Viết về nhà thơ Lê Mai Lĩnh, thật là một sự liều lĩnh. Ông là một cây bút sung mãn. Vào Google. Bấm tên Lê Mai Lĩnh, có hàng loạt bài viết về ông. Nhưng tôi cũng xin được mạn phép viết thêm về ông với góc nhìn của riêng tôi. Tuy hạn hẹp. Nhưng đây là cái nhìn của một người đi sau, trân trọng với cõi thơ rất bi tráng của ông.
Lê Mai Lĩnh, tên thật Lê Văn Chính, sinh năm 1942 (khai sinh 1944).
Sinh quán: Quảng Điền, Triệu Phong, Quảng Trị.
Khởi nghiệp văn chương từ năm 15 tuổi (1957) với bút hiệu SƯƠNG BIÊN THUỲ.
Trước năm 1975 từng cộng tác với: Nghệ Thuật, Khởi Hành, Gió Mới, Ngàn Khơi, Văn, Tiền Phong…
Cựu Sĩ Quan Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà.
Sau 1975, ông qua nhiều trại tù Cộng Sản từ Nam ra Bắc.
Hiện đang định cư tại thành phố Austin, Texas – Hoa Kỳ
Tiếp tục sáng tác. Bài của ông có mặt trên nhiều tờ báo ở Mỹ, Canada và Châu Âu.
[Tác phẩm Lê Mai Lĩnh (*) xin xem phần cuối bài. Bản đính kèm].
Trước tiên, tôi xin được chia tập “Thơ Tình Lê Mai Lĩnh” thành hai phần, dù ông cho cả hai xen kẽ vào nhau trong toàn tập. Thơ Tù và Thơ Tình:
I. Thơ Tù:
Ông phác họa chân dung mình bằng những nét chấm phá rất khí khái:
“Bảy năm làm lính,
Tám năm, sáu tháng làm tù,
Năm mươi sáu năm cầm bút xung phong,
Giờ 72, mình vẫn không muốn làm người đào binh.”
(Chân Dung Người Lính Thi Sĩ Miền Nam)
Thơ ông như những “truyện thật ngắn” được nâng lên tầm mức thi ca. Mở đầu tập “Thơ Tình” là bài thơ đã gây được ấn tượng mạnh cho người đọc. Nó nói lên tâm trạng của một người biệt xứ. Đành đoạn ra đi. Trong bối cảnh đất nước đang là một bức tranh xám xịt:
“Dẫu thế nào tôi cũng phải đi,
Đành đoạn ra đi.
Thà chọn cho mình một kiếp lưu đày,
Hơn bị lưu đày trên chính quê hương.”
(Lời Tạ Lỗi Với Quê Hương)
Những hình ảnh cũ của những ngày tôi 13, 14 tuổi bỗng hiện lên trong đầu. Như những thước phim khốc liệt. Làm tê liệt dây thần kinh hệ trong sọ não. Lúc ấy, lúc tôi đang còn cắp sách đến trường và lớn lên trong bom đạn; thì ông đã dấn thân vào máu lửa để bảo vệ quê hương, đồng bào. Để rồi phải vào tù đến hơn 8 năm. Và sau đó lại bị lưu đày trên chính quê hương mình, gần suốt 12 năm.
Chiến tranh thật tàn bạo. Ý thức hệ đã bào mòn tri thức mọi người, khi những lời tuyên truyền dối trá đã tẩy não những thế hệ đi sau của kẻ thắng cuộc. Bằng những cơn mưa máu. Bằng những dẫn dắt sai lạc như của Chu Lai trong “Mưa Đỏ”.
Những câu thơ dưới đây. Khi đọc, đã làm lòng tôi rướm lệ:
“Những cha con, chồng vợ, cháu chắt, ông bà,
Bồng bế, gồng gánh, chân đất đầu trần.
Đói khát, khóc la và gào thét.
Đi trên mìn chông, đi trong đạn lạc,
Đi giữa bom napalm, đi cùng tiếng đại bác.
Đi suốt con đường khổ nạn, trầm luân,
Bên thây người lăn lóc,
Bên thây người thối rữa,
Bên thây người tanh hôi,
Và những em thơ gào la bên vú mẹ
không còn giọt sữa.
