Thắng Đào: Vũ khí hóa chấn thương: chiếc mũ “cộng sản” và cây gậy “bài Do Thái”

Có một điều mỉa mai đau đớn khi nhìn hai cộng đồng đều được hun đúc bởi những chấn thương sâu nhất của lịch sử lại đem sử dụng cùng một sách lược chính trị để dập tắt tiếng nói bất đồng. Cộng đồng người Việt hải ngoại, được rèn trong lò lửa chiến tranh và ly tán, giờ đang chứng kiến một số “lãnh tụ” thành phố và cộng đồng tự phong dán nhãn mọi đối thủ chính trị là “cộng sản”. Cách nửa vòng trái đất, những người bênh vực chính sách của Israel lại dùng lời tố cáo “bài Do Thái” đối với bất cứ ai chỉ trích chủ nghĩa Zion. Địa lý khác nhau, nhưng cơ chế thì y hệt: lấy một điều ác có thật trong lịch sử, đẽo nó thành cây gậy chính trị, rồi vung xuống đầu bất cứ ai đụng chạm tới cơ cấu quyền lực mà mình muốn bảo vệ.

Là một thành viên của cộng đồng người Mỹ gốc Việt, tôi đã nhìn sự biến chuyển này với nỗi lo âu ngày một lớn. Chữ “cộng sản” từng là danh xưng của chế độ đã buộc gia đình tôi phải trốn chạy rời bỏ quê hương. Hôm nay, nó bị quăng vào mặt các chính trị gia Dân chủ ủng hộ kiểm soát súng, vào những người trẻ gốc Việt tranh đấu cho công bằng xã hội, vào bất kỳ ai dám đặt câu hỏi liệu lòng trung thành tuyệt đối với Donald Trump có phù hợp với những giá trị dân chủ mà cha mẹ chúng ta đã đánh đổi tất cả hay không.

Cơ Chế Của Sự Vũ Khí Hóa

Khi một số nhân vật trong cộng đồng chúng ta tuyên bố rằng các chính trị gia Dân chủ thuộc dòng chính là “cộng sản từ trong bản chất”, họ không hề đang làm phân tích chính trị. Họ đang diễn lại một nghi lễ mà mọi phong trào độc đoán đều hiểu rất rõ: chỉ cần định nghĩa đối thủ là người đứng ngoài ranh giới xã hội chính đáng, thì anh không cần phải đối thoại với lập luận của họ nữa. Ngay cả tiến trình thẩm tra của chiến dịch Harris, theo tường thuật, cũng từng nêu câu hỏi liệu việc Tim Walz đi Trung Quốc nhiều lần có gây quan ngại hay không; và hàng ngũ “gác cổng” trong cộng đồng ta lập tức biến câu hỏi ấy thành lời kết tội chụp lên bất cứ ai không chia sẻ lòng trung thành đảng phái với họ.

Công thức rất đơn giản. Thứ nhất, đồng hóa phe đối lập chính trị với một điều ác trong lịch sử mà cộng đồng mình thực sự sợ hãi. Thứ hai, tự đặt mình vào vị trí là người bảo vệ duy nhất trước cái ác ấy. Thứ ba, coi mọi thứ khác với lòng trung thành tuyệt đối là hành vi tiếp tay cho kẻ thù.

Giới vận động cho chủ nghĩa Zion đã thực hiện đúng theo khuôn ấy suốt nhiều thập niên. Phê phán việc mở rộng khu định cư ở Bờ Tây? Anh là kẻ bài Do Thái. Hỏi xem việc Hoa Kỳ viện trợ quân sự vô điều kiện có thật sự phục vụ quyền lợi nước Mỹ hay không? Anh là kẻ bài Do Thái. Bày tỏ tình liên đới với thường dân Palestine? Lời cáo buộc sẽ đến trước khi câu nói của bạn kịp dứt. Như một nhà phân tích đã nhận xét, thứ vũ khí hóa này dựa vào việc “dùng kinh nghiệm chống người Do Thái trong quá khứ để vô hiệu hóa phê phán, đồng thời tạo thêm cảm tình cho nhà nước Do Thái”. Cố lãnh tụ đảng Meretz của Israel, bà Shulamit Aloni, đã từng nói thẳng từ nhiều chục năm trước rằng đó là “Một mánh chúng tôi vẫn dùng. Khi ở Âu Châu có ai chỉ trích Israel, thì chúng tôi lôi Holocaust ra.”

