Phần Một
Lúc chuẩn bị viết lại tập hồi ký này, tôi biết rằng mình thuộc loại “hybrid”, nửa xăng, nửa điện! Tôi nói như vậy là vì một nửa hồn tôi là của một quân nhân dưới thời Việt Nam Cộng Hòa, một nửa kia của một người chuyên dạy sinh ngữ, dùng vốn liếng chữ nghĩa của mình để sinh sống.
Trong tập hồi ký này, tôi sẽ nói nhiều về nửa hồn con người quân nhân của tôi – mà phần lớn kể về những phần đời của định mệnh, trong đó, tôi là chứng nhân của những sự khổ đau.
Đã từ lâu, tôi muốn viết lại những kinh nghiệm này của cả một quãng thời gian chịu đựng đủ mọi đọa đày. Quãng thời gian này đầy những oái oăm, có lẽ nó là những mảng nối của định mệnh ghép bên nhau và đổ lên đầu những người hoàn toàn không chuẩn bị trước và cũng không có sức kháng cự, như tôi.
Loay hoay mãi mà vẫn không biết nên bắt đầu từ đoạn nào. Muốn viết một bài văn thì cũng phải có phần mở đề chứ! Cuốn tự truyện mà tôi sắp viết có thể sẽ có nhiều trùng hợp về kinh nghiệm sống trong giai đoạn này với rất nhiều những người “trai thời chiến” ở Miền Nam Việt Nam trước và sau năm 1975. Sự chịu đựng nào cũng là chịu đựng. Cái đau nào cũng vò xé tâm can và thân thể của nạn nhân – nhưng mỗi người có cách chịu đựng khác nhau, những cái đau cũng đưa đến những cảm giác khác nhau tùy mỗi người. Mỗi người sẽ kể cho người khác nghe về những nỗi đau này một kiểu khác nhau.
Tôi đợi mãi đến ngày thứ nhì (trong hai ngày) của lệnh trình diện của “Ủy Ban Quân Quản Sài Gòn” mới rủ hai người bạn cùng đi. Hình như hôm ấy là ngày 26 tháng sáu, 1975. Như vậy là Miền Nam đã mất hơn một tháng rồi!
Sau này, đọc một số tài liệu, tôi đã có được một thống kê với những con số tiêu biểu như sau:
Ở Sài Gòn, 443,360 người ra trình diện, trong đó có 28 viên tướng, 362 đại tá, 1,806 trung tá, 3,978 thiếu tá, 39,304 sĩ quan cấp úy, 35,564 cảnh sát, 1,932 nhân viên tình báo các loại, 1,469 viên chức cao cấp trong chính quyền, 9,306 người trong các đảng phái được cách mạng coi là “phản động”. Chỉ 4,162 người phải truy bắt trong đó có một viên tướng và 281 sĩ quan cấp tá.” (Huy Đức, sđd. tr. 37.)
Không biết độ chính xác của tài liệu này như thế nào, nhưng tôi chắc chắn một điều: tôi là một trong những sĩ quan cấp úy của “chế độ cũ” đi trình diện.
Không phải tôi muốn mô tả ngày hôm đó như một ngày thê lương. Nhưng thật ra, hôm đó trời se lạnh, hơi âm u và có vẻ như muốn mưa. Trời đang ở tháng sáu, Sài Gòn dễ mưa lắm. Khi đang sống ở Sài Gòn, tôi đã từng đọc những mẩu chuyện về tù cải tạo ngoài Bắc sau năm 1954, cũng như những câu chuyện khủng khiếp của những người tù dưới thời Mao Trạch Đông khi mới cai trị toàn cõi Hoa Lục (1949), nên linh cảm của tôi ngày hôm đó là “ra đi, không có ngày trở về” (aller sans retour) – mặc dù theo thông cáo chính thức của “nhà nước” thì sĩ quan cấp úy chỉ phải chuẩn bị mang theo mười ngày lương thực và quần áo, so với các sĩ quan cấp tá – đã đi trình diện trước chúng tôi hai mươi hôm – phải mang theo quần áo và lương thực đủ dùng cho một tháng.
Tôi nói với vợ tôi là nhờ bà ngoại đưa hai đứa con trai của tôi (lúc đó lên hai và lên ba tuổi) sang nhà hàng xóm chơi, đừng để tôi nhìn thấy lúc rứt áo ra đi. Hai đứa con đang trong lứa tuổi đáng yêu như vậy mà nhìn thấy trước lúc ra đi thì nỡ lòng nào mà đi cho được?
