The Poet (1912) – Tranh: Marc Chagall (Nguồn: marcchagall.net/)
Hình hài Nguyễn Vũ Sinh đã chết, đã mất, đã ra đi, đã giã từ cõi tạm, đã về trời, đã phiêu diêu miền cực lạc, đã vân vân và vi vu.
Nhưng THI SĨ NGUYỄN VŨ SINH, ông Vua Thơ Động – Bà – Tó, thì mãi mãi tồn tại, thiên thu sống mãi.
Tôi chưa thấy có ai, ngoài Nguyễn Vũ Sinh, người VÃI THƠ KHẮP MẶT ĐỊA CẦU. Ông chết đi, là một vấn nạn cho các trang mạng: Hoa Kỳ, Pháp, Canada, Úc, Hòa Lan… ĐÓI THƠ. Họ sẽ lấy ai, lấy gì, lấp đầy khoảng trống THƠ mang tên Nguyễn Vũ Sinh?
Thơ ông là gạo nàng hương, là nếp ba trăng, rất hồn dân tộc, hương quê nhà. Thơ ông không còn là bo bo, củ mì của một thời mạt rệp. Thơ ông, các trang mạng thèm thơ ông, quý thơ ông, nuông chiều thơ ông, vì thơ ông đậm chất dân dã, đầy nét hồn quê. Trong thơ ông, có trăng sáng vườn chè, có ao rau muống, lũy tre làng. Cũng có luôn cây đa đầu làng, con đò cuối bến trong thơ ông. Trong thơ ông, có tiếng kêu nghé ọ, có mùi hắc rơm rạ, bùn nâu và gạo trắng. Trong thơ ông, có cô sơn nữ hiển lộ đôi vú, mà thánh thiện, không chút bợm đục của dục tình lăm le trỗi dậy. Trong thơ ông… Trong thơ ông… Trong thơ ông, hết chấm. Vì nay, ông đã lên thuyền, sang sông, xa, mút chỉ cà tha.
Hơn một năm trước, tôi xin phép viết về thơ ông, vì tôi thấy ông có một cõi thơ riêng, cõi thơ Hóc-Bà-Tó, và các trang mạng thì săn đón.
Nhưng ông không cho. Ông bảo, em làm thơ cho vui, có ra gì đâu, so với các anh, những cây đa cây đề. Nhưng tôi vẫn viết, tôi viết đại.
Sau khi viết xong, tôi send cho chàng. Chàng vui lắm và nói lời cảm ơn rối rít. Tôi có thể viết dài hơn. Tôi đủ bút lực viết dài hơn. Và ông, thơ ông, cũng có nhiều điều để nói dài hơn. Chẳng hạn như, có lần ông đã làm cho tôi buồn: Tôi tặng ông $100.00, mà ông không nhận.
Xuống dưới, sau khi xong phần thủ tục nhập cư, muốn tìm thăm, gặp Tô Thùy Yên, Nguyên Sa, Du Tử Lê, Thanh Tâm Tuyền, Quách Thoại, anh viết cho một giấy GIỚI THIỆU. Em đừng ngại, dưới đó, mọi người làm thơ đều như nhau, không như trên này, chiếu trên chiếu dưới.
Nhưng nghiệt nỗi, em không biết NHẬU, nên các ông sẽ không cho vào mâm, sợ em phá mồi.
Có thể tại tôi chưa thấy, chưa biết, rằng có người hơn NVS, đã vãi thơ trên toàn cõi địa cầu. Nhưng tôi chỉ biết NVS. Mà, nếu thực sự có những người khác, đã vãi thơ trên toàn cõi địa cầu, mà tôi chưa biết, thì việc tôi chọn, nói và viết về NVS, cũng là điều rất nên, đáng nên.
Từ một người làm thơ trong Hóc Bà Tó, mà vươn vai, quặn mình, vung tay, vãi thơ ra thế giới, vũ trụ, địa cầu — không khủng khiếp quá sao?
Hãy nhìn tới, nghĩ suy và thẩm định: một trang web sẽ là bao nhiêu độc giả yêu thơ, tương tư thơ, vịn thơ mà đứng. Hãy nghĩ tới, nghĩ suy và thẩm định: cứ mỗi người yêu thơ, sẽ có bao nhiêu người yêu thơ khác, ăn theo, yêu cùng với thơ ông làm thơ Hóc Bà Tó. Hóc Bà Tó — một địa danh kinh/thượng, đoàn viên, chia nhau không khí và nỗi cơ khổ, mà tôi đã đến 60 năm xưa (1964–2024). Bấy giờ tôi đến, là một hướng đạo sinh.
