HOÀNG HƯNG: VỤ ÁN “VỀ KINH BẮC” – PHẦN I – HỒI ỨC SAU 40 NĂM KHÉP LẠI VỤ ÁN “VỀ KINH BẮC” (1985-2025) (7)

 

GIỚI THIỆU: HOÀNG HƯNG & VỤ ÁN “VỀ KINH BẮC”

PHẦN I

HỒI  ỨC SAU 40 NĂM KHÉP LẠI VỤ ÁN

 “VỀ KINH BẮC” (1985-2025) (6)

HAI NĂM Ở XÀ LIM BỘ (TT)

Sinh hoạt trong xà lim

Những tháng đầu, đi “cung” liên miên, tâm trạng ẩn ức và bức xúc lâu lâu lại bùng nổ, như trong một buổi trưa nghe rung chuyển từ một cơn động đất xa:

Buổi trưa

Sau một cơn động đất xa

Chói chang ngực rộng mây bay về khát khát
Cây đá đổ vách trần xiêu lao đao bốn mặt
Ai gọi rất xa

Chờ ta!
Chờ ta bùng nổ!

Những chiều tối âm u nằm co quắp như dưới đáy huyệt nhưng trong lòng bừng bừng uất ức:

Vụt hiện 6

1. Thần trí vùng lên đáy huyệt rùng rùng. Tắt lịm, u mơ, nhoà toả. Lấp loá vàng son vỗ nhịp. Đìu hiu.

2. Thân thể nát như tương. Kiệt quệ lời ca khật khùng râu tóc. Co quắp nằm chịu trận. Sắt xầm, ngực nghẹn, u âm.

3. Xóm xà lim mìn mịt mặt người, ú ớ gọi kêu cào vách đêm thăm thẳm. Thông thống vào lòng nhân loại tối đen. Quì khóc mắt ráo hoảnh.

Nhất là buổi chiều cuối năm, nghe tiếng con lợn sắp bị chọc tiết cho trại ăn Tết:

Chiều cuối năm (Vụt hiện 7)

Chạng vạng hồn ta u âm mộ huyệt răng thép răng đá ngả ngả xiêu xiêu. A! Trần nặng tường dày. Còn gì nữa? Con rệp đốt con muỗi bay con tắc kè thè lưỡi, lưới thép gai chim trời không xuống đậu để mình ta vòi vọi dõi tầng không. Đập đầu cửa sắt chân lún xi măng ăn đái ỉa nằm ngồi hàng thế kỷ, ằng ặc chiều đông cắt tiết bầu trời. A! Nát nhừ số mệnh bàn tay!

Sợ nhất với người tù là suy thoái sức khoẻ thể chất và tinh thần.

Để chống lại suy thoái thể chất, tôi kiên trì tập luyện trong phòng giam: thể dục và chạy tại chỗ, “đạp xe” khi nằm trên giường!

Chạy

Chạy một mình
Trong bóng tối
Chạy co đầu gối
Chạy vã cô đơn
Chạy quên sợ hãi
Mồ hôi mặn
Rít qua kẽ răng.
Chạy một mình
Ảo tưởng sống
Nghe tiếng chân mình
Âm âm xi măng.
Chạy một mình
Run đầu gối
Chạy từ đói
Đến hết muối.
Chạy một mình
Lê không nổi
Chạy đỉnh núi
Toạc bàn chân
Chạy trong bùn
Chân bị trói

Chạy một mình
Trong bóng tối
Bỏ quên tôi
Cả thế giới.
Trái đất ngủ
Một mình tôi
Chạy tại chỗ
Thình thình thình
Tim tôi gõ
Ai nghe ai nghe
Ai vào cắn cổ
Ai đá lăn chiêng
Mắt nhắm nghiền
Tôi cứ co
Đầu gối

Chống lại suy thoái tinh thần, tôi may mắn có được Thơ! Cứ lẩm nhẩm những câu thơ buột ra trong đầu, cho đến khi thuộc lòng! 30 bài thơ trong tù đã ra đời như thế, có những bài thuộc nguyên si chỉ cần chép lại sau khi ra tù, có những bài chỉ có vài câu nhưng khi ra tù thì tôi phát triển thành bài, rồi tập họp thành tập “Ác mộng”! Thơ chính là Thiên thần Hộ mệnh của tôi trong 39 tháng lao tù!

