T.Vấn: GIỚI THIỆU G. GUARESCHI
Kỳ 3 – DON CAMILLO GIẢ DẠNG
“Xin chào ngài Thượng Nghị Sĩ,”
Một người phụ nữ đang lau chùi sàn nhà trọ nhanh nhẩu cất tiếng chào hỏi.
“Xin kính chào đồng chí,”
Người giao sữa vừa hoàn thành công việc buổi sáng của mình cẩn trọng nhỏ nhẹ một câu chào.
“Chào anh chàng ngốc nghếch tội nghiệp,” một gã đàn ông tướng tá cao lớn đứng ngay giữa lối đi bộ trên vỉa hè như thể đang chờ cho Peppone bước ngang qua.
Hắn không buồn hạ cố trả lời, chỉ lấy tay đẩy gã cao lớn qua một bên rồi tiếp tục bước đi. Không gian là Rome, vào lúc 9 giờ sáng. Cỗ máy khổng lồ của thủ đô đang chậm chạp khởi động và cơn ngái ngủ rơi rớt đâu đó có vẻ như vẫn chưa chịu nhường chỗ cho nét tươi tỉnh của một không khí mùa thu êm dịu.
“Chào anh chàng ngốc nghếch tội nghiệp,” gã cao lớn cất lời chào hỏi lần nữa, nhưng giọng điệu đã có vẻ dịu dàng, thân thiện hơn. Một ngày đẹp tuyệt đã bắt đầu ở khắp nơi. Sương mù đang dần dần tan loãng trên những cánh đồng vừa cầy ải xong xuôi; vài giọt sương còn đọng lại trên những lá cỏ ba lá, trên những dây nho nặng chĩu trái nho ngọt ngào vừa chín tới, ẩn hiện dưới những chiếc lá đang biến sang màu đỏ nhạt.
Peppone làu bàu trong miệng câu trả lời. Kẻ thù của hắn cứ phải tìm cách phục kích hắn mỗi buổi sáng ở trước cửa khu nhà trọ để rồi lan truyền đi khắp làng với những tin tức gọi là mới nhất về hắn ư? Để lấy lại bình tĩnh, Peppone châm một điếu thuốc.
“Phải đấy!”, gã cao lớn chưa buông tha hắn. “Xì-gà là thất bại ngay. Dân thành phố vốn không thích những thứ gì nặng mùi. Bà chủ nhà trọ mà nhìn thấy trên góc miệng ngài mẩu xì-gà thì các vị thượng nghị sĩ sẽ mất hết vẻ tôn kính với bà ta đấy. Dù sao thì bà ta cũng là một người phụ nữ dễ mến phải không? Ngài đã tỏ ra rất khôn ngoan khi bảo bà ấy ngài là một người thuộc cánh “độc lập”. Nếu bà ta khám phá ra tông tích Cộng sản của ngài thì chẳng biết thế nào nữa.”
Peppone vất điếu thuốc trên tay đi rồi tháo lỏng cà vạt.
“Phải, ta biết trước đây ngài luôn cảm thấy thoải mái với áo sơ mi cởi phanh ngực và chiếc khăn mù xoa cột vòng quanh cổ. Nhưng một Thượng Nghị Sĩ không thể ăn mặc giống một gã nhà quê cục mịch. Ngài bây giờ đã là một ông lớn rồi, trên bàn giấy của ngài còn có điện thoại và sàn phòng thì lót bằng đá hoa nữa đấy.”
Peppone liếc nhìn đồng hồ đeo tay.
Vẫn cái giọng bám sát hắn ở phía sau:
“Không việc gì phải lo lắng. Ngài đã làm rất tốt việc của mình. Ngài cho thấy khả năng phán xét sắc bén và chính xác trong việc lựa chọn các đại biểu tham dự phái đoàn viếng thăm Liên Xô sắp tới. Chỉ còn thiếu một cái tên trong danh sách mà thôi.”
Peppone bỏ mũ xuống, lau mồ hôi đang chảy đầm đìa trên trán.
“Tất cả là do cái gã đầu cơ ấy mà ra. Ta ước gì mình không bao giờ gặp gã.”
