Khải Triều: THẾ PHONG

Tên thật Đỗ Mạnh Tường.

Sinh ngày 10-7-1932 tại Yên Bái trong giấy tờ tùy thân 1936

Khởi sự viết văn cuối 1952.

Truyện ngắn đầu tiên Đời học sinh ký Tương Huyền đăng trên nhật báo Tia sáng ở Hà Nội (17-11-1952), Ngô Vân, Chủ nhiệm).

Truyện dài đầu tiên in ở Sài Gòn: Tình Sơn Nữ (1954).

Tổng số trên 50 tác phẩm đủ thể loại: thơ, truyện, phê bình, khảo luận, dịch thuật.

Từ 1952, ở Hà Nội cộng tác với các nhật báo Tia sáng, Giang Sơn, tạp chí Quê hương, phóng viên các báo Thân Dân (Nguyễn Thế Truyền), Dân chủ (Vũ Ngọc Các) (Hà Nội: 1952-1954). Chủ nhiệm tuần báo Mạch Sống, Dương Hà chủ bút – báo chỉ xuất bản được một số rồi tự đình bản vào 1955 ở Sài Gòn.

Cộng tác viên, tạp chí ở Sài Gòn: Đời Mới, Nguồn Sống Mới, Văn Nghệ Tập San, Văn Hoá Á Châu, Tân Dân, Tạp chí Sống (Ngô Trọng Hiếu), Sinh Lực, Đời, Nhật Báo Sống, Tuần báo Đời (Chu Tử), Trình Bầy, Tiền Tuyến, Sóng Thần (Uyên Thao), Lý Tưởng,v.v… –

Đăng truyện ngắn Les Immondices dans la banlieue trên báo Le Monde Diplomatique (Paris 12-1970)

  Đăng thơ trên tạp chí Tenggara, Kuala Lumpur – Malaysia) từ 1968-1972- sau in lại thành tập: Asian Morning, Western Music (Sài Gòn 1971, tựa Gs Lloyd Fernando).

(Dẫn từ NewsVietArt Việt Văn Mới Fr.)

Thế Phong Với Khải Triều

Khi tôi viết về anh Thế Phong ở cuốn sách cuối đời này của tôi, thì anh đã là Mục sư Tin Lành, hệ Cơ Đốc Phục Lâm. Tôi nghe tin này từ một người bạn, cũng là bạn văn chương với Thế Phong từ lúc Thế Phong mở ra cơ sở in ấn bằng Ronêô khoảng năm 1960 (hoặc trước hay sau năm này 1,2 năm gì đó). Còn tôi, thì anh Thế Phong đã cùng vợ dẫn tôi đến nhà thờ Tin Lành trên đường Trần Cao Vân từ rất sớm, khoảng ít lâu sau ngày 30-4-1975. Một người như Thế Phong, một nhà văn được coi là “phá phách” vào bậc nhất trong làng văn làng báo ở Sài Gòn từ thời Đệ Nhất Việt Nam Cộng Hòa. Việc ông mở ra cơ sở xuất bản Đại Nam Văn Hiến, để in tác phẩm của mình và bạn hữu bằng Rônêô type, không xin giấy xuất bản của chính quyền, là một thái độ rất “ngông”, “phá phách”, không một cây bút nào của Sài Gòn ngay đó dám nghĩ đến, dù cho họ không ưa chế độ Sài Gòn ngày ấy, từ 1954-1975.

Tôi gặp anh Thế Phong cũng vào khoảng năm 1961, 1962 qua anh Cao Thế Dung. Thời gian này, Cơ sở xuất bản Đại Năm Văn Hiế đã in cho Cao Thế Dung tập thơ Khúc Ca Nhược Tiểu, in cho Đỗ Ngọc Trâm tập truyện Ba Mẹ Con (1962). Còn tôi thì năm 1963, Đại Nam Văn Hiến in tập thơ đầu tay là Người Ôm Mặt Khóc. Sang năm sau, 1964, Thế Phong lại in tiếp tập thơ thứ hai của tôi là Tiếng Hát Khuẩn Trùng. Lúc này, chế độ Ngô Đình Diệm đã sụp đổ, tờ Nhật báo Dân Việt tôi làm, khuynh hướng ủng hộ Ngô Đình Diệm phải đóng cửa. Tôi mất việc, lâm vào tình trạng nay đây mai đó.

Từ sau ngày chính quyền của Tổng thống Ngô Đình Diệm sụp đổ (tháng 11/1963) cho đến đầu tháng 2 năm 1967, tôi sẽ nói về thời gian mấy năm Sài Gòn xáo trộn ở bài Con Đường 70 Năm Chông Gai Của Tôi (Từ 1954-2024) ở sau phần các tác giả. Còn bây giờ xin trở lại với nhà văn Thế Phong in tập thơ “mở tay” của tôi.

