Nguyễn Kỳ Dzương: NGƯỜI TÙ BẤT KHUẤT

Ảnh (Nguồn: chinhhoiuc.blogspot.com)

[Tôi viết lại một đoản văn sau đây như một nén hương dâng tặng linh hồn của một người bạn tù bất khuất. Tôi bảo đảm những điều tôi viết ra đây là có thật “một chăm phần chăm” bởi vì viết về một người đã chết tức tưởi trong tù cs thì tác giả không dám bịa đặt].

Anh bạn tù của tôi là Dương Hùng Cường, bút hiệu viết báo Dê Húc Càn (DHC). Sau khi mất nước, tôi và DHC ở tù chung với nhau trong hơn 2 năm đầu ở trại Long Khánh. DHC có biệt tài là thuộc truyện kiếm hiệp của Kim Dung làu như cháo. Anh chàng này cứ từ từ, chậm rãi, kể cho chúng tôi nghe các bộ truyện, từ Võ Lâm Ngũ Bá, Thiên Long Bát Bộ, tới Thần Điêu Đại Hiệp, Anh Hùng Xạ Điêu, tới Cô Gái Đồ Long v..v..

Theo quy định của trại, đúng 9 giờ tối là chúng tôi phải lên “chuồng” đi ngủ để hôm sau có sức mà “nao” động, “nập” công dâng bác! Buổi tối xập xuống là (vài người) chúng tôi (bí mật) tụ tập ở đầu nhà, đốt ngọn đèn dầu lạc nhỏ, quây quần bên nhau. Ai có trà thì đem trà, ai có thuốc lào thì đem thuốc lào đến đóng góp. Anh Dương Hùng Cường đủng đỉnh “rít” một hơi thuốc lào, “chiêu” ngụm nước trà, trong khi chúng tôi nóng lòng chờ anh kể tiếp đoạn của tối hôm qua, khi mà Tiểu Long Nữ và Dương Quá trút bỏ hoàn toàn y phục để luyện môn Ngọc Nữ Tâm Kinh v..v.. Nếu anh em được báo động là có cán bộ đến thì chúng tôi lập tức thổi phụt tắt ngọn đèn, chui vào mùng nằm nín thở mà tiếc hùi hụi.

Thỉnh thoảng, chúng tôi bị tập họp lại và bị mấy thằng vệ binh oắt con chửi rủa là “chúng tôi biết các anh vẫn hay vi phạm nội quy của trại, tụ tập kể nhau nghe chuyện của “nữ thi sĩ Kim Dung”!!! Má ơi, nghe báo cáo thế nào mà chúng nó dám “chuyển giống” cho ông Kim Dung, tội nghiệp ông ấy ghê!

Trong trại, thỉnh thoảng chúng tôi lại bị lùa vào”hội trường” để được mấy con vẹt, cán bộ chính trị của nhà nước “lên lớp” dạy một bài học về “kách mệnh”.

Một trong những bài học ấy là “Nước ta có truyền thống đoàn kết, bất khuất, chống ngoại xâm.” Buổi tối, khi về trại, chúng tôi phải ngồi “thảo luận” về bài học và sau cùng, phải viết một tờ “thu hoạch” và nạp cho trại.

Sau vài ngày, một hôm, chúng tôi được lệnh miễn lao động, tập họp lên hội trường. Khi lên đến nơi thì chúng tôi đã thấy vô số vệ binh đỏ trang bị AK47, mặt mũi đằng đằng sát khí, gác chung quanh hội trường. Trong hội trường đã có một cái bàn dài, trải khăn xanh. Chúng tôi linh cảm rằng hôm nay sẽ có biến và nín thở chờ đợi.

Khi tất cả chúng tôi đã “an vị” trên các chiếc ghế đẩu tự đóng và tự tha đi, có 5 cán bộ đeo “sắc cốt” và súng lục theo nhau vào ngồi trên bàn chủ tọa.

Chúng lấy trong túi ra một tờ giấy viết tay và hỏi lớn: Ai là anh Dương Hùng Cường? Lên đây!

Dương Hùng Cường biết lúc này là những giây phút cuối đời của mình nên không tỏ vẻ sợ hãi, từ từ bước lên cạnh bàn của các cán bộ. Một cán bộ đưa anh tờ giấy và hỏi: Có phải đây là tờ thu hoạch của anh không? DHC liếc mắt và công nhận. Đúng là của tôi!

