TRẦN NGUYÊN ÁNH
(1934-2009)
Trần Nguyên Ánh là tên thật, các bút danh: Ngứa Nhĩ, Muỗi Đói, ký dưới các bài thơ trào phúng, còn thơ về thiên nhiên, quê hương, bạn hữu, tình mẹ cha, ông bà…ký tên Trần Nguyên Anh.
Tác phẩm:
Tất cả còn là bản thảo, đánh máy hoặc viết tay. Riêng tập Mậu Tý Cảm Tác, 2008, có lẽ là thi tập cuối cùng của ông được in đẹp, nhiều hình ảnh những người thân trong nhà và các cháu ông đến thăm trong chuyến hai vợ chồng ông đi “hành hương” nhiều nơi trong nước. Trước hết là về quê nhà huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc, thăm mấy cháu gọi tác giả là chú ruột, cậu ruột. Rất tình cảm và thương yêu. Hai ông bà còn đến chùa Giải Oan- Hội Yên Tử, đi thăm chùa Lim, Kinh Bắc; đi Vĩnh Yên thăm cháu, vào Hà Nội, qua ga Hàng Cỏ, bến xe Kim Mã, ra cầu Hiền Lương lịch sử chia cắt hai bờ Quốc-Cộng (1954-1975). Ông cũng đi tới bãi tắm Cửa Lò, Nghệ An; đến Đèo Ngang (có lẽ ông nhớ bài thơ của Bà huyện Thanh Quan) và đi Bình Phước thăm một người cháu ở Đồng Phú. Nơi nào hai vợ chồng tác giả đi tới, đều có ghi cả hình ảnh ở nơi đó, và viết bài thơ ghi là “cảm tác”.
Những tác phẩm khác:
-1-Dĩ vãng bang khuâng: gồm 21 bài thơ trữ tình, 11 bài trào phúng và 2 bài tạp bút. Tất cả viết trước năm 1975.
2-Tình quê I và Tình quê II. Tập I có 91 bài, tập II có 56 bài. Viết năm 1997.
3-Ngẫm đau cố sự: gồm 128 bài, thể bát cú và bát cú liên hoàn, lục bát.
4-Ly hương hoài cảm (3 tập), viết từ năm 1994-1996. Tập I: 61 bài, lục bát và thất ngôn bát cú. Tập II: 60 bài. Tập III: 67 bài.
5-Nhớ thương Hà Nội: gồm 59 bài, lục bát và thất ngôn bát cú. Theo tác giả, làm tập này để kỷ niệm 1.000 năm thành lập Đông Đô Thăng Long – Hà Nội (1010-2010) và 300 năm thành lập Sài Gòn, TP. Hồ Chí Minh (1698-1998).
6-Đời vô thường: gồm 59 bài, lục bát và thất ngôn bát cú. Viết năm 1998.
7-Văn chương giao cảm (2 tậ): gồm một số bài xướng họa với các nhà thơ thân hữu, từ năm 1996-1998.
8-Thơ vịnh danh nhân Việt Nam
9-Thơ Đường luật gieo vần trắc: 70 bài.
10-Sau cơn đau Mậu Dần (1998).
11-Tập hồi ký: gồm 3 thời kỳ:
-Tôi đi làm báo và phóng viên
-Tôi đi làm thợ xây dựng (sau ngày 30-4-1975)
-Dĩ vãng qua đi.
Mấy bài thơ trong tập Mậu Tý cảm tác:
Nhớ Về Quê
Tôi đi tha thẩn nhớ về quê
Xa cách bao năm mới trở về
Làng cũ thay tên nghe lạ hoắc
Đường xưa mất dấu thấy buồn ghê.
Ao đầm lấp hết – chia nhà ở
Hồ vực san bằng phóng lộ đi!
Dòng nước sông Hồng như nghẽn lại
Cát cồn nổi giữa ngập trăng khuya.
Mùa Hè 2008
Về Thăm Làng Cũ
Hai ngày lưu lại Đất Quê Cha
Thăm mộ Ông Bà, mộ Mẹ ta!
Mô đất vo tròn xuân hết lửa
Mảnh trời teo tóp Tết tàn hoa
Anh em xa khuất tình u uẩn
Chú bác không còn nghĩa nhạt pha
Giáp Ngọ Năm Tư sau Mẹ mất
Bỏ làng trốn chạy bọn quần ma!
(Đêm 10 tháng Giêng Mậu Tý)
Trang 10
Và bài sau đây, tác giả tặng tôi. Cũng vẫn là cảnh làng cũ của đất Bắc thời cũ, trước năm 1954. Nay không còn dấu xưa.
Đến Thăm Bạn
(Riêng tặng anh Khải Triều)
Đến bạn thăm nhau biết kể gì?
Cuộc đời biến đổi hợp phân ly
Sang Tây sống gửi trông trời biển
Rời Bắc ra đi nhớ Đất Quê
Làng mạc nghèo nàn xơ xác quá
Thôn trang hiu hắt lạnh lùng ghê
Lũy tre Ngày Trước đâu còn nữa
Miếu đổ, Chùa hoang, buồn tái tê.
Mùa Hè năm 2008
(Trang 44)
Chữ Tâm Trong Thơ Trần Nguyên Anh (*)
Anh Trần Nguyên Ánh và tôi có duyên hội ngộ từ năm 1960 tại Tòa soạn Nhật báo Dân Việt, đến nay, chỉ còn hai năm nữa là tròn 50 năm. Thời gian này kể dược là dài trong một đời người. Và có lẽ cũng ít có đôi bạn tâm giao như chúng tôi, thời gian dài như thế,, với những biến cố cuộc đời mỗi người, chảy theo dòng xoáy của thời cuộc, của đất nươc, hai chúng tôi hầu như vẫn có những cuộc gặp gỡ thân tình bên tách cà phê và có khi cả bên ly rượu nồng nữa.
Là bạn văn chương với nhau, nhưng chúng tôi không bận lòng đến chủ nghĩa này hay chủ nghĩa kia trong văn chương. Cái mà chúng tôi theo đuổi nhất, quan tâm tới nhất, đó là cách sống và cách thể hiện vai trò của người cầm bút trong thời đại của mình.
Sinh ra, lớn lên rồi già đi như lúc này, trong một bối cảnh của lịch sử dân tộc, gói gọn vào con số 70 năm, đầy nước mắt, đau thương, hận thù và chiến tranh… của từng phận người và của cả dân tộc, của cỏ cây, nơi thôn làng, bờ giếng, cây đa và lũy tre đến đình miếu và phần mộ.
Người thi sĩ hôm nay và nhà chí sĩ một thời nào đó xa xưa đã hội ngộ với nhau qua bài ca dao tạm gọi là “Đêm buồn”:
Đêm qua ra đứng bờ ao
Trông cá, cá lặn, trông sao, sao mờ.
Buồn trông con nhện chăng tơ,
Nhện ơi, nhện hỡi, nhện chờ mối ai?
Buồn trông chênh chếch sao mai,
Sao ơi, sao hỡi, nhớ ai sao mờ?
Đêm đêm tưởng giải Ngân hà
Chuôi sao Tinh đẩu đã ba năm tròn?
Đá mòn nhưng dạ chẳng món
Tào Khê nước chảy hãy còn trơ trơ!
Tùy theo nhận thức của mỗi người mà bài ca dao này được hiểu như đó là nỗi lòng của một nhà ái quốc đêm ngày chờ mong minh chủ xuất hiện. Có người hiểu bài ca dao là nỗi lòng của của một người tình nhớ người tình. Điều này không phù hợp với bối cảnh của bài ca dao. Riêng tôi, nài ca dao làm tôi liên tưởng đến mấy câu thơ của Bà Huyện Thanh Quan:
Nhớ nước đau lòng con quốc quốc
Thương nhà mỏi miệng cái gia gia
Dừng chân đứng lại trời non nước
Một mảnh tình riêng ta với ta.
Sở dĩ tôi nhắc đến bài ca dao “Đêm buồn” và 4 câu thơ của Bà Huyện Thanh Quan trong bài “Qua Đèo Ngang” là vì xét về chữ Tâm trong thơ Trần Nguyên Anh, ông đã bộc lộ nỗi lòng của mình với nước non không chỉ trong một vài bài, mà là trong rất nhiều bài, đặc biệt trong hai tập: Nước Non Tâm Sự, Diễn Khúc Dân Tình. Tôi đã đọc được ở đây những đau thương của dân tộc Việt Nam kể từ thời kỳ kết thúc Chiến tranh Thế giới lần thứ hai (1939 – 1945), sau đó lại nổ ra cuộc chiến chống thực dân Pháp của Việt Nam và bây giờ ông vẫn đang tiếp tục:
Nhiều đêm thao thức đến canh ba,
Nhớ nước thương non, lại nhớ nhà.
Cha mẹ mất rồi nên thất thổ,
Anh em chia cắt phải vong gia.
(Hoài niệm 1998)
Nước và non hầu như không bao giờ thấy Trần Nguyên Anh dể cách biệt, như thể đó là hai thực thế khác biệt. Trái lại, hai thực thể hay hai chủ đề này trong thi ca của Trần Nguyên Anh, đã là một tương quan biện chứng. Nước loạn thì nhà không yên
Gió nào thương vách tranh thưa,
Mưa nào thương luống cải thưa trổ vồng.
Mấy dâu thương lấy mẹ chồng,
Bao giờ ngoại chủng thương đồng bào ta.
(Diễn khúc dân tình, 1990)
Nhưng một nỗi đau khác là từ người đồng chủng, người trong một nước gây ra:
Đau lòng đất nước Văn Lang,
Âu Cơ mẹ hỡi chan chan lệ sầu!
Trăm con của mẹ giết nhau,
Sứ quân ngày trước – Cờ lau úa vàng!
.
Công hầu! Khanh tướng vẻ vang,
Một nhà vinh hiển chất ngàn xương khô!
Sông Gianh Trịnh-Nguyễn vết nhơ,
Lại thêm Bến Hải đôi bờ cách ngăn!
Thoắt đi hơn hai mươi năm,
Bảy nhăm thống nhất khó khan chất chồng!
Xác người vỗ sóng biển Đông,
Hồn kêu ơi ới – chết không có mồ!
Ngàn thu theo sóng vật vờ,
Dạt trôi kiếp sống bơ vơ xứ người!
Mất Quê hương! Mất Đất trời,
Mất cha, mất mẹ suốt đời lang thang!
Làm dân Do Thái bốn phương,
Trông về Đất tổ Hùng Vương não nùng.
Bầu ơi! Thương lấy bí cùng,
Tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn.
Thơ sầu viết mãi ngổn ngang,
Viêt bao giờ hết bà ng hoàng nước non?
Thật thế, hai câu thơ cuôi trên đây diễn tả rất rõ nỗi lòng của tác giả với đất nước, mà chiến tranh là một nỗi ám ảnh khôn nguôi. Cho nên, ở Trần Nguyên Anh, đề tài này cơ hồ như một cảm hứng vô tận giãi bày cái tâm của ông đến từng số phận con người, đến từng ngọn cỏ, lều tranh. Hầu như Trần Nguyên Anh không bỏ qua một vấn đề gì có liên quan đến con người. Trần Nguyên Anh có những cảm xúc sâu xa và mạnh mẽ khi viết về chiến tranh, vì chiến tranh là sự hủy diệt, đẩy phận người đến nỗi khốn cùng thê thảm nhất, đắng cay nhất.
Tôi chưa đọc được ở một thi sĩ nào cùng thế hệ chúng tôi, sinh ra trong thập niên 30,40 trong thế kỷ 20 lại quan tâm đến những vấn đề thiết thân đến con người và nước non như Trần Nguyên Anh.
Trước ngày ông sang Canada sống với con cháu, ông đã trao cho tôi hầu như mọi tác phẩm thơ của ông và tôi đã ghi ở phần tác phẩm trên đây.
Rồi năm 2008 ông về nước, Trần Nguyên Anh lại trao cho tôi tập Mậu Tý cảm tác (2008), hơn 60 bài và 2 bài cũ đã đăng trên tờ Nhật báo Tự Do năm 1959. Trong số hơn 60 bài này, nhiều nhất là ở vị trí tác giả là “du khách”, thấy sao nói vậy, cảnh trí nước non Việt Nam ngày nay (25 bài), như thăm Yên Tử, Côn Sơn, Tây thiên thiền viện (ở Vĩnh Yên), đền thờ Bát Đế (ở Đình Bảng, Bắc Ninh), thăm chùa Lim, Kinh Bắc, thăm Đầm Vạc (Vĩnh Yên), qua ga Hàng Cỏ (Hà Nội), qua Đèo Cả (Phú Yên), qua đèo Hải Vân (3 bài), qua Quảng Trị, cầu Hiền Lương, qua Đèo Ngang, nhớ Bà Huyện Thanh Quan, từ giã thành Vinh cảm tác, trên bãi tắm Cửa Lò (Nghệ An), ra Kinh Bắc, thăm Hà Nội.
Đề tài thứ hai là “Quê nhà”, 9 bài rồi đến “Tâm sự người ra đi”; “Tâm sự với nước non”; “Dân tình ngày nay”; “Tâm tư”; “Thời sự”.