Đó là mùa hè năm 1972.
Đại Lộ Kinh Hoàng.
Quảng Trị quê ta, trong ngút trời lửa đạn.”
(Lời Tạ Lỗi Với Quê Hương)
Ông thao thức vì quê hương, đất nước. Điều đó thể hiện trong thơ ông với tinh thần Ức Trai. Có những đêm chờ sáng trong tù, nghe tiếng còi xa, mà nhớ cụ Nguyễn Trãi ngày xưa. Nỗi thao thức buồn và đau hơn giáo gươm đâm:
“Tiếng còi xa, tiếng còi xa, còi xa,
Đêm dần qua, đêm tối dần qua,
Trắng bao lần, với hồn Nguyễn Trãi,
Đau cùng ông, nỗi đau quê nhà.”
(Nguyễn Trãi 1)
Hay:
“Đọc lại thơ Ức Trai,
Soi rõ tài thao lược,
Đời múa bút vung gươm,
Dựng lên người tầm thước,
Muôn năm sau sử sách còn ươm.”
(Nguyễn Trãi 2)
Những năm đi tù dài hơn những năm đi lính của ông, đã biến ông thành người có một chút gì đó ngông ngông, nhưng kiên cường và khôn ngoan nhẫn chịu:
“Nơi ta ở bây giờ, dưới chân núi Chứa Chan,
Trong một trại tù, rào, tường kiên cố,
Nhìn mũi súng, lưỡi lê, như ra điều thách đố.
Ta chỉ muốn sờ râu, cười khan.”
(Trong Tù Sờ Râu)
Rồi ông lại tinh nghịch với chính mình bằng cách “chơi chữ” trong thơ. Tinh nghịch nhưng không che giấu nỗi niềm bi ai của người mất tự do, của người trong lòng lúc nào cũng nặng nề một tảng núi chắn:
“Bên kia núi Chứa Chan, anh có em,
Em có anh, bên này núi Chứa Chan,
Qua trái núi, ngăn cách tình chan chứa,
Đã chán chưa, trái núi cách ngăn.”
(Bên Này, Bên Kia Núi Chứa Chan)
Có những lúc ông tự thán. Nghe ra nỗi lòng của chính mình. Những lúc đó, kéo ông về lại cảm xúc thật với thân phận mình. Chúng ta sẽ bắt gặp cảm giác rất cô đơn, trần trụi (như cơn bão vừa quét qua, tang hoang) đến mức ông không ngăn được giòng lệ:
“Ta đi, trong tả tơi rách nát,
Rách nát gia đình, rách nát tình yêu,
Tả tơi cuộc đời, tả tơi thân phận,
Dễ chừng, ta mềm yếu lắm sao,
Mà lòng, đã muốn rưng rưng, nước mắt.”
(Bão Ngoài Trời, Bão Trong Lòng)
Ông cất lời thật khẩu khí. Vì không có ngục tù nào có thể giam giữ được trái tim con người:
“Thân ta, chúng nhốt trong lồng sắt,
Ta thả hồn, bay khắp bốn phương,
Chân, dấu trong cùm gông đau thắt,
Tim tự do ta, khắp nẻo đường.”
(Vỗ Về Giấc Ngủ )
Ông vẽ cảnh tù bằng những nét phát họa, không cầu kỳ, nhưng người đọc vẫn thấy được khung cảnh và nỗi cơ cực rất bi thảm, vì con người còn thua súc vật. Đây là hình ảnh bài thơ ông viết trong trại tù Vĩnh Phú 1979. Mùa đông rét lạnh ở miền Bắc, những người tù (như ông) phải thay trâu đi cấy cày:
“Lội ruộng sình, cấy lúa vụ chiêm,
Buồn ngập sâu người, hơn một nửa,
Ruộng trâu chê, người thay thế,
Nhè nhẹ bò thôi, kẻo chết chìm.”
