Eddie Jaku: “Người Hạnh Phúc Nhất Trên Trái Đất”: CHƯƠNG 1, 2 & 3

GIỚI THIỆU TÁC GIẢ & TÁC PHẨM

Nguyên Tác: The Happiest Man On Earth (2022) của Eddie Jaku

(Chuyển ngữ tiếng Việt: Gemini; Hiệu đính (và chịu trách nhiệm): T.Vấn)

CHƯƠNG MỘT

Có nhiều thứ quý giá hơn tiền bạc.

Tôi sinh năm 1920 tại một thành phố tên là Leipzig, ở miền đông nước Đức. Tên tôi là Abraham Salomon Jakubowicz, nhưng bạn bè gọi tắt là Adi. Trong tiếng Anh, cái tên này được phát âm là Eddie. Vậy nên, xin hãy gọi tôi là Eddie, bạn của tôi nhé.

Chúng tôi là một gia đình yêu thương, một đại gia đình. Cha tôi, Isidore, có bốn anh em trai và ba chị em gái, còn mẹ tôi, Lina, là một trong mười ba người con. Hãy hình dung sức mạnh của bà nội tôi, người đã nuôi nấng biết bao nhiêu đứa trẻ! Bà đã mất một người con trai trong Thế chiến thứ nhất, một người Do Thái đã hy sinh mạng sống mình cho nước Đức, cũng như chồng bà, ông nội tôi, một tuyên úy quân đội đã không bao giờ trở về từ cuộc chiến.

Cha tôi là một công dân Đức tự hào hết mực, một người nhập cư từ Ba Lan đến định cư ở Đức. Lần đầu tiên ông rời Ba Lan là khi còn là một người học việc kỹ thuật cơ khí chính xác cho nhà sản xuất máy đánh chữ Remington. Vì nói tiếng Đức tốt, ông đã tìm đường đến Mỹ bằng cách làm việc trên một con tàu buôn của Đức.

Ông đã xuất sắc trong nghề nghiệp của mình ở Mỹ, nhưng rồi nhớ gia đình và quyết định quay trở lại châu Âu để thăm bằng một con tàu buôn Đức khác – đến đúng lúc để bị cuốn vào Thế chiến thứ nhất. Vì ông đi bằng hộ chiếu Ba Lan, ông bị người Đức giam giữ như một người nước ngoài bất hợp pháp.

Tuy nhiên, chính phủ Đức nhận ra ông là một thợ cơ khí lành nghề và cho phép ông rời khỏi trại giam để làm việc tại một nhà máy ở Leipzig, chuyên chế tạo vũ khí hạng nặng phục vụ chiến tranh. Trong thời gian này, ông yêu mẹ tôi, Lina, và yêu nước Đức, rồi ở lại sau chiến tranh. Ông mở một nhà máy ở Leipzig, cưới mẹ tôi, và chẳng bao lâu sau thì tôi ra đời. Hai năm sau, chúng tôi chào đón em gái nhỏ Johanna đến với thế giới. Chúng tôi gọi tắt em là Henni.

Không gì có thể lay chuyển lòng yêu nước và niềm tự hào của cha tôi về nước Đức. Chúng tôi coi mình là người Đức trước hết, người Đức thứ hai, và sau đó mới là người Do Thái. Tôn giáo dường như không quan trọng bằng việc chúng tôi là những công dân tốt của Leipzig. Chúng tôi thực hành các truyền thống và tuân thủ các ngày lễ của mình, nhưng lòng trung thành và tình yêu của chúng tôi là dành cho nước Đức. Tôi tự hào sinh ra ở Leipzig, nơi đã từng là trung tâm nghệ thuật và văn hóa suốt 800 năm – thành phố này có một trong những dàn nhạc giao hưởng lâu đời nhất thế giới, và là một thành phố đã truyền cảm hứng cho Johann Sebastian Bach, Clara Schumann, Felix Mendelssohn, các nhà văn, nhà thơ và triết gia – Goethe, Leibniz và Nietzsche, cùng nhiều người khác nữa.

Trong nhiều thế kỷ, người Do Thái đã là một phần không thể thiếu trong cấu trúc xã hội của Leipzig.

Từ thời trung cổ, ngày chợ lớn đã được ấn định vào thứ Sáu, thay vì thứ Bảy, để các thương nhân Do Thái có thể tham gia, vì chúng tôi bị cấm làm việc vào thứ Bảy, ngày Sabbath của người Do Thái. Các công dân và nhà từ thiện Do Thái nổi bật đã đóng góp vào lợi ích chung của cộng đồng, cũng như của cộng đồng Do Thái, giám sát việc xây dựng một số giáo đường đẹp nhất châu Âu. Sự hài hòa là một phần của cuộc sống. Và đó là một cuộc sống rất tốt đẹp đối với một đứa trẻ. Chúng tôi có vườn bách thú chỉ cách nhà tôi năm phút đi bộ, nổi tiếng khắp thế giới về bộ sưu tập và việc nhân giống nhiều sư tử trong điều kiện nuôi nhốt hơn bất kỳ nơi nào khác trên thế giới. Bạn có tưởng tượng được điều đó thú vị đến mức nào đối với một cậu bé không? Chúng tôi có những hội chợ thương mại lớn hai lần một năm mà cha tôi thường đưa tôi đến – chính những hội chợ này đã đưa Leipzig trở thành một trong những thành phố văn hóa và giàu có nhất châu Âu. Vị trí và tầm quan trọng của Leipzig như một thành phố thương mại đã biến nó thành một trung tâm cho sự lan tỏa của các công nghệ và ý tưởng mới. Đại học của nó, lâu đời thứ hai ở Đức, được thành lập vào năm 1409. Tờ nhật báo đầu tiên trên thế giới bắt đầu xuất bản ở Leipzig vào năm 1650. Một thành phố của sách, của âm nhạc, của opera. Khi còn là một cậu bé, tôi thực sự tin rằng mình là một phần của xã hội khai sáng nhất, văn hóa nhất, tinh tế nhất – chắc chắn là được giáo dục tốt nhất – trên toàn thế giới. Tôi đã sai lầm đến nhường nào.