Trong các đề tài này, nước non vẫn là chủ đề trong suốt hơn 60 bài thơ, đến cả đề tài Quê nhà hay nhập vai du khách trong suốt chuyến đi nhiều ngày của lần về thăm nhà năm 2008. Bài nào tôi cũng thấy Trần Nguyên Anh trải rộng cái tâm của mình ra, giãi bày với cảnh trí thiên nhiên, với quê nhà, với người thân.
Trở về thăm lại Đất Quê tôi
Hồi tưởng xa xưa có một thời
Hoa gạo đỏ lừng rơi trước ngõ
Lũy tre xanh biếc bóng nghiêng trời
Nhà xưa mất dấu – đầm ao lấp
Đường cũ không còn ruộng cát bồi
Mậu Tý soi gương đầu đã bạc,
Ngậm ngùi tâm sự mảnh trăng trôi,
Đêm 10 tháng Giêng Mậu Tý 2008
(Bài Về quê hồi tưởng, trang 11)
Trong những bài viết về Sài Gòn sau này, xin giới thiệu bài: “Sài Gòn ơi! Sài Gòn ơi!”:
Sài Gòn đẹp lắm! Sài Gòn ơi!
Đổi chủ thay tên, Nước ngậm ngùi
Băc Mỹ quê người – trông tuyết đổ
Việt Nam Đất Mẹ, ngắm mây trôi
Nhớ về miền Bắc buồn hay tủi?
Bỏ lại trời Nam khóc lộn cười!
Gởi trọn Tình Quê vào Sách sử
Mang sang Bắc Mỹ – Sài Gòn ơi!
(Tháng 4/2008)
Bài “Kiếp sống dân nghèo” (2), tác giả viết:
Nước Việt ba phần dẫu đổi thay
Cầu đường mở rộng – building đầy
Dân nghèo thành thị không nhà ở
Dân khó nông thôn chẳng ruộng cày
Chồng vợ cha con đi khiếu kiện
Anh em cô bác sống chua cay!
Lang thang lếch thếch đi cùng khắp
Phố chợ rừng thiêng – Đảng có hay?!
(Mùa hè 2008)
Càng đọc thơ của anh, tôi càng thấy chất chứa một tâm sự, một cõi lòng, một cái tâm đối với nước non, với quê nhà và với phận con người trong thời đại của mình, một thời đại nhiều gian lao và đau khổ.
——————
(*) Bài Chữ tâm trong thơ Trần Nguyên Anh trên đây, tôi gửi cho trang báo điện tử NewVietArt, Pháp và đã đăng sau đó. Khi tôi được anh Trần Nguyên Ánh trao tặng tập Mậu Tý cảm tác thì thấy có bài này in ở đầu tập thơ. Khi in lại ở sách này, có sửa một vài chỗ.
Khải Triều
Sài Gòn – Việt Nam
Tháng 5-2008
Mấy bài thơ khác trong tập Mậu Tý cảm tác:
Nhớ Về Quê
Tôi đi tha thẩn nhớ về quê
Xa cách bao năm mới trở về
Làng cũ thay tên nghe lạ hoắc
Đường xưa mất dấu thấy buồn ghê.
Ao đầm lấp hết – chia nhà ở
Hồ vực san bằng phóng lộ đi!
Dòng nước sông Hồng như nghẽn lại
Cát cồn nổi giữa ngập trăng khuya.
Mùa Hè 2008
Về Thăm Làng Cũ
Hai ngày lưu lại Đất Quê Cha
Thăm mộ Ông Bà, mộ Mẹ ta!
Mô đất vo tròn xuân hết lửa
Mảnh trời teo tóp Tết tàn hoa
Anh em xa khuất tình u uẩn
Chú bác không còn nghĩa nhạt pha
Giáp Ngọ Năm Tư sau Mẹ mất
Bỏ làng trốn chạy bọn quần ma!
(Đêm 10 tháng Giêng Mậu Tý)
Trang 10
Chiều Về Quê Mẹ
Chiều về quê Mẹ nhớ ngày xưa
Có lũy tre xanh ngọn gió đùa
Kẽo kẹt võng đưa đầy ấn tượng
Vi vu sáo thổi đẹp như thơ
Đầm sen lá biếc hương thơm thoảng
Đồng lúa bông vàng nhụy ngát đưa
Thong thả trâu nằm nhai lại cỏ
Hoa soan đầy lối – sóng trăng mơ.
(Tháng 2-2008, tr.26)
Và bài sau đây, tác giả tặng tôi. Cũng vẫn là cảnh làng cũ của đất Bắc thời cũ, trước năm 1954. Nay không còn dấu xưa.
Đến Thăm Bạn
(Riêng tặng anh Khải Triều)
Đến bạn thăm nhau biết kể gì?
Cuộc đời biến đổi hợp phân ly
Sang Tây sống gửi trông trời biển
Rời Bắc ra đi nhớ Đất Quê
Làng mạc nghèo nàn xơ xác quá
Thôn trang hiu hắt lạnh lùng ghê
Lũy tre Ngày Trước đâu còn nữa
Miếu đổ, Chùa hoang, buồn tái tê.
Mùa Hè năm 2008
(Trang 44)
TRẦN NGUYÊN ANH –
Tiếng Kêu Đau Thương Trong Nền Thi Ca Việt Nam Hậu Bán Thế Kỷ XX
Trên đây là nhan đề cuốn sách tôi viết về thơ của anh Trần Nguyên Anh. Có hai phần: một phần giới thiệu các chủ đề trong thơ Trần Nguyên Anh, như: Thơ trào phúng, trước và sau năm 1975, thơ trữ tình, gồm tình nhà, tình quê hương, tình non nước, tình thiên nhiên, tình bạn hữu. Sau đó là thơ viết về chiến tranh, viết về các vấn đề của xã hội. Trần Nguyên Anh còn có những bài thơ vịnh các danh nhân Việt Nam và Trung Quốc. Viết về bất kỳ nhân vật lịch sử và danh nhân nào, tác giả đều lột tả được chân dung của họ, rất đáng nể. Còn một phần khác là về tác giả, như gia phả, anh chị em trong nhà, đến các con của tác giả. Ở phần này, tôi viết về “Nhân sinh quan của tác giả Trần Nguyên Anh”.
Tôi gửi cuốn sách này cho trang báo điện tử NewVietArt. Trang mạng này đã đăng tải tất cả 9 kỳ, kể cả phần kết, nhưng lúc này (2025) mở ra thì thấy không có phần thơ trào phúng, Phần A, chỉ có Phần B thơ Trữ tình, Kỳ 3. Dưới đây là những trang dẫn từ trong bản thảo viết tay và một vài trang về thơ trào phúng của Trần Nguyên Anh. Nhưng, trước hết là Lời Mở.
Lời Mở:
(Có sửa)
Cách nay khoảng mười năm, anh Trần Nguyên Anh mang lại nhà cho tôi coi mấy tập thơ ông vừa làm xong, trong đó có hai tập Nước Non Tâm Sự và Diễn Khúc Dân Tình, cả hai đều là trường thiên, dài đến mấy ngàn câu, cùng lấy năm 1945 làm cái mốc thời gian cho sáng tác, kéo dài đến cuối năm 1989, 44 năm. Đối với một đời người, thì như người xưa nói “bảy mươi đã là quý”, thì 44 năm đã là nửa đời người, mà đây là một giai đoạn có quá nhiều biến cố đau thương xảy đến cho đất nước và cho đồng bào cả ba miền, vừa do ngoại nhân khác màu da vừa do người trong cùng dòng máu và màu da. Bây giờ, nhân loại đã bước vào năm 2000, mà thù hận nhau, chia rẽ nhau vẫn chưa hàn gắn được. Đó là một di sản chẳng ai muốn có và muốn để nó cứ diễn ra mãi, vì nó chỉ mang lại mất mát về tình đoàn kết và sự thân tình của nhau. Nó cho thấy, xã hội ấy thiếu văn minh, thiếu nhân văn. Một xã hội như thê, hỏi ai là “kẻ sĩ”? Thời đương đại không còn “kẻ sĩ” như thời Cha, Ông mình. Nhưng, vẫn còn có những nhà thơ, những thi sĩ vốn nhận cái đau của dân tộc, của Tổ quốc, của người bần cùng, người đau khổ, nghèo đói làm cái đau của mình. Chúng tôi không tiện nói ra, nhưng độc giả có nhận thức, có lòng mộ mến văn chương và thi ca, hẳn cũng thấy được trong sách này, bóng dáng của những nhà thơ hay nhà văn có tấm lòng tha thiết người cùng khổ.
Nhà thơ Trần Nguyên Anh đã tỏ bày với tôi về việc ông làm thơ, cụ thể là hai tập ông đã trao gửi cho tôi. Ông lặp đi lặp lại nhiều lần, việc ông ngồi thâu đêm, từ ngày này đến ngày khác, mượn vần thơ, cho dù rất mộc mạc, để giãi bày tâm tình của mình qua những biến cố trong suốt 44 năm trường ấy, chỉ với mục đích lưu lại cho đời sau về một thời đại mà chính ông đã sống hay đã trải qua. Trong đó, ông không phải là người đứng bên lề, mà thật sự vừa là nạn nhân vừa là chứng nhân.
Là nạn nhân của thời thế: Ngay những dòng thơ đầu tiên của tập Nước Non Tâm Sự, ông đã viết:
Mấy lời ta viết cho con,
Bài thơ Tâm sự nước non một mình
Bốn Nhăm (1945) cha bị cực hình
Là chứng nhân của thời đại: Những dòng thơ đầu tiên của tập Diễn Khúc Dân Tình, tác giả viết:
Kể từ Ất Dậu đến nay (1985)
Bốn mươi năm chẵn đổi thay mấy lần
Trào nào cũng khổ thằng dân
Sưu cao thuế nặng áo quần tả tơi
Ta buồn nhiều lúc lệ rơi
Giở trang sử cũ tiếp lời diễn ca.
Bốn Nhăm Mồng chín tháng Ba
Nhật đảo chính Pháp nước ta đổi đời.
Và cứ thế, tác giả diễn lại toàn bộ những biến cố, những sự kiện của lịch sử dân tộc. Vì thế, Trần Nguyên Anh là nhà thơ đầu tiên tôi biết trong giai đoạn này, đã dùng thi ca để viết lịch sử. Nói một cách chính xác hơn thì đó là cách mang tâm tình viết lịch sử. Và tôi đã nói với Trần Nguyên Anh: “Tôi sẽ viết về “tâm sự” của anh với nươc non và với những đau thương của người dân Việt, chẳng có ai đã để nhiều suy nghĩ về “nước non” và về “dân tình” như thế”. Tôi thấy thân phận tôi cũng nằm đâu đó trong những tập thơ của ông. Trần Nguyên Anh đã đem tâm tình để viết lịch sử bằng thơ, thì tôi cũng thấy phải lấy tâm tình mà viết về thơ của ông. Chỉ có điều, Trần Nguyên Anh là chỗ thâm giao với tôi, nên không tránh khỏi điều thiên lệch, nặng nhẹ. Tuy nhiên, điều này cũng có cái hay của nó là nhờ sự thâm giao ấy, tôi có được cái may mắn là ông tâm sự với tôi nhiều lần về quan điểm và lập trường của ông đối với những gì đã xảy ra gây đau thương cho đất nước và người dân. Một phần nào trong những điều tâm sự ấy, tôi đã đem vào sách này.
Quả thực, tôi hơi tham lam trong việc trích dẫn nhiều bài thơ của Trần Nguyên Anh. Đấy là khi tôi gửi đi cho tờ báo điện tử, còn khi đem vào sách này, thì trích dẫn nhiều sẽ làm cho sách nặng nề. Cho nên tôi sẽ giảm số bài trích dẫn, tôi cũng đã làm thế ở các tác giả trước đây.
Về mục đích của tôi khi viết về tác giả Trần Nguyên Anh. Trước hết, tôi chỉ muốn trao tặng cho ông và gia đình, để đáp ơn tri ngộ giữa chúng tôi từ mấy mươi năm qua, nửa thế kỷ rồi. Tôi không nghĩ sách sẽ được in và bày bán như một món hàng rẻ tiền. Văn chương Việt Nam vốn rẻ như bèo từ thuở nào rồi! Nếu coi sách này như một món hàng rẻ tiền đem bày bán, thì đó sẽ là điều làm thương tổ đến tác giả Trần Nguyên Anh, vì ông đã viết nó với tim óc, với ruột gan và biết đâu, có những trang giấy bản thảo của ông có cả lệ sầu mỗi khi nhớ đến Mẹ Cha, nghĩ đến nạn nhà của ông. Cho nên, nếu sách này vì bất kỳ lý do gì mà được phổ biến, được trở thành một “tác phẩm văn học” thì đó là ngoài ý định của tôi. Thứ hai, tất cả những tập thơ của Trần Nguyên Anh được dùng để viết sách này đều còn là bản thảo, đánh máy hoặc viết tay của chính tác giả, ngoại trừ tập “Dĩ vãng bâng khuâng”, gồm những bài thơ trào phúng và trữ tình, được thu thập từ những bài báo cũ xuất bản ở Sài Gòn, trước ngày 30-4-1975. Đã có lần Trần Nguyên Anh dự định xuất bản tập thơ này, song bị từ chối cấp giấy phép.
