HÃY KHÔI PHỤC LẠI TUỔI THƠ CHO CON EM CHÚNG TA

GIỚI THIỆU: TV&BH: CHUYÊN MỤC: ChatGPT DỊCH THUẬT

WE DON’T HAVE TO GIVE IN TO SMARTPHONES

(Chuyển ngữ tiếng Việt: Gemini; Hiệu đính (và chịu trách nhiệm): T.Vấn)

CHÚNG TA KHÔNG NHẤT THIẾT PHẢI ĐẦU HÀNG ĐIỆN THOẠI THÔNG MINH

Bởi Jonathan Haidt, Will Johnson và Zach Rausch

Tiến sĩ Haidt là nhà tâm lý học xã hội tại Trường Kinh doanh Stern của Đại học New York. Ông Johnson là giám đốc điều hành của Harris Poll. Ông Rausch là nhà khoa học nghiên cứu cấp cao tại Trường Stern.

Ngày 18 tháng 6 năm 2025

Kể từ bình minh của kỷ nguyên truyền hình, các bậc cha mẹ đã phải vật lộn để giới hạn hoặc hướng dẫn thời gian sử dụng màn hình của con cái.

Nhưng với sự xuất hiện của điện thoại thông minh có thể – và thực sự đang – đi khắp mọi nơi, cùng với các ứng dụng mạng xã hội mà thanh thiếu niên hiện đang sử dụng trung bình năm giờ mỗi ngày, nhiều bậc cha mẹ cảm thấy cam chịu. Cuộc chiến dường như đã thua. Những cha mẹ cố gắng trì hoãn việc cho con dùng điện thoại thông minh cho đến trung học hoặc mạng xã hội cho đến năm 16 tuổi đều biết rằng họ sẽ phải đối mặt với tiếng kêu than của con cái: “Nhưng con là người duy nhất không có!”

Để hiểu rõ hơn những căng thẳng về công nghệ đang diễn ra trong các gia đình Mỹ, chúng tôi đã hợp tác với Harris Poll để thực hiện hai cuộc khảo sát. Như chúng tôi đã báo cáo năm ngoái, cuộc khảo sát 1.006 thành viên của Thế hệ Z cho thấy nhiều người trẻ cảm thấy bị mắc kẹt – bị ràng buộc với các sản phẩm kỹ thuật số như TikTok và Snapchat. Gần một nửa số người tham gia bày tỏ sự hối tiếc khi có quyền truy cập vào nhiều nền tảng mạng xã hội phổ biến nhất.

Ở đây, chúng tôi trình bày phần thứ hai của cuộc điều tra: một cuộc khảo sát đại diện trên toàn quốc gồm 1.013 phụ huynh có con dưới 18 tuổi. Bức tranh tổng thể không khá hơn chút nào. Chúng tôi nhận thấy cảm giác bị mắc kẹt và hối tiếc phổ biến rộng rãi. Nhiều phụ huynh đã cho con mình sử dụng điện thoại thông minh và truy cập mạng xã hội từ sớm – nhưng nhiều người lại ước rằng mạng xã hội chưa bao giờ được phát minh, và phần lớn họ ủng hộ các chuẩn mực xã hội và chính sách mới nhằm bảo vệ trẻ em khỏi những tác hại trực tuyến.

Trong cuộc khảo sát của chúng tôi, 55% báo cáo rằng con cái họ bắt đầu sử dụng điện thoại thông minh như một người dùng chính khi được 12 tuổi, và 61% nói điều tương tự đối với máy tính bảng.

Trong 15 năm qua, khi trẻ em bắt đầu được tiếp cận các thiết bị này ở độ tuổi ngày càng nhỏ hơn, việc truy cập mạng xã hội cũng theo sau một cách không thể tránh khỏi — bất chấp độ tuổi tối thiểu theo luật là 13 để các công ty thu thập dữ liệu từ trẻ em mà không có sự đồng ý của phụ huynh. Trong số trẻ em hiện đang sử dụng Instagram, một nửa đã bắt đầu sử dụng khi được 13 tuổi, và con số tương tự cũng đúng với Snapchat. Đối với TikTok, con số này hơi cao hơn một chút là 57%. (Những con số này đến từ phụ huynh. Tất nhiên, nhiều trẻ em đã tạo tài khoản sớm hơn mà cha mẹ không hề hay biết.)

