Túy Hà: CÁT BỤI LƯU VONG (THƠ)

XIN BẤM VÀO ĐÂY:

Túy Hà: CÁT BỤI LƯU VONG (THƠ)

Thay Lời Tựa / Tình Người Ý Thơ Túy Hà / Dòng Sông Say / Thơ

Tùy bút Văn Nghệ Nguyễn Hữu Nhật.

Túy Hà, Dòng Sông Say, bút hiệu của người say thơ hay người say rượu? Thơ Túy sẽ trả lời câu hỏi đó với những người yêu thơ. Là một trong nhiều người yêu thơ Túy, qua bài Tùy bút Văn nghệ nhỏ nhoi này, tôi xin mạn phép Quý bạn đọc để viết lên những cảm nghĩ của mình về Dòng Sông Say, thơ của một thời xa xứ.

Xin hãy nghe thơ Túy, như một lời vinh danh người nữ, trời sinh ra để sáng tạo con người:

*Anh tự nhủ / Giấc mơ là có thật Bởi vì em báo hiệu một bình minh.

Bình minh, khởi đầu một ngày mới, sớm mai tràn đầy ánh sáng và âm thanh. Tiếng chim hót, tiếng gà gáy rộn, nắng hồng lên như môi má, cánh hoa đào buổi sớm mùa xuân. Nhưng ở đây, thơ Túy, con chim én không báo hiệu mùa xuân, mà em, người báo hiệu bình minh.

Bầy chim én, sáng nay, không đến và đàn chim sẻ cũng bỏ đi, gió khua động mái tôn, trời xám, gió rền rĩ trong cảnh hoang vu, gọi nắng lên; nắng đầu ngày đã tắt.

Mây đọng sương mù. Sương mù bao phủ cả chén cơm chim, mà thơ Túy gọi là chén cơm thừa. Nhánh cành sầu đông, như cánh tay người run rẩy, lá rụng không biết về đâu… Ðấy không phải là phong cảnh. Nó là tình cảnh, đêm chiến tranh Việt Nam, đêm hấp hối. Ðêm hơi thở những đời người xanh xao. Ðêm mưa. Mưa vụn thủy tinh. Lạnh cắt da. Rát mặt. Em, bình minh, hòa bình không đến. Cội cây hoa sứ già, tái ngắt, buồn, và:

Bầy chim sẻ sáng nay không đến Có hề gì hơi ấm đã đầy sân

Có hề gì chén cơm lạnh phân vân Vì em chính là cội nguồn nóng hổi

Trong giấc mơ, anh tự thưởng cho mình.

Hòa bình, em, bình minh đã đến. Ngày yên vui Việt Nam đã tìm mọi cách trở về. Chỉ trong giấc mơ.

Phải chăng, bài thơ Buổi Sáng là như thế?

Hòa bình, chưa phải hết phân tranh

Ðồng tịch, đồng sàng còn nguyên mộng mị

Mộng, là mơ, mơ trong giấc mơ là mị. Sông Gianh xưa, Bến Hải ngày nào, không còn là biên giới gươm đao, sung đạn, nhưng lòng người hai bờ Nam, Bắc chưa hẳn đã cùng chung ước mơ bình minh, em, hòa bình:

Người nối người, bỏ ruộng đồng, đất khổ Dắt dìu nhau nhắm hướng thị thành Tranh ăn tìm sống

Lầm than bãi rác, bờ kinh

Người với người, tranh ăn, không kiếm ăn. Nỗi khổ cùng tận của con người là không có đất. Nỗi khổ cùng tận của đất là không còn người. Ðất không bỏ người. Nhưng người phải buông đất. Buông bỏ bờ sông, bãi cát, nơi quê nhà để trầm mình trong bãi rác, bờ kinh tại đất khách. Ðất khách ở ngay trong lòng quê hương. Cuộc đời màn sương, chiếu đất, thời của quỷ:

Nhưng dưới mắt người dân chạy loạn Ngửa cổ kêu oan, đòi đất, đòi nhà Vẫn chỉ là lũ nửa người, nửa ngợm Lợm tanh mùi máu, mùi bùn.