Viết quyển: Thơ Trần Nguyên Anh-Tiếng kêu đau thương trong nền thi ca Việt Nam hậu bán thế kỷ XX, tôi không coi kỹ thuật sáng tác của Trần Nguyên Anh là một vấn đề để đánh giá thơ của ông hay như thế nào, dở ở những điểm nào. Mặt này, xin dành cho những nhà nghiên cứu văn học chuyên biệt. Còn với tôi, vấn đề cảm thụ văn học là điều không thể lướt qua, nó phải đến với người đọc trước tất cả các yếu tố về nghệ thuật dùng ngôn từ…Vì những điều này đến sau việc cảm thụ một bản văn hay thơ.
(Khải Triều, 1995)
Một Vài Chủ Đề Trong Thơ Trần Nguyên Anh
Gồm có: trào phúng, nước non, chiến tranh, quê hương, tình nhà, bạn hữu, danh nhân, xã hội, tình yêu, thiên nhiên và chủ đề lịch sử. Trong các chủ đề này, đều có những khía cạnh khác nữa. Nhìn vào những chủ đề này, cũng có thể gọi đó là những đề tài trong thơ Trần Nguyên Anh, chúng ta cũng thấy được tấm lòng của tác giả, nhiều đề tài phát xuất từ cái tâm của ông đối với con người. Phải chăng, điều này ông chịu ảnh hưởng giáo lý nhà Phật. Người chị song sinh với ông là một ni sư đạo hạnh, trụ trì tại chùa Từ Nghiêm đường Bà Hạt, quận 10, Sài Gòn, pháp danh Như Hải. Tôi từng được ông dẫn lại chùa thăm bà chị ông và ở lại dùng cơm chay với nhà chùa, đặc biệt là vào ngày giỗ của các cụ thân sinh ra chị em ông.
Ở đây, tôi chỉ dẫn ít bài thơ của vài chủ đề trong thơ Trần Nguyên Anh.
A-Thơ trào phúng:
.Trước ngày 30 tháng 4 năm 1975:
Bài thơ trào phúng đầu tiên của Trần Nguyên Anh xuất hiện trên tờ Nhật báo Tự Do tại mục Đàn Ngang Cung, có tựa đề: “Đầu năm đi lễ chùa”, ký tên Ngứa Nhĩ, đã gây xôn xao trong giới Phật giáo vào thời kỳ 1959 tại Sài Gòn.
Sau này, trong tập thơ “Nước non Tâm sự”, khởi viết từ năm 1986 -1989, bản thảo đánh máy trang 25, tác giả đã đề cập tới chuyện này:
Bắt đầu năm tám (1958) mùa thu
Đi vào nghiệp bút làm thơ trữ tình
Chuyển sang trào phúng phê bình,
Bài thơ Đi lễ xuất hành đầu xuân
Gây nên một trận sóng ngầm
“Bảo ta là gã vô thần thoát ly”
Sự thật sai đúng lời kia
Hà quân biết rõ viết gì ở đây?
Hà quân trong câu cuối trên đây tưc là Hà Thượng Nhân, phụ trách mục Đàn Ngang Cung trên nhật báo Tự Do, đã cho đăng bài thơ này. Theo Trần Nguyên Anh viết trong tập “Nước non Tâm sự”, ông làm bài thơ “Đầu năm đi lễ chùa” là nhằm “phê bình những kẻ tu hành giả dạng, những kẻ đi lễ chỉ cầu tài, khấn lợi…Bài thơ đó bị hiểu một cách phiếm diện, nên Tổng hội Phật giáo lúc bấy giờ, Hội chủ là Hòa thượng Thích Tịnh Khiết, kiến nghị lên Tổng thống Ngô Đình Diệm đưa tác giả ra tòa về tội phỉ báng Phật giáo và cho tác giả bài thơ ấy là cán bộ cộng sản (Nước non Tâm sự, trang 25 phần chú thích). Bài thơ “Đầu năm Đi lễ chùa” cho thấy một ngòi bút châm biếm mới trong làng báo ở Sài Gòn lúc bấy giờ. Tác giả không ngại sử dụng những từ ngữ nhằm phê phán cách gay gắt, những thói tục giả dối của con người trong khi chiêm bái và cầu khấn Phật.
Bài thơ “Đầu năm Đi lễ chùa” đã đưa tác giả của nó đi vào làng báo tại Sài Gòn một cách vững vàng, khởi sự cho nghiệp văn chương của ông..Năm 1960, nhật báo Dân Việt ra đời, do ông Phạm Văn Hiền làm chủ nhiệm, Trần Nguyên Anh được mời cộng tác, phụ trách mục thơ trào phúng “Trật Đường Rầy”, lấy bút hiệu là Ngứa Nhĩ.
Bài thơ Đầu năm đi lễ chùa
Mấy đứa đầu năm đến lễ chùa
Đứa thì niệm Phật, đứa Nam mô
Đứa cầu cửa Nải đầu nhô nhổm
Đứa ước chồng con đít gật gù
Đứa vái sau sư tay ái bẻ
Đứa ngồi cạnh tiểu mắt tình đưa
Đứa về đứa lại đông như hội
Đấy ngọn cờ nheo gió phất phơ
Thằng lưỡi
Lưỡi không xương nhiều đường lắt léo
Mồm không vành mồm méo lung tung
Khôn ngoan nên vị anh hung
Đần ngu dại dột khốn cùng vì mi!
Nay đang buổi loạn ly láo nháo
Lưỡi tha hồ quay đảo đong đưa
Biết điều gọi dạ bảo thưa
Vợ con sung sướng say sưa rượu chè!
Lưỡi cứ thẳng chẻ hoe ăn nói
Thì đời tàn khan gói lang thang
Làm anh lãng khách ương gàn
Chu du thiên hạ đói tràn tả tơi!
Dẫu biết thế nhiều người họ vẫn
Đem tấm lòng thẳng thắn bàn ngang
Lưỡi này chẳng thích giàu sang
Chỉ mong được sống đàng hoàng tự do (!)
Bạn bè tốt thương cho là đủ
Chớ vắng nhau hót sỏ hót siên
Xun xoe bợ đỡ cấp trên
Lưỡi chơi ngầm vậy, anh em quá tồi
Đó là hạng lưởi dơi xỏ lá
Chuyên giở trò đểu giả lưu manh
Lòn lưng, gục mặt, nhe nanh
Hại người trung trực, chân thành, bạn ơi!
Ngán cho cái lưỡi thầy dùi!
Sau Ngày 30-4-1975:
Lên Chùa Đi Lễ (4)
Lên chùa đi lễ thấy người ta
Khấn vái cầu xin thành phú gia!
Vợ đẹp con khôn – vênh váo mặt!
Cửa cao nhà rộng mỡ màng da!
Oán thù chồng chất-lo vay trả!
Đâm chém tơi bời – hận toát ra!
Địa ngục do mình ai cứu được!
Tâm mê là giặc chẳng đâu xa!
Xuân Mậu Dần 1998
(Trong Đời vô thường)
Bài này tác giả dùng ý để mô tả những biểu hiện về một niềm tin tôn giáo của một thành phần xã hội. Hai câu hợp (7-8) tác giả chuyển sang y nhân quả của đạo pháp mà cũng là tư tưởng nhân bản. Kể từ bài “Đầu năm đi lễ chùa” năm 1959 đến bài trên đây, cách nhau 39 năm, cho thấy tư tưởng về tôn giáo của nhà thơ Phủ Vĩnh Tường vẫn nhất quán, nói được là sâu sắc hơn.
B-Thơ trữ tình:
Thơ trữ tình của Trần Nguyên Anh rất đa dạng, bao gồm các đề tài : Tình nhà – cha mẹ, anh chị, vợ chồng, con cái. Tình quê hương – hình ảnh quê hương của tác giả trong thời niên thiếu, với những hương vị của đồng quê, như hoa cau, hoa soan, hoa bưởi, bến đò và mùi quần áo mới trong ngày Tết Nguyên đán…Tình non nước – bằng tâm tình, ông ghi lại những giai đoạn lịch sử từ 1945 đến nay, trong đó ông không thể quên chiến tranh và những vấn đề xã hội, là hai tác nhân chính làm cho con người Việt Nam biến dạng, chai lỳ, ích kỷ và mất dần tính nhân bản.Hai đề tài khác trong thơ trữ tình của Trần Nguyên Anh là :thơ tình và thiên nhiên.
1. Tình Nhà .
Đây là một trong hai chủ đề quan trọng nhất trong thi ca của Trần Nguyên Anh. Tác giả không dành một tác phẩm nào nhất định cho chủ đề này, mà trái lại, nó được nói đến ở hầu hết trong các sáng tác của ông. Cụ thể, đó là các thi tập : Diễn khúc dân tình, Đời vô thường, Ly hương hoài cảm (2 tập), Nước non tâm sự, Dĩ vãng bâng khuâng.
Những cuốn này mới là một nửa gia tài thi ca của Trần Nguyên Anh, tuy nhiên đó là những tập quan trọng. Trong những tập này, tôi thấy tâm tư của ông dành cho gia đình, bao gồm cha mẹ, vợ chồng và con cái được ông hết sức yêu thương và chăm lo cho họ. Đặc biệt trong những giai đoạn sau ngày 30-4-1975.
Sau đây là bài mở đầu cho tập Ly hương hoài cảm 1 :
Suốt đời thương nhớ Mẹ Cha
(Thay lời tựa để kính dâng hương hồn Song Thân,
Thúc Bá, Bào Huynh và Bào Đệ của tôi)
Từ khi Mẹ mất đến nay,
Vào Nam ta sống những ngày nhớ thương !
Lại mang cái nghiệp Văn chương,
Câu thơ viết mãi nỗi buồn lê thê !
Đã đành ai cũng phải đi,
Nghĩ công Cha Mẹ chút chi báo đền !
Nên lòng sầu nhớ triền miên,
Khi nghèo sầu ít, làm nên sầu nhiều !
Đi đâu ta cũng mang theo.
Bóng hình Cha Mẹ như diều với dây.
Trời cao biển rộng bao đầy,
Cũng không sánh đặng công Thầy, Mẹ Cha.
Máu xương Cha Mẹ sinh ra,
Thầy cho cái chữ nở hoa cuộc đời !
Cho nên nay đã già rồi,
Đầu hai thứ tóc ta ngồi làm thơ !
Nhớ Cha nhớ Mẹ vô bờ,
Nhớ Thầy dạy chữ u, ơ ban đầu !
Ngọn đèn thao thức đêm thâu,
Vợ con an giấc ngủ sâu êm đềm.
Ta ngồi ôm bóng trăng nghiêng,
Tưởng như Cha Mẹ còn bên cạnh mình.
Mơn man làn gió vô hình,
Thì thầm hiểu hết thâm tình của ta !
Suốt đời thương nhớ Mẹ Cha !
Đêm 19.7 Ất Hợi (1995)
Câu thứ 4 tính từ dưới lên, tác giả dùng chữ “còn” rất khéo và hay, nó biểu lộ được hết tâm tư mà ông đã trải ra trong bài thơ, nó cũng hợp với tựa đề “suốt đời…”.Tôi hơi khựng lại khi đọc đến chữ này. Và tôi thử thay vào chữ “ỡ” : ở bên cạnh mình.
Chữ “ở” là vần trắc, hơi khó đọc. Chữ “còn” mới đích thực là Trần Nguyên Anh trong tình tự của ông với song thân mình. Riêng với mẫu thân của ông, tác giả mô tả người mẹ của mình đến từng chi tiết trong cuộc đời của bà như Trần Nguyên Anh. Bà như vẫn còn ở đâu đó chung quanh ông, nhất là trong cõi lòng sâu thẳm của ông. Vì vậy, những gì thuộc về người mẹ, những gì là của mẹ, tác giả đã kể ra với chúng ta, để những ai có mẹ sinh vào cuối thế kỷ XIX hay đầu thế kỷ XX mà bây giờ đã không còn, có dịp mà nhớ mẹ. Đó chẳng phải là điều hay, rất hay sao !
Dưới đây là hình ảnh người mẹ của Trần Nguyên Anh, tác giả vẽ lại người thiếu nữ Việt Nam ở nông thôn thời xưa, từ thời con gái cho đến khi có chồng có con, thật là kheo:
Cho người mai sau
Xuân thời con gái Mẹ tôi,
Quai thao nón nhị – áo dài tứ thân !
Bên trong áo cánh đồng lầm,
Cổ xây cái yếm trắng ngần trúc bâu !
Làm ruộng cái váy vải nâu,
Chơi xuân quần lãnh láng màu chéo go !
Thắt lưng bỏ múi thật to,
Cái bao ruột tượng Mẹ cho đựng tiền.
Bên sườn xà-tích làm duyên,
Ống vôi một chút – que têm lá trầu !
Cái khăn mỏ quạ bịt đầu,
Răng đen cắn chỉ – lâu lâu vấn trần !
Tóc dài chảy chấm gót chân,
Như giòng suối nhỏ mỗi lần Mẹ tôi,
Gội đầu xõa tóc hong phơi,
Gió rung nhè nhẹ bên người như tơ.
Mượt mà sợi nắng đong đưa,
Mẹ cầm lược gỡ – khẽ lùa tóc đen !
