Bánh Ú Tro – Ảnh (Tác Giả gởi)
Sẽ chẳng ai lạ gì món “Bánh Ú Tro”. Nhưng tôi lại có câu chuyện vui vui về nó.
Ngày còn nhỏ, cứ đến ngày mùng 5.5 Âm lịch là Bà Nội bày đủ món, món không thể thiếu là Bánh ú tro và quanh đó có thêm biết bao nhiêu là món… Chuẩn bị cúng, bà cử tôi canh đồng hồ, đúng Ngọ (12g trưa ) có nhiệm vụ thông báo để cả nhà ra giữa sân, đàn ông con trai nuốt 7 hạt đậu xanh, đàn bà con gái nuốt 9 hạt… rồi cố mà mở to mắt, nhìn lên mặt trời… nháy đủ trai 7, gái 9 cái nháy mắt… với lòng tin kiên định “cả năm sẽ không bị đau mắt, không đỏ mắt”. Sau, bà mất, nhà vẫn giữ nếp… chỉ là không ai làm bánh ú tro nữa. Thú thật, ngày ấy, tôi không mộ nó lắm. Nhưng khi không ai bán thì lại nhớ và thèm… có lẽ vì nó là kỷ niệm một thời của gia đình, của Ông Bà còn đọng mãi trong tim, và càng già thì nỗi nhớ thương càng sâu đậm.
Đến năm 1996 (hay 1997), nhân chuyến tham quan Châu Đốc, hai vợ chồng tôi được tháp tùng; bỏ qua chuyện lễ nghi, cúng bái mà theo tôi thì thật là hoành tráng, quy mô của bá tánh thập phương về trả lễ, tôi chỉ “tham quan” mà thôi. Tuy nhiên, vẫn có nhiều ấn tượng:
-Lễ cúng rất đông, hầu hết là khách thập phương, ở rất xa, xa lắm về trả lễ vì theo nghe ngóng: Bà rất thiêng, cầu gì được nấy, nên lễ tạ cũng vô cùng phong phú. Tôi ngạt hơi người, hơi nhang khói và cả… những con heo quay nằm xếp lớp… Bánh trái thì lủ khủ bao quanh. Được đặt trước gian thờ nghi ngút khói hương và đẹp nhất là Tượng Bà Chúa Xứ với áo choàng lộng lẫy, trang sức lấp lánh từ cái mão đội đến cổ, đến tay… Nghe rằng: toàn là đồ thật.
-Theo đoàn người, chúng tôi qua tham quan nơi cất giữ “áo” của Bà, được người dân Cúng hiến. Trời ơi, nhiều và đẹp lắm, chắc chắn sẽ rất đắt tiền, mà mỗi áo đều có ghi tên người tặng, các doanh nghiệp hoặc đại gia gì gì… thì tôi không biết nhưng có cả tên của các Nghệ Sĩ nổi tiếng một thời, mà theo tôi biết nay đã định cư ở nước ngoài về trả lễ.
-Phải nói, với tôi, tất cả đều rất lạ, đẹp và gợi cả tò mò, nhưng theo thời gian đã nhạt đi rồi. Điều còn lại nằm ở sân bên ngoài của chánh điện là một nhóm người rất đông, đa số là nhóm trẻ đủ cả gái trai, ôm các lồng chim, nhang đèn… mời mua “dẻo quẹo”, kèm thêm lời khuyên “phóng sanh được nhiều phúc đức”, câu thường nghe là “Công Đức Vô Lượng”… Tôi chỉ lướt qua, cả đoàn chúng tôi không ai tham gia hoặc phát tâm “phóng sinh”; cả đoàn chuyển hướng ra phía trước ngắm cảnh, hay đúng ra là “quan sát” theo thói thường khi đi tham quan. Thế nhưng, tôi thật sự ám ảnh với cảnh:
“Những con chim được phóng sinh bay đâu có nổi. Một số con “cà lết” dưới đất rồi chấp nhận “nằm im” chờ bắt lại. Một số con cố vươn cánh bay lên, rồi rớt xuống, rồi lại cất cánh để rồi cũng rơi xuống đất… Khi đoàn rời đi, tôi cố quay đầu xem thử “có con nào bay thoát không” thì lại thấy ngay: có người ra nhặt lại… Ôi, tin đi, nó sẽ trở lại kiếp “chim lồng” cho đến chết, không bao giờ thoát.
