<?xml version="1.0" encoding="UTF-8"?><rss version="2.0"
	xmlns:content="http://purl.org/rss/1.0/modules/content/"
	xmlns:wfw="http://wellformedweb.org/CommentAPI/"
	xmlns:dc="http://purl.org/dc/elements/1.1/"
	xmlns:atom="http://www.w3.org/2005/Atom"
	xmlns:sy="http://purl.org/rss/1.0/modules/syndication/"
	xmlns:slash="http://purl.org/rss/1.0/modules/slash/"
	>

<channel>
	<title>rượu &#8211; T.Vấn và Bạn Hữu</title>
	<atom:link href="https://t-van.net/tag/r%c6%b0%e1%bb%a3u/feed/" rel="self" type="application/rss+xml" />
	<link>https://t-van.net</link>
	<description>Văn Học và Đời Sống</description>
	<lastBuildDate>Fri, 14 May 2021 21:56:08 +0000</lastBuildDate>
	<language>en-US</language>
	<sy:updatePeriod>
	hourly	</sy:updatePeriod>
	<sy:updateFrequency>
	1	</sy:updateFrequency>
	<generator>https://wordpress.org/?v=6.7.5</generator>

<image>
	<url>https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2022/02/t-van-favicon.png?strip=all&#038;resize=32%2C32</url>
	<title>rượu &#8211; T.Vấn và Bạn Hữu</title>
	<link>https://t-van.net</link>
	<width>32</width>
	<height>32</height>
</image> 
	<item>
		<title>Một trà, một rượu, một &#8230; một &#8230;</title>
		<link>https://t-van.net/mot-tra-mot-ruou-mot-mot/</link>
					<comments>https://t-van.net/mot-tra-mot-ruou-mot-mot/#respond</comments>
		
		<dc:creator><![CDATA[TV và BH]]></dc:creator>
		<pubDate>Wed, 15 Jul 2020 05:22:16 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Ghi Chép]]></category>
		<category><![CDATA[rượu]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://7076e870b2.nxcli.io/?p=43815</guid>

					<description><![CDATA[&#160; Một trà, một rượu, một &#8230; một &#8230; Ái Văn (Nguồn: http://chimviet.free.fr) Tôi có hẹn là sẽ viết một bài nói về Trà, về Rượu mà không dám lạm bàn đến &#8230; đến &#8230; lãnh vực mình luôn &#8221; mù tịt &#8220;, cho dù mỗi ngày mình đều phải đương đầu. Nay xin giới [&#8230;]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<p>&nbsp;</p>
<table border="0" width="700" cellspacing="0" cellpadding="20">
<tbody>
<tr>
<td width="20%"><center><img decoding="async" src="http://chimviet.free.fr/truyenky/aivan/aival050/cognac.jpg" width="100" height="143" align="LEFT" border="0" /></center></td>
<td width="80%"><center><b><span style="font-family: Times New Roman,Times;"><span style="color: #006600;"><span style="font-size: medium;">Một trà, một rượu, một &#8230; một &#8230;</span></span></span></b></center></p>
<blockquote><p><center><b><span style="font-family: Times New Roman,Times;"><span style="color: #000099;"><span style="font-size: xx-small;">Ái Văn</span></span></span></b></center></p></blockquote>
</td>
</tr>
</tbody>
</table>
<h5><img decoding="async" src="http://chimviet.free.fr/truyenky/aivan/aival050/FRAPIN008VIPXO.jpg" width="239" height="200" align="RIGHT" hspace="20" vspace="10" /></h5>
<p>(Nguồn: http://chimviet.free.fr)</p>
<p>Tôi có hẹn là sẽ viết một bài nói về Trà, về Rượu mà không dám lạm bàn đến &#8230; đến &#8230; lãnh vực mình luôn &#8221; mù tịt &#8220;, cho dù mỗi ngày mình đều phải đương đầu. Nay xin giới hạn rõ ràng là chỉ xin lạm bàn về Trà và Rượu mà thôi, để dành cái phần kia cho quý vị Đàn Anh, quý vị Đàn Em hào hoa hoặc các bậc Trưởng Thượng tha hồ mạn đàm. &#8220;Em&#8221; xin lắng nghe lời chỉ giáo của quý vị.</p>
<p>Nói về cái gì mà &#8221; thiên hạ &#8221; ghét trước, hãy bàn về Rượu.</p>
<p>Thuở nhỏ, tôi hay đọc văn thơ lặt vặt &#8211; sở dĩ dùng chữ lặt vặt vì lúc nhỏ tôi nhác học văn chương lắm, cho dù tên tôi là Văn &#8211; nên đọc được câu thơ nào thấy thú vị hay hạp với mình thì cứ nhớ mãi, cho dù đã bao nhiêu năm về sau. Xin trích đây mấy câu chữ Hán cho ra cái điều ta đây cũng &#8221; Háng &#8221; rộng, với lại để cho đúng với chữ của cổ nhân: &#8221; Xấu hay làm tốt, dốt hay nói chữ &#8220;. ( Xin đừng bày đặt hiểu bậy hiểu bạ để xuyên tạc là tôi nói móc lò mấy ai cứ đem tiền ra cho các Thẩm mỹ viện tiêu giùm ).</p>
<p>&#8221; Nam vô tửu như kỳ vô phong &#8220;, hoặc<br />
&#8221; Bồ đào mỹ tửu dạ quang bôi</p>
<p>Dục ẩm tì bà mã thượng thôi &#8221; ( hai câu sau cũng rất hay nhưng không muốn trích vì không thấy dính tới Rượu ).</p>
<p>Rồi thơ Việt như :</p>
<p>&#8221; Đất say đất cũng lăn quay<br />
Trời say Trời cũng đỏ gay ai cười &#8221; &#8230;</p>
<p>Hay tới chuyện viết trong sách Giáo Khoa Thư lớp Đồng Ấu hay lớp Dự Bị. <em>( Ôi chao ơi, nếu tôi học được và hành được những gì Thầy Cô đã dạy cho học trò lớp Đồng Ấu thôi, ví dụ như đừng có nói dối, đừng làm những gì mình không muốn người khác làm cho mình, v.v. &#8230; thì tôi đã &#8221; thành nhơn &#8221; rồi chứ không còn bậy bạ như thằng tôi đang viết những giòng này )</em>.</p>
<p>Truyện kể rằng có một chàng kia vì một lý do gì đó đã bị một ông thần bắt buộc chàng phải về nhà giết cha , hay giết mẹ: Chàng dĩ nhiên từ chối không làm chuyện đó, rồi ông thần cho chàng một giải pháp khác là nếu như vậy nhà ngươi phải uống rượu. Chàng kia thấy giải quyết như vậy có vẻ OK, vì mình chỉ uống rượu mà thôi. Ai dè khi chàng uống rượu say lướt khướt rồi thì đâu còn biết gì nữa đâu: chàng giết luôn cả cha lẫn mẹ !!</p>
<p>Đó thấy không ? Rượu là hại lắm lắm, nhất là mấy quý vị Phật tử thì lại càng nên lưu tâm cẩn thận hơn vì trong ngũ giới, giới Tửu là một giới phải giữ. Ủa vậy chớ hại như rứa mà chú mầy lại bày đặt viết về rượu có phải là muốn hại nhau không ?</p>
<p>Ai cha, như đã trình bày ở trên, nếu ai ai cũng đàng hoàng, ai ai cũng ngoan ngoãn theo lời Thầy Cô dạy từ nhỏ thì đâu có chuyện, đâu có cõi tùm lum, tà la này, đâu còn thiên hạ sự, đâu còn chuyện để nói nữa ! Thái bình thịnh trị.</p>
<p><em>( Ê, Thầy Cô dạy, nghe được thì nghe theo, chớ đừng bắt chước những gì Thầy Cô làm, bởi vì nói thì nói vậy thôi chớ Thầy Cô là ai nếu không phải là chúng ta đang mặc áo mô phạm, mà Ta thì đâu đã thánh thiện, đâu đã đạt đạo !)</em></p>
<p>Vì Ta chưa thánh thiện nên ta hay dòm dòm ngó ngó xem thiên hạ làm gì &#8230; để &#8230; bắt chước. Bởi vậy mới sinh chuyện ! Dòm tới dòm lui, dòm qua dòm lại, thấy có nhiều đạo cho uống rượu, như đạo Thiên Chúa cho con chiên rượu lễ chẳng hạn, v.v. &#8230;, rứa là ta có cớ để hủ hóa, để hư, để bày chuyện !</p>
<p>Quý bạn đọc sẽ đọc sau đây những chi tiết về rượu không có tính cách &#8221; hàn lâm &#8221; như là có bao nhiêu thứ rượu, làm bằng vật liệu gì, làm ra sao, uống có công dụng gì, v.v. &#8230; mà chỉ đưa ra một vài cảm nhận lúc uống rượu cùng một ý kiến của riêng tôi về cách uống rượu.</p>
<p>Nói phét là như vậy, nhưng làm sao mà có thể nói cho hết những loại rượu đang bán trên thị trường, nên đành giới hạn ở nơi bài này chỉ nói về một thứ rượu mà phe ta hay dùng : rượu Cognac.</p>
<p>&nbsp;</p>
<h5><img decoding="async" src="http://chimviet.free.fr/truyenky/aivan/aival050/degustgouter.jpg" width="236" height="156" align="LEFT" hspace="20" /></h5>
<p>Trước đây ở Việt Nam tôi thường được các cao thủ võ lâm trong làng Công Chánh dạy cho cách uống rượu Cognac, đó là các anh TND (nay đã quá cố), HĐL (đang sống hùng mạnh ở San Jose), v.v. &#8230; dẫn dắt vào con đường &#8221; rượu chè &#8220;. Nhớ những lần TND, HĐL vào công tác Sài Gòn là thế nào tôi cũng được đi lẽo đẽo theo các đàn anh để hầu rượu ( <em>nói cho khéo, chớ thiệt là để uống ke</em>ù ). Những tên được nhắc đến trong các buổi nhậu nhẹt tôi học vỡ lòng về rượu nho từ TND: nào là Martel Trois Étoiles, nắp mở bằng nút xoắn, nào là Cordon Bleu, rồi là Cordon D&#8217;argent v.v&#8230; nghe nói không cũng thấy &#8221; đã &#8221; rồi, trong khi mình đang được uống Martel &#8221; chùa &#8220;, và đang phá &#8221; mồi &#8221; ( có nghĩa là &#8221; ăn &#8221; nhiều hơn &#8221; uống &#8221; ). Các đàn anh cứ phán, đàn em đang lắng nghe và đàn em &#8221; đớp &#8221; đều đều. Tôi vẫn còn nhớ như hôm qua TND với ĐST cùng HĐL đạp xe đạp chạy theo tôi vào Chợ Lớn &#8221; đổi &#8221; rượu để đi nhậu. Số là như vầy: Mấy đàn anh sau biến cố 1975 thì khá kẹt tiền vì đâu có ai làm ra tiền nữa, nên đâu còn vung vít như ngày xưa thân ái. Nhưng &#8221; ăn quen mà nhịn chẳng quen &#8220;. Qua những buổi bàn bạc với nhau, chúng tôi mới biết là vì ít uống rượu mà bạn bè lại mới biếu Tết nhiều chai rượu nên anh ĐST đang có nhiều chai Martel nằm yên trong tủ. Làm sao mà nói mấy chị cho mấy anh chút chút đi nhậu cho cam ? Bèn thở dài thở vắn, nhớ tới &#8221; thời oanh liệt nay còn đâu &#8220;. Tôi mới bàn với anh em như sau : Mình lấy hai chai Martel, đi vào Chợ Lớn, chỗ tôi có quen biết để &#8221; mại &#8221; một chai, lấy tiền để nhậu chai thứ hai với nhau. Vậy là xong: vẫn ngon lành như xưa, cũng đủ món đồ nhậu trong Chợ Cũ, mà cũng còn dư để đi ăn thêm Phở hôm sau. Vui quá phải không anh T, anh L ?</p>
<p>Qua đây có dịp và có nhiều phương tiện, tôi tiếp tục sự nghiệp uống Cognac. Nếu nói Cognac mà không đưa ra một vài chi tiết thì thấy không được, nên phải viết ra một ít để quý bạn dễ theo dõi con đường &#8221; say sưa &#8220;.</p>
<p>&nbsp;</p>
<h5><img loading="lazy" decoding="async" src="http://chimviet.free.fr/truyenky/aivan/aival050/vigne2.jpg" width="360" height="129" align="RIGHT" hspace="20" /></h5>
<p>Trước hết xin nói rõ Cognac là một loại rượu cất từ nho, gọi chung tên là Brandy. Tuy vậy, chỉ Brandy làm từ vùng Cognac ở Pháp mới được gọi là Cognac. Còn nếu Brandy làm từ chỗ khác thì không được dùng tên gọi Cognac, ví dụ làm từ Armagnac hay ở California chẳng hạn.</p>
<p>Thị trấn Cognac ở Pháp nằm ở phía Tây Nam thành phố Paris khoảng 200 miles trên bờ sông Charentes, và bao gồm sáu districts: Grande Champagne, Petite Champagne, Fin Bois, Bois Ordinaire và Borderies. Xin phân biệt Champagne ở đây là một district của thị trấn Cognac, chớ không phải là Champagne ở Đông Bắc Paris gồm có Reims, Epernay v.v&#8230; sản xuất rượu bọt ( vin mousseux ) nổi tiếng Champagne.</p>
<p>Nho dùng trong Cognac là loại Ugni blanc, Colombard với Folle blanche. Còn nho dùng trong các rượu vang khác thường là Cabernet Sauvignon, Merlot Chardonay, Pinot Noir, Syrah, hoặc là Riesling.</p>
<p>&nbsp;</p>
<h5><img loading="lazy" decoding="async" src="http://chimviet.free.fr/truyenky/aivan/aival050/tonneaux3.jpg" width="312" height="209" align="LEFT" hspace="20" /></h5>
<p>Chỉ khi nào dùng 100 % nho trồng ở district Grande Champagne thì Cognac mới đề ngoài nhãn là &#8221; Grande Champagne &#8220;, còn Fine Champagne thường thấy đề ở một số rượu như Remy Martin chẳng hạn thì chỉ có khoảng 50% nho của Grande Champagne, phần còn lại là nho ở Petite Champagne. Vậy chớ hai district này có gì đặc biệt mà cứ mãi nói về chúng hoài : Tất cả là do cái bouquet của nho trồng ở hai nơi đó. Mà trong chúng ta ai cũng đều biết là ăn hay uống, có bạn lại thêm là cả con người cũng vậy ) ta thường đánh giá trên ba điểm chính : Sắc, Vị, Hương. Hương là khó nhất. Các hãng nước hoa là một thí dụ điển hình : chỉ cần một mùi hương là đã kéo lại cho chúng ta một &#8221; bầu trời thương nhớ cũ &#8220;. Thôi, không bàn lang bang sợ lại không viết được nhiều cho chủ đề chính là Cognac.</p>
<p>Cognac phải được cất hai lần trong các lò cất bằng đồng đốt trực tiếp bằng lửa ngọn. Sản phẩm do lần cất thứ nhất cho khoảng 30% alchohol. Sau lần thứ nhì, ta được KHOẢNG 70% alchohol. Mỗi lần cất như vậy lâu vào khoảng 12 giờ. Phần đầu và phần cuối của các sản phẩm này đều không được dùng, chỉ phần giữa là được giữ lại để ủ trong các thùng chứa bằng gỗ sồi (oak) lấy trong rừng thiên nhiên Limosin hay vùng rừng nhân tạo Troncais. Xin lưu ý ở đây là Cognac ngon hay không ngon cũng là nhờ giai đoạn ủ trong các thùng này, không được dùng đinh hay keo để làm thành thùng tonneau, gồm các mảnh gỗ sồi phải được chẻ bằng tay chớ không dùng cưa để xẻ và được bó chặt với nhau bằng các đai kim loại. Cognac đựng trong các thùng này, tuy rất kín, vẫn bị mất khoảng 3% do bay hơi mà dân Pháp gọi là phần rượu của Thiên Thần ( part des Anges). Chính trong khi ủ trong thùng bằng gỗ sồi này mà Cognac hấp thụ cả màu sắc lẫn hương thơm.</p>
<p>Các hãng sản xuất rượu Cognac thường được bày bán trên thị trường ta có thể kể : Martel, Hennessy, Remy Martin, Courvoisier, Delamain, Hine, Camus, Otard, Pierre Ferrand v.v&#8230;</p>
<p>&nbsp;</p>
<h5><img loading="lazy" decoding="async" src="http://chimviet.free.fr/truyenky/aivan/aival050/courvoisier.jpg" width="100" height="150" align="LEFT" hspace="20" /></h5>
<p>Về phân loại hạng cấp đi từ dưới lên trên: bắt đầu là V.S. (Very Superior), muốn được ghi là VS, Cognac phải được ủ trong các thùng sồi ít nhất là 2 năm rưỡi tính theo luật lệ rượu của Pháp, tuy vậy Cognac VS thường được ủ khoảng 4 hay 5 năm; kế là V.S.O.P. ( Very Superior Old Pale, mà ở Việt Nam, các bậc đàn anh kháo với tôi là Verser Sans Oublier Personne), tính theo luật thì chỉ cần 4 hay 5 năm nằm thùng, nhưng thường thì họ cho ngâm lâu hơn, có khi 5 năm hay cho đến cả chục năm. Tiếp đến là Napoleon ( xin nhớ đây là hạng cấp Napoleon chớ không phải rượu tên là Napoleon thường bày bán để dân không rành uống rượu mua nhầm. Ta có Courvoisier Napoleon, Remy Martin Napoleon, còn Martel thì không đề Napoleon mà dùng chữ Cordon Bleu). Thứ đến là X.O. (Extra Old), và trên hết là Extra. Các loại trên này thì theo luật phải nằm thùng từ sáu năm trở lên, nhưng các hãng Cognac thường cho nằm trên chục năm cho đến cả trăm năm tùy theo hãng sản xuất và sản phẩm đặc biệt nói ở dưới đây. Nói về Cognac Extra thì rất là nhiều loại đặc biệt.</p>
<p>&nbsp;</p>
<h5><img loading="lazy" decoding="async" src="http://chimviet.free.fr/truyenky/aivan/aival050/martell_cordonblue_oldc.jpg" width="204" height="268" align="RIGHT" hspace="20" /></h5>
<p>Ví dụ nói riêng về Công ty Courvoisier chẳng hạn: nhiều loại Extra như Chateau Limoges ở trong bình bằng Porcelain, VOC ở trong bình bằng pha lê (crystal) của hãng Baccarat, rồi có một series đặc biệt gọi là Series Erté &#8211; Erté là tên hiệu của một họa sĩ người Nga, ông này vẽ cho các hộp đêm sang trọng của Paris như Folies Bergères &#8211; Series Erté đặc biệt ở chỗ là chỉ sản xuất bảy ( 7 ) chai, mỗi năm một chai đánh số 1 tới số 7. Mỗi chai có một tên riêng: Vignes, Vendange, Distillation, Vieillissement, Degustation, Part des Anges, l&#8217;Esprit du Cognac, và chỉ sản xuất 12.000 chai, có đánh số từng chai. Chai số 1 vào năm 1989 và chai số 7 vào năm 1995. Sau đó vì còn một ít rượu nên Courvoisier sản xuất thêm một chai cuối gọi là Inedit, chỉ sản xuất được 4.000, thay vì 12.000 như những chai trước. Rượu đựng ở trong các chai này được lấy từ những thùng rượu rất là lâu đời, có rượu ủ trong thùng từ năm 1897 ( là năm sinh của Erté nên mới có tên cho series này). Tại Little Sài Gòn, có chợ Việt Nam Đồng Hương bày bán một bộ từ chai số 1 đến chai số 7 ( không có chai thêm sau cùng Inedit), chỉ biết nguyên bộ đó bị đánh cắp. Quý bạn ở Nam Cali cũng có thể xem các chai này đang bày bán ở chợ Hawaii trên vùng Alhambra/Monterey Park hoặc chợ Asahi tại Little Saigon.</p>
<p>Còn về các Công ty như Remy Martin, Việt Nam hay biết tới là chai Louis XIII đựng trong bình pha lê do Baccarat làm, hoặc Hennessy Paradis. Đại để là nói tới Extra thì rất là nhiều, bàn không hết được, chỉ biết &#8221; để mà biết chứ không phải để mà uống &#8220;. Xin quý bạn đừng chê kẻ hèn này, tội nghiệp. Vì &#8221; có mà không xài cũng coi là không có &#8220;. ( Câu tôi đã viết về thi P.E. cách đây hơn hai mươi năm: Có mà không xài còn hơn là không có. Vậy mới biết câu &#8221; trước sau như một &#8221; là như vậy ). Đây là nói về rượu, chứ nếu đổi chữ rượu ra chữ tiền thì cũng giống y chang: Bạn có rất nhiều tiền để ở trong nhà băng mà không xài thì cũng như là không có. Bạn chỉ hơn người khác có vài số zero ở trong compte thôi. Khổ một cái là nếu tiêu thì hết. Bởi vậy cho nên không tiêu, và giống như Catch 22, vì sợ tiêu hết nên không dám tiêu cho nên coi như có cũng như không. Đúng là &#8220;Sắc bất dị không, Không bất dị sắc; Sắc tức là không, Không tức là sắc&#8221;. ( Đây là tôi nhập tâm tầm bậy nên vụt miệng đọc đại câu kinh hay đọc trong Bát Nhã Tâm Kinh. Xin đừng chấp. Vì Chấp Có còn đỡ hơn là Chấp Không. Huống hồ là chấp thằng Văn khi nó nói Tầm Phải ).</p>
<p>Đến đây tôi lại nhớ lời của một nhân viên an toàn của công ty Aramco ở Saudi Arabia đã dặn rõ cho tất cả nhân viên mới tới vùng này làm việc là hãy coi chừng những lỗi lầm ngu xuẩn như sau : Tất cả những người lạc trong sa mạc thì khát mà chết, nhưng khôi hài là bên cạnh những xác chết đó vẫn còn gần đầy bình nước dự trữ mang theo. Họ mang nước theo, nhưng không dám uống, sợ hết nước thì chết và họ đã chết trước khi hết nước. Bà con ơi, có ai trong chúng ta có tiền mà không dám tiêu, vì sợ lỡ tiêu hết thì không còn nữa, nguy quá, cho nên cho đến chết cũng còn quá nhiều tiền, trong khi lúc sống không dám hưởng. &#8220;Tiền chỉ có giá trị khi được tiêu đi &#8220;. Tiền không tiêu chỉ là con số, nằm ỏng a ỏng oảnh trong ngân hàng, không khác gì tờ giấy lộn. Vậy anh em ơi, &#8221; Hãy tiêu đi, hãy tiêu đi &#8220;. Các bạn không tin thì hãy thử : Không tiêu làm sao biết cái sướng của sự tiêu. Enjoy đi, không sao đâu !</p>
<p>Tuy nhiên nếu có ai hỏi, xin cứ mạnh dạn đổ thừa là nghe theo lời Ái Văn đó. Chỉ xin anh em đừng cho vợ tôi biết tôi cổ động chuyện tiêu pha này nhé. Được vậy là tôi cảm ơn bạn ngút ngàn rồi.</p>
<p>Xin trở lại với rượu và trà.</p>
<p>Chắc quý vị cũng muốn nghe bàn về cách uống rượu như thế nào để xem thử thằng Văn này nói ra răng ?</p>
<p>Như đã thưa trước, xin viết ra đây một vài cách uống Cognac.</p>
<p>&nbsp;</p>
<h5><img loading="lazy" decoding="async" src="http://chimviet.free.fr/truyenky/aivan/aival050/longdrink.jpg" width="111" height="148" align="LEFT" border="0" hspace="20" /></h5>
<p>Theo kiểu Việt Nam hay Tàu thì thường uống Cognac pha với nước Soda hay nước suối có sủi bọt như Perrier hòa chung với nước đá cục, và uống như rượu vang trắng. Đấy là cách tôi học được lúc mới &#8220;mở mắt&#8221; bài học Cognac. Có lẽ tại Việt Nam nóng nên thường uống pha với nước đá, cũng giống như mình uống cà phê sữa đá vậy. (Ê, chú mày nói vậy chớ bộ tụi Tây, tụi Mỹ uống trà đá Lipton thì sao ? Áy Ya, uống kiểu đó là uống theo kiểu tụi Tây, tụi Mỹ, còn đây là bàn cho TA là Việt Nam thì nên uống theo kiểu, kiểu &#8230; kiểu &#8230; cà lăm, vì chẳng là kiểu gì hết. Thôi thì chịu khó đọc tiếp cái đã). Xin nói thêm là nhiều nơi, ngay cả ở Pháp họ cũng uống &#8221; à l&#8217;eau &#8220;, pha với nước lạnh và bên Ăng Lê họ uống Cognac chung với Coca-Cola. Uống thế nào mình thấy hợp khẩu vị là được rồi. Nhưng để xem dân Pháp chính gốc họ uống ra răng đã. Sau đây là phần tôi đọc trong mấy cuốn sách nói về Cognac và trên Website, xin tóm lại đây hầu quý vị.</p>
<p>Thú uống Cognac nguyên chất (không pha thêm nước chi hết, cũng không có nước đá) &#8211; uống Cognac rót lên nước đá cục gọi là &#8220;on the rock&#8221; cũng được, nếu dùng loại VS, VSOP hay Napoléon thôi, chứ XO hay Extra mà pha như vậy e uổng phí mất cả phần hương, bớt mất vị, mà ngay cả phần sắc nữa, nhưng như đã viết ở trên &#8220;uống thế nào mà ta thấy ngon&#8221; là được rối &#8211; là rót rượu vào ly, xin chớ rót quá 1/3 ly nhé (nên dùng ly vừa tầm tay của mình, để humaniser rượu bằng lòng bàn tay cho ấm), nhìn màu rượu óng ánh trong ly (nếu có ly crystal thì đẹp mắt hơn: quý vị đang NHÌN em để thấy sắc diện em), bạn cầm ly xoay quanh để nước sóng sánh khắp ly cốt là để cho hương của Cognac bốc lên, bạn dùng khứu giác nhưng đừng để mũi bạn quá sát vào ly sợ e mùi hương quá nồng làm mất đi cái mùi hương (bạn đang thưởng thức MÙI của em, thích nhé) &#8211; viết đến đây bỗng nhớ đến truyện của Kim Dung nói về mùi hương của đàn bà, của con gái trong truyện Lục Mạch Thần Kiếm khi Đoàn Dự tả về Mộc Uyển Thanh với lại Vương ngọc Yến cùng với hương trà của Vương phu nhân, chắc quý bạn lại nghĩ là sau khi cho khứu giác thưởng thức rồi, thì chắc là sẽ &#8220;uống&#8221; chăng? CHƯA, đúng ra là KHOAN đã (đó, quý bạn vẫn có thói quen mà bị la mãi vẫn không nhớ: cứ từ từ, đi đâu mà vội mà vàng, cứ quýnh quýnh, quáng quáng, lụp cha lụp chụp). Trong sách Pháp về Cognac nói rằng: sau khi đã thưởng thức mùi của em (Cognac) xong thì để ly rượu xuống để NÓI về Cognac, BÀN về Cognac.</p>
<p>Đấy mới là điểm chính: cốt tủy của uống rượu không phải là &#8220;uống&#8221; mà là &#8220;nói&#8221;, nói về chuyện tùm lum, tà la, ba hoa thiên địa vì TA gặp được nhau là chính, chẳng lẽ không ăn, không uống, nên phải có cho chứ, chứ chính là &#8220;gặp nhau&#8221;. Chắc quý bạn cũng đồng ý với Lâm Ngữ Đường viết trong cuốn The Importance of Living xuất bản năm 1937 (Ái hữu lão thành Nguyễn Hiến Lê đã dịch ra từ bản dịch tiếng Pháp là Một Nếp Sống Đẹp thì phải) là người xưa đã trèo non, lặn suối, để đi đến nhà bạn, thăm nhau và uống với nhau một tách trà, hay một ly rượu để đàm đạo, rồi lại lội suối hay đội mưa trở về. Đây là một cái thú của cuộc đời.</p>
<p>Sau khi nói đã rồi mới uống. Xin bàn một tí về cách uống ở đây. Bạn chỉ nên uống một cụm nhỏ vừa đủ để đầy một phần miệng, ngậm trong miệng một chút, lấy lưỡi quay quanh để rượu có thể đến đầy ắp tất cả các vành trong và nướu răng, rồi uống ực một cái thiệt mạnh: hương rượu sẽ hừng hực bốc lên trên mũi để cho khứu giác một lần nữa được hưởng EM. Phần sau còn sót lại trong vị giác gọi là dư vị (after taste), tùy theo rượu ngon hay không là ở điểm hương và dư vị này, vì loại nào đi nữa thì nồng độ rượu vẫn chỉ là 40% cả. Rượu ngon thì cho ta cảm giác là nó nhẹ, dịu ngọt (cũng như đàn bà vậy: bà nào bà nấy cũng dịu dàng, cũng dễ thương, cũng ngọt ngào cho đến&#8230;, cho đến&#8230;, cho đến lúc mấy bà DỮ: Eo ôi, mèo nằm êm trên tay ta nũng nịu với ta hôm qua, nay biến thành hình Sư Tử đang gào thét và đang nhe răng sắp ăn sống nuốt chửng ta đây. Ôi trước sau gì cũng chết, thôi đành chết trong miệng mấy bà Sư Tử cho nó oai chứ không lẽ chết trong miệng mấy mèo con !!).</p>
<p>&nbsp;</p>
<table border="0" width="80%" cellspacing="0" cellpadding="0">
<tbody>
<tr>
<td>
<h5><img loading="lazy" decoding="async" src="http://chimviet.free.fr/truyenky/aivan/aival050/aival03_affiche.jpg" width="184" height="301" /></h5>
</td>
<td>
<h5><img loading="lazy" decoding="async" src="http://chimviet.free.fr/truyenky/aivan/aival050/aival02_affiche.jpg" width="180" height="259" border="0" /></h5>
</td>
<td>
<h5><img loading="lazy" decoding="async" src="http://chimviet.free.fr/truyenky/aivan/aival050/aival04_affiche.jpg" width="196" height="300" /></h5>
</td>
</tr>
</tbody>
</table>
<p>Nói về loại rượu nào nên uống nếu quý vị chưa có thói quen uống: Xin đề nghị quý bạn bắt đầu từ loại rẻ nhất (VS), hãy uống pha với Perrier chứ đừng dùng Club Soda hơi đắng, hay pha với nước cũng được, rồi leo lần lên bằng cách uống các loại mắc hơn một chút : (VSOP), cũng pha với Perrier, sau đó hãy thử uống không pha chi hết với nước đá on the rock mà thôi. Rồi thử uống nguyên chất với loại Napoleon hay XO. Sau đó quý bạn biết sẽ uống như thế nào là hợp vơi khẩu vị của mình. Xin nhắc là MÌNH uống cho MÌNH chứ không phải mình uống cho ai cả nên loại nào cũng NGON cả. Quên nói là mua rượu ở đâu rẻ: Nếu là vùng Nam Cali thì cứ vào mấy siêu thị Việt Nam hay Tàu thì mua các hiệu như Martel, Hennessy, Courvoisier, Remy Martin rất rẻ so với Liquor Store khác, nhất là vào các dịp Tết Tây, Tết Ta. Nhưng các bạn muốn mua các loại đặc biệt NGON mà RẺ, nhưng phe TA ít biết tới vì cũng lại là thói quen chỉ hay uống bốn hãng trên mà thôi, như Delamain XO chẳng hạn, thì xin giới thiệu quý bạn mấy chỗ như Hi-Times Cellars ở Costa Mesa, hay Wine Exchange ở Anaheim.</p>
<p>Quên nói là uống Cognac lúc nào thì thích hợp nhất: Nếu uống với Perrier thì uống thay cho rượu vang trắng từ đầu tới mãn táng cuộc vui cũng quá đủ. Nhưng nếu uống nguyên chất thì sau bữa ăn, sau khi uống Port ( fortified wine, rất độc đáo vì nó vừa ngọt lại vừa ngon), sau khi uống TRÀ hay CÀ PHÊ xong, sau khi đã uống liqueurs như Cointreau hay Grand Marnier, ta mới uống Cognac ngon để đi ra về ( quên, uống là phải nói phét rồi mới về ). Còn lại chủ nhà phải lo dọn dẹp thì tôi đề nghị: Xin khoan rửa các ly dùng để uống Cognac, hãy để các ly đó đến ngày hôm sau, lúc đó mùi hương Cognac vẫn còn đó. Mùi HƯƠNG vẫn còn, và đó là một mùi rất dịu và làm ta lại nhớ đến em (Cognac). &#8221; Để tưởng nhớ mùi hương &#8211; Truyện dài của Mai Thảo &#8220;.</p>
<p>Bài này đã quá dài sợ viết thêm nữa e có bạn sẽ chán đọc nên xin hẹn sẽ viết bài về Trà cho nhẹ nhàng hơn để hầu quý bạn.</p>
<p>Tái bút:</p>
<p><em>Này, Chú mày đang uống gì đó ? Dạ em đang uống Perrier sec ( nghĩa là nước suối nguyên chất. Còn tiền của chú mày thì sao ? Dạ em nào có account ngân hàng đâu, chỉ có nhà em có account mà thôi. And that is &#8221; HER &#8221; business.</em><br />
<em>( Đừng nghe những gì &#8230; hãy nhìn kỹ &#8230; ) vẫn còn đúng ở Thiên Niên Kỷ này !</em></p>
<p>&nbsp;</p>
<p>&nbsp;</p>
]]></content:encoded>
					
					<wfw:commentRss>https://t-van.net/mot-tra-mot-ruou-mot-mot/feed/</wfw:commentRss>
			<slash:comments>0</slash:comments>
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Ngộ Kh&#244;ng : Về bài thơ Hồ Trường</title>
		<link>https://t-van.net/ng%e1%bb%99-khng-v-bi-th%c6%a1-h%e1%bb%93-tr%c6%b0%e1%bb%9dng/</link>
					<comments>https://t-van.net/ng%e1%bb%99-khng-v-bi-th%c6%a1-h%e1%bb%93-tr%c6%b0%e1%bb%9dng/#respond</comments>
		
		<dc:creator><![CDATA[Ngộ Không Phí Ngọc Hùng]]></dc:creator>
		<pubDate>Sat, 25 Feb 2012 22:31:24 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Góc Văn]]></category>
		<category><![CDATA[ngộ không]]></category>
		<category><![CDATA[rượu]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://7076e870b2.nxcli.io/?p=5265</guid>