Mặc dù cá nhân tôi không quá sùng đạo, nhưng chúng tôi vẫn thường xuyên đến giáo đường.

Chúng tôi duy trì bếp và chế độ ăn kiêng Kosher cho mẹ tôi, người muốn làm mọi thứ truyền thống nhất có thể để làm hài lòng mẹ bà, bà nội tôi, người sống cùng chúng tôi và rất sùng đạo. Mỗi tối thứ Sáu, chúng tôi sẽ quây quần bên bữa tối Shabbos (Sabbath), cùng cầu nguyện và thưởng thức những bữa ăn truyền thống do bà nội tôi chuẩn bị đầy yêu thương. Bà sẽ nấu trên chiếc bếp củi khổng lồ cũng dùng để sưởi ấm ngôi nhà. Một hệ thống đường ống ingeniously chạy khắp ngôi nhà để nhiệt dư không bị lãng phí, và khói được dẫn ra ngoài an toàn.

Khi chúng tôi từ bên ngoài về nhà trong cái lạnh cóng, chúng tôi sẽ ngồi trên những chiếc đệm cạnh bếp để sưởi ấm. Tôi có một con chó, một chú chó Dachshund con tên là Lulu, thường cuộn tròn trong lòng tôi vào những đêm lạnh giá. Tôi trân quý những đêm đó biết bao.

Cha tôi làm việc chăm chỉ để nuôi nấng chúng tôi và cuộc sống của chúng tôi khá thoải mái, nhưng ông rất cẩn thận để đảm bảo chúng tôi hiểu rằng cuộc sống còn nhiều điều quý giá hơn vật chất. Mỗi tối thứ Sáu, trước bữa tối Shabbos, Mẹ sẽ nướng ba hoặc bốn ổ bánh challah, loại bánh mì nghi lễ đặc biệt, thơm ngon, làm từ trứng và bột mì mà chúng tôi ăn vào những dịp đặc biệt.

Khi tôi sáu tuổi, tôi hỏi ông tại sao chúng ta lại nướng nhiều như vậy khi chỉ có gia đình bốn người, và ông giải thích rằng ông sẽ mang những ổ bánh thừa đến giáo đường để tặng cho những người Do Thái gặp khó khăn. Ông yêu gia đình và bạn bè mình. Ông luôn đưa bạn bè về nhà cùng ăn tối với chúng tôi, mặc dù mẹ tôi đã kiên quyết nói rằng ông không thể có quá năm người cùng một lúc, vì bàn ăn của chúng tôi không thể chứa thêm.

“Nếu con đủ may mắn có tiền và một ngôi nhà đẹp, con có thể giúp đỡ những người không có,” ông thường nói với tôi. “Đó chính là ý nghĩa của cuộc đời. Là để chia sẻ may mắn của mình.” Cha tôi thường nói với tôi rằng cho đi thì vui hơn nhận về, rằng những điều quan trọng trong cuộc sống – bạn bè, gia đình, lòng tốt – quý giá hơn tiền bạc rất nhiều. Một người đàn ông đáng giá hơn tài khoản ngân hàng của anh ta. Lúc đó tôi nghĩ ông điên rồi, nhưng giờ đây sau tất cả những gì tôi đã chứng kiến trong cuộc đời này, tôi biết ông đã đúng.

Nhưng có một đám mây đen bao phủ cảnh gia đình hạnh phúc của chúng tôi. Nước Đức đang gặp rắc rối. Chúng tôi đã thua cuộc chiến trước và nền kinh tế bị hủy hoại. Các cường quốc Đồng minh chiến thắng yêu cầu một khoản bồi thường chiến tranh nhiều hơn khả năng nước Đức có thể trả, và 68 triệu người đang phải chịu đựng. Thiếu hụt lương thực, nhiên liệu và nghèo đói tràn lan, điều này ảnh hưởng sâu sắc đến những người dân Đức rất tự hào. Mặc dù chúng tôi là một gia đình trung lưu khá giả, nhưng không thể tìm thấy nhiều thứ cần thiết, ngay cả khi có tiền sẵn. Mẹ tôi sẽ đi bộ nhiều kilomet đến chợ để đổi những chiếc túi xách và quần áo bà đã sưu tầm được trong thời kỳ tốt đẹp hơn lấy trứng, sữa, bơ hoặc bánh mì. Vào sinh nhật thứ mười ba của tôi, cha tôi hỏi tôi muốn gì, và tôi đã xin sáu quả trứng, một ổ bánh mì trắng, thứ rất khó tìm vì người Đức thích bánh mì lúa mạch đen, và một quả dứa. Tôi không thể tưởng tượng được điều gì ấn tượng hơn sáu quả trứng, và tôi chưa bao giờ nhìn thấy một quả dứa. Và bằng cách nào đó, ông đã tìm được một quả – tôi không biết bằng cách nào, nhưng đó chính là cha tôi. Ông sẽ làm những điều tưởng chừng không thể chỉ để tôi mỉm cười. Tôi đã rất phấn khích đến mức ăn hết sáu quả trứng và cả quả dứa cùng một lúc. Tôi chưa bao giờ được ăn nhiều thức ăn ngon như vậy. Mẹ cảnh báo tôi ăn chậm lại nhưng tôi có nghe không? Không hề! Lạm phát khủng khiếp, khiến việc tích trữ thực phẩm có thể để lâu hoặc lên kế hoạch cho tương lai là điều không thể. Cha tôi sẽ về nhà từ nơi làm việc với một chiếc cặp đầy tiền mặt mà sẽ trở nên vô giá trị vào sáng hôm sau. Ông sẽ sai tôi đến cửa hàng và nói, “Mua bất cứ thứ gì con có thể! Nếu có sáu ổ bánh mì, hãy mua hết! Ngày mai chúng ta sẽ không còn gì!” Ngay cả đối với những người may mắn cũng rất khó khăn để sống, và người Đức đã bị sỉ nhục và tức giận. Mọi người trở nên tuyệt vọng và sẵn sàng đón nhận bất kỳ giải pháp nào. Đảng Quốc xã và Hitler đã hứa hẹn với người dân Đức một giải pháp. Và họ đã cung cấp một kẻ thù.

