cùng với mấy bức hình khác. Và, khi còn là một đứa bé, anh ta đã từng dán mắt vào những bức hình xanh đỏ nói về “the Prisoner of Poitiers” (Người phụ nữ bị biệt giam ở Poitiers)(17), trong khi bên trong nhà xí tiếng ruồi nhặng bay vu vu và bên ngoài lại ra rả tiếng ve sầu.

Những hồi ức ấy lởn vởn trong đầu khi anh ta đứng chết lặng quan sát một Thérèse hốc hác, xanh mét vì thiếu máu. Anh ta nghĩ mình quả là một thằng ngốc khi đã không tìm cách làm sao thoát khỏi người đàn bà kinh khiếp này, dù phải trả bất cứ giá nào – giống như cái cách người ta phải vội vã đổ nước vào cái máy bị nóng quá mức, trước khi nó nổ tung. Không biết Thérèse có cố ý hay không, nhưng mỗi khi bước vào phòng, nàng đều mang theo với mình một điều gì đó không bình thường, thậm chí gây chấn động cho người trong phòng – một điều gì đó nhập nhằng, mơ hồ, dễ làm đề tài cho những lời đàm tiếu của một tờ báo ngày: nàng phải thủ một trong hai vai trò: hoặc là kẻ tội phạm, hoặc là một nạn nhân. Về phía những người có mặt trong phòng, một không khí hơi bị chấn động và hơi giả vờ thương hại khiến cậu trai nhà Deguilhem ngần ngại chưa dám rút ra một kết luận nào hoặc phải suy nghĩ theo chiều hướng nào.

Thérèse lên tiếng:

‘Không có gì phải bận tâm về tôi lắm đâu. Thời tiết khắc nghiệt đã giữ tôi ở riệt mãi trong nhà và làm tôi không thiết gì đến việc ăn uống. Cả bây giờ cũng vậy. Nhưng tốt nhất là nên gầy ốm thon thả hơn là mập mạp phát phì, phải không? Hãy hỏi thăm Anne trước đã. Chị rất mừng cho em. . .”

Nàng ngồi xuống, với Anne vẫn đứng bên cạnh, nàng cầm lấy tay cô bé. Anne nhìn nàng với vẻ đăm chiêu. Ngay cả trên khuôn mặt quá tiều tụy, hốc hác, Anne vẫn còn nhận ra cái nhìn cương quyết, tự tin khiến đôi khi làm cô bé khó chịu. Cô nhớ mình đã từng nói: “Khi nào thì chị sẽ thôi không nhìn em bằng cái nhìn như thế?”

“Chị rất vui khi biết em hạnh phúc. Anne!”

Rồi nàng quay qua mỉm cười với “hạnh phúc của Anne”, cậu bé nhà Deguilhem – anh chàng trông có vẻ kiêu ngạo với mái tóc rẽ ngôi ngay sau trán, hàng ria mép trễ tràng, đôi vai hơi gù xuống, chiếc áo khoác ngoài che phủ lên đôi chân ngắn mũm mĩm mập mạp bên trong chiếc quần xám sọc đen (thì đã sao nào! Đó là một gã đàn ông như bất cứ gã đàn ông nào; ngắn gọn, một người chồng). Rồi nàng quay qua chuyển ánh nhìn về phía Anne, bảo cô bé:

“Cởi mũ ra nào – thế! Giờ thì chị nhận ra được em rồi, em nhỏ!”.

Đứng sát bên Thérèse, Anne nhìn rõ được khóe miệng hơi nhăn, đôi mắt lúc nào cũng khô, không bao giờ có một giọt lệ, nhưng vẫn không thể hiểu được nàng đang nghĩ gì trong đầu. Cậu con trai nhà Deguilhem bảo thời tiết mùa đông cũng không đến nỗi ghê gớm lắm cho một phụ nữ ưa thích được ở trong nhà: “Quanh nhà lúc nào cũng có rất nhiều việc để làm.”

“Chị không muốn biết tin gì về bé Marie sao?”

