T.Vấn: GIỚI THIỆU G. GUARESCHI
Kỳ 5- MỘT KỲ NGHỈ BẮT BUỘC
‘In illo tempore: Missus est Angelus Gabriel a Deo in civitatem Galilaeae cui nomen Nazareth, ad Vivginem desponsatam viro, cui nomen erat Joseph, de demo David, et nomen Virginis Maria. Et ingressus Angelus ad eam dixit: Ave gratia plena; Dominus tecum….’
(‘Vào lúc ấy, Thiên thần Gabriel được Chúa sai đến một thành phố miền Galilê, tên là Nadarét, gặp một trinh nữ đã đính hôn với một người tên là Giuse, thuộc chi họ Đavít. Trinh nữ ấy tên là Maria. Và Thiên thần vào gặp bà và nói: Kính chào bà, đầy ơn phúc; Chúa ở cùng bà…’)
Chiếc máy bay chở Peppone cùng với một dược sĩ đang bay bỗng hạ thấp cao độ một cách đột ngột khiến hắn phải thở ra gấp gáp. Lúc ấy Peppone đang thắc mắc mấy cái chữ La-tinh sao lại xuất hiện ngay ở giữa không trung và cái tay dược sĩ phản động đáng ghét kia sao lại có thể ngồi cùng máy bay với hắn trong chuyến công du nước Nga này. Trong lúc vẫn còn ngổn ngang với những ý tưởng trong đầu thì âm thanh tiếng La-tinh lại tìm đường len lỏi vào tầng ý thức của Peppone một lần nữa.
‘Quae cum audisset, turbata est in sermone eius, et cogitabat qualis esset ista salutatio. At ait Angelus ei: Ne timeas Maria, invenisti enim gratiam apud Deum….’
(‘Khi nghe những lời này, bà bối rối vì lời ấy và tự hỏi lời chào này có ý nghĩa gì. Nhưng Thiên thần nói với bà: “Maria, đừng sợ, vì bà đã được đẹp lòng Thiên Chúa…”)
Peppone phải cố hết sức mới có thể nhướng được một mắt lên, lúc ấy tưởng chừng như có một sức nặng ngàn cân đè lên, trì nó xuống. Mãi một lúc sau, hắn mới dần dần nhìn ra một tấm thảm đã phai màu treo trên tường, trên đó có một hàng ký tự bằng chữ Nga.
‘….et vocabis nomen eius Jesum. Hic erit magnus, et Filius Altissimi vocabitur….’
(‘…và ngươi phải gọi tên con trẻ là Giê-su. Người này sẽ rất cao trọng và sẽ được gọi là Con Đấng Tối Cao….’)
Peppone mở nốt con mắt còn lại và quay người hẳn về phía đó. Hắn kinh hoàng nhận ra trên cái bàn mà ban quản lý khách sạn dành cho cho căn phòng này đồng chí Camillo Tarocci đang cử hành thánh lễ. Quyển sách bìa đỏ có tên Lời dạy của Lenin được mở rộng ra trước mặt nhưng đồng chí Camillo lại đọc là Phúc Âm theo Thánh Lu-ca.
Peppone phóng vọt xuống giường chạy vội lại cửa ghé mắt nhìn qua ổ khóa. Tim hắn đập thình thịch và ngay lúc ấy hắn nghĩ đến việc duy nhất có thể làm là ném một tấm trải giường phủ chụp lên đầu ông ta. Nhưng khi bình tĩnh lại, hắn nghĩ tốt nhất là đi tới đi lui trong phòng, cố tạo ra những tiếng động để có thể át được âm thanh La-tinh đang phát ra từ cửa miệng Camillo. Hắn có thể tiếp tục việc gây tiếng ồn không biết đến bao giờ nếu như không có âm thanh leng keng của một cái chuông chết tiệt nào đó cứ vo vo bên tai. Hắn không muốn nghe cái âm thanh ấy chút nào hết, nhưng bị buộc không thể phớt lờ thực tại trước mắt, thế nên khi thấy Don Camillo nâng chiếc ly bằng thiếc nhỏ thay cho chén thánh, Peppone đứng lại và khẽ cúi đầu. Có tiếng bước chân ngoài hành lang, nhưng Peppone vẫn đứng yên không nhúc nhích.