					<description><![CDATA[( Đây là bài cuối cùng  trong lọat bài về Rượu của Ngộ Không Phí Ngọc Hùng.Bài 1 là “ Tửu Sư “, bài 2 : “ Cái nồi ngồi trên cái cốc “, bài 3: “ Nón lá áo tơi ra quán chợ “, và bài 4 : “ về Bài thơ Hồ Trường [&#8230;]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<p><a href="https://t-van.net/wp-content/uploads/2012/02/clip_image00220.jpg"><img loading="lazy" decoding="async" style="background-image: none; margin: 0px 20px 15px 0px; padding-left: 0px; padding-right: 0px; display: inline; float: left; padding-top: 0px; border: 0px;" title="clip_image002" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2012/02/clip_image002_thumb20.jpg?strip=all&fit=158%2C211" alt="clip_image002" width="158" height="211" align="left" border="0" /></a></p>
<p>( Đây là bài cuối cùng  trong lọat bài về Rượu của Ngộ Không Phí Ngọc Hùng.<strong>Bài 1 là “ <a href="https://t-van.net/?p=4719">Tửu Sư</a> “, bài 2 : “ <a href="https://t-van.net/?p=4958">Cái nồi ngồi trên cái cốc</a> “, bài 3: “ <a href="https://t-van.net/?p=5133">Nón lá áo tơi ra quán chợ</a> “, và bài 4 : “ về Bài thơ Hồ Trường “.)</strong><strong></strong></p>
<p><em>Những bài viết dưới đây được người sưu tầm cô đọng lại vì vô hình chung có nhiều tiết mục </em></p>
<p><em>trùng hợp của nhiều tác giả viết cùng về một bài thơ Hồ Trường. Như tiểu sử Nguyễn Bá Trác, </em></p>
<p><em>nguồn gốc từ báo Nam Phong, hay bản dịch bài thơ qua chữ Hán ra chữ Quốc ngữ, hoặc chữ “thương” thành tên “Hồ trường”, v..v.. Xin chân thành cáo lỗi cùng tác giả &#8211; Phí Ngọc Hùng.</em></p>
<p>&nbsp;</p>
<h3>Bài thơ Hồ trường và Nam phương ca khúc</h3>
<p><strong>Phạm Thắng Vũ</strong></p>
<p>Cho đến nay, có ít nhất 5 bản in lời ca <em>Hồ Trường</em> (1) mà các bản có nhiều chỗ không giống nhau. Để góp một phần tài liệu cho sự tham khảo, đối chiếu được rộng rãi chúng tôi trích lục các văn bản bằng chữ Hán, chữ Việt đã in trên <em>Nam Phong tạp chí</em> – nơi xuất xứ của lời ca này – cách nay đã 86 năm đối với <em>Nam phương ca khúc</em> và 84 năm đối với <em>Hồ Trường</em>.</p>
<p>Trong bài viết này chúng tôi quy ước như sau: Gọi <em>Hồ Trường</em> đối với lời ca tiếng Việt đã lưu hành từ trước tới nay. <em>Nam phương ca khúc</em> là tên tạm đặt cho lời ca mà Nguyễn Bá Trác đã nghe được, chép lại và dịch thành lời ca Hồ Trường.</p>
<p><a href="http://www.danchimviet.info/2010/03/12/bai-th%c6%a1-h%e1%bb%93-tr%c6%b0%e1%bb%9dng-va-nam-ph%c6%b0%c6%a1ng-ca-khuc/ho-truong-chu-han/"><img loading="lazy" decoding="async" style="background-image: none; padding-left: 0px; padding-right: 0px; display: inline; padding-top: 0px; border: 0px;" title="clip_image004" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2012/02/clip_image0047.jpg?strip=all&fit=99%2C489" alt="clip_image004" width="99" height="489" border="0" /></a></p>
<p>&nbsp;</p>
<p><em><strong>Hồ Trường theo chữ Hán. </strong></em></p>
<p><em>(Nguồn: vietbao.vn)</em></p>
<p>&nbsp;</p>
<p>***</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>I<strong>. Nguồn gốc <em>Lời ca</em> <em>Hồ Trường</em></strong></p>
<p><em>Nam phương ca khúc</em> (NPCk) được đăng lần đầu tiên theo thiên ký sự <em>Hạn mạn du ký </em>(HMDK) của Nguyễn Bá Trác trên <em>Nam Phong tạp chí</em> phần chữ Hán số 30, trang 214 năm 1919.</p>
<p><a href="https://t-van.net/wp-content/uploads/2012/02/clip_image0065.jpg"><img loading="lazy" decoding="async" style="background-image: none; padding-left: 0px; padding-right: 0px; display: inline; padding-top: 0px; border: 0px;" title="clip_image006" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2012/02/clip_image006_thumb5.jpg?strip=all&fit=274%2C395" alt="clip_image006" width="274" height="395" border="0" /></a></p>
<p><em>Trang trong tờ Nam Phong Tạp chí </em></p>
<p>HMDK trước tiên được viết bằng chữ Hán, đăng tải từ số 22 đến số 35 năm 1919, 1920; sau đó thiên ký sự này được chính tác giả dịch sang chữ Việt và đăng tải ở phần chữ Việt của Nam Phong từ số 38 đến số 43 năm 1920, 1921.</p>
<p><em>Hạn mạn du ký</em> là thiên ký sự gồm 14 chương kể lại cuộc đông du của tác giả trong khoảng 6 năm (1909 – 1914) từ Sài Gòn sang Xiêm La – Hương Cảng – Nhật – Trung Hoa – rồi về VN.</p>
<p><em>Nam phương ca khúc</em> nằm ở chương 10: “Tại Thượng Hải gặp người đồng hương”. Vào khoảng năm 1912, khi lưu lạc ở Thượng Hải, tác giả gặp <em>một người đồng hương</em> cùng chí hướng, người này có giọng hát hay (giọng Quảng Đông). Một đêm nọ, hai người đi uống rượu, “rượu ngà ngà, Nguyên quân đứng dậy mà hát” (lời <em>Nam phương ca khúc</em>), ở bàn bên cạnh, một võ quan họ Lưu, người Trực Lệ, nghe điệu hát, sang hỏi là điệu gì, được trả lời: “Ấy là một điệu đặc biệt ở phương nam” (2), họ Lưu nói “nghe tiếng bi mà tráng, nhiều hơi khảng khái, nam phương mà có điệu hát đến thế ru?”. Sau đó họ Lưu xin người hát chép ra giấy lời ca ấy để giữ xem.</p>
<p>Về mặt văn bản mà xét, thì bài ca ấy không rõ tựa đề, không biết tác giả, Nguyễn Bá Trác chép lại toàn vẹn <em>Nam phương ca khúc</em>. Và khi <em>Hạn mạn du ký</em> được chuyển sang chữ Việt thì lời ca này đã được dịch rất thoát, tuy nhiên nó vẫn là “lời ca” minh hoạ cho văn cảnh ấy chứ không phải “bài thơ hồ trường” như nhiều người từng gọi.</p>
<p>Cũng vì vậy, trong bài viết này, người viết xin gọi theo cách cũ là “<em>Lời ca hồ trường</em>” (3).</p>
<p><em>Hồ trường</em> so với <em>Nam phương ca khúc</em> có nhiều điểm khác biệt. Người dịch đã linh động nương theo âm điệu tiếng Việt và có chỗ thêm tứ có chỗ bớt lời, khéo giữ được cái thần thái hào sảng của nguyên tác.</p>
<p>Hồi ấy <em>Hồ Trường</em> được dịch thẳng từ lời ca chữ Hán sang lời ca chữ Việt mà không có bản dịch nghĩa, nay thấy cần có nguồn tài liệu để dựa vào mà đính chính một số điểm khác biệt của <em>Hồ Trường</em>, nên tôi chụp lại nguyên tác hán văn <em>Nam phương ca khúc</em> từ <em>Nam Phong tạp chí</em>, đồng thời phiên âm dịch nghĩa để bạn đọc tham khảo.</p>
<p>***</p>
<p>II. <em><strong>Nam phương ca khúc</strong></em></p>
<p><strong>Phiên âm:</strong></p>
<p>&nbsp;</p>
<p><em>Trượng phu sanh bất năng phi can chiết hạm vị thế phù cương thường</em><em><br />
<em>Tiêu dao tứ hải, hồ vị hồ thử hương</em><br />
<em>Hồi đầu nam vọng mạc vô cực hề, thiên vân nhất sắc đồ thương thương</em><br />
<em>Lập công bất thành, học bất tựu, thiếu tráng hữu cơ thời hề, toạ thị bách niên thân thế khu âm dương</em><br />
<em>Phủ chưởng cuồng ca vấn tư thế, mang mang thiên địa, an đắc tri nhất tri kỷ (4) hề, , thí lai đối chước hữu dư thương.</em><br />
<em>Dư thương trịch hướng đông minh thủy, đông minh chi thủy vạn đội khởi cuồng lan</em><br />
<em>Dư thương trịch hướng tây sơn vũ, tây sơn chi vũ nhất trận hà uông dương</em><br />
<em>Dư thương trịch hướng bắc phong khứ, bắc phong dương sa tẩu thạch phi thù phương</em><br />
<em>Dư thương trịch hướng nam thiên vụ, vụ trung hữu nhân khai khẩu nhất ẩm cừ nhiên túy</em><br />
<em>Thiên địa vũ trụ hồn tương vong, dư bất túy hĩ, dư hành dư chí</em><br />
<em>Nam nhi tự cổ sự tang bồng, hà tất cùng sầu khấp phần tử</em></em></p>
<p><strong><em>Dịch nghĩa:</em></strong></p>
<p>&nbsp;</p>
<p><em>Kẻ trượng phu sống mà không vạch gan, bẻ cột lo giềng mối cho đời</em><em><br />
<em>Rong chơi bốn biển, quê hương ở nơi đâu?</em><br />
<em>Quay đầu trông về nam, miệt mù vậy hỉ! Trời mây nối màu xanh ngắt</em><br />
<em>Lập công chẳng được, học không xong, trai trẻ có bao lâu, ngồi ngó trăm năm, thân đuổi cuộc sớm chiều.</em><br />
<em>Vỗ tay hát khùng, hỏi đời kia, đất trời mờ mịt vậy, một người tri kỷ tìm ở đâu, thử đến giúp ta rót chén rượu này</em><br />
<em>Ta quăng chén rượu đầy trộn nước biển đông, nước biển đông nổi cuộn vạn lớp sóng</em><br />
<em>Ta quăng chén rượu đầy vào mưa núi tây, mưa núi tây một trận sao lênh láng</em><br />
<em>Ta quăng chén rượu đầy đuổi theo gió bắc, gió bắc tung cát lăn đá bay nơi khác</em><br />
<em>Ta quăng chén rượu đầy vào mây mù trời nam, trong mây mù có người há miệng điềm nhiên say tràn</em><br />
<em>Trời đất dọc ngang đều mất hết, sao ta không say, chí ta thời ta làm</em><br />
<em>Từ xưa nam nhi đuổi theo tang bồng, cớ gì sùi sụt sầu cố hương.</em></em></p>
<p>Qua bản phiên âm và dịch nghĩa NPCK, chúng tôi thấy cần dừng lại lưu ý một đôi chỗ. Số là trong HMDK đăng tải trên Nam Phong – ở cả phần chữ Hán và chữ Việt – không có phần chú thích các từ khó hiểu thuộc về điển tích đã dùng trong NPCK và Hồ Trường, nay xin nói thêm về các điển ấy.</p>
<p>Ở câu đầu tiên có cụm từ “xé gan bẻ cột”. Trong NPCK ta thấy viết là Bẻ cột – chiết hạm. (Có nhiều người lầm viết là bẻ cật). Theo các từ điển thông dụng Trung Quốc thì điển tích “bẻ cột” xuất phát từ sách Hán Thư – truyện Chu vân: Thời Hán thành Đế, Hòe Lý Lệnh (một chức quan trong hàng Tam Công) là Chu Vấn tâu với vua xin giết An Xương Hầu Trương Vũ, vua nổi giận sai chém Chu vân. Khi bị bắt lôi đi, Chu Vân uất ức bám tay vào vặn cột điện, cột cung điện bị gãy, nhơn lúc lộn xộn ấy, Tân Khánh Kỵ giải cứu Chu Vân. Sau đó Thành đế biết Chu Vân xin giết Trương Vũ là vì lòng trung, bèn tha tội.</p>
<p>Khi sửa cung điện, Thành đế lệnh phải giữ nguyên dạng phần cột bị gãy, lấy hình ảnh đó mà biểu dương lời nói ngay thẳng của Chu Vân. Đời sau thường dùng từ “chiết hạm – bẻ cột” để chỉ hành vi dũng cảm trong việc dùng lời lẽ để can gián vua. Thôi Đồ trong bài thơ <em>Ký cữu</em> (gởi cậu) có câu “trí quân kỳ chiết hạm” (hết lòng vì vua mà bẻ gãy cột).</p>
<p>Chữ “<em>Thương</em>” ở cuối câu thứ năm (được lặp lại nhiều lần trong lời ca) có thể đọc là “trường” hay “tràng” mà Nguyễn Bá Trác đổi thành “Hồ trường”, từ một chữ “thương” biến thành hai chữ “hồ trường” rồi thành hẳn tên bài ca, kể cũng kỳ thú!</p>
<p>Thương có ba nghĩa:</p>
<p>1. Là cái chén uống rượu giống như cái tước, làm bằng sừng, “thương” là chén rót đầy rượu, khi chưa rót rượu vào thì gọi là “chí”.</p>
<p>2. Mời rượu người khác một cách kính trọng gọi là “thương”. Sách Lã Thị Xuân Thu – thiên Đạt Úc có câu “Quản tử thương Hoàn Công” (Quản Từ kính cẩn mời rượu Tề Hoàn Công).</p>
<p>3. Tự uống rượu một mình gọi là “thương”, Phạm Thành Đại trong bài “Túc tư khẩu thỉ văn nhạn” có câu “bá tửu bất năng thương” (nâng ly khó uống một mình).</p>
<p>Khi dịch nghĩa NPCK, chúng tôi dùng nghĩa “thương là chén rượu đầy”. Còn từ “hồ trường” trong lời ca <em>Hồ trường</em> là sự sáng tạo của dịch giả Nguyễn Bá Trác, chúng tôi không dám lạm bàn.</p>
<p>Chữ “phần tử” mà chúng ta thấy ở cuối bài NPCK là một từ chỉ quê hương (mà dịch giả Hồ trường đổi thành “cỏ cây”). Phần và tử là tên hai loại cây. Cây phần là một loại Du trắng nên còn gọi là “Phần du”.</p>
<p>Trong Hán thư – Giao tự chí, quyển thượng có ghi lại rằng: “Trong buổi lễ tế Giao, Hán Cao tổ có khấn mình là người ấp Phong, làng Phần du (làng có trồng cây phần du làm đặc trưng, sau thành tên làng), người đời sau lấy chữ Phần du để chí cố hương. Cây Tử tức là cây Thị, gỗ dùng để đóng đàn, khắc bản in…</p>
<p>Quê cha đất tổ gọi là “tử lý” hay “tang tử”. Kinh thi có câu “duy tang dữ tử, tất cung kính chi” (cây do cha mẹ trồng, ắt phải cung kính vậy); Phạm Thành Đại có câu “thân tu tử lý cung” (cung kính quê nhà mà lo tu sửa thân); truyện Kiều có câu “có khi gốc tử đã vừa người ôm”. “Phần tử” là từ được ghép bởi “Phần du” và “Tử lý” (hoặc “Tang tử”). Nguyễn Du viết: “Đoái thương muôn dặm tử phần; hồn quê theo ngọn mây Tần xa xa” (Kiều).</p>
<p>Các chú thích vừa nêu có thể là dài dòng nhưng qua đó, phần nào bạn đọc có thể thấy những điểm khác biệt giữa NPCK và <em>Hồ Trường</em>, đồng thời có thể xác định bản <em>Hồ trường</em> nào đã theo đúng bản gốc.</p>
<p>***</p>
<p>III. <em><strong>Lời thơ Hồ trường</strong></em></p>
<p>Nguyên bản trích từ Nam Phong tạp chí số 41 năm 1920. Trang 400 – 401 (giữ nguyên các lỗi sai so với chính tả ngày nay)</p>
<p><em>1.</em><em> Trượng phu không hay sé gan bẻ cột phù cương thường;<br />
<em>2.</em> Hà tất tiêu dao bốn bể, luân lạc tha hương<br />
<em>3.</em> Trời nam nghìn dậm thẳm, mây nước một mầu sương<br />
<em>4.</em> Học không thành, danh chẳng lập, trai trẻ bao lâu mà đầu bạc, trăm năm thân thể bóng tà </em></p>
<p><em>dương.<br />
<em>5.</em> Vỗ tay mà hát, nghiêng đầu mà hỏi, trời đất mang mang, ai là tri kỷ lại đây cùng ta cạn một hồ </em></p>
<p><em>trường.<br />
<em>6.</em> Hồ trường! Hồ trường! ta biết rót về đâu?<br />
<em>7.</em> Rót về đông phương, nước bể đông chẩy xiết sinh cuồng lạn;<br />
<em>8.</em> Rót về tây phương, mưa Tây sơn từng trận chứa chan<br />
<em>9.</em> Rót về bắc phương, ngọn bắc phong vì vụt, đá chạy cát dương;<br />
<em>10.</em> Rót về nam phương, trời nam mù mịt, có người quá chén, như điên như cuồng<br />
<em>11.</em> Nào ai tỉnh, nào ai say, chí ta ta biết, lòng ta hay<br />
<em>12.</em> Nam nhi sự ngiệp ở hồ thỉ, hà tất cùng sầu đối cỏ cây.</em></p>
<p>&nbsp;</p>
<p>Qua lời ca <em>Hồ trường</em> này, chúng ta thấy các bản in lại có nhiều chỗ khác biệt. Các điểm sai lệch quan trọng có thể kể:</p>
<p>Ở câu 1: vài bản in là bẻ cật (có lẽ do liện hệ gan – cật nên thành xé gan bẻ cật thay vì bẻ cột).</p>
<p>Ở câu 2: nhầm thành tha phương (nguyên bản là “tha hương”).</p>
<p>Ở câu 4: hầu hết các bản in lại đều là “thân thế” (nguyên bản là “thân thể”), tuy nhiên, ở đây có lẽ bản gốc Nam Phong sai vì trong NPCK chữ Hán dùng chữ “thân thế”.</p>
<p>Ở câu 5: vài bản in “vỗ gươm mà hát” (thay vì “vỗ tay”) và tiếp đó là “nghiêng bầu mà hỏi” (thay vì “nghiêng đầu”). Ở câu 9 hầu hết các bản đều in “ngọn bắc phong vi vút” (thay vì “vì vụt”)…</p>
<p>Như đã nói, bài viết này chỉ dựa vào bản <em>Hạn mạn du ký</em> in lần đầu trên Nam Phong, người viết chưa được đọc bản in thành sách sau đó, cũng có khả năng tác giả HMDK có điều chỉnh đôi chỗ về ý hoặc về lỗi kỹ thuật, đồng thời bản dịch NPCK của chúng tôi nếu có lầm lẫn, xin bạn đọc điều chỉnh giúp cho.</p>
<p>***</p>
<p><strong><em>Chú thích:</em></strong></p>
<p>&nbsp;</p>
<p><em>(1) Các bản được biết gồm: 1. Trong tập Hạn mạn du ký – Đông Kinh ấn quán – Hà Nội 1921 (tác giả in lại).</em> <em>2. Phạm Thế Ngũ – Việt Nam văn học sử giản ước tân biên – Quốc học tùng thư – Sài Gòn – 1965 (bài ca Hồ trường in ở trang 327 – tập 3).</em> <em>3. Lãng Nhân – Chơi chữ – Nam Chi tùng thư – Sài Gòn – 1960 (in lời ca Hồ Trường theo một giai thoại, trang 94).</em> <em>4. Đông Trình – (bài báo) – TS chủ nhật ngày 7-6-1998.5. Vương Trùng Dương – Nguyễn Bá Trác và bài thơ Hồ Trường – võng trạm</em> <a href="http://vietbao.vn/vn/trang-ngoai/http:/www.xuquang.com/vivavietnam.net/"><em>www.xuquang.com</em></a> <em>&#8211; in lại bản của cháu ngoại tác giả công bố.</em><em></em></p>
<p><em>(2) Phương nam ở đây chỉ miền Lãnh Nam – Trung Quốc.</em><em></em></p>
<p><em>(3) Người sau gọi Hồ Trường là trích lấy chữ trong lời ca mà gọi chứ không phải tựa đề do tác giả</em> Hạn Mạn du ký <em>đặt ra.</em><em></em></p>
<p><em>(4) Chữ KỶ này ở nguyên bản hán văn in nhầm là chữ Dĩ.</em><em></em></p>
<p><em>(5) Các chú thích ở phần dịch nghĩa</em> Nam phương ca khúc <em>được tổng hợp từ các sách Từ Hải, Từ Nguyên, Cổ Hán ngữ từ điển, Hình âm nghĩa tổng hợp đại tự điển.</em></p>
<p>&nbsp;</p>
<p><em><strong>*** </strong></em></p>
<p>&nbsp;</p>
<h2><strong>Bài Hồ trường</strong><strong></strong></h2>
<p><strong><br />
</strong></p>
<h2><strong>Nguyễn Lý Tưởng</strong></h2>
<p>&nbsp;</p>
<p><strong>1. Nguyễn Bá Trác là aỉ</strong></p>
<p>&nbsp;</p>
<p><a href="https://t-van.net/wp-content/uploads/2012/02/clip_image002110.jpg"><img loading="lazy" decoding="async" style="background-image: none; padding-left: 0px; padding-right: 0px; display: inline; padding-top: 0px; border: 0px;" title="clip_image002[1]" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2012/02/clip_image0021_thumb.jpg?strip=all&fit=250%2C333" alt="clip_image002[1]" width="250" height="333" border="0" /></a><br />
Theo tài liệu của những người đồng hương với ông ở trong nước cung cấp:</p>
<p>Nguyễn Bá Trác, hiệu là Tiêu Đẩu, sinh năm 1881 (Tân Tỵ), tại làng Bảo An, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam (nay là xã Điện Quang, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam), thi đỗ cử nhân khoa Bính Ngọ (1906) tại trường Thừa Thiên. Sau đó, ông theo phong trào Duy Tân và Đông Du do các cụ Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh khởi xướng, qua Tàu rồi qua Nhật. Ngày 10-07-1907, Pháp ký với Nhật một hiệp ước thương mãi, cho Nhật vay 300 triệu quan Pháp và dành cho Nhật nhiều quyền lợi khác, v.v. để đổi lại, Nhật phải trục xuất các thanh niên VN theo phong trào Đông Du, hiện đang trọ học ở Nhật, phải về nước hoặc đi nơi khác. Cảnh Sát Nhật được lệnh lập danh sách học sinh VN và thông báo cho họ biết nước Nhật không muốn chứa chấp họ nữa.</p>
<p>Tất cả các nhà cách mạng VN như Kỳ Ngoại Hầu Cường Để, cụ Phan Bội Châu,v.v. và các thanh niên VN đang ở Nhật đều bắt buộc phải ra đi, tìm đến một nước khác. Trước tình thế đó, đa số học sinh đều muốn trở về VN, Nguyễn Bá Trác cùng một số bạn bè chạy qua Trung Hoa, số khác chạy qua Thái Lan. Tâm trạng của thanh niên VN đi làm cách mạng trong thời gian nầy gặp bước thất bại, đa số bị bắt, bị tù, bị xử tử hoặc sống thiếu thốn bệnh hoạn, cảm thấy hiện tại quá bấp bênh, vô vọng &#8230;nên đa số muốn trở về VN. Nguyễn Bá Trác cũng ở trong hoàn cảnh đó.</p>
<p>Ở Trung Hoa được ít lâu, vì cùng đường, Nguyễn Bá Trác đã trở về Hà Nội tìm cách ra đầu thú với Pháp. Vốn biết ông là một thanh niên có tài, có học nên, vào khoảng 1916- 1918, Pháp đã cho ông làm việc ở Phòng Báo Chí, Phủ Toàn Quyền Đông Dương và trao cho phụ trách một tờ báo bằng chữ Hán (tờ Cộng Thị báo). Mục đích của tờ báo nầy là kêu gọi thanh niên trí thức VN ra hợp tác với Pháp. Năm 1917, Nguyễn Bá Trác được Pháp đưa qua làm việc với Phạm Quỳnh, phụ trách phần chữ Hán của báo Nam Phong (do Phạm Quỳnh làm chủ bút). Khoảng 1922- 1932, ông vào làm Tham Tri Bộ Học ở Huế, <em>(có sách ghi là Tá Lý Bộ Học tức là Phụ Tá cũng như Tham Tri)</em> Trong thời gian nầy, ông đã biên soạn nhiều tác phẩm bằng Hán văn có giá trị như:<br />
&#8211; Hoàng Việt Giáp Tý niên biểu (2 cuốn, tổng cộng 552 trang) xuất bản năm 1925 tại Huế. <em>(bản dịch do Bộ Giáo Dục VNCH Saigon, 1963)</em> nội dung ghi chép các biến cố quan trọng xảy ra trong lịch sử nước ta từ thời Hùng Vương về sau, có tham khảo nhiều tài liệu lịch sử của Trung Quốc, Nhật bản và VN. Sách biên soạn rất công phụ Sách nầy được biên soạn trong thời gian ông làm việc tại Bộ Học ở Huế (1923- 1925).<br />
&#8211; Cổ học viện thư tịch thủ sách ( 11 cuốn) sách nầy do nhiều người cộng tác biên soạn, nội dung ghi chép và phân loại các sách vở, tài liệu trong thư viện của nhà vua tại Huế, nhiều tài liệu cổ rất giá tri.. Sách biên soạn xong năm 1924 .<br />
&#8211; Các bài biên khảo bằng Hán văn đăng trên tạp chí Nam Phong như : Hán học Văn học khảo (thơ, văn từ 1917- 1932), Hàn mạn du ký (1920) , Bàn về Hán học (1920), Bàn về học thuật nước Tàu (1918), Mấy lời chung cáo với các bạn nhà Nho (1921), Hương Giang mộng (1920), Ngã An Nam dân tộc Nam tiến chi lịch sử (1921), Nguyễn Bá Học tiên sinh chi lược sử cập kỳ di ngôn (1921) Lĩnh Nam dật sử nghi án (1921), Du thanh hòa ký (1921)&#8230;</p>
<p>Sau đó ông được thăng Tuần Phủ Quảng Ngãi rồi Tổng Đốc Thanh Hóa, Bình Định. Tháng 8- 1945, khi Việt Minh lên nắm chính quyền, ông bị bắt và bị xử bắn tại Quảng Ngãị</p>
<p><strong>2. Nguyễn Bá Trác có phải là tác giả bài “Hồ Trường”? </strong><br />
Cho đến bây giờ, chúng tôi chưa tìm ra bài thơ &#8220;Hồ Trường&#8221; được chính thức đăng vào sách văn học trước 1945 hoặc trước 1975 tại VN. Thỉnh thoảng, chúng tôi cũng có nghe bạn bè ngâm hay đọc bài thơ nầy, hoặc đọc thấy trên báo, nhưng không biết rõ xuất xứ. <em></em></p>
<p>Người ta nói tác giả bài thơ nầy là Nguyễn Bá Trác.</p>
<p>Nhưng tôi hỏi các cụ nhà Nho ở Huế, trong đó có những vị là Thầy dạy của tôi, nhiều người biết ông Nguyễn Bá Trác, nhưng không ai nghe nói đến bài &#8220;Hồ Trường&#8221; nầy. Chính cụ Võ Như Nguyện <em>(trưởng nam của cụ Võ Bá Hạp)</em>, người biết nhiều chuyện xưa liên quan đến các bậc tiền bối cách mạng, mà cũng không biết gì về bài thơ nầỵ (Trong thư đề ngày 02 tháng 10 năm 2002, gởi cho người bạn ở Huntington Beach, Californiạ Cụ viết: &#8220;Bài thơ &#8220;Hồ Trường và dinh Tổng đốc Thanh Hóa dưới thời ông Nguyễn Bá Trác, tôi chưa được nghe&#8221;.</p>
<p>Về ông Nguyễn Bá Trác (Tổng Đốc Thanh Hóa) và cụ Võ Bá Hạp, ông Phạm Hải Hồ qua bài nhan đề &#8220;Vui Buồn Vùng Vịnh&#8221; viết: &#8220;Tôi xin kể một chuyện liên hệ đến một nhân vật khoa bảng Hán học, một nhà cách mạng, một tác giả của bài thơ bất hủ còn phổ biến rộng rãi cho đến bây giờ được nhiều người biết và ca ngợi là quá haỵ Nhân vật đó là ông Nguyễn Bá Trác, từng là nhà cách mạng bôn ba ở hải ngoại để mưu đồ đánh đuổi thực dân Pháp, giành Độc lập, Tự do cho dân tộc. Hình như ông là nhà cách mạng đồng thời với Phan Bội Châụ Ông Nguyễn Bá Trác là tác giả bài thơ Hồ Trường, chan chứa khí phách của một trượng phu, một chí sĩ yêu nước với tâm tư bi phẫn trước cảnh đất nước đang quằn quại dưới gót giầy sắt của bọn xâm lăng Pháp.</p>
<p>&#8220;Đại trượng phu nào ai xé gan bẻ cật. Phù cương thường hà tất tiêu dao bốn bể luân lạc tha phương&#8230;&#8221; &#8220;Vậy mà trong những giây phút yếu lòng nào đó, khiến cho nhà cách mạng Nguyễn Bá Trác đã về nước hàng phục xâm lăng Pháp và triều đình bù nhìn. Ông được bổ nhiệm làm chức Tham Tri rồi sau làm Tổng Đốc Thanh Hóa ( 2 chức vụ này tương đương nhau, nếu làm việc trong triều thì gọi là Tham Tri, làm việc ở ngoài triều thì gọi là Tổng Đốc).</p>
<p>&#8220;Trong thời gian làm Tổng Đốc Thanh Hóa, ông Nguyễn Bá Trác can thiệp, vận động với Pháp để Pháp dễ dãi, khoan hồng cho đồng chí cũ của mình là nhà cách mạng Võ Bá Hạp bị Pháp bắt giam. Ông Võ Bá Hạp thường được đưa tới dinh Tổng Đốc Nguyễn Bá Trác để dọn dẹp lặt vặt, nhổ cỏ, quét dọn, vệ sinh. Mỗi khi thấy mặt quan Tổng Đốc, ông Võ lại mắng nhiếc thậm tệ như : anh là tên Việt gian, phản quốc, tay sai thực dân,v.v&#8230;</p>
<p>&#8220;Quan Tổng Đốc Trác nghe xong chỉ cúi đầu lảng đi, không nói năng gì cả. Một bữa ông Hạp được lệnh tha, Tổng Đốc Trác đưa xấp tiền biếu để ông Hạp về với gia đình. Nhưng ông Hạp từ chối, vừa cầm nắm tiền vứt trả vừa buông lời xỉ vả quan Tổng Đốc một lần cuối:&#8221;Tôi không thèm nhận những đồng tiền dơ bẩn của anh&#8221;. Tổng Đốc Trác vẫn im lặng. Sự im lặng này hàm chứa một ý nghĩa rõ ràng: Ông Nguyễn Bá Trác đã biết hối hận, biết sỉ nhục, biết mình đã đi vào con đường sai lầm. Bỏ con đường phi nghĩa, tà đạo, phản bội lại quốc dân, để mưu cầu sự vinh thân, phì gia trong hoàn cảnh quê hương đang mắc vòng nô lệ ngoại xâm.</p>
<p>&#8220;Một thời gian sau, ông Nguyễn Bá Trác về hưu, sống ẩn dật trong nhà, không xuất hiện ngoài xã hộị Đến năm 1945, VC lên cướp chính quyền, đã xử tử ngay Nguyễn Bá Trác, cũng như chúng đã xử tử Phạm Quỳnh, Cung Đình Vận, v.v&#8230;</p>
<p>***</p>
<p>&nbsp;</p>
<h3>Nguyễn Bá Trác có phải là tác giả bài “Hồ Trường”?</h3>
<h6><span style="font-weight: bold;">Mặc Lâm, RFA</span></h6>
<h5>Bài thơ Hồ Trường trên Nam Phong tạp chí</h5>
<p>Bài thơ này ai cũng cho rằng tác giả nó là Nguyễn Bá Trác vì khi in trên Nam Phong tạp chí không thấy ghi chú là được dịch từ một bài thơ của Trung Quốc. Mãi cho tới năm 1998 thì bài thơ mới được Đông Trình dẫn lời của Nguyễn Văn Xuân là dịch từ một ca khúc của Trung Quốc.</p>
<p>Gần đây nhà nghiên cứu lịch sử Trung Quốc Phạm Hoàng Quân mới sưu lục được <em>tác phẩm gốc</em> đã được Nguyễn Bá Trác dịch thoát thành bài thơ bất hủ Hồ Trường</p>
<h5>“Hạn mạn du ký” bản gốc của bài Hồ trường</h5>
<p>Nhà nghiên cứu Phạm Hoàng Quân cho biết nguyên nhân dẫn ông đến bài thơ bất hủ này:<br />
&#8211; Đó cũng là một việc tình cờ trong lúc tôi làm cái tổng mục lục cho phần Hán văn của Nam Phong. Mặc dù trứơc đó mình có biết bài Hồ trường nhưng khi làm mục lục thì vô tình phát hiện bài “Hạn mạn du ký” bằng chữ Hán. Đọc lướt qua và khi dừng lại thì thấy có bài lời ca Hồ trường bằng chữ Hán ở đó. Khi gắn kết bài thơ lại tôi mới nhớ lại thì biết rằng đây là bản gốc của bài Hồ trường, bài mà ông Nguyễn Bá Trác dịch ra tiếng Việt. Bản dịch của ông Nguyễn Bá Trác dịch thẳng từ chữ Hán qua thẳng lời ca chữ Việt không có phiên âm thành ra nó hơi lạ một chút nhưng nội dung nó còn giữ được tinh thần của bản gốc. Từ đó tôi mới làm cái đối chiếu để cho rõ cái nguồn gốc thì một số anh em thấy vậy cũng hứng thú.</p>
<p>Sau đó tôi có viết lại một lần nữa bài viết cho nó đầy đủ hơn về nguồn gốc đó.</p>
<p>Nam Phong tạp chí là nơi ông Nguyễn Bá Trác từng làm chủ bút phần chữ Hán còn ông Phạm Quỳnh chủ bút phần tiếng Việt. Ông Nguyễn Bá Trác làm chủ bút những năm đầu của Nam Phong nên ông đăng những công trình nghiên cứu hay du ký của ông ấy lên trên phần chữ Hán.</p>
<p><a href="https://t-van.net/wp-content/uploads/2012/02/clip_image0082.jpg"><img loading="lazy" decoding="async" style="background-image: none; padding-left: 0px; padding-right: 0px; display: inline; padding-top: 0px; border: 0px;" title="clip_image008" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2012/02/clip_image008_thumb2.jpg?strip=all&fit=189%2C276" alt="clip_image008" width="189" height="276" border="0" /></a></p>
<p><em>Bìa Nam Phong Tạp chí số 1, </em></p>
<p><em>xuất bản năm 1917.Wikipedia</em></p>
<p>Có một số đã được dịch và đăng bên phần tiếng Việt còn một số vẫn còn ở bản chữ Hán cho đến hiện nay thì vẫn còn một số công trình của Nguyễn Bá Trác chưa được dịch ra tiếng Việt.</p>
<p>Theo nhà nghiên cứu Phạm Hoàng Quân thì cho đến nay, có ít nhất 5 bản in lời ca Hồ Trường mà các bản có nhiều chỗ không giống nhau. Một trong năm bản ấy là Nam phương Ca khúc.</p>
<p>Hồ Trường so với Nam phương ca khúc có nhiều điểm khác biệt. Nguyễn Bá Trác đã linh động nương theo âm điệu tiếng Việt và có chỗ thêm tứ có chỗ bớt lời, khéo giữ được cái thần thái hào sảng của nguyên tác.</p>
<p>***</p>
<h4>Bài thơ Hồ Trường và tác giả Nguyễn Bá Trác</h4>
<h4>Trần Văn Giang</h4>
<h4></h4>
<p>Bài thơ được nhiều người biết nhưng lại không thuộc cả bài lẫn thân thế tác giả cùng lý do ra đời của nó. Rồi sau đó đã được nhiều thế hệ thanh niên sao đi chép lại nên đã không tránh khỏi chuyện dị biệt. Dưới đây là 4 bản Hồ Trường mà tác giả sao lục để quý bạn đọc so sánh.</p>
<p><a href="https://t-van.net/wp-content/uploads/2012/02/clip_image0101.jpg"><img loading="lazy" decoding="async" style="background-image: none; padding-left: 0px; padding-right: 0px; display: inline; padding-top: 0px; border: 0px;" title="clip_image010" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2012/02/clip_image010_thumb1.jpg?strip=all&fit=354%2C281" alt="clip_image010" width="354" height="281" border="0" /></a></p>
<p>1. <strong>Bản in trong trang 327, quyển Việt Nam Văn Học Sử Giản Ước Tân Biên </strong></p>
<p><strong>(NXB Anh Phương, Sài Gòn năm 1965) của giáo sư Phạm Thế Ngũ.</strong></p>
<p>Trượng phu không hay xé gan bẻ cột phù cương thường,<br />
Hà tất tiêu dao bốn bể luân lạc tha phương.<br />
Trời Nam ngàn dặm thẳm, mây nước một màu sương.<br />
Học chẳng thành công chẳng lập, trai trẻ bao lâu mà đầu bạc, trăm năm thân thế bóng tà dương.<br />
Vỗ tay mà hát, nghiêng bầu mà hỏi, trời đất mang mang, ai là tri kỷ, lại đây cùng ta cạn một hồ trường.<br />
Hồ trường, hồ trường, ta biết rót về đâu?<br />
Rót về Đông phương, nước bể Đông chảy xiết sinh cuồng lạn.<br />
Rót về Tây phương, mưa Tây rơi từng trận chứa chạn<br />
Rót về Bắc phương, ngọn Bắc phong vi vút đá chạy cát dương.<br />
Rót về Nam phương, trời Nam mù mịt, có người quá chén như điên như cuồng.<br />
Nào ai tỉnh nào ai say.<br />
Chí ta ta biết lòng ta ta hay.<br />
Nào ai tỉnh, nào ai say.<br />
Chí ta ta biết lòng ta ta hay.<br />
Nam nhi sự nghiệp ở hồ thì, hà tất cùng sầu đối cỏ cây.</p>
<p>2. <strong>Bản đăng trên báo <em>Tuổi Trẻ Chủ Nhật </em></strong></p>
<p><strong>(trong nước) số&#8230; năm 1998.</strong></p>
<p>Trượng phu không hay xé gan bẻ cật phù cương thường.<br />
Hà tất tiêu dao bốn bể, xuân lạc tha hương.<br />
Trời Nam nghìn dặm thẳm, mây nước một màu sương.<br />
Học không thành, công chẳng lập, trai trẻ bao lâu mà đầu bạc, trăm năm thân thế bóng tà dương.<br />
Vỗ tay mà hát, nghiêng đầu mà hỏi, trời đất mang mang ai là tri kỷ, lại đây cùng ta cạn một hồ trường.<br />
Hồ trường! Hồ trường! Ta biết rót về đâu?<br />
Rót về Đông phương, nước biển Đông chảy xiết sinh cuồng loạn<br />
Rót về Tây phương, mưa Tây sơn từng trận chứa chan<br />
Rót về Bắc phương, ngọn Bắc phong vi vút đá chạy cát dương<br />
Rót về Nam phương, trời Nam mù mịt có người quá chén như điên như cuồng<br />
Nào ai tỉnh, nào ai say, chí ta ta biết, lòng ta at hay<br />
Nam nhi sự nghiệp ở hồ thỉ, hà tất cùng sầu đối cỏ cây?</p>
<p>3.<strong> Bản in trong báo Thế Kỷ 21 (Hoa Kỳ), </strong></p>
<p><strong>trang 8, số 115 ra tháng 11 năm 1998.</strong></p>
<p>Trượng phu không hay xé gan bẻ cật phù cương thường,<br />
Hà tất tiêu dao bốn bể, lưu lạc tha phương.<br />
Trời Nam nghìn dặm thẳm, non nước một màu sương<br />
Chí chưa thành, danh chưa đạt, trai trẻ bao lăm mà đầu bạc, trăm năm thân thế bóng tà dương.<br />
Vỗ gươm mà hát, nghiêng bầu mà hỏi, trời đất mang mang ai người tri kỷ, lại đây cùng ta cạn một hồ trường.<br />
Hồ trường! Hồ trường! Ta biết rót về đâu?<br />
Rót về Đông phương, nước biển Đông chảy xiết sinh cuồng loạn.<br />
Rót về Tây phương, mưa phương Tây từng trận chứa chan.<br />
Rót về Bắc phương, ngọn Bắc phong vi vút đá chạy cát giương.<br />
Rót về Nam phương, trời Nam mù mịt có người quá chén như điên như cuồng.<br />
Nào ai tỉnh, nào ai say, chí ta ta biết, lòng ta ta hay<br />
Nam nhi sự nghiệp ư hồ thỉ, hà tất cùng sầu đối cỏ cây.</p>
<p>4. <strong>Bản in trong quyển <em>Chơi Chữ</em></strong></p>
<p><strong>của tác giả Lãng Nhân-Phùng Tất Đắc, </strong></p>
<p><strong>trang 75 (Sài Gòn-1970)</strong></p>
<p><a href="https://t-van.net/wp-content/uploads/2012/02/clip_image0121.jpg"><img loading="lazy" decoding="async" style="background-image: none; padding-left: 0px; padding-right: 0px; display: inline; padding-top: 0px; border: 0px;" title="clip_image012" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2012/02/clip_image012_thumb1.jpg?strip=all&fit=280%2C287" alt="clip_image012" width="280" height="287" border="0" hspace="12" /></a></p>
<p>Trượng phu đã không hay xé gan bẻ cột phù cương thường,<br />
Sao lại tiêu dao bốn bể, luân lạc tha hương?<br />
Trời Nam nghìn dặm thẳm; mây nước một màu sương.<br />
Học không thành, công chẳng lập, Trai trẻ bao lăm mà đầu bạc; trăm năm thân thế bóng tà dương.<br />
Vỗ gươm mà hát, nghiêng bầu mà hỏi: Trời đất mang mang, ai là tri kỷ? Lại đây cùng ta cạn một hồ trường.<br />
Hồ trường! Hồ trường! Ta biết rót về đâu?<br />
Rót về Đông phương, nước bể Đông chảy xiết sinh cuồng-lạn.<br />
Rót về Tây phương, mưa Tây-sơn từng trận chứa chan;<br />
Rót về Bắc phương, ngọn Bắc phong vi vút, đá chạy cát dương.<br />
Rót về Nam phương, trời Nam mù mịt, có người quá chén như điên như cuồng.<br />
Nào ai tỉnh, nào ai say?<br />
Chí ta ta biết lòng ta ta hay.<br />
Nào ai tỉnh , nào ai say?<br />
Chí ta ta biết lòng ta ta hay.<br />
Nam nhi sự nghiệp ở hồ thỉ, hà tất cùng sầu đối cỏ cây!</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>***</p>
<h4></h4>
<h4>Rượu Hồ Trường</h4>
<p>(<em>trích đoạn</em> <strong>Vương Trùng Dương</strong>)</p>
<h4></h4>
<h4></h4>
<p><strong><em><a href="https://t-van.net/wp-content/uploads/2012/02/clip_image014.gif"><img loading="lazy" decoding="async" style="background-image: none; padding-left: 0px; padding-right: 0px; display: inline; padding-top: 0px; border: 0px;" title="clip_image014" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2012/02/clip_image014_thumb.gif?strip=all&fit=314%2C295" alt="clip_image014" width="314" height="295" border="0" /></a></em></strong></p>
<p>&nbsp;</p>
<p><strong>Lịch sử Hồ Trường:</strong></p>
<p>Hồ Trường được lấy theo tên của bài ca Hồ Trường của tuần phủ Nguyễn Bá Trác:</p>
<p>&#8220;<em>Hồ Trường Hồ Trường</em></p>
<p><em>Ta biết rót về đâu &#8230;</em><em> </em>&#8221;</p>
<p><strong>Thành phần và công dụng:</strong></p>
<p>Hồ Trường là loại rượu thảo dược đặc biệt được làm từ 32 loại thảo dược khác nhau. Rượu sau khi được chưng cất sẽ ủ từ 3 đến 5 năm trong các hầm ủ tiêu chuẩn trước khi đưa ra đóng chai.</p>
<p>Hồ Trường là nậm rượu, bầu rượu hình dáng như trái bầu mà người xưa thường dùng nó để đựng rượu, bài thơ Hồ Trường có câu<em> </em><em>“nghiêng bầu mà hỏi”.</em> Trong văn hóa Đông phương, điển hình như Trung Hoa, có nhiều loại cho đồ đựng rượu và uống rượu là nghệ thuật tạo hình trải dài qua mấy nghìn năm. Từ vật dụng đựng rượu có sẵn trong thiên nhiên như gỗ, tre, sừng, vỏ ốc, quả bầu (hồ lô) đến vật dụng được chế biến từ đất nung, sành sứ, kim loại, thủy tinh&#8230; theo tiến trình văn minh của con người sáng tạo ra nhiều loại khác nhau và mỗi loại lại có hình dáng riêng của nó.</p>
<p>Ngày nay, có nhiều thứ trở thành đồ cổ quý giá với lai lịch của nó hình thành trong mỗi triều đại. Hình ảnh bầu rượu được buộc dải lụa ở nước ta được thấy trên các mái đình, miếu, am và trên nóc Tháp Rùa ở Hà Nội, điện Thái Hòa, Thế Miếu, Ngọ Môn ở Huế&#8230; còn lưu lại hình ảnh nầy. Từ thời xa xưa, quả bầu được xem như biểu tượng thiêng liêng đựng nước thiêng rồi sau đó đựng thức uống rất quý là rượu. Hình ảnh <em>“bầu rượu túi thơ”</em> được minh họa qua nhân vật nổi danh như Lã Đồng Tân, Lý Thiết Quảng, Lý Bạch, Lưu Linh&#8230; trở thành quen thuộc qua nhiều thế kỷ ở Đông phương. Bìa thi phẩm Mây của Vũ Hoàng Chương do Tô Ngọc Vân vẽ bầu rượu đựng túi mây phiêu bồng mô tả tâm hồn thi nhân nơi trần gian.</p>
<p>Thi ca Trung Hoa và Việt Nam, có hàng trăm bài thơ đề cập đến rượu, có bài nhắc đến tên rượu, có bài thể hiện ở nội dung&#8230; Nguyễn Bá Trác dùng vật dụng là tựa đề cho bài thơ, vừa hay về âm điệu vừa gợi hình ảnh đồ dùng của loại men nồng, trở thành nét đẹp trong nghệ thuật tạo hình.</p>
<p>&nbsp;</p>
<p><strong>Ngộ Không Phí Ngọc Hùng</strong></p>
<p>&nbsp;</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>©T.Vấn 2012</p>
]]></content:encoded>
					
