Nguyễn Kỳ Dzương: TỪ MỘT NGƯỜI LÍNH ĐẾN MỘT NGƯỜI THẦY

Hai người bạn trên hai chiến tuyến gặp nhau tại Quảng Trị sau ngày Mùa Hè Đỏ lửa 1972. Hơn 50 năm sau gặp lại là con một nhà Việt Nam. (Ảnh Nguồn: huynhthuckhangluongvancan.wordpress.com)

Tôi từng là một quân nhân của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, thuộc Miền Nam Việt Nam.

Sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, hàng trăm ngàn những người như tôi bị đưa vào các trại có những cái tên trá hình là trại “cải tạo” hay trại “học tập” (sic). Tôi đã trải qua những năm tháng đau khổ mà có lẽ suốt đời mình cũng không thể quên. Đó không phải là một chương lịch sử mà tôi đọc trong sách.Đó là một phần đời tôi đã trực tiếp trải qua.

Sau khi trốn khỏi những trại tù khổ sai này,mong tìm được Tự Do, tôi rời Việt Nam và đến Hoa Kỳ. Tôi bắt đầu lại cuộc đời trênquê hương thứ hai này bằng nghề dạy học.

Từ một người lính, tôi trở thành một người thầy.

Trong nhiều năm đứng trên bục giảng, điều tôi quan tâm nhất không còn là chuyện ai thắng, ai thua.

Tôi quan tâm đến con người.

Tôi muốn thế hệ trẻ hiểu rằng lịch sử không chỉ gồm những ngày chiến thắng được ghi trong sách giáo khoa. Lịch sử còn phải ghi lại chuyện những con người đã chết tức tưởi, những gia đình lytán, những người bịgiam cầm khổ sai, những người phải rời bỏ quê hương, những người ở lại và chịu đựng những năm tháng khó khăn.

Vì thế, khi nghe lời kêu gọi của ông Tổng Bí Thư Tô Lâm rằng người Việt hải ngoại hãy “gác lại quá khứ” để cùng nhau xây dựng quê hương, tôi thắc mắc.

Thực sự, tôi cũngrất mong muốn ngày ấy đến.

Nhưng với tư cách của một người đã từng ở trong lao tù, tôi xin được nói một điều:

Muốn người khác gác lại quá khứ, trước hết phải thẳng thắn công nhận quá khứ.

Không thể vừa kêu gọi hòa giải, vừa tiếp tục kể câu chuyện lịch sử chỉ từ một phía.

Không thể nói về tình dân tộc, nhưng vẫn dùng ngôn ngữ của “ta” và “địch”, của “bên thắng trận” và “kẻ thua cuộc”.

Và càng không thể yêu cầu những người đã chịu đau khổ phải quên đi những gì họ đã trải qua, trong khi những ngày kỷ niệm chiến thắng 30/4 vẫn được tổ chức long trọng.

Tôi không viết những dòng này để khơi lại hận thù.

Tôi viết vì tôi đã từng là một người trong cuộc.

Và chính vì đã từng chịu đau khổ, tôi càng hiểu giá trị của hòa bình, tự do và lòng vịtha.

Tôi có thể tha thứ mà không cần phải phủ nhận những gì đã xảy ra.

Tôi có thể hướng về tương lai mà không cần phải xóa bỏ quá khứ.

Tôi có thể mong muốn Việt Nam giàu mạnh, và đồng thời mong muốn những người Việt Nam ở mọi nơi đều được tôn trọng.

Là một người thầy, tôi luôn nói với học trò rằng:

Học lịch sử không phải để nuôi lòng thù hận. Học lịch sử để hiểu con người và để cốtránh lặp lại những bi kịch của quá khứ.

Nếu một ngày nào đó người Việt Nam có thể cùng nhau tưởng niệm những người đã chết ở cả hai phía, có thể nói về những đau thương của nhau mà không cần phải xúc phạm hay phủ nhận nhau, thì đó sẽ là một bước rất lớn trên con đường hòa giải dân tộc.

Tôi đã từng là người lính.

Tôi đã từng là người tù.

Hôm nay, tôi là một người thầy trên đất Mỹ.

