T.Vấn: GIỚI THIỆU G. GUARESCHI
KỲ 28: CHỦ NHẬT BUỒN
Ông già Grolini đến nhà xứ để đưa cho Don Camillo xem một bức thư. Lúc ấy, bên cạnh con Sấm và đôi mắt trông chừng của nó, vị linh mục chính xứ đang chùi dầu mấy các tút đạn cho khẩu súng săn. Trước khi mở thư ra đọc, Don Camillo nhìn ông già như dọ hỏi.
“Cũng vẫn chuyện cũ thôi,”. Ông già nói ngập ngừng. “Thằng ranh con ấy lại gây phiền toái rắc rối.”
Viên hiệu trưởng của trường bán trú nơi thằng con của ông già Grolini đang theo học hoàn toàn không hài lòng với thằng bé và muốn người cha có biện pháp với nó.
Ông già bảo.
“Cách tốt nhất là cha nên thay tôi đi đến gặp họ. Tôi mà gặp thằng ranh ấy thế nào tôi cũng cho nó một cái cốc lủng đầu. Cha làm ơn bảo nó rằng nếu nó không thay đổi thì tôi sẽ tống cổ nó ra khỏi nhà.”
Don Camillo lắc đầu. Ông ta dấm dẳng:
“Làm thế còn xuẩn ngốc hơn là cốc cho nó lủng đầu. Nó chỉ là một thằng bé chưa tới 11 tuổi, đuổi nó ra khỏi nhà sao được?”
“Không tống cổ được thì tôi sẽ cho nó đi cải tạo,”. Grolini la lớn. “Tôi thực sự không muốn nhìn thấy mặt thằng ranh ấy tí nào.”
Nhận thấy khó lòng khuyên giải người cha vào lúc này, cuối cùng, Don Camillo đành nói: “Để ta nói chuyện với nó vào chủ nhật này xem sao…”
“Cha sẽ được toàn quyền đá đít nó ra khỏi trường. Cha đối xử với nó tệ hại bao nhiêu thì tôi càng vui lòng bấy nhiêu.”
Sau khi ông già đi khỏi, Don Camillo lật đi lật lại bức thư trên tay. Điều làm ông áy náy là chính ông là người đã khuyên Grolini nên khuyến khích thằng bé tiếp tục ăn học và đề nghị gởi thằng bé đi học xa. Ông già Grolini là một người khá giả. Ông ta là nông dân, nhưng có đất đai để không phải đi làm thuê cho người khác. Ông ta làm chủ nhiều mảnh đất màu mỡ, có trang trại nuôi gia súc, có cả máy kéo và các loại máy móc nông nghiệp phụ giúp trong việc đồng áng. Giacomino, đứa con trai út của lão, là một đứa trẻ lanh lợi, lại học hành giỏi giang ở trường, khiến ông bố nẩy sinh sự thèm muốn có một đứa con tốt nghiệp đại học cho vẻ vang giòng tộc. Đó là chưa kể bà vợ của lão, người lúc nào cũng ra vẻ ta đây có của ăn của để. Thế là ngay sau khi học xong cấp tiểu học, thằng bé lại tiếp tục khăn gói lên thành phố. Đích thân Don Camillo đã giúp điền tất cả các loại đơn từ cần thiết và dẫn thằng bé đến trường. Giacomino là một trong những đứa bé ngoan ngoãn và dễ mến nhất mà Don Camillo đã từng được biết. Nó đã nhiều năm làm công việc giúp lễ ở nhà thờ và chưa bao giờ vướng phải một rắc rối cỏn con nào. Nhưng giờ thì vị linh mục không hiểu lý do tại sao hay điều gì đã làm thằng bé trở nên hư hỏng đến khó tin như vậy.
***
Vào ngày Chủ Nhật, Don Camillo có mặt ở trường nội trú theo đúng giờ quy định cho thăm viếng. Khi viên hiệu trưởng nghe đến tên Grolini, ông ta đưa hai tay lên ôm đầu. Thấy vậy, Don Camillo vung tay ra biểu lộ một cử chỉ tuyệt vọng.
