07/09/2021
Ra khỏi hầm tối

 (Phần 1)

Tạ Duy Anh

Vài lời thưa trước: Tôi chưa có ý định xuất bản cuốn tự truyện “Dưới bàn tay vô hình”, vì mấy lý do hoàn toàn mang tính cá nhân. Chẳng hạn nó sẽ làm tổn thương một vài người thân của tôi ở những phần mang tính “thú tội”, cũng như có thể gây sốc một số chỉ huy quân đội đã đối xử tốt với tôi (nếu họ còn sống) nhưng vì sự công bằng, vì sự thật, vì tính chất tuyệt đối của công lý mà tôi không thể bỏ qua cho họ. Tôi chưa hề gửi xin giấy phép xuất bản ở bất cứ nơi đâu, vì thế mọi đồn đoán về việc nó bị ngăn cản là không có cơ sở. Những gì đã trích in nằm trong mục đích của tôi mà tôi đã nói. Dưới đây tôi sẽ LƯỢC TRÍCH nốt những gì chỉ liên quan đến tôi, để không cảm thấy áy náy là đã đánh đố bạn đọc.

Đây là lời đề từ của cuốn tự truyện: “CÓ NHỮNG SỰ THẬT KHÔNG NHẤT THIẾT PHẢI ĐƯỢC NÓI RA. NHƯNG NHỮNG GÌ ĐÃ QUYẾT ĐỊNH NÓI RA THÌ PHẢI LÀ SỰ THẬT. CHỈ ĐIỀU ĐÓ MỚI CÓ THỂ ĐẢM BẢO MỘT CUỐN HỒI KÝ KHÔNG THÀNH VÔ NGHĨA VÀ VÔ ĐẠO ĐỨC”.

***

Một lát sau thì cửa boong-ke mở ra. Một gã vệ binh bảo thằng nào tên là Chiến thì lên làm việc. Chiến đu người chui lên. Cửa boong-ke lại sập xuống. Sau đó ít phút đến lượt cậu lính Hà Nội được gọi tên. Cậu ta cuống quýt bám vào cửa boong-ke đu lên, như sợ bọn bên trên đổi ý.

Còn lại Tâm và tôi. Tâm trách tôi sao lại ngang bướng không đúng chỗ để phải ăn đòn. Nhưng ngay sau đó nó bảo tôi: “Thế nào em cũng được lên trước bác và thế nào bọn chó cũng hỏi bọn em về bác. Bác nghĩ đi, em phải trả lời thế nào để có lợi nhất cho bác.” Trong đêm tối đen mà tôi có cảm giác khuôn mặt của Tâm sáng rực như một ngọn đèn. Nào ngờ thằng em hiền lành, tính tình như con gái, tiết kiệm từng xu để chờ ngày ra quân lập nghiệp, suốt ngày xoa bụng vì thèm gái, sểnh ra là thủ dâm rồi kêu lên như bị ai bóp cổ ngay dưới giao thông hào… lại sâu sắc và trải đời đến thế.

Tôi bỗng muốn khóc quá, vì cảm động và cũng có cả niềm ân hận với bố đẻ của mình. Tôi không ân hận khi vì ông một phần mà tôi quyết định dấn thân vào cuộc đời quân ngũ. Tôi ân hận và thương bố vì tuy bố con xung khắc nhưng ông luôn lo lắng cho sức khỏe của tôi, có lẽ vì thấy tôi là đứa ốm yếu nhất. Vậy mà thứ ông nâng niu, còn hơn cả thịt da của chính ông, vừa bị giày xéo không thương tiếc. Hình như tôi đang bị trừng phạt vì đã hành động như một kẻ mù quáng và kiêu ngạo là coi thường chính cuộc sống của mình, thứ không chỉ thuộc về riêng tôi. Tôi đáng bị trừng phạt lắm!

Thấy tôi im lặng, Tâm giục: “Bác nghĩ nhanh lên kẻo không kịp”. Tôi bảo: “Cảm ơn thằng em, nếu bọn chó hỏi về tôi, chú cứ bảo tôi là nhà báo”.

Đúng như phán đoán của Tâm, chỉ một lúc sau kể từ khi Chiến và cậu lính Hà Nội được đưa lên, cánh cửa boong-ke lại mở, với một mệnh lệnh: “Thằng nào tên là Tâm thì nắm vào chiếc que này”.

