Lê Mai Lĩnh: Một góc nhìn: 50 năm văn học miền Nam lưu vong (1)

Ảnh (Nguồn: cafevannghe.wordpress.com)

.

Phần Một 1954/1975 – Văn chương miền Nam trước 1954.

          Saigon, thủ đô văn hóa.

Trước tháng 7, năm 1954, sinh hoạt văn chương miền Nam kém phát triển, bình bình, được chăng hay chớ, do bởi đời sống kinh tế, không mấy khó khăn, không nghèo, không khổ, không thiếu thốn vật chất, không đầu tắt mặt tối, không trăn trở đêm ngày, không đứng ngồi không yên.

Đồng ruộng mênh mông, thẳng cánh cò bay, lúa, gạo đầy bồ, tôm cá ngoài ruộng, cây trái đầy vườn.

Ao hồ lềnh bềnh những thủy và hải sản.

Thức ăn tinh thần là những câu hò vọng cổ, những chuyện tình không lối thoát, giản đơn, bố cục, tiết tấu, không ra khỏi lũy tre, nằm ngoài con tim rung động.

Bốn tác giả bấy giờ, tác phẩm của họ, là kinh nhật tụng, là bùa hộ mệnh tinh thần, của bá tánh, nông dân.

– Hồ biểu Chánh, với những: Chồng già vợ trẻ/ Sống thác vì tình/ Tơ hồng vương vấn/ Nhơn tình ấm lạnh.

– Bà Tùng Long, với: Bóng người xưa/ Đời con gái/ Một lần lầm lỡ/ Mẹ chồng nàng dâu.

– Dương Hà, có Bên giòng sông Trẹm/ Đừng quên em/ Giữa vẹn lời thề.

           – Lê Xuyên, với Chú Tư Cầu/ Rặng Trâm bầu.

Trong lúc, sinh hoạt văn chương, đòi hỏi phải sáng tạo, trăn trở thường trực, vấn nạn liên hồi, thao thức muôn nơi, con tim nhớ thương, cõi lòng trắc ẩn.

Thành ra, người làm, người thưởng ngoạn văn chương, họ bằng lòng với ngần ấy, là đủ, không muốn thêm hay bớt.

Một Hồ biểu Chánh, cũng được, thêm nữa một Lê Xuyên, Dương Hà, cũng xong.

Có nữa một bà Tùng Long, Phương Lan với Sài Gòn Mới hay Phụ Nữ Ngày Nay, có thêm tụ.

Nhưng rồi, cơn đại hồng thủy, có tên hiệp định Geneve chia cắt đất nước,  

20/7/1954, làm nên một cuộc di cư lớn nhất trong lịch sử, mang “ phù sa văn học,” từ xứ sở ngàn năm văn hiến, Hà Nội, vào Nam, Sài Gòn, để từ đó, hình thành một thủ đô văn chương mới, Saigon, một vương quốc trí tuệ chữ nghĩa, miền Nam.

Có thể nói, nếu không có trận cuồng lưu, di cư năm 1954, mang những hạt phù sa, Mai Thảo, Thanh tâm Tuyền, Doãn quốc Sỹ, Nghiêm Xuân Hồng, Vũ khắc Khoan, Nguyễn sỹ Tế, Nguyễn mạnh Côn, Chu Tử, Nhật Tiến, Trần dạ Từ, Viên Linh, Vương Tân, Đỗ quý Toàn, Nguyễn Vỹ, Trần phong Giao, Duyên Anh, Uyên Thao,   Thanh Nam, Cung trầm Tưởng, Nguyễn Xuân Thiệp, Hà thúc Sinh, Hà Huyền Chi, Dương hùng Cường, Trần ngân Tiêu, Diên Nghị, Thanh thương Hoàng, Đỗ tiến Đức, Vũ hoàng Chương, Đinh Hùng, Nguyễn đình Toàn, Du Tử Lê, Nguyễn Ngọc Dung, Hồng Thuỷ, Nhất Tuấn, Nhật Tiến, thì đã không có vụ mùa vạm vỡ, làm nên một dáng vóc người khổng lồ cho văn chương miền Nam.

Cũng có thể nói, nhờ có tài sản văn chương miền nam đó, nên ngày ra đi, di tản, kẻ lưu vong đã mang theo, một tài sản văn chương vô giá, để sau đó, hình thành một nền văn học lưu vong, cho tới nay, sau 50, từ buổi  chia tay SAIGON, tưởng như nói lời vĩnh biệt, nhưng không.