Hắn tự lẩm bẩm một mình. “Xin Chúa cứu giúp!”
Tiếng bước chân dừng lại ở trước cửa; một người nào đó gõ cửa và một giọng nói lạ hoắc cất lên bằng tiếng Ý:
“Đã đến giờ thức dậy rồi đồng chí!”
Peppone làu bàu một câu trả lời và tiếng bước chân tiến về cửa bên cạnh.
‘Ite, Missa est ….’ (Lễ xong, chúc anh chị em đi bình an).
Cuối cùng, đồng chí Camillo Tarocci cũng đã xong. Peppone thở mạnh một cái. “Đã đến giờ rồi. Ông có thể tự chúc bình an cho mình thôi.”
Don Camillo thì thầm.
“Lạy Cha, xin Cha tha thứ cho hắn.”
Rồi ông cúi lạy cây thánh giá nhỏ xíu được đặt trên đáy một cái ly nước úp ngược.
“Anh ta lo lắng quá nên đầu óc mụ mẫm rồi.”
Peppone gầm lên.
“Tôi muốn biết liệu ông có bình thản được không khi họ đứng ngay ở bên ngoài cửa phòng mà gõ,”
“Có người gõ cửa phòng à? Ta không nghe gì hết.”
Peppone không nói thêm gì nữa vì hắn biết ông ta đang nói thật. Vả lại, hắn đang mệt rã cả người ra và chỉ muốn quay trở lại giường, dù rằng chỉ đế nối tiếp ác mộng đi chung chuyến bay với một tên dược sĩ phản động.
“Ông đã đã xong xuôi việc của mình hết rồi, vậy thì bây giờ làm ơn dọn dẹp những gì ông đã bầy biện ra để tôi còn có chỗ thay quần áo chứ!’
Peppone sẵng giọng nói.
“Đồng chí có vẻ không được ổn lắm phải không?”
Don Camillo nói với vẻ mặt lãnh đạm. “Có lẽ khí hậu Liên Xô không hợp với đồng chí lắm!”
“Chính ông là người làm cho tôi khó chịu đó!”.
Peppone hét to, rồi dùng tay đẩy Camillo ra ngoài cửa.
Bỗng nhiên hắn phát hiện có một thứ còn làm hắn khó chịu hơn nữa. Cửa không gài chốt từ bên trong. Bất cứ ai cần việc gì với hắn đều có thể mở nắm cửa và bước vào.
Đồng chí Nadia Petrovna đang ngồi đợi ở bàn ăn. Khi tất cả mọi người đã tề tựu đông đủ, cô ta bảo:
“Chúng ta có thể bắt đầu ăn sáng được rồi. Đồng chí Oregov phải một chốc nữa mới xuống.”
Sáng nay, đồng chí Petrovna khoác lên người một vẻ mặt vô cùng quan cách, giọng nói cô ta lạnh lùng, vô cảm và mắt thì nhìn vào khỏang không trước mặt. Không một cử chỉ thừa thãi, cô ta đặt người ngồi xuống ghế. Bữa sáng của Nadia chỉ có một tách trà, được cô ta nhấm nháp một cách lơ đãng, như thể đang thi hành một nhiệm vụ mà cô ta không muốn làm chút nào. Trông bộ dạng cô nàng như cố tình bọc lên người một lớp băng, nhưng may mắn hay không may mắn, trên lớp băng có vài chỗ bị nứt và từ những vết nứt ấy toát ra một mùi thơm dễ chịu khiến cho lớp băng giá ấy không còn giữ được tính hiệu quả như ý định ban đầu. Quên mất đi vai trò của mình là một cán bộ nhà nước, đồng chí Nadia Petrovna đã xịt lên người nước thơm eau-de-Cologne mà đồng chí Scamoggia tặng cô ta hôm trước. Anh này lúc ấy ngồi ở một khoảng cách khá xa cô thông dịch viên, nhưng khứu giác nhậy bén của anh ta đã nhận ra ngay sự chuyển biến đáng kinh ngạc này.