Năm 1933, khi Hitler lên nắm quyền, ông ta đã mang theo một làn sóng bài Do Thái. Năm đó tôi 13 tuổi, và theo truyền thống của chúng tôi là làm lễ Bar Mitzvah, một nghi lễ tôn giáo cổ xưa để mừng sự trưởng thành. Bar Mitzvah, nghĩa là “con trai của giới luật”, thường được tiếp nối bằng một bữa tiệc tuyệt vời với đồ ăn ngon và nhảy múa. Vào những thời điểm khác, buổi lễ đã được tổ chức tại Giáo đường lớn Leipzig, nhưng điều này không được phép sau khi chế độ Đức Quốc xã bắt đầu. Thay vào đó, tôi đã làm lễ Bar Mitzvah tại một giáo đường nhỏ cách đó ba trăm mét. Rabbi (Thầy đạo Do Thái) điều hành shul của chúng tôi (một tên gọi khác của giáo đường, theo nghĩa đen là “ngôi nhà sách”) rất thông minh. Ông đã cho thuê căn hộ bên dưới giáo đường cho một người ngoại đạo có con trai là thành viên SS. Khi các cuộc tấn công bài Do Thái diễn ra, người con ngoại đạo này luôn đảm bảo có lính gác bảo vệ căn hộ, và do đó, bảo vệ cả shul ở phía trên. Nếu chúng muốn phá hủy shul, chúng cũng sẽ phải phá hủy nhà của người đàn ông này.

Chúng tôi đã cử hành nghi lễ tôn giáo, với việc thắp nến và cầu nguyện cho cả gia đình tôi, và những người đã khuất. Sau buổi lễ, tôi được coi là một người đàn ông theo truyền thống Do Thái, chịu trách nhiệm về hành động của mình. Tôi bắt đầu suy nghĩ về tương lai.

Khi còn rất nhỏ, tôi từng muốn trở thành bác sĩ, nhưng đó không phải là nơi tài năng của tôi. Ở Đức, chúng tôi có những trung tâm mà học sinh được gửi đến để khám phá năng khiếu của mình thông qua một loạt các bài kiểm tra trí nhớ và sự khéo léo thủ công. Từ đó, họ kết luận rằng tài năng của tôi thiên về quang học và toán học, với thị lực tuyệt vời và khả năng phối hợp tay mắt. Tôi sẽ trở thành một kỹ sư giỏi, vì vậy đây là điều tôi quyết định theo học.

Tôi đang theo học tại một ngôi trường rất tốt trong một tòa nhà xinh đẹp tên là Trường phổ thông 32 (32 Volkschule). Trường cách nhà tôi một kilomet, và tôi sẽ mất khoảng mười lăm phút để đi bộ đến đó. Trừ khi là mùa đông! Leipzig là một thành phố rất lạnh và trong tám tháng trong năm, dòng sông đóng băng hoàn toàn. Tôi có thể trượt băng trên sông đến trường chỉ trong năm phút.

Năm 1933, tôi lên cấp ba, và sẽ học tại trường Trung học Leibniz (Leibniz Gymnasium). Nếu lịch sử đi theo một con đường khác, tôi đã học ở đó cho đến năm 18 tuổi, nhưng điều đó đã không xảy ra.

Một ngày nọ, tôi đến trường và được thông báo rằng tôi không thể tiếp tục học nữa – tôi bị đuổi học vì là người Do Thái. Điều này không thể chấp nhận được đối với cha tôi, một người đàn ông cứng đầu với những mối quan hệ quyền lực ở Leipzig, người đã nhanh chóng vạch ra một kế hoạch mới cho việc học của tôi.

“Đừng lo lắng,” ông nói với tôi. “Con sẽ tiếp tục việc học của mình. Cha sẽ đảm bảo điều đó.”

Giấy tờ giả được chuẩn bị cho tôi, và với sự giúp đỡ của một người bạn gia đình, tôi được nhận vào trường Jeter und Shearer, một trường cao đẳng kỹ thuật cơ khí ở Tuttlingen, cách xa về phía nam Leipzig. Đây là trung tâm công nghệ kỹ thuật trên thế giới vào thời điểm đó, cung cấp cơ khí chính xác cho toàn cầu. Họ đã chế tạo đủ loại máy móc đáng kinh ngạc, dụng cụ y tế phức tạp và máy móc công nghiệp. Tôi nhớ đã thấy một cỗ máy mà gà sẽ đi vào một đầu của băng chuyền và ra ở đầu kia đã được vặt lông, rửa sạch và đóng gói. Thật đáng kinh ngạc! Và tôi sẽ học cách chế tạo những cỗ máy này, một nền giáo dục kỹ thuật tốt nhất có thể có trên thế giới. Để được vào học, tôi phải trải qua một loạt các kỳ thi, và tôi lo lắng đến mức phải cẩn thận lau mồ hôi trên trán trước khi nó có thể rơi xuống và làm hỏng bài của tôi. Tôi rất lo lắng rằng mình sẽ làm cha thất vọng.

Tôi được ghi danh dưới cái tên giả Walter Schleif, một đứa trẻ mồ côi người Đức không phải là người Do Thái, người ít phải sợ hãi hơn sau khi Hitler được bổ nhiệm làm thủ tướng Đức.

Walter Schleif là danh tính của một cậu bé người Đức có thật đã biến mất.

Rất có thể, gia đình cậu bé đã âm thầm rời Đức khi Đức Quốc xã bắt đầu trỗi dậy. Cha tôi đã lấy được thẻ căn cước của cậu bé và có thể sửa đổi chúng thành giấy tờ giả đủ thuyết phục để đánh lừa chính phủ. Thẻ căn cước Đức vào thời điểm đó có những bức ảnh nhỏ được gắn vào giấy mà chỉ có thể nhìn thấy bằng ánh sáng hồng ngoại đặc biệt. Việc làm giả phải được thực hiện rất tốt, nhưng nghề nghiệp của cha tôi trong lĩnh vực máy đánh chữ có nghĩa là ông có quyền tiếp cận các công cụ và bí quyết phù hợp.

