T.Vấn: GIỚI THIỆU G. GUARESCHI
Vài Lời Về Tập 4 – DON CAMILLO VÀ BẦY QUỶ DỮ – Bản Việt Ngữ
VỤ ÁN CHÚ CHÓ BIẾN MẤT
Chú chó Sấm của cha Don Camillo đã bị giáng chức sau một hành vi “không đúng chuẩn mực,” và lãnh án phạt là bị xích lại trong vài tuần. Khi vừa có dấu hiệu ăn năn hối cải, Sấm liền lao ra khỏi cổng vườn, trở về cuộc đời phóng túng, và mất tăm suốt nhiều ngày liền không thấy về nhà.
“Việc mùa săn đã hết không có nghĩa là con được miễn trừ khỏi những bổn phận hàng ngày của một chú chó tử tế,” cha Don Camillo nói. “Con không phải chó hoang hay lang thang, con có gia phả đàng hoàng. Noblesse oblige – quý tộc thì phải hành xử cho ra quý tộc. Dù con có thể tự do đi dạo, thì ít nhất cũng phải về nhà vào buổi tối.”
Sấm nghiêng đầu, lắng nghe với vẻ hối lỗi, nhưng những lời lẽ cao siêu ấy chỉ vào tai này, ra tai kia. Don Camillo thực sự lo sợ sẽ mất người bạn bốn chân thân thiết. Mất chiếc xe máy yêu quý còn dễ chịu hơn nhiều. Nhưng định mệnh vốn trêu ngươi: Sấm biến mất vào sáng thứ Bảy, ngay lúc cha đang dâng lễ sáng sớm. Suốt vài ngày sau, cha vẫn hy vọng chú ta sẽ trở lại, rồi đến lúc không giấu nổi nỗi lo nữa, cha bắt đầu hỏi han những người hàng xóm.
Cả làng không ai thấy tăm hơi Sấm, nên Don Camillo mở rộng tìm kiếm ra các nông trại lân cận.
Thật ra, người đầu tiên cha nghĩ đến là Peppone, vì ngoài cha ra, Sấm chỉ quý mỗi ông chủ tịch xã ấy. Có lần Peppone còn nói: “Chính trị có thể chia rẽ chúng ta, nhưng Sấm khiến chúng ta là một. Tuy nhiên, đến ngày cách mạng, Sấm cũng không cứu được ông khỏi số phận xứng đáng đâu!” Giờ đây, chính là Peppone mà Don Camillo muốn tìm đến. Nhưng tình hình chính trị lúc đó đang căng như dây đàn, nếu cha chủ động tiếp xúc với lãnh đạo phe Đỏ thì rất có thể sẽ gây ra một trận động đất. Rốt cuộc, sau khi mọi ngả đường khác đều vô vọng, Don Camillo đành “gõ cửa” Peppone – nghĩa là gửi thư cho ông.
Kính gửi ông Giuseppe Bottazzi,
Chó của tôi – Sấm – đã mất tích được hai tuần. Nếu anh có bất kỳ tin tức gì, tôi xin cảm ơn sâu sắc.
Trân trọng,
……
Câu trả lời đến ngay lập tức:
Thưa cha,
Nếu chó của cha bỏ đi, tức là nó cũng đã kịp tỉnh ngộ.
Kính thư,
……
Don Camillo không từ bỏ hy vọng. Sau một tháng bặt vô âm tín, cha nhờ anh Barchini in 50 tờ rơi, rồi đích thân đi dán khắp vùng:
MẤT CHÓ SĂN
Ai cung cấp thông tin dẫn đến việc tìm được chó sẽ được hậu tạ.
Ba ngày sau, Don Camillo nhận được một bức thư với hàng chữ in vụng về, không ký tên:
Thưa cha,
Nếu cha muốn tìm lại chó mà không phải mất đồng xu nào, hãy đến rừng keo ở Pragrande, tìm gần cống thoát nước.
