PHẦN KẾT: KHẢI TRIỀU: NƠI ẤY VÀ TÔI

KHẢI TRIỀU: NƠI ẤY VÀ TÔI

Nơi Ấy… là quê hương, là làng cũ, là cố quận của tôi, là nơi tôi đã để lại một núm ruột…Rồi tôi phải rời xa! Đến nay, đã hơn 70 năm mà sao tôi vẫn nhớ làng cũ, nhớ đến Nơi ấy! Chắc chẳng có ai như tôi, cùng thế hệ, cùng thời đã phải ra sân bay hay xuống tàu ra khơi ra đi, rồi từ 21 năm sau (1954-1975) hay sau đó nữa, đã hơn 20 lần tôi trở về. Tôi có những người bạn không bao giờ trở về vì những nỗi đau vẫn còn rỉ máu mỗi khi nhớ lại cảnh oan khiên của người thân.Tôi cũng có, quê tôi cũng có, còn nhiều đắng cay vì là làng Công giáo. Nhưng tôi vẫn về, cả đến bây giờ mắt đã mờ, chân đã rã rời. Vì tôi muốn ôm lấy tất cả những gì của một thời đắng cay. Có lẽ tôi là một trường hợp khác biệt. Bởi tôi đã được yêu thương, được phục vụ, được sống trong môi trường đạo đức phù hợp với bản tính của tôi chăng? Thế nhưng, hiện nay môi trướng ấy đang chìm dần vào quên lãng và cùng với não trạng chán chê của các thành phần trẻ, ra đời sau năm 1975, kéo nhau bỏ làng, lên tỉnh, lên thành…

Đường làng ở quê tôi, giờ đã có tên gọi, ngõ cũng có tên, có hẻm, có ngách và số nhà theo hẻm và theo ngách. Vì vậy, chất quê cũng theo đó mà mất. Thật ra, chất quê đã mất từ lâu rồi, nhưng bây giờ nó mới rõ ra như thế!

Mùa Hè Năm 1954

Tôi chưa hề quên mùa hè năm 1954, cái mùa hè cuối cùng của tuổi học trò của tôi ở quê nhà, có đủ cha mẹ, anh chị. Tuy nhiên, lần về nghỉ hè này, tôi đã gặp hai điều bất thường mà tôi mới thấy lần đầu. Hồi đó, chưa có con đường từ Ngã Ba Nguộn (nay là Phố Nguộn, kể từ sau ngày sáp nhập thành phố Hà Nội) về thẳng làng tôi như bây giờ, mà phải đi qua làng Văn Hội. Lần này, lúc tôi đi qua một cổng nhà ở Văn Hội thì nghe có tiếng người gọi:

“Chú Tùy đi học về đấy à ?”

Tôi quay đầu lại, mới biết là một thanh niên đang đứng ở cổng, nhìn tôi cười. Tôi không nhận ra anh ta là ai, sao ở làng trên này mà lại biết tôi? Hay anh là người cùng quê với tôi, lấy vợ người làng Văn Hội này? Mặc dù không biết rõ người gọi mình là ai, tôi vẫn mỉm cười chào lại anh.

Điều bất thường thứ hai là ngay khi tôi bước chân vào đến sân nhà mình, thì người đầu tiên tôi gặp là mẹ tôi, lúc ấy đang phơi thóc ở ngoài sân. Nghe tiếng tôi chào, mẹ quay nhìn tôi mà nói như giận:

Về làm gì, cha đã đi rồi, nhiều người cũng đã đi rồi.”

Nghe mẹ nói thế, thật tình lúc ấy tôi chưa hiểu lời người nói. Tôi vội đi vào nhà, đặt cái va-li nhỏ đựng mấy bộ quần áo xuống mặt phản, rồi đi qua nhà người chị ở bên cạnh, ngõ phía trước. Tôi vừa bước chân lên hiên nhà người chị, thì mẹ tôi cũng vừa vào đến sân. Chị tôi lúc đó đang lúi húi ở dưới bếp, thấy có mẹ và tôi về  thì vội bỏ lên nhà. Lúc này, mẹ tôi dịu giọng nói với tôi:

“Lúc nẫy thấy con về, mẹ mừng nhưng đang ở ngoài nắng, có mắng con mấy câu, con đừng giận mẹ. Có nhớ mẹ thì ở nhà mấy hôm thôi rồi lên với anh con ngay. Trong nhà xứ không còn ai nữa đâu. Làng người ta cũng đi nhiều lắm rồi”.

Thấy mẹ và chị nói chuyện về người này người kia ở làng đã lên cả ở Hà Nội hay xuống Hải Phòng, mà như không muốn cho tôi nghe, tôi xin phép về bên nhà thày mẹ tôi, rồi thay quần áo lên phản nằm nghỉ. Tôi đang thiêm thiếp ngủ thì nghe tiếng của mẹ nói:

“Bỏ lên bếp cho nó một bát cháo đậu xanh, lúc nào dậy nó ăn. Ở nhà này chỉ có mình nó là thương mẹ. Phải để nó đi thôi”.

Sau đó là yên lặng. Cái yên lặng của buổi trưa mùa hè ở nhà quê miền Bắc. Nhưng như bây giờ tôi mới hiểu, đó là cái yên lặng sau một quyết định về cuộc đời sau đó của tôi. Cũng chỉ bây giờ tôi mới hiểu những ánh mắt, những cái nhìn của hai người chị, nhìn tôi, khác thường nhưng trìu mến lắm, thương lắm. Chắc là cha mẹ tôi đã nói về việc tôi sắp đi xa.Tôi đã ngủ được một giấc, trở dậy thấy dễ chịu hơn. Tôi lấy nước rửa mặt. Nước trong bể lớn có mui vòng là nước mưa, còn nước ở bể con bên cạnh là nước gánh ở giếng ngoài làng về. Cả hai bể nước nói chung đều rất trong lành, nhưng tôi lấy nước ở bể lớn. Tôi vục cả mặt vào thau nước. Nước mát làm cho tôi thấy lòng nhẹ nhàng, như tan hết những bụi bặm trên đường đi bộ từ Ngã Ba Nguộn về đến nhà. Nhưng lời mẹ tôi nói lúc tôi vừa bước vào sân nhà là cha xứ đã đi rồi, lúc nầy tôi vẫn muốn vào nhà thờ và nhà xứ. Nghĩ thế, tôi liền mặc quần áo rồi đi ngay.

Khi tôi  tới cái ngõ trước cửa nhà thờ, tôi thấy có một người đàn ông, đang đi theo sau tôi, cách xa vài chục mét. Tôi không thể phân biệt được người này có phải là người làng tôi hay người ở nơi khác đến, vì tôi vào ở hẳn trong Nhà Chung, từ năm 12 tuổi, nên không biết nhiều người ở ngoài làng. Lúc tôi đi tới bên hông nhà thờ, trước cửa nhà xứ, thì người đàn ông ấy cũng vào tới sân nhà thờ và đi về phía tôi. Tự dưng tôi bỏ ý định vào nhà xứ, chỉ dừng lại mấy phút trước cổng, vì biết rằng trong đó, nơi tôi đã sống chung với thầy giáo Yêm, anh Căn, anh Thiện, Nhân và Dánh cùng một vài anh em vào nhà xứ sau tôi, trong đó có anh Tùy, anh Giảng, anh Cánh và chú Thường…, nay người thì về nhà, người đi xa, không còn ai ở trong nhà xứ nữa, một khi không có linh mục, ngay đến hai ông bô giúp cha xứ việc cơm nước, nay cũng về với gia đình mình. Tôi thấy nao nao trong đầu, đưa mắt nhìn bâng khuâng vào bên trong, nhớ nhung, bồn chồn. Đôi chân như nặng nề hơn lúc ở nhà bước đi. Lúc ấy, sao mà như có lửa đốt trong lòng, chỉ mong vào ngay nhà xứ thôi. Tôi đi về phía cửa lên nhà mặc áo của các cha, các lễ sinh, ngồi xuống bậc thềm, bên cạnh là cây đại (hoa sứ), sắc hoa mầu trắng. Mấy cánh hoa rụng xuống trước mặt, tôi cầm lên một cánh, đưa lên mũi ngửi. Mùi hoa của cây đại được kể là đã có tuổi thọ, tỏa hương thơm dịu, tôi lại càng thấy nhớ về những năm tôi ở trong nhà xứ, rồi được cha xứ gửi đi trường Hoàng Nguyên, là ngôi trường đầu tiên tôi đi học xa nhà, ngoài trường làng. Người đàn ông tiếp tục đi về phía tôi. Khi đi ngang qua chỗ tôi ngồi, ông đưa mắt dò xét nhìn tôi. Lúc đó, tôi chỉ là một cậu học trò nhỏ, tính rụt rè, chẳng nghĩ suy gì về sự kiện sao người đàn ông này lại cứ theo tôi từ nẫy đến giờ? Ông ta ở đâu đến đây? Hay sau này tôi mới nghe nói, làng tôi cũng có những cán bộ theo VM từ trước, họ đã gieo rất nhiều đau thương cho người trong làng hoạt động tôn giáo, phục vụ nhà thờ, nhà xứ như thân phụ tôi. Khoảng năm 1995, tôi đem câu chuyện hè năm 1954 trở về quê, kể cho hai người bạn văn chương nghe, (Văn Thế Bảo và Ngứa Nhĩ Trần Nguyên Ánh) lúc chúng tôi ngồi uống cà phê với nhau, bấy giờ  tôi mới hiểu  hành tung của người đàn ông đi theo mình. Các bạn tôi đều cho rằng số tôi gặp may, còn được  trở lại Hà Nội để có ngày hôm nay, gặp nhau tại đây. Còn như ở vùng các anh, Vĩnh Phú…, thời gian đó mà ở Hà Nội về là khó ra đi được nữa, mặc dù cũng chỉ là học trò về thăm nhà  cả thôi. Một trong hai người bạn tôi, nói rằng cũng vì nhớ mẹ, nhớ nhà trở về mà thân chỉ chậm một chút là bị kẹt ở lại. Nghe bạn nói, tôi mới hiểu ra tại sao lúc thấy tôi về, mẹ tôi, dẫu mừng và thương tôi, cũng không cầm chế được một chút giận dỗi, đã mắng tôi “về làm gì”!