Với các tài liệu mới, tôi có thể bắt đầu một cuộc sống mới và hòa nhập vào trường học, nơi tôi bắt đầu học nghề kỹ thuật cơ khí. Trường học cách Leipzig chín giờ đi tàu. Tôi sẽ phải tự chăm sóc bản thân, quần áo, việc học của mình và giữ bí mật bằng mọi giá. Tôi sẽ đến trường mỗi ngày và ngủ vào ban đêm tại một trại trẻ mồ côi gần đó, trong một ký túc xá với những cậu bé lớn tuổi hơn nhiều. Đổi lại công việc học nghề của mình, tôi nhận được một khoản trợ cấp nhỏ mà tôi có thể dùng để mua quần áo và các vật dụng thiết yếu khác.

Đó là một cuộc sống cô độc, khi làm Walter Schleif. Tôi không thể nói với ai mình thực sự là ai, không thể tâm sự với ai – làm như vậy sẽ có nghĩa là lộ danh tính Do Thái của tôi và đặt tôi vào nguy hiểm. Tôi phải đặc biệt cẩn thận trong nhà vệ sinh và phòng tắm, vì nếu một cậu bé khác nhận thấy tôi đã cắt bao quy đầu, đó sẽ là dấu chấm hết cho tôi.

Việc liên lạc với gia đình rất ít ỏi. Viết thư không an toàn, và để gọi điện thoại, tôi phải đến buồng điện thoại dưới tầng hầm một cửa hàng bách hóa, đi một quãng đường dài và phức tạp để đảm bảo không bị theo dõi. Trong những lần hiếm hoi tôi có thể nói chuyện với gia đình, tim tôi như tan nát. Tôi không thể diễn tả hết nỗi đau khi là một chàng trai trẻ phải sống xa nhà như vậy, và đó lại là khả năng duy nhất để đảm bảo một nền giáo dục và tương lai mà cha tôi mong muốn cho tôi. Nhưng dù xa gia đình có khó khăn đến mấy, việc làm họ thất vọng còn tồi tệ hơn.

Tôi nói với cha tôi rằng tôi cô đơn biết bao khi không có họ, và ông đã khuyên tôi phải mạnh mẽ.

“Eddie, cha biết rất khó khăn, nhưng một ngày nào đó con sẽ cảm ơn cha,” ông thường nói. Sau này tôi mới biết rằng, dù ông nghiêm khắc với tôi, nhưng ngay sau khi cúp điện thoại, ông sẽ bắt đầu khóc như một đứa trẻ. Ông đang cố tỏ ra dũng cảm để giúp tôi dũng cảm.

Và ông đã đúng. Nếu không có những gì tôi học được ở ngôi trường đó, tôi sẽ không bao giờ sống sót qua những gì sắp đến.

Năm năm trôi qua. Năm năm làm việc không ngừng nghỉ và cô đơn.

Tôi không chắc mình có thể giải thích cảm giác giả vờ làm một người khác trong suốt từ năm mười ba tuổi rưỡi đến mười tám tuổi là như thế nào. Đó là một gánh nặng khủng khiếp khi phải mang bí mật đó trong một thời gian dài như vậy. Không một khoảnh khắc nào trôi qua mà tôi không nhớ gia đình, nhưng tôi hiểu rằng việc học của mình quan trọng và tôi vẫn kiên trì. Đó là một sự hy sinh khủng khiếp, phải xa gia đình lâu như vậy, nhưng tôi đã thu được rất nhiều từ nền giáo dục của mình.

Trong những năm cuối cùng của thời gian học nghề, tôi làm việc tại một công ty chuyên sản xuất thiết bị X-quang rất tinh xảo. Ngoài khía cạnh kỹ thuật và lý thuyết trong quá trình học, tôi còn phải thể hiện rằng mình có thể làm việc chăm chỉ và thành thạo trong nghề nghiệp mới. Tôi sẽ làm việc cả ngày và đi học vào buổi tối.

Thứ Tư là ngày duy nhất tôi không làm việc và có thể hoàn toàn dành cho việc học.

Mặc dù cô đơn, tôi vẫn yêu thích nền giáo dục mà mình đang được nhận. Các bậc thầy mà tôi học cùng là một trong những bộ óc vĩ đại nhất thế giới, và họ có thể cầm dụng cụ của mình lên và chế tạo dường như bất cứ thứ gì, từ những bánh răng nhỏ nhất đến những cỗ máy khổng lồ đi đầu trong công nghệ. Tất cả đối với tôi đều kỳ diệu. Đức đang đi đầu trong một cuộc cách mạng công nghệ và công nghiệp hứa hẹn sẽ nâng cao chất lượng cuộc sống cho hàng triệu người, và tôi đang ở ngay tuyến đầu.

Năm 1938, ngay sau sinh nhật thứ mười tám của tôi, tôi đã vượt qua các kỳ thi cuối cùng, và được chọn là thực tập sinh xuất sắc nhất năm của trường và được mời gia nhập công đoàn. Các công đoàn ở Đức vào thời điểm đó không giống như bạn thấy trong xã hội hiện đại. Chúng ít liên quan đến việc đàm phán điều kiện làm việc và số tiền bạn kiếm được, mà thiên về khả năng của bạn với tư cách là một người hành nghề. Vào thời điểm đó, bạn chỉ được mời tham gia nếu bạn thực sự giỏi trong nghề của mình, là đỉnh cao của ngành. Đó là nơi để những bộ óc xuất sắc nhất trong một lĩnh vực tập hợp và hợp tác để thúc đẩy khoa học và công nghiệp tiến lên. Trong công đoàn, những mối bận tâm như giai cấp và tín ngưỡng không có ý nghĩa gì so với uy tín của chính công việc. Thực sự là một vinh dự lớn đối với tôi khi được kết nạp khi còn rất trẻ.

Tại buổi lễ, tôi được gọi lên trước mọi người để nhận bằng khen từ Chủ tịch Công đoàn Cơ khí Chính xác, người mặc chiếc áo choàng xanh truyền thống tuyệt đẹp với cổ áo ren cầu kỳ.

“Hôm nay, chúng ta chào đón người học việc Walter Schleif vào một trong những công đoàn tốt nhất ở Đức,” Chủ tịch tuyên bố. Tôi bật khóc.

Chủ tịch lay tôi. “Con làm sao vậy? Đây là một trong những ngày tuyệt vời nhất của con! Con nên tự hào chứ!”

