DON CAMILLO & BẦY CHIÊN (KHÔNG) NGOAN (TẬP 2)-KỲ 19: CHIẾC XE ĐẠP

T.Vấn: GIỚI THIỆU G. GUARESCHI

GG: LỜI TỰ SỰ

KỲ 19: CHIẾC XE ĐẠP

Trên một dải đất nằm giữa con sông và đường xa lộ, người ta khó mà tưởng tượng được rằng trước đây đã có thời chiếc xe đạp không hề tồn tại. Bây giờ thì ở trong thung lũng này, trẻ con từ 5 tuổi đến ông già 80 ai cũng sử dụng xe đạp. Đáng kể nhất là lũ con trai nhỏ, chúng luồn mình ở giữa sườn xe, hai chân ngắn cũn ra sức đạp và chiếc xe di chuyển đủ mọi hướng ngoại trừ một đường thẳng phía trước. Nông dân ở trong làng phần lớn đều sử dụng loại xe dành cho phụ nữ. Còn những địa chủ bụng phệ thì ngất ngưởng trên những chiếc xe kiểu cách hết sức dị hợm, mà để leo lên chỗ ngồi họ phải trước hết bước lên cái bàn để chân gắn thêm vào bánh sau của xe.

Đến những chiếc xe đạp của dân thành phố thì trông còn xấu xí tức cười hơn nữa. Những thứ gọi là cải tiến, thêm vẻ tiện nghi hào nhoáng như bình điện, bộ phận sang số, giỏ đi chợ, dây chắn xích, đồng hồ đo tốc độ và nhiều thứ lỉnh kỉnh khác, thực chất chỉ là những thứ đồ chơi và là phương tiện thể dục cho đám trưởng giả mà thôi. Một chiếc xe đạp đúng nghĩa phải cân nặng ít nhất 65 cân; phải tróc gần hết lớp sơn nguyên thủy và mất ít nhất một bàn đạp, và cái còn lại chỉ phải là một miếng kim khí mòn nhẵn và sáng bóng vì gót giầy của người cỡi. Cần phải nhấn mạnh rằng đây là bộ phận sáng bóng duy nhất của chiếc xe đạp. Hai tay cầm trên ghi đông xe (không còn phần nhựa bọc) không thể ở đúng góc độ quy định với ghi đông mà phải lệch khoảng 12 độ ở bên này hoặc bên kia. Thêm nữa, một chiếc xe đạp chân chính không được phép gắn miếng chắn bùn ở bánh xe sau. Còn ở bánh trước, phía trên miếng chắn bùn phải treo một một mảnh vỏ xe hơi, màu đỏ là tốt nhất, để chặn cho nước không bắn lên mặt người cỡi. Tuy nhiên, miếng chắn bùn ở bánh xe sau sẽ được phép gắn thêm vào nếu người cỡi cho rằng bùn đất đã đóng một lớp quá sức chịu đựng trên lưng của mình trong những ngày mưa bão. Nhưng, với trường hợp như thế này, thì miếng chắn bùn phải có một khoảng hở đủ cho người cỡi dùng để áp dụng lối thắng xe “theo kiểu Mỹ”, có nghĩa là người cỡi sẽ nhét một bàn chân của mình vào khoảng hở đó để buộc chiếc xe ngừng lại.

