Đời Sông Đời Người – Tranh (sơn dầu): MAI TÂM
(Kỳ 1)
Nổi bật giữa khu phố nghèo là ngôi nhà lầu, khang trang, bề thế lắm! Bởi vì, trên suốt con đường hơn cây số này chỉ mỗi ngôi nhà đó là lớn nhất, cao nhất, sang trọng nhất. Xung quanh vẫn còn những mái tranh, mái lá dừa, vách đất hoặc vách gạch nhưng thấp lè tè, từ ấy xuống tận mé sông và cả phía sau; nhà cửa thưa thớt, soi rẫy là chính.
Chủ nhà là người phương xa đến. Ừ, mà xóm này, chủ yếu là người “tha phương” tụ hội về thôi nên ít ai biết đến ai. Nhà này ở đầu ngõ, sau con hẽm cụt là ngôi nhà vách đất, lợp lá dừa. Vô hình chung, ra vào thường gặp nhau, sau vài lần chào hỏi đâm ra thân thiết. À, biết rồi, đây là nhà của một quan cảnh sát, là cảnh sát trưởng lận kìa! Gốc người Huế, ông nhận chức và làm việc ở Nha Trang. Ngôi nhà này, thỉnh thoảng Ông về thăm thôi. Thăm vợ và hai con gái. Vợ Ông, có vẻ hiền hậu, nụ cười vô thưởng vô phạt luôn sẵn sàng trên môi chào đón mọi người; xem ra dễ gần. Hai cô con gái, đi ra, đi vào cũng chỉ quanh quẩn trong nhà, ít tiếp xúc với ai. Kể cũng phải, họ có bận bịu gì đâu mà cần quan hệ với ai chứ? Chỉ đến trường, về, ăn uống có mẹ lo, cũng không đi đâu chơi, rạp hát càng không, chợ búa càng xa tầm nhìn. Dần dần, mọi người cũng chú ý, ai cũng gọi đó là “Nhị Kiều”. Cung cách sống như tiểu thư, cả hai đều khá ưa nhìn, không thể nói “Chim sa cá lặn” nhưng rõ ràng sinh hoạt họ khác hẳn mọi người, có vẻ xa rời tách biệt lắm! Nhất là cô chị, nét đẹp sắc xảo, dáng vẻ kênh kiệu, thích chưng diện, áo quần luôn bóng bẩy mượt mà, ra đường đố mà có gì lọt vào đôi mắt kia. Thẳng một hướng nhìn tăm tắp, dáng đi ẻo lả nhẹ nhàng nhưng quá uy nghiêm. Cô em, dáng thô mộc hơn, nét hiền hậu thấy rõ, tuy cũng xa cách mọi người nhưng xét kỹ thì đó là do bản chất nhút nhát, ít tiếp xúc, an phận thủ thường.
Cô chị tên gọi Hoàng Ngọc- Cô em Bích Ngọc.
Sau con hẻm kia, cũng có cô gái đồng trang lứa, tuy gia cảnh không môn đăng hộ đối nhưng ra vào thường gặp vì cùng đi học, lại là lân bang hàng xóm, bà chủ nhà cũng thường qua lại nên họ biết và trở thành đôi bạn. Nói là “đôi bạn” vì chỉ cô em thôi, cô chị vẫn còn xa cách lắm! Bích Ngọc và Nguyệt Minh dần trở thành đôi bạn tâm giao. Bạn bè dần “rộng ra” trong phạm vi mươi nóc nhà. Chỉ toàn những cô gái đang tuổi cập kê, đang độ tròn trăng hoặc hơi xê xế, gia cảnh cũng khang khác, có điều tất cả đều lam lũ, ngày bận việc nhà, chỉ tối mới rảnh. Nhóm bạn tầm 7-8 người, khi hội tụ thường bắt cặp nhau tâm sự, nơi hò hẹn là dưới nhà Bà Năm, nhà của Nguyệt Minh. Nhà này ưu điểm có sân rộng, nhất là sân sau, còn hoang sơ, những hàng dẹp đan xen nhau, xa tí nữa toàn là những bụi gai xương rồng và cả những nấm mồ hoang…Nhằm khi nhà Bà Năm đang khai khẩn đất hoang, những cây dẹp được chặt bỏ, các cô thi nhau gom lại, chờ khô làm củi; trong khi chờ đợi nó thành nơi chơi “trốn tìm”. Vui kể gì!
Tưởng chỉ vậy. Nhưng không chỉ vậy. Nhóm chơi thêm người. Người ấy là chú Sơn, vừa được bà Năm đưa vào từ quê hương Quảng Nam trọ học. Chú trạc tuổi các cô, khá bảnh trai, với dáng người nho nhã, khuôn mặt vuông, mắt sáng nhưng ánh nhìn lại nhuốm buồn, một nỗi buồn thầm lặng, hướng nhìn xa xăm, tư lự chắc tại xa nhà…Chú được mời gọi vào cuộc chơi, bình thường, rồi dần dần không bình thường, nhóm trốn tìm có hôm còn “hai người” cuối cùng tìm không thấy, cho đến khi họ tự hiện ra. Chuyện thầm kín nhưng liệu kín được không?!
Vậy là những tối chơi “trốn tìm” không đơn thuần là đi trốn và tìm nhau mà lại là nơi hò hẹn. Nhưng, ai hẹn với ai? Chuyện đang nhiều thắc mắc, thì trò chơi bị ngưng ngang. Ông Năm đã cấm! Cấm không vì chuyện bí ẩn kia, mà cấm là tại con nhỏ lanh chanh cháu Nội chủ nhà. Lại là cháu cưng nữa mới ra cớ sự. Số là, người lớn chơi, nó không có “vé” nhưng cũng lăng xăng cùng trốn. Nó trốn hay không trốn cũng chẳng ai “đập lon” nó, xem như ngoại cuộc; khổ là nó sợ ma, đâu chịu trốn một mình một chỗ; cứ theo đuôi người lớn, nó theo đuôi ai, y như rằng người đó “chết trước”. Chết trước là làm “đù” luôn! Nên nó bị đuổi xua, hắc hủi. Đêm nay, nó biết phận mình, không ai bị nó phiền phức nữa. Nhưng thật là đại hoạ, khi trăng đã xế, nghỉ chơi, mọi người lục đục ra về, hôm nay, không chỉ hai người ra cuối mà là ba người! Ba người này kể như xui! Vừa bước vào đã nghe cả nhà hô hoán… Tiếng Ông Năm vừa uy vừa gắt:
– Hắn mô? Còn đứa nào ngoài nớ không?
– Dạ còn, nè bốn đứa nè!
Bốn đứa là ba đứa vào sau cùng: Bích Ngọc, Nguyệt Minh, Sơn và chị của Nguyệt Minh: chị Bảy! Nhưng người Ông Năm tìm, không phải họ mà là con nhóc Minh Tịnh. Vậy là cả nhà nháo nhào tìm kiếm. Ôi, ma dấu nó chăng? Mọi người cố nhớ: hôm nay, bốn người này chẳng ai bị nó “theo đuôi”; còn lại ai đã về nhà nấy rồi. Chị Bảy tất tả đi đến từng nhà, hỏi từng người. Mọi người còn lại quày quả ra sau nhà tìm; Sơn, xông xáo đi trước. Nhưng chưa được mấy bước, có tiếng động từ chiếc tủ, cánh cửa bật mở, con nhỏ lò dò bò ra, tay dụi mắt… vì chói đèn. Ai cũng vừa mừng vừa tức, tra hỏi nó:
– Sao không lên giường ngủ mà lại chui vào tủ?
Nhìn quanh, không khí khá căng thẳng, nhất là những khi Ông Năm có mặt. Nó khóc oà, lu loa kể lể, mà toàn kể tội mọi người; nó chẳng những vô can mà lại là nạn nhân nữa chứ?! Trong tiếng khóc, khóc thì ít, mà ức thì nhiều, nó kêu rêu rằng:
– Chơi đập lon, con đi trốn, mà ai cũng đuổi con ra, con phải tìm chỗ tự trốn chớ. Ngoài đó, mà trốn một mình ma nó bắt con sao?! Con trốn trong này không sợ ma, mà chờ hoài không ai đập lon con chi, thì con … ngủ chớ!
Lời trần tình của nó nhẹ tênh, chỉ những cái “ức” đính kèm là nặng. Lời Ông Năm phán còn nặng hơn:
– Tao cấm tiệt trò chơi này nghe chưa? Cả bầy người lớn mà bỏ cháu.
Không chỉ “xuống lệnh” mà Ông còn kèm theo cái nhìn vừa giận dữ lại rất uy nghiêm. Tất cả chỉ biết cúi đầu im lặng. Rồi quay qua con nhỏ “tiểu quỷ” kia ông ôn tồn:
– Đi thay đồ rồi ngủ! Mi ngu rứa? Ngộp thở chết như chơi.
Trò chơi mỗi tối xem như phá sản. Ai cũng buồn. Cả ngày cực nhọc, tối cũng cần chút thư giãn, vui chơi. Đó là nhu cầu, mà đã là nhu cầu thì không thể thiếu. Vậy là bày ra cái chuyện: hóng mát. Cầu Đạo Long là điểm đến! Từ nhà xuống cầu cũng hơn cây số, chỉ qua đoạn đường này là đã tới, hai bên đường khá hoang sơ, đa phần là soi, rẫy, lúp xúp là những đám bồn bồn, hoa dại… Lên cầu rồi thì đông vui lắm! Ngoài khách hóng mát còn có cả những rổ hàng rong, bán đậu phọng, bánh kẹo, bắp rang… Gái trai lũ lượt, ngồi dọc lan can, không thành nhóm đông được nhưng mỗi nhóm 3-4 người, hoặc hai người càng lý tưởng. Từ trên cầu, nhìn về phương Tây, núi non thấp thoáng, hai bên bờ chỉ thấy bóng cây chấp chới… Nhìn phương Đông, cũng na ná vậy, nhưng dòng chảy chừng như dài hơn ra tận cửa sông và xuôi ra biển. Mặt sông những đêm trăng lấp loáng ánh vàng, gió hây hẩy thổi; chỉ nhìn nhau trò chuyện thì thật lãng mạn, có bẽn lẽn thì cứ cúi mặt ngắm trăng dưới dòng nước êm trôi … xem ra càng đẹp. Đừng nhìn chi hai bên bờ, bởi chỉ toàn bụi bờ, gai góc, thường là cây keo, ban đêm sao thấy được màu xanh của nó, thấy chăng chỉ là bóng đen đu đưa, dài ngoẵng, chồm ra mé nước, ghê lắm! Hiện trên cầu có ít ra hai người như vậy. Người thứ ba là kẻ bắt nhịp cầu. Sơn và Bích Ngọc đang đi vào mộng. Người thứ ba, lâu nay ai cũng nhầm giờ biết ra chính là Nguyệt Minh đang ngồi cùng mấy chị. Vậy đã rõ, ai là hai kẻ đang yêu! Chuyện tình của đôi gái trai mới lớn đã manh nha. Đôi tim cùng nhịp đập nhưng tâm tình u ẩn lại mỗi kẻ tự mang… Chuyện bây giờ, chỉ là trăng sao thời tiết, chuyện của gió và mây. Gió đùa mây, mây cợt gió nhưng họ lại chẳng chút cợt đùa… Thật rồi đây!
