Hoàng Hưng: QUEN MÀ LẠ, CHUYỆN LÀNG QUÊ…

(Đọc thơ Nguyễn Thị Hải)

Mở sách đọc vài bài, bỗng bồi hồi như gặp lại một thời… tưởng như không bao giờ trở lại. Giữa một mùa hè nghiệt ngã, đầy biến động, đầy bức xúc, đầy trăn trở, đầy dự cảm không lành… bỗng được dìu vào một cảnh giới an nhiên, của hoa cải vàng và bướm, và… những âm thanh đã quá lâu không nghe, như vọng lại từ một làng quê Yên Đổ xa xưa (làng xóm người về nghe xao xác, nợ nần năm cũ hỏi lung tung…), nhưng lại là rất mới:

Hoa cải


Nhà bà hàng xóm trồng một đám cải


Rau cải ăn hoài hủy suốt mùa đông

Sau cùng sót lại một đám hoa cải 

Tặng lũ bướm xuân vừa mới ra ràng

Rau củ mùa đông


Trong màn sương muối giá buốt


Những người đi chợ sớm

Gánh rau thồ củ

Kĩu kịt

Mẹ tôi cầm vài đồng tiền

Chờ sẵn đầu cầu 

Ới gọi bán rau gì đấy

Đáp lại là

Xu hào xà lách bắp cải cà chua

Cải đắng cải ngọt súp lơ

Khoai tây rau mùi rau diếp

Những rau củ mùa đông

Lần lượt qua cầu

Mờ ảo trong sương

Và hiện ra rất thực 

Trong chiếc rổ của mẹ

Không phải những bức tranh quê lắm màu của cô hoạ sĩ hàng tỉnh (Anh Thơ), câu ca dao tình tứ của chàng trai phố huyện (Nguyễn Bính), câu hát quan họ dặt dìu của anh lính nhớ quê (Hoàng Cầm), cái ngỗ ngược nghênh ngang của cậu trai làng nhiễm máu giang hồ bạt tử (Đồng Đức Bốn)… Làng quê này là những mẩu chuyện nho nhỏ, không đầu không đuôi, chẳng có chuyện gì, như vơ vẩn… của một cô gái đích thị người làng. Với giọng kể thật thà, lời mộc mạc, chẳng chút tu từ. Những ghi chép tình cờ bắt gặp trong sổ tay của một cô học trò làng về mọi sinh hoạt ngày thường ở làng, đủ tình đủ cảnh. 

Một bắt chợt ý nhị, đáng yêu:

Cô dâu


Cầm chổi quét xác pháo tơi bời


Ngửi nốt mùi thuốc pháo thơm ấm

Khuôn mặt đầy đặn như nàng Tiết Bảo Thoa

Đã rửa sạch phấn son đám cưới

Mỉm cười ý nhị với anh chồng tốt mã mà đoảng

Đang ngẩn ngơ nhìn

Một cảnh quen thuộc trong nhà qua cái nhìn dí dỏm:

Giọt nước mưa


Bà cụ còn giận chuyện ngày hôm kia


Cháu ngủ say rồi vẫn vỗ ru

Giọt trước rỏ đâu

Giọt sau rỏ đấy

Ông con dỗi

Mặt hằm hằm không nói

Hút thuốc lào phả khói

Vào trời mưa

Một hí hoạ dân dã: 

Tiếng kèn


Khi làng trên lúc xóm dưới


Khi kề ngay bên vách

Kèn đám ma như bông hoa sắt

Mà cái cuống gắn chặt vào vòm miệng hôi sặc mùi thuốc lào và rượu thịt được thết đãi

Cật lực thổi ra âm thanh buổi lễ chết

Loan báo khắp vùng

Bà cụ ngồi nhai trầu nét mặt cau có

Bảo đám ma tao may mà tao chết

Không cũng bị chúng nó thổi cho thủng lỗ tai

Thế thôi cũng đáng để yêu một giọng thơ làm sống lại cái làng quê mới đây mà đã không thể còn gặp được sau vài chục năm đô thị hoá ào ạt xô bồ bừa bãi trên khắp đất nước!

***

Nhưng còn hơn thế. Ngoài những cảnh, tình dễ thấy ở làng, và cũng là quen trong văn chương về làng lâu xưa, cô gái làng này bắt được những cảnh tượng khá lạ. 

Có cái gì đó như dấu hiệu của một thiên nhiên đe doạ:

Trăng đỏ


Đêm tối có người đi đến


Không đánh tiếng

Cứ bước sầm sầm

Kéo lại hỏi chuyện gì

Bèn ngửa mặt lên trời

Trỏ vào vầng trăng đỏ quạch

Quầng ngũ sắc rừng rực  

Nói như đinh đóng cột 

Thể nào mai cũng mưa

Có cái gì đó như một gương mặt bí mật mơ hồ lọt vào giữa đám đông quen thuộc: 

Làng nhỏ


Một cơn bão


Một trận lũ

Cô lập ngôi làng nhỏ

Mọi người tụ tập xem cây cầu gãy

Ngoảnh lại thấy rặt người làng

Có mỗi một người khách lạ

Đến nhà ông B tuần trước

Đi mất trước cơn bão tới

Thì ra cô gái làng này không đơn giản. Cô có chiều hướng suy tư, hướng nội trong những sinh hoạt diễn ra đơn điệu của làng quê: 