Gần một phần ba số phụ huynh có con sử dụng mạng xã hội tin rằng họ đã cho con mình truy cập mạng xã hội quá sớm, và 22% cảm thấy tương tự đối với điện thoại thông minh. Đáng chú ý, đối với cả hai công nghệ, chỉ 1% phụ huynh nghĩ rằng họ đã chờ quá lâu để giới thiệu chúng. Nói cách khác, cha mẹ hối tiếc về những công nghệ mà họ đã cho phép, chứ không phải những công nghệ mà họ đã từ chối.

Tại Sao Nhiều Phụ Huynh Lại Đưa Ra Quyết Định Đáng Hối Tiếc?

Tại sao rất nhiều phụ huynh lại đưa ra những quyết định mà họ hối tiếc? Một lý do chính là trong giai đoạn ngắn khi điện thoại nắp gập và các điện thoại cơ bản khác được thay thế bằng điện thoại thông minh, khoảng từ năm 2010 đến 2015, có một cảm giác lạc quan về công nghệ phổ biến. Hầu hết mọi người đều ngạc nhiên trước công nghệ mới và những ứng dụng hữu ích của nó — từ những việc bình thường như gọi taxi cho đến những điều sâu sắc như lật đổ một chế độ độc tài.

Một niềm tin phổ biến vào thời điểm đó là việc trở thành cái gọi là “công dân kỹ thuật số” sẽ mang lại lợi thế cho trẻ em trong thế giới mới đang hình thành xung quanh chúng ta. Mãi đến cuối những năm 2010, một sự lo lắng sâu sắc mới bắt đầu nảy sinh khi ngày càng rõ ràng rằng những đứa trẻ lớn lên cùng điện thoại thông minh và mạng xã hội không hề thích nghi tốt hơn. Trên thực tế, chúng ngày càng trở nên lo âu, trầm cảm, cô lập, ít vận động và không thể tập trung.

Có một lý do bổ sung cho những quyết định đáng hối tiếc đó: áp lực xã hội. Hơn một phần ba phụ huynh (39%) đã cho con mình một chiếc điện thoại thông minh nói rằng họ thà chờ đợi nhưng cảm thấy họ phải nhượng bộ vì quá nhiều bạn bè của con cái họ đã có một chiếc. Đối với mạng xã hội, áp lực xã hội thậm chí còn mạnh mẽ hơn: 54% những người cho con mình truy cập mạng xã hội nói rằng họ cảm thấy phải làm vậy vì rất nhiều gia đình khác đã làm như vậy.

Sự hối tiếc về kỹ thuật số thể hiện rõ ràng nhất trong một loạt câu hỏi chúng tôi đã hỏi về các loại sản phẩm tiêu dùng khác nhau. Câu hỏi chính xác là “Khi tôi nghĩ về trải nghiệm lớn lên của con mình, tôi ước ____ chưa bao giờ được phát minh.” Như biểu đồ đi kèm cho thấy, các bậc cha mẹ rất ít hối tiếc về việc cho con mình xe đạp, mặc dù nhiều đứa trẻ của họ có thể đã bị thương khi đi xe đạp vào một thời điểm nào đó. Ngược lại, hầu hết các bậc cha mẹ coi rượu, súng và nội dung khiêu dâm là những điều tồi tệ, ít nhất là trong bối cảnh phát triển của con cái họ. Vậy còn những công nghệ đang thống trị cuộc sống của trẻ em ngày nay thì sao? Chúng gần với xe đạp hay rượu hơn?

