Đời Sông Đời Người – Tranh (sơn dầu): MAI TÂM
(Kỳ 3)
* ĐỜI QUÁ VÔ THƯỜNG.
Trưa ấy, má nó sai mang qua bà Ngoại món “cà thị nhồi thịt” mà bà rất thích. Nó lãnh lệnh đi ngay. Cô Bích đi dạy chưa về. Bà đang lui cui thổi bếp, cái dáng bà lom khom thổi lửa, khói mù mịt, nhìn thật tội, Minh Tịnh thoáng cười khi thấy bà đang mặc chiếc áo nó may bị hư, mà, có hư đâu! Bà mặc khi ngồi, cúi người thổi lửa thì làm gì thấy thân trước bị xách lên chớ? Nghe tiếng nó, bà ngẩng lên nheo nheo nhìn Minh Tịnh, khi biết nó mang tặng món “ruột” bà vui lắm. Bà nói:
– Tội má con ghê! Nó vẫn nhớ bà thích món này, món này chỉ nhà con làm cho, chớ bà có thèm cũng chịu thôi. Cô Bích mày cũng thích lắm!
Bà cháu nói đôi câu chuyện, bà luôn miệng cười, nụ cười cực kỳ đôn hậu mà nó hiếm gặp ở người khác.
*
* *
Như mọi ngày, cô Bích đang ở nhà Minh Tịnh, thằng Bảo hớt hải chạy qua, nó gọi từ xa vì mớ gạch đá lổn nhổn:
– Cô Bích, cô Bích ơi… má cô trúng gió kìa!
Vậy là mọi người cùng chạy ra, túa về nhà cô Bích. Bà Hai lể đã có mặt, cắt lia cắt lịa…, cắt đến đâu bà nặn đến đó mà nặn lâu lắm mới thấy tí máu đen thui. Bà Quảng im lìm, Minh Tịnh cau mày nghĩ “chắc là đau lắm” mà sao bà Hai nặng tay quá vậy? Nhìn hai bàn tay to bè gần như che hết cái lưng ốm nhom của bà Ngoại, nó lo thầm. Cô Bích lo lắng không yên, mọi người xôn xao theo dõi. Thoang thoáng có nghe:
– Mấy chị em già đang ngồi chơi ở đầu thềm kia chớ đâu, tự nhiên “chỉ” ớ lên một tiếng rồi ngã ngửa, may đông người chớ một mình thì ai biết mà cứu?
– Chắc là trúng gió!
– Thì gió chớ sao, may có bà Hai lể liền chắc không sao!
– Trúng gió thì cho uống Tam Xà Đởm là hay lắm! Hay biểu con cô giáo mua cho chỉ uống liền mới hay, gió mới nhập dễ khử hơn để lâu.
Chuyện cấp cứu đã xong, bà mở mắt, nơi khoé mắt chừng như ngấn nước. Theo mọi người bàn tán và kết luận bà trúng gió, được lệnh, Minh Tịnh vội về lấy xe đi mua Tam Xà Đởm, người nhà nó về lo nấu cháo loãng. Cô Bích phải túc trực bên mẹ. Sự lo lắng lộ rõ trên nét mặt. Hầu như, đây là lần đầu tiên bà Quảng bệnh mà phải “nằm yên” trên giường, trước giờ, có cảm mạo, đau nhức gì bà cũng qua loa vài viên thuốc cảm, cùng lắm thêm nồi nước xông là đâu lại vào đấy. Lần này cô Bích mới thật sự lo lắng, hoang mang. Cô nhờ nhắn tin cho Hoàng Ngọc, người nhà hẹn khi nào “má về sẽ nói, vì bả đang ở trên soi”! Tối, cô Hoàng Ngọc xuống thăm rồi về.
Sáng hôm sau, cô Bích Ngọc xin trường nghỉ dạy ở nhà chăm mẹ. Bếp nhà lạnh tanh. Cô tranh thủ giặt cho mẹ cái áo, cơm nước ăn tạm bên nhà Minh Tịnh, bà Quảng xem ra chỉ ăn cháo thật loãng, bà nói mệt, rất mệt… nhưng lại không chịu đi bác sĩ, cứ nói:
– Không sao, không sao… chiều má khoẻ!
Chiều rồi cũng xuống, nhưng má lại không khoẻ, Bích Ngọc hoảng kinh hồn vía, khi thấy người mẹ cứng đờ, miệng ú ớ, mắt chỉ nhìn một chỗ, cô lao ra cửa, đứng ngay hiên nhà kêu cứu, cô như gà mắc tóc, quay ra gọi, quay vào khóc, mọi người đổ xô đến, gần như cả nhà Minh Tịnh đổ qua. Bà Quảng, đôi mắt lạc thần, da trắng bệt chẳng còn chút sinh khí, một bàn tay đưa lên chới với, đôi mắt ấy chợt mở to nhưng hoang mang lơ láo, rồi như đang tìm kiếm, miệng ú ớ… Kinh nghiệm người già rất nhạy, mọi người chợt im lặng, ấn tay cô Bích vào tay bà, cô đang tái xanh mặt, tay chân run lẩy bẩy, há hốc miệng mà chẳng thốt được lời nào, trân trối nhìn mẹ; rồi bà nói, nói nhiều lắm, bà ráng nói nhưng âm thanh chỉ là những tiếng ú ớ liền nhau, giọng khàn đục rồi nhỏ dần, nhỏ dần, để cuối cùng tắt lịm sau khi hắt ra hơi thở nhẹ, hơi thở cuối cùng của một kiếp người; bàn tay bà cũng đã rời khỏi tay con gái, rời xa vĩnh viễn. Bà đã buông xuôi tất cả sự đời, mặc cho thế sự đảo điên, mặc cho tình người tráo trở, hình ảnh cuối cùng bà mang theo là đứa con gái đơn côi, hiếu hạnh. Bà đã qua bên kia bờ sinh tử, còn nó, vẫn chưa có bến đỗ cho phần đời tiếp theo, có lẽ vì vậy nên phảng phất trên mặt bà vẫn thấp thoáng sự nuối tiếc chờ mong. Cô Bích chỉ kịp thốt lên hai tiếng “Má ơi” rồi ngã quỵ.
Ngay sau đó, ông Quảng và Hoàng Ngọc đến. Ông rất bình tĩnh, điều khiển mọi việc, chỉ cô Hoàng Ngọc là than khóc lu loa, Bích Ngọc hoàn toàn im lặng, thỉnh thoảng nấc nghẹn sau tiếng gọi “má ơi”, tiếng gọi thật bi thương, kèm theo là những dòng nước mắt lặng lẽ tuôn rơi. Cô lẳng lặng bước vào mở cánh tủ nhỏ, lấy ra số tiền đã dành dụm, đặt trên bàn, nói nhỏ với chị:
– Chị cầm lo cho má!
