ĐỒNG CHÍ CAMILLO (TẬP 3): Kỳ 10-BA BÔNG LÚA MẠCH

T.Vấn: GIỚI THIỆU G. GUARESCHI

LỜI TÁC GIẢ

Kỳ 10-BA BÔNG LÚA MẠCH

Trong đêm, một cơn gió dữ dội từ phương nào không rõ quét ngang qua đồng bằng, làm đông cứng mặt đất vốn sũng nước. Don Camillo là người đầu tiên tỉnh giấc, bị đánh thức bởi tiếng ngáy như sấm động của Peppone. Những tảng băng dài lủng lẳng bám vào khung cửa sổ, nhưng trong phòng thì vẫn ấm áp nhờ cái lò sưởi to đang rực hồng. Xung quanh ông, tám đồng chí còn lại nằm thiếp trên những chiếc giường dã chiến, người nào người nấy đều gục vì rượu vodka và cơn hỷ lạc náo nhiệt của đêm hôm trước. Don Camillo – như mọi người – vẫn nguyên bộ quần áo trên người từ tối qua. Peppone nằm ngay chiếc giường bên cạnh.

“Nếu hắn không ngáy trắng trợn đến thế,” Don Camillo thầm nghĩ, “thì mình cũng thấy hơi áy náy vì đã làm hắn khổ sở nhiều phen.”

Ông đảo mắt điểm danh. Vâng, ngoại trừ đồng chí Yenka Oregov và đồng chí Nadia Petrovna, ai cũng còn đủ mặt. Còn đồng chí Salvatore Capece thì vẫn còn miếng gạc ướt đắp trên con mắt bầm.

“Lạy Chúa,” Don Camillo khẽ cầu nguyện, “xin thương xót đám người khốn khổ này, và soi sáng cõi mù mịt của họ.”

Ông từ từ hạ chân xuống đất, bắt đầu xỏ giày. Chiếc bên trái ổn, nhưng chiếc bên phải thì như dính chặt vào sàn. Có vẻ như dây giày bị mắc vào kẽ nứt. Ông giật mạnh một cái, và đúng lúc ấy thì Peppone ngừng ngáy. Lý do cho sự trùng hợp này thật đơn giản: Peppone đã buộc dây giày của Don Camillo vào… cổ chân mình.

“Đồng chí à,” Don Camillo trách nhẹ, “tôi không hiểu sao đồng chí lại không tin tôi đến thế.”

“Với đống trò quỷ mà ông đã diễn ngay trước mắt tôi,” Peppone càu nhàu, “thì ai mà biết ông sẽ bày gì lúc tôi đang ngủ!”

Cả hai kéo nhau ra giếng bơm ngoài sân để rửa mặt. Gió lạnh quất vào mặt rát như dao cạo, và dân cư trong mấy căn nhà mái tranh quanh đó thì có vẻ đã rút hết vào trong. Nhưng rồi đột nhiên, không khí chuyển động. Một chiếc xe tải lớn lao tới, và đồng chí Oregov xuất hiện cùng vài người dân địa phương để đón xe. Peppone và Don Camillo cũng bước ra nhập hội.

Một cậu trai nhảy khỏi xe, hô gọi người giúp dỡ chiếc xe mô-tô từ thùng xe xuống. Tài xế cũng bước xuống sau đó và đến báo cáo với đồng chí Oregov. Khi hắn lật cổ áo lông lên, cả nhóm nhận ra ngay: đó là công dân Stephan Bordonny. Thì ra cậu trai đã chạy xe mô-tô suốt chặng đường để gọi cứu viện từ Grevinec, và giờ đây tài xế của đoàn cùng với đồng chí Nadia Petrovna cũng vừa tới xem tình hình thế nào.

“Đừng lo,” đồng chí Petrovna trấn an Peppone sau khi đồng chí Oregov và Bordonny hội ý chớp nhoáng. “Anh ta mang đầy đủ linh kiện cần thiết, xe buýt sẽ sớm được sửa chữa thôi.”

“Không cần kéo xe về đây à?” Peppone thắc mắc.