Tôi không sao ngờ được, đó lại là cái mùa hè cuối cùng trong đời học trò của tôi  được trở về quê mấy ngày ngắn ngủi bên cha mẹ và anh chị.

Tôi nghỉ ở nhà mấy ngày rồi trở lên Hà Nội. Lúc này, ở Hà Nội và trong Hà Đông, người ta xôn xao về việc vào Nam. Trên nhiều con đường trong thành phố bày ra một hiện tượng khác thường là các khu “chợ trời”, bán đủ mọi thứ, như bàn, tủ, giường, ghế, bát đĩa, đồ sành đồ sứ và các loại hàng thủy tinh v.v…, toàn những thứ đắt tiền. Tình thế khó ở, Hội nghị Genève đang tới hồi chung cuộc, kết thúc cuộc chiến Việt-Pháp. Dư luận bàn tán về việc đất nước chia hai. Báo chí và nhất là Đài phát thanh trong nước cho truyền đi liên tục ngày đêm bản nhạc “Nhà Việt Nam”, trong đó có lời:

“Ai ơi đừng phân chia Nam-Bắc-Trung…”

Khi ấy, anh tôi đang ở trong Hà Đông, chạy đi chạy lại giữa Hà Đông và Hà Nội như con thoi. Một hôm, anh mang chiếc xe đạp nhôm nữ, mầu trắng, hai bánh có gắn lưới, tháo rời ra từng bộ phận, bỏ tất cả vào thùng gỗ, đóng đinh lại cẩn thận. Bên ngoài dán một tờ giấy, viết tên anh, còn địa chỉ gửi đến là Redemptoris (DCCT) số nhà và tên đường trong Sài-Gòn. Như vậy là anh em tôi chuẩn bị ra đi, anh bảo tôi thế.

Chiếc xe đạp này cũng có một lịch sử của nó. Đến bây giờ tôi già rồi mà vẫn nhớ nó. Để tôi kể vài lời, như chiếc xe này là một vật kỷ niệm đầu tiên trong đời tôi ở tuổi học trò. Đó là một hôm, tôi đi từ Nhà chung Hà Nội xuống Đền Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp ở Thái Hà Ấp, dọc đường có một cô gái đi xe đạp cùng chiều, quay sang hỏi tôi:

-Chiếc xe này mua bao nhiêu ?

Tôi nhớ lời anh tôi nói, mua nó ở tiệm Vĩnh Lợi đường Phủ Doãn. Chủ tiệm này là ông Mai Văn Hàm, theo anh tôi, ông là thân nhân của Linh mục Gioan Baotixita Trần Đình Cung. (hay Trần Trọng Cung, theo danh sách các linh mục địa phận Hà Nội từ 1835 đến năm 2009), ngài là nghĩa phụ của anh, lúc đó đang ở Sở Kiện, sau khi làm Chính xứ Kẻ Lường, quê tôi. Giá chiếc xe là 2.000 đồng (Đông Dương), gần một năm tiền trọ học của tôi ở Hà Đông, nhưng ông Mai Văn Hàm đã bớt cho anh 200 đồng.

Đó là lần cuối cùng, cái mùa hè cuối cùng của năm ấy, tôi còn trọn cái hình hài học trò với chiếc xe đạp của con gái. Tôi không thể quên giai đoạn này. Tôi viết mấy lời về chiếc xe đạp, khi ra đi cũng mang theo nó vào Sài Gòn, để cám ơn anh tôi, người đã đưa tôi vào Sài Gòn.

Một hôm  thân phụ chúng tôi lên Hà Nội muốn mang tôi về quê, song anh tôi xin với người để cho tôi đi vào Nam với anh, “để chú ấy còn học…”, cha tôi không ép.

Ngày 02.8.1954, chúng tôi lên máy bay ở phi trường Gia Lâm vào Sài Gòn, xuất phát từ Dòng Chúa Cứu Thế, Hà Nội. Chúng tôi đi cùng với cộng đoàn nhỏ trong Hà Đông của cha Matthêu Trần Trinh Khiết, chính xứ Hà Đông lúc bấy giờ, anh tôi thuộc cộng đoàn này. Người chị lớn của chúng tôi có mặt tiễn anh em tôi đi. Khi mọi người đã lên hết trên xe cam nhông để ra phi trường, chị tôi còn mua cho tôi một bát chè đậu đen. Xe chuyển bánh. Anh tôi vẫy tay chào chị, nước mắt trào ra. Hầu như mọi người trên xe cũng thế, ai cũng có người đưa tiễn. Trong tình cảnh đó, ai biết ra sao, người ở lại hay kẻ ra đi thương đau nhiều hơn.

Chiếc Dakota chở đoàn chúng tôi cất cánh từ phi trường Gia Lâm vào 2 giờ chiều trong ngày 02.8.1954 đó và đáp xuông phi trường Tân Sơn Nhất sau hơn 3 giờ bay, giờ còn rất sớm, để chúng tôi còn thời gian nhận phòng tạm trú. Đó là Trường Tiểu học Minh Mạng, nay là trườngTrung học cơ sởHoàng Văn Thụ, trên đường Nguyễn Tri Phương, quận 10. Ngôn ngữ miền Nam đầu tiên tôi đọc và nghe được là chữ “vô”, viết trên một miếng giấy dán trên cửa ra vào một văn phòng nhà trường. Đó là chữ “Cấm Vô”. Lần thứ hai là khi anh em chúng tôi đi lễ sớm tại nhà thờ Ngã Sáu, cách nơi tạm trú không bao xa. Đường xá Sài Gòn ngày đó rất ít xe cộ lưu thông, nhất lại là sáng sớm, nên chúng tôi đi bộ dưới mặt đường, thay vì đi trên vỉa hè, nhưng chúng tôi vẫn đi sát lề đường, tuy vậy vẫn làm một bác đạp xích lô khó chịu, ông quát lớn tiếng “xích dzô” khi đạp xe đi qua chúng tôi.

Hơn một tuần lễ sau, đoàn chúng tôi gia nhập Lực Lượng Thanh Niên Tự Do. Nếu tôi không lầm thì tổ chức này do ông Lê Khải Trạch đứng đầu và có nhiệm vụ đi đón đồng bào miền Bắc di cư vào đổ xuống ở các bến tàu hay phi trường rồi dẫn đồng bào về trại tạm trú. Công việc của họ sau đó là lập danh sách từng gia đình để phát thực phẩm và tiền mỗi ngày. Công việc này rất phức tạp vì có nhiều người đi và đến thường xuyên. Lý do là người cùng một nhà hay cùng một làng ra đi không cùng một chuyến tàu vào Nam, nên một lúc nào đó những người này đã đến được bến bờ và biết trại tạm cư nào có người thân của mình, thì họ xin chuyển về đó để được đoàn tụ, để sau này khi chấm dứt việc di cư trên toàn quốc theo hiệp định Genève, đi định cư ở đâu thì cũng có nhau. Cũng có trại tạm cư trở thành trại định cư, như trại Rạch Dừa, nơi chúng tôi công tác.

Đi tìm cộng đoàn đầu tiên của mình để cộng sinh, đó là đặc tính của xã hội nông nghiệp.

Trước ngày lên đường nhận công tác, anh trưởng đoàn của chúng tôi là Du, đã nói với chúng tôi vài lời nhắn nhủ mà cũng rất tâm tình. Anh bảo rằng từ nay trở đi, chúng ta bước vào một khúc quanh mới, một đoạn đời mới. Điều quan trọng nhất là giữ vững niềm tin, hiệp nhất với nhau trong tình anh em như chúng ta vẫn thế từ trước tới giờ. Hãy cầu nguyện hằng ngày cho nhau.

