Đời Sông Đời Người – Tranh (sơn dầu): MAI TÂM
(Kỳ 2)
* TRĂNG KHUYẾT.
Sáng nay, Bích Ngọc hồi hộp chờ đợi, ra ra, vào vào không yên, chẳng là Thuận đã đến trường xem kết quả giúp cô. Kết quả của 12 năm ăn học, kết quả ấy thật cần cho tương lai của cô, nó sẽ chắp cánh ước mơ, sẽ tạo cơ hội cho cô với “người ấy”, cô đã có chủ định của mình, chỉ cần một lời ước hẹn cô sẽ sẵn sàng, bằng bất cứ giá nào. Cô sẽ không như chị Hoàng Ngọc, cô đã có tình yêu, nhất là tình yêu ấy đã được đáp trả, mối tình tuy đằm thắm nhưng rất nồng nàn, thời gian xa cách đã giúp cô thấy rõ lòng mình. Cô khác chị, bởi chị ấy chưa có đối tượng, tim chị ấy chưa từng rung động, còn cô, cô đã canh cánh bên lòng một bóng hình, cô sẽ nuôi dưỡng tình yêu ấy cho đến ngày đơm hoa, hoa tình yêu sẽ toả hương ngào ngạt, thứ hương thơm mê đắm lòng người và tất nhiên hoa sẽ kết trái, Bích Ngọc tin như vậy.
Cô vừa trở bước vào trong, thì có tiếng gọi ong óng ngoài cửa của Thuận:
– Đậu rồi O Ngọc ơi! Cô đậu rồi Bà ơi….
Niềm vui vỡ oà, bà Quảng mừng lắm. Bích Ngọc rất vui, rồi… chợt im lặng. Cô thầm ước “giá gì, phải giá gì có anh ấy chia sẻ với mình có lẽ niềm vui sẽ nhân lên gấp bội”! Rồi như ngay tức khắc cô lại trở về trạng thái âm trầm thường lệ. Cô chìm trong suy tư và khắc khoải chờ mong. Mấy hôm sau, đang giấc trưa, có tiếng bước chân lóc cóc ngoài thềm, tiếng quả đấm cửa xoay nhè nhẹ, nhưng tiếng bước chân lại không chút e dè, con bé Minh Tịnh xuất hiện với nụ cười rạng rỡ trên môi; Bích Ngọc vừa bỏ chân xuống đất nó đã tía lia:
– Cô Bích ơi, cô Minh về rồi kìa, mua quà nhiều lắm! Nè, vừa nói nó vừa giơ cao bàn chân lên, miệng hỏi: cô thấy đôi guốc này đẹp chưa? Con thích quá!
Dưới bàn chân nhỏ nhắn, trắng trẻo của nó là đôi guốc màu xanh lơ, pha ánh bạc, gót được đẽo gọt thon nhỏ, thanh mảnh “rất Huế”, chiếc quai trong veo uốn cong, nghiêng xeo xéo theo bàn chân, ôm khít, rất xinh, rất hợp với chân con bé.
Cô Bích của nó cũng cúi nhìn, tấm tắc khen cho vừa lòng nó, đẹp thì có đẹp nhưng cô lại đang nghĩ chuyện khác, chuyện của riêng cô, chắc chắn cô sẽ sớm biết thôi. Vốn tính cẩn trọng và tế nhị cô không vội xuống nhà Minh, cô ấy mới về, bạn cần nghỉ ngơi và trò chuyện với gia đình, chuyện của riêng mình, chỉ còn chút thời gian ngắn ngủi nữa thôi, cô cố dằn lòng chờ đợi.
Đúng như Ngọc dự đoán, sau cơm tối, Minh Tịnh đã réo cô inh ỏi từ cửa sau; cô bước vội ra, con bé chỉ ngắn gọn:
– Cô Minh rủ cô lên sân thượng nhà con chơi kìa.
Dứt câu, nó quày quả xoay lưng, khua mạnh đôi guốc mới về nhà. Liền sau ấy, đôi bạn gặp nhau. Cô Minh mở lời:
– Mừng cho mày đã qua kỳ thi, có định gì cho tương lai chưa?
– Ừ, mừng chớ nhưng tương lai thì còn chờ…
Câu nói cô bỏ dở lưng chừng. Cô chờ, chờ nhiều cái lắm nên nhất thời không nói hết được suy nghĩ của mình. Cô lại hỏi:
– Mày thì sao? Có hướng đi chưa?
– Đáng lẽ tao về ngay khi có kết quả, nhưng đường sá khó khăn nên đợi có kết quả, tao lo một số giấy tờ cần thiết chuẩn bị thi vào Đại học sư phạm ở Sài Gòn, nên hôm nay mới về. Cũng có chuyện nói với mày đây!
Trống ngực Bích Ngọc dồn dập liên hồi, làm như cả đời chưa từng đập, dồn lại cho mỗi hôm nay! Hai cô không đi lên cầu Đạo Long như thường vẫn vậy, họ lên sân thượng nhà Minh. Ngồi bên nhau trầm ngâm giây lâu, Nguyệt Minh cất lời:
– Sau Tết, tao có gặp Sơn, chị em trò chuyện cũng lâu, hắn khi vui khi buồn bất chợt; khi thì nói chuyện rôm rả, lúc thì im lặng trầm tư. Nói rất mong được về thăm nơi đây, nơi hy vọng sẽ là quê hương thứ hai của hắn. Hắn nói, không hiểu sao, trong hắn hình ảnh dòng sông uốn khúc lượn quanh bờ bãi không còn là dòng sông Hoài quê hắn, mà lại chính là dòng sông Dinh cũng thật hiền hoà, cũng đầy tình yêu, cũng đầy thương nhớ… Thỉnh thoảng hắn cũng rất văn hoa mày à!
Ngọc im lặng lắng nghe, cô chờ mong một lời nhắn gửi… hơn thế nữa. Minh tiếp tục:
– Lần ấy, hắn có dẫn theo người bạn, chắc cũng có chủ ý, anh ta lắng nghe Sơn nói, và cười. Thỉnh thoảng thêm vào: Ông trút tâm sự luôn đi, lính tráng mà sao… rụt rè vậy? Khi ấy, Sơn nhìn tao, mặt đỏ lựng… Từ đó, thêm hai lần hai người cùng ra thăm, cả hai đều có mục đích. Lần sau hết, Sơn trút cạn nỗi lòng, hắn yêu mày và mong được tỏ bày, mong được tận tai nghe lời chấp nhận từ mày, hắn hỏi tao “có còn hy vọng không”? Tự than rằng: ngày chia tay, tụi em đúng nghĩa chia tay, chưa dám thổ lộ lòng mình, im lặng mà đi thôi chị à! Tao có trách:
– Sao lại vậy, rồi giờ định sao đây?
Hắn thở dài, thấp giọng:
– Em cũng chẳng biết sao, nhưng đang kỳ vọng nếu cô ấy vẫn còn thương nhớ, thì lần này về, em sẽ tỏ bày rồi tuỳ Ngọc vậy. Ngày ấy, em bối rối lắm, nghĩ đời lính chiến biết sao ngày sau, cô ấy thì quá trong trắng, tuổi học trò còn lắm mộng mơ, tương lai đang chờ đón, em ngại; nhưng giờ thì em không kềm nén được tình cảm của mình, còn lại sẽ do Ngọc quyết định. Chị, em gửi chị lá thư này, chị trao tận tay cho Bích Ngọc, cô ấy không phải hồi âm đâu, hè, hoặc sau hè em sẽ về, em muốn nghe tận tai quyết định của Ngọc. Em không muốn qua bưu chính, tình cảm này em không muốn bị thất lạc chị à.
Từ đầu đến giờ, Ngọc chỉ im lặng lắng nghe, thỉnh thoảng cô mỉm cười chờ đợi, cô chờ đợi một lời nhắn nhủ cụ thể hơn, cô cũng lắng nghe lòng mình, rồi cũng thầm tự trả lời:
– Câu trả lời đã có rồi Sơn à, đã rõ lắm rồi; mình vẫn luôn nghĩ về nhau, đó là sự tồn tại chỉ có trong tình yêu đôi lứa; không còn sự e dè, tránh né nữa đâu… về đi, Sơn về đi, em đang đợi, vẫn đợi và sẽ đợi.
Câu trả lời đã có. Cô chìm trong dòng suy nghĩ miên man, Minh đang khó xử, bởi vì câu chuyện chưa kết thúc, cô còn câu chuyện tiếp theo, quan trọng hơn mà Ngọc thì… cô thương bạn quá! Minh vào nhà, khi ra, trên tay cô cầm theo một bức thư, thư không dán. Cô trao tận tay Bích Ngọc bằng tất cả sự cẩn trọng, ân cần nói:
– Thư Sơn gửi cho mày đây! Từ từ, về nhà rồi đọc. Tao còn câu chuyện tiếp theo.
Ngọc cầm thư, tay run nhẹ, cô cũng đã từng nhận thư của Sơn, cô vẫn còn ấp ủ trong ngăn kéo riêng, những lá thư của tuổi học trò, những bài thơ ngây ngô vụng dại nhưng với cô là tất cả niềm vui. Đây là lá thư đầu tiên, từ ngày anh nhập ngũ. Cô hy vọng và tin rằng nó sẽ khác, khác xa những thư trước, một cánh cửa tương lai trong ấy, đôi cánh tình yêu trong ấy, đôi cánh ấy sẽ đưa cả hai bay cao, bay xa về bến bờ hạnh phúc. Ngọc mân mê lá thư trên tay, rồi cô ngước nhìn bầu trời, bầu trời lấp lánh những vì sao… chòm Bắc Đẩu trên kia thật rõ, ừ, nhìn về phương ấy, về cái phương chắc hẳn có Sơn của cô, cô chợt thấy lòng lắng đọng yêu thương và thầm gọi tên anh. Bên cô, Minh buồn rượi, chắt lọc ngôn từ, đắn đo thật nhiều; ngày xưa chuyện ba người luôn nổ như bắp rang, giờ cũng chuyện ba người mà sao đắng lòng đến vậy?! Sau giây phút trầm ngâm, Minh cất tiếng:
– Chuyện tao sắp nói chẳng vui vẻ gì, nhưng không thể im lặng Ngọc à! Trước ngày thi khoảng mươi ngày, anh Trọng, người thường cùng đi với Sơn đến tìm tao. Thấy anh ta đến một mình tao ngại lắm; thường là có cả Sơn, thấy cũng hơi bất thường, muốn tránh, bởi với sự nhạy cảm, tao biết Sơn có ý giới thiệu bạn cho chị, lần này anh đến một mình chắc có tình ý gì đây! Nhưng, nhìn anh ta không vui, nét trầm hẳn, thấy tao anh lúng túng đứng lên chào… Câu chuyện hôm ấy, Ngọc à, là chuyện của Sơn. Trận đánh vừa qua, Sơn không về nữa! Đơn vị không xác định được Sơn đã hy sinh, mất tích hay bị bắt làm tù binh… trận chiến vô cùng ác liệt, thuộc binh chủng Thuỷ Quân Lục Chiến Sơn đã quyết giữ “màu cờ sắc áo”, khi Trọng đến báo tin là đơn vị đã đưa vào danh sách “mất tích” rồi!