Có lẽ chính ba thân phận ấy đã dạy tôi một điều:

Một dân tộc không thể xây dựng tương lai bằng cách bắt một phần dân tộc phải quên những đau thương của quá khứ.

Trong những năm tháng tha hương nơi đất khách, tôi chưa bao giờ thấy được thiện chí của “bên thắng cuộc” bằng những lời xin lỗi những gì chúng tôi phải chịu đựng, những người tù không xét xử, không bản án! Thiện chí của họ có thể chứng tỏ qua việc họ cho người thân vào thăm viếng, xây đắp bia mộ thân nhân họ trong nghĩa trang Quân Đội. Thiện chí đẹp hơn nữa có thể bằng việc trả lại tài sản đã tước bỏ từ tay người dân vô tội của Miền Nam.

Tương lai chỉ có thể được xây dựng khi chúng ta đủ can đảm nhìn lại quá khứ bằng sự thật, đủ nhân ái để hiểu nỗi đau của nhau, và đủ bao dung để không truyền hận thù từ thế hệ này sang thế

hệ khác.

Tôi không muốn con cháu mình tiếp tục cuộc chiến của cha ông.

Tôi muốn chúng được sống trong một Việt Nam mà người Việt Nam không còn phải hỏi nhau:

“Anh đứng về phía nào?”

Mà có thể hỏi nhau:

“Chúng ta có thể cùng làm gì cho tương lai?”

VÀ TÔI MUỐN KÊU GỌI MỘT VIỆC CỤ THỂ:

Nếu chúng ta thật sự muốn hòa giải, hãy bắt đầu từ chính mình.

Hãy kể lại lịch sử cho con cháu bằng sự thật qua góc nhìn trung thực, công bằng.

Hãy lắng nghe câu chuyện của những người từng ở phía bên kia, ngay cả khi câu chuyện ấy làm chúng ta đau lòng.

Hãy để những người từng chịu tù đày, mất mát và ly tán được nói lên trải nghiệm của mình mà không bị buộc phải im lặng hay phải “quên đi”.

Hãy giúp thế hệ trẻ Việt Nam trong nước có cái nhìn thẳng thắn, minh bạch của quá khứ.

Và nếu chúng ta có thể, hãy cùng nhau tưởng niệm tất cả những người Việt Nam đã chết trong cuộc chiến, bất kể họ mặc quân phục nào, đứng ở phía nào. Bà mẹ “Bắc” hay bà mẹ “Nam” đều đau khổ như nhau khi hay tin con mình đã tử nạn trong chiến tranh. (Nhưng chiến tranh này do ai gây nên?)

Đừng bắt con cháu chúng ta phải kế thừa sự thù hận.

Hãy để chúng kế thừa sự thật.

Đừng bắt thế hệ sau phải chọn giữa ký ức của cha ông và tương lai của chính mình.

Hãy trao cho chúng cả sự thật của quá khứ lẫn cơ hội xây dựng tương lai.

Tôi kêu gọi những người Việt Nam ở mọi nơi hãy bắt đầu bằng những việc rất đơn giản:

Lắng nghe nhau.
Nói thật với nhau.
Tôn trọng nhau.
Dạy con cháu hiểu lịch sử
và trân trọng giá trị thực của cuộc sống Tự Do.
Và cùng nhau làm những điều tốt đẹp cho cộng đồng Việt Nam.

Nếu một người từng là tù nhân như tôi vẫn có thể chọn con đường tha thứ và giáo dục thay vì truyền lại hận thù, thì tôi tin rằng chúng ta cũng có thể làm được nhiều hơn thế.

Hòa giải phải bắt đầu bằng việc thành thực xin lỗi, tha thứ, thông cảm và trân trọng lẫn nhau.

Hòa giải chỉ có thể bắt đầu khi “Bên Thắng Cuộc” đủ can đảm để công nhận những lỗi lầm gây cho quân dân Miền Nam trong quá khứ — và chúngtasẽ sẵn sàng bước tiếp cùng nhau.

Nguyễn Kỳ Dzương

Bài Mới Nhất
Search