PHẠM TRẦN ANH
Nguồn gốc Việt tộc (Khảo sử 1999)
Thơ Phạm Trần & Thi hữu
Mẹ, tuyển tập thơ
Tác giả Phạm Trần Anh bút hiệu Phạm Trần Quốc Việt sinh năm 1945 tại làng Cát Hạ, huyện Trực Ninh tỉnh Nam Định. Di cư vào Nam năm 1954 và trưởng thành tại Sài Gòn.
– Học Trường Trung học Nguyễn Trãi và Chu văn An từ 1956-1963
– Tốt nghiệp Học viện Quốc Gia Hành Chánh Khóa 14 năm 1969.
– Cao Học 2 Chính Trị Xã Hội.
– Quản đốc Trung tâm Huấn luyện và Tu nghiệp công chức tỉnh Quảng Nam 1969.
– Tốt nghiệp Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Đức khóa 4 năm 1970
– Phó Quận trưởng Hành chánh quận Tam Bình Minh Đức, Trà Ôn tỉnh Vĩnh Long (1970-1973).
– Trưởng ty Hành Chánh kiêm Quản đốc Trung tâm Huấn luyện và Tu nghiệp công chức tỉnh Lâm Đồng 1973 – 1975.
– Hội viên Hội Văn Bút Quốc Tế.
– PCT Hội Quốc Tế Nghiên Cứu Biển Đông Nam Á.
– Biên Khảo Lịch sử và Văn hóa Việt Nam.
– Chủ Bút Tập san Văn Đàn Thời Đại.
– Quản đốc Trung tâm Huấn luyện và Tu nghiệp công chức tỉnh Quảng Nam 1969.
– Tốt nghiệp Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Đức khóa 4 năm 1970
– Phó Quận trưởng Hành chánh quận Tam Bình Minh Đức, Trà Ôn tỉnh Vĩnh Long (1970-1973).
– Trưởng ty Hành Chánh kiêm Quản đốc Trung tâm Huấn luyện và Tu nghiệp công chức tỉnh Lâm Đồng 1973 – 1975.
– CT Sáng lập Mặt Trận Người Việt Tự Do Diệt Cộng Phục Quốc 1975.
– CT Hội Bảo Vệ Tù Nhân Chính Trị Việt Nam trong các trại tù CS.
– Đồng sáng lập Hội Ái Hữu Tù Nhân Chính Trị và Tôn Giáo Việt Nam.
– CT Hội Đồng Điều Hành Hội Ái Hữu Tù Nhân Chính Trị và Tôn Giáo Việt Nam.
– Hội viên Hội Văn Bút Quốc Tế.
– PCT Hội Quốc Tế Nghiên Cứu Biển Đông Nam Á.
– CT Mặt Trận Dân Tộc Cứu Quốc.
– CT Hội Đồng Điều Hợp Đại Hội Diên Hồng Thời Đại 2014.
– Biên Khảo Lịch sử và Văn hóa Việt Nam.
– Phong Trào Toàn Dân Cứu Nước, LL Quốc Dân Dựng Cờ Dân Chủ..
– Đồng CT kiêm TTK Hội Đồng Liên Kết Quốc Nội Hải Ngoại Việt Nam.
– Chủ Bút Tập san Văn Đàn Thời Đại.
TÁC PHẨM:
1. Nguồn Gốc Việt tộc (1999).
2. Việt Nam thời Lập quốc (2000).
3. Việt Nam thời Vong quốc (2001).
4. Việt Nam thời Độc Lập (2002).
5. Quốc Tổ Hùng Vương (2003).
6. Sử Thi Đại Việt Nam (2005).
7. Còn một chút gì (Thơ- 2006).
8. Cội Nguồn Việt tộc (Hoa Kỳ 2004).
9 Đoạn Trường Bất Khuất (2007).
10 Huyền tích Việt Nam (2008)
11. Sơn Hà Nguy Biến (2008).
12. Hoàng Sa Trường Sa, Chủ Quyền Lịch sử của Việt Nam (2009).
13. Chan Chứa Bao Tình.
14. History of Vietnam.
15. Vietnam, My Country.
16. Đế Quốc Mới Trung Cộng, Kẻ Thù Truyền Kiếp của Dân Tộc.
17. Tác Giả Tác Phẩm.
18. Lịch sử Việt-Danh Tướng Việt.
19. Văn Minh Việt-Danh nhân Văn hóa Việt.
(Internet)
Phạm Trần Anh với Khải Triều
(Qua Cuốn Nguồn Gốc Việt Tộc)
Tôi chỉ gặp được Phạm Trần Anh sau ngày anh ra tù. Anh ở trong tù những 20 năm từ sau ngày 30-04-1975. Ngay lần đầu gặp nhau, chúng tôi đã trở nên thân cận và quý mên nhau, có lẽ ở thời trước, chúng tôi đã biết nhau qua những sinh hoạt về báo chí, nhưng chỉ “kiến kỳ thanh, bất kiến kỳ hình”.
