Lê Mai Lĩnh: Câu chuyện văn chương: Viết, trước giờ treo cổ

Tranh: www.istockphoto.com

Làm thơ trong nhà tù Cọng sản, dù là thơ tình, cũng không nên.

Chúng kém hiểu biết và đa nghi, hay có thể nói, nếu được, chúng có thể dùng kính hiển vi để soi từng chữ.

Dù vậy, vẫn có người làm thơ trong tù, vẫn có thơ tù, vượt hàng rào kẽm gai, vượt láng, trại, vượt hàng rào tre, nứa, vượt núi, rừng, vượt đói, rét, lạnh, ra khỏi nhà tù, và đến, những nơi, những người làm ra chúng, muốn chúng đến.

Là Sài Gòn, là California, là Paris, là Luân Đôn, chấm, chấm, chấm, phẩy, chấm.

Người làm thơ trong nhà tù, thường không tuyệt vọng.

Nếu là tuyệt vọng, những ai trong nhà tù tuyệt vọng, không thể làm được thơ.

Những người tuyệt vọng, thường là, những người sợ chết.

Những người làm thơ, đặc biệt là thơ đấu tranh, là những người không nghĩ tới cái chết, hay chấp nhận cái chết.

Nói rõ hơn, làm thơ chống cộng, trong nhà tù cộng sản, là chấp nhận đánh đu với số phận, nhìn thấy trước cái chết, sẽ tới.

.

Trông lên, thấy cờ đỏ chói chang,

Biểu ngữ huy chương, chữ nghĩa làng chàng,

Ngó xuống, thấy dân đời điêu đứng,

Máu đỗ, thây phơi, hàng nối hàng.

.

Trước khi nghĩ ra những câu thơ đó,

Đang khi viết những câu thơ đó,

Sau khi làm xong những câu thơ đó, hắn biết những hình phạt dành cho hắn, nếu bị rơi vào tay, hay lọt vào tai cán bộ quản giáo:

biệt giam, cùm hai chân, hạ tiêu chuẩn ăn, cúp nhận quà, cúp thăm nuôi, vô thời hạn.

Thế nhưng,

“ Dù trong gông cùm, xiềng xích,

Trước họng súng, lưởi lê,

Thi sĩ vẫn lên tiếng,

Và thơ đã có mặt.”

(Tuyên ngôn thơ, trung úy Lê văn Chính, số quân 64/425.308, QLVNCH. Viết giữa núi rừng Yên Thế, 1978.)

Đa số những người làm thơ trong nhà tù cộng sản, họ có trực giác riêng về thời cuộc, dẫn tới những niềm tin và lạc quan riêng, mà người khác không có.

Hỡi ta hãy ngủ đi,

Chẳng còn bao lâu nữa, trời sắp sáng,

Vậy ngủ đi cho sức người cường tráng,

Thao thức, thao thức mãi, làm gì.

( Vỗ về giấc ngủ)

Ba tắt đèn, ba đi ngủ đây,

Hẳn ngày mai mặt trời sẽ mọc,

Ngày mới lên, nắng ấm lên,

Ba lại lên đường, nhập cuộc.

(Áo mới)

.

Chào tái ngộ mùa đông miền Bắc,

Trong những ngày sôi nổi niềm tin, 

Dẫu khó khăn nào ta vẫn sống,

Để đợi giờ báo hiệu bình minh.

(Mùa đông đi cấy ruộng sình)

.

Về quê hương vào những ngày cuối năm,

Dẫu trong tay xích xiềng còn trói chặt,

Nhưng trong lòng ta bao nỗi hân hoan, 

Khi thấy dấu bạo tàn sắp tắt.

(Chuyến tàu cuối năm)

.

Thân ta chúng nhốt trong lồng sắt,

Ta thả hồn bay khắp bốn phương,

Chân, dẫu trong cùm, gông, đau thắt,

Tim tự do ta, khắp nẻo đường.

(Giao thừa năm 37 tuổi)

.

Hãy cuốc xuống thật sâu, chôn kín lũ bạo tàn,

Hãy dọn dẹp, vun thành đống, châm lửa đốt cho sạch,

Trời của ta, đất của ta,

Ta phải đối đầu thử thách,

Diệt cho tan, loài sâu bọ hung tàn.

(Sắn, tuyên ngôn thế kỷ)

THƠ TRONG TÙ, TÔI ĐÃ LÀM NHƯ THẾ NÀO?

Mỗi người làm thơ, có một cách thế riêng, đối đãi, cư xử, chiều chuộng, o bế, nâng niu, xáp lá cà, với thơ.