Vừa lúc đó, Linh và Công, hai người bạn sang nhà tôi để cùng đi trình diện với nhau. Sự có mặt của hai người bạn khiến tôi không thể tỏ ra bịn rịn với vợ tôi. Tôi chỉ còn có thể âm thầm nhìn và ghi nhớ hình ảnh của người đầu ấp tay gối với tôi vào đầu óc và hy vọng sẽ không bao giờ phai mờ trong tâm trí tôi. Vợ tôi đứng trong hàng rào thấp trước cửa nhà, nắm tay tôi mà tay nàng run rẩy và lạnh ngắt. Hai người bạn hình như cũng muốn giúp tôi có cái can đảm ra đi. Họ nói:
– Bịn rịn làm gì. Chỉ đi học có mười ngày thôi, về ngay đấy mà.
Chúng tôi đều cố tin rằng sau mười ngày, trở về làm một công dân thường trong một đất nước không chiến tranh nữa, gây dựng lại cuộc đời, rồi sẽ sống được.
Ba đứa chúng tôi đi xe lam đến địa điểm trình diện theo như thông báo của địa phương. Đó là trường trung học Lê Văn Duyệt ở Đa Kao. Chúng tôi đến nơi thì người vệ binh gác cổng cho biết là nơi đây đã hết chỗ, chỉ chúng tôi đến nơi trình diện chỗ khác, đó là một trường trung học ở đường Trần Hồng Quân, Chợ Lớn.
Cả ba đứa chúng tôi đều hoảng vì cùng mang ý định níu kéo thời gian tự do ở bên ngoài, cố tình đợi đến lúc gần hết giờ trình diện theo thông cáo của “nhà nước” – mới bước vào. Thế mà bây giờ phải đổi địa điểm, tận trong Chợ Lớn thì không biết có kịp không? Chúng tôi lại đón xe lam chạy sang chỗ mới. May quá, bác tài dường như cũng thông cảm hoàn toàn nên chở chúng tôi đến thẳng đó mà không đón thêm khách nào dọc đường.
Chúng tôi đến địa điểm, vào hỏi thăm thì thở phào, đây vẫn còn tiếp nhận người mới (tự chui đầu vào rọ mà mừng!). Chúng tôi được một anh vệ binh giới thiệu một anh đội trưởng, một trong những sĩ quan vào trình diện sớm hôm đó. Chúng tôi làm quen nhau và kéo nhau vào một phòng học, tìm chỗ sắp xếp đồ đạc mang theo và tìm chỗ ngủ. Anh đội trưởng tên là Hải. Anh ấy nói với chúng tôi là theo lệnh, mọi người phải sớm ổn định chỗ ngủ và mỗi người phải đóng 600 đồng để ban quản giáo đóng cho nhà thầu. Nhà thầu sẽ nấu cơm đem đến cho chúng tôi mỗi ngày. Chúng tôi không phải lo cơm nước gì cả, chỉ yên tâm mà học tập! Hải hối chúng tôi đóng tiền cho trại. Hải nói:
– Các anh mới vào nên chưa đóng tiền, tất cả mọi người trong này đã đóng hết rồi.
Chúng tôi từ chối không đóng tiền vì chúng tôi đã tự lo lấy thức ăn cho đủ 10 ngày. Hải tìm gặp anh vệ binh, trình bày sự việc. Anh vệ binh nói:
– Không cần biết. Đây là lệnh của “trên”.
Hải lại trở lại gặp chúng tôi và năn nỉ chúng tôi giúp anh chàng làm tròn bổn phận. Chúng tôi nhất quyết không đóng tiền. Tội nghiệp cho Hải, anh chàng này cứ chạy tới, chạy lui. Càng làm mạnh thì chúng tôi càng lỳ, không làm theo lệnh! Cuối cùng, chúng tôi không mất số tiền oan uổng này!
Khoảng 10 giờ tối, có nhiều tiếng quát tháo:
– Tất cả các anh ổn định chỗ ngủ. Không được làm ồn. Sáng sớm mai sẽ có cán bộ đến và sẽ bắt đầu “bước vào học tập”.
Giọng nói và cách truyền lệnh không giống như cách các anh này nói với chúng tôi lúc buổi chiều. Chúng tôi đều linh cảm đây không phải là việc bình thường.
Chúng tôi đã trải chăn chiếu, mắc mùng xong nhưng chưa ai có thể ngủ được. Ai cũng có những tâm trạng bất ổn, não nề, tụm nhau lại thì thầm những suy nghĩ của mình. Chúng tôi tìm cách an ủi nhau bằng cái lý luận: “Nhà nước ra thông cáo chính thức trên các hệ thống truyền thông như vậy, có nghĩa là các diễn đàn quốc tế của thế giới này cũng sẽ biết. Họ không thể lừa dối chúng ta. Mười ngày rồi sẽ xong thôi”!