Giọng kẻ đối thoại với hắn vang lên, mang theo vẻ thương hại thực sự:
“Nghe đây, anh bạn à! Anh không nhất thiết phải dính líu gì đến việc này đâu. Tại sao phải mua lấy rắc rối làm gì? Anh có thể buông bỏ hết rồi về nhà với vợ con mà.”
Peppone rên rỉ:
“Không buông bỏ được đâu!”
“Vậy thì xin tạm biệt ngài và hẹn ngày mai. Xin Chúa phù hộ cho ngài!”
Họ đã đi đến trạm dừng xe buýt. Peppone đứng nhìn kẻ thù quen thuộc của hắn bước đi rồi biến mất trong đám đông. Ông ta có bắt buộc phải đi theo ám hắn mỗi buổi sáng với những hồi ức của quá khứ, của những ngày hắn tuy không cao sang danh vọng gì nhưng hạnh phúc hơn; và để chế nhạo hắn với tiếng gọi hết sức quyến rũ “vui đâu cho bằng mái nhà”?
Trên xe buýt, Peppone ngồi đối diện với một người đang đọc tờ báo ngày của đảng Cộng sản La Unità del Popolo được mở rộng trước mặt, tờ báo được giữ ngay ngắn như thể đã được lộng trong một cái khung gỗ. Peppone không nhìn thấy được mặt mũi của người khách đồng hành, nhưng cái điệu bộ vừa kệch cỡm vừa khiêu khích của anh ta khiến hắn tin rằng đúng là một thằng ngốc như con lừa. “Mỗi đảng viên phải đeo huy hiệu đảng trên ngực áo, nhưng phô trương nó một cách hợm hĩnh, khoe khoang là đi ngược với lẽ thường.” Hồi đó, chính Peppone đã từng ra lệnh như thế khi một kẻ nào đó chơi trò hạ cấp với con chó của hắn, con Sét. Linh mục Don Camillo đã quở trách hắn khi đoàn rước thánh thể đi ngang qua mà hắn không chịu ngả mũ. Để đáp lại, Peppone đã có những lời lẽ xúc phạm. Sau vụ đó ít lâu, con chó Sét của Peppone bị một ai đó cạo sạch lông, chỉ chừa lại phần mông đã được xén theo hình búa và lười liềm, biểu tượng của đảng Cộng sản. Từ đó, mỗi lần Don Camillo thấy con chó, ông ta bèn giở mũ như thể giả vờ tôn trọng biểu tượng trên đít con chó.
Peppone ngồi ngẫm nghĩ. “Đó là những ngày mà người ta không vì những khác biệt chính trị mà trở nên cay đắng với nhau. Những ngày ấy, một trận cười hào sảng đủ để xóa tan mọi hiềm khích trong các mối quan hệ và hữu hiệu hơn bất cứ những tranh cãi gay gắt nào.”
Người hành khách ăn mặc bình thường ngồi trước mặt Peppone hạ thấp tờ báo đang cầm trên tay xuống. Nhìn khuôn mặt của ông ta, Peppone phải tự thú nhận trông ông ta không giống một gã con lừa ngu ngốc chút nào. Đôi mắt không có một chút biểu cảm gì vì bị che bởi một lớp kính dầy cộm. Ông ta khoác một bộ trang phục bình thường màu hơi nhạt, trên đầu là cái mũ xám trông còn bình thường hơn nữa. Chả hiểu sao, Peppone có cảm tưởng ông này là một người khá khó chịu, thế nên hắn bực bội vô cùng khi thấy ông ta cũng đang xuống cùng một trạm xe như mình.
Ông ta hỏi hắn:
“Thưa ông, ông có thể chỉ cho tôi đường tới…?”
Hắn la to:
“Tôi sẵn lòng chỉ cho ông đường tới hỏa ngục,”
Người đàn ông bình tĩnh đáp:
“Vâng, chính xác đó là nơi tôi muốn hỏi ông!”