Với tôi, thơ là bà nội, là mẹ, là người tình.

Đa phần là người tình.

Tôi làm thơ bất cứ lúc nào, ở đâu, khi tứ thơ, ý thơ, hồn thơ đến bất chợt hay bị tôi dụ dỗ và khị, dụ khị.

Đa phần là bất chợt.

Trong đêm buốt lạnh Hoàng Liên Sơn, biên giới Việt- Hoa.

Làm thơ trong lúc cày ruộng, nghĩ trong đầu thuộc, tối về chép lại. 

Làm thơ bên bếp lửa, giữa giờ giải lao, trên bao thuốc lá Sông Cầu, giữa cơn lạnh mùa đông Yên Bái. Làm thơ lúc đang tắm cho heo, tay chà, đầu nhớ. 

Làm thơ trong lúc bụng đói cồn cào, phải uống nước lạnh để đánh lừa bao tử, ở Lào Kai. 

Làm thơ lúc hân hoan, vì trước mặt có thịt, cá, bánh chưng ba ngày Tết, ở Vĩnh Phú. 

Làm thơ lúc phá rừng trồng sắn, lúc leo núi đẵn tre, lúc lội sông gánh nước. 

Làm thơ lúc gánh phân tưới rau, sau đó biết mình thành công, vì thơ làm ra không thúi. 

Chẳng hạn như, những câu thơ dưới đây, có thúi đâu:

– Trời trong xanh buổi sáng hôm nay,

Soi xuống hố phân, thấy mặt mình vẫn còn tươi sáng,

Còn nét thơ ngây, còn dáng hình người,

Chưa có gì ra vẻ đười ươi.

.

Hỡi những cục phân còn xác bắp cọng rau,

Trôi lềnh bềnh giữa bầy dòi bọ,

Trông các em, thân quá làm sao,

Giữa đời ta, chuỗi ngày lem lọ.

.

Đại khái, đại để, đại lọai là như thế. 

Hoặc nữa, làm thơ vào buổi sáng, giữa núi rừng, lúc mặt trời mọc, trong gió mát, trời thanh, bình minh dậy.

Làm thơ vào giữa trưa, dưới cánh đồng, lúc nắng chang chang, mồi hôi nhễ nhại, mệt lả. 

Làm thơ vào buổi chiều, công việc trong ngày đã xong (trả nợ quỷ thần) đôi vai nhẹ tênh, thơ thới. 

Làm thơ vào ban đêm, rệp cắn, muỗi đốt, người nằm, chật như cá hộp. 

Đại khái, đại để, đại lọai là như thế. 

.

Hoặc nữa. 

Nhưng thôi. 

Và, đã có lần, tôi sém chết vì thơ. Nhưng đã có rất nhiều lần, tôi sống được, nhờ thơ.

Đang lúc làm ruộng, người tình thơ vươn vai, tôi có bài thơ cấy lúa:

Mùa Đông Đi Cấy Ruộng Sình.

Chào tái ngộ mùa đông miền Bắc,

Năm thứ hai ta ở chốn nầy,

Nơi Việt Bắc, núi rừng trùng điệp,

Tù khổ sai, đói rét là đây.

.

Lưng hai chén sắn, phần một bữa,

Nước muối thôi, liệu đủ cầm hơi,

Thêm gió chướng, mưa rừng, dồn dập,

Thêm hăm he, đấm đá đủ lời.

.

Lội ruộng sình, cấy lúa vụ chiêm,

Bùn ngập sâu người hơn một nửa,

Ruộng trâu chê, bắt người thay thế,

Nhè nhẹ bò thôi, kẻo chết chìm.

.

Còn nữa một tuần là đến Tết,

Bốn Tết rồi ư, đã xa nhà,

Hỡi vợ con, mẹ cha, bè bạn,

Còn nhớ ta, trong vũng bùn ma.

.

Thèm quá thôi, được gần bếp lửa,

Đêm giao thừa ngồi cạnh người thân,

Thèm hương thơm của nồi bánh tét,

Thèm quá thôi, chút ấm chút no.

.

Chào tái ngộ mùa đông ta sống,

Trong những ngày sôi nổi niềm tin,

Dẫu khó khăn nào ta vẫn sống,

Để đợi giờ báo hiệu Bình Minh.

(trại tù Vĩnh Phú 1979)

Những đêm bụng đói, nhớ vợ con, rệp cắn, muổi đốt, nằm trăn trở, thao thức, không ngủ, tôi có bài thơ dụ khị, cơn ngủ:

Vỗ Về Giấc Ngủ.

