Trong chính trị quốc tế, có một điều mà những dân tộc nhỏ thường phải học bằng cái giá rất đắt: không phải bàn tay nào chìa ra giúp đỡ cũng sẽ nắm lấy tay mình đến cuối con đường.
Cuộc chiến Nga – Ukraine đang phơi bày một nghịch lý như thế.
Hơn bốn năm kể từ ngày quân đội Nga mở cuộc xâm lược toàn diện Ukraine, chiến tranh vẫn chưa kết thúc. Những thành phố tiếp tục chịu bom đạn, những gia đình tiếp tục ly tán, những người lính tiếp tục nằm xuống. Và trong khi người Ukraine phải chiến đấu để bảo vệ quê hương, các cường quốc vẫn tính toán lợi ích trên những bàn đàm phán.
Donald Trump trở lại Nhà Trắng với lời hứa chấm dứt chiến tranh. Ông muốn đàm phán, muốn đạt được thỏa thuận, muốn chứng minh rằng sức mạnh nước Mỹ có thể giải quyết những cuộc xung đột mà ngoại giao truyền thống chưa giải quyết được.
Khát vọng chấm dứt chiến tranh tự nó không có gì đáng phản đối.
Nhưng vấn đề nằm ở chỗ: hòa bình được thiết lập theo những điều kiện nào, và ai phải trả giá cho nó?
Khi một bên xâm lược và một bên phải chống trả để bảo vệ lãnh thổ, sự công bằng không thể chỉ được đo bằng việc hai bên có chịu ngồi xuống bàn đàm phán hay không.
Ukraine đã phụ thuộc đáng kể vào viện trợ quân sự, tình báo và công nghệ phương Tây. Tên lửa phòng không, hệ thống liên lạc vệ tinh, vũ khí chính xác và những nguồn dữ liệu chiến trường không đơn thuần là hàng hóa mua bán. Trong chiến tranh hiện đại, chúng có thể quyết định khả năng phát hiện một cuộc tấn công, đánh chặn tên lửa hay bảo vệ sinh mạng binh sĩ.
Bởi vậy, bất kỳ sự thay đổi nào trong chính sách hỗ trợ của Washington cũng có thể gây hậu quả nghiêm trọng đối với Kyiv.
Những tranh cãi gần đây về việc hạn chế một số năng lực liên lạc vệ tinh quân sự càng cho thấy sự mong manh của một quốc gia khi những phương tiện thiết yếu cho phòng thủ lại phụ thuộc vào quyết định của bên ngoài.
Tuy nhiên, cần phân biệt những hạn chế cụ thể với thông tin lan truyền rằng toàn bộ hệ thống Starlink của Ukraine đã bị cắt chỉ sau một đêm. Những cáo buộc như vậy phải được kiểm chứng, nhất là khi chúng liên quan trực tiếp đến thương vong trên chiến trường.
Điều đáng suy ngẫm không chỉ là Trump đã quyết định gì.
Mà là một câu hỏi rộng hơn: một dân tộc sẽ bảo vệ quyền tự quyết của mình thế nào khi khả năng tự vệ phụ thuộc quá lớn vào ý chí chính trị của một cường quốc?
Đó không riêng là bài học của Ukraine.
Đó là bài học lịch sử dành cho mọi quốc gia.
Người ta có thể nhận viện trợ, thiết lập liên minh, ký kết những hiệp định hợp tác quốc phòng. Nhưng không một quốc gia nào có thể giao phó hoàn toàn vận mệnh của mình cho những cam kết mà họ không có quyền kiểm soát.
Và cũng không thể quên rằng lợi ích của các cường quốc có thể thay đổi theo từng nhiệm kỳ, từng cuộc bầu cử, từng biến động kinh tế.
Hôm nay, ưu tiên có thể là bảo vệ một đồng minh. Ngày mai, ưu tiên có thể chuyển sang giá dầu, thương mại, ngân sách hay một cuộc khủng hoảng khác.
Đối với nước Mỹ, những thay đổi ấy có thể được giải thích bằng lợi ích quốc gia.
Nhưng đối với người Ukraine đang sống dưới bom đạn, chúng có thể là vấn đề sinh tử.
Gã vẫn nhớ gương mặt của Zelenskyy qua những bức ảnh trước và sau chiến tranh.
Thằng đệ của Gã ngày nào còn làm người ta cười trên sân khấu, giờ phải đối diện với những quyết định mà mỗi sai lầm đều có thể trả giá bằng sinh mạng.
Gã không nghĩ Zelenskyy là người không thể mắc sai lầm. Ông phải chịu trách nhiệm trước nhân dân Ukraine về những lựa chọn chính trị, quân sự và ngoại giao của mình.
Nhưng có một nguyên tắc không nên bị đánh tráo: quyền lựa chọn người lãnh đạo Ukraine thuộc về nhân dân Ukraine, không thuộc về tổng thống Mỹ, tổng thống Nga hay bất kỳ cường quốc nào khác.
Một nền hòa bình muốn bền vững phải tôn trọng nguyên tắc ấy.
Trump có thể gây sức ép để thúc đẩy đàm phán. Putin có thể đưa ra những yêu sách. Châu Âu có thể đề xuất các bảo đảm an ninh. Nhưng cuối cùng, người phải sống với những điều khoản của thỏa thuận vẫn là nhân dân Ukraine.
Không thể xem họ như những quân cờ được phép di chuyển theo ý muốn của người khác.