Bích Ngọc chết lặng, cơ hồ hoá đá, hai tai ù đặc. Là sao? Vậy là sao? Tim cô như bị ai bóp nghẹt, nước mắt ràn rụa, không thốt nên lời, xung quanh cô bỗng tối sầm, rồi cô như lạc vào đám sương mù, như trong lưới nhện nhưng tuyệt nhiên cô không vùng vẫy, không cố bước ra, cô muốn, thật sự cô muốn chìm hẳn vào trong mớ hỗn độn tối tăm ấy, chìm và tan biến hẳn có lẽ càng hay… Một lúc khá lâu, chờ cho bạn lắng dịu cơn đau, đôi bạn chia tay nhau, không vội, không ai vội cả, Minh đau lòng và thương bạn, Ngọc đau cái đau của người mất phương hướng, mất hy vọng, mất một điểm tựa với cô giờ là duy nhất. Vầng trăng trong cô đã khuyết mất rồi, không chỉ hôm nay mà mãi mãi!
Những ngày tiếp theo, Bích Ngọc thẫn thờ như người mất hồn. Nỗi đau âm ỉ đã lấy đi nét thanh xuân của cô, thay vào đó là đôi mắt thất thần, trũng sâu, làn da xanh tái. Minh thương bạn lắm, cố tìm lời an ủi nhưng xem ra chẳng tác dụng gì! Bà Quảng cũng đã biết chuyện, bà thở dài sườn sượt trong đêm, ngày lén nhìn cô ái ngại. Bà thầm trách hoá công sao sắp bày chi cảnh trớ trêu cho cả hai con gái của bà, một đứa cam cảnh goá bụa khi chưa được nửa chừng xuân, giờ thêm một đứa dang dở tình đầu, bà chẳng biết sẽ ra sao? Hoàng Ngọc mạnh mẽ, xem ra còn trụ được chứ Bích Ngọc yếu đuối, hiền hậu của bà, cú sốc này cô sẽ ra sao? Bà cố tìm lời an ủi con:
– Con giữ gìn sức khoẻ nghe con. Chuyện đâu còn có đó, con có mệnh hệ gì má sống sao đây? Con còn trẻ mà, tương lai còn dài lắm, thương má, thương thân nghe con.
Ngọc cúi đầu im lặng, nước mắt lại rơi. Nhìn con bà Quảng lòng đau như dao cắt. Thầm than: phải chi hai con của bà thiếu tiền, thiếu bạc bà còn có thể nhịn ăn nhịn mặc để bù sớt, hoặc lao nhọc tấm thân bà còn có thể đưa vai gánh vác, đàng này cái nó thiếu lại là hạnh phúc, thiếu cái thứ mà bà tìm kiếm gần như hết cả cuộc đời không có thì bà biết lấy đâu mà cho? Mà liệu có, thì bà có cho con được không đây; cái điều xem ra rất mơ hồ mà ai cũng thiết tha với nó. Ôi, số phận, tất cả là do số phận.
Những ngày ngắn ngủi còn ở nhà, Nguyệt Minh thường sang chơi, an ủi bạn. Cô không dám rủ bạn xuống sông hóng mát như đã từng, cô sợ cảnh cũ gợi tình xưa lại buồn lòng bạn; cả hai thay đổi hướng đi, Ngọc im lặng theo cô như người đang đi trong mơ. Cả hai xuống đồng Ông Cố, cùng bước trên bờ ruộng, hương đồng bát ngát, gió nội mơn man, sóng lúa dập dờn đuổi nhau ra tận dãy núi đá xa kia… tất cả thật nhoà nhạt, Bích Ngọc vẫn im lặng song hành. Hai cô cùng ngồi xuống bên con kênh nhỏ, Minh nói khẽ:
– Mày đừng bi luỵ đến vậy. Chưa có giấy báo tử, chỉ là mất tích thôi, mất tích là vẫn còn hy vọng mà!
Bích Ngọc chợt hỏi, như muốn níu lấy một tia hy vọng, dẫu thật mong manh:
– Mày tin vậy à?
– Không tin cũng phải tin, phải cố mà tin! Cuộc sống phải có hy vọng, phải nghĩ đến điều tốt đẹp mới bước qua đau khổ được. Tao có cái này, mày xem đi!
Dứt câu, Minh đưa cho Ngọc hai tấm ảnh; đều là ảnh của Sơn. Một, là ảnh anh chụp thời còn đi học, nét mặt nghiêng nghiêng, dưới vầng trán rộng là đôi mắt khá đẹp nhưng phảng phất ánh buồn, khuôn mặt vuông, chiếc cằm như tượng thần Ai Cập, Bích Ngọc xúc động vì cảm giác thân quen, gần gũi chợt đến trong cô. Ảnh thứ hai, cũng khuôn mặt hơi nghiêng, nhưng đầy vẻ rắn rỏi, oai nghiêm, có lẽ do bộ quân phục Thuỷ Quân Lục Chiến tạo nên chăng? Ngọc ngắm nhìn, nhưng cô cảm thấy hơi xa lạ, anh khác quá, có lẽ anh không dành cho cô nên giờ anh đã biệt tăm tin nhạn? Giây sau, Ngọc chầm chậm lắc đầu, đặt cả hai tấm ảnh vào tay Nguyệt Minh, nói nhỏ:
– Thôi, tao không giữ đâu. Điều tao mong muốn là thấy Sơn bằng xương bằng thịt trở về, chứ còn ảnh thì cũng chỉ là vật ngoại thân; hình ảnh Sơn luôn hiện diện trong tao, có mất bao giờ đâu; tao giữ hình bóng anh ấy trong lòng sẽ bền chặt hơn tấm ảnh. Người còn, hình bóng ấy sẽ tồn tại. Vậy đi, mày giữ cho bác Năm, bác thương Sơn lắm.
Ngày hôm sau, Minh vào Sài Gòn, hẹn bạn về sẽ tiếp tục những ngày hè ít ỏi còn lại. Ở nhà, Ngọc buồn, chỉ xuống chơi nhà bà Năm, cả nhà thương cô lắm, ai cũng nhìn cô ái ngại nhưng chẳng ai nói gì. Chiều ấy, khi hoàng hôn đã xuống, cô thơ thẩn, trong lòng bức bối quá. Cô rủ nhóc Minh Tịnh cùng xuống cầu Đạo Long hóng gió. Con nhỏ gật đầu ngay, sau khi hẹn: về xin bà Nội sẽ lên đi với cô; vậy là hai cô cháu cùng dạo gió, trên đường, cả hai chỉ đi mà không nói, con nhỏ cũng buồn miệng lắm, nhưng nó đủ khôn ngoan và tinh tế để biết cô Bích của nó đang buồn, rất buồn là đàng khác! Sự kềm nén như cũng có giới hạn, khi đã vượt ngưỡng nó sẽ bùng phát và khi ấy thật khó đè nén. Bích Ngọc đang trong trạng thái này. Vừa lên đến nhịp cầu quen thuộc, chính cái nơi họ “chia tay nhau”, vừa tựa người vào lan can cầu, cô chưa kịp nhìn dòng nước hiền hoà đang êm đềm chảy xuôi thì đã oà khóc, tiếng khóc kềm chế đã lâu, nay được dịp càng trở nên nức nở; Minh Tịnh hơi hoảng và thương cô nhưng chẳng biết nói sao, nó đưa tay nắm chặt tay cô như muốn chia sẻ, an ủi; qua cơn xúc động, Ngọc cố nén lòng. Cô trò chuyện với Minh Tịnh. Câu hỏi đầu tiên chỉ ngắn gọn:
– Con có nhớ chú Sơn không?
Con bé vừa trả lời, vừa ngước nhìn cô, chừng như dò xét:
– Dạ nhớ chớ cô. Chú Sơn hiền lắm, ở nhà ai cũng thương chú cả. Bà Nội con là thương nhất. Bà cứ than: Ơn trên phù hộ, đưa giùm cho nó về, tội quá, cả nhà nó như vậy là chẳng còn ai!
Ngọc yên lặng, con nhỏ này lại “thừa thắng xông lên”, tiếp tục ba hoa:
– Cô biết không, chú Sáu nói: “Hay là mình cầu cơ thử, như hồi ba đó, chuyện không ai biết mà cơ nói đúng đó. À, hay là bữa nào cầu chơi!”. Cô thích không?
Rồi nó huyên thuyên đủ thứ, Bích Ngọc để mặc cho nó nói, cô đang đắm chìm trong dòng ký ức, trong suy tưởng, giờ có lẽ đó không phải là mơ mộng mà là nỗi nhớ thương tràn ngập, cô thầm cầu nguyện cho Sơn được an lành, còn có ngày trở về…
Chỉ bốn hôm sau, Nguyệt Minh về. Đôi bạn lại tỉ tê tâm sự, xem ra, Bích Ngọc chẳng thể quên Sơn. Minh cũng nhỏ to về chuyện tình cảm của mình, Trọng, bạn Sơn đã thả sợi tơ mành, nhưng giờ phiêu lưu quá, Minh đậu hay không có lẽ cũng chẳng ra Huế nữa, hai người cũng chỉ liên lạc bằng những cánh thư, đây cũng là nhịp cầu để biết tin tức của Sơn; cô thật sự không xác định được nguyên nhân chính của mối liên lạc này là do đâu, để biết tin Sơn hay còn gì nữa của riêng mình?! Thôi, kệ đi. Những ngày hè còn lại cứ vui bên nhau, cứ an ủi bạn đi đã. Rồi họ bày ra chuyện cầu cơ, cũng lẽ thường tình; khi người ta mất phương hướng, mơ hồ mọi việc thì chuyện tìm đến tâm linh là lẽ đương nhiên. Những ngày sau đó, sau khi xong việc nhà, các anh nhà Nguyệt Minh cùng em mang bộ cầu cơ lên nhà bà Quảng để chơi, theo chú Sáu đã tính: trên ấy, ma nhiều, lên cầu sẽ nhanh hơn! Cũng lạ, “ma” ai cũng sợ nhưng giờ lại rủ nhau tìm “ma” trò chuyện, chị em Hoàng Ngọc, cả Thuận cùng ngồi vào…Bộ cầu cơ được anh Sáu đem xuống, cũng gọn lắm gồm: Một tấm bìa, trên cùng ghi rõ Phật, Thánh, Thần. Dưới, bên ghi Thăng, bên ghi Giáng, đầy đủ các chữ cái và dấu thanh được ghi theo hình vòng cung, bên dưới ghi Đúng, Sai, Phải, Không, rất rõ; còn có cả chữ Ma, Quỷ. Quan trọng là Con Cơ bằng gỗ, nghe là bằng ván lấy từ áo quan khi bốc mộ, vậy mới linh. Để cầu, phải có dĩa bánh kẹo, ly nước, lư nhỏ cắm nhang và cả một bài chú khá dài. Bắt đầu cầu, thì con cơ đặt vào giữa, cuối bảng có vẽ hình trái tim, đốt hương và khấn, sau đó mới đặt 3 ngón tay, của 3 người vào cơ, bắt đầu đọc chú… Công nhận, nhà gì mà ma loạn luôn, nơi khác đọc cũng vài lần cơ mới động, ở đây, mới đọc 4-5 câu cơ đã chạy rần rần. Vậy rồi xúm vào mà hỏi, hỏi bất cứ gì…giờ thì giữa người và ma không còn cách biệt nữa; vui vẻ lắm! Nhưng có điều lạ là chẳng vong nào nhận mình là ma cả, toàn xưng Thần, Thánh, Tiên …còn bày đặt làm thơ tặng người này người nọ, khi xưng là Thần Cửa, khi là Thần Kiệt cưỡi ngựa hồng đi tuần du, thấy đông vui vào xem chơi. Cô Hoàng Ngọc tin lắm, nghe xưng Thần, xưng Thánh bèn nhờ tìm hộ tin chồng, Thần hứa giúp và đi ngay, rồi cơ chạy đến chữ “Thăng”, nhưng Thần thăng là thăng luôn! Có lần, Thần cũng dẫn được chồng cô ấy về, cơ trong vai chồng cô hỏi:
– Em khoẻ không? Anh vẫn ngắm em mỗi ngày mà em đâu biết!