Đến đây tôi phải tạm xin phép dừng lại để nói một sự thật kỳ lạ đã xảy ra với tôi. Sau khi bị dốc đầu cho rơi tõm xuống căn hầm đầy nước, cảm giác đầu tiên của tôi là không kẻ nào có thể giết chết mình được. Bộ mặt như rắn hổ mang của thằng Nhừn, vẻ lỳ lợm đần độn của thằng Tiển, cặp mắt khô cháy đầy thù hận cuộc đời của Định Mắm từng khiến tôi sởn tóc gáy ít phút trước khi nghĩ rằng chúng có thể hạ sát tôi trong đêm tối, thì giờ đây nó không còn khiến tôi phải cảnh giác. Nó có cái vẻ của những thằng hề.

Tôi bình tâm đến độ thậm chí còn giễu cợt chính mình đã để bị hoảng loạn. Hình như mấy gã quỷ sứ kia chỉ là những con muỗi, rất giỏi hút máu nhưng không thể làm gì hơn. Nếu tôi nói rằng mình có thể hát trong hoàn cảnh ấy có lẽ bạn đọc sẽ không tin, nhưng tâm hồn tôi đủ hứng khởi để làm điều đó. Những gì tôi vẫn mò mẫm trong tù mù suốt mấy chục năm, thì giời ạ, giờ đây bỗng sáng rõ đến từng ly từng tý. Hình như câu thơ của Bùi Minh Quốc: “Nơi hầm tối là nơi sáng nhất”, ông viết riêng cho tôi. Tôi nhớ lại trong chớp mắt cả cái quãng đường dài dằng dặc mà tôi đã đi qua, từng cột mốc, từng sự kiện, những sự kiện không thuộc về riêng bất cứ cá nhân nào trên đất nước này nhưng lại làm nên số phận của từng con người cụ thể, trong đó có tôi.

Những gì tôi tưởng rắc rối và đã mất nhiều công để rắc rối thêm, thì hoá ra vô cùng đơn giản, y như phép tính hai cộng hai là bốn. Đó là siêu cảm giác mà tôi đã trải qua trong căn hầm tối tăm ấy ở Lào Cai năm 1985, rất khó diễn đạt lại một cách rành mạch bằng ngôn ngữ. Nhưng nhờ nó mà tôi bỗng bừng tỉnh ra rất nhiều điều. Tôi không biết cảm giác của người “đốn ngộ” nó thế nào, nhưng rõ ràng, chưa khoảng khắc vui sướng nào trong cuộc đời tôi có thể sánh được với tâm trạng kì lạ của tôi lúc ấy?

Lại lần nữa Tâm đúng, khi chỉ chờ đưa cậu ta vào nhà là gã vệ binh áp giải hỏi luôn (như sau này Tâm kể lại): “Thằng già trước khi vào lính làm nghề gì mà nó ngang bướng thế?” Tâm đáp khẽ theo cái lối bí mật: “Bác ấy là nhà báo đấy. Hình như làm ở báo Quân đội nhân dân”. Tôi không nghĩ Tâm lại thông minh đến thế. Tôi chỉ dặn cậu ấy bảo tôi là nhà báo, vì trên thực tế tôi cũng là người viết lách. Trước khi vào bộ đội tôi đã có 6 truyện ngắn và mấy bài bút ký dài in ở các báo lớn, trong đó có báo Quân đội nhân dân. Nhưng chưa bao giờ tôi nhận mình là phóng viên, lại còn là phóng viên của báo Quân đội nhân dân. Thế mà Tâm lại nghĩ giúp tôi điều đó.

… Sau này Tâm kể, khi nghe cậu nói vậy, câu đầu tiên mà gã vệ binh thốt ra là: “Thôi chết rồi”. Liền đó gã chạy biến đi, để lát sau đến thẳng nơi nhốt tôi, mở nắp hầm và nhẹ nhàng gọi:

– Anh gì ơi, cầm lấy đầu cái gậy nhé.