Trước khi tôi viết tập thơ “mở tay”, có cái tên “Người Ôm Mặt Khóc”, tôi sống ở Ban Mê Thuột, dạy học, khoảng từ năm 1957-1960, tuổi từ 21 đến 24. Căn nhà trọ tôi thuê ở Ban Mê Thuột gần một nghĩa trang nhỏ. Tôi thường ra đấy viếng các mộ những đêm có trăng. Trăng ở Ban Mê Thuột ngày đó buồn lắm, không như ở Sài Gòn, nơi đô hội và ánh đèn khắp các đường phố. Vì thế, năm 1960 khi vào làm cho tờ Nhật báo Dân Việt, tôi đã làm thơ đăng trên trang Văn Nghệ Cuối Tuần do nhà văn Thanh Tùng phụ trách, tôi ký tên ở các bài thơ này là Trăng Rừng, đến nay, sau 60 năm mà vẫn có người gặp tôi là lại nhắc đến cái tên Trăng Rừng ngày ấy. Năm 1960 tôi về Sài Gòn, sau khi ho ra máu, nên xin nghỉ dạy học vì không muốn ảnh hưởng đến học trò. Về Sài Gòn được ít lâu, tôi cũng phải thuê một gác trọ để ở, có một người bạn mới ở cùng. Lần thứ hai, tôi lại ra máu lúc đêm khuya, người bạn chở tôi trên chiếc xe đạp cũ kỹ của anh vào phòng cấp cứu tại nhà thương lao Hồng Bàng. Y tá trích cho tôi một mũi thuốc rồi cho về.

Sau hai lần ra máu, tôi nhớ đến một người bạn ở Hà Đông, cùng đi trên chuyến máy bay, khởi hành từ sân bay Gia Lâm di cư vào Sài Gòn, chiều ngày 02-08-1954. Anh mắc bệnh lao, phải vào nhà thương lao Hồng Bàng nằm điều trị rồi qua đời tại đây. Khi tôi viết tập thơ Người Ôm Mặt Khóc vào năm 1963, và tập thứ hai năm 1964 Tiếng Hát Khuẩn Trùng, thì  những lần ho ra máu của tôi và người bạn chết vì lao phổi này, đã ám ảnh  tôi, đồng thời sự đổ vỡ của miền Nam Việt Nam sau cái chết của Tổng thống Ngô Đình Diệm cũng tác động đầu óc tôi.

Còn về tập thơ Người Ôm Mặt Khóc, chỉ là bản thứ hai tôi nhờ anh Thế Phong viết lời giơi thiệu và in. Bản lần dầu tiên tôi chưa có tựa đề, anh từ chối, và đưa lại tôi. Tôi xé bỏ tất cả gần 30 bài, rồi viết những bài thơ khác chỉ trong vòng ít tháng sau đó. Lần này thì anh Thế Phong, Chủ nhiệm Cơ sở xuất bản Đại Nam Văn Hiến tiến hành ngay việc đánh máy và cho in, nhưng anh không viết lời giới thiệu nào cả, cho đến khi mấy tháng sau đó, tôi tiếp tục gửi anh tập thơ thứ hai, tức là tập Tiếng Hát Khuẩn Trùng, 1964. Ở bìa 4 tập này, anh cho in bài “Thế Phong vào đề thơ Khải Triều qua “Người ôm mặt khóc” và “Tiếng hát khuẩn trùng”. Tôi đã trích dẫn phần mở đầu bài của Thế Phong đưa vào bài tôi viết trước đây, về “Thiền và tôi”. Nay, tôi in lại toàn phần của bài “vào đề…” này.

Ông viết: “Một điều phải đính chính ngay ở đây. Đầu dòng những hàng chữ này. Là trong lần nói về cảm tưởng qua thơ Ninh Chữ tôi thất vọng về thơ anh. Hồi ấy, anh đưa hai chục bài cho tôi đọc trước khi in. Tôi được hân hạnh đề nghị viết giới thiệu cho anh. Vì một vấn đề tế nhị, tôi thoái thác là không cần thiết mấy. Thời gian ấy nhân lúc tỏ bày cảm tưởng qua “Miền lưu đày” của Ninh Chữ, tôi không dấu giếm những gì tôi nghĩ về thơ anh Khải Triều. Bằng chữ viết. Rồi đến khi anh trao ba mươi bài mới của “Người ôm mặt khóc” thì số bài trước kia đã loại bỏ hết, anh lột xác mới mẻ, một điều tôi không ngờ. Tập thơ đầu tay đã không cần đến sự làm dáng của đa số thi nhân của hầu hết thi nhân bây giờ. Bộc lộ tâm trạng bi đát tuổi trẻ, bệnh tật, ý nghĩ về đời sống liên hệ. Qua một kỹ thuật rất ư Khải Triều, lại thêm một bố cục nói lên một cái gì chua chát ở mỗi bài thơ, nó khác hẳn với bao cái chung chung mọi thi nhân lục lục thường tài dùng. Tôi nói đùa với anh “thế là tôi đã lầm” nhưng cái lầm đáng giữ lấy cố tật kia…Cảm ơn Khải Triều của bước đầu vào nghiệp thơ, không có mặc cảm ấu trĩ xử thế như tôi ban đầu. Anh đã trưởng thành trong thơ và cả lối đối xử văn nghệ”.

Còn một điều nữa trong thơ Khải Triều làm tôi ưa thích là mặc dầu hiện đang phải đi trên dây tử thần cuộc đời với một nghệ thuật cao mà dù có phải hụt chân té ngã,  dù phải đối chọi với bao nguy hiểm đến với anh, tràn ngập rồi hy vọng ít hơn nhiều lần chán ngán, buồn khổ, bi đát, anh vẫn bình thản nhận phận. Nhận lấy nghiệp trong bùn nhơ, tanh tởm thân xác bệnh tật, phải chính bệnh hoạn làm thi nhân mất tinh thần lạc quan, yêu cuộc đời, ôm lấy nó để toát thành thơ.