Giặc nào mà chạy loạn, hỡi người dân, mới hôm qua đây còn gọi nhau là đồng chí, “mang theo tình yêu giai cấp trong tim”, những người “con yêu của đất nước”. Sao hôm nay, qua thơ Túy, vội trở thành tiếng gọi hồn:

Rờn rợn sắc mây, nhạt nhòa nhân ảnh Tiếng đao binh

Còn gọi hồn tử sĩ

HÒA BÌNH CÓ THẬT CŨNG NHƯ KHÔNG.

Thơ Túy, như tôi được biết, thường làm giữa hai cơn say. Say rượu để quên đi phần nào vận nước, cảnh nhà; nhưng khi nào càng cố quên lại là lúc càng nhớ tới. Chỉ có say… thơ, mới giúp Túy Hà tỉnh lại, sống cùng với quê hương, nơi con sông Bến Hải đã nối nhịp cầu Nam, Bắc, song tình vẫn chia Bắc, Nam. Tại sao lại như thế này mãi, hỡi một dân tộc duy cảm, tình người:

Và dòng sông dường như vẫn chảy Nhưng oan khiên tắc nghẽn giữa dòng.

Oan khiên nào xuống từ trời? Cuộc “cách mạng bạo lực vô sản chuyên chính” làm “tắc nghẽn giữa dòng” sinh mệnh dân tộc. Hàng triệu người, cả Nam lẫn Bắc, nằm xuống cùng với bao triệu người con côi, vợ góa, đui mù, què quặt, những ông già, bà cả không chốn nương thân; vì tham vọng quyền lực đen tối của tập đoàn tội ác đỏ. Nơi mỗi con người chỉ còn là chiếc-bóng-của-chính-mình, một đơn vị lao động mang số quân:

Người là hình-thật-nghiêng say Hay là bóng-ảo-mây bay chiều tà

Phận người, như bóng chữ nằm nghiêng, ý không còn ở ngoài lời nói, bởi chữ và nghĩa ở một thời dài, tráo trở, nói một đàng làm một nẻo, đã không còn chữ nào nghĩa đó; tự

do là tự do nô lệ; dân chủ là chủ dân… Thơ Tuý cũng lấp lửng một câu hỏi:

Ý gì dưới bóng chữ nghiêng

Mà sao như thể niềm riêng lửng lờ Điều gì giữ kín trong thơ

Giữ kín một tình yêu trong thơ Say / say Thơ và lững lờ câu trả lời Thơ tình yêu / Tình yêu thơ:

Hãy yêu như yêu lần đầu

Cuối sông là biển xanh màu ái ân.

Trăm nhánh sông, xa nhiều nguồn khác biệt, đều cùng nhau đổ dồn ra biển cả xanh ngọc bích niềm hy vọng thương yêu. Trên dòng sông say, thơ nói về người làm thơ, sống “ngược đời”, thay vì nước chảy chỗ trũng:

Trái tim anh vốn tật nguyền

nhiều ngăn chứa quá nên điên đảo đời Nói ra cứ ngỡ như chơi

sức tàn lực tận vẫn bơi ngược dòng.

Thơ, hay người làm thơ tật nguyền, nỗi đau đớn tận cùng, chẳng thể nào quên; một tâm hồn lành mạnh, không tật nguyền, với một cuộc sống bình thường; sinh ra, lớn lên, đi học, ra trường, đi làm, về già, nghỉ ngơi… Con người chỉ còn phải chống chỏi với thiên nhiên {bão tố, lụt lụt lội, động đất, hạn hán}, bệnh tật, không phải đương đầu với những tệ hại do con người gây ra từ các học thuyết chính trị bệnh hoạn, hoang tưởng {cách mạng vô sản, chủ nghĩa lý lịch, giai cấp đấu tranh, sinh mệnh chính trị} và nhiều thứ qủy quái khác trong guồng máy công an trị, nâng cao đảng tính, hạ thấp nhân tính.