“Ác mộng” là ký ức của tôi về hơn 1000 ngày đêm lao tù, nhưng là sự thật của hơn 1000 đêm! Tất cả những đêm trong tù là những đêm ác mộng! Cũng có thể coi là những giấc mơ dị kỳ thì đúng hơn. Một vài giấc mơ được ghi lại ở đây:

Những mảnh mộng

  1. Chạy cuồng chân đồng đất đỏ ngầu, lửa sắt toé tung, mưa máu. Thằng bé xoè tay xin chó đá. Mài đầu rên xiết. Hồn kinh.
  2. Chim đen bậu kín mặt nhà thờ. Pháp sư rán bánh. Róc rách suối hoa vàng nở. Mắt cá trừng trừng trong lưới mông mênh.
  3. Em ơi mộng mị trần truồng góc tối. Vút đài cao ngăn ngắt trăng xa. Bãi biển oằn oài vũ nữ quay tít. Em không nói khoá trái nhà hoang dắt tay nhau về vô tận. Ngày nhật thực bảy mặt trời vần vụ. Gió dậy đồng không nơi ẩn náu.

Gần đất xa trời

Đêm em về trắng toát thời thơ ấu
Đêm mẹ về chẳng nói lại đi

Ở đây gần đất xa trời
Ngủ là sum họp với người cõi âm
Tỉnh ra là chết âm thầm
Xi măng lạnh, mấy chứng nhân thạch thùng

Có mấy giấc mộng kỳ lạ không thể quên:

Tôi mơ thấy mình ở trong một ngôi chùa. Một ông sư trẻ dạy tôi nhảy cao, nhảy lên nhảy xuống mà lần nào cũng chỉ tới xà nhà, không lên đến nóc.

Tôi mơ thấy mình được Phật Bà cho một chiếc chiếu. Ngồi lên đấy, chiếc chiếu từ từ bay lên, đưa tôi qua cửa sổ xà lim, bay đi một vòng trên cảnh đồng quê, rồi lại bay vào… xà lim!

Tôi mơ thấy mình trên chiếc thuyền đi chơi hồ Hoàn Kiếm, đi cùng mấy ni cô mặc áo lam nhạt. Một ni bỗng nói với mình: “Muốn giữ đầu lên cầu mà đứng/ Đi đến gần thì bưng lấy đầu!” Sực tỉnh dậy, mình ghi nhớ mãi câu ấy. Sau này ngẫm nghĩ, có lẽ phương châm sống mà mình luôn tự nhủ đã kết thành câu thơ trong giấc mơ ấy: Muốn tự bảo vệ thì chỉ có cách là CÔNG KHAI MINH BẠCH mọi tư tưởng, việc làm của bản thân, dù đúng hay sai, không để mọi người nhất là an ninh đoán định, suy diễn, nghi ngờ những gì khuất tất (như trong bản khai lý lịch thì tiêu chuẩn đầu tiên là “rõ ràng”). Sau này, mỗi lần an ninh thăm hỏi, tôi đều nói rõ: tôi nghĩ gì đều viết công khai lên các phương tiện truyền thông, không dùng mật danh, và các anh thoải mái đọc email, nghe điện thoại của tôi, tôi không có gì phải giấu! Nhưng không thể HÚC ĐẦU VÀO ĐÁ! Phải giữ cái đầu để tiếp tục sống và làm việc!   