Peppone bỏ đi thẳng, người đàn ông bám theo bén gót. Năm phút sau, ông ta ngồi xuống cùng một bàn với Peppone trong một quán cà phê nhỏ vắng khách. Chỉ sau khi đã xoa dịu cơn bực tức của mình bằng một ly kem đầy hụ, hắn mới từ từ kiểm soát được mình để bắt đầu cuộc đối thoại với kẻ ngồi cùng bàn.
Hắn nói như chỉ thị:
“Trò đùa nhảm của ông đã đi quá xa rồi đấy!”
“Chẳng xa tí nào đâu. Đó mới chỉ là bắt đầu thôi.”
“Ông không hề mong đợi tôi xem cái trò đùa này một việc nghiêm chỉnh, đúng không?”
“Ta không chỉ mong đợi như vậy; ta yêu cầu anh phải xem nó như vậy!”
“Nào, Don Camillo…”
“Gọi ta là đồng chí Tarrocci…” Don Camillo lấy từ trong túi ra quyển sổ thông hành. “Xem đây này, rõ ràng trên giấy trắng mực đen: “Camillo Tarocci thợ in”
Peppone lật qua lật lại quyển sổ thông hành trên tay, vẻ mặt lộ rõ nét khinh bỉ:
“Tên giả, giấy thông hành giả, màu sắc giả nốt.”
“Không đâu đồng chí à, giấy thông hành này là giấy thật đó. Nó được cấp cho một người tên Camillo Tarocci, thợ in và nhìn kỹ xem khuôn mặt này giống hệt như khuôn mặt của ta. Nếu anh không tin lời ta nói thì hãy nhìn thêm cái này nữa.” Chìa ra một tờ giấy khác, ông ta giải thích: “Đây là tấm thẻ đảng viên đảng Cộng sản được cấp cho Camillo Tarocci. Tất cả đều là giấy tờ thực và đúng với mọi luật lệ.”. Rồi không để cho Peppone kịp ngắt lời mình, ông ta nói tiếp: “Chẳng có gì ngạc nhiên ở đây cả. Một số đồng chí có vẻ không như bề ngoài của họ. Và bởi vì Tarocci là một đảng viên sáng chói trong chi bộ của anh ta nên anh chỉ việc viết thư yêu cầu anh ta đề cử khoảng nửa tá người xứng đáng được tháp tùng anh trong chuyến đi sắp tới. Sau đó dĩ nhiên là anh sẽ chọn Tarocci trong số đó. Rồi trong lúc Tarocci về nông thôn nghỉ phép 2 tuần thì ta sẽ đi với anh. Ở Nga, ta sẽ cố ghi nhớ mọi chuyện để khi về kể lại cho anh ta nghe.”
Đến lúc này có vẻ như Peppone đã đến giới hạn của sự tự kềm chế:
“Tôi không biết mà cũng chẳng quan tâm liệu địa ngục có thật hay không, nhưng giả như nó có thật thì đó chính là nơi ông đang lao đầu đến đấy.”
“Vậy thì chúng ta sẽ lại gặp nhau ở kiếp sau, đồng chí ạ!”
Và bây giờ là lúc mọi phòng thủ, giữ gìn của Peppone đã sụp đổ. Hắn mệt mỏi nói:
“Cha à, hà cớ gì cha cứ nhất quyết muốn hủy diệt tôi cho bằng được?”
“Không ai muốn hủy diệt anh làm gì, đồng chí ơi. Sự có mặt của ta trong phái đoàn thăm viếng nước Nga sẽ không có một ảnh hưởng nào đến chính tình nước Nga hết. Những điều hay tốt thì vẫn cứ hay tốt, những điều xấu tệ thì vẫn cứ xấu tệ bất kể ta có mặt ở đó hay không. Vậy thì sao anh lại lo sợ đến như vậy? Hay là anh sợ rằng nước Nga không phải là thiên đường hạ giới của giai cấp công nhân như guồng máy tuyên truyền của các anh hàng rêu rao?”
Peppone chỉ nhún vai không trả lời. Don Camillo nói tiếp:
“Nói thật, điều ta quan tâm là hy vọng nó không tệ như báo chí của bọn ta đã từng vẽ vời về nó!”