* CÂU CHUYỆN GIA ĐÌNH
Có thật chăng cũng chỉ là chuyện “đầu mày cuối mắt”. Nào ai dám tỏ cùng ai? Bích Ngọc bản tính nhút nhát, rụt rè, nhiều lắm cũng chỉ mim mỉm cười; nói, thì cũng chỉ bâng quơ, ai nghe thì tự hiểu. Người bàng quan cũng cứ vậy mà hay. Có điều, làn tóc cô mượt mà hơn chút, nếp áo phẳng phiu hơn thường khi, xuống chơi với Minh Nguyệt cũng e dè bẽn lẽn… Sơn kín đáo không kém. Anh ngại, mình là người trọ học, đang ở nhà bà con, lại có họ xa, nghĩa là đang mang ơn huệ, học không lo lại còn bày chuyện gió trăng, không thể để có điều tiếng nên càng ý tứ! Rồi cái khoảng cách vô hình kia nữa, nó đủ cao, đủ rộng, đủ để thấy thứ tình cảm vừa chớm kia là vô vọng. Gia đình cô ấy cao sang bề thế quá! Cô ấy như một vị tiểu thư, đích thị là con nhà khuê các. Sơn, lòng đầy mặc cảm, tiếc thay, sự mặc cảm không đủ đè bẹp mối tình si. Sơn không thể dừng thương, dừng nhớ, không thể hết đắm say dù hằng đêm thường o ép lòng mình, ngày thì cố đè nén. Bao đêm, dưới ánh trăng, cả hai cùng nhìn nước sông cuộn chảy, gần, thật gần nhưng cả cái nắm tay cũng chưa từng; cả lời yêu thương cũng tắt ở đầu môi; cô thẹn thùng, kín kẽ, cũng phải; nhưng anh thì sao, lẽ nào “để cọc tìm trâu”?! Tất cả, tất cả chỉ vì cái hoàn cảnh của anh không tương xứng. Nguyệt Minh vẫn là cô chị dễ thương, luôn tạo điều kiện cho cả hai; nhưng cơ hội cứ vùn vụt trôi qua….
Mà có phải như Sơn nghĩ không?! Câu “Đèn nhà ai nấy rạng” quả không sai. Nếp nhà là vậy, nhưng Bích Ngọc và cả cô chị Hoàng Ngọc chưa hiểu hết chuyện nhà thì bên ngoài sao biết? Bà Quảng, mẹ của hai cô bao nhiêu năm lặng lẽ trong nỗi buồn lo. Giờ thì đã gấp gáp rồi. Sự vô tâm của hai cô đã đẩy mẹ vào cảnh cô đơn, cô đơn giữa chồng con, cô đơn ngay trong mái ấm của mình! Ông Quảng, vốn gốc Huế, chuyện bà chỉ sinh hai gái là khó chấp nhận. Lương tiền, ông quản, cho bao nhiêu, bà chỉ biết chừng ấy. Thỉnh thoảng ông về, ở qua đêm rồi lại đi. Cứ đi, cứ về, hôm nay ông Quảng lại về; lần này, ông ở những hai ngày. Chắc có chuyện gì hệ trọng đây? Bà yên lặng chờ đợi như đã từng chờ đợi. Sang ngày thứ hai, khi hai cô đi học, ông gọi bà. Để rồi như sét đánh ngang tai, dù rằng chuyện này bà luôn phập phồng chờ đợi, chờ, đợi mà không biết khi nào?! Ông nói, nói như “ban lệnh”, với ông không có chuyện bàn bạc, ông phán và bà chỉ chấp nhận, miễn bàn. Có gì đâu, đúng là chỉ vậy; cũng chỉ là chuyện:
Đầu lòng hai ả tố nga (*)
Tiếc là bà thiếu một chàng Vương Quan!
Thiếu thì ông tìm và hôm nay, ông chính thức thông báo: Chàng Vương của ông đã 7 tuổi! Tổ ấm của ông ở Nha Trang. Chuyện đi về của ông giờ chỉ là chút trách nhiệm với con cái. Thêm tổ ấm thì lương tiền cũng phải xẻ chia. Chuyện còn lại, bà tự hiểu: bà phải tự mà chèo chống, chèo chống giữa cơn giông bão; mà bà thì xưa nay có biết gì ngoài việc phục vụ chồng con? Đến cơ sự này, phải cho hai con biết; dù biết cũng chỉ để biết vậy thôi, hai cô chẳng giúp được gì, sự chia sẻ chỉ là thêm mấy dòng nước mắt; ba mẹ con khóc cùng nhau, để cùng tự hiểu: từ nay cuộc sống sẽ chẳng dễ dàng gì, nhưng cái bề thế kia vẫn còn tồn tại.
Thật lòng mà nói, vốn liếng riêng của bà cũng đã dần mòn và sắp cạn; bà lo sợ đủ đường. Lên xuống với nhà bà Năm, chứ bà có thân thiết với ai đâu, kể như chị em rồi, chẳng gì phải ngại; phụ nữ với nhau mà, trút được nỗi lòng, chia sẻ niềm đau cũng là điều cần và thuận lẽ, nghĩ vậy, bà xuống nhà, tỉ tê tâm sự, trút cạn nỗi lòng bấy lâu dấu bặt; kể cả: Nhà ở không yên! Rộn ràng lắm! Trên lầu, như có người, nhà vắng, nhất là khi các cô đi học, bà ở bếp thì nhà trước có tiếng chân, bà ra nhìn… hoàn toàn vắng lặng; bà ở trong phòng thì bếp như có cả bầy chuột hành quân. Có nói, ông cũng bỏ ngoài tai, đưa vào loại chuyện “vớ vẫn”.
Bà Năm vốn tốt bụng, im lặng lắng nghe, thỉnh thoảng buông tiếng thở dài, đôi mắt đầy tư lự, miếng trầu lười nhát giữa đôi hàm răng đen láy; thể hiện rõ sự sẻ chia đồng cảm, nhưng bà chẳng nói gì ngoài những lời an ủi nhẹ nhàng, đủ để bà Quảng tạm lắng cơn đau, đủ để tiếp tục chấp nhận cuộc đời không may, bà ra về với hai hàng nước mắt và nụ cười gượng gạo, sau khi thêm:
– Chị giúp em với, chưa bao giờ em tối tăm như lúc này.
Sau mấy hôm, bà Năm mới khuyên:
– Nếu muốn thêm chút tiền tiêu, bà buôn bán gì đi! Nhà ngay mặt phố cũng tiện; lại nữa mở cửa buôn bán, kẻ vào người ra, vừa vui nhà mà “họ” cũng đi. Bà đỡ sợ.
Bà Quảng thật lòng:
– Chị ơi, bán thứ gì, chị chỉ giúp! Em xưa giờ chỉ lo chuyện nhà, chưa từng buôn bán.
Bà Năm trầm ngâm giây sau bàn tiếp:
– Ừ, nhà bà cũng chẳng có ai. Hay bà bán gạo đi! Tui có chỗ quen, bỏ gạo cho bà, cũng dễ thôi, chỉ cần mua hay đóng 3 cái học đong, cái cây gạt là xong. Chuyện cũng nhẹ nhàng, ai mua thì mình đong, mua mấy ký thì đong mấy ký…
Chuyện kể như xong. Bà Năm xem lịch, chọn ngày giúp, gọi gạo giúp, đồ nghề nhà bán gạo lo giúp… cần khiêng vác gì thì bà Năm sẽ cho người lên hỗ trợ, nhà bà lúc nào lại chẳng sẵn người. Nói tóm lại, bà Quảng chỉ trả tiền gạo và mở hàng ra bán.
Bán buôn như bà thì… khách đông lắm! Hiền hậu, xởi lởi, địa điểm thuận tiện, chỉ có điều khách càng đông thì bà càng mau hết vốn. Nguyên nhân vì đâu? Vì bà quá lương thiện, quá thật thà, là kết quả của tấm lòng nhân hậu. Đã hướng dẫn cho bà cách “gạt” gạo khi đong, nhưng bà lại không thể nào “gạt sát” được. Mua mấy ký cũng gạt dư “chút ngọn”. Vậy là mất ký, đồng nghĩa là không lời, có khi thâm cả vốn, mà thâm thiệt. Đã vậy, ai đến mua, than không tiền xin nợ, bà cũng “ừ” luôn, “luôn” đồng nghĩa với chuyện “đi luôn không trả”. Có buôn bán, tất có đồng ra đồng vào, bà cứ thế mà tiêu, cứ vậy mà chìu chuộng hai cô. Cửa hàng này, liệu tồn tại bao lâu?!?!?!
* NHỮNG CÁNH CHIM.
Ai có phận đời nấy. Những cô gái, chàng trai đã đến tuổi trưởng thành. Nhóm bạn cũng không ngoại lệ. Lần lượt từng người, từng người một, nói lời tạm biệt, lời quê mộc mạc, chân thành nhưng tình cảm vô cùng chan chứa. Họ chia tay nhau trong ngậm ngùi và biết chắc khó có ngày gặp lại. Hai cô theo chồng, theo diện “cha mẹ đặt đâu con ngồi đó”, cũng đành yên một lẽ; một cô mãn hạn ở thuê về lại quê nhà đâu tận trong Duồng. Cô nữa vui hơn, vừa xong hạn ở thuê, gọi là đền ơn cha mẹ, cùng về có cả anh bạn làm phu khuân vác theo về Long Hương tính chuyện cưới xin… Cặp đôi này vốn là điểm “trêu ghẹo” của những chị lớn tuổi; giờ lại cùng nhau chúc phúc cho họ.