Tôi tiếp nhận cuốn Nguồn Gốc Việt Tộc, do tác giả, ông Phạm Trần Anh trao tay, vào một chiều mưa tầm tã, trong ngôi đình thờ Cao Lỗ, xây dựng từ mấy chục năm về trước trên đường Lãnh Binh Thăng. Hôm đó là ngày giỗ Mẹ Âu Cơ.
Mặc dù đây mới là bước khởi thảo, nhưng ông Phạm Trần Anh đã có công đóng góp vào những công trình tìm về cội nguồn của dân tộc, mà những người đi trước đã để lại, song chưa đủ thuyết phục, vì nhiều lý do, kể cả lý do quan điểm và thành kiến. Có thể nói, tác giả đã hoàn thành được một tác phẩm sử học có tính cách căn cơ nhất và cũng gay go nhất, đối với bất cứ nhà viết sử nào, có tham vọng. Đó là phải dầy công tìm tòi, đào bới, lần theo dấu vết thời gian đã bị bụi mù che phủ bởi cả ngàn năm lệ thuộc tàn phá và tiêu hủy. Còn phải kể đến vấn đề huyền sử, truyền thuyết của dân tộc Việt, một dân tộc có cả trăm nhành khác nhau, đã cư trú trên cả một vùng trung nguyên rộng lớn thuộc Trung Hoa cổ. Truy tìm dấu vết của Tổ Tiên Việt tộc chưa đủ, tác giả còn mạnh mẽ bài bác những quan điểm không đặt trên cơ sở dân tộc, chỉ dựa vào sử liệu của giới thống trị. Có lẽ điều này đã làm ông ray rứt hằng đêm, kéo dài hơn hai mươi năm trong thời kỳ lao lý của ông?
Thật ra, khó mà bảo đảm được tính khách quan tuyệt đối trong lãnh vực sử học, kể cả khoa học nữa. Nhưng trên cùng một sự kiện lịch sử, có thể có nhiều cách diễn giải. Mà cách nào cũng có người chấp nhận hay chống đối. Cách mà người chấp nhận đầu tiên, phải chăng chính là tác giả, người diễn giải?
Ông Phạm Trần Anh đã đứng ở quan điểm và lập trường dân tộc để khởi thảo cuốn sử của mình. Ông đã nhờ đến các ngành khảo cổ học, khảo tiền sử, ngôn ngữ học và phương pháp đo chỉ số sọ, cũng như phải mượn đến luận lý và tư tưởng trong huyền sử để tìm ra cội nguồn của dân tộc Việt. Cứ xem tác giả diễn giải sự việc cháu ngoại của vua Hùng là Thục Phán An Dương Vương (Âu Việt) hiệp nhất với Lạc Việt qua việc đánh đuổi Hùng Duệ Vương thứ 18, vì ham mê tửu sắc, bỏ bê việc nước, thành lập quốc gia (Âu Lạc hay Văn Lang?) “là một quyết định coi việc hợp nhất để tạo sức mạnh chống Bắc quân là trên hết hầu bảo tồn giống nòi”. Phải chăng đó là ý thức và trách nhiệm của mỗi người dân đối với dân tộc?… Và đây là tư tưởng chủ đạo của tác giả trong cuộc hành trình tìm về cội nguồn của dân tộc?
Theo tác giả thì đây mới chỉ là tác phẩm sơ thảo, song tác giả đã bước đi những bước đầu vững chắc, có cơ sở và tư tưởng chủ đạo. Có những đoạn những chương, người đọc không khỏi trạnh lòng nghĩ đến hiện thực của dân tộc của đất nước. Đã có hàng triệu người phải bỏ đất nước ngàn năm ra đi, sống rải rác khắp nơi. Lịch sử ngàn xưa lại tái diễn! Còn chính trên mảnh đất của Tổ tiên, con cháu đang lãng quên dần giống nòi!
Phải chăng qua cuốn Nguồn Gốc Việt Tộc, ông Phạm Trần Anh đã gửi gấm tâm tư của mình váo đó, để báo động về tình trạng tinh thần xa lìa nguồn gốc dân tộc, để chạy theo chủ thuyết ngoại lai vô thần hoặc một nếp sống thực dụng (chỉ một nếp sống này thôi) từ bên ngoài, của một vài thành phần vong thân trong xã hội Việt Nam ngày nay, nhất là thế hệ trẻ?