Và càng không thể biến lãnh thổ của một quốc gia thành món hàng trao đổi chỉ vì chiến tranh đã kéo dài quá lâu.
Gã cũng muốn nói đến nước Nga.
Một dân tộc từng chịu những mất mát khủng khiếp trong Thế chiến thứ hai hẳn hiểu hơn ai hết giá trị của hòa bình. Những người mẹ Nga hôm nay có con nằm lại nơi chiến trường cũng đang chịu nỗi đau không gì bù đắp được.
Phản đối cuộc xâm lược Ukraine không đồng nghĩa với căm thù nhân dân Nga.
Bởi người dân bình thường của cả hai quốc gia đều có quyền được sống, được yêu thương, được già đi trong những ngôi nhà không có tiếng súng.
Nhưng muốn chấm dứt đau thương, trước hết phải nhìn thẳng vào nguồn gốc của nó.
Cuộc xâm lược toàn diện Ukraine năm 2022 là quyết định của chính quyền Nga. Không thể vì mong muốn chiến tranh sớm kết thúc mà xóa nhòa trách nhiệm ấy.
Cũng không thể coi mọi sự nhượng bộ là hòa bình, nếu sự nhượng bộ đó tạo ra tiền lệ rằng một quốc gia có thể sử dụng vũ lực để chiếm lãnh thổ rồi buộc đối phương công nhận kết quả.
Đó là vấn đề vượt ra ngoài biên giới Ukraine.
Bởi nếu nguyên tắc chủ quyền bị đặt sau lợi ích của kẻ mạnh, các quốc gia nhỏ sẽ dựa vào đâu để bảo vệ mình?
Thế giới hôm nay đang đứng trước một lựa chọn khó khăn.
Một bên là nhu cầu thực tế phải chấm dứt chiến tranh, giảm thương vong, ổn định kinh tế và ngăn ngừa xung đột leo thang.
Bên kia là yêu cầu bảo vệ luật pháp quốc tế, quyền tự quyết và nguyên tắc không được sử dụng vũ lực để xâm chiếm lãnh thổ.
Hai mục tiêu ấy không nhất thiết đối lập. Nhưng muốn dung hòa chúng cần những thỏa thuận có thể thực thi, những bảo đảm an ninh đáng tin cậy và sự tham gia thực chất của các bên liên quan.
Một cuộc ngừng bắn có thể là bước đầu tiên cần thiết.
Nhưng một cuộc ngừng bắn không có cơ chế giám sát và bảo đảm an ninh cũng có thể chỉ là khoảng lặng trước một cuộc chiến khác.
Và đây chính là trách nhiệm của các cường quốc.
Sức mạnh không chỉ được thể hiện bằng khả năng áp đặt điều kiện. Nó còn được thể hiện bằng khả năng tạo ra một trật tự mà các bên có thể tin tưởng và tuân thủ.
Nước Mỹ có quyền bảo vệ lợi ích của mình. Châu Âu có quyền bảo vệ an ninh của mình. Ukraine có quyền bảo vệ độc lập và toàn vẹn lãnh thổ. Nước Nga cũng có quyền được bảo đảm những lợi ích an ninh chính đáng, nhưng không phải bằng cách phủ nhận chủ quyền của nước láng giềng.
Những quyền lợi ấy phải được giải quyết trong khuôn khổ luật pháp quốc tế, chứ không thể chỉ bằng sức mạnh quân sự hay những cuộc mặc cả giữa các nguyên thủ.
Gã sinh ra ở một đất nước đã trải qua quá nhiều chiến tranh để có thể xem nhẹ hai chữ hòa bình.
Người Việt Nam hiểu thế nào là những thành phố đổ nát, những người mẹ chờ con, những gia đình chia cắt và những thế hệ phải dành phần đẹp nhất của tuổi trẻ cho chiến trường.
Chúng ta cũng hiểu rằng độc lập không phải món quà được ban phát từ lòng tốt của một cường quốc.
Bởi thế, nhìn Ukraine hôm nay, điều Gã quan tâm không phải ai thắng trong một cuộc đấu khẩu giữa Trump và Zelenskyy.
Mà là bao giờ những đứa trẻ Ukraine được đến trường không phải chạy xuống hầm trú ẩn. Bao giờ những người lính được trở về nhà. Bao giờ những bà mẹ Nga và Ukraine thôi nhận tin con mình đã chết.
Và bao giờ thế giới hiểu rằng hòa bình không thể chỉ là kết quả của một thương vụ thành công.
Hòa bình phải là khả năng để con người được sống mà không còn phải sợ hãi trước quyền lực và bạo lực.
Thằng đệ Zelenskyy của Gã có thể rồi sẽ rời chính trường. Trump cũng sẽ kết thúc nhiệm kỳ. Putin cũng không thể đứng ngoài quy luật thời gian.
Nhưng Ukraine vẫn còn đó. Nước Nga vẫn còn đó. Những dân tộc ấy vẫn phải sống bên nhau trên cùng một lục địa.
Điều họ cần không phải một chiến thắng trong cuộc tranh cãi giữa các nhà lãnh đạo, mà là một nền hòa bình đủ công bằng và đủ bền vững để các thế hệ sau không phải tiếp tục trả giá.
Gã mong điều ấy đến sớm.
Bởi điều đau đớn nhất không phải khi một người bạn lớn thay đổi cuộc chơi. Mà là khi sinh mạng của những con người bé nhỏ bị biến thành cái giá phải trả cho sự thay đổi ấy.
_______
Gã Khờ –
15/10/2026
*Bài do CTV/TVBH gởi.