Nơi yên nghỉ làm cho thi nhân tin tưởng là thi ca, là những phút lắng chìm yên tĩnh ở dưới chân Chúa. Cũng may là còn hai thứ đó. Tình yêu của anh đã hoàn toàn bị đặt ra ngoài vui thú của tuổi trẻ rồi. Tôi nghĩ đến đôi mắt anh đang nhìn vào hư vô thật huyền hoặc, xa xôi, mà sức hút xoáy hy vọng đáp lại, hoàn toàn không còn nữa. Không bao giờ còn nữa. Mà anh chẳng than van bao giờ nữa.

Song sắt, bức tường tù ngục nào đã làm thi nhân bình thản trong đau đớn hành hạ cả tâm tình và thể xác.

Tôi cũng đã trải qua những chiều buồn đau đớn, thả hồn mình trong tỏa rộng theo tiếng chuông nhà thờ, mà vẫn muốn như chống đỡ nó. Khác anh là vậy. Nhưng còn giống anh, gần anh, ở những thơ anh, thơ tôi, phản ảnh trung thực cảm nghĩ của một kẻ, dầu làm người bình thường, cũng không bao giờ nói dối, tự lừa mình và kẻ khác bằng going chữ tuyệt đẹp phản bội. Anh Khải Triều ơi! Tuy rằng anh khóc cuộc đời bằng hình ảnh ôm mặt; khóc đời mình bằng “tiếng hát khuẩn trùng”- mà điều trên không cần ôm mặt và điều hai đang nhờ thuốc trị liệu tiếng hát khun trùng.

Tôi viết vào đề cho anh vừa xẩm tối,  nhưng nhìn sớm hơn thì ai cấm tôi nhìn thấy hừng đông tỏa rộng ở chân trời sáng rực ngày mai đây.

Saigon 14-1-64

Từ Cái Thuở Ban Đầu Ấy…

Tôi đã đọc ở một bài nào đó của anh Thế Phong, chỉ mấy năm gần đây, khoảng hơn 40 năm sau ngày miền Nam Việt Nam mất, 30-4-1975. Tôi cũng quên không nhớ bài ấy, anh Thế Phong viết về vấn đề gì, nhưng tôi lại nhớ mấy chữ liên quan đến tôi. Mấy chữ này là: “Khải Triều là nhà thơ trong Đại Nam Văn Hiến”. Có một chút vui nở lên trong cõi sâu của tôi, mặc dù tôi không biết trong Cơ sở Đại Nam Văn Hiến, có bao nhiêu nhà văn, nhà thơ cũng được anh Thế Phong, người sáng lập cơ sở này, xác nhận là người  “của” mình ? Bây giờ tôi nghĩ rằng, từ khi tôi viết được hai tập thơ, 1963, 1964 cho đến nay, cũng đã khoảng 50 hay 60 năm trôi qua, tôi cũng đã viết thêm được một số bài nữa. Tôi đã chọn lọc, sửa chữa bài cũ về từ ngữ, bỏ đi ít bài, hợp lại được một tuyển tập. Tôi gửi cho anh T. Vấn, người sáng lập trang văn học T. Van & Bạn Hữu (Hoa Kỳ). Anh T. Vấn đã thực hiện ấn bản điện tử vào năm 2016 và phổ biến trên toàn cầu.

Anh Thế Phong đã xem ấn bản điện tử này, sau đó, anh dã viết một bài về thơ tôi. Nhân đó, anh lần hồi tưởng về thời kỳ hai chúng tôi bắt đầu quen biết nhau cùng với anh Cao Thế Dung và Đỗ Ngọc Trâm, cả hai người này cũng có sách do Đại Nam Văn Hiến in. Riêng Đỗ Ngọc Trâm có tập truyện là Ba Mẹ Con mà Đại Nam Văn Hiến đã in vào năm 1962.

Dưới đây tôi lược trích bài của anh Thế Phong viết về tuyển tập thơ của tôi và thuở chúng tôi mới quen biết nhau. Bài anh đăng trên trang cá nhân, Tản mạn văn chương, ngày Thứ Hai, 3 tháng 10, 2016. Phần mở đầu, tác giả nói đến việc ông thiết lập cơ sở xuất bản Đại Nam Văn Hiến, khi in sách không xin giấy phép xuất bản. Đây là một việc làm vi phạm pháp luật. Thế Phong nhân đó nhắc đến ít người làm báo hay hội họa, như họa sĩ Tạ Tỵ, nhà báo Phan Nghị, là những người nhìn nhận cách làm của Thế Phong, được một số người ủng hộ. Sau đó, ông in tiểu sử và các sách của tôi. Những phần này tôi không in ở đây. Ngoài ra, tác giả cũng “tản mạn” chuyện của chính ông, chuyện của mấy người bạn thân của chúng tôi ở cái thời tất cả chúng tôi ai cũng nghèo, nhưng lại gắn bó, thân tình với nhau. Vì vậy, làm sao mà quên. Hôm nay, ở đây họ cũng có mặt. Nhưng còn hiện hữu trong cõi trần ai này, thì chỉ còn anh Thế Phong Đỗ Mạnh Tường và tôi, Khải Triều Nguyễn Văn Tuy. Cảm ơn anh Thế Phong, từ đó đến nay, hơn nửa thế kỷ đã qua, mà anh còn nhớ những bữa cơm tay cầm nhai bánh mì, mà vẫn không thiếu tách cà phê mỗi khi gặp nhau. Những chuyện bình thường, thì với anh, đã trở thành cái đẹp của văn chương. Vì nó thực quá!