Khải Triều
(Ngày 30-08-1999)
Đây là ngày tôi viết “Vài cảm nghĩ về cuốn Nguồn Gốc Việt Tộc” của Phạm Trần Anh khi ông tặng tôi sách này. Trước ngày ông sang định cư tại Hoa Kỳ, ông đã in bài này vào cuốn Thơ Phạm Trần & Thi hữu, trang trong ông ghi: “Giao Thừa Thiên Niên Kỷ 2000-2001”. Lần này, chép lại vào đây, tôi có bỏ mấy chữ, sau đó là mấy dấu chấm (…) và cũng sửa mấy chữ. Xin lỗi anh Phạm Trần Anh ở xa, không liên lạc được.
Tập Thơ Phạm Trần & Thi Hữu
Tập thơ này gồm có hai phần. Một phần là các bài thơ (sáng tác và dịch của Phạm Trần Anh), lồng vào đó là một vài trang Thư pháp cũng của Phạm Trần Anh. Còn phần thứ hai là thơ của bạn hữu viết về Phạm Trần Anh. Bài của chúng tôi viết về cuốn Nguồn Gốc Việt Tộc được đưa vào phần này, trang 98. Tập thơ Phạm Trần & Thi hữu chỉ phổ biến trong thân hữu của tác giả, trước khi ông sang Hoa Kỳ.
Ở trang 3, tác giả in hình ngôi Chùa Một Cột tại Hà Nội, dưới hình ông viết hai câu thơ:
Anh hùng kim cổ lưu quốc sử
Núi sông hùng vĩ tạo hồn thơ
Hai câu thơ này bộc lộ tinh thần trong một số sáng tác thơ của tác giả. Còn ở trang 7, là hình Trống đồng Ngọc Lũ, tác giả Phạm Trần viết 8 câu, tựa đề:
Thông Điệp Muôn Ngàn
Hoa Văn Hiến năm ngàn năm lịch sử
Tiếng Trống Đồng vang dội khắp trời Nam
Huyền Thoại Rồng Tiên thông điệp muôn ngàn
Văn Minh Việt mở đầu trang sử mới
Phùng Nguyên Đông Sơn trống đồng Ngọc Lũ
Hoa Văn Xưa in dấu mãi ngày nay
Bao nhiêu năm mới có được ngày này
Giòng Giống Việt vươn mình như Phù Đổng
Ngày 10 tháng Ba Kỷ Mão
Mùa Xuân luôn được hiểu là khởi đầu cho một thời kỳ con người và đất trời chứa chan hy vọng và tươi sáng, nhưng với Phạm Trần Anh, ông vẫn chẳng thấy cái không-thời của mùa Xuân như nó vẫn là!
XUÂN
Xuân qua Xuân lại biết bao Xuân
Xuân đến sao ta thấy ngại ngần
Xuân này Xuân nữa bao Xuân nhỉ?
Xuân đến lòng ta chẳng thấy Xuân.
Xuân Gia Ray 1997
.
NGÀY VỀ
Khi em về nắng vàng nghiêng đỉnh tháp
Và chim muông che nửa sớm mai hồng
Mây tình cờ trong một thoáng thinh không
Có lửa thắp giữa nghìn trang sử biếc
.
Có sương khói trôi trên dòng nhã nhạc
Có vô cùng trong bóng lá mơn xanh
Có cả non cao trong bỗng chốc ân tình
Cho mắt nhớ dấu đi những ngày đá tảng
.
Và một sớm hồn nhiên nở xòa cánh mộng
Đưa anh về trên những dấu chân xưa
Hàng búp non thơm ký ức không ngờ
Cho biển biếc giữ mây trời nán lại
.
Em hiu hắt cho lòng ta se tái
Mây hồng kia thoát chốc có tan đi?
Cả ngàn năm đầy đọa kéo nhau về
Cho lá úa phủ đầy trên lán cỏ
.
Em băng giá ướp trong từng hơi thở
Và chia xa đến cả mắt em nhìn
Có mùa đông nào bão táp trong em?
Cho bóng núi xanh xao giữa lòng nghi hoặc?
1997
Bài thơ Ngày Về mang cả những nỗi đau như “đá tảng” đè trên thân mình ông trong những ngày lao tù, cả những tư tưởng về những “nghìn trang sử biếc” và “Cả ngàn năm đầy đọa kéo nhau về”. Tất cả vẫn có đấy!
Sau đây, xin giới thiệu với độc giả một bản thư pháp và bài thơ chữ Hán, tựa đề Trầm tư của Phạm Trần Anh. Bài thứ ba là của Phan Chu Trinh, Phạm Trần Anh cẩn dịch. Chúng tôi cảm nhận đây là nỗi lòng của tác giả với nước non. Điều này chúng tôi cũng đã thấy nơi các tác phẩm của ông, sau ngày sang định cư ở Hoa Kỳ, cả về những hoạt động chính trị của ông.