Có lần tôi mơ thấy mình trèo lên một cầu vồng bảy sắc giữa trời. Và ngã…

Sau khi ra tù tôi viết bài “Cầu vồng” kết hợp giấc mơ “Cầu vồng” với câu khẩu truyền của ni cô trong giấc mơ trên:

Cầu vồng

1.

Sững sờ lặng ngắt

Anh nắm chặt tay em.
Không anh không chui qua đâu
Sợ bước chân đi
Cấm kỳ trở lại

2.

Cầu vồng chắn cơn mưa
Cầu vồng chắn cơn mơ
Cầu vồng mở
Vùng trời mù mờ

3.

Cầu vồng mống cụt
Anh trèo chơi vơi
Đến lưng chừng trời
Thì ngã

4.

“Muốn giữ đầu lên cầu mà đứng
Đi đến gần thì bưng lấy đầu[1]
E đến khi mình chết

Chưa giải được lời mơ

Song có một điều khiến tôi cũng phải suy nghĩ: sau khi ra tù, tôi được người anh đồng hao là anh Bính, nguyên hiệu trưởng một trường cấp hai, sống ở làng Bằng A bên kia sông Tô Lịch xê xế nơi tôi bị giam, cho biết là trong khu trại giam ngày trước có một ngôi chùa! 

*

Các buổi đi “cung” ở đây không có gì để nhớ. Phần lớn chỉ là khai đi khai lại lịch sử bản thân, các mối quan hệ, diễn biến tư tưởng…

Nguyên tắc thẩm vấn của công an là cứ hỏi đi hỏi lại nhiều lần để xem những lời khai có khớp nhau không, qua đó họ có thể biết đâu là thật đâu là giả. Như đã nói, tôi đâu có gì phải giấu, ngoài 2 mối quan hệ và 2 văn bản nguy hiểm mà họ không có manh mối thì tôi không hé răng (Nguyễn Kiến Giang phản biện về đường lối kinh tế của Lê Duẩn và tiểu thuyết “Porcinomanie” của Nguyễn Xuân Khánh).

Nhưng rồi thưa dần những buổi đi “cung”, rồi ngưng hẳn sau hơn một năm. Buổi cuối cùng, người mang quân hàm thiếu tá của Cục Điều tra Xét hỏi (theo hồi ức của Hoàng Cầm thì người này cũng hỏi cung anh, tên là Chiến) hỏi tôi về quan hệ với nhà thơ Hà Thúc Sinh ở Sài Gòn mới vượt biên sang Mỹ. Anh cho biết, nhà thơ này đã viết trên báo Mỹ về những buổi gặp gỡ “các công tử đỏ” ở nhà tôi trước khi vượt biên!

Tôi nhớ trong buổi ấy, lần đầu tiên tôi hút thuốc lào! Khi thấy người cán bộ điều tra lôi chiếc điếu cày ra rít ngon lành và âm thanh tiếng rít rất thú vị, tự nhiên tôi nổi tò mò. Xin một điếu! Anh vui vẻ trao cho tôi chiếc điếu, tự đánh diêm vào miếng giấy báo và châm lửa cho tôi! Ho sặc sụa! Cả hai cùng cười!  

Hà Thúc Sinh tên thật là Phạm Vĩnh Xuân, nhà thơ-dịch giả, sĩ quan Hải quân Việt Nam Cộng Hoà. Anh là con trai người vợ đầu của ông Phạm Văn Hiển (quen được gọi là ông Hiển Ký) đại điền chủ và trùm giáo dân ở Thanh Hoá (nghe nói ông là người liên quan đến vụ phá đập Bái Thượng trong kháng chiến chống Pháp, may trốn thoát vào Nam trước 1954). Tôi gặp anh tại nhà ông Hiển khi anh đi cải tạo về năm 1980, vì bà vợ hai của ông Hiển là dì ruột của vợ tôi (dì Loan rất tốt bụng, đối xử tử tế với vợ chồng tôi khi chúng tôi vào SG sinh sống; còn ông Hiển thì rất trọng kiến thức, gia thế và tư tưởng của tôi – mà ông không thể hình dung ở một “cán bộ” từ miền Bắc “Cộng sản”).