Không chần chừ một giây, Don Camillo tức tốc băng qua đồng đến Pragrande. Cha không phải tìm lâu: gần miệng cống có một cây cọc cắm xuống đất, trên đó buộc cái vòng cổ của Sấm, cùng một tấm bảng với hàng chữ nguệch ngoạc:
Đây là nơi yên nghỉ của một trong hai con chó ở nhà xứ. Nó bị xe tải cán phải. Thật đáng tiếc, vì con kia còn tệ hơn nó.
Don Camillo dùng gậy bới lớp đất xung quanh cái cọc. Sau khi đào sâu chừng hai thước, ông lấp đất lại như cũ và lặng lẽ quay về. Về tới nhà xứ, cha lặng lẽ lên phòng, đóng cửa lại để nuốt xuống nỗi buồn và sự phẫn nộ đang cuồn cuộn trong lòng. Vừa xoay xoay cái vòng cổ trong tay, cha vừa lặp đi lặp lại: “Họ giết nó rồi… họ giết nó rồi…” Trong lòng Don Camillo không còn chút nghi ngờ nào nữa: ai đó vì ác ý mà giết chết Sấm. Nhưng là ai? Dù trong cơn giận, cha vẫn không dám nghĩ rằng hung thủ là người quen. Ở cái làng này, không ai đê tiện đến mức đó. Có thể có người giết người vì thù hằn, nhưng giết chó – chỉ để làm đau lòng chủ – thì không.
Suốt cả ngày hôm đó, cha buồn rũ rượi, như thể vừa bốc vác xong cả một con tàu biển. Tối đến, Don Camillo không buồn nói chuyện với ai. Khi ra đóng cửa nhà thờ, cha thấy bà Desolina Fiorini già đang đứng đợi và định xua bà đi không mấy nhẹ nhàng.
“Thưa cha,” bà thì thào đầy bí ẩn, “con có một bí mật muốn nói.”
“Chuyện gì?” Don Camillo hỏi cụt lủn.
“Con đọc tờ thông báo về chú chó…”
“Rồi sao?” Don Camillo ngạc nhiên.
“Cha có treo thưởng cũng vô ích thôi. Có người biết chó ở đâu, nhưng họ không nói đâu.”
“Vậy sao bà không nói?” Don Camillo thở hổn hển. “Bà không tin ta à?”
“Con tin cha, nhưng con không muốn rước họa vào thân vì mấy người đó…”
“Mấy người nào?”
“Thì mấy người… đó, cha. Không phải con nói, nhưng hôm đó, ngày hai mươi bốn tháng trước, cha mất chó phải không?”
“Phải.”
“Vâng. Hôm đó con thấy nó đi với một người trong số họ.”
Don Camillo không thể chịu đựng thêm. Sự cẩn trọng của bà cụ khiến ông phát điên. Dù vậy, cha cũng biết không nên dồn ép quá mức.
“Bà nói đi, Desolina. Bà còn lạ gì ta nữa.”
“Con cũng biết họ mà… Đây không phải lần đầu con thấy con chó của cha đi với họ. Ban đầu nó theo tay cầm đầu – lúc nào cũng quẩn quanh trong xưởng. Rồi sau đó nó lại thân thiết với tay tay chân thân tín của hắn. Con nói thật, con choáng khi thấy chú chó nhà thờ mà lại giao du như vậy.”
“Họ dụ dỗ nó chứ có phải nó tự chọn đâu,” Don Camillo phản đối. “Mà chó thì biết gì về chính trị?”
“Tất nhiên là không, cha. Nhưng con biết chắc rồi sẽ ra nông nỗi này. Ai đời lại kết thân với bọn Đỏ…”
“Desolina,” Don Camillo nói khẽ, “khi bà nói ‘tay chân thân tín’, bà có ý nói thằng Smilzo không?”
“Dạ,” bà lí nhí, sau khi nhìn quanh đầy e ngại. “Chính nó là bạn thân của con chó. Con thấy hai đứa đi với nhau trên xe tải của Peppone nhiều lần rồi… Hôm hai mươi bốn tháng trước, đúng là như thế. Nhưng hôm đó chỉ thấy Smilzo quay về một mình.”