Đúng ra tôi không thuộc cộng đoàn tu trì này. Sự liên hệ giữa cộng đoàn này và tôi, là do anh tôi ở trong cộng đoàn, nên anh tôi bảo sao hay cộng đoàn quyết định điều gì thì tôi cũng phải theo. Trong cộng đoàn chỉ có anh Du là người duy nhất đã theo đuổi con đường tu trì đạo hạnh mà anh đã đi từ ngày còn ở Hà Đông. Sau ngày chấm dứt công cuộc di cư, trại tạm cư Rạch Dừa trở thành trại định cư, đoàn công tác cũng chấm dứt nhiệm vụ, giải thể hoàn toàn, cộng đoàn tu trì cũng giải tán. Anh tôi ở lại trại, dạy học rồi cưới vợ tại đây. Còn anh Du gia nhập địa phận Cần Thơ. Kết quả là ngày 29.4.1967, anh thụ phong Linh mục. Lúc này, anh có tên gọi mới là Trần Đức Duy. Hơn 40 năm sau, kể từ ngày tôi rời xa anh và cộng đoàn ở Rạch Dừa về Sài Gòn học, thì ngày 17.03.1998, cha Duy của chúng tôi đột ngột đến thăm gia đình tôi ở giáo xứ NH, Tân Bình. Vợ chồng tôi xúc động đến khóc được. Tôi ngỏ lời xin cha làm phép bàn thờ và căn nhà chúng tôi mới mua được 4 năm. Ngài mở túi lấy sách ra làm ngay.

Xin trở lại việc chúng tôi ra Rạch Dừa, Vũng Tàu. Ngày lên đường, mỗi người trong chúng tôi lên một xe chuyên chở lớn của Mỹ, những xe này dùng để đi ra bến tàu chở người di cư về trại tạm cư mỗi khi có tàu từ Bắc vào cập bến. Vì cộng đoàn chúng tôi nhỏ, trên dưới mười người, nên không đủ người phục vụ một trại tạm cư như trại Rạch Dừa có khoảng 60 cái bạt của Mỹ, mỗi cái chứa từ 15 đến 20 người, nên được tăng cường thêm 4,5 người nữa, toàn là thanh niên. Dù là người ngoài cộng đoàn, ngày đó chúng tôi đều hợp nhất, sống chung, sinh hoạt chung.

Ngày chúng tôi lên xe ra Vũng Tàu, thì trại tạm cư Rạch Dừa chưa dựng bạt vì chưa có đồng bào di cư. Chúng tôi ra trước mấy tuần lễ để chuẩn bị mọi thứ, phối hợp với tòa hành chánh địa phương…Thời gian này, chúng tôi ở khách sạn bên hông chợ Vũng Tàu, ngày đó còn có tên là Cap Saint-Jacques, rất gần với bãi tắm trước, nên tôi thường ra tắm hoặc thơ thẩn trên bãi, có ngày thì ra Bến Đình, con đường sạch sẽ, nhiều cây cối, mát mẻ.

Rồi cũng đến một ngày, đoàn chúng tôi phải từ giã khách sạn, từ giã cái chợ trước mặt, bãi tắm và con đường ra Bến Đình, để trở về Rạch Dừa, bắt tay vào công việc đón tiếp đồng bào. Nơi ở của chúng tôi ngày đó là căn nhà bằng gỗ, khá rộng, thuộc làng Thắng Nhứt.

Ngoài công việc về sổ sách, ghi nhân khẩu hàng ngày, theo đó mà phát ra cho từng gia đình, căn cứ trên sổ sách và thực tế, nghĩa là người tị nạn phải có mặt, có đại diện chính quyền sở tại giám sát. Có đêm chúng tôi phải đi “canh trộm” bên ngoài một lều trại nào đó khi có tin báo là có mất trộm. Còn ban ngày thì có một cảnh sát địa phương về trại trực suốt ngày. Nhưng thời gian tôi làm việc ở đó, không có trường hợp nào cần đến cảnh sát can thiệp.

Tôi làm việc ở trại Rạch Dừa có mấy tháng thì nghỉ, vì anh tôi muốn thực hiện lời đã thưa với cha, là để cho anh mang tôi theo vào Nam để tôi còn học. Mặc dù đây là mục đích chính, song mãi về sau tôi mới hiểu còn một lý do khác mà tôi phải nghỉ việc sớm ở trại Rạch Dừa, đó là có một gia đình trong trại do tôi phụ trách, muốn gả con gái cho tôi. Bà mẹ cô gái đã có lần vừa cười vừa nói với tôi rằng, người ta hỏi “nó” có chồng chưa, bà bảo chồng nó đang làm việc trên phòng hành chính (bà ám chỉ tôi). Anh tôi vì muốn giữ thanh danh cho cộng đoàn chúng tôi và cũng chưa muốn tôi có vợ sớm. Lúc đó tôi mới 19 tuổi, cũng chưa hề để ý chuyện trai gái yêu đương.

Trước khi tôi từ giã trại về Sài Gòn học, tôi có vào văn phòng trại để chào người đại diện Chính quyền sở tại. Ông nói vài lời cám ơn tôi về thời gian tôi công tác ở trại, tuy không lâu, nhưng ông nói rằng, tôi dù còn nhỏ, song đã không mắc sai lầm nào, tác phong làm việc nghiêm túc.

Trở Về Lần Thứ Nhất, Năm 1980

(Hay là: 26 Năm Sau)

1/ NHỮNG CHUYỆN VUI BUỒN

Lần trở về đầu tiên, sau 26 năm nổi trôi trên dòng đời, buồn nhiều hơn vui. Trở về, với mái nhà thân yêu của mình, nhưng phải có tấm giấy “bảo lãnh” của người nhà, mới được đặt chân lên mảnh đất thiêng liêng của Tổ tiên! Đó là điều kiện của thời thế, như thể mình không cùng một Tổ quốc, nhưng như một kẻ xa lạ, một người bên ngoài, không chung một giàn.

Tôi trở về trong tình cảnh thất thế, lẻ loi, cô đơn và trên hết: một người con của gia đình, của tổ quán, lạc đàn, không cùng số phận lao lung, không gánh chung thân phận của kiếp người trong thời chủ nghĩa…

Ngày đó, con tàu chở tôi rời ga Sài-Gòn vào một buổi chiều trong tháng 3 năm 1980. Không biết do tàu chạy chậm hay do tôi nôn nao chỉ mong sớm về tới quê, mà thời gian như không chiều một hành khách trên tàu như tôi. Khi tàu vào ga Phủ Lý, Đồng Văn rồi Phú Xuyên, tôi đã đứng lên ngồi xuống nhiều lần, kiểm điểm hành lý chuẩn bị xuống. Mặc dù tôi đã gửi điện báo về là xuống ga Hàng Cỏ, nhưng từ lúc tàu rời ga Phú Xuyên, tôi đã nhìn ra ngoài xem có người thân nào đứng đợi ở Ngã Ba Nguộn không, vì từ chỗ này có con đường đi về quê tôi, khoảng 3km. Lúc này trời đã chạng vạng tối, nhưng cũng sắp tới ga Tía, cách Hà Nội 26km, nên tàu đã chạy chậm lại, cho nên khi đi qua Ngã Ba Nguộn, tôi đã nhìn thấy chị Nhường của tôi và đứa cháu gái, đang đứng ở bên đường, nhìn theo đoàn tàu đi qua. Tôi gọi to tên chị mấy lần song cả hai mẹ con chị không ai có dấu hiệu gì là nghe thấy. Tôi quyết định xuống ga Tía, thay vì ga Hàng Cỏ, như đã báo điện về trước. Một chiếc xích lô duy nhất từ xa chạy tới chỗ tôi vừa nhảy xuống tàu, tôi nói với tài xế  chở tôi xuống Ngã Ba Nguộn, chỗ chị Nhường và cháu tôi đang đứng.

Tới nơi, hai mẹ con chị vẫn còn đứng đó, bên kia đường. Tôi gọi tên chị hai ba lần chị mới nghe được, rồi nắm tay đứa con gái chạy sang chỗ tôi. Chị hỏi: “Ông hỏi ai?” Tôi biết chị không nhận ra tôi vì trời tối và vì ngày tôi ra đi còn là một đứa em út, một chú học trò dẫu đã 18 tuổi rồi, nhưng vì được bao bọc bởi tình thương trong gia đình, nên tôi vẫn thấy mình nhỏ bé, rụt rè và không suy nghĩ gì trước lúc khởi đầu cho một cuộc đời bất trắc, vô định. Nay đã vững vàng hơn, khác xa lắm ngày ấy, nên tôi nói: “Em làTùy đây mà”. Vừa nghe tên tôi, chị ôm chầm lấy tôi, nước mắt trào ra. Rồi nắm lấy tay tôi, vừa đi vừa kể lể nỗi lòng nhớ thương suốt bao nhiêu năm trời xa cách.

Năm đó bố Nguyễn Văn Cừ của chúng tôi còn, nên khi tới nhà chị ở đầu ngõ, chị đã nói ngay: “Phải vào nhà tổ trước, chào thầy đã. Chắc giờ nầy thầy cũng đang mong em lắm.” Đứa cháu gái đã đi đón tôi cùng với mẹ, đã chạy vào nhà tổ báo tin tôi về, nên lúc chị em tôi bước vào cổng sân nhà, tôi đã thấy người cha già đang đứng ở dưới mái hiên, tay vịn cột. Tôi vội chạy lại, ôm choàng lấy người, chỉ thốt lên được một tiếng “Thầy!” Mấy phút như thế im lặng. Những người nhà cũng đứng im chung quanh, rồi tôi dìu người vào trong nhà, cả thân mình người rung lên, bước đi không vững. Tuy vậy, trong suốt một tháng tôi ở nhà, sáng sớm nào cũng thế, khi nghe chuông nhà thờ đổ thì người trở dậy, mặc vội chiếc áo dài thâm, cầm lấy cây gậy tre rồi vào nhà thờ. Ngày nào cũng thế, cả mùa đông rét mướt và sương mù, người không bỏ một giờ kinh sáng nào bao giờ, như lời kể của anh chị tôi. Năm đó, người đã ngoài 80 tuổi, còn tôi 44, thế mà tôi không theo kịp người, mặc dù tôi đã đi thật nhanh. Có lẽ con đường đến nhà thờ đã nhập vào hồn của người.