“Ta vô cùng kinh ngạc,”. Ông ta nói với giọng điệu như bị sỉ nhục. “Ta luôn tin rằng thằng bé sẽ là một thằng bé ngoan ngoãn, biết vâng lời. Ta không thể hiểu làm sao mà nó lại trở nên buông thả như thế.”
“Buông thả không phải là một từ ngữ chính xác để diễn tả đâu cha ạ!” Viên hiệu trưởng tiếp lời. “Hạnh kiểm của cậu ta không làm cho chúng tôi phải lo lắng chút nào hết. Vậy mà chúng tôi phải quan tâm đến nó hơn bất cứ một đứa trẻ hư hỏng nào khác.”
Ông ta rút từ trong ngăn kéo bàn giấy ra một cái phong bì lớn, rồi lấy ra một tờ giấy.
“Cha xem bài luận này,”
Don Camillo nhìn tờ giấy phẳng phiu, sạch sẽ, trên đó viết một hàng chữ nắn nót, ngay ngắn: Giacomo Grolini. Lớp 1B. Đề tài: Quyển sách ưa thích nhất của em. Mô Tả.
Lật tờ giấy qua trang bên kia, ông ta không thấy có một hàng chữ nào.
“Cha thấy rõ rồi đấy,” vừa nói, viên hiệu trưởng vừa đưa cho Don Camillo nguyên cả phong bì trên tay. “Tất cả các bài tập của cậu ta đều giống y hệt như vậy. Cậu rất nắn nót viết xuống đề bài hay đề toán, rồi sau đó ngồi khoanh tay im lặng chờ cho đến lúc nộp bài. Khi được hỏi, cậu ta không trả lời. Ban đầu, chúng tôi tưởng nó là một thằng bé dở dở ương ương. Nhưng sau khi quan sát hay lắng nghe nó nói chuyện với các bạn cùng lớp, chúng tôi thấy nó chẳng phải dở dở ương ương chút nào cả. Phải nói ngược lại mới đúng.”
“Ta sẽ nói chuyện với nó. Sẽ tìm một chỗ nào đó yên tĩnh ở bên ngoài trường, và nếu cần, ta sẽ tẩn cho nó một trận đích đáng.”
Viên hiệu trưởng nhìn đôi bàn tay to lớn của Don Camillo.
“Nếu làm vậy mà nó vẫn chứng nào tật nấy thì tôi e rằng chúng ta sẽ chẳng còn phương cách nào khác,” ông ta lẩm bẩm, “Thằng bé không được phép rời khỏi nhà trường sau khi đã phạm lỗi nặng như vậy, nhưng tôi sẽ đặc biệt cho phép nó ở với cha cho đến 5 giờ chiều hôm nay.”
Mấy phút sau, Giacomino xuất hiện. Don Camillo không thể nào nhận ra được thằng bé. Ngoài bộ đồng phục của nhà trường và mái tóc cắt tỉa gọn ghẽ, có một cái gì hoàn toàn khác lạ trong cung cách cử chỉ của nó.
“Không có gì phải lo lắng nhiều nhé,” Don Camillo nói với viên hiệu trưởng, “Ta sẽ làm việc với nó.”
Họ lặng lẽ sánh bước trên đường phố vắng vẻ, thứ quang cảnh buồn tẻ điển hình của một buổi trưa chủ nhật. Đi bên cạnh vóc người to lớn của vị linh mục, trông Giacomino nhỏ thó, gầy yếu hơn bao giờ hết. Ra đến một khu vực ngoại ô, Don Camillo ngó quanh quất tìm một chỗ để ông ta có thể chuyện trò thoải mái với thằng bé. Họ rẽ vào một con đường khá rộng dẫn về hướng đồng quê. Cách đó khoảng vài chục mét là con đường đất đá lởm chởm chạy dọc theo một con kinh. Trời còn nắng. Tuy các hàng cây hai bên đường đều đã bị trụi lá nhưng quang cảnh vẫn làm mắt họ dễ chịu. Cuối cùng, Don Camillo ngồi xuống một gốc cây gần đó. Trong đầu Don Camillo đã sẵn sàng những điều ông định sẽ nói với thằng bé, và hẳn nhiên là sẽ đủ dữ dội để khiến đến một con voi cũng phải run sợ. Thằng bé đến đứng trước mặt ông cha, rồi bỗng nhiên nó hỏi:
“Con xin phép chạy nhảy một lát được không?”