(Mùa Đông Đi Cấy Ruộng Sình)
Cuộc sống sau khi ra tù, khốn đốn, nhưng ông vẫn cười sảng khoái. Cười như chưa một lần bị vào tù, bị trải qua những ngày tủi nhục. Trong bài thơ “Áo Mới” sau đây, niềm lạc quan vẫn luôn thắp sáng trong thơ ông. Vui mừng và hạnh phúc với những điều rất nhỏ nhoi. Nhỏ nhoi đến tội nghiệp:
“Gần hai năm, ra khỏi trại tù,
Quần áo mặc, toàn chợ trời, đồ cũ,
Nhân hôm nay, trúng mánh ve chai,
Sắm chiếc áo mới tinh, hàng dội khẩu.”
(Áo Mới)
Thân phận của những người thất thế, thất thời dạo ấy thật khó có giấy bút nào tả hết được. Chỉ một chiếc “áo mới, hàng dội” mua cho con mà lòng ông bừng lên hạnh phúc. (Thơ ông viết: “ba mặc không vừa. Tặng lại cho con”, nhưng tôi không nghĩ như thế). Tôi nghĩ ông mua cho con với tấm lòng người cha hết mực yêu thương con minh. Điều đó, khiến ông lại cười vang trong hạnh phúc hiếm hoi:
“Đi trong mưa, tay vuốt mặt cười vang,
Hẳn có kẻ tưởng rằng ba mất trí,
Mất trí ư, không đâu, ba rất tỉnh,
Một chút khùng thôi, vừa đủ để yêu đời.”
(Áo Mới)
Năm 37 tuổi, ngồi nhớ lại đời mình. Ông không ngần ngại viết về tuổi thơ của ông với những câu thơ trầm thống:
“Ôi tuổi thơ ta với những ngày trầm thống,
Ôi những ngày cuốc đất hái rau.
Cơm không đủ ăn, thiếu thuốc khi đau.
Phải lên rừng, vào truông kiếm củi.”
(Giao Thừa Năm 37 Tuổi)
Dù sống trong tù đày, nhưng lòng luôn luôn tin tưởng đến ngày mai, đây là một điểm sáng trong thơ ông:
“Cảm ơn đời, còn cho ta hy vọng
Cảm ơn em, còn đứng lại, đợi chờ.
Ta còn em, còn con, còn một trời sức sống
Thì còn ta, với trăm nỗi ước mơ.”
(Thơ Tình Làm Trong Tù)
Một trong những bài thơ ít thấy của ông có gieo vần mượt mà. Bài thơ đầy nỗi hân hoan, và lạc quan. Dù lúc đó ông vẫn còn trong trại tù Gia Rai (1981). Đây là một bài thơ đẹp cả hình thức lẫn ngôn ngữ:
“Mai ta về, thiên đường xưa rộng mở,
Nồng nàn em, đắm đuối, suối hôn mê,
Mai ta về, cây trái đời rực rỡ,
Nụ hôn xưa, giờ gởi gió, đưa về.”
(Đà Lạt Trong Nỗi Nhớ)
II. Thơ Tình:
Thơ tình của Thi sĩ Lê Mai Lĩnh không cầu kỳ chữ nghĩa. Nhưng nó rất chân thật. Chân thật như hai người bạn, (đạo/đời) chuyện trò với nhau trước ly cà phê buổi sáng:
“Bà bảo, tại đôi mắt ông, làm bà khó ngủ.
Ông bảo, tại đôi cánh ngực bà phập phồng,
Làm ông bỏ cơm.
Để từ đó,
Ông về, ông mang bệnh nhớ.
(Hai Người Bạn Đạo Của Tr. H.)
Thơ tình ông ngang tàng, đầy chất đàn ông tính, nó như nửa van xin, nửa cưỡng buộc:
“Anh hứa,
Sẽ nổi gió cho diều em lên cao,
Cho tài năng, nhan sắc em lên cao,
Nhưng hãy ở lại mặt đất, cùng anh nghe em,
Hỡi trái tim nồng, người yêu dấu.”
(Anh Hứa)
Ý tưởng trong thơ ông rất lạ, có chút gì đó nổi loạn:
“Ngày em ra đời, trái đất quay tròn,
Tới hôm nay, anh đang quay quanh em,
Trái Đất nói, sẽ có ngày chóng mặt,
Và anh nói, cũng có lúc như thế, biết đâu.”
