Phan: HỘC TẾ BẦN

Tranh Minh Họa – Bảo Huân

1.

Trong chỗ làm có cái tủ đựng đồ nghề, cô bạn nhỏ hay bỏ bánh kẹo lung tung trên bàn làm việc nên tôi dọn một hộc tủ và bỏ những thứ ăn vặt của cô ta vào cho gọn chỉ vì nghe cái tên từ ngày cô vô làm đã thấy thương quê, thích cái tên miệt vườn mà tôi phải ra công. Cô tên Nguyễn thị Kim Em nên ai cũng gọi ơi ới, “Em ơi, tới giúp anh một tay, giúp cô, giúp chú một tay…” Cô là người dễ nhờ nên được lòng mọi người. Riêng tôi nghe mọi người gọi, “Em ơi…” thấy sao sao đó nên tôi gọi cô là Little Elm. Tôi giải thích với cô: Little thì đúng với vóc dáng em rồi, còn “Em” tiếng Việt sang Mỹ, thêm chữ “L” vào giữa thành tên Mỹ. Một cái tên Mỹ vừa hay vừa đúng với em vì Little Elm là “cây du nhỏ”, nghe dễ thương như em vậy.

   Cô hơi thiếu tự nhiên khi trò chuyện với tôi nên có lần tôi hỏi, “Anh thấy em vui vẻ, tự nhiên với mọi người. Nhưng có chuyện cần trao đổi với anh hay việc phải làm chung thì em hơi thiếu tự nhiên…”

   “Tự… em thấy anh ít nói, ít khi thấy anh cười. Mặt lúc nào cũng nghiêm, chăm chú làm việc như anh là con rể của ông chủ hãng…”

   “Em nghĩ anh bao nhiêu tuổi rồi mà làm con rể, anh là ba vợ của ông chủ hãng thì đúng hơn.”

   …

   Sau đó cô bớt căng thẳng khi tiếp xúc với tôi vì cô tin tôi cũng biết nói chơi chứ đâu phải lúc nào cũng củi mục. Tới hôm nghe cô trò chuyện với ông già Việt nam đang làm chung, ông già hỏi,

   “Kim Em.”

   “Dạ.”

   “Con tên Kim Em vậy chị con tên Kim Anh, phải không?”

   “Dạ đúng. Mà sao chú biết?”

   Ông già cười bí hiểm… “Cái ông kia còn lợi hại hơn chú! Ông ấy biết tên má con luôn…”

   Cô Em nhìn tôi thăm dò, nhưng tật nhiều chuyện nên không hỏi chịu không nổi, “Anh biết tên má em thiệt hả?”

   “Có gì mà không biết! Chị của Kim Em là Kim Anh thì má của song Kim là Kim Sào vì kim em là kim lẹm, kim anh là kim may thì mẫu hậu đương nhiên là Kim Sào… may bao bố được luôn.”

   Cô phá lên cười khoái chí, nói với ông già: “Trời ơi, đại ca này ha chú. Hồi con mới vô làm, thấy ổng là con né vì ổng nghiêm quá, nhưng hôm con nói: Đại ca làm việc như con rể của ông chủ hãng, đại ca đòi làm ba vợ của ông chủ hãng mới đúng. Con nghi lắm, thấy đại ca nghiêm vậy nhưng không chừng là một tay phá ngầm lợi hại. Hôm nay thì đúng rồi, biết tới tên má con luôn mới lợi hại. Chiều nay đi làm về, con bái kiến Kim Sào mẫu hậu. Kim Em tiểu qủy đã hồi gia trang… cho má con lên tăng xông luôn.”

   …

   Từ đó, tôi với cô Em bình thường hoá quan hệ, thậm chí đồng minh ruột vì hai anh em tung-hứng nhịp nhàng chọc phá thiên hạ cho mau qua giờ. Cô Em biết rang bắp dữ lắm, nghe người ta khè nhau đã mua được bao nhiêu đất ở Việt nam rồi, người tính tới hưu thì về bên đó xây lâu đài tình ái… dưỡng già. Bị người đạo đức giả về xây chùa, cất nhà dưỡng lão, trại trẻ mồ côi cười mỉa người kia ích kỷ, hẹp hòi. Nhưng đôi bên đều trăm voi không được bát nước sáo, rang bắp không đều tay nên nổ không giòn. Cô Em ngứa miệng hỏi tôi: “Anh đã coi qua tiên tri mới nhất của thần đồng Anan chưa? Anh có tin Việt nam mới là con rồng châu Á thứ thiệt trong vài năm tới vì dưới biển Đông là đất hiếm, ký đất ký vàng của ngành công nghiệp bán dẫn đang cháy thị trường toàn cầu. Thời đại của trí thông minh nhân tạo nên chip bán dẫn càng khan hiếm… Thần đồng mới ra tiên tri mới thôi mà giá đất đảo đất hiếm, đảo Phú Quốc bên Việt nam đã lên chóng mặt…”