Hỡi ta, hãy ngủ đi,

Chẳng còn bao lâu nữa, trời sắp sáng,

Vậy ngủ đi, cho sức người cường tráng,

Thao thức, thao thức mãi, làm gì?

.

Hỡi ta, hãy ngủ đi,

Cái ăn đã không ra gì, thì lo toan cái ngủ,

Chớp thời cơ, tạo điều kiện, cho mắt no đủ,

Còn ta, trăm mối việc, nhớ ghi.

.

Tù bọn này phải khôn ngoan,

Dứt khoát với chúng, không cần liêm sỉ,

Nuôi ăn bội bác, làm bôi bác,

Sức voi cũng phải no, mới tính chuyện lên ghềnh xuống thác,

Lao động tự giác gì, cái trò con khỉ,

Nghe chúng hì hục hoài, có chết chớ than oan.

.

Tù bọn này phải khôn ngoan,

Phải biết tính toán cho đàng hoàng,

Nuôi ta bao tử ngày teo lại,

Ta mỗi ngày, khối óc phải lớn ra.

.

Thân ta, chúng nhốt trong lồng sắt,

Ta thả hồn, bay khắp bốn phương,

Chân, dẫu trong cùm gông đau thắt,

Tim tự do ta, khắp nẻo đường.

.

Tù bọn này, không nên nói nhiều,

Được câm, điếc, đui, càng tốt,

Cứ ù ù, ặc ặc là ăn tiền,

Chỉ cần nhất trí thôi, là đúng mốt.

.

Tù bọn nầy, đừng có sợ linh tinh,

Làm thế, chỉ khổ cho thân mình,

Sức hơi đâu mà lo trời mưa, nắng,

Cứ bơ người, mà giữ sức bình sinh.

.

Bốn giờ sáng, thèm một hơi thuốc thẳng,

Thao thức hoài, nhớ vợ con, mẹ cha,

Thôi ngủ đi, ngủ đi, hỡi ta,

Chẳng còn bao lâu nữa, trời sắp sáng.

(trại tù Lào Kai 1978)

VÌ THƠ, TÔi SÉM HÂN HOAN RỜI CÕI TẠM.

Thường thì, ban ngày, tôi có tờ giấy, ngòi bút trong người, chuẩn bị tinh thần nghênh đón nàng thơ.

Ban đêm, tờ giấy, cây bút, tôi để bên phải chổ nằm.

Khi nghe chừng lúc, nàng rón rén ngự vào trái hồn tôi, tôi nghiêng mình, viết vội đôi dòng ngắn và vắn, hôm sau triển khai, mỡ rộng, thành bài thơ.

Thành bài thơ là bước thứ nhất.

Bước tiếp theo là học thuộc lòng, trong bụi cây rậm, trong nhà vệ sinh, đến khi nào thuộc lòng, nhuyễn như cháo cúng cô hồn, xé thủ tiêu bản thảo, mới yên bề gia thất.

Nhưng cuộc đời, có những không ngờ, nên không phải lúc nào cũng gia thất yên bề.

Lần đó, tôi sem sém nói lời chia tay với cỏi tạm. 

Amen.

Lẽ nào trời cứu tôi, đứa con trai thi sĩ, rất hiếm khi làm buồn lòng, những cô con cấy cưng, của Ngài.

Amen bis.

Chuyện rằng thì là.

Một lần nọ, một tuần, tôi làm được ba bài thơ, cũng vào mùa gặt, bận thời vụ, không có thời gian học thuộc, tôi xếp gọn trong túi quần.

Như thường lệ, tôi gánh đôi thùng không lên nhà quản giáo:

-báo cáo cán bộ cho tôi đi gánh nước. (cần nói thêm, tôi làm anh nuôi, nấu nước cho cả đội uống).

-Anh vào đây, lấy hết giấy tờ trong quần bỏ lên bàn. Ông ta ra lệnh.

Tôi làm theo.

Ông nói, anh về làm việc, chốc nữa lên nhận lại.

Tôi đi gánh nước, nấu sôi xong.

Tôi lên gặp ông xin lại mấy tờ giấy.

Ông nói: thơ anh làm hay lắm, để tôi nghiên cứu.

Tôi biết mình trúng mánh, “cái chết”.

Hôm sau sáng thứ bẩy, ông lệnh cho đội trưởng chọn người thay thế tôi, tôi ở lại nhà làm việc.

Trên bàn, trước mặt tôi, một bình trà, 2 cái ly, một gói thuốc lá, một xấp giấy ca rô, ngòi bút bi màu xanh.

