HOÀNG HƯNG: VỤ ÁN “VỀ KINH BẮC” – PHẦN I – HỒI ỨC SAU 40 NĂM KHÉP LẠI VỤ ÁN “VỀ KINH BẮC” (1985-2025) (8)

GIỚI THIỆU: HOÀNG HƯNG & VỤ ÁN “VỀ KINH BẮC”

PHẦN I

HỒI  ỨC SAU 40 NĂM KHÉP LẠI VỤ ÁN

 “VỀ KINH BẮC” (1985-2025) (6)

HAI NĂM Ở XÀ LIM BỘ (TT)

9 THÁNG Ở TRẠI CẢI TẠO THANH CẨM

Vào khoảng nửa đêm xe dừng lại.

Chiếc bạt bịt kín xe được mở ra.

Bước xuống: lưng chừng một cái gò hay đồi nhỏ, một phòng lớn có bệ xi măng. Mọi người lục tục bước vào theo lệnh của mấy anh công an đứng trước cửa.

Nằm xuống một lúc là chợp mắt vì mệt.

Bỗng choàng dậy vì tiếng gà gáy!

Trời vẫn còn tối, sương phủ kín phía ngoài song cửa.

Không ngủ lại được nữa, tôi bước ra cửa. Bỗng, như thể theo thói quen lúc ở Xà lim Bộ, tôi bám tay vào chấn song, cất tiếng hát! Không hiểu sao tôi lại hát bài “Bài thánh ca buồn” một cậu tù lưu manh đã dạy mình hồi ở Hoả Lò:

“Bài thánh ca ấy còn nhớ không em

Noel năm nào chúng mình có nhau…”

Hát xong bài, tôi vẫn đứng đó nhìn ra ngoài trời sương.

Một lúc sau, bỗng có mấy bóng người áo bông sùm sụp ở đâu chạy đến trước song.

– Các anh ở đâu mới lên?

-Dạ, ở xà lim Bộ!

-Tội gì?

-Đủ thứ. Riêng tôi tội “lưu truyền văn hoá phản động”!

Mấy bóng chạy đi.

Một lúc sau, lại có tiếng chân chạy tới. Lần này hơi nặng nặng.

Ồ! Một rổ tướng bốc khói nghi ngút, thơm phưng phức! Đầy khoai, sắn mới luộc!!!

-Các anh ăn tạm cho đỡ đói!

Cả phòng ngồi dậy và… tưng bừng!

Đúng là buồn ngủ gặp chiếu manh, đang đói meo thì được một bữa no!

Khi tôi viết những dòng này, thì tác giả bài hát, nhạc sĩ Nguyễn Vũ vừa qua đời. Xin gửi tới hương linh ông lời cảm tạ!

Sáng rõ mặt người thì một người thanh niên gánh đôi quang gánh lên tới. Tôi nhớ (không chắc chắn) tên anh là Thành, nhưng sẽ không bao giờ quên khuôn mặt trắng hồng, lai Tây, sáng sủa lanh lợi, khá điển trai của anh. Anh là dân Sài Gòn vượt biên bị bắt, được làm chân “tự giác” chuyên việc dọn phân ở các nhà xí trong trại, nên có thể đến tất cả các lán giam tù nhân. Anh cho biết những người cho chúng tôi khoai sắn luộc hồi nãy chính là các cha công giáo được đặc cách giam trên khu cao nhất của trại, ở đây gọi là khu “Vatican”. Các vị không phải ra ngoài lao động như những trại viên khác, chỉ tập trung bên ngoài lán để đan lát rổ rá, và được nấu ăn tự do.

Phòng của bọn tôi đang ở là phòng cho các tù nhân mới nhập trại, chờ phân về các lán.

Không ngờ bài “Thánh ca” của mình hữu dụng gớm!

Anh “tự giác” này rất tháo vát! Anh đã lợi dụng quyền tự do đi lại khắp trại để làm công việc “mua bán đổi chác” mà về lý thuyết thì bị cấm (công an đã phổ biến cho chúng tôi nội qui trại có qui định ấy). Anh công khai hỏi chúng tôi ai có nhu cầu gì cứ nói (chắc chắn anh được những cán bộ trại quyền thế chống lưng, thậm chí có thể chỉ là trung gian cho họ). Tôi đã nhờ anh đổi một chiếc quần bò gia đình mới gửi vào lấy món đồ ăn gì đó không nhớ nữa.

Ngay hôm sau đó, tôi bị chuyển lên phòng “kỷ luật” phía trên cao hơn! Đó là một xà lim nhỏ, trên bệ xi măng có cùm sắt. Đã có ở đó một tù lưu manh bị cùm hai chân suốt ngày đêm, còn tôi chỉ bị cùm 1 chân ban ngày, tối được “tha”! Công an nói tôi bị kỷ luật vì “mua bán đổi chác”, nhưng tôi hiểu thừa đó chỉ là cớ để dằn mặt tôi trước khi được đưa về lán giam chung.

Tôi chỉ ở đó có 3 ngày. Trong thời gian ấy, tôi biết qua những cuộc trò chuyện với cậu tù lưu manh: ở xà lim bên cạnh là linh mục Nguyễn Văn Lý người sau này sẽ nổi tiếng vì bị bịt mồm trước toà khi hô đả đảo Toà án Cộng sản! Linh mục thường gửi cho cậu quà bánh (chắc cũng qua anh Thành), và giảng lẽ đạo khuyên lẽ đời cho cậu. Tôi đã nghe vài buổi linh mục này nói chuyện giọng Huế hơi khó nghe, tất nhiên cậu tù kia thì cứ dạ dạ liên hồi rất “ngoan hiền”!

Ba ngày sau, tôi được đưa về lán được gọi là của “chính trị phạm Bắc”.