Cô Hoàng Ngọc xúc động tâm can, hỏi dồn:
– Anh đang ở đâu? Có tội lỗi gì không?
Nhưng anh Sáu có vẻ chơi sành hơn, nhắc cô hỏi vài câu về chuyện nhà để xem có phải chú ấy không thì….cơ quay vòng vòng, ú ớ rồi ngắn gọn:
– Anh phải đi đây, anh không nhiều thời gian đâu, hôm sau lại gặp…Cơ Thăng! Có khi Thánh nhập. Bích Ngọc chỉ im lặng theo dõi, Nguyệt Minh lại hỏi cho bạn tung tích của Sơn, Thánh quay vài vòng rồi phán “Thiên cơ bất khả lậu”! Anh Sáu khá rành, biết chỉ là ma, nên có lần anh hỏi:
– Là gì nói mau! Nói láo, tui lật ngữa cơ ráng chịu nhen!
Cơ quay vòng vòng rồi nói:
– Nói là “ma” mấy người bỏ chạy hết sao?!
Vậy là được trận cười, xem như bày cuộc để khuây khoả, giết thời gian chứ chẳng đâu vào đâu cũng chẳng giúp Bích Ngọc tiêu sầu.
* ĐƯỜNG ĐỜI.
Tin tốt lành lại đến với Nguyệt Minh, cô đã trúng tuyển Đại Học Sư Phạm rất cao. Cô vui lắm, nhưng cố kềm chế sợ buồn lòng bạn. Đường tương lai cô khá rõ trong khi Bích Ngọc vẫn mông lung, lại còn chuyện tình cảm kia nữa, gia đình, đúng ra là ba cô, không đả động gì, vì ông mới là người quyết định, cô chỉ im lặng đợi chờ, cô hầu như chẳng tha thiết gì nữa. Một tâm lý chán nản, buông xuôi đã tồn tại trong cô, cho đến khi tiễn Minh đi học, vài hôm sau, ông Quảng về. Tối hôm ấy, ông gọi hai cô con gái ra hỏi chuyện, trống ngực Bích Ngọc đập liên hồi, trong tâm trí cô lởn vởn mỗi câu hỏi: liệu ông có định đoạt duyên phận cho mình không? Nếu có thì cô sẽ trả lời sao đây, trong khi cô không thể, thật sự là không thể… Cô dường như nín thở trước ba cô, rồi thở phào nhẹ nhõm khi ông nhìn Hoàng Ngọc nói:
– Con hướng dẫn cho em lo các loại giấy tờ như mày lần trước, tuần sau ba về sẽ xin cho nó đi dạy học; con gái học vậy là đủ rồi, lo có công ăn việc làm rồi mẹ con đùm bọc nhau. Đi dạy cũng hay, sau này dạy con dạy cái tốt hơn, khi lập gia đình cũng không lệ thuộc ai.
Bích Ngọc thở phào chừng như thoát nạn và vậy đúng là đã thoát, với cô thật tình mà nói, đi học hay đi dạy cũng như nhau cả, cô chẳng còn tâm trạng để buồn vui hay chọn lựa cho mình, kể như yên phận. Bà Quảng vẫn như từ xưa đến nay, ông nói sao bà hay vậy; có điều tuy bà là người khá đơn giản, chẳng suy nghĩ sâu xa giờ đã bắt đầu chú ý một điều: gần đây chồng thường nhắc mỗi khi lo việc cho con hoặc nói chuyện cửa nhà với bà, đó là câu “Mẹ con đùm bọc nhau”. Ý là sao? Lẽ nào ông đã có chủ tâm buông bỏ bà khi tuổi già bóng xế? Con gái rồi sẽ theo chồng; không lẽ ông mong Hoàng Ngọc trọn đời sống cảnh goá bụa, rồi Bích Ngọc nữa, hay là ông muốn trừng phạt bà cái tội “không sinh nỗi một đưa con trai”, không lẽ…không lẽ…bà bắt đầu trăn trở nghĩ suy về số phận, về quãng đời tiếp theo của ba mẹ con và của chính mình.
Bích Ngọc chính thức trở thành cô giáo sau một khoá đào tạo ngắn ngày. Với địa vị hiện có, ông Quảng thông qua các mối quan hệ của mình nên cô được bố trí dạy ở ngôi trường gần nhà; trường cũng rất khang trang, uy tín. Cô dạy bậc tiểu học, vui với lũ trẻ ngây thơ trong sáng, cô vốn hiền hậu dịu dàng nên tình cảm giữa cô- trò thật ấm áp, điều ấy mang lại cho cô chút khuây khoả; chỉ mỗi hoàng hôn lặng ngắm trời chiều cảm giác buồn bã lại trở về, khiến lòng cô chao đảo, hoặc mỗi đêm trăng, trăng càng khuya, ánh trăng bàng bạc tím màu khiến cô xốn xang trong dạ, nỗi nhớ niềm thương như ngưng đọng, tâm tình cô càng trĩu nặng nỗi niềm thương nhớ. Những ngày nghỉ, cô vẫn xuống chơi nhà bà Năm, nơi đó, giờ là địa chỉ thân thương, nơi cô có thể nhận những lời an ủi chân tình, gần gũi nhất. Bà Năm hầu như đem tình cảm nhớ thương đứa cháu bạc phận trao cả cho cô, xem cô như con gái Út xa nhà của mình. Thấy cô vẫn còn buồn lắm, có lần bà an ủi và khuyên:
– Tao thấy bây mà thương quá! Như mà bây còn thương nhớ hắn, thì cứ cầu nguyện cho hắn bình an trở về, tháng trước, tao có về Quảng Nam, cũng có ý tìm tin tức hắn, nhưng bà con cũng chẳng ai biết. Lại có nghe ngoài ấy ca tụng sự hiển linh của Quan Thế Âm Bồ Tát, sau chuyện “Đầm nước Cá Thần”, hay là bây cầu Ngài cứu khổ, cứu nạn cho nó. Cứ lòng thành thôi con, tối tối con niệm “Nam Mô Đại Từ Đại Bi Cứu Khổ, cứu nạn Quán Thế Âm Bồ Tát” xin độ cho hắn tai qua nạn khỏi sớm trở về.
Sau, bà tìm đâu đó tấm ảnh của Quán Thế Âm, là ảnh được chụp từ đám mây ngũ sắc trên không trung; ảnh đẹp lắm, như chụp từ một người thật, trong ảnh, Đức Quán Thế Âm đầu đội mũ quan âm, áo bào trắng có hình những chiếc lá liễu, dáng thướt tha, tay áo như đang bay trong gió nhẹ, sau lưng là hình ảnh những cụm mây mờ nhạt, thần thái uy nghiêm, khuôn mặt trái xoan, nét thanh tú hiện rõ với đôi mày lá liễu, đôi mắt nhìn xuống nhân gian đầy hoà ái, khuôn miệng, khoé môi như đang lưu giữ nụ cười đầy bao dung, nhân ái, một tay cầm bình nước cam lồ, tay kia cầm nhành dương liễu; đôi bàn tay búp măng đẹp như ngọc chuốt! Bích Ngọc đón nhận bằng tất cả sự ngưỡng mộ và lòng kính cẩn, cô âm thầm đem về, gắn riêng trên cánh tủ của mình, hàng đêm cô thành tâm cầu nguyện, âm thầm cầu nguyện, bởi tính cô vốn vậy, không phô trương, không muốn ai len vào thế giới của riêng mình. Một đức tính không biết là tốt hay xấu, có điều, tấm ảnh ấy đã theo cô suốt quãng đường đời.
Năm học trôi qua khá nhanh, người vẫn bặt tăm tin nhạn, Bích Ngọc vẫn âm thầm lặng lẽ bên mẹ. Thuận cũng đã qua kỳ thi cuối năm. Cuộc sống cứ vậy trôi qua, cho đến một buổi trưa, ông Quảng về, có cả vị khách đi cùng. Sau khi trà nước, ông đưa người ấy lên lầu, khoảng 10-15 ph họ cùng quay xuống… họ nói gì, trong nhà chẳng ai biết, rồi cả hai lại đi ngay, nhanh chóng, bất ngờ như khi đến. Ba mẹ con nhìn nhau, mỗi người đều có nỗi nghi hoặc, lo lắng riêng; nhưng không ai đoán được điều gì, có liên quan đến ai? Bà Quảng chừng như đã quen, Hoàng Ngọc không hiểu chuyện gì, có lẽ là chuyện liên quan đến cha nhiều hơn, Bích Ngọc là người lo lắng, phập phồng nhất, cô cố tìm những chi tiết dù lớn, dù nhỏ để phũ định cái điều cô rất sợ: Ông định gả chồng cho cô! Bởi vì, ông không thông báo cô “chuẩn bị ra mắt” như lần gả chị cô, ông cũng không trao đổi gì với má cô, không hề đả động tới ai, chỉ ông và khách, chỉ khách và ông to nhỏ… rồi đi. Nhưng cuối cùng là gì? Ba mẹ con đành chịu.
Thật sự họ chẳng đợi lâu, chẳng qua sự chờ đợi đã làm cho thời gian như chậm lại. Tuần sau ông về. Nghĩ cũng lạ, chồng về nhà, thăm vợ, thăm con mà sao không khí như ngưng đọng, chẳng có sự mừng vui, hân hoan chào đón, hoặc vồn vã hỏi han nhau thay vào đó là sự e dè, hồi hộp…Tất cả, nhưng đang chìm ngập trong một rừng dấu hỏi; ai cũng lấm lét nhìn ông chờ đợi. Ông lên lầu, nghỉ ngơi; chiều cơm nước xong, ông lại đi đâu đó; tối về, ông gọi hết cả nhà vào phòng khách bắt đầu câu chuyện của ông:
– Tôi đã tính toán xong cả rồi, giờ thông báo cho mấy mạ con biết để chuẩn bị mọi thứ, đang trong dịp hè thời gian rộng rãi hơn. Là như vầy: nhà này, thiệt ra mấy mẹ con ở cũng không yên, mỗi chuyện ma cỏ cũng đã phiền, nhà xem ra quá rộng cho ba mẹ con. Nay tôi quyết định bán ngôi nhà này. Đã ngã giá xong xuôi. Tôi sẽ trích ra số tiền cho bà dưỡng già, bà gửi ngân hàng cho yên, ít nhiều gì cũng có lãi mà tiêu dùng. Hai đứa nó đã đi làm cả rồi, mẹ con nương tựa nhau cũng đủ. Thằng Thuận tôi sẽ cho nó về quê học tiếp, nó sẽ về Huế sau khi giúp mạ con bà chuyển đến nơi ở mới.