Việc coi ngày giờ tẩm liệm hình như đã được ông Quảng lo rồi; ông là người vô cùng tỉnh táo và đầy bản lãnh. Trong cảnh tang tóc này, ông vẫn tính toán đâu vào đấy. Ngay trong chiều, xem ngày giờ chôn cất vợ, ông không quên xem luôn ngày “vu quy” cho Bích Ngọc! Cưới chạy tang! Chạy sao đây khi ngay hôm sau là ngày di quan, những ngày sau không tốt. Vậy là, ông chủ động nói chuyện với nhà trai, ngay bên chân bà Quảng. Sáng mai, sẽ cho Bích Ngọc và chồng “lạy mẹ”, sau tang lễ, cô sẽ chính thức theo chồng, bà Quảng sẽ được an vị trên nhà ông. Kể như đã vẹn toàn! Hai chị em nhìn nhau, im lặng mà nước mắt chứa chan, im lặng là bằng lòng; nhưng liệu không bằng lòng thì có cách nào khác? Nhất thời không ai nghĩ ra, Bích Ngọc càng không nghĩ được, trong lòng cô chỉ mỗi một lời than: Con hứa sẽ không để má cút côi, giờ chính con lại là người côi cút! Má ơi, sao đây… bao nhiêu năm má con mình bên nhau giờ… sao đây? Sao đây má ơi?! …
Bên nhà, Minh Tịnh như ngồi trên đống lửa. Chạng vạng hôm qua, không nhớ nó vội chuyện gì, từ nhà cô Bích đi về, nó lọt thỏm xuống cái hố của nhà nó đang chuẩn bị trồng trụ, tai ác là cái chân nó bị trặt, ngay mắc cá, đau lắm, nó kêu mọi người cứu nó, đưa lên rồi mà bước không được, vậy là phải cõng nó vào nhà, phải đi mời chú Tư Ké xóm trên đến sửa, chú lắc lắc cổ chân, đẩy vào, giật ra một cái thật mạnh, Minh Tịnh như thấy cả chín Ông Trời; sau đó, theo lời chú Ké, cả nhà nháo nhào mua các thứ, lạ, cứ mỗi lần nó bị gì là cả nhà chạy tối tăm mặt mũi, cử người đi mua gừng, mua dấm, mua băng, rồi giã, rồi xào trên bếp, khi ấy mới bó chân cho nó. Trời ơi, hỗi nãy có sao đâu, giờ nó sưng bắt ớn! Vậy là nó yên vị trên bộ phản; trong khi bên nhà cô Bích như vậy… nó thương cô, nó thương bà Ngoại hiền hậu của nó. Nó khóc rấm rứt. Có tiếng nói ở dưới nhà:
– May nó tự té chớ ai mà làm chắc chết với bả. Khóc nãy giờ đó.
Biết chắc là mấy anh chị, tức mình, nó đang tìm chỗ gỡ nên nói vọng xuống:
– Không mắc mớ gì mấy người nghe!
Im lặng! Đúng vậy, giờ này ai mà chọc nó là kể như trúng số, thua me nó sẽ gỡ bài cào! Nhưng… bên nhà, cô Bích ra sao rồi? Nước mắt nó lại chảy… Nó lắng nghe, thường, khi nhà có đám tang là có ban nhạc đến, tiếng đờn cò, tiếng nhạc sẽ vang lên có khi suốt đêm nhưng nó cố lắng nghe sao chẳng có?! Bên đó cũng im lặng, có vẻ bất thường. Sáng sớm, nó đặt thử bàn chân xuống đất nhưng đau quá, nó muốn qua với cô Bích, chắc chắn cô mong và cần nó lắm; lòng nó xốn xang, nôn nóng quá! Làm sao đây? Vừa khi bà Nội nó lên tiếng:
– Không đi được nghe chưa! Phải ở yên ba ngày. Chú Tư dặn rồi, chỗ mắt cá khó lành lắm.
Nhưng ruột gan nó cồn cào. Lâu sau, nó nghe có tiếng trống thưa thớt vang lên. Cơm trưa, cô Bảy từ bên đám tang về, đưa cho nó một gói giấy, gói rất cẩn thận, nói nhỏ:
– Cô Ngọc Em gởi, dặn con cất giùm!
Vừa nói, cô vừa quay mặt đi! Cô khóc. Cũng phải thôi, các cô vẫn thân và thương nhau lắm, thương từ khi còn nhỏ lận mà. Rồi, cô lại ngồi xuống bên bà Năm, nói tiếp:
– Qua thấy đứt ruột quá! Tội nó gì đâu! Thiệt cầm lòng không đậu! Đám tang gì mà lạnh lẽo quá!
Bà Năm thở dài:
– Bà Quảng kể như yên phận, còn phận nó tao sợ rồi chẳng ra chi!
Khoảng hơn 1g trưa, có tiếng trống, tiếng hô… Mọi người trong nhà cùng ra ngõ sau; nó tự hiểu đã đến lúc di quan, vậy là từ đây nó không còn thấy bà Ngoại nữa; cái khi quan trọng như vầy mà nó phải ngồi yên trong nhà, cái câu “nghĩa tử nghĩa tận” xem ra nó chẳng tròn, vậy là nó khóc. Cả chiều và tối hôm đó, nó muốn qua với cô Bích lắm, nhưng phải chịu thua thôi. Sau, nó mới biết; có qua được thì cô cũng đâu còn ở bên ấy nữa! Chuyện rằng:
“Sau khi đưa mẹ về nơi an nghỉ cuối cùng, cô lả người ngất lịm, mọi người phải dìu cô ra xe; chiếc xe ấy đưa cô và chị Hoàng Ngọc về thẳng nhà ba cô, nơi lần đầu cô bước đến lại trong cảnh tóc tang; sau lễ an vị, chiếc va li nhỏ của cô đã được chuẩn bị vội vàng sáng nay được đưa ra đặt ngay chiếu lạy, xong lễ với người đã khuất, chồng cô cùng cô lạy mẹ lần cuối; cô cởi bỏ tang phục, gởi lại chỗ thờ, chị Hoàng Ngọc tay xách vali, tay kia nắm tay em đưa ra cổng; vậy là cô theo chồng trong lặng lẽ nhưng thật nhiều nước mắt, người ta nói “cô dâu khóc sẽ là người vợ cười”, nhưng, cô dâu khóc và ai cũng khóc thì nhân duyên này là phúc hay đau khổ? Chuyện cũng của vô thường! Cô dâu theo chồng, không rượu hồng pháo đỏ, không áo cô dâu, không hoa không nhẫn, không gì cả ngay lời chúc mừng “trăm năm hạnh phúc” hầu như cũng chẳng ai nhớ! Tiễn cô chỉ là những dòng nước mắt của chính cô và của chị Hoàng Ngọc, xem ra, đây là người thân duy nhất còn lại trên đời. Cô dâu lặng lẽ ngồi sau lưng chú rể trên chiếc Honda 67, khi vẫn còn ngại ngùng một vòng tay ôm.
* GIA TÀI CỦA MẸ.
Đường về nhà chồng khá xa. Qua làn nước mắt nhạt nhoà, Bích Ngọc loáng thoáng thấy mình đi hết những con đường xóm, ra phố, qua hết dãy phố vốn là quốc lộ lại qua cua, rẽ vào đường tỉnh lộ, qua, qua mấy ngã tư Sang mới qua đường vào ngõ hẹp, thêm quãng khá sâu. Xe dừng. Cô ngại ngùng, bước xuống, lúng túng xách va li từ tay Sang, đứng nép một bên chờ chồng dựng xe rồi cùng vào nhà. Trống ngực cô đánh liên hồi kỳ trận. Nhà im ắng quá!
Ra đón cô là một phụ nữ chắc hơn cô vài tuổi, nhưng khá già dặn. Chị ấy nói:
– Vô chào má đi, má trong nhà kìa! Má hơi nặng tai nghe.
Sang cũng kịp nói nhanh:
– Đây là chị Năm. Vợ tui đó chị.
Bích Ngọc kịp cất tiếng chào cũng vừa ứa nước mắt:
– Chào chị…
Chưa bước qua bậc cửa, Bích Ngọc đã nhìn thấy mẹ chồng ngồi ngay ngắn ở bộ bàn ghế giữa nhà. Bà trạc tuổi má cô, nhưng nét sắc sảo hơn nhiều, nhất là đôi mắt bà sáng quắc, chăm chú nhìn cô đầy soi mói, mặc dù Bích Ngọc cúi thấp đầu nhưng cái cảm giác “bị nhìn” thật rõ, cô lí nhí:
– Dạ, con chào bác.
– Chào má Ngọc à!
Sang đứng bên nhắc nhở. Bích Ngọc lập lại:
– Dạ, con chào má.
Cùng câu nói là sự tủi thân cao độ dâng trào, cô lại nghẹn ngào rơi nước mắt.
Bà hắng giọng dường như để thị uy:
– Phải! Thôi, vào nhà đi, ngày mai nói chuyện nhiều. Thằng Sang dẫn nó vào phòng cất đồ, con Năm chỉ cho nó bếp núc… lo bữa chiều. Chuyện khác biết sau.