Thêm một lần nữa cái thứ tưởng vô dụng là chữ, bị bố tôi khinh hơn mẻ, bị chính tôi ghẻ lạnh suốt thời bé, lại cứu tôi. Bỗng dưng tôi muốn mỉm cười vì cái trò láu của Tâm. Tôi vẫn vô cùng tỉnh táo. Trước hết, giống như năm nào ở đồn công an Hòa Bình, mình cũng cần ra khỏi đây đã. Giữa nơi rừng núi xa xôi này, một mạng người nào có đáng kể gì. Họ có thừa cớ để đòm cho mình một phát rồi bịa ra vô số lý do biện hộ. Dễ nhất là gán cho tội phản chiến!

Và có thể mình tan biến vào quên lãng còn nhanh hơn cả một cái bong bóng nước. Không người tử tế nào có thể trực tiếp thắng những trò bẩn, đó là điều tôi đã học được từ cuộc đời. “Hẵng ra khỏi đây đã”. Cảm ơn Bạch Xịch. Giá như có nhiều người như anh, hẳn cái đất nước này đã khác một chút, bộ mặt nó đã bớt đi sự hung tợn. Anh không thể biết lời anh khuyên anh dành cho tôi sâu sắc và lợi hại như thế nào đâu. Nghĩ vậy nên tôi chủ động túm vào đầu chiếc gậy để gã vệ binh kéo lên.

Toàn thân tôi ướt lướt thướt. Tôi cứ thế đi theo gã vệ binh vào một căn phòng có đủ bàn ghế và mấy chiếc giường. Gã vệ binh mang đến cho tôi mượn bộ quân phục binh sỹ đã cũ, bảo tôi mặc. Gã móc những giấy tờ và một số tiền trong túi quần của tôi, giơ lên trước ánh đèn bảo tôi kiểm tra xác nhận cho gã là không hề mất mát. Tôi xác nhận xong gã mới mang đi, sau khi dặn: “Đêm nay anh ngủ ở đây, chờ sáng mai đơn vị cử người ra đưa về”.

Ở ba cái giường khác là Tâm, Chiến và cậu lính Hà Nội. Những anh chàng này ngồi im, vừa lo sợ vừa thương tôi. Vì cuối cùng chỉ có mình tôi bị tra tấn. Mọi việc diễn ra ngay trước mắt họ. Nhưng chỉ một lát sau thì tất cả đã kéo bễ. Tôi cứ trằn trọc không ngủ. Tôi nghe tiếng lính gác đeo súng đi lại phía bên ngoài, bước đi có vẻ rón rén. Hình như họ đều linh cảm thấy chuyện chẳng lành sắp xảy ra. Thỉnh thoảng họ lại ghé mắt nhìn xem chúng tôi ngủ ra sao. Không thấy bóng dáng của những kẻ đã tra tấn tôi, y như vào cái buổi chiều tôi chuẩn bị ra khỏi đồn công an Hoà Bình hai năm trước. Tôi nhận ra ở những gã có tâm địa quỷ sứ là họ có chung đặc tính rất sợ ánh sáng của công lý. Họ biết sắp phải đối mặt với tôi ở cái nơi sức mạnh không thuộc về họ.

Và khi đó thì nom họ sẽ thật thảm hại, như tôi đã từng thấy gã Quang Xồm ngày nào năn nỉ xin bạn tôi nói với tôi tha cho gã ra sao? Nhưng vào thời khắc như vừa chui lên từ địa ngục ấy, ý nghĩ của tôi lại hướng về những năm tháng tuổi thơ, về cuộc báo thù dai dẳng của dòng họ khiến tất cả chúng tôi cùng trở thành nạn nhân, về mối bất hoà giữa bố tôi và tôi, chủ yếu do bất đồng về cách nghĩ mà giọt nước tràn ly là sự kiện ông ép tôi phải lấy một phụ nữ không hề quen biết, về những người bạn đã lo lắng cho tôi khi tôi quyết định nhập ngũ, một quyết định mà họ không thể hiểu nổi.

Cuối cùng thì cái đêm đáng nhớ nhất trong cuộc đời tôi cũng trôi qua. Buổi sáng ở vùng biên giới trong tiết trời tháng Tám khá êm ả. Có thể nói là rất đẹp và thơ mộng. Những làn gió thổi lên từ phía sông Hồng mát lịm và có mùi thơm của rừng. Không có cảm giác gì về sự chết chóc luôn sát nách. Nhưng tâm trí tôi không cho phép mình tận hưởng thứ qùa tặng đó của trời đất vùng địa đầu. Chúng tôi phải xếp thành hàng một rồi thực hiện mệnh lệnh “về đơn vị chiến đấu” phát ra từ miệng còn hơi sữa của cậu lính trẻ măng. Không một ai ở tiểu đoàn bộ biết tôi bị bắt và bị đánh. Vì thế trở về là tôi kịp xuống bếp nấu bữa sáng ngay.