   “Coi rồi. Anh tính nhẩm thôi đã nản lòng vì anh bán nhà bên đây, về Phú Quốc chỉ đủ tiền mua miếng đất 1m x 2m. Lỡ bồ cũ xin ở trọ thì hai đứa chắc phải nằm chồng lên nhau chứ sao đủ chỗ nằm…”

   Nói vậy mà bà con xôn xao về Phú Quốc mua đất đầu tư! Hỏi miết ‘tiên tri mới nhất của thần đồng Ấn độ đăng ở đâu?’ để họ về nhà xem, bàn với ông xã rút tiền 401 K về Phú quốc mua đất đảo bán đất hiếm – ký đất ký vàng… Mỗi ông già Việt nam tủm tỉm cười, “Con giặc này nha, lúc này thành tinh như đại ca mày rồi!”

2.

Người Việt vẫn gọi cô ơi ới, “Em ơi…” với đủ thứ chuyện trên đời, nhưng người Mỹ gọi cô là “Little Elm” vì cô nói với họ tên Mỹ của cô do ba chồng tôi đặt cho tôi cái tên Mỹ đẹp như bonsai, đúng không? Làm người Mỹ tưởng tôi là ba chồng của cô thật, ai cũng mắc cười khi biết ra con nhỏ này ba trợn không vừa…

   Cô người miền tây nên ăn nói tự nhiên như lục bình, điên điển, muốn trôi đâu trôi, muốn mọc đâu mọc. Gặp ông già Tàu-Chợ lớn hơi khó ở, “Cô Em này, sếp không cho đem bánh kẹo, nước uống vô chỗ làm, có ăn lén thì bỏ túi áo chứ sao cứ bỏ trên bàn cho sếp thấy lại hỏi của ai? Tôi trả lời: không biết, sếp cũng không tin mà tưởng của tôi.” Thì ra thứ nhất là ông sợ vạ lây chứ chỗ làm thiếu ngăn nắp, thiếu vệ sinh thì ông dư dân tộc tính. Thì ra thứ hai cũng là ông sợ vạ lây với cô Em lục bình, điên điển muốn trôi đâu trôi, muốn mọc đâu mọc… giờ làm mà đi lung tung, bạ ai tám với người đó, tám đủ thứ chuyện trên trời dưới đất. Chuyện người ta không nhờ cũng giúp tay, trong khi việc mình bỏ đó. Nên ông sợ vạ lây mà cự cô nói chuyện lớn tiếng, cười thấy mười cái răng… đi làm mệt thấy cha, có gì vui đâu mà nói cười suốt ngày?

   Cô đã có vốn ba chồng đặt cho cái tên Mỹ để đi lừa thiên hạ nên gạt luôn mọi người khi gọi ông Tàu là má chồng. “Má chồng ơi, má mới có hai tàu tám mà đã khó giàng trời. Cô giải thích hai tàu tám là chưa phải ba tàu vì ông sinh ra ở Chợ lớn, biết nói tiếng Việt, biết ăn nước mắm nên còn có hai tàu tám, đừng khó ưa như ba tàu. Ông phải biết mặc kệ người ta như ba chồng tôi vậy đó!”