Ở thung lũng sông Po, xe đạp không có thắng xe. Hai vỏ xe luôn có những chỗ vá rất dễ nhận ra và phồng lên như chứng tỏ sự hiện hữu một tinh thần nhập cuộc lúc nào cũng sẵn sàng. Trong thế giới nhỏ bé này, chiếc xe đạp bị chìm khuất giữa phong cảnh hùng vĩ. Nó cũng không bao giờ được dùng để khoe khoang sự giàu có cho dù cả với những chiếc xe đạp đua được chế tạo hết sức đỏm dáng nhưng cũng chỉ như các cô gái nhà quê bên cạnh các mệnh phụ phu nhân. Người dân ở thành thị ít ai hiểu được điều này. Họ giống như những con bò quen sống trong tiện nghi nên không còn sự mẫn cảm cần thiết . Họ gần như thỏa mãn và sẵn sàng chấp nhận sự tha hóa của đời sống với tư cách công dân đến độ chẳng buồn bận tâm con chó xù thuộc giống cái của mình có phải là “đồ chó cái” hay không. Tệ hơn nữa, họ đặt những chỗ mà họ gọi là “nhà vệ sinh” hay “chỗ rửa tay” chình ình ở ngay chính giữa nhà. Trong khi đó, mỗi một người nhà quê có lòng tự trọng và trung thực sẽ gọi chỗ đó là “phòng chứa nước” (watercloset: WC) và luôn luôn để chỗ ấy ở bên ngoài và xa với chỗ ăn ở. Người ta cho rằng để cho “khu tiện nghi” ở gần chỗ ăn, chỗ ở trong nhà là một dấu hiệu của sự tiến bộ nhưng thực ra, để cái đó ở bên ngoài, ở xa xa nơi ăn nơi ở, cho dù không có đường lót gạch tử tế từ nhà ra đến chỗ ấy vẫn là một dấu hiệu của  sự sạch sẽ hơn và văn minh hơn.

Ở thung lũng sông Po, chiếc xe đạp là một phương tiện cần thiết như một đôi giày. Trong thực tế, có khi còn hơn thế nữa. Bởi vì, nếu một người không có giày thì anh ta vẫn có thể cưỡi xe đạp nhưng nếu anh ta không có xe đạp thì chắc chắn anh ta phải di chuyển bằng chân rồi. Điều này đúng ở thành thị, kể cả những nơi có xe điện. Nhưng ở vùng nhà quê này thì không có một phương tiện vận chuyển nào ngoài xe đạp, xe gắn máy hoặc những chiếc xe do súc vật kéo trên những con đường thỉnh thoảng mang dấu vết một con rắn vừa trườn qua đường.

***

Don Camillo chưa bao giờ bận rộn đến việc mua bán trừ phi ông ta không còn lựa chọn nào khác. Chẳng hạn như phải mua một cân thịt bò, một hai hộp xì gà kèm theo là một cái hộp mà dân địa phương gọi là “que lửa”, tức là loại diêm cho lửa bằng cách quẹt đầu vào đế giầy hay đít quần bọc da. Nếu Don Camillo chưa bao giờ quan tâm đến việc mua bán thì chắc hẳn ông ta thích thú được quan sát những dịp như vậy. Bằng cớ là vào những ngày thứ bẩy đẹp trời, ông ta hay đạp xe đi xem phiên chợ hàng tuần họp ở La Vila. Don Camillo có vẻ quan tâm nhiều đến chăm nuôi gia súc, máy móc nông nghiệp, phân bón, các loại thuốc trị sâu bọ. Có lần, mua được một chai thuốc trừ sâu bọ để bảo vệ giàn nho trồng đằng sau nhà xứ, Don Camillo có cảm giác vui sướng giống như chủ nông trại Bidazzi đối với những héc ta đất mênh mông của mình. Vả chăng, sự sống động trong một khu chợ đông đúc và một bầu không khí như lễ hội của phiên chợ cùng với những hoạt động rôm rả ở đó luôn làm cho tinh thần của Don Camillo trở nên phấn chấn hơn.

Riêng vào ngày thứ Bẩy này, Don Camillo nhẩy lên chiếc xe đạp cũ kỹ, hoan hỉ nuốt đoạn đường 7 dặm đến La Villa. Phiên chợ hôm nay đông đảo một cách khác thường. Don Camillo cảm thấy ở đây vui hơn là phiên chợ hàng năm tổ chức ở Milan. Đến khoảng 11 giờ rưỡi, ông ta đi lấy xe đạp ở bãi để xe. Giữa những chiếc xe chất san sát nhau, phải khó khăn lắm ông mới kéo được chiếc xe của mình ra ngoài rồi leo lên đạp xe trên con đường nhỏ hẹp dẫn ra ngoài đồng quê. Đến lúc này thì ma quỷ bắt đầu giở trò quấy phá, bởi vì cha xứ vừa ngừng lại ở một cửa tiệm để mua vài thứ lặt vặt. Khi ông ta đi ra, thì chiếc xe đạp mà ông ta dựng dựa vào tường trước cửa, đã không cánh mà bay đi đâu mất.