Trong khoảng 2 năm ở Sài Gòn trước khi vượt biên, Hà Thúc Sinh có quan hệ khá chặt chẽ với tôi. Anh đã dự một số buổi gặp gỡ văn nghệ sĩ miền Bắc ở nhà tôi như đã kể ở phần đầu của hồi ức này.

Thì ra khi sang Mỹ, Hà Thúc Sinh đã gọi bọn chúng tôi là “các công tử đỏ”.

Sau buổi thẩm vấn ấy, tôi được để yên. Sau này, từ câu chuyện Hà Thúc Sinh, tôi đoán là họ cần thời gian để tìm hiểu xem tôi có liên lạc, hoạt động gì với các nhà văn hải ngoại không, để quyết định mức độ trừng phạt!

Lần đầu sang Mỹ năm 2003, tôi đến thăm dì Tâm (em họ của mẹ tôi) ở San Jose, thì nhận được quà của Hà Thúc Sinh gửi từ Sacramento: mấy quyển sách in truyện ngắn và hồi ký nhà tù của anh (“Đại học máu”) và 1 chai rượu vang. Hai chúng tôi gặp lại nhau năm 2019 ở Houston, từ đó thường giao lưu. Anh nhận lời tôi, thường xuyên gửi truyện ngắn cho website vanviet.info thuộc Ban Vận động Văn đoàn Độc lập VN mà tôi đồng sáng lập và điều hành, và đã nhận giải thưởng Văn Việt về văn xuôi năm 2020. Anh còn nhận lời tham gia Ban Xét Giải Văn Việt mà tôi điều hành (Thường trực Ban), nhưng khi công bố danh dách Ban, thì anh gọi điện xin rút vì: “Tưởng anh (HH) là Trưởng ban, nay mới biết ông Nguyên Ngọc đảng viên CS và tác giả những văn phẩm đánh Mỹ-Nguỵ trước 1975 thì không thề tham gia!”. Điều thú vị là trong các truyện của anh, những chi tiết nhỏ về cuộc sống và từ ngữ đặc thù của quê hương Thanh Hoá vẫn rất sông động dù anh xa quê từ lúc mới 10 tuổi! Mấy năm gần đây, anh bị hư cả hai mắt, rất buồn; nhiều đêm anh gọi từ Houston về nói chuyện với tôi ở Sài Gòn! Lòng nhớ thương quê hương của anh nặng trĩu!

Gặp lại nhà thơ Hà Thúc Sinh (bên trái) ở Houston, TX, Hoa Kỳ năm 2018

*

Vậy là bắt đầu những ngày lặng lẽ, âm thầm chờ số phận của mình được định đoạt!

Hình bóng cuộc đời “ngoài kia” mỗi ngày thêm phai nhạt. Chỉ còn vương vấn mỗi buổi trưa khi nghe vọng từ khu nhà làm việc của cán bộ trại tiếng Khánh Ly hát nhạc Trịnh Công Sơn từ một chiếc cassette Sharp/ Sony hay băng cối Akai nào đó.

Cũng có khi may mắn được ở xà lim phía ngoài, có thể leo lên cửa sổ nhìn sang bên kia sông Tô Lịch có mấy cái lò gạch toả khói, nghe được tiếng người tiếng xe xôn xao trên đường bờ sông. Và một ngày tháng ba, có cánh hoa soan từ đâu lọt vào phòng giam khiến sống dậy một nỗi niềm:

Cách bảy lần tường

Cách bảy lần tường
Có con mương nhỏ
Mùi bùn chiều mưa
Có con đường làng
Ngây ngây xoan tím

Cách bảy lần tường
Tiếng cười vụt qua
Một trưa rất ròn

Sau bảy lần tường
Có người đêm đêm
Mắt mở trừng
Nghe sấm chạy

Một hôm
Có cánh hoa xoan
Vào thăm người ấy
Bàng hoàng người ấy
Nhặt cánh hoa xoan