tản mạn văn chương / thếphong

 Thứ Hai, 3 tháng 10, 2016

tuyển tập thơ khải triều [1963- 2016] (t-van./ ebook/ usa 2016)

một người nữ tu agnès

ẩn sau’người ôm mặt khóc’

            (THƠ KHẢI TRIỀU, ĐẠI NAM VĂN HIẾN XB, SAIGON 1963)

                                              THẾ PHONG

lời dẫn:

‘Người ôm mặt khóc’ + ‘Tiếng hát khuẩn trùng’,2 thi tập in vào những năm 1963- 1964 (Đại Nam Văn Hiến xb, Saigon), dưới thời đệ 1 Cộng hòa+ sau đó …

Thật bất ngờ, trên Newvietart.com (France), có bài viết:

‘Chuyện tình của AN/ Khải Triều’– món ăn tinh thần, đã trên dưới 50 năm xưa, làm dấy động tâm hồn tôi:

TRÊN KIA TIẾNG HÁT NỮ TU ĐƠN ĐIỆU

DƯỚI NÀY  MỘT NGƯỜI ÔM MẶT KHÓC.

                                                                (thơ Khải Triều – ‘Người ôm mặt khóc’)

Con người tác giả nhỏ thó, hơi thấp, khuôn mặt vuông vắn, thánh thiện, ăn nói chuẩn mực, tốt nết, tử tế với bạn bè, giúp đỡ tận tình — phía sau, ẩn nấp cả một trái tim, nàng nữ tu có tên  AGNÈS.

Sao anh ta không viết 1 tập thơ; chẳng hạn, lấy tựa, ‘Où est tu? ma belle AGNÈS’, như Louis Aragon từng viết về ‘đôi mắt Elsa Triolet’ . ( Les yeux d’Elsa Triolet) chẳng hạn vậy.” – lời thầm thì của tôi. 

Thời kỳ 1962; Khải Triều + Cao thế Dung,  từng thuê một căn gác nhỏ; khoảng 3 x 3 m2, trên đường Nguyễn Thông, (nay, đường Trần Văn Đang, phường 9, quận 3)  chạy dọc theo ga xe lửa Chí Hòa, do dân tự ý chiếm dụng; làm nhà không cầu tiêu, bếp; thuê chỉ để ngủ. Chủ, một ý tá dạo tốt bụng, cho thuê 3 cậu học trò tự nhận, nhà ở xa; đến thuê trọ, để đi học.

Cả 3 anh bạn + tôi nữa gặp nhau; rủ đi cà-phê tán láo; vì, chẳng có việc làm; lại đang trốn lính — riêng tôi, sinh 1932; khai 1936 —  từ đầu năm 1956, lệnh động viên ban ra,  bị gọi đi quân dịch (nếu biết đọc+ biết viết; hoặc, không biết gì cả; còn có bằng trung học, tú tài trở lên, được gọi vào trường Sĩ quan trừ bị Thủ đức.) , vừa sợ bị bắt; lại lo áo cơm và, tôi còn  thêm một tội lớn; in sách lậu không xin phép; đem sách bán công khai tại ngã 4 đại lộ Lê Lợi + Công lý (Saigon 1); đó là quán sách báo cô Nguyệt  +  nhà sách Portail-Xuân Thu + khách sạn Continental — khiến nhật báo Tiếng dân của trung tá Nguyễn văn Châu (giám đốc nha Chiến tranh tâm lý , thời tổng thống Ngô đình Diệm) loan tin 2 cột, trang nhất: ” Nhà văn Thế Phong và kịch sĩ Năm Châu bị bắt đưa đi Trung tâm cải tạo Vĩnh long’tẩy não’.” (năm 1961)

Nhưng thực mà nói, tôi lo bụng đói hơn sợ bị bắt; vỉ, tự nhủ ‘bị bắt thì đã có chính phủ cho 2 bữa ăn; đỡ phải bữa đói, bữa no; như bây giờ ‘.

Nguyễn văn Tuy khi ấy, nổi hơn bút danh Khải Triều;  tín hữu Công giáo trung tín; còn tay Cao thế Dung (hình như là sĩ quan đào ngũ), bút danh Cao Đan Hồ, cũng là tín đồ Công giáo ‘đi giẹo ‘. Còn một tay nữa, tên  Đỗ Tất Phú; tôi không rõ anh ta theo đạo gì; sau, bị động viên vào Thủ đức, thế là anh ta đã có quân đội nuôi cơm 2 bữa, ắc-ê sáng đêm, tối ngày; trước đi được gắn lon thiếu úy (Câu này chưa rõ nghĩa, có lẽ Thế Phong muốn nói đến thời kỳ ấy, sau khi tốt nghiệp một khóa học ở Trường Võ bị Thủ Đức, các khóa sinh được gắn lon Chuẩn úy. Ít lâu sau, họ mới được mang lon Thiếu úy, KT ghi chú)  Ít năm sau, Phú lấy vợ;  rồi tử thương trên mặt trận sôi đọng vùng sông nước Cửu long.   Một tác giả chỉ có một tập truyện ngắn ‘Ba Mẹ Con’, ký bút danh Đỗ Ngọc Trâm. (Đại Nam Văn Hiến xuất bản, năm 1962).