(Sinh Nhật)
Trong bài thơ “Em Có Biết”, ông viết bốn mùa bằng bốn khổ thơ thật dí dỏm, thật trẻ trung như người mới biết yêu. Xin đơn một mùa:
“Em có biết,
Một sáng Xuân hồng, người đưa Thư đi qua,
Ném vào anh, một tin vui khủng khiếp,
Mở trái tim ra, nhận lộc trời.”
(Em Có Biết)
Khi yêu, người ta bất chấp tất cả. Ông yêu như người bị bùa mê thuốc lú. Nhưng biết thế, ông vẫn cứ lao vào, dù cho có ngày tận tuyệt:
“Phải chăng em là bùa mê, để anh vướng vào,
Phải chăng em là thuốc tiên, để anh say mê,
Phải chăng em là hố thẳm, để anh chôn đời,
Bất sá là gì đi nữa,
Em, canh bạc đời, anh chơi hết số phận.”
(Dấu Yêu)
Như những đôi tình nhân khác. Sự ngọt ngào, ướt át thấm đẫm lòng người trong tình yêu, ai cũng đã từng trải qua. Với ông, sự “ướt át” đó, được ông diễn tả theo cách riêng:
“Khi em về, trời vẫn còn mưa,
Hay trời khóc giùm anh, cảm ơn em, nụ hôn dịu ngọt,
Nụ hôn em hay lượng trời ban xuống,
Mà trong anh, cuộc phục sinh, rất đỗi ngoan cường.”
(Một Chiều Mưa)
Cuộc đời ông đã trải qua biết bao thăng trầm. Cuộc đời rắm rối đau thương. Nhưng không vì thế ông buông xuôi. Ông tỉ mỉ “Chải lại đời mình”:
“Đã đến lúc, anh phải chải lại đời mình,
Bờm xờm quá, lôi thôi hoài, không được,
Em thấy không, anh yêu đời trở lại,
Nghe xôn xao như chim hót ở trong lòng.”
(Chải Lại Đời Mình)
Thơ ông nhìn gai góc như trái sầu riêng, nhưng bên trong là hương vị khó cưỡng (tùy sở thích của mỗi người). Ông cũng dùng “mùi sầu riêng” trong thơ ông với “ý đồ” khác. Lém lỉnh. Ấn tượng:
“Nói ngắn gọn, trò muốn đi đâu thì đi,
Nhưng cất giữ giùm ta mùi sầu riêng,
Khi về, ta sẽ cúi hôn lên đó,
Xem có còn không, mùi sầu riêng.”
(Tương Tư Mùi Sầu Riêng)
Tính tinh nghịch mà chúng ta bắt gặp rất nhiều trong thơ ông. Đọc xong, ta sẽ thấy tâm hồn ông rất trẻ, dù thơ tình ông viết ở tuổi trên 70:
“Cô cứ đi và tôi cứ theo,
Và cứ thế, không nhanh không chậm,
Rồi chúng mình cũng gặp nhau thôi,
Không suối vàng, cũng vào mộ chí.”
(Áo Lụa Vàng)
Phong cách yêu trong thơ ông rất ngang tàng. Ngang tàng nhưng tha thiết. Có thể đó là nét đặc biệt trong thơ tình của ông:
“Trong phong thư lá vàng gởi tặng em, quà mùa thu,
Anh gửi kèm theo tấm vé máy bay, one way,
Nghĩa là, em sang mà không về,
Em tới mà không lui.
Em sẽ an giấc ngàn thu cùng thi sĩ:
Đồi Thông Hai Mộ.”
(Quà Tặng Mùa Thu)
Hoặc:
“Em yêu, muốn gì, nói đi nào,
Đây trái tim anh, cầm mà chơi,
Đây cuộc đời anh, xài thoải mái,
Có gì đâu em, cũng lại bình thường.”