Ông nói trong bản thảo, tôi viết không rõ, Ông yêu cầu tôi chép lại cho rõ.

Trong ba bài thơ, tôi lo nhất là bài SẮN, tuyên ngôn thế kỷ, với những câu:

Hỡi sắn, niềm tự hào của Đảng ta,

Nhờ mày, thế giới biết tên Việt Nam – Hồ chí Minh,

Và nhân dân có sắn ăn ngon bá thở,

Ơn của Người ta nhớ mãi trong lòng.

Một đoạn khác:

Ôi sắn thần tiên đã đi suốt cuộc trường chinh,

Với Đảng Quang vinh mấy mươi năm sống còn nhờ cây sắn nuôi mình,

Sắn Vĩ đại,

Sắn muôn năm, 

Sắn đời đời ghi nhớ,

Sắn sống mãi trong sự nghiệp của chúng ta.

Hai bài khác, Trèo Dừa, Ngày Như Mọi Ngày, không đáng ngại.

Trèo Dừa.

Thêm ta hai tuổi, đầy bốn mươi,

Còn gân, còn cốt, để trèo dừa,

Đủ thấy ta còn sức chịu đựng,

Vài năm tù nữa, cũng còn vừa.

.

Trong tù, trèo dừa giữa nắng trưa,

Hái trái, cho người uống mát,

Mà lòng ta thì khao khát,

Đã nhiều năm qua, thèm dừa.

.

Thôi đành tự an ủi mình,

Bằng vài trứng chim bồi dưỡng,

Hãy tha thứ cho ta hỡi chim,

Chớ giận hờn, đừng trách ta chướng.

.

Trèo dừa, có lúc mất phương hướng,

Cũng muốn buông tay, chết cho rồi,

Nghĩ sống, chẳng được làm người,

Chết, có khi lại sướng.

Chợt nhớ tới vợ con, mẹ cha,

Nhớ nước non, nhớ quê nhà,

Nhớ con đường ta đã chọn,

Đành chờ qua cơn gió thổi.

.

Hãy bám đôi tay thật chặt,

Hãy nhích đôi chân từ từ,

Chầm chậm thôi, mà lên xuống,

Tuổi còn trẻ, đời còn dài, còn dư.

Ngày Nào Cũng Vậy.

Sáng, một khúc sắn nhí,

Trưa, hai chén sắn lưng,

Chiều, lưng hai chén sắn,

Làm, tám tiếng còng lưng.

.

Ăn, nuôi như trẻ nít,

Chơi, có thì giờ đâu,

Ngủ, chật như cá hộp,

Làm, hối thúc như trâu.

.

Sáng mở mắt, khẩn trương,

Tối đi ngủ, khẩn trương,

Giờ tập họp, khẩn trương,

Khẩn trương và khẩn trương.

.

Nuôi như thế, đành sao,

Dẫu chi cũng là người,

Người nuôi người như thế,

Rồi cũng thành đười ươi.

.

Nào ếch nhái, ểnh ương,

Nào cào cào, chẫu chuột,

Nào dế dũi, dế cơm,

Nướng lửa rơm ăn tuốt.

.

Nào vỏ khoai, vỏ sắn,

Nào rau diệu, rau dừa,

Nào rau ôm, rau ngố,

Rửa qua loa, ăn bừa.

.

Mỗi người một cái cóng,

Mỗi người một cái gô,

Sau mỗi giờ lao động,

Thấy lửa cứ nhào dzô.

Hai ngày thứ sáu, thứ bảy, tôi nghĩ và so sánh, giữa tôi và nhà thơ Trần Dần, tác giả bài thơ Nhất Định Thắng, trong vụ án Nhân Văn Giai Phẩm.

Trong bài thơ Nhất Định Thắng, tác giả có hai câu:

“ Lâu nay Người vẫn thiếu tin Người,

Người vẫn kinh hoàng trước tương lai.”

Trong sinh hoạt văn chương Hà Nội bấy giờ, mặc định, chữ Người ( viết hoa ) chỉ dành nói tới ông Hồ.

Ngôn ngữ trong bài thơ của tôi, mức độ xúc phạm ông Hồ, là hơn thế.

Trần Dần, đã một thời có công với chế độ, tôi, một thằng ngụy tù binh.

Chỉ vì một chữ Người, Trần Dần cải tạo 10 năm, trong tù, ông đã dùng dao cứa cổ,nhưng được bạn tù cứu.

Tôi nghĩ, tôi sẽ bị, một, cách ly, cùm chân, hai, tạo chuyển trại giả, rồi bắn chết, vu là chạy trốn.