Dòng sông say, thơ Túy Hà, tiếng kêu mới nghe đứt ruột, hơn cả Ðoạn trường Tân thanh, ở một góc cạnh nào đó; bởi những nàng Kiều người Việt ngày nay, lên năm, lên tám

tuổi ở Nam Vang, Cao Miên, đến từ đồng bằng sông Cửu Long, vựa lúa của cả nước, thời mà Tú Bà chỉ mười lăm, mười tám; mã Ðạm Tiên nhiều không kể xiết, những hồn oan khuất vùi thây biển Ðông:

Đất nước ta Tú Bà nhiều lắm

nhiều Mã Giám Sinh, nhiều lắm Khuyển, Ưng chưa tính sổ thêm nhiều họ Hoạn

toàn ăn trên, ngồi trốc độc quyền. Thời buổi nhiểu nhương

Vương Ông thất chí

bao nhiêu Kim Trọng vào tù.

Cây cỏ bên đường nhuộm màu đỏ máu Vô số Đạm Tiên thủy táng biển xa.

Và đã có bao nhiêu Kiều phiêu dạt

khắp Đông Tây Nam Bắc chẳng bình yên.

Cái tỉnh của một người say, khác xa, với cái say của một người tỉnh; thơ say Vũ Hoàng Chương “khúc nhạc hồng êm ái, điệu kèn biếc quay cuồng, một trời phấn hương”; thơ say, Túy Hà, choáng váng vì:

Phải Em đến từ miền Tây lục tỉnh của ruông đồng thẳng cánh cò bay em đến từ miền trung xứ Quế

hay là từ rừng núi Trầm Hương cũng có em Bắc Kỳ xứ Cốm

cùng cải danh tên hiệu Thúy Kiều.

Ðoạn trường Tân thanh, xưa, Nguyễn Du đổ thừa cho Trời “bắt phong trần, phải phong trần; cho thanh cao, mới được phần thanh cao”; Ðoạn trường Tân thanh, nay, buồn quá đỗi:

Nguyễn Tiên sinh ơi! Có người đang khóc Vì Tố Như không viết được phần hai

của Đoạn trường Tân thanh có thật giữa quê ta và cả quê người.

Hồng sơn Liệp hộ là Tố Như, cũng là Nguyễn Du, với tập tiểu thuyết bằng thơ Lục bát, Kim Vân Kiều, viết về cuộc đời mười lăm năm Vương Thúy Kiều “bán mình chuộc tội cho cha”, dù Vương ông chẳng có tội gì.

Thời nay, chẳng có tội gì, cũng ba năm “tập trung cải tạo”; “ba năm chỉ là cái mốc”, ba năm chưa tiến bộ, lại ba năm nữa… Cứ thế. Mà thành ra chín hay mười hai năm “xử lý hành chính”. Không án tòa. Nên khi “cục quản lý trại giam” thả ra, chỉ cấp “giấy ra trại”, ngụ ý có thể “vào trại” bất cứ lúc nào… Cha mẹ, các nàng Kiều thời “Ðịnh hướng Xã hội Chủ nghĩa” tội gì?

Tội ngồi trên vựa lúa, đồng bằng sông Cửu, sông Hồng mà… đói; bởi tập đoàn địa chủ, mang tên Ðảng, ép giá mua, nâng giá bán; lúa gạo xuất cảng (khẩu) hàng thứ hai trên thế giới mà dân cầy, thợ cấy… vẫn đói.