Đúng 12 giờ đêm, lại cùng giọng quát tháo lúc tối:
– Tất cả các anh thức dậy, cuốn gói đồ đạc, chuẩn bị chuyển trại. Phải tuyệt đối giữ im lặng, không được gây một tiếng động nào.
Chúng tôi lén nhìn ra ngoài đường thì đã thấy một hàng dài xe vận tải nhà binh Molotova của Nga đậu lặng lẽ trong bóng tối. Hình như họ cố tình cúp điện toàn khu vực để bảo mật?
Chúng tôi được lệnh xắp hàng, kẻ trước người sau, cứ đủ 35 người thì tiến ra phía cổng và lặng lẽ leo lên xe. Lúc đó, Hải muốn gia nhập với nhóm 3 người chúng tôi. Tôi và Công đều là sĩ quan Quân Cảnh của Việt Nam Cộng Hòa, chúng tôi đều có một vài ngón nghề, có thể tự vệ khi cần. Hai đứa chúng tôi thì thầm với nhau: Phải cố tình làm bộ leo lên xe chậm chậm, mỗi thằng ngồi một bên, ở sau cùng, sát cạnh anh vệ binh. Ba mươi lăm người chúng tôi chỉ có thể ngồi trên sàn xe. Khi xe chuẩn bị chạy thì tấm bạt sau xe được thả xuống, trở thành bít bùng không thể nhìn ra bên ngoài. Xe chạy vòng vòng trong phố một thời gian ngắn thì bắt đầu đổi hướng, chúng tôi truyền tai nhau, cho biết xe đang chạy về phía Tây Ninh.
Dọc đường, thỉnh thoảng tôi lén vạch tấm bạt sau, vừa để xem tình hình bên ngoài, cũng để định hướng, và cũng để hít thở một chút không khí trong lành bên ngoài. Cứ khoảng nửa cây số thì lại thấy một người lính bộ đội ôm súng, đứng gác lặng lẽ dưới đường. Khi trước, ở Sài Gòn, tôi có xem những phim người Đức chở người Do Thái trên xe như thế này, bất ngờ xe dừng lại, lính gác nhảy xuống và bên đường lính Đức xả súng đại liên, giết chết hết tù nhân Do Thái trên xe. Tôi thì thầm với Công: “Nếu trường họp xe bất ngờ dừng lại thì tao với mày phải giết hai thằng vệ binh ngồi sau, cướp súng, nhảy xuống bắn về phía có tiếng súng bắn mình. Giết được thằng nào thì giết, rồi mình chết cũng chịu”.
Chuyện đã không xảy ra như chúng tôi tưởng tượng. Thỉnh thoảng, xe có dừng lại, cho từng người xuống “tưới cỏ” bên đường. Xe cứ chạy như thế đến gần sáng thì đến Trảng Lớn, Tây Ninh. Chúng tôi được lùa xuống, vào tập trung trong một doanh trại quân đội VNCH ngày xưa. Tôi không biết đó là trại của lực lương nào trước đây, chỉ thấy một cột “ăng ten” bằng sắt, rất lớn, đã bị bắn gãy đổ nằm trong khu vực (Đến đây tôi mới chợt nhớ lại là vì tôi lỳ, không chịu đóng tiền nên không bị mất toi. Mãi cho tới về sau, không hề anh vệ binh hay cán bộ nào nhắc đến chuyện này).
Chỉ mới trải qua một đêm mà định mệnh đã đưa chúng tôi đi quá xa. Cuộc đời chúng tôi đã hoàn toàn thay đổi, khác với tất cả những điều “chính phủ” hứa mấy ngày trước đây.
Chúng tôi được phát chảo, củi, gạo và mì gói để tự nấu cơm. Cái thứ gạo mà họ phát cho chúng tôi là loại gạo hẩm, có lẽ được lấy từ trong “bưng” ra, đã tích trữ ở trong đó cả mấy năm? Gạo vừa mục, vừa đầy bọ, phải sàng rất kỹ trước khi nấu. Cũng may là có vài anh “cải tạo viên” rất tháo vát, đã biết cách trộn đất sét, đắp lò cho vừa những cái chảo to (tôi chưa từng thấy bao giờ) và đã bắt tay vào việc nấu nước cho anh em. Cái chảo sau này được dùng để phục vụ tất cả mọi nhu cầu trong cuộc sống của chúng tôi: từ nấu cơm, nấu canh và nấu nước. “Tổ” nào hôm ấy được cắt đặt nấu cơm thì coi như hôm ấy no. Lý do đơn giản là sau khi phát cơm cho anh em, tổ làm bếp có quyền cạy cháy trong chảo trước khi rửa, để ăn thêm, một hình thức “cải thiện”.
