Nguyên Giác Phan Tấn Hải: Sinh tử và những vết chân cát xóa

Nhà văn Doãn Quốc Sỹ và bìa sách “Doãn Quốc Sỹ – Người Gầy Bếp Lửa”. (doanquocsy.com)

Tôi mang một bệnh từ nhiều thập niên. Có thể gọi đó là bệnh nghề vì bệnh này gắn liền với công việc của một nhà báo. Hay gọi là bệnh nghiệp cũng được, nếu muốn nói theo kiểu Phật học nghiêm và buồn. Đó là chú ý tới thời gian. Tức là bệnh xem lịch. Cuối tuần là phải khác với ngày trong tuần. Đầu năm là phải dòm ngó tới các lễ hội mùa xuân. Nghề phóng viên luôn gắn liền với thời sự và cộng đồng, nên người làm báo cứ phải theo dõi lịch và ngày tháng. Cũng là dịp để thấy tóc mình mỗi ngày thêm nhiều sợi bạc.

Do vậy, mấy ngày qua mới thấy rằng tháng 10 năm nay mang một dấu mốc đặc biệt: tròn 100 năm ngày sinh của Thiền sư Thích Nhất Hạnh, một bậc thầy lớn của Thiền Tông hiện đại. Ngài sinh ngày 11 tháng 10/1926, nghĩa là chỉ còn ba tuần nữa là đến ngày kỷ niệm trăm năm. Với nhiều học trò của Thầy, đây hiển nhiên không chỉ là một mốc thời gian, mà còn là dịp để quán niệm về di sản tuệ giác, từ bi và hành hoạt của một vị thiền sư đã làm sáng tỏ con đường chánh niệm đang ảnh hưởng nhiều nơi trên thế giới.

Thầy Nhất Hạnh (hình AI)

Tháng 10 năm nay cũng mang một ý nghĩa đặc biệt đối với những người sống và thực hành đời sống Thiền. Đó cũng sẽ là một dấu mốc văn học: giỗ đầu của nhà văn Doãn Quốc Sỹ, người từ trần ngày 14/10/2025, một cây bút đã đem tinh thần tỉnh thức, nhân bản và sự lặng lẽ chiêm nghiệm của nội tâm vào văn chương Việt Nam. Tác phẩm và nhân cách của họ Doãn vẫn tiếp tục nuôi dưỡng những ai tìm đến văn học như một con đường suy niệm về đời người, và về hướng đi cho dân tộc Việt Nam.

Đồng thời, tháng 10 cũng đánh dấu 25 năm ngày Thầy Giác Thanh viên tịch (15/10/2001). Thầy là một trong những phong thái Thiền (và tôi may mắn là một nhân chứng để viết các nhận định này) với kiểu rất mực thuần hậu Miền Tây Nam Bộ, rất mực trong sáng như dường trẻ thơ, tự thân Thầy toát ra ánh sáng của sự thực tập giản dị mà sâu xa. Thầy Giác Thanh ban đầu là môn đệ của Thầy Thanh Từ, và khi ra hải ngoại trở thành học trò Thầy Nhất Hạnh; và tôi có cơ duyên được Thầy Giác Thanh xem là bạn vong niên từ những ngày ở Virginia, cho tới khi dọn về California, và cũng vẫn giữ mối dây liên lạc ngay cả khi Thầy đi nhiều nơi trên thế giới, trước khi về San Diego viên tịch.