Trại Thanh Cẩm nằm ở ven sông Mã, gần thị trấn huyện Cẩm Thuỷ, Thanh Hoá. Trại có nhiều dãy lán nhà lá, chia làm 2 khu hai bên: bên phải là khu A, khu chính trị phạm. Khu B bên trái là khu thường phạm. Khu A có mấy lán, chủ yếu là giam các sĩ quan công chức của chế độ Sài Gòn cũ (Việt Nam Cộng hoà), chỉ có 1 lán cho chính trị phạm Bắc như tôi. Nói là chính trị phạm cho oai, thực ra chỉ có mình tôi là phạm tội “tư tưởng chính trị”, còn lại là 2 thành phần: những người vượt biên sang Hong Kong và người Hoa ở khu vực biên giới bị tập trung sau chiến tranh với Tàu Cộng năm 1979; riêng có 1 người Tàu hơi già, được biết là gián điệp từ Tàu sang bị bắt đã khá lâu.

Không ảnh trại Thanh Cẩm (google.map)

Bạn “cải tạo”

Ai cũng biết, chữ “cải tạo” chỉ là uyển ngữ của “tù”, đi “cải tạo” là đi “tù không án”. Nghị định “tập trung giáo dục cải tạo những phần tử cỏ hành động nguy hại cho xã hội” của Chính phủ có từ năm 1961 (Nghị định 49-CP), đặc biệt là đối với những hành động “xâm phạm an ninh quốc gia”; nó trao quyền cho Uỷ ban Nhân dân các tỉnh/thành phố và Bộ Nội vụ (Công an) mà không cần qua toà án xét xử. Tôi không nhớ nó được bãi bỏ vào năm nào?

Ở lán “chính trị Bắc”, có mấy người tù vượt biên nổi bật:

Một cậu người Quảng Ninh con nhà khá giả, say mê chơi ghi ta nhất là nhạc Vũ Thành An (các “bài không tên”).

Có 3 cậu vượt biên bị bão giạt lên một hòn đảo nhỏ trên vịnh Bắc Bộ, khi lính biên phòng lên bắt, các cậu đã cả gan dùng súng chống lại. Biết tội nặng khó có ngày về, một hôm các cậu trốn trại. Nhưng chỉ 3 ngày sau là các cậu bị bắt lại, tôi chứng kiến cảnh các cậu, quần áo đầu tóc tả tơi, bị công an giải về trại, đưa lên phòng kỷ luật.

Có một cậu rất trẻ, má đỏ môi hồng, thanh tú và ẻo lả như con gái. Một hôm, sáng ra cậu tái nhợt, không đi lao động được. Tôi thấy mấy anh chàng vâm váp săn đón săn sóc rất tận tình. Sau mới biết cậu là “dụng cụ tính dục” của mấy người kia, thay thế cho… đàn bà trong cảnh “b… tù c… hãm”! Chắc đêm qua cậu bị chúng hành dâm tập thể quá sức chịu đựng!

Ông Tàu gián điệp thì lâu lâu lại lên cơn (giả?) dại, múa hát lung tung! Chả biết ngày nào được về quê hương?

Số người Hoa biên giới thì hiền lành nhất! Họ cứ im lặng, rất chăm chỉ lao động, không nề mọi việc nặng nhọc. Nhiều người có được người “bảo trợ” thì tận tình phục vụ người ấy. Tôi cũng có một anh “phục vụ” như thế: Tôi cùng ăn với anh, chia đôi tất cả thức ăn của riêng mình (do gia đình “tắc” hay tôi mua ở cantine của trại bằng tiền mà gia đình gửi cho, tất nhiên với giá cắt cổ). Đáp lại, anh nấu ăn cho tôi, giặt quần áo cho tôi, gánh nước sông lên cho tôi sử dụng, tẩm quất cho tôi! Anh còn để ý thu lượm đồ ăn trong khi đi lao động như mót khoai sắn sau khi thu hoạch, bắt nhái, rắn… về “cải thiện”!

Trong số ấy, có một anh được chuyên trách chăn đàn trâu của trại, một mình một công việc không có ai kiểm soát. Nghe nói anh đã được tha về, nhưng xin ở lại trại vì hình như anh không còn gia đình, nhà cửa gì sau chiến tranh biên giới. 

Ngoài giờ lao động thì tôi hay lên lán của “chính trị” B chơi. Biết tội “chính trị” của tôi, lại thấy tôi đọc báo tiếng Anh, hiểu biết về văn hoá phương Tây không khác gì họ. Nhất là sau khi biết gia tộc tôi, thì họ rất cởi mở chan hoà. Đúng thế! Mấy ai trong số họ không biết chú ruột tôi là Đại tá Hoàng Thuỵ Năm, đại diện của chính quyền Sài Gòn trong Uỷ hội quốc tế đình chiến, đã bị Việt Cộng bắt cóc ở Thủ Đức và đưa về Khu (bị thủ tiêu hay là ông đã nhảy xuống sông tự vẫn trên đường sông vẫn chưa rõ) năm 1961; đám tang của ông đã thành cuộc biểu tình khổng lồ phản đối V.C vi phạm Hiệp định Geneve!

Trong số “nguỵ quân nguỵ quyền” mà tôi có giao lưu, tôi nhớ có một ông Thượng nghị sĩ người Bắc họ Hoàng, một ông người Quảng Nam là Phó Chủ tịch Quốc Dân Đảng, một ông chủ bút tờ báo gì đó của quân đội bị hỏng mắt trong tù (tên là Thiên Lý?), một anh là nhân viên Phủ Đặc uỷ Trung ương Tình báo được cử làm Phụ trách văn hoá của trại (mấy tháng sau thì tôi thay chân anh), một anh khác cũng “đặc uỷ tình báo” người Huế được cử làm Phụ trách Lao động của trại, một nhạc sĩ Công giáo… Anh nhạc sĩ này là người đã sửa cho tôi một bài hát mà tôi viết trong lúc nhớ hai đứa con ở nhà:

“Cha sẽ cho con đi dạo phố đông

Cha sẽ cho con ăn kem Bến Thành

Cho con tà áo mới mới

Cho con niềm vui mới

Và cho cây đàn, cho cây đàn…

Con sẽ cho cha vui cùng đám đông

Con sẽ cho cha tình yêu ngọt ngào…

Cho cha hạnh phúc mới

Cho cha niềm tin mới

Và âm thanh cuộc đời

Và âm thanh cuộc đời.