Bích Ngọc lặng lẽ xoay người theo bước chân chồng. Giọng chị Năm đon đả:
– Ngọc vào phòng cất vali, nghỉ ngơi đi, chút ra ăn cơm. Tui …
Câu nói chưa dứt, có tiếng gõ thật lớn, chừng như tiếng của chiếc gậy đập vào ghế và giọng nói the thé vang lên:
– Châu Ngọc nào ở đây? Nó lấy thằng Bảy thì “kiêu” là thím Bảy! Ngọc với ngà…
Ba người nhìn nhau, im lặng. Bích Ngọc sững người!
Vào phòng tân hôn, cảm giác lạnh lẽo xâm chiếm. Có lẽ Bích Ngọc chưa quen với không khí nhà vườn, là do ngọn gió chiều mới lùa qua khiến cô thấy lạnh, hay là cô rùng mình vì câu nói vừa nghe? Cô lại khóc. Ghê quá, màn dạo đầu này thật kinh khủng. Căn phòng đủ kê một chiếc giường, một chiếc tủ nhỏ, tất cả sát vách, lối đi còn lại chỉ tầm một bước chân là đụng luôn vách. Đặt vali xuống, cô quay ra tìm chị Năm, cô không dám ngồi lâu trong phòng, phải ra ngoài hoặc tìm việc gì đó để làm, cô cảm thấy nên như vậy. Bữa cơm chiều thật lạ lẫm, cô chỉ cúi đầu, qua loa cho xong bữa; nỗi buồn và mệt mỏi xâm chiếm, cô cảm thấy toàn thân rời rã, nhưng cũng phải làm gì đó, cô bưng mâm chén xuống bếp nhưng chị Năm nói:
– Thím bưng luôn ra giếng, để đó rồi vào nghỉ, lo gì làm, sau này sợ thím làm không hết thôi. Giờ đi nghỉ đi!
Nghe vậy, nhưng cô vẫn ngồi xuống cùng chị Năm. Cái câu “Quen nhà mạ lạ nhà chồng” giờ cô mới thấm! Nỗi âu lo thật đầy đặn trong cô.
Cô khá mệt, ước gì được ngả lưng, nhưng không lẽ lại vào phòng, vào cái nơi xa lạ ấy? Loay hoay mãi lúc lâu, có tiếng Sang gọi vọng ra:
– Ngọc ơi! Vào nghỉ…
– Lại ngọc với vàng!
Là giọng của má chồng cô. Thật là khổ, khổ vì cái tên “cha sanh mẹ đẻ”! Cô cảm thấy thật tủi thân và phiền lòng. Sang an ủi cô:
– Má hơi khó tính, lại ở quê, cả nhà lam lũ với ruộng vườn, soi rẫy nên không thích những cái tên “hoa lá cành”. Từ nay, cứ thứ mà gọi nghe!
Bích Ngọc im lặng; cô loay hoay mở vali soạn áo quần ra. Gia tài cô chỉ là những bộ áo dài, áo ngắn thường dùng, vài quyển sách…, thứ quý hiếm nhất của cô hiện nay mà có lẽ mãi mãi về sau chỉ là: Tấm ảnh Đức Quán Thế Âm Bồ Tát và di vật duy nhất của mẹ: chiếc áo cánh bà mặc hôm chiều cuối cùng được cô đem giặt và phơi. Nhớ đến đây, hai hàng nước mắt chảy dài… cô nhớ lại, hầu như chưa bao giờ má cô lại để quần áo ngoài dây phơi qua chiều, qua tối; chỉ có lần này, má bệnh, không kịp đem vào, áo vẫn ở ngoài dây phơi qua đêm, vì vậy mới còn lại đến sáng và nó trở thành vật kỷ niệm duy nhất cô giữ được. Nó nghiễm nhiên trở thành thứ tài sản vô giá, thật gần gũi của má cô còn lại bên cô. Sự mệt mỏi, tủi buồn đã đưa cô vào giấc ngủ khá bình yên.
* CŨNG CỐ MÀ QUÊN.
Ba hôm đã trôi qua, Minh Tịnh bồn chồn chờ đợi, nó ghiền cô Bích rồi hay sao ấy! Hôm nay, chân đỡ nhiều rồi, nó muốn tìm ngay cô Bích. Chiếc gói cô gửi nó giữ giùm vẫn còn nguyên, tò mò nhưng nó vẫn giữ “nguyên trạng”. Giờ, cần gặp cô để hỏi, nhưng cô đã theo chồng, biết đâu mà kiếm? Nó tự giận mình, giá khi ấy, nó đừng kỳ thị chú Sang, lân la trò chuyện thì giờ đã biết nhà mà tới. Sao đây? Rồi chợt nhớ: sao mình không đón cô ở trường học, nơi cô dạy? Thiệt ngu gì đâu! Vậy là hôm sau, ngay cái hôm nó được tự mình đi học, Minh Tịnh me ngay cổng trường hóng cô, không gặp! Thất vọng và hoang mang, hỏng lẽ lấy chồng xong cô bỏ dạy? Không hiểu, mấy hôm sau, đón nữa, không có! Nó chận ngay một cô giáo hỏi thăm: à hoá ra, cô về bằng cổng sau! Minh Tịnh vù xe ra và thấp thoáng thấy cô từ xa… Cô cháu gặp nhau, mừng mừng tủi tủi, ôi chỉ mươi ngày mà sao nao lòng đến vậy? Minh Tịnh nói cô ngồi lên xe chở cô về nhà. Nó thắc mắc lắm, mới mấy hôm mà nhìn thần sắc cô Bích xấu quá, nét mặt buồn hiu, đôi mắt thâm quầng trũng sâu, da dẻ chẳng chút sinh khí; thường thì cô cũng chẳng chưng diện như chị Hoàng Ngọc nhưng vẫn có tí môi son, má hồng, giờ sao mà … thảm quá! Cô hơi lúng túng khi Minh Tịnh đòi chở cô về nhà. Cô vừa yên vị sau lưng, Minh Tịnh hỏi ngay:
– Đi hướng nào vậy cô?
– Con chạy lên theo đường này!
Vừa rồ ga nó vừa hỏi nhanh:
– Hôm trước, cô Bảy đưa cho cháu một gói giấy, nói cô gửi cất giùm, vậy giờ cháu đưa cô được chưa?
Bằng chất giọng hớt hải, cô Bích đáp nhanh:
– Không, đừng trả lại cho cô làm gì! Con về, đem đốt hết giùm cô.
Minh Tịnh lạ lắm, nhưng không tiện hỏi, thầm nghĩ: biểu đốt thì mình đốt, chẳng biết là thứ gì, nhưng cô ấy biểu đốt mà giọng sao buồn hiu vậy? Từ sau lưng, cô Bích nói tiếp:
– Con đừng cho ai biết nghe; đừng nhắc lại chuyện này nữa nghe, với bất cứ ai. Đưa cô đến nhà, con dừng ngoài ngõ thôi nghe, đừng đưa cô vào sân nhà chi. Con về kẻo nắng, ở nhà trông.
Lạ ghê! Sao cô có nhiều thứ “đừng” đến vậy hỏng biết? Đã đến cổng lại dặn không vào nhà? Thôi, không sao, biết cổng nhà thì lần sau mình lại đến chơi, lo gì! Đường đi khá xa, nắng gắt rồi, nó chợt giật mình khi nghĩ: nếu không có mình chở thì cô đi bộ sao? Xa lắc, xa lơ! Đi bộ chừng nào mới đến nhà? Trời lại nắng muốn cháy da. Nó liền hỏi:
– Ủa, cô đi dạy bằng gì?
– Đó giờ cô đi bộ chớ có đi bằng gì đâu?
– Mà giờ xa lắc, nãy giờ chưa tới nhà, lại nắng nữa… mà sao chú không chở cô?
– Chú về đơn vị rồi!
Câu trả lời vừa dứt, cùng lúc cô Bích đã vội kêu lên:
– Đến nhà rồi. Cháu cho cô xuống đi, xuống đây cũng được.
– Nhà đâu?
– Bên kia đường.
Nhìn qua, Minh Tịnh thấy từ cổng vào nhà khá xa, nó đánh tay lái qua đường, định chạy luôn vào nhà, nhưng cô Bích níu chặt hông nó, rối rít:
– Dừng, dừng đi Tịnh, bỏ cô ở ngoài cổng đi!