Theo lệnh của trại, chúng tôi tự tổ chức thành những đơn vị, từ tổ, mỗi tổ 15 người, đến đội gồm 4 tổ, tức là 60 người, lên đến đơn vị lớn nhất là “Bếp” có 4 đội, tức là 240 “cải tạo viên”. Chúng tôi nghe không quen chữ Bếp và cũng không thể ngờ được là Miền Bắc, người ta ghép quân số với nhau theo từng Bếp một! Các anh em tình nguyện nấu bếp thường ngày cho anh em thì được gọi là “anh nuôi”. Trong khu trại chúng tôi ở, có lẽ phải có đến vài “bếp” vì nhìn qua các khu khác, anh em, bạn bè cũng rất đông, Chúng tôi không được tiếp xúc với nhau.
Chỉ khoảng một tuần sau là tất cả anh em chúng tôi đều đã thèm ngọt và thèm chất béo. Nhiều anh em như điên khùng vì thất vọng. Đợi mãi mà không thấy nói đến việc “học tập”. Mỗi ngày chỉ được cắt đặt đi làm “nao động”, tức là làm những việc dọn dẹp linh tinh, sửa chữa vớ vẩn, toàn những việc không tên!
Đêm thứ 10, nhiều anh em người miền Nam nằm áp tai xuống đất xem có nghe thấy tiếng đoàn xe lên đón mình về không? Chúng tôi, người Bắc di cư, đã quá biết những sự thật xảy ra ngoài Bắc sau năm ‘54 và đã tiên đoán chuyện này từ trước, cũng buồn chán nhưng không tỏ ra thất vọng gì về việc không có đoàn xe nào đến đón mình về. Đêm hôm đó, nhiều tiếng khóc ấm ức vì thất vọng và nghiệm ra rằng tất cả đã bị lừa!
Từ đêm đó trở đi, nhiều người thất thểu ra mặt, trông như người không hồn. Thỉnh thoảng, một vài cán bộ vào thanh tra “trại”, chúng tôi xúm lại, hỏi bao giờ chúng tôi bắt đầu “bước vào” học tập? Cán bộ tỉnh bơ:
– Các anh vội gì, nhà nước đã khoan hồng, không bắt các anh tội chết. Nhà nước chủ trương giáo dục qua “nao động”. Các anh cứ yên trí, cải tạo tốt, qua nao động tốt thì chúng tôi sẽ để các anh về, ai giữ các anh ở đây làm gì!!!
Vẫn có những người ngây thơ, hỏi cán bộ:
– Nếu chúng tôi học tập tốt theo như cán bộ nói thì khoảng bao lâu chúng tôi sẽ được về? Con vẹt lại tuôn ra câu học thuộc lòng:
– Về sớm hay muộn là tùy các anh thôi!!! Anh ta ung dung chắp tay sau đít rời khỏi trại.
Sau hai tuần, mọi người như đã biết chấp nhận số phận, chăm sóc lại chỗ ngủ của mình vì biết sẽ còn ở đây lâu! Oái oăm một điều là trước cổng trại (tù) của chúng tôi, họ đều chăng tấm biểu ngữ “Không có gì quý hơn Độc Lập, Tự Do”. (Sic.)
Có vài anh kiếm đâu ra được một ít sơn. Lúc rảnh, các anh tìm cách giết thì giờ bằng cách tự trang hoàng bức tường của căn nhà với bức họa một số gia cầm (gà, vịt, chó, mèo, v..v..) sống vui vẻ, hòa mình với con người. Một hôm, tình cờ, một cán bộ nhìn thấy. Anh cho gọi người họa sĩ đến, hỏi:
– Anh vẽ như thế này có ý gì? Anh xuyên tạc chúng tôi đày đọa các anh sống với chó mèo hay sao? Anh ta ra lệnh xóa ngay lập tức bức tranh đó.
Như tôi đã nói ở trên, mấy ngày liền ăn cơm gạo hẩm. Chán đến phát cáu nhưng chúng tôi đều không còn chọn lựa nào khác. Còn cái gọi là “canh” chỉ là một chảo nước sôi, thảy vào đó hai, ba cái bắp cải, thêm chút muối (hột), cuối cùng, vứt vào một gói mỳ gói. Cái đó gọi là canh! Hoàn toàn không có miếng thịt nào (dĩ nhiên). Cơ thể chúng tôi, người nào cũng cồn cào thèm chất béo và chất ngọt.
