“Biếm họa trên báo chí Sài Gòn trước 1975”

Cuốn sách ảnh in màu khổ A3 có nhan đề “Biếm họa trên báo chí Sài Gòn trước 1975”, được xuất bản năm 2024, là một công trình biên khảo công phu của nhà báo Phạm Công Luận. Tác giả là một nhà nghiên cứu về mảnh đất Sài Gòn, người đã cho ra đời nhiều tác phẩm có giá trị về miền Nam dưới thời Việt Nam Cộng hòa, chẳng hạn như “Một thời ở chợ Lớn”, “Hồi ức Phú Nhuận”, v.v. Cuốn sách tập trung giới thiệu lịch sử biếm họa, các chủ đề, và những họa sĩ đã có đóng góp nổi bật. Công trình biên khảo này đặc biệt mang giá trị bởi tính phổ biến của loại hình biếm họa như một chỉ dấu về mức độ khoan dung của không gian công cộng và quyền tự do ngôn luận trong thời kỳ hoàng kim của báo chí Sài Gòn.

Theo tác giả, thể loại biếm họa đã có mặt ở Việt Nam từ những năm 1920, tuy nhiên khi đó chỉ xuất hiện hạn chế trên các báo chí tiếng Pháp dành cho người Pháp và người Việt biết tiếng Pháp, mà nổi bật là tờ “Le cri de Saigon” (tạm dịch: Tiếng than của Sài Gòn), với mỗi trang bìa là một bức biếm họa về tình hình chính trị ở Đông Dương. Họa sĩ Andre Joyeux người Pháp, người giữ chức giám đốc Trường Mỹ thuật Gia Định, có thể gọi là người tiên phong trong việc phát triển biếm họa ở miền Nam Việt Nam. Các bức biếm họa của ông, chủ yếu vẽ bằng bút mực, khắc họa những căng thẳng, nghịch lý và ngụy biện trong luật lệ của chế độ thực dân Pháp tại Đông Dương. Ông gián tiếp phê phán sự phân biệt chủng tộc và sự bóc lột của quan chức Pháp trên mảnh đất thuộc địa.

Theo tác giả, báo chí biếm họa tại miền Nam Việt Nam chịu ảnh hưởng lớn từ hai nền báo chí Pháp và Mỹ. Phạm Công Luận cho rằng một trong những người sớm đưa biếm họa vào báo chí tiếng Việt là Trần Văn Hanh, nhà báo chuyên viết về đề tài thể thao và cũng là giám đốc của tuần báo Thể thao Đông Dương.

Tác giả cũng khéo léo lý giải: môi trường cởi mở ở miền Nam đã quy tụ nhiều họa sĩ, nhà báo từ khắp mọi miền của đất nước, đặc biệt là sau cuộc di cư 1954. Thập niên 1950 đánh dấu giai đoạn khởi sắc của biếm họa báo chí ở miền Nam. Một số tài năng biếm họa miền Bắc, như Mạnh Quỳnh, nổi tiếng với những bức tranh minh họa trước năm 1945, có tác phẩm phổ biến rộng rãi ở miền Nam trước khi đất nước bị chia cắt vào năm 1954.

Biếm họa có mặt từ khoảng giữa thập niên 1950 dưới hai hình thức: đơn lập hay băng tranh (bao gồm ba hay bốn tranh nối tiếp nhau). Giai đoạn từ thập niên 1960 nổi bật với các bức biếm họa đơn lập có nội dung xoay quanh đời sống sinh hoạt thường ngày. Số lượng biếm họa đa dạng tùy thuộc vào ý muốn chủ quan của thư ký toà soạn, thường xuất hiện ở các ấn phẩm số xuân. Một phát hiện của tác giả là xuyên suốt các biếm họa báo xuân, hình ảnh người nghèo thường xuyên xuất hiện. Ngay trong thời khắc được xem là vui tươi nhất của năm, biếm họa vẫn phản ánh những số phận phải chật vật mưu sinh. Qua đó, ta thấy được sự đồng hành của báo chí và các họa sĩ với những người dân thường.