Hẹn ngày mai, hẹn con ngày mai nhé

Khi cha trở về, con mến yêu!”

Hay chuyện nhất là người Đội trưởng của đội này là Nguyễn Cao Quyền, nhà ngoại giao (anh ruột của hoạ sĩ Ng Cao Uyên). Sau này sang Mỹ, ông Quyền là Chủ tịch Cộng đồng người Việt tại miền Đông Hoa Kỳ. Ông là bạn cùng lứa với em họ tôi, Hoàng Thuý Đồng, con trai của đại tá Hoàng Thuỵ Năm. Trung uý Đồng của Quân đội Quốc gia đã chết anh dũng khi bị Việt Minh phục kích ở Hưng Yên, không chịu đầu hàng mà chống cự lại. Tôi đã dự đám tang rất lớn của anh ở Hà Nội khi mới 11 tuổi. Anh được truy tặng Bảo quốc Huân chương với nhành dương liễu, và tên anh được đặt cho 1 khoá học của Trường Sĩ quan Lục quân Đà Lạt. Mọi người thích thú nhất khi nghe ông Quyền kể chuyện ăn chơi ở Paris (ông từng làm cố vấn Đại sứ VNCH tại Pháp).

Sau khi tôi được cử Phụ trách Văn hoá của trại, thì tôi hàng ngày được tiếp xúc với các linh mục Công giáo trên khu “Vatican”. Vài chục vị, gồm các “cha tuyên uý quân đội” Sài Gòn và các linh mục miền Bắc bị bắt vì có lời giảng hoặc hành động gì đó bị coi là “phản động”. Có điều thú vị là khi biết gia thế của tôi và biết năm 10 tuổi ở Hà Nội tôi từng được các bà cô ruột mộ đạo đưa đi rửa tội với tên Thánh Augustino và có 2 năm làm con chiên ngoan đạo trước khi các bà vô Nam để lại tôi trơ trọi cho Cộng sản biến thành đội viên Thiếu niên tiền phong của Đảng, bỏ đạo, thì nhiều vị rất sốt sắng động viên tôi “trở lại đạo”. Tuy được các vị hỗ trợ phần xác (các vị được giáo dân trong vùng tiếp tế rất đầy đủ từ đồ ăn, ấn tượng nhất với tôi là mì tôm và trà sâm, đến thuốc men…) nhưng tôi làm ngơ hết những lời gợi ý về phàn hồn, vì tôi vốn có máu tự do như đã nói, lại còn bắt đầu mê triết lý Phật giáo sau khi đọc được các kinh sách Đại thừa và Thiền tông.

Ngày tôi được trả tự do, một vị đã xin tôi gửi lại cho mấy cuốn sách học tiếng Anh.

Sau này, ở nhà ông Hiển, chú rể của vợ tôi, bố của nhà văn Hà Thúc Sinh, tôi có gặp lại một vị trong “khu Vatican” Thanh Cẩm, là linh mục chánh xứ Cái Bè.

Tôi cũng có dịp gặp một số tù hình sự ở khu B. Nhớ nhất là mấy anh thuộc loại “sĩ quan”. Có một nhóm chuyên chế điếu cày bán hoặc đổi hàng cho tù nhân. Họ rất khéo tay, dùng mảnh xác máy bay bằng dura cắt thành nõ, vành, giá điếu, rồi khắc chìm hoa văn và nung chảy nhựa màu từ bàn chải đánh răng đổ vào thành một khiểu “khảm”. Tôi đã lấy 2kg thuốc lào nhà gửi cho đổi lấy một cái điếu cày như thế, vẫn còn giữ được đến giờ.

Điếu cày của tù nhân trại Thanh Cẩm chế tác (ảnh chụp năm 2020)

Tôi nhớ “đại ca” của nhóm này tên là Lý Giang Sơn, người cao lớn, như một hảo hán Tàu! Sau khi ra tù, có lần họ Lý cùng vài người nữa tìm đến nhà tôi ở Hà Nội, chúng tôi kéo nhau ra hàng nước hàn huyên!

Có dịp đi kiểm tra nhà bếp thì thật khoái! Mấy anh tù “tự giác” được làm chân “anh nuôi” cho uống thứ sữa ngô non ngon ngọt nhất trần đời, từ trước đó và sau này không bao giờ tôi thấy ở đâu có!

Sinh hoạt ở trại cải tạo

Một số chi tiết kể ở đoạn trên cũng đã cho mọi người có thể hình dung sinh hoạt hàng ngày ở trại cải tạo Thanh Cẩm.

Có lẽ tôi vô cùng may mắn vì được “tập trung cải tạo” sau cuộc chiến biên giới 1979. Nhà nước thay đổi chính sách với tù: giảm bớt tính “khổ sai cải tạo” trong lao động, cho thân nhân tiếp tế khá thoải mái. Nguyên nhân có thể là cuộc chiến khốc liệt với “giặc ngoài” khiến cho con mắt nhìn “thù trong” trở nên nhẹ nhàng hơn; cũng có thể vì cuộc chiến làm cho nhà nước khánh kiệt, không còn đủ lương thực nuôi tù, phải để thân nhân nuôi!

Nghe những người tù lâu năm kể lại tình hình những năm trước đó, tôi thấy sự thay đổi rõ rệt nhất ở khối sĩ quan công chức Sài Gòn. Không còn cảnh đói rét dẫn đến cái chết của một số người. Nhìn họ lúc này đều khoẻ mạnh, hồng hào. Vì được tiếp tế đầy đủ. Nghe nói có những gia đình lên tiếp tế với cả 1 chuyến xe trâu!