Don Camillo nghe đến đó là đủ. Sau khi trấn an bà cụ, ông quay lại nhà xứ, trằn trọc trong giường suốt đêm. Sáng sớm hôm sau, vừa làm lễ xong, cha thẳng tiến tới xưởng của Peppone. Thật “trùng hợp” khi thấy Smilzo đang có mặt tại đó. Nhưng rõ ràng Peppone không hề chuẩn bị tinh thần để đối mặt với Don Camillo vào giờ sớm như vậy, lại với gương mặt cau có đến thế.
“Cha mất ngủ à?” Peppone hỏi, vừa dè chừng vừa trêu chọc.
“Có chứ. Nhưng ta còn ngủ ngon hơn kẻ có lương tâm mục nát như đống phân chuồng.”
“Cha nói ai vậy?” Peppone gằn giọng, đe dọa.
“Ta nói kẻ giết chó của ta – chỉ để làm ta đau lòng.”
Peppone lắc đầu.
“Chó mất khiến cha hóa rồ rồi. Thôi thì cứ để cha nói. Cha mơ thấy ai giết chó, lẽ ra nên đi gặp thầy bói để tìm số đề, đằng này lại tới kể với tụi tôi.”
“Không phải mơ,” Don Camillo nói, móc từ túi ra chiếc vòng cổ, cùng bức thư và mảnh giấy có dòng chữ. “Tôi tìm thấy nó nằm chết ở Pragrande, với cái bảng này cắm như bia mộ.”
Peppone đọc cả hai.
“Tiếc thật,” hắn nói. “Nhưng cha nhắm nhầm người rồi. Ở đây có người sẵn sàng giết cha để làm vừa lòng con chó, chứ không ai giết chó để chọc tức cha đâu.”
“Không hề nhầm,” Don Camillo gằn giọng. “Ta đang tìm một kẻ, ngày hai mươi bốn tháng trước, đã leo lên xe tải của một người tên Giuseppe Bottazzi, đi cùng với chó của ta, nhưng khi quay về thì không có nó.”
Peppone tiến lên một bước.
“Cha nhắm nhầm chỗ rồi đấy, thưa cha!” ông nói.
“Cảnh sát trưởng thì không nhắm nhầm đâu,” Don Camillo đáp. “Ta sẽ kể hết câu chuyện này với ông ấy, kèm theo danh sách nhân chứng.”
“Tôi chẳng sợ cha, mà cũng chẳng sợ cảnh sát!” Peppone gầm lên. “Nếu có ai giết con chó của cha thì chúng ta cũng đâu làm gì được. Tội lỗi của những vị linh mục đã bán linh hồn mình cho đế quốc Mỹ thì đổ xuống đầu những con chó vô tội thôi!”
“Rồi sẽ biết ai cười sau cùng!” Don Camillo hét lớn, quay người lao ra cửa. “Mười phút nữa sẽ có một quả bom H nổ tung, và lúc đó thì vui đấy!”
Mặt Smilzo lúc này tái nhợt như thiếu phụ mắc bệnh ho lao. Hắn túm lấy tay Peppone, run rẩy van vỉ:
“Đồng chí Chủ tịch, đừng để ông ấy đi!”
Nhưng Peppone nhìn hắn đầy kinh ngạc rồi hất tay hắn ra.
“Anh bị điên à?” ông gắt.
Don Camillo dừng bước, ngoái đầu nhìn lại.
“Ta sẽ vạch trần hết lũ các anh!” cha hét về phía Smilzo. “Đừng có bày trò đóng kịch với ta.”
“Thưa cha, con không giết chó của cha! Con thề đấy!” Smilzo kêu lên.
“Tốt lắm! Vậy thì thề luôn là anh không viết tờ giấy này và cái thư này. Và nhân tiện, thề luôn là anh không chở Sấm đi trên xe tải của Peppone ngày 24 tháng trước?”
“Con không thể thề bừa bãi được,” Smilzo đáp yếu ớt. “Con chỉ thề là con không giết con chó của cha thôi.”
“Vậy thì con chó nào đang bị chôn ở Pragrande?”