Khi bữa ăn sáng của mọi người kết thúc thì đồng chí Yenka Oregov mới xuất hiện. Trông dáng điệu anh ta có vẻ đang bận rộn một việc gì đó, nên sau lời chào hỏi vội vã đến phái đoàn, anh ta kéo đồng chí Petrovna ra một góc. Họ bàn bạc với nhau khá lâu, thường xuyên nhắc đến một văn kiện có đóng dấu đỏ chói mà đồng chí Oregov lấy ra từ trong cặp của mình. Sau khi có vẻ như họ đã thỏa thuận với nhau về vấn đề đang bàn cãi, đồng chí Petrovna bèn chạy đến thông báo cho Peppone:
“Đồng chí Oregov đã nhận được từ sở du lịch toàn bộ chương trình sinh hoạt cụ thể trong suốt thời gian phái đoàn các đồng chí lưu trú ở đây. Vào lúc 9 giờ sáng nay, phái đoàn sẽ đến viếng thăm xí nghiệp máy kéo Sao Đỏ.”
Peppone trân trân nhìn cô thông dịch viên tỏ ý không hiểu.
“Đồng chí, nếu tôi không lầm, nơi đó chúng ta đã đến thăm buổi trưa hôm qua.”
Đồng chí Petrovna quay lại tham khảo ý kiến đồng chí Oregov.
“Chương trình mà chúng tôi vừa nhận được nói rõ ràng rằng sau khi đã được nghỉ ngơi vào buổi chiều hôm qua, hôm nay phái đoàn sẽ đến viếng thăm xí nghiệp máy kéo. Chương trình nguyên thủy đã bị hủy bỏ, do đó, chuyến viếng thăm trưa hôm qua không thể được xem là đã xẩy ra.”
Peppone vung ta tỏ vẻ hết sức bối rối. Cô thông dịch viên lại một lần nữa đến tham khảo với cấp trên.
“Chương trình không được phép thay đổi. Trưa nay, phái đoàn sẽ đi thăm các thắng cảnh trong thành phố. Đồng chí Oregov không bắt buộc phái đoàn phải đến thăm xí nghiệp máy kéo một lần nữa. Vì thế, đồng chí ấy đề nghị các đồng chí nên dành trọn thời gian này để nghỉ ngơi thêm ở ngay trong khác h sạn này.”
Đoàn lữ hành vẫn chưa hoàn toàn hồi sức sau một chuyến đi mệt mỏi nên họ vui vẻ chấp nhận giải pháp này.
“Đồng chí Oregov sẽ đi đến xí nghiệp để đổi ngày viếng thăm của phái đoàn trong hồ sơ lưu trữ,” đồng chí Petrovna nói. “Tôi sẽ túc trực ở tiền sảnh khách sạn, ai cần gì thì cứ đến gặp tôi.”
Nói xong, cô ta đi đến chỗ chiếc ghế sofa cũ nát đặt ở giữa tiền sảnh, nơi mà khách lưu trú muốn đi ra hay đi vào khách sạn đều phải đi ngang qua đó. Cung cách của cô ra vẻ cứng nhắc và tự kiêu, nhưng cô ta đã để lại làn hương thơm thoang thoảng của eau-de-cologne ở mỗi nơi cô ta bước qua.
***
Don Camillo trở về phòng, cởi giầy ra và ném mình xuống giường. Nhưng vừa lúc ông ta thiu thiu ngủ, thì có tiếng lẩm bẩm một mình của Peppone và tiếng bước chân hắn ta đi đi lại trong phòng. Sau khi rửa mặt, cạo râu trên máy bay hắn đã bỏ quên chiếc dao cạo xịn ở đó.
“Lấy cái dao của ta mà dùng rồi ngưng ngay sự ồn ào đó đi!:, Don Camillo bảo hắn.