Khô rồi Mẹ tạm quấn lên,
Đuôi gà để chút làm duyên thật tình !
Má hồng ửng đỏ xinh xinh,
Không son không phấn gái thành đâu thua !
Đến khi đủ tuổi lên chùa,
Mẹ không ăn mặc như xưa nữa rồi !
Cho con tất cả cuộc đời,
Cho chồng tất cả cái thời xuân xanh.
Cho đời tất cả hy sinh,
Nhọc nhằn năm tháng tấm hình héo hon.
Lưng còng, tóc bạc, lòng son,
Một đời chung thủy nước non vững bền !
Mắt mờ, chân chậm đêm đêm,
Mẹ ru cháu ngủ cho quên nỗi buồn !
Chiến tranh mất mát đau thương,
Cha, chồng, con, cháu lên đường đánh Tây.
Năm nhăm con phải vào đây,
Tha hương càng nhớ các ngày ấu thơ.
Nhớ quên biết đến bao giờ,
Nghiêng đầu tóc cũng phơ phơ bạc rồi!
Ngổn ngang man mác việc đời,
Bên đèn ghi lại cái thời Mẹ tôi !
Dở hay cũng được mấy lời,
Gọi là di bút cho người mai sau !
Đầu năm 1996
(Trong : Ly hương hoài cảm 2)
Người Mẹ của Trần Nguyên Anh lớn lao quá, bao phủ lên tâm tư và cả cuộc đời của ông. Đi đâu, làm gì, ông cũng đều kể lể tâm sự về Mẹ, với Mẹ như thể bà còn sống và đang đọc thơ của ông :
Não lòng con lắm, Mẹ ơi,
Từ khi Mẹ mất cuộc đời của con !
Ruột gan sầu héo ron ron,
Tha hương ngàn dặm mỏi mòn nhớ thương.
Tái tê muôn khúc đoạn trường,
Phong trần gió bụi chán chường xuân sang !
Trích bài : Mây ngàn lãng đãng
(Trong : Ly hương hoài cảm 1)
Trên đây là 6 câu đầu của bài Mây ngàn lãng đãng. Những câu sau đó, tác giả giãi bày với Mẹ đoạn trường của mình, kể từ khi ông “xuống tàu vào Nam” theo dòng người “di cư” năm 1954-1955.
Người ta tự hỏi, đằng sau những nỗi nhớ thương Mẹ Cha cơ hồ như không bao giờ dứt, không bao giờ phai nhòa trong lòng tác giả, là gì ? Chắc hẳn phải có một nguyên nhân sâu xa hơn, trắc ẩn và đau thương hơn cái lẽ thường tình của kẻ ly hương, xa nhà.
Một con người chân thật như Trần Nguyên Anh, cái chân thật đôi khi trong giao tế, không phải là không có ngộ nhận. Mặc dù thế, ông vẫn bộc lộ nó, một cá tính mạnh mẽ, ngay thẳng ngay trong cuộc sống thường nhật cũng như thể hiện nó trong thi ca của ông. Cho nên đi tìm nguyên nhân sâu xa, trắc ẩn và đau thương của ông qua những bài thơ viết về người mẹ của ông, không có khó khăn gì. Chỉ có điều, xã hội đương thời vẫn không muốn người khác nói đến nó. Đấy là một lẽ cho thấy xã hội Việt Nam hiện giờ còn một nỗi u uẩn, chưa cởi mở, con người vẫn còn phải thu nhỏ mình lại trong giao tế bạn bè, giữ lời ăn tiếng nói, vẫn còn tình trạng nghi kỵ lẫn nhau.
Riêng với tôi, ông Trần Nguyên Anh đã nhiều lần nói cho tôi nghe, về một nỗi đau không chỉ của riêng gia đình ông mà là của cả một dân tộc. Bây giờ ông đã bộc lộ trong thơ và như thế là ông đã trao cho người đọc, hôm nay và mai sau :
Mấy trang dông dài
Bầm ơi ! Con nhớ thương Bầm,
Mỗi năm mỗi độ hè xuân con về.
Thăm Bầm mấy bữa con đi,
Một hình một bóng canh khuya Bầm buồn.
Trong khi đất nước quê hương,
Chiến tranh khói lửa bốn phương ngất trời !
…
Chín năm kháng chiến tuyệt vời,
Hòa bình lập lại chưa vui đã buồn !
Sục sôi trong cảnh đấu trường,
Mẹ ta ngã gục vì vương tội giàu !
Có dăm mẫu ruộng con trâu,
Nhà ngói cây mít, ao sâu mảnh vườn !
Quanh năm rau muống chấm tương,
Vại cà chĩnh mắm, cơm thường độn khoai.
Khác gì ăn uống trường trai,
Đi tu thờ Phật ở nơi chùa chiền.
Thịt thà, giỗ Tết cưới xin,
Mới hay vài miếng, gan tim gọi là !
Thế mà mắc tội toàn gia,
Cháu con địa chủ, ông cha mấy đời !
Bóc lột, ăn bám, trời ơi !
Khảo tra đầy đọa chết phơi nắng nồng.
Con mất cha, vợ mất chồng,
Anh em ruột thịt thấy không được cười !
Mới hôm nào đó Mẹ tôi,
Là Mẹ liệt sĩ được đời tôn vinh !
Hai trai, một rể hy sinh,
Đánh Tây mất tích đã kinh hoàng liền,
Sân đình đốt đuốc đêm đêm,
Trống khua, mõ đánh, giết tên tử thù !
Tôi từ Hà Nội thủ đô,
Về quê bị bắt giam vô chuồng bò !
Truy khai đủ thứ đủ trò,
Trâu vàng, cóc bạc, mâm to, nồi đồng !
“Tội cao hơn cả núi sông” !
Chất chồng mắc nợ nông dân lút đầu !
Ôi thương đau ! Quá thương đau !
…
Nhớ Bầm thơ viết miên man,
Dông dài tâm sự vài trang để đời …
Bính Tý 1996
(Trong: Ly hương hoài cảm 2)
Đây là một đề tài được tác giả nói đến nhiều lần trong các tập thơ khác nhau của ông, ngoài tập Ly hương hoài cảm 2 có bài trích dẫn trên đây, còn có Nước non tâm sự và Diễn khúc dân tình, nhất là trong tập Nước non tâm sự, khi đề cập đến cuộc sống của người dân, Trần Nguyên Anh cũng nhân dịp này nhắc lại cái nạn của gia đình mình, trong chiến dịch Cải cách Ruộng đất ở miền Bắc.
Mặc dù cùng nói đến một sự kiện ở một số tập khác nhau, song tác giả đều diễn tả một vài ý và các sự việc liên quan khác nhau. Nhưng dù sao vẫn không tránh được sự lặp lại cái tính chất chung của chủ đề là việc giới địa chủ bị đem ra đấu tố. Điều này tuy có làm giảm đi chính sự kiện mà nó là nguyên nhân gây cho tác giả những khắc khoải khôn nguôi về mẫu thân của mình, nhưng có lẽ Trần Nguyên Anh lại không mấy quan tâm đến mặt này, mà chỉ cảm thấy mình vẫn chưa nói hết được nỗi khổ trong cõi lòng mình về cái chết u uất của Mẹ.
Ở một vài đề tài khác cũng vậy, như “nước non”, “dân tình” cuộc sống đau thương và quẫn bách của người dân suốt trong cả hai cuộc chiến trải dài ra khắp Đông Dương, hay khi viết về bạn hữu, Trần Nguyên Anh đều viết không chỉ một bài, nhưng là nhiều bài, mổi bài một dịp, một hoàn cảnh khác nhau.
Dưới đây là một dẫn chứng khác về đề tài “nạn nhà” của Trần Nguyên Anh. Ở đây, tác giả còn cho thấy “nhân tình thế thái” khi “dậu đổ” thì “bìm leo”. Cái lẽ thường tình này không biết có nên buồn hay nên tha thứ, tố cáo hay là một hành động dùng ngôn ngữ để “tải đạo”, cái đạo làm người, người lương thiện, công bình và bác ái.
Nhớ khi tất cả toàn gia,
Tan đàn xẻ nghé người ta giập bằm.
Cha thì chết thảm thương tâm,
Mẹ thì mắc nạn mất gần mấy năm.
Hai anh biệt tích mất tăm,
Cửa nhà bị vét cái tăm chẳng còn.
Chị em, chú bác bà con,
Bìm leo dậu đổ – nước non vô tình.
Đất kia cũng phải quặn mình,
Trời kia cũng phải bất bình xót xa.
Chim kia cũng phải kêu la,
Giun kia cũng phải quặn ra hóa người.
Hoa kia đang nở rã rời,
Cây kia đang đứng chặt đôi cũng buồn.
Gẫy cành héo lá khô xương,
Mà con người ác hơn muông thú rừng.
Mẹ ta hết khóc thương chồng,
Khóc con, thương cháu mất ông từ rày.
Thương con côi cút đọa đày,
Gái trai cháu chắt, đâu đây chín người.
Cả nhà góa bụa, mồ côi,
Cả nhà tan nát ngút trời xót xa.
( Trong: Nước non tâm sự,
từ câu 1822 đến câu 1844)
Đọc đến đây tôi chợt nghĩ đến việc Đảng CSVN “sửa sai” việc đấu tố thành phần địa chủ, và sau đó là việc trả thù giữa những người bị tố và những người theo lời mớm của cán bộ tố sai, tố điêu, tố cả ông tổ của dòng họ người ta, dù ông tổ ấy đã chết từ bao đời. Trong tình hình chung của toàn xã hội miền Bắc thời đó như vậy, không biết mẫu thân của nhà thơ Trần Nguyên Anh đã xử trí như thế nào ? Để biết việc này, tôi đã đọc hết các tập thơ của ông và cuối cùng tôi dừng lại ở trang thứ 7 của tập Nước non tâm sự, từ câu 187 đến câu 203.Nhưng trước hết xin điểm qua nguyên nhân dẫn đến việc sửa sai.
Chiến dịch Cải cách Ruộng đất ở miền Bắc phạm nhiều lỗi lầm, gây nên bao oan ức trong nhân dân, kéo dài suốt mấy năm liền có nơi từ 1950 và đợt chót kết thúc vào cuối tháng 7 năm 1956, gọi là đợt Điện biên phủ. (Về Chiến dịch này, chúng tôi dựa theo cuốn : “Trăm hoa đua nở trên đất Bắc”, do tủ sách Mặt trận Bảo vệ Tự do Văn hóa, Sài-Gòn 1959, Phần I Chương I)
Bây giờ đọc lại mấy trang sử đau thương này, chúng tôi tự hỏi : Nếu như không có việc Stalin bị hạ bệ trong Hội nghị lần thứ 20 của Đảng Cộng sản Liên sô, không có các vụ nhân dân nổi dậy ở Poznan (Ba Lan ) ngày 28-6-1956, và vụ Budapest (Hungary) ngày 23-10-1956, đã ảnh hưởng mạnh trong hàng ngũ lãnh đạo Đảng ở Hà Nội lúc bấy giờ, thì liệu Cộng sản Bắc Việt có chịu “sửa sai” chiến dịch không ?
Bởi vì, người “anh em vĩ đại” của họ là Trung Công lúc bấy giờ “đã hoàn thành chiến dịch Cải cách ruộng đất từ mấy năm trước khi Đệ tam Quốc tế ban hành đường lối mới nên tình hình chính trị tương đối đã được ổn định. Hơn nữa Trung Cộng đã thanh trừng hết mọi phần tử trí thức đối lập trong vụ án Hồ Phong nên nắm vững được tình hình nội bộ để đối phó với làn sóng cách mạng từ Đông Âu tràn sang. Trái lại, khi Mikoyan, sứ giả của điện Kremlin sang Hà Nội để giải thích về “tân chính sách” thì cuộc cách mạng ruộng đất ở miền Bắc còn đang dở dang, và đang ở giai đoạn chót và mạnh nhất. Đứng trước tình thế đó ông Hồ Chí Minh đành trì hoãn việc ban bố chính sách mới và cứ để yên cho cuộc đấu tố tiếp diễn, vì không có lý gì (theo lời ông Hồ) lại “dội một gáo nước lạnh vào đầu cán bộ”.
Vì để quá lâu mới mở “súp páp” nên khi mở thì hơi sì phải mạnh hơn. Những nỗi oan ức mỗi ngày một chồng chất thêm đã gây trong dân chúng một không khí căm thù đối với chế độ mỗi ngày một sâu rộng.
Đùng một cái, ông Trường Chinh, Tổng bí thư Đảng, ông Hồ viết Thắng, Thứ trưởng phụ trách Cải cách ruộng đất đột nhiên bị cất chức; ông Võ nguyên Giáp phải đứng ra thay mặt trung ương Đảng công khai thú nhận sai lầm và hứa hẹn sửa chữa. Tiếp đến là tin cán bộ tập kết phá bóp cảnh sát Bờ Hồ, tin học sinh tập kết khởi loạn ở Ngã tư sở, và cuối cùng là “vụ Quỳnh Lưu”.
Chiến dịch sửa sai bắt đầu bằng việc giải thích bằng báo chí và bằng “học tập” về quyết nghị của Hội nghị lần thứ 20 Đảng CSLX, trong đó có nói đến “bệnh tôn sùng cá nhân” và “chính sách tập thể”. Việc thứ hai là “hạ bệ” ông Trường Chinh và ông Hồ viết Thắng, và thả ra 12 ngàn đảng viên bị cầm tù vì bị quy lầm là địa chủ, trong số đó có nhiều người đã bị lên án tử hình.