Điều này, chúng tôi sẽ trình bày sau.

ĐỨNG TRÊN ĐÔI CHÂN.

Từ sau 20/7/1954, khi những con nước mang lượng phù sa, những mầm văn chương, những hạt ngôn ngữ nhiệm mầu, chắt lọc từ một Thăng Long cha ông hun đúc vào Nam, gặp buổi, thiên thời, địa lợi, nhân hòa, kết tinh từ một nền giáo dục Dân tộc, Nhân bản, Khai phóng.

Hay có thể nói, văn chương miền Nam 21 năm, 1954/1975, là nơi hội tụ của văn chương thế giới, điểm hẹn của những trào lưu tư tưởng.

Là Paris, Luân Đôn, Washington, Đức, Ý, Mạc tư Khoa, Bắc Kinh, Tây ban Nha…

Albert Camus, Jean Paul Sartre có mặt. 

Người XA LẠ, DỊCH HẠCH, BUỒN NÔN, BỨC TƯỜNG, có mặt.

Ernest Hemingway, J.D.Salinger, có mặt.

Ông Già và Biển Cả, Giã Từ Vũ Khí, Bắt Trẻ Đồng Xanh, có mặt.

Victor Hugo, Francoi Sagan, Simon de Beauvoir, có mặt.

Hẳn nhiên, Những Kẻ Khốn Cùng, Buồn Ơi Chào Mi, cũng hiện diện.

Lev Tolstoy, Fyodor Dostoevsky, Alexandra Isayevick Solzhenitsyn, cũng sắp hàng trên những kệ sách nhà Khai trí, hay những vỉa hè Saigon: Tội ác và trừng phạt, Sông Đông êm đềm, Cánh buồm đỏ thắm.

Rồi Tây ban Nha, Đức, Trung hoa, cũng chen chân họp mặt cùng với văn chương miền Nam:

Trăm Năm Cô Đơn, Gabriel Garcia Marquez, Erich Maria Remarque, Mặt Trận Miền Tây Vẫn Yên Tĩnh.

Pearl Buck, Đất Lành.

Và nhiều, nhiều vô số kể, Saigon, thủ đô, miền Nam, vựa sách, mênh mông, biển trời chữ nghĩa, nói theo ngôn ngữ nhà văn Mai Thảo.

Và từ đó, cơ man, ngồn ngộn, những tạp chí văn học ra đời.

Mà điển hình, tiêu biểu là:

Sáng Tạo, Mai Thảo/ Hiện Đại, Nguyên Sa/ Văn Nghệ, Lý hoàng Phong/ Thế Kỷ Hai Mươi, Vũ khắc Khoan/ Những Vấn Đề Của Chúng Ta, Nghiêm Xuân Hồng/ Gió Mới, Đinh từ Thức/ Thời Tập, Viên Linh/ Khởi Hành, nhạc sĩ Nguyễn văn Trọng/ Bách Khoa, Lê ngộ Châu/ Văn, Trần phong Giao/ Ý Thức, Nguyên Minh/ Đối Diện, linh mục Nguyễn Ngọc Lan/ Trình Bày, Diễm Châu…

Nói đến sinh hoạt văn học nghệ miền Nam, trước 30/4/1975, chúng ta không thể không nhớ tới những góp sức, to lớn, bề thế, của những phù sa văn chương Hà nội.

Nhưng sẽ vô lý, bất công, vô ơn, nếu chúng ta bỏ quên những người cầm bút lính, trong quân lực Việt nam cộng hòa.

Từ năm 1968, sau vụ Mậu thân, đó là một khúc rẽ chiến tranh, nhưng cũng là một khúc rẽ văn chương.

Điều mà những ai, trong sinh hoạt văn chương Saigon, đều thấy, đó cũng là lúc văn chương rơi vào trạng thái bế tắc, trở lại nghèo nàn, thiếu sinh khí.

Thuật ngữ văn chương bấy giờ, gọi là, nền “ văn chương phòng trà,” đầy tính miệt thị.

Nhưng rồi, biến cố Mậu thân, lệnh tổng động viên, gọi tái ngũ, làm sinh động bộ mặt xã hội, cũng làm nhan sắc văn chương thay đổi.