Từ năm 1953, cha xứ quê tôi đã đi Hà Nội bởi tình hình đất nước ngày đó đang chuyển biến từng giờ, nên cha tôi được ban quyền lo việc bàn thánh, mở cửa Nhà Tạm để giáo dân chầu Thánh Thể trong các ngày Chủ nhật, thứ sáu và thứ bảy đầu tháng; dậy giáo lý hôn nhân cho các thanh niên nam nữ chuẩn bị kết hôn. Khi nào hết Mình Thánh Chúa, trường hợp có linh mục về cử hành thánh lễ, cho giáo dân chịu lễ và khi nào phải thay Mình Thánh Chúa, vì để lâu sẽ mốc, người đi nơi nào có linh mục, như xuống Hoàng Nguyên, lên Bằng Sở, Hà Nội. Từ năm 1965, sau khi du học ở nước ngoài về được ít năm, cha Giuse Đích Nguyễn Ngọc Oánh về Chuôn Trung dưới hình thức quản thúc, thì cha tôi xuống đó. Nhưng có lần cán bộ yêu cầu người không được vào Chuôn, để tránh việc tiếp xúc với cha Oánh. Cha tôi nói: Tôi già rồi không đi xa được. Cán bộ bảo: Cụ phải đi lên Hà Nội, chúng tôi sẽ cấp phương tiện cho cụ đi. Cha tôi trả lời: Tôi không cần tiền. Thấy cha tôi cương quyết như vậy, họ cũng thôi không ép buộc người nữa. Đấy là tôi nghe người nhà kể lại.            

Ngày tôi về đang là Mùa Chay, nên chiều ngày Thứ Năm Tuần Thánh, trong chiếc áo “Các phép”, cha tôi mở cửa Nhà Tạm để giáo dân chầu Thánh Thể. Lúc người bước lên bàn thờ cũng như khi bước xuống, tôi quỳ bên dưới mà hồi hộp quá chừng, có lúc tôi toan chạy lên để đỡ nâng bước chân người vì sợ người ngã. Tôi hiểu rằng người sắp ra đi.

Hai ngày sau là Lễ Vọng Phục Sinh, làng tôi không có thánh lễ, nên tôi theo người nhà và những người trong làng, cả mấy người bên họ mẹ tôi, ở ngoài Hà Thao ngoại, biết tôi về, cũng ghé nhà thăm tôi và cùng chúng tôi dõi theo ánh đèn bão vào Chuôn Trung dự thánh lễ nửa đêm. Nhà thờ nhỏ, số người dự lễ quá đông, nhưng tôi cũng lọt được vào trong lòng nhà thờ, ngồi bệt xuống đất như mọi người. Mặc dù chính quyền địa phương cấm cha Nguyễn Ngọc Oánh làm lễ trước giáo dân, song ngài không kêu gọi, nên giáo dân đến, ngài không thể đuổi họ về. Hơn nữa, bổn phận của linh mục là phải cử hành thánh lễ hằng ngày.

2/ CẢNH NHÀ XỨ AN MỸ NGÀY ẤY

Mùa hè năm 1954, tôi về thăm nhà rồi mấy tháng sau đó vào Sài-Gòn, nhà thờ và nhà xứ vẫn còn nguyên. Nhưng đến nay trở về, 26 năm qua đi, đứng trước khu vực của nhà xứ, từ ngoài sân nhà thờ đi vào, đột nhiên tôi dừng chân, ký ức dồn dập trở về. Không gian và những con người ngày đó mà chúng tôi chung sống, làm việc, học tập và thờ phượng. Nay, chỉ có tôi đứng lặng trên đất cũ. Tôi đã khóc nhiều. Khóc vì nhớ người xưa, khóc vì đắng cay, vì đổ vỡ. Toàn khu vực nhà xứ tan hoang. Dẫy nhà cha Đỗ Đức Hanh, nghĩa phụ của chúng tôi, và các cha tiền nhiệm của ngài ở, chính là ngôi nhà thờ bằng gỗ quí, mái ngói, dựng lên từ năm 1881, tức là trước khi cha già Chi xây nhà thờ lớn, chỉ còn những mảnh gạch vụn. Còn dẫy nhà của thầy giáo và chúng tôi ở, là một đống rơm to của ai để đấy; dẫy nhà bếp, nhà ở của bô Đệ, ông Mỡ, những người giúp việc các cha, cũng như nhà kho, có cối giã gạo bằng đá xanh, đã đổ xuống, được che chắn hờ hững bằng mấy tấm phên làm bằng nứa. Cổng nhà xứ và bức tường nhà xứ, ngăn cách khu nhà xứ với sân nhà thờ, cũng không còn hòn gạch nào trên nền móng cũ. Ngay bên cạnh cổng nhà xứ là cây hồng có tuổi thọ, thân cao đến 10m, chúng tôi không nhìn thấy quả của nó bao giờ, mà có thì cũng không ai dám trèo lên. Nhưng đôi khi có hoa rụng, nhỏ, sắc trắng và có vị ngọt, nay không còn cả gốc.

Tôi muốn đi tới tận nơi những chỗ cũ trong nhà xứ, nhưng trước cảnh đổ vỡ này, lòng tôi chùng xuống, nỗi đau không bao giờ tôi có thể nghĩ tới, nay nó là sự thực trước mặt…Hình bóng của một vị tu sĩ mặc áo chùng thâm, tóc trắng như sương mai, đặc biệt khuôn mặt sáng ngời tinh anh…như đang lặng lẽ bước đi ngoài hành lang trước cửa phòng của ngài. Tôi chột dạ…

Tôi không sao quên được những năm tháng cũ ở đây, dù thời gian khắc nghiệt đã muốn xóa đi tất cả. Bụi bặm của đất, bàn tay bạo tàn không thương tiếc của con người đã gây nên cảnh vật này.

Trở về lần này sau 5 năm kết thúc chiến tranh, tôi không thấy có người lạ mặt nào theo dõi, như mùa hè năm 1954. Có lẽ thế mà một cảm giác bình yên rất hiếm có trong cuộc đời tha hương của tôi từ bấy lâu nay, tôi đã đón nhận được lúc tôi đứng ở trên mảnh đất của nhà xứ. Chính xác hơn thì đó là trước cửa phòng của chúng tôi ở trước kia.

Một cơn gió nhẹ từ phía ao nhà xứ đưa vào, dẫn tôi lên nhà thờ phía cửa ngang.

Vừa bước vào bên trong, tôi phủ phục ngay xuống nền nhà thờ, nước mắt trào ra, nhỏ từng giọt nặng nề xuống nền đất thánh thiêng do Tổ tiên của dân làng chúng tôi, đã dày công tạo dựng. Tôi còn nhận ra một cách rõ ràng những dấu chân non của tôi ngày xưa ấy. Trên kia là ghế ngồi của riêng các chú giúp lễ chúng tôi. Cái thang bên cạnh bàn thờ còn đó, để lên thắp nến ở Tòa Đức Mẹ và các thánh hai bên tường gian cung thánh.Còn cái ghế dài ở giữa nhà thờ bên nam, ngay phía dưới toà giảng, cũng vẫn còn đó, mộc mạc, sơ sài. Ở đầu phía ngoài cái ghế dài này, tôi ngồi ở đó đọc sách vào các giờ kinh chiều hàng ngày.

3/ CÂY HOA ĐẠI VÀ NHỮNG BẬC THỀM Ở ĐẦU NHÀ THỜ

Còn có hai nơi tại đầu nhà thờ, tôi không hề quên, đó là phần mộ của cha già Chi [Tri] vị linh mục đã xây ngôi thánh đường lớn còn tồn tại đến nay, với kiến trúc phần lớn trong Giáo hội Công giáo La Mã hoàn vũ là hai mái và vòng cung Gothicque, khởi công từ năm 1914, mà mỗi lần trở về thăm nhà, tôi thường đến kính viếng, xin ngài cầu nguyện cho quê hương An Mỹ có lòng đạo sốt mến, trung kiên, can đảm hy sinh, làm chứng cho đức tin giữa một thế giới, một xã hội bao phủ mịt mù Chủ nghĩa đấu tranh, tinh thần văn hóa sự chết, vô thần và vật chất; xin ngài cầu nguyện cho ơn gọi linh mục, tu sĩ ngày một thêm có nhiều người hy sinh, tận hiến. Ngoài ra, tại hai bên cửa lên nhà mặc áo, còn có những bậc thềm, hai cây hoa đại hai bên, đã ghi nhiều kỷ niệm mà tôi cảm thấy khó quên. Những kỷ niệm này nằm trong quãng đời hạnh phúc nhất cuộc đời của tôi tại quê nhà!