Ở nông thôn các đảng viên đi họp phải mang búa theo để “thảo luận” với nhau. Những địa chủ được tha về, thấy tình trạng làng xóm như vậy, vội vàng chạy ra thành phố ở nhờ các gia đình “tiểu tư sản” hồi kháng chiến đã trú ngụ tại nhà mình.Các bần cố nông, chót nghe lời Đảng “tố điêu”, nay sợ bị rạch mồm, cắt lưỡi, cũng vội vàng chạy ra thành phố để đạp xích lô và đi ở. Vì vậy nên dân số ở Hà Nội, Nam Định đột nhiên tăng gấp bội và không khí căm thù ở nông thôn lan ra thành phố, lây cho công nhân, tiểu tư sản, sinh viên và trí thức.(hết trích)
Riêng mẫu thân của nhà thơ họ Trần, bà đã thể hiện tinh thần nhà Phật :
Tiếng thơm biển cả Mẹ hiền,
Nhìn lên đã có khuôn thiêng trên đầu !
Nên ai chẻ tóc gieo cầu,
Gây muôn tội ác Mẹ đâu thù hằn !
Mấy lần pháp luật muốn rằng :
Sát nhân đền mạng, từ tâm Mẹ cười !
Tha cho tất cả Đạo trời,
Tôi già tôi muốn con tôi vuông tròn.
Không thù không oán là hơn,
“Ở ăn lấy chữ nghĩa nhơn làm đầu”
Nghe lời Mẹ dạy từng câu,
Dẫu cho tuổi dại nghĩa đâu tận tường !
Dần dần đèn sáng bên gương,
Thấm lời Mẹ dạy coi thường lợi danh !
Sống nghèo giữ vẹn lòng thanh,
Câu thơ nên chép để dành người sau.
Thư nhàn đọc đến hiểu nhau.
(Trong :Nước non tâm sự
từ câu 187 đến câu 203)
Trần Nguyên Anh
Tình Non Nước Trong Thơ Trần Nguyên Anh
Nước non tâm sự và Diễn khúc dân tình là hai tác phẩm chính, tác giả Trần Nguyên Anh giãi bày tâm sự của mình với nước non.
Tập Nước non tâm sự viết từ năm 1986 đến 1989, gồm 4 chương với 2195 câu. Khởi đầu ông đặt bút xuống là đã nói về gia đình của mình. Tôi coi đây là một chủ đề chính trong thi ca Trần Nguyên Anh, trong nhiều biến cố lịch sử của dân tộc cũng như trong nhiều hoàn cảnh của tác giả. Nó như một nguồn cảm hứng lúc nào cũng chỉ trào dâng để kết thành tiếng thơ đau thương. Còn tập Diễn khúc dân tình, tác giả viết từ năm 1985 đến 1995, gồm 4 chương với 1856 câu. Cả hai tập này, tác giả viết theo thể lục bát.
Mặc dù đây là hai tác phẩm chính tác giả gửi gấm tâm sự của mình về non nước, song chủ đề này cũng thấy tác giả nói đến trong những tập khác, như Dĩ vãng bâng khuâng, Đời vô thường, Ly hương hoài cảm, 2 tập.
Tôi thao thức đêm nay không ngủ,
Nghe mưa rơi thương nhớ vợ con
Lại buồn đến chuyện nước non,
Bắc Nam chia cắt đã tròn tám năm !
(1962)
Bài : Nỗi buồn về đêm
(Trong : Dĩ vãng bâng khuâng)
Khi nói đến lịch sử của Việt Nam trong hơn nửa thế kỷ vừa qua, người ta đụng chạm đến những thương tích mà đến nay vẫn chưa lành được, ở cả hai phía với hai ý thức hệ mâu thuẫn. Đó là hai cuộc chiến tranh tại Đông Dương, nạn đói năm Ất Dậu (1945), chia cắt Nam-Bắc, hình thành rõ rệt hai lực lược đối kháng Quốc-Cộng, cách mạng ruộng đất ở miền Bắc, cho đến biến cố ngày 30-4-1975, đẩy cả triệu người vượt tuyến ra đi v.v…Tất cả đều được tác giả nói lên với một tâm tình của người yêu nước.
Ông không nghiêng về bên nào và cũng không đứng vào một tổ chức đảng phái chính trị nào. Ngay đến lãnh vực văn chương, ông cũng không theo một khuynh hướng nào. Ở đâu có bè phái, ở đó ông tìm đi. Vì thế người của phía nào đọc ông, hẳn không thể tránh được yêu hay ghét theo chủ quan. Ông thản nhiên. Vì ông chỉ có một mục đích duy nhất, là ghi lại bằng ngôn ngữ thi ca những gì đã xảy ra trong thời đại của mình, để người mai sau có đọc đến tất hiểu được tâm sự của ông.
Đó là ý của bài : “Làm sao xóa được vết nhơ !” trong tập Ly hương hoài cảm 2.
Bài thơ này có 31 câu, 8 câu đầu nối cả vần và ý được với 9 câu cuối bài, tạo thành một bài riêng khá hoàn chỉnh, nói lên cái tâm trạng của tác giả khi nhớ lại những biến cố xảy đến cho đất nước và cho gia đình ông. Còn đoạn giữa, tác giả nói đến việc xuống tàu di cư. Trên con tàu vượt đại dương mênh mông ấy, tác giả nhớ về cố hương, chỉ thấy “Sương đông gió bấc lạnh lùng…”
Ở đây xin giới thiệu cả bài 31 câu để thấy nét bút hoài cảm của tác giả, Trần Nguyên Anh.
Làm sao xóa được vết nhơ !
Biết bao nhiêu việc phải làm,
Nếu ta nấn ná thời gian qua rồi !
Buông tay nhắm mắt là thôi !
Nào ai hay biết cái thời của ta !
Sống trong bão táp mưa sa,
Sống trong ly loạn cửa nhà nát tan.
Sống trong giết chóc kinh hoàng,
Bắc Nam chia cắt dở dang tình đầu.
Tháng Giêng ta vội xuống tàu
Sau khi mẹ mất đớn đau vô cùng.
Trông về cố quận mịt mùng,
Sương đông gió bấc lạnh lùng chân mây.
Sông xàu núi chết bủa vây,
Biển gào sóng giận con tầu lênh đênh.
Đại dương bát ngát mông mênh,
Trên trời dưới nước quanh mình sao rơi !
Khói trăng ảnh ảo cuộc đời,
Ngổn ngang trăm nỗi rối bời ruột gan.
Tha phương kiếp sống lang thang,
Ruổi rong ngày tháng đi hoang cõi trần.
Cơm hàng cháo chợ không xuân,
Tóc xanh nhuốm bụi gian truân ngút sầu.
Một mình đèn trắng canh thâu,
Ta ngồi viết mãi ngàn câu thơ rồi !
Mà xem tâm sự bời bời,
Dù cho ta được thảnh thơi về già.
Nhưng mà thương nhớ Mẹ Cha,
Vẫn còn khắc khoải sơn hà chia đôi.
Linh Giang, Bến Hải hai thời,
Sử kia ai chép- Ngậm ngùi ngàn thu !
Làm sao xóa sạch vết nhơ ?
(1995)
Tuy nhiên, cái tình cảm của nhà thơ đất Phủ Vĩnh Tường đối với Nước non , không chỉ dừng lại ở cái tâm tư nặng trĩu u hoài về cảnh nhà đau thương, bởi vì ông cũng đặt mình vào hoàn cảnh chung của đất nước chiến tranh, phân rẽ, đói khát và thiên tai v.v…
Dưới đây là một bài thơ nói về vụ lụt năm Ất Dậu, tác giả chạnh lòng trước những bất hạnh của người dân.
Ngổn ngang tâm sự
Hôm nay lại đã vào thu,
Mùa thu Ất Dậu bao giờ ta quên !
Vỡ đê, chạy giặc suốt đêm,
Người người hớt hải réo tìm gọi nhau.
Nồi niêu bát chuyển lên cao,
Chó mèo, heo ngỗng lao đao cùng trời !
Gà bay tứ tán khắp nơi,
Lên cành cây đậu mưa rơi lạnh lùng !
Chỉ trong mươi tiếng là chừng,
Ruộng đồng trắng xóa mênh mông biển trời.
Trâu bò ngoi ngóp lội bơi,
Sóng xô, gió giật chết trôi bập bềnh !
Xanh xanh từng mảng lục bình,
Thiên tai địch họa dân tình xác xơ !
Nhà nhà đói rách láo lơ,
Kiếm ăn bắt ốc mò cua cả làng !
Lại thêm dịch tễ lây lan,
Trăm ngàn đau khổ bỏ làng kéo nhau
Lên rừng phá rẫy trồng rau,
Nhai khoai, nuốt sắn ốm đau gầy mòn !
Vàng da, sốt rét chồng con,
Lại về làng cũ chỉ còn da xương !
Năm mươi năm, ta vẫn buồn,
Bốn nhăm chết đói tai ương chất chồng.
Việt Minh khởi nghĩa thành công,
Sang trang sử mới, núi sông đổi đời !
Nay ta cũng đã già rồi,
Mất còn man mác, đất trời mông mênh !
Văn chương nặng một khối tình !
Thu Ất Hợi 1995
(Trong : Ly hương hoài cảm 1)
Non nước Việt Nam nhìn vào từ ngàn năm xưa đã là một giống nòi đấu tranh. Nhưng cũng thật huyền nhiệm, trong bao nhiêu là tang thương, bao nhiêu là cơ hàn, cùng quẫn, bao nhiêu là máu, nước mắt và xương khô thành sông, thành suối và núi đồi…Vây mà dân tộc dòng Bách Việt này lại trở nên một Văn Hiến chi bang ! Thời nào, giai đoạn lịch sử nào Dòng Giống này cũng xuất hiện những anh hùng kiệt xuất, chính trị có, quân sự có, văn học có v.v…Nhưng ở đây xin nói , chưa bao giờ chính trị trùm lấp sứ mệnh của Văn hiến. Vì chính trị chỉ là giai đoạn.
Nhà thơ Trần Nguyên Anh, trong tâm tư của ông, Nước non Việt còn câu ca giọng hát, còn lục bát, còn Nguyễn Du, còn Tản Đà v.v…
Câu thơ lục bát
(Kính dâng hương hồn hai cụ Nguyễn Du và Tản Đà)
TNA
Quê hương là núi là sông,
Là bài lục bát tuổi hồng thơm tho !
Là tiếng hát là giọng hò,
Là em đi học chữ O đầu đời !
Là anh là chị của tôi,
Là Kiều lận đận dập vùi bài thơ !
Mười lăm năm kiếp giang hồ,
Tiền Đường rửa sạch ai ngờ gặp nhau !
Tình chị trước, duyên em sau,
Ấy câu lục bát đổi sầu làm vui !
Là Nguyễn Du, cụ tuyệt vời,
Là đất, là nước, mẹ tôi, cha già !
Là Khắc Hiếu, cụ Tản Đà,
Là muôn triệu đóa mai hoa nở bừng !
Là xuân là Tết Vua Hùng,
Chẳng đâu có được điệu cùng thơ ta !
Đó là lục bát Tản Đà,
Đó là lục bát đậm đà Nguyễn Du !
Tháng 8 Ất Hợi 1995
(Trong : Ly hương hoài cảm 1)
Mấy bài thơ trích dẫn trên đây chỉ là những nỗi hoài cảm về Non nước của Trần Nguyên Anh, chợt xuất hiện ở đâu đó trong các thi tập bộn bề của ông, nó khởi phát từ một tâm tư đầy những khắc khoải về đất nước, về bối cảnh của một lịch sử mà ông là một nhân chứng. Xuất hiện đó, rồi lại chìm vào, ẩn khuất đi, để hòa nhập với cõi lòng u uẩn, mông lung, diệu dợi của một tình tự về gia đình.
Nếu nhìn một cách khái quát vào tình trạng gia đình Việt Nam từ mấy thập niên nay, nhất là từ sau khi Việt Nam hòa nhập vào dòng chảy với thế giới bên ngoài, trong xu hướng toàn cầu hóa, người ta thấy gia đình Việt Nam hiện đang có những biến chuyển mạnh mẽ, có những mâu thuẫn giữa các thế hệ trong cùng một gia đình, để từ đó, khách quan trong việc đánh giá quan điểm của Trần Nguyên Anh về gia đình. Có thể khẳng định, con tim và tình cảm của ông dành cho gia đình, là một yếu tố căn bản và rất quan trọng, nó là trụ cột bền vững đưa gia đình vượt qua những giai đoạn gian nan, nó tạo điều kiện để mọi thành phần trong gia đình thuận hòa, đùm bọc nhau và thăng tiến về mặt xã hội và tinh thần gia tộc là phẩm chất sắt son, như đá như non.
Cùng với tình tự gia đình, nỗi hoài cảm về Non nước của Trần Nguyên Anh còn thấy xuất hiện trong nhiều bài khác, nhiều đoạn thơ khác mang những nội dung riêng biệt, truyền cảm, để khẳng định tác giả rất nặng lòng với Nước với Non.