Thập niên 1970 nổi bật với những biếm họa phản ánh đậm nét những biến động mạnh mẽ của xã hội: lạm phát, thuế tăng, chiến tranh leo thang. Ở những số báo xuân của thời kỳ đó, ta thấy được sự khác nhau giữa cái Tết của người giàu, người nghèo và cả những người có chức có quyền nhưng thất thế. Biếm họa không làm thay đổi được tình hình, nhưng vẫn tạo ra một không gian để người đọc nhận diện nguyên nhân sâu xa của những khó khăn mà họ đang gánh chịu, đồng thời duy trì một mức độ phản tư xã hội nhất định.

Biếm họa cũng mang đến cơ hội cho nhiều trí thức và nghệ sĩ được thực hành quyền tự do ngôn luận dưới thời Việt Nam Cộng hòa. Điều đó không có nghĩa là họ, những nghệ sĩ biếm họa và những tờ báo, không hề gặp một rào cản nào. Các họa sĩ và tờ báo đôi khi vẫn phải đối mặt với nguy cơ bị truy cứu, thậm chí đánh cược tự do cá nhân hoặc sự tồn tại của tờ báo để những bức biếm họa được phát hành. Dẫu vậy, xét trên tổng thể, tự do báo chí ở nhiều khía cạnh vẫn được duy trì.

Chẳng hạn, bìa báo xuân Canh Tý 1960 của tờ Tự Do vẽ hình năm con chuột thi nhau đục khoét trái dưa hấu. Nhiều độc giả cho rằng năm con chuột tượng trưng cho năm người trong gia tộc Ngô Đình đang lũng đoạn chính quyền miền Nam. Dù rằng đó chỉ là suy đoán, nhưng chính quyền không chấp nhận. Cảnh sát đã truy lùng tác giả của bức tranh. Cho tới thời điểm này, ai là người vẽ biếm họa nổi tiếng ấy vẫn còn là một bí ẩn, dù giới chuyên môn cho rằng đó là tác phẩm của họa sĩ Nguyễn Gia Trí.

Điều đáng chú ý là cho dù đề cập tới một giai đoạn báo chí sôi động và một di sản văn hóa gắn với chính thể miền Nam trước năm 1975 với rất nhiều nhân vật tầm cỡ như cựu Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu, cuốn sách không hề dùng thuật ngữ “Việt Nam Cộng hòa”. Việc né tránh nêu tên một chính thể tồn tại 20 năm trong lịch sử và được quốc tế công nhận có thể được xem là một lựa chọn mang tính thận trọng, phản ánh những giới hạn còn tồn tại trong việc tiếp cận và diễn giải lịch sử ở Việt Nam đương đại.

Cuốn sách với nhiều minh họa đầy màu sắc đã cho thấy sự năng động của báo chí và không gian sáng tạo nghệ thuật cũng như tự do ngôn luận ở miền Nam trước năm 1975. Phạm Công Luận đã góp phần giúp cho tên tuổi của những nghệ sĩ biếm họa không bị chìm vào quên lãng. Ngay cả khi những họa sĩ ấy có lúc phải ẩn mình để tránh những rắc rối với chính quyền thì không gian để họ gửi gắm những cảm xúc, thái độ của mình với thời cuộc vẫn còn đó.

Tiếc rằng từ sau năm 1975, có lẽ phải còn rất lâu nữa chúng ta mới có lại một không gian như vậy. Cuốn sách vì thế không chỉ có giá trị tư liệu, mà còn gợi ra những câu hỏi lớn hơn về mối quan hệ giữa tự do báo chí, thể chế chính trị và không gian công cộng. Đây là những câu hỏi vẫn còn nguyên tính thời sự trong bối cảnh Việt Nam hôm nay.

(Sưu Tập)

*Bài do CTV/TVBH gởi.

Bài Mới Nhất
Search