Bậc thềm bên phải có cây hoa đại già (xem hình), là nơi tôi ngồi đọc kinh vào mỗi tối. Khi hoa nở đầy cành tỏa mùi hương dịu, cũng là lúc những chiếc lá trên cành rụng xuống, lòng tôi có tí xao động. Sau này khi tôi cầm bút làm thơ, viết văn tôi mới suy ngẫm về điều này. Còn bậc thềm bên trái, là nơi mỗi thánh lễ sớm mai, sau khi rước lễ, tôi lại ra đây, đứng ở bậc trên cùng sát với cửa ra vào nhà mặc ào, mắt nhìn về phía mặt trời mọc. Khi thấy vầng hồng nhô lên ở chân trời thì tôi trở vào nhà thờ, nhìn lên chiếc đồng hồ quả lắc treo trên tường, xem lúc ấy là mấy giờ, mấy phút, để sau khi tan lễ, tôi trình cho cha xứ, căn cứ vào đó, ngài sẽ điều chỉnh đồng hồ.

Sau này mỗi lần trở về thăm nhà, lúc đi đến đầu nhà thờ, tôi đều nhìn lên bậc thềm này hoặc lên ngồi ở đó một lúc để nhớ về việc xưa, lúc nào tôi cũng thấy cây hoa đại bên trái này nở hoa trắng tuyệt đẹp. Tôi có ý tưởng ngộ nghĩnh, có vẻ rất lãng mạn, là khi nào tôi chết, hồn tôi sẽ trở về bên gốc cây đại này, để tôi luôn ở bên cạnh Nhà Chúa, trên quê hương tôi, và hưởng được mùi hương dịu của hoa đại, được lá và hoa rụng trên hồn tôi, để tôi có giấc ngủ thiên thu êm đềm.

Ở trước cửa phòng tôi trong Sài Gòn, hiện có cây hoa đại và cây đa, cây đại thì mua ở ngoài, còn cây đa thì con gái tôi mang về từ một dịp về thăm quê, khi cây còn nhỏ. Điều này nói lên rằng, quê hương là một nửa bản thân tôi.

Cuốn phim của gần 30 năm đời tôi lênh đênh giữa dòng đời gian trá và hiểm nguy, trôi qua lặng lẽ trong tâm trí tôi lúc đó, trước sự hiện diện của Chúa Giêsu Thánh Thể trong Nhà Tạm.Tôi cảm tạ Chúa đã dẫn tôi về với gia đình, với người cha già sau bao nhiêu năm mong đợi. Nghĩ đến ngày tôi nằm trong phòng cấp cứu nhà thương lao Hồng Bàng [nay là Phạm Ngọc Thạch] mới năm trước đó thôi, tôi như còn bàng hoàng. Bệnh tôi mặc dù đã hết, song chưa hồi phục hoàn toàn, vì tôi ho ra quá nhiều máu, bác sĩ bảo tôi “thổ huyết”! Nhưng vì nhớ Bố và những người thân trong gia đình, tôi vẫn quyết định về. Hệ lụy là mấy ngày sau khi về nhà, tôi đã ho ra một cục máu nhỏ bên cạnh cái bể nước ngoài sân, làm tôi choáng váng đầu óc một lúc. Khác với lần đầu tôi cũng ho ra một giọt máu khi tôi dạy học trên Ban Mê Thuột năm 1960, tôi rất mệt, phải về Sài Gòn ngay, chứ không như lần này tại nhà tổ, tôi không thấy mệt lắm. Nghĩ đến đây, tôi đã cảm tạ và phó thác cho Chúa.

Sau những phút cầu nguyện, tôi đứng lên, đi chầm chậm một vòng trong lòng nhà thờ, tay chạm nhẹ vào những mảng tường bị thời gian làm xói mòn, lở loét để lộ ra gạch đỏ bên trong, những tấm cửa kính bị vỡ, khung gỗ thì hoen ố, bạc hết mầu sơn, đang trong tình trạng gẫy đổ. Tới chỗ cầu thang lên gác chuông, tôi dừng lại, chân thì muốn bước lên nhưng lòng thì bảo thôi. Tôi không e ngại điều gì, mà chỉ sợ đụng đến cát bụi phủ đầy các bậc thang, in dấu chân của một đứa con xa xứ đã lâu, nay trở về, sẽ làm dậy lên dấu thời gian buồn phiền. Đứng đó mà lòng hồi tưởng xưa kia mấy chú nhỏ chúng tôi thường trèo lên các tầng trên để bắt chim sẻ, và một lần hú vía trốn lính Tây về làng…

4/ ĐI VĨNH PHÚ

Nghỉ ở nhà mấy ngày, sau đó tôi đi Vĩnh Phú với chị Nguyễn Thị Thưởng, một người chị trong họ, thuộc chi tộc thứ nhất, thăm người em trai của bà, là Trung tá Nguyễn Văn Bang đang cải tạo ở trại Vĩnh Quang. Năm 1954, ông là sĩ quan trong quân đội Quốc gia, là “tù binh chiến tranh”, được trao đổi với tù binh bên Việt Minh theo Hiệp định Genève.Trở về với gia đình, lúc đó đã vào Sài-Gòn hết, ngoại trừ người chị ở lại, ông anh họ tôi tiếp tục phục vụ trong quân đội VNCH. Mấy năm sau này, hai lần ông đảm nhiệm chức vụ Quận trưởng, một là Quận Châu thành Bình Dương, hai là một quận ngoài Qui Nhơn. Cấp bậc của ông thời gian này là Trung tá.

Chúng tôi vừa lên tới ga Hàng Cỏ, thì tiếng hát của ca sĩ Khánh Ly vang lên một bản nhạc của Trịnh Công Sơn, trong lúc bị cấm ở Sài-Gòn. Ngày đó, xe lửa chạy tuyến đường Hà Nội-Vĩnh Phú còn chạy bằng than, vừa chạy vừa phun khói, máy nổ phành phạch, các toa tàu thì bụi bặm, thấy rất thô sơ và nghèo nàn. Dọc đường lên Vĩnh Phú, tôi nhìn thấy một tấm bảng đề hai chữ Nghĩa Lộ ở đầu một con đường dẫn vào bản. Tôi chỉ nhớ được địa danh này trong cả hai lượt đi và về, vì Nghĩa Lộ là quê hương của nhà văn Thế Phong. Chúng tôi lên tới Vĩnh Phú thì đã xế chiều. Sau khi trình giấy phép đi thăm, chúng tôi xuống Bến Ngọc đi đò dọc vào. Ở đò lên, chị em tôi lên xe trâu để vào trại. Lúc đó trời đã tối, chúng tôi vào nhà tạm trú nghỉ đêm. Sáng sớm hôm sau, bà chị tôi thức dậy thật sớm để làm thịt con gà mang từ nhà đi, nghĩ rằng ba chị em chúng tôi sẽ được ngồi ăn với nhau một bữa cơm ở trại tù. Tôi và người anh họ xa quê từ gần 30 năm nay rồi, còn bà chị thì ở lại với chồng  con. Bây giờ mới gặp lại nhau trong tình cảnh thế này, nên giàu nghèo gì, thì bữa cơm hôm đó cũng phải có đĩa thịt gà luộc rắc lá chanh. Tất cả đều từ đồng quê thân yêu cả thôi.

Nhưng đến giờ thăm nuôi, bà chị tôi trình giấy phép thì cán bộ nói là người nhà của bà đã chuyển trại rồi. Không thể hỏi cán bộ được câu nào, và cũng không thể hỏi được ai. Một số người từ trong Sài-Gòn đi thăm nuôi người  nhà, cũng ở trong trường hợp như người thân của chúng tôi, nghĩa là người thân của họ cũng đã chuyển trai! Họ cô thân lắm, nặng nề với những  thức ăn và thuốc men cho chồng, ký cóp bao nhiêu ngày tháng. Chúng tôi cũng  chỉ biết nhìn nhau thông cảm và lặng lẽ ra về.

Trong lần trở ra, lúc ngồi trên đò, có một phụ nữ nói giọng khác thường, giống như người nói lắp hay nói cà lăm, song không phải thế. Chị nói mãi mới bật ra được một tiếng, nặng nề và khô cùng với nét khổ sở hiện trên khuôn mặt cơ bần. Một người ngồi cạnh chị, hỏi:

-Tại sao lại nói khổ sở thế?

Chị trả lời:

-Do…d…o…do…đẻ…

Một bà ngồi gần chị, có vẻ hiểu chuyện, nói:

-Do kế hoạch hóa gia đình. Nhiều bà, nhiều chị mang thai bị y tá đến tận nhà, nó đè ra nó mổ ấy chứ. Giọng nói của chị này là biến chứng của việc đó. Nó làm cho người ta sợ không dám đẻ nữa.