Điều khiến chiến thuật này hiệu quả là nó đào sâu vào những vết thương thật. Chống Do Thái là có thật. Cộng sản bách hại cũng là có thật. Cha tôi đã từng trải qua nhiều năm trong trại “cải tạo” của Việt Nam. Nhưng khi nỗi đau thật bị biến thành dùi cui chính trị, hai bi kịch xảy ra cùng lúc: phê phán chính đáng bị bóp nghẹt, và vết thương ban đầu bị hạ xuống thành vài khẩu hiệu tuyên truyền

Nghịch Lý Trump

Chính ở đây, sự bất nhất trong nhận thức trở nên không thể chịu nổi.

Người Việt tị nạn đã bỏ chạy khỏi một chế độ gom quyền lực vào tay một lãnh tụ, đòi hỏi trung thành cá nhân, kiểm soát báo chí và xem luật pháp chỉ là gợi ý. Thế mà rất nhiều lãnh tụ dân sự của chúng ta lại ôm chặt Donald Trump—một người từng tìm cách đảo ngược kết quả một cuộc bầu cử dân chủ, công kích các thẩm phán xử bất lợi cho mình, ca ngợi lãnh tụ độc tài trong khi gây hấn với các đồng minh dân chủ.

Khi Trump ghé Eden Center ở Falls Church, ông ta nói với đám đông: “Tôi không biết vì sao, các vị sẽ phải giải thích cho tôi, vì sao cộng đồng người Việt yêu tôi đến thế, và tôi cũng yêu họ.” Sự bề trên, trịch thượng trong câu nói ấy đã bị bỏ qua bởi những người chỉ nghe thấy vế tán dương. Nhưng một số trong chúng ta nhận ra ngay: đây chính là cách “lãnh tụ” nói với thần dân, chứ không phải cách một người lãnh đạo nói với công dân.

Thực tế kinh tế còn trần trụi hơn. Những đe dọa áp thuế của Trump đối với hàng hóa Việt Nam sẽ đánh sập các sinh kế dựa vào nhập khẩu ở những khu Little Saigon từ Westminster đến Falls Church. Thế mà một số bậc cao niên gốc Việt vẫn sẵn sàng chấp nhận giá cả leo thang “miễn là làm hại được chính quyền Việt Nam”. 

Đó là tiếng nói của chấn thương, không phải của chiến lược. Và nó đang bị các chính trị gia chẳng hề quan tâm gì tới sự sống còn kinh tế của cộng đồng ta khai thác triệt để.

Khoảng Cách Thế Hệ và Tỉnh Thức

Trong câu chuyện này vẫn có hy vọng, và hy vọng ấy nằm ở lớp trẻ.

Thế hệ thứ hai, thứ ba người Mỹ gốc Việt ngày càng dứt bỏ thứ phản xạ chống cộng máy móc đã vận hành như một chiếc áo bó chính trị trói chặt cha mẹ và ông bà họ. Họ hiểu rằng chống cộng không đồng nghĩa với việc phải đứng chung hàng ngũ với chủ nghĩa da trắng thượng đẳng. Họ nhận ra các huyền thoại được tái chế quanh đề tài biên giới không thể thay thế cho phê bình chính sách nghiêm túc. Họ thấy rằng đảng Dân chủ đưa ra những lập trường về giáo dục, quyền sinh sản, và công bằng kinh tế gần với hệ giá trị của họ hơn.

Dân biểu Derek Tran (D–California), người đã lật ghế Cộng hòa bằng cách nhấn mạnh căn tính người Mỹ gốc Việt trong khi ra tranh cử với tư cách đảng viên Dân chủ, cho thấy một mô hình khác. Là con trai của người tị nạn Việt Nam chạy trốn “cộng sản đàn áp sau ngày Sài Gòn sụp đổ 1975”, Trần đại diện cho sự khả thể của một sự dấn thân chính trị bám rễ trong kinh nghiệm cộng đồng, chứ không bị khóa cứng bởi chủ nghĩa tuyệt đối ý thức hệ. Chiến thắng sít sao của anh—chỉ hơn có 653 phiếu—cho thấy lá phiếu của người Mỹ gốc Việt không hề là một khối đồng nhất, và lớp cử tri trẻ đã sẵn sàng rời bỏ cuốn “sổ tay” cũ.