Ông nói sao nhẹ tênh trong khi ba mẹ con như nghe tiếng sét giữa trời quang , trước mặt tối sầm như rơi xuống tận chín tầng địa ngục, hai tai ù đặc. Rồi như chới với giữa dòng sâu, bị cuốn phăng đi, trôi tuột vào cuối đường hầm. Vậy là sao? Là sao chớ? Ông muốn giũ bỏ ba mẹ con bà không chút thương tiếc. Mẹ con bà đã làm phiền ông lắm sao? Ít ra, ông cũng có lời giải thích với bà, với người đã từng là vợ, dẫu rằng thời gian gần đây đã phôi pha lạt lẽo. Ông phải nói gì đi chớ! Bà Quảng đau nhói lòng. Lần đầu tiên bà cất lời sau phán quyết của ông:
– Xưa nay, ông tính sao má con tôi hay vậy, nhưng quyết định này bất ngờ quá, má con tôi sẽ sống ra sao, nơi ở mới là nơi nào, ông cũng nói cho má con tôi yên lòng với!
Ông không chút suy nghĩ, dường như ông đã tính toán đâu vào đấy cả rồi, chỉ là “nói hay không” thôi. Ông tiếp lời bà:
– Bà lo chi nhiều vậy? Chỗ ở mới cũng gần đây, tiện cho việc đi lại của hai đứa nó; cũng ở nơi phố xá đàng hoàng, bà vẫn hàng ngày chợ búa bình thường, chỉ khác là mỗi tháng phải chi trả tiền nhà cho họ thôi! Nhưng ý tôi là sẽ thuê theo năm, dài ngày tiện hơn.
Bất giác cả ba mẹ con cùng đưa mắt nhìn nhau và cùng thảng thốt gần như đồng thanh:
– Thuê nhà ư?!
Ông lạnh lùng:
– Thì đã sao? Không thuê nhà mặt phố thì giá sẽ rẻ, có buôn bán chi mô mà ở mặt phố, buôn bán được thì lâu nay đã bán buôn rồi…
Ông như còn muốn nói gì thêm, nhưng Hoàng Ngọc đã lên tiếng:
– Ba bán căn nhà lớn mà không mua được căn nhà nhỏ cho mẹ con con sao? Nói như ba, mình không mua nhà mặt phố thì giá cũng rẻ thôi!
Ông trừng mắt nhìn cô, đôi mắt sắc lạnh rồi nghiêm giọng:
– Nhà cũng sẽ mua, nhưng mua để tao và gia đình dì mày về ở. Không đến lượt mày xen vào. Im ngay, nếu không muốn đến đường cùng.
Vậy là đã rõ. Trong lòng ông không hề có mẹ con cô! Ông phủi tay. Thảo nào ông luôn miệng nói “mẹ con đùm bọc nhau”; sự thật quá phũ phàng, Hoàng Ngọc cá tính mạnh mẽ còn dám đôi co, chất vấn ông, chứ bà Quảng thì chỉ ngậm ngùi đau xót, thương thân mình và xót cho hai con; cũng là thân con gái, cuộc đời sau này biết sẽ ra sao? Rồi đây, với số vốn ông cho biết được bao nhiêu, bao lâu sẽ trắng tay, tuổi già đến nơi rồi! Nơi ở mới, là ở đâu? Lân bang hàng xóm thế nào? Có ân cần, tử tế, thân thiết được như dưới nhà bà Năm không? Người xung quanh có lương thiện thật thà như xóm này không? Ôi, trăm mối ngổn ngang, bà như chìm trong mớ bòng bong; ông đã rời ghế, lên lầu nói chuyện với Thuận rồi. Bích Ngọc thật ngỡ ngàng trước quyết định và cách cư xử của cha, sao mà bạc đến vậy?! Cô không hình dung được “đứa con trai” thì có gì mà ghê gớm vậy? Đánh đổ vợ con, làm tan nát một gia đình, để má cô bơ vơ khi tuổi xế chiều, đó chính là sự bạc ác và tàn nhẫn, vô cùng tàn nhẫn. Cô đau và thương mẹ vô cùng, cô nhìn mẹ, bất giác chỉ trong nháy mắt bà như đã già trăm tuổi, đã không còn chút sinh khí, da mặt tái xanh, trắng bệt, đang ngồi chết lặng dường như hoá đá mà lòng quặn thắt từng cơn, trong cơn xúc động nghẹn ngào, cô tự hứa với lòng dù có thế nào, dù có ra sao, cô vẫn sẽ một đời bên mẹ, sẽ một đời chăm lo, an ủi mẹ, cô không để mẹ phải chịu cảnh cút côi! Bất giác, cô muốn ào đến, ôm và gọi mẹ bằng tiếng gọi thiết tha tự đáy lòng. Nước mắt cô lả chả tuôn rơi. Cuộc đời ngẫm lại có gì vui, hoặc nếu có chăng nữa thì niềm vui ở tận đẩu đâu chứ với cô cho đến tận bây giờ chỉ toàn nước mắt, ngổn ngang trăm mối tơ vò.
Đêm ấy, ba mẹ con hầu như không ai ngủ. Mỗi người trăn trở theo dòng suy tưởng của mình; Hoàng Ngọc hận cha lắm, dù cô cũng đã hưởng khá nhiều ân sũng từ thuở lọt lòng, dẫu gì thì cũng là con đầu lòng, giờ cha lại đối xử như vậy, cô thấy hụt hẫng, không công bằng, hình như cô thương chính bản thân mình nhiều hơn! Bích Ngọc lòng cũng đầy oán trách, tuổi thơ cô không được như chị, vì cô là con gái, đứa con gái thứ hai và sau cô, mẹ lại chẳng sinh được nữa; cô không oán trách cha vì bản thân mình, mà vì thương mẹ, ba cô đã quá phũ phàng khi đưa ra quyết định như vậy. Mẹ cô với ông chỉ là con số không tròn trĩnh! Vậy thì bà còn trông cậy gì ở ông nữa chứ, bên bà giờ chỉ có hai cô, đói no ấm lạnh có nhau. Bà Quảng vốn tính thuần hậu, trước cư xử này chỉ cảm thấy tủi thân, lo lắng, cảm giác đắng cay đầy đặn, còn uất ức ư, hình như bà chưa từng. Bà luôn mang mặc cảm “không tròn phận vợ” khi không lo được hương hoả cho ông nên cái chuyện “phòng nhì” của ông bà mặc nhiên chấp nhận, không chút ghen tương, không lời trách oán, nước mắt bà chảy dài trong đêm không sao kềm lại được. Lòng bà đau, đau lắm, chẳng biết bắt đầu từ đâu, chỉ thấy toàn thân rã rượi, bà nén tiếng thở dài…dần đi vào giấc ngủ; giấc ngủ đêm nay đưa bà trở về với gia đình ruột thịt, với cha mẹ, anh chị của mình, với khuôn sân nhiều cây lá, với hoa kiểng rực một dãy hành lang, với những tấm hoành phi, câu đối khảm xà cừ, lóng lánh trên nền gỗ mun bóng lộng; gian nhà chính hoành tráng với sập gụ đen bóng, bộ ấm trà nghe đâu cũng từ thời Ông Sơ bà Sẩm để lại. Bà được yêu chìu lắm, những ngày thơ dại thật đầm ấm, hạnh phúc xiết bao! Bất giác bà mỉm cười, nụ cười mãn nguyện hiếm hoi chỉ có trong mơ. Rồi, một quãng đời thanh xuân trôi qua thật đẹp, bà được dạy đọc sách, thêu thùa, chuyện bếp núc… mẹ bà chỉ bày dạy qua loa bà chưa thực thụ hoàn chỉnh được món nào! Rồi, ngày lên xe cưới, tuy bà mới tuổi tròn trăng, như nụ hoa còn phong nhuỵ nhưng do hai nhà đã hẹn ước nên bà cất bước theo chồng với tâm hồn trắng trong như ngọc về làm dâu xứ Huế; hai họ thật hài lòng vì quá môn đăng hộ đối, cô dâu xinh đẹp hiền hoà, nết na nức tiếng, chú rể con nhà trâm anh thế phiệt, tài mạo song toàn; tuy không được cưng chìu như những ngày bên gối mẹ nhưng xem ra cảnh làm dâu của bà cũng không đến nỗi nào. Ngày vui ngắn chẳng tày gang, sinh con đầu lòng là gái, bà bị thất sủng, chuyện ăn ở dần trở nên ngạt thở, bà âm thầm chịu đựng, chẳng dám than thở cùng ai, chẳng thể để cha mẹ phiền não vì mình, mà xét cho cùng, ai giúp bà được chứ?! Chịu đựng hai năm, bà mang thai lần nữa, niềm hy vọng không chỉ riêng bà mà của cả nhà chồng, phận làm dâu của bà tạm thời dễ thở, rồi thì ngày khai hoa nở nhuỵ cũng đến, đúng là hoa, bà lại cho ra đời một gái! Quanh bà từ đây, mây đen vần vũ, thôi thì cũng tại mình, bà cắn răng chịu đựng, sự ghẻ lạnh từ ấy càng kinh khủng, trong mắt cả nhà bà như vật vướng mắt, có khi là cái gai của họ; chồng cũng không còn nồng nàn như trước, hoặc ít ra cũng che chở cho bà thì giờ ông mặc bà trong căn nhà rộng lớn, giữa những ánh nhìn hằn học. Rồi như do công việc, ông thường đổi đi nhiều nơi, nhiều tỉnh, lấy lý do ông cần có người chăm sóc, nhà chồng cho bà theo ông; từ đó, bà đã phiêu bạt theo chồng trên từng chặng đường công tác, chỗ ở thay đổi là chuyện thường, nhưng mẹ con bà luôn có một tổ ấm để ở, để ông có chỗ đi về, còn giờ thì sao?! Bà trở mình, tiếng thở dài bất chợt như giọt nước mắt trong đêm đang tràn ra khoé mắt, bà giật mình thảng thốt khi cái thực tế kia đánh thức bà giữa giấc mơ….
* TỪ BIỆT.
Nguyệt Minh về quê nghỉ hè. Bích Ngọc như được hồi sinh. Chí ít cô cũng có bạn để trút cạn tâm tình, người bạn từ thuở thiếu thời, với Minh cô không cần che đậy tình cảm của mình. Phần Nguyệt Minh đã được bà Năm nói qua về cảnh nhà bà Quảng bằng tất cả sự cảm thông. Giọng bà đầy ngao ngán trước thế thái nhân tình, không tiếc lời chê trách người chồng bội bạc kia. Bà còn nói:
– Thương là thương ba mẹ con trong cảnh gieo neo, chớ còn ăn ở như rứa thì ngày sau chẳng tốt đẹp gì! Tội cái là “con gái hưởng phước cha”, lão ăn ở như ri thì… tụi nó lại là người trả quả!
Cuối câu là tiếng thở dài não nuột. Hàng xóm mà còn biết thương sao ông ấy lại vô tâm dường ấy? Thôi, mặc cho dòng đời, thân lục bình cam chịu nổi trôi. Nguyệt Minh ngậm ngùi thương bạn và mong gặp bạn ngay. Gần như đồng thời, họ gặp nhau, ánh mắt giao nhau cũng là mối giao cảm. Cả hai đều rưng rưng, không thốt nên lời. Thật, không biết nói sao, bắt đầu như thế nào, biết bao tâm sự giờ gặp nhau lại nghẹn đắng… Qua cơn xúc động, họ lại tỉ tê, chuyện nhà Bích Ngọc đành vậy, không thay đổi được, sau những câu chuyện lòng, cô cho bạn biết:
– Mày ở nhà được bao lâu? Tao thì chỉ 20 ngày nữa là phải dời đi rồi! Sau này, mình khó gặp nhau; tao không còn ai bầu bạn. Ở đây, lên xuống với gia đình mày, tao vui lắm, buồn buồn thì nói chuyện với nhỏ Minh Tịnh, hay rủ nó hóng gió dưới cầu cũng khuây khoả, giờ thì… tao mất hết rồi!