Trên  đường trở về Hà Nội, tàu dừng bánh ở một ga nhỏ. Tôi bước xuống tàu, vào một quán nước trong sân ga, gọi ly cà phê. Chưa uống hết một ly nhỏ thì có 3,4 thanh niên bước vào. Một cậu đi vòng trước mặt tôi, ngồi xuống ngay bên cạnh tay phải, còn mấy người kia ngồi  bên trái tôi. Một cảm giác bất an chợt đến trong đầu, tôi đứng lên trả tiền nước, trở lên tàu, mấy phút sau tôi vẫn chưa hết ám ảnh về mấy thanh niên kia…

Tàu đã chuyển bánh…

Lần về này, chúng tôi bị đẩy lên toa chở hàng tồi tệ, người thì nhiều hàng hóa cũng nhiều, ai ngồi đâu cứ ngồi đấy. Chị em tôi ngồi ở giữa hai bên cửa. Ai nấy hình như cảnh giác rất cao, nên lúc nào cũng ôm chặt đồ đạc của mình vào lòng. Trời đã tối, tàu lại đang vào ga, nên chạy chầm chậm, nhưng không dừng lại. Cho nên, toa chúng tôi ngồi xảy ra cảnh hỗn độn. Kẻ lên tàu, người nhảy xuống. Kẻ gian thừa lúc trời tối và lộn xộn, nhảy lên tàu cướp giật hàng hóa, quẳng xuống cho đồng bọn đứng ở dưới. Bà chị tôi “ối” lên mấy tiếng “cướp!” “cướp!”, thùng quà chị mang đi đã bị lấy mất. Tôi ngồi gần đó mà không thể có phản ứng gì.

Cảnh này vừa dứt thì cảnh khác xảy ra, bất nhẫn vô cùng.

Tàu vẫn còn chạy chậm. Ở phía cửa, có mấy thanh niên mặc quần áo bộ đội ngồi bỏ thõng chân ra ngoài, choán hết lối lên xuống. Một vài cụ già bước chân lên tàu, nhưng đã bị một bộ đội đạp vào ngực làm cụ ngã ra phía sau. Còn mấy người kia vẫn ngồi im, không để cho một người nào lên.

Tận mắt nhìn thấy cảnh này, tôi lại nhớ chuyến tàu hôm trước từ ga Hàng Cỏ đi, toa tàu chúng tôi ngồi cũng đầy người, kẻ đứng người ngồi rất xô bồ. Giữa một toa tàu chở đầy những người lam lũ, quần áo bạc màu cũ kỹ, chắp vá nhiều mảnh, thì một thanh niên mặc áo sơ mi trắng, bỗng cất lên giọng kẻ cả. Hắn nói: “Cả nước cùng đi buôn như thế này thì làm sao mà khá được!” Liền đó, giọng một cụ già còn cứng cáp, đáp lại: “Chúng tôi không đi buôn thì lấy gì để sống?!”. Người thanh niên áo trắng lại nói: “Cả nhà tôi sống được nhờ làm cơ quan.” Vừa lúc đó tàu vào ga, người thanh niên bước xuống. Cụ già lúc nẫy, nói: “Giọng nói của hắn có vẻ như là đội trưởng.”

Gã “đội trưởng” này nói như thế và câu trả lời của một cụ ông, là một bày tỏ về tình trạng xã hội lúc đó rất ngặt nghèo, dân đói lắm, nên người người “đi buôn”, nhà nhà “đi buôn”, mặc dù nhà nước nghiêm cấm dân đi buôn, chỉ nhà nước độc quyền kinh doanh. Kinh tế chỉ có một thành phần thôi, là “quốc doanh”. Dân buôn bán là một “tội”, tội “bóc lột”, tội “tư sản”!

5/ LẠI RA ĐI

Tôi không sao quên được buổi sáng hôm ấy, một buổi sáng của tháng 3 âm lịch, trời còn những cơn gió mát dịu, êm ả ở đồng quê, nhưng bỗng dưng tại sân nhà tôi, xuất hiện một không gian thân tình kỳ lạ. Ở góc nhà và góc sân, bên cạnh cây bưởi già, những tiếng nói đầm ấm, những ánh mắt và những nụ cười nhìn tôi như để trao gửi cho tôi một tình cảm thân yêu, trước lúc tôi lại ra đi, lại rời xa họ, những người thân cận trong họ hàng nội ngoại của tôi.

Vâng, đó là một buổi sáng trong đời tôi, giữa lúc tôi là kẻ thất thế. Nhưng tôi vẫn được ôm ấp, được trao gửi thương yêu từ quê hương và họ hàng. Mọi người biết tôi sắp đi, nên đến nhà chào tôi. Trong số người có mặt, có cả người tôi không biết, vì họ sinh ra sau này; có cả bạn bè đã ở với nhau trong nhà xứ trước kia. Ai cũng muốn gặp tôi để trực tiếp nói vài lời chia tay, làm tôi không thể ngồi lâu bên cạnh cha tôi và một người anh trong họ của tôi, tóc đã bạc trắng. Chị Thin thì kéo tôi qua nhà chị ở bên cạnh. Một bạn cũ của tôi cũng theo sang. Chị tôi phàn nàn rằng sắp đến giờ rồi, phải đi ngay. “Thôivề chào thầy đi. Chị hài lòng về em”. Thế rồi chị cầm tay tôi kéo về bên nhà, không để một giây phút nào cho bạn tôi nói. Tôi đành xin lỗi anh.

Mọi người vẫn còn đứng ở sân. Tôi bước vội vào nhà, cúi mình xuống chào cha tôi và người anh họ: “Xin thầy cho con đi!”, rồi ôm lấy người, khóc trên vai áo người. Nước mắt của người cũng rơi xuống mặt tôi. Có tiếng khóc của các chị và các cháu tôi ở trong nhà.Tôi cầm tay người đứng lên, hướng về bàn thờ Chúa, rồi lại khóc, không thể đọc được một lời kinh nào. Các chị tôi khóc lớn tiếng. Người anh họ tôi nói: “Chú ấy đi rồi chú ấy lại về. Thôi để yên cho chú ấy đi.”

Tôi bước qua ngưỡng cửa của mái nhà xưa, ra đứng dưới mái hiên, cúi chào mọi người, rồi quay về phía cha tôi đứng, bước nhanh tới ôm chầm lấy người. Các chị tôi lại khóc, gỡ tôi ra và nói: “Gần tới giờ tàu chạy rồi”, rồi kéo tôi đi. Những người có mặt lúc ấy, cũng tiễn chân tôi lên đầu làng rồi mới quay về. Các cháu tôi, một số theo tôi lên tới Ngã Ba Nguộn, một số lên xe đò cùng đi lên ga Hàng Cõ, tàu trong sân ga chuyển bánh mới trở về.

Lúc đứng trên xe đò, các chị và các cháu tôi vẫn khóc. Có tiếng người đàn ông nói: “Ông này đi công tác xa hay sao mà người nhà khóc mãi thế.”

Tới Văn Điển thì kẹt xe. Chị Nhường đứng bên cạnh, ghé sát vào tai tôi nói nhỏ: “Emcầu nguyện đi kẻo kẹt đường thế này thì tàu nó chạy mất.” Tôi thầm thĩ trong lòng kinh Lạy Cha. Đọc xong thì xe chạy lại như thường, kịp giờ tàu hỏa chạy.

LỜI TẠ TỪ TRĂM NĂM

Cuối năm 2018 quê tôi mở một Hội làng, suốt một tuần lễ, mừng kỷ niệm ngôi nhà thờ 100 năm xây dựng (1914-2018). Và đầu năm 2019, ngôi nhà thờ này và bàn thờ đá được Cung hiến. Một Hồng y và một Tổng Giám mục của Tổng Giáo phận Hà Nội lần lượt về chủ sự hai buổi lễ này.

Nhân dịp này, tôi được cha chính xứ và Hội đồng Mục vụ giáo xứ mời về để cùng với BBT của làng viết một kỷ yếu về giai đoạn đã qua.  Trong một buổi họp của BBT, có gần 20 người, cha xứ chủ sự. Cha xứ nói vài lời về việc sẽ phải làm, phải viết trong kỷ yếu. Ngài dùng phấn viết lên bảng những vấn đề sẽ phải có trong kỷ yếu, chỉ toàn những sự kiện và những ban hành giáo từ khoảng năm 1950 trở về trước và sau này, tức thời hiện tại. Có một người tuổi trạc 70, đứng lên đề nghị trao việc viết kỷ yếu cho tôi, vì là nhà văn,(ông nói đích danh tên tôi).Tôi thấy không có ai lên tiếng về cái dàn bài cha xứ viết trên bảng, bèn đứng lên nói về một vấn đề  không thể thiếu trong kỷ yếu, ngoài các sự kiện và những người phục vụ giáo xứ trong thời gian qua. Vấn đề đó là con người…Kỷ yếu này, mừng 100 năm hay 200 năm, không chỉ có sự kiện này, sự kiện kia, mà quan trọng hơn là 100 năm qua, làng quê mình, về mặt đạo, đã có linh mục nào, tu sĩ nào làm được những gì cho giáo hội hay đã đóng góp gì cho đất nước về mặt văn hóa-giáo dục. Còn giáo dân, có ai ra gánh vác việc nước, việc xã hội không. Tôi nêu tên một vài vị tôi đã chọn trong miền Nam trước năm 1975 và miền Bắc từ năm 1945. Tất cả có 10 vị: về tôn giáo, có 3 linh mục, xã hội có 7 vị. Trong số 7 vị này, ở Hà Nội có 5, Sài Gòn 2. Mới chỉ nghe tôi nói đến tên một người trong Sài Gòn ra chấp chính ở thời kỳ Đệ I VNCH, (đã qua đời sau năm 1975 ở nước ngoài), thì một ông là cán bộ đảng viên thư ký BBT Kỷ yếu, chống đối liền với giọng điệu gay gắt, thù nghịch. Còn một giáo dân cũng trong BBT này thì từ tốn, nhẹ nhàng nói rằng ở làng cũng có người không thích ông X…(tên một nhân vật là đảng viên CS, tôi chọn, tham gia kháng chiến từ năm 1945 mà nay đã chết). Trước tình hình có vẻ căng thẳng, cha xứ và ông chánh trương cũng như những người khác, không có ai nói gì. Mọi người tự động bỏ về.