Cơ thể của Don Camillo vốn được trang bị bằng những khúc xương và bắp thịt lớn quá khổ. Tính từ chân lên đến đỉnh đầu của ông, chiều cao là bằng một người bình thường đứng trên một cái ghế. Nếu tính từ đỉnh đầu xuống dưới chân, ông ta cao hơn hẳn người bình thường một gang tay. Điều đó có nghĩa là người ta thấy ông ta cao hơn một thì ông ta thấy mình cao hơn thêm một gang tay nữa. Theo ý Don Camillo thì đó là cách đo sự đảm lược của ông ta: nó cao hơn cả chiều cao vật lý biểu hiện bên ngoài. Giả sử có ai đó chĩa súng vào người ông ta thì huyết áp ông ta cũng không tăng dù chỉ hơi nhúc nhích. Nhưng nếu chẳng may ông bị vấp một cục đá giữa đường mà bị ngã hoặc khi bị ai đó chơi đểu, chắc chắn ông ta sẽ nổi khùng vì bị bỉ mặt. Những lúc như thế, Don Camillo thường cảm thấy xấu hổ cho mình và ủ rũ nhiều ngày.

Giờ đây, chiếc xe đạp đã bị mất, Don Camillo không vì thế mà làm ầm ĩ lên. Ông ta hỏi một cụ già đứng gần đó xem cụ có thấy ai cỡi một chiếc xe đạp kiểu dành cho phụ nữ với chiếc giỏ chợ màu xanh. Khi cụ già trả lời không thấy thì ông đưa tay chạm mũ nói lời cám ơn rồi bỏ đi. Đi ngang qua một trạm cảnh sát nhưng ông không nghĩ đến chuyện bước vào. Sự kiện một vị linh mục vùng quê với 25 đồng trong túi, bị lấy cắp chiếc xe đạp là một sự kiện có tính cách riêng tư, một vấn đề thuộc về đạo đức cá nhân, không phải là vấn đề cần đưa ra công chúng. Đối với người giàu có, mất xe có nghĩa là mất tiền, nên rất có thể họ muốn đến cảnh sát để báo cáo. Nhưng đối với kẻ nghèo hèn thì đó sẽ là một nỗi bất công mang hiệu ứng cá nhân tức thì, cũng giống như một người què cụt bị tấn công và chiếc nạng dưới chân bị đánh văng ra khỏi tầm tay người đó vươn tới.

Don Camillo kéo mũ xuống để che cho bớt mặt và bắt đầu cuốc bộ về nhà. Mỗi khi nghe có tiếng chiếc xe kéo lọc cọc phía sau, ông ta vội né xuống dưới đường. Ông ta muốn đi bộ một mình về nhà và không phải nói chuyện gì với ai cả. Ngoài ra, việc đi bằng chân trên suốt 7 dặm đường từ chợ về đến nhà xứ là nhằm mục đích nhấn mạnh đến tội của kẻ trộm xe và nhấn mạnh cả cảm thức bị tổn thương của một vị linh mục chánh xứ. Cứ thế, Don Camillo bước một mình giữa bụi bậm và cái nóng trong một tiếng đồng hồ không một phút nào ngừng lại để nghỉ, vừa đi ông vừa nghiền ngẫm về sự bất hạnh của linh mục Don Camillo, một người dường như hiện hữu bên ngoài của chính Don Camillo. Đi được độ một quãng nữa thì đến con đường dẫn về nhà, ông đứng lại dựa lưng vào bức tường một cây cầu nhỏ xây bằng gạch. Cũng bờ tường ấy có một chiếc xe đạp đứng dựa vào. Đó là chiếc xe đạp của Don Camillo. Ông ta biết rõ nó như lòng bàn tay của mình, cho nên không thể có sự lầm lẫn. Ngay lập tức, ông ngó chung quanh, nhưng không thấy một ai. Ông sờ vào chiếc xe, lấy lưng bàn tay xoa xoa tay cầm. Đúng rồi, nó bằng sắt cứng cáp. Căn nhà gần nhất tính từ đây cũng phải xa khoảng nửa dặm và các bụi rậm thì lá chưa mọc dầy đủ để ai đó chọn làm nơi ẩn nấp. Cuối cùng, khi nhìn qua bức tường của cây cầu, Don Camillo thấy một người đàn ông đang ngồi trên lòng suối đã khô cạn vì nóng. Người này nhìn lại ông ta vẻ dò hỏi.