Nhưng tôi không thể nguôi ngoai. Tôi cảm thấy vô cùng buồn khi cha mẹ tôi không thể có mặt để chứng kiến. Tôi khao khát được họ thấy những gì tôi đã đạt được – và cũng muốn ông chủ của tôi hiểu rằng tôi không phải là Walter Schleif, đứa trẻ mồ côi tội nghiệp. Rằng tôi là Eddie Jaku, rằng tôi có một gia đình yêu thương tôi, và thật đau lòng khi phải xa họ.

Tôi trân quý từng chút kiến thức mà những năm tháng đó mang lại cho tôi, nhưng tôi sẽ mãi hối tiếc khoảng thời gian xa gia đình đó. Thực sự, cha tôi đã rất khôn ngoan khi nói với tôi rằng một cuộc đời đáng giá hơn một tài khoản ngân hàng. Có nhiều thứ trên thế giới này mà tiền bạc không thể mua được, và một số thứ vô giá. Gia đình là trên hết, gia đình là thứ hai, và gia đình là cuối cùng.

CHƯƠNG HAI

Yếu đuối có thể biến thành căm thù.

Tôi đã mắc sai lầm lớn nhất trong cuộc đời non trẻ của mình vào ngày 9 tháng 11 năm 1938.

Sau khi tốt nghiệp, tôi nhận một công việc chế tạo dụng cụ y tế chính xác và ở lại Tuttlingen vài tháng. Đó là kỷ niệm 20 năm ngày cưới của cha mẹ tôi và tôi quyết định gây bất ngờ cho họ bằng một chuyến về thăm nhà. Tôi mua vé và thực hiện chuyến đi tàu chín tiếng về thành phố nơi tôi sinh ra. Ngoài cửa sổ, những cánh đồng và khu rừng nước Đức cứ thế lướt qua.

Trong môi trường học đường được bảo vệ kín kẽ, tôi không có điều kiện tiếp cận báo chí hay đài phát thanh. Tôi không hề biết chuyện gì đang xảy ra với đất nước mà tôi yêu quý đến vậy, hay về đám mây bài Do Thái ngày càng lớn đang bao trùm khắp xứ sở.

Tôi về đến nhà và thấy ngôi nhà tối om và khóa chặt. Gia đình tôi đã biến mất. Tôi không hề biết rằng họ đã đi lánh nạn, tin rằng tôi vẫn an toàn và ở nơi xa.

Tôi vẫn còn chìa khóa, nếu không thì tôi đã phải ngủ ngoài đường. Tôi mở cửa, và đó là Lulu, chú chó Dachshund của tôi. Nó lập tức nhảy lên và liếm chân tôi. Nó vui mừng, và tôi cũng vậy.

Tôi rất lo lắng về gia đình. Thật khó hiểu khi họ lại biến mất giữa đêm khuya. Nhưng tôi rất mệt và được nằm trên chiếc giường thời thơ ấu của mình sau năm năm xa nhà. Dường như không có điều gì tồi tệ có thể xảy ra với tôi ở đó.

Tôi nằm thao thức, lắng nghe những tiếng động vọng lại từ xa trên đường phố. Tôi không hề biết chuyện gì đang xảy ra, rằng khắp thành phố, các giáo đường đang bốc cháy. Cuối cùng, kiệt sức, tôi thiếp đi.

Tôi tỉnh giấc lúc 5 giờ sáng bởi tiếng cửa bị đạp tung. Mười tên Đức Quốc xã xông vào, lôi tôi ra khỏi giường và, tôi thề với bạn, chúng đánh tôi gần chết. Bộ đồ ngủ của tôi nhanh chóng thấm đẫm máu. Một tên cầm lưỡi lê, cắt ống tay áo tôi, và bắt đầu khắc một chữ vạn (swastika) lên cánh tay tôi. Khi hắn bắt đầu rạch, chú chó nhỏ Lulu của tôi nhảy xổ vào hắn. Tôi không biết liệu nó có cắn hắn hay chỉ dọa hắn, nhưng tên Đức Quốc xã buông tôi ra rồi, dùng lưỡi lê ở đầu súng trường, đâm chết chú chó nhỏ đáng thương của tôi, miệng la lớn: “Ein Juden Hund!” (Chó Do Thái!).

Tôi nghĩ, Eddie, đây là ngày cuối cùng của mày rồi. Hôm nay, mày sẽ chết.

Nhưng chúng không đến để giết tôi, mà chỉ để đánh đập và làm nhục tôi. Sau cuộc tấn công đầu tiên, chúng kéo tôi ra đường và bắt tôi chứng kiến cảnh ngôi nhà 200 năm tuổi của chúng tôi bị phá hủy, ngôi nhà mà nhiều thế hệ gia đình tôi đã lớn lên. Trong khoảnh khắc đó, tôi mất đi phẩm giá, tự do và niềm tin vào nhân loại. Tôi mất tất cả những gì mình sống vì. Từ một con người, tôi bị biến thành hư không.

Đêm đó giờ đây khét tiếng với tên gọi Kristallnacht, Đêm Kính Vỡ, được đặt tên theo những mảnh kính vỡ vụn rải đầy đường phố sau khi các cửa hàng, nhà cửa và giáo đường của người Do Thái bị cướp bóc và phá hủy bởi đội Áo Nâu (Brownshirts), lực lượng bán quân sự của Đức Quốc xã. Chính quyền Đức đã không làm gì để ngăn chặn điều đó.

Đêm đó, những hành động tàn bạo đã được thực hiện bởi những người Đức văn minh khắp Leipzig, khắp cả nước. Hầu hết mọi ngôi nhà và cơ sở kinh doanh của người Do Thái trong thành phố tôi đều bị phá hoại, đốt cháy hoặc bị phá hủy theo cách khác, cũng như các giáo đường của chúng tôi.

Và cả con người của chúng tôi nữa.

Không chỉ có binh lính Quốc xã và những tên côn đồ phát xít quay lưng lại với chúng tôi.