Cán bộ đập bàn và hỏi: Hôm trước, anh có học tập không? DHC đáp, có!

Thế tại sao nhà nước dạy rằng dân tộc ta có truyền thống “đoàn kết” mà anh lại thu hoạch là “dân tộc ta có truyền thống chia rẽ”?

DHC hỏi lại: Thế các cán bộ có học sử Việt không? Cán bộ tức tối đập bàn: Ai mà không học sử Việt!

Thế thì thưa cán bộ, Lạc Long Quân lấy bà Âu Cơ, đẻ ra một trăm trứng, nở ra một trăm con. Năm mươi con theo mẹ lên núi, năm mươi con theo cha xuống biển. Như thế thì mầm mống chia rẽ đã có từ thời đó.

Các cán bộ te mũi, không trả lời được, cuốn gói hậm hực ra về. Không có ai bị xử bắn ngày hôm đó.

Sau khi chuyển trại, chúng tôi không còn biết tin gì về nhau. Sau này, tôi nghe nói anh Dương Hùng Cường đã được thả nhưng lại bị bắt trở lại và đã bị cộng sản đánh chết trong tù, ở trại Phan Đăng Lưu.

[Trích Việt Báo: Anh Dương Hùng Cường đi “tù cải tạo” từ 1975 đến 1979. Năm 1984, anh bị bắt giam lần thứ nhì cùng những cây bút khác gồm Khuất Duy Trác, Doãn Quốc Sỹ, Hoàng Hải Thủy, Hiếu Chân Nguyễn Hoạt, Trần Ngọc Tự, Lý Thụy Ý… và bị buộc tội là một trong “NhữngTên Biệt Kích Cầm Bút”.]

Xin anh biết cho rằng, chúng tôi vẫn nhớ đến anh và hôm nay, xin cầu chúc anh được an nghỉ bình yên trong cõi vĩnh phúc.

Nguyễn Kỳ Dzương

ĐỌC THÊM:

Nhà văn Dương Hùng Cường, một nhân cách hiếm, quý

Du Tử Lê

Nếu không kể những văn nghệ sĩ được CSVN cho về nhà vài ngày để chờ chết thì, Dương Hùng Cường là một trong những nhà văn bị chết trong tù. Cái chết của ông, cho đến nay, vẫn không ai được biết rõ nguyên nhân.

Dương Hùng Cường là một nhà văn miền Nam Việt Nam, nổi tiếng, dù viết không nhiều. Cho đến ngày qua đời, ông chỉ cho xuất bản trước sau ba tác phẩm. Đó là các cuốn “Buồn Vui Phi Trường,” “Lính Thành Phố” ký sự và “Vĩnh Biệt Phượng” tiểu thuyết. Mặt khác, Dương Hùng Cường cũng nổi tiếng với bút hiệu Dê Húc Càn, trên tuần báo trào phúng Con Ong của nhà báo Minh Vồ.

Bút hiệu Dê Húc Càn của nhà văn Dương Hùng Cường được ký dưới những bài viết châm biếm tệ trạng xã hội, tố cáo những bê bối của các nhân vật tai to mặt lớn ở miền Nam…

Theo tác giả Ngộ Không trong loạt bài sưu tầm những bài viết về nhà văn này thì, nhà văn Dương Hùng Cường sinh ngày 1 Tháng Mười, 1934, tại Hà Nội. Ông mất ngày 21 Tháng Mười Một, 1987, tại nhà tù Phan Đăng Lưu, Gia Định.

Qua hai ký sự “Buồn Vui Phi Trường” và “Lính Thành Phố” độc giả biết, Dương Hùng Cường là một quân nhân, phục vụ trong binh chủng Không Quân. Nhưng người ta sẽ không biết rõ phần đời quân ngũ của ông, nếu không có đoạn hồi ký của nhà văn Nguyễn Thụy Long, tác giả tiểu thuyết “Loan Mắt Nhung.” (1)

Trong hồi ký viết về những ngày đầu khi mới gia nhập binh chủng Không Quân, trước khi trở thành nhà văn, Nguyễn Thụy Long kể rằng, chiều chiều, tan sở, ông lấy xe đạp, đạp ra khỏi trại, hoặc đi học thêm, hoặc gặp bạn bè.