“Không thể được,” cô lắc đầu. “Đường bị đóng băng rồi. Lốp xe của chiếc tải nhẹ không bám nổi trên mặt băng. Họ sẽ sửa xe ngay tại chỗ.”

“Tôi cũng là thợ máy,” Peppone nói. “Nếu có bộ áo liền quần, tôi sẽ sẵn sàng xắn tay vào phụ.”

Đồng chí Oregov rất hài lòng với đề nghị giúp sức, và đồng chí Petrovna liền nói rằng sẽ thu xếp cho Peppone một bộ đồ thợ.

“Cho tôi hai bộ luôn,” Peppone nói. “Đồng chí Tarocci đây có đầu óc kỹ thuật, chắc chắn sẽ giúp được việc.”

Oregov tán thành và rồ ga chạy mô-tô tới làng Drevinka lân cận để gọi điện báo cấp trên về việc đoàn bị kẹt ngoài ý muốn.

“Đồng chí,” Peppone nói với Petrovna, “như vậy tạm thời đồng chí sẽ phụ trách nhóm còn lại. Nếu ai cư xử không đúng, cứ mạnh tay kỷ luật. Tôi đặc biệt lưu ý đồng chí Scamoggia – hắn chuyên gây chuyện.”

“Tôi suy nghĩ suốt đêm về cách hắn lăng nhục tôi,” Petrovna đáp. “Hắn nợ tôi một lời giải thích.”

Ánh mắt cô lạnh lùng, nhưng cũng phần nào dịu lại nhờ kiểu tóc uốn vĩnh viễn mới toanh mà anh thợ Naples đã kịp làm cho cô từ hôm trước.

Lúc này, hai bộ đồ thợ đã sẵn sàng, và Peppone cùng Don Camillo leo lên xe tải đi sửa xe. Trên đường, Peppone nói nhỏ với Don Camillo:

“Tôi e ngại cho tâm lý của đồng chí Petrovna. Cô ấy có vẻ đang trong giai đoạn nguy hiểm – rất có thể sẽ tìm son môi và sơn móng tay nếu bắt gặp.”

“Không nghi ngờ gì,” Don Camillo gật gù. “Khi nói đến chính trị, phụ nữ luôn có xu hướng cực đoan.”

Cả đoạn đường, công dân Bordonny ngồi lặng thinh, giả vờ như chẳng hiểu hai vị khách Ý đang nói gì. Tài xế xe buýt thì leo lên thùng xe, lăn ra ngủ. Nhưng Bordonny thì không dám lơ là.

Bordonny mang theo đầy đủ dụng cụ cần thiết, và khi đến nơi chiếc xe buýt đang mắc kẹt, anh nhìn qua là hiểu ngay vấn đề. Đầu sau xe được kích lên dễ dàng, nhưng để con đội không trượt trên băng thì phải kê một tấm ván bên dưới. Tài xế xe buýt nhất quyết không chịu chui xuống gầm. Phản ứng của anh ta cũng dễ hiểu, và Peppone ngạc nhiên khi thấy Bordonny quát tháo gay gắt đến vậy. Hắn định can thiệp nhưng Bordonny vẫn tiếp tục nạt nộ. Cuối cùng, người tài xế bỏ đi, lầm lũi bước về phía hợp tác xã.

“Mặc xác hắn!” Bordonny lẩm bẩm khi gã kia đã khuất.

“Tôi không thấy nên trách,” Peppone lắc đầu. “Ai mà muốn liều nằm dưới xe chờ bị đè.”

“Tôi quát chỉ để đuổi hắn đi thôi,” Bordonny giải thích.

Ngay sau đó, họ bắt đầu công việc. Trong khi đang tháo ốc, Bordonny nói:

“Nơi này từng là chiến trường ác liệt ngay trước khi tôi bị bắt, vào khoảng Giáng Sinh năm 1942. Quân Nga tấn công như vũ bão. Khi chúng tôi rút lui, nhiều đồng đội đã nằm lại. Một nhóm khoảng ba mươi pháo binh và lính bersaglieri bị bao vây, nhiều người bị thương hoặc ốm. Quân Nga nhốt họ vào một kho lúa gần kolkhos Tifiz mà các ông vừa tới thăm. Khi chúng tôi chiếm lại khu vực vào hôm sau thì họ đã chết cả. Bị bắn bằng súng máy – họ thà giết còn hơn để tù binh trốn. Tôi có mặt khi xác được tìm thấy. Cảnh tượng thật kinh hoàng.”