Nhưng chẳng hiểu sao thì chiều hôm ấy anh em trong đơn vị đều đã biết tường tận sự việc của tôi. Người bức xúc nhất là Nguyễn Ngọc Khoa, trung uý trung đội thông tin, nơi tôi từng là chiến sỹ của anh. Chúng tôi ngang tuổi nên nhanh chóng thành bạn bè. Bố Khoa là dân tập kết, chọn Sa Pa làm nơi sinh sống. Tôi đã lên thăm hai cụ và được hai cụ coi như con. Khoa chửi ầm lên mấy câu rồi cười hề hề an ủi tôi, rằng thế mới biết mùi lính biên nó là thế nào.

Trong khi đó thì Phan Hoán, lính tháng 8-82, người Vĩnh Phú (lúc ấy), do ngang tàng nên hay bị kỷ luật nhưng lại rất quý tôi. Nhờ chỗ đồng hương với tiểu đoàn trưởng mà Hoán được ở riêng một chỗ để canh hoa mầu do anh em lính tăng gia và chặn hỏi những người khả nghi khi đi qua địa bàn tiểu đoàn bộ. Đó thực sự là đặc ân. Vì với công việc ấy, Hoán có thể thức khuya, dậy muộn, muốn cải thiện gì cũng được. Cậu ta lại có tài đi xin nên lúc nào cũng sẵn đồ nhắm. Hoán mê những chuyện tôi kể và cứ tự phong tôi là Tạ Đại Ca. Mỗi khi có miếng gì ngon, Hoán không bao giờ quên “Bác Tạ”. Hoán cứ muốn tôi nhận cậu ta là thằng em kết nghĩa nhưng tôi thì sợ mình không xứng đáng nên chưa dám nhận lời. Biết tin tôi bị bọn vệ binh trung đoàn tra tấn, Hoán về chỗ cậu ta, lắp đầy 30 viên đạn vào khẩu AK.

Sau đó cậu ta lặng lẽ ra máng nước, cách Trung đoàn bộ chừng một cây số, nằm phục kích bọn Định, Nhừn, Tiển… Nhờ có người báo nên tôi mới biết. Người này kể, lúc say rượu, Hoán bảo sẽ cho thằng Nhừn, thằng Định Mắm, thằng Tiển mỗi thằng đủ mười viên để trả thù cho Tạ Đại Ca. Tôi phải vừa xin vừa doạ sẽ từ mặt cậu ta nếu làm như vậy, Hoán mới chịu cất súng. Tuy thế mỗi khi rượu vào, Hoán lại gào lên đòi đi cắt tiết mấy thằng đã đánh tôi. Về phần mình, tôi luôn lo sợ Hoán làm liều, nên không dám dời mắt khỏi cậu ta.

Ảnh tư liệu

Hôm sau thì tiểu đoàn trưởng cũng biết chuyện. Bất ngờ nhất với tôi là tiểu đoàn trưởng không coi việc tôi bị đánh là nghiêm trọng. Thậm chí ông ta còn cười cười hỏi: “Nó đấm có đau không? Chắc bố lại ngang với bọn chúng chứ gì. Tính bố thì cũng dễ ăn đòn lắm. Mẹ kiếp già thế mà không thoát bị vệ binh đánh. Ức nhỉ!”. Tôi bảo là tôi sẽ kiện. Ông ta lại cười nhưng không nói gì. Có thể ông ta cười cái tính ngây thơ của tôi do không tiện nói thẳng rằng có mà kiện củ khoai. Nhưng chỉ là tôi phỏng đoán thế thôi.

Chuộc tội (Phần 2)

(Khi anh né tránh cái ác, thì trước sau nó cũng sẽ tìm đến anh – Tự truyện “Dưới bàn tay vô hình”).