Nhóm học trò đang vào kỳ thi, Hoàng Ngọc và Sơn lo thi tú tài, Bích Ngọc và Nguyệt Minh đang kỳ thi cuối năm. Mỗi người một ước vọng cho tương lai. Dạo này, “bộ ba” nhiều tâm sự lắm! Sơn, qua Nguyệt Minh đã phần nào biết cảnh nhà của bạn; anh xót xa nhưng lại nhen nhóm tia hy vọng; rồi lại tự dằn vặt, tự trách mình ích kỷ, có hy vọng tất có niềm vui, sao lại vui khi cô ấy bất hạnh chứ, dẫu biết đời thường vẫn vậy; bất hạnh của người này đôi khi lại là hy vọng của người kia. Anh trăn trở, nghĩ suy, rồi có hôm Sơn bộc bạch nỗi niềm nhờ cô chị họ Nguyệt Minh tư vấn, nhưng xem ra, đó lại là những sợi dây vô hình trói buộc, anh thật khó thoát ra… Mỗi ngày ba người vẫn thường gặp, Bích Ngọc trầm tư hẳn, ánh nhìn cứ xa xăm, như bất định. Thấy, hiểu, nhưng để tỏ sự đồng cảm không phải dễ, an ủi càng không được. Về nguyên tắc, rõ ràng anh chẳng có lý do gì mà an ủi. Những tối bên nhau, trong dạ Sơn thường trực nỗi xốn xang, nhưng không thể không gặp; gặp nhau cũng chỉ ngại ngần, Ngọc càng khép nép. Lần này, anh nhất định bày tỏ tâm can, ít ra cũng phải nói được lời “yêu thương”. Tối thiểu phải vậy. Suốt dọc đường đi, hai người lặng lẽ bước. Thỉnh thoảng, Sơn đưa mắt nhìn bạn, khuôn mặt nghiêng nghiêng đượm buồn, ánh mắt cô như dòng trôi thăm thẳm… Nói gì đi chớ, trong lòng Sơn tự thôi thúc, ôi, mở đầu sao đây? Đã lên quá nửa cầu rồi, cả ba tìm chỗ ngồi. Đôi bạn ngồi bên nhau, lại cứ nhìn dòng nước, ánh sáng lờ mờ, lấp loáng khi có ánh sáng vụt qua từ chiếc xe nào đó, đêm nay trời không trăng, trên bầu trời cao rộng dày đặt những vì sao lấp lánh, anh xoay người nhìn cô bạn nãy giờ vẫn chìm trong im lặng. Lâu sau, Sơn mở lời:
– Gần cuối năm học rồi, bài vở chắc nhiều lắm Ngọc hơ?
– Dạ!
– Lo lắm hơ?
– Dạ!
– Anh cũng vậy.
Rồi lại… im lặng. Không lẽ đến đây là “hết”?! Nguyệt Minh khuyên mình nên tỏ thật tình cảm mình đã dành cho Ngọc mà. Giờ sao đây? Những gì đã chuẩn bị sao giờ trôi hết đi đâu rồi? Trong khi, Bích Ngọc cũng đang đợi chờ. Chờ câu chuyện “quan trọng” mà theo Nguyệt Minh ướm lời là chính Sơn sẽ là người nói. Thu hết can đảm, Sơn lại lên tiếng:
– Tương lai, ai cũng lo Ngọc à! Nhưng đừng lo lắng quá sinh bệnh càng khổ. Gần đây, thấy Ngọc kém vui. Anh cũng lo, kết quả kỳ thi này sẽ quyết định cho tương lai của chính anh. Anh chẳng còn ai trên đời; vài người bà con xa giờ cũng xa lắm, chẳng những xa về khoảng cách địa lý mà cả về tình cảm. Anh cần biết mấy một tấm lòng, để chia sẻ buồn vui, để bầu bạn. May, vào đây, gia đình cô Năm đã cho anh tình cảm ấy, cả chị Nguyệt Minh và cả Bích Ngọc.
Anh dừng, chừng như để dò phản ứng của cô ấy. Bích Ngọc vẫn im lặng cúi đầu; rồi lại ngước nhìn dòng chảy, vẫn trầm tư, ánh mắt trĩu buồn! Giây sau, Sơn tiếp:
– Bích Ngọc có vui khi mình là bạn không? Là bạn thì mình có thể ký gửi tâm tình, giúp nhau qua những buồn vui mà đời người ai cũng có.
Nói xong, anh im lặng đợi chờ, đôi mắt khát khao cháy bỏng một tia hy vọng đang nhìn Bích Ngọc. Chỉ cần một cái gật đầu, anh sẽ vui biết bao nhiêu!
Tiếng nói nhẹ như hơi thở vang lên, mà nếu không chăm chú lắng nghe đúng ra là chờ nghe thì chẳng thể nào nghe nỗi:
– Mình vẫn là bạn mà. Lâu nay, vẫn là bạn đó thôi.
Sơn hồi hộp, nói tiếp:
– Anh muốn nói đến thứ tình bạn đầy tin cậy. Đủ để nói cùng nhau những điều thầm kín, riêng tư nhất mà không thể nói với ai khác. Ví như về gia đình, về những người yêu thương, về cuộc đời mình, về tuổi thơ về tương lai… Tất cả, tất cả Ngọc à; và người nghe cũng đủ yêu thương, lắng nghe và đồng cảm. Ngọc, vậy Ngọc có muốn biết về anh không?
Ngọc run bắn người! Sao đây? Trả lời sao đây? Cô thật sự lúng túng. Chuyện quan trọng là đây chăng? Mà thật ra, cô cũng đã biết gì nhiều về anh đâu, ngoài việc: quê anh loạn lạc, anh vào đây là do bác Năm cưu mang, muốn giúp cho cậu cháu họ an tâm đèn sách, được chút tương lai. Chỉ vậy. Giờ, nói muốn, hoá ra mình tò mò, nói không, lại thành kẻ vô tâm. Giây sau, cô nhìn anh, lần đầu tiên, cô nhìn thẳng vào anh, mặt đối mặt, ánh mắt giao nhau. Một tình cảm lạ thoáng qua; cô thấy lòng rung động, thật, thật khó nói là gì, bất chợt cô hé môi cười; buông nhẹ:
– Nếu anh đủ tin cậy!
Đêm không trăng, nên đêm càng êm ả, tĩnh lặng. Sơn đắm chìm trong nỗi nhớ, nhớ quê cha đất mẹ, nhớ dòng sông một thời gắn bó với chiếc thuyền con, nhớ triền cát ven đê, nhà anh bên lở, bởi vì bến lở nên cuộc sống chẳng đầy, khó khăn vô kể, nhớ cả tiếng mái chèo khua theo nhịp đẩy, tiếng nước vỗ mạn thuyền… tất cả, tất cả… thật sống động như hiện ra trước mắt, như dòng sông này là chính quê hương anh, nơi xa tít tắp cuối dòng kia chính là cửa sông, nơi sông ra hoà với biển. Trăm sông sẽ cùng về với biển, mà anh sao lại trôi dạt tha phương… nỗi niềm u ẩn giờ đây, ngay hôm nay, anh tâm sự cùng cô bạn Bích Ngọc; cô đang im lặng lắng nghe anh…
Đôi bạn chìm trong câu chuyện. Người kể như chưa bao giờ được nói, nhưng thật từ tốn, không gấp gáp. Người nghe như nghe chính câu chuyện của mình, nghe bằng sự im lặng đầy cảm thông chia sẻ, thỉnh thoảng anh ngắt quãng như để đè nén cảm xúc, cô ngước nhìn chờ đợi bằng ánh mắt thật thiết tha đầy thương cảm. Lời yêu thương chưa tỏ nhưng tâm tình như đà trút cạn… Nếu không có lời nhắc của Nguyệt Minh có lẽ họ quên mất thời gian, cô đã giữ lời hứa, tạo cơ hội tốt cho cả hai nên từ khi lên đến cầu, cô đã tách ra cùng cô bạn học ở mé xa kia! Bốn bạn cùng về, lại những câu chuyện vu vơ, như từ đầu đến giờ họ vẫn cùng nhau… Đến nhà, Sơn và Nguyệt Minh không hẹn mà cùng dừng lại, chờ Bích Ngọc vào nhà, tắt đèn xong cả hai mới thong thả vào con ngõ nhỏ tối đen. Đó đã là thói quen rồi, thói quen từ lâu lắm. Từ khi cả nhóm bạn còn chơi chung lận kìa, nguyên nhân chẳng có gì ngoài chuyện ngôi nhà có “ma”! Các cô gái, không ai đi qua ngõ hẹp này mà chịu đi một mình, dù nó đâu chừng 7-8m.
Tranh thủ lúc cùng vào nhà, Nguyệt Minh hỏi nhỏ:
– Sao, đến đâu rồi?
Vẻ lúng túng, Sơn mỉm cười đáp khẽ:
– Em ngỏ lời xin làm bạn, Ngọc cũng vui…
Nguyệt Minh nóng nảy cắt ngang:
– Trời đất, bạn gì nữa mà xin? Bè bạn cả hai năm rồi, giờ phải khác đi chớ! Nè, tui nói cho mà biết nhen, tui không có thời gian nữa đâu, tui lo học bài; mà ông cũng liệu cho nhanh, lo mà thi cử, lằng nhằng ấm ớ kiểu này, biết khi nào mới hiểu nhau đây? Rồi cứ nghĩ ngợi mông lung, sao học?
– Dạ.