					<wfw:commentRss>https://t-van.net/ng%e1%bb%99-khng-v-bi-th%c6%a1-h%e1%bb%93-tr%c6%b0%e1%bb%9dng/feed/</wfw:commentRss>
			<slash:comments>0</slash:comments>
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Ngộ Kh&#244;ng : N&#243;n l&#225; &#225;o tơi ra qu&#225;n chợ&#8230;</title>
		<link>https://t-van.net/ng%e1%bb%99-khng-nn-l-o-t%c6%a1i-ra-qun-ch%e1%bb%a3/</link>
					<comments>https://t-van.net/ng%e1%bb%99-khng-nn-l-o-t%c6%a1i-ra-qun-ch%e1%bb%a3/#respond</comments>
		
		<dc:creator><![CDATA[Ngộ Không Phí Ngọc Hùng]]></dc:creator>
		<pubDate>Tue, 14 Feb 2012 23:58:32 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Góc Văn]]></category>
		<category><![CDATA[ngộ không]]></category>
		<category><![CDATA[rượu]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://7076e870b2.nxcli.io/?p=5133</guid>

					<description><![CDATA[( Đây là bài 3 trong lọat bài về Rượu của Ngộ Không Phí Ngọc Hùng.Bài 1 là “ Tửu Sư “, bài 2 : “ Cái nồi ngồi trên cái cốc “, bài 3: “ Nón lá áo tơi ra quán chợ “, và bài 4 : “ về Bài thơ Hồ Trường “.) [&#8230;]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<p><b><a href="https://t-van.net/wp-content/uploads/2012/02/clip_image00210.jpg"><img loading="lazy" decoding="async" style="background-image: none; border-bottom: 0px; border-left: 0px; padding-left: 0px; padding-right: 0px; display: inline; border-top: 0px; border-right: 0px; padding-top: 0px" title="clip_image002" border="0" alt="clip_image002" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2012/02/clip_image002_thumb10.jpg?strip=all&fit=406%2C333" width="406" height="333" /></a></b></p>
<p><b></b></p>
<p>( Đây là bài 3 trong lọat bài về Rượu của Ngộ Không Phí Ngọc Hùng.<b>Bài 1 là “ <a href="https://t-van.net/?p=4719">Tửu Sư</a> “, bài 2 : “ <a href="https://t-van.net/?p=4958">Cái nồi ngồi trên cái cốc</a> “, bài 3: “ Nón lá áo tơi ra quán chợ “, và bài 4 : “ về Bài thơ Hồ Trường “</b><b>.)</b><b></b></p>
<p>Lần đầu về thăm quê nhà, bụng dạ cứ lao nhao làm như thiếu vắng giấc hương quan mẫn luống canh dài. Vừa lúc <tt>thằng </tt>bạn mèo mả gà đồng biết thừa bứa tôi có căn tu, chiều chiều ngồi không…tu tới những hai, ba chai lận. Nên nó gọi điện thoại gửi gấm một gã bạn Văn Khoa của nó thuộc diện hẻm nào cũng biết, ngõ nào cũng hay, bảo đảm chẳng ế độ. </p>
<p>Cứ theo lời nó kể lể riêng khoản lỳ một lam, làm một ly gã thuộc dạng sáng say chiều sỉn, hiểu theo nghĩa là nhậu tới bến. Ấy là chưa kể gã là dân Hán học, chữ nghĩa ngập răng nên chuyện…chó gì cũng biết. Như khuyển với cẩu khác nhau cái khổ nào, gã ấy luận với thằng bạn tôi rằng: <i>“Khuyển là chó, không phân biệt kẻ quen, người lạ, gặp là sủa, nên chữ Hán, chữ khuyển tượng hình là con chó đang ngồi lè lưỡi. Cẩu là chữ Nôm, cẩu sủa có bài bản câu cú rõ ràng, gọi là sủa có văn. Vì thế chữ Nôm về con cẩu, cạnh bộ khuyển, còn thêm chữ “cú”, ngụ ý sủa ra câu cú có vần, có vận”.</i> Thế đấy, thưa bạn đọc.</p>
<p>Thế nên với tôi như vậy là quá đủ cho một chuyến đi. Nếu có túc duyên gặp anh nhiêu, anh khóa nho phong sĩ khí đầy người mà ngộ chữ với có tức là…không, không tức là không …có, thì đi nhẹ về nặng, biết đâu gánh về được một bồ chữ cũng là cái hay. Số ruồi, <tt>chẳng may vớ phải ông hủ nho, hủ nút </tt>nát chữ như trấu chát với…vô chăng, hữu có, khuyển chó, dương dê thì <tt>như thêm đũa thêm bát vậy thôi. </tt>Nói cho ngay, tôi chẳng nho nhe gì, chỉ biết vài mặt chữ chi, hồ, giả, dã đủ để đọc dăm quân bài mạt chược. Đất sinh cỏ, già sinh tật, cái tật của tôi đã dốt lại hay khoe mẽ nên mới thành chuyện. Bạn đọc <tt>rên rẩm rằng gì mà nhiễu sự quá thể?</tt> Cần người đối ẩm trong đám nhân sinh này ư? Đoạn tống nhất sinh duy hữu tửu, cứ rủ nhau <i>nón lá áo tơi ra quán chợ</i> , c<i>hén rượu men lành, lạnh ngón tay </i>là xong. Nhưng thưa với bạn đọc rằng thói đời lắm khi cũng gặp vạn sự bất như ý…Chuyện là về đến nơi, điện thoại mới chớ phở ra là gã hành nghề…chạy taxi nên tôi có hơi…chuếnh choáng. Nhưng nghĩ lại cũng tốt thôi, vì Sài Gòn đầu đường cuối ngõ gã là thổ công thì ăn chắc. Vì vậy tim gan phồi phẻo tôi được thể lại rối rắm khôn tả.</p>
<p>Đón tôi trước cửa khách sạn, ngồi trong xe tôi ngó chừng gã, thực mục sở thị gã cũng bình bình, thuộc dạng gặp một lần là quên ngay. Nói vậy chứ cũng chẳng ngon sơi cho lắm, bởi lẽ mới sơ giao không nhẽ hỏi đưa đi…ăn thịt chó chẳng tao nhân mặc khách cho mấy. Cây giống bóng của giống người, dòm bên đường thấy mấy tiệm “nhét dô răng”, tôi lâm râm vừa đủ cho gã nghe: <i>Trăm năm sông núi cũng mòn, nghìn năm bia rượu vẫn còn như xưa</i>. Gã chỉ ậm ừ. Tôi bèn…văn dĩ tải đạo, bằng cách buông xả dăm khoẻn lơ mơ lỗ mỗ với gã như thế này đây:</p>
<p><i>“…Hai thiền sư, một già một trẻ, thiền sư già Unsho phóng khoáng không bao giờ để ý đến giới luật. Thiền sư trẻ Tazan khắc kỷ, luôn luôn giữ giáo luật của nhà Phật. Một hôm Tazan từ Tokyo về nhằm lúc Unsho đang nhắm rượu với thịt chó. Sư già chào đón sư trẻ: ”Thầy làm một miếng mồi đưa cay chăng?</i></p>
<p><i>Tazan nghiêm giọng đáp: “Tôi không bao giờ ăn thịt chó”.</i></p>
<p><i>Unsho cười đáp: ”Một người không ăn thịt chó, không uống rượu, không phải là người”.</i></p>
<p><i>Sư trẻ nổi sùng lên: “Thầy nói tôi không là người thì tôi là gì?”</i></p>
<p><i>Ông sư già cười tủm:</i> “Một ông Phật…”.<i></i></p>
<p><i></i></p>
<p>Gã cũng cười tủm rằng gã không phải là…Phật. Và lái lụa tiếp. Một lát sau ngừng ở chân cầu Thị Nghè, nhìn bảng ““nhét dô răng” có tên <i>Quán Lá Mơ</i>. Tôi thở phào một cái, quẳng gánh lo đi nhẹ lấy mình và ung dung tự tại nhập thế tục một chiều trên bến nước…</p>
<p>***</p>
<p>Thò đầu vào quán tôi choáng ngay, bộp vào mặt là trên kệ sát cửa, bày hàng một dàn năm bình bự sự. Bình nào cũng to đùng bằng cái nồi ba mươi có “thương hiệu” theo tứ tự với nhất xà, nhị xà, v..v.. Vừa để cái bàn tọa va vào ghế, mắt vướng víu vào cái tam xà, chôm chỉa chữ nghĩa báo chợ, báo chùa bấy lâu. Tôi lêu bêu với gã ắt hẳn là ba con mang bành, cạp nong, hổ trâu chi đây. Gã im thin thít. Chỉ cho gã cái ngũ xà, tôi khua môi múa mép chém chết là một mang bành, một cạp nong, một hổ trâu, một rắn ráo, một mai gầm…Gã lặng như tờ. Tôi lăng ba vi bộ với Kim Dung rằng Lam Phụng Hoàng cầm bát rượu <i>Ngủ bảo tửu</i> đưa Lệnh Hồ Xung. Rượu có ngâm năm con trùng độc là một con rắn đen, một con rít, một con nhện, một con bọ cạp và một con trăn nhỏ bằng đầu ngón tay.</p>
<p><tt>Gã hủ nho, hủ nút </tt>làm như không nghe vì quán xá đang ầm ào, buông xả với thịt chó như một di sản văn hóa lâu đời. Gã vẫy tay ới người phục vụ lo chuyện hậu sự…Thấy gã không mặn mà mấy con rắn cho lắm. Chợt nhớ hồi này ở trong nước đổi mới tư duy với cao trào mang công án Thiền vào quán nhậu. Vì cần thuyết phục nhau, thì &quot;dùng công án Thiền dễ hiểu hơn nhiều”. Như &quot;Lấy đũa quơ trăng&quot;, &quot;Thiền sư qua sông&quot;, &quot;Quẳng dao giết lợn xuống là thành Phật&quot; cùng &quot;vô minh&quot;, &quot;vô ngôn&quot;, &quot;vô thường&quot;, &quot;vô ngã&quot;, &quot;vô sở đắc&quot;, &quot;vô sở trụ&quot; rất rõ ràng, sáng tỏ. Như hỏi một nhà văn rằng vì sao anh ta cứ mài óc ra mà viết bài cho báo lá cải. Đáp: <i>Phật cũng chỉ là que cứt khô thôi mà!</i> Hỏi tiếp: <i>Sao Phật lại là que cứt khô?</i> Đáp: <i>Anh không biết công án Thiền à?</i> Thế là người hỏi cứng họng. Trao đổi với một nhà phê bình văn học khác: <i>Bài viết này của anh nội dung chả nói được điều gì</i>. Đáp: <i>Nói được cũng bị ba mươi hèo, không nói được cũng bị ba mươi hèo thôi ông ạ</i>. Bèn hỏi tiếp: <i>Ba mươi hèo ở đâu ra thế?</i> Đáp: <i>Thế là ông không đọc công án Thiền rồi!&quot;.</i> Là xong.</p>
<p>Không nói chuyện rắn thì “khảo luận” về…chó với &quot;vô sở đắc&quot;, &quot;vô sở trụ&quot;. Nhìn ra con sông Thị Nghè đang lặng lờ trôi…Chuyện thuyền trôi theo nước là tôi có ý đồ muốn khuấy mái chèo về con cún nhà tôi không ăn thịt mà chỉ ăn rau. Món khoái khẩu của nó là rau muống nên tôi chắc mẩm kiếp trước nó là Bắc kỳ. Sau nó nhai giá sống rau ráu, tôi chắc như bắp luộc nó là Nam kỳ. Với khoản đậu rán thì nó hỉ xả trông thấy, nên tiền kiếp nó là một ông Phật chăng. Gã lắc lắc cái đầu. Tôi hỏi: <i>Thế là ông không đọc công án Thiền rồi</i>. Được thể tôi khủng khỉnh cọ đít nhồi với gã qua một công án về một ông tăng hỏi sư Triệu Châu: <i>“Con chó có Phật tính không”.</i> Triệu Châu đáp: <i>“Không”.</i></p>
<p>Gã trầm ngâm, làm một hơi thuốc từ tốn thở ra…mây, và kể chuyện hoa rơi cửa Phật cùng nhang đèn hương khói như dưới đây và tôi cứ căng tai ra mặc sức mà nghe:</p>
<p><i>“…Tôi không nhớ ông già tôi đã nuôi con chó Đốm con từ hồi nào. Chỉ biết mang máng là ông đã xin nó về nuôi từ lúc mới đẻ, báu vật của một ông bạn già ở xa nhà tôi khoảng mươi cây số hương lộ. Vậy mà ông bạn cố tri ấy đành cắt khúc ruột của mình ra tặng cho ông già tôi. Thế đủ biết cái tình bạn nhậu giữa hai ông già thâm sâu, thắm thiết biết là dường nào.</i></p>
<p><i></i></p>
<p><i>Đúng là bợm nhậu theo kiểu giang hồ, ông già tôi quả là một dân nhậu khét tiếng từ Hóc Môn đến Bà Điểm với rượu đế Ông Già Ba Tri. Nếu không nổi danh như vậy ông đã không đến nỗi bán vợ đợ con để về chui rúc dưới mái tranh vách đất xập xệ, trông chẳng khác nào cái chòi nhỏ. Mái tranh cũ rạt không che kín đủ bên trong, lúc nào cũng như chờ đợi những cơn mưa dột ướt cả người ngợm. Còn cái tình cảm giữa ông bà già tôi mới thật là éo le. Chính vì ông già tôi là bợm nhậu nên bà già tôi không thể nào chịu được cái cuộc tình giãy chết này nữa. Bà đành một mình cự tuyệt ông già và lặng lẽ dắt hai đứa con thơ kéo nhau về cắm dùi ở cái thôn Quảng Phước xa xôi hẻo lánh để làm lại cuộc đời…”.</i></p>
<p><i></i></p>
<p><i></i>Vừa lúc người phục vụ xuất hiện, như thân quen từ trước, gã rì rầm nói cho cái bình da lươn và hai cái chén Tống. Tôi nghệt ra hỏi gã mình vào đây uống ruợu rắn chứ…lươn lẹo gì? Gã lươn khươn rằng ấy là cái bình đất nung cho tới màu da lươn, để lâu lạc tinh thành mầu gan gà nên còn gọi là ché. Ché đựng <i>Thập nhị xà nhất điểu</i> gồm 12 con rắn là hổ mang, hổ lửa, rắn ráo, mai gầm, cạp nong, hổ hành, hổ hèo, rắn lục, liu điu, ri voi, ri cá, bông súng và nhất điểu là…con bìm bịp. Như trên đã thưa gửi, tôi không có tướng lại có tính, tính hay khoe mẽ ấy mà. Nên tôi chộp giựt với chén Tống rằng cứ theo cụ Vương Hồng Sển, trước dùng để uống rượu, đến đời Thanh vì…tửu lạc vong bần nên để uống trà.</p>
<p>Lại làm như điếc đặc, gã cứ quấn quýt với con chó nhà gã:</p>
<p><i>“…Vậy mà ông cũng tìm ra được tông tích của ba mẹ con tôi rồi cũng rút binh về theo. Tuy nhiên cái tình mặn nồng ngày xưa không còn nữa. Cái nhà là của bà già tôi mua nên trên nguyên tắc ông già không có quyền ở chung. Túng quá ông phải tự làm lấy một cái chái nhỏ che đỡ mưa nắng, núp dưới bóng cây xoài to, sát bên bờ giếng làm chỗ trú ẩn, coi như tạm cắm dùi chung trên cùng mảnh đất, ở ngay sau cái chòi má con tôi ở. </i></p>
<p><i></i></p>
<p><i>Hai người như hai cái tai của cái cối xay, người ở đằng trước thì kẻ ra đằng sau, người ở trong nhà thì kẻ phải ở ngoài hoặc ngược lại. Cũng chính vì cái nỗi buồn đơn độc này mà ông già tôi phải tìm cách nuôi một con chó làm bạn. Thoạt đầu ai nấy đều lắc đầu bởi ông già tôi ngoài cái chuyện nhậu nhẹt, ông còn là một tay mần thịt cầy nổi tiếng nên không ai tin tưởng vào lòng tốt của ông một khi con chó bắt đầu lớn. Ấy vậy mà mối tình thủy chung này lại kéo dài đến suốt cuộc đời của hai &quot;người&quot; còn hơn là mối tình lớn của ông với bà già tôi. Con Đốm hiện diện trong nhà tôi từ ngày ấy ở Trung Chánh Bà Điểm quê tôi này…”</i></p>
<p><i></i></p>
<p>Vừa lúc người phục vụ mang ra đầy đủ đồ nghề với “cái trước để uống rượu, sau cũng để…uống rượu”. Thôi thì thượng điền tích thủy, hạ điền khan, gã nhắm món chả chìa trước cái đã. Chỉ cái bình tam xà chẳng con rắn chết tiệt nào nằm trong, gã râm ran tam xà không như tôi…hoang tưởng mà gồm “hổ mang, hổ lửa, hay mai gầm hoặc cạp nong”. Còn ngũ xà gồm ba loại trên thêm hổ hành và hổ hèo. Ấy là rượu rắn <i>Phụng Hiệp</i> ở đất Phong Dinh. Rắn được mổ bụng, bỏ hết, chỉ giữ lại mỡ và mật vì đây là hai vị thuốc trị liệt dương, đau nhức, táo bón và…phong thấp như ông già gã. </p>
<p>Và gã rắn ráo về chuyện…ông già gã:</p>
<p><i>“…Từ hôm ông già tôi âu yếm ôm con Đốm về nuôi đã gây ra một bầu không khí chộn rộn trong gia đình không ít. Má tôi vốn có tính không ưa chó mèo nên khi thấy vậy bèn hứ cho một câu chí tử &quot;Cơm không có mà ăn còn đem chi cái ngữ ấy về nuôi, giỏi lắm được năm ba bữa nửa tháng là vô bụng&quot;. Bà thường nói trổng từ trong nhà vọng ra cốt cho ông già tôi nghe cho bõ tức. Riêng anh em tụi tôi thì đặt nhiều dấu hỏi to tổ chảng là không biết con Đốm con sẽ ăn uống thế nào khi con mắt còn nhắm rít. </i></p>
<p><i></i></p>
<p><i>Cơn lo lắng của ông già kéo dài mấy ngày trời thì đột nhiên bữa nọ, cả nhà bỗng thấy con chó mẹ không biết từ đâu lòi ra với bộ lông đen ngòm đang nằm xoải mình ra bên cạnh gốc xoài, thò mấy cái vú dài ra cho con Đốm con bú. Thế là vấn nạn trước mắt được giải quyết ngay tức khắc nhưng sau đó ai nấy đều cảm thấy có một cái gì không ổn!&#8230;”.</i></p>
<p><i></i></p>
<p>Nghe đến mỡ và mật vì đây là hai vị thuốc trị liệt dương. Quên khuấy gã là anh nhiêu, anh khóa, mồm mép tôi như tép nhảy về rượu chữa bá bệnh, tôi như mắc bệnh từ ám Hán tự với chữ “y” là thuốc, trong chữ “y” có chữ “tửu” là rượu đứng trước. Tôi hú họa gã bài cao đơn hoàn tán về thuốc rắn: <i>Ai bị phong thấp, ngâm sẵn hổ mang. Ai bị da vàng, tìm rượu hổ lửa. Đàn bà không chửa, chuốc lấy mang bành. Đàn ông hoạt tinh, đừng quên rắn ráo</i>&#8230;. Tôi sơn đông mãi võ rằng con bìm bịp…có võ, nó bay xuống cắp rắn con bay lên cao thả xuống là rắn…chết tươi. Tôi hươu vượn là hai loại kỵ nhau như nước với lửa, lấy liệt hỏa mà khu trừ hàn tà để chữa bệnh…phong thấp. Tôi múa may thêm âm với dương là chân âm toàn thịnh, chân dương hữu khuy…là để chữa bệnh…hoạt tinh. </p>
<p>Gã nhìn tôi bằng nửa con mắt rùa và nhẹ nhàng lất phất rằng bìm bịp là chim rừng nhỏ hơn gà, lông nâu, đầu đen, đuôi dài, kêu…“bịp bịp”. Khi bị gẫy chân, nó tự chữa trị lấy bằng cách đi kiếm lá bìm bìm hình chân vịt hay lá bìm bìm…xẻ ngón về đắp chân. </p>
<p>Gã lắc đầu, ngỡ gã lắc đầu về con bìm bịp bị gãy chân. Hóa ra không, gã lại âm ỉ:</p>
<p><i>“…Không bất ổn sao được khi cả nhà tôi từ ông già cho đến má tôi đều tỏ vẻ ngạc nhiên là không biết tại sao với hơn mươi cây số hương lộ, không chỉ đường cho con chó mẹ đi mà nó tìm ra được căn nhà nơi đứa con của nó bị &quot;bắt cóc&quot;. Chẳng lẽ nó đánh hơi mũi tài tình đến như thế? Kế tiếp là nó phải vượt ruộng, vườn, khe rạch mỗi sáng cả đi lẫn về để cho con Đốm con bú, thử hỏi sức người cũng phải tiêu điều huống hồ là súc vật. Thế mới biết cái tình mẫu tử con vật cũng thật là thảm sầu thâm sâu! Sau đó nó chạy ngược về thôn trong. Được mấy ngày, một buổi sáng, anh em tôi ra gốc xoài nhưng không còn thấy bóng dáng con chó mẹ đâu nữa. Người chủ cũ cho hay là nó đã biệt vô âm tín! Chúng tôi biết nó đã thật sự gặp chuyện chẳng lành ở…quán thịt chó đâu đó…”.</i></p>
<p><i></i></p>
<p><i></i>Không thông hanh lắm về ông bạn mới cáo cạnh này nên tôi phun ra chuyện chó Bắc, chó Nam, đến con rắn chữa bệnh…hoạt tinh. Qua những chuyện ấy tôi mới ngớ ra gã là Nam Kỳ miệt vườn, tạng người nhạt hoen hoét như nước lã ao tù như đã diễn tả ở trên. Nhưng cung cách uống rượu rất…nhất cổ nhì quái. </p>
<p>Gã bày hai cái chén Tống trước mặt. Cái cổ ché có hai cái tai là cái quai. Hai tay gã bưng…hai cái tai lên. Vô tửu bất thành lễ, gã rót cho tôi trước, cho gã sau. Cái chén Tống “ngồi” trước mặt gã. Gã khẽ cúi đầu xuống cái chén hít nhẹ. Một động tác gần như, thoáng như có một chút nào trang nghiêm, kính cẩn của một tửu đồ đi tìm vô ưu, vô thường của tửu đạo. Sau đấy, cũng hai tay, gã đưa cái chén ngang miệng, mặt mày trầm ngâm, đầy rẫy tĩnh không, tĩnh lặng. Đang đăm chiêu qua chén rượu. Bất chợt gã ngửa cổ ực một cái nhẵn thín như voi uống thuốc gió, như nghi lễ uống trà của trà đạo, của thiền sư. Rồi…</p>
<p>Rồi khà một cái, vẫn khuôn mặt vô ưu, vô minh ngập u u minh minh, và trầm ngâm:</p>
<p>“…<i>Con Đốm con bây giờ lâm vào cảnh mồ côi. Nhà nghèo nên đụng gì ăn nấy,<em> </em>càng ngày càng đèo đẹt nhỏ thó, trong khi các con chó hàng xóm cùng bầy lớn lên phổng phao thấy rõ! Thiếu tình thương của mẹ, Đốm càng ngày càng bị ăn hiếp, càng quắt lại không sao lớn nổi. Không được mẹ liếm láp cho thường xuyên, lưng nó bị đốm ghẻ nhỏ biến thành lác. Tháng ngày qua đi, chó con hàng xóm chúng bắt đầu ăn cháo thêm bù vào ngoài khoản cai bú sữa mẹ. Nhưng thảm thương cho Đốm chẳng bao giờ nó được bữa no, vì bị lũ đồng loại lớn con đẩy bắn ra ngoài khi Đốm len vào xin ăn. Những lúc ấy nó hận lắm, rít lên trong cổ những điều nguyền rủa, nó thề rằng nó sẽ trả thù…”</i></p>
<p><i></i></p>
<p><b></b>Nói cho cùng, tôi cũng là thằng mềm môi uống rượu mẻ bát thiên hạ, nhưng thú thực chưa được nếm cái thứ rượu quái quỷ này đây bao giờ. Gã hỏi tôi uống…đạt không? Tôi gật gừ. Và gừ gật tiếp là gã nói chuyện rắn trong lỗ cũng phải bò ra. Gã im ỉm. Lặng im. </p>
<p>Chơi vơi trong cảnh chiều, cái đầu tôi bồng bềnh trên sóng nước của con sông trước mặt với <i>trừu đao đoạn thủy, thủy cánh lưu, cử bôi tiêu sầu, sầu cánh sầu</i>. Buồn buồn tôi nhấp từng ngụm nhỏ. Gã bê cái ché rót vào chén, vừa rót từ từ gã vừa liu điu tiếp:</p>
<p><i>“…Sau nhiều ngày, nằm gác mõ buồn hiu suy nghĩ, Đốm bèn &quot;ngộ&quot; ra rằng, muốn trả thù thì phải lớn con. Nhưng sữa mẹ không được bú, cháo chó cũng chẳng được ăn, thì ăn gì mà lớn!? Đốm lang thang trong sân, thấy cu Tí em tôi đang làm việc bài tiết, đói bụng quá, Đốm làm liều, làm tới xơi trọn chỗ cu Tí vừa thải ra. Đó là lần đầu tiên Đốm ăn bẩn, người ta bảo cái gì lần đầu cũng khó khăn, còn những lần sau thì quá dễ. Miệng Đốm đã quen ăn bẩn, thế là từ đó, Đốm xục sạo khắp nơi, chỗ nào có người bài tiết là Đốm làm nhiệm vụ dọn bãi, tranh thủ cho đầy ruột. Mà không hẳn là phân người, đến phân gà, phân heo Đốm cũng không từ. Vì ăn bẩn quá, bụng Đốm càng phưỡn ra với cả núi giun sán. Có nhiều ngày Đốm ói ra mật xanh nanh vàng, kinh khiếp không thể chịu nổi…”.</i></p>
<p><i></i></p>
<p><b></b>Kể đến đây, gã khuân chén rượu làm cái “chóc” sạch banh như uống nước rau luộc. Rồi gã mới hừ một cái rằng <i>kiến </i>trong lỗ cũng phải bò ra vì…<i>rắn</i> không có tai. Mặt tôi như bát tiết canh sũng nước và vểnh tai ra nghe chuyện rắn rết bò vào, cóc nhái nhẩy ra:</p>
<p>“…<i>Thân thể Đốm hôi hám, lông </i><i>x</i><i>ơ xác bờm xờm, lũ chó hàng xóm càng tránh xa. Mỗi khi Đốm đến bên bà già tôi, nó bị bả xua đuổi dữ dội. Đốm hận đời, hận cả loài người hận cả loài chó&#8230;những mặc cảm thua thiệt từ thuở thiếu thời đi sâu vào tiềm thức nó. Nó quẩn quanh với dự định báo thù, nhưng một mình sức yếu, Đốm chẳng làm gì được ai trong gia đình tôi cả. Mỗi khi ai trong gia tộc Đốm đi ngang qua ả, ả nhe răng trợn mắt ra gầm gừ đe doạ&#8230;ngày tháng trôi qua, mặc cảm cũng đi theo Đốm vào tuổi xuân thì cùng hoa lá cành. </i></p>
<p><i></i></p>
<p><i>Dù gì thì Đốm cũng vẫn là động vật bình thường, nó vẫn mơ về một anh chó đực đẹp trai để cùng nhau mơ mộng duyên đầu. Nhưng anh chó đực nào cũng xa lánh vì cái thân thể nhỏ thó gầy gò và hôi hám vô cùng tận của Đốm. Những khát khao xuân tình không được thoả mãn, Đốm càng hận đời đen bạc, hận kẻ bạc tình..”.</i></p>
<p><i></i></p>
<p>Vừa lúc đĩa chả chìa vàng ươm, thơm điếc mũi đưa ra. Chẳng thiếu <tt>lá mơ xanh tím, lát củ riềng thái mỏng trông thật bắt mắt</tt>, làm lục phủ ngũ tạng cứ nhiễu nhương cả lên, vì là trông đĩa thịt thấy đẹp một cách…điêu đứng. Tôi thầm nhủ nào có ăn không thì bảo nhưng nghĩ sao lại thôi vì dẫu gì gã cũng là khách nhậu của tôi hôm nay thuộc diện chó đen quen ngõ. Cứ như thằng bạn đời tôi tiến cử thì t<tt>rời nắng chó trắng, trời mưa chó vàng gã làm tuốt luốt</tt>. Thảo nào gã chẳng vội gì, nhón một lá húng thật tươi bỏ vào miệng nhóp nhép. Gã nheo mắt nhìn tôi ra cái điều trước sau…chó nào chẳng ăn cứt, ốc nào chẳng ăn bùn. Và rì rầm cứ như tụng kinh trước khi trai tịnh:</p>
<p><i>“…Ở đầu thôn có một con chó già, đã bị xà mâu lâu năm, nay nó đã yếu lắm, mắt luôn đổ ghèn và đi cà nhắc. Có lần Đốm ghé qua thấy vậy, bèn nhủ lòng là: &quot;Có lẽ duyên phận mình buộc vào chỗ này đây!&quot; Và quả như vậy thật, khi có những dấu hiệu của giống cái xuất hiện, Đốm đã đến nằm bên lão chó già kia gạ gẫm dâng hiến. Lão chó già lâu ngày bị bỏ rơi, cô đơn tận cùng, nay của &quot;giời cho&quot; nên rất vui mừng đón nhận cảnh giới ấy. Đốm tự dưng mượt mà hẳn ra, còn lão chó già thì dường như trẻ lại, lão thương Đốm vì Đốm đã đến cứu nguy đời sắp tàn phai của lão! Đốm lớn lên và trông &quot;đẹp gái&quot; ra trông thấy. </i></p>
<p><i></i></p>
<p><i>Ông già tôi cưng nó hơn cả tôi với thằng Tý vì khi ông say sưa chỉ có nó làm bầu bạn. Nó quấn quít bên ông như hai cha con, còn tụi tôi phải ngủ với má vì không chịu nổi cái mùi rượu nồng nặc đến chết người. Ác thay một năm ba trăm sáu mươi lăm ngày thì ông say đến hết một nửa, bữa say bữa tỉnh khiến ba mẹ con phải ra bờ rào trải chiếu ngủ mặc cho gió sương, mưa bão hoặc rắn rít, bò cạp đêm hôm có bò tới làm thịt nên cũng đành chịu!&#8230;”</i></p>
<p><i></i></p>
<p><b></b>Chòm chèm qua “rao” đầu. Gã rót cho cả hai. Bắt chước gã, tôi cũng hai tay thành khẩn bế cái chén Tống ọc một quả ra trò như cụ Phan Thanh Giản uống thuốc độc. Gã hỏi tôi sao cứ uống mà không nói chuyện gi sất cả. Như gãi đúng chỗ ngứa, tôi ực tiếp cữ thứ ba. Quả có khác, tôi thấy cái say lừ đừ từ chân tóc bò xuống tận gót chân. Xong, mượn dịp này tôi ư hử sổ nho: <i>tửu phùng tri kỷ thiên bôi tửu, thoại bất đầu cơ, bán cú đa </i>ra cái điều gặp bạn như gã rượu uống bao nhiêu cũng thiếu và nếu tôi có nói nửa câu cũng là nhiều. Sợ gã hiểu ra là <i>túy ông chi y bất tại tửu</i>, tôi nói chữa <i>tửu vô lượng, bất cập loạn.</i></p>
<p>Mà gã hiểu lầm thật, ngỡ tôi nhắc khéo là …hết rượu, gã ới thêm cái <i>Cửu xà nhất điểu</i>. Mắt tôi tròn dấu hỏi vì bộ rắn chùa hay sao mà nhiều quá thể, lại thêm chín con nữa. Gã bâng quơ rằng cứ bỏ ba con của thập nhị xà là xong ngay. Và rắn rết như thế này đây:</p>
<p><i></i></p>
<p><i>“…Một năm, ruộng lúa bị mất mùa, chẳng ai gặt hái được gì nên cái nghề sửa xe đạp trong làng của ông già tôi cũng sa sút theo, ít ai còn muốn sửa xe đổi lúa nữa. Ông già tôi phải chịu đựng bữa đói bữa no, có lúc ăn cháo thay cơm, có lúc ăn rau thay cháo. Cuộc đời của con Đốm cũng thăng trầm theo cái vận mạt của chủ nhưng không bao giờ thấy nó thở than, tru tréo. Ngược lại ông già tôi dù đói cách mấy vẫn không có ý nghĩ làm thịt con Đốm mặc dù nó đã lên hai tuổi và dư đủ cho ông già tôi có một tuần xẻ thịt nhắm rượu. Đủ để biết cái tình thương ông là dường nào, có khi ông còn nhịn đói chừa cơm cho nó ăn nữa là khác!&#8230;”</i></p>
<p>Gã ngừng kể lể…Tôi thấp thỏm đợi vì cứ ngỡ khi gã kể lể đến khúc “<i>dư đủ cho ông già tôi có một tuần xẻ thịt nhắm rượu</i> “ thì thể nào gã cũng làm vài miếng chả chìa vàng ươm, đang ngậy thơm điếc mũi. Thế nhưng không, gã nhẹ nhàng nhấc chén cửu xà nhất điểu lên với một phong thái rất ư Lão Trang: Khoan thai xoay xoay cái chén, đưa lên từ từ và cúi đầu xuống nhẹ hít hà…Đợi hơi rượu lởn vởn, thảnh thơi chui tọt vào lục phủ ngũ tạng, tim gan tì phế rồi điềm đạm từng ngụm nhỏ. Mép khẽ nhếch câu nho phong: <i>tửu phùng tri kỷ thiên bôi thiểu.</i> Gã thong thả đưa cái chén xuống. Cùng lúc mồi điếu thuốc, lờ đờ nhả khói và nói xa gần, xa vắng với tôi là “<i>thiên bôi thiểu</i>” chứ chẳng là “<i>thiên bôi tửu</i>”. </p>
<p>Tiếp, khaon thai đưa cái chén Tống lên ngang miệng và cũng từng động tác chậm chạp ấy, không thừa không thiếu. Gã uống lặng lờ như một cái bóng, càng uống càng tỉnh, mặt không hề đổi sắc. Gã vật vờ uống, càng về chiều, hình như càng đắm chìm trong khói thuốc lá dầy đặc và chẳng quên câu chuyện dở dang:</p>
<p><i>“…Nhưng với thời gian, tính Đốm càng ngày càng hung hãn, nhất là khi nó thai nghén và sắp sửa ở cữ, nó cắn răng nguyền rủa lão chó già vô cùng độc địa. Với tính khí thất thường của Đốm, lão cũng không chịu nổi, mấy lần lão tính bỏ đi, nhưng nghĩ tình xưa nghĩa cũ nên ráng cắn răng chịu đựng. Đốm dù bụng mang dạ chửa, song vẫn thúc lão chó già gây hấn củng bạn bè gần xa của Đốm. Con Khoang là kẻ đã từng bị vợ chồng Đốm bề hội đồng cắn gẫy chân, toạc cổ, may mà có cu Tý cứu kịp. Bầy chó hàng xóm kiềng mặt vợ chồng Đốm, không muốn nhận vào làng chó, vì chúng đi đến đâu là nơi đó có chiến tranh!…” </i></p>
<p><i></i></p>
<p>Nghe gã kể lể “<i>ông già tôi dù đói cách mấy vẫn không có ý nghĩ làm thịt con Đốm”</i> tôi để cái đầu đẩy đưa: Rằng tôi là thằng ăn thịt chó lờn môi với <tt>mưa nắng làng nhàng chó nào cũng được</tt>. <tt>Vừa lúc nhà hàng bầy lên đĩa sườn nướng từng miếng bằng ngón tay, vừa nạc vừa mỡ, thịt như còn xèo xèo cháy chín vàng như nghệ, mỡ giỏ xuống bốc khói thơm điếc mũi. Ấy</tt> vậy mà gã cũng chưa chịu đụng đũa cho. Tôi đành bấm bụng ngồi đợi gã…nhai xong chuyện<tt>. Gã thả rong chuyện chó cũng giận hờn, cũng tham, sân, si này kia. Tôi thở ra nghĩ quấn rằng gã chỉ là tên uống rượu bát nháo, rượu vào lời ra rồi bốc nhằng cho sướng miệng thế thôi và gã vén môi chuyện ghen tương của chó mới ngược đời:</tt><tt></tt></p>
<p><tt></tt></p>
<p><i>”…Một bạn gái của Khoang, Mực là một mụ chó nạ dòng thì nghĩ khác, mụ cũng đã từng bị Đốm đuổi theo cắn một lần vào mông nên mụ hận Đốm lắm, mụ rắp tâm triệt hạ Đốm cho bằng được. Chuyện trớ trêu là lão chó già kia có thời là…”người” tình của mụ Mực, mụ bèn dùng mưu &quot;rút củi đáy nồi&quot;, nên tìm cách đến gần lão chó già khi có thể được. Ngày kia, lão chó già cãi vã với Đốm bỏ ra ngoài xóm rong chơi, được thể Mực bèn làm quen và quyến rũ lão. Lão mừng rỡ theo Mực. Sau cơn giận, Đốm tức tưởi đi tìm chồng, thì than ôi &quot;kim rơi đáy bể biết tìm nơi đâu?&quot;, Đốm chạy lồng lộn đầu sân cuối xóm, bày chó làng nhìn Đốm như con chó biết ghen tương với cặp mắt long sòng sọc, rãi rớt chảy hai bên khóe miệng.</i></p>
<p><i>Cái cảnh đầm ấm giả tạo giữa vật như người này kéo dài hơn hai năm. Một bữa nọ sư cụ chùa làng cách nhà tôi dăm cây số quá bộ đến thăm, thấy con Đốm</i> xơ xác <i>bèn đem lòng trắc ẩn muốn xin về nuôi. Tôi nghĩ con Đốm được ở giữa cảnh chùa thanh tịch, nhưng đầy ắp tình thương của sư cụ, cũng như được chăm sóc cơm nước no đủ mỗi ngày, con Đốm thế nào cũng được hưởng một cuộc sống ngon lành, thế nhưng ông già tôi không chịu…”.</i></p>
<p><i></i></p>
<p>Tôi nhấp nhổm định gắp một miếng thịt nướng thơm nhẫy trước mặt, kèm theo lá mơ chấm với mắm tôm chanh đường <tt>vừa chua vừa mặn, thì giời đất ạ, tôi nghĩ là ngon quên chết. Vậy mà </tt>gã vẫn nhịn như nhịn cơm sống, vẫn chưa chịu khua đũa đụng bát. </p>
<p>Ngồi đồng đã lâu, tôi nhấc chén rượu hỏi gã 12 con rắn với 9 con rắn thứ nào ngon hơn. Gã gật gật cái đầu nhấc chén lên. Tôi nghĩ thầm gã Nam Kỳ này hơi…Không để tôi nghĩ tiếp, gã thủng thẳng với chuyện con chó nhà tôi…“ăn chay” nào có hay ho bằng chuyện con chó ở chùa của ông già gã qua Tết Mậu Thân:</p>
<p><i>“…Sau Tết Mậu Thân, giặc cộng tràn về làng và đánh nhau với quân đội quốc gia. Chòm xóm cho hay con Đốm bị đạn lạc nằm sau gốc cây xoài, khi cả nhà đi di tản xuống Sài Gòn. Cuối cùng nó bị ném ra bờ sông, hơi nước bốc lên khiến Đốm hồi tỉnh lại, nó nằm rên lên những tiếng bi ai, cuộc đời của nó như khúc phim quay qua đầu, nó oán hận loài người đã đẩy nó vào bước đường làm ma không chồng. Nhưng nó chỉ bị thương và cái thai bị hư được đẩy ra ngoài. Nó ứa nước mắt nhìn dòng sông, dòng đời lững lờ trôi qua mõm nó. </i></p>
<p><em></em><i>     <br />Chợt có tiếng bước chân rất nhẹ đi đến bên Đốm, nó thấy một người mặc áo nâu nhìn Đốm, và ẵm nó lên. Lần đầu tiên trong đời Đốm thấy có cảm giác không phải hận thù, mà là ấm áp trong lòng! Đốm không biết cảm giác gì! Vì cả đời nó chưa biết thương yêu bao giờ đâu? </i><i></i></p>
<p><i>     <br />Người ẵm Đốm không ai ngoài sư cụ chùa làng, sư cụ mang Đốm về Tự Viện. Sư cụ tự tay mổ vết thương và gắp đạn ra cho Đốm và băng bó khâu lại vết thương cẩn thận…”.</i></p>
<p><tt>Đảo mắt ra ngoài bờ sông, gió sông hiu hiu thổi…Tôi ung dung tự tại hết nhìn đến ngắm những lát thịt cháy vàng mỏng, cắt xéo như miếng chuối xanh, ngào ngạt thơm phức. Thấy cả nạc, mỡ, sụn, gắn bó với nhau những nồng ấm, thân thương của một cõi đi về. </tt></p>
<p><tt></tt></p>
<p><tt>Bốc lên, tôi nói chữ với gã </tt>uống kiểu <i>chén thù chén tạc</i> là uống hai người: chủ và khách. Bên chủ là bên &quot;tạc&quot; có nghĩa là…chúc mừng. Bên khách là bên &quot;thù&quot;. Chẳng thù hằn gì nhau đâu mà…bắn nhau để con chó của ông già gã bị thương, mà có nghĩa là…uống đáp lại. Thế là tôi…<i>thù</i> ngay. <tt>Ực thêm dăm chén, thấy ngất ngây những khoảnh khắc của tang bồng hồ thỉ. </tt>Hết chén này qua chén khác, mặt tôi như quả mận chín, khổ một nỗi gã vẫn chưa chịu gắp mồi đưa cay. Sau vài cữ nữa, thật sự tôi đã thấy hơi men bốc khói trên đầu. Gã thì không, đôi mắt lặng lờ nhìn vào cái chén Tống hồi lâu rồi làm một hớp hết nhẵn <i>ba vạn thế giới một đáy cốc, vạn kiếp luân hồi một sát na.</i></p>
<p><i></i></p>
<p><i></i>Xong, gã da diết chuyện tang thương ngẫu lục của con Đốm nấp bóng thiền môn:</p>
<p><i>“…Mười ngày sau Đốm khỏi, nhờ tâm từ bi của sư cụ. Nó chẳng còn chỗ nào để về, nên ở lại chùa, hàng ngày sư cụ ăn gì thì chia cho nó một phần…Kể từ khi con Đốm bị đổi chủ thì ông già tôi lại đâm ra mắc bệnh tương tư. Không phải ông tương tư người đẹp nào trong thôn để thay má tôi vì chẳng ai thèm để ý đến ông già say, mà thật ra là ông tương tư con chó. Ông nhớ thương nó như người ta thương nhớ một người yêu, mặc dù quanh ông còn có hai anh em tôi quấn quít hàng ngày nhưng ông vẫn cảm thấy hết sức cô đơn. </i></p>
<p><i></i></p>
<p><i>Ông không là một nhà tu nhưng y hệt một nhà tu, thường ngồi xếp bằng trông như…”thiền”. Có khi tụi tôi thấy ông khóc một mình, không biết vì ông nghĩ ngợi cái tình cảnh dở khóc dở cười của gia đình hay vì ông quá thương con chó. Nhưng tôi nghĩ chắc ông nhớ con Đốm vì nhiều lần tôi thường nghe ông nói &quot;Phải chi tao còn con Đốm, tao sẽ đỡ buồn hơn&quot;. </i><i></i></p>
<p><i></i></p>
<p><i>Từ đó ông sinh ra cái tật đi câu cá để giải sầu. Mỗi lần ông xách cái cần với cái giỏ đi câu là tự nhiên ông thơ thới hân hoan mặc dù có lúc về với cái giỏ không. Tụi tôi ban đầu lấy làm lạ nhưng sau đó hỏi ra mới biết ông đã gặp được…con Đốm…”.</i></p>
<p><i></i></p>
<p>Nghe đến câu…<i>ngồi xếp bằng trông như…”thiền” </i>, cái miệng tôi nhóp nhép rằng gã kế chuyện như…vẽ rắn thêm chân<i> </i>ấy. Gã khựng lại. Lại lơ đãng nhấp một ngụm nhỏ. Khứa đây diễn xuất hơi nhiều, lúc thì ực, khi thì nhấp, chỉ thiếu cái ho khan là có bài bản. Nếu gã có phải vén môi dường như có một chút nào lơ là, buông thả. Tôi vừa nghĩ vậy và cũng vừa định chấm miếng thịt nướng vào bát mắm tôm ngập ớt đỏ…Chưa cầm cái đũa lên nhét miếng thịt vào kẽ răng ba ngày vẫn còn thơm…Vì…</p>
<p>Vì tôi <tt>lại bù đầu tóc rối chuyện con Đốm về chùa:</tt><tt></tt></p>
<p><i>“…Số là con Đốm từ ngày về ở với nhà sư, nó quen với cảnh chùa nên không về lại nhà tôi nữa. Ông già tôi tìm cách đi câu bên dòng sông ở phía sau chùa để có cớ nhìn mặt được con Đốm. Con Đốm quyến luyến chủ cũ nên quấn quít bên ông gìa tôi, nó hôn, nó liếm, nó nhảy phóc vào lòng ông già như đứa bé con tìm vú mẹ. Thế là ông già tôi tự nhiên tìm lại được niềm vui. Ban đầu, mỗi lần đi câu ông thường về nhà sớm nhưng về sau ông ở lại câu khuya hơn, nhất là những đêm trăng thanh gió mát, với bầu rượu bên cạnh và con chó cưng, ông thấy đời không còn gì đẹp bằng. Ngồi thỉnh thoảng móc mồi câu, quăng cái tủm xuống nước, đàn cá đua nhau giựt giựt cái phao, lúc nổi lúc chìm, con Đốm phụ họa nhảy lởn vởn, sủa cá sủa trăng, trông cả hai chẳng khác nào đôi bạn thân tình nhất.</i></p>
<p><i></i></p>
<p><i>Lúc đầu con Đốm sợ sư cụ nên chỉ tìm cách trốn ra bờ sông mỗi chiều rồi lại trở về chùa. Sau đó nó bạo gan hơn, mon men theo ông già tôi về đến tận nhà, chơi qua loa với tụi tôi chừng nửa tiếng đồng hồ rồi quay về, để lại nỗi vui mừng hụt nơi anh em tôi. Mấy ngày sau đó, nó bất kể sư cụ với cơm lành canh ngọt ở chùa, về nhà tôi ở luôn. Báo hại sư cụ mỏi mắt đi tìm mới gặp nó. Nhìn thấy sư cụ, nó có vẻ thẹn thùng cúi gầm mặt xuống, chẳng tỏ vẻ gì mừng rỡ cả. Về sau ông già tôi thấy áy náy nên đành phải mang con Đốm trả lại chùa. Sư cụ vui vẻ nhận, nhưng mấy chú tiểu muốn cho chắc ăn nên xích con Đốm lại để canh chừng ở một góc bếp, sát bên cây thị quanh năm nở hoa trái vàng óng thơm lừng…”.</i></p>
<p><i></i></p>
<p>Gã thò tay vào cái đĩa mồi và miệng thả rong là…vẽ rắn thêm chân là của Tầu, còn Ta là …vẽ rết thêm chân. Tôi cũng khựng lại như gã vừa rồi. Nhưng mắt còn bận bịu theo ngón tay gã nhúm…cái lá mơ và để đó không chịu chém to kho mặn ngay. </p>
<p>Tay tung tẩy cái lá mơ, giọng gã đều đều: </p>
<p><i>“…Bẵng con Đốm không được về thăm nhà nữa. Ông già tôi ngày càng già, không đi câu xa ở bờ sông nên không còn gặp nó. Có thể vì bị giam lỏng nơi cảnh chùa u tịch nên nó chẳng thể nào về, có thể nó biết thân phận nó là của chùa nên chẳng dám làm phiền ai. Cũng có thể nó đã già như ông già tôi và chết rồi không chừng. Riêng anh em tôi bây giờ tôi đi học ở Sài Gòn, em tôi đi lính, ít có dịp về lại quê xưa chỉ trừ khi Tết nhất đến, nên cũng chẳng để ý gì chuyện con Đốm nữa. Một trang tình sử tưởng đến đây đã hết, nào ngờ&#8230;</i></p>
<p><i></i></p>
<p><i>Xuân năm ấy, đúng mồng một Tết, trong lúc anh em tôi đang quây quần trong nhà đón xuân lúc đất trời vừa ửng nắng mai, bỗng nhiên con Đốm già từ đâu tung cổng vườn khép kín đi vào ngoe nguẩy đuôi mừng rỡ. Vẫn bộ lông mềm mại nhưng không dấu nổi màu sắc tàn phai vì mưa nắng. Gương mặt con Đốm tuy vẫn còn khuất trong đám lông rậm rịt nhưng vẫn không che kín được lớp da nhăn, nhất là ánh mắt không còn tinh anh như ngày trước nữa. Ông già bà già tôi bảo nó xông cửa đầu năm chắc là may mắn. Cả nhà ai cũng ngạc nhiên vì không ngờ nó chọn đúng ngày mồng một Tết mà về sau hơn mấy năm xa vắng…”. </i></p>
<p><i></i></p>
<p>Đêm khuya thoi thóp, khách khứa lác nhác vắng dần. Cạn lưng chén, đầu tôi như bốc khói. Khi bốc lên rồi mỗi thằng một thói, thằng thì nhè, thằng thì thăng. Riêng tôi thường để hồn đi hoang phiêu phiêu một cõi. Quán vắng nên trống trải, ánh đèn trở nên ấm cúng. Nhìn xuống chén Tống chỉ còn một nửa, lắc lắc cái chén, rượu óng ánh như sương khói. Trống vắng đến xe lòng, ai chẳng có những giây phút lướt khướt, liêu xiêu…Làm như thân thiết, tôi cảm hoài, cảm khái với gã <i>viễn ly vô lượng kiếp, bất xích nhất sát na</i>, và ngứa mồm giảng cho ông đồ nát chữ là bằng hữu dù xa cách nhưng thật gần. Gã cũng đăm đăm với cái chén, tay xoay xoay. Làm như muốn tránh né cái cảnh <i>tương kiến thời nan biệt diệc nan</i>, là gặp nhau đã khó, giã biệt nhau còn khó hơn. Thế nên gã xuội lơ trông thấy:</p>
<p><i></i></p>
<p><i>“…Tôi ôm con Đốm già vào lòng vuốt ve, và qua nó, biết được cuộc đời đã đổi thay nhiều lắm. Nó ở nhà tôi chơi hết một ngày mùng một Tết rồi lại trở về chùa suốt năm ở đó.</i></p>
<p><i>Xuân năm sau, anh em tôi bị kẹt không về thăm nhà được. Bà già tôi cho hay mồng một Tết, con Đốm lại xông cửa về thăm chủ cũ thêm một lần nữa. Tôi thấy lòng bâng quơ rung động, tự nghĩ như con Đốm có mối liên hệ tiền kiếp nào với gia đình tôi, sao không nó cứ đợi đến ngày mồng một Tết lại về? Ông già tôi ngày càng già, bệnh tật liên miên vì chứng xơ gan do rượu hoành hành nên lúc nào cũng tưởng nhớ đến con Đốm. Con thú già bí ẩn, mỗi năm chỉ gặp mặt nó có một lần vào ngày Tết.</i></p>
<p><i></i></p>
<p><i>Nghe nói hàng đêm con Đốm nằm nghe sư cụ tụng kinh Địa Tạng, Lăng Nghiêm, Pháp Hoa &#8230;Lời kinh như thấm vào trong não tuỷ của nó, những mặc cảm của nó từ xưa dường như tiêu tan hết. Đốm say tiếng kinh, mê ngửi mùi hương trầm thoảng nhẹ trong gió. Đốm thường nằm sấp trên đất, hai chân trước chấp lại đưa ra trước mõm như người ta lạy Phật. Khách lễ chùa đồn nhau về con chó nghe kinh, một đồn mười, mười đồn trăm, chẳng mấy chốc cả vùng Trung Chánh, Bà Điểm đều biết chuyện, biết tên Đốm! </i></p>
<p><i></i></p>
<p>Tôi há hốc mồm ra nghe. Trong khi gã bình thản đưa cọng lá mơ vào miệng nhay nhay. Gã hớp thêm ngụm rượu như cá riếc tớp bong bóng nước. Tôi trộm nghĩ phong cách gã uống rượu đúng là một thiền nhân, đưa nho ẩm như một cái thú tiêu daọ của trà đạo vào tửu đạo. Lúc trầm mặc khi hào sảng tửu trản với <i>bồ đoàn linh nhân dã</i>, hay tửu uyển với <i>tửu linh nhân viễn</i>. </p>
<p>Trong khi ấy mặt gã như nước ao tù và ậm ừ:</p>
<p><i>“… Cho đến một đêm, Đốm nằm mơ thấy có tiềng nói với nó rằng: &quot;Nghiệp làm chó của ngươi đã trả hết rồi, mai ngươi xả bỏ thân súc sanh để hoá kiếp làm con người tử tế! Có điều khi làm người ngươi phải tiếp tục tu hành, đừng ăn càn nói bậy gây nên khẩu nghiệp, thì sẽ được hạnh phúc tự tại. Vì kiếp trước ngươi gây nghiệp quá nhiều nên kiếp này quá nhiều khổ ải! Nhưng nhờ có được sư cụ trụ trì tụng kinh rồi hồi hướng cho ngươi, nên nay ngươi hết nghiệp chó rồi!&quot;.</i></p>
<p><i></i></p>
<p><i>Sáng hôm sau, mọi người thấy con Đốm nằm chết ở trước bàn Phật thật thanh thản! Mộ của con Đốm được người làng đắp ngay tại vườn chùa với hàng chữ trên bia: &quot;Văn Kinh Đốm Khuyển Chi Mộ&quot;, nghĩa là “Mộ con chó Đốm biết nghe kinh”.</i></p>
<p><i>Năm sau, ông già tôi cũng theo nó về suối vàng! Anh em tôi mồ côi cha kể từ dạo đó….”</i></p>
<p><i></i></p>
<p>Khi không bụng dạ cứ lao nhao làm như thiếu vắng giấc hương quan mẫn luống canh dài với…sườn chó nướng hay chả chìa<tt> thì sướng mê tơi ngày. C</tt>hả nhẽ nhong nhóng ngồi ăn một mình, tôi đợi gã cầm đũa…Trong khi chờ đợi, tôi định <tt>ngâm nga <i>bằng hữu thôi thà như mưa bay, thì chuốc cho vơi chén rượu đầy</i>.</tt>. Nhưng nghĩ lại chưa đủ thân nên quẳng hai câu thơ trong đầu ấy đi và định hỏi gã một câu hỏi, Cũng chỉ vừa định thôi&#8230; Thì…</p>
<p>Thì cũng vừa lúc gã cạn chén và cầm đũa lên gõ nhè nhẹ vào cái chén và thở ra…</p>
<p>Gã thở ra một tiếng dài: Kể từ ngày ấy, gã không…</p>
<p>***</p>
<p>Cũng đến lúc phải tương kiến thời nan biệt diệc nan. Ra đến cửa cả hai chụm đầu vào nhau đốt thêm điếu thuốc cho<tt> bằng hữu thôi thà như mưa bay</tt>. Que diêm lóe lên. Thôi thì cũng một lần nón lá áo tơi ra quán chợ, chén rượu men lành, lạnh ngón tay: tôi ghi lại dấu ấn về gã thì chỉ biết đó là một khuôn mặt như mọi khuôn mặt và không giống bất cứ một khuôn mặt nào đã gặp. Lửa tắt. Tất cả những gì tôi ghi nhận chìm vào bóng tối….</p>
<p>Xoẹt que diêm thứ hai. Tôi hình tượng lại khuôn mặt gã uống rượu thoáng như có vẻ thảnh thơi, nhàn nhã của một thiền nhân, một tửu đồ đi tìm vô ngã, vô ưu của tửu đạo. Và gần như trong tĩnh không, tĩnh lặng của thiền sư với trà đạo. Tôi hỏi gã câu hỏi vừa rồi, nhưng chỉ vừa định thôi thì gã cầm đũa lên gõ nhè nhẹ vào cái chén…Rít một hơi thuốc, nhả ra khói, tôi thắc mắc là cớ sự gì gã lại dùng…<tt>chén Tống uống trà để…uống rượu. </tt></p>
<p><tt></tt></p>
<p><tt>Ánh sáng tắt ngúm. </tt>Quán xá vắng tanh vắng ngắt, g<tt>ió máy heo hút ngoài sông gây gây lạnh. Búng que diêm xuống mặt nước…Gã quay qua hỏi tôi cũng vừa đủ nghe là làm sao tôi biết gã uống…rượu?</tt></p>
<p><tt></tt></p>
<p><tt>Và đầu óc tôi cứ rỗng rễnh thế nào ấy!</tt></p>
<p>Thạch trúc gia trang</p>
<p>Đông chí, Kỷ Sửu niên</p>
<p>Ngộ Không Phí Ngọc Hùng</p>
<p><i>Ghi chú : Bài viết được dựa dẫm vào những tác giả</i></p>
<p><i>Nguyễn Sĩ Nam, Nga Mi, Mường Giang, </i></p>
<p><i>Vũ Khắc Khoan, và Phan Tấn Hải.</i></p>
<p><em></em></p>
<p><em></em></p>
<p><i></i></p>
<p>©T.Vấn 2012</p>
]]></content:encoded>
					