Nó vội thắng xe, quá cổng một tí, thắng này nó vậy không giống thắng 67, hay Cup 50…, “thắng” phải “lết” thêm một chút mới chịu dừng. Cô cháu ngắn gọn chào nhau.
Từ cổng nhà cô Bích về, nó suy nghĩ thật nhiều về thái độ của cô, có gì đó không bình thường. Chắc hẳn cô có điều muốn dấu hoặc “sợ”, sợ chuyện gì hoặc sợ ai Minh Tịnh nhất thời chưa nghĩ ra, nhưng chắc chắn nó phải biết, vấn đề là sớm hay muộn và có giúp được gì cho cô không? Vì theo như bà Nội nói thì: Giờ xem ra cô chỉ một thân một mình, sướng khổ gì cũng cắn răng mà chịu chớ kêu réo được ai?! Nhà nớ (đó; ý chỉ nhà chồng cô) nghe đông anh chị em lắm! Tội!
Ngay tối đó, nó thực hiện lời hứa với cô: đốt cái gói giấy! Vì phải “kín đáo” nên chỉ có một nơi duy nhất là sân thượng sau nhà bà Nội, nơi cô Bích và cô Nguyệt Minh thường ra tâm sự. Nó nhè nhẹ mở cửa định bước ra, nhưng thoáng lạnh sống lưng, rụt ngay vào! Nó không thể, đúng hơn là không dám ra đó một mình khi trời đã sụp tối; ban ngày còn miễn cưỡng, chứ giờ này… nhất là khi cánh cửa sổ nhà kia mở. Đó là cánh cửa từ căn lầu của nhà cũ cô Bích. Sợ lắm! Chắc phải để chiều mai hoặc sáng, trưa mai thôi, miễn đừng cho ai thấy là được! Căn nhà đó, đến nay đã thay hai chủ, từ chủ đầu tiên, nó đã sợ “khung cửa sổ” đó rồi! Nhà có ma, điều đó xưa rồi, ai cũng biết; chủ mới về ở, nhà rất mộ Phật nên vì vậy họ yên tâm, kinh kệ từng đêm! Ở chưa được nửa năm, cô con gái lớn tự nhiên phát khùng, cả ngày cứ lẩn quẩn vào ra, lớ ngớ, ban đầu còn quét nhà, quét sân, sau chẳng biết gì nữa, cứ ra cửa bếp bên hông nhà, đứng tựa lưng cười khanh khách, lại chõ mặt xuống nhà Minh Tịnh, từ đó muốn ra đường nó phải chờ cô ta đi khuất; tưởng bệnh chỉ là bệnh thần kinh, cả nhà lo chữa chạy, cô chị chưa khỏi thì cô em… điên tiếp, điên thiệt luôn, cô này lại không ra đường, cứ loanh quanh trên lầu, tay ôm cái gối, dạo vòng vòng cả nhà chóng mặt với cổ, la thì cô chui xuống gầm giường trốn kỹ, kéo ra, thì lại ôm gối, trên tay lúc nào cũng ôm cái gối, ra salon ngồi khóc như cha chết; miệng phải có gì đó để ăn, cô ăn hầu như liên tục, không có gì nhai thì cô khóc; tối đi ngủ sớm, nhưng sau 9 giờ đêm là xù tóc đi khắp lầu, hình như với cô đêm là ngày và ngày là đêm, cô không phân biệt được! Hôm ấy, mới chập choạng tối, ai biết đẩu là đâu, không nhớ vì chuyện gì, Minh Tịnh bước ra sân thượng, bất chợt nhìn lên khung cửa sổ xưa nay vẫn đóng kín; trời ơi, cánh cửa nhỏ mở toang, một cái đầu xù ló ra, khuôn mặt tròn vạnh, trắng xanh với đôi mắt tròn xoe vô hồn nhìn chăm chú sang, cô nhe đôi hàm răng vàng ố, rồi cất tiếng cười lanh lãnh, cười rũ rượi… Minh Tịnh đóng mạnh cửa lui vào mà người lạnh toát, tay chân rụng rời. Từ đó, nó chẳng dám ra một mình; hôm nay vì lời hứa với cô Bích nó sẽ cố nhưng không phải là ban đêm, và dù nhà ấy đã đổi chủ! Kỷ vật cần tiêu huỷ của cô Bích là những bức thư tình, thư của Chú Sơn; có lẽ cô muốn quên đi dĩ vãng, quên mối tình đầu để toàn tâm toàn ý cho cuộc sống mới, nơi ấy cô sẽ trọn lòng làm vợ với đầy đủ sự tin yêu của chồng và tự tin ở chính mình. Minh Tịnh hoàn thành lời hứa với Bích Ngọc nhưng không thể không kể cho cô Nguyệt Minh về tình hình cô Bích, vậy là nó viết thư kể về những hoài nghi trong lòng lại dấu biệt chuyện “đốt tình thơ”.
* GIANG SƠN NHÀ CHỒNG.
Bích Ngọc hầu như chưa quen với khoảng sân quá rộng, với chái bếp thấp lè tè, với chuyện nấu ăn bằng củi, với chuyện nước phải xách lên từ giếng và nhiều chuyện khác mà người chị dâu hướng dẫn, cô sợ nhất là nhóm lửa, hình ảnh má cô lui cui, cầm cái ống tròn thổi phù phù giờ là chính cô, khói cay mù mịt, nước mắt đầm đìa… cô khóc hay do khói, chỉ mình cô biết! Chuyện nhà còn có chỗ để thở, sự tai ác của mẹ chồng mới thật là kinh khủng! Hôm ấy, sau khi về ra mắt và cả nhập gia, ba hôm sau, có cuộc họp gia đình. Đến lúc ấy, cô mới gặp tất cả chú, bác, cô, dì, cậu, mợ, anh chị em nhà chồng, đông lắm, chỉ cúi chào là chính, sao mà dám nhìn tường tận, mà có nhìn chắc gì cô nhớ! So với cảnh đơn chiếc của mình, nhà chồng có cả “binh đoàn”. Cô chỉ thấp thoáng hiểu rằng:
– Vợ chồng thím là con Út. Người ta nói: Giàu Út ăn khó Út chịu. Nên từ nay, giao tất cả phần thừa hưởng lại cho chú Bảy, nhà cửa, vườn ruộng ở đây là của chú. Mẹ thương chú nhất, nên mẹ quyết định ở với chú thím. Tháng sau, chú thím Năm sẽ ra riêng, thím Bảy tập cho quen mọi việc rồi nhận giang sơn này!
Trong đại gia đình đó, hầu như ai cũng ngán vị Hoàng Thái Hậu kia; giao cho ai cũng được miễn không phải là họ, cả con gái cả con dâu! Chỉ chị Năm là tỏ lòng thương và thường nhìn Bích Ngọc bằng tất cả sự ái ngại, chị tận tâm hướng dẫn cho Bích Ngọc công việc nhà, nhất là tính cách của bà gia. Chị ngắn gọn:
– Thím à, tui không nói nhiều mà nói cũng không hết được đâu, chỉ biết là thím sẽ rất khổ, cố chịu đựng nghe. Thấy chỉ mỗi việc chợ búa cơm nước đã mệt lắm rồi, thím còn đi dạy nữa. Hôm rày, nhóm lửa cũng chưa được… thiệt tình!
Bích Ngọc chỉ còn biết im lặng. Ở nhà mười ngày, Sang lại phải về đơn vị. Thím Bảy quá chông chênh trong ngôi nhà xa lạ và cái giang sơn này; bất giác thím rùng mình, kinh sợ.
Thực hiện xong lời hứa với cô Bích, Minh Tịnh lại tìm đến trường đón cô, giờ học của nó và giờ tan lớp của cô không trùng nên cũng không dễ gặp. Thấy dáng cô từ xa, nó chạy xe đến, hối cô leo lên miệng tía lia:
– Lên đi cô, cháu chở cô về luôn!
Cô vừa yên vị, vừa phóng xe lao đi nó vừa thao thao hỏi như sợ không kịp giờ:
– Cháu đốt hết thơ rồi, tro cho bay theo gió luôn, phi tang rồi, không ai biết đâu nghe! Nè, cháu muốn vào nhà chú Sang chơi có được không? Cháu đến vào buổi chiều, sau 5g.