Sơn chỉ biết “dạ” chớ nào kịp nghĩ gì? Chị nói cũng phải, chuyện cứ canh cánh bên lòng cũng khó mà học hành được. Như đêm nay chẳng hạn, vào ngồi trước sách vở anh thừ người suy nghĩ, hình dung lại khuôn mặt người mình thầm thương trộm nhớ, cô không đẹp sắc xảo như chị, cô hiền hậu và thuần khiết biết bao, nhìn cô người đối diện tự nhiên sinh lòng cảm mến, muốn đặt cả lòng tin yêu và ngưỡng mộ, cô không yểu điệu, cũng chẳng đến độ mảnh mai yếu đuối nhưng luôn gợi trong anh thứ tình thương như của người anh, hơn nữa như của người cha luôn yêu thương, đùm bọc cô con gái nhỏ. Anh thật sự khát khao, khát khao được che chở, được lo lắng yêu thương cô và điều ấy sẽ là mãi mãi…
Bích Ngọc vào nhà, bước như người mộng du. Bên Sơn, cô như được an ủi, như được sống thật là mình. Cô chìm trong hạnh phúc, cái hạnh phúc tuy thoáng qua và hình như cũng khá mong manh nhưng cô vẫn sẵn lòng đón đợi. Cô muốn nghe, nghe thật nhiều về thời thơ ấu của anh. Cuộc đời ấy cô chưa từng hình dung được, thậm chí cô còn không tin là “có” trong cuộc đời này, cô quá xa lạ với chuyện: phải chạy ăn từng bữa, chuyện “rau cháo” qua ngày, chuyện mò tôm bắt ốc, chắt chiu để đem đổi gạo; lại càng không hình dung nỗi tuổi thơ của Sơn là những chiều, những tối đi theo con nước lớn ròng, dọc triền đê, theo bờ theo bãi để kiếm cái ăn… Đêm nay, cô trằn trọc chẳng yên, không yên vì bận nghĩ suy về người con trai chẳng phải ruột rà, cô đang mâu thuẩn với chính mình. Tâm trạng vừa vui vui, cảm giác lâng lâng xen với mối cảm hoài đang len lén tâm tư. Một tình cảm lạ xâm lấn, có một điều gì đó như thực, như mơ, cô tự hỏi “đó, phải chăng là tình yêu”?, bất giác cô mỉm cười trong bóng đêm. Cô xoay trở liên tục, có tiếng gắt nhỏ của Hoàng Ngọc. Cô nằm yên, nằm yên, không có nghĩa là yên, tâm tình cô vẫn đang xao động, cô đang vướng lưới tình chăng; cô lại mỉm cười, nụ cười theo cô vào giấc ngủ…
Những ngày tiếp theo, hai người vẫn thường hặp nhau ở nhà Nguyệt Minh, họ kín đáo trao nhau nụ cười đằm thắm, ánh mắt khát khao cháy bỏng. Tuyệt nhiên chẳng nói gì! “Không nói” nhưng người lớn ai cũng biết, biết vì thái độ lúng túng của cả hai, khi đôi tim loạn nhịp thì sao giữ được động thái cân bằng? Sự thẹn thùng e ấp của Ngọc, cái nhìn từ xa đầy trìu mến của Sơn chẳng qua mắt được ai. Ngày thi gần kề, họ hạn chế những cuộc hẹn hò… chuyển vào hoạt động “bí mật”, những cánh thơ được chuyền tay, nhờ con chim nhỏ dễ thương mà năm ngoái nó đã gây bão tố, cô bé Minh Tịnh. Cô nhỏ lanh lẹ, lý lắc nhưng đáng tin cậy, nó vẫn hay lên xuống giữa hai nhà, vô cùng thuận lợi.
Kỳ thi tú tài vừa xong. Hai nhà có hai sĩ tử, chị Hoàng Ngọc và Sơn. Trong khi Sơn háo hức chờ đợi ngày đăng bảng, thì Hoàng Ngọc, thi xong về, kể như xong nhiệm vụ, cô chẳng đá động gì đến chuyện thi cử, lòng cũng chẳng chút hoài mong… Thời gian của cô quá nhàn rỗi , cô lại sính vào chuyện tô diện theo cách của mình. Bà Quảng cũng đã nghỉ bán gạo; nó chẳng sinh lợi mà đôi lần về thăm nhà ông chẳng vui. Lý do bà đưa ra cũng chỉ là cho vui nhà, cho đỡ sợ. Ông chẳng nói gì, ngày hè, ông đưa vào một cậu cháu nhỏ, đang học trung học gọi là “thêm người” cho đỡ sợ. Rồi cũng đến ngày đăng bảng, như đã mặc định, Hoàng Ngọc không buồn, chẳng lo, cô hỏng kỳ thi tú tài. Sơn thoả mãn với kết quả mình mong đợi, thật chẳng uổng công anh ngày đêm chăm chỉ, không phụ sự đùm bọc của Cô Năm, anh vui, vui lắm. Kết quả này, ngoài điều đáp đền ơn huệ anh còn thêm tự tin để bày tỏ tâm tình, xây mộng tương lai cùng Bích Ngọc. Đêm ấy, trăng thượng tuần vằng vặc soi nghiêng, đôi bạn cùng hóng mát trên nhịp cầu quen thuộc, anh xây mộng tương lai, tương lai ấy chắc chắn Bích Ngọc không là người ngoại cuộc. Nhưng rồi, tất cả đổi thay, anh có lệnh nhập ngũ! Buồn ư?! Không, anh chấp nhận nó như một sự tất yếu. Quê hương đang binh lửa, cuộc chiến ngày càng khốc liệt. Anh, từ làng quê xa xôi, tận cuối sông Đoài lưu lạc vào đây cũng vì loạn lạc, gia đình anh tan nát cũng vì chiến tranh. Để giữ lại giọt máu cuối cùng của người em họ, cô đã đưa anh vào tiếp tục đường học vấn, giờ có đi vào cuộc chiến anh cũng đã trưởng thành hơn, tương lai anh sẽ là một sĩ quan, tuy lành ít dữ nhiều nhưng con đường binh nghiệp cũng là con đường đi đến tương lai. Anh chấp nhận điều ấy như bao người khác, nhưng còn Bích Ngọc thì sao? Anh suy nghĩ nhiều về điều này. Anh yêu cô nhiều lắm, tình yêu ấy giờ đã gần như máu thịt, là “người yêu của lính” biết bao lãng mạn như người ta hằng ca tụng bằng nhạc, bằng thơ nhưng cũng không ít gian nan kể cả máu và nước mắt, là vợ của lính trong thời chinh chiến sao khỏi cảnh vọng phu, không chừng lại trở thành goá phụ! Lẽ nào, lẽ nào…anh chìm trong dòng suy tưởng. Có lẽ, anh không nên hò hẹn, không thể để cô mòn mỏi đợi chờ, nghĩ đến đây cổ họng anh như nghẹn đắng, tim như bị ai bóp nghẹt…
Chiều nay, ông Quảng về. Tin “thi rớt” của Hoàng Ngọc hình như không phải là điều ông quan tâm. Ông nghe một cách hững hờ, để rồi điều ông nói ra chẳng ăn nhập gì, nhưng không ai nghe mà có thể hững hờ. Ông không quanh co, úp mở, ông xuống lệnh:
– Thứ bảy tuần tới, ở nhà lo chuẩn bị nhà cửa đón khách. Khách sẽ về cùng tôi. Dặn Hoàng Ngọc chuẩn bị chu đáo, là người ta đến “xem mắt” nó.
Như vậy đã rõ, ông đã tự quyết định cuộc hôn nhân này, nhà cứ vậy mà thi hành, bà không được can dự, luận bàn mà cả nhân vật chính cũng miễn ý kiến. Bà nhỏ nhẻ hỏi ông:
– Họ người ở đâu? Có gần không, cho con tiện đường thăm quê.
Ông miễn cưỡng đáp:
– Họ gốc Ninh Hoà, làm việc ở Nha Trang.
Phán xong, ngày mai ông lại về tổ ấm của mình, để lại ba mẹ con, mỗi người một tâm trạng. Hoàng Ngọc ngơ ngác, đầu óc rỗng không. Là sao? Là sao chớ? Sao lại cưới gả gấp gáp vậy? Anh ta là ai, mặt mũi ra sao… liệu cô có từ chối được không, nếu tuần sau gặp mà không vừa ý… Bà Quảng và cả Bích Ngọc cũng hoang mang, không ngờ ông quyết định nhanh vậy. Tất cả như lạc vào cõi mông lung nào đó, một đời con gái chớ có phải; ông không đau nhưng bà xót; Bích Ngọc giờ đã biết thế nào là “yêu đương” thầm kín, len lén nhìn chị đầy ái ngại!
Sau nhiều trăn trở, nghĩ suy mà thời gian nào đợi ai đâu, cũng sắp đến ngày lên đường, Sơn và Bích Ngọc dẫu vẫn hẹn hò nhưng cũng chỉ chuyện vòng quanh; bên nhau họ cảm thấy quá đủ, quá đầy cảm xúc; nhưng đêm nay đã gấp gáp lắm rồi. Ngày mai, anh lên đường! Hẹn nhau lần này cũng có thể là lần cuối, là đêm hẹn cuối cùng của mối duyên tri ngộ. Anh có nên hò hẹn cuộc tương lai hay không? Đêm nay, dù muốn dù không cũng phải nói; hoặc nói, hoặc là im lặng mãi mãi! Đường hơi lên dốc, anh chậm bước, hai người im lặng bên nhau… Tựa lan can cầu, anh nhìn dòng sông chở đầy trăng mà lòng bối rối. Nhìn cô ấy thánh thiện quá, nét buồn phảng phất trên mắt, trên môi, cô thật mong manh, yếu đuối và đơn côi quá, không che chở được, không ghé vai san sẻ nỗi buồn lo kia thì sao anh nở đem đến cho cô thêm nỗi sầu? Lòng anh đằm thắm một niềm thương cảm, nó như hơi thở, như những mạch máu đang luân chuyển trong anh… Bích Ngọc cũng lặng im, cô buồn, cô hoang mang lắm! Cách cư xử của ba cô chẳng cho cô hy vọng theo đuổi cuộc tình đến viên mãn; anh sẽ khoác áo chinh nhân, rồi sao, rồi sẽ ra sao… nhất là cô sẽ trả lời sao nếu anh xin cô lời hẹn ước? Cô chìm trong suy nghĩ, cô mím chặt môi chờ đợi mà lòng đầy bất an. Cả hai choàng tỉnh, bất giác cùng nhìn nhau, Sơn cất tiếng:
– Ngọc à, ngày mai anh đi rồi! Anh cám ơn em nhiều lắm, cám ơn em đã cho anh những ngày vui, những tình cảm ân cần, anh được an ủi nhiều lắm…
– Sao lại là cảm ơn? Anh xa lạ quá! Em đã an ủi được gì cho anh?