Không loại trừ, ngày đó, nhà thơ của hôm nay có mặt trong những thiếu nhi tôi phát kẹo và tập hát: “Một ngón tay nhúc nhích này / Hai ngón tay nhúc nhích này / Ba ngón tay nhúc nhích này / Bốn ngón tay nhúc nhích, cũng đủ chúng ta vui vầy. Năm ngón tay nhúc nhích này / Sáu ngón tay nhúc nhích này / Bảy ngón tay nhúc nhích này / Tám ngón tay nhúc nhích, cũng đủ chúng ta vui vầy.”
Hay bài hát khác, đồng dao: “Kìa con bướm vàng, kìa con bướm vàng, xòe đôi cánh. Trông nó bay kia, kia, kìa, Trông nó bay kia, kia, kìa, Vui lạ vui.”
Biết đâu ngày đó, ông nhà thơ bây giờ, NVS, đã là bạn tôi. Biết đâu ngày đó, ông nhà thơ bây giờ, NVS, với tôi, đã có một nhau, duyên thắm tình nồng.
Thơ của ông, 15 năm nay, có mặt như ri — không là địa cầu, đó sao?
- Bên Pháp: trang web NEWVIETART, do nhà thơ Dương Từ Vũ chủ biên.
- Bên Hà Lan: trang web CÁI ĐÌNH, do nhà thơ Nguyễn Hiền thống soái.
- Bên Canada: trang web Vuông Chiếu, do vua thơ 5 chữ Luân Hoán chủ xị (lebao-hoang@yahoo.com).
- Bên Hoa Kỳ, ông có tới 4 kho thơ, cho thơ ông lưu trú trước khi xuất ra thị trường địa cầu:
- Lê Kháng Đăng (lekhanh.dang@art2all.net) – Nhà thơ Đặng Lệ Khánh chủ biên.
- Vũ Hoàng Thư / vannghebienkhoi@gmail.com
- Trần Yên Hòa, bằng hữu – Nhà thơ TYH chủ biên.
- Văn học mới – Nhà thơ Hà Nguyên Du thống soái.
Với ai, tôi không biết, không chịu trách nhiệm. Nhưng với tôi, với ngần ấy địa chỉ, kho thơ của Vua thơ Hóc Bà Tó – NVS, tôi ngưỡng mộ, bái phục, đội lên đầu, vái.
Như chúng ta, trong sinh hoạt văn chương đều biết, mỗi trang mạng, web là một đầu tư tim óc, là một niềm hãnh diện của trang chủ, như một người bạn tôi, nhà văn Trương Vấn, trang chủ của T.VANBANHUU nói: “Có những đêm mất ngủ, có những cuộc rượu phải từ chối, có những hẹn hò gác lại, để, vì, lo cho trang web sạch bóng quân xâm lược hay sự đột nhập của những tên côn đồ, XXX, vào quậy.”
Nói một dạng chữ nghĩa khác, là mỗi trang “chơi”, như một thửa ruộng, được cày, bừa, nhổ cỏ, bón phân – hóa học hay hữu cơ – tùy hạt giống, tùy khí hậu, thời tiết.
Những hạt giống xấu, teo tóp, thiếu hứa hẹn cho vụ mùa bội thu, là những bài thơ cà chớn kiêm cà cháo, là dở ẹc, là vụt, là quăng, là ném, là vào sọt rác, là cho vào gánh các bà mua giấy vụn.
Nhưng với thơ của Vua thơ Bà Tó Hóc – NVS – thì lại khác. Ông được các thống soái, chủ xị, chủ biên, không phải một lúc, một mùa, mà 15 năm, nâng niu, chiều chuộng, nhắc nhở, nhắn tin, email, messenger.
Tại răng vậy? Vì rằng thì là, thơ của ông – dẫu làm trong Hóc – nhưng thơm mùi ca dao, ngát hương thợ cày, chín vị cơm mới của vụ gặt thứ nhất.
Thơ của ông không đến từ những tuyển tập Karl Marx, Lenin, Hồ Chí Minh. Thơ của ông không đến từ những trang sách Jean-Paul Sartre, Albert Camus, Heidegger. Thơ của ông không điên như Bùi Giáng, không nổi loạn như Sao Trên Rừng, không ngạo đời như Nguyễn Bắc Sơn: “Mai ta đụng trận, ta còn sống, Về ghé Sông Mao, phá phách chơi, Chia sớt nỗi buồn cùng gái điếm, Đốt tiền mua vội, một ngày vui.”
Nói tóm, thơ ông Hóc – NVS – không là thơ trên trời, không là thơ làm dáng, học đòi triết lý, thiền hay Phật đà. Thơ ông, từ trái tim thật thà, chân chất, với cảnh vật, đời sống, con người quanh chúng ta, làm nên chúng ta.