Chuyện chỉ có vậy
Sau bảy lần tường

Buồn quá, cứ khi đêm xuống, là ra sát cửa, ôm chấn song hát. Thôi thì hết bài nọ đến bài kia, từ nhạc “đỏ” đến nhạc “vàng”, từ bài ta đến bài Nga, bài Tàu, đến Pháp. Có hôm hát liền 5 bài quốc ca Việt Nam DCCH, VN Cộng hoà, Liên Xô, Trung Cộng, Pháp! Không thấy cai tù nói gì!

Hát chán thì vào nằm, ngắm đôi thạch sùng trên trần. Chúng trở thành đôi bạn thân thiết nhất! Trong bài thơ sau, tôi gọi nó là “thạch thùng” cho giống với tiếng kêu của nó:

Thạch thùng

Đôi thạch thùng trên trần xà lim, trắng hồng, trong trong, bên ngọn đèn ấm áp. Chúng làm sao biết chốn này tù ngục. Chúng đâu thèm quan tâm một người suốt ngày đêm nằm ngửa nhìn chúng khoả thân yêu nhau. Chúng đâu biết đêm nay đêm đông cắt da cắt thịt. Trắng hồng, trong trong, chúng lặng lẽ yêu nhau bên ngọn đèn toả hơi xuân. Ngọn đèn tù ngục. Nếu con người khoả thân không hổ thẹn. Nếu con người yêu nhau hồn nhiên dưới mặt trời. Như thạch thùng. Thì có lẽ không có tù ngục. Phải không nhỉ thạch thùng

– Thạch. Thùng.

Tâm trạng áp đảo trong những ngày tháng chờ đợi vô vọng này là chán nản:

Chán nản

Như chỉ còn một ấm ức
Phân tích mùi hành lang mốc meo thăm thẳm

Như chỉ còn một mạo hiểm
Nhìn vói qua mái nhà chằng chịt thép gai

Như chỉ còn một thú vui
Ôn lại những giấc mơ dị kỳ chắp vá

Như chỉ còn một ao ước
Thấy mặt người cách tường trò chuyện

Như chỉ còn một lời nguyện
Kiếp sau đừng biết cuộc đời tự do

Lắm lúc thấy thời gian dài như cả một đời người:

Chớp mắt

Một vuông tường một thế giới
Một giấc ngủ một đời người

Cả ngày Tết đến cũng không ai mong đợi, chỉ còn là bữa ăn có tý thịt và một câu chuyện cười qua các xà lim:

Sáng mồng Một Tết

Đang vui tíu tít hàn huyên
Tỉnh ra trơ trọi giữa nền xi măng
Trời mồng Một đã vào song
Đã ho hắng cả mấy phòng gần xa.
Cách tường có cậu cười qua:
Được một bữa thịt đêm ra đầy quần!
Tiếng cười cả xóm rân rân
Như quên hết cả một năm đoạ đầy

*

Một hôm, được gọi ra, nói là được chở đi gặp gia đình.

Chiếc xe command-car đưa tôi qua các con phố quen thuộc, đến một ngôi nhà ở phố Trần Bình Trọng, thuộc Bộ Nội vụ. Điều bất ngờ là tôi thấy tất cả những cảnh đường phố khá xa lạ, như thể thuộc về một thế giới khác mà tôi nhìn với con mắt thờ ơ! Vợ và con trai tôi (khi đó được hơn 3 tuổi) ở Sài Gòn ra, đã ngồi đợi trong phòng. Con trai tôi Hoàng Quân, xa bố từ khi 2 tuổi, khi mẹ nói chào bố đi, đã lắp bắp “Cháu chào bố!”. Đến khi xong cuộc gặp, mẹ bế ra, con mới quay đầu lại và khóc thét lên. Chắc lúc ấy con mới nhận ra bố!