Tôi không muốn vậy.

Tôi muốn tự mình chọn cái chết.

Cái chết của một thi sĩ, đồng nghĩa với một tiếng nổ.

Tôi chọn ngày chủ nhật 20/7/1979, là ngày chẳn 25 năm chia cắt lãnh thổ bởi hiệp định Geneve. (20.7.1954/ 20.7. 1979 )

Và, đẹp biết bao, nếu viết một lá thư gởi Lê Duẩn, TBT, Yêu Cầu Thay Đổi Đường Lối Lãnh Đạo.

Thư viết xong.

Tôi định đêm đó, chờ anh em ngủ ngon, tôi giã từ cõi tạm.

Tôi dùng hai sợi dây nylon nối lại, là của hai bao mìn claymore, làm cái thòng lọng.

Tôi cũng nghĩ, chọn lựa đó, ám chỉ, chính phủ Hoa Kỳ cũng chịu trách nhiệm về cái chết của một Vietnamese Poet.

(Tôi có quá lãng mạn không nhỉ, hay siêu lãng mạn)

Buổi chiều hôm đó, tiêu chuẩn bo bo, tôi tặng nhà thơ Lê Văn Thanh Vân. Năm 1998, tôi gặp hai vợ chồng anh ở thành phố Boston.

Anh nói vui, không đòi lại nghe bạn.

Cũng buổi chiều đó, tôi chọn bộ áo quần đẹp, quần Jean màu nâu, áo sơ mi màu vàng mỡ gà.

Ai cũng hỏi tôi, mai mày có thăm nuôi hả Chính.

Trước đó hai ngày, tôi có nói ý định này với người bạn học thời Võ Tánh, Nha Trang và gởi anh một số di vật, nhờ trao gia đình khi nào anh về.

Có lẽ từ đó mà cán bộ trại biết ý định của tôi.

Mọi ngày, buổi chiều, khi trại viên vào trại, chỉ có một một vệ binh mang súng vòng quanh.

Hôm nay có tới hai quản giáo canh chừng tôi.

Tôi lo, nếu không hành động kịp thời, họ sẽ vào bắt tôi, mọi toan tính sẽ hỏng, tôi hành động sớm hơn.

Ngay lúc đèn tắt, tôi đã ở tầng trên, một tay cầm dao khống chế người nào cản trở, một tay đút đầu vào nút  thòng lọng, miệng đọc to, thư gởi ông Lê Duẫn.

Tôi chọn công khai lá thư, sợ chúng sẽ thủ tiêu.

Anh em lao vào ôm tôi, người khác tháo dây, cũng là lúc cán bộ mở cửa vào, còng tay tôi lôi ra ngoài trại.

Tại phòng làm việc, họ lập biên bản, quy tội tôi làm mất trật tự.

Khi họ bắt tôi ký, tôi yêu cầu họ xóa bốn chữ “cúi đầu nhận tội”, tôi mới ký.

Sau một hồi cãi nhau, sau cùng họ chịu theo yêu cầu của tôi, không có bốn chữ “cúi đầu nhận tội”  trong đó.

Ký xong biên bản, họ dẫn tôi về phòng lại.

Sáng hôm sau thứ hai, cả trại đi làm, anh Chính ở nhà, lên văn phòng làm việc.

Bàn làm việc, gồm một bình trà nóng, hai cái ly, một gói thuốc điếu Thăng Long (loại cao cấp), một nải chuối, một tập giấy ca rô, một ngòi bút bi màu xanh.

Người cán bộ phụ trách yêu cầu tôi trả lời 4 câu hỏi:

Tại sao anh làm thơ/ Tại sao anh viết thư gởi lãnh đạo/ Trong việc làm này có ai xúi giục anh không/ Hướng phấn đấu bản thân.

Trong bốn câu, câu hai, tại sao anh viết thư gởi lãnh đạo, tôi thích nhất.

Tôi phân tích tình hình thế giới.

Tôi nói nước mình phải biết chọn bạn mà chơi.

Bạn của kẻ thù, cũng là kẻ thù.

Tôi vừa viết một trang, nó vào đọc, chê không xoáy vào trọng tâm, cầm giấy đi.

Sau ba lần như thế, tôi biết mình gặp điếm rồi, nó muốn chơi trò cân não, nên tôi không viết nữa.

Uống trà, hút thuốc, ăn chuối.

Khi thấy nó vào, tôi cặm cụi như thế vắt óc, nặn đầu.