Sau đây là bốn bài thơ tiêu biểu cho dòng thơ ( trường phái) Nguyễn vũ Sinh, thơ Mặt Đất.
TRỞ VỀ CỐ QUẬN
Khi trở về bước đôi chân vội vã,
Dù khoan thai cũng vấp ngã bao lần,
Nên bỗng sợ có khi nào mệt lả,
Quỵ trên đường vì rệu rã bàn chân.
.
Sợ nhiều lúc thân gầy mang thương tích,
Mắt mờ đi tay tìm gậy dò đường,
Nhà ta đó – nơi miền quê hoang tịch,
Có bếp lửa chiều- nồng ấm yêu thương.
.
Rồi mai mốt khi xa đời biệt tích,
Mong ngày về trời mưa gió thôi giăng,
Ta sẽ về dù mây đen mờ mịt,
Quên đời lao đao – bao nỗi thăng trầm.
.
Tìm lại nơi góc vườn xưa ngày cũ,
Chiếc cuốc rỉ han mài lại sắc ngời,
Những nhát cuốc đầu tiên khi vung xuống,
Đất cựa mình mai mầm nảy sinh sôi.
.
Bên giếng nước năm xưa ra soi bóng,
Thấy chao nghiêng in nét mặt bụi trần,
Rửa thật sạch ta nằm trên chiếc võng,
Ru nhịp đong đưa nhìn bóng mình lay.
MƯỜI NĂM BIỆT PHỐ.
Mười năm xa thành phố thân thương,
Nhớ lắm hàng cây những con đường,
Bao cô thanh nữ khoe màu áo,
Đồi non hừng hực lửa phi trường.
.
Mười năm từ biệt miền thùy dương,
Nhớ cốc rượu nâng thuở vui buồn,
Nghe tiếng thủy tinh cười giòn giã,
Mười năm giờ tóc ngã màu sương.
.
Ta như con thuyền nhớ trùng dương,
Khơi xa lướt sóng giong cánh buồm,
Làm sao đong đếm từng giọt nhớ,
Đành gởi mây bay khắp viễn phương.
.
Giờ đây tìm lại chút dư hương,
Đời nổi trôi kiếp sống vô thường,
Thân phận như con còng bé nhỏ,
Trên bãi cát vàng sóng triều dương.
KHÚC CA ĐẠI NGÀN.
Về núi tay vít cần, bên ché rượu,
Sớm tinh mơ nhìn sơn nữ lên đồi,
Chiếc gùi mang vai chân qua nương rẫy,
Gió đưa hương phảng phất vị cà phê.
.
Những chàng trai, bao cô gái Ê đê,
Sống bình dị cuộc đời nơi thôn bản,
Ánh lửa nhà sàn bập bùng soi sáng,
Quanh núi đồi sương khói tỏa mờ rơi.
.
Hương cao nguyên ngan ngát quyện sườn đồi,
Gió phóng khoáng lùa xuyên qua phên cửa,
Con thú lạc bầy kêu như vết cứa,
Lòng già làng, chạnh nhớ tiếng cồng chiêng.
HOA KHẾ.
Xuân về cây khế trổ bông,
Có con chim nhỏ sổ lồng đậu chơi,
Tiếng thanh hót vọng bên trời,
Dường như quả khế phai mùi chanh chua.
.
Xuân sang quả ngọt đầu mùa,
Ăn no chim quẹt mỏ về non cao,
Lá cây khế vẫy mời chào,
Hẹn mùa sau nở hoa ngào ngạt hương.
Viết bài này, tôi dụ lòng mình, phải viết cho xong, vì rằng, chính ông khuyên tôi, không nên viết.
“ Em chỉ muốn sống bình lặng, em không muốn ồn ào.” Ông nói thế.
Nhưng không may cho ông, là tôi không muốn sống bình lặng, và không cho ai sống bình thường.
Phải sôi nổi lên, kiêu hãnh lên.
Hỡi những thi sĩ.
Tôi sẽ cho ông xem trước, nếu thi sĩ và nàng thơ của ông, không cảm thấy thú vị, tôi xóa, bôi, bỏ.
Tôi xem như, tôi tập cho trí mình, vận động.
Thế thôi.
Austin, Texas.
15/1/2025.
Lê Mai Lĩnh.
Sau khi tôi gởi cho ngài duyệt trước, ngài trả lời: Anh viết hay lắm.
Tôi yên tâm trình lên, tàn thế nhân loại.
Và tôi viết thêm, như ri:
Nhà thơ đang “long thể bất an” nếu không may có hệ lụy gì, thì những trang web kia, mệt nghỉ, và địa cầu đói thơ, cũng mệt nghĩ luôn.
Hỡi nhân loại, hãy cầu nguyện cho thi sĩ.
Amen.
Lê Mai Lĩnh