					<wfw:commentRss>https://t-van.net/ng%e1%bb%99-khng-nn-l-o-t%c6%a1i-ra-qun-ch%e1%bb%a3/feed/</wfw:commentRss>
			<slash:comments>0</slash:comments>
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Ngộ Kh&#244;ng : C&#225;i nồi ngồi tr&#234;n c&#225;i cốc</title>
		<link>https://t-van.net/ng%e1%bb%99-khng-ci-n%e1%bb%93i-ng%e1%bb%93i-trn-ci-c%e1%bb%91c/</link>
					<comments>https://t-van.net/ng%e1%bb%99-khng-ci-n%e1%bb%93i-ng%e1%bb%93i-trn-ci-c%e1%bb%91c/#respond</comments>
		
		<dc:creator><![CDATA[Ngộ Không Phí Ngọc Hùng]]></dc:creator>
		<pubDate>Thu, 26 Jan 2012 02:29:49 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Góc Văn]]></category>
		<category><![CDATA[ngộ không]]></category>
		<category><![CDATA[rượu]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://7076e870b2.nxcli.io/?p=4958</guid>

					<description><![CDATA[( Đây là bài 2 trong lọat bài về Rượu gồm 4 bài của Ngộ Không Phí Ngọc Hùng.Bài 1 là “ Tửu Sư “, bài 2 : “ Cái nồi ngồi trên cái cốc “, bài 3: “ Nón lá áo tơi ra quán chợ “, và bài 4 : “ về Bài thơ [&#8230;]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<p><a href="https://t-van.net/wp-content/uploads/2012/01/clip_image00261.jpg"><img loading="lazy" decoding="async" style="background-image: none; border-bottom: 0px; border-left: 0px; padding-left: 0px; padding-right: 0px; display: inline; border-top: 0px; border-right: 0px; padding-top: 0px" title="clip_image002[6]" border="0" alt="clip_image002[6]" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2012/01/clip_image0026_thumb.jpg?strip=all&fit=429%2C306" width="429" height="306" /></a></p>
<p><em>( Đây là bài 2 trong lọat bài về Rượu gồm 4 bài của Ngộ Không Phí Ngọc Hùng.Bài 1 là “ </em><a href="https://t-van.net/?p=4719"><em>Tửu Sư</em></a><em> “, bài 2 : “ Cái nồi ngồi trên cái cốc “, bài 3: “ Nón lá áo tơi ra quán chợ “, và bài 4 : “ về Bài thơ Hồ Trường “. )</em></p>
<p>Qua những giao tiếp gần đây, tôi thường gặp nhiều “tuyển du học sinh” hoặc “nghiên cứu sinh” sang bên này du học, hay tu nghiệp. Trong số đó, tôi quen biết một gã phó tiến sĩ tốt nghiệp ở Ukraine làm việc cùng hãng với tôi. Gã là người Hà Nội nên nói chuyện rất thâm trầm và sâu sắc, thế nhưng qua giọng nói nghe có hơi…xa cách và nhất là khuôn mặt, tôi thấy…xa mặt cách lòng làm sao ấy. </p>
<p>Chẳng phải vơ đũa cả nắm, dường như họ đều có một mẫu số chung: Khi giao tiếp, thoạt đầu họ dè chừng giữ một khoảng cách đến…có khả năng phát chán. Nhất là đụng chạm đến những nhân vật có vấn đề nổi cộm trong nước, họ tìm cách tránh né vì nhậy cảm và tế nhị. Hỏi tới nữa, họ sẽ có những bài bản giống nhau là rất ít thật và rất nhiều giả. Nhưng với những chuyện cần nhờ cậy như mua xe, thuê nhà, tìm việc làm cuối tuần, hoặc làm thế nào để có vợ “thật” với giấy tờ “giả” thì họ vồn vã vồ vập. Xong chuyện, nếu có gặp nhau lại, thường là họ ngó lơ làm như chưa hề một lần quen biết. </p>
<p>Với nhiễu sự như thế, tôi đâm ra ngại ngùng và chợt nhớ lại chuyện của một người bạn cũ, mặc dù có hơi khác một chút…Chả là hiền nội nhí của tôi từ bé tí tới nhớn chỉ được ngắm nhà thờ Notre Dame, dòng sông Seine qua tôi…kể lại. Không thấy không tin, nên tôi phải cất công đưa hiền nội qua Paris nhìn tận mắt cho mãn nhãn. Một ngày nắng quái chiều hôm, hai vợ chồng lạc tới một tỉnh nhỏ hẻo lánh bên đường, thèm cơm Việt bèn dẫn xác vào…một tiệm Tầu để thành chuyện. Chuyện là quán hẹp và sâu hun hút, vài bộ bàn ghế xô lệch dọc theo hai bên vách dăm tấm ảnh nghệ thuật chụp cái ao và mấy con vịt con. Nói dối phải tội là quán không khá, cũ mèm cũ rích như vài món đồ cổ chai lọ là mấy chai bia 33, chai La de Con Cọp bầy trơ khấc trên kệ. </p>
<p>Vừa nhai mấy cọng mì dai nhanh nhách, tôi râm ran với hiền nội nhí tôi ở đây chỉ có món “đặc sản” dồi huyết, dồi xả và “bia của bổn tiệm” là tạm được. Thì vừa lúc đầu bếp, cũng vừa là chủ nhà hàng, đầu đội mũ trắng cao nghệu bước ra, nghe tiếng Việt liêu xiêu đầy hương đồng cỏ nội của vợ chồng tôi nên nhận ra là người đồng hương và tay bắt mặt mừng. Tôi tự giới thiệu tên tuổi, nhất là cái họ Tầu tầu, Lưu Bị chẳng ra Lưu Bị, Tào Tháo chẳng ra Tào Tháo, tào lao thì có và ngay sau đó là có cái màn hô hóan điểm mặt chỉ tên nhận ra nhau là bạn cũ trường xưa. Tiếp đến, sau hơn bao nhiêu năm những kỷ niệm học trò rơi rớt theo mưa nắng nên chẳng có bao nhiêu để hàn huyên…</p>
<p>Ăn xong ngáp dài, tôi hỏi cậu dọn bàn…cái nồi ngồi trên cái cốc. Vẻ mặt lạnh tanh, lạnh ngắt như tủ lạnh chạy đầy đường, cậu ta quay ngoắt vào trong bếp. Bạn cũ cười tủm cho biết cậu là người Hà Nội, nghiên cứu sinh hôm nay. Nhân đang rách chuyện, tôi kể cho bạn nghe mấy cậu sinh viên du học mà tôi từng giúp mua xe, thuê nhà có những cái đầu eo sèo, ẩn dật. Những khuôn mặt tiêu cực, xa vắng đầy hoài nghi, nghi hoặc trong cõi nhân sinh cùng thời thế, thời trước thế đấy, thời này thế đó vừa mới đảo qua ở trên. </p>
<p>Bạn đăm đăm nhìn mấy món đồ cổ trên tường và đăm chiêu: “Giống như cái chai bị rạn nứt kia, có người chỉ nhìn cái khiếm khuyết ấy như một một vết sẹo với một quên hai nhớ. Có người lại thích ngó nhãn hiệu La de Trái Thơm, như một dấu ấn nằm ẩn khuất trong tâm khảm của những ngày tháng cũ. Như chuyện của tôi đây chẳng hạn, thưa ông”. </p>
<p>Và bạn cũ dông dài với “chuyện của tôi đây chẳng hạn, thưa ông” như sau:</p>
<p>***</p>
<p>“…Chạy vạy thì tôi cũng chỉ là một người di tản buồn, buồn thảm thiết như ông. Nhưng khác ông, số tôi ruồi được tầu Đức vớt nên đành chọn nơi đây làm quê hương thứ hai. Mà dân tộc này đã từng nổi tiếng nắng nỏ với câu: Người Đức như viên gạch…nung. Như ông biết đấy, giống dân ấy vốn dĩ…khô sặc gạch, không chữ nghĩa nào trên thế gian này tả sao cho hết. Ngôn ngữ của họ cũng vậy, phụ âm nhiều hơn nguyên âm nên nghe như ếch nhái kêu. Năm đầu, thằng hàng xóm qua mời thằng “Vietnamesiche” là tôi đây ăn lễ Giáng sinh. Nó nói nghe òm ọp làm sao ấy, đến gần chót tôi mới vồ như ếch vồ hoa mướp được chữ “essen”. Bố khỉ, đời thưở nhà ai động từ chúng nhét tuốt luốt ở cuối câu, nghe lòi nhĩ mới hiểu ra “essen” nghĩa là “ăn”, nói chung thì khó nhai lắm. Ông chịu khó ráng mà nghe chữ Tây chữ u, vì chuyện ở xứ tôi thì buồn nhiều hơn vui, chuyện để mà cười được khí…hơi bị hiếm, thưa ông. </p>
<p>Ông chép miệng góp gió thành bão: Cũng vô tư thôi. Vô tư thế quái nào được! Đó là ông chửa biết đấy thôi, còn thảm sầu hơn nhiều vì nơi chốn tôi…tạm dung, tôi đặt tên là “Thị trấn bên đàng buồn hiu”. Vì đường phố chỉ có mỗi một ngã tư đèn xanh đèn đỏ đã được tắt ngúm từ đệ nhất thế chiến. Thêm một cái rạp hát, cũng chẳng sáng sủa gì hơn, nó đã được “phẹc mê bu tích” từ cuối đệ nhị thế chiến. Có một cây xăng chết tiệt, phải khom khom bơm bằng tay mệt nghỉ như bơm nước giếng đầu đình. Cũng có một quán cà phê đấy, mặc dù là miền đất lạnh tình nồng, nhưng cũng phất phơ với mấy cái quạt trần hai cánh, lừ đừ quay làm cảnh đuổi ruồi. Trước cửa ra vào, dọc theo hành lang là một dẫy ghế xích đu, khách thường ngày là ông già bà cả. Hôm nào ông thấy có ghế trống hoác, lơ đễnh cách mấy ông cố hiểu dùm tôi là: Mới có một con chiên vừa được ông thánh “Phê rô” vui vẻ gọi về chầu nước Chúa. Lẽ dĩ nhiên chẳng thể thiếu cái nghĩa địa, mà nghĩa địa thì có quái gì mà nói ngoài cái hàng rào sắt. Ngẫm chuyện thế gian thì nghĩa địa đâu cần phải có…hàng rào, thế nên chẳng dấu gì, tôi cứ phơi bụng ra với ông. </p>
<p>Điều tôi muốn thưa với ông là, dân cư ở đây không được đông đảo gì cho mấy. Tôi cũng chẳng rỗi hơi đâu mà đếm, đóan chừng đâu đó cũng chỉ khỏang gần hai nghìn người là hết đất. Sầu bi hơn nữa, trong đó lại có tôi. Mà ở cái thị trấn đèo heo hút gió này lại không có cái màn bán bia bọt và sách báo hở hang lỉnh kỉnh, thế mới…hốc. Tôi biết thế nào ông sẽ nói vuốt đuôi: Cũng thỏai mái thôi. Thỏai mái cái con khỉ! Vì lũ chúng tôi đây là ba gia đình Việt Nam thì thê thảm gì đâu! Như trạch bỏ giỏ cua, mắt trắng dã như phường mù dở với quần sắn móng lợn kẻ lột da, người lóc xương, bổ nháo bổ nhào làm thợ mổ bụng, sẻ thịt cho cái lò…lợn gần nhà. Chiều về mệt lử cò bợ, ngủ vùi, cuối tuần ngủ nướng cho thơm râu, nên ít khi gặp nhau. Cái lò lợn tênh hênh giữa… “.</p>
<p>Ông nheo mắt dấm dớ hỏi tôi: Vậy có gì vui chăng? Ấy là ông hỏi tôi đấy nhá:</p>
<p>“…Bước ra khỏi nhà là gặp ngay nỗi buồn chạm mặt, nèo neo là bìa ruộng của cái thị xã hoang vắng, nỏ mắt bẩy ngày không mò ra bò với trâu, chỉ thấy máy cầy, xe ủi đất. Đi mấy chục cây số có một làng Việt Nam có từ cuối thế chiến thứ hai. Ở thị xã tôi đây, thủ lợn, móng lợn, ruột non, ruột già, cứ ối ra. Vì theo lệ là cứ cuối tuần tụi tôi xách tới làng đầy bản sắc dân tộc để bán buôn, vừa để có tiền tiêu vặt, vừa để đàn đúm và ăn uống. Nói chung được mỗi món chả nướng của cụ Neugen là ngậy mùi, còn món bánh cuốn nhà Neulet thì nhão nhọet như bánh đúc. Tệ hại nhất là phở của lão Nouyen, lõng bõng nước, thịt nổi lều bều. Ông lỡ tống vào họng, ông cứ mặc tình hư cấu và hoang tưởng đó bánh canh gìò heo hay bún bò Huế cũng chẳng chết thằng Tây đen nào. Làm như quen thuộc mấy ông nhọ nồi gạch mặt này hồi tản cư, chạy loạn. Hay là ông muốn biết mấy người họ Ne, họ Nu trên là ai?. Ấy đấy, họ là lính thợ từ quê nhà qua giúp mẫu quốc. Chiến tranh chấm dứt, một số ở lại lập gia đình với người bản địa, để rồi nhớ quê cha đất tổ lập nên cái làng hẻo lánh này. Làng chỉ có nhăm chục nóc gia, cái bằng gỗ mái ngói, cái bằng gạch mái xi-măng, lụp xụp, cao thấp, úp lên nhau như chồng bát đĩa. Ngòai cái cổng làng bằng tre…Phi Châu là mát mắt. Trong sân, ngòai vườn, xi líp, váy, quần đùi, may ô phơi mắc la liệt, giống cờ đuôi nheo hội làng, trông cũng vui mắt đáo để, thưa ông. </p>
<p>Tôi biết ông đang đợi cà phê. Hay là kể chuyện thị xã tôi cho ông nghe nha:</p>
<p>“…Từ thị xã tôi ở lên tỉnh có một con lộ duy nhất, có hai “lên”…lên xuống vắng tanh vắng ngắt, ông muốn lái xe chạy “lên” nào cũng được nên chẳng có gì…lạ cả. Một buổi sáng, tôi nhòm ra đường thấy mấy chiếc xe ô tô đậu xếp hàng. Có ông bố hí hửng dẫn ông con xuống chăm chú chỉ chỏ ra cái điều như có gì đó lạ lẫm lắm. Nếu có thì ấy là…đàn vịt của tôi nuôi đang nhởn nhơ qua đường vậy thôi. Thế là tôi vác cái máy Nikon ra nháy lia lịa. A! Ông hỏi tôi cái máy hình đâu ra mà oách thế. Thế ông quên mớ ruột non, ruột già vừa rồi ấy à. Số là tụi Đức nó vất đi, tôi gom lại mang về. Bắt chước tụi Đức vùng Braufels làm xúc-xích, tôi làm dồi trường, dồi huyết, dồi xả cũng ngon ra phết và bán cho làng Việt Nam nên có “con Nikon” với giá “cứng” là vậy đấy.</p>
<p>Một ngày thấy gần nhà có một vũng nước to gần bằng…cái ao. Thế là tôi bật ra ý đồ nuôi vịt để chiêu hiền đãi sĩ. Vắng cảnh chiều hôm, tôi thịt một con làm tiết canh, rồi ới tụi bạn trước lạ sau quen tứ phương tám hướng tới. Nói cho ngay bè chứ không phải là bạn, không có cua thì bắt ốc thế thôi. Thằng nào vác xác tới cũng nên biết điều một chút, chỉ cần xách hai va li bia. Một va li cúng cô hồn. Một va li để lại cho gia chủ tỉ tê trong những lúc vắng gió đìu hiu. Mà giời ạ, đâu cũng vậy: Náo thị u lâm mạc luận, cổ kim hiền hữu năng tầm, nói xa chẳng qua nói gần là tôi đang bó rọ nên thèm…bạn. Một thằng bạn đúng nghĩa. Hắn cũng sắp xuất hiện, chắc như cua gạch ông sẽ chịu nó ngay.</p>
<p>Số là lụi đụi như con tôm, con tép nằm trong rọ nơi xó đồng, nên tôi phải lân la viết thư làm quen với nhóm “Cánh Én” để gửi báo cho tôi đọc. Và phải thú thực với ông một nhẽ, tôi chịu chữ nghĩa của họ, một phần vì họ viết ngắn gọn và trong sáng. Một phần vì có nằm trong chăn mới biết chăn có rận, nên qua họ, tôi mới hiểu được một phần nào những họat cảnh ở ngòai Bắc thời bao cấp. Đồng thời, tôi mới hiểu cái tận cùng của nhóm người mà một mảng chữ nghĩa trong nước gọi là “Hợp tác lao động”, nôm na là nhân công xuất khẩu miền Bắc qua Đông Âu. Họ bị kiểm soát qua đám thông dịch viên kiêm chính trị viên của sứ. Ông nhướng mắt ra điều như muốn hỏi “sứ” là gì ấy hả?. Dạ thưa “sứ” đây không phải là sứ cùi Thái Lan đâu mà là…tòa đại sứ “ta” đấy, thưa ông.</p>
<p>Bức tường Bá Linh sụp đổ, những người hợp tác lao động rơi vào cái tình trạng vất vưởng của một nhúm người bị bỏ rơi cùng cái nợ áo cơm với ba cái nghề vặt vãnh như “cõng” thuốc lá, “cửu vạn” dầu thơm, xà phòng. Nói đến xà phòng, tôi lại nhớ đến truyện họ viết về nhóm đàn bà con gái trong cảnh sống “chật hẹp”, chật hẹp đến độ cả năm lông nách không cạo. Và xin lỗi ông, chẳng hay ho gì chuyện này, tôi chỉ kể những gì họ viết: Đến ngày có tháng thấy…mưa sa trên mầu cờ đỏ, không có băng vệ sinh, đàn bà con gái phải “phấn đấu” lấy giấy đi cầu nhét vào để bịt mồm lão…Fidel Catro cho yên thân. </p>
<p>Còn đám đàn ông con trai, quanh quẩn với nhau như đèn cù trong những ngày cuối tuần. Thửa được con cừu bỏ vào bao bố, khiêng về treo trong phòng tắm, cắt tiết, cạo lông rồi ngả thịt. Cả nam lẫn nữ ngồi bó gối dưới sàn ăn uống nhồm nhòam, rượu Voka hay…những giọt nước mắt quê hương đổ ra. Tàn canh gió lạnh, người này gác chân lên người kia khoèo một giấc, tỉnh dậy thấy con bồ đang ôm thằng bạn mình ngủ vùi. Sáng hôm sau, như một lũ chuột thành phố, khi ẩn khi hiện với mấy tút thuốc lá quấn dưới ống quần, dầu thơm lẩn trong nịt vú. Giản dị có thể nói họ là những tay giác đấu cô đơn trong đấu trường. Những người vô tổ quốc bám cứng vào mảnh đất chẳng có ngày mai.</p>
<p>Với quá khứ vị lai thì sau này, ông thấy tôi hay làm dáng với dăm ba câu Hán tự, thực ra tôi chỉ bám víu vào chữ nghĩa để hoài cố nhân. Cố nhân của tôi là một gã hủ nho sa cơ lỡ vận để rồi cái khó nó bó cái khôn, nhưng trước sau vẫn là…bạn đời của tôi. Thôi thì trời chiều bảng lảng, ông hãy để mặc tôi như con cuốc gọi hồn râm rả với ông rằng cuối tuần nằm khểnh đọc báo và tôi hoa mắt như không tin ở mắt mình. Tôi bắt gặp một tay viết, có lối hành văn thật cứng cùng một mẩu chuyện thật giản dị, nhưng trải rộng tràn đầy tâm tư của những người bị kẹt lại và u hòai về một tương lai xa vắng nào đó, cùng những hòai vọng sâu kín cho một ngày mai, bên kia là núi, bên này là sông, thưa ông: </p>
<p>Truyện về một cậu bé, trước ở phố Hàng Ngang, theo gia đình tản cư một thời gian rồi hồi cư về Hà Nội sau năm 54. Nhà bị chiếm nên tạm trú ở căn nhà số 7A ngõ Phan Huy Chú. Ở đây, chiều chiều cậu nhìn qua bên kia vườn. Căn nhà số 7B. Cậu yêu thầm nhớ trộm cô hàng xóm đứng thẩn thơ dưới gốc cây. Truyện viết chỉ có vậy thôi. Nhưng đọc xong tim tôi thắt lại, bâng khuâng pha lẫn những bồi hồi. Vì điều ngẫu nhiên trùng hợp đến kỳ lạ là…là…căn nhà số 7B ấy cũng chính là căn nhà của ông bà cụ tôi để lại cho ông bác và người chị ruột tôi khi di cư vào Nam. Lặng người đi một lúc lâu, tôi nhỏm dậy viết thư cho tờ Cánh Én. Tháng sau, tác giả của bài viết có mặt trước ngưỡng cửa nhà tôi mà tôi nhẩm chừng hơn tôi một, hai tuổi. Hiểu theo nghĩa là cùng tuổi với chị tôi, hay cô hàng xóm bên kia vườn của một thời, một thưở…</p>
<p>Tôi đã gặp lại một người Hà Nội, như đã thưa với ông. Và cũng là “ông anh rể hụt” của tôi, thì cứ coi là như vậy đi vì có mất mát gì đâu. Nhưng sự thể ấy là chuyện sau. </p>
<p>***</p>
<p>Vật đập chát vào mắt tôi là chiếc xe “Vốc-oa-gân” vàng tróc sơn và rỉ sét, loại xe thùng, trông như cái hộp biết đi. Với hắn, điều tôi ngạc nhiên nhất là khuôn mặt sạch nước cản, chỉ thiếu cái mũ phớt, cặp kính trắng gọng vàng, cái bút máy “Pác-ke”, một đặc thù của người Hà Nội trước 54 bây giờ vẫn còn rơi rớt lại trong tôi. Với hắn, tôi thấy khác hẳn với dân Bắc Kỳ hai nút sau năm 75 mặt mày ngu ngơ, nói chuyện thối inh. Vì vậy tôi có cảm tình với hắn ngay cái buổi đầu gặp gỡ ấy. Sau những hỏi han xa gần về căn nhà thân yêu tuổi ấu thời. Riêng chuyện bà chị tôi, hắn có vẻ tránh né vì một lý do nào đó chưa tiện nói, nên tôi đành đợi một dịp khác. Rồi bữa rượu tẩy trần cũng được bày ra với đĩa lòng, tim gan phồi phèo đủ cả. Thêm vali bia Kruerger của khách vãng lai để lại. Có thể vì trốn mây nấp gió tình cũ hay sao ấy, cầm chai bia cũ kỹ đóng ít bụi, hắn khơi khơi rằng bia chai giữ được một năm, còn bia loong chỉ giữ được sáu tháng. Để cho mình là đúng, gã tu cả chai cái một ngon ơ. Xong, hắn vỗ vai tôi thân mật ra cái điều tửu phùng tri kỷ, mà tri kỷ, tri bỉ, tri nhân thật, để rồi càng về khuya, câu chuyện càng đậm đà hơn và sau này trở thành cố nhân của tôi như vừa thưa chuyện với ông vừa rồi. </p>
<p>Ông biết không, có một chuyện chẳng bình thường mà tôi khựng lại như gái ngồi phải cọc khi hắn khoe là “Phó tiến sĩ cấp I khoa văn Nga ngữ”. Tôi hỏi mắc mớ gì hắn “lưu vong” tới đây để xổ…tiếng Đức thì hắn thuyết minh chuyện một quãng đời của hắn:</p>
<p>Để xuất ngọai du học lấy tiến sĩ tòan là con cháu bần cố nông, trong giảng đường bao giờ cũng phải có thông dịch viên của “sứ” đi kèm, nên thu họach chẳng là bao. Vì vậy đều đi tướt cả lũ, nhưng mỗi người đều được cấp một chứng chỉ đã thông suốt diễn trình. Về nước, với mảnh giấy lộn này, đương nhiên được gọi là…“phó tiến sĩ”. Sau mấy thầy Nga Sô, ông kễnh Trung Cộng đòi tụi “ấy ái uông” phải có cơ sở văn hóa cao, nên con cháu tiểu tư sản mới len chân vào được, trong đó có hắn.</p>
<p>Như con còng trong lỗ chẳng biết đến ai, tôi sống sít với hắn về mấy quan chức, cây đa cây đề…Được gãi đúng chỗ ngứa, hắn tung tẩy: Quốc lọan tri trung thần, gia bần chi hiếu tử. Hắn thở ra: Chán lắm, trong cung đình thiếu hiền tài, lùn trí tuệ, thiếu nhân đức. Đức ít mà ân sủng nhiều, tài thấp mà địa vị cao, công nhỏ mà bổng lộc lớn là tam đại họa, để đi đến quốc phá gia vong, lòng dân ly tán, hiền tài bỏ nước mà đi, cơ đồ đã đến hồi mạt vận. Hắn tiếc cho cái thời Nghiêu Thuấn, của bá tánh đánh rơi ngoài đường không ai nhặt, ngủ nghê không cần cửa đóng then gài, còn bây giờ trộm cắp như rươi ấy. </p>
<p>Nghe vậy, ai mà chả thấy buồn nẫu ruột. Học ông, tôi nói vuốt đuôi cùng thời thế, thời trước thế đó, thời này thế đấy. Đấy là láo ngáo qua đây, gia tài tôi chỉ có “con Nikon” chụp đàn vịt. Buột miệng tôi khoe với hắn ống “zoom” của máy to đùng như khẩu Sơn Pháo 76 ly. Hắn cười cái bép “Xưa rồi Diễm ơi”. Bị chê vỗ mặt tôi quê hết biết. Càng lúc tôi càng gần gũi với hắn, dẫu gì hắn cũng là nhà văn lưu vong, có bài viết trên sách báo với sự hiểu biết rộng như trời biển. Nói xa chẳng qua nói gần, hắn là một…nhân tài đấy, với địa linh nhân kiệt như Thăng Long nghìn năm văn vật thì nhân tài thời nào chẳng có. </p>
<p>Bỗng dưng hắn cầm…chai bia lắc lắc và ư hử: Lắc bầu rượu, dốc nghiêng non nước lại. Chén tiếu đàm, mời mọc trích tiên. Hóa ra tôi và hắn cũng bị biếm trích như…Lý Bạch, Tô Đông Pha chứ đâu có đùa. Sau đấy, tôi cứ mặc sức ngồi trơ thổ địa ra mà nghe hắn tầm chương trích cú từ Hán Sở Tranh Hùng đến thời Tam Quốc, cùng điển tích này, điển cố kia, luận cổ suy kim đâu ra đó. Như hắn…thuyết khách về Tần Thủy Hòang với Mao Trạch Đông, cả mấy nghìn năm chỉ có hai nhân vật này thống nhất được nước Trung Hoa…để rủ nhau đốt sách thánh hiền. Dậu đổ bìm leo, hắn luận về Mạc Đăng Dung với Hồ Chí Minh, với khoảng cách cả mấy trăm năm. Vậy mà cùng gốc dân ven biển, cùng đầu dây nhợ cho chuyện cắt đất ở Ải Nam Quan. Ực hết chai bia, hắn vỗ vai tôi chí chát và ngậm ngùi xa vắng: “Cổ lai danh lợi nhân, bôn tẩu lộ đồ trung, phong tiền tửu điếm hữu mỹ tửu, tỉnh giả thường thiểu, túy giả đồng”. Và hắn diễn nôm là xưa nay phường danh lợi, bôn tẩu trên đường đời, gió thoảng hơi men trong quán rượu, say cả hỏi tỉnh được mấy người? “. Khiến tôi cũng…tỉnh người ra vì ngồi trong nhà ực bia, cứ ngỡ là ngồi ngoài quán uống rượu như Cao Bá Quát, Phạm Thái. Thế đấy, thưa ông.</p>
<p>Nói thật cho ông hay, ông giận tôi chịu, nếu so với đám sĩ phu Bắc hà cỡ tuổi ông và tôi thì mình thua họ xa. Tôi đã gặp rồi. Chính hắn. Ngoài ra, hắn mê hoặc tôi với giọng nói đầm ấm của người Hà Nội, mà lâu lắm rồi tôi mới được nghe. Qua hắn, tôi bắt gặp lại cái cốt cách thanh tao lịch lãm, nhậy cảm và tinh tế, nhưng cũng không thể thiếu cái lãng mạn, thâm trầm mà điển hình là hắn. Và cũng xin thưa với ông, cứt người thì thối, cứt đầu gối thì thơm, mặc dù hắn cũng có đôi lúc…vồn vã quá lắm, thiếu hẳn cái khí khái tính, cái khách sáo của người Hà Thành thanh lịch trước kia. Nhưng hắn đúng là một kỳ nhân dị sĩ mà tôi ít gặp. Đúng là duyên kỳ ngộ ít thấy, ông ạ.</p>
<p>Bình cạn rượu khô chiều nắng tắt, bỗng hắn hồ trường: Giai nhân, hề, vẫn chiêm bao. Thất phu, hề, biết chỗ nào dung thân. Ông nghe đã không ông. Thì như tôi đã thưa với ông vừa rồi: hắn và tôi đều là …thất phu cả đấy. Bỗng khi không, không hỏi mà khai, hắn bắt qua chuyện vợ con hắn. Hắn lập gia đình với con của một thứ trưởng thân Nga, nhờ ông bố vợ với “nhất phe, nhì đảng”, hắn được cử sang làm việc ở tòa sứ Đông Đức. Nhờ biết ngọai ngữ, họ bổ trí hắn vào cụm phân tích tình hình, suốt ngày xem ti vi, đúc kết gửi báo cáo về nước. Hắn tiết lộ cho tôi hay, ngày Nga Sô ngất ngư con tầu đi, các quan chức ở Ba Đình sợ thọt dái lên cổ, quáng quàng tìm chỗ gửi gấm của chìm của nổi qua họ hàng hang hốc khi có biến động. Có quan chức nhanh nhẩu đỏang vù qua Thái Lan, tuần sau tẽn tò mò về như chó cụp đuôi. Hắn nói ai chả biết chúng khôn như rận, tự biết là đồ tể, chơi với dao có ngày chết vì dao. Nghe đến đây, tôi nhìn trộm hắn, vì như ông đã biết: Lúc đó, tôi cũng đang là…đồ tể như ai. </p>
<p>Hắn chép miệng xóng xả, lương sứ là cái lương chả bõ nhét răng, vậy mà hàng năm hắn phải cúng một phần ba lương cho các quan chức Bộ Ngọai Giao. Tết đến về thăm nhà, các quan sứ nhờ vả mua sắm, nhiều khi toi cả tháng lương. Bức tường Bá Linh sụp đổ, thế là hắn xin tị nạn. Tôi vội chặn hắn lại để hỏi cho ra nhẽ, vì qua những chuyện từ những báo Đông Âu của người Việt, sở di trú và cảnh sát làm khó dễ họ đủ điều. Hắn cười buồn trả lời, với hắn thì cũng vậy thế thôi, chỉ đau một cái là trên cái hộ chiếu, bộ Nội Vụ Đông Đức đóng cái dấu xanh mầu lá mạ:”Uprchlik”, nghĩa là…“Kẻ đào tẩu”. </p>
<p>Cực kỳ hơn cả cực kỳ nữa là một sớm hai sương vợ hắn bỏ…kẻ đào tẩu lấy ngay “sếp” cơ quan của hắn. Thế có kỳ không? Hắn hỏi tôi vậy thì ông cố nội tôi cũng không trả lời nổi! Thấy tôi im như thóc ngâm, hắn bèn ngâm thơ cụ Nguyễn Công Trứ mặc dù đang nốc bia: Rượu với sầu như gió mã ngưu, trong lai láng biết đâu tránh khỏi. Rồi thì chuyện trâu ngựa là ông bố vợ hắn bị thất sủng, thằng con hắn “được trúng tuyển nghĩa vụ quân sự” lên vùng mạn ngược và hiện đang…đầu đội nón cối vai mang súng dài, chẻ tre đốn gỗ biết phàn nàn cùng ai. Rang rức gì đâu chả biết nữa, như Lý Bạch, chỉ mong mượn rượu say lúy túy để quên thói đời, hắn âm ỉ: Đản nguyện trường túy bất nguyệt tỉnh. Vừa ư hử xong, chơi nguyên một chai bia đầy thì hắn vật ra…bất tỉnh luôn. </p>
<p>***</p>
<p>Sáng hôm sau tỉnh dậy, hắn khật khừ ra xe khiêng vào lỉnh kỉnh một đống đồ nghề. Trơ mắt chẫu ra nhòm: Giời đất ạ, ông giời có mắt xuống đây mà xem, bộ hết chuyện hay sao mà hắn dậy tôi…“nấu” bia. Cứ theo hắn kể thì khi là công nhân nấu bia, hắn sơ sịa được từ nhà máy Bia Hà Nội, tức nhà máy bia Hommel cũ trước năm 54, thưa ông. </p>
<p>Và đồ nghề hắn là hai cái thùng nhôm chồng lên nhau như hai cái chõ hấp sôi, hấp giò, thì hắn lại kêu là…cái gầu. Một từ “chuyên ngành” của rượu cuốc lủi, rượu chui. Chỉ khác một nhẽ chõ trên có gắn một cái nõ ngắn cũn như cái khăng con. Vung chõ có ống thóat hơi như ống khói cao lều bều, vì có “nắp” nên trông rất hiện đại…Nhìn thoáng qua, y chang…cái nồi ngồi trên cái cốc. Hắn bắt tôi ghi ra giấy là: “Để nấu một lít bia cần 95% nước, 20 gr lúa mạch, 1 chiếc hoa houblon và bột nổi. Lúa mạch phải ngâm nước ba ngày, lấy lúa ra đợi lên mầm. Mầm ấy biến thành mạch nha tạo mầu vàng cho bia”. Nhìn cái khăng con dài cỡ gang tay ngứa mắt, tôi ngứa miệng hỏi. Hắn cười toe ấy là cái “chọt gổ”, đun lửa để nước bốc hơi thành bia chảy…ra ngoài để uống. Dễ hiểu vậy thôi.</p>
<p>Hắn đọc tiếp: “Sau đó đun để chất đường trong mạch biến thành…đường. Vì đường sẽ biến thành bia. Đó chính là “bã bia”. Khi sôi, bỏ hoa houblon vào. Hoa bia này tạo vị đắng cho bia. Nhìn cái ống khói có cái “nắp” xốn xang, lại ngùng ngoằng, hắn cho hay rượu khác bia. Mấy thùng gỗ sồi rượu nho cũng có nắp đặc biệt cho khí CO2 thoát ra và không cho khí khác chui vào. Ngược lại, bia cần không khí qua “ống khói” để cho bia có…“gaz”. Cái nắp mở ra đóng vào theo thời gian đủ cho CO2 vào nồi để bia…”sủi bọt”.</p>
<p>Lúc này tôi mới vỡ nhẽ tại sao bia có gaz và đắng với bia bọt lại có…bọt. Tôi lẫm đẫm thêm là sao hắn biết chỗ tôi ở không bán bia? Lại nữa, “bã bia” nào có dễ sơi. Hắn hợp đồng với tôi bã bia hắn có cả đống, khi nào cần hắn sẽ gửi cho với…giá hữu nghị. Nghe vậy, tôi nghĩ xa hơn nữa, nay mai tôi dám phất lên với bia ở thị xã Duchkholyz lắm ạ. Chuyện đời ai học được chữ ngờ, làm chơi ăn thật, ai dè tôi lại dính dáng đến…”củi lửa” với bia bọt. Giờ nghiệm lại, hóa ra có mở hàng ăn, nay tôi mới gặp ông ở đây. </p>
<p>*** </p>
<p>Trước khi hắn về lấy “bã rượu” cho tôi. Tôi ngầy ngật với hắn, kỳ tới qua mang theo ít “gầu”. Tôi sẽ dẫn đến làng Việt Nam, chém chết cũng quại được một mớ. Tôi biết hắn sẽ trở lại, vì hắn đã kinh tế hết cả rồi. Hắn trở lại thật đầy một xe với gầu to gầu nhỏ. Dẫn tới gặp mấy lão Neugen, Nougen và hắn đẩy được mấy cái…“gầu” bia.</p>
<p>Ở nhà tôi, hết thịt vịt luộc chọt với “Mely”, đến dồi chiên quệt với “Mostaza”. Hắn thảnh thơi thơ túi rượu bầu qua Lý Bạch: Quân nhược bất ẩm tửu, tích nhân an tại lai và an nhiên tự tại…uống tiếp. Hắn kinh qua nhân sinh qua kinh Di Giáo, Bụt đã dậy: Tri túc chi nhơn, tuy ngọa địa thượng, do vi an lạc. Bất tri túc giả, tuy xứ cực lạc, diệc bất xứng ý. Hắn diễn nghĩa là biết thế nào là đủ, có người tuy nằm dưới lòng đất cũng thấy an vui. Người không biết đủ, luôn luôn chạy theo khổ lụy, có lên miền cực lạc cũng chẳng bao giờ tọai ý. Nên tôi tâm phục khẩu phục nỗi niềm tư duy logic của hắn quá sức. Tối đến, hai thằng gác đùi lên nhau nói chuyện nổ như gạo rang, chuyện dai như rẻ rách, chuyện đổ bốn chân giường, chuyện long ba bức vách. Tôi mách hắn trên tỉnh có nhà hàng xúc-xích, đi với bia Kronenbourg thì mả lắm. Cạnh lại có tiệm đồ cổ, có một gian trưng bày rất nhiều chai bia cũ từ thời tám hoánh nào. Thế là hắn rủ tôi đi tham quan nay mai. </p>
<p>Từ mấy chai bia cũ, hắn trở lại thời hắn nấu bia nhà máy Bia Hà Nội. Cứ như theo hắn giựt giọc tôi hiểu ra nhà máy bia Hommel chỉ bằng một phần mười nhà máy bia BGI Sài Gòn. Nên tôi cũng định vung vít với hắn, rằng hồi còn nhỏ, năm tám tuổi, ở Hà Nội tôi đã từng uống trộm bia 33 của ông cụ tôi và ngã cái đùng, say nhớ đời. Chưa hết, vào đến Sài Gòn, nhằm vào cái tuổi tập tành làm người nhớn, tôi cũng một đồng ba điếu Ruby với…bia 33. Tôi sẽ vung vít với hắn về một nhà văn nữ đã phóng bút: “…Nàng thấy cái cảm giác lâng lâng chạy suốt từ phía dưới chạy lên. Ngày còn trẻ nàng cũng có những lúc nàng lâng lâng một kinh khoái phần phật sau những hơi hướm của giống đực ếm vào môi và tai. Nhưng lúc trẻ nó chạy xuôi, xuôi qua cổ họng, xuôi xuống háng. Còn bây giờ nàng già, nàng lại thấy nó chạy ngược…”. Và tôi sẽ nói cho hắn hay cớ sự gì tôi uống…bia 33.</p>
<p>Sau đấy, rằng dựa vào báo bổ mà tôi đã đọc qua, tôi sẽ…hoa bia, hoa hòe với hắn những cái tên từ gốc Đức là “Bier”, qua Pháp là “Bière”, Anh Mỹ là “Beer”. Và ngoài Bắc tên “bia” có từ năm 1939 qua…Bière 33 Export. Tiếp đến, năm 1875 ở trong Nam, người thành lập hãng BGI để làm…nước đá là người Anh tên Victor Larue. Sau làm thêm bia, và chỉ duy nhất bia lớn vẽ đầu con cọp mầu vàng. Tết đến in lịch, một ông Tây của hãng đã viết tên của người sáng lập ra hãng nước đá và bia với hai chữ Việt &#8211; Pháp đề huề “Lave &#8211; Larue”. Từ chuyện chéo ngoe ấy mới có…”La ve” và tên… “La de Con Cọp”. </p>
<p><a href="https://t-van.net/wp-content/uploads/2012/01/clip_image00461.jpg"><img loading="lazy" decoding="async" style="background-image: none; border-bottom: 0px; border-left: 0px; margin: 0px 20px 15px 0px; padding-left: 0px; padding-right: 0px; display: inline; float: left; border-top: 0px; border-right: 0px; padding-top: 0px" title="clip_image004[6]" border="0" alt="clip_image004[6]" align="left" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2012/01/clip_image0046_thumb.jpg?strip=all&fit=189%2C252" width="189" height="252" /></a></p>
<p>Năm 1973, ở hai bên nhãn hiệu đầu con cọp vẽ thêm hai tràng hoa houblon. Nhưng vì họa sĩ là người Việt Nam chưa bao giờ nhìn thấy “hoa bia” tươi mà chỉ nhìn thấy hoa khô héo nên vẽ lộn ra…trái dứa nên có tên là…“La de Trái Thơm”. Vì vẽ…lộn, sản xuất ít, mỗi thùng La de Con Cọp chỉ thêm vào một chai…</p>
<p>…Khà! Đụng chạm đến La de Con Cọp tôi lại vấn vương tới cái ngày mười bốn, mười lăm tuổi. Bằng vào cái tuổi hắn nhòm trộm qua bên kia vườn “phải lòng” bà chị tôi. Thì tôi mầy mò ra cái quán Năm Dưỡng khu Bàn Cờ bắt cái “cà phê bí tất”, tức cái “xây chừng”. Thế nhưng chẳng có hơi hướng cà phê quái gì. Đúng ra lão Năm Dưỡng bỏ trái điệp rang vào cái túi vải, chế nước sôi cho ngấm, san vào chai La de Con Cọp vàng khè. Rồi rót ra ly, đổ qua đĩa, nốc vào hăng hăng khét đằng…Chẳng dấu gì ông, lúc ấy tôi chỉ ngó chừng …chai La de Con Cọp nên chả thống khóai gì sất cả, thưa ông.</p>
<p><a href="https://t-van.net/wp-content/uploads/2012/01/clip_image0066.jpg"><img loading="lazy" decoding="async" style="background-image: none; border-bottom: 0px; border-left: 0px; margin: 0px 20px 15px 0px; padding-left: 0px; padding-right: 0px; display: inline; float: left; border-top: 0px; border-right: 0px; padding-top: 0px" title="clip_image006[6]" border="0" alt="clip_image006[6]" align="left" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2012/01/clip_image0066_thumb.jpg?strip=all&fit=189%2C289" width="189" height="289" /></a></p>
<p>Ông lại thở ra vì chẳng thống khóai gì, chút nữa cậu nghiên cứu sinh mang cái nồi ngồi trên cái cốc ra ngay ấy mà. Trong khi đợi cà phê, trở lại chuyện vì vẽ…lộn, vì sản xuất ít, mỗi thùng La de Con Cọp chỉ thêm vào một chai La de Trái Thơm. Người tiêu thụ cứ nghĩ là La de Trái Thơm là…chai đặc biệt. Và tôi muốn lằng nhằng với hắn là miền Nam mưa nắng hai mùa đã nuôi dưỡng tôi từ cái buổi thiếu thời biết làm cái xây chừng, lớn lên chơi bia để thành người nhớn. Nếu bây giờ tôi có hoài đồng vọng về một Sài Gòn đâu đường cuối ngõ thì chẳng hẳn là bia 33 hay bia trái dứa mà là…La de Trái thơm.</p>
<p>Ấy vậy mà khi không hắn lầu bầu với tôi: “Đồng thị thiên nhai luân lạc nhân, tương phùng hà tất tằng tương thức”, và tôi hiểu lôm côm ra là cùng một lứa bên trời lận đận, gặp gỡ nhau lọ đã quen nhau. Nên tôi cảm khái quá lắm, chẳng dám loạn ngôn loạn chữ với bia bọt, ai mà dại gõ trống qua cửa nhà…máy bia Hommel Hà Nội.</p>
<p>A! Ông hỏi tại sao tôi uống bia 33 ở đoạn trên ấy hả? Thì đây là khúc nhà văn nữ khám phá ra cái khoái cảm, cái cảm giác kinh khoái chạy xuôi, chạy ngược: “…Tại sao và tại sao mình cứ du đời mình vào những phút giây này. Ba phút hạnh phúc. Ba phút run rẩy. Ba phút rạo rực. Ba phút bia 33.&#160; La ze con cọp say ngà ngà. Nàng chưa bao giờ uống một tợp bia 33 này chỉ nghe người ta tả nhưng nàng thích nghĩ là khi hai kẻ mới bị con ma yêu tinh dẫn mối, mới khám phá về nhau, mới đê mê tìm hơi ấm, tìm linh hồn, tìm thân xác nhau, thì cơn say ngâm ngậm thịt da linh hồn và trí óc cũng ngà ngà tựa như say bia 33 nó ếm vào môi, vào ngực…” giữa hai loại bia với tuổi trẻ, tuổi già, thưa ông.</p>
<p>***</p>
<p>Trên đường lên tỉnh, hắn nhắc nhớm tôi, chuyến này để hắn đi chợ vì mới đẩy được mấy cái gầu, tôi nhủ thầm, thằng này đúng là dân chơi cầu ba cẳng nên chơi được. Ghé tiệm đồ cổ nhưng đúng ngày tiệm đóng cửa. Vào tiệm bia, cái thằng mắt bò hay sao ấy, hắn chơi nguyên “Một mét bia”. Còn xúc-xích, hắn ăn như tằm ăn rỗi. No say xong, hắn kêu tức bụng và phải mò vào…chuồng xí. Đợi mãi không thấy ra, tôi tự nhủ cái thằng ăn thùng bất chi thình như thế bị Tào Tháo đuổi là phải, phải đi thăm lăng bác thì cũng tốt thôi. Nhà hàng ra tính tiền, tôi móc túi trả vì nhằm nhò gì ba cái lẻ tẻ, chẳng phải tôi một tấc tận giời gì vì cũng có khi cũng tướt ra cả đấy. Nghĩ lại một lần hắn nói với tôi: Hữu bằng tự viễn phương. Bất diệc lai hồ, và tôi hiểu là bằng hữu từ xa tới, không vui sao. Ấy đấy, ông thấy không, tôi không vui sao được khi gặp người chơi với bạn chí tình như hắn là nhất. Nhất hắn đấy, thưa ông…À! Ông hỏi “Một mét bia” là cái của nợ gì ấy hả? Ấy là một khay gỗ bia, bia hàng một đứng xếp hàng dài cỡ…một mét thôi, thưa ông.</p>
<p>Tửu vô kiềm tỏa năng lưu khách, nhưng hóa ra rượu bia cũng không cầm chân được hắn. Tối hôm ấy, hắn vật vã với thùng bia, với tôi và âm ỉ trong một cõi đi về: Hãy uống cho say trời sắp sáng, mai này hai đứa đã hai phương khiến tôi cứ nẫu người ra. Ngày về, hắn để lại cho tôi ba cái gầu hiện đại và dặn dò nhờ tôi đẩy dùm cho mấy gia đình quanh đây, rồi hắn lấy sau. Bước ra cửa, hắn bịn rịn với tôi cả một lúc lâu. Lúc ấy vì giao động, mắt tôi như chắn ngang một màn sương mờ và trong đầu tôi lại nghĩ có thể chẳng bao giờ gặp lại hắn nữa, một thằng bạn chí cốt, mới gặp nhưng như quen nhau từ kiếp nào. Ngồi trong xe, hắn vừa vẫy tay chào tạm biệt, vừa móc ví xem giấy tờ gì ấy, vừa lom lom nhìn vào trong xe. Để rồi hắn bước xuống, mặt mày lùng nhùng là xe gần hết xăng và hỏi tôi có thể “cấn” cho hắn ít tiền vào ba cái gầu của hắn được chăng. Đúng là cái thằng khỉ, có cái bình xăng cạn cũng lơ đễnh thì còn làm ăn buôn bán gì được. </p>
<p>Hắn đi rồi, trong một thóang cùng những hòai cảm lâng lâng, tôi nhớ lại câu chữ Nho của hắn: Tuế bất hàn vô dĩ tri tùng bách. Sự bất nan vô dĩ tri bằng hữu, hiểu theo nghĩa trong cơn họan nạn, mới biết thế nào là bạn. Để rồi cái đầu củ chuối của tôi đưa đẩy tiếp: Kẻ sĩ bách vi, thâm nho và hiền triết như hắn, trên đời dễ có mấy tay. Thầy tôi đấy ông ơi…Thoáng như ông đang lụi đụi: “Thì cũng tốt thôi mà”. Tôi cũng nghĩ như ông, hình như cuộc sống đến một lúc nào đó phải chấp nhận những gì…không tốt lắm và cứ xem nó như một cuộc chơi thôi. Chấp nhận những gì mà mình đã có, đang có được hay sẽ có hoặc không, để chịu đựng qua cơn bão, để làm sao để biết tìm nơi trú ẩn dưới cơn mưa. Và hắn thì đang cần một mái hiên trong những lúc nhiều mưa ít nắng, vậy thôi. </p>
<p>***</p>
<p>Hắn về rồi, ngồi cắc ca cắc củm hành lang trước cửa nhà, tôi lũn cũn đuổi theo những bước chim di của hắn: Rõ ra, nấu bia mà hắn dẫn giải đâu có gì hay ho! Nào có khác gì nấu rượu nếp của các cụ ta xưa? Thì cứ lấy nếp “hấp” không chín hẳn. Xong vớt ra ủ với men rượu nhăm bữa. Nấu lại thật chín. Rồi trải nếp đều lên rá, mẹt, nước chẩy …”tong, tong” xuống bát canh là thành rượu nếp chứ cần quái “cái chọt gổ” ngắn ngun ngủn như…“cái củ cải” để bia nhỏ giọt như chó đái giắt ấy. Chưa hết, một lần hắn còn chữ nghĩa về bia tươi, bia hơi của ta lẫn bia “bock”, bia “draft” của Tây. Chữ là nghĩa và sự hiểu biết quá nhiều đến độ tôi có ý ngờ ngợ cái cơ sở văn hóa quá mạng của hắn từ bia vàng nhờ mạch lúa, tới bia đắng nhờ hoa bia, đến bia bọt…sủi bọt nhưng chưa tiện hỏi cho ra nhẽ…Ừ thì chuyện đâu vẫn còn đấy, hỏi cho có chuyện vậy thôi, thưa ông.</p>
<p>Và hắn ghé tôi nữa, và tôi hầu như hầu bố tôi không bằng, cơm bưng nước rót, quanh đi quẩn lại chỉ vịt luộc, lợn luộc. Trong bữa tửu lạc vong bần, vì đã có ý ngả ngớn thế nọ, thế kia từ trước. Tôi dọ dẫm kiến thức đóng hộp của hắn về gốc gác của bia. Hắn đáp ngay là qua công trình khảo cổ ở Ai Cập cho thấy khi những người nô lệ bị đi đày tới đây vác đá xây kim tự tháp. Họ được nuôi bằng cháo trái cây, không dè để qua đêm thành…bia. Từ đấy, tôi tin thằng Bắc kỳ Hà Nội hết biết, tin…chết luôn.</p>
<p>Nhắc đến chuyện đi đày. Hắn sơ sịa qua chuyện thằng con đang vất vưởng ở Cao Bằng nên hắn đang tìm cách mang qua đây nhưng phải qua thủ tục…đầu tiên. Cho đến khuya, hắn uống bia như sáo tắm. Sáng sớm, tôi đang cho vịt ăn thì hắn tới nói nhỏ là hắn…mất tiền, vì rõ ràng để trong túi xách mà không thấy. Tôi bổ nhào vào phòng để tìm kiếm cho ra. Hắn nói với theo là có mất cũng không sao, của đi thay người ấy mà. Nghe lạ, ai lại của đau con xót mà vẫn tỉnh queo vậy. Tôi bò vào cả gầm giường vẫn không thấy gì. Đang rối tinh, lại nghe hắn nói cho hắn lên tỉnh ngắm…mấy chai bia cổ. Tôi lắc đầu chịu không hiểu nổi, ve lọ gì trong cái lúc đang ngùng ngoằng như thế, cuối cùng tôi cũng phải cõng hắn đi. Ngồi trên xe, tôi chẳng mấy vui, và cũng đã nghĩ đến chuyện phải bù đắp cho cái thằng chết tiệt vô tâm, vô tứ để đâu quên đó này, vì dù sao tôi cũng là chủ nhà. Ông thấy tôi xử sự như vậy có phải nhẽ chăng?.</p>
<p>Đến tiệm đồ cổ của một lão Đức già, hắn cứ xum xoe với mấy cái chai mốc meo không biết chán. Hình như chai lọ có duyên với hắn vì đủ loại cách đây cả 100 năm. Lạ nhất là có cả một dàn bia của mình với bia 33, La ve Con Cọp, La ve Trái Thơm. Ra về, hắn ngỏ ý với tôi là muốn mượn cái máy hình để chụp mấy…cái chai ấy. Vì nào có khác gì chuyện lòng lợn của tôi mà tậu “con Nikon”, ít nữa về thành phố của hắn, hắn khuyến mãi với khách hàng để lo thủ tục…”đầu tiên” cho thằng con. Ngồi trong xe, hắn nồng nã mấy câu thành ngữ trong nước đang thịnh hành như: “San Miguel : Sao anh nhớ mà ít ghé uống, em lo!”, hay “Carlsberg : Cho anh ráng lấy sức bế em ra giường!” hoặc giả như: “Heineken : Hôn em ít nên em khều, em nhéo”.&#160; Giời ạ, tôi còn đầu óc với hơi sức đầu mà “khều” với “nhéo”? Mà chỉ nghĩ cái thằng này hơi chướng và ám quẻ tôi quá thể. Hồn ma nát thần tính, tôi hình dung đến một tương lai chẳng mấy sáng sủa cho lắm, là thằng ôn vật này ăn vạ ở nhà tôi cả tháng nữa thì vịt cũng ngỏm củ tì vì không…biết bơi. Lợn cũng đột biến…chuyển qua từ trần như “bác” của hắn vậy thôi.</p>
<p>Về nhà, trong khi tôi đang lấy cái máy hình trong ngăn kéo, hắn tới, cười toe là vừa tìm thấy tiền rồi. Mừng quá đỗi. Hỏi thấy ở đâu. Hắn nói ở trong…gầm giường. Tôi nghĩ không ra. Như ông đã biết đấy, tôi bò ra bò vào trong ấy hai ba lần rồi. Hay là nhà có ma.</p>
<p>Trở lại tỉnh, ngồi trên xe hắn lại rọ rạy “Chỉ có bia mới hiểu bụng…mênh mông nhường nào &#8211; Chỉ có bụng mới biết…bia đi về đâu”. Sau khi chụp hình mấy cái chai thổ tả. Không biết hắn mặc cả với lão già Đức bán cho gã mấy chai bia cổ với giá mềm lúc nào tôi cũng chẳng biết nữa. Để rồi tôi bắt gặp hắn ở một góc tiệm, quay lưng phía tôi. Tay móc ví bỏ một mớ tiền lẻ vào túi. Đầu quay vội đằng sau. Mắt dáo dác nhìn quanh, vẻ không tự nhiên cho lắm. Diễn tả cho thật: Nói cho ngay, trông mặt hắn không…thật chút nào. Tôi biết ý quay đi, tự hỏi sao hắn phải làm như vậy, để làm gì, có giời mới hiểu được cái bụng…mênh mông của hắn sẽ đi về đâu. Thưa ông.</p>
<p>Chiều hôm ấy cho đến sáng hôm sau trước khi hắn về, tôi không dấu được nỗi ngán ngẩm và ghẻ lạnh của tôi với hắn. Tiễn hắn đi cho khuất mắt, nhưng tôi phải đợi cái xe của hắn đang chờ lũ vịt của tôi dang nhởn nha lững thững qua đường. Rồi cái xe khuất bóng ở cuối tỉnh lộ. Tôi thở phào nhẹ nhõm như trút được gánh nặng và tự thầm nhủ: Cánh cửa của quá khứ đã đóng lại. Bỗng dưng có linh tính ập đến với tôi đến thốn người.</p>
<p>Bèn nhẩy bổ vào trong phòng: Thôi rồi, cái máy hình không còn trong ngăn kéo nữa!</p>
<p>***</p>
<p>Chuyện của tôi là như vậy đấy! Giống như cái chai bị rạn nứt trên kệ kia…Bây giờ ngồi với ông, tôi chẳng biết ngắm cái nhãn hiệu La de Trái Thơm đánh dấu những gì đã qua với một nhớ hay quên. Hay là hãy nhìn… </p>
<p>Vừa lúc cậu nghiên cứu sinh người Hà Nội, mang cái nồi ngồi trên cái cốc ra…</p>
<p><strong><em>Thạch trúc gia trang</em></strong></p>
<p><strong><em>Đông tàng, Canh Dần niên</em></strong></p>
<p><strong><em>Ngộ Không Phí Ngọc Hùng</em></strong></p>
<p>&#160;</p>
<p>&#160;</p>
<p>©T.Vấn 2012</p>
]]></content:encoded>
					
					<wfw:commentRss>https://t-van.net/ng%e1%bb%99-khng-ci-n%e1%bb%93i-ng%e1%bb%93i-trn-ci-c%e1%bb%91c/feed/</wfw:commentRss>
			<slash:comments>0</slash:comments>
		
		
			</item>
		<item>
		<title>T.Vấn: Chuyện Rượu đầu năm</title>
		<link>https://t-van.net/t-v%e1%ba%a5n-chuy%e1%bb%87n-r%c6%b0%e1%bb%a3u-d%e1%ba%a7u-nam/</link>
					<comments>https://t-van.net/t-v%e1%ba%a5n-chuy%e1%bb%87n-r%c6%b0%e1%bb%a3u-d%e1%ba%a7u-nam/#respond</comments>
		
		<dc:creator><![CDATA[T.Vấn]]></dc:creator>
		<pubDate>Thu, 05 Jan 2012 23:56:59 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Ghi Chép]]></category>
		<category><![CDATA[giới thiệu]]></category>
		<category><![CDATA[rượu]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://7076e870b2.nxcli.io/?p=4722</guid>