Bây giờ cũng phải nói đến “cái khoái thứ tư” của “tứ khoái”, tức là nhu cầu thiết yếu của con người. Đã có cho vào thì cũng phải thải ra. Cả một đám người đông như thế mà không có cái chỗ này thì “sống không bằng chết”.
Một hôm, chúng tôi “phản ảnh” lên trên, yêu cầu cho giải quyết việc (tế nhị) này.
Ông cán bộ gãi cằm ra vẻ suy nghĩ, sau đó ông quyết định:
– Thôi, các anh theo tôi. Mấy anh tổ trưởng đi theo ông. Đến gần hàng rào kẽm gai của trại, ông nói:
– Đây, các anh cho đào nhà xí công cộng chỗ này. Hôm nay, chỉ tiêu mỗi người đào ba thước khối đất. Chỗ đất đào lên đắp thành luống, trồng khoai “nang”. Một tổ trưởng gãi đầu:
– Thưa cán bộ, anh em chúng tôi không được ăn uống đầy đủ mà cuốc xẻng thì chỉ có hai cái, chỉ tiêu cán bộ ra là ba thước khối mỗi người thì khó thực hiện lắm! Ông cán bộ quát:
– Mỗi người có ba thước khối mà các anh kêu ca cái gì? Đây nhá, chiều này một thước, chiều này một thước, đào xuống một thước nữa, vị chi là ba thước khối, có cái gì là khó đâu?
– À, thưa cán bộ, như thế thì chúng tôi “nàm” được. Anh tổ trưởng thử áp dụng loại ngôn ngữ mới, anh nói chữ “nàm”, thay vì chữ “làm”. Hình như ông cán bộ không có vẻ ngạc nhiên và ông không có phản ứng gì. Chúng tôi tủm tỉm cười! Cán bộ có vẻ hài lòng, đủng đỉnh ra về. Chúng tôi chỉ đợi có thế. Miễn là họ cho sử dụng miếng đất sát hàng rào kẽm gai làm nơi “xả” thì mọi chuyện sẽ được giải quyết!
(Đây cũng là một trong những cái khổ của chúng tôi sau này. Trong những ngày oi bức, tự nhiên gió đổi chiều, thổi từ phía hàng rào trại vào khu chúng tôi ở thì không có chỗ nào chạy khỏi cái mùi nồng nặc đó!)
Như có thoáng nói ở trên, anh bạn đón chúng tôi ở Sài Gòn buổi chiều hôm chúng tôi trình diện, người năn nỉ chúng tôi đóng tiền để cho anh xong nhiệm vụ, đó là Hải, hắn tốt nghiệp khóa nhạc trưởng quân nhạc từ Mỹ về, phục vụ trong vai trò nhạc trưởng ban quân nhạc cho trường Võ Bị Đà Lạt.
Khi trại bắt chúng tôi phải tập một vài bài hát “cách mạng” để hát cho có “khí thế” lúc “hội thảo” buổi tối. (Chúng tôi nghĩ bụng, cơm không đủ ăn thì tinh thần đâu mà hát?) Tuy vậy, theo lệnh của trại, chúng tôi chọn bài thứ nhất để tập với nhau – trong số các mà bài hát mà trại đưa – bài “Bão nổi lên rồi”, có lời của phần đầu như sau:
Bão nổi lên rồi từ miền Nam quê hương thân yêu
Từ Trị Thiên băng qua Tây Nguyên lan tới bưng điền
Triệu người bừng bừng cùng Đà Nẵng với Huế chiến thắng
Khí thế sôi sục tràn về Sài Gòn
Giờ tiến công sục sôi tim muôn người…..
Hải nhìn bài hát, ướm giọng xướng âm xong thì tập cho chúng tôi câu đầu tiên:
(Hai, ba) Bão nổi (ì) lên rồi….
Mấy ngày sau, vào lúc chiều, anh cán bộ sang “thăm” trại và bảo chúng tôi hát thử một khúc nhạc cách mạng xem sao. Chúng tôi cất giọng hát: Bão nổi (ì) lên rồi… Ông cán bộ ngưng chúng tôi lại, hỏi:
– Ai tập cho các anh bài này? Hải tái mặt:
– Thưa cán bộ, tôi. Ông cán bộ hỏi:
– Anh có biết nhạc không? Hải đáp:
– Dạ, tôi biết một ít. Ông cán bộ nói:
– Anh tập cho anh em sai rồi. Bài hát này phải hát là: Bão nổi (í) lên rồi. Chỗ này phải lên giọng mới có khí thế! Hải dạ thưa cho xong. Anh chàng biết tỏng ra là ông nhạc sĩ sáng tác ông ấy muốn hát là Bão nổi (ì) lên rồi. Thôi, tránh voi chẳng xấu mặt nào!