Thầy Giác Thanh và thơ của Thầy Nhất Hạnh (langmai.org)

Khi nghĩ tới viết bài về ba dấu mốc trong tháng 10 này — kỷ niệm 100 năm ngày sinh của Thầy Nhất Hạnh (sinh ngày 11/10/1926), giỗ đầu của nhà văn Doãn Quốc Sỹ (từ trần ngày 14/10/2025), tròn 25 năm ngày Thầy Giác Thanh viên tịch (ngày 15/10/2001) — tôi cân nhắc về tựa đề bài viết, nên làm sao mang cả ý nghĩa sinh và tử. Và rồi tôi mượn chữ “dấu chân cát xóa” của nhà văn Doãn Quốc Sỹ trong tác phẩm “Vào Thiền”. Đồng thời tránh được chữ “tháng 10” có tính cơ khí, vì tháng 10 nào mà chẳng giống nhau. Nhan đề “Sinh tử và những vết chân cát xóa” là nói tới các vị Thầy tới rồi đi trong cõi này, y hệt như dấu chân cát xóa, y hệt như dấu chim bay trên trời, y hệt như tia nắng tới chiếu sáng rồi biến đi, y hệt như bọt nước hiện lên rồi vỡ tan để thành nước, y hệt như chữ viết trên mặt nước.

Sinh và tử, đó là chủ đề quan trọng nhất của nhà Thiền. Trong ấn bản 2003 của sách tiếng Anh “No Death, No Fear: Comforting Wisdom for Life” (Bản tiếng Việt: Không diệt không sinh đừng sợ hãi) có các lời dạy của Thầy Nhất Hạnh thường được trích dẫn, nơi đây chúng ta dịch sang tiếng Việt:

“Bạn sẽ không khóc nếu bạn biết rằng, nhìn sâu vào trong cơn mưa, bạn vẫn thấy được đám mây… Nỗi sợ lớn nhất của chúng ta là khi chết, ta sẽ trở thành hư vô. Ta tin rằng ta sinh ra từ hư vô và khi chết ta trở về hư vô. Và như thế, chúng ta đầy những nỗi sợ trở thành hư vô. Đức Phật dạy rất khác — rằng sống và chết chỉ là những ý niệm. Sinh và tử không phải là thực tại.” (ngưng trích dịch)

Trong khi đó, trong bài viết “Vào Thiền: Giai Thoại Tùy Bút” đăng trên báo Ngày Nay Minnesota số 205, ngày 15-12-1997, nhà văn Doãn Quốc Sỹ ghi nhận về sinh và tử, trích:

“Dòng đời như dòng sông, không một sát na nào ngừng trôi chảy. Nô lệ cho lý trí đơn thuần ham cắt xén thì chỉ thấy được cái ngưng đọng, cái chết. Những khái niệm con đẻ của lý trí chật hẹp và khô cứng kia làm sao chụp được dòng thực tại không ngừng triền miên trong thế tương sinh tương lập – đối tượng của thiền! Mỗi chúng ta là một que diêm sống! Không ai sống hộ ta, ta phải tự sống lấy, tự chiêm nghiệm lấy Thiền. Que diêm khi tắt đi, chút khói xanh để lại. Rồi chính chút khói xanh đó cũng tan loãng nốt và biến hẳn-như vết chân cát xóa!” (ngưng trích)

Thế đó. Mỗi người chúng ta là một que diêm sống. Mỗi người phải tự chiêm nghiệm Thiền. Phải tự hiển lộ ánh sáng, để hiểu được ý nghĩa que diêm đời người, rồi biến hẳn như cát xóa. Cũng nên nhắc rằng trước đoạn văn đó gần nửa thế kỷ, trong tác phẩm “Vào Thiền” (1970), nhà văn Doãn Quốc Sỹ đã gửi gắm những suy tư Thiền qua các hình ảnh thiên nhiên đầy chất thơ — như dòng sông, như trôi chảy, như vầng trăng soi chiếu.

Lúc đó, trong khi nhà văn Doãn Quốc Sỹ đang dạy Đại Học Vạn Hạnh, ngồi viết và rồi ấn hành sách “Vào Thiền” tại Sài Gòn, Thầy Nhất Hạnh đang ở hải ngoại, bị cấm về Việt Nam vì Thầy kêu gọi hai Miền Nam-Bắc Việt Nam thương thuyết để hòa giải. Lúc đó, Thầy Giác Thanh vừa thọ đại giới tại Tổ đình Giác Viên sau mùa Vu Lan 1970, rồi vào đại học Vạn Hạnh năm 1971 và đã hành cước đi tìm mỗi khi nghe nơi nào có bậc danh tăng thuyết pháp dạy kinh để rồi năm 1974 vào Tu Viện Chơn Không, theo học Thiền sư Thanh Từ.