Những tiếng sau cuối chừng như ngập trong nước mắt! Minh thương bạn quá, biết an ủi sao đây? Một năm qua, chắc hẳn cô chưa quên chuyện tình của mình, giờ thêm cảnh nhà như vậy… thật khó cho cô bạn hiền hậu của mình! Cô nói:
– Chuyện nhà đã vậy thì đành chấp nhận vậy; mình vẫn sẽ gặp nhau, nhưng ít hơn. Cũng trong nội vi thị xã thì không ngại đâu; có gì mày cứ nói dưới này sẽ giúp cho bác và hai chị em khi dọn nhà, sẽ đưa ra tận nơi, rồi tụi mình lại gặp nhau tuy không thường xuyên như từ trước đến giờ.
Một khoảng yên lặng giữa hai cô. Bích Ngọc chợt hỏi:
– Mày có liên lạc với Trọng, bạn Sơn không?
– Có, hắn cũng hay lắm; mỗi thư đều chủ động nói “đơn vị vẫn chưa có tin về Sơn”, sau đó mới nói chuyện linh tinh, vui là chính. Mày vẫn nuôi hy vọng?
– Ừ.
Trả lời bạn, cũng là xác định với chính mình, bất giác cô lại đưa mắt nhìn lên bầu trời như tìm nơi ấy hình ảnh yêu thương, như gửi gắm niềm hy vọng tuy rất mong manh. Rồi cả hai cùng nhắc lại kỷ niệm, kỷ niệm còn nóng hổi chứ có xa xôi gì, mà giờ sao trong tình cảm mỗi người nó như xa quá! Biết ra, giờ hai cô có một điểm khá chung, cùng yêu nhạc tiền chiến, yêu nhạc “lính”. Yêu những bài ca về sự chia ly và chờ đợi, cảm hoài với những bài hát biệt ly, những cảnh đời mòn mỏi vì cảnh sinh ly tử biệt… Xem ra, tuy ra ngoài xã hội, tuy vẫn có những vệ tinh nhưng Bích Ngọc chừng như chưa thể mở lòng; Nguyệt Minh thì như vậy đã rõ, cô đang yêu lính!
Trước khi dọn đi mấy ngày, bà Quảng đã xuống nhà từ giã và cảm ơn bà Năm và các cháu đã yêu thương, giúp đỡ mẹ con bà trong bấy lâu. Bà khóc nghẹn khi nói lời từ biệt, cả nhà nhìn bà đầy thương cảm, hẹn sẽ ra thăm bà, khi nào dọn nhà đi, cả nhà sẽ giúp và đưa đến tận nơi để biết nhà mà thăm viếng. Bà Năm dặn dò bà thật kỹ:
– Tuy có xa xôi, nhưng bất cứ khi nào cần bà đều có thể báo, gia đình sẽ có mặt.
Vậy là hôm nay, gia đình bà Quảng chính thức về nơi ở mới. Nhà bà Năm đưa người lên giúp khiêng vác đồ đạc, chỉ là đồ gia dụng thật cần thiết, tủ, giường của ba mẹ con, vật tuỳ thân… Chiếc tủ lớn và bộ phản gõ bà xin gửi tạm dưới nhà bà Năm. Mọi người cùng đưa ra tận nhà mới, nhà ở sâu trong con hẽm nhỏ, đủ cho xe ba gác đi vào. Minh cùng theo bạn, nhỏ Minh Tịnh cũng khóc lóc đòi theo; trong thâm tâm nó thương cô Bích của nó nhất rồi mới đến bà Ngoại chứ cô Hoàng Ngọc thì nó “vô can”. Nó cần phải biết nhà để nó tự đi thăm khi nó nhớ. Tối hôm ấy, Nguyệt Minh và Minh Tịnh ở lại chơi với cả nhà khá lâu. Nó cứ xoắn xuýt bên cô Bích, nó tự hiểu rằng: từ nay, nó sẽ không còn được cùng cô trò chuyện, được cùng cô ngắm trăng, hóng gió bên cầu, hoặc đi dạo đồng Ông Cố nữa, dù rằng có đi cùng cô thì cũng “chỉ mình nó nói”, nhưng… nó thích lắm. Lần đầu tiên, đến nhà cô, ra về nó phải “thưa bà, thưa cô” để về, trong lòng chợt tủi, nó khóc nức nở. Ôi, nó khóc thảm quá! Xưa nay, nó khóc chỉ vì hờn dỗi, vì không được như ý, khóc để mè nheo, ăn vạ, mắc đền, để trả thù ai đó dám ghẹo nó khi mà sau tiếng khóc của nó, Ông nó sẽ không tha cho họ… nhưng hôm nay, tiếng khóc nó mới thật sự là tiếng khóc tủi hờn, cảm thương cô Bích của nó… Mọi người nước mắt lưng tròng khi dỗ nó, ba mẹ con chưa vội quay vào khi hai cô cháu chưa ra hết con hẽm. Trên đường về, nó càng thấm, hai nhà xa quá, có dễ 2 cây số hơn! Đi bộ thăm thẳm và mỏi chân vô cùng, nó bắt đầu mở máy sau khi lắc lắc tay cô Minh, thủ thỉ:
– Xa quá, cháu mỏi chân rồi! Hay là mình tập đi xe đạp đi, chiều chiều cô cháu mình chở nhau ra chơi cô Minh hén!
– Cô biết đi, nhưng còn yếu lắm, đi một mình còn được, sao chở được mày?
Nó không chút thất vọng, liếng thoắng:
– Thì cháu sẽ tập đi, cháu sẽ cố thi đậu đệ thất. Ba hứa thi đậu sẽ cho chiếc xe đạp. Giờ cháu bắt đầu tập cho coi, để khi có xe là đi liền!
Minh Tịnh đã quên mất nỗi buồn, nó đang nuôi niềm hy vọng mới: Nó sẽ tự đi thăm cô Bích bất cứ khi nào nó nhớ!
* RỒI THÌ CŨNG QUA.
Thấm thoát đã gần hai năm về nơi ở mới. Cuộc sống ba mẹ con tạm ổn. Xóm nhỏ nhưng đông, bà Quảng ngoài việc chợ búa cơm nước cũng buồn, nên có mở bán thêm tạp hoá vừa vui vừa thêm tí thu nhập. Cô Hoàng Ngọc từ khi về chỗ mới có vẻ chăm chút cho nhan sắc, vóc dáng của mình hơn, chuyện giúp mẹ hầu như “không”; sáng sớm, cô chỉ lo mỗi việc điểm trang rồi đi làm, trưa về cơm nước xong, nghỉ trưa tí lại trang điểm… đi làm! Để đi làm, cô mất gần hoặc hơn một giờ dành cho trang điểm và chải tóc. Cô khéo lắm! Từ trên lầu của dãy phòng học trường Duy Tân, Minh Tịnh vẫn “me” để được ngắm cô, dáng cô nhỏ nhắn, thước tha trong tà áo dài, có điều lạ là dù có ẻo lả đến đâu cô vẫn không dấu được dáng đi hơi tất bật, tay cô nghiêng nghiêng vành nón lá chứ cô chẳng bao giờ đội, chỉ che thôi với chiếc quai nón khi hồng khi đỏ, cả xanh cả vàng theo màu áo, bởi vì cô cuộn tóc thành ba cuộn, như tóc các cô gái Nhật, đội nón thì còn gì tóc? Nhưng nhìn cô đẹp lắm! Thật tình, mất một giờ chứ hơn nữa cũng đáng công.
Cô Bích Ngọc thì vẫn âm thầm bên mẹ, ở trường về, cô cũng chỉ lủi thủi với sách vở, thứ bảy chủ nhật nhỏ Minh Tịnh ra chơi, có khi nó ở lại qua đêm và cả ngày chủ nhật, cô cháu xem ra vui lắm! Cả năm nay, nó đã tự đi xe đạp ra, về, xem ra thật ung dung tự tại! Mỗi khi ra, nó đều mang theo quà của nhà bà Năm gửi tặng, bà Quảng vô cùng cảm động! Nhưng tấm lòng người mẹ thương con lại không dừng ở đó; bà thật xót lòng khi con vẫn chiếc bóng bên mình; nhà thì vẫn thường có khách đến chơi, bạn chị rồi bạn em, bà niềm nở đón tiếp, Hoàng Ngọc xem ra cũng có “chủ ý” nhưng Bích Ngọc thì hình như chẳng để tâm đến bất cứ ai, lẽ nào cô đã khép chặt cửa tim?! Có lần bà ướm hỏi, cũng là nhắc nhở con tìm nơi nương dựa; cô chỉ im lặng lãng tránh, hoặc nở nụ cười không trọn vành môi, mắt buồn rũ tỏ thật lòng mình:
– Má đừng lo nghĩ về chuyện đó nữa; mẹ con mình sống bên nhau là tốt rồi, con đủ mãn nguyện rồi, hà tất phải lấy chồng.
– Nhưng con gái lớn phải lấy chồng chớ con, ai cũng cần có gia đình, không thì tuổi già quạnh quẽ lắm!
Cô định nói, nhưng kịp dừng, không khéo sẽ làm mẹ đau lòng khi cô chợt nghĩ: như má thì liệu gia đình có phải là nơi nương tựa tốt không? Cô lại nói:
– Má đừng nhắc tới chuyện này nữa má à. Nhắc con buồn lắm! Con không thể lấy người con không thương yêu, mà người con đặt lòng yêu thương thì đã mất âm hao, con sẽ sống với hình bóng ấy, với mối tình đầu dẫu đó cũng là mối tình đau. Ba mẹ con mình bên nhau cũng yên ấm mà.
Bà Quảng chỉ biết im lặng thở dài. Con nói cũng phải, ba mẹ con bên nhau, lương tiền chia sẻ, cuộc sống không sung túc nhưng cũng cơm no áo lành. Gần hai năm nay, từ ngày đưa mẹ con bà về nơi ở mới, ông chỉ chập choạng thăm viếng đôi ba lần rồi mất hẳn. Nghe nói, ông đã đưa cả nhà về đây, mua căn nhà khá khang trang, nhưng mẹ con bà chưa từng được ông mời đến. Ông đã quên bà và bà cũng đã quên ông.
Chuyện không ngờ lại đến, hôm nay, Bích Ngọc đi dự đám cưới của Nguyệt Minh, dù bạn còn một năm nữa mới tốt nghiệp ra trường. Hôn sự này cũng nhiều gay cấn lắm; để đến được cùng nhau, họ, nhất là Minh đã vượt qua rào cản khá lớn của gia đình, cả nhà cô, chẳng ai tán thành, mẹ cô vì thương con đành chép miệng ngậm đắng mà lo. Do vậy, đám cưới chẳng hề vui, cả nhà gái đầy gượng gạo, chào mời nhưng vắng sự vồn vã và những nụ cười, Bích Ngọc nhìn bạn đầy ái ngại. Chồng cô ấy không ai khác chính là Trọng. Cái tên gợi nhớ trong cô chuyện tình đã ba năm, hình bóng ấy lại hiện về trong cô như chưa từng phai nhạt. Cô mừng và thầm chúc phúc cho bạn, dẫu gì Minh cũng lấy được người mình yêu thương. Và cũng từ đây, cơ hội được hàn huyên cùng bạn với Bích Ngọc hầu như không còn nữa. Bạn về bến mới, con đường về quê xa xôi, trái trở, nào chuyện học hành thi cử chưa xong, nào chuyện chồng, chuyện con, chuyện cô tốt nghiệp và về nhiệm sở tận miệt Cà Mau đã ngăn cách tình bạn cố tri giữa hai người.