Đến đây, tôi muốn nói cái việc “hội thảo” buổi tối. Đây cũng là một trong những đòn tra tấn của cộng sản. Ngoài những tra tấn thể xác, họ còn bắt chúng tôi ngồi “kiểm điểm, xây dựng” lẫn nhau để khủng bố tinh thần. Ai cũng phải nghĩ ra được một vài khuyết điểm trong ngày, tự nhận lỗi và hứa từ nay sẽ “khắc phục”. Riết rồi chúng tôi không còn nghĩ được gì để “bịa” nữa. Một buồi tối, một ông cán bộ “tham gia” hội thảo để hướng dẫn chúng tôi “đào sâu” suy nghĩ để có thể “thành khẩn” với “cách mạng”. Bí quá, một cải tạo viên trong tổ tôi, thái độ rất thành khẩn, tự kiểm mình và nói:
– Thưa cán bộ, thưa anh em, hôm nay tư duy của tôi không được tốt. Tôi hãy còn “tiểu tư sản”. Hôm nay, tự nhiên tôi thèm thịt quay quá sức. Anh cán bộ mỉm cười ra về. Hôm sau, anh cho nghỉ “nao” động, tập họp để kiểm điểm. Trước đám đông chúng tôi, anh hùng hồn:
– Chúng tôi đã biết là không bao giờ có thể cải tạo được các anh. Các anh đã quá quen sống trong xã hội đồi trụy. Bơ thừa sữa cặn của đế quốc Mỹ quen rồi, bây giờ mới ăn uống kham khổ, thắt lưng buộc bụng ở hậu phương để yểm trợ cho tiền tuyến, có mấy ngày thôi mà đã thèm được ăn ngon trở lại! Các anh cứ liệu mà cải tạo để mau chóng trở thành người hữu ích cho xã hội (Anh này học thuộc bài thật nhưng nói không đúng lúc và không đúng chỗ. Giờ này mà còn tiền tuyến nào? Hậu phương nào?). Rõ khổ.
Vì ăn gạo hẩm, không còn vitamine B1 nên đến lúc này thì nhiều anh em chúng tôi bị phù thũng. Chúng tôi lên phản ảnh để xin thuốc. Cán bộ nghe báo cáo như vậy, sang thanh tra trại chúng tôi và “phán” một câu xanh rờn:
– Các anh ăn ở bẩn thỉu, luộm thuộm thế này thì bị phù thũng là phải rồi. Cải thiện đi cho hợp vệ sinh của xã hội “tiên tiến” mới! (?) (Xin chịu).
Định mệnh cũng đã đưa đẩy tôi, riêng tôi, vào cái hoàn cảnh dễ thở và cũng là cái dịp giúp anh em có thêm sức sống.
Một hôm, có một cán bộ vào trại chúng tôi. Ông hỏi:
– Trong các anh, có anh nào có tài viết chữ đẹp và vẽ giỏi? Không ai dám giơ tay. Tôi hỏi:
– Thưa cán bộ, cán bộ cần việc gì? Ông cán bộ nói:
– Chúng tôi muốn viết một hàng chữ lớn trên cổng trại. Tôi trả lời:
– Việc này thì tôi làm được. Tôi xin tình nguyện. Ông nói:
– Đi theo tôi.
Tôi theo ông sang khu trại dành cho cán bộ và vệ binh. Ông giới thiệu tôi với ông thủ trưởng. (Lúc ấy, người Miền Nam chúng tôi không biết chữ “thủ trưởng” này và phân vân, không biết giữa hai ông, ai lớn hơn ai). Ngay sau đó, ông thủ trưởng bảo ông cán bộ kia:
– Thôi được rồi, đồng chí cứ để anh này ở đây làm việc với tôi. Chú có thể về được rồi. Bây giờ thì tôi hiểu: “Thủ trưởng” lớn hơn ông kia!
Ông thủ trưởng có vẻ “trọng” người tài (?). Ông hỏi tôi ăn gì chưa? Tôi nói:
– Thưa anh, theo lệnh của trại, không được ăn sáng nên từ sáng tôi chưa có gì. (Thực ra, chúng tôi ở bên trại, không ai bảo ai, nhưng buổi tối, khi ăn phải lén nắm một nắm cơm nhỏ, dấu dưới chăn, sáng có cái mà lót bụng. Như thế mới có sức mà đi lao động chứ?)