– Thời gian bên nhau, anh rất vui! Anh tự cảm thấy em là chỗ dựa tinh thần của anh, đâu đợi làm gì, em chịu lắng nghe, đồng cảm với những kỷ niệm vui buồn mà anh từng nghĩ chỉ riêng mang, chỉ dấu mãi trong lòng…bấy nhiêu đó đã an ủi anh nhiều lắm! Em cho anh thêm nghị lực, thêm hy vọng ở tương lai; khẽ nhìn Bích Ngọc, anh tiếp, giờ thì cánh cửa tương lai hầu như khép lại, anh không thể tiếp tục mơ về những điều vô vọng hầu như hoang tưởng.
Anh dừng nói. Bích Ngọc vẫn đợi nghe; cô đang chờ nghe anh nói, nói gì đó về cái tương lai kia, hay chí ít về những điều anh đã từng mong ước…những điều ấy, mấy phần có cô trong ấy? Cô có ý chờ nhưng lại mong anh đừng nói! Cái tâm trạng vừa hồi hộp đợi chờ, vừa cầu mong đừng xảy đến thật sự làm cô hồi hộp đảo điên. Câu chuyện vẫn tiếp tục trải dài… nhưng thuỷ chung không có lời hẹn ước. Anh tránh, cô chờ… cứ vậy, trăng đã xế về tây, trăng đượm buồn, ánh sáng càng huyền ảo, mang màu tím nhạt, màu của thuỷ chung, màu của nỗi buồn thầm kín! Bên nhau, hai người như nghe cả nhịp tim đang thổn thức, nghe cả hơi thở gấp gáp của nhau, Sơn nhìn Bích Ngọc bằng ánh mắt đắm đuối, chất ngất yêu thương, ánh mắt chừng như cả thế giới u uẩn, yêu thương tích tụ về. Anh muốn ôm cô vào lòng, chỉ vậy, nhưng không thể, anh cố đè nén cảm xúc, cố kềm chế; không, không thể, bởi vì anh muốn cô thanh thản, chẳng muốn cô vướng víu chút tình ngắn ngủi mà khổ cả một đời, hãy để nó đi qua như thời gian vẫn lướt qua một cách vô tình, như dòng nước đang lững lờ cuộn chảy dưới xa kia. Tất cả sẽ như nước trôi qua cầu! Bích Ngọc vẫn yên lặng bên anh. Sơn lại cất tiếng:
– Mình về thôi Ngọc, đêm đã hơi lạnh rồi! Tụi mình chia tay vậy. Ngày mai anh đi sớm, chắc chẳng gặp lại em; mình bắt tay từ biệt, có được không?!
Ngọc chẳng nói được nửa câu; thụ động đưa vội bàn tay, mắt chan chứa buồn ngước nhìn màu trăng đã nhạt, ánh sáng càng trở nên hư ảo, lung linh sau làn nước mắt. Họ thoáng thấy nhau trong đêm, ở giây phút cuối.
Nắm lấy tay Ngọc, Sơn gượng nhẹ như đang cầm đoá pha lê, bàn tay đang run nhẹ trong tay anh, anh nói trong xúc cảm, xúc cảm đến nghẹn lời:
– Giờ mới chính thức mình chia tay Ngọc à! Tay trong tay và khi tay rời tay…thì mới là chia tay. Anh cười ý nhị sau câu nói đầy ẩn ý!
Đầu óc Ngọc mụ mẫm hẳn, chỉ có trống ngực liên hồi, trong phút giây này, cô chỉ mong được tựa vào vai anh, bây giờ và mãi mãi, nhưng họ đã kịp dừng lại…Phút trào lòng qua mau, Ngọc trở về thực tại; cái thực tại thật xót xa: Mình xa nhau thật rồi! Từ đây và đến bao giờ?!?!?!
Cả hai cùng bước theo lối về quen thuộc mà lòng ngổn ngang trăm mối. Họ đang chơi vơi trong mối tình đầu, mối tình không đoạn cuối; không ai dám nói lời thề hẹn, Ngọc buồn, nhưng lại thấy an lòng! Sơn đã không đòi hỏi cô một lời hứa hẹn nào, nếu có cô sẽ vô cùng khó xử. Cô yêu anh, cô không chối điều ấy, nhưng hứa chờ đợi anh cô không thể; hứa mà không chắc giữ được lời thì hứa để mà chi? Người ta đi vào nơi mà cái chết nhiều hơn sự sống; cô không thể, bởi vì, hôn sự của cô chắc rồi cũng sẽ như Hoàng Ngọc, ba cô toàn quyền quyết định, cô có dám chống đối không, có làm trái được không? Cô chỉ có thể cho anh tình yêu và nỗi nhớ nhưng không dám hứa đợi chờ. Thôi thì thà im lặng. Cô thầm cám ơn anh. Sơn tuy đã làm đúng như những gì mình nghĩ nhưng lòng cũng nhiều vương vấn; anh biết Bích Ngọc yêu anh nhiều nhưng cô cũng không thể làm khác được. Thôi thì “vạn sự tuỳ duyên”; nếu anh còn có ngày về, nếu cô ấy vẫn còn chờ đợi… nếu và nếu… Tất cả còn ở tương lai xa lắc kia…
Sáng sớm, Sơn đã mang túi hành trang gọn nhẹ trên vai với ít đồ dùng cá nhân mà chị Nguyệt Minh đã chuẩn bị từ mấy hôm trước, anh bước ra chào từ biệt từng người. Cô Năm ân cần đưa tiễn, kín đáo dúi vào tay anh chút lộ phí, giọng cô trầm xuống:
– Cô đưa được mi vào đây tưởng tránh xa hòn tên mũi đạn, nhưng giờ mi lại phải lao vào chỗ nớ! Cẩn thận con nghe! Nhớ niệm Phật, niệm Quan Thế Âm Bồ Tát nghe con, có kiêng có lành! Thôi, con đi đi và nhớ “đây là nơi con có thể về bất cứ lúc nào”.
Sơn cúi đầu dạ nhỏ, anh đi ra ngõ, đầu óc rỗng không; anh không biết rằng trên lan can lầu bên cạnh có đôi mắt ngân ngấn nước nhìn theo thổn thức và tiếng khóc bật ra khẽ, rất khẽ sau nhiều kềm nén.
* HÔN LỄ.
Nhà Bà Quảng rộn ràng hẳn. Mọi chuẩn bị đã xong. Sau lần xem mắt, họ quyết định nhanh ngày cưới. Hoàng Ngọc cũng chẳng phản đối, với bản chất kênh kiệu, xa cách mọi người, hầu như cô chưa có mối tình nào nên xem ra cũng ưng ý, chồng tương lai của cô cao ráo, ra dáng thư sinh, khuôn mặt hơi vuông, đôi mắt buồn buồn sau làn kính cận, điều khiếm khuyết duy nhất ở làn da trắng xanh nên có vẻ thiếu sức sống. Anh vốn là một nhân viên văn phòng cần mẫn, đủ bảo đảm cho anh không phải ra chiến trường, lại nữa điều làm Hoàng Ngọc và cả Bà Quảng cũng yên tâm là họ không buộc cô làm dâu mà sẵn sàng cho Hoàn, chồng cô ra riêng hoặc ở rễ, việc ấy hai người tự do quyết định. Mọi diễn tiến đều thuận lợi, hôn sự hoàn tất, ông Quảng lại trở về tổ ấm của mình. Sau tuần trăng mật, hai vợ chồng Hoàng Ngọc trở ra Nha Trang xây tổ ấm!
Nhà chỉ còn cậu cháu nhỏ và hai mẹ con, quạnh vắng lắm. Bà lại cho người ta thuê căn trước chỉ để chứa cà, tiền bạc chẳng bao nhiêu nhưng chính là để có người ra vào. Đây cũng chính là thời gian Bích Ngọc cô đơn nhất, Nguyệt Minh đang chuẩn bị ra Huế tiếp tục con đường học vấn, ngày đi gần kề họ càng quấn quýt nhau, trong câu chuyện giữa đôi bạn Sơn luôn được nhắc đến đầy hữu ý. Nguyệt Minh nhìn bạn ái ngại, hứa cho bạn vui rằng nếu có tin gì của Sơn sẽ kể lại cho Ngọc, bằng cách nào thì đến đó sẽ biết.
Những tưởng cho thuê nhà sẽ yên ổn hơn, nhưng không phải vậy; ngay giữa ban ngày người trông hàng vẫn gặp “ma”, một lần, hai lần… tưởng trộm, lần ba, cố rình, để bắt tại trận thì có đâu mà bắt? Chuyện đến tai bà Quảng: mỗi trưa nhà vắng, người giữ hàng ngủ lại trông nhà, họ thấy thấp thoáng có bóng một người đàn bà, mặc áo bà ba đen, đầu đội nón lá, tay cắp một cái rổ đi thẳng vào nhà, theo dõi thì “có vào mà không có ra”. Hé mắt nhìn, chỉ thấy bà ấy vào đến chân cầu thang rồi mất tăm! Chuyện đồn đại ra ngoài, nhiều người thừa nhận, năm 1945 chợ bị bỏ bom, người chết nhiều lắm, có một người phụ nữ cố chạy đến và gục chết tại đây. Nghe lời mọi người, bà Quảng về thiết bàn Phật trên lầu, thờ cúng, cầu sự yên ổn; nhưng nào có yên đâu! Thỉnh thoảng ma cứ ngời ngời, có hôm, Thuận, người cháu trai đi học về, ôm cặp lên lầu, vừa đi vừa hát nghêu ngao, tự nhiên cậu im bặt, bước chân trở nên nhẹ nhàng, lấm lét thụt lùi xuống, trách nhỏ:
– Bà với O thiệt là… Ôn về mà không nói để con ca hát, chạy ầm ầm lên lầu.
Cả bà Quảng và Bích Ngọc cùng lên tiếng trong sự kinh ngạc tột độ:
– Ôn đâu mà Ôn, Ôn về hồi nào?
Thuận gân cổ lên cãi:
– Trời ơi, Bà nợ, O nợ… lên, lên với con đi! Ôn nằm trên đi- văng ngủ tề…
Hai mẹ con nhìn nhau, tái xanh. Biểu cậu ấy lên xem lần nữa rồi xuống nói lại. Cậu lắc đầu quầy quậy:
– Thôi, Bà và O nói vậy là biết rồi; con không lên nữa, con cũng không ngủ trên nớ nữa.