“Con không thể nói được,” Smilzo rên rỉ. “Con tìm thấy nó chết bên vệ đường tuần trước rồi đem chôn. Nó trông rất giống Sấm, thế thôi. Sau đó con viết thư nặc danh cho cha chỉ để cha thôi rên rỉ về con chó bị mất.”
Peppone túm lấy cổ áo Smilzo, lắc hắn như thể muốn nghiền nát óc và ruột thành một đống bột.
“Khai hết ra ngay!” ông gào lên. “Không thì ta giết ngươi như chó đấy!”
Sau khi lấy lại hơi thở, Smilzo kể hết mọi chuyện.
“Con với Sấm là bạn thân. Nó là con chó tốt – không ai nghĩ là nó thuộc về một linh mục.”
Don Camillo nhặt cái búa lên khỏi bàn.
“Bình tĩnh, thưa cha,” Peppone nói, can ngăn. “Dọa nạt nhân chứng vô tội thì chẳng ích gì… Cứ tiếp tục đi, Smilzo.”
“Như con nói, tụi con thân nhau lắm. Mỗi thứ Bảy, khi con lái xe tải chở hàng ra chợ, nó cũng đi theo. Có lần tụi con ghé quán rượu ở Peschetto, có thằng kia hỏi con có bán chó không. Con bảo nó không phải của con, con chỉ nhặt được trên đường. Nó bảo nó cần chó đi săn, rồi dúi vào tay con tờ một ngàn lire. Hồi đó con cũng có hơi men rồi, nên con cầm tiền rồi bỏ đi luôn. Nhưng đi được một cây số, con tỉnh ra, biết mình ngu quá nên quay xe lại tìm Sấm. Đúng lúc con quay đầu thì Sấm tự chạy lên, nhảy cái vèo lên xe. Tụi con ghé quán tiếp theo, uống sạch tờ một ngàn lire đó.”
“Đồ khốn!” Don Camillo rít qua kẽ răng, “Anh còn dạy nó uống rượu nữa à?”
“Chỉ là cách nói thôi ạ,” Smilzo lắp bắp. “Con uống rượu đỏ, còn nó thì ăn tô thịt đỏ – món mà con dám chắc lúc ở nhà xứ chưa bao giờ nó được ăn.”
“Đừng lôi giáo sĩ chúng tôi vào đây,” Peppone gằn giọng. “Nói nốt phần còn lại đi.”
“Cũng chẳng còn gì nhiều để kể,” Smilzo nói. “Thứ Bảy sau, con nghĩ lại chuyện đã xảy ra. Trước giờ ăn trưa ở Fornella, con tháo vòng cổ của nó, bôi bùn lên khắp người, rồi dắt nó vào quán bằng một sợi dây thừng. Tất nhiên, sợi dây thắt kiểu ‘giáo sĩ’ nên dễ tháo, và con đã dạy nó cách trốn thoát. Con vào một quán rượu hay có thợ săn, và ở đó con tìm được người muốn mua nó với giá hai ngàn lia. Thế rồi, vân vân và vân vân…”
“Vân vân là thế nào?” cha Don Camillo gắt.
“Tức là con chạy xe thêm một cây số, rồi dừng lại chờ Sấm quay về. Nó đuổi kịp, nhảy vèo lên xe. Thế là lại ăn uống thỏa thuê như trước. Tóm lại, con tìm được một cái nghề béo bở: con bán nó, nó chạy trốn về, rồi tụi con chia tiền.”
“Và nó thấy vui vì cái trò đó hả?”
“Tất nhiên là vui rồi. Nó đâu có bán linh hồn cho Mỹ như cha. Nó hiểu rõ tình hình kinh tế và cái nghĩa vụ phân phối lại của cải.”
Cha Don Camillo lại với tay lấy cây búa.
“Và bây giờ Sấm đang ở đâu?” cha hỏi gằn.
“Lần cuối con thấy nó là ở Castelmonti, bán với giá ba ngàn lia, nhưng nó không quay lại. Chắc lần đó nó không thoát được. Hết chuyện rồi. Con không giết nó; chỉ giả vờ nó chết để cha khỏi rên rỉ nữa.”