Có những điểm rất tình cở định mệnh (than ôi, tôi ghét chữ “định mệnh” này biết là bao nhiêu, trong nhà Phật có lẽ phải viết là “hạnh ngộ” hay là “cơ duyên”): nhiều năm sau, Thầy Giác Thanh vượt biên, rồi định cư ở Virginia, rồi đi nửa vòng thế giới sang Pháp, trở thành một đệ tử lớn của Thầy Nhất Hạnh, rồi về California trụ trì Lộc Uyển, rồi viên tịch năm 2001.

Tôi vẫn còn nhớ hình ảnh trong ký ức, lúc đó khoảng 2 hay 3 giờ sáng của ngày 15/10/2001, tôi đã lái xe từ Quận Cam tới một bệnh viện Quận San Diego, vì được tin từ nhà văn Nhã Ca cho biết Thầy Giác Thanh vừa ra đi: chị dặn, lái xe tới may ra kịp. Tôi lái xe tới một phòng ICU trong bệnh viện, lúc đó thi thể Thầy Giác Thanh nằm trên giường với nụ cười lúc nào cũng dịu dàng, thơ mộng. Một vài nhà sư trẻ đứng đầu giường, có một vị nói một câu gì đó, như dường họ nhầm tôi với một bạn đồng tu của Thầy ở Tu viện Chơn Không. Tôi thấy trên ngực thi thể Thầy Giác Thanh là một tờ giấy trắng có vài chữ lớn, đúng là nét chữ của Thầy Nhất Hạnh. Một vị sư trẻ giải thích, Thầy Nhất Hạnh lúc đó đang hướng dẫn khóa tu ở Bắc Kinh, nghe tin Thầy Giác Thanh ra đi nên đã fax trang giấy về. Tôi nhớ (theo trí nhớ có thể không chính xác của tôi), tờ giấy Thầy Nhất Hạnh viết: “Đã về, đã tới.”

Về sau, đọc bài viết “Bão Xuống Cho Đời Rực Rỡ Sen” của Thầy Thích Phước Tịnh đăng ở Làng Mai, Thầy Nhất Hạnh cũng có bài thơ ngắn khi Thầy Giác Thanh viên tịch:

“Trượng phu tiếng đã biết

Việc đáng làm đã làm

Tháp vừa dựng sườn núi

Tiếng cười trẻ đã vang.”

Thầy Phước Tịnh trong bài vừa nói đã ca ngợi Thầy Giác Thanh rằng, “Cuộc đời Thầy như đóa quỳnh tinh khiết nở trong đêm.”

Trong một chuyến đi thăm Tu viện Lộc Uyển ở quận San Diego vài năm trước, tôi được nhà báo Doãn Quốc Hưng đưa tới thăm tháp của Thầy Giác Thanh, nhưng chân mình yếu quá, không leo núi nổi. Chỉ nhìn lên ngọn núi cao để nhớ tình bạn vong niên thôi.

Bây giờ lại nhận ra một tình cờ hạnh ngộ nữa, rất hy hữu nơi cõi này: tro của nhà văn Doãn Quốc Sỹ đã được rải vào ngày 13/12/2025 tại Vườn Địa Tạng, Tu viện Lộc Uyển, San Diego.Tôi nhận ra khi nhìn các hình ảnh rải tro nơi hai trang 266-267 của sách “Doãn Quốc Sỹ – Người Gầy Bếp Lửa” được Doãn Gia ấn hành nhân Giỗ Đầu của nhà văn, nhà giáo Doãn Quốc Sỹ (14/10/2025 – 14/10/2026) — một Tuyển Tập Văn, Thơ, Nhạc của 51 tác giả, trong đó có các bậc trưởng thượng như Lê Xuân Khoa, Trần Huy Bích, Nhã Ca-Trần Dạ Từ, Đỗ Quý Toàn…

Nghĩa là trong một tình cờ giữa mênh mông ba cõi sáu đường, nơi một ngọn núi Escondido của Quận San Diego cũng là nơi gió núi Tu Viện Lộc Uyển, nơi do Thầy Nhất Hạnh khai sơn, đã đón mừng tro của Thầy Giác Thanh và nhà văn Doãn Quốc Sỹ — sau vô lượng kiếp luân hồi để rồi kiếp này có cơ duyên học Thiền.  