Nói chi người thương binh, của cả hai Miền sau cuộc chiến (què quặt, mù lòa, bệnh tật, tuổi già…)? Có người ôm đàn, hát, xin ăn, mượn truyện Kiều để nói:

Tiếng lục huyền cầm Vang vang phố thị

Áo gấm về làng nghe hiểu gì không. Và riêng tôi rùng mình tự hỏi

Phải chăng mình họ Sở tên Khanh!

Cám ơn anh

người thương binh ở lại

đã cho tôi nhìn rõ chính tôi.

Cám ơn thêm câu ca lời hát

thức tỉnh người và đánh động lương tri.

Như Túy Hà, Dòng Sông Say, muợn cái tiếng “mình” để nói về “kẻ khác”, những tên “Sở khanh Chính trị”, những quân “Sở khanh Văn nghệ”; chúng kêu gọi nạn nhân phải hòa hơp với thủ phạm; chúng xin phép bọn Việt gian bán nước, cho chúng được xuất bản thơ văn, loại “xa quê hương nhớ mẹ hiền” hoặc “mày, tao, uống rượu”; văn thơ có thể phù du, song không phù phiếm như thế; phù phiếm vì phù

thịnh, phò theo sự giàu có, quyền hành của bọn gian ác. Bọn ác gian “cho” vì những tên, quân, đồ Sở Khanh “xin”. Chúng hân hoan, chúng bằng lòng để mất đi cái quyền đương nhiên Trời cho: Nghĩ, Nói và Viết. Bọn ác “kiểm duyệt” mọi người. Bọn ác hơn, “tự kiểm duyệt” trước khi  đi đến cửa công “xin kiểm duyệt”. Cho nên, cái “ngông nghênh, bạt mạn, bất cần đời” trong thứ “thơ văn/văn thơ” Sở Khanh ấy thường “chết non” vì “kẻ chê bất nghĩa, người cười vô luân” (Kiều). Phải chăng, có những người không muốn làm người? Làm “Tiên thơ”, “Thánh tửu”, khó lắm vì “tài năng là một sự kiên nhẫn lâu bền”. Không chỉ dăm ba điều vui thú hay buồn bực cất lên mà thành thơ văn?

Con gà, con chó còn yêu tự do, thích sổ lồng, tháo cũi; sao con người lại tự nguyện từ bỏ sự Tự do Tư tưởng của mình? “Ngoài vòng cương tỏa, chân cao thấp” không sướng hơn ư? Ở nơi biển rộng, không kiểm duyệt, sao phải lộn ngược về ao tù, trầm mình, xin kiểm duyệt?

Nước đang mất, đâu chỉ Nam Quan, Bản Giốc, Hoàng, Trường Sa, mà cả Biển Ðông, cả Nước! Xin hãy nghe và đừng bao giờ quên:

Bầy sẻ nhỏ đi đâu không đến nhặt dùm ta những hạt ưu phiền Ðêm vô tình dẫm lên nỗi nhớ ngày hoang vu lạnh ngắt gió hiên

Khóm trúc già cựa mình thật lạ cỏ úa vàng nhăn mặt đau da Nghe trong gió lời rên của biển mơ hồ như tiếng gọi Trường sa.

Bầy sẻ nhỏ sáng mai có đến mang dùm ta tia nắng quê nhà

Và nếu được thêm vầng trăng khuyết soi đường ta lạc lối tha ma.

Ðang rợn người như nghe sóng lạ dội vào tim ứ máu Hoàng sa

Là lời cát hay lời tử sĩ

mà sao nghe vọng tiếng quân ca.

Máu, nước mắt, mồ hôi thời dựng nước, qua mấy nghìn năm giữ nước nối tiếp mồ hôi, nước mắt, máu nhục nhằn, xen kẽ hiển hách; đời tiếp nối đời, hết chạy ăn lại chạy loạn; loạn thì lạc, loạn lạc, nhưng dân tộc mình không lạc nhau. Thơ Túy chỉ sợ lạc chính mình:

*Dường như có tiếng thở dài

trên từng trang giấy vàng phai tháng ngày Dường như có chút heo may

trên từng con chữ còn đầy ghét thương Dường như có chút khói sương

thấm trên nét bút mực vương nhạt nhòa.