Cuộc gặp và tâm trạng lạ lùng của tôi khi ấy được ghi lại trong bài thơ sau:

Giã biệt

Tôi lại quay trở lại
Thế giới bốn thước vuông
Có ăn ngủ ỉa đái
Có giận hờn ghen tuông.

Xa lạ quá mất rồi
Phố xá như trong mộng
Người trên đường như nộm
Cứ trân trân nhìn tôi.

Cả em nữa em ơi
Như thuộc về cõi khác
Hụt hẫng phút hàn huyên
Anh ôm em ngơ ngác.

Và xin em chớ giận
Khi nhìn thấy gói quà
Anh muốn ngay lập tức
Quay lại chỗ vừa ra
Để run run mở gói
Hau háu mắt bạn tù
Đêm nay là đêm hội
Cơm muối trắng như mơ.

Thôi em về đi nhé
May em không khóc oà
Quay lưng con bỗng thét
Giờ mới nhận ra cha.

Anh cúi đầu bước vội
Thầm nói em đừng chờ

Tôi lại quay trở lại
Thế giới của tôi đây
Em chỉ là giấc mộng
Bên trên khối mộ dầy

Sau cuộc gặp ấy, có một điều quan trọng làm thay đổi sinh hoạt trong xà lim của tôi: tôi nhắn về nhà cho anh cả là bác sĩ Hoàng Văn Sơn gửi vào sách học tiếng Anh và báo tiếng Anh. Ít lâu sau, tôi nhận được quyển Ngữ pháp tiếng Anh, từ điển Anh-Pháp Pháp-Anh, và mấy tờ báo Moscow News (Tin tức Mạc Tư Khoa, nhật báo tiếng Anh của Liên Xô).

Thế là bắt đầu những ngày đầy bận rộn: trừ giờ ăn giờ ngủ, tôi chúi mũi vào tự học tiếng Anh bằng cách đọc từng bài báo, tra từ điển và ngữ pháp để dịch, rồi học thuộc từng từ. Tất nhiên kém nhất là phát âm, vì chỉ tập theo phiên âm quốc tế ghi trong từ điển, và accent thì ảnh hưởng nặng tiếng Pháp vì hai ngôn ngữ có rất nhiều từ viết như nhau hoặc gần như nhau mà đồng nghĩa.

Về sau, tôi sử dụng được tiếng Anh để dịch sách báo kiếm ăn và đi sâu vào thơ Mỹ cũng nhờ thời gian ở tù này! Trước kia, có học tiếng Anh ở trường phổ thông nhưng vì gắn bó nhiều với tiếng Pháp nên tôi không chú ý học tiếng Anh lắm. Trong tù, sau thời gian hoàn cung, không có việc gì làm, tôi mê mải học tiếng Anh đến tận tối khuya, rồi ngủ ngon lành. Trước đó, tôi vốn đã ngủ rất ngon trong mọi chốn giam giữ, nhưng từ khi có sách báo để tự học tiếng Anh, tôi càng dễ ngủ hơn. Một buổi sáng dậy trễ, tôi giật mình vì tiếng quát của cai tù: “Thằng này ngủ ngon thế? Cứ như đéo phải thằng tù!”

Phải! Một người không bị lương tâm cắn dứt thì sao chẳng ngủ ngon? 

Ở tù ra, chưa kiếm được việc làm ổn định, tôi phải kiếm sống bằng việc dịch sách, báo. Năm 2003, lần đầu tiên được mời sang Mỹ, nói chuyện tại Đại học Bang Washington, khi tôi ngỏ lời xin lỗi về phát âm không chuẩn do tự học tiếng Anh trong tù, thính giả đã vỗ tay cổ vũ một tràng dài! (Mặc dù trước chuyến đi Mỹ, tôi đã “nhờ” một thanh niên là khách du lịch Mỹ đến nhà luyện đàm thoại cả tháng trời, tôi vẫn phát âm tiếng Anh với giọng Pháp!)