Ngày hôm sau, tôi vào nhà xứ chào cha để trở về nhà trong Sài Gòn, cha xứ không vui, nói “chuyện chung, ông cứ viết”. Trước đó mấy năm, một thầy Phó tế của làng, nay đã là linh mục, nói tôi cứ viết. Nhưng cha chính xứ hồi đó, đồng ý để tôi viết, song phải chuyển về cho ông kiểm duyệt. Vị tiền nhiệm của cha xứ này thì gạt bỏ Ban biên tập của giáo xứ, còn nói cha và thầy xứ là đủ. Nhưng mọi người đều nói, cha từ đâu tới, biết gì chuyện ở đây. Bởi vì, việc soạn một cuốn kỷ yếu 100 năm hay hơn là việc của làng này. Cha xứ nào cũng ôm lấy vì nghĩ đến chức vị của mình. Nên qua 3 thời kỳ cha chính xứ, làng vẫn chưa có cuốn kỷ yếu như mọi người mong đợi. Nói như thế, vì ở thời điểm đúng 100 năm, tức năm 2018, ngôi nhà thờ lớn đã hoàn thành việc xây dựng, tồn tại tới nay, một BBT cũ, đã soạn ra tập: “Lược sử Giáo xứ Lường Xá”, gần 30 trang, không in hình ảnh. Có in hình ảnh, thì tập này có hơn 70 trang. Có đầy đủ các Ban hành giáo từ thời kỳ 1950 trở về trước và cả hiện tại, với một số đoàn thể Công giáo tiến hành. Có điểm qua thời kỳ khó khăn, không có linh mục. Nhưng không đề cập tới các thời kỳ cải tạo nông nghiệp, Hợp tác xã Nông nghiệp, không kể tới giai đoạn cải cách ruộng đất, đấu tố địa chủ.

Một vài cuốn kỷ yếu của các giáo xứ trong hạt Phú Xuyên, cũng không nói đến các thời kỳ nhân dân bị khổ nạn này.

Năm 2023, tôi viết xong một tập sách về quê tôi, có nhan đề: “Đem tâm tình viết về làng đạo An Mỹ, xứ Lường Xá, Phú Xuyên, Hà Nội”. Sách dày 350 trang, có 5 Chương với các chủ đề (rút gọn):

Chương 1

Tiếng gọi từ trên cao, tức Ơn gọi theo Tin Mừng Chúa Giêsu

Chương 2

Những dấu ấn của trăm năm 

Những địa danh trong tâm thức người dân An Mỹ từ xưa đến nay 

(Hay là: Đất Lạc Việt, huyện Phú Xuyên trong lịch sử Việt Nam)

Tục lệ làng An Mỹ qua bản hương ước năm 1910  

-Những ngày hội của làng 

-Lễ mừng 100 năm xây nhà thờ (1914-2018) 

-Lễ Cung hiến nhà thờ và bàn thờ đá ngày 24.02.2019

.Mấy dòng tiểu sử của cụ Lý Đức Thân, Kiến trúc sư vẽ kiểu nhà thờ Lường Xá 

-Những dấu tích văn hóa cổ trong những ngôi nhà ba gian tại An Mỹ 

Giáo họ Ngọc Lâu trong tâm tưởng tôi 

Chương 3

Những hoài niệm và thương đau  

Mùa hè năm 1954

 Trở về lần thứ nhất, năm 1980  

 Cây đa quê hương 

Từ giếng nước giữa làng thời xưa…

đến giáo xứ trong thời hiện tại

Một thời…không quên 

-Về điều cho toàn xã hội: Hợp tác xã nông nghiệp 

-Giáo xứ Lường Xá …một thời không có linh mục 

 Trắc ẩn – Cải cách ruộng đất, đấu`tố địa chủ.

 Làng An Mỹ trong chiến tranh 

Mõ làng 

Hồn quê-Hồn nước  

Chương 4

Con người và gia đình của làng An Mỹ-giáo xứ Lường Xá

Những Nhân Vật Tiêu Biểu

Đây là vấn đề gai góc và có nhiều ý kiến khác nhau. Cũng vì vậy, buổi họp của BBT kỷ yếu có cha xứ chủ sự và tôi được mời về, đã không thành. Nhưng tôi vẫn viết với tư cách cá nhân, theo ý kiến của cha xứ và một vài người khác trong BBT. Ý kiến hay là quan điểm của tôi về vấn đề này như sau:

Tôi chọn được 7 người, ở quê 5, còn ở Sài Gòn có 2. Thật ra, chẳng có ai được lòng hết mọi người trong làng, ưa người này, ghét ông kia. Khi tôi chọn và để họ ngồi chung trong sách của tôi, thì tôi không nghĩ đến cá tính và đời sống riêng tư của họ. Quan điểm của tôi như sau. Xin dẫn:

Chúng tôi hiểu rằng, đất nước đã kết thúc chiến tranh, thống nhất đất nước 48 năm rồi. Tuy nhiên, không phải tất cả mọi người thuộc dòng giống Việt, nhất là những thành phần đã trực diện với cuộc chiến vừa qua, bên này hay bên kia, bên thắng cuộc hay bên thua cuộc, đều đã có chung một nỗi lòng xót xa và ăn năn, vì chúng ta, Nam và Bắc đã mất mát quá nhiều, đau thương quá lớn, nên dù là 48 năm hay 100 năm cũng chưa chắc có người quên! Nhất là chưa chắc đã hàn gắn được vết thương của sự chia rẽ, thù hận! Nhưng, chúng tôi xác tín một điều: tôn giáo nói chung, Công giáo nói riêng, cùng với sứ mệnh của văn học, nghệ thuật phải đi tiên phong trong việc chữa trị căn bệnh này.

Còn một điều chúng tôi cũng muốn nói vài lời cho cạn lòng mình. Đó là vấn đề muôn thuở: Ưa thích hay ghét bỏ một người nào. Đây là vấn đề hoàn toàn chủ quan. Tục ngữ Việt Nam có câu:

Thương nhau trái ấu cũng tròn

Ghét nhau bồ hòn cũng méo

Triết Gia Hy Lạp là Diogènes (412-323 TCN), được nghe kể nhiều về việc ông thắp đèn (hay đốt đuốc) ban ngày để đi tìm người. Tìm người mà ông muốn tìm. Chuyện không nghe nói ông có tìm được người theo ý ông không. Có lẽ không. Câu tục ngữ Việt Nam và chuyện triết gia Diogènes, là một ẩn dụ nói lên một điều: chẳng một ai sống làm vừa lòng hết mọi người. Được lòng người này, mất lòng người khác!

Những vị chúng tôi chọn in vào mục Những nhân vật tiêu biểu của làng An Mỹ trong 100 năm qua, chắc chắn cũng không phải là hoàn hảo mọi bề, có khi họ còn khuyết điểm nhiều hơn người dân bình thường khác. Cho nên, chúng tôi không phân biệt chính kiến, không phân biệt Quốc gia hay Cộng sản ở cái thời mà họ tham gia, mà chỉ coi đó là những con người tiêu biểu cho quê hương An Mỹ, giáo xứ Lường Xá. Chúng tôi chỉ dựa vào những gì là Công, được xã hội và giáo hội ghi nhận, chứ không nói đến những quan điểm riêng tư về xã hội hay về tôn giáo của những vị ấy. Càng không nói đến chuyện đời tư của những vị này.

Trong số những vị có mặt ở mục này, biết đâu chẳng có vị “quay lưng” lại với đức tin tôn giáo mà cha mẹ hay người bõ đỡ đầu họ đã thay mặt họ lĩnh nhận trong ngày họ được ẵm đến nhà thờ để nhận phép Rửa tội,hoặc cũng có thể họ đã chống lại đạo ấy theo chính sách bài tôn giáo hết sức gay gắt và thô bạo của một thời đã qua. Thế nhưng, quan điểm và lập trường của chúng tôi trong việc soạn mục này là: chỉ có tinh thần Tin Mừng, sống theo Chúa Giêsu là cùng đích của chúng tôi, hoàn toàn không có một ý tưởng chính trị hữu hay tả nào ở đây. Đối với Thiên Chúa thì không một ai bị loại trừ. Còn việc xét đoán hay phê phán, đó không phải là việc của bất cứ ai, ngoại trừ Thiên Chúa.

Trước đó, người viết đã nói đến các nhân vật về tôn giáo, như có linh mục nào là tiêu biều không.