“Tôi không bao giờ dùng dao cạo của ai ngoài cái của riêng tôi cả,” Peppone trả lời. “Ngoài ra, tôi không quen với cái loại dao kiểu cũ thẳng đơ ấy.”
“Vậy thì xuống dưới nhà, đổi mấy đồng liras mà anh lấy từ đồng thuế của người dân đóng góp ra đổi thành tiền Rúp rồi ra chợ mà mua một cái mới. Cửa hàng bách hóa ở ngay bên cạnh đấy. Cẩn thận với đủ loại xe cộ chạy trên đường, không khéo lại bị chúng chạy cán lên đầu thì khổ.”
Từ cửa sổ phòng nhìn ra ngoài đường, không có bóng một chiếc xe nào ngoại trừ chiếc xe buýt chở phái đoàn đến khách sạn, Peppone như bị chọc tức.
“Xe cộ cũng phải chạy có giờ có giấc chứ,” Hắn khịt mũi tỏ vẻ coi thường lời Don Camillo. “Dù sao, chúng ta không có việc gì phải vội vã hết. Hiện giờ thì xe cộ có lưu thông thì cũng chẳng có gì phiền nhiễu nhiều một khi chúng ta đã đưa được người lên không gian.”
“Mua cho ta một ít vớ len với,” Don Camillo kêu to theo sau lưng Peppone. “Đã 40 năm kể từ cuộc Cách Mạng đến nay hẳn họ cũng phải làm được ít nhất một đôi vớ len chứ.”
Peppone trả lời bằng cách đóng sập cửa.
Đồng chí Petrovna đối xử với hắn hết sức chu đáo. Cô ta yêu cầu viên quản lý khách sạn hóan đổi tiền Lira của Peppone thành đồng Rúp. Rồi cô ta viết lên một mảnh giấy bằng chữ Nga: “Một dao cạo an toàn cùng với một tá lưỡi dao đi kèm; một đôi vớ len đàn ông cỡ vừa.”
Tiệm Bách Hóa tọa lạc ngay bên kia đường và việc mua bán diễn ra mau lẹ. Ngay khi cô gái bán hàng đọc xong tờ giấy cũng là lúc cô trao cho Peppone các món hàng hắn ta cần rồi viết xuống giá cả từng món. Nhưng khi trở lại khách sạn, Peppone trông có vẻ không được vui vẻ như hắn ta mong đợi. Hắn ném đôi vớ cho Don Camillo. Ông này đưa tay chụp lấy và nhìn đôi vớ với vẻ mặt rõ ràng là thỏa mãn.
Ông ta reo lên:
“Đẹp đấy! Chúng ta không thể chế tạo được dù chỉ bằng nửa như thế này. Cái ý tưởng may một chiếc vớ này dài hơn chiếc kia quả là cực kỳ thông minh. Không có chân của ai mà cả hai đều dài bằng nhau cả. Đôi vớ trị giá bao nhiêu vậy?”
“10 rúp,” Peppone trả lời trong lúc đang mở hộp dao cạo.
“Tỉ lệ hối đoái là bao nhiêu?”
“Tôi không biết. Tôi chỉ biết là đã đưa cho họ một tờ mệnh giá 10 ngàn liras, họ đưa lại cho tôi 70 rúp.”
“Như vậy là họ đổi cho anh 1 rúp lấy 150 lira. Bằng giá với đồng frans Thụy Sĩ. Anh trả bao nhiêu tiền cho cái dao cạo?”
“9 rúp.”
Don Camillo làm vài phép tính nhẩm.
“Cái dao cạo giá 1 ngàn 300 lira và đôi vớ giá 1 ngàn 450 lira.”
Peppone đang bận xoa xà phòng cạo râu lên mặt nên không trả lời.
Don Camillo chưa chịu buông tha.
“Ở trong nước, anh mua cái dao cạo giống hệt như thế này bao nhiêu tiền?”
“200 lira cho một cái chế tạo từ Mỹ,” Peppone thú nhận. “Tôi không nghĩ giá cả lại khác biệt lớn đến như vậy. Chắc là có sự nhầm lẫn rồi.”