Hàng tiếp tế cũng giúp họ “tranh thủ” được tình cảm của công an. Xin trích một bài viết của ông Nguyễn Cao Quyền sau khi sang Mỹ:

“Bài học của Bắc Kinh đã cứu sống rất nhiều tù cải tạo, đó là điều mà ít người biết tới. Vì có bài học này nên chính sách cải tạo khắc nghiệt của Hà Nội có đôi phần nới lỏng. Sau 4 năm bị cắt đứt mọi liên lạc với gia đình, chúng tôi được viết thư và nhận đồ tiếp tế trở lại. Không những thế, gia đình còn được phép đến trại thăm gặp và trong vài trường hợp đặc biệt tù nhân cải tạo còn được phép ở lại suốt đêm ngoài nhà khách để sinh hoạt với gia đình.

Một chuyện khác mà không ai ngờ tới là những gói qùa tiếp tế không những đã cứu sống chúng tôi khói chết đói mà còn cho chúng tôi cơ hội cải tạo những bộ óc của những người tự cho có nhiệm vụ cải tạo chúng tôi.

Mỗi đợt khám quà của tù nhân là một dịp để các cán bộ làm quen với thế giới bên ngoài qua những đồ tiếp tế. Lần đầu tiên khám qùa một anh cán bộ trẻ thấy một gói lạp xưởng đòi tịch thu. Chúng tôi hỏi tại sao thì được trả lời: “Tịch thu, vì các anh không được phép mang nến (đèn cày) vào trong trại’’. Tội nghiệp, từ bé tới lớn anh chưa được ăn lạp xưởng bao giờ nên tưởng lạp xưởng là đèn cày.

Những thứ lạ mắt như những cuốn giấy vệ sinh trắng muốt, những chai sà bông nước, những lon cà phê-sữa bột, những viên thuốc Tây xanh đỏ đựng trong những lọ có nắp khó mở….đều là những thứ mà trại thấy cần phải giữ lại để nghiên cứu. Sau này khi biết những thứ đó không có gì nguy hiểm và thỉnh thoảng lại được chúng tôi ‘’kỷ niệm’’ (nghĩa là cho theo ngôn từ cộng sản) các công an trẻ dần dần làm thân và thường muốn nghe chúng tôi kể những chuyện của thế giới bên ngoài, trong giờ lao động. Kỷ luật trại giữa cán bộ và tù nhân cũng không còn gay gắt như trước nữa.

Ngày một số anh em chúng tôi được trả lại tự do (1985) những người công an trẻ đến chia tay bằng một câu nói cảm động: “Thôi các anh về mạnh khoẻ rồi đi ngoại quốc. Chúng tôi thì còn ở đây chưa biết đến bao giờ’’. Ngay lúc đó chúng tôi chưa nắm bắt được thông điệp “rồi đi ngoại quốc” nhưng chúng tôi hiểu ngay rằng những thanh niên cộng sản đó đã bắt đầu tỉnh ngộ sau thời gian mấy năm được chúng tôi cải tạo”. (trích từ nghiencuulichsu.com)

Bản thân tôi đã đi lao động trong vài tháng, hai đội “chính trị Bắc” và “chính trị Nam” thường làm việc gần nhau. Công việc chủ yếu là trồng sắn. Cũng không quá nặng nhọc. Nhưng riêng với tôi, suốt đời thư sinh mặt trắng, phải cầm cuốc cuốc đất đồi cứng thì tất nhiên là “vã”, nhất là khi phải gánh gồng (gánh hom sắn đi trồng, gánh củ sắn khi thu hoạch) sưng hết đôi “vai thờ”! Tôi chứng kiến rõ cách xử sự khá thoải mái của công an với đội của ông Quyền. Ngày nghỉ, một số người còn được ra ngoài trại, vào làng chơi, thậm chí còn nghe có chuyện tình tang giữa vài chàng với các cô thôn nữ vùng cao.

Thật tình khi đời sống của người dân cũng như công an ở vùng núi Thanh Hoá này thời đó rất thiếu thốn, lấy được tình cảm của họ với thực phẩm, thuốc men từ Sài Gòn không có gì lạ!

Riêng chuyện tình tang, thì còn vấn đề phong thái và vẻ đẹp của các chàng tù nữa chứ!

Trong trại vẫn lan truyền chuyện mối tình của một chàng tù người Hà Nội phụ trách chăn trâu của trại với một cô thôn nữ, trong khi cô từ chối tình cảm của một anh công an cai tù!

Ly kì hơn là câu chuyện anh tù dọn vệ sinh Thành-Tây lai kể cho tôi nghe: một nữ sĩ quan công an mê anh, hắt hủi anh chồng cũng là sĩ quan công an! Đến mức nửa đêm dí súng đuổi chồng ra khỏi nhà!

Sau một ngày lên đồi trồng sắn, giờ hạnh phúc nhất của tù nhân có lẽ là giờ xuống sông Mã tắm rồi hì hụi nấu ăn bên bờ sông. Làm sao tả nổi cái cảm giác mát rười rượi khi lao xuống dòng sông trong xanh, vừa hò reo vừa ngụp nước, khi vừa tắm vừa ngắm sang bờ bên kia dưới chân dãy núi xanh có những người dân, cả nam lẫn nữ, xuống tắm giặt, gánh nước. Những giờ phút cảm giác như mình là người tự do, quên hết thân phận tù tội!

Tháng 7 năm nay (2025) tôi có dịp về Thanh Hoá, đã tìm lên khúc sông Mã có bến tắm của tù nhân Thanh Cẩm! Tuy không vào được đúng bến ấy, nhưng một sự xúc động khó tả khi từ khoảng cách bến ấy vài trăm mét nhìn chếch sang bãi sông bên kia, đúng cái bãi mà người tù mỗi chiều ra tắm ngong ngóng nhìn sang!

Từ bến tắm trại Thanh Cẩm nhìn sang bờ bên kia sông Mã (ảnh trên mạng)

Thăm lại khúc sông Mã bên cạnh trại Thanh Cẩm (2025)

Chuyện ăn ở của trại viên thì cũng không có gì đáng kể.

