Phương Tấn: THI SĨ LÊ MAI LĨNH, LẠ LẮM!

Trên 50 Văn Nghệ sĩ miền Nam Việt Nam đã viết ngợi khen Lê Mai Lĩnh – một người lính tiêu biểu cũng là một nhà thơ tài hoa của miền Nam – với những việc làm cho quê hương cùng những bài thơ của ông mà thi sĩ Phan Xuân Sinh trong tuyển tập “CHÂN DUNG NGƯỜI LÍNH  – Thi sĩ Miền Nam Lê Mai Lĩnh” đã viết: “Dù trong gông cùm, xiềng xích, trước những họng súng lưỡi lê, thi sĩ Lê Mai Lĩnh vẫn lên tiếng và thơ đã có mặt.”

.

Riêng tôi trước năm 1975 đã đọc thơ, văn cả những bài bút chiến của Lê Mai Lĩnh với nhà văn Mặc Đỗ, nhà văn Uyên Thao, đặc biệt ông đã nhân danh một thi sĩ Việt Nam, đề nghị một “Giải Pháp Hòa Bình Cho Chiến Tranh Việt Nam” đăng trên trên báo chí miền Nam. Sau năm 1975, ông vẫn giữ lòng trung kiên là một người lính VNCH qua những việc làm vì quê hương. Trong đó tôi nhớ mãi năm 2000, ông đã nhận lời mời của “Liên Minh Các Lực Lương Dân Chủ Việt Nam” sang Pháp ký vào Hiến Chương 2000 nhằm vận động cho Dân chủ và Tự do ở Việt Nam.  

.

Lê Mai Lĩnh lạ lắm! Lạ không những ở “Chân dung một người lính” mà lạ ở cả “Chân dung một thi sĩ miền Nam nước Việt.” Trên 20 tác phẩm tiêu biểu in riêng và chung từ 1963 đến nay với cả một ngàn bài thơ đủ thể loại của ông, tôi đã đọc đi đọc lại nhiều lần. Một trong các bài thơ đáng đọc mà tôi tâm đắc là bài thơ “Nguyễn Trãi” được ông ghi: “Trại tù Gia Rai 1981.” 

.

Đọc bài thơ Nguyễn Trãi, tôi chợt nhớ một đoạn được in ở bìa trước của Tuyển tập “LÊ MAI LĨNH, Thơ-Văn-Tiểu Luận” mà ông đã viết: “Tất cả chúng ta đều là những kẻ chiến bại trước sự đói nghèo của nhân dân. Trước quê hương khổ đau, chúng ta đều có tội, dẫu khoác cho nhau màu áo nào. Trái tim, máu, nước mắt tôi đây, ngày trở lại sau 3102 ngày khổ sai trong 10 trại tù của Cộng Sản Việt Nam, từ Nam ra Bắc, xin trao tặng quê hương và bằng hữu.”

.

Hãy nghe ông bày tỏ trong bài thơ Nguyễn Trãi: “Thao thức hoài cùng nỗi đau Nguyễn Trãi/ Nhiều đêm, không làm sao chớp mắt/ Trăn trở cùng núi sông trở trăn/ Nghe vọng lại, tiếng người khuất mặt/ Hơn sáu trăm năm từ Nguyễn Trãi rồi/ Mà cơn quốc biến vẫn còn thôi/ Còn đó, dân đen, đau đời quằn quại/ Căm hận bầm gan, tím cả môi/ Trăn trở hoài cùng tiếng đêm thầm thì/ Nằm ngửa, nằm nghiêng, lật trái, lật phải/ Không làm sao chớp mắt/ Nghĩ mình, chung nỗi đau Ức Trai/ Nghĩ mình, phải làm gì cùng Nguyễn Trãi/ Trắng đêm thức với những cơn mộng tỉnh/ Đôi lần, thấy Nguyễn Trãi trong mơ/ Một mình, không có nàng Thị Lộ/ Cầm trong tay một Đại Cáo Bình Ngô/ Mùa mưa kéo dài với những cơn muộn sót/ Những giọt rơi thánh thót xuống đời ta/ Như những lần Ức Trai gieo vần chọn chữ/ Bút thần dệt nên khúc Hùng Ca/ Màu trắng sữa ngoài song sắt là ánh trăng/ Hay báo hiệu bình minh/ Lòng bồn chồn, phân vân ta tự hỏi…/ Tiếng còi xa là tàu đã mấy giờ/ Chuyến cuối đêm hay đầu ngày ra khỏi/ Tiếng còi xa, tiếng còi xa, còi xa/ Đêm dần qua, đêm tối dần qua/ Trắng bao lần với hồn Nguyễn Trãi/ Đau cùng ông, nỗi đau quê nhà….”