Về tôn giáo (Có 3 Linh mục)

Về đời sống chính trị, hành chính, quân sự, kinh tế(Có 7 người)

Những gia đình tiêu biểu về đời sống đạo (Có 6 gia đình)

Người làng An Mỹ sống tại Sài Gòn từ năm 1954 đến nay.

Vì thời thế: họ ra đi 

Kết luận về sự hình thành nhà thờ An Phú tại quận Ba Sài Gòn.

Chương 5

Mấy Vấn Đề Khác  

Làng An Mỹ đã mất và được những gì? 

Giã biệt quê hương 

1-Tôi rời xa quê nhà từ năm 18 tuổi, khi trở về thì tóc đã bạc, cảnh trí nơi ngày xưa mình gắn bó đã thay đổi. Tôi ra bờ hồ, nơi có tượng đài Đức Maria Hồn Xác lên trời, Bổn mạng quê hương tôi, nhìn  lên Mẹ mà tâm tư:

Mẹ còn đây. Quê hương còn đây!

Ánh vầng dương vẫn tràn đầy Tin Yêu

Ôi quê hương! Vấn vương nhiều

Thơ tôi là tiếng quốc kêu đêm hè

Bao lần về. Bao lần đi

Đi về hai ngả biệt ly trăm chiều

Bâng khuâng nhớ bát cơm chiều

Hồi chuông tắt lửa đìu hiu cõi lòng

Ở nông thôn ngày xưa, lúc tác giả còn ở nhà, có ba hiện tượng rất ấn tượng. Đó là tiếng chim quốc kêu tại các rặng tre ở bờ ao. Nó trở nên biểu tượng của những tâm tư, những sĩ phu yêu nước, thấy lòng tan nát khi nhìn thấy đất nước bị nhấn chìm trong lửa máu chiến tranh, phận người lênh đênh, chìm nổi. Thời gian người ta nghe tiếng chim quốc kêu là vào trưa mùa hè, hoặc về đêm, nên nó gợi cho người ta nhớ đến bài ca dao “Đêm buồn”:

Đêm qua ra đứng bờ ao

Trông cá, cá lặn

Trông sao, sao mờ

Buồn trông con nhện giăng tơ

Nhện ơi! Nhện hỡi! Nhện chờ mối ai?

Buồn trông chênh chếch sao mai

Sao ơi! Sao hỡi! Nhớ ai sao mờ?!

Chữ “nhớ” ở đây là “nhớ nước”. Vì nước đã mất. Cũng có thể hiểu là tác giả bài ca dao “nhớ” đến những anh hùng trong lịch sử dân tộc, hoặc một lãnh tụ nào đó còn ẩn mặt. Nên hiểu, bài ca dao này xuất hiện trong thời kỳ Việt Nam bị Pháp đô hộ trong suốt 80 năm. Và có lẽ thế mà con chim kia gọi là “chim quốc”? Quốc là nước. Còn những chữ “chờ mối ai” ở câu trên là chờ một anh quân, xuất hiện cứu nước.

Thứ hai là “bát cơm chiều”, nó chứa đựng biết bao nhiêu là tình cảm và trìu mến đối với người xa quê. Thứ ba là “hồi chuông tắt lửa”. Sau buổi kinh chiều, đèn trong nhà thờ đều tắt. Đã hơn nửa thế kỷ nay, những điều này không thấy được nói đến trong văn học nữa. Vì thế cần được nhắc lại vì đó là những sắc thái đặc thù của nông thôn Việt Nam ở thời yên bình. Còn hồi chuông tắt lửa là một biểu hiện mầu nhiệm của đời sống tôn giáo, nó làm cho tâm hồn con người thấy nao nao lúc chiều về.

2- Với những người năm xưa đã khuất bóng và những người rời xa quê hương và những người thân trong bất cứ trường hợp nào, không trở về:

Ở đâu bây giờ những người năm cũ?

Gió từ tha ma dưới kia thổi về

Bờ tre xơ xác, ao hồ hoang lạnh

Cây đại ngoài sân có ai quét lá?

Một người cô đơn

Ngồi bên thềm đá

Tóc rũ gió lùa

Lệ ứa bờ mi

Lá vàng bay bay

Rơi trên bờ cỏ

Lá vàng rơi rơi

Rơi về cổ mộ

Nhớ người nằm đó

Trăm năm còn gì!

Lá rơi vào tim

Con tim rướm máu.

  • Sau khi nhận được một bức hình  từ quê nhà đăng trên facebook, ngôi nhà thờ có tháp chuông cao và hai mái của quê tôi với lời ghi: “đón ánh hoàng hôn đầu thu 2018”, tác giả cảm xúc viết bài thơ Trăm Năm, kèm một lời nhắn gửi người trẻ:

TRĂM NĂM

Thu tới hoàng hôn êm dịu quá

U hoài cho lữ khách viễn du

Trăm năm còn đó người đâu tá?

Hỏi người hay ta hỏi ta!

.

Hỏi người hay ta lại hỏi ta?

Tình xưa hương lửa (1) đã phai nhòa?

Nhắn người năm cũ (2) bao vương vấn

Xưa hoàng hôn nay lại hoàng hôn.

.

Bây giờ ta lại hỏi ta

Trăm năm hồn cũ còn đâu nhỉ

Ai người biết được chỉ ta nhé

Lửa hương xin hãy nhóm lên đi.

———-

Ghi chú:

(1)Tình xưa hương lửa”: “hương lửa”: chỉ sự thăng hoa tinh thần (như lửa và hương bốc lên) trong phụng vụ. Ở đây chỉ  sự gắn bó giữa nhà xứ, nhà thờ với tác giả từ những năm 1948-1954

.(2) “Nhắn người năm cũ”: nhân cách hóa hai nơi này. Đồng thời nhớ về những người cùng thời đã xa cách.

LỜI VIẾT CUỐI

Tôi khởi sự viết cuốn sách này vào năm 2024, và xong vào tháng 2 năm 2025. Thời gian này, tình hình chính trị Việt Nam có nhiều thay đổi, chính xác hơn thì những thay đổi ấy thuộc về nội bộ đảng Cộng sản cầm quyền. Thế nhưng, vì họ toàn trị, cho nên những thay đổi ấy cũng ảnh hưởng lên toàn bộ đời sống chính trị ở Việt Nam, ảnh hưởng lên toàn bộ xã hội Việt Nam. Rồi việc Bộ trưởng Công An Tô Lâm từ Hà Nội bay vào Sài Gòn, hôm 01-7-2024, để chủ sự buổi lễ  “Ra mắt Lực lượng Tham gia Bảo vệ An ninh, Trật tự ở cơ sở”. Đáng chú ý là buổi lễ được tổ chức trước chợ Bến Thành, nơi đã có lúc, (rạng sáng ngày 14-03-1966), trở thành Pháp trường cát, thời Nguyễn Cao Kỳ làm Thủ tướng, để xử bắn một tay đầu cơ gạo, đó là ông Tạ Vinh.

Kể từ buổi lễ này, Nhân viên Dân phòng, Dân phố hợp nhất vào lực lượng công an, một lực lượng vốn đã có gần 300.000 người. Mỗi 900 người dân thì có một nhân viên “bảo vệ”. Quá hoàn hảo!

Sự kiện thứ hai cũng xảy ra vào tháng 7/2024. Đó là việc, TBT Đảng CSVN Nguyễn Phú Trọng qua đời (19-7-2024), ở tuổi 80. Mấy tháng sau, Bộ trưởng Công an, ông Tô Lâm ngồi ghế TBT đảng.

Hàng ngũ Đảng có nhiều thay đổi về nhân sự, chuẩn bị cho Đại hội Đảng lần thứ 14 họp vào đầu năm 2026.

Đấy là bối cảnh xã hội lúc tôi đang viết cuốn sách cuối cùng của tôi. Lúc này, mắt tôi đã mờ lắm, nhìn cảnh vật chung quanh, như nhìn qua một màn sương. Một buổi sáng nọ, tôi thức dậy thật trễ sau một đêm khó ngủ, tôi đã có ý tưởng “nghỉ thôi!”, dù sách chưa xong! Cũng đành! Do dự, đắn đo một lúc để có quyết định cuối cùng. Chợt, tôi nhớ đến một cuốn sách mỏng, luôn luôn ở trước mắt tôi, có tên là “Lời Vàng”-Từ Kinh Thánh- Sự khích lệ mỗi ngày, (nxb Mỹ Thuật, 2009).Tôi bước xuống giường, mở cánh tủ sách, cầm lên cuốn này, mở ra ngay. Tôi đọc trang bên trái, thấy tựa đề: “Kiên Trì”. Gấp sách lại ngay, để vào chỗ cũ. Tinh thần tôi tinh tấn lên, bừng dậy tư tưởng “Đừng sợ”!

Quyển sách “Những Người Bạn Văn Chương” của tôi, được hoàn thành trong tinh thần ấy. Với bất cứ người bạn nào có tên trong sách này, tôi đều thấy còn thiếu sót, chưa nói hết được những cảm nghĩ của họ về những gì họ bày tỏ trong những trang văn thơ của mình. Có người vừa viết tôi vừa khóc, nhớ đến những ngày xa xưa có nhau. Gặp nhau là duyên, nên nghĩa thiết, ân tình là ân điển từ trên cao.

KHẢI TRIỀU

Bài Mới Nhất
Search