Ông nhắc tới những người bạn văn nghệ thuở đó, có người đã thành danh, bước hẳn vào nghề cầm bút, như nhà thơ Hoài Nam từ Huế trở về Sài Gòn, đổi bút hiệu là Trần Dạ Từ. Nhà thơ, nhà văn Trần Thị Thu Vân có bút hiệu mới là Trần Thy Nhã Ca. Hai người bạn thời niên thiếu của ông đã có thơ, văn đăng nhiều trên các tạp chí uy tín, trong khi ông vẫn còn nao nức với mơ ước nghiệp văn của mình.

Ông viết: “…Tôi yêu thích những bài thơ của Cung Trầm Tưởng, cuốn phóng sự ‘Buồn Vui Phi Trường’ của Dương Hùng Cường và vẫn hy vọng được tiếp xúc với anh, góp phần vào tờ báo Lý Tưởng của đơn vị…” (Trích hồi ký Nguyễn Thụy Long).

Một người bạn cùng phi đoàn trực thăng với Nguyễn Thụy Long, có thơ được đăng tải trong nguyệt san Lý Tưởng của binh chủng Không Quân, được ông nhắc tới một cách thân ái là Hạ Sĩ Lưu Văn Giỏi, người làm thơ ca tụng nghiệp bay, có bài thơ “Nghiêng Đôi Cánh Sắt” được chọn đăng trong báo Lý Tưởng. Lưu Văn Giỏi đã trang trọng cắt bài thơ dán vào tập vở, trình bày hoa lá cành thật đẹp, dĩ nhiên có cả hình chiếc máy bay. Lưu Văn Giỏi hy vọng có ngày sẽ thu góp thành một tập thơ để ấn hành… Trong khi mơ ước trở thành nhà văn của ông Long vẫn mờ mịt!

Chẳng những thế, ngay những ngày mới nhập ngũ, ông đã gặp một “tai nạn nghề nghiệp” khá trầm trọng, nếu không được “đàn anh” Dương Hùng Cường kịp thời can thiệp.

Tác giả thuật rằng, khi ông lái chiếc xe đa dụng “tractuer” ra khỏi cổng phi đoàn, ngang qua một nhóm lính bị kỷ luật, đang làm công tác “cỏ vê” thình linh ông nghe một người tù có vẻ lớn tuổi hơn cả, quăng cái xẻng xuống, giận dữ, hét lớn:

“-Này, cái thằng cai ngục kia, mày dám đánh trung sĩ không thì đến đây. Tao Trung Sĩ Dương Hùng Cường ba gai số một đây, giỏi thì đụng ông.

Anh cai ngục không vừa, xách cây hầm hầm đi đến: Ở tù rồi thì thằng nào cũng như thằng nào, bất kể quan quyền. Ở đây tao là người có quyền, cấp bậc trung sĩ của mày không phải là to đâu, ông đánh hết…

Trung Sĩ Dương Hùng Cường đứng chống nạnh: Giỏi thì cứ việc…

Đám tù đứng xổng người lên, một tay có vẻ ngang bướng: Mày mà đụng vào Trung Sĩ Cường hay bất cứ thằng nào ở đây nữa, chúng tao thịt mày liền.” (Trích hồi ký Nguyễn Thụy Long)

Giữa lúc căng thẳng đó, một nhân vật khác xuất hiện. Theo tác giả thì ông ta là trung sĩ “sếp sòng” ở cổng Phi Long, một người nổi tiếng hắc ám, từng phạt tân binh Nguyễn Thụy Long vài lần vì quân phục không nghiêm chỉnh.

Nắm bắt được vấn đề rất nhanh, ông cảnh cáo anh hạ sĩ coi tù rằng: “Thằng hạ sĩ còi kia, dù sao anh Cường cũng là hạ sĩ quan, mày không nên quá đáng. Thôi được, làm việc đi anh Cường. Tôi với anh là bạn, anh cứ cho nó thi hành nhiệm vụ, riêng với anh hưởng quy chế đặc biệt.”

Không đợi hạ sĩ cai ngục phản ứng, tác giả “Buồn Vui Phi Trường” nói lớn: “Mày coi chừng. Ông tướng tao còn không sợ, ‘mó dái ngựa’ đều đều nên mới phải vô đây, chúng mày chưa là cái giống gì…” (Trích hồi ký Nguyễn Thụy Long).

Vừa mới chứng kiến cảnh “nộ xung thiên” của ông nhà văn họ Dương, người Nguyễn Thụy Long ngưỡng mộ, mong sớm được gặp thì, tác giả “Loan Mắt Nhung” (sau này) đã bị ông “sếp sòng” cổng Phi Long thị uy, ra oai.