Và, cũng từ giai đoạn đó, những người cầm bút lính, và độc giả, đã nói không, với nền văn chương phòng trà.

Họ, trong chừng mực nào đó, bằng những tác phẩm thơm mùi máu, mùi thuốc súng, ánh sáng hỏa châu, “nỗi bơ vơ của bầy ngựa hoang” (Trần Hoài Thư) thay thế cho “mười đêm ngà ngọc“ (Mai Thảo).

Đó cũng là giai đoạn chiến tranh khốc liệt, những mặt trận lớn xảy ra, những trung đoàn, sư đoàn rầm rập kéo nhau lên mặt trận, cũng là lúc, những trang viết, những tác phẩm, những ghi chép, từ biên cương, tiền tuyến, lui về, gởi về, cho các nhà in, nhà xuất bản, từ và nhờ đó, bộ mặt văn chương miền Nam thay da, đổi thịt.

Và người đọc, cũng bắt đầu chia tay  những lượng phù sa năm 1954, mà trở về, vuốt ve văn chương trận mạc,  là Lâm Chương, Lâm hảo Dũng, Thế  Uyên, Đào Dân, Nguyễn Bắc Sơn, Từ thế Mộng, Nguyễn dương Quang, Sương biên Thùy, Phương Tấn, Phan Nhật Nam, Hồ minh Dũng, Trần Hoài Thư, Y Uyên, Luân Hoán, Thái Tú Hạp, Phạm ngũ Yên, Yên Sơn, Phan Xuân Sinh, Phạm văn Nhàn, Nguyễn lệ Uyên,

Viết về thế hệ cầm bút này, nhà thơ Du Tử Lê phóng bút:

“ Nhưng thế hệ sinh trong khoảng thời gian 1940-1950, theo tôi, là thế hệ thiệt thòi, bất hạnh nhất.

Một thế hệ, đa phần, tuổi thơ nám, cháy. 
Một thế hệ, đa phần, chưa kịp uống ngụm nước thanh xuân đầu đời, đã bùn lầy, chiến tranh, súng đạn. 

Một thế hệ, đa phần, tiêu trầm tuổi trung niên, trong lao tù, cải tạo. 

Khi được thả ra, mấy kẻ không bạc đầu? Lúc trở về mái nhà xưa, mấy người không thương tật thân/ tâm? 

Tuy nhiên, thế hệ 1940-1950, cũng lại là thế hệ cung cấp cho văn chương miền Nam 20 năm, những bài thơ, những trang văn, những dòng nhạc, những bức tranh, những khối tượng chói, ngời nhân văn nhất. 

Nếu không có phần đóng góp của thế hệ này, tôi e văn chương miền Nam 20 năm, sẽ tẻ nhạt, đơn điệu. 

Trừ những người cầm bút ở thế hệ vừa kể, chết trong chiến tranh, khi còn rất trẻ, như Y Uyên, tử trận năm 1969; ở ngọn đồi Nora, Phan Thiết; Hoài Lữ / Lữ Đắc Quảng, chết ở Bình Chánh, Gia Định, đêm Chủ Nhật 27 tháng 5-1965 / Nguyễn Phương Loan, tử trận tại Pleime; Trần Như Liên Phượng, Phan Huy Mộng, Hứa Đình Anh, Trịnh Kim Đồng chết ở Bình Định… 

Hoặc những người đã để lại nơi trận địa, một phần thân thể mình, như nhà thơ Luân Hoán, Phan xuân Sinh, bị mất bàn chân trái, tháng 1 năm 1969, trong trận đánh ở Mộ Đức, Quảng Ngãi… (1) 

Thế hệ 1940-1950, vẫn là thế hệ mang lại cho 20 năm văn chương miền Nam, những mùa gặt văn học, nghệ thuật sung mãn; những gam mầu hiện thực máu, xương nhất. 

Họ sáng tác trong khoảng lặng giữa hai trận đánh. 

Họ sáng tác trong mỗi lần dưỡng quân. 

Họ viết, vẽ, làm nhạc trong giao thông hào, trên đường phố, trong quán xá mỗi lần dừng quân; trong bệnh viện, những khi đợi lành vết thương… 
Bất cứ một nhà văn, nhà thơ hoặc, họa sĩ, nhạc sĩ nào, sinh trong khoảng thời gian 1940-1950 mà, sinh mạng họ bị thả nổi cho miểng bom, hòn đạn, cũng có thể là một tiêu biểu rực rỡ/ muộn phiền của thời kỳ văn học, nghệ thuật này”.