_____

Tôi là người ghét việc kiện tụng. Một phần do bản tính tôi thích nhường nhịn, dễ tha thứ, phần khác, có lẽ do phải chứng kiến sự ê chề quá nhiều từ việc làm đó của bố. Nhưng trong hoàn cảnh của tôi, vũ khí duy nhất chỉ là chữ nghĩa, vì vậy tôi bất đắc dĩ phải dùng đến biện pháp này. Tôi kiện không phải chỉ để đòi lại danh dự, nhân phẩm cá nhân, mà bằng tinh thần chuộc tội với đồng đội.

Việc kiện tụng của tôi diễn ra trong im lặng. Tôi viết hai lá đơn, nội dung gần giống nhau, chỉ khác một vài chi tiết thêm vào hoặc lược bỏ cho phù hợp-theo quan niệm của tôi-với nơi nhận. Một nơi là báo Chiến sỹ Tây Bắc, có trụ sở tại thị xã Yên Bái, nơi kia là báo Quân đội nhân dân. Sau đó tôi nhờ cậu bưu tá tiểu đoàn tiện thể ra Cam Đường bỏ vào thùng thư cho tôi. Ngoài ra tôi còn gửi về xuôi hai lá thư, kể rõ ngọn ngành sự việc, một cho bạn bè ở Sông Đà, một cho Nguyễn Đình Chiến, phóng viên báo Quân đội nhân dân, tôi quen ở trại sáng tác văn học Hà Sơn Bình. Trước khi nhập ngũ, tôi còn về Hà Đông chào mọi người.

Gặp lại Nguyễn Lương Ngọc (trái) tại thủy điện Hòa Bình. Ảnh tư liệu

Nguyễn Đình Chiến và tôi có dịp nói chuyện với nhau gần hết đêm trên cầu Am. Với tôi, được anh thân tình như vậy là vinh hạnh lớn vì khi đó Nguyễn Đình Chiến đang nổi như cồn sau giải nhất thơ của báo Văn Nghệ với bài Gặp lại các em. Chính anh dặn khi nào cần thì cứ viết thư cho anh.

Cả hai lá đơn và hai lá thư tôi gửi đi đều không có hồi âm, mặc cho tôi hồi hộp chờ đợi. Tôi đã nghĩ hay là cậu bưu tá đánh mất thư ở đâu đó. Khoảng gần một tháng sau thì tôi có giấy gọi ra Phòng chính trị của trung đoàn làm việc. Nhận giấy báo, tôi linh cảm thấy điều dữ nhiều hơn điều lành. Tôi đoán cuộc gặp có nguyên nhân từ những lá đơn kiện. Tôi chỉ đoán thế thôi, vì thực lòng tôi vẫn nghĩ thư bị thất lạc. Nhưng nếu vì những lá đơn thì tại sao lại là Phòng chính trị trung đoàn đứng ra giải quyết, mà không hề có bất cứ ai ở trên về điều tra như tôi hy vọng?

Lại một đêm tôi mất ngủ với những trò phỏng đoán. Tôi không quen ai ở Phòng chính trị trung đoàn nhưng mọi người đều biết tôi. Hình như lãnh đạo ở đấy có vẻ không ưa tôi mặc dù giữa chúng tôi chưa hề có bất cứ va chạm nào. Họ biết tôi qua lá thư tôi viết cho trung đoàn trưởng khi còn ở tiểu đoàn huấn luyện. Trong thư tôi thẳng thắn đề nghị trung đoàn trưởng hãy tạo điều kiện để tôi có thể sáng tác về những người lính vùng biên. Vì mục tiêu của tôi rất rõ ràng, MUỐN PHỤC VỤ LÂU DÀI TRONG QUÂN ĐỘI, muốn nói được điều gì đó về những người lính thông qua ngòi bút. Rằng chính vì mong ước đó mà tôi BỎ LẠI TẤT CẢ để khoác áo lính… Đáng lẽ tôi phải viết thư cho Phòng chính trị mới phải. Có thể vì sơ suất ấy mà cánh “quan văn” này không ưa tôi.