Peppone mỉa mai kêu lên:
“Thiệt là một người có công tâm. Cha tỏ ra có con mắt khách quan và vô tư lắm đấy!”
Don Camillo đáp trả:
“Ta không vô tư chút nào đâu. Ta thực sự muốn người Nga được no ấm hạnh phúc. Chỉ có vậy mới giữ được họ ở nhà mà an hưởng thay vì đi quấy rầy người khác.”
***
Một tuần lễ sau, đồng chí Camillo Tarocci nhận tin ông ta đã được chọn tham dự phái đoàn đi thăm viếng nước Nga. Xách trên tay một chiếc va li rẻ tiền, Tarocci đến trình diện tại trụ sở đảng Cộng sản cùng với 9 thành viên khác của phái đoàn. Ngài Thượng Nghị Sĩ đã giới thiệu một viên chức Đảng còn trẻ với phái đoàn. Trước khi lên đường, anh này ban hành một chỉ thị cộc lốc:
“Các đồng chí, chuyến đi này các đồng chí đã có một nhiệm vụ rõ ràng. Nhớ luôn luôn phải mở rộng tai mắt để nghe để nhìn, không chỉ vì bản thân các đồng chí mà còn cho các đồng chí của chúng ta ở nhà nữa. Khi về lại nhà, các đồng chí sẽ phải kể lại cho cả bạn bè lẫn kẻ thù của chúng ta biết về những thành tựu kỹ thuật và tinh thần yêu chuộng hòa bình của nhà nước Liên Xô quang vinh.”
Trong lúc Peppone mặt mũi nhợt nhạt vì lo âu, Don Camillo giơ tay xin phát biểu:
“Thưa đồng chí, thật chẳng đáng chút nào nếu chúng ta cất công đi xa như vậy chỉ để khi trở về kể lại cho bạn bè nghe những điều họ đã từng biết quá rõ và kể cho kẻ thù nghe những điều chúng đã từng nhất quyết không chịu thừa nhận. Tôi cho rằng nhiệm vụ chính của chúng ta là làm thế nào truyền đạt đến nước chủ nhà Liên Xô sự vui mừng và lòng biết ơn sâu sắc của nhân dân Ý về những nỗ lực của họ nhằm giải phóng thế giới thoát khỏi mối đe dọa của chiến tranh.”
Viên cán bộ Đảng trả lời trong miệng:
“Dĩ nhiên rồi, đồng chí! Việc ấy cần gì phải nói.”
Nói xong, anh ta bỏ đi, ngực ưỡn ra, trông dáng điệu có vẻ khó chịu. Peppone tỏ ra hung dữ với Don Camillo.
“Khi một việc gì đó không cần phải nói có nghĩa là nó không cần phải được nói ra. Ngoài ra, ông phải ăn nói bằng một cung cách tỏ lòng kính trọng người mà ông đang nói chuyện với họ chứ. Hẳn là ông không biết người ấy là ai rồi.”
Don Camillo không một chút nao núng, đáp lại.
“Ồ, tôi biết chứ. Anh ta là một thanh niên 25 tuổi, khi chiến tranh nổ ra anh ta mới chỉ 10 tuổi. Anh ta chưa bao giờ lên núi sát cánh với chúng ta chiến đấu chống lại bọn Đức và vì thế anh ta chưa bao giờ biết chiến tranh nó khủng khiếp như thế nào hoặc hiểu được tầm quan trọng về tâm lý của chuyến viếng thăm nước Mỹ của đồng chí Khrushchev để vận động cho lý tưởng hòa bình và giải trừ quân bị.”
“Đồng chí nói đúng lắm!”. Đó là lời tán thưởng từ đồng chí Nanni Scamoggia, một con người to lớn đến từ một khu vực công nhân thuộc hạt Trastevere của Rome. Ông này tướng tá vạm vỡ, có vẻ bất cần đời. “Một khi có tiếng súng nổ ra, hiếm khi chúng ta thấy mấy ông tai to mặt lớn của Đảng ló đầu lộ diện.”