Nơi đây xin ghi sơ lược tiểu sử của Thầy Nhất Hạnh dựa trên hai trang Wikipedia  và Làng Mai (Plum Village). Thiền sư Thích Nhất Hạnh (1926–2022), thế danh Nguyễn Xuân Bảo, sinh tại Huế và xuất gia từ rất sớm. Sau khi thọ giới Tỳ-kheo, Ngài trở thành một trong những giảng sư trẻ năng động nhất của Phật giáo Việt Nam, giảng dạy tại Phật học viện Ấn Quang và tham gia nhiều hoạt động giáo dục – xã hội. Từ thập niên 1950s–60s, Thầy khởi xướng phong trào Phật giáo dấn thân, sáng lập Trường Thanh Niên Phụng Sự Xã Hội, góp phần hình thành Đại học Vạn Hạnh… Năm 1966 (một trong những năm cuộc chiến Nam-Bắc VN gay go nhất), Thầy sang Hoa Kỳ và châu Âu vận động hòa bình cho Việt Nam, gặp Martin Luther King Jr., người đã đề cử Thầy cho Giải Nobel Hòa bình. Vì lập trường chống chiến tranh, Thầy bị cấm trở về quê hương và sống lưu vong hơn 40 năm. Trong thời gian này, Thầy trở thành một trong những tiếng nói Phật giáo có ảnh hưởng nhất tại phương Tây, với hơn 100 tác phẩm về chánh niệm, hòa bình và trị liệu khổ đau.

Năm 1982, Thầy cùng tăng thân lập nên Làng Mai tại Pháp, một trung tâm tu học quốc tế, từ đó lan tỏa truyền thống Thiền chánh niệm ra khắp thế giới. Thầy được xem là “Người khai sinh phong trào chánh niệm hiện đại”, có ảnh hưởng sâu rộng đến tâm lý trị liệu, giáo dục, môi trường và các cộng đồng tu học toàn cầu. Hàng triệu người đã thực tập hơi thở chánh niệm qua sách, pháp thoại và các khóa tu của Thầy.

Năm 2005, Thầy được phép trở về Việt Nam sau nhiều thập niên lưu vong. Thầy viên tịch tại Tổ đình Từ Hiếu năm 2022, để lại di sản tâm linh mang tầm vóc quốc tế, tiếp tục nuôi dưỡng đời sống tỉnh thức cho nhiều thế hệ. Thầy Nhất Hạnh đã xuất bản hơn 100 tác phẩm bằng tiếng Việt và tiếng Anh, nhiều sách được dịch ra hơn 35 ngôn ngữ.

Cần phải nói rõ rằng, bài này được viết trong khi tôi hoàn toàn không biết Làng Mai sẽ làm những gì để tưởng nhớ 100 năm ngày sinh của Thầy Nhất Hạnh.

Nơi đây, xin ghi lại bài thơ “Đôi dòng cúng dường Thầy Làng Mai” tôi đã kính dâng Thầy Nhất Hạnh nhiều năm trước:

Viết đôi dòng thư pháp

ca ngợi Đức Thế Tôn

mực loang như nước mắt

ngấm ơn sâu vào hồn.

.

Viết đôi dòng thư pháp

cúng dường Thầy Làng Mai

ngẩng đầu nghe tiếng hạc

lưng trời gọi tên ai.

.

Từ đôi dòng thư pháp

nét mực hoá rừng hoa

ướp lời thơ thơm ngát

khắp trời hát đạo ca.