(Bài Thơ Thứ Hai)
Ông “nói” với người yêu bằng những câu thơ. Như những lời tâm tình, để khâu vá lại mảnh ký ức ngày xưa, mà ông rất trân quý:
“Vậy, này cô Bắc Kỳ không còn nhỏ,
Hãy nhín thời gian, trở lại chút chút, để mang đi theo những hột nút nầy,
Đơm lên lại, trên chiếc áo ngày xưa cô thường nhờ tôi giúp cô mở khuy,
Những lúc tôi chậm tay, cô la tôi như mẹ la con,”
(Hãy Trở Lại Nhặt Giùm Ta Mấy Hột Nút)
Thơ ông sần sùi, nhưng không gai góc. Đôi lúc dịu dàng. Nó chứng tỏ tâm hồn ông rất hiền hòa. Không ghim gút. Ông biết yêu thiên nhiên, yêu đời và yêu người:
“Vườn hồng nhà tôi, không có gai,
Vì lòng tôi, không bao giờ nhọn,
Nụ tầm xuân, là những lòng thiếu nữ
Những hạt sương mai, là những giọt lệ tình.”
(Vườn Nhà Tôi)
Hay:
“Em, trái cấm địa đàng,
Chúa sai anh, canh giữ,
Anh, cầm lòng không đậu,
Anh cắn, em có đau.”
(Em,Trái Cấm Địa Đàng)
Có những lúc, ông cũng ngậm ngùi cho một kiếp người. Đã đến, đã ngồi lại, đã đi. Cuộc đời là hư không. Có níu kéo. Cũng đành. Những câu thơ mang đầy triết lý nhân sinh:
“Ly cà phê trước mặt,
Ly cà phê trong tay,
Bài thơ gởi vào hư không,
người ra đi, người ngồi lại,
Rồi cũng xong một kiếp,
Rồi cũng hết một đời,
Cũng đành,
Vậy thôi.”
(Bài Thơ Gởi Vào Hư Không)
Hay:
“Ta bây giờ, cục đất, hòn sỏi,
Lòng dửng dưng, trước cõi thế, ta bà,
Không giận hờn, chẳng lấy ai phiền muộn,
Cứ bềnh bồng, trong cõi tịnh, yên vui.”
(Cơm, Vợ, Rượu Và Thiền)
Ông yêu đến khi sức mòn, lực kiệt. Ông vẫn tiếp tục yêu. Yêu bất chấp tuổi tác:
“Tìm tình, chống gậy tìm tình,
Một mai gậy mòn, gối mỏi
Ta lê, ta lết, ta bò,
Tình ơi, tình ơi, tình ơi.”
(Chống Gậy Tìm Tình)
Hay, yêu em như cây xanh trỗi mình lớn dậy từng ngày:
“Mỗi sáng mai, tỉnh dậy, tình vươn vai,
Tình lớn dậy, mỗi ngày, tình lớn dậy,
Anh yêu em, tình lớn dậy từng ngày,
Tình lớn dậy, từng ngày, trời trao ban.”
(Mỗi Sáng Mai)
Và khi yêu, ông rất “cao ngạo” một cách đáng yêu:
“Kể từ khi em đến,
Ngã vào lòng thi nhân,
Anh không còn thi sĩ,
Anh đã là thi vương.”
(Thơ Tình Của Một Ông Già Bảy Mươi)
Sáu mươi năm gặp lại người tình thuở ban đầu. Với ông, bất chấp thời gian, không gian, tất cả vẫn đẹp như ngày nào:
“Này cô láng giềng,
Rồi cũng có ngày sau hơn 60 năm,
Cô và tôi gặp lại nhau.
Tôi được chiêm ngưỡng nhan sắc cô.
Vẫn như thuở nào.
Đẹp hết sẩy,
Dẫu đã hơi bị tra.
Nhưng nếu được phép lựa chọn,
Tôi sẽ chọn cô, không chọn ai khác.
Chẳng phải vì tôi thích sưu tầm đồ cổ.
Như những nhà tỷ phú thích sưu tầm đồ cổ.
Mà tôi là một gã làm thơ,
Suốt đời đi tìm cái đẹp,
Mà cô thì đã quá đẹp trong mắt tôi.”
(Lương Duyên, Cô Láng Giềng)
Và bây giờ:
“Tôi bây giờ 75, cô 80,
Hãy để tôi tương tư cô như thuở tôi 12, cô 17.