Tát nước


Mảnh ruộng thì to


Gầu dây thì nhỏ

Hai người lẳng lặng tát

Tát triền miên 

Đến độ

Quên luôn mảnh ruộng

Quên luôn chiếc gầu

Quên luôn bản thân

Đầu óc trống rỗng

Đúng lúc ấy mẹ bảo

Gượm. Đổi bên cái nào

Cầu ao


Chậm rãi rửa từng lá rau trên cầu ao nhà mình


Đưa mắt nhìn sang cầu ao đối diện

Sắp tới giờ bà cụ nhà ấy vo gạo nấu bữa trưa

Nhưng cũng có thể thằng con ra tập bơi

Thân thể đang lớn của nó duỗi căng trong làn nước

Mình nghĩ mình hóa thành đá 

Bất động trong không gian này mãi mãi

Chú tâm rửa sạch từng lá rau

Những vệt bùn, con sâu nhỏ

Thì mình sẽ trì hoãn được thời gian

Trì hoãn được dòng chảy của đời mình

Để nó không cuốn mình phăng phăng về phía trước

Ôm rổ rau xanh ngắt

Dưới gốc hòe mùa không hoa

Mình đợi mãi 

Mà chẳng có ai ra cả

Có phải vì thế mà cô bắt được từ hư không những hình bóng quá khứ:

Hướng nhà


Từ hướng nam xoay ngược sang hướng bắc


Trổ một lối ngõ mới ra đường

Xây gian bếp, khoảng sân mới

Nhà trước thành vườn sau

Chìm dần vào quên lãng

Đứa cháu đích tôn thừa kế mảnh đất tổ tiên

Một đêm sáng trăng mở cửa sổ buồng ngủ

Trông thấy bà nội quá cố nhiều năm trước

Dò dẫm bước xuống bậc cầu ao hoang phế

Tấm lưng còng nhỏ bé

Kì cọ chiếc nồi gang đã bán đồng nát khi nào

Mà cô suy tưởng từ những cái “thực” đến những cái “ảo”, như cái “tính linh”, “ông buồn ông vui”; mà cô sống thực với “ông Thênh ông Thang“, với “cái mênh mang”?

Thợ mộc


Ngừng tay đục giữa đám dăm bào mùn cưa


Mùi thịt gỗ váng vất nồng đượm

Lão thợ mộc nhìn ra mảnh vườn

Thư thả ngắm con gà trống chộn rộn khoe trổ bộ mã lòe loẹt                                  

với lũ gà mái chân chỉ chất phác và nhẹ dạ

Trong thoáng chốc nó như hóa công hóa phượng

Rạo rực tính linh

Hóa thân ảo diệu trên cành táo sum suê xanh biếc

Lão thợ mộc nhắm nghiền đôi mắt

Nhớ thật kĩ trong óc khoảnh khắc biến hiện vừa rồi

Trước khi trở lại với mũi đục và phiến gỗ


Trong gỗ sẽ sống thiên thu con chim phượng hoàng linh thánh mang cặp mắt gà nhà
thuần lương thảo dã


Bí mật của bậc sáng tạo ẩn dật trong nghề mọn đổi cơm mua rượu chốn quê mùa

Ngõ


Tiếng cười phá lên trong ngõ


Rồi tắt đi thành cái mím chi

Rồi thành nét vành nghiêm nghị

Rồi thì khóe mép trễ xuống rầu rầu

Ngõ gì mà dài thế

Một người mà như hai

Ông buồn đánh tráo ông vui

Ở quãng nào chẳng rõ

 
Chú


Đúng lúc tôi nghĩ mình có hai ông chú


Một ông tên Thênh Một ông tên Thang

Nghe cứ mênh mang

Thì từ đằng xa

Chú tôi đi lại

Vai quang gánh 

Gánh nhẹ hều

Như không gánh

Tôi nép sang vệ chào  “Chú”

Chú mơ hồ chào  “Cháu”

Như không phải chú 

Như không phải cháu

Như tôi mới chào cái mênh mang 

Và thế rồi mênh mang chào lại

Điều đáng nói là tất cả những gì mang dáng dấp “triết lý” ấy đều hết sức giản dị, chân thật, tự nó toát lên từ câu chuyện vơ vẩn, vụn vặt. 

Bởi trong cuộc đời, thực ra cái thực và cái ảo lẫn làm một như đoạn ống dây tưới này. Nhà thơ có nhìn ra nó hay không mà thôi!  

Ống dây tưới


Bị vứt lại giữa vườn


Cạnh những luống rau xanh tốt

Vào lúc nửa đêm

Bỗng hóa thành con rắn

Trườn đi

Không tiếng động

Giữa màn sương rơi xuống lộp độp

Đến rạng sáng

Người ta trông thấy nó

Vấy bùn nằm cứng đờ

Còn nguyên đoạn dây thun băng bó

Cho một lần thương tích cũ

Đến đây, không khỏi liên tưởng một bài thơ rất ngắn đã làm nên cả một trường phải thơ đầu thế kỷ 20 ở Mỹ (imagism): 

Quá nhiều thứ phụ thuộc vào


một chiếc xe cút kít
đỏ


tráng men mưa


bên lũ gà con
màu trắng

(Williams Carlos Williams)

Chỉ sự vật, không lời bình, không cảm xúc, nhưng là sự vật ôm chứa trong bản thân nó tư tưởng.

Là một kẻ suốt nửa đời người đi tìm cái MỚI LẠ trong thơ thế giới, hôm nay bỗng thấy mình bồi hồi khi bắt gặp cái LẠ MÀ QUEN trong thơ của một cô gái làng Việt thời nay. Như một vạt cải hoa vàng gặp lại sau chặng đường dài leo núi trèo non… 

Hoàng Hưng

(Plano, TX tháng 12/2018 )

*Nguyễn Thị Hải là tác giả tập thơ Một dòng tiểu sử của bạn tôi, NXB Đà Nẵng & DOMINO BOOKS 2018.

Bài Mới Nhất
Search