“Khá lắm,” Don Camillo lắc tờ giấy trong tay. “Trộm cắp, biển thủ, phỉ báng…”
Peppone xen vào:
“Nói cha còn thua Sấm một bậc thì chẳng phải phỉ báng, mà là sự thật rành rành.”
“Để xem tòa án nói gì,” cha Don Camillo đáp. “Ta không để các anh thoát dễ dàng đâu.”
“Chuyện này không liên quan gì đến chính trị cả,” Peppone nói. “Smilzo có sai thì cũng do nó tự làm, và có sự tiếp tay của chính con chó cha – nó đâu có phản đối gì. Nếu cha muốn kiện thì cứ kiện một cá nhân, chẳng ai ngăn cha bỏ nó vào tù.”
Cha Don Camillo gõ búa xuống đe đánh cạch.
“Ta không cần tống ai vào tù. Ta chỉ muốn con chó của ta! Giữa một thằng ăn cắp đem bán chó người ta với giá ba ngàn lia, và một thằng đi lừa mua chỉ với giá bằng một phần hai mươi thực tế, thì khác gì nhau? Nhưng con chó là của ta, và ta phải mang nó về.”
Peppone lấy áo khoác trên móc, mặc vào.
“Câm cái miệng linh thiêng lại đi,” hắn nói. “Cha sẽ có lại con chó.” Rồi hắn cùng Smilzo bước ra xe tải.
“Ta đi cùng,” cha Don Camillo tuyên bố.
“Đến Castelmonti,” Peppone đáp, trong khi Smilzo khởi động xe. “Tới đó, ta dò xem ai mua nó rồi chuộc lại – bằng cách tử tế hoặc không tử tế.”
Chiếc xe chạy băng băng trên con đường đầy bụi hướng về miền đồi núi. Nhưng đi được chừng bảy, tám cây số thì Smilzo đạp thắng gấp.
“Lại chuyện gì nữa vậy?” Peppone gắt.
Smilzo mở cửa, và một con chó phóng vèo vào ca-bin. Đúng là Sấm. Không ai nói lời nào, Smilzo lặng lẽ quay đầu xe trở về.
Đi được một cây số, bầu không khí im lặng bị phá tan bằng một tiếng gầm gừ. Smilzo lại thắng gấp.
“Lần này là sao nữa?” Don Camillo hỏi.
“Thỏa thuận là trạm đầu tiên phải ghé quán chia tiền,” Smilzo giải thích. “Con còn nợ nó phần lần trước.”
Anh ta cùng Sấm bước vào quán ngay trước mặt. Peppone cũng theo sau, bỏ lại cha Don Camillo một mình. Nắng nóng như mùa hè, dưới mái tôn xe tải, cha bắt đầu đổ mồ hôi như tắm. Cuối cùng, cha xuống xe, bước vào quán, hỏi xin một ly nước.
“Mời cha vào,” ông chủ quán nói, bưng tô mì khổng lồ. “Các bạn cha đang chờ trong phòng bên cạnh.”
Căn phòng mát rượi, yên tĩnh, và mùi mì spaghetti thơm ngào ngạt. Cha Don Camillo ngồi xuống trước một dĩa đầy ụ. Chỉ khi ấy Sấm mới bỏ vẻ lạnh nhạt mà dụi đầu vào cha âu yếm.
Nhưng cha Don Camillo không để bị mua chuộc:
“Ta tự trả phần mình,” cha tuyên bố. “Không ăn cái gì có mùi tiền bất chính!”
“Tôi cũng vậy,” Peppone đáp. “Mỗi người tự lo phần mình, ai chậm thì nhịn. Còn phần Smilzo thì nó trả cho nó và cả Sấm.”
“Vậy thì tôi sẽ trả phần của anh, Peppone,” cha Don Camillo nói. “Như thế thì cả tôi lẫn Smilzo đều đãi chó khách!”
Rồi cha bắt đầu xì xụp tô mì, vì với cha Don Camillo, được nói câu cuối cùng xứng đáng để trả tiền cho cả một trung đoàn.
G.G.