Hãy để tôi ra ngẩn vào ngơ,
như thuở mới thoạt nhìn thấy cô,
mà tưởng là bà tiên trong truyện cổ.”
(Bài Thơ Như Một Lệnh Truyền Giữa Chốn Ba Quân)
Khổ tận cam lai. Tôi thích cái kết Happy Ending, trong tập thơ ông. Ông viết nhẹ nhàng, giản dị và ấm áp biết bao. Không khí Giáng Sinh, không khí gia đình sum họp. Như réo gọi một niềm vui. Cuối cùng, ông được an hưởng tuổi già bên vợ, và hai con đã thành đạt nơi xứ người:
“Này cô gái Huế,
Này Như Lê, Tina Lê,
Đêm nay gia đình mình ghé buffet,
Mừng Chúa ra đời,”
(Bài Thơ Tặng O Huế)
Thơ ông như nói, nhưng những lời nói đó có tính cách thuyết phục. Tôi không muốn so sánh thơ ông với bất cứ thi nhân nào, dù bài thơ “Tạ Lỗi Với Quê Hương Của Ông” có đưa người đọc nghĩ tới bài thơ “Ta Về” của Tô Thùy Yên. Nhưng Lê Mai Lĩnh có cõi thơ riêng của ông. Nó sần sùi trong mưa gió cuộc đời. Thơ ông không mượt mà như những nhà thơ khác. Nhưng khi đọc xong, chúng ta cảm giác được tâm tình ông dàn trải trong đó. Nó không quá bi thương, oán trách. Mà ở đó, lúc nào ta cũng thấy được nụ cười hóm hĩnh. Và, ngọn lửa của niềm tin yêu và hy vọng.
Việt Phương
9/13/2025
(*) Tác phẩm Lê Mai Lĩnh:
Ông còn có nhiều bài viết in chung với những cây bút khác (vì quá dài), nên chúng tôi chỉ ghi ra những tác phẩm đứng tên một mình ông:
1. Nỗi Buồn Nhược Tiểu, (Nxb Hai Sen, Nha Trang, 1963).
2. Lời Phản Kháng Của Những Người Làm Thơ Châu Á, (Nxb Thái Độ, Sài Gòn, 1967).
3. Thơ Lê Mai Lĩnh, (Nxb Sông Thu, California, Hoa Kỳ, 1997).
4. Đứng Ngồi Không Yên, phóng bút, (Ý Trời xuất bản, Hoa Kỳ, 1999).
5. Lưu Dân Thi Thoại, bút luận 25 Năm Thơ Hải Ngoại, (Cội Nguồn, Hoa Kỳ, 2003).
6. Những Đứa Con Hoang, kịch độc thoại, (Cội Nguồn, 2005).
7. Chân Dung Lê Mai Lĩnh, song ngữ – A Poet’s Portrait, (Cội Nguồn, 2005).
8. Tuyển tập Lê Mai Lĩnh, thơ, văn, tiểu luận, phê bình văn học, nhận định chính trị, (Cội Nguồn, 2015).
9. Lương Quyên, cô láng giềng, (Ý Trời xuất bản, 2016).
10. Tuyển tập Văn Miền Nam Thời Chiến, (Thư Quán Bản Thảo xuất bản).
11. Tuyển tập Thơ Thời Chiến Miền Nam, (Thư Quán Bản Thảo xuất bản).
12. Chân Dung Người Lính, Thi Sĩ Miền Nam, (Nxb Nhân Ảnh, 2023).
13. Cuộc Phẫu Thuật Văn Chương, (Nxb Nhân Ảnh, 2023).
14. Nguyễn Thị Sầm, Những Dấu Chân Dọc Đường Kháng Chiến, (Nxb Ý Trời, 2024).
15. Thơ Tình Lê Mai Lĩnh, (Nxb Ý Trời, 2024.)
16. Hãy Cho Tổ Quốc Mượn Đôi Chân Của Bạn, (thơ, bút chiến, tiểu luận chính trị, (Nxb Ý Trời, 2024)
17. Phóng Bút Văn Chương, (Nxb, Love, 2025).