Cô hơi ngần ngừ rồi đáp:
– Khoan đã cháu, từ từ hẳn hay!
Nó vốn “hiếu động”, rất ghét sự đợi chờ, úp úp mở mở, vừa hỏi vừa nói:
– Cô sợ chuyện gì hở? Hay muốn giấu chuyện gì?
Lâu sau, cô Bích mới từ từ nói:
– Cô còn lo cơm nước, còn đi ra rẫy, với lại chưa biết ý người ta, cô sợ lắm!
Con nhỏ lau chau:
– Sao cô lo nhiều việc vậy? Mà sao phải sợ quá vậy? Con cháu, người quen đến thăm nhà có gì mà phải sợ? Không lẽ cô lấy chồng là bỏ hết thân quen sao?
Cô im lặng. Nó thừa thắng xông lên:
– Sao cô không nói với chú xem chú sắp xếp ra sao?
Chừng như cô cũng cần tâm sự cái mớ ngổn ngang trong lòng, cho dù con nhỏ này còn quá nhỏ:
– Cũng phải từ từ cháu à! Giờ cô đang lo là: giao cho cô nhà cửa, ruộng vườn gì gì đó nữa, họ còn nói “giàu út ăn khó út chịu”, má chú thương chú chỉ ở với chú, mà chú là lính tráng, đi hoài, nên chuyện chăm sóc má chú là bổn phận cô rồi, còn chuyện ruộng vườn cô có biết gì? Hôm còn ở nhà, chú dẫn cô đi thăm cho biết, rồi dặn cô, chiều chiều ra rẫy cho quen, ruộng thì từ từ tính sau, nên cô phải lo! Cháu đến sợ không gặp cô, bà già khó lắm, cô sợ…
À, hiểu rồi. Như vậy gọi là: giang sơn nhà chồng đây?! Trong đầu Minh Tịnh thấy có gì đó không ổn, nhưng chưa rõ là gì? Nó chỉ hỏi:
– Nhà chú đông không?
– Bảy anh chị em, chú là út, bà con nội ngoại thì nhiều lắm… thấy là đã khớp rồi.
Minh Tịnh nói nhanh:
– Nhưng cô đừng tỏ ra mình khớp, họ sẽ ăn hiếp! Cái gì được thì cô nhận, cái gì không được thì không nhận, cứ im là nhận, sau không lo được họ trách, mà quen vậy họ sẽ ăn hiếp mình…
– Trời… sao dám cháu?!
Nó quả quyết:
– Cô phải “dám”! Cháu sẽ đến chơi, sẽ chở cô Hoàng Ngọc tới chơi, cháu rủ cả cô Bảy nữa, vài lần như vậy để họ biết cô cũng có bà con, quen biết chớ không họ sẽ ăn hiếp vì thấy cô chỉ có một mình. Không lo cho má chú thì không được nhưng thêm ruộng vườn cô sẽ không lo nổi, phải có cách gì đó chớ.
Nó nghe nó nóng. Mà con nhỏ này xưa giờ không chịu được cảnh người nó thương, nó quý bị ức hiếp. Chưa xong câu chuyện, đã thấy cửa ngõ từ xa, nó lo xi- nhan, qua đường rồi chia tay. Ngay chiều đó, nó đem “cục tức” kể cho cả nhà nghe, và viết thơ cho cô Minh. Trong lòng vừa lo, vừa thương cho cô Bích mà chưa nghĩ được sẽ làm gì? Nó đâm ra bực bội…
Loay hoay, Bích Ngọc đã theo chồng được gần tháng. Gia đình chị Năm đã bắt đầu thu vén để ra riêng; chị cũng đã hướng dẫn cho thím Bảy những điều cần biết trong nhà, chị còn chu đáo lo cho thím một đống củi lượm từ cây trong vườn nhà, mua thêm một số củi lớn và anh Năm cũng chẻ giúp rồi. Nhìn vẻ nôn nao của anh chị mà thím Bảy não lòng, cái vẻ của người trút được gánh nặng “ngàn cân”, tự nhìn lại, chính mình là người đang “lãnh nạn”, thím Bảy quả thật bất an! Mấy chiều nay, chị hay kéo thím Bảy ra sau bếp, cái nơi chị yên tâm rằng: chẳng bao giờ “bả” ra, tui dặn thím nè…, vậy rồi chị kể, khi thì:
– Muốn chửi mình, bà muốn gì cứ nói, dù mình chẳng hề làm, chẳng hề nói, nếu có ai làm chứng, hoặc can thì bà tự nói “tui điếc”! Khi thì…
– Một ngày, thím phải nấu ba bữa cơm nghe. Tại sáng thím đi dạy nên không biết, sau này dậy sớm nấu, rồi dọn lên chõng tre, mời má, khi nào bà nói “tui nghe rồi” hay “biết” hay “để đó” mới đi nghe, không là cơm nguội “bả” chữi, trách “chẳng ai nói gì sao tui dám ăn?, nói “có mời” thì lại “tui điếc” mấy người nói to giùm chút, nhưng nếu nói to, thì “cho bữa cơm nhiếc mắng tui”, rồi con cháu ai qua, bả cũng kể, lúc đầu họ còn tin, nhưng sau ai cũng biết, có điều thím là dâu mới phải dè chừng. Khi thì…
– Má không ăn thịt, không ăn béo, không ăn dầu nghe! Cá thím kho phải mặn, ăn ớt, không ăn tiêu. Nấu canh thì chỉ lạt hơn kho, không sẽ “bà ăn đi, tui không ăn như mọi”… Còn nữa, phòng ngủ của vợ chồng thím chung vách với má, tốt nhất đừng bàn bạc chuyện gì, má nói điếc, nói to không nghe nhưng nói nhỏ thì… không mẻ tiếng nào đâu!
Nghe hồi, thím Bảy bùng tai chỉ muốn “bỏ” gia nương này mà chạy… và chỉ ba hôm nữa thôi, thím phải gánh lấy trọng trách này! Thật là mệt mỏi, thật là hoang mang… và thím Bảy chực khóc. Đêm ấy, thím chỉ biết Niệm Phật cầu sự an lành. Trước ngày gia đình chị Năm dọn đi, Sang về. Cô Bích mừng lắm, giờ chồng là chỗ dựa duy nhất của cô, tuy rằng, tận sâu trong tâm thức cô vẫn cảm thấy sự chông chênh, trống vắng và vô cùng xa cách, hình như hai người chưa thật sự hiểu nhau, nó cứ nhàn nhạt… cảm giác thật khó tả nhưng cô không thể “đọc tên” nó là gì? Có lẽ, vợ chồng còn quá mới mẻ chăng? Hoặc là… cô tự hỏi nhưng không tự trả lời mình. Cô có ý chờ, chờ xem khi biết gia đình anh chị Năm ra riêng trong nay mai, chồng sẽ có thái độ ra sao? Rồi nhân đó, cô sẽ nói thật “mình không gánh vác nổi chuyện ruộng vườn”, cô còn đi dạy học, trường lại khá xa.
Sáng ấy, sau khi phụ chị Năm dọn cơm sáng cho má chồng, cô được Sang chở đi dạy; ngồi sau lưng chồng, cô vẫn còn e thẹn lắm! Trước khi vào trường, Sang hỏi:
– Mấy giờ tan trường, biết để đón!
– 11g!
Chỉ vậy. Ngắn gọn như “nhà binh”! Ồ, ai biểu mình cưới lính làm chồng, cô thầm nghĩ khi vào lớp. Trưa ấy, Minh Tịnh lại đón cô ở cổng, vậy là nó và chú Sang gặp nhau. Sau màn chào hỏi, nó tỏ ra thân thiết, nói chuyện huyên thuyên, nó quyết tâm thâm nhập, nên nó tự cầu thân, một khi nó muốn cầu thân thì chẳng ai có thể lơ là! Chú đon đả mời nó đến nhà chơi, nó gật đầu hẹn:
– Chiều mai chú nghe!