Bích Ngọc tò mò hỏi:
– Mày thấy sao mà nói Ôn về?
Cậu vừa thở hổn hển, vừa thấp giọng chừng như sợ nói lớn “ma” nghe vậy. Cậu kể:
– Con dưới này chạy lên, vừa chạy vừa hát như mọi ngày, vừa ló đầu lên, con thấy Ôn nằm trên đi- văng, xoay mặt vào trong, ôn mặc bộ pi- ra- ma trắng như mọi khi, sợ ồn Ôn thức giấc, con im tiếng rồi lui xuống… Từ nãy đến giờ, không thấy ai xuống là… đúng rồi, con đi về Huế đây, con sợ lắm…
Vậy là rõ! Rõ vậy rồi làm sao? Cả nhà hoang mang quá! Cậu cháu dứt khoát không ngủ trên lầu nữa, trưa đó, cậu rủ thêm người dưới nhà bà Năm lên phụ ôm tất cả sách vở, tư trang, quần áo xuống nhà dưới, cảnh nhà trở nên ngổn ngang còn hơn người ta dọn lụt. Tối, lại càng khó xử, đi đâu cũng dắt dây ba người cùng đi, mới chiều đã lo mở đèn trên lầu, đốt nhang bàn Phật. Một lần nữa, bà Quảng nhờ Bà Năm chỉ dẫn nên đã rước Sư về tụng mấy đêm kinh. Nói chung hành động tâm linh này cũng chỉ để ổn định tâm lý, sau cũng dần nguôi ngoai.
Từ ngày theo chồng, Hoàng Ngọc cũng thường về thăm nhà, thường cách tuần về một lần, lâu cũng một tháng. Xem ra, cuộc sống gia đình cô khá là hạnh phúc. Hai vợ chồng thật vui vẻ, ngọt ngào… Bà Quảng vui lắm, nhưng vẫn lo, bởi gần một năm trôi qua, cô chưa có tin vui, việc chậm con không khéo lại mang điều tiếng không hay, bà sợ cái cảnh như bà, có, mà hai gái còn khổ tâm huống hồ chi không con. Nhưng chuyện điều tiếng chưa nghe đã có nỗi buồn lo khác thiết thực hơn! Hoàn, rễ bà ốm nặng, Hoàng Ngọc rối ren, bà thu xếp việc nhà ra gấp Nha Trang… Ở nhà càng thêm quạnh vắng, Bích Ngọc được dưới nhà Bà Năm tăng cường người lên cho vui, cả con bé Minh Tịnh cũng được ưu ái ngủ chung với Bích ngọc. Đây cũng chính là mối duyên của hai cô cháu sau này.
Chuyện chẳng thể ngờ. Tin từ Nha Trang nhắn về, gấp lắm, chú Hoàn hấp hối và… mất ngay trong đêm! Lễ tang tổ chức luôn ngoài ấy, có lẽ chú chẳng còn cha mẹ, họ hàng cũng xa, nên Hoàng Ngọc trở về nhà mẹ với khăn trắng trên đầu, cùng di ảnh chồng… Mọi người nhìn cô đầy thương cảm và ái ngại; dù rằng thường ngày cô xa lạ với mọi người xung quanh nhưng trong cảnh này, bà con lối xóm cũng đến san sẻ nỗi buồn của cô lẫn tỏ sự cảm thông với cả bà Quảng. Nơi lập bàn thờ được bố trí trên lầu cho yên tĩnh. Sau thất đầu tiên, mỗi tối, Hoàng Ngọc lên lầu tụng kinh, chẳng biết cô học từ đâu, lúc nào mà xem ra cũng rành lắm, cũng chuông, cũng mõ kèm quyển Kinh Địa Tạng, công phu đều đặn! Đây có lẽ là ưu điểm duy nhất của cô và cũng là sự mầu nhiệm của tình yêu, của đạo vợ chồng, tuy rằng hôn sự do cha định đoạt, chuyện yêu đương chưa xảy ra, nhưng vợ chồng cứ vậy mà suy thì tình không hơn nghĩa; cô đã vì cái nghĩa vợ chồng mà vượt qua nỗi sợ, một mình trì tụng từng đêm trên cái lầu mà…thanh niên như Thuận , ban ngày cũng sợ! Từng tuần thất trôi qua, đến tuần 49 ngày cô trở nên tư lự, thừ người suy nghĩ, nhất là sáng nay, sáng của ngày thứ 50!
Sáng nay, Bích Ngọc và Thuận đã đến trường. Hoàng Ngọc ngồi thừ người suy nghĩ; tâm tư cô như chìm sâu trong dòng suy tưởng nào đó, ánh mắt trĩu buồn, đôi lúc chừng như vừa ra khỏi cơn mộng mị, cô ngẩng lên nhìn xung quanh, vẻ thất thần, buồn bã. Xưa nay, cô ít chuyện trò hay tâm sự cùng ai, bè bạn hầu như không có hoặc có cũng chẳng thân gần nên giờ đây xem ra cô thật sự trống vắng và cô đơn lắm! Ngay cả Bích Ngọc, ngoài giờ đi học, hình như cô cũng chỉ xuống chơi nhà bác Năm, dù Nguyệt Minh đã đi học xa, nhưng những khi cô ở nhà thì hầu như con bé hàng xóm Minh Tịnh cũng theo lên trò chuyện. Nghĩ đến đây, tự nhiên Hoàng Ngọc cũng cảm thấy thích cô bé ấy, nó có vẻ liếng thoắng, lanh lẹ, dễ gần duy chỉ cô là không, đúng ra là chưa muốn gần. Bà Quảng đi chợ về; cô phụ mẹ mấy việc vặt, hình như sau khi thành gia thất cô chịu khó và gần gũi mẹ hơn, nhất là những ngày lận đận, đau khổ vừa qua chính bà đã dìu cô qua giông bão nên cô thay đổi ít nhiều. Chuyện bếp núc cũng đơn giản, chỉ ba mẹ con và Thuận, chẳng lo mâm cao cổ đầy gì. Đâu đó vừa xong, hai mẹ con ngồi bên nhau, cô bắt đầu tâm sự cùng hai hàng nước mắt, bằng giọng nói nghẹn ngào:
– Má à, anh Hoàn tốt lắm; con tưởng sẽ êm ấm một đời ngờ đâu phần số ảnh ngắn ngủi quá! Giờ, chẳng biết làm sao mà sống; đêm qua, con thấy ảnh, không chỉ ảnh, mà đến ba người;…ảnh như một người tù, hai người ấy kèm hai bên, con không nhìn rõ mặt họ ra sao? Ảnh nhìn con, không nói lời nào mà buồn lắm, nhìn ảnh xanh xao cứ chập chờn như sương khói, rồi ba người mờ dần mờ dần, con không thấy đi ra cửa nhưng không còn ai. Con đưa tay, há miệng định kêu thì choàng tỉnh. Con không biết vậy là sao? Giờ chỉ thấy con thiệt sự trống trãi quá! Con mất ảnh thiệt rồi má ơi, đời này, kiếp này con sống sao đây? Cô nức nở.
Nãy giờ, bà Quảng chăm chú lắng nghe, nghe xong bà cất tiếng thở dài:
– Sao con nói vậy, nhỏ giờ con sống sao thì giờ cũng vậy thôi! Con lại về sống với má, với em, mẹ con mình rau cháo có nhau mà. Chuyện chiêm bao của con, có gì để má đi hỏi người lớn hoặc các Sư xem sao.
Nói vậy cho con yên lòng, chứ bà lo nghĩ lung lắm. Là ai vậy chớ? May là chỉ trong giấc mơ; bất giác bà cảm thấy hoang mang lo sợ. Ngay chiều hôm ấy, bà xuống nhà bà Năm, nơi quen thuộc và gần gũi nhất từ khi bà mới đến ở đây. May quá, bà Năm vẫn ngồi nhai trầu trên chiếc võng quen thuộc, bà cũng đã rất quen, ngồi xuống chiếc ghế bên cạnh, cất lời:
– Chị Năm, em nhờ chị giúp cho chuyện này, con Ngọc chị (trong nói chuyện bà vẫn gọi Ngọc chị, Ngọc em để phân biệt) kể rằng……bà đem câu chuyện chiêm bao kể lại thật chi tiết.
Bà Năm, vẫn thói quen cẩn trọng, im lặng nhai trầu giây lâu với vẻ trầm ngâm suy nghĩ rồi bà từ tốn nói:
– Chuyện này đích thị chỉ là chiêm bao, không phải “ma cỏ” gì đâu, bà nói hắn (Ngọc chị) đừng sợ. Thường, người đã chết sau 3 ngày và đúng 7 thất là được về thăm nhà, họ không về một mình đâu, mà có hai người đi kèm, gọi là “kem” dẫn về rồi dẫn đi, nên có lệ đơm cơm cúng là 3 chén, có cắm đũa lên, hai chén hai bên chỉ cắm 1 chiếc là của họ đó. Chắc nó về thăm vợ nó. Tội quá, vợ chồng trẻ mới đó ra đó mà chịu goá bụa. Con nhỏ xem ra cũng số khổ.
Bà Quảng nghe xong vừa đỡ sợ, nỗi sợ vơi đi thì nỗi buồn dâng cao; bà thầm nghĩ: Đúng là số nó khổ, mình an ủi nó sẽ sống bên mình nhưng biết mình sống được bao lâu để bầu bạn cùng con và cả tương lai của nó…thiệt là nan giải! Cảnh ngộ này, bà thật sự xót xa cho hai con của bà, cả hai đều là gái, không phải bà trọng nam khinh nữ nhưng rõ ràng, con gái dù sao vẫn khổ hơn con trai mà! Ai cũng an ủi bà “sinh con gái sẽ nhờ hơn là con trai”; có điều bà lại nghĩ khác, bà không sinh con để mong nhờ cậy khi tuổi già bóng xế, bà chỉ cầu mong con gái đừng mang phận bạc như bà, mà giờ Hoàng Ngọc xem ra…khổ hơn bà rồi! Bà đứng lên, chào bà Năm ra về; bà Năm nhìn theo bằng ánh mắt ái ngại đầy thương cảm.
