Khi Người Ta Còn Say Mê Tiểu Thuyết

Ảnh: Alec Soth/Magnum

The NYT: When Novels Mattered

(Chuyển ngữ tiếng Việt: ChatGPT; Hiệu đính (và chịu trách nhiệm): T.Vấn)

Khi Người Ta Còn Say Mê Tiểu Thuyết

Tác Giả: David Brooks

Tôi đủ tuổi để nhớ cái thời tiểu thuyết gia từng là những nhân vật “có máu mặt”. Khi còn là sinh viên đại học những năm 1980, mỗi cuốn mới của Philip Roth, Toni Morrison, Saul Bellow, John Updike, Alice Walker… đều là sự kiện văn hóa. Báo chí thì rộ lên phê bình, rồi phản phê bình, rồi tranh luận xoay quanh từng bài phê bình ấy.

Không phải tôi đang hoài niệm mà bịa đặt đâu. Giữa và cuối thế kỷ 20, tiểu thuyết văn học thực sự có sức hút đại chúng. Lật danh sách sách bán chạy năm 1962 của Publishers Weekly, ta thấy Katherine Anne Porter, Herman Wouk, J.D. Salinger. Năm sau lại có Mary McCarthy, John O’Hara. Một bài tiểu luận gần đây trên Substack, “Sự suy tàn văn hóa của tiểu thuyết văn học” (Owen Yingling), nhắc tôi rằng Ragtime của E.L. Doctorow từng đứng đầu năm 1975; Portnoy’s Complaint của Roth là bestseller năm 1969; Lolita của Nabokov hạng ba năm 1958; Bác sĩ Zhivago của Pasternak thì số một.

Còn bây giờ? Chủ yếu là Colleen Hoover, tiểu thuyết kỳ ảo, truyện dòng. Theo thống kê của Quỹ Nghệ thuật Quốc gia (NEA), số người tự nhận có đọc văn học đã giảm đều từ năm 1982. Yingling ghi nhận: kể từ 2001, chẳng còn tác phẩm văn học nào lọt top 10 bán chạy năm của Publishers Weekly. Tôi không hề xem thường dòng sách thị trường, nhưng tự hỏi: thời nay ở đâu là Fitzgerald, Faulkner, George Eliot, Jane Austen, hay David Foster Wallace?

Tôi không hề nói tiểu thuyết bây giờ “tệ” hơn (lấy gì để đo?). Điều tôi muốn nhấn mạnh: văn học đã trượt khỏi trung tâm đời sống tinh thần quốc gia, và sự mất mát ấy khiến văn hóa kém nhân tính hơn. Từ thời Lãng mạn, từng có niềm tin rằng nghệ sĩ, nhà văn chính là lương tri của dân tộc, là tiên tri chỉ cho ta biết ta là ai. Xã hội học gia C. Wright Mills từng viết: “Nghệ sĩ và trí thức độc lập là số ít còn đủ tư cách kháng cự sự rập khuôn và cái chết của những điều sinh động.”

Chính vì vậy, mãi tới thập niên 1980, tiểu thuyết gia vẫn được xem như những ngôi sao. Gore Vidal, Norman Mailer, Truman Capote trở thành huyền thoại. Đến cả nhà phê bình cũng thành người nổi tiếng: Susan Sontag, Alfred Kazin, trước đó là Lionel Trilling, Edmund Wilson. Báo chí khắp nơi đều có mục điểm sách; những tạp chí uy tín như The New Republic coi phê bình văn học là trọng tâm.

Vậy vì sao văn học dần vắng bóng? Nhiều người đổ tại internet, rằng nó phá hủy khả năng tập trung. Nghe cũng có lý, nhưng thực ra xu hướng sa sút đã bắt đầu từ 1980–1990, khi mạng còn chưa ngự trị. Và độc giả vẫn đủ kiên nhẫn để đọc 1984 của Orwell (hơn 30 triệu bản) hay Kiêu hãnh và định kiến của Austen (hơn 20 triệu bản). Khi hãng WordsRated khảo sát “cuốn sách bạn yêu thích nhất”, trong top 10 vẫn là Pride and Prejudice, Giết con chim nhại, Gatsby vĩ đại, Jane Eyre.

Độc giả vẫn tìm đến Sally Rooney, Zadie Smith, hoặc những cuốn đã thành biểu tượng “cánh tả” như Chuyện người hầu gái (Atwood) hay Demon Copperhead (Kingsolver). Nhưng nhìn chung, sự quan tâm đến văn chương đương đại đã rớt thê thảm.

Tôi thì có một lý giải khác: vấn đề nằm ở áp lực xã hội và sự thiếu dũng khí. Mọi giai đoạn rực rỡ đều có hai phẩm chất: tự tin và táo bạo. Hãy nhìn nghệ thuật Phục Hưng, hay tiểu thuyết Nga, tiểu thuyết Anh thế kỷ 19. Nhưng trong nửa thế kỷ qua, văn hóa phương Tây lại mất dần hai điều ấy.