Trung đoàn trưởng là người võ biền nên ông không mấy để tâm đến những điều tôi trình bày. Nhưng chả hiểu sao ông cũng cử người sang bí mật tìm hiểu về tôi. Người được giao nhiệm vụ là một anh cán bộ Phòng chính trị. Ngay từ đầu anh ta đã không có thiện cảm với tôi. Thay vì hỏi chuyện, anh ta lại đòi xem chữ của tôi, hỏi tôi có biết kẻ vẽ, làm bích báo, viết tấu, diễn trò không… Khi tôi bảo chữ tôi không đẹp, lại nhỏ như kiến, tôi cũng không biết diễn trò, thì anh ta gắt: “Nhà văn nhà báo mà không biết kẻ vẽ, diễn trò mua vui cho thiên hạ thì làm đéo gì?”

Sau đó không ai quan tâm đến tôi nữa.

Nhưng tôi nghe nói Phòng chính trị cũng đã từng bàn tán về tôi, ác cảm nhiều hơn, trước hết ở cái vẻ mặt khó đăm đăm, già nua và xấu… giai! Vì thế hình như họ đã định nhận tôi về làm tuyên truyền, nhưng sau có nhiều dèm pha từ đám chuyên viên quá, lại thôi. Tôi láng máng biết điều này qua chắp nối những cuộc nói chuyện với đám sỹ quan. Chính ông Trưởng ban tuyên giáo, trong một lần say rượu, nửa đùa nửa thật bảo với tôi, giá mà chú mày trắng trẻo, trẻ trung, ngon giai, khéo nói một chút thì đời đã không khổ.

Nhưng nếu có trách thì tôi chỉ có thể trách tôi mà thôi. Có ai bắt tôi phải đâm đầu vào hoàn cảnh bi hài như vậy đâu. Tôi đã viết ở đâu đó lý do tôi khoác áo lính, nay chỉ xin nói vắn tắt: tôi đã tự nguyện gia nhập quân đội theo một cách thật trớ trêu và không chính danh, bằng cách tự điền tên mình vào tờ danh sách cấp trên đưa xuống, theo kiểu giao chỉ tiêu cho bộ phận, khi mọi người bịa ra đủ lý do để xin ở lại. Giờ đây, trớ trêu hơn cả là tôi đang tìm mọi cách để thoát khỏi những năm tháng “đầy hy vọng” với tôi trước đây chỉ vài tháng.

Tôi thề rằng dù phải chết tôi cũng bám trụ cho hết thời hạn. Nhưng tôi sẽ không ở lại thêm một phút khi cái thời hạn ấy kết thúc. Từ nay đến đó còn là một khoảng thời gian đủ dài để tôi ngấm nốt mọi điều. Ngày mai tôi sẽ đối mặt với những người vốn không ưa mình, trong khi tôi chưa hề biết vì việc gì.

Sáng sớm tôi trở dậy, báo với Minh là tôi phải ra trung đoàn nên không thể cùng cậu ấy nấu cơm được. Minh đáp lại theo lối suy diễn của cậu ta: “Bác đi chuyến này chắc là lên hẳn trung đoàn điếu đóm các thủ trưởng đây, rồi lại chả béo trắng ra cho mà xem… hí hí, đừng quên thằng em nhọ đít nhé”. Vài người khác cũng chúc mừng tôi sắp thoát cảnh nhọ mông nhọ mặt. Trong thâm tâm họ nghĩ tôi sắp được trọng dụng vào những việc an nhàn hơn. Đáp lại họ là một nỗi lo lắng hiện ra mặt mà tôi không lý giải được.

Đúng 8 giờ, như giấy hẹn, tôi có mặt ở Phòng chính trị, quân phục tề chỉnh. Cậu lính chuyên bị sai vặt nhanh chóng đưa tôi vào căn phòng làm việc. Trông cậu ta đi lại như bị ai đó giật dây khiến tôi thấy cám cảnh. “May mà mình bị họ ghét, chứ nếu chui vào đây, sống như cái cậu lính kia thì thà đi vác đất còn hơn” – Tôi thầm nghĩ như vậy. Có lẽ chỉ tôi là nghĩ như vậy. Bởi vì với cậu lính kia thì mả nhà cậu ta chắc phải táng hàm rồng nên mới được như vậy. Cho dù là lính, nhưng do ở gần các thủ trưởng nên cậu ta cũng hay làm oai với người khác, nhất là bọn lính từ dưới đơn vị lên làm việc. Vì thế thái độ có phần khép nép khác hẳn ngày thường của cậu ta khiến tôi càng tin rằng mình sắp gặp nguy hiểm.