“Tôi không nghĩ vậy, đồng chí ạ! Có lẽ đồng chí đã mua được con dao ở trong nước trong lúc họ bán hạ giá, nhưng ở đây thì đừng hòng điều đó xẩy ra. Dưới chế độ Cộng sản, cả nhà sản xuất lẫn cửa hàng bán lẻ đều trực thuộc nhà nước nên họ không phải cạnh tranh với bất cứ ai hết. Ngoài ra, con dao cũ của anh là do Mỹ sản xuất, còn con dao mới là do Nga sản xuất nên khó có thể so sánh chúng được. Rồi mặc dù trên thị trường chợ đen, chỉ cần 40 lira là có thể đổi lấy một đồng rúp thì với tỉ giá dành cho khách du lịch phải mất 150 lira mới đổi được một đồng rúp. Chủ nghĩa Cộng sản không phải nỗ lực tranh đấu trong suốt 40 năm chỉ để dành tỉ giá hối đoái ưu đãi cho khách du lịch đến từ nước ngoài. Con dao cạo mới của đồng chí chỉ có giá 350 lira cho một người Nga mà thôi.”
Peppone bắt đầu lấy dao cạo mặt. Bỗng nhiên, hắn ngưng lại, xoa xà phòng thêm lần nữa, đổi lưỡi dao và bắt đầu cạo từ đầu. Don Camillo vẫn chăm chú nhìn hắn, vẻ mặt chẳng có gì tỏ ra thông cảm, nhưng Peppone dứt khoát tiếp tục dùng con dao mới cạo mặt. Đột nhiên, hắn văng tục, rồi ném mạnh chiếc dao cạo vào tường.
“Đồng chí, niềm tin của đồng chí biến đi đâu mất rồi?”Don Camillo hỏi bằng một giọng ra vẻ nghiêm trọng. Peppone, mặt vẫn còn đầy bọt xà phòng, cay đắng liếc nhìn Don Camillo. Ông này tỏ vẻ nhượng bộ rồi lúi húi lục tìm trong va li của mình. Một lúc sau, như đã tìm thấy vật mình muốn tìm, ông ta trao nó cho Peppone:
“Đây có phải là cái dao cạo Mỹ thối tha của anh không?”, Don Camillo hỏi. “Ta nhặt được nó trên sàn nhà.”
Peppone đưa tay giật phắt lấy con dao cạo.
“Ngày nào tôi còn sống tôi sẽ luôn nhủ lòng rằng giết một tu sĩ không bao giờ là một tội ác.”
Trong lúc đó, đồng chí Petrovna vẫn ngồi túc trực trước chiếc bàn đặt ở tiền sảnh khách sạn. Đồng chí Scamoggia tiến đến trước mặt cô nàng. Trước khi Scamoggia có thể mở miệng nói được điều gì thì cô nàng đã phủ đầu anh này một cách khá thô lỗ:
“Đồng chí Oregov yêu cầu các đồng chí nên lợi dụng sáng hôm nay để nghỉ ngơi trong khách sạn. Thật không phải nếu đồng chí lại tìm cách để đi ra ngoài.”
“Tôi không định đi ra ngoài,” Scamoggia nói, “Tôi muốn được nghỉ ngơi ở ngay đây bên cạnh đồng chí.”
Đồng chí Petrovna nhìn chằm chằm anh ta, vẻ mặt khá lúng túng.
“Khách sạn có khá nhiều phòng để nghỉ ngơi, tôi không hiểu sao đồng chí lại chọn chỗ này thay vì về phòng?”
“Bộ đồng chí lúc nào cũng phải đối xử kiểu cách như vậy với đồng chí của mình hay sao?”
“Không đúng! Lối đối xử kiểu cách này chỉ dành cho bọn tư bản mà thôi.”
“Nhưng tôi không phải là bọn tư bản!” Scamoggia phản đối.
“Đồng chí có những cung cách đối xử giống như chúng.”