   Hai người họ không hợp khẩu nhưng cũng không có gì quá đáng với nhau vì ông già có ưu điểm là ít nói nhưng khuyết điểm nói ra ưa mếch lòng người khác vì người Tàu nói tiếng Việt thì cần thông cảm như người Việt nói tiếng Anh. Đôi khi người Việt nói tiếng Anh trật lất nhưng người Mỹ không để bụng, không bắt bẻ, không làm khó… miễn họ hiểu là được. Trong khi người Tàu nói tiếng Việt lại bị xoi mói nhiều, chỉ chứng minh được người Việt thích làm khó người khác hơn người Mỹ. Như ai nhờ ông làm việc gì đó, ông bảo chỉ ông làm thì người Việt khi dễ ra mặt, “việc đơn giản vậy mà cũng phải chỉ mới làm được sao?” Ông thật tình nói, “ăn cháo cũng phải chỉ mới biết biết ăn chớ! Không chỉ sao ăn được?” Từ đó, mọi người nhờ ông nhưng lời lẽ khó nghe, dù họ cho là bình thường như, “Ông già, lại đây tôi chỉ ăn cháo nè, rồi làm cho tôi…” Lẽ ra không nên phân biệt như thế với mọi người, nhưng ngặt người Tàu nợ người Việt một ngàn năm đô hộ nên có cơ hội thì con cháu người Việt không tha con cháu người Tàu.

   Còn cô trẻ bụng ngoài dạ, thích là nói, không kể trời đất. Thật không ngờ câu trả lời của cô với ông già Tàu ưa càm ràm, “Sao tôi thấy người ta càng già càng dễ chịu, còn ông chưa già đã mắc thằng bố, càm ràm hoài…” Ông Tàu làm sao hiểu “mắc thằng bố” với “càm ràm” là gì? Nhưng ông biết cái hộc tủ tôi dọn để chứa bánh kẹo của cô Em là kho tàng của những người thích ăn vặt, và ông là kẻ thích đi tìm kho báu nhất!

   Đàn ông thường không thích ăn ngọt nên cô có mời chú bác anh chị thì họ cũng cầm cho cô vui nhưng họ bỏ lại hộc tủ đó cho cô, và cô cũng không biết luôn vì nhiều quá trong hộc tủ thì sao nhớ hết. Tiếp theo là chú bác cô dì, anh chị, những người hơi lớn tuổi cũng là những người ngại ăn ngọt, bánh kẹo ở nhà họ nhiều quá nên họ đem vô hãng, bỏ hộc tủ cho con Em nó ăn bớt dùm.

   Cô Em đi làm là niềm vui vì ở nhà bị chồng hay cằn nhằn cô ăn ngọt nhiều quá. Hai đứa con cũng không vui vì bánh kẹo phải chia ba cho mẹ một phần. Nhưng tánh người nam bộ thảo ăn, thích mời người khác, tánh cô Em là người nam bộ nên rộng như sông Tiền, sông Hậu, cho là cho hai ba cái bánh, hai ba viên kẹo chứ cho một cái cô thấy mình hẹp hòi, nhỏ mọn… Cứ như thế nên đồng nghiệp vui vẻ trong tình đồng hương cho đến ngày cô nổi giận với ai đó không chỉ lấy ăn không hỏi còn lấy giấu chỗ khác hay đem về nhà vì ông già Việt mới cho cô hộp bánh đậu xanh hiệu Rồng Vàng của người bạn mới đi Việt nam về đã cho ông. Ông không ăn nên đem vô hãng cho con Em.

   Lần đầu tôi thấy cô càm ràm, “Ai mà ác nhơn dữ vậy trời, chơi nguyên hộp, không chừa cho tui một cái?” Ông già Việt đã cho cô hộp bánh đậu xanh không nói gì, chỉ viết ba chữ “hộc tế bần” lên mảnh giấy rồi dán lên học tủ. Cô Em cũng không hiểu nên hỏi, “tế bần” là gì vậy chú? Ông nói, “tế là cứu tế, bần là bần cùng. Trước năm ’75 có trại tế bần cho người vô gia cư vô ở, ăn ở không phải trả tiền như trại trẻ mồ côi vậy.”