Sự kháng cự lại cuộc thức tỉnh này đã diễn ra đúng như dự đoán và vô cùng xấu xí. Khi Tran tuyên thệ nhậm chức, lập tức xuất hiện những chiến dịch được tổ chức bài bản nhằm bóp méo hồ sơ của anh và gieo rắc chia rẽ trong cộng đồng tị nạn. Báo chí tiếng Việt đã ghi lại cách một số nhóm “bóp méo có hệ thống” lập trường của Tran, đặc biệt về vấn đề cưỡng chế di trú, mà các nhà phân tích xem là nỗ lực “chia rẽ cộng đồng tị nạn” dọc theo đường ranh đảng phái. Các chiến dịch này nhắm thẳng vào giới trẻ gốc Việt, những người dám đặt câu hỏi liệu việc trung thành với đảng Cộng hòa theo phản xạ có thật sự phục vụ quyền lợi hay hệ giá trị của họ hay không.

Cái Giá Của Sự Đánh Đồng Giả Tạo

Sự so sánh giữa việc chụp mũ “cộng sản” và việc chụp mũ “bài Do Thái” không nhằm đồng hóa hai kinh nghiệm lịch sử ấy với nhau. Nó nhằm phơi bày một chứng bệnh chính trị giống nhau.

Cả hai chiến thuật đều vận hành bằng cách làm cho mọi ranh giới bị sụp đổ. Chúng khăng khăng rằng phê phán một chính sách của nhà nước là đồng nghĩa với thù ghét một dân tộc. Chúng đòi hỏi các cộng đồng bản sắc phải ứng xử như những khối chính trị đồng nhất, và mọi khác biệt đều bị coi là phản bội. Chúng bảo vệ quyền lực tại vị bằng cách biến hành vi đặt câu hỏi thành hành vi phạm thượng. Như Liên đoàn Chống phỉ báng (ADL) gần đây cảnh báo, thứ ngôn ngữ như thế “nuôi dưỡng những thuyết âm mưu đã tồn tại từ lâu” và biến mọi đối lập chính trị thành bằng chứng cho những “nỗ lực được cho là nhằm chi phối chính sách đối ngoại của Mỹ” phục vụ lợi ích ngoại bang.

Hậu quả là chính diễn đàn dân chủ bị suy yếu. Khi mọi bất đồng chính sách đều được nâng lên thành một mối đe dọa sinh tử, thì thỏa hiệp trở thành điều bất khả. Khi đối phương không chỉ sai mà còn bị coi là ác, thì thương lượng đồng nghĩa với đầu hàng. Đó là cách các nền dân chủ chết đi—không phải bằng một cuộc đảo chính chớp nhoáng, mà bằng sự mục ruỗng dần dần của khả năng đối thoại với nhau.

Làn sương chiến tranh phủ trên tâm trí

Điều chúng ta đang chứng kiến không gì khác hơn một cuộc tấn công có chủ ý nhắm vào sức khỏe tâm lý của cộng đồng người Việt tị nạn hải ngoại. Suốt nhiều thập niên, một nhóm nhỏ những “người gác cổng” tự phong đã duy trì ảnh hưởng bằng cách canh chừng những ranh giới tư tưởng được cho phép. Họ dựng nên một nhà tù ý thức hệ tinh vi, trong đó chuẩn mực của “lòng trung thành” không còn là gắn bó với giá trị dân chủ, pháp quyền và nhân phẩm, mà là trung thành với một thương hiệu đảng phái cụ thể và duy nhất. Mọi khác biệt đều bị trừng phạt bằng cáo buộc tối hậu: cộng sản.