Đối với điện thoại thông minh và YouTube, chúng ở mức giữa. Khoảng một phần ba số phụ huynh hối tiếc về sự tồn tại của chúng, nhưng hầu hết thì không. Ngược lại, phần lớn phụ huynh ước rằng mạng xã hội nói chung, và Facebook và Instagram nói riêng, chưa bao giờ được phát minh. Đối với X (trước đây là Twitter) và TikTok, tỷ lệ này là 62%, cao hơn so với rượu và ngang bằng với súng.

Thế Hệ Z Cũng Hối Tiếc

Hóa ra, Thế hệ Z cũng hối tiếc không kém về vai trò của công nghệ trong tuổi thơ của họ. Trong cuộc khảo sát trước đây của chúng tôi, chúng tôi nhận thấy 30% những người thuộc Thế hệ Z trưởng thành đồng ý với nhận định “Tôi đã tiếp cận điện thoại thông minh quá sớm trong đời” và 34% nói điều tương tự đối với mạng xã hội. Bốn mươi lăm phần trăm cũng đồng ý rằng nếu hoặc khi họ có con, họ sẽ không cho phép con mình có điện thoại thông minh trước khi vào cấp ba.

Hầu hết phụ huynh ủng hộ các giới hạn này đối với việc sử dụng điện thoại thông minh

Biện pháp hạn chếHoàn toàn ủng hộKhá ủng hộTrung lậpKhá phản đốiHoàn toàn phản đối
Phụ huynh hạn chế quyền truy cập điện thoại thông minh của con cái cho đến khi chúng khoảng 14 tuổi33%32%22%9%4%
Phụ huynh hạn chế quyền truy cập mạng xã hội của con cái cho đến ít nhất 16 tuổi40%33%19%6%2%
Một luật nâng độ tuổi tối thiểu sử dụng mạng xã hội từ 13 lên 1639%31%20%8%2%
Các trường học thực thi chính sách “không điện thoại” từ đầu đến cuối giờ học33%30%16%13%8%

Export to Sheets

Nguồn: Harris Poll

Chúng tôi đã đề xuất bốn chuẩn mực nhằm giúp các gia đình thoát khỏi cái bẫy hành động tập thể – cảm giác rằng họ phải nhượng bộ vì mọi người khác đã làm như vậy. Thật khó để bất kỳ phụ huynh hay trường học nào hành động đơn độc. Nhưng khi các gia đình và trường học cùng nhau hành động, sự thay đổi sẽ trở nên khả thi. Những chuẩn mực này được thiết kế để củng cố lẫn nhau, và khi kết hợp lại, chúng đưa ra một lộ trình để đòi lại một tuổi thơ khỏe mạnh và vui vẻ hơn.

Chuẩn mực đầu tiên là trì hoãn việc cấp điện thoại thông minh cho đến khi vào cấp ba. Cuộc khảo sát của chúng tôi cho thấy hai phần ba phụ huynh nói rằng họ muốn đợi ít nhất đến 14 tuổi. Chuẩn mực thứ hai là trì hoãn việc sử dụng mạng xã hội cho đến 16 tuổi – một mục tiêu được 73% phụ huynh ủng hộ, với 70% ủng hộ một độ tuổi tối thiểu hợp pháp là 16.

Chuẩn mực thứ ba là các trường học không có điện thoại, nơi học sinh tách rời các thiết bị từ tiếng chuông đầu tiên đến tiếng chuông cuối cùng, bao gồm cả giờ ăn trưa và giờ ra chơi; 63% phụ huynh ủng hộ chính sách này. Cuối cùng, chuẩn mực thứ tư là mang đến cho trẻ em những điều tốt hơn để làm: độc lập hơn, vui chơi tự do và có trách nhiệm hơn trong thế giới thực. Bốn mươi phần trăm phụ huynh có con từ 6 đến 12 tuổi cho biết họ muốn cho con mình nhiều tự do hơn để ra ngoài với bạn bè mà không có sự giám sát. Trong số phụ huynh của thanh thiếu niên, con số đó tăng lên 47%.