“Chạy nhảy?” Don Camillo sẵng giọng hỏi. “Bộ ở trường con không được chạy nhảy trong những giờ nghỉ hay sao?”
“Dạ có, nhưng không được chạy xa,” thằng bé trả lời. “Lúc nào cũng có những bức tường chặn đường.”
Don Camillo chăm chú nhìn khuôn mặt xanh xao và mái tóc cắt ngắn.
“Được rồi! Con được phép chạy đó,” Ông ta nói, “xong rồi đến gặp ta. Ta muốn nói chuyện với con.”
Giacomino phóng đi như một tia chớp. Don Camillo nhìn theo, thấy nó băng nhanh qua cánh đồng, chui dưới một hàng dậu có những dây nho trụi lá phủ lên trên rồi chạy song song với nó. Mấy phút sau, thằng bé quay lại, đôi mắt sáng rực và đôi gò má tươi hẳn lên.
“Con nghỉ một chút đi rồi mình sẽ nói chuyện,” Don Camillo bảo.
Giacomino ngồi xuống, nhưng chỉ một phút sau nó đứng phắt dậy chạy về phía một cây du gần đó. Như một con sóc, nó leo lên cây, với tay kéo một nhánh nho bám trên một cành du cao nhất. Thằng bé lục lọi một lúc trong đám lá nho đã đổi sang màu đỏ rồi leo xuống với một vật gì trong bàn tay.
“Nho!” Nó reo lên, khoe với vị cha xứ một chùm nho còn sót lại sau vụ thu hoạch mùa Thu. Rồi nó lần lượt bốc ăn từng trái nho một. Ăn xong, Giacomino lại ngồi bên cạnh gốc cây.
“Con xin phép ném một cục đá nhé?”
Don Camillo tiếp tục làm như thản nhiên trước những gì thằng bé muốn làm. “Con cứ thoải mái vui chơi đi,” và ông ta nghĩ trong đầu, “mình sẽ nói chuyện công việc sau.”
Thằng bé nhổm dậy, nhặt một cục đá, lấy tay phủi bụi bám trên đó rồi ném bằng tất cả sức lực mà nó có. Don Camillo có cảm tưởng cục đá đã bay vào ẩn mình đằng sau đám mây và hẳn nó sẽ không bao giờ quay lại. Một luồng gió lạnh thổi tới khiến ông ta nghĩ đến việc khuyến khích mấy ông bà chủ quán cà phê sửa chữa lại quán của mình, nơi đó, ông không phải gào lên để cho thằng bé có thể nghe được điều ông nói với nó. Trong lúc họ tiếp tục cuộc đi dạo, thằng bé xin phép được chạy trước và cũng đã tìm thấy một chùm nho sót lại từ dạo mùa Thu.
“Chắc đây chỉ là một phần rất nhỏ của giàn nho lúc nó nở rộ trên cây!” Giacomino vừa ăn vừa lẩm bẩm. “Ở nhà bây giờ chắc người ta đã đem nho ra phơi…”
“Con không phải lo lắng việc đó,” Don Camillo làu bàu trong miệng.
Khu vực ngoại ô của thành phố trông nghèo khổ và hết sức ảm đạm. Trên đường đi, họ gặp một người bán hạt dẻ và đậu phụng rang. Thằng bé mở to mắt vẻ thèm khát.
“Mấy thứ vớ vẩn này,” Don Camillo nói với giọng khinh miệt. “Chốc nữa, ta sẽ mua cho con một cái bánh ngon lành hơn nhiều.”
“Thôi, con cám ơn cha,” thằng bé đáp bằng một giọng điệu khiến Don Camillo không thể dễ dàng để cho câu chuyện lướt đi.