Đến giờ trưa, nó cho về nhai bo bo trẹo cuống họng.

Buổi chiều không thấy trại gọi lên làm việc nữa.

Tối đó, trại biên chế chuyển trại, có tên tôi.

Khi cán bộ trại giam gọi đến tên tôi, tôi đứng lên và nói: 

Lê văn Chính đã chết đêm 20.7.

Cán bộ hỏi: Anh nói gì?

Tôi nói Lê văn Chính đã chết đêm 20.7.

Lúc này tên quản giáo lục soát thơ của tôi đến nói với tôi: Anh bình tĩnh, anh Chính, tôi mới trả lời với cán bộ phụ trách, Lê văn Chính có mặt.

Sau khi tôi ngồi vào hàng trại viên có tên biên chế, viên quản giáo lại đến cạnh tôi, tôi nói với nó, do dun dủi của lịch sử, một thi sĩ miền Nam đối đầu với một thi sĩ miền Bắc, vì tôi biết anh ta có làm thơ đăng trên bích báo của trại.

Có lẽ sợ tôi nhảy xe chạy trốn, nên chỉ mình tôi bị còng tay.

Sau đây là nội dung thư gởi ông Lê Duẩn.

Thư gởi ông LÊ DUẪN,

TỔNG BÍ THƯ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM.

Kính thưa Ông,

Ký tên dưới đây là tôi, Lê Văn Chính, thi sĩ.

Tôi xin thông báo cho Ông biết, tôi không đủ can đảm sống thêm 5 năm nữa, để ăn bát nước chấm trong mỗi bữa ăn, như ông hứa trong bài diễn văn đọc trước Quốc Hội năm 1975, và được lập lại trong bài diễn văn năm 1976.

Tôi xin thông báo cho Ông biết:

Đã đến lúc, ông và những người lãnh đạo trong Bộ Chính Trị, cần phải thay đổi đường lối, lập trường, sao cho phù hợp với tình hình mới của thời đại và lịch sử.

Đừng kéo nhân dân vào hết cuộc chiến tranh này tới cuộc chiến tranh khác.

Hiện nay, dân chúng rất căm ghét chế độ, cán bộ hủ hóa, xã hội loạn lạc, nhân dân lầm than, thế giới cô lập.

Nếu các ông không nghe tôi mà thay đổi đường lối lãnh đạo, nhân dân sẽ thay đổi các ông.

Khi đó có hối hận cũng không kịp.

Trân trọng kính chào ông,

Lê Văn Chính, người tù, thi sĩ.

Sau đây là thư thứ hai gởi ban giám thị trại tù.

Nghĩ rằng, đây là nguyện vọng chung của anh em, mà không có cơ hội trình bày, nên nay là lúc, tôi nói thay anh em, như một quà tặng gởi các chiến hữu còn nơi địa ngục cõi tạm.

THƯ GỬI BAN GIÁM THỊ TRẠI CẢI TẠO TÂN LẬP, K4, VĨNH PHÚ.

Kính thưa quý Cán Bộ,

Giữa chúng tôi và các cán bộ, không có lòng hận thù nào cả.

Tất cả chúng ta, đều là nạn nhân của chế độ này.

Vậy trước khi chết,

Nhân danh cái chết của một thi sĩ, tôi yêu cầu ba điều:

1. Hãy trả ngày Chúa Nhật cho anh em chúng tôi, có ăn sáng càng tốt, không ăn sáng cũng được.

2. Hãy trả tiêu chuẩn thịt hàng tháng cho anh em chúng tôi, bình thường, đều đặn.

Đừng dùng nó vào việc ra quân, thi đua, có tính cách bòn mót sức lao động.

3. Hãy nuôi chúng tôi hết tiêu chuẩn Nhà Nước dành cho chúng tôi.

Đừng bắt chúng tôi ăn độn một trăm phần trăm: sắn, khoai, bo bo với nước muối.

Cuối cùng, tiền dư thực là “xù”.

Trân trọng kính chào quý Cán Bộ.

Lê văn Chính, người tù, thi sĩ.

Hai Bài Thơ Ghi Dấu Một Khúc Quanh của lịch sử.

1/ SẮN, bản tuyên ngôn thế kỷ.

Hãy cuốc xuống thật sâu, nạy lên và bật gốc,

Hãy dọn dẹp, vun thành đống, châm lửa đốt cho sạch,

Nương rẫy đã xong, đất đai đã hoàn thành,

Hãy trồng xuống,

Hom sắn.

.

Sắn đã nuôi ta sống,

Sắn đã hại đời ta say,

Ôi những bữa ăn đắng cay,

Những sắn,

Toàn sắn.