Dường như đã rụng cánh hoa

người cài trên ngọn kim thoa thuở nào Dường như từ cõi chiêm bao

giữ bao kỷ niệm xanh xao không lời Thời gian chân bước ai mời

tại sao còn khắc dấu đời trên mi Làm sao nhặt được xuân thì

từ trong hoài cổ Ðường thi vật vờ Như hồn Lý Bạch, chất thơ,

thả trên sông lạnh thẫn thờ tương tư Mò trăng đáy nước thực hư

chỉ là mộng ảo ngất ngư một thời.

Dường như sóng dậy trùng khơi

trong ta từ thuở người bơi ngược dòng Dường như có cả bão giông

trong ta từ thuở sen hồng nhạt phai.

Xa người đã mấy mùa mai

hoa vàng xưa cứ nở hoài trong ta Biết rằng ảo mộng, chỉ là

tơ đàn lỗi nhịp, lời ca chưa tròn Và tim người ứa máu son

chia xa ngàn dặm vẫn còn nhớ nhau.

Dường như giấy mực nhạt màu

còn nguyên tình chữ thấm đau riêng mình.

Mai, hoa vàng xưa, không nở trong vườn, không nở ngoài rừng; chỉ nở trong trí tưởng, chỉ nở trong thơ, thơ mờ theo giấy mực nhạt; hồi ức rồi cũng phai theo thời gian trôi đi, như dòng nước rời nguồn, ra biển, không bao giờ trở lại? Nước bốc hơi, gặp lạnh, thành mưa, mưa đổ xuống nguồn; nguồn sối, dòng sông, biển cả, chẳng thể lìa nhau. Như văn thơ không tách khỏi vận nước, cảnh nhà, phận người. Văn thơ, tiếng nói của trái tim người, chẳng thể lạnh lùng gỗ đá; huống chi cả đến gỗ đá cũng là chúng sinh, được thần linh hóa, nếu chúng được tạc thành hình con người để thờ phụng?

Trăng trên trời, không với tới; trăng đáy nước, không mò được. Trăng thật và trăng giả đều xa cách, chỉ còn vầng trăng trong thơ, nơi tâm hồn người bày tỏ?

Dòng Sông Say, Túy Hà, hành giả, người “làm một việc gì đó”, cho mình và cho đời, thường là bậc thức giả, trước hết phải hiểu chính mình là ai:

Ta là hành giả thất thần

xa người vẫn ngỡ đang gần mới đau Ta là hành giả bạc đầu

phong trần phiêu bạt biết đâu là nhà.

Nhà thơ ở đường Saint Emanuel, thành phố Houston, tiểu bang Texas, USA, hay Bến Ðình, Ô Cấp Việt Nam? Trong “đại tam thiên thế giới” này, đâu chẳng là nhà? Hay là

Huế? Huế, 1968, sau lời chúc lành đầu năm, dội lại những ánh mã tấu, ngời sáng răng đen cải mả, lấp lánh ánh thép cuốc, xẻng đập vào đầu “bọn phản động” cho rơi xuống mồ tập thể, khỏi tốn đạn…

Xuân nào hoa nát máu bầm, oan khiên chồng chất tiếng than ngất trời.

mả ông trạng, bạc màu vôi, thêm bao mộ mới, mồ côi phận người.

Bốn mươi năm lẻ mấy rồi, không hương khói ấm giữa đời lạnh tanh.

vết thương mưng mủ đã đành, ẩn sâu dấu kín vẫn hành thịt da.