 Bộ ‘tam chế’ này; hình như có khi đói; chỉ đủ tiền mua bánh mì để gặm, nhấm; rồi nói chuyện văn chương, nghĩa lý, nào ‘phải thế này, thế kia’, tới chuyện ‘vá trời, lấp biển’ sao cho gọn, cho đẹp; còn chuyện ái tình vụn thì không nói tới – thật ra; bụng đói rất kỵ tình.

Khải Triều không bao giờ nói tới bản năng xác thịt, chỉ nói bản năng tinh thần + niềm lo âu:

Như tôi hôm nay một tuần buồn chán

như tôi hôm nay một tuần không đọc báo

sợ hôm nay ngày mai nhà tù tiếp nhận thêm người …

                                         thơ   KHẢI TRIỀUT

Tiếp là, Đỗ Tất Phú bị gọi động viên đi Thủ đức, lời chúc mừng không nói ra; ‘thế là bạn ta đã có quân đội nuôi cơm 2 bữa rồi.”  

Còn Cao Thế Dung giỏi tài ngoại giao, giỏi một cách thượng thừa; gặp ngay một tay người Công giáo thập thành, goá vợ;  anh được cho ở nhờ, sát nách  Nhà thờ Tân chí linh — cơm  nuôi 2 bữa, trốn lính an toàn, còn chửi đổng :’bố tiên sư thằng quân cảnh, cảnh sát đặc biệt ; chúng bay có dám qua mặt cha xứ, lẻn vào nhà thờ Thiên chúa giáo để bắt lính chúng ông không; thì bảo ?’ .

Và, chàng Cao thế Dung thấy tôi đang thất cơ lỡ vận, không dám về nhà thuê; vì, chưa có tiền trả tháng; cơm hàng khi có tiền, không, thì đành đến tìm thằng bạn tốt bụng, vui lòng cho  bữa ăn sáng; là đủ cho một ngày ‘không cần ăn gì nữa’ — đưa tôi lại giới thiệu với anh Phạm Quang Huyến, tay Công giáo này, lại nuôi  thêm một thằng ăn bám.

Sau đó, tôi đem bản thảo thi tập ‘Khúc ca nhược tiểu/ Cao Đan Hồ [Cao thế Dung] tới tòa soạn tạp chí Văn hóa Á Châu (đã dọn về 34 Phạm đăng Hưng/ Dakao) xin anh ‘gác dan’, tên Khiêm; cho đánh máy nhờ stencil (giấy xáp) + tập truyện ‘Khu rác ngoại thành’ của tôi. (sau, bản Anh ngữ ‘The Rubbish Tip outside the City/  translated by Đàm Xuân Cận; tất cả 3 quyển , đều in rô-nê-ô, Đại Nam Văn hiến xuất bản).

Gia đình anh Cao thế Dung tới Mỹ đợt đầu, ngay sau ngày 30/4/ 1975:

 ”  …  Sau khi đến đất Mỹ năm 1975, mục tiêu chính của ông [ Cao Thế Dung] là tiếp tục học lại. Lợi dụng dịp đó, ông học và viết thông thạo tiếng Anh. Trước 1975, ông Cao Thế Dung cũng đã khá thông thạo Hán văn. Sau 1975, ông tiếp tục học Hán văn.  Nói tóm lại; ngoài tiếng Việt, ông thông thạo 3 ngoại ngữ: Anh, Pháp, Hán văn.   Ông có tài sưu tầm tài liệu; công phu sưu tầm của ông đã giúp ông thành lập được một thư viện  …  — mà các thư viện nổi tiếng, như Cornell + Georgetown đã đặt cọc. Nếu ông chấp thuận, họ sẽ dành cho ông cái tên ‘Cao Thế Dung Section’ …  Ông [Cao Thế Dung] không có nhu cầu tài chính. Tất cả 5 đứa con  (3 trai + 2 gái) [ một cô lấy con trai ông Mạc  Đình [ Hoàng Văn Chí]; soạn giả cuốn ‘Trăm hoa đua nở trên đất Bắc’ xuất bản ở Saigon, trước 1963] ; tất cả 5 người con đều thành danh . Mỗi đứa con đều làm chủ một ngôi nhà khang trang . Ở mỗi nơi, ông đều có phòng ngủ riêng + phòng đọc sách. Riêng thư viện chính, ông đặt tại nhà trưởng nam … “. ” (Vĩnh Liêm/  Vài kỷ niệm về học giả Cao Thế Dung)

Anh Cao Thế  Dung rất ít liên lạc với bạn bè cũ ở Việt Nam; có lẽ ‘tay văn sĩ làm chính trị’ từng bị ‘ám sát hụt’ (đạn trúng vào vai); anh rất đề cao cảnh giác; rất kín kẽ trong mọi giao dịch . Hình như ở Việt Nam, anh chỉ liên lạc vơi anh Nguyễn văn Tuy thì phải ?

Có tin, anh đậu tiến sĩ kinh tế; có kẻ xúc xiểm, ‘tốt nghiệp tiến sĩ từ một trường đại học không mấy tiếng tăm’. 