   Cô Em suy nghĩ một lát, đáp: “Nếu đừng có giải phóng thì Mỹ đen qua Việt nam mình ở nhiều hết biết luôn vì có trại tế bần ha chú? Cái hộc tủ bánh kẹo của con toàn Mỹ đen không mời cũng đến, ông già Tàu không hẹn mà gặp hoài… Con sanh sau hoà bình nên không biết trại tế bần. Phải má con sanh con sớm thì con cũng vô trại tế bần ở, được ăn bánh kẹo free…”

   Tôi hơi lùng bùng lỗ tai với người sanh sau hoà bình, họ có những suy nghĩ khá lạ lùng vì hồi tôi còn nhỏ ham chơi, tháng nào rớt hạng cuối tháng, cầm giấy xếp hạng hằng tháng về nhà cho cha  hay mẹ ký tên rồi nộp lại cho cô giáo. Rớt hạng là nỗi ám ảnh tuổi nhỏ vì sẽ bị cha mẹ cảnh cáo, hăm doạ không nuôi tôi nữa, cho vô trại tế bần ở. Sợ lắm vì những chuyện trong trại tế bần nghe thôi đã sợ nên sợ bị đuổi khỏi nhà phải vô trại tế bần ở là tiêu đời. Nay cô Em tự nguyện vô trại tế bần ở để được ăn bánh kẹo free. Đúng là nằm mơ giữa ban ngày, điếc không sợ súng.

   Nhớ xưa, ngay trong xóm thôi đã có sự phân biệt những đứa trẻ có đi học sẽ chơi với nhau, những đứa không đi học chơi với nhau, không có chuyện chơi chung vì việc đi học với không đi học đã là hai thành phần xã hội do người lớn áp đặt trẻ nhỏ suy nghĩ như thế nên cha hay mẹ thấy tôi chơi với những đứa không đi học thì tôi sẽ gặp rắc rối. Khiến tuổi nhỏ đã có suy nghĩ trẻ có gia đình với trẻ mồi côi trong trại mồ côi là hai thế giới, sự khác biệt không hiểu thì cứ hiểu là hai thế giới không chung đụng với nhau là được.

   Thôi thì mỗi thế hệ có suy nghĩ khác nhau, tôi lạ gì người miền tây không bị ảnh hưởng nhiều bởi tác động xã hội. Cho dù đời sống khó khăn hay lúc dư giả thì người nam bộ vẫn rộng lượng, thảo ăn, hiếu khách. Nay nhập gia tùy tục với nước Mỹ thì tính nết người nam bộ vẫn không thay đổi trước xã hội Mỹ hợp chủng quốc nên bị thiệt thòi, mà họ cũng chẳng quan tâm vì trời sanh ra họ ở nơi thiên nhiên ưu đãi, sự trù phú của miền nam làm cho con người không so đo miếng ăn. Thế hệ trước tôi là ông già viết ba chữ “hộc tế bần”. Với ông, có lẽ chết đói cũng không cho phép mình đi lấy thức ăn của người khác mà không hỏi xin. Với ông, mối thù giặc phương bắc tuy không nói ra nhưng chưa bao giờ ngọn lửa căm thù trong ông vơi bớt. Ông viết ba chữ ấy với sự khinh bỉ nhưng cô nhỏ không hiểu, ông cũng giải thích “tế bần” theo nghĩa đơn giản chứ không nói nghĩa bóng ông coi khinh, xem thường vì ông biết ai đã bợ nguyên hộp bánh đậu xanh.

   Tôi cũng chướng mắt với ông già Tàu, đi làm chỉ đem theo chai nước trà, nước sâm hay nước mát gì đó của người Tàu. Dĩ nhiên là không mời ai nhưng ông bình thản tới hộc tế bần lấy bánh kẹo không hỏi, rồi đi nghỉ giải lao với chai nước của ông. Những người Mỹ đen cũng bình thản kéo hộc tế bần không hỏi, rồi ra phòng nghỉ mua lon nước ngọt trong máy, họ tiết kiệm được khoản tiền mua thêm cây kẹo hay gói bánh trong máy để ăn cho đỡ đói giữa giờ.

   Nhiều người Việt cũng thấy chướng mắt, nhất là những bà chị, hàng cô của cô Em. Họ cũng không ăn ngọt, còn đem bánh kẹo vô cho cô Em nhưng chướng mắt trước hành vi không hỏi, bánh kẹo không phải của mình sao tự nhiên lấy, bị bắt gặp thì cười trừ…Họ nói cô Em khoá hộc tủ lại thì không khoá được một hộc tủ riêng lẻ, họ nói dán giấy “Xin hỏi trước khi lấy” thì tôi xé liền khi nhìn thấy vì khác nào “lậy ông con ở bụi này” về phía mấy sếp ưa dòm ngó; Về mặt những người hay ghé hộc tủ bánh kẹo của Em không hỏi thì họ sẽ tố giác với sếp, thói đời mà.