Ðời người, ai chẳng từ lòng mẹ tới lòng đất? Nhưng Ðất Mẹ nào muốn những người con của mình, thẳng tay với nhau, theo kiểu “giết, giết nữa, bàn tay không phút nghỉ” để “thờ Mao chủ tịch, thờ Stalin vĩ đại”. Mùi tử khí, không chỉ ở những tử thi, mà còn xực nức trong thơ miền Bắc một thời dài, đằng đẵng, “nay ở trong thơ nên có thép”. Thép đã tôi thế đấy!

Ðâu rồi? Huế của hương quế trầm tóc mẹ, mùi hoa chanh, vỏ bưởi, mùi rơm rạ trên cánh đồng mồ hôi cha; mất rồi, Huế của những đêm trăng, thuyền thơ, thả trên sông Hương, điệu Nam Ai, buồn, buồn mà đẹp, bởi chất thơ trữ trình trên nón, nhịp lơi Mái Nhì, nhịp dồn Mái Ðẩy, chèo ngược nước hay chèo xuôi giòng?

Người với cảnh Huế, tự có tang thương, cần chi phải thêm tang tóc

Nước sông Hương đậm máu tươi, tang thương khóc hận nụ cười trắng tay.

Làm sao rửa hết oán dày, trong tâm vô đạo giữa bầy quỷ ma.

Thôi thì cũng một lần qua, cây bồ đề cũ, chuông xa vọng gần

cho dù trí nhớ mòn dần, vẫn còn thương quá mưa dầm Huế xưa.

Chuông xa mà tiếng vọng gần? Tình yêu quê hương gần mà quê hương thì xa? Xa Huế mới thấy gần Huế. Như ăn cơm hến, nhớ Cồn Hến, nhớ O như nhớ ớt xanh, cơm nguội, chan canh hến, cùng rau ghém… Nước Cồn Hến đôi chỗ đã cạn, giờ bồng bềnh rác rến, hến còn chết huống chi người nấu cơm hến. Nhưng người đi xa, từng ăn cơm hến Huế, vẫn nhớ người ở lại:

Nhắn thêm em ở bến cồn, hến còn hay mất ta luôn nhớ người

Tình chung là Huế một thời, ý riêng mây nước, mộng vời cố nhân.

Là cố nhân của nhau, mỗi con người ngày xưa, năm cũ ấy, vẫn tìm nhau trong mộng. Như ngọn lửa, mồi rơm, người giữ lửa và người đi xin lửa, hôm nay đây đều già cả rồi, sao ngọn lửa ngày nào vẫn cháy đỏ những chiều mùa đông nhớ Huế, rét ngọt, ớt xanh cay cơm hến.

Chẳng có gì là khó hiểu cả:

Câu hỏi cũ nhưng vẫn là cứ mới Vì trái tim đâu có tuổi bao giờ

Và nhịp thở trong từng ngăn nhung nhớ Vẫn rung lên rộn rã những tình cờ.

Túy Hà, thơ, Dòng Sông Say, hỏi ai hay hỏi chính mình, tự vấn, trong sự “tình cờ” cố ý? Về những ngày Quảng Trị lửa đạn, máu nhuộm cát hồng, gió Lào pha cát hừng hực nóng bỏng; những người cắm lá cờ Vàng trên Cổ Thành nay đâu? Còn ai nhắc đến:

La Vang đồi cát nhuộm hồng

gió Lào thổi ngược máu nồng còn tanh Từ tro tàn lửa chiến tranh

Ðông Hà, Cam Lộ buồn tênh phận người.

Những phận người “sinh bắc, tử nam”, “biển người” chết không kịp làm bia tưởng nhớ, dọc dãy Trường Sơn trên đường đi “B”, Nam tiến. Chết cho ai?

Ngộ ra ở giữa đôi bờ/ Lằn ranh sinh tử sợi tơ vô tình.

Ngộ ra, múa bút vẽ hình/Quê hương xa lắc, bất bình hí ngôn/.Hai tay nhúng mực chiêu hồn/ Những oan khiên giữa chiều hôm mộ đời./

Âm thanh vỡ, Tiếng ma cười/ Chân tê gối bại Không lời thở than.