Sự Ủng Hộ Mạnh Mẽ Trên Nhiều Lĩnh Vực

Mức độ ủng hộ mạnh mẽ này vượt qua rào cản về sắc tộc, kinh tế và chính trị. Và tin tốt là nhiều phụ huynh là nhà lập pháp, giáo viên và hiệu trưởng trường học, và họ đang tích cực thúc đẩy những ý tưởng này. Mười tiểu bang đã ban hành luật cấm điện thoại trong trường học của họ. Các luật ít nghiêm ngặt hơn về việc sử dụng điện thoại trong trường học đã được ban hành ở 21 tiểu bang, và các luật hạn chế điện thoại đang được xem xét ở 14 tiểu bang nữa và Đặc khu Columbia.

Điều này cũng đang xảy ra bên ngoài Hoa Kỳ. Mọi trường học ở Brazil đã thực hiện chính sách không điện thoại từ đầu đến cuối giờ học. Australia đã nâng độ tuổi để mở tài khoản mạng xã hội lên 16; các quốc gia khác rất có thể sẽ làm theo. Tổng thống Pháp, Emmanuel Macron, gần đây đã công bố ý định ban hành độ tuổi tối thiểu 15 cho việc sử dụng mạng xã hội ở Pháp nếu Liên minh Châu Âu không ban hành một quy định tương tự trước.

Với việc các công ty công nghệ hăm hở lấp đầy cuộc sống của con cái chúng ta – và cả lớp học của chúng – bằng nhiều công nghệ mới và chưa được kiểm chứng (AI “bạn bè,” gia sư và các hình thức thực tế ảo khác), việc các bậc cha mẹ lên tiếng và các nhà lập pháp hành động trở nên cấp bách hơn bao giờ hết.

Mục tiêu của những cải cách này không chỉ là giới hạn thời gian sử dụng màn hình. Nó lớn hơn nhiều. Mục tiêu là khôi phục lại tuổi thơ.

Jonathan Haidt

Jonathan Haidt, nhà tâm lý học xã hội tại Trường Kinh doanh Stern của Đại học New York, là tác giả của cuốn “The Anxious Generation.” Will Johnson là giám đốc điều hành của Harris Poll. Zach Rausch là nhà khoa học nghiên cứu cấp cao tại Trường Stern và là giám đốc điều hành của Phòng thí nghiệm Công nghệ và Xã hội tại N.Y.U.

Phụ Lục Chú Giải Thuật Ngữ và Dữ Kiện

(Do Gemini và T.Vấn thực hiện)

I. Thuật Ngữ & Khái Niệm

  • Smartphone (Điện thoại thông minh): Thiết bị điện thoại di động có khả năng kết nối internet, cài đặt ứng dụng và thực hiện nhiều chức năng của máy tính cá nhân. Bài báo tập trung vào tác động của việc trẻ em sử dụng điện thoại thông minh ngày càng sớm.
  • Social Media (Mạng xã hội): Các nền tảng trực tuyến cho phép người dùng tạo hồ sơ, kết nối và tương tác với nhau, chia sẻ nội dung. Các ví dụ cụ thể được nhắc đến trong bài là TikTok, Snapchat, Instagram, Facebook, và X (trước đây là Twitter).
  • Screen time (Thời gian sử dụng màn hình): Tổng thời gian mà một người dành để nhìn vào màn hình của các thiết bị điện tử như điện thoại thông minh, máy tính bảng, máy tính hoặc TV.
  • Gen Z (Thế hệ Z): Thế hệ sinh ra khoảng từ giữa những năm 1990 đến đầu những năm 2010. Bài báo khảo sát Gen Z để hiểu quan điểm của họ về việc tiếp cận công nghệ sớm.
  • Digital native (Công dân kỹ thuật số): Thuật ngữ dùng để chỉ những người lớn lên trong thời đại kỹ thuật số, được cho là có khả năng sử dụng công nghệ một cách tự nhiên và thành thạo. Bài báo đề cập đến quan niệm sai lầm ban đầu rằng điều này sẽ mang lại lợi thế cho trẻ em.
  • Techno-optimism (Lạc quan về công nghệ): Niềm tin rằng công nghệ mới sẽ mang lại những lợi ích và cải thiện đáng kể cho cuộc sống con người, thường bỏ qua các rủi ro tiềm ẩn. Giai đoạn 2010-2015 được nhắc đến như thời kỳ phổ biến của xu hướng này.
  • Collective action trap (Cái bẫy hành động tập thể): Tình huống trong đó các cá nhân hoặc nhóm không thể đạt được lợi ích chung vì không ai muốn là người đầu tiên hành động hoặc chịu rủi ro một mình. Trong ngữ cảnh bài báo, đó là việc cha mẹ cảm thấy phải cho con dùng điện thoại vì “ai cũng có”.
  • Phone-free schools (Trường học không điện thoại): Chính sách cấm học sinh sử dụng điện thoại trong giờ học, bao gồm cả giờ nghỉ trưa và giờ ra chơi. Đây là một trong những chuẩn mực được đề xuất để bảo vệ trẻ em.