Don Camillo ngập ngừng nói:

“Chiếc xe đạp này là của ta,”

“Xe đạp nào?”

“Chiếc xe đang được dựng sát bờ tường của cây cầu này đây!”

Người kia nói.

“Nếu có một chiếc xe đạp dựng ở trên cầu và đó là xe đạp của cha thì nó chẳng có gì liên quan đến tôi.”

“Ta chỉ muốn nói để anh biết thôi,” Trông Don Camillo có vẻ lúng túng rõ rệt. “Tôi chỉ không muốn có sự tranh cãi nào xẩy ra mà thôi.”

Người đàn ông hỏi:

“Cha có chắc chiếc xe đạp này là của cha không?”

“Ta phải nói là ta rất chắc về việc này. Nó đã bị kẻ nào đó lấy trộm lúc ta vào mua sắm chút ít đồ dùng ở La Villa khoảng 1 tiếng đồng hồ trước đây. Ta chỉ không biết làm sao mà nó lại ở đây thôi.”

Người kia cười.

“Chắc là nó buồn chán vì chờ đợi nên đi trước cha một đỗi đường đấy thôi.”

Don Camillo giơ tay lên tỏ vẻ hoang mang, không hiểu gì cả.

Người đàn ông hỏi:

“Với tư cách một tu sĩ, cha có thể bảo đảm một bí mật không?”

“Chắc chắn!”

“Vậy thì tôi có thể nói rằng chiếc xe đạp ở đây vì chính tôi là người mang nó đến đây.”

Don Camillo mở to mắt nhìn gã.

“Anh tìm thấy nó?”

“Đúng, tôi tìm thấy nó để ở trước cửa tiệm buôn. Và tôi dắt nó đi.”

“Có phải anh muốn làm một trò đùa?”. Don Camillo nói sau một lúc ngập ngừng.

Người đàn ông phản đối:

“Chớ có ngốc nghếch như thế chứ! Cha nghĩ là ở tuổi tôi người ta có thể đi chơi cái trò đó à? Tôi lấy chiếc xe với mục đích giữ nó cho mình sử dụng. Rồi tôi nghĩ mình không nên làm như vậy, bèn đạp xe theo sau cha. Đi được khoảng dặm đường, tôi chọn ngã tắt để đến đây trước cha và dựng nó ngay dưới mũi của cha đó.”

Don Camillo ngồi xuống một bên tường và nhìn xuống người đàn ông ở phía dưới.

“Tại sao anh lại lấy chiếc xe nếu nó không phải là của anh?”

“Mỗi người ai cũng có nghề nghiệp chuyên môn của mình. Cha chuyên môn với các linh hồn còn tôi chuyên môn với xe đạp.”

“Anh chuyên môn nghề này lâu chưa?”

“Mới chỉ khoảng chừng hai hay ba tháng nay thôi. Tôi hoạt động ở các phiên chợ. Thường thường thì công việc làm ăn của tôi cũng không đến nỗi tệ vì bọn nông dân này có những cái hũ đựng đầy tiền ngân hàng. Sáng nay, xui xẻo chẳng vớ được em nào nên tôi chớp chiếc xe của cha. Rồi tôi lại thấy cha từ trong cửa hiệu đi ra, bị mất xe mà chẳng nói chẳng rằng cứ thế bỏ đi. Thế là tôi cảm thấy không ổn, bèn lén theo sau cha. Nhưng tôi vẫn không hiểu lý do nào cha hành xử như vậy. Tại sao cha lại tránh xuống đường mỗi khi có chiếc xe kéo nào đi qua? Cha có biết tôi đi đằng sau cha không?”