Người bán hàng đủ khôn ranh để chăm sóc việc buôn bán của mình nên đã đứng lại ở một khoảng cách không xa lắm với hai người. Và bằng chứng của sự khôn ranh ấy là việc Don Camillo đã quay lại và miễn cưỡng ném cho anh ta tờ giấy 100 đồng lira.
“Cả hai thứ trộn vào nhau hả cha?”
“Phải, trộn chung hai thứ.”
Don Camillo ấn cái gói đựng mấy thứ hạt vớ vẩn vào tay thằng bé rồi họ tiếp tục cuộc bộ hành trên con đường vắng vẻ rộng thênh thang. Vị linh mục cố hết sức cưỡng lại sự cám dỗ của mấy thứ hạt vớ vẩn nhưng cuối cùng ông ta cũng đã thò tay vào trong cái túi. Vị thơm của hạt rang đã làm sống dậy những hồi ức tẻ nhạt của những buổi chiều chủ nhật thời trai trẻ và khiến ông cảm thấy mình đang bị một nỗi buồn bất chợt xâm chiếm. Cùng lúc, một hồi chuông nhà thờ vang vọng từ xa. Vị linh mục kéo chiếc đồng hồ vàng nặng nề trong túi ra xem giờ: kém 20 phút nữa là đầy 5 giờ.
“Nhanh lên,” Ông bảo thằng bé. “Con phải trở về trường đúng giờ đấy.”
Cả hai rảo bước khi ánh mặt trời bắt đầu chìm dần dưới những mái nhà xung quanh hai bên đường. Khi về đến nơi thì cũng vừa đúng giờ, không thừa ra một phút nào, thằng bé đưa cho Don Camillo gói hạt rang.
“Khi bọn con ở bên ngoài vào lại trường, người ta tịch thu hết những thứ như thế này,” Giacomino thấp giọng giải thích.
Don Camillo bỏ gói hạt rang vào trong túi mình.
“Chỗ đó là phòng ngủ của con,” thằng bé vừa nói vừa chỉ vào cửa sổ có chấn song ở lầu hai với một chỗ nhô ra như hình chiếc hộp che khuất đi tầm nhìn xuống mặt đất phía dưới. Giacomino lưỡng lự một chút rồi chỉ vào cái cửa sổ ở tầng dưới đất, cũng có chấn song như cửa sổ ở tầng hai nhưng vẫn có thể đứng từ bên trong quan sát được cảnh vật bên ngoài.
“Cái hành lang đó là phòng treo quần áo của bọn con,” nó giải thích tiếp. “Con sẽ đi dọc theo hành lang đó đến bậc thang lên lầu, và từ đó, con sẽ có thể thấy cha để vẫy tay chào từ biệt.”
Don Camillo cùng bước với Giacomino đến chỗ cánh cổng trước nặng nề. Rồi ông trở ra, đứng chờ ở lối đi bộ trên mặt đường phía ngoài, đối diện với cửa sổ của tầng dưới. Ông bồn chồn lấy xì gà ra châm lửa. Sau một khoảng thời gian tưởng chừng như vô tận, ông nghe có tiếng thì thào. Giacomino đã mở toang cánh cửa sổ và từ bên trong chấn song nó đưa tay vẫy vẫy. Don Camillo bước đến gần cửa sổ, đưa cho thằng bé gói hạt rang. Rồi ông quay gót bước đi, nhưng có một điều gì đó bên trong buộc ông quay lại. Ông không nhìn thấy gì khác ngoài đôi mắt của Giacomino, giờ đã ướt đẫm những giọt nước mắt khiến vị linh mục toát mồ hôi lạnh. Bằng một thôi thúc hết sức bí ẩn nào đó, đôi bàn tay mạnh mẽ và nguy hiểm của Don Camillo đã cuốn xoáy những chấn song khiến chúng bị cong lại và mở ra một lỗ hổng lớn. Khi thấy lỗ hổng ấy đủ lọt cho thân hình ốm yếu của Giacomino, ông ta thò tay vào bên trong chấn song, nắm lấy cổ áo thằng bé và lôi tuột nó ra ngoài. Lúc này trời đã tối, không ai thấy có điều gì khác thường qua hình ảnh một vị linh mục và một đứa học trò sánh vai nhau đi trên đường.