					<description><![CDATA[Chúng ta đã được LN Đồng dẫn dắt qua những cánh đồng nho lừng danh thế giới qua lọat bài về Rượu thật thú vị với “những cái tên . . . rượu nghe quen thuộc : Jack Daniels, Hennessy, Remy Martin, hay Hòang Hoa Tửu . Những cái tên rượu, chỉ nghe thôi mà [&#8230;]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<p><a href="https://t-van.net/wp-content/uploads/2012/01/clip_image0026.jpg"><img loading="lazy" decoding="async" style="background-image: none; margin: 0px 20px 15px 0px; padding-left: 0px; padding-right: 0px; display: inline; float: left; padding-top: 0px; border: 0px;" title="clip_image002" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2012/01/clip_image002_thumb6.jpg?strip=all&fit=224%2C338" alt="clip_image002" width="224" height="338" align="left" border="0" /></a></p>
<p>Chúng ta đã được LN Đồng dẫn dắt qua những cánh đồng nho lừng danh thế giới qua lọat bài về Rượu thật thú vị với “<em>những cái tên . . . rượu nghe quen thuộc : Jack Daniels, Hennessy, Remy Martin, hay Hòang Hoa Tửu . Những cái tên rượu, chỉ nghe thôi mà hồn đã muốn say khướt.”.</em> Chúng ta cũng đã được LN Đồng hướng dẫn cách chọn rượu, cách uống rượu , mà một người từng uống rượu “ <em>mẻ chén thiên hạ</em> “, nếu không để ý, chưa chắc đã biết tới.</p>
<p>Mới đây, chúng tôi nhận được món quà đầu năm của Ngộ Không Phí Ngọc Hùng. Được gợi hứng từ lọat bài Rượu của LN Đồng, ông già Bắc kỳ Ngộ Không Phí Ngọc Hùng đã dầy công viết nên lọat bài 4 kỳ cũng về . . . rượu. Độc giả yêu và quen văn Ngộ Không, sẽ thích thú với những trang viết độc đáo về Rượu được lần lượt giới thiệu trên T.Vấn &amp; Bạn Hữu.</p>
<p>Cũng là về rượu, nhưng những trang viết của Ngộ Không mang đậm đặc tính cách . . . Ngộ Không, thứ tính cách khó lẫn được với bất cứ ai , dù nổi tiếng hay không nổi tiếng, đã từng xuất hiện trên làng văn trận bút. Ông sẽ đưa chúng ta vào một thế giới tuy cũ kỹ, nhưng vẫn mang dấu vết hiện đại, tuy mờ mờ ảo ảo mà vẫn cho chúng ta cảm tưởng sờ mó được những người những vật trong thế giới mờ ảo ấy. Lọat bài về rượu của Ngộ Không gồm 4 kỳ, giới thiệu với người đọc một không khí . . . rượu hòan tòan khác hẳn với thế giới rượu của LN Đồng. Là người đọc cần mẫn với con mắt “ soi mói “ của cả hai lọat bài này – LN Đồng và Ngộ Không – tôi mang cảm tưởng của một người đã bước qua những kinh đô mỹ lệ của thế giới, hốt nhiên thấy mình đang đứng giữa một lũy tre làng quen thuộc, mũi ngửi mùi rơm đun từ một góc bếp đầu làng, tai nghe tiếng điếu thuốc lào rít lên rộn rã cũng từ chái bếp đơn sơ đó.</p>
<p>Nếu lọat bài về Rượu của LN Đồng giới thiệu với người đọc những phong cách thưởng thức rượu rất . . . Tây thì ở lọat bài Rượu của Ngộ Không, phong cách thưởng thức rượu lại rất . . . Ta . Hãy đọc thử :</p>
<p>“ . . . <em>Lão đổi thế ngồi, an nhiên tự tại thế kiết già. Lúc này mới lặng lờ mở cái bị, lôi ra cái chiếu con con và một cái bát giống như bát ăn cơm. Ông ngọng trông thấy, vì đời thuở nhà ai đi ăn xin còn bê cả bát theo. Nói cho ngay, ấy là cái chén thố mới hốc. Cái chén thố này vào thuở nhà Tống, trước dùng để uống rượu, sau vì…tửu lạc vong bần nên để…uống trà. </em></p>
<p><em>Chưa hết, lão thổi vi vu vào lòng chén, tẩn mẩn lấy vạt áo lau từ trong ra ngòai. Lão để cái thố lên cái chiếu con, bê hũ rượu ngang tầm, dùng răng cắn nhẹ nhàng lôi tuột cái nút lá chuối ra. Ông ngẩn ngơ, vì với cái nút ấy, ông phải cong lưng nhét vào dễ gì mà lấy ra nhẹ hều như thế. Vẫn chưa xong, lão nghiêng cổ vại ngang vai và từ từ chuyên rượu xuống cái chén. Ông láo ngáo, vì chẳng thấy một gịot nào vung vãi ra ngòai. Ủa mà lạ một điều nữa là, cứ nhè tay nghề như ông mà đổ rượu như thế là thể nào cùng có tiếng tong tong như mưa rơi ấy thôi. Vậy mà lão rót không một tiếng động, ngay cả bọt tăm bằng mắt con rạm cũng không nốt. Quái thật.</em></p>
<p><em>Lão lặng lẽ cúi gập lưng xuống, cái đầu gần sát đất. Với mười ngón tay, lão từ tốn đưa cái chén thố lên…Ông bụng bảo dạ, cái ngữ này to hơn quả bứa gì cho cam, mà phải khúm núm bằng cả hai tay đến rõ khổ. Ấy vậy mà lão chưa nốc ngay, lão nghểnh tai nghe ngóng động tĩnh trên không…Hêu hêu trên ngọn cây gạo bên kia bìa trảng có ổ chim cú đã về tổ từ lâu, tứ bề im ắng. Ngòai tiếng cuốc kêu xa xa, chơ vơ như mũi đinh thích nhẹ vào thinh không bàng bạc. Tĩnh lặng. Mắt lão hấp háy lặng lờ nhìn ra ngòai cánh đồng trống xâm xấp những nước là nước, dưới chân núi lầm thầm hơi sương trườn mặt đất từ cửa rừng bò ra cánh đồng…Chẳng hiểu nghĩ ngợi gì, như có gì u mặc lắm, lão chậm chạp đặt cái chén xuống. ( Trích : <strong><a href="https://t-van.net/?p=4719">Tửu Sư – Ngộ Không PNH ). “.</a></strong></em></p>
<p>Hoặc, rất . . .trái ngược với “lời phán“ của LN Đồng <em>“</em><em>Xưa nay khi nói tới đàn bà con gái, người ta chỉ đòi hỏi “sắc, hương”, nhưng nói tới rượu thì cần cả ba thứ “sắc, hương, vị</em> <em>(</em><em><a href="https://t-van.net/?p=4102">LN Đồng : Rượu – COGNAC: Mỹ tửu khó kiếm – Mỹ nhân dễ tìm</a>”</em> , ông Ngộ Không “phán lại“ : “ <em>Rượu tri kỳ hương chứ bất tri kỳ vị “ , </em>rồi ông giải thích<em> : “Với mỹ tửu của nhà bác phải học thói tri kỳ vị, tri kỳ hương, tri kỳ ảo, tri kỳ linh. Nên dùng mắt nếm đươc vị ngon của rượu. Dùng tai nghe được hương thơm của rượu. Dùng mũi ngửi được sắc thái của rượu. Còn như đã phải dùng lưỡi để uống thì là thói thường của hàng tục tửu đấy thôi.. . ( <strong>Tửu Sư</strong> ).”</em></p>
<p>Anh bạn già rất vui tính LN Đồng đã dắt chúng ta đi thăm và quan sát những nhà máy sản xuất bia lừng danh thế giới . Ông già Bắc Kỳ Ngộ Không thì lại giới thiệu với chúng ta một cách nấu bia rất . . . Việt như sau :</p>
<p><em>“ . . . </em><em>Giời đất ạ, ông giời có mắt xuống đây mà xem, bộ hết chuyện hay sao mà hắn dậy tôi…“nấu” bia. Cứ theo hắn kể thì khi là công nhân nấu bia, hắn sơ sịa được từ nhà máy Bia Hà Nội, tức nhà máy bia Hommel cũ trước năm 54, thưa ông. </em></p>
<p><em>Và đồ nghề hắn là hai cái thùng nhôm chồng lên nhau như hai cái chõ hấp sôi, hấp giò, thì hắn lại kêu là…cái gầu. Một từ “chuyên ngành” của rượu cuốc lủi, rượu chui. Chỉ khác một nhẽ chõ trên có gắn một cái nõ ngắn cũn như cái khăng con. Vung chõ có ống thóat hơi như ống khói cao lều bều, vì có “nắp” nên trông rất hiện đại…Nhìn thoáng qua, y trang…cái nồi ngồi trên cái cốc. Hắn bắt tôi ghi ra giấy là: “Để nấu một lít bia cần 95% nước, 20 gr lúa mạch, 1 chiếc hoa houblon và bột nổi. Lúa mạch phải ngâm nước ba ngày, lấy lúa ra đợi lên mầm. Mầm ấy biến thành mạch nha tạo mầu vàng cho bia”. Nhìn cái khăng con dài cỡ gang tay ngứa mắt, tôi ngứa miệng hỏi. Hắn cười toe ấy là cái “chọt gổ”, đun lửa để nước bốc hơi thành bia chảy…ra ngoài để uống. Dễ hiểu vậy thôi.</em></p>
<p><em>Hắn đọc tiếp: “Sau đó đun để chất đường trong mạch biến thành…đường. Vì đường sẽ biến thành bia. Đó chính là “bã bia”. Khi sôi, bỏ hoa houblon vào. Hoa bia này tạo vị đắng cho bia. Nhìn cái ống khói có cái “nắp” xốn xang, lại ngùng ngoằng, hắn cho hay rượu khác bia. Máy thùng gỗ sồi rượu nho cũng có nắp đặc biệt cho khí CO2 thoát ra và không cho khí khác chui vào. Ngược lại, bia cần không khí qua “ống khói” để cho bia có…“gaz”. Cái nắp mở ra đóng vào theo thời gian đủ cho CO2 vào nồi để bia…”sủi bọt”.</em></p>
<p><em>Lúc này tôi mới vỡ nhẽ tại sao bia có gaz và đắng với bia bọt lại có…bọt. ( <strong><a href="https://t-van.net/?p=4958" target="_blank" rel="noopener">Cái nồi ngồi trên cái cốc . Ngộ Không </a>)</strong></em><strong><em>.</em></strong></p>
<p>Cũng như lọat bài về Rượu của LN Đồng, 4 bài về Rượu của Ngộ Không còn mang giá trị của một công trình sưu khảo, tìm tòi, mà để làm công việc đó, người viết phải bỏ nhiều thì giờ lục lọi, chắt lọc , rồi “ tiêu hóa “ chúng qua những hư cấu văn chương.</p>
<p>Chúng tôi trân trọng giới thiệu lọat bài về Rượu của Ngộ Không Phí Ngọc Hùng.<strong>Bài 1 là “ <a href="https://t-van.net/?p=4719">Tửu Sư</a> “, bài 2 : “ <a href="https://t-van.net/?p=4958" target="_blank" rel="noopener">Cái nồi ngồi trên cái cốc</a> “, bài 3: “<a href="https://t-van.net/?p=5133" target="_blank" rel="noopener"> Nón lá áo tơi ra quán chợ</a> “, và bài 4 : “ <a href="https://t-van.net/?p=5265" target="_blank" rel="noopener">về Bài thơ Hồ Trường </a>“</strong>. Và cũng xin thay mặt độc giả , trân trọng gởi lời cám ơn đến LN Đồng , tác giả 12 bài viết thú vị về Rượu đã xuất hiện trên T.vấn &amp; Bạn Hữu thời gian vừa qua.</p>
<p>Nhân dịp đầu năm, xin được nâng chén rượu xuân, chúc mừng sức khỏe của hai vị LN Đồng và Ngộ Không, cùng quý độc gỉa quen thuộc của T.Vấn &amp; Bạn Hữu.</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>T.Vấn &amp; Bạn Hữu</p>
<p>05 tháng 01 năm 2012</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>©T.Vấn 2012</p>
]]></content:encoded>
					
					<wfw:commentRss>https://t-van.net/t-v%e1%ba%a5n-chuy%e1%bb%87n-r%c6%b0%e1%bb%a3u-d%e1%ba%a7u-nam/feed/</wfw:commentRss>
			<slash:comments>0</slash:comments>
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Ngộ Kh&#244;ng : Tửu sư</title>
		<link>https://t-van.net/ng%e1%bb%99-khng-t%e1%bb%adu-s%c6%b0-2/</link>
					<comments>https://t-van.net/ng%e1%bb%99-khng-t%e1%bb%adu-s%c6%b0-2/#respond</comments>
		
		<dc:creator><![CDATA[Ngộ Không Phí Ngọc Hùng]]></dc:creator>
		<pubDate>Thu, 05 Jan 2012 23:41:49 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Góc Văn]]></category>
		<category><![CDATA[ngộ không]]></category>
		<category><![CDATA[rượu]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://7076e870b2.nxcli.io/?p=4719</guid>

					<description><![CDATA[Đó là cái quán cột tre cật, nền đất thô phẳng lì, tường trát bằng bùn trộn trấu, mái nứa đập dập cho khít lại lợp rơm trông cũng tươm tất. Chủ quán là ông phó Canh, là con của một ông đồ nát chữ. Bố ông mượn câu học kinh bất minh, bất như [&#8230;]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<p><a href="https://t-van.net/wp-content/uploads/2012/01/clip_image0025.jpg"><img loading="lazy" decoding="async" style="background-image: none; border-bottom: 0px; border-left: 0px; margin: 0px 20px 15px 0px; padding-left: 0px; padding-right: 0px; display: inline; float: left; border-top: 0px; border-right: 0px; padding-top: 0px" title="clip_image002" border="0" alt="clip_image002" align="left" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2012/01/clip_image002_thumb5.jpg?strip=all&fit=227%2C303" width="227" height="303" /></a></p>
<p>Đó là cái quán cột tre cật, nền đất thô phẳng lì, tường trát bằng bùn trộn trấu, mái nứa đập dập cho khít lại lợp rơm trông cũng tươm tất. Chủ quán là ông phó Canh, là con của một ông đồ nát chữ. Bố ông mượn câu học kinh bất minh, bất như quy “canh”, hàm ý là học sách không thông, không bằng về đi cầy đặt tên cho ông. </p>
<p>Chuyện là bố ông người miền bể, lang bạt kỳ hồ ghé đây thấy vùng đồng bái quê mùa nằm ở thế đất quần ngư với chuôm đầu rồng, gò bút nghiên. Cổng làng có hai cột gạch, có hai câu đối bình bộ Nghè địa đa thiểu khách và vãng lai đạo lý sĩ hiền môn, nôm na là làng hiếu khách là…kẻ sĩ, tên làng lại là làng Nghè. Thế là bố ông ở lại bẻ chữ kiếm cơm nhưng không đủ vắt mũi đút miệng, chỉ vì vùng đất này thám hoa, bảng nhãn đông như tổ đỉa. Rồi thân già vác dùi nặng, tự dưng quàng cái ách vào người với cái quán bát nháo trên. Quán ế ẩm, bố ông càng thất chí tợn, nốc rượu nhiều hơn khách mong dục phá sầu thành tu dụng tửu. Sáng chiều bố ông ôm cái hồ trường nghêu ngao dữ nhi đồng tiêu vạn cổ sầu hiểu theo nghĩa là…cùng với mày, ta tiêu tán nỗi buồn nghìn năm. </p>
<p>Đột nhiên bố ông đốc chứng đóng cửa tạ khách, ngao du sơn thủy, hết xuân sang hạ, khi xuống núi nghe chim kêu trên cành, lúc lên non ngắm mây đi trên giời. Tối tối đốt mười hai nén hương như thập nhị bát tú, thắp bẩy ngọn nến như thất tinh đàn để quần ẩm với bằng hữu, tòan nói chuyện vờn trăng trên nước, mò kim dưới duyềnh như Lý Bạch. Chuyện ông Trích Tiên mò trăng dưới nước, rơi tòm xuống sông chết đuối vì rượu ai chẳng hay. Vậy mà bố ông chẳng chịu chừa cho, để ông bây giờ mắc cái nợ nhân gian.</p>
<p>Một ngày lên non cưỡi mây về bố ông bị thổ tả, trống điểm canh tư, biết mình không qua nổi canh đọa. Định phận tại thiên thư, bố ông bò dậy, phều phào trăn trối chỉ xuống dưới gầm trạn, có cái túi bọc da trâu, túm tó bằng dây chão buộc gầu tát nước, ấy là…”Tửu kinh”. Đọan bố ông xoay đầu về cố quận ở hướng đông hộc máu ra mà quy tiên. Tửu kinh là một thi tập rối rắm, đọc miết ông phó Canh mới lớ ngớ ra là kinh sách bố ông truyền thụ cách…nấu rượu Hồng xa xưa của đất Quảng quê ông.</p>
<p>***</p>
<p>Chẳng an phận với nửa sào vườn trống trải, cái ao thả cá với mươi con vịt, thế là một bữa, trên giời lê lết có mây xanh nắng vàng. Sau cái lễ thọ sơ tuần, vò võ một mình rúc một hơi thuốc lào, lim dim nhìn quán cũ một thời tan theo mây khói, ông bụng bảo dạ rằng phải cơ ngơi lại nghiệp nhà. Đời cua cua máy, đời cáy cáy đào, bây giờ đến phiên ông sắn tay áo tay làm hàm nhai. Chẳng qua cũng nhờ cái nghề đóng cối nên nẩy ra cái nghề giã gìò, giã nem, làm cho lắm tắm cởi truồng, danh phận với quán nhà lúc này chỉ là mấy cái móng trâu ninh nhừ.</p>
<p>Quán nằm khuất sau cây đa đứng sừng sững ở góc chợ. Phía trên là dẫy núi Con Thằn Lằn thấp dần xuống, nên nhìn từ trên cao, chợ như được treo lên…cành đa. Chợ có cả chục túp lều tranh lợp lá, giàn rường cột chống đỡ bằng những thân cây như so đũa phệu phạo. Quán xá có vẻ như khép nép, ngượng nghịu với những chiếc bàn ghế lúc nào cũng như muốn gẫy đổ. Qua bao năm tháng, mưa chan nắng dội, đến binh đao khói lửa, chợ làng Nghè vẫn thế. Thế nhưng nếu cả trấn Kinh Bắc có rượu làng Hòang Mơ thì trấn Sơn Nam này có rượu làng Nghè, những vại rượu được gạn chắt từ mảnh đời bèo bọt, da diết của bố ông. Qua nghề nhà, ít nhất bố ông cũng để lại đời sau bốn vại rượu gia truyền là Xuân sinh, Hạ trưởng, Thu liền, Đông tàn.</p>
<p>Sống mỗi người một nết, chết mỗi người một tính với phi tửu đồ bất thành trượng phu, bất tri tửu đạo bất hiền nhân, rõ ra ông cũng lậm cái giuộc của bố ông là thích quảng giao với những tao nhân mặc khách lắm chữ để náo thị u lâm mạc luận. Nhà cửa đơn chiếc, vậy mà lắm khi ông giữ khách lại qua đêm để nửa vách đèn tàn luận cổ suy kim. Trò đời bao giờ cũng vậy, làm thơ phải có người vịnh, cất rượu ngon như bố con ông thì phải có người thưởng lãm. Cái phiến tâm ông chỉ mong cái ngày được kết nghĩa với một tửu đồ. Để cả hai sẽ uống cho nghiêng đình đổ quán, uống cho nghiêng trời lệch đất. Để lúc ấy, ông cũng sẽ vay mượn hai câu của người xưa, ồ ề thổ lộ tâm can với nghĩa huynh, nghĩa đệ rằng huynh đệ, nễ ngã sinh tư vi cộng, bất uổng liễu kết nghĩa nhất trường, tư dã bãi, họat dã bãi, đại gia thống thống khóai khóai đích hát tha nhất trường, rệu rạo qua bố ông là sống cũng tốt, chết cũng tốt, nhưng uống rượu thì còn…tốt hơn.</p>
<p>***</p>
<p>Vì vậy như ông đồ thâm, ông phó Canh bầy trò treo ngay trên tường gần bếp bức tranh dân gian làng Đông Hồ để chiêu hiễn đãi sĩ. Tranh vẽ con gà sống thiến, lông đỏ, đuôi xanh, cổ ngóc lên như đang mổ..”chữ Dậu” to đùng gần bằng…con gà nằm ngay góc bức tranh. Ông vẫn nghĩ chòen chọet là thời buổi này từ làng lên huyện, chả ai nhiều chữ hơn bố ông nên biết quái gì chữ dậu. Đi vào văn chữ ông thấy họ chưa có chữ nào gọi là văn cả, chỉ độc một đám tò he, bét rượu. Có giỏi tới đây đọ chữ của bố ông, dẫu gì một thời cũng là ông đồ xứ Nghệ nát chữ chứ đâu có bỡn.</p>
<p>Chuyện xẩy ra đúng vào ngày vía bà Chúa Liễu…Sáng sớm đằng phương đông đã vàng tươi, lướt sướt khoe nắng mới, tuy mặt trời chưa ló rạng, đủ hôm nay nắng phải hửng to. Vô tình, ông dòm về hướng cái gò mả hoang xưa kia già làng gọi là gò quần ngư, ông đóan chừng từ giờ đến trưa, khách trẩy hội cũng nườm nượp kéo về bến đò Tràng làng ông. Chợt ông nghe thấy tiếng mái chèo khua sóng lụp bụp và dòm thấy một chiếc thuyền thúng đang chòng chành…chòng chành…Nắng xiên khoai yếu ớt, sóng lấp lóa, thuyền cập vào mé nước, mạn gốc cây gạo, thóang như một người đã đứng tuổi, lần theo bậc đá, bước xuống bờ nước, dò dẫm đi về phía quán. Bóng người ẩn hiện lấp ló sau gò một chốc, lừng lững xuất hiện lẩn khuất trong đám mồ mả. Gần hơn nữa, ông mới thấy người nọ đầu quấn khăn tam giang bệch bạc, mặc cái áo vải giãi đã sờn chỉ gai, chiếc quần trúc bâu gấu sắn cuộn tròn lên mắt cá chân, đi đôi guốc mộc nhuốm đầy bùn đất, tay cầm cái nón “cổ châu” đã loang lở lan tới vành. Ông dòm kỹ hơn, người ấy có vẻ ngang tàng chí khí lắm, trông chả ra dáng là khách làng nho cho mấy&#8230; </p>
<p>Và ông nhẩm chừng, chạy trời không khỏi nắng ắt hẳn là một…lão nho giả. Hôm nay lần mò tới đây thi thơ, thả chữ trong ngày hội bà Chúa hú họa vớ được giải lụa, kèm ba quan tiền kẽm để trả tiền đò. Nhưng lão lại phe phẩy cái nón cổ châu của các quan ở nội phủ mới rõ lạ, hay lão là quan viên trong phủ hội đồng văn Bà Chúa Liễu chi đây. Để điểm nhãn nho phong sĩ khí của…quan ôn quan vật, ông…giả nho nói chữ với lão: Quá môn trì, quan môn bế, thỉnh quá khách quá môn. Lão hừ một cái: “Quan quách gì. Đang khát nước bỏ bố đây” rồi sồng sộc bước vào quán không…cửa nẻo. Đã thế ông bương bả nặn ra một đống chữ cho sướng miệng: “Bẩm rước quan…sơi nước”. Lão nhấm nhẳng: “Hượm tí đã”. </p>
<p>Ve vé mắt một vòng, lão bắt gặp cái chõ rượu đang âm ỉ ngự trên cái đầu rau. Kháp với cái chõ là cái ống tre ngang để vắt rượu, từng gịot âm ỉ chẩy xuống cái tĩn nằm trên mặt đất phẳng lì. Ấy là rượu Hồng đào ông cất bằng gạo tẻ như rượu trắng cho khách vãng lai. Lão nho giả đăm đăm ngó chừng bốn cái vại sành đậy nút chuối khô bày một hàng trên cái ghế dài. Lão gật gà gật gưỡng với bức tranh Gà với chữ Dậu trong giây lát rồi cười đánh hậc một cái. Ông dòm thấy ngứa cả mắt, ruột gan muốn lộn tùng phèo. Chả hiểu trời đâm thánh đục sao, lão phủi tay, lững thững đi đến cái nồi, quẹt ngón tay một đường như con giun. Lão ngắm bức tranh, đắn đo cả một hồi lâu, như có gì suy nghĩ lung lắm. Rất nheo mắt, đưa ngón tay nhọ nồi lên từ từ, không phải quẹt cái rẹc, mà rất ư cẩn trọng… </p>
<p>Chấm vào chữ Dậu một chấm nhỏ bằng…hạt thóc.</p>
<p>Ông ngớ ra vì chữ “dậu”, thêm cái chấm thành ra chữ “tửu”. Không quay lại, lão nói trống không…vào mấy vại rượu: “Ngon chăng, nhà bác cho một nậm”. Ông khựng lại, ngặt một nỗi, tay cầm vại Xuân Sinh, cái đầu đất sét lại đóan già đóan non, ngữ này người ngợm nhếch nhác, lại ra dáng lừng khừng, ắt hẳn chẳng phải là tửu đồ. Thế nhưng ít nhất lão ấy cũng chiết tự được chữ tửu ở chữ dậu mà ra, hay lão là cố nhân một thời của bố ông. Vậy thì hãy để lão ấy dùng tạm vại Hạ Trưởng còn non tháng, xem tửu lượng của lão tới đâu rồi hẵng tính.</p>
<p>Cái vại nâu còn dính bùn khô vừa đặt lên trõng…Lão chậm rãi cầm cái bát chiết yêu úp ngược trên ngọn đèn hột đỗ đảo qua đảo lại hơ cái lòng bát. Lão hờ hững rót ngang miệng bát và đợi cho láng rượu sóng sánh lắng xuống một chút. Lão lâm râm: “Vội năm, vội tháng, ai lại vội ngày. Bác có gì nhắm đây?”. Đi vào để hâm lại cái móng trâu, cúi xuống hun lửa, ông vơ vẩn đến hôm nay có chọi trâu, thể nào quán nhà cũng thửa được nhăm cái, quán sẽ đắt như rươi. Ông vẩn vơ đến sáng sớm mở hàng, gặp lão khách lạ ông cũng hơi có ý hồ nghi: “Quái, tửu đồ là đây phỏng”. Bước ra ông ngồi ngay trước mặt lão và nhắc khéo: “Xin mời quan bát rượu…lạt”.</p>
<p>***</p>
<p>Lúc này lão mới lười biếng bê cái bát lên, cũng không chịu nhấp cho một ngụm nhỏ, mà chỉ khà một cái và chậm rãi:</p>
<p>&#8211; Với mỹ tửu của nhà bác phải học thói tri kỳ vị, tri kỳ hương, tri kỳ ảo, tri kỳ linh. Nên dùng mắt nếm đươc vị ngon của rượu. Dùng tai nghe được hương thơm của rượu. Dùng mũi ngửi được sắc thái của rượu. Còn như đã phải dùng lưỡi để uống thì là thói thường của hàng tục tửu đấy thôi.</p>
<p>Nghe luận về rượu nhà, ông rủa thầm, cái lão rách mép này rõ rách chuyện, chả ai…nghe được hương thơm bao giờ. Ông định gân cổ lên thì bu nó ơi: Lão ấy hất cả bát rượu gia truyền của nhà ông xuống đất. Ngay chỗ…đàn kiến đang bò lổm ngổm đi kiếm gạo. Giời ạ, lũ kiến hốt hỏang bơi nháo nhào bò lên mép đất khô, nằm chỏng gọng lấy càng vuốt mặt, vuốt mũi rồi lăn cu đơ ra, chả biết trời trăng mây nước gì sất cả.</p>
<p>Bây giờ lão mới thốt lên một tiếng nhỏ:</p>
<p>&#8211; Chà, hơi gắt…Có hơi già lửa!</p>
<p>Ông phó Canh sợ vãi đái ra quần vì ngẫm thấy cụ cũng rành về rượu chẳng khác gì bố ông, nên ông vừa định…thì cụ đã khoát tay:</p>
<p>&#8211; Tôi hỏi khí không phải, nhà bác cất rượu với gạo ta&#8230;</p>
<p>Ông phó Canh lập cập:</p>
<p>&#8211; Chẳng dấu gì…cụ, năm nay vụ Chiêm dưới này bị úng thủy…</p>
<p>Ông quên bu mất nhè lão quan gọi bằng cụ, chả là trong đầu ông cứ bị ám ảnh cụ là người sành rượu, lắm chữ. Ông không dám khoe mẽ rượu nhà mọi khi ủ tòan nếp Chiêm tháng mười, bã rượu phải chữ trong vại gốm làng Thổ Hà để men giữ lâu ngày, thả xuống ao cả năm cho mát rượu. </p>
<p>Ông ngập ngừng thăm chừng:</p>
<p>&#8211; Bẩm cụ qúy quán ở đâu ta.</p>
<p>Cụ già cười nửa miệng:</p>
<p>&#8211; Tôi người làng Ngừ.</p>
<p>Ngừ với nghè, ông đơm chuyện:</p>
<p>&#8211; Nhà cháu nghe hơi nồi chõ quý quán có thờ hai con cú, con cáo bằng đá đã thành tinh, nên chúng có thể biến thành người. Đêm mưa gió, chúng hóa thành một lão già đội nón rách, mặc áo tơi như một người hành khất.</p>