Lý do, ông Long được trung úy, sếp lớn, ra khẩu lệnh, mang đồ tiếp liệu về nhà riêng của ông ta, cũng trong vòng rào phi trường; nhưng không cấp giấy xuất kho, cũng không cấp giấy sử dụng công xa… Nếu bị kết tội thì đây là một trọng tội khiến người phạm tội sẽ phải ra tòa án binh; chắc chắn sẽ bị xử nhiều năm tù, và bị ghi vào quân bạ!…

Sau khi thông báo nội vụ cho cấp trên, ông trung sĩ “sếp” cổng Phi Long ra lệnh tống giam Nguyễn Thụy Long, ngay lập tức. Vì sự việc xảy ra vào lúc xế trưa, nên chiều hôm đó, ông Long không được cấp phát phần ăn. Nhà văn Dương Hùng Cường tình nguyện chia phần ăn của mình cho Nguyễn Thụy Long.

Với tư cách đàn anh đi trước, nhà văn Dương Hùng Cường tỏ dấu lo lắng cho Nguyễn Thụy Long. Ông hỏi Nguyễn Thụy Long, có thể có được một chứng cớ nào không? Thì, rất may là ông Long còn giữ trong túi mảnh giấy viết tay của ông trung úy, sếp lớn của tác giả “Kinh Nước Đen.” Bằng vào mảnh giấy có bút tự của viên trung úy kia, tác giả “Vĩnh Biệt Phượng” ngay buổi chiều ấy, đã cứu mạng Nguyễn Thụy Long trong gang tấc.

Trước đó, ông Cường cảnh cáo Nguyễn Thụy Long rằng: “…Mày chẳng là gì cả trong quân đội, một hạt cát, không được bằng một hạt cát, thân phận tối đen, tao đã trải qua rồi, tao nổi khùng, tao chửi toáng lên, sức mạnh của tao là ngòi bút, tao là văn sĩ mày biết không? Tao chống bất công ở bất cứ đâu…” (Trích hồi ký Nguyễn Thụy Long).

Tôi nghĩ khi ghi lại chuyện kể trên, ngoài việc muốn bày tỏ lòng biết ơn tác giả “Buồn Vui Phi Trường,” Nguyễn Thụy Long còn muốn cho độc giả thấy phẩm cách rất đáng kính trọng, đáng ngợi ca của nhà văn Dương Hùng Cường. Một nhân cách khá hiếm hoi, dù ở thành phần hay, giai đoạn nào trong xã hội!

Cũng chính Nguyễn Thụy Long đã ghi nhận rằng, chỉ vì tính cương cường chống lại mọi bất công áp bức của xã hội mà ông Cường dù tốt nghiệp chuyên môn ở trường huấn luyện Không Quân Marrakeck, Pháp, về nước, ông và các bạn đồng khóa được Tổng Thống Ngô Đình Diệm ký sắc lệnh hưởng chức trung sĩ QLVNCH. Nhưng suốt thời Đệ Nhất Cộng Hòa và một nửa thời gian thuộc nền Đệ Nhị Cộng Hòa, ông vẫn chỉ mang cấp bậc trung sĩ, trong khi các bạn đồng khóa, hầu hết là sĩ quan, kể cả sĩ quan cao cấp…(2) (Du Tử Lê)

————

Chú thích:

(1) Theo trang mạng Dòng Nhạc Xưa thì nhà văn Nguyễn Thụy Long sinh năm 1938, mất ngày 3 Tháng Chín, 2009, tại Sài Gòn, hưởng thọ 71 tuổi. Trong sự nghiệp văn chương của mình, Nguyễn Thụy Long đã viết hơn 30 truyện trong đó có 20 tác phẩm hiện được lưu trữ tại thư viện của Viện Đại học Cornell, New York. Ông vào đời sớm, có thể nói thủa thiếu thời và những ngày mới lớn, Nguyễn Thụy Long thật sự là người của hè phố. Ông lặn hụp kiếm sống với đủ thứ nghề như một kẻ bụi đời chính hiệu, nhưng trái tim ông lại thuộc về một thế giới khác: Thế giới của cảm xúc, biến mọi nhọc nhằn thành chất liệu cho ước mơ văn chương. Từ đó người đọc có thể bắt gặp nhân vật tiểu thuyết của Nguyễn Thụy Long có được sự nhẫn nhục và chịu đựng mọi nghịch cảnh một cách nhân ái, độ lượng. Một số những tác phẩm tiêu biểu của Nguyễn Thụy Long, có thể kể: Chim Trên Ngọn Khô, Vác Ngà Voi, Sầu Đời, Vết Thù… đặc biệt “Loan Mắt Nhung,” tiểu thuyết được dàn dựng thành phim, do đạo diễn Lê Dân thực hiện. Qua cuốn phim này, nhà văn Nguyễn Thụy Long lại càng được độc giả, quần chúng yêu thích hơn nữa. (Nguồn Wikipedia)