“Ồ, phải rồi – nói cho chị nghe về Marie đi!”

Anne có vẻ dò xét Thérèse, thậm chí cả ghét bỏ nàng. Từ mấy tháng nay, cô ta thường lập đi lập lại, đôi khi mượn thêm lối ngân nga của mẹ mình: “Tôi có thể tha thứ hết cho chị ấy, vì xét cho cùng, chị ấy bị bệnh. Nhưng sự thờ ơ của chị ấy với bé Marie, tôi không thể nào hiểu được. Một người mẹ không một chút quan tâm gì đến con mình đứt ruột đẻ ra – dù vì bất cứ lý do nào cũng không thể biện hộ được. Tôi thấy thật ghê tởm.”

Thérèse có thể đọc được những ý nghĩ trong đầu của Anne. “Cô ta ngờ vực vì ta đã không hỏi han đến bé Marie từ đầu. Làm sao ta có thể giải thích cho cô ấy đây? Cô ta không hiểu rằng, con người ta đã bị chính ta chiếm trọn hết rồi, không còn chỗ nào dành cho ai hết. Còn cô ta, đang chỉ mong có con cái để tự hủy diệt bản thân mình trong đó, giống như bà mẹ cô ta, giống như tất cả những phụ nữ trong gia đình. Nhưng ta thì hoàn toàn khác hẳn. Ta lúc nào cũng bận bịu khám phá lại chính mình; bận bịu tìm cách nối sự liên lạc với chính mình . . . Anne rồi sẽ nhanh chóng quên hết thời niên thiếu của mình, của ta, nhanh chóng quên hết những vuốt ve của Jean Azevedo, một khi cô ta nghe được tiếng thở đầu đời của đứa bé sẽ thừa hưởng mọi gia tài của gia đình mình, nhanh hơn cả một cái chớp mắt. Nguyện vọng của tất cả những phụ nữ trong gia đình này là được đánh mất toàn bộ sự hiện hữu cá nhân của mình. Thật tuyệt vời cho những cử chỉ hy sinh bản thân mình của những bà mẹ trong gia đình. Ta ngưỡng mộ cái đẹp của sự tự xóa bỏ, tự quên bản thân, tự hủy diệt cái tôi. Nhưng ta, nhưng ta  . . .”

Nàng cố không phải nghe những gì họ đang nói, để chỉ nghĩ về Marie. Bé chắc đã biết nói. “Hẳn là ta sẽ thích thú trong giây lát khi nghe bé nói, nhưng có lẽ rồi ta cũng chán ngay thôi; Ta sẽ nóng lòng muốn được cô đơn với chính ta một lần nữa . . .”

 Thérèse hỏi Anne:

“Marie biết nói chưa?”

“Nó lập lại tất cả những gì nó nghe được. Rất vui nhộn, chị à! Chỉ cần tiếng một con gà gáy sáng, tiếng kèn xe kêu vang, là nó chìa ngón tay nhỏ bé của mình ra, nói: “Nghe nhạc kìa!”. Một đứa bé hết sức dễ thương.”

Thérèse chợt nghĩ: “ta phải tập trung lắng nghe xem họ đang nói chuyện gì. Đầu ta sao trống rỗng thế này. Cậu bé nhà Deguilhem đang nói gì thế?” Nàng cố gắng để có thể nghiêng người về phía cậu ta.

“Ở lãnh địa Balisac chúng tôi, các công nhân hút nhựa thông không được siêng năng như ở đây. Họ chỉ có thể hút được chừng 4 thùng mỗi người thay vì 7 hoặc 8 như nhân công ở Argelouse.”

“Với cái giá nhựa thông như hiện nay, vậy là họ lười biếng quá!”