<p>Cụ cau mày:</p>
<p>&#8211; Hừm…Rõ nhảm.</p>
<p>Thịt hầm vừa cữ vớt lên đĩa, cụ lấy đũa thọc xuyên ngang cái móng và đưa lên miệng cắn từng miếng nhỏ. Cụ thảnh thơi kể lể:</p>
<p>&#8211; Là thế này….làng tôi thì ai mà chả biêt có lăng Ngừ thờ Thái sư Trần Thủ Độ. Trước lăng là hai bức tượng người nữ Chiêm Thành chầu hầu, giữa là mộ của Thái sư. Sau mộ có bầy dụng cụ sàng sẩy lúa gạo là dần, sàng, nong, nia làm bằng đá tròn, dẹt. Lại có bi ký và bi đình tựa kiểu tam mục, rõ ra văn chỉ khoa mục…</p>
<p>Gặm xong cái móng trâu, cụ ôn tồn tiếp:</p>
<p>&#8211; Từ ngôi mộ ngó ra phía gốc cây cổ thụ cả trăm năm có con cú to bằng con ngỗng lớn, con cáo to bằng cả con bê. Tất cả cú, cáo, dần, sàng, nong, nia đều được dân làng gọi bằng “Ông”. Ông cáo nằm đối diện với ông cú, có vẻ đăng đối và tri kỷ lắm, còn để làm gì thì chỉ có giời biết. Chỉ biết rằng…</p>
<p>Ông phó Canh láo nháo chêm vào:</p>
<p>&#8211; Chả ai lại đi thờ cáo với cú…</p>
<p>Cụ thở ra, gắt nhẹ:</p>
<p>&#8211; Úi dào…Như ông biết đấy, ngặt một nỗi tai trời ách đất ngập nước quanh năm, chỉ trồng được lúa của người Chiêm. Hai tượng Chiêm Thành và dần, sàng, nong, nia để trấn yểm mùa màng. Ấy là tôi học có bấy nhiêu…</p>
<p>Cụ lẩn mẩn tiếp:</p>
<p>&#8211; Cũng chuyện trấn yểm nghe già làng kể có một cái mả, gặp lúc bãi lở, quan tài bật lên, trong có bốn cái lọ cổ gắn ở bốn góc. Theo truyền thuyết xưa kia có một thầy Tầu qua đây tróc huyệt mắc nạn và được ông Trần Lý, tức ông tổ họ nhà Trần đất Tức Mặc cứu thóat. Ông thầy đền ơn bằng ngôi mộ thái đường, huyệt đế vương trường tồn vạn đại. Xong thầy cáo biệt, hẹn khi nào nhà Trần tức vị, con cháu sẽ qua uống rượu mừng…</p>
<p>Trần Cảnh lên ngôi vua, con cháu ông thầy Tầu y lời qua. Quan Thái sư tiếp đãi trọng thể, ban tặng vàng bạc, nhưng trên đường về Ngài cho người chặn đường giết để cướp bộ phong thủy địa chí. Vì như trên vừa đề cập, vi lụt lội nên quan tài trong huyệt đế vương lộ ra. Nên Ngài mượn tập kỳ thư dị chí mà họ mang theo để đọc. Đọc xong rồi, Ngài lo ngại nhà Trần có cơ chẳng thể truyền tử lưu tôn đời đời kế thế vì ông thầy Tầu ghi chú trong bộ phong thủy địa chí nên cẩn trọng vì có phản tặc trong triều&#8230;</p>
<p>Cụ nhởn nha thêm:</p>
<p>&#8211; Cứ theo quan nha ra thưởng cho hay qua tập kỳ thư dị chí thì chữ ám chỉ giòng họ tên phản tặc từ chữ “khẩu” mà ra. Vì thời gian với nét còn nét mất, nếu có hai nét sổ ngang là “ẩm” tức uống, là “tửu đồ” thì chả nói làm gì. Nay còn lại lờ mờ với một nét ngang như cái đũa, chiết tự thành “thực” tức ăn, là “khất thực“ nên tôi cứ bán tín bán nghi. </p>
<p>Trở ngang đầu đũa, quẹt quanh mép, cụ đưa đẩy:</p>
<p>&#8211; Theo tôi thì chữ Trần, người Tầu đọc là “chén”. Nên tôi đồ là…một tửu đồ chăng. Thế nên bấy lâu nay tôi có ý đi tìm…</p>
<p>Ông phó Canh bộp chôp:</p>
<p>&#8211; Hóa ra cụ…</p>
<p>Giọng cụ đầy hóm hỉnh:</p>
<p>&#8211; Nhà bác cứ nghĩ thế…Tôi chẳng dại lưu xú vạn niên vì mười mẫu thượng điền của quan Thái Sư đâu. </p>
<p>Vậy ra cụ cũng như ông, cũng đang mỏi mắt đi tìm một bạn rượu đây. Rồi ông nghe cụ rung đùi ngâm nga đúng tâm ý ông: tuế nguyệt du nhàn, tứ hải tao phùng thanh nhãn khách. Nhưng ông có hơi sốt ruột tí chút, người ta thì trà tam tửu tứ, vậy mà cụ này độc có một bát rượu thôi mà…nhấp mãi cũng không ra cái hồn người, mà chỉ thấy nói chữ. Ông sinh nghi, hay cụ chẳng phải là một tửu đồ. Nên ông thăm chừng:</p>
<p>&#8211; Mời cụ sơi bát nữa.</p>
<p>Cụ phe phẩy cái nón, gật gù:</p>
<p>&#8211; Rượu tri kỳ hương chứ bất tri kỳ vị. Thêm nữa tửu vô lượng, bất cập loạn, loạn ngôn thì chẳng thua Lồ Phồn tửu đâu. Nhà bác khéo tay cả đấy.</p>
<p>***</p>
<p>Cả hai vui chuyện vui trò, quên tiệt đi mất là khỏang đất trống ngòai kia bàn dân thiên hạ đang lũ lượt kéo về họp chợ. Các ông với khăn sếp áo the, tay cầm ô nháo nhác đây đó. Các bà mặc váy lĩnh, lưng thắt ruột tượng, bã trầu đỏ thắm cắn răng, chuyện trò râm ran. Ấy vậy mà bên kia bãi đất trống đã rộn ràng tiếng trống ròn rã. Nhóm đánh cờ người trên phủ huyện kéo về. Trên bục cao, ông tổng cờ ngồi bên án thư cầm trịch cho 32 quân cờ nữ áo hồng, nam áo xanh. Ở trong này, ông vừa khoe trận đồ năm nay cụ Nghè làng Mộ Trạch làm tổng trịch thì nghe cụ như reo lên như ấm nước sôi:</p>
<p>&#8211; Úi dào, rượu Hòang Mơ, cờ Mộ Trạch.</p>
<p>Đẩy cái bát chiếu yêu sang một bên, cụ mở lời:</p>
<p>&#8211; Có đám Mộ Trạch, kéo theo đám Hòang Mơ về đây. Không chừng tôi với nhà bác có cái túc duyên vừa gặp được một kỳ tửu bất thế kỳ nhân cho mà xem. Thế nào họ chẳng nếm rượu của nhà bác. Mà nào họ đâu có hay: Đất nhà bác là đất tửu địa. Cứ nhìn cái ao nhà thì biết ngay. Như cái…</p>
<p>Nghe nói vậy, ông nháo nhác ra ngòai ao, chửa nhận thấy ao nhà ra cái giống gì thì ông bắt gặp một con chó…què. Nó đi bằng ba chân khập khiễng từ ngòai bước một vào quán, và ngừng lại nằm dưới chân ghế hửi hửi. Cụ cũng lõ mắt nom xuống và hỏi:</p>
<p>&#8211; Chó bác ư?</p>
<p>Ông chưng hửng, lắc đầu quầy quậy:</p>
<p>&#8211; Bẩm…Dạ…Không…Mà có gì lạ thưa cụ.</p>
<p>Cụ lom khom ngắm nghía, giọng rổn rảng:</p>
<p>&#8211; Giống “Bối kiếm cẩu” đây. Trên lưng nó có dải lông kéo từ đầu đến đuôi như một cây kiếm, tạo cho uy quyền sinh sát cho chủ nó, như thái sư hay tể tướng chẳng hạn. Chả nhẽ…</p>
<p>Cụ ậm ừ:</p>
<p>&#8211; Thọat thấy giải đất như cái lưỡi kiếm. Nay nhìn ao nhà bác, nào khác gì cái hồ lô. Giống như sách dậy và gọi là “Tửu địa”.</p>
<p>Rồi cụ tặc lưỡi bâng quơ:</p>
<p>&#8211; Tam nhật nhất tiểu điểm.</p>
<p>Ông ấp úng hỏi:</p>
<p>&#8211; Tam…tam…là tích gì, thưa cụ.</p>
<p>Giọng cụ nhỏ hẳn đi:</p>
<p>&#8211; Theo “Cẩu kinh” là chó cực hiếm. Nếu nó một chân…</p>
<p>Lại chuyện ngược đời nữa, ông như nhẩy cẫng…hai chân lên:</p>
<p>&#8211; Cụ cứ nói bỡn, chó gì lại&#8230;</p>
<p>Cụ lại cười đánh hậc một tiếng:</p>
<p>&#8211; Ấy là tôi muốn nói lúc nó gác một cẳng lên gốc cây để bài tiết. Nó chỉ đái đúng ở một điểm ấy mà thôi. Chỗ nó đái là cái huyệt cực tốt, sách gọi là huyệt cẩu thủy, nhưng phải đợi nó chết cơ. Đúng giờ tuất ngày tuất, mang xương bố mà táng vào đấy thì mai kia chúa biết mặt vua biết tên. Nhưng chỉ truyền được đúng một đời không hơn, vì tuổi chó quá ngắn.</p>
<p>Quái lạ, ông nhủ thầm, quân tử ẩn hình, tiểu nhân lộ tướng, mà cụ này lại…quái tướng dị nhân. Thế nên ông chả hiểu ra làm sao cả, ông chắc mẩm chém chết cụ này là thầy địa lý đây. Mà mấy thầy địa lý chỉ được cái giỏi nói chữ và xoay ba cái đầu rau để ăn vạ nhà người ta. Nhỡ cụ ăn vạ nằm ì ở quán như bạn bố ông thì bỏ bố. Ông xoay qua chuyện rượu:</p>
<p>&#8211; Sao cụ biết có kỳ tửu tới đây.</p>
<p>Cụ vuốt râu khề khà: </p>
<p>&#8211; Theo “Truyền nhân kỳ tửu địa”, giống chó này xuất hiện tất có kỳ tửu. </p>
<p>Cụ điềm đạm tiếp:</p>
<p>&#8211; Tôi đi đã nhiều nơi, uống mẻ bát thiên hạ, mà chẳng thấy đâu. Nay có cơ may gặp bậc kỳ tửu ở đây thì đó là cái túc duyên.</p>
<p>Ngừng lại một lát, cụ nói chữ:. </p>
<p>&#8211; Thành giả, vật chi chung thủy, bất thành vô vật, nhà bác có lòng thành, lại có hảo tửu. Rồi cũng sẽ gặp…</p>
<p>***</p>
<p>Ông đứng dậy vì có dăm khách phương xa mới tới, vừa tiếp khách ông vừa nhủ thầm, bản địa nhà ông là đất vạn đại dung thân cho những đại tửu đồ. Đất quần hùng của các danh tửu. Mùa hội làng này họ sẽ kéo về đây để đấu rượu. Họ sẽ uống cho nghiêng đình đổ quán, uống cho nghiêng trời lệch đất. Rượu sẽ đổ ngập sông, tràn ngang núi. Tửu khí ngất trời, mây không có chỗ ẩn thân. Âm khí thối đất, cỏ ba niên chẳng ngóc đầu lên nổi cùng kẻ còn người mất. Vì vậy ông nhìn ai cũng là đại tửu đồ. Như cụ đã dậy, đất nhà là đất tửu địa, với địa linh nhân kiệt, vì vậy ông đang lóng ngóng đợi một kỳ tửu bất thế kỳ nhân sẽ lừng lững đến quán ông đấu rượu. </p>
<p>Vừa bước ra, ông bắt gặp một lão ăn mày mù đang ngồi bệt ngòai hiên tự lúc nào. Ông thoáng lạnh người, vì cụ vừa nhắc đến…khất thực hồi nãy thì lão ăn mày này có mặt. Bất giác ông thuỗn người nghĩ ngợi mông lung…</p>
<p>Rằng từ đời Trần lên đến giờ, đất này là đất văn học, rặt chẳng có ăn mày, họa chăng làng Ngọc Động có ông Nguyễn Phúc. Xưa kia ông ăn xin ngòai chợ huyện, nhưng có chí học hành nên cũng lều chõng đi thi Đình. Nhưng chỉ đỗ thám hoa, nên không có mũ áo cân đai. Hay vì ông là khất thực, nên chẳng được dân làng trọng vọng mang ô che lọng chắn ra đón rước. Nên ông chui vào đình làng có cái đà ngang nghêng phong chiếu thủy và treo cổ tự tử…Có thổ thần sở tại làm chứng, ông thề rằng sau ông: Làng này chẳng một ai đỗ Thám Hoa nữa, mà chỉ có nước đi ăn mày. </p>
<p>Ông phó Canh lẩn mẩn tiếp, rằng ông ăn mày họ Nguyễn nay đã mồ yên mả đẹp, lại là Thành Hòang làng Ngọc Động, thì giữa ban ngày ban mặt hẻo lánh tới quán ông để nhát ai đây. Sau khi ông thám hoa mất, chỗ lều ông ở được đắp cao, xây tường chung quanh và gọi là “nền Phúc”. Vua Trần sắc phong ông là: Đương cảnh thần hòang, tuyên võ tướng quân, thượng kỵ đô úy, hùng dũng anh linh, thông minh chính trực, gia phong quang ý, gia tặng trác vỳ, dực bảo trung hưng thượng đẳng thần. </p>
<p>Nhưng gần đây làng bày thêm lệ mới, tráng đinh đến tuổi phải nộp cheo, dù nhà cao cửa rộng cách mấy cũng tay gậy tay bị đi xin ăn mang lộc về cúng ông Thần Hòang. Và trong đầu ông thì lão ăn mày đang ngồi ngòai kia, chém chết cũng là dân làng ấy mà ông đã nghe kể qua. Vừa nghĩ đến đây thì đám bạn rượu họ kéo nhau đứng thù lù sau lưng ông. Đột nhiên ông khựng lại vì búa vào mặt ông là lão ăn mày này với cái tai có thành, có quách như tai Phật. Vậy mà lại đi ăn mày…Chợt nhớ chữ tắc đánh chữ tộ của cụ với một nét sổ toẹt như cái đũa, hóa thành “thực”, là “khất thực. Hay là lão…Cái đầu ông lại lầng quầng với cái kim nằm trong bọc lâu ngày cũng lòi ra. Chả lẽ lão là…tửu đồ. Mà mù sao biết uống rượu đây, hả giời. Nào ai biết ma ăn cỗ đây, tiện tay ông nhòn bát rượu cụ ơ hờ không uống hồi nãy. Ông nhướng mắt thăm chừng, cụ gật gật cái đầu…Ông quơ cái bát mang đến cho lão ăn mày. Lão ngửa cổ lên nghe ngóng, chẳng buồn thò tay rớ tới. Bực mình quay về bàn ông lầu bầu: “Mù có khác, ăn mày còn đòi xôi gấc”. </p>
<p>Bỗng cụ nhíu mày, xuống giọng thật nhỏ, vừa đủ cho ông nghe: “Cung nhi vô lễ tất lao”. Cụ lại sì sầm: “Hảo bằng hữu phải thết bằng hảo tửu”. Ngu lâu đần dai cách mấy ông hiểu ngay là cung kính nhưng thiếu lễ cũng sổ toẹt và nhòm cụ. Cụ vỗ tay nhè nhẹ ngang giải rút quần, chỗ cái ruột tượng, nghe lạch cạch mấy quan tiền kẽm chạm vào nhau…Hiểu ý cụ có hơi rủng rỉnh, ông quay vào vơ vại Xuân Sinh với cái bát chiết yêu. Cái đầu ông ngọ nguậy vì ông thương bố ông, rõ ra cơ ngơi nhà ông đã đến hồi mạt vận. Đúng là ăn mày đánh đổ cầu ao, gia cang còn mỗi vại Xuân sinh này mà để lão kia…sơi. Thế nên ông ủng oẳng văng tục với…cái vại rượu: “Mả bố mày nhá!”. Ông lẳng lặng để bên lão và không quên hích vào đùi lão môt cái&#8230; </p>
<p>***</p>
<p>Lão đổi thế ngồi, an nhiên tự tại thế kiết già. Lúc này mới lặng lờ mở cái bị, lôi ra cái chiếu con con và một cái bát giống như bát ăn cơm. Ông ngọng trông thấy, vì đời thuở nhà ai đi ăn xin còn bê cả bát theo. Nói cho ngay, ấy là cái chén thố mới hốc. Cái chén thố này vào thuở nhà Tống, trước dùng để uống rượu, sau vì…tửu lạc vong bần nên để…uống trà. </p>
<p>Chưa hết, lão thổi vi vu vào lòng chén, tẩn mẩn lấy vạt áo lau từ trong ra ngòai. Lão để cái thố lên cái chiếu con, bê hũ rượu ngang tầm, dùng răng cắn nhẹ nhàng lôi tuột cái nút lá chuối ra. Ông ngẩn ngơ, vì với cái nút ấy, ông phải cong lưng nhét vào dễ gì mà lấy ra nhẹ hều như thế. Vẫn chưa xong, lão nghiêng cổ vại ngang vai và từ từ chuyên rượu xuống cái chén. Ông láo ngáo, vì chẳng thấy một gịot nào vung vãi ra ngòai. Ủa mà lạ một điều nữa là, cứ nhè tay nghề như ông mà đổ rượu như thế là thể nào cùng có tiếng tong tong như mưa rơi ấy thôi. Vậy mà lão rót không một tiếng động, ngay cả bọt tăm bằng mắt con rạm cũng không nốt. Quái thật.</p>
<p>Lão lặng lẽ cúi gập lưng xuống, cái đầu gần sát đất. Với mười ngón tay, lão từ tốn đưa cái chén thố lên…Ông bụng bảo dạ, cái ngữ này to hơn quả bứa gì cho cam, mà phải khúm núm bằng cả hai tay đến rõ khổ. Ấy vậy mà lão chưa nốc ngay, lão nghểnh tai nghe ngóng động tĩnh trên không…Hêu hêu trên ngọn cây gạo bên kia bìa trảng có ổ chim cú đã về tổ từ lâu, tứ bề im ắng. Ngòai tiếng cuốc kêu xa xa, chơ vơ như mũi đinh thích nhẹ vào thinh không bàng bạc. Tĩnh lặng. Mắt lão hấp háy lặng lờ nhìn ra ngòai cánh đồng trống xâm xấp những nước là nước, dưới chân núi lầm thầm hơi sương trườn mặt đất từ cửa rừng bò ra cánh đồng…Chẳng hiểu nghĩ ngợi gì, như có gì u mặc lắm, lão chậm chạp đặt cái chén xuống.</p>
<p>Ông chột dạ, hay lão chê rượu xuân, hạ, thu, đông nhà ông. </p>
<p>Như không biết mọi người đang hom hom nhòm, lão sửa lại thế ngồi cho ngay ngắn, vuốt lại cái nếp quần thô mà lúc này ông mường tượng ra tấm nâu sòng…Lão nhổ nước bọt vào hai lòng bàn tay, xoa xoa vào nhau như bắt ấn. Lão đĩnh đạc bưng cái chén lên, cũng với hai tay cùng vẫn từng ấy động tác như dâng hương khấn sớ. Gần đến cằm, tay này chuyển cái chén thố lên lòng bàn tay kia. Tay còn lại đưa xuống mu bàn tay có cái chén. Tất cả những động tác ấy nom thật nhẹ nhàng đến gần như quen thuộc của một tay sành rượu lão đời. Vậy mà lão vẫn chẳng chịu ực ngay, mắt cứ chăm chăm vào mặt rượu gần như không sóng sánh, ngay cả một gợn sóng nhẹ tênh cũng không. Ông phân vân, cái chén có gì mà săm soi, mà giời ạ, lão thì…thong manh rõ. Nhưng ông ngắm kỹ, lão ấy chẳng ra dáng một người hành khất mà phong thái thóat tục như sư cụ chùa làng. </p>
<p>Lão chậm rãi đưa ngang mũi, cái yết hầu cứ thụt lên, thụt xuống. Rất nhàn nhã, thong dong với mõ sớm chuông chiều. Trong lắng đọng, lão thở ra và hít vào một hơi thật ngắn, thật nhẹ. Thế rồi mắt lão cứ hấp háy lim dim. Mặt cứ đờ ra. Miệng mấp máy như lâm râm tụng kinh. Được mấy khắc, lão thảnh thơi đặt cái chén xuống&#8230; Mọi người ngẫng ngẫng với nhau. Riêng cụ thì không…Như lễ nghi kinh kệ đã hòan tất, lão cuốn cái chiếu bỏ vào bị, bình thản đứng lên, nải bố quàng vai, khật khờ đi về phía ruộng nước và đằng sau là con chó đang lò cò nhẩy bước một với ba cái chân. Cả hai hướng về cái gò mả mà hôm nay ông thấy có môt cái dáng khác hơn mọi lần, hình dạng cái gò giống như một con nhái khùynh chân ôm cái bến đò.</p>
<p>Thế nhưng cái bát thì lão để quên!</p>
<p>Lão khuất sau mấy cái mả hoang, trơ trơ một quãng trống lộng gió cằn cỗi, một thóang chiều còn sót lại, ngày như tắt ngúm, mở ngảng thóat ra trảng hoang vu. Ông thấy hồn ông nhao nhác, giữa đồng không mông quạnh, như có tiếng sáo diều. Mà nào có. Chỉ thóang như có tiếng đồng dao văng vẳng nghêu ngao từ…lão với tiếng còn tiếng mất vẳng lại: “Hề…! Tửu nhân…hề tửu nhân”. Mà không lẽ, nhìn qua cụ, như tự kỷ ám thị, ông thấy cụ đang nhóp nhép như nhai mấy hạt lạc rang dở dang. Miệng như cụ mấp máy: “Hề…! Tức Mặc tửu nhân khứ vô hồi”. Trộn lẫn và đứt quãng, nên thực tình ông không biết là ai cất tiếng tiếp…: “Hề…! Vấn ngã tại hà liên giao hợp &#8211; Hề…! Lồ phồn tửu. Hề tửu nhân bôi”.</p>
<p>***</p>
<p>Bóng lão ăn mày khuất dần, lúc này cụ mới lên tiếng: </p>
<p>&#8211; Này nhìn cho kỹ kìa…Ấy đấy, lão đi trước, con chó lò dò đi sau thì mù ở cái khổ nào, thưa mấy bác. </p>
<p>Cụ chỉ vào cái bát, thong thả tiếp:</p>
<p>&#8211; Nhẵn như đít nồi, bác nào rỗi hơi cứ thử thì hẵng hay.</p>
<p>Nhẵn như đít nồi… ông phó Canh nhủ thầm, gì mà lạ, rõ như ban ngày ban mặt bát rượu còn nguyên kia, ai đời chó lại chê cứt. Ông hết nhìn cụ, tới đám khách, đến cái bát. Lúc này cụ mới lừng khừng nói với ông:</p>
<p>&#8211; Như tôi đã mạn phép thưa, đến lúc nhà bác cũng gặp thôi.</p>
<p>Cụ phe phẩy cái nón:</p>
<p>&#8211; Đó là phép “Hấp tửu sương”.</p>
<p>Ông đi lại quơ cái vò Xuân Sinh và mở nút đế xem nếp tẻ ra sao. Ông nhăn mặt phun phè phè ra ngay, vì rượu lạnh tanh như nước ốc. Mà lạ chửa, vại rượu còn bùn khô đất bám, ẩn hiện như lão hành khất quẹt nét ngang sổ dọc bằng móng tay thật sắc nét, nét hai chữ thảo…Hảo tửu. Bán tín bán nghi, ông cầm cái bát lên, cũng…hít hà như lão ăn mày, và đúng như cụ nói, ông chẳng ngửi thấy mùi rượu gì cả, lạt thếch như nước ruộng. Lật ngửa cái trôn, có ấn dấu triện đỏ nâu với hàng chữ Thiên Trường phủ chế. Quanh men chén có hai câu thơ thủy mặc Vị thủy đầu can nhật, kỳ sơn nhập mộng thần. Ông đắn đo, đồ Nội Phủ này dường như quen quen, như mới đâu đây, nhớ lại hồi nhỏ ông theo bố ông hầu rượu quan Thái Sư, hình như ông đã thấy cái chén ấy…Trong một thóang… </p>
<p>Thóang như cụ đây có nét thanh cảnh như…Ngài Thái sư.</p>
<p>Quay lại để nhìn cho kỹ thì…cụ không còn đấy nữa. Cụ đột nhiên biến mất, như mây trôi gió thỏang tan lõang vào hư không. Quanh chỗ cụ đứng, chỉ thấy trời đất trầm tiềm, đủng đỉnh muôn niên ngót hòanh cổ đại. Mặc dù Ngài Thái sư Trần Thủ Độ về với thiên cổ đâu đó vào cái năm Ất Dậu ngày nào. Ông như đang đắm chìm trong ruộng, núi, rừng dạt dào một nỗi quan hòai, quan san của người về từ một cõi u minh, u tịch…Thẫn thờ hướng ra bến bãi, về phía cái gò mả, chỉ thấy tha ma mộ địa với đám cỏ gà hiu hắt, vi vu chạy từng gợn, từng gợn đuổi bắt nhau. Chung quanh lẫm mây mù, lởn vởn chắt ra một thứ váng chiều ướt sũng, sền sệt như nước hến. Nhìn về phía bến đò chỗ cây gạo, cái thuyền thúng chơ vơ, cái mái chèo gác một bên gờ và đang…chòng chành…chòng chành&#8230;trên sóng nước.</p>
<p>Chỗ cụ ngồi, như có vật gì được chặn dưới cái bát chiết yêu, ông vội rảo bước tới thì…Bố mẹ ơi, ngòai dăm đồng tiền kẽm, lỗ vuông…Ông thấy một nắm giấy bèo nhèo như giấy vàng mã để hóa vàng, như trong ngày lễ phủ hội đồng văn Bà Chúa Liễu. Ông cầm lên thấy tiền in ấn hình long vân, long giáng, thủy ba, tản vân. Ông xăm xúi đọc bốn chữ công Thiên Trường thông bảo dưới là niên hiệu Mậu Thìn thời tiên vương Trần Minh Tông.</p>
<p>Nhìn vào quán nhà, ông thấy khách lậm rượu mỗi lúc một đông. Họ đang lên cơn đồng thiếp, họ đang nhập vai phi tửu đồ bất thành trượng phu, bất tri tửu đạo bất hiền nhân. Ông ngửa mặt nhìn lên bầu trời, đất với trời vẫn u ám như chậu nước gạo đục, mây xám mỏng như bánh tráng trũng&#8230;</p>
<p>Trúc gia trang</p>
<p>Hạ chí, Quý Mùi niên</p>
<p>Ngộ Không Phí Ngọc Hùng </p>
<p>Nguồn: Nguyễn Bản, Chu Thiên, Phạm Lưu Vũ,</p>
<p>Băng Đình, Nguyễn Hữu Liêm, Nguyên Bá, Độc</p>
<p>Cô, Đặng Thân, Bàn Tài Cân, Đào Vũ Hòai.</p>
<p>***</p>
<p>Phụ đính: </p>
<p>Nhiều người vẫn lầm tưởng rằng tiền giấy đầu tiên của nước ta được in ấn, phát hành dưới triều Hồ. Cho đến khi trong một văn bản sử học, Trần Khánh Dư có nói một câu: “Tiền giấy đời Trần ta …”. Sau đây, người ta tìm ra thời điểm ra đời của những tiền giấy đầu tiên này sớm hơn. Trước khi triều Hồ thành lập, người có ý tưởng là Vương Nhữ Chu vào cuối năm Mậu Thìn (1388), Tư liệu về Vương Nhữ Chu không nhiều nên đến nay chúng ta vẫn chưa thể biết được chính xác quê quán, năm sinh năm mất và chi tiết về cuộc đời cũng như sự nghiệp của ông là được vời ra làm quan, giữ chức Thái bảo. </p>
<p>Ông đã dùng tiền giấy thay cho tiền đồng chứ không phải là Hồ Quý Ly.&#160; </p>
<table border="0" cellspacing="0" cellpadding="0">
<tbody>
<tr>
<td>
<p><a href="https://t-van.net/wp-content/uploads/2012/01/clip_image0031.jpg"><img loading="lazy" decoding="async" style="background-image: none; border-bottom: 0px; border-left: 0px; padding-left: 0px; padding-right: 0px; display: inline; border-top: 0px; border-right: 0px; padding-top: 0px" title="clip_image003" border="0" alt="clip_image003" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2012/01/clip_image003_thumb1.jpg?strip=all&fit=436%2C218" width="436" height="218" /></a></p>
</td>
</tr>
<tr>
<td>
<p><strong><em>Tiền “Hội sao thông bảo” do một nhà sưu tầm vẽ lại. </em></strong></p>
</td>
</tr>
</tbody>
</table>
<p>Cho mãi đến năm 1396 tức 8 năm sau : </p>
<p>&quot;Mùa hạ tháng 4, Hồ Quý Ly mới bắt đầu phát tiền giấy Thông Bảo hội sao. In xong ra lệnh cho người đến đổi, cứ một quan tiền đồng đổi lấy 1 quan 2 tiền giấy. Thể thức tiền giấy: tờ 10 đồng vẽ rồng, tờ 30 đồng vẽ sóng, tờ 1 tiền vẽ mây, tờ 2 tiền vẽ rùa, tờ 3 tiền vẽ lân, tờ 1 quan vẽ rồng. Kẻ làm tiền giả bị tội chết, ruộng đất tài sản bị tịch thu. Cấm tuyệt tiền đồng, không được chứa lén, tiêu vụng, tất cả thu hết về kho Ngao Trì ở kinh thành và trị sở các xứ. Kẻ nào vi phạm cũng bị trị tội như làm tiền giả&quot;.</p>
<p>Tiền phát hành có hai yếu tố mới: tiền không ghi niên hiệu vua. Đây là một hình thức khai tử niên hiệu của triều đại Trần, chuẩn bị cho một triều đại mới. Tiền giấy sẽ góp phần giúp cho nhà Hồ thu về số lượng đồng lớn dùng để đúc vũ khí, đặc biệt là súng thần công, một loại binh khí mới được ra đời trong thời gian này. Chính vì thế, tiền giấy được nhà Hồ phát huy hiệu quả triệt để thời gian khi cầm quyền. </p>
<p>Cho đến nay, chúng ta chưa tìm được đồng tiền giấy nào cho nên chưa rõ kỹ thuật in ấn, cách thể hiện hình vẽ mà chỉ biết được qua ghi chép trong lịch sử. Nhưng những hiện vật thời Trần tìm được qua các cuộc khai quật khảo cổ học như hình rồng, thủy ba (sóng nước), tản vân (vân mây) khắc tạc trên các bệ đá thời Trần đã phần nào cho biết sự phức tạp của các họa tiết trang trí trên đồng tiền này. Tiền giấy cũng cho thấy, nghề sản xuất giấy có sự phát triển đặc biệt với kỹ thuật sản xuất ra loại giấy để in tiền.</p>
<p>©T.Vấn 2012</p>
]]></content:encoded>
					