Cho đến lúc ấy tôi đã có thâm niên hơn nửa năm trong quân đội. Cảm giác của tôi là nỗi bàng hoàng triền miên, không thể tin nổi vào chính tai, mắt mình. Tôi cứ muốn chống lại lý trí của mình rằng, có thể tôi bị bệnh ảo giác. Có thể những chuyện đó xảy ra trong sách kinh dị, trong ác mộng hay trong những câu chuyện bịa và mình cứ bị lầm lẫn do đầu óc có vấn đề. Hình như tôi đã đọc ở đâu đó người ta nói có cái căn bệnh ấy. Một người nào đó cứ bị ám ảnh bởi những chuyện không có thật, đến nỗi cuối cùng anh ta tin là thật, không ai làm anh ta thoát khỏi chúng được. Cầu trời cho tôi cũng đang mắc chứng bệnh ấy, để những gì tôi thấy chỉ là tưởng tượng.

Trong khi chờ làm việc với ai đó mà tôi vẫn chưa biết, vì chuyện gì đó tôi chưa rõ, tôi bỗng thấy muốn buông xuôi cho số phận. Lo lắng cũng chẳng giải quyết vấn đề gì. Ối dào, mình đã bị đẩy tới vạch giới hạn rồi, muốn ra sao thì ra!

Tôi sẵn sàng chuẩn bị đón mọi tình huống…

Từ phía trong, một người đeo quân hàm thiếu tá, mặt khắc nghiệt nhưng có thể thấy rõ là khá thâm trầm, lạnh lùng bước ra, tự kéo ghế ngồi ở phía đối diện, bên kia chiếc bàn. Mặt ông để lộ rõ ra sự khó chịu. Đó là trung đoàn phó chính trị Lưu Văn Hậu. Ông có nước da tai tái, như nước da thường thấy ở phần nhiều những người làm công tác chính trị. Chúng tôi không lạ gì ông vì nhiều lần ông giảng cho chúng tôi về lập trường giai cấp, về chủ nghĩa bá quyền đại Hán, về đường lối chiến tranh nhân dân, về lòng trung thành với đảng quang vinh, về mùa xuân của nhân loại là chủ nghĩa cộng sản đang đến gần, về ngày tận thế của chủ nghĩa đế quốc, về kẻ thù trực tiếp và nguy hiểm là Trung Quốc và kẻ thù lâu dài là đế quốc Mỹ…

Ông nói bằng giọng của người Nghệ An nên càng tăng thêm vẻ thâm sâu. Chỉ có điều lần nào ông cũng nói tràng giang đại hải, bọt mép đùn ra hai bên mép, đến mức chúng tôi mỏi nhừ cả chân, nhất là khi ông giảng bài “Trung Quốc tuy to nhưng không mạnh”. Ông kể ra muôn vàn tật xấu và những tội ác của Mao Trạch Đông, của Đặng Tiểu Bình ôm chân đế quốc Mỹ, gọi ông ta là thằng lùn chó chết phản bội chủ nghĩa Mác-Lênin khiến tôi nhớ bài thơ Vịnh thằng Lùn của Chế Lan Viên, trong đó có câu: Thằng lùn diện quần bò. Có lẽ vì thế mà anh em bộ đội gọi đùa ông là Lưu Địch Hậu.

Theo quy định của điều lệnh, tôi đứng dậy chào. Ông ta, thiếu tá Lưu Văn Hậu không nhìn tôi, chỉ khẽ gật đầu. Ông ta cho thấy là ông ta đang rất bực mình. Ông ta không giấu vẻ cau có, khó chịu và nguyên nhân của điều đó chính là tôi. Mặc kệ, chết là cùng, tôi ngồi xuống đối diện và cố trấn an mình.

– Ta bắt đầu làm việc-giọng Chính trị viên trung đoàn giống như lời tuyên án- Trước hết tôi muốn hỏi, cậu có biết vì sao chúng tôi cho gọi cậu ra đây không?

– Thưa, tôi không biết-tôi đáp lạnh lùng.

– Cậu thử cố nghĩ lại xem, có thể cậu sớm đoán ra đấy?

Tôi làm ra vẻ đang suy nghĩ.

– Cậu nhớ ra chưa?