Tính tới trưa ngày 30/4/ 1975, những tác phẩm, tác giả nổi tiếng của văn chương miền Nam có những người cầm bút sau:

+ Thanh tâm Tuyền: bếp lửa, tôi không còn cô độc, cát lầy.

+ Mai Thảo: đêm giã từ Hà nội, bản chúc thư trên ngọn đỉnh trời, bầy thỏ ngày sinh nhật.

+ Nhã Ca: nhã ca mới, đêm nghe tiếng đại bác, giãi khăn sô cho Huế.

+ Nguyễn thị Hoàng: vòng tay học trò.

+ Trùng Dương: mưa không ướt đất.

+ Nguyễn thị Thụy Vũ: mèo đêm.

+ Túy Hồng: thở dài, những sợi sắc không.

+ Dương nghiễm Mậu: gia tài của mẹ, đầy tuổi tôi.

+ Phan Nhật Nam: dấu binh lửa, mùa hè đỏ lửa, hòa bình và tù binh.

+ Nguyễn đình Toàn: mật đắng, áo mơ phai, hai chị em.

+ Vũ Khắc Khoan: thành cát tư hãn, những người không chịu chết, ngộ nhận, thần tháp rùa, mơ hương cảng, đoản văn xa nước.

+ Nghiêm Xuân Hồng:

Người viễn khách thứ mười, cách mạng và hành động, 

Nhiều sách khác về thiền, Phật sau khi ông đi tu.

+ Doãn quốc Sỹ: ba sinh hương lửa, khu rừng lau, chiếc chiếu cạp điều, gìn vàng giữ ngọc, dòng sông định mệnh, khu rừng lau, người vái tứ phương….

+ Mặc Đỗ: siu cô nương, bốn mươi, Tân truyện, trưa trên đảo san hô.

+ Nguyễn sĩ Tế: chờ sáng, gió cây trút lá….

+ Nguyễn mạnh Côn: đem tâm tình viết lịch sử, đại úy Trường Kỳ, Việt minh, người đi đâu, Kỳ hoa tử, Ba người lính nhảy dù lâm nạn, Lạc đường vào lịch sử, Mối tình màu hoa đào, Con yêu con ghét….

+ Lê Xuyên: chú Tư cầu, cậu chó.

+ Chu Tử: Yêu, Loạn, Tình,Tiền.

+ Nguyên Sa: thơ Nguyên Sa.

+ Viên Linh: hóa thân, mã lộ, hạ đỏ có chàng đến hỏi, cuối trời hôn mê.

+ Vũ hoàng Chương: say, hoa đăng, đời vắng em rồi say với ai.

+ Đinh Hùng: lửa thiêng, đốt lò hương cũ, đường vào tình sử, mê hồn ca.

+ Võ Phiến: đêm Xuân trăng sáng, mưa đêm cuối năm, cảm nhận, cuối cùng.

+ Duyên Anh: chương còm, con sáo của em tôi, điệu ru nước mắt.

+ Nguyễn Bắc Sơn: chiến tranh Việt Nam và Tôi.

+ Sương biên Thùy: nỗi buồn nhược tiểu.

+ Trần Hoài Thư: Nỗi bơ vơ của bầy ngựa hoang.

+ Y Uyên : Ngựa tía, Quê nhà.

+ Lê tất Điều: mực tim.

+ Du tư Lê: bước qua đời, chú cuội buồn.

+ Nhật Tiến: chim hót trong lồng, ánh sáng công viên, chuyện bé Phượng, giấc ngủ chập chờn.

+ Quách Thoại: thơ Quách Thoại.

+ Nguyễn Thụy Long: Kinh nước đen, nhà chứa.

+ Mai trung Tĩnh: Thơ Mai trung Tĩnh.

+ Nhất Tuấn: chuyện chúng mình (nhiều tập ).

+ Lệ Khánh: em là gái trời bắt xấu (nhiều tập )

+ Văn Quang: chân trời tím, ngã tư hoàng hôn, một người đàn bà những người đàn ông.

Lê Mai Lĩnh

(Còn Tiếp)

Bài Mới Nhất
Search