Nhà viết sử Phạm Trần Anh còn một tập thơ nữa, nhan đề là MẸ. Nhưng trong gần 150 trang giấy, ông chỉ in có 2 bài của mình, viết sau lúc được tin mẹ ông mất. Còn lại là những bài thơ của bạn hữu ông, viết tặng ông. Tất cả họ đều viết về Mẹ. Tập thơ độc đáo ở điểm này. Có thể đây là một tuyển tập thơ về MẸ, không lớn lắm, nhưng cũng có đến 38 tác giả có bài. Trong số này, Phạm Trần Anh cũng in một bài thơ viết về Mẹ của Lưu Trọng Lư.
Dưới đây là những lời của Phạm Trần Anh khi thực hiện tập thơ này, đặt ở trên danh sách các tác giả:
“Xin chân thành cảm tạ những ủi an chia sẻ nỗi buồn đau với Phạm Trần và gia đình. Để trân trọng những tình cảm cao quý đó, Phạm Trần trích đăng những bài thơ của các thân hữu và một số bài thơ hay về Mẹ như một lưu niệm nhân kỷ niệm bốn mươi chín ngày thân mẫu chúng tôi qua đời. Phạm Trần xin phép các tác giả được trích đăng trong tuyển tập “MẸ” này.
Hai bài thơ về Mẹ của Phạm Trần.
Bài 1 không có tựa đề.
Nhận được tin Mẹ mất lúc 2g35’
Chết lặng cả người!
Tai ù hoa mắt…
Đất trời như sụp đổ dưới chân…
Răng nghiến chặt…
Mím môi đau…
Không sao khóc nổi thành lời…
Nằm xấp trên giường…
Tự nhiên…
nước mắt…
dâng trào
hồn thơ!
Bài 2: KHÓC MẸ
Mẹ ơi…Mẹ đã đi rồi
Mẹ đi…con ở hỡi trời cao xanh!
Bao năm dưỡng dục sinh thành
Mẹ cha chỉ muốn…
“Thằng Anh” nên người!
.
Bây giờ con lớn khôn rồi
Mẹ Cha cưỡi Hạc về trời qui tiên!
Ngàn năm công đức mẹ hiền
Công cha dạy dỗ trước tiên làm người!
.
Dẫu cho vật đổi sao dời…
Đất trời sụp đổ muôn đời không quên!
Công cha nghĩa mẹ chưa đền
Nước non non nước chẳng quên lời thề!
.
Mẹ ơi…
Ngàn dặm sơn khê
hai mươi năm lẻ…
con về cuối Thu
À ơi…
nhớ mãi mẹ ru
“Nam nhi tri chí…
Trượng phu một lòng!”
Đời con…
phận số long đong
Ba chìm bảy nổi
chẳng mong ngày về
Sân si…
con lạc bờ mê…
Cuộc đời còn lại…
nguyện thề giác tha!
Trần gian…
ôi cảnh Ta bà…
Cúi đầu con lạy…
mẹ cha kiếp này!
Mẹ ơi!
Con không…
thốt nổi…
thành lời
Ruột đau…
quặn thắt…
rối bời…
Lòng con!
Khi Tôi Viết Về Phạm Trần Anh
Thật tình, đọc hai bài thơ Ngày về và bài Khóc mẹ của Phạm Trần Anh, tôi không giữ được lòng cảm xúc, nước mắt cứ từ từ ứa ra. Trong bài Khóc mẹ, anh nghĩ:
Đời con…
phận số long đong
Ba chìm bảy nổi
chẳng mong ngày về
bởi hai mươi năm lẻ, anh với cả ngàn cân hận thù, như “đá tảng” trên vai. Mấy ngàn năm lịch sử vẫn ngày đêm nung nấu tâm can. Còn tôi, đến nay vừa đúng 50 năm, tôi vẫn là một kẻ “được-nhắc-nhở, được-hỏi-thăm”. Tôi đã đi qua “mười năm trong cơn mê”, có lúc tưởng như gục ngã vì sức cùng lực kiệt.
Tôi không còn thời giờ để đọc sách của anh. Những gì tôi nói đến anh ở đây, đều là của anh trao tay trước khi anh rời xa đất mẹ với ngàn năm lịch sử anh mang theo. Sách của anh, tôi không có, mà những gì anh đang làm, tôi cũng không dám ghi lại tất cả, mặc dù đấy là những biểu hiện của một trí thức yêu nước, noi gương các bậc tiền nhân. Tôi thật đáng trách…
Khải Triều