.

Bên cạnh bài thơ “Nguyễn Trãi” là 2 bài thơ tôi cũng tâm đắc, mang chung tựa đề: “Mùa Hạ, Thơ Tình Làm Trong Tù” được ông ghi “Trại tù Z30A, 1982.” Bài thơ thứ nhất đắm thắm, ngậm ngùi bao nhiêu thì bài thơ thứ hai xót đau quặn thắt bấy nhiêu. Bài thơ phản ánh thân phận người tù oan khiên, cuồng điên vì chí lớn không thành, quê hương tan tác, trùng trùng uất hận…

.

Ông viết mở đầu: “Hai bài thơ, ngủ vùi trong quên lãng suốt 34 năm (1982- 2016), chợt một sáng mai thức dậy cùng nỗi nhớ về NGƯỜI VỢ CŨ đã nhiều lần tiếp tế lương thực như tiếp máu cho chồng từ Nam ra Bắc. Nhớ lại hai bài thơ cùng người vợ cũ, cũng là lúc hai hàng lệ mặn ứa trào. 

.

“Nay, nàng đã vào chùa, cắt đi mái tóc xưa, một thời tôi mê say, đắm đuối. Cầu mong em, hôm sớm, lòng thanh thản bên cạnh Phật Bà Quan Âm. Tôi vẫn còn yêu mình, TRẦN THỊ KIM HẠNH, cô hoa khôi khóa 1, biên tập viên.” 

.

Hãy nghe ông tâm tình cùng người vợ cũ trong một vài khổ thơ của 2 bài thơ buốt nhói cả tâm can.

.

Bài một: 

“Trời bây giờ, tháng 5, mùa hạ/ Anh đang những ngày, đợi em đến thăm/ Dẫu khó khăn nào, em cũng đến/ Chắt chiu tình nồng, đốt lòng nhau chút ấm/ Anh vừa ăn buổi chiều xong/ Một bát sắn lát, cũng vừa đủ no/ Một chút muối, cũng vừa đủ mặn/ Thêm nữa, điếu Hoa Mai cáu cạnh, bạn cho/ Bên song sắt, anh thả hồn theo khói…” 

.

Bài hai: 

“Nơi ta ở bây giờ, dưới chân núi Chứa Chan/ Trong một trại tù, rào, tường kiên cố/ Nhìn mũi súng, lưỡi lê, như ra điều thách đố/ Ta chỉ muốn sờ râu, cười khan/ Trong tù, sờ râu là một cái thú/ Như thú nhận thư nhà, thú xem ảnh vợ con/ Thú được thăm nuôi và nhận quà đều đặn/ Thú Chủ Nhật ở nhà, mộng lớn, mộng con/ Trong tù, sờ râu và anh thấy hết/ Thấy nước tang thương, thấy nhà tan tác/ Thấy khổ ải, oan khiên, thấy trùng trùng uất hận/ Và thấy mình bất lực, gặm nhấm nỗi buồn, đau man mác/ Trong tù, sờ râu và anh nghe biết/ Nghe nỗi oán than của trăm họ, tiếng rên xiết của muôn dân/ Và nghe thấy mình buốt nhói, đòi đoạn từng hồi/ Trong tù, sờ râu là một cái thú/ Cảm ơn râu, cảm ơn râu, cảm ơn râu/ Râu đã giúp ta qua cơn thống khổ/ Cảm ơn râu, cảm ơn râu, cảm ơn râu/ Cảm ơn Râu.”

.

Thơ ông viết rất thật. Thẳng thắn, bộc trực, giản dị, khí tiết như con người của ông. Thơ như nói. Nói như thơ. Đọc thì dễ, hiểu thì dễ nhưng làm được những bài thơ dào dạt cảm xúc từ những bài thơ tình như giỡn chơi đến những bài thơ thấm đẫm hào khí và cay đắng tột cùng trong lao tù CS cùng những tháng năm lưu vong ở hải ngoại thì không dễ. 

.

(Phương Tấn,

Tháng 4 năm 2023)

Bài Mới Nhất
Search