Chiến Tranh Trong Thơ Trần Nguyên Anh
Thế hệ của Trần Nguyên Anh là thế hệ của chiến tranh, cho nên ông đã là người lính, đã chứng kiến và trải qua những thời kỳ lửa đạn và chết chóc:
Loạn ly khói lửa lưng trời,
Tản cư chạy giặc rã rời quê hương !
Khắp nơi chết chóc đau thương,
Ruộng đồng hoang dại, xóm phường xác xơ !
…
Ruổi rong đi khắp sơn hà,
Sài-Gòn đã chán đi xa lại về !
Cao nguyên mưa gió lê thê,
Đồng bằng sông nước trăng khuya Bãi Xàu.
Bóng chiều đổ xuống sông sâu,
Con phà Vàm Cống qua cầu Nha Mân.
Vĩnh Long bến bắc dừng chân,
Tâm tình viễn khách mùa xuân bẽ bàng.
Buồn buồn ra biển Nha Trang,
Để nghe sóng vỗ trông sang rù rì.
Mồ hôi đẫm áo chia ly,
Làm thân lính chiến nghĩ gì tương lai ?
Trở lên Darlak lần hai,
Đêm nghe đại pháo rên dài từ xa.
Đường vào Gia Nghĩa phong ba,
Khói bom mù mịt thịt da tơi bời !
Đồi nào chồng chất xương phơi,
Suối nào nhuộm đỏ máu người Viêt Nam ?
(Trích từ bài Bàng hoàng nước non –
Trong: Ly hương hoài cảm 2)
Và sau một trận càn quét:
Còn bao nhiêu chuyện đêm đêm,
Sống thời ly loạn thắt tim giật mình.
Mở mắt ra lại còn kinh,
Trước cảnh chết chóc sinh linh ngập đồng.
Kẻ mất vợ người mất chồng,
Mất cha mất mẹ, mất ông mất bà.
Có làng chết sạch cả nhà,
Không ai chôn cất – giặc rà hung hăng.
Trên máy bay, dưới xe tăng,
Bộ binh đại pháo chúng giăng lưới cào.
Tiến ngang càn dọc thi nhau,
Đốt nhà đốt cửa ào ào lửa binh.
Lũy tre trơ gốc đau mình,
Thương măng nhớ lá khóc cành gẫy đôi.
Cây cam, cây ổi, đâu rồi ?
Cây chanh, cây quít giữa trời cháy da !
Cây bàng, cây mít hôm qua,
Giặc đà đốn ngã – mưa sa đất vùi !
Cây sung khô mủ trắng tươi,
Vì bom đạn chém gẫy đôi giữa vườn.
…
Đau thương nối tiếp đau thương,
Vắng hiu phố chợ, nát đường cái quan.
Trích trong: Diễn khúc dân tình
( từ câu 345-366 )
Nhưng cuộc chiến tranh gọi là kháng chiến chống thực dân Pháp ấy, không hoàn toàn là một cuộc khởi nghĩa, như bao cuộc khởi nghĩa khác trong lịch sử ngàn năm của dân tộc Việt. Thí dụ, cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng (40-43), của Lê Lợi (thế kỷ 15), của Hoàng Hoa Thám, Phan Đình Phùng, Nguyễn Thái Học v.v…. ở Bắc và của Trương Định v.v… ở trong Nam. Mục đích của những cuộc khởi nghĩa này là giành lại chủ quyền cho đất nước, đem lại cho dân chúng tự do, no ấm, hạnh phúc, là những quyền căn bản và cao quý nhất cho bất cứ một dân một nước nào.Tư tưởng chủ đạo của những cuộc khởi nghĩa này là lòng yêu nước thương dân của những nhà ái quốc. Họ thấy người dân chịu muôn vàn đắng cay, cơ khổ dưới quyền cai trị của ngoại bang, nên một lòng đứng lên chiêu mộ nghĩa quân, tiến hành kháng chiến, hoàn toàn do sức của mình. Mặc dù đã thất bại trước kẻ thù cuồng bạo xâm lược, song cái gương yêu nước thì ngàn năm vẫn sáng ngời, không bị bụi thời gian làm mờ đi
Trái lại, cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp vào thời kỳ 1945-1954 mặc dù đã thành công, song cuộc kháng chiến này không phải chỉ có một mục đích và một lực lượng tham gia trực diện chiến đấu. Cho nên, nhà thơ Trần Nguyên Anh đã nói và nói nhiều đến những thống khổ của người dân Việt Nam do bất cứ phía nào gây ra. Tuy nhiên, ở vị trí người trong cả hai thời kỳ chiến tranh, Trần Nguyên Anh đã thấy những tang tóc và đau thương của bên này hay bên kia gây ra, nó xuất hiện nhãn tiền trước mặt trời và trước con mắt của người dân, nên ông không thể nói chung chung được. Chẳng hạn, bên phía quốc gia, tác giả đề cập đến ông vua Bảo Đại, những người trong vị trí Thủ tướng chính phủ, như Nguyễn Văn Tâm, Trần Văn Hữu, hay ở vị trí quyền cao như Phan Văn Giáo, Nguyễn Văn Xuân (Thiếu tướng), Bảy Viễn v.v…Còn bên phía Việt Minh, tác giả đề cập đến những cái chết oan uổng và tức tưởi vì nghi cho là Việt gian, gián điệp hay vô tình bỏ nón lá trên đầu xuống vừa lúc có tầu bay bà già bay qua. Cử chỉ này được cho là một ám hiệu chung quanh đấy có du kích, để quân Pháp ném bom, và nhảy dù. Trần Nguyên Anh cũng không bỏ qua cảnh Sài-Gòn ăn chơi về đêm, mở sòng bài Kim Chung Đại Thế Giới, trong tay Bảy Viễn.
Ngòi bút của ông có lúc tàn nhẫn, không do dự khi đề cập đến những thảm trạng do bên này hay bên kia gây ra cho dân chúng đã khốn cùng lại khốn cùng hơn. Chiến tranh dù là với mục đích cao cả, nhằm mưu ích cho dân cho nước, song với thực tiễn chết chóc, bần cùng thì chiến tranh vẫn là tai họa, bất nhân đối với con người. Đó là mặt trái của nó. Vì thế, những phê phán của Trần Nguyên Anh trong khi mô tả những hậu quả của chiến tranh về tai ương giáng xuống trên con người và môi trường sinh sống của con người, nó trong sáng và mang những giá trị nhân văn.
Sau những năm 50, tức là sau chiến tranh thế giới lần thứ hai (1939-1945), báo chí có đăng một bản tin về tác giả quyển sách Giờ thứ 25. Tôi nhớ man mác rằng, khi tác giả người Lỗ-mã-ni này sang cư ngụ ở Pháp, ông chứng kiến những chuyện đau lòng xé ruột do con người gây ra cho con người trong lòng xã hội tư bản, nên ông đã phê phán nó gắt gao, nhưng ông đã bị phản đối. Ông bày tỏ nỗi chán chường, đại ý rằng, chẳng lẽ nhà văn chỉ được tố cáo tội ác một phía ! Sau đó, ông đi tu.
Chiến trận đi qua đâu, ở đó con người và cảnh vật chung quanh đều cùng một số phận: thảm thương, tiêu điều, khốn cùng, quằn quại.
Mịt mờ khói lửa chiến tranh,
Bom gào, đạn xé trời xanh thảm sầu.
Đồi xanh,núi đỏ, truông sâu,
Biến thành bãi trận, đỏ ngầu máu loang.
Xương phơi trắng xóa đồng hoang,
Bông xàu, cỏ úa, tóc tang một trời.
Đường đi vắng lặng bóng người,
Sân trường vắng bóng vui chơi học trò.
Bến quen vắng bóng con đò,
Đồng quen vắng bóng trâu bò lội qua.
Chùa quen vắng lạnh, sương sa,
Mõ chuông ai gõ, hôm qua giặc càn !
Cầu đường phá nát tan hoang,
Tù và báo giặc, dân làng tản cư.
Kẻ xuôi người ngược xác xơ,
Mẹ gồng con gánh bơ phờ tóc tai.
Mỏi chân gánh nặng đường dài,
Nồi niêu soong chảo gia tài bấy nhiêu.
Trước còn dắt díu trâu theo,
Sau con cũng bỏ – lưng đeo vết thù.
Trích trong: Diễn khúc dân tình
(Từ câu 108-127)
Cuộc kháng chiến chống Pháp, về phía Việt Nam, chúng ta có nhiều yếu tố đưa đến chiến thắng, ngoài yếu tố võ khí, đạn dược, chiến thuật tác chiến cũng như yếu tố địa thế, yếu tố tinh thần v.v…, còn một yếu tố không kém phần quan trọng, đó là “dân công”.
Trần Nguyên Anh đã mô tả việc này :
Tang thương khôn xiết kể ra,
Mạng người coi rẻ hơn là mạng giun.
Đêm đêm súng nổ đi đùm,
Ngày ngày đạn réo ì ùm, dân công.
Xe thồ uốn khúc như rồng,
Đoàn đoàn lớp lớp vượt sông băng ngàn.
Tải lương, tiếp đạn chiến trường,
Tải từng ký gạo, ký đường, cá khô.
Khi dãi nắng lúc dầm mưa,
Quản gì gian khổ ngủ bờ nằm gai.
Có người gánh nặng quằn vai,
Có người kéo súng tay chai máu bầm.
Có người vắt cắn sưng chân,
Có người sốt nóng hừng hừng vẫn đi.
Có người ong chém tê mê,
Có người đói lả không hề kêu than.
Vô vàn vất vả gian nan.
Trích trong: Diễn khúc dân tình
(Từ câu 255-271)
Chưa đầy mười năm sau cuộc kháng chiến chống Pháp, vết thương của con người trong toàn cõi chưa lành, lại tiếp đến cuộc kháng chiến chống “thực dân mới” là người Mỹ, mở màn vào năm 1960, kết thúc năm 1975. Trần Nguyên Anh lại một lần nữa làm người chứng của một giai đoạn lịch sử đấu tranh trên chiến trường, chính trường và trong ngành truyền thông, báo chí. Lần này ông mang trên người bộ áo chiến binh. Ngòi bút của ông vẫn không lệch về bên nào, mà lại còn đi vào những vấn đề sinh tử của cả hai bên. Làm như vậy, Trần Nguyên Anh cũng biết rằng chỉ thêm lận đận và đau khổ cho bản thân, nó đưa ông đến tính cách của những quan hệ biệt lập. Đấy chính là con đường ông đã thể hiện trong thi ca. Một phần nào nó giải thoát ông bao lâu ông chưa đạt tới con đường giải thoát trong tôn giáo.
Ôi ! buồn thay. Ôi ! chán thay,
Sầu ta chưa dứt, sầu này sầu chung.
Nước non khói lửa mịt mùng,
Bắc Nam chém giết chẳng ngừng đôi tay.
Công là đây ? Tội là đây ?
Dù thắng hay bại mai này sử ghi.
Riêng ta chẳng biết viết gì,
Nước non tâm sự não nề ruột gan.
Trong: Nước non tâm sự
(Từ câu 1005-1012)
Những bài thơ viết về chiến tranh của Trần Nguyên Anh còn nằm rải rác trong các thi tập khác của ông, tuy nhiên chủ yếu vẫn là ở tập Nước Non Tâm Sự, 4 chương 2195 câu. Và tập Diễn Khúc Dân Tình, 4 chương 1856 câu. Những lời phê phán gay gắt nhất, vẫn tập trung ở hai thời kỳ: 1945 và 1968. Còn một điều nữa cũng cần nói, đó chính là cách lãnh đạo, cách cai trị, cách điều hành cuộc chiến của phía Quốc gia, Bảo Đại và Nguyễn Văn Thiệu. Hai thời kỳ này, người Việt Nam, chính quyền Viêt Nam không nắm quyền chủ động. Cho nên xã hội cũng theo đó mà phân hóa, tệ nạn, đĩ điếm, con người biến chất. Điều thảm thương cho Dân tộc và Đất nước, những thành phần trong xã hội đã ngã quỵ trước một tương lai hầu như không còn tia sáng hy vọng, lại thuộc những thành phần lãnh đạo, một số trí thức, một số văn nghệ sĩ, và một vài vị của tôn giáo. Tất cả những điều này, đều là nỗi ray rứt của Trần Nguyên Anh.
Để khép lại phần này, xin giới thiệu với độc giả những câu thơ Trần Nguyên Anh viết về những ngày cuối cuộc chiến, tháng giêng năm 1973, khi đó ông công tác ở Đài phát thanh Sài-Gòn, lên Tây Ninh làm nhiệm vụ phóng viên. Ở bài này, ta cũng thấy nỗi lòng của tác giả.
Mùa xuân một chín bảy ba,
Hai lần ta đến Long Hoa Tây thành.
Trong khi khói lửa chiến tranh,
Ngùn ngụt lửa cháy trời xanh thảm sầu !
Trẻ già trai gái kéo nhau,
Chạy về Tòa Thánh đường đau đất quằn !
Hai bên bố trận dàn quân,
Giành dân lấn đất rần rần khắp nơi.
Nước non rách nát tơi bời,
Rừng loang máu đỏ xương phơi trắng ngàn !