.

Sắn sớm, sắn trưa, sắn chiều, sắn cải thiện,

Sắn trao đổi áo quần, sắn trộm cắp, dấu diếm,

Sắn nhờ thuốc thẳng, sắn lượm lặt hàng hiên,

Sắn thừa mứa chó chê,người đói nghèo nhặt nhạnh,

Sắn củ ngon, sắn lớn bành ky,

Sắn đuôi chuột, còn trong đống vỏ,

Sắn gì cũng không chê không bỏ,

Ta cứ ăn vào, đầy bao tử được là hay,

Đời tù no, đếm được từng ngày,

Ôi hạnh phúc qua đêm, bụng không cồn cào là tốt.

.

Hỡi sắn, mày đã nuôi ta suốt bốn mùa,

Sắn tươi ngọt bột nhiều, ăn ngon khoái chí,

Sắn chặt khúc phơi khô, nặng mùi nắng, ăn vào khó chịu,

Sắn dzui từng sợi, ăn có mùi chua,

Tất cả đều thua,

Sắn làm bột, cho bánh ăn là nhất.

.

Hỡi sắn, lương thực quý giá vô song,

Mà ông cha ta đã phụ bạc,

Mầy phải được phục hồi danh dự, không thể khác,

Mầy phải đưọc nâng lên hàng đúng chỗ,

Lá, cũng chứa nhiều chất bổ.

Ôi sắn thần tiên đã đi suốt cuộc trường chinh,

Với Đảng Quang Vinh mấy mươi năm sống còn nhờ cây sắn nuôi mình,

Sắn Vĩ Đại,

Sắn muôn năm,

Sắn đời đời ghi nhớ,

Sắn Sống Mãi Trong Sự Nghiệp Của Chúng Ta.

.

Hỡi sắn,

Có người dại khờ quên mầy nhiều chất bổ,

Họ dùng sửa bột, bắp xay, gạo đỏ, để nuôi gia súc,

Và nhiều thứ thịt, họ không thèm ăn,

Đem đổ xuống Đại Dương tránh dòi bọ lân la lúc nhúc,

Hỡi sắn,

Niềm tự hào của Đảng ta,

Nhờ mầy,

Thế giới biết tên Việt Nam – Hồ Chí Minh,

Và nhân dân có sắn ăn ngon bá thở,

Ơn của Người ta nhớ mãi trong mình.

.

Hãy cuốc xuống thật sâu, chôn kín lũ bạo tàn,

Hãy dọn dẹp, chất thành đống, châm lửa đốt cho sạch,

Trời của ta, đất của ta,

Ta phải đối đầu thử thách,

Diệt cho tàn loài sâu bọ hung tàn.

Lê Mai Lĩnh

(Nghĩ Hoàng Liên Sơn 1977, Làm tại Vĩnh Phú 1979)

2/ Chuyền Tàu Cuối Năm.

Về quê hương vào những ngày cuối năm,

Trên con tàu chở đầy xiềng xích,

Xin vĩnh biệt chào vương quốc lừa dối,

Ta trả lại Người, những đói rét hờn căm.

.

Mai ta đi, từ bóng tối mù tăm,

Nơi ta về quê, miền Nam yêu dấu,

Hãy ở lại những đói nghèo, đau thương ẩn náu,

Chia tay nghe, vĩnh biệt yên nằm.

.

Chào không chút xót thương núi rừng Việt Bắc,

Hoàng Liên Sơn, Yên Bái, Lào Kai,

Chào Vĩnh Phú, Thanh Phong, Thanh Hoá,

Còn trong ta, cơn ác mộng chưa phai.

.

Chào bo bo, chào sắn khoai, bắp xay, bắp hột,

Vĩnh biệt nghe, nước muối đại dương,

Chào rau tàu bay, lá đay rừng chua xót,

Khi nghĩ về, lạnh buốt khớp xương.

.

Mai ta đi, chào những ngôi giáo đường,

Đứng lạnh lùng, giữa hoang tàn cỏ dại,

Hãy ở lại nghe, những nghiêng chùa đổ chái,

Áo rêu phong, khép kín niềm thương.

.

Chào con phố nào ta đã có lần qua,

Dẫu không biết tên để gọi,

Nhưng trong lòng ta thầm nói,

Đó là phố Sinh Từ.

Để nhớ Trần Dần và nhóm Nhân Văn,

Để ngợi ca những thi sĩ, nhà văn,

Đã dũng cảm đấu tranh cho Sự Thật.