 Nhưng, trong sự nghiệp văn chương+ sử học+ tôn giáo; phải thừa nhận:Cao Thế Dung là tác giả nhiều đầu sách khảo cứu giá trị. Chẳng hạn, có một bộ sách Việt Nam Công giáo sử tân biên  1553- 2000 ( 3 tập) — thì ở Saigon, tại nhà sách Nhà thờ Chí Hoà (quận Tân bình/ tp. HCM) có bày bán (bản ‘used’); sách được khá nhiều người đọc mua.

Cuối năm 2006,  anh Nguyễn văn Tuy báo tin cho tôi : ‘phu nhân anh Dung sẽ gửi tặng  anh TP 100 usd; nhưng  dưới tên một người khác’ . Chẳng mấy ngạc nhiên; vì, giao dịch với ai; hoặc một việc gì; anh Dung rất ‘kín kẽ’. 

Tay này quả là’ một tay văn sĩ làm chính trị’ luôn đề cao cảnh giác, có lần tôi nói đùa:”nếu thượng tọa Thích Tâm Châu được đưa vào một vai trong phim nào đó; thì, diễn viên thượng thặng, phải là anh, không thể ai khác. Anh có khuôn mặt vuông chữ điền, quai hàm bạnh ra; từ lời ăn, tiếng nói, giọng cười ; đều được chuẩn bị kỹ lưỡng, sắp sẵn, chậm nói ra lời ” với tôi, anh là một ân nhân, như một nhân vật T4 . (thẩm phán Lượng, trong tập truyện THỦY & T6 của tôi, đã xuất bản ở Sài gòn,  năm 1967.)

Thời kỳ cơm áo đã ăn nhờ, ngủ đậu; thì lấy tiền đâu chữa bệnh, mua thuốc.

 Có một buổi, tôi đau bụng quá trời; hóa ra bị đau tuột thừa; thôi thì, đành xin vào nhà thương thí cắt vậy. (thời đệ 1 Cộng hòa, đa số nhà thương đều có nhà thương thí, khám, chữa bệnh không mất tiền).

Tự  vác thân đến Bệnh viện Bình dân, xe đạp khóa ngoài gốc cây, trước nhà thương;  vạch túi quần, không có lấy một đồng bạc;  thôi thì, cứ  mặt dạn, mày dày; liều mạng đi thẳng tới phòng ghi danh; may sao, được đưa ngay  vào phóng khám bệnh nằm trên giường bệnh, trải drap trắng tinh; bác sĩ khám xong, phán, ” … chỉ chậm 1, 2 tiếng đồng nữa là cậu đi chầu Diêm vương rồi.  Biết chưa, hả? “

Được cắt xong đâu đó, nằm nghỉ một hồi lâu; bác sĩ cho về.  Bước xuống giường, đôi dép lào còn đấy, xỏ chân vào, lết chầm chậm ra khỏi bệnh viện — ra cổng, liếc mắt nhìn thẳng tới gốc cây,  ‘chiếc xe đạp vẫn chình ình, bị xích ở gốc cậy bã đậu’. Tôi đạp xe về xứ đạo Tân chí Linh ở Ngã 3 ông Tạ ăn, nghỉ, qua đêm bình yên.  Sáng hôm sau, lại đạp xe ra Thư viện Quốc gia để đọc sách; đợi chàng sinh viên trường Luật, tên Đào Minh Lượng chi tiền ăn. Nhìn thấy tôi, chàng rất lịch sự, gật đầu khẽ khàng; tới gần, giúi vội vào túi tôi ít tiền, chúc ăn ‘cơm tay cầm’ ngon miệng”. (cơm tây cầm tay: bánh mì thịt) .

Cho tới khi Đào Minh Lượng được bổ nhiệm thẩm phán, làm chánh án thiếu nhi tại tòa án Saigon; chàng vẫn cấp tiền ‘cơm tây cầm tay’ cho tôi, tới đầu năm 1965 mới thôi —  vì tôi đã có việc làm Vũng tàu.

Ấy là, nhờ giáo sư dạy tiếng Anh, Nguyễn Mạnh Cường (chồng nhân vật tiểu thuyết ‘THỦY&T6 của tôi;  giới thiệu làm ở Trung tâm xây dựng nông thôn’) — lúc này tiền bạc rủng rỉnh; cơm 3 bữa; nằm giường nệm Mỹ trắng tinh; quần áo Mỹ phát; hông lủng lẳng khẩu Browning; lương 7000 VN đồng, ra quán Aux Délices tán tỉnh cô Tỵ, con chủ quán; suýt bị một tên đại úy VNCH cho đo ván — may nhờ được một đại úy Lượt, trưởng đồn quân cảnh Vũng tàu can thiệp; mới thoát nạn.

Và, đầu năm 1966 , tôi lấy vợ.  (nghe tin này, cô Tỵ  xịu mặt; ít lâu sau,  cô lấy một tên Phi- líp-pin, theo chồng về Manila; mất luôn tin tức từ đấy). Đến cuối năm 1966,  đúng tuổi bị động viên; bị cho thôi việc, lang thang về quê vợ ở Dalat — rồi vợ đẻ, thất nghiệp, suýt nữa được thiếu tá  Nội an Dalat bổ nhiệm làm thị đoàn trưởng Xây dựng nông thôn; nhưng rất không may, bị đại úy Vũ đức Nghiêm, tỉnh đoàn trưởng ‘kỳ đà cản mũi’– thế là thất nghiệp trở về thất nghiệp, lao vào một giai đoạn thăng trầm, khổ sở điêu đứng, cả tinh thần + vật chất. 