“Không.”

“Thì tôi vẫn cứ lẽo đẽo theo sau cha đấy. Nếu cha nhận lời quá giang một ai đó thì tôi đã quay lại rồi. Và vì cha cứ lầm lũi đi bộ nên tôi đành cứ phải đi theo.”

Don Camillo lắc đầu. “Bây giờ thì anh định đâu?”

“Quay trở lại xem có gì để làm ở La Villa không!”

“Để xem có chiếc xe đạp nào cho anh đụng tay vào phải không?”

“Lẽ dĩ nhiên!”

“Vậy thì hãy lấy chiếc này đi!”

Gã đàn ông ngước mắt nhìn Don Camillo.

“Tôi sẽ không làm việc này bao lâu ông còn sống, thưa cha! Dù chiếc xe của cha có được chế bằng vàng ròng tôi cũng không lấy. Nó sẽ nằm hoài trên lương tâm của tôi và hủy hoại nghề nghiệp của tôi. Tôi thà tránh xa các vị tu sĩ cho đỡ áy náy.”

Don Camillo hỏi anh ta đã có được ăn uống gì chưa và người này nói chưa.

“Vậy anh đến ăn chút gì với ta nhé!”

Vừa lúc, có một chiếc xe bò trờ đến. Trên xe là gã nông dân tên Brelli.

Don Camillo bảo người đàn ông:

‘Đi thôi, con người khốn khổ này. Anh cỡi xe đạp, còn ta sẽ quá giang chiếc xe bò này.”

Don Camillo chặn Brelli lại và nói ông bị đau ở chân. Gã đàn ông từ dưới suối leo lên chiếc cầu. Gã giận dữ ném mũ xuống đất, miệng không ngớt nguyền rủa vài vị thánh trước khi nhẩy lên xe đạp chạy theo chiếc xe bò.

***

Don Camillo đã chuẩn bị xong bữa ăn rồi phải chờ mãi đến 10 phút sau mới thấy tên trộm xe đạp xuất hiện trước cửa nhà xứ.

“Chỉ có bánh mì, xúc xích, phó mát và một ít rượu vang. Ta hy vọng bấy nhiêu cũng đủ cho anh!”

“Cha không phải lo gì hết. Tôi đã chuẩn bị rồi.” Gã vừa nói vừa đặt một con gà lên bàn ăn.

“Con vật tội nghiệp đang chạy qua đường, vì không tránh kịp nên tôi lỡ cán phải nó. Chỉ vì không muốn để nó nằm chờ chết lăn lóc trên đường nên tôi tìm cách chấm dứt mọi đau đớn cho nó… Đừng nhìn tôi bằng cái ánh mắt như thế, thưa cha. Tôi tin chắc nếu cha nướng nó đúng cách, Chúa sẽ tha thứ cho cha.”

Don Camillo đem nướng con gà và mang ra một chai rượu vang đặc biệt. Sau chừng khoảng một giờ, gã nói mình phải quay lại lo công chuyện làm ăn nhưng trên nét mặt gã phảng phất một nỗi lo lắng.

Gã thở dài nói:

“Tôi không biết liệu mình có thể quay lại công việc ăn cắp xe đạp nữa được không. Cha đã làm cho tôi nản chí quá rồi.”

Don Camillo hỏi.

“Anh có gia đình không?”

“Không, tôi chỉ có một mình.”

“Vậy ở đây làm công việc kéo chuông nhà thờ cho ta. Người kéo chuông cũ đã nghỉ việc hai ngày nay rồi.”

“Nhưng tôi không biết kéo chuông.”

“Một kẻ đã từng biết cách trộm xe đạp sẽ thấy học kéo chuông chẳng có gì khó khăn.”

Và gã trở thành người kéo chuông nhà thờ từ hôm đó.

G.G.

Bài Mới Nhất
Search