Từ nhà Nguyệt Minh về, Bích Ngọc cảm thấy cô đơn quá, giờ bên cô có lẽ chỉ còn nhỏ Minh Tịnh lắm điều kia! Cô chợt mỉm cười, hết cớ lại bầu bạn với con bé mới 12 tuổi đầu, tóc chưa kịp trổ đuôi gà! Nhưng nó khá hiểu chuyện, với nó cô có thể nói chuyện về Sơn của cô, về kỷ niệm một thời, mà con nhỏ cũng tếu lâm lắm, kiểu gì nó cũng trêu được cô cười, ôi có lẽ đó là mối duyên của cô chăng?!
Vài tháng sau, vào một buổi sáng, bà Quảng vào thăm bà Năm. Nhà đang lúc đông người do công việc làm ăn, vẻ hơi lúng túng bà nói nhỏ với bà Năm:
– Chị, em có chuyện muốn nói với chị!
Bà Năm nhanh nhẹn đứng lên, vẫn thói quen cũ, bà lên nhà, ngồi xuống võng, bà Quảng ngồi xuống chiếc ghế đối diện, bà Năm cất lời:
– Có chuyện chi bà cứ nói đi!
Bà Quảng rụt rè nhỏ giọng:
– Chị à, em làm phiền chị, đã gửi chiếc tủ và cái phản trong này khá lâu rồi, nay xét thấy cũng chẳng thể đem theo được nữa; em định thưa với chị, nếu dùng được em xin bán cho chị, bà thoáng ngập ngừng rồi nói thêm, em đang cần tiền chị à.
Bà Năm chầm chậm nhìn bà ái ngại:
– Tui hỏi có khi không phải, bà cần chuyện chi, bao nhiêu mà phải bán? Nếu cần gấp, tui sẽ đưa cho mượn mà tiêu, có đâu mà phải bán…
Bà Quảng thật tình nói cảnh của mình:
– Chị à, em cần tiền là cần cho chuyện vui, không ngặt nghèo gì mà phiền chị. Cũng tưởng sau này nghĩ lại, ổng sẽ lo cho mẹ con em căn nhà, nhỏ to gì cũng được, nhưng giờ không còn hy vọng nữa chị à, có khi mẹ con em lại phải thuê nhà khác nhỏ hơn, thì chỗ đâu mà mang về chớ?
Thoáng nghe “tin vui” những tưởng Bích Ngọc đã tìm được bến đỗ, Bà Năm cũng có bụng mừng, nhưng người lên xe hoa không phải là cô ấy, mà lại là chuyến xe hoa thứ hai của Hoàng Ngọc. Vậy rồi hai bà thoả thuận giá cả, bà Quảng hớn hở ra về lo cho con gái. Người chồng mới của Hoàng Ngọc chắc không như lòng cô ước ao mong đợi, nghĩa là “sống trên cánh gà”; ông nhiều tuổi hơn cô và tục huyền là để có người chăm sóc cho các con của mình. Chừng như là duyên số định phần, xem ra, giữa hai người chẳng có chút gì “hoà hợp”. Vợ đỏm dáng thướt tha, phấn son chăm chút, tỉa tót từ mày đến tóc; chuyện nhà chẳng động móng tay; chồng vừa là lính, lại rặt gốc nông dân, từ giọng nói đến ngôn từ thuộc hàng “nhà quê chúa”; ai cũng ái ngại cho cô và cho cả những đứa con mồ côi kia, bởi ai cũng biết cô chẳng những sắc sảo lại xéo xắt, cành nanh, ích kỷ. Thật chẳng biết sao đây, mà có sao, thì hôn lễ vẫn tiến hành, gọn nhẹ, điều quan trọng là có sự hiện diện của ba cô. Ông trịnh trọng dạy con lần nữa về đạo vợ chồng, về nhập gia tuỳ tục…
Cuộc hôn nhân đã làm thay đổi cuộc sống của cả ba mẹ con bà Quảng. Hoàng Ngọc dù không muốn nhưng buộc phải theo chồng, các con của chồng cô đang cần mẹ, và vì chúng nên mới có cuộc hôn nhân này. Một thay đổi lớn của đời cô. Nhưng thôi, chuyện đời cô, tự cô giải quyết, cô đã chọn bến lần hai, nợ hay duyên thì cũng đều có số cả rồi. Oan uổng là hai mẹ con Bích Ngọc, cảnh “bèo dạt hoa trôi” đã vận vào thân. Hoàng Ngọc theo chồng non ba tháng, sinh hoạt hai mẹ xem ra khá chật vật, tuy khi còn ở nhà, chuyện phụ mẹ của cô cũng gọi là cho có, nhưng có còn hơn không. Nhà ở thuê, chỉ có năm đầu tiên, ông trả cho nguyên năm, nhưng năm sau bà phải trả theo tháng, giờ chỉ hai mẹ con vẫn lo từng ấy. Chuyện chuyển chỗ ở tất nhiên phải nghĩ tới, nhà này quá rộng cho hai mẹ con, thuê căn nhỏ hơn chi phí càng rẻ càng tốt. Hai mẹ con vẫn hằng ao ước về lại nơi cũ, gần nhà bà Năm có lẽ thuận tiện và vui hơn; nghĩ vậy, bà lại tìm vào nhờ trợ giúp. Nghe bà tâm sự, không chỉ bà Năm mà hầu như cả nhà đều thương hai mẹ con lắm, hứa sẽ cố công tìm giúp; trước khi ra về, bà Quảng còn nhắc thêm lần nữa:
– Chị, càng gần nhà chị mẹ con em càng mừng nhen chị, được vậy con Ngọc Em vui lắm! Thôi em về, em cám ơn chị và các cháu nhiều.
Bà Quảng khuất bóng, nhà bà Năm đã rộn ràng. Ai cũng thương cho hai mẹ con bà, sao mà cơ cực vậy? Nhớ khi mới về đây, cái xóm còn nghèo, ai cũng cho nhà bà thuộc hàng danh gia vọng tộc, thật cao sang, giờ lại tuột xuống đến tận cùng. Giá nhà có thể thuê được theo ý bà thì tìm đâu ra cho vừa “con mắt”? Giờ chỉ còn ra xóm sau, cái xóm cuối cùng nhất, nơi mà suốt những năm ở đây, ba mẹ con bà chưa từng để mắt đến chứ đừng nói bước ra. Nhưng, bà đã nói vậy, thì đành vậy. Bà Năm biết nhiều về xóm ấy, chỉ có mỗi một nơi phù hợp, nhà ông Ba; ông mới xây hai căn nhà chuyên cho thuê. Hai căn này, bà Quảng không thể với tới, ông còn căn khác, vốn là chỗ đất thừa, của hai căn liền kề kia, ông thêm hai bức vách, gắn cửa vào mặt trước là thành cái nhà nhỏ xíu, đuôi nhà hơi hẹp hơn mặt trước, ngắm đi ngắm lại chắc cũng để được cái giường, cái tủ con, cái bàn và hai chiếc ghế, còn phải để lối đi, nhà có vẻ tối, nếu bà Quảng đồng ý, ngã giá xong sẽ yêu cầu ông trổ cho cái cửa sổ nhỏ, sát hông nhà còn khoảng đất eo eo, che thêm tấm tôn sẽ là nơi đặt bếp, cũng đủ để hai cái lò nhỏ và chạng để chén. Vậy là, bà nhờ con trai bà qua hỏi, rồi cũng chính anh ấy, đạp xe ra nhà, chở bà Quảng vào xem. Bà mừng lắm, ở sau nhà bà Năm, chỉ qua cái “cùi chõ” là đến, giá cũng nhẹ, bà vào xem và cũng để đặt vấn đề thuê mướn cụ thể thôi chứ các điều kiện kia đã đủ thoả mãn cho hai mẹ con rồi. Sau khi thoả thuận và xem ngày xong, bà chính thức về nơi ở mới. Đi sao, về vậy, gia binh, gia tướng nhà bà Năm lại lần nữa bưng bê giúp, nhưng lần này… đồ đạc có là bao? Nhà chứa được bao nhiêu, thì cũng chỉ mang những thứ thiết thực nhất thôi. Thật nhanh và gọn. Hai cô cháu Bích Ngọc và Minh Tịnh lại vui vẻ bên nhau, đi bằng cửa sau, nó chỉ cần đi qua cái sân nhà, ra khỏi cổng thêm “một cánh chõ” nữa là đến rồi. Từ ấy, mỗi ngày đi dạy cũng tiện cho cô.
* XUÔI DÒNG.
Đây là có lẽ là thời gian hai mẹ con vui vẻ nhất. Bà Quảng ngoài bà Năm giờ có thêm một, hai rồi dần dần khá nhiều bạn già. Buổi trưa, các bà nhóm lại nơi đầu thềm của hai căn nhà kia nói chuyện, những mẫu chuyện đời của nhau, chỉ giống nhau: chung cảnh khổ; những điều còn lại cũng chỉ giống mỗi “sự buồn” nhưng kể ra ngọn nguồn thì chẳng hề giống, ở đây, bà Quảng học thêm những món ăn tiện nhất, rẻ nhất của giới bình dân; cho đến khi quen thêm bà vợ ông chủ nhà, bà cảm thấy “phận mình cũng quá là may”! May, bởi vì bà chỉ bị chồng phụ bạc chứ chưa gặp cảnh lăng mạ, chưa cảnh đánh đập, đong lường từng chén cơm! Bà Ba có hôm vừa kể vừa khóc rằng:
– Tui thà khổ như bà mà được tự do, chớ còn như tui, mang tiếng giàu có, mà trong mình chẳng có cắc bạn lận lưng, bữa cơm, ổng lường đủ chén lưng, chỉ rau và mắm biết gì đến cá đến thịt. Đói ăn thêm, ổng đánh, ổng chửi “ăn gì như tằm ăn rỗi, cái lưng như tấm phản” còn xới thêm! Bà coi, tui có cái áo nào mà không vá chằm vá đụp đâu? Lạnh thì mặc thêm cái nữa chớ chưa biết áo ấm là gì.
Nói rồi bà lại khóc. Sau những giọt nước mắt bà tiếp:
– Bà còn có con cô giáo kia hủ hỉ, tui chẳng phải không có, trai có, gái có nhưng chẳng đứa nào ở nỗi, nó ở riêng, đã riêng là riêng, có nhớ gì đến tui đâu, ngay từ nhỏ nó đã hùa với cha, coi tui chẳng ra gì; nhờ mỗi đứa con gái Út, nó buồn, muốn giải tội cho cha nên nó đã đi tu rồi. Tui cầu được như bà lắm!