Đó là làn sương chiến tranh phủ lên trí óc và tâm hồn — một chiến lược có chủ ý để giữ cả cộng đồng bị kẹt mãi trong chấn thương 1975, không còn nhìn ra thế giới như nó đang thuộc về năm 2026. Lợi dụng nỗi đau có thật của những người tị nạn đã mất hết tất cả, rồi vũ khí hóa nỗi đau ấy để chế tạo sự phục tùng chính trị cho những nhân vật sẵn sàng xé nát chính những thể chế dân chủ đã cưu mang họ.

Lời Kêu Gọi Can Đảm

Sẽ thật khó khăn để ủng hộ một chính quyền chủ động che chở cho những kẻ ấu dâm bằng cách chôn vùi hồ sơ Epstein, bảo vệ các “ông lớn” ấu hiếp thay vì đưa họ ra trước công lý—một chính quyền tiếp tay nuôi dưỡng nạn kỳ thị chủng tộc và hận thù từ vị trí quyền lực cao nhất, dùng người nhập cư làm vật tế thần chính trị để đánh lạc hướng giai cấp lao động trong khi giới giàu nắm cơ hội vơ vét cả đất nước. Vẫn luôn khó khăn để ủng hộ một chính quyền phát động chiến tranh với giáo dục thông qua cấm sách và kiểm duyệt, đốt trụi tự do học thuật cho phép trẻ em tự mình suy nghĩ, để lại cho chúng sự ngu muội và phục tùng. Đó không phải là hành vi của một nhà nước bảo vệ người yếu thế; đó là hành vi của một chế độ mang trẻ em, phụ nữ và sự thật ra tế trên bàn thờ quyền lực. Im lặng hay tiếp tay trong bối cảnh ấy là phản bội mọi giá trị mà tôi được dạy rằng nước Mỹ đứng về phía đó.

Với những đồng hương Mỹ gốc Việt đã tự thuyết phục mình rằng ủng hộ Trump là cái giá phải trả cho lòng trung thành chống cộng, tôi xin hỏi: rốt cuộc chúng ta đang cố gìn giữ điều gì?

Nếu dân chủ có ý nghĩa gì, thì nó phải có nghĩa là quyền được bất đồng mà không bị trục xuất khỏi cộng đồng luân lý của mình. Nó có nghĩa là đánh giá người lãnh đạo bằng mức độ họ tôn trọng các chuẩn mực dân chủ, chứ không phải bằng những kẻ thù mà họ khoe khoang là căm ghét. Nó có nghĩa là nhìn rõ một người từng tìm cách đánh cắp một cuộc bầu cử không thể là kẻ bảo vệ giá trị dân chủ, bất kể ông ta nói gì về Trung Quốc hay Bắc Hàn.

Với những ai đang vung chữ “cộng sản” như một vũ khí chính trị: quý vị không hề bảo vệ di sản của chúng ta. Quý vị đang phản bội nó. Quý vị đang lấy điều tệ hại nhất từng xảy ra với gia đình chúng ta và biến nó thành một công cụ để dập tắt đối thoại giữa những con người tự do trong một đất nước tự do.

Những người trẻ gốc Việt từ chối thứ chính trị này không có nghĩa họ là kẻ thân cộng. Họ là những người dân chủ theo đúng nghĩa—những người tin rằng tự do có nghĩa là quyền được tự mình suy nghĩ, trong đó bao gồm cả quyền được từ chối lối trung thành chính trị thừa hưởng từ nỗi đau.

Chúng ta không rời bỏ Việt Nam để rồi chấp nhận một kiểu áp đặt tư tưởng khác. Chúng ta ra đi để con cháu mình có quyền nói khác đi, có quyền tranh luận với chính chúng ta. Đã đến lúc phải để chúng được làm điều đó. Đã đến lúc vén làn sương quá khứ, chăm sóc lại đời sống tinh thần của mình, và gìn giữ cộng đồng khỏi những người kẻ đang khai thác ký ức tăm tối nhất của chúng ta vì lợi ích chính trị của họ. Câu hỏi còn lại là liệu những “người gác cổng” có chịu lắng nghe hay không — liệu họ có chịu nhường chỗ cho một thế hệ nhất quyết không tiếp tục sống trong gia tài sợ hãi.

Giờ thức tỉnh đã điểm.

Thắng Đào

(Theo Việt Báo)

*Bài do CTV/TVBH gởi

Bài Mới Nhất
Search