    Nghĩ rộng tới văn hoá Mỹ cũng hay là cái gì free thì người ta tận tình chiếu cố, khác nhau chút thôi là tùy người chứ cũng không hẳn là dân tộc tính. Người bạn làm chung là Mỹ trắng thì anh ta, cô ta nói với người làm chung: Ngoài phòng ăn đang cho free cúp uống cà phê, bạn có muốn thì ra lấy một cái. Tôi lấy rồi. Nhưng người châu Á nói chung thường thích lấy hai, ba cái chứ không phải một. Nếu cái thùng đựng cúp uống cà phê có ghi rõ “mỗi người một cái” thì nhờ những người không cần cúp uống cà phê nhưng cứ lấy một cái, rồi cho em, cho anh, cho chị… cuối cùng cũng có hai ba cái đem về nhà, để cho nặng tủ, chật tủ chứ có xài hết đâu!

   Người Mỹ trồng cà chua, đậu bắp, dưa leo cho vui. Họ thu hoạch xong không để dành ăn như người Việt, không đem vô hãng bán như người Lào mà bưng vào hãng cả thùng cạc tông cho mọi người cùng ăn cho vui. Những người chung vui Mỹ đều vui vẻ lấy trái dưa hay trái cà và ăn luôn vào bữa trưa cho vui. Nhưng người châu Á nói chung lại không lấy một trái, không lấy một thứ mà lấy được bao nhiêu cứ lấy, sẵn sàng cãi nhau với những người cũng muốn lấy hết như mình. Chiều tan hãng, xách cả túi cà chua, dưa leo, đậu bắp… về nhà. Tôi không tin là người xách cả túi không hiểu những ánh nhìn của người Mỹ, tuy không phải của họ nhưng họ vẫn nhìn người xách cả túi với ánh mắt rất Mỹ. Bạn có thể quan sát một người trắng có vấn đề với một người đen. Họ hoàn toàn nhã nhặn, lịch sự giải quyết vấn đề vì họ sợ bị chụp mũ kỳ thị, phân biệt chủng tộc… nên bạn chỉ quan sát ánh mắt họ lúc giải quyết vấn đề thì bạn hiểu!

   Thỉnh thoảng nghỉ tay hay mỏi mắt nhìn quanh chỗ làm cho thư giãn, tôi lại nhìn ba chữ “hộc tế bần”. Nghĩ nhiều nhưng không biết diễn tả sao cho đúng với những suy nghĩ trong đầu. Suy nghĩ tôi giữ lại là tạ ơn trên đã cho tôi sống quá nửa đời người chưa phải nhờ đến tế bần giúp đỡ. Nghĩ đến người Mỹ đen thì nơi đây là quê hương của họ rồi còn gì. Họ sống trên quê hương của họ mà sao họ chẳng bao giờ đủ tiền ăn, lúc nào cũng đói. Nghĩ đến những hộp thức ăn thừa sau khi hãng đãi khách, ông già Mễ dọn dẹp không nỡ bỏ thùng rác nên bưng xuống phòng ăn cho ai muốn ăn thì ăn… thương những người Mỹ đen giành nhau, những người da vàng cũng muốn nhưng không có cửa khi giành với Mỹ đen nên ấm ức lắm. Thương ông Tàu già, hẳn là ông khoái khẩu với việc ăn bánh đậu xanh uống nước trà, nhưng ông đâu nghèo tới không có tiền mua; nghĩ đến ông già Việt, thù giặc Tàu phương bắc thì người Việt nào không thù nên thương ông khổ tới già vẫn không vơi thù hận. Ông mang mối thù truyền kiếp còn khồ hơn thiếu thức ăn nên có cơ hội trả thù dù nhỏ tới đâu cũng không bỏ qua cho ông Tàu đương nhiên hiểu “hộc tế bần” nhưng sức cám dỗ của việc ăn bánh không trả tiền lớn hơn lòng tự trọng.

   Ông Phật nói đời là bể khổ nên ai cũng khổ, chỉ khổ khác nhau nên người ta không thấy cái khổ của mình, nên người ta hay nói người này, người kia sung sướng hơn họ trong cõi trọc đời là bể khổ.

Phan

Phan

Bài Mới Nhất
Search