Mà thật vậy, chưa bao giờ bà Quảng cảm thấy hài lòng về cuộc sống của mình như hiện nay, bên bà có những người hàng xóm gần như cùng cảnh, có gia đình bà Năm gần như ruột thịt, Bích Ngọc cũng bớt cô đơn, cô thường qua chơi với Minh Tịnh, không thì con nhỏ cũng chạy qua, ríu ra ríu rít cả ngày. Quà từ bên ấy hầu như cho bà thường xuyên, do nó mang đến, xem ra cũng đỡ cho bà ít tiền chợ, lại được nếm những món ngon và lạ. Thỉnh thoảng Hoàng Ngọc có ghé thăm, cô không quên mẹ, bà đỡ tủi chớ thiệt ra cũng chỉ thăm thôi, xem ra cô chẳng khá giả gì, lại có vẻ lam lũ so với trước đây. Bà thoáng chạnh lòng, đôi khi cô khóc và than thở, chừng như vai trò mẹ ghẻ của cô khá vất vả, cả ngày tất bật chuyện nhà, những chuyện xưa nay cô không hề ngó tới chứ đừng nói động tay vào. Lũ nhỏ nghịch phá như quỷ mà cô không thể nói động đến, cha nó đã dặn: đừng để bên ngoài dị nghị chuyện mẹ ghẻ con chồng, có gì chờ ông về hẳn hay; người đàn ông này quả thật già tay, cô đành ngậm đắng nuốt cay. Rồi sau, sau nữa… cô đến, nhìn con mặt cháy mày nám, bà xót, hỏi thì mới hay: ngày nghỉ, cô còn đi lên soi, lo rẫy cà luống dưa, làn da trắng trẻo mịn màng kia đã được dưỡng kỹ bằng lòng trắng trứng gà pha nước cốt chanh, giờ, nắng thấy nắng thích vậy là nắng tha hồ ăn… cứu vãn không nỗi! Vậy thì… còn đâu cái dáng trang đài, còn đâu hình ảnh cô búp bê Nhật Bản của Minh Tịnh nữa, khi mà gặp, chính nó nhìn không ra?!
Thời gian lặng lẽ trôi qua, mới đó Minh Tịnh đã là cô gái đang tuổi dậy thì. Nó thật lòng thương cô Bích của nó, ngoài những buổi chiều hai cô cháu dẫn nhau đi dạo, hóng gió trên cầu, xuống đồng Ông Cố như khi còn cô Minh ở nhà, nó còn dẫn cô đi chợ, mua vải, mua guốc… Chẳng biết nó có học đâu không, mà dám mua vải về, tự cắt, tự may áo quần để mặc, cô Bích thích lắm, vốn ngại đi tiệm, trừ khi phải may vài bộ cánh đi dạy cho tươm tất nên cô nhờ nó may cho những chiếc áo mặc nhà. Nó nhận lời, kèm câu: hư thì thôi nghe! Dĩ nhiên cô đồng ý. Vậy là từ đó, áo quần cô, đều do nó may. Nhắc tới chuyện may đồ, lại có câu chuyện buồn cười, lần đầu, may cho cô, hai cô cháu từ chợ về, cô nì nằn “may liền cho cô đi”! Nó gật đầu ngay, muốn chứng minh tài nghệ. Có điều, nó không biết đo người thật, mà chỉ đo áo để cắt áo, đo quần để cắt quần….nên nó cắt đúng y cái áo cô Bích đem qua, ngay trong chiều là xong, cô Bích vẫn luôn bên nó, thử, vừa y. Cô hí hửng ra về. Ô hô ai tai, hôm sau cô cầm áo qua, cái áo như bị teo tóp sao ấy, cô mặc chật ngang, ngắn dọc… hai cô cháu không sao hiểu nỗi?!?! Sau vỡ lẽ, do loại vải này quá rút, trước khi may không ngâm vải nên cái hậu là vậy. Cô chẳng nói gì, chỉ nhìn nó cười, chẳng nói chẳng rằng, nó tự đi chợ mua lại y vải về ngâm rồi may lại cho cô, không nói “đền” mà nói “tặng”. Kỷ niệm này cả hai cô cháu nhớ mãi.
Từng niềm vui nho nhỏ góp nhặt lại đã cho hai mẹ con Bích Ngọc cuộc sống vui vẻ, đầm ấm, họ thật sự rất hài lòng. Nghĩ cho sâu xa, thì đâu phải chỉ giàu có, hay sự hào nhoáng bên ngoài mới là hạnh phúc đâu; giàu có bà đã từng, danh vị vợ sĩ quan, bà trưởng ty cảnh sát bà cũng đã, nhưng liệu bà có thật sự hạnh phúc hay chỉ trong nỗi cô đơn, phập phồng lo sợ. Giờ, bà đã chẳng còn gì để mất, bà đã trắng tay trong cái hư ảo của cuộc đời, bà đang góp nhặt lại từng chút, từng chút một trên đôi bàn tay trắng, đó là những tình cảm buồn vui có thật, đó là sự an ủi chính mình, trong vô vàn những điều bất hạnh của thiên địa mênh mông, cái bất hạnh của bà xem ra chưa đến cùng đường, bà vẫn có những ân nhân, những người bạn mà cuộc đời đưa đến cho bà tuy có muộn, bà vẫn đang trong vòng tay yêu thương của con gái, cô không nói ra, nhưng tình thương ấy giờ là tất cả với bà, trời vẫn có cái cho bà; chỉ vậy bà thấy đủ. Chính sự an lạc trong tâm hồn mới là giá trị cuộc sống, rồi bất chợt lòng bà chùng lại, nếu dừng ở đây, nếu chỉ vậy liệu bà có quá ích kỷ không? Cần lắm, một bến đỗ cho con, nhưng, sao đây?! Có thể cô không thiết tha nhưng bà vẫn luôn mong đợi. Gần đây, cô trở nên hoạt bát, vui vẻ hơn trước, bè bạn cũng thêm đôi người, trai có, gái có… bà thầm mong trong số ấy cô sẽ chọn được cho mình một người ưng ý, thật sự yêu thương cô để nương tựa về sau, bà đang hy vọng về điều ấy!
Mùa Xuân lại về sau những ngày đông u ám. Tết nay, có thêm những chàng trai đến nhà chúc Tết, vẻ ân cần, gần gũi, bà chợt vui trong dạ, thầm van vái con chọn được mối duyên lành. Nhưng, mặc cho gió Xuân đưa đẩy, những con én kia chỉ báo tin xuân, còn mùa xuân trong lòng Bích Ngọc hình như chưa có, hay nói chính xác “lòng cô chưa mở”, thì muôn phương có về, gió cũng chỉ vờn ngoài song cửa. Mùa hè lại đến, hè này, nghe Minh Tịnh báo cô Nguyệt Minh của nó sẽ về, sau hơn hai năm lấy chồng và đi dạy tận xứ Cà Mau, cô về thăm nhà, sau đó về lại nhiệm sở và chuẩn bị sinh cháu thứ hai. Chuyện nhà Bích Ngọc qua thư từ liên lạc, nhỏ Minh Tịnh đã kể rồi, nên khi gặp nhau không ai bở ngỡ cả. Chuyện của hai người giờ không còn là chuyện “mơ trăng tưởng gió” mà đã rất là thực tế. Nhìn bạn con cái đề huề, thằng bé lại kháu khỉnh Bích Ngọc thích lắm và đôi chút chạnh lòng. Nguyệt Minh thật tình khuyên bạn nên tính chuyện tương lai, dẫu gì cũng đã 25-26 tuổi rồi, chuyện tình đầu ai cũng có, nhưng có phải ai cũng trọn ước mơ đâu! Bích Ngọc im lặng lắng nghe, nét mặt đầy vẻ ưu tư; cô nhè nhẹ thở dài tỏ thật lòng mình:
– Mày biết rồi đó, cảnh nhà tao như vậy, biết tính sao cho tròn? Nơi ăn chốn ở kể như không có, chỉ hai mẹ con nương tựa cùng nhau, má tao cũng yên phận, giờ, nếu tao thay đổi thì tính sao đây? Thương bà già lắm, ngẫm lại, bà già thật quá bất hạnh, tuổi già ngày càng chồng chất, ăn ở tạm bợ vậy, tội lắm! Lại nữa, tao đã nguyện với lòng không để má bơ vơ, thật tình tiến thối lưỡng nan, nói ra, chỉ sợ má tao tự trách đã làm con liên luỵ.
Nguyệt Minh nhìn bạn, hỏi nhanh:
– Mày đã có đối tượng?
Sau phút trầm ngâm, Bích Ngọc tỏ thật:
– Nói “Yêu” thì không hẳn, nhưng cũng có đôi chút cảm tình. Mà giờ, chờ “yêu” có lẽ sẽ không bao giờ đến mày à! Tao khó thể mở lòng yêu ai nữa, không chừng là không thể. Chỉ thấy được là được, duyên nợ có đến, đôi khi cũng do số phận.
Dứt câu, cô kèm theo tiếng thở dài, đôi mắt trở buồn đột ngột. Nguyệt Minh tiếp lời:
– Mày nói có phần đúng. Nên tỉnh táo và thực tế khi chọn tấm chồng! Thứ tình yêu lãng mạn, tha thiết tưởng như có thể chết vì nhau với cái thực tế của cuộc sống chung sau đó khác nhau xa lắm. Đó chỉ là ảo tưởng, mộng và thực luôn là hai thái cực, va chạm rồi mới thấy. Mà hai người đã hò hẹn gì chưa?
– Cũng chỉ bóng gió xa gần nhưng tao chưa dứt khoát, là bè bạn tác hợp vậy thôi. Kể như xa cũng chưa mà gần cũng chưa. Thôi, bỏ qua đi, rắc rối lắm! Tao thấy cuộc sống như hiện nay cũng hay mà, mẹ con đều cảm thấy toại nguyện, giữ vậy đi, hạ hồi phân giải. Nói chuyện của mày đi!
– Tao thì có gì để nói, an phận rồi! Lấy chồng lính cũng khá vất vả, nhưng nhiều khi cũng hay, khắc khẩu thì đỡ gây nhau, lâu lâu mới về sẽ đầm ấm hơn.
– Vậy là sao?
– Chẳng sao cả. Mày lấy chồng sẽ biết! Người ta vẫn thường khuyên: Chén trong chạn còn khua… nôm na là vậy. Giờ còn quá sớm để nói với mày, chỉ khuyên mày đừng tìm thứ tình yêu lãng mạn hão huyền, thứ nhất là tuổi không còn trẻ để mộng mơ; thứ hai, càng mơ càng vỡ mộng, ước mơ, tô vẽ thì nhiều nhưng nhận chẳng được bao nhiêu; thực tế, chỉ cần thực tế một chút, tỉnh táo một chút…
Bích Ngọc lờ mờ hiểu. Trong cách nói của Minh nghe có nhiều cay đắng; lẽ nào cô không hạnh phúc? Ngay cả với người cô đã từng chết sống để được cùng họ chung bước đường đời? Cô cảm thấy nghi nan, ngờ vực cho cái gọi là “hạnh phúc” kia, điều ấy thực sự có hay không? Nó như thế nào mà ai cũng mong cầu và luôn chúc tụng nhau? Cuộc sống vợ chồng phức tạp lắm chăng? Vậy cô có nên dấn thân vào khi mà lòng chưa mở ngỏ? Biết bao câu hỏi vây quanh, Bích Ngọc càng cảm thấy hoang mang…
Đôi bạn tranh thủ những ngày hè ngắn ngủi bên nhau tâm tình to nhỏ. Nhóc Minh Tịnh cũng hiểu chuyện, nó lỉnh đi nơi khác, giờ nó là kẻ thừa rồi. Nhưng thấp thoáng nó vẫn nghe; nghe cô Bích của nó có bạn, chuyện này không biết nên vui hay buồn đây? Thôi kệ đi, nó đang ấp ủ niềm vui mới. Ba má nó đang định xây nhà, thật ra chỉ má nó thôi; xây nhà lầu, nó sẽ có phòng riêng hẳn hoi, nó sẽ cùng cô Bích lên sân thượng hóng gió ngắm trăng mà chẳng cần dẫn nhau đi bộ… nó chiều cô thôi chứ nó lười lắm. Nó và má nó cùng giữ điều bí mật, hai mẹ con lo chôn dấu tiền, vàng ở nơi kín đáo chờ ngày khởi công. Nó giờ là chỗ dựa tin cậy của má nó; cho đến khi tiền, vàng đã đầy hộp, má nó đi mua sắt đem về chất đầy sân ba nó mới tin rằng: má nó nói thật! Niềm vui không dừng ở đó, nó quyết định mua xe, chiếc xe gắn máy của riêng nó, bằng chính tiền của nó dành dụm! Chiếc PC đầu tiên xuất hiện ở thị xã này là của nó, nó sẽ chở cô Bích của nó vi vu… cho cô tha hồ ngắm sông, ngắm lúa. Bí mật của nó chỉ nó biết, cho đến khi ba nó trợn tròn mắt khi nó phán:
– Chỉ cần ba hỏi giá, tiền bạc con lo!