“Từ lúc nào mà mấy anh quyền chức này bày ra cái trò quan liêu –“, đồng chí Walter Rondella, một người thuộc tầng lớp lao động ở Milan, lên tiếng hỏi. Nhưng trước khi anh ta kịp nói hết câu thì Peppone đã xen vào.
“Chúng ta không đến đây để tổ chức một cuộc thảo luận. Nếu không nhanh chân lên chúng ta sẽ lỡ chuyến xe lửa đấy.”
Nói xong, hắn bước nhanh ra cửa, mắt chiếu một tia nhìn hậm hực về phía Don Camillo, tia nhìn mang một cường lực đủ để lật ngược cả một tòa nhà chọc trời. Nhưng ông này vẫn giữ nguyên một vẻ mặt lạnh lùng điển hình của một đồng chí mà cho dù trời xây đất xẩm cỡ nào vẫn triệt để tuân hành mọi chỉ thị của Đảng.
***
Trên xe lửa, mối bận tâm lớn nhất của Peppone là không bao giờ được rời mắt khỏi mọi nhất cử nhất động của đồng chí Camillo Tarocci vô cùng hiểm ác. Hắn ngồi đối diện với Tarocci để kịp thời chặn ông này lại nếu cần thiết. Nhưng đồng chí Camillo Tarocci có vẻ như không có ý định tạo nên một rắc rối nào khác. Ông ta lấy trong túi ra một quyển sách có tấm bìa bọc màu đỏ trên đó in dấu mộc huy hiệu búa liềm và bằng một nét mặt trơ trơ như gỗ đá, ông ta bắt đầu đắm hồn vào những trang sách trước mặt. Chỉ thình thoảng, đồng chí Tarocci ngước mắt lên lơ đãng ngắm nhìn những cánh đồng, làng mạc đang lướt qua bên ngoài. Cuối cùng, ông ta gấp quyển sách lại và bỏ vào túi. Peppone ra vẻ săn đón:
“Cuốn sách hẳn phải hấp dẫn lắm nhỉ!”
Don Camillo đáp lại:
“Tuyệt vời! đó là một tập hợp những trích đoạn của Lênin.” Ông ta đưa quyển sách cho Peppone như một đề nghị kiểm chứng. “Chỉ hiềm một nỗi sách viết bằng tiếng Pháp. Nhưng tôi sẵn sàng dịch lại cho đồng chí nghe đoạn nào đồng chí muốn đọc.”
“Thôi được, cám ơn đồng chí!”. Nói xong, Peppone đưa trả lại quyển sách cho chủ nhân.
Hắn cẩn thận đảo mắt nhìn chung quanh và thở một hơi nhẹ nhõm khi thấy các thành viên trong phái đoàn của mình hoặc đang ngủ ngà ngủ gật hoặc chăm chú vào những tạp chí bằng tranh minh họa. Không ai để ý thấy rằng bên ngoài tấm bìa đỏ mang hàng chữ bằng tiếng Pháp, Pensées de Lénine (Tư tưởng của Lenin), quyển sách ấy lại là sách kinh nhật tụng bằng tiếng La-Tinh.
Ở trạm dừng đầu tiên, một số thành viên bước xuống toa. Đồng chí Scamoggia quay lại với một chai rượu vang, còn đồng chí Rondella thì cầm theo một phụ trang của tờ nhật báo phát hành vào buổi chiều, vừa liếc nhìn tờ báo anh ta vừa lắc đầu tỏ vẻ chán nản. Ở trên mặt trước của tờ báo là những bức hình ngày cuối cùng của Khrushchev ở nước Mỹ và như thường lệ, một đám đông đang mỉm cười vây quanh ông ta.
“Tôi không hiểu rõ ý nghĩa của những hoạt cảnh này, nhưng thấy ông ta tươi cười giữa cái đám mặt ngớ ngẩn miệng toe toét như thế này thì tớ không thể nào chịu nổi.”
Don Camillo bảo:
“Chính trị liên quan đến trí óc, không phải cảm xúc. Liên bang Xô Viết đã trường kỳ tranh đấu để đạt cho được một thế giới sống chung hòa bình. Bọn Tư Bản cổ vũ cho cuộc chiến tranh lạnh chẳng có lợi lộc gì nhiều để vui sướng cả. Cuộc chiến tranh lạnh chấm dứt cũng có nghĩa là thảm họa cho bọn chúng mà thôi.”