Ông thủ trưởng quay vào trong, gọi một anh bếp riêng của ông ra bảo:
– Mày mang ra đây một hộp sữa, lấy nước nóng pha cho “họa sĩ” một chén rồi lấy cho tao một cái lương khô.
Anh bếp chạy vào trong, bưng ra một nồi nước sôi, một hộp sữa Quân Tiếp Vụ, mở ra, rót vào chén (cái chén sắt, có cái khoen để đeo, màu xanh lá cây mà lính việt cộng mang theo người), pha đầy cho tôi một chén sữa đặc.
Má ôi, chén sữa đặc đó có lẽ là chén sữa ngon nhất trong đời tôi được uống! Sau gần một tháng thèm đường muốn chết, mà bây giờ lại được uống chén sữa đặc quánh như thế này thì có lẽ còn sướng hơn lên thiên đường!
Tôi uống chậm chậm như để thưởng thức “vị ngọt đầu môi” của người yêu.
Ông thủ trưởng có vẻ hài lòng nhìn thái độ “thành khẩn” của tôi. Ông bóc thỏi lương khô đưa cho tôi bảo:
– Anh uống xong thì ăn thêm miếng lương khô này. Anh sẽ no đến chiều. Có no thì mới làm việc được.
Hôm ấy, hình như ông cũng chưa vội nên không thấy cắt đặt tôi làm việc gì. Lúc ấy cũng là xế trưa, tôi cũng sốt ruột nên hỏi ông:
– Thủ trưởng muốn tôi làm gì hôn nay?
Ông trả lời:
– Ừ, hay là hôm nay anh cứ về, tôi còn có việc phải đi. Sáng mai anh sang, bắt đầu làm việc cũng được.
Tôi vừa đi về trại mà vừa lâng lâng, không biết đây có phải là sự thật không?
Anh em trong trại nghe tôi kể mà không người nào tin. Người thì cho là tôi “nổ”. Người khác thì lay tôi dậy, tỉnh lại đi, mày đang mắc ảo tưởng đấy. Tôi cãi:
– Đây hoàn toàn là sự thật, không ảo tưởng gì hết!
Anh em tản ra, trở về công việc đang làm dở.
Sáng hôm sau, dĩ nhiên, tôi cũng đã “lủm” nắm cơm nắm xong mới đi sang trại cán bộ. Ông thủ trưởng nhìn thấy tôi, có vẻ vui mừng, hỏi:
– Sao, họa sĩ, ăn gì chưa? Tôi sợ đây là cái bẫy nên cũng trả lời đúng sách vở:
– Thưa cán bộ, tôi chưa ăn gì. Ông nói:
– Họa sĩ mà không ăn gì, run tay, làm sao vẽ được? Lại bổn cũ, ông quát anh bếp pha cho tôi chén sữa và cho tôi một phong bánh lương khô. Má ơi, có thật không đây? Sao ông này tốt với mình vậy? Hay là bố của ông ngày xưa ở ngoài Bắc đã từng là một họa sĩ nghèo? Chịu!
Ông dẫn tôi ra cổng trại, chỉ lên cao nói:
– Tôi muốn viết hàng chữ Doanh Trại Quân Đội Nhân Dân. Anh làm được không? Tôi trả lời:
– Việc này thì tôi làm được. Anh có sơn và xăng không? Cọ vẽ nữa? Ông hỏi tôi:
– Sơn thì có, tôi mua sẵn rồi, nhưng xăng để làm gì? Tôi nói:
– Phải có xăng để rửa cọ và để pha cho sơn loãng bớt ra, vẽ mới nhanh được. Ông nói:
– Vậy thì để tôi bảo tài xế nó hút một ít xăng trong xe cho anh. Ông không nhắc gì đến cái cọ sơn. Tôi phải tự chế bằng cách cắt một ít tóc, buộc vào một thanh tre, cũng xong
Có một hôm, không biết ông muốn thử tài của tôi hay có ý gì khác. Ông hỏi tôi:
– Anh có vẽ được chân dung của Bác không? (Dĩ nhiên là trong khả năng, tôi vẽ được nhưng tôi phải tìm cách từ chối vì việc làm này tôi không thích). Tôi đáp:
– Thưa anh, tôi nghĩ là tôi vẽ được, nhưng mà tôi sợ vẽ không đẹp hoặc là trông không giống, thì không hay. Xin anh tìm người khác hộ. Ông không hỏi gì thêm.