Tương tự, xin trích nhận định của GS Lê Xuân Khoa (vị thầy tôi từng học ở Đại học Văn Khoa SG về môn Triết học Ấn Độ) trong sách mới in tháng này, “Doãn Quốc Sỹ: Người Gầy Bếp Lửa,” nơi các trang 135-139 trong điếu văn trong tang lễ tiễn đưa nhà văn họ Doãn, trích: 

“…Tôi quen thân với anh Doãn Quốc Sỹ đã 75 năm qua từ ngày chúng tôi là môn sinh về Triết học Đông phương của Giáo sư Nguyễn Đăng Thục và cùng là thành viên của Nhóm Nghiên Cứu Văn Hóa Dân tộc Việt Nam tại Đại học Văn Khoa Hà Nội như đã nói ở đầu bài. Tôi cũng có nhiều kinh nghiệm đắng cay và thất vọng với Mặt trận Việt Minh chống Pháp từ thời còn là học sinh trung học, nhưng anh Sỹ lớn tuổi hơn tôi nên có nhiều trải nghiệm thực tế và phức tạp hơn. Dù cùng chia sẻ lý tưởng chung, nhất là cùng thấm nhuần triết lý sống vô trụ, vô cầu của trường phái Thiền Tông, nhưng anh Sỹ thiên về tu dưỡng và “sống Thiền”, trong khi tôi chịu ảnh hưởng sâu đậm của truyền thống Tam giáo đồng nguyên Nho-Lão-Thích. Tam giáo đồng nguyên vì hành động nhập thế vô cầu của kẻ sĩ (hành tàng bất nhị kỳ quan) cũng chính là thái độ xuất thế vô vi của thiền sư hay đạo sĩ (vô vi nhi vô bất vi). Do đó, tôi cảm phục nếp sống Thiền toàn vẹn của anh Sỹ như một mẫu hình lý tưởng , trong khi anh luôn tin cậy và tán thành tôi thực hiện những dự án vị tha có lợi ích cho xã hội…”

Như thế, hai người cùng trưởng thành chung trong bối cảnh văn hóa, nhưng GS Khoa thiên về truyền thống Tam giáo đồng nguyên, và nhà văn họ Doãn thiên hẳn về Thiền. Cả hai cùng tham gia Việt Minh chống Pháp, và rời bỏ vì không hợp với XHCN. Thế rồi, Miền Nam sụp đổ năm 1975, trong khi GS Lê Xuân Khoa sang Hoa Kỳ tỵ nạn, nhà văn Doãn Quốc Sỹ bị nhà nước CSVN tạm giam nhiều lần vì tội “viết văn chống phá cách mạng”, tổng cộng là 14 năm.

Năm 1992, trong một dịp về Việt Nam để họp Hội nghị Các Tổ Chức Nhân Đạo Quốc Tế, GS Lê Xuân Khoa ghé thăm nhà văn Doãn Quốc Sỹ tại Sài Gòn. GS Khoa kể tiếp trong bài điếu văn:

“Khi nghe tôi than phiền về quá ít thì giờ đi thăm bạn bè, chị Sỹ đã tổ chức một bữa ăn tại gia cho tôi gặp lại một số bạn đồng nghiệp cũ. Tới ngày họp mặt, đông tới hai chục người gồm cả anh Như Phong, tôi cảm thấy lo ngại cho tình trạng an ninh của anh Sỹ. Tôi than riêng với anh: “Tôi đã có quốc tịch Mỹ và được chính phủ Mỹ bảo vệ, nhưng còn anh, hai lần bị tù về tội ‘đầu xỏ biệt kích văn nghệ nên tôi rất lo cho anh. Anh nghĩ sao?” Nhà văn thiền sư vỗ vai tôi, thản nhiên đáp: “Thì mình lại trở vô, đâu có gì khác!” Tôi không còn gì đáng nói thêm về nhân cách siêu phàm của nhà văn thần thoại và thánh thiện Doãn Quốc Sỹ.” (ngưng trích)

Có mấy ai Thiền tới mức như cụ Sỹ thế không? Sau hai lần vào tù, được bạn thân quan ngại, nhà văn nói nếu có gì bất trắc thì mình lại trở vô tù… Tôi đã rất mực ngưỡng mộ phong thái vô úy đó, và đã viết, ca ngợi nhà văn Doãn Quốc Sỹ bằng câu đối:

Mang gươm giới định huệ, đi tới cùng trời cuối đất.