Chú cười:
– Ừ, chiều mai, chiều ngày kia chú về đơn vị rồi!
Từ cổng trường bước ra, cô Bích đã kịp thấy hai người đang trò chuyện, ai cũng có vẻ vui, hơi yên lòng, bước tới; con nhỏ lanh mồm thật, nó nói khi cô còn mấy bước nữa đến nơi:
– Thôi, cháu về, trả cô cho chú! Quên, trả chú cho cô!
Nói đoạn, nó cười khoái trá rồi rồ ga vụt đi, nhưng… nó cố đánh tay lái để theo dõi hai người qua kính chiếu hậu, thầm thắc mắc:
– Sao chẳng thấy họ cười nói gì hết, lại chẳng… ôm eo như cô Minh và chú Trọng của nó vậy cà?
Nhớ lời chị Năm dặn, thím Bảy chẳng dám nói gì, chỉ lẳng lặng lo việc nhà, mãi chiều, hai vợ chồng mới cùng nhau đi vườn. Họ đi như hai người hàng xóm, chỗ đường hẹp thì kẻ trước người sau, chỗ rộng thì đi song song như chẳng mắc mớ gì nhau. Gió chiều mơn man, màu nắng đã nhạt, khung cảnh khá thanh bình, giá mà có chút ân cần nào đó thì cũng nên thơ lắm, nhưng xem ra, hai người đang ôm nỗi “sầu riêng” hay sao đó mà cứ im lặng song hành. Thật phí cả buổi chiều! Đi quãng xa, ra đến bờ sông, sát bờ, thấp thoáng trong đám cỏ xanh mịt, lốm đốm những đoá hoa trắng có pha sắc tím, cũng hay hay, đưa mắt nhìn, Bích Ngọc có cảm giác là lạ, cũng là sông, nhưng dòng chảy như tù túng, dòng trôi chừng như bức bối, nó muốn xói lở cả bờ bãi mà chảy, không yên ả hiền hoà như dòng sông cô thường ngắm và luôn tồn tại trong lòng, chỉ thoáng qua, rồi tâm trạng cô lại hướng về chuyện khác, chuyện luôn trăn trở bên lòng, cô đã nói với Sang rồi, nhưng liệu anh có hiểu và chiều mình không? Cô chưa “đo” được tình yêu và sự quan tâm của chồng với mình! Liệu anh có giúp để cô không phải “gánh hết cái giang sơn nhà chồng” hay không đây? Ôi, ngày ba bữa cơm, bên cạnh bà má chồng trái trở này là cả một vấn đề. Cô lại chìm vào nỗi xót xa nhớ mẹ, sao má mình đơn giản, hiền hậu quá, cả đời chỉ chăm lo cho chồng con mà chẳng cần sự đền đáp nào, giờ phút cuối cùng cũng chỉ lo cho con, lo tận hơi thở cuối! Cô chợt thấy lòng rưng rưng. Sang vượt cô khá xa, đang đứng chờ…, từ trong vườn anh chị Năm và lũ trẻ ra đón hai người, vẻ thật hoan hỉ. Lạ.
Vào gian nhà nhỏ, không, chính xác là cái chòi nhỏ để giữ vườn, mọi người ngồi luôn xuống nền xi- măng, câu chuyện giờ mới được bàn bạc; hoá ra, đó là chuyện về khoản “vườn ruộng thừa kế” của vợ chồng Sang. Hình như anh chị Năm đã có chủ ý, muốn tiếp tục canh tác như lâu nay, lợi nhuận sẽ chia phần cho vợ chồng Sang; trước giờ làm mà không yên với “bà già”, nay đòi “lấy lại” cho đứa khác làm, mai doạ “mai mốt thằng Sang có vợ” thì tụi mày đừng hòng rớ vào….Bà con lại đông, không phải ai cũng khá giả, thiếu gì người muốn nhận ruộng để canh tác, nên cứ lời ra tiếng vào thỏ thẹt, phiền phức lắm! Anh chị Năm lại chẳng làm gì ngoài nghề nông. Sang chừng như cũng nhận thấy điều ấy, chiều có hỏi qua, cũng nghe vợ nói thật lòng:
– Xưa giờ, chưa quen bếp núc, hôm rày chị Năm lo là chính, giờ mỗi việc lo cho má sợ đã không tròn, thêm chuyện rẫy bái nữa chắc chắn không lo được, có biết gì đâu mà nhận.
Vậy là, Sang dứt khoác uỷ thác cho anh chị Năm. Lợi nhuận cứ giao về cho “má”, vợ chồng Sang sẽ không nhận gì. Cây trái, hoa màu cứ sử dụng, thỉnh thoảng đưa về cũng để má có mà dùng. Chị Năm vui vẻ hẳn, hứa sẽ giúp khi cần, cả mấy đứa nhỏ cũng sẽ chạy qua, chạy lại khi thím Bảy cần. Bích Ngọc thở phào nhẹ nhõm. Cô chẳng mong mỏi gì hơn! Hoa màu, lợi nhuận… chẳng kể gì, miễn được an thân; không chừng nhờ vậy cuộc sống nơi nhà chồng sẽ an lành hơn. Có lợi tất có tình; theo như chị Năm nói mà nhận định thì đúng là vậy, cứ nhìn thái độ và nét mặt của chị, dù hiền hậu mấy Bích Ngọc cũng cảm nhận thật rõ. Nhất là, trước khi vợ chồng cô ra về, thím còn nói với theo:
– Có đưa cho má thì sau này cũng của chú thím chớ ai đâu!
Ngay khi anh chị Năm dọn đi, Sang đã bố trí lại nhà cửa. Phòng ngủ vẫn như cũ, nhưng cái phòng lồi ở dưới nhà, giờ đã trống, ở đó được kê bộ bàn ghế, là nơi để Bích Ngọc làm việc, thêm được bộ phản nhỏ, bên cạnh là chiếc tủ đựng các thứ cần thiết, trên cánh tủ kính, Bích Ngọc gắn tấm ảnh Quán Thế Âm Bồ Tát mà cô trân trọng giữ gìn ngần ấy năm trời, nếu trước đây hàng đêm cô thầm cầu xin cho “người ấy” bình an trở về, thì nay, cô cầu nguyện cho Mẹ, cả cho “người ấy” được về nơi tiên cảnh. Hy vọng đã không còn, niềm tin đã tắt, giờ thì sự an phận để đi trọn đường đời là điều cô mong mỏi thiết tha nhất, chỉ cần “sóng yên gió lặng”. Chỉ vậy!
Được lời mời của chú Sang, Minh Tịnh vui và thêm chút tự tin. Tối đó, nó viết thư cho cô Minh, khoe với cả nhà. Không nói ra, nhưng hầu như ai cũng muốn biết ít nhiều về cuộc sống của Bích Ngọc; ai cũng rất thương cô nhất là cái cảnh “vu quy” của cô quá bất thường.
Đi học về, bà Năm đã chỉ cho Minh Tịnh quà để chiều mang lên nhà cô Bích Ngọc, những món mà cô vẫn thích khi còn qua lại với gia đình. Đúng 5g nó đã xuất hiện trước cổng nhà chú Sang, tắt máy, xuống xe, dắt bộ vào cổng; là nó “màu mè” vậy thôi, vì biết trong nhà có “lão bà bà” khó tính! Chú Sang ra đón nó, ân cần:
– Lần sau, cháu chạy xe vô luôn, sân rộng, dắt bộ mệt lắm!
Minh Tịnh vui thầm khi nghĩ: à, chú đã mở đường, vậy là mình còn được tiếp tục lên chơi. Đúng là… bà già khó gần thiệt! Vừa dựng xe, nó vừa liếc thấy bà già cũng ngang ngang tuổi bà ngoại, dáng nhỏ thó nhưng cái vẻ “đứng nhìn” của bà khá ấn tượng: Đôi mắt sáng như sao, bén ngót, nhìn nó lom lom, nhìn bà còn khoẻ nhưng tay lăm lăm cây gậy… Nó bước vội đến, cất tiếng chào thật rõ:
– Con chào bà.
– Phải. Mày là đứa nào? Kiếm ai, có “chiện” gì?!