Don Camillo và Peppone vẫn tiếp tục làm việc, ngón tay tê buốt vì giá lạnh.

“Chúng tôi gom xác lại và mai táng,” Bordonny kể tiếp. “Nếu đi bộ thêm khoảng ba phần tư dặm về hướng Bắc, các ông sẽ thấy một lối xe bò rẽ phải. Cách ngã rẽ đó chừng trăm mét có một con mương thủy lợi với hàng rào rậm phủ một bên. Men theo hàng rào khoảng hai trăm bước, các ông sẽ thấy một cây sồi lớn phủ đầy dây thường xuân. Mộ nằm ngay đó – trong hình chữ nhật được giới hạn bởi con đường chính, lối xe bò, con mương và một đường tưởng tượng nối từ lối xe tới gốc cây.”

Họ làm việc thêm nửa tiếng nữa mà không nói gì.

“Tôi có thể tự làm phần còn lại,” Bordonny nói. “Nếu có người đến, tôi sẽ bấm còi. Dưới dây thường xuân kia, các ông sẽ thấy thứ cần thấy.”

Don Camillo lập tức quay gót, và Peppone đành bước theo. Bầu trời xám xịt, gió vẫn thổi đều trên cánh đồng trơ trọi.

“Nếu gió ngừng thì sẽ có tuyết,” Don Camillo nói.

“Tôi mong đủ tuyết để chôn ông luôn,” Peppone lầu bầu.

Họ bắt đầu chạy và chẳng mấy chốc đã đến con mương. Lớp băng dày đóng cứng dưới đáy, Don Camillo leo xuống, men theo để đi tiếp. Khi tới cây sồi cổ thụ với những nhánh khẳng khiu vươn lên nền trời xám xịt, họ luồn qua một khoảng trống trong hàng rào rậm. Trước mắt họ là một cánh đồng rộng, vẫn còn lác đác những bông lúa mạch non xanh mướt.

Họ đứng lặng một lúc, nhìn cảnh tượng tiêu điều trải dài. Rồi Don Camillo lấy hết can đảm bước lên vài bước, tay run run vạch đám dây thường xuân sang một bên. Trên thân cây, có khắc một dòng chữ: 27-12-1942, cùng một chữ duy nhất: Italia, phía trên là một dấu thánh giá đơn sơ.

Don Camillo thả dây thường xuân rủ xuống, còn Peppone lặng lẽ tháo mũ, mắt nhìn mênh mông ra cánh đồng, hình dung những cây thánh giá gỗ giờ đã tan biến, những mảnh xương tản mát dưới lớp đất lạnh.

Requiem aeternam dona eis, Domine, et lux perpetua luceat eis…

Khi quay lại, ông thấy Don Camillo đang đứng dưới gốc cây sồi, trước cây thánh giá thô sơ mà Bordonny đã khắc, thì thầm dâng lễ Cầu Hồn.

Deus, cuius miseratione animae fidelium requiescunt: famulis et famulabus tuis, et omnibus hic et ubique in Christo quiescentibus, da propitius veniam peccatorum; ut a cunctis reatibus absoluti, tecum sine fine laetentur. Per eumdem Dominum…

Những bông lúa mạch mảnh mai khẽ rung lên dưới làn gió.

“Con ơi, con ở đâu?”

Peppone bỗng nhớ đến dòng tít tuyệt vọng trên một tờ báo trong những năm cuối của cuộc chiến:

“Con ở đâu, con trai của mẹ?”

Bordonny vẫn tập trung làm việc, nhưng luôn giữ một tai căng ra đề phòng động tĩnh. Khi nghe có tiếng bước chân từ phía kolkhos, anh bóp còi báo hiệu. Không phải là tài xế xe buýt như anh lo, mà là một người Ý – đồng chí tai to. Anh ta đi rất chậm, và khi đến gần, Bordonny ra hiệu dừng lại.