II. Nhân Danh

  • Dr. Jonathan Haidt: Nhà tâm lý học xã hội tại Trường Kinh doanh Stern của Đại học New York. Ông là một trong những tác giả của bài báo và là tác giả của cuốn sách “The Anxious Generation.”
  • Will Johnson: Giám đốc điều hành của Harris Poll, đồng tác giả bài báo.
  • Zach Rausch: Nhà khoa học nghiên cứu cấp cao tại Trường Kinh doanh Stern và giám đốc điều hành của Tech and Society Lab tại N.Y.U., đồng tác giả bài báo.
  • Harris Poll: Một công ty nghiên cứu thị trường và thăm dò ý kiến nổi tiếng của Mỹ, đã hợp tác với các tác giả để thực hiện hai cuộc khảo sát được trích dẫn trong bài báo.
  • New York University’s Stern School of Business (Trường Kinh doanh Stern thuộc Đại học New York): Nơi làm việc của Dr. Jonathan Haidt và Zach Rausch.

III. Dữ Kiện & Con Số Quan Trọng

  • 5 giờ/ngày: Thời gian trung bình mà thanh thiếu niên sử dụng các ứng dụng mạng xã hội mỗi ngày.
  • 57 triệu người: Số người trên toàn thế giới bị ảnh hưởng bởi chứng sa sút trí tuệ (được nhắc đến trong bài báo trước, nhưng cũng là một dữ kiện quan trọng).
  • 13 tuổi: Độ tuổi tối thiểu hợp pháp mà các công ty được phép thu thập dữ liệu từ trẻ em mà không có sự đồng ý của phụ huynh. Bài báo chỉ ra rằng nhiều trẻ em đã truy cập mạng xã hội sớm hơn độ tuổi này.
  • 2010-2015: Giai đoạn mà điện thoại thông minh bắt đầu thay thế điện thoại cơ bản, đánh dấu sự chuyển đổi lớn trong công nghệ và thái độ của xã hội.
  • 10 tiểu bang (Mỹ): Đã ban hành luật cấm điện thoại trong trường học.
  • 21 tiểu bang (Mỹ): Đã ban hành luật ít nghiêm ngặt hơn về việc sử dụng điện thoại trong trường học.
  • 14 tiểu bang (Mỹ) + District of Columbia: Đang xem xét luật hạn chế điện thoại.
  • Brazil: Mọi trường học ở quốc gia này đã thực hiện chính sách không điện thoại từ đầu đến cuối giờ học.
  • Australia: Đã nâng độ tuổi tối thiểu để mở tài khoản mạng xã hội lên 16.
  • Emmanuel Macron: Tổng thống Pháp, đã công bố ý định ban hành độ tuổi tối thiểu 15 cho việc sử dụng mạng xã hội ở Pháp nếu EU không hành động trước.
Bài Mới Nhất
Search