 Trung sĩ 1 Không quân (không phi hành) Đỗ mạnh Tường, số quân: 600.595 (khai sinh thụt lại 4 tuổi)

‘Cóc chết 3 năm quay đầu về núi ‘ ; đành trở về Saigon ; nhờ trung tá  Kq Vũ Đức Vinh+ cựu y sĩ phụ tá Quân y Không quân, bộ trưởng Chiêu hồi nhờ vả tư lệnh Không quân,  sau được  bộ Tổng tham mưu QLVNCH ra nghị định tuyển dụng, đồng hoá với cấp bậc trung sĩ, làm biên tập viên báo Lý Tưởng/ Kq. 

Thế là, năm 1967,’Tôi đi dân vệ Mỹ’ ký bút danh Đinh Bạch Dân được xuất bản;  tiếp, bản dịch ‘I was an American militiaman’, bản Anh ngữ của giáo sư Đàm Xuân Cận. (tái bản, thay tựa ‘The Ordeal of an American militiaman’.)

tôi đi dân vệ Mỹ / đinh bạch dâ (bút ký, Đại Nam Văn Hiến xuất bản , Saigon  1967)

— bản dịch Anh ngữ’ The Ordeal of an American militiaman/  Đàm Xuân Cận dịch sang Anh ngữ, ký bút danh Thế Phong)… 

Trở lại chuyện thi sĩ Khải Triều, được đồng hóa cấp bậc trung sĩ đồng hóa trước tôi khoảng 6 tháng, đầu năm 1967– chúng tôi gặp lại nhau ở bộ Tư lệnh Kq ở Tân sơn nhất; còn gặp đủ chàng hạ sĩ 1Trần quang Tịnh (thi sĩ Thanh Chương) + hạ sĩ 1 Kiều văn Bảng (nhà văn Hồ Phong) — gặp lại bạn văn cũ, trung úy Dương Quang Thuận (Huy Sơn) nữa.  v.v …

Khải Triều- Nguyễn văn Tuy, qua bút danh An Tôn, tác giả ‘Công giáo miền Nam Việt Nam sau 30/4/1975’  ( Dân Chúa xb, Hoa Kỳ 1988), linh mục Nguyễn tự Do đọc xong; đưa cho văn sĩ- cựu linh mục nhà Dòng Nguyễn ngọc Lan đọc, khiến Nguyễn ngọc Lan nhờ tôi, ” tôi muốn được gặp tác giả viết cuốn sách ấy; viết về Công giáo Việt Nam, cực tốt; kể cả cái tựa  sách ‘cực kỳ chính xác, hấp dẫn độc giả’ “.

(nhưng cho đến khi qua đời vào 27/2/ 2007 cố văn sĩ, linh mục Lan vẫn không có cơ may gặp  mặt tác giả An Tôn/  Khải Triều – Nguyễn văn Tuy.)

Sau 30- 4- 1975,  Saigon mất tên, đổi chủ mới; tôi là cựu hạ sĩ quan Không quân VNCH, rất sợ bị đưa đi ‘kinh tế mới’– vợ tôi vốn là công nhân viên đài Phát thanh Saigon, vẫn phải thủ cẳng ở đây, với công việc ‘hướng dẫn viên âm nhạc’ (lương 20  đồng tiền mới); để khỏi phải bị  lùa đi ‘giãn dân’, hoặc ‘kinh tế mới’. Còn tôi, được giới thiệu làm ‘lơ xe thực thụ’  tuyến xe buýt Saigon- Thủ đức; để có tiền góp với vợ, nuôi 5 con nhỏ, từ 2 đến 9 tuổi.

Còn cựu thượng sĩ không quân Nguyễn văn Tuy (Khải Triều) làm công nhân viên Công ty Đường sắt (tuyến đường Saigon- Mường Mán) — đôi ba lần,  chúng tôi lợi dụng giờ nghỉ, uống cà- phê với nhau, ở sân ga Bình triệu. (thời kỳ này, tôi ở  Đội 4/ Công ty xe khách thành gần ga Bình triệu)

Hôm nay, đọc ‘Chuyện tình của An’ / Khải Triều’ — nếu nước mắt còn, tôi chẳng tiếc gì ,  không giỏ vài dòng nước mắt,  để khóc câu chuyện tình như thế  — một chuyện tình cao thượng, có tầm vóc từa tựa  ‘Hồn bướm mơ tiên/ Khái Hưng ,’trong Tự lực văn đoàn.   Giá có tay nào được cảm động với chuyện tình này, phóng tay viết thành’ Chuyện tình nàng Agnès’, là rất hay —  theo tôi, không ai làm tốt việc này hơn ‘chàng An Tôn’ đâu ?