“Giúp tôi một tay đi, đồng chí, cho đến khi mấy người kia quay lại.”

Tavan cởi áo khoác, hăng hái bắt tay vào việc. Trong lúc đó, Peppone và Don Camillo nhanh chóng quay trở lại. Khi họ đến nơi, Peppone nói:

“Đưa cái dụng cụ đó cho tôi.”

Tavan lau tay vào một mảnh giẻ, mặc lại áo khoác, rồi nán lại gần Don Camillo, lúc ấy đang ngậm một mẩu xì gà nhỏ.

Cuối cùng anh lấy hết can đảm lên tiếng:

“Đồng chí, nếu đồng chí rảnh, tôi muốn nói vài lời.”

“Chuyên gia đã tiếp quản rồi,” Don Camillo nói. “Chúng ta có thể nói chuyện một lúc.”

Họ cùng bước lên con đường đất, đi song song với nhau.

“Đồng chí,” Tavan nói, giọng hơi ngập ngừng, “những điều đồng chí nói – nhiều điều là sự thật. Tôi không thể không đồng tình. Nhưng tôi không thể ủng hộ việc đồng chí lên án cả giai cấp nông dân. Ở thành thị, công nhân tụ tập lại, tiếp xúc với văn minh, nằm ngay trung tâm chính trị. Còn nông dân sống biệt lập, không thể mong họ có tinh thần cộng đồng ngay được. Ý tưởng mới lọt vào đầu họ thì khó lắm, đa phần họ không hiểu. Nhưng vài người đã hiểu ra, và đang tìm cách cải thiện cuộc sống.”

Khuôn mặt gầy gò rám nắng và đôi tai vểnh của Tavan lúc đó bỗng trở nên chân thành lạ lùng.

“Tôi biết đồng chí là đảng viên trung thành và siêng năng,” Don Camillo đáp. “Có lẽ tôi nói quá lời. Dù sao đi nữa, tôi không có ý xúc phạm đến lòng tự trọng giai cấp của đồng chí.”

“Không sao,” Tavan nói. “Sự thật thì đúng như đồng chí nói – nhưng chúng tôi đang thay đổi. Chính những người già là rào cản. Ở nông thôn, người già có trọng lượng lớn lắm. Họ ôm đủ thứ quan niệm sai, nhưng vì cả đời họ làm quần quật, nên cãi họ cũng khó. Đảng có mọi câu trả lời, nhưng người già thì vẫn cầm cương. Đảng kêu gọi lý trí, mà họ chỉ nghe trái tim. Dù đầu họ có sáng, tim vẫn là thứ quyết định.”

“Đồng chí à, tôi cũng là con nhà nông, tôi hiểu rất rõ điều đó. Vấn đề nông dân chỉ gói gọn chừng ấy thôi. Và chính vì vậy, ta càng phải tăng cường tuyên truyền.”

Họ tiếp tục bước đi, không ai nói gì.

“Đồng chí,” Tavan bỗng cất tiếng, “tôi, vợ và các con sống cùng với cha tôi – ông đã 75 tuổi – và mẹ tôi – bà 73. Gia đình tôi đã sinh sống trên mảnh đất đó hơn một trăm năm. Cha mẹ tôi mỗi năm chỉ xuống làng một lần, và cả đời họ chỉ ghé qua thành phố lớn đúng một lần. Bây giờ làm sao tôi có thể thay đổi cách nghĩ của họ, nhất là sau những gì họ từng trải qua?…”

Don Camillo quay sang nhìn anh, ánh mắt dò hỏi.

“Nếu trong lòng có điều gì trăn trở, cứ nói ra đi, đồng chí,” ông nói. “Lúc này, anh đang nói chuyện với một con người, không phải với Đảng.”

Tavan lắc đầu.

“Tôi có một người em trai, kém tôi năm tuổi,” anh nói, “nó đã chết trong chiến tranh. Cha tôi thì chấp nhận được chuyện ấy, nhưng mẹ tôi thì không bao giờ nguôi. Khi biết tôi được chọn đi chuyến này, mẹ tôi như phát điên. Tôi đã phải hứa với bà sẽ làm một việc…”

“Em trai anh chết ở đâu?” Don Camillo hỏi.