(2) Trường Không Quân Marrakech ở căn cứ không quân Avord, miền Nam Paris, Pháp. (Wikipedia-Mở)

(Nguồn: Nguoivietonline.com)

Nguyễn Ngọc Chính: Dương Hùng Cường với “Buồn vui phi trường”

Dương Hùng Cường (1934 – 1979), hay còn có bút hiệu Dê Húc Càn, sinh ngày 1/10/1934 tại Hà nội. Ông gia nhập Không quân, thụ huấn lớp cơ khi viên tại Pháp năm 1953 và trở thành hạ sĩ quan cơ khi phục vụ tại nhiều đơn vị từ năm 1955.

Giữa thập niên 1960 ông phục vụ tại Phòng Tâm Lý Chiến, Bộ Tư Lệnh Không Quân, với cấp bậc Chuẩn uý. Ông là một cây bút nối tiếng trong giới văn nghệ, cộng tác với nhiều nhật báo, tuần báo ở Sài Gòn.

Sau 1975, Dương Hùng Cường bị tù cải tạo tới năm 1979. Năm 1984, bị bắt giam với tội danh gián điệp do viết bài gửi ra nước ngoài và qua đời tại nhà tù T20, số 4 Phan Đăng Lưu, Gia Định, năm 1987.

Nhà thơ Du Tử Lê viết về Dương Hùng Cường:

“….Nếu không kể những văn nghệ sĩ được CSVN cho về nhà vài ngày để chờ chết thì, Dương Hùng Cường là một trong những nhà văn bị chết trong tù. Cái chết của ông, cho đến nay, vẫn không ai được biết rõ nguyên nhân.

“Dương Hùng Cường là một nhà văn miền Nam Việt Nam, nổi tiếng, dù viết không nhiều. Cho đến ngày qua đời, ông chỉ cho xuất bản trước sau ba tác phẩm. Đó là các cuốn “Buồn Vui Phi Trường,” “Lính Thành Phố” ký sự và “Vĩnh Biệt Phượng” tiểu thuyết. Mặt khác, Dương Hùng Cường cũng nổi tiếng với bút hiệu Dê Húc Càn, trên tuần báo trào phúng Con Ong của nhà báo Minh Vồ.

“Bút hiệu Dê Húc Càn của nhà văn Dương Hùng Cường được ký dưới những bài viết châm biếm tệ trạng xã hội, tố cáo những bê bối của các nhân vật tai to mặt lớn ở miền Nam…

(hết trích)

Dương Hùng Cường (1934 – 1979)

Cũng viết về những ngày cuối cùng của tác giả “Buồn vui phi irường”, nhưng với tư cách bạn đồng tù, nhà văn Hoàng Hải Thủy, trong bài “Cái chết của nhà văn Dương Hùng Cường” có nhiều ghi nhận cụ thể, chi tiết hơn.

Một buổi sáng tháng 5 năm 1984, khi ở biệt giam 10 và bạn tù Trần Ngọc Tự (Trung úy Không quân). Tự và Dương Hùng Cường quen biết nhau qua Trần Tam Tiệp (Không quân) khá thân ở biệt giam 9, nhà tù Phan Đăng Lưu, chưa kịp nói gì nhiều với nhau thì, khi ghé mắt nhìn ra đầu hành lang hai ông thấy tác giả “Buồn vui phi irường” bị CA áp tải vào phòng giam.

Trong buổi sáng đó, nhà văn Hoàng Hải Thủy nói, ông được biết ca sĩ Khuất Duy Trác bị giam ở biệt giam 1. Biệt giam này ở ngay đầu hành lang, cạnh bàn làm việc của cai tù gác khu C1, nên Khuất Duy Trác không thể nói năng, hỏi han, trao đổi tin tức gì được với những bạn tù phòng bên. Họ Hoàng nhấn mạnh:

“Như vậy là anh em tôi 4 người : Dương Hùng Cường, Trần Ngọc Tự, Khuất Duy Trác và tôi – được công an thành Hồ đem xe bông đến nhà rước đi. Trong cùng một đêm. Vài ngày sau chúng tôi được tin anh Doãn Quốc Sỹ cũng bị bắt, đang nằm biệt giam khu C2 đâu lưng với khu C1 của chúng tôi.”