Nhớ lại những năm 1970: Morrison tung The Bluest Eye, Pynchon viết Gravity’s Rainbow, Bellow có Humboldt’s Gift. Điện ảnh có Bố già (I & II), Apocalypse Now. Rock thì bùng nổ những bản trường ca đầy tham vọng: Stairway to Heaven, Free Bird, Bohemian Rhapsody. Ngay cả giới báo chí cũng liều lĩnh: Tom Wolfe, Joan Didion, Hunter S. Thompson. So với nay, tất cả sống động và tự do hơn nhiều.

Văn giới lại càng chịu tổn thất nặng. Từ khi “trung tâm lực hấp dẫn” dịch chuyển từ Greenwich Village sang các chương trình viết văn M.F.A. trong trường đại học, văn chương trở nên khép kín. Tôi từng mơ thành tiểu thuyết gia, từng làm biên tập tập sự cho Chicago Review. Nhưng chỉ sau vài buổi họp, tôi tự hỏi: “Chẳng lẽ cả đời mình chỉ để bàn tán sáu nhà văn ít ai biết ở Iowa Writers’ Workshop?” Thế giới ấy nhỏ bé và đầy phán xét.

Thêm nữa, giới văn chương vốn thiên tả, mà chủ nghĩa cấp tiến lại dễ sa vào sự rập khuôn. Xin lỗi các độc giả cánh tả, nhưng đúng là áp lực đồng thuận ở đó nặng nề hơn nhiều. Nói khác đi thì bên hữu lại được “thưởng” khi phát biểu những điều gây sốc.

Năm 2023, British Journal of Social Psychology có nghiên cứu cho thấy: người thiên tả có quan điểm chặt chẽ, cực đoan, dễ đoán hơn; người thiên hữu thì đa dạng, lộn xộn hơn. Điều này khiến tôi nhớ đến một khảo sát năm 2019 đăng trên The Atlantic: những vùng “xanh” như Boston, Bay Area hóa ra lại là những nơi hẹp hòi chính trị nhất nước Mỹ.

Trong nghề viết, rập khuôn là điều tối kỵ. Nhà văn là kẻ phải dám đứng một mình. Wharton, Twain, Baldwin đều có can đảm phi thường, và chính nhờ thế mà tác phẩm của họ lớn lao. Nếu viết chỉ để vừa lòng “nhóm mình”, bạn sẽ tạo ra nhân vật phản diện nhạt nhẽo, nỗi sợ “bị hủy” sẽ làm văn chương mất sức sống. Quan trọng hơn, thiếu can đảm xã hội, bạn sẽ chẳng bước ra khỏi cái bong bóng của mình để tìm hiểu đời sống thật của người khác.

Năm 1989, Tom Wolfe viết bài “Rình rập con quái thú nghìn chân” (Harper’s), kêu gọi tiểu thuyết gia hãy táo bạo hơn, viết những cuốn “đại thuyết” nắm bắt tinh thần thời đại, như Balzac, Dickens, Steinbeck, Sinclair Lewis từng làm. Bản thân Wolfe đã làm điều đó với The Bonfire of the Vanities (1987), bức tranh toàn cảnh New York mà nay đọc lại vẫn nguyên giá trị.

Chúng ta đã sống suốt cả thập kỷ trong sóng gió công luận, đời sống riêng bị chấn động bởi biến động xã hội. Đáng lẽ phải có những tiểu thuyết lớn khắc họa cơn bão tinh thần ấy. Thế nhưng, đôi khi nhìn vào văn giới, tôi chỉ thấy một tiểu văn hóa lạc lõng bên lề.

Tin mừng là: nếu nguyên nhân chính là áp lực xã hội và sự thiếu dũng khí, thì điều ấy hoàn toàn có thể thay đổi. Tôi nghe từ bạn bè giảng dạy viết văn rằng đang có những cây bút trẻ can đảm, tài năng, sẵn sàng phá vỡ những ràng buộc cũ. Có lẽ những ngôi sao mới đã thấp thoáng ngay chân trời.

Văn chương có khả năng độc đáo: cho ta đi vào đời sống nội tâm của kẻ khác — điều mà phim ảnh, truyền hình dù xuất sắc cũng không làm được. Tiểu thuyết nắm bắt cái “hồn” vô hình nhưng thống trị của một thời đại bằng độ phong phú mà màn hình không thể sánh. Sau gần 600 năm, thật khó tin rằng sức mạnh của chữ nghĩa lại biến mất. Tôi đặt niềm tin vào sự trở lại của văn chương. Và khi nó hồi sinh, đó sẽ là cú đánh chí mạng vào những thế lực đang làm đời sống con người trở nên vô hồn.

David Brooks

Bài Mới Nhất
Search