*

Thấm thoắt đã qua cái Tết thứ 2 ở B14!

Một hôm tôi được gọi ra. Cán bộ điều tra (tôi không nhớ tên, chỉ nhớ mặt anh rỗ hoa) hỏi vài câu về sức khoẻ, rồi tuyên bố: “Vụ của anh đã được Viện Kiểm sát kết luận. Do anh là cán bộ phạm tội lần đầu, nên anh được chiếu cố không bị ra toà xét xử, mà chỉ bị xử lý hành chính, tức là tập trung cải tạo”. Tôi hỏi: “Thời gian cải tạo là bao lâu?” “36 tháng”.

Không nén nổi mừng rỡ, tôi reo lên: “Tôi đã bị giam 30 tháng rồi! Vậy là tôi chỉ còn 6 tháng!”

Mặt anh cán bộ điều tra bỗng đỏ bừng hết cả, những nốt rỗ trên mặt anh càng nổi rõ! Tôi không hiểu tại sao, mãi cho đến khi lên “trại cải tạo”, tôi thuật lại câu chuyện, thì các anh ở đội sĩ quan công chức “nguỵ” Sài Gòn phá ra cười: “36 tháng là một lệnh! Tập trung cải tạo là theo từng lệnh, không có thời hạn nhất định! Hết lệnh này sẽ tiếp lệnh khác! Có người ở đây đã 10 lệnh rồi!” Bấy giờ tôi mới biết mình thậm ngu! Mình đã bị xử lý theo nghị định “tập trung cải tạo đối với những tội xâm phạm an ninh quốc gia”, là loại “án cao su” không xét xửcòn tệ hơn những án có thời hạn do toà án phán quyết! Thảo nào anh cán bộ điều tra đỏ hết cả mặt khi thấy tôi reo mừng! Chắc anh tưởng là tôi giễu anh!

Ít ngày sau, tôi được lệnh đem hết “nội vụ” ra khỏi phòng!

Tôi được dẫn ra phía sau khu nhà “làm việc”, ở đó có hơn chục người tù đứng ngồi lổn nhổn. Trong số đó có Phan Đan! Hai đứa gặp nhau bỗng… cả cười! Tôi thốt lên: “Đúng là chuyện vớ vẩn, chẳng đâu vào đâu!”.

Mỗi người được phát 2 nắm cơm và một gói muối vừng! Tôi cho bớt Phan Đan một nắm vì vẫn còn đồ tiếp tế của gia đình!

Rồi tôi được gọi lên một chiếc xe tải bít bùng cùng với mươi người tù khác!

Chẳng biết xe chở mình chạy đi đâu? Tới “trại cải tạo” nào?

Chạy đến đêm thì thấy xe bò lên dốc, biết là xe đang vượt đèo, tức là sẽ đến một vùng núi cao. Cảm giác lúc ấy giống hệt như ngồi trong một cỗ quan tài lớn:

Đêm vượt đèo

Nhắm mắt cho đầy bóng tối
Tiếng xe gằn giọng vượt đèo
Tiếng mõ kinh mùi nhang khói
Chiếc quan tài đi cheo leo.

Trời ơi sương mù mất lối
Chẳng biết hồn lạc về đâu
Chỉ còn ánh đèn vòi vọi
Đêm đêm em thắp nguyện cầu.

Có hình ảnh“Chỉ còn ánh đèn vòi vọi/ Đêm đêm em thắp nguyện cầu”là do hôm đến thăm tôi ở căn phòng của Bộ Nội vụ phố Trần Bình Trọng, vợ tôi cho biết: em đã được bà dì (em họ của mẹ tôi) ở nhà kế bên là dì Băng Tâm, một người rất tốt bụng, dẫn lên chùa quy y để có được sự độ trì của Đức Phật từ bi. 

 (Còn Tiếp)

Bài Mới Nhất
Search