Phá trận tham sân si, viết để giữ ngọc gìn vàng.

Cái tâm Thiền rất hồn nhiên thơ mộng ghi trên đó cũng hiển lộ trong cách sống của Thầy Giác Thanh (1947–2001). Nơi đây, xin ghi tóm lược theo Làng Mai: Thầy Giác Thanh, thế danh Nguyễn Văn Minh, đạo hiệu Chân Giác Thanh, là một bậc chân tu đức độ và là vị Sư trưởng đầu tiên của Tu viện Lộc Uyển (San Diego, California). Thầy xuất gia năm 1967 tại Việt Nam và thọ giới Tỳ-kheo năm 1970. Sau khi định cư tại Mỹ, Thầy tu học theo nhiều truyền thống rồi chuyển sang thực tập theo truyền thống Làng Mai từ năm 1990. Năm 1992, Thầy được Thiền sư Thích Nhất Hạnh truyền đăng, trở thành giáo thọ dòng thiền Lâm Tế đời thứ 43.

Với phong thái tự tại, giản dị và bao dung, Thầy Giác Thanh đã có công lớn trong việc định hình và xây dựng Tu viện Lộc Uyển thành một trung tâm tu học lớn tại bờ Tây Hoa Kỳ từ năm 2000. Thầy viên tịch vào ngày 15/10/2001 tại San Diego, để lại niềm kính thương sâu sắc cho tăng thân và Phật tử hải ngoại qua lối sống chánh niệm và nụ cười từ bi.

Như thế là trong tháng 10 này, sẽ là trùng hợp cơ duyên: 100 năm ngày sinh của Thầy Nhất Hạnh, Giỗ đầu của nhà văn Doãn Quốc Sỹ, 25 năm ngày ra đi của Thầy Giác Thanh.

Cả 3 Thiền sư trên đều xuất hiện trong một thời kỳ vô cùng căng thẳng của đất nước Việt Nam, nhưng tất cả cùng ứng xử dịu dàng, cùng tu học, cùng giữ tâm từ bi rất mực. Họ đã gìn giữ tâm như chữ viết trên mặt nước.

Đức Phật dạy trong Kinh AN 3.132 rằng: “Và này các Tỷ-kheo, thế nào là hạng người như chữ viết trên nước? Ở đây, này các Tỷ-kheo, có người dầu bị nói một cách kịch liệt, dầu có bị nói một cách ác độc, dầu có bị nói một cách thô lỗ, tuy vậy vẫn dễ dàng hòa hợp, thân thiện, và hoan hỷ. Này các Tỷ-kheo, ví như chữ viết trên nước được mau chóng biến mất, không có tồn tại lâu dài. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, có người dầu bị nói một cách kịch liệt, dầu có bị nói một cách ác độc, dầu có bị nói một cách thô lỗ, tuy vậy vẫn dễ dàng hòa hợp, thân thiện, và hoan hỷ. Này các Tỷ-kheo, đây được gọi là hạng người như chữ được viết trên nước.”

Hy hữu là khi chúng ta được sống cùng thời, được gặp những người như thế. Xin góp lời biết ơn, cầu nguyện và tưởng niệm chung.

Nguyên Giác Phan Tấn Hải

THAM KHẢO:

– Kinh AN 3.132: https://suttacentral.net/an3.132/vi/minh_chau

– Làng Mai: https://langmai.org/

– Doãn Quốc Sỹ: https://doanquocsy.com/

Bài Mới Nhất
Search