“Đồng chí à, có thể tôi đã phạm một sai lầm nào đó. Nếu đồng chí có lòng giúp đỡ sửa sai, tôi sẵn lòng tự kiểm điểm lại mình.”
Đồng chí Petrovna đã bị mềm lòng vì những lời lẽ quá tha thiết này.
“Mời đồng chí ngồi,” cô ta nói với thái độ chưa hoàn toàn sẵn sàng từ bỏ cung cách lạnh lùng của mình. “Nói cho tôi nghe về bản thân đồng chí đi.”
“Tên tôi là Nanni Scamoggia, 28 tuổi, vào đảng từ khi tôi vừa đến độ tuổi biết thế nào là lý lẽ. Tôi bán và sửa chữa xe scooter.”
“Scooter là loại xe gì?”
Scamoggia rút từ trong túi ra một tấm ảnh của chính mình. Trong bức ảnh là một gã đàn ông lực lưỡng mặc chiếc áo liền quần màu trắng đang cưỡi trên một chiếc xe Vespa.
“Đồng chí xem này,” anh ta đưa cho cô thông dịch viên tấm hình. “Ở nước tôi ai cũng sở hữu một chiếc xe như thế này.”
“Hay nhỉ! Thế những người khác trong gia đình của đồng chí có gia nhập đảng Cộng sản không?”
“Cha tôi là thành viên của chi bộ Leghorn. Mẹ tôi mất rồi. Còn chị tôi là tổ trưởng trực thuộc chi bộ của Công đoàn Thợ May.”
“Còn vợ của đồng chí?”
“Trông tôi có giống một người đã có gia đình rồi không hả đồng chí?”
Cô ta nhìn Scamoggia với một vẻ hết sức nghiêm trọng.
“Ở tuổi này, đồng chí cần phải có một người phụ nữ trong nhà.”
“Nhưng tại sao tôi phải tự ràng buộc mình vào một người phụ nữ trong lúc ở bên ngoài đang có rất nhiều người khác không bị một chút ràng buộc nào?”
Theo bản năng một người phụ nữ, đồng chí Petrovna khựng lại và có vẻ dè dặt hơn.
“Điều đồng chí vừa nói là một biểu hiện điển hình của não trạng tư sản. Chỉ có bọn tư bản mới bóc lột phụ nữ bằng cách xem họ như là một thứ đồ chơi. Trong xã hội xã hội chủ nghĩa, phụ nữ có cùng vị trí và phẩm giá như một người đàn ông.”
“Đồng chí ạ, tôi đã không diễn đạt được đúng như ý mình khiến đồng chí hiểu khác đi. Tôi muốn nói đến loại phụ nữ lười biếng, ghét lao động và không có một chút nguyên tắc nào về xã hội hay chính trị. Những loại phụ nữ ấy không có phẩm giá và do đó sẽ không có quyền…”
“Tôi hiểu ý đồng chí,” cô ta ngắt lời, “Nhưng khi một đồng chí đạt tới một số tuổi nhất định nào đó, anh ấy phải có một mái gia đình và nuôi dưỡng những thành viên mới cho Đảng.”
“Đồng chí, tôi đồng ý. Nhưng chúng tôi đang sống trong môi trường hoàn toàn khác với môi trường đồng chí đang sống, nơi đó nhung nhúc những thói ích kỷ và thái độ đạo đức giả. Ở nước tôi, giới tu sĩ chiếm rất nhiều ưu thế và phần lớn phụ nữ tỏ ra rất phục tùng họ. Nhiều người trong số đó thậm chí còn bí mật làm chỉ điểm cho mấy ông linh mục, vì thế người ta phải cẩn thận đến từng bước đi của mình.”
“Anh có quen biết một nữ đảng viện Cộng sản tử tế nào không?”
“Có chứ, khá nhiều là đằng khác,” anh ta trả lời với một cử chỉ làm ra vẻ mệt mỏi. “Có lẽ cũng chỉ là do lỗi của tôi mà thôi, nhưng thực sự tôi chẳng quan tâm đến bất cứ cô nào trong bọn họ.”