Cuối cùng, bên cạnh “người thua nằm dưới huyệt, kẻ thắng giữ nghĩa trang”, sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, thay vì làm thơ ngoài bãi chiến trường, Túy Hà đã làm thơ trong nhà tù, trại An Dưỡng Biên Hòa… Những bài thơ thời mất nước, nhớ nhà, nhìn ra thân phận mình giữa ‘Thế giới Tự do”; dựa lưng vào đâu, hỡi người lính chiến “Lực lượng Ðặc biệt”?:

Thân ta như ngọn cỏ bồng, một lần lìa gốc

buồn trông nắng tà,

Sông dài, núi lớn đường xa, mơ về cố quận

vào ra thẩn thờ.

Cố quận? Xã Thắng Nhứt Vũng Tàu, nơi sinh ra năm 1946, chẳng cách xa Biên Hòa xứ bưởi bao nhiêu, nhưng vẫn xa cách bởi trùng điệp hàng rào dây kẽm gai. Những cơn đói lả người, củ khoai, mẩu sắn cũng trở thành hạnh phúc; song không đáng sợ bằng: Quân đội đâu, đồng minh đâu, Công ước Geneve về tù binh đâu?

Cha mẹ, vợ con, ở bên ngoài nhà tù nhỏ là nhà tù lớn, sống bằng cách nào, khi vốn liếng cuối cùng là sự quen biết nơi đời sống xã hội cũng bị tước đoạt? Thơ, từ “Tình yêu lang thang & Chiến tranh”, 1969, tới “Dấu ấn Da vàng”, 2006, suốt 37 năm “làm thơ không in”, bi kịch cho người, thảm

kịch cho thơ. Vậy mà thơ, Dòng Sông Say, vẫn cuồn cuộn, tình yêu, phơi phới:

Xin đừng tặng em hoa hồng

khi em đang hát

trong lòng gai đâm xin đừng cúi xuống

cầu thân – nắng chiều đã tắt hôn lầm trái ngang.

Tơ rung

Đã lạc cung đàn Bài ca điệu hát từng trang rối bời hỡi anh đừng nói những lời

tôn vinh hư ảo như hơi thở dài.

nhớ đừng tặng hoa có gai

tim em nhỏ máu chưa phai

cuộc tình Hỡi anh

đời đâu riêng mình mà anh lại cứ

trọng khinh thế thời. nắng chiều phai nhạt cuộc chơi

qua đường

ai nhặt hương phai hoa tàn hoa hồng

sao như hoa tang lới ca tiếng hát nén nhang

tặng người.

Riêng em chỉ cần nụ cười

níu bờ môi ấm bên đời có nhau.

Cười? Ai chẳng biết cười! Không, cười và biết cười là hai việc khác nhau. Phải biết khóc rồi mới biết cười, mới biết nụ cười khác xa tiếng cười. Tới độ, nếu cảm đề thơ Dòng Sông Say, Túy Hà, tôi sẽ nói, theo cách quê mùa của tôi, NHN:

“Kẻ nào không biết khóc/ chẳng phải là con người Người nào không biết cười/Là kẻ ngu nhất đời!”

Dẫu không được cái mỉm cười của Ca Diếp khi dâng hoa lên đức Phật, cũng phải có “miệng cười như thể hoa ngâu”, tươi tắn, thơm tho, mang ướp trà được.

Và, tới đây, xin hãy để cho thơ Tùy Hà, Dòng Sông Say, khép lại giùm bài Tùy bút Văn nghệ này:

Cám ơn bạn, cám ơn đời

Khổ đau, thấm thía tình người, ý thơ.

Nguyễn Hữu Nhật / Houston / Texas / 27.03.2010.

*Chữ in nghiêng thơ túy hà

Bài Mới Nhất
Search