Không Quân hồi đó có mấy nhà văn, nhà thơ nổi tiếng. Thứ nhất là Toàn Phong, Cung Trầm Tưởng, và Dương Hùng Cường. Một điều khá lạ là trong các vị tư lệnh KQ có tới hai người là nhà văn có tác phẩm và biểu trưng được phần nào tinh hoa của quân chủng.

Ðó là nhà văn Đại tá Toàn Phong Nguyễn Xuân Vinh với “Đời phi công” và nhà văn Trần Văn Minh, tư lệnh KQ từ năm 1967 đến 1975, tác giả của những tập truyện ngắn “Trong đục” và “Chết non” ở trong nước và “Chốn lao xao” ở hải ngoại.

Cung Trầm Tưởng tên thật là Cung Thúc Cần, sinh năm 1932 tại Hà Nội, gia nhập Không Quân năm 1952 và du học tại Pháp. Ông tốt nghiệp học viện hàng không quân sự nổi tiếng Salon của Pháp, nơi xuất thân của hầu hết các cấp chỉ huy cao cấp của Không lực sau này.

Sau năm 1975 ông bị cải tạo 10 năm và định cư tại tiểu bang Minnesota, Hoa Kỳ. Thời kỳ 20 năm văn học miền Nam ông là một nhà thơ có nét đặc biệt riêng và ông cũng là người chủ trương tủ sách “Con đuông” nhằm phổ biến tác phẩm trong vòng hạn hẹp và gạn lọc.

Sang sống ở hải ngoại ông xuất bản 3 thi phẩm: “Bài ca níu quan tài”, “Lời viết hai tay” và “Những dấu chân ngang trên một triền phiếm định”. Hơi thơ của ông viết ở hải ngoại rất khác biệt với thơ ông thời trong nước.

Dương Hùng Cường viết “Buồn vui phi trường” dựa bối cảnh là phi trường Biên Hoà và xóm chơi bời Dốc Sỏi, ở đó những tiếng cười dậy lên trong nỗi buồn bàng bạc. Nhà văn Duyên Anh đã từng tâm sự:

“Tôi đọc nhiều hồi ký, phóng sự, truyện ngắn, truyện dài của những người không quân viết mà tôi thấy không bằng bút pháp của DH Cường, cái được, cái thực ở đó!”

Nhà văn Dương Hùng Cường (Dê Húc Càn)

Ðọc “Buồn vui phi trường” thấy được đời sống những người lính của một thời kỳ có nhiều biến cố, khi ấy quân chủng còn những bước chập chững sơ khai. Những người trẻ tuổi xuất thân từ Rochefort, Salon, Marakech đã đặt nền móng cho một không lực hùng hậu gồm hơn năm chục ngàn chiến sĩ trong hàng ngũ và hai ngàn máy bay đủ loại về sau này. Những phi trường lúc ấy còn nhỏ bé lắm và sinh hoạt cũng trong nhịp rời rạc không như về sau này nhộn nhịp cùng với nhịp độ của chiến tranh.

Ngay từ phần đầu của cuốn sách, tác giả đã giới thiệu về 2 nhân vật chính trong truyện:

“Từ sau vụ công tác Cao Nguyên, khi trở về Sàigòn, Trung thường đi chơi với Thắng. Chàng nhận thấy ở cái anh chàng thợ máy biết bay này, có nhiều thứ trái ngược. Vừa già dặn, vừa trẻ con. Vừa từng trải, vừa ngây thơ. Nghĩa là Thắng có thể ngồi nói chuyện Tam Quốc Chí với các cụ già mà còn có thể ngồi đấu chưởng với lũ lỏi.