Nói về nhà bà Năm, việc làm ăn ngày càng phát đạt, giờ, không còn là vách đất mái tranh nữa, mà đã là một ngôi nhà khang trang, có cả tầng gác, trên thờ các vị Phật, Bồ Tát, cả Ngài Quan Thánh… Trong chừng mực nào đó, Bà Năm cảm thấy mãn nguyện và càng thương cho gia cảnh của bà Quảng, nhất là rất thương cô Ngọc em, cô hiền hậu, chân chất, lại là bạn thân thiết với con gái bà, cùng trang lứa với Nguyệt Minh, giờ tuy Nguyệt Minh đã đi học xa nhưng hàng ngày cô vẫn xuống chơi, cô thân với tất cả người nhà, từ các anh, các chị…
Sau bữa tối, Hoàng Ngọc chuẩn bị lên lầu tụng kinh; nhưng hôm nay, cô có vẻ lưỡng lự, một nỗi sợ vu vơ xâm lấn, cô cảm thấy bất an. Tuy chỉ là giấc mơ, nhưng hình ảnh ấy ám ảnh cô nhiều…Ai, là ai, có thật là chồng cô chăng? Cuối cùng, cô rủ Thuận cùng lên; chỉ cần:
– Mày ngồi với cô, ở đầu cầu thang cũng được, mày đem bài vở lên ngồi học! Ở đâu cũng có đèn sáng trưng mà; ngồi đâu cũng học được.
Thuận miễn cưỡng theo lên, nhưng trong lòng không phục, thầm nghĩ: đèn sáng trưng mà sao O sợ? Ngồi đó mà học nỗi gì, O khua chuông, gõ mõ, O ê a đọc…bắt ghê! Nghĩ là nghĩ vậy thôi, chớ Thuận cũng biết tính cô rồi, khó chịu, khó dễ, khó khăn, hay bắt bẻ và cả…thù dai, không như O em đâu!
Như lệ thường, cơm nước xong Bích Ngọc dợm chân đi xuống nhà bà Năm; nhưng bị má gọi lại. Bà Quảng thấp giọng:
– Cả ngày đi học, về tí là mày xuống dưới bà Năm, má chẳng nói chuyện được với mày.
Bích Ngọc vẫn chân trong chân ngoài, đáp lời:
– Mà má cần chuyện gì, nói con mới biết chớ.
– Thì vô rồi má nói!
Xem kiểu nói này chắc là má cần thiệt. Nghĩ vậy, Ngọc vào hẳn vẻ tò mò, cả lo lắng. Ông già chưa về thì liệu có chuyện gì đây? Cô sợ, cô sợ vô cùng, sợ phải nghe “chỉ thị” cho mình. Cô phân vân ngồi xuống bên mẹ, miệng hỏi:
– Có chuyện gì vậy má?
Cô vừa ngồi xuống bên cạnh, bà Quảng nói nhỏ, chỉ đủ hai mẹ con nghe:
– Má thương chị mày quá; tội nghiệp, còn trẻ mà chịu goá bụa, nó buồn lắm, sao con không ở nhà chơi với chị? Chị em gái với nhau, những khi như vầy là cần lắm sự an ủi, con bớt xuống nhà bác Năm, dành tí thời gian cho chị. Hình như nó bắt đầu sợ rồi. Bà đem chuyện chiêm bao của Hoàng Ngọc kể lại cho Bích Ngọc nghe.
Bích Ngọc yên lặng lắng nghe; chợt buông tiếng thở dài; đâu phải cô không có tâm sự? Mà giữa cô và chị mình thật khó có sự cảm thông, khó mà nói chuyện lâu được! Tính nết trái ngược nhau, thương chị cô vẫn thương nhưng chị cô khó gần quá! Lại nữa, tâm sự cô ở hết dưới kia, dưới nhà bác Năm kìa, ở đó cô tìm về kỷ niệm với những người gần như anh chị của mình, họ chân quê mộc mạc nhưng đầy đặn một tấm lòng, ở đó, cô như cô em gái nhỏ, ngoài ra, ở đó cô còn nghe còn biết tin tức của người mà cô nhớ nhung mòn mỏi, tuy chỉ vài câu nhưng thật ấm lòng. Nguyệt Minh vẫn thư từ về nhà, cô ấy biết tin tức của Sơn, cô ở Huế, Sơn đóng quân ở Bồng Sơn… Thư về, cô biết được anh vẫn bình an, vẫn nhớ cô, vẫn gửi lời thăm hỏi, vẫn chúc cô thi cử đỗ đạt… Những điều ấy, giờ gần như hơi thở, như tất cả sự sống của cô. Cô miễn cưỡng trả lời:
– Má à, má biết tính chị Ngọc rồi đó, khó chịu, hay bắt bẻ, mà hai tụi con đó giờ có hợp nhau đâu? Thương, con vẫn thương nhưng nói chuyện thì biết nói gì? Chuyện buồn của chỉ ai mà không biết.
– Là má nói vậy, thấy nó buồn, than với má “giờ không biết sống sao đây?” má xót xa quá, nên nói với con vậy thôi. Kệ đi con, chị khó chịu vì nó buồn, con chìu nó tí cũng được mà! Con ở nhà trò chuyện với chị, để nó một mình tội lắm con! Nhất là tối nào cũng một mình thui thủi lo chuyện kệ kinh, nó sợ lắm đó con; bữa nay, nó rủ thằng Thuận lên ngồi ở đầu cầu thang kìa.
Bích Ngọc yên lặng. Tối hôm ấy, chị em trò chuyện dăm câu, chỉ vài câu là muốn tan hàng. Hoàng Ngọc lại vẫn giọng kẻ cả, dấm dẳng chê bai mối duyên của em; rằng đời lính chiến nay đây mai đó, cái chết lơ lửng trên đầu, mày lên xuống dưới nhà bác Năm cũng chỉ nhiêu đó… Câu cuối cùng làm Bích Ngọc “tắt đài” và suýt bật khóc, chưa dừng lại, Hoàng Ngọc còn bồi thêm:
– Mày đừng mơ, đừng sống theo cái kiểu bây giờ tụi con gái hay kháo nhau “Thà chết trên cành mai hơn sống trên cánh gà” nghe…
Hình như cô còn nói thêm, nhưng Bích Ngọc không nghe gì nữa, đôi tai lùng bùng; trong đầu cô chỉ thoáng qua ý nghĩ: Trời ơi, anh Hoàn có là lính đâu, mà chị giờ cũng cảnh goá bụa đó thôi. Vả lại, chuyện nợ duyên đâu đến lược chị và tui quyết định chớ? Cô im lặng, nhưng trong lòng bức bối và cảm thấy uất ức lắm! Cô thầm trách mẹ… và trong dòng suy tưởng của cô lúc này, hình bóng Sơn đã chiếm ngự. Cô không thể hình dung được mối duyên sẽ về đâu, trong khi cả hai đều không nguôi thương nhớ, thì cái chuyện “cánh gà- cành mai” kia phỏng có ích gì? Cô chìm dần vào giấc ngủ cùng với những đêm trăng, những ngày bên nhau.
Bà Quảng đang phân vân, lo lắng; Thuận đã thưa thật với bà từ sáng sớm, khi Hoàng Ngọc còn say giấc, rằng cậu ấy không thể đêm đêm ngồi học trên cầu thang được. Bài vở cuối năm nhiều lắm, ngồi trên ấy chỉ là ngồi chớ có nhập được chữ nào đâu. Hình như Hoàng Ngọc cũng biết điều ấy sẽ không lâu dài được, cô đã có chủ định của mình; mấy hôm nay, cô lân la làm thân với con bé Minh Tịnh, giờ nhờ bà Quảng giúp thêm lời, nhờ cháu ấy tối tối cùng cô lên lầu tụng kinh; chỉ cần đọc theo cô, hoặc đứng bên cũng được, cô còn cầu viện cả với em gái, vì cô thấy rõ hai cô cháu này thân thiết lắm, cứ rủ rỉ cùng nhau, cười cười, nói nói thật vui vẻ. Cả nhà bàn luận, Bích Ngọc hơi ngần ngại, nhưng vẫn hứa sẽ “nói giúp” chỉ là không hứa chắc kết quả, mà phải chính Hoàng Ngọc mở lời trước cả nhà sẽ vun vào.
Chuyện cũng đơn giản, con bé chỉ yêu cầu “xuống xin bà Nội, bà cho thì con sẽ lên”. Đích thân bà Quảng xuống, bà Năm cũng sẵn sàng, vì nghĩ đọc kinh cũng tốt, cháu sẽ đằm thắm hơn, thiện lành hơn; không hại chi. Vậy là, bên cạnh Hoàng Ngọc mỗi tối có thêm một đệ tử, lúc đầu, cô bé chỉ đứng một bên, mắt nhìn tứ phía, cô nhìn lên bàn thờ, lẩm nhẩm đếm các ảnh thờ rồi nhận diện: Có Phật Thích Ca, có Quan Thế Âm Bồ Tát, có cả ngài Tam Tạng nhưng lại thiếu ảnh Bà Chúa Tiên, thiếu luôn Ngài Quan Công… cô bé lại liếc nhìn bàn thờ chú Hoàn… bất giác rùng mình. Cô sợ màu khăn đỏ lé phủ lên trên di ảnh với chùm vải đỏ kết hoa… Cô bé đem chuyện này kể cho cả nhà bà Quảng nghe, cô Ngọc sợ cháu bỏ cuộc, vội trấn an:
– Cháu đừng nhìn lung tung, thôi, tối nay, cháu cùng đọc kinh với cô nghe, tập trung nhìn vào kinh mà đọc, cháu khỏi nhìn các phương sẽ không thấy sợ.
Con bé gật đầu đồng ý; tối đó, nó cùng hoà giọng, có điều đọc không kịp, thành ra tụng kinh mà như chơi “đuổi nhau”, ở dưới nhà Bích Ngọc buồn cười, trời ơi, tụng kinh mà như người ta “hát bè” là sao? Nhưng, im thôi, nói ra, con nhỏ không lên nữa thì khổ. Nhưng chị Hoàng Ngọc đâu phải không biết, tối hôm sau nhắc con nhỏ:
– Con ráng đọc cho kịp cô đi, đọc so le vậy Phật không chứng cho đâu!