Ngậm ngùi trong lòng ta, tưởng nhớ Phan Khôi.

Nhớ ông Bình Vôi bất hủ.

Nơi miền quê nào, ông đã yên nằm ấp ủ,

Nhưng trong lòng tôi ông sống mãi,

Ông sống mãi rồi, ông Phan Khôi ơi,

Nhớ về ông, tôi nghĩ tới Kim Tự Tháp của ông Hồ,

Mai cuộc vuông tròn, đời còn tính sổ.

.

Mai ta đi, chào những gia đình bị chỉ định cư trú,

Vách đất mái tranh, không đủ ấm mùa Đông,

Nương sắn đồi khoai, không đắp đổi qua ngày,

Phải lặn lội rừng sâu, năm năm một lần đổi chỗ,

Thương cụ già tám mươi, tất bật ngược xuôi,

Mấy chục năm rồi đói khổ,

Nhìn đàn con cháu điêu linh.

Không dám đứng lâu với ta, để bày tỏ sự tình,

Sợ thằng công an ngó nhìn quở mắng.

.

Chào em bé ném đá ta ngày mới tới,

Và cô bé chu miệng chưởi rủa mẹ cha ta ngày mới ra,

Giờ thì các em đã biết ta,

Không phải là quân ăn thịt người,

Nên đã có em mang sắn đến cho ta.

.

Từ con tàu qua tới bờ Nam,

Kinh hoàng lòng ta, rợn người muốn khóc,

Đã sau lưng rồi, xứ sở của ông đau thương,

Ta đã thoát hang hùm, khó nhọc.

.

Trên những cánh đồng miền Trung tàu qua,

Ta chỉ thấy đàn bà em nhỏ,

Thanh niên đâu, đi lính hay tù,

Đã mấy năm rồi, quê mình thế đó.

.

Nầy cô gái thanh niên xung phong,

Khi con tàu qua khỏi hầm đèo,

Sao cô cầm đá ném vào đầu công an,

Rồi hai tay chống nạnh nhìn theo.

.

Nầy các em ở sân ga Đà Nẵng,

Có bao lăm, lời lỗ thế nào,

Mà em ném cho ta bao thuốc tặng,

Nhỡ công an thấy được làm sao?

.

Nầy các em nhỏ ở sân ga Nha Trang,

Em hát những gì nghe sao ngộ nghĩnh,

Em giận đời chăng, rằng em bị phỉnh.

“ Như có Bác Hồ trong thùng phuy đậy nắp,

Mở nắp ra nghe cái cốc trên đầu”

.

Em hát lạ lùng giữa một đám đông,

Đứng vẫy tay chào các anh trở lại,

Trong lòng ta, từ nay sống mãi,

Tình quê hương, lòng đồng bào miền Nam,

Trong nỗi đau quân cướp Đỏ bạo tàn.

.

Nầy cái vẫy tay vụng trộm đón chào,

Nầy con mắt nhìn dấu yêu thầm lặng,

Nầy nụ cười trao gởi niềm tin,

Đã hiểu rồi, ta nhất định thắng.

.

Chúng không giết được chúng ta sau ngày 30 tháng 4,

Chúng không giết được chúng ta trong BÓNG TỐI, ĐÓI RÉT và SỰ LÃNG QUÊN,

Nơi rừng núi âm u Việt Bắc.

Ta đã ra ánh sánh, ta đã về đất sống,

Nhất định chúng ta phải thắng.

Nhất định chúng  ta phải thắng.

.

Nhất định chúng ta phải thắng.

Thép đã tôi, lưỡi gươm này phải sắc,

Phải rắn, phải chắc, phải bền lòng, dũng cảm.

Đường gươm đi phải đẹp.

Phải làm lại từ đầu với cái giá đã mua,

Phải làm lại từ đầu, đừng để lòng già nua,

Tóc dẫu bạc, nhưng lòng thanh niên trẻ lại.

Trên bước đường đi, trong tim đời thoải mái,

Ta hiên ngang, chững chạc, đàng hoàng.

Ta đã về, khi quân cướp hoang mang.

Ta đã về với niềm tin tất thắng.

.

Về quê hương vào những ngày cuối năm,

Dẫu trong tay xích xiềng còn trói chặt,

Nhưng trong lòng ta bao nỗi hân hoan,

Khi thấy dấu bạo tàn sắp tắt.

Lê Mai Lĩnh

(Trại tù Z30A, Gia Rai 1-1-81)

Pittsburgh city, Pennsylvania state 

11.7.2025.

Mai Lĩnh.

Bài Mới Nhất
Search