Vậy là nó có xe. Khi ấy nó đã vào lớp đệ tam. Nhẹ tênh!
Khi cô Minh của nó về Cà Mau, cô Bích và nó lại thân thiết bên nhau. Nó bắt đầu chú ý, có những chiều, bà Quảng sang nhà gọi cô Bích về nói “có khách”, có những ngày chủ nhật cô Bích bận chơi nhà bạn… nhưng cô không tỏ vẻ gì là vui cả. Vậy là… chưa sao, cô vẫn chỉ vui cùng bà Ngoại và nó. Rồi cô Bích đi chơi đâu đó mấy hôm, khi về cô vui hẳn. Có lẽ, cảnh lạ đường xa đã làm tâm tình cô cởi mở, cô hay cười, rủ nó đi chợ, mua vải may thêm vài bộ áo mới, nó cắt đã quen, đường may cũng khá đẹp, cô tin và giao cho nó; cô hỏi nó:
– Có may được áo cánh cho bà Ngoại không?
Nó gật đầu quả quyết:
– Được, cháu sẽ lấy áo bà Nội cháu đo và may theo. Bà già nào cũng vậy mà!
Cô Bích nhìn nó đầy nghi hoặc, nhưng vẫn để nó cắt may. Thành quả của nó là cái áo xách ngược vạt trước, cái cổ vênh vênh… mà chẳng biết tại sao? Nó ức, xăm soi không sao hiểu nổi? Vậy là, nó ôm cái áo, lên tận xóm trên nhà dì nó, hỏi người chị họ, chữa được một lỗi, cổ áo chịu nằm xuống, chị ấy chỉ tháo ra, bấm nhẹ quanh đường nối cái nẹp với cổ áo vài vết kéo, may lại, xong, còn lỗi kia đành chịu. Nhưng bà Quảng thì vui lắm, bà hớn hở thử áo, không chút thắc mắc, còn nói:
– Áo cháu may mà, thật vừa, bà thích lắm!
Nghe xong, nó mới hỡi dạ làm sao! Có vậy chứ, cái công và tấm lòng của cháu mới là vô giá, từ ấy nó càng thương bà Ngoại hơn. Nó tự hứa, Tết sẽ may tặng bà cái áo khác, bảo đảm sẽ đẹp hơn cái này. Chắc chắn vậy.
*****
Từ hôm có chiếc xe, mỗi chiều nó rủ cô Bích đi chơi, lúc đầu cô sợ lắm, biết nó đi kiểu gì? Vì cô nhỏ giờ chỉ đi bộ, xích lô không ngồi, xe đạp không biết đi, cứ hai cái chân mà kéo! Nhưng nó cứ òn ĩ, nào là bảo đảm, nào là “một trăm phần trăm, em ơi, chiều nay, một trăm phần trăm…” nó nhại lời một bài hát, rồi nó dụ cô đủ kiểu, hứa lời hứa danh dự “nếu có gì xảy ra, nó sẽ không bao giờ rủ cô nữa”, lại còn doạ giận cô “mãi mãi” nên cô xiêu lòng. Chiều nay, vi vu lên cầu Đạo Long… leo dốc, lên cầu, gió lồng lộng thổi, mát rượi, tâm trạng nó thật không thể tả được, nó đã làm sao, luôn miệng:
– Đã chưa? Đã chưa? Cháu nói rồi, đã lắm mà không tin… cháu chạy chậm lắm rồi đó, cô tha hồ ngắm sông nghe!
Đúng vậy, cô Bích của nó đang dõi mắt về hướng cuối sông, nơi ấy, lãng đãng một bóng hình, bóng hình ấy như không hề mất, chưa bao giờ mất trong cô, chỉ là lẩn khuất đâu đó, mà một khi nó xuất hiện thì tất cả những hình bóng khác đều trở nên mờ nhạt, vô tung tích. Sau chiều ấy, cô như bị Minh Tịnh quyến rũ, nghe tiếng xe của nó là cô ra đứng đầu hiên, sẵn sàng lên xe… không biết có phải do cảm giác ngồi trên xe lướt đi trong gió quá tuyệt nên đã làm thay đổi tâm tình cô chăng? Hay là một điều gì đó thật mông lung nhưng có hấp lực rất lớn khi cô hướng mắt về nơi cuối sông, nơi sông chảy về với biển?
Rồi có một chiều, hai cô cháu vừa dừng xe, chừng như bà Quảng đang đợi, vẻ nôn nóng bà đón con gái ngay đầu thềm của dãy nhà thông báo:
– Vô nhanh, ba mày đợi lâu rồi!
Vừa quay đầu xe nhưng Minh Tịnh cũng nghe kịp; vụ gì vậy kìa? Lâu rồi, từ khi bà Ngoại và cô Bích về đây ông chừng như chưa hề đến. Vào không tiện, nó im lặng chạy về nhà nhưng thắc mắc lắm. Ông mà xuất hiện thì chỉ đem sóng gió đến mà thôi, chẳng có gì tốt đẹp đâu, mặc định là vậy. Ngay hôm sau, nó được biết, ông đến vì hôn sự của cô Bích; những tưởng ông đã quên mẹ con bà rồi. Chỉ khác, lần này, ông không phải người quyết định mà xem như “mai mối”; người ta biết mối quan hệ của ông và mẹ con cô Bích, nên đến tận nơi là nhà của ông, đánh tiếng xin được cưới cô. Tưởng ai xa lạ, lại chính là Sang, người đang theo đuổi và thường đến chơi nhà, cô Bích lại đang hờ hững mối duyên, bà Quảng xem ra ưng ý nhưng không dám ép và ông, cũng không dám ép, chỉ khuyên cô:
– Cũng gần “băm” đến nơi rồi, con gái có thì, cũng nên tính chuyện chồng con. Hai mạ con suy nghĩ, để tôi trả lời với người ta.
Lần đầu, giọng ông có vẻ ôn tồn. Bà Quảng cũng thêm:
– Má thấy nó cũng hiền hậu, chất phát, hay con đồng ý đi, người ta đã tìm đến chỗ người lớn tất thật lòng; đừng nghĩ nhiều cho má, ở đây má có nhà bác Năm mầy, có chị em chòm xóm…
Ông chợt lên tiếng, giọng ân cần và dứt khoát:
– Phần mạ bây thì không gì phải lo, bây lấy chồng, mạ bây về trên nhà ở. Trước đây còn tụi bây khác, giờ con cái đã lấy chồng thì tao tính khác.
Trước sau, Bích Ngọc vẫn không lên tiếng, cô chỉ im lặng, thỉnh thoảng nhìn ra hiên nhà, không ai biết cô đang nghĩ gì, bởi ánh mắt cô quá xa xăm và hơn ngấn nước.
Gần hai tháng sau, nhà Minh Tịnh đã được tháo dỡ xong, thợ thầy đang mở móng, đào hố trồng trụ, nó lăng xăng theo dõi, là do nó tài lanh thôi chớ có biết gì? Những chiều chở cô Bích đi chơi cũng thưa thớt vì nó nhận lệnh đi công việc cho má nó, “công việc quan trọng hơn… đi chơi”! Đó là lời má nó nói, chớ với nó chơi mới là quan trọng. Nhà cửa rất là bề bộn! Nó cũng không còn lấn cấn với suy nghĩ “sao mà cô Bích cứ nhớ mãi chú Sơn?! Chú mất tích lâu rồi; bà Nội và các cô chú, cả ba nó cũng nói “chẳng hy vọng gì nữa, thương nó vì không có được nấm mồ, không có ngày cúng giỗ” để vong linh được an ủi, ấm áp! Vậy thì cô còn chờ mong gì nữa chớ? Nó thật sự không hiểu. Ý nghĩ này nó có hỏi cô, cô chỉ đáp: Sau này, lớn cháu sẽ hiểu. Lớn là bao nhiêu lâu nữa? Phải là bao nhiêu tuổi, chớ giờ… nó không sao hiểu nổi! Trong lòng, nó chỉ thấy chú Sang gì đó, không đẹp bằng chú Sơn của nó, thú thật chú không gây ấn tượng gì, nó không có cảm tình. Chú Sơn của nó vừa đẹp trai, trắng trẻo, dáng nho nhã, hiền hậu, nụ cười của chú không rạng rỡ, ẩn chứa nét buồn nhưng lại tạo được nét duyên. Là nó nghe người lớn nói vậy, chớ khi ấy thì nó biết gì? Chỉ biết chú thương và chiều nó nhất. Có những hôm, chú và cô Bích dẫn nhau đi dạo, nó được ưu ái cho theo, khi về, nó ngủ gục, chú cõng nó trên lưng về đến nhà mà chẳng la mắng nó tiếng nào! Hôm trước, sau khi chú Sang và nó gặp nhau, cô Bích có hỏi nó:
– Cháu thấy chú Sang thế nào?!
Nó đáp ngay mà không sợ mếch lòng cô:
– Chú chẳng đẹp cô ơi! Ổng đen thui!
– Chú là lính mà cháu!
– Cũng phải, nhưng …
– Nhưng sao?
– Nhìn chú cháu thấy hơi giống ông Ngoại. Khuôn mặt hơi dài mà cằm còn nhọn nữa, đôi mắt mấy mí cũng không biết mà nó bụp bụp sao sao á; nhìn thấy có vẻ khó chịu lắm! Chỉ có cái mũi là cao hơn mũi chú Sơn thôi!
Cô Bích hơi khựng người, hỏi tiếp:
– Còn gì nữa không?
– Còn, nhưng nói cô giận sao.
– Cô không giận, thấy sao cháu nói vậy mà.
– Ổng đã đen, cao, mà còn ốm nhom, cháu nhìn giống “sợi dây da” quá đi!
Cô Bích há hốc mồm nhìn nó lạ lùng, giây sau mới cất lời:
– Cháu có so sánh gì lạ vậy? Rồi cô cười, lắc đầu chịu thua.
Hiện nay nó chỉ thắc mắc, không hiểu cô có chịu cưới không đây? Nếu cưới, chắc chắn nó mất bạn. Cô phải theo chồng chớ. Bà Ngoại cũng sẽ đi nơi khác, nó sẽ rất buồn khi xa những người bạn vong niên mà nó vô cùng yêu quý!
ThaiLy
(Còn tiếp 2 kỳ)