“Một người thợ rút nhựa thông bây giờ có thể kiếm được cả trăm quan một ngày… Nhưng tôi nghĩ, chúng ta đang làm cho Madame Desqueyroux mệt mỏi rồi đấy…”

Thérèse đã ngả người, dựa đầu vào lưng ghế. Mọi người đều đứng dậy. Bernard quyết định anh ta sẽ không ở Saint-Clair. Deguilhem đồng ý lái xe, và sẽ gởi chiếc xe trả về lại vào hôm sau cùng với hành lý của Bernard. Thérèse cố gắng đứng dậy, nhưng Madame de la Trave bảo nàng cứ ngồi yên.

Nhắm mắt lại, nàng nghe có tiếng Bernard nói với Madame de la Trave: “Hai cái đứa này, vợ chồng Balion, thiệt tình! Con sẽ cho chúng nó biết tay. Chúng nó tưởng chúng nó muốn làm gì thì làm.”

“Hãy cẩn thận, đừng quá mạnh tay. Mình không thể để chúng nó bỏ đi. Chắc chắn một điều là chúng nó biết quá rõ mọi chuyện từ bao lâu nay. Rồi còn việc quản lý đất đai tài sản nữa. Thằng Balion là đứa duy nhất biết cách giữ cho mọi việc trôi chảy ở đây.”

Bernard nói câu gì đó Thérèse không nghe được, nhưng nàng nghe bà mẹ trả lời, “cũng thế thôi, chẳng khác gì, phải thận trọng đấy! Đừng quá tin cậy cô nàng. Trông chừng mọi việc cô ta làm, không bao giờ cho cô ta vào trong bếp một mình, hay phòng ăn. Không, nó không xỉu đâu. Chỉ đang ngủ thôi, hay giả vờ đang ngủ.”

Thérèse mở mắt. Bernard đang đứng trước mặt. Tay đang cầm một cái ly, bảo nàng: “Uống đi, rượu vang Tây Ban Nha đấy. Nó sẽ giúp cô tỉnh táo!”. Và như mọi lần khác, một khi đã quyết định làm một việc gì thì anh ta sẽ làm ngay không chần chừ; Bernard đi vào trong bếp với nỗi thịnh nộ không che giấu. Nàng nghe có tiếng thổ ngữ từ Balionte, tiếng mụ ta phản đối the thé. Nàng nghĩ, “Bernard có vẻ sợ hãi; hiển nhiên rồi, nhưng anh ta sợ cái gì?”

Anh ta quay lại.

“Tôi nghĩ cô sẽ cảm thấy ăn ngon hơn nếu ngồi ăn trong phòng ăn, thay vì trong phòng ngủ. Tôi đã bảo chúng nó sắp xếp cho cô một chỗ ngồi ở bàn ăn, giống như trước đây vậy thôi.”

Thérèse nhìn thấy một Bernard khác, một Bernard trước đây vào thời kỳ họ còn cần phải hợp tác với nhau để hoàn tất bản văn kiện pháp lý: đó là hình ảnh một đồng minh, cần phải làm cho xong công việc, với bất cứ giá nào. Anh ta muốn nàng phải được hồi phục, bất kể mọi chuyện khác. Quả đúng vậy! rõ ràng là anh ta đang sợ hãi. Nàng quan sát anh ta, ngồi ngay trước mặt nàng, tay cầm cây que cời lửa xục xạo trước lò sưởi. Nhưng nàng lại không thể hình dung ra hình ảnh mà anh ta nhìn thấy qua ánh lửa: Bức hình màu xanh đỏ cắt ra từ tờ báo The Petit Parisien, bức hình “Người phụ nữ bị biệt giam ở Poitiers.”

Dù trời đã mưa liên tục suốt một mùa đông, nhưng không một vụng nước nào còn đọng lại được trên những đụn cát của Argelouse. Ngay trong những ngày ẩm ướt nhất giữa mùa, chỉ cần một tiếng đồng hồ có ánh nắng mặt trời, là người ta có thể xỏ giày vải bước đi giữa những lối đi phủ đầy lá thông nhọn hoắt như kim, thân lá khô ráo và co giãn mỗi khi đạp lên. Ban ngày, Bernard đi săn, chỉ về nhà vào những bữa ăn; vì quan tâm đến Thérèse, anh ta chăm sóc nàng khác hẳn với trước đây. Giữa họ, rất ít xẩy ra những sự cưỡng ép. Cứ mỗi 3 ngày, anh ta bắt nàng phải cân một lần và giới hạn chỉ cho nàng hút 2 điếu thuốc sau mỗi bữa ăn. Theo sự đề nghị của Bernard, Thérèse đã đi bộ khá nhiều: “Hoạt động là phương cách tốt nhất để lấy lại sự ngon miệng khi ăn”.