“Thắng lúc nào cũng mặc một chiếc quần “Jean” màu xanh, bạc phếch. Chàng còn cầu kỳ, bôi dầu máy thành nhiều vệt dài. Đó là lối trang điểm của James Dean… Thắng có một lối lái xe Vespa bạt mạng. Trên sân đậu phi cơ, Thắng hay biểu diễn nhiều vụ “xin tí lửa” cho anh em coi. Xe đang chạy mau, chàng nghiêng cho sàn xe Vespa quẹt xuống sân. Bên phải, bên trái, bên nào cũng được. Những đống nhớt chảy trên sân, thằng nào chạy xe lên cũng té, mà Thắng chạy qua cứ phây phây…

(hết trích)

Thắng vừa được lên chức thượng sĩ nhưng anh chàng có vẻ ghét thậm tệ cái lon này vì nghe có vẻ già nua quá. “Mẹ kiếp, cứ để ông mang lon trung sĩ nhất ông lại còn khoái. Mang cái lon Thượng-sĩ, chẳng ra cái mẹ gì cả!…”

Trong Không Quân, cấp bực tuy rằng không hạn chế, nhưng phải chạy theo cái nghề mà mình làm. Làm sĩ quan, nếu theo cái nghề quan sát viên thì ít khi nào có thể lên được cái lon thiếu tá. Làm thợ máy, ít khi nào có thể lên được cái lon thiếu úy. Nếu làm lính gác cổng thì ít khi nào lên được tới cái lon thượng sĩ.

Thắng có bằng tú tài I từ năm 1952, thời gian qua đi mười mấy năm mà Thắng không thi nốt cái bằng tú tài bỏ dở. Ngày đó lại phân biệt “tú tài văn” (thi đậu khi còn ở ngoài “xi-vin”) và “tú tài võ” (đi thi khi vào lính được vớt đến hơn một chục điểm nên rất dễ đậu).

Có những buổi chiều, khi đèn Sài Gòn vừa bật sáng, Thắng và Trung hay lang thang trên đường Tự Do. Đôi khi, hai đứa tạt vào thăm mấy cái snack bar, tìm mấy chị “me Tây già”, còn sót lại của cái thời “săng-đá”. Những giờ phút đó, Thắng nhớ tới cái trường thợ máy Rochefort, rộng mênh mông, con đường 14 Juillet dài sâu hun hút ở tận bên Pháp.

Thắng lại nhớ tới những phi vụ buồn chán, trực “flare ship”. Chiếc phi cơ chở đầy bom soi sáng, cất cánh lúc mười giờ đêm, bay vòng vòng ở điểm đợi trên không phận Sài Gòn trong sáu tiếng đồng hồ. Nếu có một đồn bị địch tấn công ở dưới đất gọi lên thì trực chỉ đồn đó để thả những trái hoả châu cho sáng rực cả vùng trời. Còn không thì cứ bay ở trên trời cho hết sáu giờ đồng hồ trực chiến.

Cuộc đời cứ dần qua cho đúng câu triết lý của dân hạ sĩ quan Không quân trong “cư xá độc thân”: “Ăn cơm Lê Văn Lộc, ngủ hội trường Phi Long, đầu cắm ba ngọn nến”.

Những quán nước dưới gốc cây điệp, cũng mang lại cho những người lính trẻ, những niềm tủi hận mênh mông. Những người có vợ mở quán nước, lấy việc nhà làm chính, còn những công việc của Không Quân chỉ là công việc phụ!

Còn những chuyến công tác miền Trung, Thắng là nhân viên phi hành đoàn của một chiếc C47, chở bom soi sáng, túc trực ngoài Đà Nẵng. Chiếc C47 vượt qua hai giờ rưỡi bay, hạ cánh xuống phi trường Đà Nẵng. Thắng đứng giữa biển và núi.

Thắng vào lính đã gần ba mươi năm, đã qua tất cả các phi trường, nên đi tới đâu, cũng gặp những người quen biết cũ. Với những anh em chữa lửa, Thắng đã từng chia với nhau những lo âu, những bực bội của cái thời Bearcat F8F Biên Hoà, ăn cơm chung với nhau nơi phi trường Nha Trang cát trắng.

Những chiếc F8F bất thường như những cô gái “tốc-kê”. Sắp sửa hạ cánh, nhất định chỉ thò ra có một cẳng. Tới những con người khu trục tài hoa như Nguyễn Thế Long, Phạm Phú Quốc, Lưu văn Đức… Vừa cất cánh lên khỏi phi đạo, cao độ mới chừng hai trăm thước, lộn một vòng làm một “tonneau” xong thì ba cái bánh xe biến mất!

Có những lần, tàu bay lộn úp sấp, nằm úp xuống phi đạo, mất nhiều công phu, trục, lôi, kéo, chữa lửa chực sẵn để dẹp từng tia lửa. Đến lúc kéo được ông phi công ra thì ông ta kêu mất kính Ray-Ban, mất bóp!