					<wfw:commentRss>https://t-van.net/ng%e1%bb%99-khng-t%e1%bb%adu-s%c6%b0-2/feed/</wfw:commentRss>
			<slash:comments>0</slash:comments>
		
		
			</item>
		<item>
		<title>LN Đồng : Rượu &#8211; Chuyện v&#227;n : Vẻ vang M&#237;t tộc</title>
		<link>https://t-van.net/ln-d%e1%bb%93ng-r%c6%b0%e1%bb%a3u-chuy%e1%bb%87n-vn-v%e1%ba%bb-vang-mt-t%e1%bb%99c-2/</link>
					<comments>https://t-van.net/ln-d%e1%bb%93ng-r%c6%b0%e1%bb%a3u-chuy%e1%bb%87n-vn-v%e1%ba%bb-vang-mt-t%e1%bb%99c-2/#respond</comments>
		
		<dc:creator><![CDATA[LN Đồng]]></dc:creator>
		<pubDate>Wed, 28 Dec 2011 14:34:00 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Góc Văn]]></category>
		<category><![CDATA[ln Đồng]]></category>
		<category><![CDATA[rượu]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://7076e870b2.nxcli.io/?p=14006</guid>

					<description><![CDATA[Đã là tuyệt cú mèo: Black Label  của Wolf Blass (shiraz + cabernet sauvignon) Shiraz hay Cabernet? Độc giả T. Nguyễn ở NSW hỏi: Tôi nghe nói về vang đỏ, Úc nổi tiếng với loại rượu shiraz, nhưng một người bạn Úc lại nói với tôi rằng shiraz là loại rượu tầm thường, và đề [&#8230;]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<table border="0" cellspacing="1" cellpadding="0">
<tbody>
<tr>
<td></td>
</tr>
</tbody>
</table>
<table border="0" cellspacing="0" cellpadding="0">
<tbody>
<tr>
<td><a href="https://t-van.net/wp-content/uploads/2013/08/clip_image00110.jpg"><img loading="lazy" decoding="async" style="background-image: none; float: none; padding-top: 0px; padding-left: 0px; margin-left: auto; display: block; padding-right: 0px; margin-right: auto; border: 0px;" title="clip_image001" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2013/08/clip_image001_thumb9.jpg?strip=all&fit=354%2C266" alt="clip_image001" width="354" height="266" border="0" /></a></td>
</tr>
<tr>
<td><strong>Đã là tuyệt cú mèo: Black Label  của Wolf Blass (shiraz + cabernet sauvignon)</strong></td>
</tr>
</tbody>
</table>
<p><strong><em>Shiraz hay Cabernet?</em></strong><strong><em></em></strong></p>
<p>Độc giả T. Nguyễn ở NSW hỏi: Tôi nghe nói về vang đỏ, Úc nổi tiếng với loại rượu shiraz, nhưng một người bạn Úc lại nói với tôi rằng shiraz là loại rượu tầm thường, và đề cao cabernet sauvignon và merlot. Sự thật ra sao?</p>
<p>&#8211; Người bạn Úc của ông vừa đúng vừa sai. Đúng ở chỗ cho shiraz là loại rượu tầm thường. Xưa nay, đa số dân trồng nho đã đồng ý liệt kê 6 giống nho sau đây – 3 trắng, 3 đỏ &#8211; là nho quý phái (noble):  sauvignon blanc – riesling – chardonnay – cabernet sauvignon – merlot. Như vậy là không có shiraz!</p>
<p>Thế nhưng, cũng giống như  việc nhận xét các cô gái, “quý phái” là một chuyện, có “đáng yêu” hay không lại là một chuyện khác. Hoặc nói về xe hơi, nếu liệt kê ra 6 hiệu xe xịn nhất thế giới thì dứt khoát Toyota phải nhường chỗ cho các hãng như Mercedes-Benz, BMW, Audi của Đức, Rolls-Royce của Anh, Ferrari, Lamboghini, Masareti của Ý, v.v&#8230; Nhưng khi nói về mức độ ưa chuộng thì hiện nay Toyota là số 1 thế giới.</p>
<p>Rượu shiraz của Úc cũng thế thôi. Vì điều kiện phong thổ của Úc thích hợp với giống nho shiraz, cho nên người ta trồng nho này nhiều hơn các giống nho khác. Rồi từ đó, tìm tòi và rút tỉa kinh nghiệm để cho những chai shiraz ngon nhất thế giới, chẳng hạn chai “Grange” của hãng Penfolds, chai “Platinum Label” của hãng Wolf Blass&#8230; Có thể ví von hai shiraz này là xe “Lexus” của hãng Toyota!</p>
<p>Không phải LNĐ chê dân Úc, nhưng nếu quen biết nhiều và bỏ công tìm hiểu, ta sẽ thấy tỷ lệ người sành rượu vang cũng không cao lắm. Mặc dù số người uống rượu vang ngày càng gia tăng, tỷ lệ uống bia hiện vẫn còn cao hơn nhiều. Và trong số uống ruợu vang ấy, đa số lại uống rượu dưới 15 đô-la một chai, thì kiến thức và khả năng thưởng thức của họ không thể sánh với các hội viên Hoàng Hoa Hội được. LNĐ nói thật chứ không nói đùa!</p>
<p>Thành thử, trong khi bản thân vẫn ưa chuộng cabernet sauvignon (dân Úc gọi tắt là “Cav”), bởi nó dung hòa cả 3 yếu tố “sắc, hương, vị” &#8211; giống như một người con gái vừa đẹp vừa sang vừa biết cách chiều chuộng – LNĐ vẫn phải nhìn nhận shiraz là loại rượu đáng đồng tiền bát gạo nhất của Úc; nghĩa là cùng một giá tiền thì nên chọn shiraz.</p>
<p>Riêng “merlot” thì thú thật, những chai 15 đô-la trở xuống, LNĐ uống không nổi, còn mắc tiền hơn thì&#8230; ngu sao mua?! Trên thực tế, chính các nhà viết về rượu vang của Úc, đa số cũng đồng ý rằng công dụng tốt nhất của merlot là dùng để pha trộn với shiraz hoặc cabernet sauvignon cho dịu bớt.</p>
<p><strong><em>Sauvignon Blanc &#8211; Riesling</em></strong><strong><em></em></strong></p>
<p>Tửu sĩ “Lai-rai” ở Victoria hỏi: gần đây thấy mục viết về rượu trên các báo Úc đua nhau ca tụng hai loại vang trắng “sauvignon blanc” và “riesling” quá xá cỡ. Như vậy, “chardonnay” có còn là “vua của vang trắng” nữa hay không?</p>
<table border="0" cellspacing="0" cellpadding="0">
<tbody>
<tr>
<td><a href="https://t-van.net/wp-content/uploads/2013/08/clip_image00254.jpg"><img loading="lazy" decoding="async" style="background-image: none; float: none; padding-top: 0px; padding-left: 0px; margin-left: auto; display: block; padding-right: 0px; margin-right: auto; border: 0px;" title="clip_image002" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2013/08/clip_image002_thumb52.jpg?strip=all&fit=354%2C267" alt="clip_image002" width="354" height="267" border="0" /></a></td>
</tr>
<tr>
<td><strong>Riesling</strong></td>
</tr>
</tbody>
</table>
<p>LNĐ xin trả lời vắn tắt Tửu-sĩ Lai-rai:</p>
<p>“Chardonnay” muôn đời vẫn là “vua của vang trắng”, nhưng như LNĐ đã viết trước đây: chardonnay, khi ngon thì không một loại vang trắng nào ngon bằng, mà khi dở thì cũng không một loại vang trắng nào dở bằng. Nói cách khác, muốn thưởng thức chardonnay thì cần có trình độ uống rượu và có tiền!</p>
<p>Một chai chardonnay dưới 15 đô-la, uống vào chỉ thấy chua loét, muốn “uống được” thì phải trên dưới 20 đô-la (thí dụ các chai Taylors, Yarra Ridge, Blue Pyrenees, Petulama, Coldstream&#8230;); còn dưới  20 đô-la thì chỉ có vài chai như Jacob’s Creek Reserve, Annie’s Lane&#8230; là uống tạm được.</p>
<p>Trong khi đó, sauvignon blanc và riesling thì nếu mua loại rẻ tiền cũng chỉ “lạt” chứ không “chua”.</p>
<p>Nói về vang trắng thì phong thổ của Úc lý tưởng để trồng nho chardonnay, còn Tây-tây-lan (New Zealand) thì thích hợp với nho sauvignon blanc.</p>
<p>Trong khoảng thời gian 10 năm vừa qua, trong khi chardonnay của Úc đã “đụng la-phông” thì sauvignon blanc của Tân-tây-lan cất cánh – không phải do quảng cáo rầm rộ như “viognier” gần đây mà dân uống rượu đã tìm ra chân lý: không nhất thiết phải uống những chai chardonnay đắt tiền, mà chỉ cần uống những chai sauvignon blanc vừa túi tiền, mà vẫn có thể “đi” với đồ biển, thịt trắng một cách tuyệt vời!</p>
<p>Thứ đến là “riesling”. Đây là loại nho trắng quý phái, thanh tao bậc nhất của Âu châu, nhưng khi được du nhập vào Úc cách đây mấy chục năm, đã bị dân trồng nho Miệt Dưới pha trộn với những loại nho rẻ tiền của địa phương cho nên riesling bị mất tiếng. Nay, trước “hiểm họa” bị Tân-tây-lan độc chiếm thị trường với sauvignon blanc của vùng Marlborough, người Úc đã phải làm ăn “đàng hoàng” hơn, kết quả là những chai riesling ngày càng được ưa chuộng, phổ biến.</p>
<p>Tóm lại, tạm quên những chai chardonnay giá từ 50 đô-la trở lên, chúng ta có thể sử dụng hai loại vang trắng “sauvignon blanc” của Tân-tây-lan (giá khoảng 20 đô-la) và “riesling” của Úc trong bất cứ hoàn cảnh nào cần tới vang trắng.</p>
<p>“Sauvignon blanc” để đi với các món hải sản đậm đà, còn “riesling” đi với các món không có nước, hoặc chiên dòn – chẳng hạn chả giò (spring rolls) của Việt Nam – thì không còn gì tuyệt vời cho bằng.</p>
<p>Hai chai riesling của Úc vừa túi tiền là MadFish Riesling (giá hơn 20 đô-la) và Leasingham Bin 7 Claire Valley Riesling (khoảng 15 đô-la)</p>
<p><strong><em>Pinot Noir là cái chi chi?</em></strong></p>
<p>Độc giả A. Huỳnh ở Victoria hỏi: gần đây ông được người bạn Úc cùng sở, du lịch Tân-tây-lan về tặng một chai “Pinot Noir”, nói là đặc sản của xứ này. Xin cho biết “pinot noir” là loại rượu gì?</p>
<table border="0" cellspacing="0" cellpadding="0">
<tbody>
<tr>
<td><a href="https://t-van.net/wp-content/uploads/2013/08/clip_image0036.jpg"><img loading="lazy" decoding="async" style="background-image: none; float: none; padding-top: 0px; padding-left: 0px; margin-left: auto; display: block; padding-right: 0px; margin-right: auto; border: 0px;" title="clip_image003" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2013/08/clip_image003_thumb4.jpg?strip=all&fit=354%2C237" alt="clip_image003" width="354" height="237" border="0" /></a></td>
</tr>
<tr>
<td><strong>Nho Pinot Noir</strong></td>
</tr>
</tbody>
</table>
<p>“Pinot noir” là một loại nho gốc từ Pháp, màu đỏ sẫm tới mức gần như đen cho nên mới gọi là “noir” (black). Đây là loại nho hiếm quý bậc nhất, bởi vì chỉ cần khí hậu thay đổi bất thường một chút là “tiêu” một mùa nho. Cho nên chỉ ở những nơi có khí hậu tương đối cố định như Tân-tây-lan hoặc đảo Tasmania, bán đảo Mornington (VIC) của Úc mới đủ điều kiện trồng “pinot noir”.</p>
<p>Vì thế, cùng với vang trắng sauvignon blanc, Tân-tây-lan còn nổi tiếng thế giới với vang đỏ pinot noir. Thành thử, đi chơi bên nớ, mua pinot noir làm quà là đúng điệu. Bởi sauvignonc blanc của vùng Marlborough, bên Úc bày bán ê hề.</p>
<p>Cũng tương tự như chardonnay bên vang trắng, muốn uống pinot noir phải chấp nhận tốn tiền, chứ đừng mua chai 15 đô-la. Muốn thử pinot noir, các tửu sĩ có thể mua chai “Massale” của hãng Kooyong của Úc, giá trên 20 đô-la, để thấy hương vị độc đáo, rất khó diễn tả của loại rượu này – mà một nhà báo đã ví như sự quyến rũ của những mỹ nhân ngư: đẹp mê hồn nhưng không bao giờ cho chúng ta “đụng” tới.</p>
<p>Còn nếu muốn “nổ” cho dân uống rượu thứ thiệt phải nể, thì cứ xạo là ta đã từng uống chai pinot noir hiệu “Ata Rangi” của xứ Kiwi (giá khoảng 75-80 đô-la), được đánh giá là một trong những chai riesling ngon nhất thế giới, tương tự như chai shiraz Penfolds “Grange” của Úc vậy!</p>
<p><strong><em>Rượu “nô nêm” của nhà hàng </em></strong><strong><em></em></strong></p>
<p>Độc giả X. Nguyễn ở Victoria hỏi: về việc sử dụng rượu, bia trong các tiệc cưới, trong khi các nhà hàng Việt Nam, nhà hàng Tàu dễ dãi, khách muốn lấy rượu của họ hay đem rượu của mình tới đều được, thì một số reception của Tây lại bắt buộc mình phải uống rượu của họ, nhiều khi là rượu “nô nêm”&#8230; Tại sao dân Tây mà chơi “bần” vậy?</p>
<p>&#8211; Nếu độc giả Nguyễn chê dân Tây “bần” ở chỗ bắt mình phải uống rượu của họ, LNĐ đồng ý, nhưng nếu ông chê họ “bần” vì xài rượu “nô nêm”, chúng ta cần xét lại.</p>
<p>Theo LNĐ được biết, một số các nhà hàng mà “ăn” là mục chính, và một số reception đã có thỏa thuận với hãng rượu nào đó để chỉ sử dụng rượu vang của hãng này. Những chai rượu ấy có khi dán nhãn như những chai bán ở tiệm, có khi dán nhãn đặc biệt, có khi không hề dán nhãn.</p>
<p>Trường hợp dán nhãn đặc biệt hoặc không dán nhãn, chúng ta phải thử mới biết được rượu ngon hay dở. Cũng nên biết, cùng một reception, nhưng rượu cũng có nhiều thứ hạng khác nhau; riêng LNĐ đã từng được uống một chai “nô nêm” rất ngon. Thành thử nếu tổ chức tiệc tùng, cưới hỏi ở reception của tây, và muốn đãi rượu vang, thì khi “deal” nên dắt một người bạn biết uống rượu đi theo để thử rượu, tránh những trường hợp thức ăn ngon mà rượu lại quá tệ!</p>
<p>Cổ xanh cũng uống rượu trắng!</p>
<p>Tửu sĩ Tâm Lê (NSW) là dân cổ xanh, nhưng muốn “chơi cho đáng mặt anh hùng”, yêu cầu LNĐ liệt kê vài chai chardonnay phổ biến và nổi tiếng.</p>
<table border="0" cellspacing="0" cellpadding="0">
<tbody>
<tr>
<td><a href="https://t-van.net/wp-content/uploads/2013/08/clip_image00423.jpg"><img loading="lazy" decoding="async" style="background-image: none; float: none; padding-top: 0px; padding-left: 0px; margin-left: auto; display: block; padding-right: 0px; margin-right: auto; border: 0px;" title="clip_image004" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2013/08/clip_image004_thumb22.jpg?strip=all&fit=304%2C403" alt="clip_image004" width="304" height="403" border="0" /></a></td>
</tr>
<tr>
<td><strong>Voyager  Estate Chardonnay  </strong></td>
</tr>
</tbody>
</table>
<p>&#8211; Tính theo giá tiền thì từ cao xuống thấp, chardonnay của Úc có những chai nổi tiếng và phổ biến sau đây:</p>
<p>&#8211; Penfolds Reserve Bin 00A Chardonnay (khoảng $60)</p>
<p>&#8211; Eileen Hardy Chardonnay (khoảng $50)</p>
<p>&#8211; Voyager Estate Chardonnay (khoảng $35)</p>
<p>&#8211; Houghton Pemberton Chardonnay (dưới $30)</p>
<p>&#8211; Petaluma Chardonnay (dưới $30)</p>
<p>&#8211; Coldstream Hill Chardonnay (dưới  $25)</p>
<p>&#8211; Jacob’s Creek Reserve Chardonnay (dưới $20)</p>
<p>&#8211; Annie’s Lane Chrdonnay (dưới $20)</p>
<p>&#8211; Jamieson’s Run Chardonnay ($15-16)</p>
<p>Trong số các chai nói trên, LNĐ ưng nhất là chai  “Voyager Estate Chardonnay” – đủ ngon miệng mà không bị cháy túi!</p>
<p><strong>Ln Đồng</strong></p>
<p>&nbsp;</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>©T.Vấn 2011</p>
]]></content:encoded>
					
					<wfw:commentRss>https://t-van.net/ln-d%e1%bb%93ng-r%c6%b0%e1%bb%a3u-chuy%e1%bb%87n-vn-v%e1%ba%bb-vang-mt-t%e1%bb%99c-2/feed/</wfw:commentRss>
			<slash:comments>0</slash:comments>
		
		
			</item>
		<item>
		<title>LN Đồng : Rượu &#8211; H&#242;ang Hoa Tửu</title>
		<link>https://t-van.net/ln-d%e1%bb%93ng-r%c6%b0%e1%bb%a3u-hang-hoa-t%e1%bb%adu-2/</link>
					<comments>https://t-van.net/ln-d%e1%bb%93ng-r%c6%b0%e1%bb%a3u-hang-hoa-t%e1%bb%adu-2/#respond</comments>
		
		<dc:creator><![CDATA[LN Đồng]]></dc:creator>
		<pubDate>Tue, 20 Dec 2011 14:40:00 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Góc Văn]]></category>
		<category><![CDATA[ln Đồng]]></category>
		<category><![CDATA[rượu]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://7076e870b2.nxcli.io/?p=14011</guid>