Ấn tượng nhất là những buổi “cân cơm” của người trực phòng trước hàng chục con mắt mở to kiểm soát của các trại viên chờ được chia cơm! Cái cân tự chế bằng chiếc que, nhưng đảm bảo “chuẩn không cần chỉnh” để mọi phần cơm tiêu chuẩn mà trại phát cho trại viên phải đồng đều. Cảnh này đã được nhà văn Bùi Ngọc Tấn miêu tả đầy hấp dẫn và chính xác trong cuốn auto-fiction (hư cấu dựa trên chuyện thật của bản thân) “Chuyện kể năm 2000”!

Ở các lán tù hình sự, lâu lâu xảy ra cảnh đánh nhau thậm chí đổ máu cũng chỉ là quanh miếng cơm hàng ngày như thế này!

Còn với tù chính trị có “tắc” của gia đình, thì không đến nỗi quá cực khổ. Họ được nấu ăn vào các bữa chiều hàng ngày. 

Riêng tôi, với đỗ đen, lạc, gạo mua ở cantine của trại, tôi nghĩ ra một công thức nấu ăn độc nhất: trộn hết gạo, lạc, đậu vào một nồi!

Chỗ ở của tù là các lán bằng tre nứa cất theo chiều dài, chứa được vài chục người. Bên trong là 2 dãy sạp 2 tầng vững chãi. Tôi ở tầng trên, tối tối nằm học tiếng Anh qua sách báo mà anh cả tôi là Hoàng Văn Sơn mang lên cho, học cho đến lúc tắt điện (khoảng 9 giờ tối).

Những người khác thì tụ tập từng nhóm ba nhóm bẩy, chuyện vãn hay đánh bài, đàn hát.

*

Khoảng 5 tháng sau khi lên trại, một hôm tôi được gọi ra gặp gia đình!

Khỏi nói niềm vui của tôi lúc ấy.

Vợ tôi ra Hà Nội, cùng bà mẹ vợ và anh trai cả của tôi, Hoàng Văn Sơn, lên thăm!

Tôi được ra “nhà hạnh phúc” ở với vợ một đêm.

Đêm ấy tôi mới được biết tình cảnh của vợ con trong gần 3 năm tôi đi tù:

Mấy tháng sau hôm tôi bị bắt, vợ tôi đã bị một người bạn rất thân của tôi ở Hải Phòng vào chơi lừa mất 16 chỉ vàng giành giụm, nói là để “chạy án” cho tôi! Không còn khoản thu nhập hàng ngày (trước đó, vợ tôi đã xin nghỉ việc ở Công ty Thiết bị Giáo dục để ở nhà chăm lo cho 2 con nhỏ), có những buổi cả nhà phải ăn chuối trừ bữa! Những ngày mưa, ngôi nhà nhỏ ngập nước cống rãnh tràn vào từ sân trước, nước bãi hoang tàn vào từ sân sau, kéo vào cả đống giun, lươn, cá lành canh, nước mưa trút xuống qua mái tôn giột nát, mình em trống trọi!

May mắn là sau đó, vợ tôi được các bạn tốt trong giới văn chương của tôi nhận vào làm việc hành chính ở chi nhánh NXB Văn Học: Trưởng chi nhánh, nhà văn Hoàng Lại Giang; nhà văn Nhật Tuấn. Thêm nữa, có được nguồn hàng để “buôn” từ Hà Nội vào mà không cần vốn: đó là thuốc tây mà anh ruột tôi, bác sĩ Hoàng Văn Minh làm việc ở Algérie gửi về, vợ anh là Nguyễn Hải Đường giao hết cho vợ tôi mang vào Sài Gòn bán, hưởng chênh lệch giữa giá bán ở Sài Gòn với giá bán Hà Nội.

Vợ tôi vẫn cố gắng cho con gái lớn Hoàng Ly học vẽ, học nhạc ở Nhà Văn hoá Thiếu nhi, cố gắng mua cho con một cây đàn guitar mà cháu còn giữ được đến bây giờ!

Vợ con tôi ra Hà Nội thăm mẹ con chị Hải Đường (bên phải) trong thời gian tôi bị tù

Vợ tôi là một người lao động bình thường (công nhân cơ khí sửa máy khâu ở nhà máy Giầy da Thuỵ Khuê rồi nhân viên giữ kho của công ty Thiết bị Bộ Giáo dục), không được học đến hết bậc phổ thông. Theo tôi vào Sài Gòn ở tuổi 24, em hoàn toàn bỡ ngỡ, lạc lõng, nay lại gặp cảnh tai ương giữa một thành phố xa lạ, khó mà hình dung hết sự vất vả khổ cực của em trong những tháng năm này!

Nhưng em đã rất vững vàng, bản lĩnh! Ngay trong lần đối đầu với nhóm công an vào lục soát nhà, em đã đủ lý lẽ để bảo vệ những tài sản của gia đình mà họ mưu toan chiếm đoạt: những chỉ vàng giành giụm (mà họ ghi trong biên bản thu giữ là “kim loại màu vàng”), những bộ sách quí về hội hoạ mà tôi sưu tầm được… (Riêng cuốn “Vĩnh biệt tình em” là bản dịch “Doctor Zhivago” của Nguyễn Hữu Hiệu trước 1975 mà tôi mua tặng em nhân sinh nhật với lời đề tặng “Tặng em cuốn sách mà anh yêu” thì viên sĩ quan (hình như anh tên là Tú) cười nhạt khi đọc lời đề tặng và tịch thu mất). Rồi suốt 1 ngày “làm việc” ở văn phòng phía Nam của Bộ Công an, em đã vượt qua hết các truy vấn đầy cạm bẫy của họ để bảo vệ chồng mình!