Nàng không còn sợ hãi Argelouse nữa. Có vẻ như những khu rừng thông đã nhường nàng một bước, mở rộng cửa đón nàng và làm cho nàng cảm thấy được chào đón như trong nhà riêng của mình. Một buổi chiều, Bernard bảo nàng: “Tôi đề nghị cô chờ cho đến sau lễ cưới của Anne xong; mọi người khi ấy sẽ nhìn thấy chúng ta bên cạnh nhau một lần cuối cùng; sau đó, cô sẽ được hoàn toàn tự do.” Đêm hôm đó, nàng không ngủ được, đôi mắt cứ mở to vì một niềm vui thầm lặng. Đến sáng, nàng nghe tiếng gà gáy; nhưng hình như không phải chúng đáp lại tiếng gáy của nhau, mà là cùng nhau gáy vang, âm thanh rộn rã của dàn đồng ca vang lên phủ kín bầu trời. Bernard cuối cùng đã bằng lòng cho nàng tự do bước vào thế giới, giống như trước đây anh ta đã để nàng tự do đi dạo khắp các bình nguyên: con heo rừng anh ta đã không thể nào thuần phục. Sau khi Anne lập gia đình xong, dư luận muốn dị nghị thế nào tùy thích: Bernard sẽ đem nàng nhận chìm nghĩm xuống đáy sâu của Paris và tìm đường trốn chạy khỏi nàng. Họ đã đạt được một thỏa thuận: sẽ không có ly dị, không chính thức ly thân. Họ sẽ nghĩ ra những lý do để giải thích với mọi người, đại khái một lý do nào đó liên quan đến sức khỏe của nàng (“Cô ấy chỉ cảm thấy khỏe khoắn khi được đi du lịch đây đó”). Và anh ta sẽ nghiêm chỉnh gởi thu nhập về nhựa thông cho nàng vào mỗi kỳ lễ Các Thánh.

Bernard không buồn hỏi đến dự định của Thérèse sẽ làm gì ở Paris; cứ để cô ta giao du tùy thích, tại sao lại bận tâm đến làm gì. Anh ta bảo mẹ: “Con không cảm thấy yên tâm cho đến khi cô ta biến mất khỏi nơi đây.” “Mẹ tin chắc nó sẽ lấy lại tên con gái của mình. Nhưng giả như nó có làm điều gì thì con không thể né được trách nhiệm.” Nhưng Bernard trấn an mẹ mình. Thérèse chỉ dở chứng khi bị kềm chế. Để cho cô ấy được tự do, biết đâu cô ấy sẽ trở nên chừng mực hơn. Nhưng dù thế nào, họ cũng phải chấp nhận phần rủi ro nếu có. Đây cũng là quan điểm của Monsieur Larroque. Sau khi xem xét kỹ lưỡng mọi khía cạnh, họ đồng ý cách tốt nhất là nên để nàng biến mất. Rồi thì cô ta cũng sẽ mau chóng bị quên lãng, dư luận cũng sẽ ngưng thôi không bàn tán thêm nữa. Tuyệt đối giữ im lặng về nàng là điều quan trọng bậc nhất. Một khi sự quên lãng đã bắt đầu mọc rễ, không gì có thể đẩy bật nó ra được: Thérèse phải được xóa sạch khỏi những dấu vết. Và họ nôn nóng mong cho đến ngày điều ấy xẩy ra.