Cuộc đời của một phi công trực thăng chở xác chết cũng ly kỳ không kém. Có những xác chết, mặt mày nhăn nhó như đã trải qua những giây phút đau đớn cùng cực trước khi chết. Thường thường, họ cố bấu víu lấy sự sống nhưng những vết thương trên người quá kinh khủng, khiến người nhìn xác chết có cảm tưởng như xã hội của những người đầy đủ xương thịt đã đóng kín cửa lại rồi…

Khi tên người nào được đem ra đặt tên cho một câu lạc bộ, thì kẻ đó tất nhiên là đã “ngỏm củ tỉ” như Lê Hoành Sơn, Lê văn Lộc, Huỳnh Hữu Bạc… Có những người bạn, từ lâu không gặp, Thắng tưởng rằng nó đổi đi xa, không ngờ một hôm ghé qua một căn cứ, gặp cái bảng tên nó treo trước một quán ăn.

Những thằng đã chết rồi nếu không đặt tên cho câu lạc bộ, người ta cũng mang tên ra đặt tên cho một con đường. Con đường đi qua cư xá độc thân của Thắng mang tên Thượng sĩ Lê Đình. Ngược con đường Lê Đình là đường Trung úy Trương Hiệp, đường Chuẩn uý Võ văn Xuân, đường Trung uý Nguyễn Thống…

Tác phẩm “Buồn vui phi trường”

Khi biến cố 30/4/1975 xẩy ra, Dương Hùng Cường không di tản vì thời gian này, vợ ông, bà Vũ Hoàng Oanh, mang thai đứa con thứ 6; và lại là con trai: niềm mong ước trong bao nhiêu năm của họ Dương. Tuy nhiên, cuối cùng ông cũng không được thấy mặt con lúc ra đời vì đã sớm bị tập trung cải tạo!

Như một xui khiến của số mệnh, bà Vũ Hoàng Oanh, người yêu của nhà văn khi đó đang làm việc tại phi trường Biên Hoà. Họ đã có có hội gần nhau và cuộc tình dẫn đến kết cuộc tốt đẹp là đám cưới vào năm 1964.

Định mệnh có những sự trùng hợp kỳ lạ: có hai phụ nữ cùng mang tên Oanh, một người là Vũ Hoàng Oanh (phu nhân của nhà văn Dương Hùng Cường) còn người kia là Ấu Oanh (bạn đời của ca sĩ Duy Trác). Như đã nói ở phần trên, nhà văn và ca sĩ gặp nhau trong lao tù sau ngày 30/4/1975.

Cả hai người phụ nữ tên Oanh đều là cựu học sinh trường Trưng Vương và định mệnh một lần nữa đưa đẩy cả hai đều chọn ngành sư phạm, ra trường một người về dậy tại Sài Gòn, còn người kia về Biên Hòa.

Trong thời “điêu linh”, cả hai cô Oanh vừa nuôi con vừa nuôi chồng cải tạo cho đến một ngày, Ấu Oanh viết một câu chuyện trong đó có đoạn thật bi thảm:

“Oanh được phép đến trại giam Phan Đăng Lưu để nhận diện xác chồng trước khi được phép chôn cất. Đám tang phải làm gấp ngày hôm sau và chỉ cho 2 người mang áo quan vào lấy xác tại khám Chí Hoà mà thôi. Hôm sau tôi đi cùng với Oanh nhưng phải ngồi chờ ngoài gốc cây trước cổng trại cùng với các con nhỏ của Oanh. Số bạn bè và họ hàng thân thuộc đến đưa tiễn đều không được tập trung một nơi mà phải phân tán rải rác dọc theo con đường Hoà Hưng, chờ đợi khi xe tang ra đến đầu đường rồi mới được tháp tùng theo.

“Tôi chợt nhớ đến bài thơ “Đi nhận xác chồng” của Lê Thị Ý:

“Mùi hương cứ tưởng hơi chồng

Ôm mồ cứ tưởng ôm vòng người yêu!”

Ấu Oanh – Khóc bạn

***

* Tham khảo thêm bài viết “Khóc Bạn” của Ấu Oanh tại http://chinhhoiuc.blogspot.com/2016/04/khoc-ban.html.

(Nguồn: chinhhoiuc.blogspot.com)

Bài Mới Nhất
Search