Cũng muốn nói thêm là: tuy em không được học hành đến nơi đến chốn, nhưng lại có một trực cảm khá tốt về văn nghệ. Chẳng hạn như đọc thơ Đặng Đình Hưng, phần lớn các nhà thơ đương thời không “xực” nổi, có nhà thơ nổi tiếng còn kêu lên: “Thế mà gọi là thơ à?” thì em lại cảm nhận được, thích ngay! Có lẽ vì thế mà em đồng cảm và ủng hộ mọi việc làm dù có thể nguy hại cho sự an toàn của gia đình, tha thứ cho mọi lỗi lầm của người chồng này!  

Thương em thương con mà không biết nói gì được! Chỉ lặng lẽ nắm chặt tay em!

Sáng hôm sau nữa, khi mọi người đã về, sĩ quan phụ trách công tác quản giáo trong ban giám thị trại, hình như cấp đại uý, gọi tôi lên “làm việc” thay vì đi lao động.

Rất tiếc là tôi không nhớ tên anh.

Anh cho biết: Từ hôm nay, tôi sẽ không đi lao động nữa, mà được giao phụ trách văn hoá của trại! Thay thế một người miền Nam (cựu nhân viên Phủ Đặc uỷ trung ương tình báo Sài Gòn). Như vậy tôi sẽ là 1 trong 3 người của “ban đại diện cải tạo viên” (1 người phụ tách an ninh – là cựu sĩ quan công an phạm tội, 1 người phụ trách lao động – là cựu nhân viên Phủ Đặc uỷ trung ương tình báo SG).

Trên danh nghĩa, phụ trách văn hoá là “trưởng ban đại diện” tù nhân, tức “trại trưởng”.

Có một chuyện vui vui liên quan đến “chức vụ” mới này của tôi.

Ở Sài Gòn, trước khi tôi bị bắt và Hà Thúc Sinh vượt biên, anh đưa tôi và Phan Đan đi xem tử vi tướng số. Ông thầy Thiên Sơn mù, nổi tiếng, ở trong một con hẻm đường Lý Thái Tổ. Vừa nghe tôi khai ngày tháng năm sinh, ông thầy nói ngay: “Mấy người đi với ông ra ngoài hết, tôi muốn nói riêng với ông”. Tôi cười bảo cứ để họ nghe, không sao đâu.

Ông ngước đôi mắt mù nhìn tôi rất nghiêm trọng: “Theo lá số này, ông có mệnh phất cờ khởi nghĩa, lên làm vua nhưng bạo phát bạo tàn”. (Ông nói về các sao chiếu mệnh, hình như Thái Tuế, Thất Sát… gì đó).  Ba chúng tôi đều cười, coi là chuyện bói toán vớ vẩn.

Khi kể chuyện này cho các anh ở đội “chính trị Nam” nghe, các anh ấy cười lớn và bảo: “Thì câu bói đã nghiệm đúng còn gì? Anh bây giờ là Trại trưởng, tức là Vua rồi đấy!”  

Nhưng thực tế, người phụ trách an ninh mới có quyền cao nhất, còn phụ trách văn hoá chỉ làm vài việc đơn giản: Hàng ngày, đọc báo Nhân Dân mỗi sáng cho toàn thể trại viên tập trung ngoài sân trại, trước khi trại viên xuất trại đi lao động; sau đó đi từng dãy lán để kiểm tra vệ sinh (mỗi ngày từng dãy lán cắt 2 người ở lại làm vệ sinh lán), “nội vụ” (tù nhân phải sắp xếp chăn màn gọn nghẽ vuông vắn ở đầu giường giống như trong doanh trại quân đội). Sau đó, tập trung đội văn nghệ tập đàn hát và tổ làm báo tường để sẵn sàng cho các ngày lễ.

Thì ra chuyến thăm của anh tôi làm ra chuyển biến căn bản đối với chế độ “cải tạo” của tôi.

Anh Sơn của tôi, TS Y khoa,thuộc lớp chuyên ngành xét nghiệm sinh hoá đầu tiên của miền Bắc. Anh từng là Trưởng khoa Xét nghiệm Sinh hoá của Bệnh viện Việt Xô, nơi điều trị cho các cán bộ trung cao cấp, kể cả cấp cao nhất. Các mẫu xét nghiệm của bộ chính trị, ban bí thư Trung ương Đảng đều qua tay anh, tất nhiên đều mang bí số. Khi lên trại thăm tôi, anh là Trưởng khoa Xét nghiệm của Viện Nhi. Anh đã đem theo dụng cụ xét nghiệm máu và rất nhiều thuốc men. Anh tổ chức xét nghiệm và phát thuốc cho tất cả cán bộ chiến sĩ công an của trại. Anh còn cho họ xem bức hình bố chúng tôi, bác sĩ Hoàng Thuỵ Ba, thay mặt nhân dân thủ đô tặng hoa cho Hồ Chủ tịch trong buổi họp Quốc hội đầu tiên sau khi Việt Minh tiếp quản Hà Nội 1954. Chắc anh cũng cho họ biết là Bố đã từ chối lời mời của Ông Ngô Đình Diệm vào Sài Gòn làm Tổng trưởng Y tế của chính phủ do ông thành lập, để ở lại Hà Nội đón Chủ tịch Hồ Chí Minh.(PGS TS Y học Hoàng Văn Sơn là ủy viên Ban chấp hành Tổng hội Y học Việt Nam, đại diện Hội hóa sinh y học Việt Nam tại Liên đoàn xét nghiệm y học thế giới).

Khi tôi bị bắt thì anh đang tu nghiệp tại Hà Lan. Vợ tôi có viết một lá thư kể về tình cảnh gia đình, nhờ cô Như Phi, em họ của tôi chuyển cho anh khi cô từ Việt Nam trở về Paris. Như Phi là một “Việt kiều yêu nước” đã giúp đỡ đoàn Việt Nam thời hội nghị Paris, đặc biệt là bà Nguyễn Thị Bình – Bộ trưởng Ngoại giao Chính phủ lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam. Vậy mà an ninh theo dõi ráo riết đến mức khi cô ra sân bay Tân Sơn Nhút, họ đã đòi xem lá thư. Cô nổi giận, nói: “Đây là thư gia đình của tôi. Các anh không cho mang ra thì tôi xé trước mặt các anh”.