Tối hôm ấy, về Nhà Nghỉ, tôi cứ lăn tăn câu chuyện “phóng sinh” rồi đi vào giấc ngủ. Sáng hôm sau thức dậy, tôi cùng đoàn tiếp tục tham quan Chợ. Ở chợ lại có niềm vui và mối quan tâm khác, ở đây tôi mới gặp lại “Bạn Xưa”.
Chợ có bao nhiêu là đặc sản, bao nhiêu của ngon bày bán, gọi mời tôi đều không bận tâm, thậm chí không nhìn ngó… Tôi chỉ “chúi nhũi” vào một món “Bánh Ú Tro”. Thật là mê đắm. Bởi vì, bánh không to như tôi thường thấy, mà nó “bé tẹo”, chỉ bằng trái cau, họ cột thành từng chùm, mỗi chùm là 50 cái. Bán nguyên chùm, không cắt lẻ. Thiệt tình, tôi hơi “ham hố” khi mua nguyên chùm. Nguyên nhân đã rõ: hoặc có hoặc không. Tôi xách chùm bánh đi trong lòng như mở hội, vui lắm. Đi tìm ngay hàng tạp hoá, mua bị đường cát… chỉ chờ lên xe là thoả ước mơ bấy lâu tơ tưởng, nhớ thương.
Xe chuyển bánh. Nhớ là tôi có mời vị nào đó ngồi bên trong, nhưng họ có vẻ “xa lạ” với món ăn, tin là vậy, nên tôi không mời ai nữa, qua loa vậy rồi tôi cắm cổ… lột lá… từng cái, từng cái một… chấm đường, màu bánh sáng màu hổ phách, trong veo, lại vừa đủ “một cái, một miếng”, cứ vậy tôi tà tà lột, chấm đường… bỏ gọn vào miệng. Cảm giác vô cùng “mê tơi” hả hê chi lạ. Bánh sừng sực, đủ dai đủ giòn, mùi tro thơm lựng… hoà quyện cùng vị ngọt… khá đam mê. Tôi đắm chìm vào đó bằng tất cả mọi giác quan… cho đến khi, từ hàng ghế trước vang lên tiếng gọi:
– Lý, nãy giờ ăn món gì mà… say sưa vậy? Không biết mày ăn gì mà nhìn… tao phát thèm. Còn không, chia tao với?
Trời ơi. Tôi giật mình muốn xỉu, bởi tôi đang đắm đuối mà. Nhưng… nghe hết câu nói thì thiếu điều muốn chui xuống sàn xe. Ai biết thầy thích ăn? Hồi nãy có mời, tuy không mời từng người, nhưng thấy ai cũng “vô cảm” với bánh này nên mình cứ “tới” cho lại gan “thèm” bao nhiêu năm nay, chớ cả xâu 50 cái, ăn kiểu gì cho hết? Tôi nuốt vội cái bánh dở dang trong miệng. Một tay… bứt bánh, miệng nói:
– Dạ, bánh ú tro thầy à. Thấy ai cũng “lơ là” với nó nên em không dám phổ biến. Mời thầy đây. Vừa nói, tôi vừa… chia đường ra gói nhỏ.
Thầy hân hoan đón nhận, miệng vừa suýt xoa:
– Trời ơi, ở đâu vậy? Món này ngon lắm chớ, sao không ăn. Con nhỏ này mua mà không… rủ.
Mắc cười ông thầy thiệt, vào chợ, mạnh ai nấy đi, thấy ai đâu mà rủ mua, tôi cười giả lả:
– Lo gì thầy, còn đây, cả 50 cái lận mà.
Tôi chuyển thêm lên và băng ghế trên “náo loạn”. Hoá ra, các thầy đều là dân miền Trung, xác định đây là món quê xứ mình, lâu rồi mới lại được ăn. Lại ăn tận dưới Châu Đốc. Giờ tôi lại tiếc “biết vậy, lúc nãy mua luôn 100 cái”.
Từ năm ấy, như được nhắc nhở, mỗi năm tôi đều gặp lại bánh ú tro. Nhưng bánh lớn quá, nó không giống như bánh ở Châu Đốc năm nào, lại càng không giống chiếc bánh ngày xưa, ngày còn đầy đủ Ông Bà, cha mẹ, cô chú… Ăn bánh hôm nay, chỉ là ăn tên cái bánh: “Bánh Ú Tro”, chỉ vậy. Và nói theo cậu em “già trước tuổi”, ăn đây chỉ là “ăn kỷ niệm”. Còn hương vị thực của bánh đã là ký ức, sẽ không bao giờ chị tìm nó được nữa. Một thoáng ngậm ngùi.
Thai Ly.