Nhưng Rondella mang trong mình dòng máu bướng bỉnh điển hình của một công nhân xứ Milan.
“Đã đành là vậy nhưng tớ hoàn toàn có quyền nói rằng tớ thù bọn tư bản và tớ thà chết hơn là phải đứng cười cợt với bọn chúng.”
“Đồng chí hoàn toàn có quyền nói những gì đồng chí muốn nói. Nhưng đừng nói điều ấy ra với chúng tôi; hãy nói cho Khrushchev nghe thì hơn. Vào lúc chúng ta đặt chân đến Moscow thì ông ta sẽ ở đó. Đồng chí có thể yêu cầu gặp và nói thẳng vào mặt ông ta: “Đồng chí Khrushchev này, đồng chí đi sai đường rồi.”
Don Camillo ranh mãnh như một mật viên Cộng sản ranh mãnh nhất. Khuôn mặt đồng chí Rondella xám ngắt lại.
Anh ta phản đối:
“Đồng chí không hiểu hoặc đồng chí không thể hiểu được ý của tôi. Nếu tôi được giao nhiệm vụ bón phân cho cánh đồng, tôi sẽ làm việc đó. Nhưng không ai có thể buộc tôi phải nói rằng đám phân ấy có mùi thơm.”
Don Camillo ôn tồn nói:
“Đồng chí ạ! Tôi biết đồng chí đã từng là một chiến sĩ du kích. Vậy khi được lệnh thi hành một nhiệm vụ nguy hiểm, đồng chí sẽ làm gì?”
“Tôi thi hành lệnh không một thắc mắc.”
“Đồng chí có bảo các chiến hữu của mình rằng đồng chí không thể nào chịu đựng được cái ý tưởng phải mạo hiểm mạng sống của mình?”
“Dĩ nhiên là không. Nhưng hai câu chuyện có liên quan gì không?”
“Đồng chí này, chiến tranh là chiến tranh, bất kể trời nóng hay lạnh. Và một người chiến đấu cho một lý tưởng chân chính không thể lúc nào cũng có thể thỏa mãn ý riêng của mình.”
Peppone can thiệp:
“Bỏ chuyện đó đi thôi, đồng chí Rondella. Chúng ta sẽ đến một xứ sở mà ở đó chẳng hề có một gã tư bản nào để đồng chí nhìn thấy cả. Điều đó là chắc chắn rồi.”
Rondella thú nhận:
“Tôi cảm thấy thoải mái hơn khi biết được điều này đấy!”
Còn đồng chí Scamoggia chêm vào:
“Điều làm tôi khoái nhất là trong hai tuần lễ tới chúng ta sẽ không phải nhìn thấy một ông tu sĩ nào hết.”
Don Camillo lắc đầu.
“Tôi chẳng hề quan tâm đến điều đó chút nào, đồng chí ạ! Ở Liên Xô chẳng phải có quyền tự do tín ngưỡng đó sao.”
Scamoggia cười nhạo:
“Tự do tín ngưỡng? Ha ha ha!”
“Đừng cười nhạo nhé! Liên Xô rất nghiêm chỉnh với các quyền tự do nghe!”
“Ý đồng chí cho rằng ở đó cũng có tu sĩ à? Cái giống đê tiện ấy thực sự đủ khả năng thách thức sự diệt chủng hay sao?”
“Chúng sẽ tự biến mất đi chừng nào mà không còn sự nghèo đói và ngu dốt. Hai thứ ấy là thực phẩm nuôi dưỡng đám quạ đen, đồng chí à!”
Nhưng Don Camillo tỏ ra bình tĩnh và nghiêm chỉnh hơn bao giờ hết.
“Đồng chí Thượng Nghị Sĩ, đồng chí biết rõ hơn tôi rằng ở Liên Xô không hề còn hai thứ nghèo đói và ngu dốt nữa mà. Nếu như giai cấp tu sĩ còn tồn tại, có thể đó là vì họ vẫn duy trì được một thứ quyền lực nào đó mà nhà nước hiện nay chưa thể kiểm soát được.”