Xong khoá tu nghiệp, trở về nước là anh thu xếp đi thăm tôi ngay. May mà có các đệ tử ngành sinh hoá của anh ở Thanh Hoá giúp cho mọi thông tin về cách thức đi lại, nếu không thì tìm lên được xứ khỉ ho cò gáy Thanh Cẩm cũng không dễ!

Anh Hoàng Văn Sơn vào Sài Gòn thăm HH (năm 2000)

Sĩ quan quản giáo chuyện trò với tôi rất thân mật. Anh tự giới thiệu mình nguyên là giáo viên Văn, tức cựu đồng nghiệp với tôi. Anh cũng cho biết là nhiều năm trước đây, trại cũng từng có một người tù phụ trách văn hoá nguyên là nhà báo, tên là Nguyễn Tuân! Ồ! Hoá ra nhà thơ – phóng viên Đài Tiếng Nói Việt Nam với bút hiệu Tuân Nguyễn (anh dùng bút hiệu này vì tên khai sinh của anh trùng với tên nhà văn Nguyễn Tuân) đã ở đúng trại Thanh Cẩm này! Chợt nhớ, hồi đi cùng Phùng Quán đến thăm anh khi anh mới ra tù, ở với vợ là nhà thơ Phương Thuý (con gái ông Hoài Chân, đồng tác giả cuốn “Thi nhân Việt Nam”) trong một căn phòng nhỏ xíu trong ngõ Trần Hưng Đạo gần Ga Hàng Cỏ, anh có kể về cái trại cải tạo mà anh đã ở có kế hoạch làm thuỷ điện trên sông, làm mãi không xong, khiến cho nhiều người tù đến hạn được về vẫn phải ở lại! Đúng là câu chuyện tôi được nghe các tù nhân lâu năm ở đây kể! Dấu tích của “trạm thuỷ điện” bất thành vẫn còn ở gần trại, bên sông Mã!

Sau 1975, anh Tuân Nguyễn vào Sài Gòn dạy học, xuất bản cuốn truyện dịch “Con chó Bim trắng tai đen” từ tiếng Nga, anh cho biết đó là kết quả tự học trong thời gian ở tù. Thì tôi cũng vậy: sau khi ra tù, tôi cũng sống bằng việc dịch sách báo tiếng Anh nhờ tự học trong tù, tác phẩm dịch tiếng Anh xuất bản đầu tiên của tôi cũng là một… con thú nhưng là người-thú: “Mowgli người sói” (NXB Trẻ 1988). Tôi thường đến chơi với anh ở cư xá Thanh Đa. Anh chết vì tai nạn giao thông, bị ô tô đâm lúc đạp xe đạp từ trường về nhà.

Mấy tháng sau, ngày tôi được trả tự do, người sĩ quan đáng mến này đã chủ động mời tôi về nhà ăn bữa trưa rồi đưa tôi ra bến xe ca thị trấn Cẩm Thuỷ để về thị xã Thanh Hoá. Trong bữa ăn, được biết bà vợ của anh bị bệnh phụ khoa, vậy là sau đó tôi đã gửi gắm chị với chị dâu tôi là Dược sĩ Dương Thị Nguyệt Minh ở Bệnh viện C (chuyên phụ sản) Hà Nội. Được biết chị có về Hà Nội chữa trị theo lời giới thiệu của tôi.

Ít ngày sau khi tôi “nhậm chức”, trại bố trí cho tôi ra ở một phòng riêng, nhưng tôi xin cứ ở chung trong lán của đội “chính trị Bắc”.  

Một trong những lý do tôi không muốn ra “ở riêng” chính là: chỉ trong mấy ngày làm “trưởng trại”, tôi đã “được” các quản giáo liên tục “nhờ” lên “Khu Vatican” xin thuốc men, mì tôm, trà sâm… đến phát mệt. Nay mà ra ở một mình một buồng thì khả năng bị “nhờ” chắc sẽ lên rất cao!

Cũng như tôi đã mấy lần từ chối lời gợi ý ngọt ngào của họ là đưa tôi ra ngoài, vào làng, ra thị trấn… chơi ngày chủ nhật! Tôi không ham! Chơi vui gì khi sẽ phải hầu hạ họ trong lúc chơi kia chứ?

Tóm lại là trong mấy tháng làm chân “văn hoá” của trại, tôi không hề lợi dụng “chức vụ” để mưu lợi gì cho riêng mình, cũng không phục vụ gì cho trại hay các cán bộ trại ngoài những việc phải làm đúng bổn phận.

Trong đó, có 2 việc rất quen thuộc và cũng thú vị mà tôi từng làm nhiều năm khi dạy học cho sĩ quan quân đội ở Tây Bắc (Quân y viện 6) và trường phổ thông (cấp 3 An Dương Hải Phòng).

Việc thứ nhất: Làm bích báo! Tổ làm bích báo chỉ có tôi và 2 người khác lo viết chữ và trình bày, tôi là “Tổng biên tập”; bài vở thì tiếng là vận động trại viên viết, nhưng thực tế… chủ yếu là tôi viết, ký các tên khác nhau. Tôi đặt tên báo là “Sông Mã”. Chỉ nhớ có 1 số báo chào mừng Cách mạng tháng 8 và Quốc khánh 2/9/1985!

Việc thứ hai: Lập đội văn nghệ chuẩn bị biểu diễn dịp Cách mạng Tháng 8 và Quốc khánh 2/9. Một viên trung uý tôi không nhớ tên làm “quản giáo” của đội, có hiểu biết chút về âm nhạc. Anh đưa cho tôi bản chép nhạc bài “Mặt trời bé con” của Trần Tiến, bảo là nó đang rất phổ biến (theo ngôn ngữ bây giờ là “hot”) ở ngoài xã hội, và nói tôi tập để đơn ca. Tôi xướng âm thấy khá hay và dễ hát. Với trình độ thanh nhạc và giọng tenor biểu cảm của tôi, “Mặt trời bé con” sẽ là bài “tủ” được hâm mộ trong chương trình biểu diễn của đội. Tôi còn được giao 1 cây đàn mandoline để đệm cho đồng ca (tôi học chơi mandoline từ năm 5-6 tuổi ở Vân Đình, người dạy tôi là ông Thuật “hói”, bán thuốc tây, sau về Hà Nội mở hiệu sách nổi tiếng).