Qua vài dòng về bạn Khải Triều, một thi nhân trong Đại Nam Văn Hiến xuất bản cục, cũng đã trên dưới 60 năm nay : Khải Triều- Nguyễn văn Tuy, sinh 1936 tại Hà đông (nay sát nhập vào một Hànội) — từng theo học trường đạo Công giáo Dũng Lạc ở Hà Nội, tư thục Minh Tân ở Hà Đông; di cư vào Nam, học tiếp ở trường Trung học Trần Luc; rồi đi dạy, làm báo, viết văn làm thơ, đi lính Không quân; sau giải phóng làm công nhân đường sắt xe lửa;   thôi việc về ‘làm thinh’; vợ góa, sống với con gái+ rể; chăm sóc 2 cháu ngoại 1 gái 1 trai; làm thơ tiếp, viết văn  thêm, xuất bản tự túc– nay mới nhất ‘Tuyển tập thơ Khải Triều’ (1963- 2016) — chàng cựu sĩ quan chiến tranh chính trị , trang chủ ‘T-Vấn + Bạn hữu’ xuất bản ở Hoa Kỳ.

Nhớ lại, cách đây khoảng 4 năm, phu nhân anh qua đời; tôi tới viếng; gặp nữ danh ca Tâm Vấn; bật hồi tưởng lại cuốn tiểu thuyết GÁI HÀ NỘI / Nguyễn Minh Lang [1930- Hànội 2000] rất bay bướm; bìa, do Zuy Nhất phác họa giống hệt nữ danh ca + 2 đôi vòng tai ‘tổ bố’ ; nội dung là chuyện tình của nàng + một văn sĩ tài hoa+ đào hoa + lãng mạn ‘hết xảy’. Nàng còn được đưa vào tiểu thuyết ‘Cánh hoa trước gió/ Nguyễn minh Lang (2 tập), một bộ truyện tình hay, hấp dẫn, lôi cuốn.  Tuy không là chủ sở hữu đôi gò má cao; nhưng từng là vợ một tay làm từ điển uy tín, Thanh Nghị- Hoàng trọng Quy .(sau, bộ trưởng thông tin Mặt trận giải phóng miền Nam) — nay , đương kim phu nhân một bác sĩ tiếng tăm lừng lẫy, ông Nguyễn đan Quế [ 1940-  ] hiện sống tại thành phố HCM.

Bây giờ, hãy cùng đọc một đoạn văn trong ‘Chuyện tình Agnès’ :

“… một tay An (nhân vật, kiểu’protagoniste’ trong văn chương)  cầm ô, một tay nắm chặt tay Agnès.  Anh cảm thấy hơi ấm trong tay người Agnès truyền qua người anh.  Để tránh cơn mưa, An kéo Agnès vào bên ngôi mộ, có mai che … Họ lặng lẽ …” còn Agnès, cô bé người yêu của Chúa, thì:

“… khi nhận được thư chú gửi cho cháu; đọc đến đâu, cháu khóc đến đấy … Những trang thư chú chứa đầy nước mắt của cháu.  Chiều hôm ấy, cháu vào nhà thờ; khóc nhiều hơn nữa , khóc suốt giờ [đọc] Kinh, khóc với Chúa; và, cảm tạ Chúa …”

hoặc:

” … trong lần về dự lễ ‘lễ khấn trọn đời của Agnès’, 2 người lặng lẽ bên nhau… người nữ tu kia với tiếng hát đơn điệu … còn anh; và, là ‘người ôm mặt khóc’; như trong bài thơ của anh, cách đây 49 năm, anh đã mất Agnès : ‘người nữ tu đích thật, chỉ đến trong đời anh, một linh hồn nặng đau thương …”

và tôi, Thằng phải gió — người viết bài này, dâng lời cầu nguyện :

“…  Chúa ơi! theo luật Chúa; bây giờ bạn con là người tự do (đoạn tang vợ đã 4 năm); xin Chúa hãy trao Agnès cho ‘thằng bạn cô đơn thầm lặng của con, suốt 49 năm đợi chờ’ — đây là “ý con, không phải là ý Chúa.”

 thế phong        

(Saigon, Oct.  3rd,  2016)

Về tác phẩm,

Nhà văn Thế Phong, với hơn 50 tác phẩm đủ thể loại: thơ, truyện, phê bình, khảo luận, dịch thuật. Anh xuất hiện như một hiện tượng văn học hi hữu tại Sài Gòn từ sau năm 1954 cho đến nay, 70 năm tròn. Ngòi bút của anh rất mạnh, “xông xáo” vào nhiều lãnh vực, gây ngộ nhận ở một vài người, khiến họ “khó chịu”,  nên  khoác cho anh cái áo “cao-bồi” văn nghệ. Anh cười thản nhiên. Anh là một nhà văn, nhà thơ sống rất thực, viết rất thực. Nên có thể nói, anh là một nhà văn phóng nhiệm trong văn chương và đôi khi cả trong giao tiếp chuyện trò. Trong số hơn 50 tác phẩm, ngoài cuốn biên khảo về Lược sử văn nghệ Việt Nam, là một tác phẩm văn học có bề dày rất đáng nể, công phu, rất tiện cho việc nghiên cứu, ông còn có cuốn Nửa Đường Đi Xuống, một cuốn sách nhiều người thích; cuốn Tôi Đi Dân Vệ Mỹ, cũng là một cuốn sách ít người có được một vị trí như anh để viết; anh còn dịch cuốn Việt Nam Bi Thảm Đông Dương, ký tên Đường Bá Bổn, nxb Thanh Niên. Giấy CNKHĐT: số 185/1528/CXB cấp ngày 9-9- 2005. Nguyên tác tiếng Pháp: Viet-nam, Latragédie Indochinoise, của Louis Roubaud, nxb Valois- Paris 1931.

Khải Triều

Bài Mới Nhất
Search