Công tâm ai cũng than van,
Nồi da xáo thịt giang san chia lìa !
Sông Gianh ngày trước còn kia,
Ngày nay Bến Hải não nề ruột gan.
…
Công hầu, khanh tướng, quân vương,
Làm nên sự nghiệp đống xương đã đầy !
Nhớ lại ta viết gì đây ?
Thơ nào xóa được khói bay mù trời !
Bạc đầu vẫn dại mà thôi,
Viết ra, viết để mà chơi đó mà !
Lòng riêng riêng nhớ Mẹ Cha,
Sáu mươi hai tuổi vẫn là trẻ con !
Tây Ninh một mảnh nước non,
Bà Đen sừng sững một hòn núi xanh.
Hoàng hôn đổ xuống mong manh,
Giáng vàng lãng đãng Tây thành nhớ thương.
Từ Nam ra Bắc quê hương,
Sương mai dặm liễu con đường cái quan.
Nối liền đất nước Việt Nam,
Núi đồi trùng điệp vô vàn mến yêu !
Qua truông qua suối qua đèo,
Qua sông vượt biển bao triều thịnh suy !
Sử ngàn trang, ai chép ghi ?
Kẻ công người tội đèn khuya ta ngồi !
Lần trang sử đọc bồi hồi,
Dạy con dạy cháu làm người thủy chung !
Vẻ vang mười tám vua Hùng !
Trích bài: Thương nhớ Tây Ninh
(Trong:Ly hương hoài cảm 2)
Nhân Sinh Quan Của Trần Nguyên Anh
Nhân sinh quan là vấn đề của nhận thức, đặc biệt nơi các tôn giáo phổ biến, như nhân sinh quan Phật giáo, nhân sinh quan Ki-tô giáo, nhân sinh quan của thuyết Mác-xít v.v… Thuyết Hiện sinh với Jean Paul Sartre đã đưa ra một nhận thức về đời người và về mối tương quan giữa con người với con người.
Trần Nguyên Anh đã làm nhiều công việc để mưu sinh, song chỉ có văn chương, có thi ca là cái “nghề”, hay như trong làng văn thường nói, đây là cái “nghiệp”, ẩn đằng sau nỗi lòng của từng con người, của từng “cây bút”. Tuy vậy, cái nghề cầm bút chẳng giúp ông được bao nhiêu trong chuyện cơm cháo hằng ngày và chỉ có một thời, một giai đoạn trên mười năm ngắn ngủi, từ 1960-1975. Chính cuộc sống rày đây mai đó, đã nhiều phen ông toan gác bút, chỉ vì :
Mấy ai vui nổi mà thơ,
Bạn xưa vắng ngắt cười đùa cũng không.
Càng thêm chán chữ văn chương,
Viết là viết vậy – ai buồn đọc đây ?
Ba trăm năm nữa mai này,
Họa chăng có kẻ khóc vay một bài.
Chớ giờ thơ phú dễ “tai”
Nói năng cái miệng không quai khôn lường.
Ghét ghen tai vách mạch rừng,
Lương tâm khó sống cúi luồn ngả nghiêng.
Mới nên danh, mới nên quyền,
Mới nên chức phận ngồi trên hưởng nhiều.
Ta không buồn tủi ta nghèo,
Chỉ buồn non nước tiêu điều bấy năm.
Trong : Nước non tâm sự
(Chương 4, từ câu 21-34)
Trần Nguyên Anh mượn thi ca để bộc lộ tâm trạng của mình trước thời cuộc và cũng để nói lên một quan niệm về đời người. Cũng có đôi chỗ trong các thi phẩm của mình, tác giả lại cho rằng làm văn chương chỉ để mà chơi.
Dưới đây là một đoạn nữa tác giả nói đến vấn đề chủ đạo trong thi ca hay đúng hơn là nhân sinh quan của ông :
Ba trăm năm nữa ai người,
Khóc ai một tiếng, ai người ngủ yên.
Thơ ta cảm hứng triền miên,
Ta liên tiếp viết mười đêm chưa ngừng.
Thơ ta tâm sự não nùng,
Xót xa xuất phát tận cùng trái tim.
Thơ ta muốn thấy đời yên,
Lấy điều nhân nghĩa khuôn thiêng làm đầu.
Trọng người đạo đức cao sâu,
Ghét phường xiển nịnh mưu cầu danh hư.
…
Suốt đời ta chỉ ước mong,
Sống cho vẹn nghĩa thủy chung thật thà
Trong : Nước non tâm sự
(Chương 2, từ câu 123-138)
Mười ba năm làm công nhân dưới chế độ mới, hẳn cũng như một số người khác, ông phải va chạm và thấy nhiều điều bất như ý. Qua đó, ông nhớ đến những Nguyễn Trãi, Trần Nguyên Hãn, Phạm Văn Xảo, Hàn Tín v.v…
Dù ai khanh tướng công hầu,
Hay là nghèo khó bạc đầu ăn đong.
Buông tay nhắm mắt là xong,
Hơn chăng là một tấm lòng nghĩa nhân !
Sống thì giúp nước giúp dân,
Coi thường hư lợi phù vân hão huyền.
Không xu nịnh, không cửa quyền,
Không tham cái sống thấp hèn vinh thân.
Nguyễn Trãi là vị đại thần,
Giúp vua, giúp nước, cứu dân công trời !
Vậy mà tâm sự của Người,
Cũng đau, chua xót, thói đời quắt quay.
Huân công kể đến ai tày,
Thế mà vẫn bị đọa đày ghét ghen.
Chết vì những kẻ nhỏ nhen,
Nịnh vua, hại nước xiểm rèm người ngay !
Trần Nguyên Hãn ôi ! Thảm thay,
Phạm Văn Xảo ơi ! Đến nay vẫn buồn.
Kìa người Hàn Tín luồn trôn,
Dẫu công hãn mã mở đường Hán Lưu.
Mà rồi cũng bởi ghét yêu,
Rèm pha mà phải đến điều nát thây.
Còn ta như hạt bụi này,
“Hàng thần nếu phải đắng cay cũng thường !”
Trong : Nước non tâm sự
(Chương 3, từ câu 288-311)
Ở một đoạn thơ khác trong tập Diễn khúc dân tình, Trần Nguyên Anh phối hợp rất tài tình giữa cái lãng mạn với những nhân vật lịch sử trong truyện cũ, như Hạng Vương, Hàn Tín, Khương Duy, Khổng Minh, Tào Tháo, Từ Hải. Cũng ở đây, một Trần Nguyên Anh khác rõ nét, đăm chiêu, buồn phiền và cũng thật lãng mạn, cái lãng mạn của một kẻ phẫn thế mà cũng rất gắn bó với những vấn đề của lịch sử và của con người.
Sầu ai lên mãi chơi vơi,
Vút cao đỉnh nhớ lá rơi đỉnh sầu.
Vầng trăng thu, trắng đêm thâu,
Trải vàng trên sóng dưới cầu trăng trôi.
Sài-Gòn mười lăm năm trời,
Đổi thay mấy lớp cho đời buồn thêm.
Sương sa giọt nhớ giọt mềm,
Gió lay ngọn gió, cho rèm lay theo.
Ai nghe đời đổ reo neo,
Mà cho non nước nghiêng theo bóng ngàn.
Núi kia đứng nửa điêu tàn,
Lòng khe suối cạn tiếp làn sông khô.
Hạng Vương ngồi tiếc Ngu Cơ,
Đập tan chén ngọc bụi mù ngựa bon !
Mã chiến hí dựng đầu non,
Ba quân một dạ quyết tròn kiếm cung.
Sa cơ mạt lộ anh hùng,
Láo lơ tướng sĩ một lòng chết theo !
Hàn Tín nhớ nhục luồn kheo,
Mà quên Khoái Triệt đến điều nát thân.
Khương Duy tài uổng tính lầm,
Xương tàn trong lửa máu bầm tro than.
Mưu thần quân sự khôn ngoan.
Khổng Minh không thể lấy gan vá trời.
Gian hùng Tào Tháo mà thôi,
Mà sao cũng phải lệ rơi đầm đìa.
Từ Hải xé nửa sơn khê,
Nể lời nàng Thúy như bia chết trồng.
Trong : Diễn khúc dân tình
(Chương 4, từ câu 253-280)
Câu thứ tư từ trên xuống: “Trải vàng trên sóng, dưới cầu trăng trôi” – thật tuyệt!
hoặc, hai câu 13,14:
Hạng Vương ngồi tiếc Ngu Cơ,
Đập tan chén ngọc, bụi mù ngựa bon!
là mấy câu thơ hiếm có, cho thấy người viết được những lời thơ này là một thiên phú.
Nhận xét
Trong suốt thời gian làm việc tới nay, ở nhiều đoạn hay tiết mục, tôi đã có đôi lời nhận xét về những bài thơ được dùng để viết về Trần Nguyên Anh. Những nhận xét này, ít hay nhiều cũng là chủ quan, nhất là khi hai chúng tôi là chỗ thâm giao. Tuy nhiên chính vì điểm này mà tôi có thể nói tôi hiểu được tâm sự của tác giả, bên ngoài những ngôn ngữ trong tất cả các tập thơ của ông. Nhưng có những vấn đề khi đưa ra chỗ công khai, tôi phải cáo lỗi với tác giả là còn rất nhiều điều phải gác lại.
Có thể noi, Trần Nguyên Anh không phải là môt nhà thơ thuần túy, nhưng còn là một nhà đạo lý, mang tư tưởng truyền thống, dùng thi ca để phổ biến cái đạo làm người, trong đó cái đạo làm con, hiếu với các đấng sinh thành, nghĩa phu-thê là quan trọng, rồi đến tình bạn hữu, với Tổ quốc, với Nước non. Có lẽ ở điều này mà ông ít được “đón tiếp” nơi những người coi thơ văn là “số 1” của đời họ. Ông không có “tri kỷ” là nhà văn nhà thơ quan niệm thơ văn là “tất cả” như thế. Nhưng ông có hơn một người bạn tâm giao không thuộc làng văn thơ, mà là một người chân thật, có lòng mộ mến đạo lý nhà Phật, vị tha và tín trung với bạn hữu.
Thực ra, vấn đề đạo lý trong thơ Trần Nguyên Anh, không đơn giản hay chỉ thu hẹp lại trong một vài nguyên tắc cứng ngắc, như khi tác giả viết cho con cái, hoặc khi ông nhớ đến lời mẹ dạy bảo.
Chẳng hạn, với con cái, ông viết :
Ta thường dạy bảo đủ lời,
Trai thì trung hiếu, gái thời đảm đang.
Tính ăn, nết ở dịu dàng,
Thương chồng, nể vợ dịu dàng bảo nhau.
Chớ đừng học thói cơ cầu,
…
Nghĩa nhân học lấy làm đầu,
Chăm lo để phước ngày sau con nhờ.
Hay gì sống đục thác nhơ,
Tham danh ích kỷ tiếng dơ để đời.
Trong : Nước non tâm sự
(Chương 3, từ câu 659-680)
Về thân mẫu, ông viết :
Mẹ ta mỗi tuổi mỗi già,
Nỗi lo nuối tiếc xót xa thêm đầy !
Trán nhăn, má hóp thân gầy,
Tim gan khô héo, bàn tay cứng mòn !
Tấm lòng đau khổ sắt son,
Suốt đời tận tụy vì con, vì chồng.
Dù cho hoạn nạn gai chông,
Tản cư chạy giặc mấy đông nhọc nhằn !
Trăm ngàn thiếu thốn khó khăn,
Đói cơm khát nước cắn răng một mình !
Thủy chung vẹn nghĩa vẹn tình,
Giữ lời vàng đá hy sinh quá nhiều !
Sướng không căng, khổ không xiêu,
Quần nâu áo vải, nhiễu điều cũng nên !
Tiếng thơm biển cả mẹ hiền,
Nhìn lên đã có khuôn thiêng trên đầu !
Nên ai chẻ tóc gieo cầu,
Gây muôn tội ác mẹ đâu thù hằn.
…
Nghe lời mẹ dạy từng câu,
Dẫu cho tuổi dại nghĩa đâu tận tường !
Dần dần đèn sáng bên gương,
Thấm lời mẹ dạy coi thường lợi danh !
Sống nghèo giữ vẹn lòng thanh,
Câu thơ nên chép để dành người sau.