Scamoggia la to:
“Họ có gì nào? Chẳng phải họ cũng được tạo nên bằng xương bằng thịt, như chúng ta?”
Peppone cũng hét to không kém:
“Không, chúng là cặn bã của trái đất này. Chúng là một bầy những tên ngu dốt đạo đức giả, bọn tống tiền, bọn ăn cắp và sát nhân! Ngay đến rắn rít độc địa như thế mà còn biết né không dám cắn bọn tu sĩ vì sợ bị cắn lại, vì sợ nọc độc của chúng.”
“Đồng chí Thượng Nghị Sĩ đã quá nhiệt tình đấy nhé! Sự quá khích của đồng chí chắc hẳn có những nguyên do cá nhân. Nói cho tôi biết nào, đã có vị tu sĩ nào làm hại anh không?”
Peppone cự lại:
“Chỉ cái anh tu sĩ chưa được sinh ra mới có thể làm hại được tôi thôi.”
“Thế còn ông linh mục rửa tội cho đồng chí?”
“Khi ấy tôi mới chỉ mới một ngày tuổi.”
Don Camillo căn vặn:
“Còn ông linh mục làm phép cưới cho đồng chí?”
Scamoggia cười lớn, chen vào:
“Thôi sếp ạ, đừng tranh luận với đồng chí này nữa. Anh ta là kiểu người chẻ sợi tóc ra làm tư làm tám theo lối biện chứng để bảo đảm mình luôn là người có tiếng nói sau cùng.”
Quay qua Don Camillo, gã nói tiếp:
“Đồng chí, những suy nghĩ của đồng chí chẳng khác gì với những suy nghĩ của tôi cả. Thêm nữa, đồng chí biết rõ mình nói cái gì và cũng ghét cay ghét đắng bọn tu sĩ giống như tôi vậy.”
Nói xong, gã rót rượu vang vào mấy cái ly giấy và đề nghị nâng ly:
“Hoan hô Liên bang Xô Viết!”
Đồng chí Rondella phụ họa:
“Đả đảo bọn tư bản!”
Peppone gầm lên, mắt nhìn thẳng vào Don Camillo:
“Giết hết bọn tu sĩ!”
Trong lúc Don Camillo nâng ly ông ta đã ngấm ngầm tặng Peppone một cú đá đích đáng vào ống quyển.
***
Khi xe lửa đến biên giới thì trời đã nửa đêm. Vầng trăng tròn vành vạnh phủ đầy một thứ ánh sáng dịu dàng lên trên những ngôi nhà nằm lọt thỏm giữa một vùng rừng núi. Thỉnh thoảng, khách lữ hành có thể thấp thoáng thấy vùng bình nguyên phía dưới, với những con sông vắt ngang qua như những dải băng và những thành phố trông như những cụm đèn đang phát ra ánh sáng lấp lánh. Don Camillo đứng ở một góc cửa sổ khu hành lang, miệng bập bập xì-gà và thưởng thức cảnh vật. Peppone đến đứng bên cạnh, sau khi nhìn bên ngoài một lúc, hắn thở ra một hơi thật dài.
“Muốn nói gì thì nói chứ khi một người sắp sửa ra khỏi đất nước của mình bỗng nhiên anh ta thấy đất nước mình xinh đẹp biết bao.”
“Đồng chí đang thả mình chìm đắm trong một thứ chủ nghĩa quốc gia đầy ắp những luận điệu lỗi thời, lạc hậu. Đừng quên rằng đất nước mình cũng là thế giới đấy.”
“Vậy thì tại sao lại có nhiều tên khùng tội nghiệp cứ khăng khăng đòi đi lên cho được mặt trăng?”
“Xin lỗi đồng chí, đột nhiên tôi bị chia trí nên tôi không nghe được câu hỏi của đồng chí.”
Peppone lẩm bẩm.
“Ừ thì ông không nghe được câu hỏi của tôi!”
G.G.