Chú Sang vội đỡ lời:
– Cháu này quen với con Bảy, lên thăm.
– Sao nó biết nhà mà thăm?
– Hôm qua, con gặp cháu ở trường con Bảy, con chỉ nhà.
– Chà, chớ mày không lo nấu nướng gì sao mà đi chơi giờ này?!
Minh Tịnh đang bị phân tâm, kỳ, sao chú cứ “con Bảy” mà gọi cô Bích chứ? Bà già này cũng khá kinh dị, hỏi “móc họng” thiệt. Chắc ý là: cô Bích phải lo nấu ăn, không rảnh chớ gì! Đã vậy, giọng bà như rít qua kẽ răng, cũng phải, bởi bà nói mà hai hàm răng khít rịt vào nhau. Nó cũng không vừa khi lên tiếng trả lời:
– Dạ, chú Sang hẹn con chiều nay, không lên chú sẽ đi về đơn vị. Là do hai chú cháu hẹn với nhau thôi bà.
Có nghĩa là cô Bích vô can!
Nãy giờ, nó chưa thấy bóng dáng cô Bích, người thật sự nó muốn gặp. Với tay, lấy túi quà của bà Nội gửi, nó cũng diễn nốt:
– Bà Nội con gửi quà biếu gia đình, bà cho con gửi.
Bà già chẳng nể nang, vừa khoát tay, vừa tuôn luôn:
– Biết đâu mà cho mà nhận, chắc bà Nội mày gửi cho nó chớ cho gì tao; đưa cho nó đi!
Dứt câu, bà quay lưng đi vào nhà, xem ra, cây gậy chỉ để trang trí, tạo dáng thôi, bước chân bà thật vững, thật dứt khoát. Minh Tịnh thở phào nhẹ nhõm, chú Sang cũng kịp đón lấy túi quà, vừa bước ra phía sau vừa nói:
– Ra đây cháu! Bảy, có Minh Tịnh lên chơi nè!
Đã biết hướng đi, nó nhanh chân phóng ra, hơi khựng người! Từ trong chái bếp, cô Bích của nó lom khom bước ra, tay còn dụi mắt, trong chiếc áo cánh và cái quần đen nhìn cô luộm thuộm hẳn; cô nheo mắt nhìn nó, nụ cười gượng gạo trên môi, chừng như cô đang phân trần:
– Cô lo cơm chiều, bà già ăn sớm lắm! Cháu vô nhà đi, cô rửa tay lên giờ.
Chú Sang nhanh miệng:
– Cháu vào nhà, cô lên giờ; để đó đi, lên chơi với cháu!
Hai cô cháu không nói gì nhiều, chính là Minh Tịnh muốn biết cảnh nhà cô thế nào thôi. Giờ thì… biết rồi, qua loa mấy câu, nó bước ra sân sau, dạo một vòng, xong vội về, chỉ ngại gây phiền cho cô. Cô có vẻ cảm động và lưu luyến lắm. Cô gửi lời thăm, cám ơn bà Nội và cả nhà, tranh thủ hỏi thêm về cô Minh. Nó an ủi:
– Biết nhà rồi, thỉnh thoảng cháu lên chơi nghe.
Minh Tịnh ra chào chú Sang và vào hẳn nhà trên chào má chú. Đảo mắt một vòng, nó thấy nhà khá chật hẹp nhưng bàn thờ rất tươm tất. Chứng tỏ thuộc gia đình phong kiến đây. Chú đưa nó ra tận cổng, vẻ cũng ân cần, một lần nữa chú dặn:
– Khi nào rảnh cháu lên chơi nghe!
Nó đáp nhanh:
– Cháu thường rảnh lắm nhưng cô Bích đâu có rảnh, lên nhiều bà có la cô không?
Hình như chú không dám “chắc” về điều ấy, chú nói qua chuyện khác. Trên đường về, Minh Tịnh suy nghĩ lung lắm, cô Bích chắc khổ, mất tự do, bị ràng buộc nhiều quá! Nhà thì chật, sinh hoạt sẽ tù túng nhưng sân vườn quá rộng, toàn cây trái, mỗi cái khoản quét sân đã đủ mệt rồi, còn chợ búa cơm nước, khói bụi mịt mù…, chầu chực một bà già “hắc ám” chờ giờ câu chấp, lại chuyện trường lớp, thêm ông chồng nói năng chẳng chút thân mật thì… nếu nó, là nó chạy! Chuyện ở nhà chú Sang nó về vừa kể vừa tả thật chi tiết với bà Nội, bà thở dài ngán ngẩm, để rồi buông xuôi:
– Biết vậy thôi, giờ có thương cũng để bụng, có chồng là có gia nương, chẳng ai gánh vác giùm được, đây rồi còn con còn cái. Xem ra số hắn khổ. Vậy mi cũng bớt lui tới, không nó sẽ bị hạch nhọt tội thêm. Có là ruột thịt cũng chỉ đứng ngó mà thôi! Đời cua cua máy, đời cáy cáy đào…
Minh Tịnh nghĩ nhiều về lời nói của bà, điều ấy quả đúng. Như cô Minh nó vậy, cũng phải tự lo cho mình là chính, khi sinh nở thì bà giúp cho vài ba tháng, sau đó cũng phải tự thân. Nhưng nó vẫn thương cô Bích lắm! Lòng trăn trở không yên. Có điều, nó cũng đang sắp đến kỳ thi, không có nhiều thời gian nữa… chuyện thăm viếng cô Bích cũng thưa dần, sau đó nó còn phải đi học xa.
*****
Hè năm ấy, cô Nguyệt Minh đã được thuyên chuyển về quê nhà, chú Trọng cũng đã xuất ngũ, bà Nội nó có vẻ vui, từ nay nhà có thêm gia đình cô, bà được gần hai cháu ngoại cũng vui tuổi già. Hai cô gặp nhau, cô Bích cũng khoe đang chờ quyết định chuyển về trường gần nhà hơn cho tiện. Minh Tịnh là người chở cô Minh lên nhà cô Bích, sau khi đã giới thiệu sơ lược về “bà già kinh dị” kia. Hai bạn gặp nhau mừng lắm, Minh Tịnh ra sân chơi, để hai cô tâm tình. Ra về, cô Minh vừa lên xe đã nói ngay:
– Bà già vẻ khó thiệt. Nó theo hầu bà thiệt không dễ.
* NƯỚC CHẢY QUA CẦU.
Ngày tháng dần trôi. Bích Ngọc cuối cùng cũng phải thích nghi với cuộc sống mới. Cô đã quen với việc dậy thật sớm, quen nhóm lửa bằng xơ dừa, lá khô, quen nấu những món ăn khác kiểu, quen với cái sân quét mãi không xong, lá tứ phương tha hồ rụng, bay chấp chới trên đầu rồi đậu xuống sân nhà, ngay khi nhát chổi mới lướt qua, quen với việc bưng cơm hầu nước; bớt giật thót người mỗi khi má chồng khua gậy mạnh tay và cất tiếng gọi “bà giáo” đầy mỉa mai những khi bà cần giáo huấn và bất kể sớm, trưa, chiều, tối, thậm chí đêm khuya. Cô cũng quen với cảnh phòng không chiếc bóng, với không khí tù hãm khi cánh cửa sổ trong phòng ngủ luôn cài kín mỗi tối dù trời mùa hè oi ả, hay gió bấc lạnh lùng, đơn giản vì cô sợ, ngoài ấy tối đen như mực, cây khua cành gãy, âm thanh xào xạc như tiếng bước chân… Cô cũng quen rồi những đêm giá lạnh mùa Đông, trong cảnh trống vắng vừa tủi thân, vừa nhớ mẹ, nhất là những khi bị mẹ chồng khó dễ, chì chiết, cô chỉ còn biết ôm ghì chiếc áo của mẹ mà khóc thầm, khóc nghẹn… giờ nghỉ ngơi của cô ít lắm! Cô gầy hẳn. Cả tháng nay, cô sợ cơm sợ cá, nhưng vẫn phải vào bếp… thật lòng mà nói, má chồng cô không cầu kỳ, đòi hỏi cao sang gì, chỉ là ăn khác kiểu, cô chưa quen thôi, giờ đã quen thì cô lại sợ mùi cá! Cô đang nghén! Đang thèm ngủ! Đang thèm ăn! Đang cần nghỉ ngơi nhưng… không thể, đương nhiên sự hao gầy hiện rõ mồn một… Nhưng rồi, cô cũng quen dần với chuyện nghén ngẫm, vượt cạn, nuôi con một mình. Tất thảy cô đều đã trải và vượt qua, khi mà trước đó cô thật sự không dám tin mình làm được. Nghĩ cũng hay, đúng là “trời sinh voi sinh cỏ”, khả năng thích nghi của con người quả thật là vô cùng, đó là nghị lực là bản năng làm mẹ trong cô, là “bản năng sinh tồn” luôn tiềm ẩn trong mỗi con người.