Trong : Nước non tâm sự
(Chương 1, từ câu 173-202)
Thật ra, vấn đề đạo lý trong thơ Trần Nguyên Anh nếu chỉ nhìn một cách hạn hẹp, trong khuôn khổ lễ giáo gia đình, thì chỉ chiếm một vị trí rất khiêm tốn, so với những đề tài khác, các chủ đề khác trong toàn bộ thi ca của ông. Những chủ đề này bao trùm lên tất cả, rộng hơn nhiều. Chẳng hạn, chiến tranh, xã hội, đời sống khốn cùng của người dân hai miền Nam-Bắc trải dài hơn nửa thế kỷ, từ 1945. Rồi đến những cuộc tranh chấp quyền lực giữa các phe phái ở miền Nam, từ 1954 – 1975, đến những hậu quả của hai cuộc chiến tranh tại Việt Nam trong hậu bán thế kỷ XX; còn tình trạng xã hội ở miền Nam thời kỳ có mặt của người Mỹ và đồng minh, cũng như trên toàn đất nước sau ngày mở cửa và hội nhập, hoàn cảnh đất nước nói chung ra sao, đạo lý băng rã đến đâu và con người quay cuồng trong đó, đổi thay thế nào v.v…đều được tác giả nói đến một cách tỉ mỉ, mà có lúc tôi đã nghĩ rằng nó không thích hợp lắm cho thi ca, nếu hiểu thi ca theo lối cổ điển, gắn liền với lãng mạn, mơ mộng, người thơ chỉ sống với trăng gió hay với mây bay đỉnh núi sương mù, nó được quan niệm là “nghệ thuật vị nghệ thuật”, còn tất cả những chuyện rắc rối trong cuộc đời, chỉ dành cho đám phàm phu tục tử, đám bình dân suốt ngày lam lũ, chẳng biết gì đến cái thú tiêu khiển thanh cao cầm kỳ thi họa !
Không, Trần Nguyên Anh đã đưa vào thơ tất cả mọi vấn đề, mọi khía cạnh của đời sống con người, những gì liên quan đến con người, ông đều quan tâm. Ngoài ra, những miền đất ông đã đi qua, những cảnh vật thiên nhiên đã làm ông cảm hứng, ngay đến chiếc áo bà ba, chiếc khăn rằn ri của người Nam Bộ, chiếc nón bài thơ xứ Huế, cũng như tà áo dài của con gái và phụ nữ Việt Nam. Ông viết :
Còn trời còn nước còn non,
Áo dài còn mãi – Vẫn còn Việt Nam.
Trần Nguyên Anh còn đề cập đến lãnh vực kinh tế, như nông nghiệp, thương nghiệp ; các công việc đồng áng xưa kia, như tát nước, nhổ mạ, trồng khoai; ông mô tả tiếng vồ đập đất, tiếng hò đập lúa, lo xàng lo xẩy; các loài hoa như soan, bưởi, cau, gạo, sim, vông vang, rau cải, bươm bướm, tiếng cóc, tiếng đàn tranh hay tiếng ru của mẹ.
Bởi vậy, trong thơ của Trần Nguyên Anh có một quê hương yên bình, đầm ấm và thương yêu, nhưng cũng có một quê hương trong máu lửa chiến tranh, trong đói khát và bần cùng.
Với những đề tài đó, Trần Nguyên Anh xứng đáng là một nhà thơ tiêu biểu trong hậu bán thế kỷ XX, về những gì liên quan đến con người, đến lịch sử và xã hội. Đọc thơ ông, người ta gặp được một cây bút rất gần gũi, rất thân cận với con người, với vận mệnh hưng phế của đất nước. Người ta khóc với nó, phẫn nộ với nó trong những giai đoạn đen tối, nghiệt ngã khi những con người nắm trong tay vận mạng của cả một dân tộc, đã bán rẻ lương tâm, sống giàu sang trên khổ đau của người khác. Mặc dù có đôi chỗ tác giả đã đơn giản hóa vấn đề, mà cũng có chỗ ông lại chi tiết nó, lại cường điệu nó, khiến làm giảm đi tính cách lịch sử, đồng thời giảm đi tính chất thi ca. Lại còn vì âm vận giữa các đoạn chuyển tiếp nên cũng không tránh được sự trùng lắp về ý, vô tình mắc vào sự gượng ép . Đấy là trường hợp của hai thi phẩm trường thiên tâm huyết của Trần Nguyên Anh : Nước non tâm sự và Diễn khúc dân tình.
Mặt khác, có những việc được tác giả điểm qua điểm lại, hầu như nói hoài mà không hết ý, ông cứ muốn phát triển rộng ra mãi. Phải công tâm mà nói, đó là một khuyết điểm trong nghệ thuật diễn tả. Song nó lại bộc lộ cái chân thân của Trần Nguyên Anh, rằng trong ông là tất cả, cái gì cũng tràn đầy. Ông không nghĩ đến sự rậm lời, ảnh hưởng đến hồn thơ của ông. Bởi như ông đã bày tỏ, ông không chủ ý làm văn chương theo quan điểm “Nghệ thuật vị nghệ thuật”, làm thơ sao cho trải chuốt, ngôn ngữ thơ mông lung, ai hiểu sao thì hiểu, song thơ chỉ là một phương tiện phù hợp với tính cách của ông, để giãi bày tâm tư về bao nhiêu vấn đề liên quan đến đời sống .Nó là “Nghệ thuật vị nhân sinh”, hay là theo lối nói trường phái, Trần Nguyên Anh là nhà thơ của “ Hiện thực chủ nghĩa.”? Thật ra, ông không ngả theo trường phái văn học nào, điều này chỉ là một nhận xét theo các chủ đề trong thơ của ông.
Ngoài tính chất “hiện thực”, Trần Nguyên Anh còn là một cây bút “lãng mạn” Quả thực, đây là một yếu tố để khẳng định tính thi sĩ trong ông.
Chúng tôi chọn hai đoạn thơ trong tập Nước non tâm sự và Diễn khúc dân tình, tác giả viết về tâm tư của kẻ xa quê hương và nỗi nhớ nhung của mình.
Đau thương cảm với u sầu,
Với chồng sách, ngọn đèn dầu hắt hiu.
Với sao khuya, với trăng treo,
Với khu nhà lá xóm nghèo xác xơ!
Đau thương cảm với bao giờ,
Người sau đọc đến ngẩn ngơ thương mình.
Bốn Nhăm (1945) Tám Tám (1988) lênh đênh,
Bốn ba năm ấy nặng tình hoài hương !
Khi quán gió, lúc cầu sương,
Dừng chân đứng ngó hàng dương ủ buồn.
Một màu bàng bạc mây truông,
Núi trùng điệp núi, đồi nương tiếp đồi.
Rừng chiều xào xạc lá rơi,
Thu không vượn hú rối bời lòng ai.
Xuân sang nghe tiếng thở dài,
Nát lòng thiếu phụ nhớ hoài chân mây.
Người phương Đông, kẻ phương Tây,
Uống chung giòng nước đầu này đầu kia.
Sầu ta cảm với sơn khê,
Ba mươi ba hạ, chưa về cố hương.
Sầu ta dằng dặc con đường,
Không ngăn cách núi sao buồn gớm ghê !
Trong : Nước non tâm sự
(Chương 4, từ câu 113-134)
Còn ở tập Diễn khúc dân tình, trước khi kết thúc toàn tập, tác giả cũng như muốn dừng lại sau gần hai ngàn câu thơ nói đến chiến tranh, chết chóc, đổ vỡ đau thương ; nói đến những nhân vật lãnh đạo đất nước của một thời như Bảo Đại, Nguyễn Văn Tâm, Trần Văn Hữu, Phan Văn Giáo, Bảy Viễn, Nguyễn Chánh Thi, Vương Văn Đông, Dương Văn Minh, Nguyễn Ngọc Thơ, Phan Khắc Sửu, Nguyễn Khánh, Phan Huy Quát, Nguyễn Văn Thiệu, Nguyễn Cao Kỳ, Trần Văn Quang, Dư Quốc Đống, Ngô Du, Cao Văn Viên; nói đến Hiệp định Paris và nhóm ký giả miền Nam xuống đường đội nón đi “ăn mày” giả hiệu vì một luật lệ về kiểm duyệt báo chí…
Sau khi điểm qua những nhân vật trên và cái thời của họ bằng những câu thơ chua cay và tủi nhục, tác giả như thấm mệt nên ông cần một thoáng xả, đưa hồn về quê cũ, vì với tác giả, quê nhà là biểu tượng của yên vui, hạnh phúc cho dù quê cũ cũng đã trải qua hận thù, bão tố kinh hoàng!
Ba mươi sáu năm xa nhà,
Tưởng về trong mộng nhìn hoa bóng trời!
Trăng treo nửa mảnh trên đồi,
Sao rơi cuối ngõ càng khơi nỗi buồn.
Gió reo lá rụng bên đường,
Cho cây nhớ lá giọt sương đầm đìa.
Cho người nhớ cảnh ra đi,
Bên sông ly biệt hồn tê tái sầu.
Nhìn lên kìa bóng sao Ngâu,
Ngân hà một giải trên đầu vắt ngang.
Trời thu ảm đạm thu sang,
Gió thu hiu hắt trăng vàng xác xơ.
Mưa thu lành lạnh mịt mờ,
Mây thu xám ngắt sương thu úa xàu.
Sông thu quạnh quẽ bờ lau,
Non thu tím biếc một mầu tóc tang.
Người thu thân xác võ vàng,
Mắt thu ảm đạm tiễn chàng chinh phu !
Đỉnh thu gió hú ù-ù,
Hồn thu khắc khoải, thơ thu rã rời !
Trong : Diễn khúc dân tình
(Chương 4, từ câu 389-408)
Mặc dù chúng tôi xếp hai đoạn thơ trên đây vào loại thi ca lãng mạn trong thơ Trần Nguyên Anh. Tuy vậy, ở đây ta vẫn nhận ra cái tâm cảnh của tác giả, lúc ẩn lúc hiện. Nó vẫn chưa toát lên cái tính chất lãng mạn đích thực, cái lãng mạn vẫn thường được hiểu như một cách biểu hiện tính cách vượt ra ngoài hình thức diễn tả cổ điển, mực thước. Phải chăng cái tinh thần đạo lý và phần lý trí trong ông đã làm nên tính cá biệt này ?
Mặc dù vậy, tác giả vẫn lưu lại trong các tập thơ như Ly hương hoài cảm một vài bài đích thực là lãng mạn. Tôi gặp lại một hình bóng Liêu trai trong bài sau đây:
Người qua trong mộng
Sáng nay ta lại lên chùa,
Nắng vàng rực rỡ như tơ lụa tằm.
Ai nhìn đôi mắt đăm đăm,
Thẹn thuồng chẳng nói ngậm tăm không cười!
Ngoảnh đi, ta chợt bồi hồi,
Ấy người trong mộng đêm rồi ghé thăm.
Hình như cứ đến đêm rằm,
Nàng len lén lại khẽ nằm bên ta.
Ôi! thiên nhiên đúc một tòa,
Trắng ngần hơn tuyết hương sa lạ lùng.
Bồng bềnh tóc thả ngang lưng,
Gót sen nhẹ hẫng rèm tung mất rồi !
Trông lên thăm thẳm sao trời !
Mùa thu Ất Hợi 95
(Trong : Ly hương hoài cảm tập 1)
Kết luận
Tôi không có ý nói lời tổng kết về thi ca của Trần Nguyên Anh, vì tôi chưa có trong tay những bài thơ ông làm sau khi sang Canada. Những bài này hầu hết đã đăng trên tờ Khởi Hành xuất bản ở Hoa Kỳ. Mặt khác, tôi biết cái giới hạn của tôi trong lúc này, vì sức khỏe và tuổi tác. Đó là một điều làm tôi áy náy với anh linh người bạn thơ đã khuất của tôi.
Tuy nhiên, tôi hy vọng độc giả nào kiên nhẫn theo dõi các bài thơ trong mục thơ tuyển trên trang báo NewVietArt, đã đăng tải 9 kỳ báo cuốn sách tôi viết về Trần Nguyên Anh, cũng như các bài thơ trong loạt bài tôi viết đây, cũng tạm đủ dữ liệu để tự mình đánh giá thi ca Trần Nguyên Anh .
Điều sau cùng tôi muốn nói đến ở đây về Trần Nguyên Anh, đó là cá tính của ông, một cá tính mạnh mẽ. Ông rất dễ bộc lộ cá tính này về sự yêu, sự ghét, giữa cái thiện và cái ác, giữa bổn phận và vô trách nhiệm, giữa sự trung thực và giả trá.
Cuối cùng, tôi mượn chính lời của Trần Nguyên Anh trong bài thơ sau đây để khép lại loạt bài này :
Sông hồ tự do
(Tặng những Nhà thơ thật Nhà thơ)
Mùa Đông cái nắng miền Nam,
Vàng như tơ lụa giầu sang của trời.
Ai lên thượng giới rong chơi,
Cho ta lên với cùng vui một lần.
Chán ôi ! chán cõi hồng trần,
Câu thơ viết mãi phong trần càng đau.
Tiếc mình đẻ muộn sinh sau,
Tài thơ Siêu Quát ngàn câu đã thừa !
Tìm đâu tri kỷ nằm mơ,
Giữa đêm đốt đuốc soi bờ đại dương.
Sóng xô lớp lớp tang thương,
Trăng cau mặt đẹp nét buồn Tây Thi !
Phù Sai vì quá say mê,
Thành nghiêng nước mất Đài kia lật nhào!
Ai khôn? Ai dại? trước sau,
Trương Lương, Phạm Lãi công hầu cũng chê!
Nhẹ nhàng hai chữ đi về,
Ngàn năm Liệt truyện còn ghi người hiền.
Công thành thân thoái là Tiên,
Thoát vòng danh lợi hão huyền bẩn dơ.
Lên non cưỡi hạc nhởn nhơ,
Đi mây về gió Sông hồ Tự Do!
Vỗ bụng làm trống hết lo !
Mùa Đông Ất Hợi 1995 (Trong: Ly hương hoài cảm 1)
Khải Triều