Những công dân bình thường, bạn bè và hàng xóm của chúng tôi từ trước khi tôi sinh ra, cũng tham gia vào bạo lực và cướp bóc. Khi đám đông đã phá hủy xong tài sản, chúng vây bắt người Do Thái – nhiều người trong số họ là trẻ nhỏ – và ném họ xuống dòng sông mà tôi từng trượt băng khi còn bé. Lớp băng mỏng manh và nước thì đóng băng. Những người đàn ông và phụ nữ mà tôi lớn lên cùng đã đứng trên bờ sông, nhổ nước bọt và chế nhạo khi mọi người vùng vẫy.

“Bắn chúng đi!” chúng la lên. “Bắn lũ chó Do Thái đó!”

Chuyện gì đã xảy ra với những người bạn Đức của tôi mà họ lại trở thành những kẻ sát nhân?

Làm sao có thể biến bạn bè thành kẻ thù, tạo ra sự căm ghét đến nhường ấy?

Nước Đức mà tôi đã từng rất tự hào là một phần của nó, đất nước nơi tôi sinh ra, đất nước của tổ tiên tôi, đã ở đâu? Một ngày chúng tôi là bạn bè, hàng xóm, đồng nghiệp, và ngày hôm sau chúng tôi được bảo rằng mình là kẻ thù không đội trời chung.

Khi nghĩ về những người Đức hả hê trước nỗi đau của chúng tôi, tôi muốn hỏi họ, “Các người có linh hồn không? Các người có trái tim không?” Đó là sự điên rồ, theo đúng nghĩa của từ này – những người lẽ ra phải văn minh lại mất hết khả năng phân biệt đúng sai. Họ đã gây ra những hành động tàn bạo khủng khiếp, và tệ hơn, họ còn thích thú với điều đó. Họ nghĩ rằng mình đang làm đúng. Và ngay cả những người không thể tự lừa dối mình rằng chúng tôi, người Do Thái, là kẻ thù, cũng không làm gì để ngăn chặn đám đông.

Nếu đủ người đã đứng lên vào đêm Kristallnachtđó, và nói, “Đủ rồi!

Các người đang làm gì vậy? Các người bị làm sao vậy?” thì dòng chảy lịch sử đã khác. Nhưng họ đã không làm. Họ sợ hãi. Họ yếu đuối. Và sự yếu đuối của họ đã cho phép họ bị thao túng thành căm ghét.

Khi chúng chất tôi lên xe tải để đưa đi, máu hòa lẫn với nước mắt trên mặt tôi, tôi đã không còn tự hào là người Đức nữa. Không bao giờ nữa.

CHƯƠNG BA

Ngày mai sẽ đến nếu bạn sống sót qua hôm nay. Từng bước một.

Chiếc xe tải đưa tôi đến sở thú, nơi tôi bị giam giữ trong một nhà chứa máy bay cùng với những người đàn ông Do Thái trẻ tuổi khác. Khi tôi đến, có khoảng ba mươi người. Suốt đêm, những tên côn đồ kéo thêm nhiều người nữa vào, và khi đã có một trăm năm mươi người, chúng chất chúng tôi lên một chiếc xe tải khác. Khi xe chạy, những người đàn ông khác kể cho tôi nghe về thảm họa Kristallnacht (Đêm Kính Vỡ), về việc cướp bóc, đốt cháy các giáo đường. Tôi bàng hoàng, kinh hoàng, lo lắng cho gia đình. Lúc đó, không ai trong chúng tôi hiểu rằng đây chỉ là khởi đầu của cơn ác mộng. Có nhiều điều tồi tệ hơn nữa sắp xảy ra khi chiếc xe tải rời thành phố, và chúng tôi được chuyển đến trại tập trung Buchenwald.

Những tên côn đồ Đức Quốc xã đã đánh tôi rất nặng đến nỗi khi tôi đến Buchenwald, bầm tím và bê bết máu, viên chỉ huy hoảng sợ và ra lệnh cho lính gác đưa tôi đi 38 kilomet đến bệnh viện gần nhất. Chúng bỏ mặc tôi ở đó hai ngày, không có lính canh, trong khi tôi hồi phục vết thương dưới sự chăm sóc của các y tá người Đức. Tôi hỏi một trong số họ điều gì sẽ xảy ra nếu tôi trốn thoát và cô ấy nhìn tôi buồn bã.

“Anh có cha mẹ không?” cô ấy hỏi.

“Tất nhiên.”

“Nếu anh cố gắng trốn thoát, họ sẽ tìm thấy cha mẹ anh và treo cổ họ mười lăm phút sau khi anh bước ra khỏi cửa chính.”

Điều này khiến mọi ý nghĩ trốn thoát hoàn toàn biến mất khỏi tâm trí tôi. Tôi không biết cha mẹ mình đã ra sao – liệu họ có trốn thoát khỏi Leipzig trước khi quân Đức Quốc xã đến không? Liệu họ có tìm được nơi an toàn với bạn bè hoặc người thân không? Hay Đức Quốc xã đã đến tìm họ? Liệu họ có bị giam cầm ở nơi nào đó khác ở Đức không? Tôi chỉ không biết, và nỗi sợ hãi cùng lo lắng đã giam giữ tôi một cách hiệu quả không kém gì lính gác. Khi tôi đã hồi phục đủ để không còn cận kề cái chết nữa, bệnh viện đã gọi trại Buchenwald và lính gác Đức Quốc xã đến đưa tôi trở lại.

Khi tôi được đưa đến Buchenwald, ban đầu tôi cảm thấy nhẹ nhõm. Tôi đã được chăm sóc y tế và tôi được bao quanh bởi những người Đức khác, hầu hết là những chuyên gia trung lưu, có văn hóa. Tôi thậm chí còn kết bạn với một số tù nhân đồng cảnh ngộ. Người bạn thân nhất của tôi ở đó là Kurt Hirschfeld, một người Do Thái trẻ tuổi từ Berlin, người đã bị bắt vào đêm Kristallnacht. Vì tất cả những điều này, tôi nghĩ rằng có lẽ mình sẽ an toàn. Tôi đã lầm to.

Buchenwald là trại tập trung lớn nhất trong biên giới nước Đức.

Nó được đặt tên theo những khu rừng sồi gần đó, sau này được gọi là Rừng Hát vì những tiếng la hét vang vọng từ các tù nhân bị tra tấn ở đó.