“Nó đi theo lệnh điều động,” Tavan đáp, “và bị giết ngay tại đây – trong trận đánh vào khoảng Giáng Sinh năm 1942.” Giọng anh nghe nhẹ hẳn ra, như vừa trút được gánh nặng. “Mẹ tôi bắt tôi thề rằng sẽ tìm cho bằng được nơi có cây thánh giá chôn nó… và đặt cái này trước mộ nó.”

Từ túi áo, Tavan rút ra một cây nến dâng lễ, bằng sáp trắng.

“Tôi hiểu rồi, đồng chí,” Don Camillo nhẹ nhàng nói. “Nhưng làm sao anh hy vọng tìm được đúng chỗ chôn?”

Tavan lôi ra từ ví một bức ảnh cũ, mờ nhòe vì năm tháng.

“Đây,” anh nói. “Cha tuyên úy của đơn vị đã đưa tấm này cho mẹ tôi. Có cây thánh giá có ghi tên em tôi, còn mặt sau là tên ngôi làng gần nhất và bản đồ phác họa vị trí.”

Don Camillo lật tấm ảnh xem kỹ, rồi đưa lại cho anh.

“Anh thấy đấy, đồng chí,” Tavan nói, ánh mắt đầy khẩn thiết. “Chính chỗ này. Bằng cách nào đó, tôi phải tìm được. Nhưng sao tôi dám hỏi thẳng những người ở đây?”

Họ đã đi được một đoạn khá xa trên con đường mòn, và giờ thì họ đã đến gần con mương, gần cả cây sồi kia – đúng cái cây được đánh dấu trên bản đồ.

“Đi nhanh lên,” Don Camillo nói, rồi rảo bước. Khi đến mương, ông dừng lại. “Đây là đường, kia là con mương có hàng rào chạy dọc, và kia – cái cây đó.” Nói rồi ông dẫn Tavan men theo đáy mương, leo lên ngay chỗ bên dưới gốc cây sồi. “Đó,” ông chỉ về phía cánh đồng lúa mạch, “chính nơi này là nơi em trai anh đang nằm.”

Ông vén lớp dây thường xuân và chỉ cho Tavan thấy thánh giá cùng dòng chữ khắc trên thân cây: ngày tháng và chữ Italia.

Tavan nhìn trân trân ra cánh đồng, tay cầm cây nến run rẩy. Don Camillo tiến lên vài bước, cúi xuống đào một lỗ nhỏ dưới đất. Tavan hiểu ngay, anh đặt cây nến vào trong lỗ rồi thắp lửa. Đứng dậy, anh tháo mũ, nhìn thẳng về phía trước, lặng im.

Don Camillo lấy con dao nhỏ từ túi ra, cắt một mảng đất nơi có ba nhánh lúa mạch non mọc lên, rồi đặt nó vào trong chiếc ca nhôm mà ông vẫn dùng làm chén thánh khi dâng lễ.

“Thể nào ta cũng tìm được cái ca khác,” ông nghĩ thầm.

Rồi ông quay sang nói:

“Đồng chí, hãy mang phần đất này về cho mẹ anh.”

Hai người quay bước ra rìa cánh đồng.

“Làm dấu thánh giá đi, đồng chí,” Don Camillo nói. “Tôi cũng sẽ làm vậy.”

Từ nơi họ đứng, họ vẫn còn nhìn thấy ngọn lửa nhỏ liu riu của cây nến sáp dâng lễ.

Rồi tiếng còi xe vang lên khiến cả hai vội vã quay trở lại chỗ xe buýt. Trước khi tới nơi, Don Camillo dừng lại.

“Đồng chí,” ông nói, “mẹ anh sẽ vui lòng, nhưng Đảng thì chắc chắn sẽ không.”

“Lúc này tôi không cần biết Đảng nghĩ gì,” Tavan nói, giọng đầy dứt khoát.

Và anh nhẹ nhàng chạm vào chiếc ca nhỏ chứa mảng đất và ba bông lúa, như thể chúng còn đang sống.

G.G.

Bài Mới Nhất
Search