Tôi nhớ mãi 2 đêm diễn rất thành công chào mừng Quốc khánh 2/9 cho trại viên của trại và bà con thị trấn Cẩm Thuỷ.

Anh quản giáo đội trở nên thân thiết với tôi. Anh khoe là mình có tập sáng tác ca khúc, và muốn tôi góp ý. Tôi nảy ra ý tưởng xui anh mạnh dạn gửi bài cho tạp chí Văn nghệ Quân đội, nói sẽ viết thư giới thiệu anh với nhà văn Hồ Phương TBT Tạp chí. Anh nghe lời tôi, gửi bài về Hà Nội kèm thư của tôi. Nhưng không thấy anh nói có hồi âm.

Ngày về bất ngờ

Khoảng giữa tháng 10/1985, một buổi sáng trại viên tập hợp trước khi đi lao động, tôi chuẩn bị lên đọc báo Nhân Dân như thường lệ, thì Giám thị trại xuất hiện, ra lệnh cho tất cả trại viên là sĩ quan công chức Sài Gòn về lán thu xếp nội vụ để… được về nhà!

Sau khi về lại xã hội, tôi mới biết đó là đợt trả tự do cuối cùng cho sĩ quan công chức cao cấp Sài Gòn gồm khoảng 60.000 người, cũng là lúc rục rịch cho đường lối “Đổi mới” năm 1986 khi đất nước sắp lâm vào đường cùng về kinh tế!

Tiếng xôn xao náo động trong ít giây, rồi ào ào những con người mừng rỡ chạy rất nhanh về các lán.

Tôi phải đi kiểm tra vệ sinh các lán tù hình sự, không được chứng kiến cảnh họ ra về như thế nào. Nhưng tối hôm ấy, trong lán “chính trị Bắc”, một không khí u trầm khác hẳn ngày thường. Mọi người, trong đó có tôi, đều thao thức: Không biết bao giờ đến lượt mình?

Khoảng nửa tháng sau, buổi sáng trại viên tập trung trước giờ lao động, tôi chuẩn bị đọc báo Nhân Dân thì bỗng nghe tiếng loa: “Hoàng Thuỵ Hưng về lán thu xếp nội vụ!”. Choáng! Vứt ngay tờ báo xuống đất và bỏ chạy một hơi về lán!

Lên phòng trực ban, nhận tờ “Giấy ra trại”, chắc là tay có run run!

Giấy ghi:

“… Thi hành án văn, quyết định tha số 185 ngày 7 tháng 10 năm 85… Nay cấp giấy tha cho anh, chị có tên sau đây: Hoàng Thuỵ Hưng sinh năm 1942… Can tội: Tuyên truyền văn hoá phẩm đồi truỵ [!!!] Bị bắt ngày 20/8/82 [ngày bị bắt chính xác là 17/8/1982] Án phạt: 3 năm TTCT Theo quyết định, án văn số 230 ngày 30 tháng 1 năm 84 của Bộ nội vụ…”

Thắc mắc đầu tiên của tôi khi đọc tờ giấy này: Tại sao họ chuyển tôi từ tội “lưu truyền văn hoá phẩm phản động” trong lệnh bắt thành “tuyên truyền văn hoá phẩm đồi truỵ” trong lệnh tha! Hay là họ không muốn lan truyền một bằng chứng là VN có tù nhân chính trị (rõ ràng với hai chữ “phản động”)! Suy nghĩ này được củng cố khi tôi trò chuyện với các anh bị bắt và tập trung cải tạo trong vụ án “xét lại” những năm 1960: khi ra trại, các anh thậm chí không được trao cho một giấy tờ gì giắt lưng! Bác sĩ nha khoa Phan Thế Vấn, một nạn nhân trong vụ này, kể với tôi rằng: Sau 1975, anh vào Sài Gòn; được người bạn lúc đó làm giám đốc Sở Y tế (BS Dương Quang Trung) đưa vào làm việc trong ngành, nhưng đến lúc khai lý lịch thì không ai chứng nhận cho thời gian 5 năm đi cải tạo và cũng không có giấy tờ gì để chứng minh, như vậy bị coi là “lý lịch không rõ ràng”, nên không được “tổ chức” chấp nhận!!!

Điều nữa đáng ghi nhận: theo đúng “luật”, án phạt của tôi là “3 năm”, thì đúng ra tôi phải được về vào 17 hoặc 20/8/1985, nhưng hệ thống hành chính quan liêu đã khiến tôi phải chịu thêm hơn 3 tháng trong tù, tức hơn 39 tháng thay vì 36 tháng!

Về nhà, tôi mới biết là mình đã được anh cả, BS Hoàng Văn Sơn làm giấy tờ bảo lãnh!

*

Chuyến xe ca đưa tôi từ thị trấn Cẩm Thuỷ về đến nhà ga Thanh Hoá thì trời đã tối. Không hiểu sao một bản năng xui tôi chen vào giữa đám trẻ bụi đời trong sân ga. Hình như dáng vẻ nhếch nhác, khổ sở của một thằng tù thích hợp hơn với đám trẻ ấy hơn là với những người đang đợi chuyến tàu sáng mai trong nhà ga! Và thật kỳ lạ! Đêm hôm ấy tôi đã ngủ ngon hơn bất kỳ đêm nào trong suốt 39 tháng qua!

Chuyến tàu sáng 31/10/1985 từ Thanh Hoá mãi tới tối mới đưa tôi về đến Hà Nội!

(Còn Tiếp)

Bài Mới Nhất
Search