					<description><![CDATA[Kỳ này, LNĐ xin phép quý độc giả không uống rượu để trả lời một số thắc mắc của hội viên Hoàng Hoa Hội. Cũng giống như loạt bài trước đây, mục đích của bài này chỉ là phục vụ nhu cầu mở rộng kiến thức, chứ không hề đề cao, khuyến khích việc uống [&#8230;]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<table border="0" cellspacing="1" cellpadding="0">
<tbody>
<tr>
<td></td>
</tr>
</tbody>
</table>
<table border="0" cellspacing="0" cellpadding="0">
<tbody>
<tr>
<td><a href="https://t-van.net/wp-content/uploads/2013/08/clip_image00111.jpg"><img loading="lazy" decoding="async" style="background-image: none; float: none; padding-top: 0px; padding-left: 0px; margin-left: auto; display: block; padding-right: 0px; margin-right: auto; border: 0px;" title="clip_image001" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2013/08/clip_image001_thumb10.jpg?strip=all&fit=354%2C267" alt="clip_image001" width="354" height="267" border="0" /></a></td>
</tr>
</tbody>
</table>
<p>Kỳ này, LNĐ xin phép quý độc giả không uống rượu để trả lời một số thắc mắc của hội viên Hoàng Hoa Hội. Cũng giống như loạt bài trước đây, mục đích của bài này chỉ là phục vụ nhu cầu mở rộng kiến thức, chứ không hề đề cao, khuyến khích việc uống rượu; hoặc có chăng cũng trong chiều hướng tích cực, bởi vì rượu, nếu uống đúng nơi đúng lúc, và đúng cách, chỉ có lợi cho hạnh phúc gia đình: nhất là trong những gia đình mà bà vợ xuất sắc trong vai đầu bếp, còn ông chồng thì biết cách chọn rượu – Hoàng Dung &#8211; Quách Tĩnh thưở xưa, có tâm đầu ý hợp cũng chỉ đến mức đó là cùng!</p>
<p><strong><em>I- Hoàng Hoa Tửu </em></strong><strong><em>:</em></strong></p>
<p>Tửu sĩ TTA ở Victoria hỏi:</p>
<p>Tôi vẫn biết “Hoàng Hoa Hội” là hội của những người uống rượu sành điệu, nhưng rượu Hoàng Hoa là rượu chi, xưa nay tôi chỉ nghe nói, chưa từng nhìn thấy bao giờ, nói chi tới uống! Xin lão hội chủ khai sáng cho.</p>
<p>&#8211; Một cách ngắn gọn, hoàng hoa tửu (rượu hoàng hoa) là một loại rượu có nguồn gốc từ Trung Hoa, nấu cất bằng gạo nếp và hoa cúc vàng (hoàng hoa), để người sành điệu uống vào mùa thu.</p>
<p>Cho nên trong Đường thi mới có bốn câu:</p>
<p><em>Xuân du phương thảo địa</em><em></em></p>
<p><em>Hạ thưởng lục hà trì</em><em></em></p>
<p><em>Thu ẩm hoàng hoa tửu</em><em></em></p>
<p><em>Đông ngâm bạch tuyết thi&#8230;</em></p>
<p>Nghĩa là: mùa xuân du ngoạn vùng đất cỏ thơm, mùa hè ngắm ao sen xanh mướt, mùa thu uống rượu hoàng hoa, mùa đông ngâm thơ tả tuyết trắng.</p>
<p>Đi vào chi tiết, trước hết cũng cần phải nói cho rõ: “hoàng hoa tửu” không có gì dính dáng tới địa danh “Hoàng Hoa” của Trung Hoa. Địa danh “Hoàng Hoa”, theo sử Trung Hoa, là nơi mà vào thời Chiến Quốc và đời Đường, quân Trung Nguyên thường giao chiến với rợ Đột Khuyết và rợ Nhu Nhiên.</p>
<p>Còn hai chữ “hoàng hoa” có nghĩa là hoa cúc vàng, thì được sử dụng để chỉ (1) việc “đi lính thú” (tương tự “đi quân dịch” ngày nay), và (2) khi đi với chữ “tửu”, có nghĩa là “rượu hoàng hoa”.</p>
<p>Cả hai trường hợp sử dụng (1) và (2) đều có cùng nguyên nhân: tới mùa thu ở bắc bán cầu, hoa cúc vàng nở rộ.</p>
<p>Ngày xưa ở Trung  Hoa, con trai không cần biết sinh vào ngày tháng nào, khi đủ tuổi đi lính thú, thì cứ tới tháng 9 âm lịch, khi hoa cúc vàng nở rộ, là phải lên đường. Vì thế, thời kỳ đi lính thú  gọi là “hoàng hoa”.  Dần dần, “hoàng hoa” còn mang nghĩa bóng là nơi xa xôi, hiu quạnh. Trong Kinh Thi, chương “Hoàng hoàng giả hoa” chép:</p>
<p>Người đi lính thú hay đi sứ phương xa nhớ nhà làm thơ “hoàng hoa”.</p>
<p>Trong Chinh Phụ Ngâm có câu:</p>
<p><em>Xót người lần lữa ải xa,</em><em></em></p>
<p><em>Xót người nương chốn hoàng hoa dặm dài.</em> <em></em></p>
<p>Trong bài “Như Tây nhật trình”, viết về chuyến đi sứ sang Pháp của mình, Trần Đình Lượng cũng có câu:</p>
<p><em>Đường mây sớm dục sứ trời,</em><em></em></p>
<p><em>Pha-ri (Paris) muôn dặm mấy nhời hoàng hoa.</em></p>
<p>* * *</p>
<p>Tới đây nói về rượu hoàng hoa. Như đã viết ở trên, rượu hoàng hoa (hoàng hoa tửu) không dính dáng gì tới địa danh “Hoàng Hoa”, mà chỉ có nghĩa là loại rượu nấu cất bằng hoa cúc vàng (hoàng hoa), cho nên theo đúng nguyên tắc căn bản của văn phạm, hai chữ “hoàng hoa” viết thường chứ không viết hoa, trừ trường hợp được sử dụng như danh từ riêng, chẳng hạn “Hoàng Hoa Hội”, “Hoàng Hoa Quán”, v.v&#8230;</p>
<p>Nơi phát xuất của rượu hoàng hoa là Trung Hoa, không biết đích xác có từ thời nào, nhưng một khi đã được nhắc tới trong Ngũ Kinh thì phải xưa lắm.</p>
<p>Trước khi viết về cách nấu cất rượu hoàng hoa, xin được lạm bàn về câu “Thu ẩm hoàng hoa tửu” trong Kinh Thi. Tại sao mùa thu lại uống rượu hoàng hoa? Theo sách vở để lại, bởi vì vào mùa thu, hay viết một cách chính xác hơn, vào tiết “Trùng Cửu” (ngày 9 tháng 9 âm lịch, còn gọi là tiết “Trùng Dương” vì số 9 thuộc dương), là lúc hoa cúc vàng nở rộ, vừa ngắm hoa cúc vừa uống rượu cúc thì không gì tuyệt vời cho bằng!</p>
<p>Cũng nên biết ở bắc bán cầu, mỗi năm hoa cúc nở hai lần, một lần vào mùa xuân, một lần vào mùa thu. Mùa xuân trăm hoa đua nở, thì cúc cũng chỉ là một trong “trăm hoa”, chưa kể sắc hương còn có phần thua kém nhiều loài hoa quý. Nhưng tới mùa thu, khi cây lá úa vàng, mọi loài hoa khác đã vắng bóng, thì những bụi cúc trong chậu, ngoài vườn vẫn xanh tốt, vẫn trổ hoa.</p>
<p>Thành thử, khi sách vở viết rằng hoa cúc nở đẹp nhất vào mùa thu, tiết Trùng Cửu, thì chúng ta phải hiểu rằng những bông cúc mùa thu ấy chưa chắc đã “đẹp” hơn, hoặc bằng cúc mùa xuân,  nhưng bởi vì vào mùa thu, chỉ có một mình hoa cúc “độc diễn”, nên người ta mới có cảm tưởng hoa cúc nở đẹp nhất vào mùa thu!</p>
<p>Đặc điểm nở rộ vào mùa thu của hoa cúc còn được các cụ sánh với khí tiết của người quân tử, cho nên cái thú “Thu ẩm hoàng hoa tửu” và ngắm cúc vàng càng thêm phần&#8230; chính nghĩa!</p>
<p>* * *</p>
<p>Tới đây, viết về công việc nấu cất hoàng hoa tửu. Người Trung Hoa vốn có truyền thống “dấu nghề”, cách nấu đậu đỏ bánh lọt, làm đậu phộng da cá, nhồi bột bánh bao, băm thịt làm xíu-mại, nhân hoành thánh&#8230;, họ còn dấu, nói gì tới cách nấu cất hoàng hoa tửu! Cho nên cách nấu cất hoàng hoa tửu của người Việt chưa chắc đã là chân truyền từ Trung Hoa.</p>
<p>Thế nhưng trong lĩnh vực ẩm thực, qua rất nhiều trường hợp, yếu tố chân truyền không quan trọng bằng óc sáng tạo và kinh nghiệm. Thu hẹp trong việc nấu cất rượu, như LNĐ đã từng viết trong loạt bài nói về nguồn gốc các loại rượu, rượu whiskey Mỹ (Bourbon) là do di dân gốc Ái-nhĩ-lan, vì không có lúa mạch, bèn nấu đại&#8230; bằng bắp. Ngày nay, trên trái đất này, thử hỏi còn mấy người uống rượu “whisky Ái-nhĩ-lan” chân truyền, trong khi có hàng trăm triệu người thưởng thức các loại whiskey Mỹ, như Wild Turkey, Jack Daniel’s, Jim Beam, Cougar&#8230;</p>
<p>Suy ra, hoàng hoa tửu của Mít tộc chưa chắc đã thua kém hoàng hoa tửu của Hán tộc!</p>
<p>Nhưng (lại “nhưng”), chịu ảnh hưởng văn minh Hán tộc, Mít tộc cũng học được “đức tính” dấu nghề! Hậu quả, theo lời Viên Trân, một “cô bán rượu cao cấp” trong nước (được gọi là “nghệ nhân”), hiện nay ở nước Việt Nam hơn 80 triệu dân, chỉ còn khoảng 10 gia đình biết bí quyết nấu cất hoàng hoa tửu!</p>
<p>Về căn bản, hoàng hoa tửu là một loại rượu mạnh, cất bằng nếp và hoa cúc vàng. Trong một bài viết được phổ biến trên internet, một tác giả nọ đã viết “hoàng hoa tửu được chưng cất từ hoa cúc”.</p>
<p>Viết như thế là thiếu, bởi vì nếu chỉ có hoa cúc mà thôi, khi được chưng cất sẽ thành&#8230; nước hoa (dầu thơm)! Còn muốn chưng cất rượu, bắt buộc phải có một hay nhiều thành phần có khả năng lên men (nho, ngũ cốc, trái cây&#8230;), và trong trường hợp của hoàng hoa tửu, thành phần ấy chính là nếp.</p>
<p>Bản dịch Anh ngữ bài viết về Viên Trân được phổ biến trên Internet viết:</p>
<p><em>“Called hoang hoa tuu, the wine is made of Indian chrysanthemums and sticky rice and buried underground in a container for six to 10 years”. </em></p>
<p><em>(Rượu có tên là hoàng hoa tửu, làm bằng hoa cúc Ấn-độ và gạo nếp, được đựng trong bình chôn dưới đất từ sáu tới 10 năm)</em><em></em></p>
<p>“Hoa cúc Ấn-độ” nói tới ở đây là hoa cúc vàng (hoàng hoa), còn gọi là “kim cúc”. Cũng nên biết, “kim cúc” và “bạch cúc” được người Tàu người Việt sử dụng trong lĩnh vực trà rượu, là giống hoa cúc nhỏ, chỉ bằng cái nút áo măng-tô, chứ không phải cúc đại đóa.</p>
<p>Đặc tính của “kim cúc” là có mùi vị thơm ngọt, còn “bạch cúc” thì thơm nhẹ và vị đắng. Vì thế “kim cúc” được sử dụng để nấu rượu còn “bạch cúc” để ướp trà.</p>
<p>* * *</p>
<p>Tới đây, tất cả những gì chúng ta được biết về hoàng hoa tửu là loại rượu này được chưng cất (distilled) từ gạo nếp và kim cúc. Còn chưng cất như thế nào, chưng cất chung hai thứ hay chưng cất riêng rẽ rồi sau đó pha trộn &#8211; như nguyên tắc rượu mùi (vermouth) của tây phương – không ai được biết.</p>
<p>Thậm chí cả tới việc phơi khô hay không phơi khô hoa cúc trước khi chưng cất, hai tác giả hai của bài viết trên Internet cũng viết khác nhau (mặc dù cả hai đều nói rằng họ viết theo lời kể của Viên Trân!)</p>
<p>Cũng nên biết, theo nguyên tắc chưng cất nước hoa cũng như các loại rượu mùi của người tây phương, thì hoa và thảo mộc chỉ được “ủ” chứ không phơi khô&#8230;.</p>
<p>Nói về cách thưởng thức hoàng hoa tửu, về căn bản cũng như tương tự như uống trà cúc; nghĩa là uống bằng chén sứ trắng, và bỏ một vài bông hoa khô vào.</p>
<p>Nhưng (lại chữ “nhưng”), thời buổi ngày nay làm sao có được hoàng hoa tửu để uống; và điều quan trọng hơn nữa là cho dù hoàng hoa tửu của “nghệ nhân” Viên Trân trong nước hiện nay là hoàng hoa tửu thứ thiệt, uống vào chúng ta có cảm thấy ngon hay không, khó lòng mà nói trước!</p>
<p>Cho nên, hai chữ “Hoàng Hoa” trong danh xưng “Hoàng Hoa Hội” xin được hiểu theo nghĩa bóng: hội của những người uống rượu sành điệu, và dĩ nhiên, tư cách đầy mình!</p>
<p>Và trong khi không còn cơ hội uống rượu cúc, các hội viên Hoàng Hoa Hội vẫn có thể tiếp tục thưởng thức trà cúc, theo phương cách đơn giản sau đây: trà không ướp + bạch cúc (hoa khô) + cam thảo; sau khi rót trà ra chén, lấy một bông cúc trong bình trà thả vào chén trà, thì cũng sẽ có đủ “vị, hương, sắc” của bạch cúc như đã được mô tả trong sách vở của các cụ ngày xưa&#8230;</p>
<p>Bên cạnh đó, theo đông y, bạch cúc còn được xem là vị “mát” (trái với “nóng”). Đúng ra, ngày còn ở Việt Nam, công thức đầy đủ mà LNĐ được một đàn anh trong văn giới chỉ bày là: trà không ướp + bạch cúc + liên tu + cam thảo.</p>
<p>Bạch cúc và liên tu (râu hoa sen) có công dụng “mát”, còn cam thảo đem lại cái “hậu” cho trà.</p>
<p>Dĩ nhiên, “liên tu” nhắc tới ở đây là từ Hán – Việt, không dính dáng gì tới thành ngữ “liên tu bất tận” trong tiếng Việt, thường bị hiểu theo một nghĩa không tiện viết ra trên trang báo này.</p>
<p><strong>LN Đồng</strong></p>
<p>&nbsp;</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>©T.Vấn 2011</p>
]]></content:encoded>
					
					<wfw:commentRss>https://t-van.net/ln-d%e1%bb%93ng-r%c6%b0%e1%bb%a3u-hang-hoa-t%e1%bb%adu-2/feed/</wfw:commentRss>
			<slash:comments>0</slash:comments>
		
		
			</item>
		<item>
		<title>LN Đồng : Rượu: chuyện v&#227;n &#8211; Rượu n&#224;o cho m&#249;a đ&#244;ng sắp tới?</title>
		<link>https://t-van.net/ln-d%e1%bb%93ng-r%c6%b0%e1%bb%a3u-chuy%e1%bb%87n-vn-r%c6%b0%e1%bb%a3u-no-cho-ma-dng-s%e1%ba%afp-t%e1%bb%9bi-2/</link>
					<comments>https://t-van.net/ln-d%e1%bb%93ng-r%c6%b0%e1%bb%a3u-chuy%e1%bb%87n-vn-r%c6%b0%e1%bb%a3u-no-cho-ma-dng-s%e1%ba%afp-t%e1%bb%9bi-2/#respond</comments>
		
		<dc:creator><![CDATA[LN Đồng]]></dc:creator>
		<pubDate>Thu, 08 Dec 2011 14:43:00 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Góc Văn]]></category>
		<category><![CDATA[ln Đồng]]></category>
		<category><![CDATA[rượu]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://7076e870b2.nxcli.io/?p=14018</guid>

					<description><![CDATA[Đông tím – Vang đỏ Các đấng thi văn nhạc sĩ gốc Mít sính dùng từ, thường gọi bốn mùa là “xuân xanh &#8211; hạ trắng – thu vàng – đông xám”, tuy nhiên tửu sĩ Nguyễn VH ở Victoria còn văn huê hơn một bậc khi sử dụng chữ “đông tím”. Số là tử [&#8230;]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<table border="0" cellspacing="1" cellpadding="0">
<tbody>
<tr>
<td></td>
</tr>
</tbody>
</table>
<table border="0" cellspacing="0" cellpadding="0">
<tbody>
<tr>
<td><a href="https://t-van.net/wp-content/uploads/2013/08/clip_image00112.jpg"><img loading="lazy" decoding="async" style="background-image: none; float: none; padding-top: 0px; padding-left: 0px; margin-left: auto; display: block; padding-right: 0px; margin-right: auto; border: 0px;" title="clip_image001" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2013/08/clip_image001_thumb11.jpg?strip=all&fit=354%2C267" alt="clip_image001" width="354" height="267" border="0" /></a></td>
</tr>
</tbody>
</table>
<p><strong><em>Đông tím – Vang đỏ</em></strong><strong><em></em></strong></p>
<p>Các đấng thi văn nhạc sĩ gốc Mít sính dùng từ, thường gọi bốn mùa là “xuân xanh &#8211; hạ trắng – thu vàng – đông xám”, tuy nhiên tửu sĩ Nguyễn VH ở Victoria còn văn huê hơn một bậc khi sử dụng chữ “đông tím”.</p>
<p>Số là tử sĩ họ Nguyễn đã yêu cầu hội chủ (chứ không phải “chủ hụi”) Hoàng Hoa Hội giới thiệu vài chai rượu “vang đỏ” đáng đồng tiền bát gạo để tửu sĩ uống trong mùa “đông tím” sắp tới.</p>
<p><strong>Trả lời:</strong><strong></strong></p>
<p>Nguyễn tửu sĩ thân mến,</p>
<p>Với một người thích chơi tới nơi tơi chốn, ngân sách gia đình “thặng dư” mà lại “uống thường nhưng không uống bao nhiêu” như tửu sĩ, LNĐ đề nghị mua các chai shiraz kha khá một chút, giá từ 30 tới 40 đô-la một chai, chẳng hạn:</p>
<p>&#8211; Mount Pleasant Rosehill  Shiraz</p>
<p>&#8211; Penfolds 128</p>
<p>&#8211; Wolf Blass Grey Label Shiraz</p>
<p>&#8211; Passing Clouds Reserve Shiraz</p>
<p>Trường hợp muốn chơi đẹp với anh sui (cũng là dân sính vang đỏ), tửu sĩ có thể mua một trong các chai shiraz sau đây:</p>
<p>&#8211; Fox Creek Reserve Shiraz (khoảng $60 )</p>
<p>&#8211; Mount Langi Ghiran Shiraz (khoảng $60)</p>
<p>&#8211; Henschke Mt Edelstone Shiraz (khoảng $70-80)</p>
<p>Có điều LNĐ hơi thắc mắc là tại sao Nguyễn tửu sĩ hỏi về vang đỏ của Úc mà chỉ nhắc tới shiraz, không thấy nhắc tới cabernet sauvignon – một loại vang đỏ nổi tiếng khác của Úc (thường được gọi tắt là “cabernet”, hoặc có khi ngắn gọn hơn, là “cab”).</p>
<p>Nếu Nguyễn huynh đã uống thử mà không thích thì chẳng nói làm gì, nhưng nếu chưa uống, hoặc uống rồi mà không để ý, LNĐ xin giới thiệu đôi hàng như sau:</p>
<p>Theo kỹ nghệ rượu vang quốc tế, trong số hàng trăm giống nho trồng để làm rượu vang, có 6 loại được xem là quý phái (noble) nhất, gồm 3 trắng – sauvignon blanc – riesling – chardonnay, và 3 đỏ – cabernet sauvignon – merlot – pinot noir.</p>
<p>Tức là không có shiraz!</p>
<p>Sở dĩ shiraz trở thành loại vang đỏ phổ biến và nổi tiếng nhất của Úc, là vì điều kiện phong thổ của Úc thích hợp nhất với giống nho này. Từ đó, các nhà trồng nho và làm rượu vang đã tìm hiểu, rút tỉa kinh nghiệm để sản xuất những chai shiraz ngon nhất thế giới, chẳng hạn “Grange” của hãng Penfolds, chai “Platinum Label” của hãng Wolf  Blass.</p>
<p>Nhưng ở Pháp nói riêng, các nước tây phương khác nói chung, các chai vang đỏ nổi tiếng thường làm bằng nho cabernet sauvignon. Sự khác nhau giữa vang đỏ shiraz và vang đỏ cabernet sauvignon là: trong khi shiraz có “vị”  đậm đà nhất, thì cabernet sauvignon nổi bật nhờ “sắc – hương”: màu rượu đẹp hơn, và mùi rượu thơm hơn.</p>
<p>Nếu so sánh hai loại vang đỏ này với đàn bà con gái, LNĐ có thể viết shiraz là một người vợ đảm đang, còn cabernet sauvignon là một người vợ xinh đẹp hấp dẫn. Nếu khi lập gia đình, tùy quan niệm của mỗi người mà chúng ta sẽ ưu tiên chọn nết hay chọn sắc, thì uống rượu cũng thế.</p>
<p>Người nào thích nhìn ngắm màu rượu, ngửi mùi thơm của rượu trước khi uống, thì sẽ chuộng cabernet sauvignon, còn người nào cầm ly lên là uống ngay, để khoan khoái hưởng cái vị đậm đà thấm qua từng kẽ răng, thì sẽ chuộng shiraz.</p>
<p>Vì thế, nếu Nguyễn tửu sĩ chưa từng uống cabernet sauvignon, hoặc uống rồi mà không để ý phân biệt, nhận xét, LNĐ đề nghị tửu sĩ uống thử một số chai cabernet sauvignon được ưa chuộng trên thị trường hiện nay, như:</p>
<p>&#8211; Wynns Coonawarra Estate Cabernet Sauvignon ($30-35)</p>
<p>&#8211; Orlando St Hugo Coonawarra Cabernet Sauvignon (($30-35)</p>
<p>&#8211; Balnaves Coonawarra Cabernet Sauvignon (($30-35)</p>
<p>Hoặc “nhẹ tiền” hơn, như:</p>
<p>&#8211; Saltram Mamre Brook Cabernet Sauvignon (khoảng $20)</p>
<p>&#8211; Rosemount Estate Show Reserve Cabernet Sauvignon (khoảng $20)</p>
<p>&#8211; West Cape Howe Cabernet Sauvignon (khoảng $20)</p>
<p>&#8211; Ring-bolt Cabernet Sauvignon (khoảng $20)</p>
<p>Muốn thử “sắc &#8211; hương &#8211; vị” của cabernet sauvignon, nên đi chung với các món ăn sau đây: bò bí-tết, sườn cừu nướng, hoặc vịt Bắc Kinh).</p>
<p><strong><em>Rượu chai hay rượu bình giấy?</em></strong><strong><em></em></strong></p>
<p>Tửu sĩ “Cổ Xanh” ở West Footscray viết:</p>
<p>Nếu LNĐ đọc phụ trang ẩm thực của nhật báo The Age tuần qua, hẳn phải thấy người chủ biên đã dành phân nửa để đánh giá, ca tụng rượu đựng trong bình giấy (cask). Thí dụ: ông ấy so sánh một số rượu đựng trong bình giấy 2 lít, nếu tính ra chai 750ml thì chỉ giá 3, 4 đô-la một chai, nhưng nếu mua cùng một loại rượu nhưng đựng trong chai thì giá gần gấp đôi, có khi gấp đôi.</p>
<p>Tôi là dân “cổ xanh”, xưa nay lấy rượu đựng trong bình giấy làm căn bản, vừa túi tiền mà cũng thấy ngon. Nhưng bạn bè tới chơi, đem ra mời thì họ hay chê, tuy nửa đùa nửa thật nhưng mình cũng mặc cảm. Nay, nói có sách mách có chứng là bài báo của The Age, LNĐ có ý kiến gì chăng?</p>
<p>LNĐ xin trả lời Tửu sĩ “Cổ Xanh” như sau:</p>
<p>Kẻ hèn này có đọc phụ trang The Age số nói trên, và như một sự trùng hợp vô tình, mấy ngày sau, các báo đã loan tin “Cha đẻ của rượu bình giấy qua đời vào tuổi 92”.</p>
<p>Đó là ông Thomas Angove, chủ nhân của hãng rượu Angove Wines ở Nam Úc. Xưa nay, hãng rượu Yalumba thường hãnh diện khoe họ là hãng đầu tiên có sáng kiến đựng rượu vang trong bình giấy 2 lít. Nhưng nếu nói về nguồn gốc rượu bình giấy (cask) thì phải ghi công ông Thomas Angove.</p>
<p>Lúc đó là đầu thập niên 1960, ông Thomas đã có sáng kiến đựng rượu vang trong những túi plastic có thể mở ra rồi dán lại (resealable plastic bag) và bỏ trong một hộp giấy để bán cho khách hàng.</p>
<p>Mặc dù sau này, người ta đã cải tiến bằng cách gắn một cái rô-bi-nê (tap) vào túi plastic cho việc rót rượu được nhanh chóng, tiện lợi, ông Thomas Angove vẫn phải được xem là “cha đẻ của rượu vang đựng trong bình giấy”.</p>
<p>Ngày nay, chúng ta thấy đủ cỡ bình giấy, từ 2 lít cho tới 10 lít (dành cho các nhà hàng), thật là tiện lợi và đỡ tốn kém.</p>
<p>Cách đây mấy năm, LNĐ đã làm công việc mà phụ trang ẩm thực của The Age vừa làm. Dù không công phu, chi tiết bằng The Age, LNĐ cũng đưa ra cùng một kết luận: rượu vang đựng trong bình giấy 2 lít, nếu tính ra chai thì chỉ giá bằng phân nửa rượu vang cùng phẩm chất nhưng được đựng trong chai; và một số rượu đựng trong bình giấy 2 lít uống còn ngon hơn những chai hạng bét.</p>
<p>Bình giấy 2 lít phổ biến nhất là của các hãng De Bortoli, Banrock Station, Yalumba… Muốn biết loại vang nào của hãng nào uống được thì phải thử. Sau khi chọn được loại ưng ý rồi thì cứ thế mà mua. Ngày ấy, chính LNĐ cũng “thủ” một vài bình 2 lít để đề phòng lúc hết rượu cạn túi!</p>
<p>Thế nhưng, nhiều người không chỉ thưởng thức rượu vang bằng vị giác (miệng lưỡi), khứu giác (2 lỗ mũi”) mà còn bằng thị giác (2 con mắt). Nghĩa là không chỉ quan trọng cái ly uống rượu và màu của rượu, mà rượu ấy được “rót” ra từ chai hay “xả” ra từ bình giấy, cũng ảnh hưởng tới… cái ngon của rượu!</p>
<p>Chính vì thế, dù biết rằng rượu đựng trong bình giấy 2 lít rẻ gấp đôi rượu cùng phẩm chất đựng trong chai, nhiều người vẫn mua chai để “rót” ra ly cho nó đúng điệu, nhất là trong trường hợp nhà có khách.</p>
<p>Chính vì thế, sau khi viết về ưu điểm “đáng đồng tiền bát gạo” của  rượu đựng trong bình giấy 2 lít, LNĐ cũng có bài về rượu chai “nô nêm”, tức “cleanskin”.</p>
<p>Sau này, qua kinh nghiệm bản thân cũng như của một số thân nhân, bạn bè làm việc cho Woolworths (công ty mẹ của Safeway Liquor, Dan Murphy, BWS bottle shops), LNĐ được biết công thức chung của kỹ nghệ rượu vang là: rượu “nô nêm” có phẩm chất tương đương với rượu có “nêm” giá gấp 2 lần trở lên!</p>
<p>Từ đó suy ra, một chai rượu “nô nêm” giá 6, 7 đô-la chắc chắn phải ngon hơn một chai rượu có “nêm” bán cùng giá, vốn cùng phẩm chất với rượu đựng trong bình giấy 2 lít.</p>
<p>Vì thế mỗi khi các cửa tiệm lớn bán đại hạ giá (20%, có khi 30%), LNĐ thường mua loại “nô nêm” mắc tiền nhất (9, 10 đô-la một chai), là có quyền uống rượu khá ngon với giá rẻ mạt.</p>
<p>Tuy nhiên, như đã viết ở trên, nhiều người không chỉ thưởng thức rượu vang bằng vị giác, khứu giác, mà còn bằng thị giác, cho nên rượu ngon mà đựng trong một chai “nô nêm” cũng thường bị bạn bè có thành kiến, LNĐ đành phải mua một số chai có “nêm” để phòng lúc có khách!</p>
<p>Tới đây, tửu sĩ “Cổ Xanh” có thể an tâm tiếp tục uống rượu đựng trong bình giấy, nhưng chỉ nên uống một mình, còn đãi khách thì  nên mua chai có “nêm” để khỏi bị mang tiếng hà tiện.</p>
<p>Một điều cần viết thêm, là trong một tiệc rượu đông người (không phải chỉ có 3, 4 bạn thân cùng thưởng thức rượu), chỉ cần đãi rượu  ngon một, hai  “tua” đầu, bởi sau đó, khi không khí đã trở nên ồn ào, sôi nổi, thì rượu nào uống vào cũng… xêm xêm!</p>
<table border="0" cellspacing="0" cellpadding="0">
<tbody>
<tr>
<td></td>
</tr>
</tbody>
</table>
<p><strong><em> Mẹ Mary McKillop và Hoàng Hoa Hội</em></strong><strong><em></em></strong></p>
<p>Tới đây, LNĐ xin trả lời câu hỏi: Hoàng Hoa Hội có gì liên quan gì tới Mẹ Mary McKillop, vị nữ tu sắp được phong Thánh?</p>
<p>Xin thưa: vì Mẹ đã khởi đầu sự nghiệp của mình tại vùng đất trồng nho để làm rượu vang nổi tiếng nhất của Úc: Coonawarra!</p>
<p>Vì thế, tửu sĩ Lê TT ở Sydney mới dự định làm một cuộc “hành hương” Coonawarra, để vừa thăm thánh địa của Mẹ McKillop, vừa thăm thánh địa của rượu vang Úc. Tử sĩ hỏi LNĐ đường đi nước bước. Xin được trả lời như sau:</p>
<p>&#8211; Theo tiểu sử của Mẹ Mary McKillop, thì Mẹ sinh ra và lớn lên ở  Melbourne, nhưng bắt đầu cuộc đời tu hành tại Nam Úc. Công việc đầu tiên của Mẹ là sử dụng một cái chuồng ngựa bỏ hoang ở thị trấn Penola để mở trường dạy học cho các trẻ em mồ côi hoặc Thổ dân nghèo khổ. Thị trấn ấy nằm trong vùng Coonawarra (xin xem bản đồ đinh kèm trong bài).</p>
<p>Coonawarra là một vùng đất ở Bờ biển Đá vôi (Limestone Coast) ở phía Nam thủ phủ Adelaide. Tại Coonawarra có vườn trồng nho của 34 hãng rượu vang, trong đó có những hãng nổi tiếng như Wynns, Balnaves Wines, Jamiesons Run, Majella Wines, Katnook Wines, Hollick Wines, Petaluma Wines, Leconfield…</p>
<p>Loại vang nổi tiếng nhất của Coonawarra là cabernet sauvignon. Nếu đi từ Adelaide, Thị trấn Penola nằm ở tận cùng vùng Coonawarra, cho nên khi tới Penola là đã đi qua cả vùng “terra rossa” &#8211; đất đỏ này.</p>
<p>Về đường đi nước bước tới Coonawarra, thú thật LNĐ… mù tịt. Tuy nhiên, cách đây 2 năm, khi Mẹ Mary McKillop được phong Chân phước, thì chính quyền địa phương đã phối hợp với chính quyền tiểu bang Nam Úc Adelaide trong việc tổ chức đón tiếp  khách hành hương.</p>
<p>Tửu sĩ Lê TT và quý độc giả nào muốn hành hương cả hai “thánh địa” Penola và Coonawarra có thể liên lạc với Sở du lịch Nam Úc, hoặc trang mạng về phương tiện, cách thức tham quan vùng này, theo địa chỉ sau đây:</p>
<p><a href="http://www.coonawarradiscovery.com">www.coonawarradiscovery.com</a></p>
<p><strong>Ln Đồng</strong></p>
<p>&nbsp;</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>&nbsp;</p>
<p>©T.Vấn 2011</p>
]]></content:encoded>
					
					<wfw:commentRss>https://t-van.net/ln-d%e1%bb%93ng-r%c6%b0%e1%bb%a3u-chuy%e1%bb%87n-vn-r%c6%b0%e1%bb%a3u-no-cho-ma-dng-s%e1%ba%afp-t%e1%bb%9bi-2/feed/</wfw:commentRss>
			<slash:comments>0</slash:comments>
		
		
			</item>
		<item>
		<title>LN Đồng : Rượu &#8220;n&#244; n&#234;m&#8221; (cleanskins)</title>
		<link>https://t-van.net/ln-d%e1%bb%93ng-r%c6%b0%e1%bb%a3u-n-nm-cleanskins-2/</link>
					<comments>https://t-van.net/ln-d%e1%bb%93ng-r%c6%b0%e1%bb%a3u-n-nm-cleanskins-2/#respond</comments>
		
		<dc:creator><![CDATA[LN Đồng]]></dc:creator>
		<pubDate>Sun, 27 Nov 2011 14:46:00 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Góc Văn]]></category>
		<category><![CDATA[ln Đồng]]></category>
		<category><![CDATA[rượu]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://7076e870b2.nxcli.io/?p=14023</guid>

					<description><![CDATA[Hỏi: Gần đây, tôi được người bạn mời uống một chai chardonnay ‘nô nêm’ (cleanskins) rất ngon, mua ở tiệm Safeway với giá chỉ hơn 5 đô-la. Tôi vội ghi những hàng chữ, số trên nhãn rượu để đi mua nhưng bữa sau ra tới nơi thì không còn loại này nữa mà chỉ còn [&#8230;]]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<p><a href="https://t-van.net/wp-content/uploads/2013/08/clip_image00255.jpg"><img loading="lazy" decoding="async" style="background-image: none; float: none; padding-top: 0px; padding-left: 0px; margin-left: auto; display: block; padding-right: 0px; margin-right: auto; border: 0px;" title="clip_image002" src="https://eqhsih9ofx5.exactdn.com/2013/08/clip_image002_thumb53.jpg?strip=all&fit=354%2C354" alt="clip_image002" width="354" height="354" border="0" /></a></p>
<table border="0" cellspacing="1" cellpadding="0">
<tbody>
<tr>
<td>
<table border="0" cellspacing="0" cellpadding="0">
<tbody>
<tr>
<td></td>
</tr>
</tbody>
</table>
</td>
</tr>
</tbody>
</table>
<p><strong>Hỏi:</strong></p>
<p>Gần đây, tôi được người bạn mời uống một chai chardonnay ‘nô nêm’ (cleanskins) rất ngon, mua ở tiệm Safeway với giá chỉ hơn 5 đô-la. Tôi vội ghi những hàng chữ, số trên nhãn rượu để đi mua nhưng bữa sau ra tới nơi thì không còn loại này nữa mà chỉ còn những loại giá trên dưới 8 đô-la một chai nên không mua.</p>
<p>Sau đó, tuần nào tôi cũng ghé vào tiệm nhưng cũng không thấy bán, hỏi nhân viên bao giờ có nữa thì họ trả lời là ‘nô ai-đia’ và giới thiệu một loại chardonnay mà họ nói là có giá trị tương đương nhưng giá trên 8 đô-la một chai.</p>
<p>Như vậy, cho dù rượu cleanskins ngon và rẻ nhưng nếu không bán thường xuyên thì quả là bất tiện. Có lẽ vì vậy mà ít người mua cleanskins chăng? Nhân đây tôi cũng xin ghi ra những chữ, số trên nhãn chai cleanskins của người bạn để LN Đồng giải thích và cho biết chất lượng của nó tương đương với loại rượu có ‘nêm’ thuộc hạng nào:</p>
<p><strong><em>&#8211; Reserve –</em></strong></p>
<p><strong><em>2003</em></strong></p>
<p><strong><em>CHARDONNAY</em></strong></p>
<p><strong><em>AG03</em></strong></p>
<p><strong><em>Central Ranges</em></strong><strong><em></em></strong></p>
<p>Cuối cùng, xin hỏi Lão: với ‘ngân sách’ dành cho mục ‘rượu chè’ khoảng 20 đô-la một tuần, nếu muốn ‘nâng cấp’ từ  bình giấy 2 lít  lên ‘rượu chai’, tôi cần chi thêm khoảng bao nhiêu nữa?..</p>
<p><strong>Trả lời:</strong></p>
<p>Trong đa số trường hợp, chất lượng của một chai rượu “nô nêm” sẽ tương đương với chất lượng của một chai có “nêm” bán với giá từ gấp rưỡi tới gấp đôi. Suy ra, rượu trong chai “nô nêm” giá từ 5 đô-la trở lên phải ngon hơn là rượu trong bình giấy 2 lít.</p>
<p>Tuy nhiên, như LN Đồng đã có lần trình bày, rượu “nô nêm” (cleanskins) có thể là rượu ngon của một hãng có “nêm” bị ứ đọng phải bán tống bán tháo nên mới đựng trong chai “nô nêm” để khỏi mang tiếng cho hãng, có thể là rượu ngon thặng dư của các nhà thầu (chuyên cung cấp cho các hãng có “nêm”), nhưng cũng có thể là rượu dở của các nhà thầu bị các hãng có “nêm” chê! Vì thế cleanskins có thể là rượu ngon mà cũng có thể là rượu dở. Cho nên muốn chắc ăn, chỉ nên mua một chai về uống thử, nếu thấy đáng đồng tiền bát gạo thì trở lại mua thêm vài đô-dần nữa cũng không muộn.</p>
<p>Về những chữ, số trên chai rượu cleanskins, xin giải thích như sau:</p>
<p>&#8211; <strong>Reserve</strong>: có nghĩa là rượu (ngon) được “để dành”. Có thể nói trong ngôn ngữ rượu vang, đây là chữ đôi khi trở nên vô duyên và vô giá trị nhất; bởi vì không có một quy định nào về việc sử dụng cho nên từ rượu trong bình giấy 4 lít cho tới rượu trên 100 đô-la một chai  đều có quyền xài chữ “Reserve” trên nhãn rượu.</p>
<p>Trên thực tế, chữ này chỉ có giá trị đúng đắn khi sử dụng để phân biệt hai chai rượu của cùng một hãng; thí dụ giữa hai chai Jacob’s Creek và Jacob’s Creek Reserve của hãng Orlando thì chai Reserve ngon hơn nhiều (một chai khoảng 9-10 đô-la, một chai khoảng 15-16 đô-la).</p>
<p>&#8211; <strong>2003</strong>: là mùa nho (vintage).</p>
<p>&#8211; <strong>CHARDONNAY</strong> là loại nho.</p>
<p>&#8211; <strong>AG03</strong>: là ký hiệu mà hãng phân phối đặt cho chai rượu.</p>
<p>&#8211; <strong>Central Ranges</strong>: là địa phương xuất xứ của chai rượu đó.</p>
<p>Nói tóm lại, trong tất cả những chữ, số nói trên, chỉ có mùa nho và xuất xứ là giúp người mua có được một chút ít ý niệm về giá trị của chai rượu.</p>
<p>Chẳng hạn chai rượu Chardonnay đề cập tới ở trên. Vang trắng nói chung dù ngon hay dở cũng không cần ủ trong thùng gỗ sồi lâu như vang đỏ và thường được khuyên nên uống trong vòng 1, 2 năm; tuy nhiên trong số rượu ngon cũng có những loại càng ủ lâu càng ngon, và một vài loại đặc biệt sau khi vô chai có thể để được (cellaring) hơn 10 năm. Suy ra, vang trắng của mùa nho 2003 mà nay mới đem ra bán phải là rượu khá. Kế tới là xuất xứ: Central Ranges là vùng trồng nho lớn thứ hai của tiểu bang NSW sau Hunter Valley, nổi tiếng với các loại rượu chardonnay, shiraz, cabernet.</p>
<p>Hai yếu tố này ít nhiều đã bảo đảm chất lượng của chai rượu, đồng thời cũng sẽ khiến người rành về rượu vang được&#8230; yên tâm hơn (yếu tố tâm lý). Theo sự dò hỏi của LN Đồng, chai Chardonnay nói trên bình thường giá trên 8 đô-la, nay đại hạ giá còn 5 đô-la.</p>
<p>Như LNĐ đã viết trước đây, chỉ nên mua rượu cleanskins từ những cửa tiệm địa phương (local) mà mình là khách hàng quen, hoặc những hệ thống cửa tiệm uy tín, chẳng hạn Safeway Liquor và Dan Murphy (ở Victoria). Cũng nên biết, hiện nay Safeway Liquor và Dan Murphy chỉ là một: đọc địa chỉ trên nhãn chai, một bên là “International Liquor Wholesalers’ một bên là “Dan Murphy” nhưng cả hai đều “tọa lạc” tại số 522-550 Wellington Road, Mulgrave, VIC 3071. Cho nên khi bán đại hạ giá, giá cả ở hai tiệm thường giống nhau, chỉ khác một điều là Dan Murphy bán nhiều loại rượu hơn và lúc nào cũng bán đại hạ giá khoảng 50 chai khác nhau, trong khi Safeway Liquor thì mỗi tuần chỉ đại hạ giá 5, 10 chai mà thôi.</p>
<p>Bản thân LN Đồng có tính hơi “show off” nên trước kia thường mua rượu chai có “nêm” nhưng cũng luôn thủ hai bình giấy 2 lít, một đỏ một trắng. Tuy nhiên về sau, nhờ có “tay trong” mật báo, người quen mách bảo, hoặc đọc báo hay đi lang thang vào tiệm thấy người ta đại hạ giá rượu “nô nêm” bèn mua uống thử, nay đã thay thế rượu trong bình giấy 2 lít bằng rượu chai “nô nêm”.</p>
<p>Cũng nên biết, hiện nay dân uống rượu vang chuyên nghiệp ở Úc (kể cả giai cấp trung lưu) rất khoái rượu “nô nêm” (10-15% rượu đựng trong chai bán ra là cleanskins), không chỉ vì giá trẻ còn vì cái thú tìm hiểu, khám phá. Theo LN Đồng thì đây cũng là một cái hay, một điểm độc đáo trong “wine culture” của người Úc, chúng ta nên lãnh hội.</p>
<p>Và, như đã viết ở trên, vì công việc mua rượu cleanskins vừa mang tính cách “hên xui may rủi” vừa không bán thường xuyên, liên tục , cho nên trước khi mua nhiều bắt buộc phải uống thử một chai (chứ đừng thấy đại hạ giá 8 đô-la xuống là còn 5 đô-la là nhắm mắt mua ngay), chỉ khi nào thấy uống được thì mới năn nỉ bà xã ứng tiền để mua vài thùng mà “tích tửu phòng&#8230; hạn”.</p>
<p><strong><em>LN Đồng</em></strong></p>
<p>©T.Vấn 2011</p>
]]></content:encoded>
					
					<wfw:commentRss>https://t-van.net/ln-d%e1%bb%93ng-r%c6%b0%e1%bb%a3u-n-nm-cleanskins-2/feed/</wfw:commentRss>
			<slash:comments>0</slash:comments>
		
		
			</item>
	</channel>
</rss>

<!--
Performance optimized by W3 Total Cache. Learn more: https://www.boldgrid.com/w3-total-cache/?utm_source=w3tc&utm_medium=footer_comment&utm_campaign=free_plugin

Page Caching using Disk: Enhanced 

Served from: t-van.net @ 2026-04-11 19:03:40 by W3 Total Cache
-->