– Thưa, tôi vẫn không biết.

– Trí nhớ cậu tồi thế cơ à, tôi không tin.

Tôi ngồi im.

– Cậu thử nhớ lại xem cậu có gửi đi đâu đó đơn thư gì không?

– À, tôi gần như reo lên, không giấu vẻ bình thản pha chút mỉa mai- chuyện đó thì tôi nhớ chứ! Tôi có gửi đến vài nơi đơn tố cáo những người đánh tôi.

– Vậy là cậu nhớ ra rồi, hẩy. Cuối cùng thì cậu cũng nhớ ra. Tốt. Cậu gửi đơn đi những đâu?

– Tôi gửi một lá đơn cho báo Chiến sỹ Tây Bắc, một lá đơn cho báo Quân đội nhân dân, vài lá thư cho bạn bè… -tôi tuồn tuột kể, giọng trơn tru, coi thường, như chả có gì phải giấu diếm.

– Còn những đâu nữa, cậu cố nhớ cho hết.

– Tôi mới chỉ kịp gửi đến những nơi đó.

– Thế cậu còn có ý định gửi đến những đâu nữa?

– Tôi định tới đây, nếu vụ việc không được giải quyết, tôi sẽ kiện lên Ban quân pháp Quân khu, Bộ quốc phòng, thậm chí lên Quốc hội.

– Cậu kiện ai?

– ….

– Ai cho phép cậu làm những việc đó?

– Tôi kiện những kẻ tra tấn tôi và tôi có quyền, cần gì phải chờ ai cho phép…

– Cậu nói bậy!

– Ông Hậu đập tay xuống bàn ngắt lời tôi bằng một câu quát thị uy, chiếu cái nhìn của Thần chết vào tôi.

– Cậu đang là quân nhân, có kỷ luật của quân nhân, không phải cứ thích làm gì thì làm-ông hạ giọng rất nhanh.

– Nhưng ta sẽ trở lại chuyện đó sau. Tôi chỉ muốn hỏi, sao cậu không gửi đơn kiện cho chúng tôi?

– Khi hỏi thế, ông trung tá tiếp tục xoáy vào mặt tôi bằng cái nhìn khô khốc.

– Bởi vì người giải quyết cuối cùng là chúng tôi. Cậu gửi cho báo Chiến sỹ Tây Bắc, báo Quân đội nhân dân hay bất cứ đâu, thì cuối cùng cũng là chúng tôi giải quyết, cậu có biết điều đó không?

– Tôi không biết và tôi không tin…

– Thì tôi vừa nói cho cậu biết. Cậu viết đơn kiện tụng gửi khắp nơi nhưng chúng tôi thì cậu lờ đi.

– Ông ta bất ngờ lại đập bàn và đổi cách xưng hô, đứng dậy, một tay chỉ thẳng vào mặt tôi, tay kia chắp lên hông-anh là thằng cơ hội, nghe rõ chưa!-ông thiếu tá gần như chồm người về phía tôi.

– Anh vào lính để phá hoại, để gây hoang mang cho các chiến sỹ. Anh tưởng chúng tôi không biết tâm địa thật của anh hay sao? Anh ấm ức vì phải vào lính, vì không được trọng dụng nên tìm cách phá chúng tôi từ bên trong. Anh làm chúng tôi mất thể diện, làm chúng tôi điên đầu… Đồ đểu, anh là đồ đểu, là thằng cơ hội. Anh tưởng trong đơn thư anh viết những gì mà chúng tôi không biết sao? Họ gửi cả lại kia kìa. Anh không biết là bất cứ lá thư nào gửi từ biên giới về xuôi, kể cả thư tình, cũng đều bị kiểm soát à. Và vì thế mà chúng tôi mới biết chân tướng thật của anh. Tất cả những gì anh tố cáo quân đội, tố cáo chúng tôi, đều nằm trên bàn của tôi kia kìa. Anh đã bôi xấu hình ảnh người lính, bôi xấu sỹ quan quân đội, bôi xấu tất cả chúng tôi một cách vô nguyên tắc.

Ông thiếu tá dừng lại một lát, rồi nói như tuyên án, giọng rin tít:

– Chúng tôi sẽ trừng trị anh thật thích đáng để làm gương.

(Còn nữa)

(Nguồn: Báo Tiếng Dân)