Với bản tính nhu mì, an phận lại chẳng so hơn tính thiệt, chẳng quan tâm đến chuyện hoa lợi, từ ấy cũng ít nhiều nhận được tình cảm của họ hàng nhà chồng, tuy nhiên má chồng lại không vậy, cứ nhắc và hầu như buộc cô phải thường xuyên thăm vườn, thăm rẫy nên chiều chiều cô lại phải đi. Đi mà lòng không vui, giờ thì cũng đã quen rồi, đã vậy còn cảm thấy thật thư thái nhàn an, cái cảm giác tự do thật tuyệt. Cô lại nhớ về đoạn sông xưa, đoạn đời cũ lại hiện về nhẹ nhàng, êm ái xâm lấn vào tận cùng nỗi nhớ… Cơn choáng thoáng qua, cô ngồi xuống vạt cỏ ven sông, hít thở nhanh làn gió chiều nhè nhẹ thoảng chút hương mùa, lòng thư thái lạ. Bích Ngọc thật sự đã yên phận, lặng lẽ như cánh lục bình trôi mải miết, có những đêm khuya trằn trọc, cô thoảng nghe đâu đó tiếng chuông Chùa, cả những đêm về sáng, tiếng công phu khoan nhặt như len sâu vào tận ngóc ngách tâm hồn, đánh động cả từ trong tâm thức, cô như được giải thoát, cảm giác ưu phiền trong phút chốc chợt tan biến thay vào đó là sự bình yên, bình yên đến tận cùng, trong giây phút thoáng qua, cô như một con người khác, thật thanh thản, hồn nhẹ bâng như chưa hề vướng chút bụi trần! Trong thinh lặng cô chợt ngộ ra, cuộc đời vốn là bể khổ, chốn trần ai phỏng có vui gì? Chẳng ai là người được trọn vẹn, biết an phận là an thân; cô tin cả chuyện luân hồi, nghiệp chướng, cảnh khổ hôm nay là trả nghiệp cho tiền kiếp xa xưa nào đó, vậy nên, giờ cô có “khổ” cũng chính là trả cái nghiệp xưa, ngoài chữ “duyên” thì chữ “nghiệp” cũng theo mình. Vậy là nỗi xót xa mỗi khi nhớ mẹ trong cô vơi đi ít nhiều, nhất là những khi cô chợt nhớ rằng “mình chưa từng chăm chút mẹ, chưa từng lo cho mẹ được bữa cơm”, rồi tự an ủi: giờ thì… cứ xem mẹ chồng là mẹ ruột, mẹ từ trăm năm, ngàn năm trước! Thái độ vô ưu, chấp nhận hiện tại đã cho Bích Ngọc một phong thái trầm tĩnh, nhu hoà điều đó thực sự đã mang lại cho cô sự an lạc trong tâm hồn tuy có vất vả trong cuộc sống.
*****
Ngày qua ngày, thoắt cái đã gần bảy năm. Bích Ngọc đã có hai con, một gái một trai, giờ con gái đã lên 5, con trai lên 3 tuổi. Những ngày Sang về, khung cảnh gia đình có vẻ đầm ấm hơn. Những bóng đèn “trái ớt” tù mù đã được thay thế dần bằng bóng neon sáng sủa. Đây có lẽ là nhờ hồng phúc của các con, khi mà mắt mẹ chúng đã vừa cận vừa loạn thị mấy năm rồi! Xài bóng lớn “tốn tiền điện”, bà nội chúng nói vậy! Thời gian đã lấy đi nét thanh xuân, nhưng kịp trả lại cho cô chút màu thời gian trên mái tóc, chắc còn thừa nên lại đặt thêm lên chiếc vai gầy khiến lưng cô còng xuống… sớm hơn số tuổi. Rồi hôm ấy, một ngày cuối tháng 3, khi trời đã về chiều, trên quốc lộ 27 những chuyến xe ào ạt đổ về, trên xe người là người, già có trẻ có, hành lý ngổn ngang, nào: túi xách, xoong nồi, bao bị….tất tần tật thứ, cứ gì mang được là họ mang, họ chính là những người dân từ Đà Lạt đổ về, vẻ mặt ngơ ngác, âu lo, cả sự kinh hoàng, xe chạy thẳng đến các trường học, người đổ xuống, tràn vào các phòng… Ngôi trường trở thành nơi lưu trú của người dân đi di tản! Bảo vệ gọi hiệu trưởng, cuối cùng đành chấp nhận mở cổng cho xe vào, xe nối đuôi nhau, bởi vì… họ đang chạy loạn, tình hình các tỉnh Tây Nguyên đang rối ren, thành phố hầu như đã bỏ ngỏ, chiến sự đã và sẽ xảy ra, giờ còn xa nhưng mai mốt sẽ đến gần! Dân thị xã bắt đầu nhốn nháo, họ tụ năm tụ ba bàn tán xôn xao. Minh Tịnh bỗng dưng xuất hiện, nó chạy xe vòng vòng, như đi tìm bè bạn gì đó ở Đà Lạt trong đoàn di dân, để có thể giúp nếu họ cần và nó tin họ sẽ rất cần! Tiện đường, nó chạy luôn lên nhà cô Bích, sân nhà cô khá nhiều người, chắc là bà con đến thăm hỏi, cô đang phát hoảng, Ban Mê Thuột đã tan hàng mà chú Sang chưa về! Má chồng cô than trách sao “vợ chẳng tìm chồng”, hai đứa nhỏ nỉ non kêu ba ơi ba hỡi, nhưng cô biết tìm đâu giữa cảnh hỗn loạn này?! Khóc và kêu Trời kêu Phật cứu khổ chúng sanh, độ cho mọi người bình yên, cho người xa về với gia đình là điều cô khả dĩ làm được, làm thì làm nhưng có lẽ tâm không thành, cô đang lo sợ và phân tâm lắm! Nó chạy xe luôn vào sân, thăm hỏi qua loa về tin tức chú Sang, dặn dò cô vài điều như bà Nội nó nói ở nhà, rồi chạy vụt đi. Nó phải đi tìm bạn, nhưng lòng thật hoang mang: liệu chú có trở về?! Ôi, có mệnh hệ gì thì tội cho cô quá! Cuối cùng, trong hỗn độn, bộn bề, nó cũng tìm thấy gia đình cô bạn đã cùng học ở Đà Lạt, nhà khá đông, họ đưa cả gia đình ba thế hệ di tản. Nó dặn bạn: cứ vào chọn một chỗ ở, nó về thu xếp được chỗ ở cho cả gia đình sẽ ra đón. Gần như ngay lập tức nó quay ra và đưa bạn về nhà. Xong, lại quay xe định lên nhà cô Bích xem chú đã về chưa?! Nó lo cho cô quá! Bà Nội gởi ít thức ăn cho cô vì kinh nghiệm cho biết những ngày hỗn mang này sẽ không chợ búa nào bán buôn đâu! Bà còn dặn với theo nó:
– Mi về liền nghe, cơn ni chớ ra đường nhiều, con gái con đứa phải biết sợ.
Chú vẫn chưa về, giờ bà con nhà chú đã ai về nhà nấy, chỉ còn mẹ con, bà cháu nước mắt ngắn dài….
ThaiLy
(Còn tiếp 1 kỳ)