Con nhóc nghĩ thầm: nói mình đọc chậm, so le Phật không chứng, vậy sao cô không đọc chậm lại chứ, nghĩ vậy nhưng nó cũng đáp:
– Con ráng lắm rồi, với lại trang phía con, con còn thấy nhưng sang trang bên kia con đọc khó lắm. Thôi, hôm nay con có cách rồi…
Trời ơi, cái cách của nó làm cho Hoàng Ngọc như ngồi trên ổ kiến, nhưng đã vào kinh cô không thể dừng. Nó đứng bên phải, đọc; hết trang, nó chạy sang bên trái, có nghĩa là, trang sách bên nào nó chạy theo về bên ấy, cứ mỗi lần nó di chuyển, sàn gác kêu răng rắc dưới chân… chẳng những không tập trung được mà cô còn sợ nữa… Ngày mai, cô lại dặn:
– Cháu đứng yên một bên thôi, đừng di chuyển sau lưng cô, gây tiếng động, Phật không chứng!
Con nhỏ bắt đầu thối chí. Sao khó vậy, nó suy nghĩ, hơi bực mình rồi nhen. Đó giờ, chẳng ai làm phiền nó, cả nhà, từ lớn chí nhỏ đều trọng vọng nó lắm, chẳng qua bà Nội, bà Ngoại (nó vẫn gọi bà Quảng như vậy) nhất là cô Bích Ngọc năn nỉ chớ cô Hoàng Ngọc thì… xa lắm mới cầu được nó. Với lại, khi di chuyển nó cũng sợ chết người chớ có chơi đâu, trời ơi, nó đi đâu thì đôi mắt trên ảnh thờ như theo nó đến đó; khiếp lắm! Nó im lặng không nói gì, nó có cách của nó rồi. Vậy là, tối ấy, nó thật sự nghiêm trang, đứng hẳn một bên, bên xa cái bàn thờ; cùng tụng, cùng tụng có nghĩa là cả hai cùng đọc nhưng… nó cứ đọc trang gần nó nhất, sang trang kia nó vẫn đọc mỗi trang đó! Cô Ngọc tháo mồ hôi hột, kiên nhẫn cho đến cuối cùng… Con bé khá là nhạy cảm, biết không ổn, hôm sau nó không lên nữa, sau khi tuyên bố:
– Con không lên lầu đọc kinh nữa nghe; cô đừng chờ con!
Hoàng Ngọc đành dời giờ đọc kinh từ “mỗi tối sang mỗi sáng”; sợ thì vẫn sợ nhưng nghe nói “có mặt trời ma ít loạn hơn”! Chấp nhận vậy, cô cầu cho mau hết một trăm ngày, giờ chưa tới 70; cũng còn cả tháng… lạy trời mau qua!
*
*. *
Mấy hôm rồi, con nhóc Minh Tịnh không lên nhà Bích Ngọc như mọi khi, nó ngại chăng? Sáng nay, nó lấp ló ngoài cửa sau, chốc chốc ló đầu nhìn vào, rồi lại vụt đi… Bà Quảng, cô Ngọc chị gọi, nó lắc đầu đi thẳng. Chắc nó tìm Bích Ngọc. Khi Bích Ngọc về, bà Quảng báo: Minh Tịnh sáng giờ chập chờn ngoài cửa, kêu không chịu vô, chắc tìm mày. Bích Ngọc nghe chưa dứt câu đã hoả tốc chạy xuống, bởi vì, thư của Nguyệt Minh gửi về, nó là người đọc, nên tin tức gì về Sơn nếu có thì chính nó biết rõ hơn ai hết. Cô vừa xuống đã gặp ngay con bé, nó nắm tay cô kéo vào nhà, chỗ cái góc riêng của nó, ghé tai cô thì thầm:
– Cháu nói với cô việc này nghe! Từ nay, cháu không gọi cô bằng tên Ngọc nữa đâu. Gọi vậy giống cô Hoàng Ngọc, cháu không thích!
Bích Ngọc thở phào, vừa nhẹ nhõm, vừa thất vọng; tưởng có tin gì của Sơn, cô hỏi:
– Không gọi tên cô thì con nói chuyện làm sao?
Như đã sắp đặt đâu đó, nó cười bí hiểm, nói nhanh giọng thật hào hứng:
– Con kêu cô là cô Bích, cũng là tên cô, không xài tên Ngọc nữa. Bà Ngoại đặt tên bắt kỳ, hai chị em mỗi một tên; cô dễ thương cũng Ngọc, cô khó chịu cũng Ngọc. Vậy nhen cô Bích.
– Ừ, cũng hay, vậy nhen.
Rồi chừng như để đáp lại sự yêu chìu của Bích Ngọc, nó thỏ thẻ: Cô Minh mới gửi thư về, nói có gặp Chú Sơn, chú nói nhiều lắm, chú nói rất muốn về thăm cô Năm và mọi người. Định là Tết sẽ về nếu có phép. Bích Ngọc cảm thấy nhịp tim đột nhiên như dừng lại để cũng chính nơi ấy, một khúc nhạc vui trỗi lên, yêu thương tràn trề, che lấp mọi cảm xúc hiện tại. Cô vui, cô hy vọng, đợi chờ…
Đến tuần trăm ngày, ông Quảng về. Mỗi khi có mặt ông không khí trong nhà như đông cứng, ai cũng rất ngại, bà Quảng và hai cô luôn có cảm giác bất an. Tối, ông hỏi han đôi ba câu chuyện nhà, bà Quảng cũng nói về tâm trạng của con gái, lo lắng tương lai của cô… Ông chừng như đã có chủ định nói ngay:
– Nó cũng đã được trăm ngày rồi. Tôi về, là để biểu nó… Hoàng Ngọc, ra đây! Ông gọi với vào trong. Hoàng Ngọc vừa ra đến nơi, ông tiếp lời như chưa từng dừng lại: Giờ ba tính xin việc cho mày đi làm, ra ngoài cho thanh thản, ra ngoài làm việc sẽ khuây khoả, có thêm lương mạ con sống cùng nhau cũng đỡ cho mạ mày. Ngay ngày mai, đi lo cho xong các loại giấy tờ… tuần tới có người về nhận.
Ông hướng dẫn cho cô các loại hồ sơ cần thiết. Hai mẹ con mừng lắm. Vậy xem ra ông cũng có ý lo cho mẹ con bà. Ông cũng nhắc Bích Ngọc lo mà thi, cố lấy cho được tú tài rồi ông liệu. Nghe đến đây, Bích Ngọc chợt rùng mình thoáng nghĩ: lẽ nào lại như chị ấy? Một mối duyên được sắp xếp sẵn đợi cô?
Đúng như ông dự tính, Hoàng Ngọc nhanh chóng có việc làm. Cô lại trở về với gương lược, làm quen với phấn son, trau chuốt mái tóc xoăn thời thượng; trong khi ấy, bà Quảng cặm cụi đính lên áo cô những băng đen nhỏ, đâu chỉ bằng một lóng tay, cô may luôn 3 bộ áo dài, màu nhạt. Dù gì tang chồng vẫn còn quá mới mẻ. Ngày đầu tiên đi làm, cô như một công chúa, cô đẹp, đẹp lắm, chính vì đôi mắt đượm buồn kia đã làm giảm đi vẻ đanh đá, sắc sảo vốn trời sinh của cô thay vào đó là nét đẹp khá liêu trai, hiền dịu, dáng đi thướt tha uyển chuyển, thật ưa nhìn, cô và em khác xa nhau quá. Không nói ra, nhưng Bích Ngọc cũng mừng và vui lây niềm vui của chị. Tuy trong lòng cô đang khắc khoải chờ mong lẫn hy vọng.
Mùa Xuân đã qua lâu rồi, Sơn không về như đã hứa, hôm Tết Nguyệt Minh về, cho biết rằng: Ngày Tết, nhiều biến động lắm, phép không dễ gì xin, vả lại, anh cũng nhường phép cho bạn vì họ có gia đình ruột thịt, còn anh, không về Tết vẫn có thể để sang hè. Giờ hè đã vào đến ngõ rồi, tiếng ve cũng đã râm ran trên cành cây, kẽ lá len tận vào nhà; trên cành, phượng cũng đã rực rỡ khoe màu, con bé Minh Tịnh đã có những cánh phương rơi, kết thành kiện đá mỗi sáng mỗi chiều, nó còn rủ cô chơi; kỳ thi cô cũng đã xong, cô đang chờ kết quả, nhưng sao trong cô, mùa hè như còn tận đâu đâu xa lắc. Người vẫn chưa về mà hè thì sắp hết, nỗi nhớ cồn cào trong cô; sau khi hoàn tất kỳ thi, chiều chiều cô và Minh Tịnh thường rủ nhau lên cầu hóng gió; buồn, nhớ, cô lại thích nhắc, thích nghe về người ấy; con bé này khá thông minh, nó nghe và biết nhiều chuyện lắm, giờ cô cháu đem ra “ôn lại”, điều ấy thật an ủi cho cô. Cứ vậy, trong lòng cô nung nấu hy vọng chờ ngày tương hội, cô vẫn tin “ngày ấy sẽ có và sắp đến rồi”, và hình như cô mong ngóng người ấy hơn cả kết quả kỳ thi. Nguyệt Minh sắp về; cô rất vui, cô có người tâm sự, cô sẽ nghe được nhiều, thật nhiều về anh ấy, về người mà cô yêu thương, mong mỏi dù chẳng biết để làm gì khi chưa từng thố lộ thì nói chi đến chuyện hẹn hò, chuyện của mai sau. Nhưng cô vẫn mong chờ bằng tất cả tấm tình sáng trong như ngọc. Chiều nay, hai cô cháu lại dắt tay nhau đi hóng gió, Minh Tịnh lại khoe:
– Cô Minh mới gởi thơ về đó cô Bích. Cô nói có chuyện quan trọng lắm, nhưng để về cô kể cho cả nhà nghe. Chuyện không vui, biết trễ buồn sẽ đến chậm, vui thêm ngày nào cứ vui.
Bên sông trọn chiều ấy, hầu như chỉ Minh Tịnh nói, mặc cho gió thổi, mây bay, mặc cho dưới dòng sâu kia nước vẫn lững lờ trôi xuôi, Bích Ngọc vẫn im lặng chìm trong niềm thương nhớ, loáng thoáng một nỗi lo, cô chìm vào suy nghĩ mông lung và cả sự bất an chẳng biết từ đâu xô ập tới…
(*) Một câu thơ trong truyện Kim Vân Kiều của đại thi hào Nguyễn Du.
ThaiLy
(Còn tiếp 3 kỳ)
(Kỳ 2) (Kỳ 3) (Kỳ 4)