Những tù nhân đầu tiên là những người Cộng sản, bị bắt giữ trong một trong những cuộc thanh trừng đầu tiên của Đức Quốc xã vào năm 1937, sau đó là nhiều người khác bị Đức Quốc xã coi là hạ đẳng: tù nhân chính trị, người Slav, hội viên Tam điểm (Freemasons) và người Do Thái.

Khi chúng tôi mới đến, trại chưa sẵn sàng để chứa số lượng tù nhân mà nó sẽ phải giữ. Không có ký túc xá hay doanh trại nào được dựng lên, vì vậy chúng dồn chúng tôi vào một cái lều khổng lồ nơi chúng tôi ngủ dưới sàn cho đến khi chúng có thể sắp xếp chỗ ở. Có lúc, 1.200 người đàn ông Cộng hòa Séc bị nhốt trong một nơi từng là chuồng ngựa cho tám mươi con. Họ ngủ năm người một giường tầng, đẩy các giường lại gần nhau và nằm ngang như cá mòi trong hộp. Điều kiện khắc nghiệt đến mức bệnh tật và đói kém là điều không thể tránh khỏi.

Lịch sử nhìn lại những nỗi kinh hoàng của các trại tập trung thời Đế chế thứ Ba và những hình ảnh đó đã quá quen thuộc – hình ảnh những người Do Thái đói khát, bị tra tấn, chấn động tâm lý sau sự tàn bạo của cuộc đàn áp. Nhưng khi tôi mới đến, tất cả những điều đó vẫn còn ở phía trước. Ban đầu, không ai trong chúng tôi hiểu được những kẻ giam cầm chúng tôi có thể làm được những gì. Ai có thể tưởng tượng được chứ?

Chúng tôi không thể hiểu tại sao mình lại bị bắt và giam cầm. Chúng tôi không phải là tội phạm. Chúng tôi là những công dân tốt, chăm chỉ, những người Đức bình thường có công việc, có thú cưng, yêu gia đình và đất nước mình. Chúng tôi từng tự hào về cách ăn mặc và vị trí của mình trong xã hội, yêu thích âm nhạc và văn học, những ly rượu vang và bia ngon, và ba bữa ăn no đủ mỗi ngày.

Giờ đây, bữa ăn tiêu chuẩn chỉ là một bát cơm và thịt hầm. Bạn có thể nhận ra các tù nhân chính trị quan trọng qua những sợi xích nặng nề mà họ buộc phải đeo, xiềng mắt cá chân vào cổ tay. Những sợi xích này quá ngắn và nặng đến nỗi họ không thể đứng thẳng khi ăn và phải khom người trên những bát ăn của mình. Chúng tôi không được phát thìa, nên phải ăn bằng tay. Điều này sẽ không tệ đến thế nếu điều kiện không quá mất vệ sinh. Chúng tôi không có giấy vệ sinh và phải lau chùi bằng bất kỳ mảnh giẻ rách nào có thể tìm thấy, hoặc bằng tay. Cũng không có nhà vệ sinh tử tế. Thay vào đó, chúng tôi có một hố xí lộ thiên khổng lồ, một cái rãnh dài, và chúng tôi bị buộc phải đi vệ sinh cùng lúc với tối đa hai mươi lăm người đàn ông khác. Bạn có thể tưởng tượng cảnh tượng đó không? Hai mươi lăm người đàn ông – các bác sĩ, luật sư, học giả – cẩn thận giữ thăng bằng trên hai tấm ván gỗ để giải tỏa nhu cầu cá nhân trên một cái hố đầy chất thải của con người.

Bạn của tôi ơi, làm sao để giải thích mọi thứ này siêu thực và kinh khủng đến nhường nào đối với tôi? Tôi không thể hiểu chuyện gì đã xảy ra. Thực sự, tôi vẫn không hiểu. Tôi nghĩ mình sẽ không bao giờ hiểu được.

Chúng tôi là một quốc gia đề cao luật pháp hơn tất cả mọi thứ, một quốc gia mà mọi người không xả rác vì sự bất tiện mà những con phố bẩn thỉu gây ra. Bạn có thể bị phạt 200 mark vì vứt một mẩu thuốc lá ra ngoài cửa sổ xe. Và giờ đây, việc mọi người đánh đập chúng tôi lại được chấp nhận và khuyến khích. Chúng tôi sẽ bị đánh vì những lỗi rất nhỏ. Một buổi sáng, tôi ngủ quên qua tiếng chuông điểm danh và bị quật roi. Lần khác, tôi bị đánh bằng dùi cui cao su vì để áo sơ mi không đóng thùng.

Mỗi buổi sáng, quân Quốc xã sẽ chơi một trò chơi khủng khiếp. Chúng sẽ mở cổng và thả hai đến ba trăm người ra. Khi những người đáng thương đó đi được 30 hoặc 40 mét, súng máy sẽ bắt đầu xả đạn, hạ gục họ như động vật. Chúng sẽ lột quần áo các thi thể, bỏ vào túi xác, và gửi về nhà kèm một lá thư ghi, “Chồng/anh trai/con trai của quý vị đã cố gắng trốn thoát và đã chết trong lúc làm việc này.” Bằng chứng sẽ là viên đạn găm vào lưng anh ta.

Đây là cách những tên khốn đó giải quyết vấn đề quá tải tù nhân ở Buchenwald.

Otto von Bismarck, thủ tướng đầu tiên của nước Đức thống nhất, từng cảnh báo thế giới hãy cẩn thận với người dân Đức. Với một nhà lãnh đạo tốt, họ là quốc gia vĩ đại nhất trên Trái đất. Với một nhà lãnh đạo tồi, họ là những con quái vật. Đối với những tên lính gác đã hành hạ chúng tôi, kỷ luật quan trọng hơn lẽ thường. Nếu một người lính được lệnh hành quân, họ sẽ hành quân. Nếu họ được lệnh bắn một người đàn ông vào lưng, họ sẽ làm, và không bao giờ đặt câu hỏi liệu điều đó đúng hay sai.

Người Đức đã biến logic thành một tôn giáo, và điều đó đã biến họ thành những kẻ sát nhân.