“Chờ ở đây,” Don Camillo bảo thằng bé, “ta đi lấy xe gắn máy đậu ở ngoài bãi.”
Họ về đến làng vào khoảng 8 giờ tối. Trên đường đi, Giacomino đã ăn hết số hạt rang còn lại trong túi.
“Đi cửa sau vào trong nhà xứ,” Don Camillo dặn Giacomino khi cả hai bước xuống xe, “nhớ đừng để ai trông thấy con đó nghe.”
Đến 9 giờ, Giacomino nằm ngủ trên chiếc ghế đặt ở hành lang trong lúc Don Camillo chấm dứt bữa ăn tối ở nhà bếp. Khoảng 9 giờ 15 phút, Grolini chạy đến, một tay vẫy vẫy tờ điện tín.
“Thằng khốn kiếp đã trốn khỏi trường,” ông ta hét toáng lên. “Nếu bắt được chắc chắn là tôi sẽ giết nó.”
“Vậy thì ta hy vọng anh sẽ không túm cổ được nó,” Don Camillo lẩm bẩm.
Grolini tỏ vẻ giận dữ cùng cực.
“Ít nhất thì cha cũng đã mắng cho nó một trận ra trò chiều nay rồi.”
Don Camillo lắc đầu.
“Không mắng mỏ được gì hết. Thằng bé sinh ra là để nối bước của anh và sống với đất đai cây cối. Rất đơn giản, nó không thể nào ở xa vùng đồng quê được. Thằng bé lại ngoan ngoãn nữa chứ… Nhưng có lẽ bây giờ thì nó đã chết rồi.”
“Chết?” Grolini hét lên.
Don Camillo thở dài.
“Ta thấy nó đang ở trong một tình trạng tuyệt vọng về tinh thần. Cái cách nó nói chuyện khiến ta lo lắng. Ít nhiều gì thì anh cũng đã coi như là không có nó rồi, phải không? Ta nói với nó điều anh đã nói với tôi, rằng anh thà gởi nó đến trại cải tạo hơn là nhìn thấy mặt nó lần nữa.”
Grolini buông mình xuống ghế, cuối cùng anh ta cũng mở được miệng:
“Thưa cha, nếu Chúa đem nó về đây an toàn, con sẽ thanh toán hết mọi chi phí sửa chữa tháp chuông nhà thờ.”
“Không cần thiết phải thế đâu,” Don Camillo dịu dàng trả lời. “Chúa sẽ hài lòng với nỗi đau khổ dằn vặt của anh. Về đi, đừng để mất đức tin nơi Chúa. Ta sẽ đi tìm thằng bé cho anh.”
Hôm sau, Giacomino trở về nhà cùng với Don Camillo. Cả gia đình tụ họp ở sân trước, nhưng không ai nói một lời. Chỉ có Flick, con chó già, sủa vang và nhẩy cẫng lên như một con kangaroo vì mừng rỡ. Giacomino ném cho nó chiếc mũ đang đội trên đầu, con Flick chụp lấy, cắn chặt chiếc mũ giữa hai hàm răng bỏ chạy trong lúc Giacomino đuổi theo nó.
“Sáng nay, ông hiệu trưởng gọi điện thoại đến,” ông gìa Grolini nói. “Ông ta không thể hiểu nổi bằng cách nào mà thằng bé bẻ cong được cả hai thanh sắt to bự chảng.”
“Để ta nói cho anh biết, nó là một đứa bé có khả năng, “ Don Camillo bảo, “Nó sẽ là một nông dân giỏi giang. Và tốt hơn là làm ruộng vì thích làm ruộng hơn là đi học vì sợ bị đánh đòn.”
Nói xong, vị linh mục bỏ đi rất nhanh vì ông vừa phát hiện ra trong túi mình còn sót một hạt đầu phọng và không thể chờ đợi lâu hơn được nữa để bỏ nó vào mồm.
G.G.