“Đồng chí ơi, tôi chả tin tí nào cả. Một cô cũng không?”
“Ồ, cũng có một hoặc hai cô. Nhưng họ lại có gia đình rồi.”
Đồng chí Petrovna trầm ngâm nghĩ ngợi một lát, rồi nói:
“Như tôi thấy, tình hình nghiêm trọng đấy, đồng chí ạ! Nhưng có vẻ như đồng chí đã không đối mặt với vấn đề bằng cái cách mà lẽ ra đồng chí phải theo.”
“Đồng chí,” Scamoggia bắt đầu thả lỏng sự phòng thủ của mình, “Năm tháng đã trôi qua, tôi không chối cãi điều đó, nhưng trên đầu chúng tôi là bầu trời xanh, là ánh nắng mặt trời rực rỡ, chung quanh chúng tôi là hoa là cỏ, tiếng nhạc phủ đầy không khí và những ly rượu vang thơm phức chúng tôi nhấm nháp mỗi ngày, khiến cho người ta mang ảo tưởng mình sẽ trẻ mãi không già. Đất nước chúng tôi đã được hưởng sự quan phòng của Thiên Chúa.”
“Đồng chí!” cô gái ngắt lời. “Đó là tà niệm. Chẳng có quốc gia nào được quan phòng hay nguyền rủa bởi Thượng Đế cả. Thượng Đế hay Chúa, đơn giản là không hiện hữu.”
“Tôi biết. Có lẽ đó là cách nhìn sự việc của đám tu sĩ khốn khổ, của nhà thờ và đền chùa… nhưng chả hiểu thế nào chúng tôi vẫn mang ảo tưởng rằng Thượng Đế thực sự hiện hữu.”
“Đầu óc của đồng chí còn nhiều lộn xộn lắm!”
“Có lẽ đồng chí nói đúng. Nhưng sao đồng chí không thể nhìn thẳng vào mắt tôi khi nói ra những điều đó?”
“Ta không được phép mắc phải lỗi lầm như Stalin,” Cô ta tự nghĩ thầm.“Không thể mong đợi người Nga và người Ý nói chung một thứ ngôn ngữ. Mỗi quốc gia có khí hậu và tập quán riêng. Không thể dùng chỉ một cái chìa để mở tất cả mọi ổ khóa.”
Nhưng đồng chí Scamoggia đã phá vỡ dòng suy tưởng trong đầu cô thông dịch viên. Anh ta đề nghị.
“Bây giờ chúng ta hãy nói về đồng chí nhé!”
“Tôi là một phụ nữ Xô-Viết,” cô ta tự hào trả lời. “là một đảng viên và là nhân viên của sở du lịch trực thuộc nhà nước. Tôi 26 tuổi và hiện sinh sống ở Moscow.”
“Đồng chí sống một mình?”
“Không, không may là tôi không ở một mình,” cô gái trả lời và hơi hạ thấp đầu xuống. “Tôi ở chung phòng với 2 bạn gái khác. Nhưng tôi không có gì để phàn nàn về điều đó cả.”
“Tôi cũng đâu có than phiền điều gì đâu!” Scamoggia tiếp lời ngay.
Đồng chí Petrovna ngước mắt lên nhìn anh ta vẻ ngạc nhiên.
“Ý của đồng chí là sao?”
“Tôi tưởng đồng chí ở chung với một đồng chí nam. Dĩ nhiên là tôi rất vui khi được biết đồng chí chia phòng với hai người nữ khác.”
Cô ta tiếp tục nhìn Scamoggia, tỏ ra không hiểu.
“Tôi không nắm được sự lý giải của đồng chí,”
Nhưng đây là một lời nói dối hết sức trơ trẽn. Rõ ràng là cô ta cứ lật đi lật lại bức hình của Scamoggia trên tay, và thay vì đưa trả lại tấm hình cho chủ nhân, cô ta đã lén bỏ vào trong túi xách của mình. Cho dù đó là một cán bộ Cộng sản thuần thành thì cũng không thoát khỏi được bản tính yếu đuối của con người.
G.G.