Thérèse vốn thích cái hình ảnh trơ khấc của mảnh đất vốn đã cằn khô giờ đây thêm xơ xác vì thời tiết khắc nghiệt. Trên mặt đất chỉ còn sót lại những chiếc lá khô ngoan cường hay những cành sồi quyết giữ lại cho kỳ được những chiếc lá mùa đông. Nàng khám phá ra được một điều. Sự tĩnh lặng của Argelouse không hề hiện hữu. Lúc thời tiết dịu dàng nhất, khu rừng khóc lóc than thở như con người ta khóc lóc than thở cho thân phận mình, rồi từ từ tự đắm mình vào giấc ngủ cho đến khi rừng đêm đầy ắp những tiếng thì thầm mơ hồ nhưng liên lỉ. Rồi cũng sẽ có những bình minh trong cuộc sống tương lai của nàng, một cuộc sống nàng chưa thể hình dung ra được, những buổi bình minh trống rỗng đến nỗi nàng sẽ nhớ đến những buổi sáng thức dậy ở Argelouse cùng với âm thanh ồn ào của vô số những con gà trống thi nhau gáy. Và những ngày hè sắp tới nữa; nàng sẽ nhớ tiếng ve sầu ban ngày, tiếng dế nỉ non ban đêm. Paris – nơi không có những rặng thông buồn thảm, nhưng lại có những khuôn mặt người kinh khiếp; sau hằng hà sa số những thân cây, sẽ là hằng hà sa số những thân người.

Cả hai người – vợ và chồng – đều ngạc nhiên khi thấy sự oán giận lẫn nhau trong lòng họ hầu như chẳng còn lại bao nhiêu. Thérèse cho rằng người ta trở nên sẵn sàng chịu đựng khi biết rằng sự chịu đựng này chẳng bao lâu sẽ chấm dứt. Bernard quan tâm nhiều đến trọng lượng cơ thể của Thérèse – và quan tâm cả đến những điều nàng thổ lộ. Giờ đây, nàng có vẻ thoải mái hơn bao giờ hết khi nói chuyện với anh ta: “Ở Paris . . . khi tôi ở Paris . . .”. Khởi đầu, nàng sẽ ngụ trong một khách sạn, sau đó có lẽ sẽ thử mướn một căn phòng ở chung cư. Nàng dự định sẽ theo đuổi vài lớp học, đến trường nghe giảng, tham dự  vài buổi hòa nhạc, “để ôn lại kiến thức lại từ căn bản”. Bernard thấy không cần thiết phải canh chừng nàng nữa. Anh ta ăn súp, uống rượu một cách không e dè, sợ hãi. 

Thỉnh thoảng, bác sĩ Pedemay gặp họ trên đường đi Argelouse. Về nhà, ông ta kể lại với vợ, “Điều thực sự ngạc nhiên là cả hai người đều trông không có vẻ gì đóng kịch cả.”

(Còn Tiếp)

CHÚ THÍCH:

17.The Prisoner of Poitiers, ám chỉ một chuyện có thật đã làm cả nước Pháp kinh hoàng vào năm 1901: Cảnh sát phát hiện ra một phụ nữ 52 tuổi tên là Mélanie Bastian đã bị gia đình giam giữ trong phòng ngủ của mình suốt 25 năm. Hình chụp và bản vẽ cho thấy hình ảnh một người đàn bà gầy gò, hốc hác, tiều tụy đến đáng sợ (và tất nhiên, đến lúc này bà không còn tỉnh táo nữa) phủ đầy các trang báo ngày. André Gide có viết một bản nghiên cứu về trường hợp này, nhan đề: La séquestrée de Poitiers; Bản nghiên cứu này đã được in lại (Paris: Gallimard, 1998) kể cả những hình ảnh liên quan nên hẳn Bernard đã được xem. Quyển sách của Gide mới đây cũng đã được dịch (sang tiếng Anh) bởi Benjamin Ivry và được gộp chung một tuyển tập, nhan đề: Judge Not (Champaign: University of Illinois Press, 2003).