Nhanh chóng, nhiều người coi cái chết là một lựa chọn tốt hơn cuộc sống ở Buchenwald. Tôi biết một nha sĩ, Bác sĩ Cohen, bị SS đánh đập tàn tệ đến mức dạ dày bị vỡ, và ông bắt đầu chết một cái chết chậm rãi, đau đớn tột cùng. Ông đã trả 50 mark, khoảng một tuần lương, để mua một lưỡi dao cạo lậu. Là một người của khoa học, ông tính toán chính xác những động mạch nào cần cắt và sẽ mất bao lâu để ông chết. Ông lên kế hoạch ngồi trong nhà vệ sinh, ngay chính giữa, vào đúng thời điểm để có mười bảy phút trước khi một tên lính gác đến, đó là khoảng thời gian ông tính toán cần để mất đủ máu và chết. Sau đó, ông sẽ ngã vào bồn cầu để chúng không thể kéo ông ra, hoặc chúng sẽ rửa sạch, khâu lại vết thương, trừng phạt ông, và nói, “Mày chết khi chúng tao muốn mày chết. Không phải trước đó.” Người đàn ông đáng thương này đã thành công trong nhiệm vụ nghiệt ngã của mình – ông đã thoát khỏi Đức Quốc xã theo cách riêng của mình.

Đây là nước Đức, năm 1938 – hoàn toàn biến chất, không đạo đức, không tôn trọng, không còn chút lòng nhân đạo nào. Nhưng không phải tất cả người Đức đều mất hết lý trí.

Một trong những người lính Đức Quốc xã đầu tiên tôi nhìn thấy sau khi đến Buchenwald là một gương mặt quen thuộc, một người đàn ông từ nhà trọ của tôi khi tôi còn học kỹ thuật. Tên anh ta là Helmut Hoer và anh ta luôn thân thiện với tôi, hồi tôi còn sống dưới danh tính giả Walter Schleif.

“Walter!” anh ta nói, “Cậu làm gì ở đây?”

“Tôi không phải Walter,” tôi nói với anh ta. “Tôi là Eddie.”

Tôi nhổ nước bọt vào giày anh ta, nói với anh ta tôi sốc đến mức nào. Tôi là ai thật sự. Rằng tôi không thể tin được người đàn ông này, từng là bạn của tôi, một người đàn ông tốt, giờ đây lại là lính gác của SS.

Helmut đáng thương – anh ta không biết tôi là người Do Thái. Tôi chưa bao giờ thấy ai bối rối và hoảng loạn đến thế. Anh ta nói muốn giúp tôi, rằng anh ta không thể để tôi trốn thoát, nhưng anh ta sẽ làm những gì có thể. Anh ta đến gặp chỉ huy trại, và nói với ông ta rằng tôi là một người tốt, và rằng tôi là một thợ chế tạo dụng cụ đặc biệt xuất sắc. Đức Quốc xã cần thợ chế tạo dụng cụ.

Đế chế thứ Ba đang chuẩn bị cho Der totale Krieg (Chiến tranh toàn diện), cuộc chiến tranh tổng lực chống lại thế giới. Trong chiến tranh tổng lực, không có sự khác biệt giữa lính và dân thường, kẻ có tội và người vô tội, quân sự và công nghiệp. Xã hội Đức đang được tái tổ chức hoàn toàn để chế tạo vũ khí chiến tranh, vì vậy bất kỳ ai có chuyên môn về máy móc hoặc sản xuất đều là một tài sản tiềm năng cho nỗ lực chiến tranh. Không lâu sau khi Helmut bảo lãnh cho tôi, tôi được triệu tập đến văn phòng chỉ huy.

Họ hỏi tôi có muốn làm việc cho họ không.

“Có.”

“Cho đến hết đời?”

“Có.”

Nói “có” chẳng mất gì. Người Do Thái đã trở thành vật tế thần, như họ đã từng hết lần này đến lần khác trong suốt nhiều thế kỷ, nhưng lòng tham tiền bạc và năng suất trong Đế chế thứ Ba vẫn lấn át sự điên rồ của sự thù hận thuần túy.

Chúng tôi đang ở trong tù, nhưng nếu nhà nước Đức có thể kiếm tiền từ chúng tôi, thì chúng tôi vẫn hữu ích đối với chúng.

Chúng bắt tôi ký một hợp đồng lao động và một bản tuyên bố nói rằng chúng đã chăm sóc tôi rất tốt, chúng đã cho tôi ăn và thời gian tôi ở trong trại rất thoải mái, và sau đó chúng lập kế hoạch cho việc chuyển tôi đi. Như một phần của thỏa thuận, chúng cho phép cha tôi đón tôi từ Buchenwald và đưa tôi về nhà để dành vài giờ với mẹ tôi, sau đó hộ tống tôi đến nhà máy, nơi chúng sẽ bắt tôi làm việc cho đến ngày tôi chết. Sau Kristallnacht, ông và gia đình tôi đã trở về Leipzig, và đã âm thầm chờ đợi thời điểm tốt hơn. Mặc dù họ muốn trốn khỏi Đức, nhưng họ sẽ không bỏ lại tôi.

Cha tôi vô cùng vui mừng, vì đã tìm thấy cơ hội giành lại tự do cho tôi.

Vào ngày 2 tháng 5 năm 1939, lúc 7 giờ sáng, cha tôi đón tôi bằng một chiếc xe thuê. Tôi rời Buchenwald, sáu tháng sau khi tôi đến đó.

Bạn của tôi, bạn có thể tưởng tượng cảm giác sung sướng đến nhường nào khi được ra khỏi chỗ đó không? Khi cha tôi lái xe đến cổng Buchenwald và ôm tôi? Để trèo vào ghế hành khách và lái xe đi đến tự do? Đó là thiên đường, một cảm giác tự do và kết thúc sự đàn áp.

Tôi sẽ thường xuyên nhớ lại cảm giác này trong những năm sắp tới, và nhắc nhở bản thân rằng nếu tôi có thể sống sót thêm một ngày, một giờ, một phút nữa, thì nỗi đau sẽ chấm dứt và ngày mai sẽ đến.

(Còn Tiếp)

Bài Mới Nhất
Search