Được vài ba ngày, tôi khỏe hẳn lại vì tự nhiên có của ăn của uống từ trên trời rớt xuống. Vẫn cứ câu giờ, vẽ vời chưa xong. Tôi thấy thương anh em bên trại nên một hôm, ăn uống no nê, thấy ông thủ trưởng cũng có vẻ dễ chịu, tôi đánh bạo nói với ông:
– Thưa anh, mấy hôm nay, được anh cho ăn uống đầy đủ, tôi rất biết ơn anh. Tôi có một việc muốn xin anh, nhờ anh giúp cho. Ông hỏi:
– Anh nói thử xem, anh cần gì?
Tôi nói với ông là kể từ ngày mai, tôi chỉ ăn một nửa bánh lương khô, còn nửa kia, xin anh cho tôi mang về giã ra, trộn với muối thay muối mè, cho anh em có thêm tý đường, tý muối, cải thiện thêm một chút. Ông có vẻ không hiểu chữ “muối mè” nhưng ông không hỏi. Có lẽ ông cũng không ngờ là bọn tù này nó thiếu ăn đến vậy. Ông nói:
– Thôi được, tùy anh. Nhưng nếu trên đường về, anh bị bắt thì anh ráng mà đỡ, tôi không chịu trách nhiệm. Liên hệ giữa cán bộ và cải tạo viên là vi phạm luật của trại. Anh mà khai ra là tôi cho anh, thì tôi cũng mất chức!
Tôi trấn an ông:
– Có gì thì tôi sẽ hoàn toàn chịu phạt một mình tôi. Ông yên tâm nhưng từ đó ông không dám tỏ ra thân mật, vồn vã với tôi nữa. Một điều tôi nhận xét là ông nói giọng Bắc rất chuẩn, không lẫn lộn giữa “N” và “L”. Ông nói chuyện rất chừng mực, không bao giờ nói chuyện về cuộc chiến, không bao giờ nhắc đến những người của bên thắng trận.
Anh chàng bếp kia thì hay mon men đến chỗ tôi làm việc. Có hôm anh hỏi tôi:
– Tôi biết là trong Nam, các anh hay chống đối, cãi cọ với chính phủ. Ngoài Bắc chúng tôi, bác Hồ là vị cha già dân tộc, cha nói gì thì các con nghe. Như thế có phải là hay hơn không?
Tôi ớ họng, không dám tranh cãi với anh. Anh hay đến chỗ tôi làm việc, tỏ ra muốn quan sát và khâm phục tài viết chữ của tôi, nhưng kỳ thật, anh ấy nghắm nghía cái đồng hồ Seiko 5 tôi đeo trên tay. Sau cùng, có vẻ như không đợi lâu được nữa, anh vệ binh hỏi tôi:
– Anh có muốn bán cái đồng hồ của anh không? Tôi trả lời:
– Tôi không cần bán và không muốn bán. Sáng hôm sau, khi tôi sang làm việc, anh đưa cho tôi 200 đồng, bảo tôi đổi cho anh cái đồng hồ của anh, các thêm tôi số tiền đó, hơn nữa, anh bảo tôi viết thư về nhà, anh sẽ đem tay về tận nơi. Lúc ấy, có lẽ mọi gia đình có chồng con đi học tập đều nóng lòng muốn biết tin tức của thân nhân. Tôi suy nghĩ thật nhanh và nhận lời. Bây giờ mà vợ tôi nhận được tin tức bằng chữ viết tay của tôi thì yên tâm lắm. Tôi về viết một lá thư ngắn, mang sang cho anh, nhận tiền và đổi cái đồng hồ “cà là mèng” của anh ta. Hóa ra tôi bị lừa một vố nữa. Cái thư không bao giờ đến tay vợ tôi. Có lẽ anh chàng vệ binh này biết là sắp bị đổi đi đơn vị khác, hoặc anh ta về phép ngoài Bắc rồi tránh mặt tôi luôn.
Trở lại việc miếng bánh lương khô: Tôi giấu nửa cái bánh kia trên đầu, đội cái mũ lên, ung dung ra về. Anh vệ binh gác cổng ngăn giữa hai khu trại nhìn thấy tôi ra vào mỗi ngày nên cũng không thèm hỏi han, khám xét gì nữa. Bây giờ thì anh em mới tin là tôi nói thật. Tôi không “nổ”. Chúng tôi giã ra, trộn với muối, như một loại muối mè dã chiến. Nhờ thế mà dần dần, các bạn tôi đều hồng hào trở lại. (Trong miếng lương khô mà Trung Cộng viện trợ cho cán binh việt cộng trên đường vượt Trường Sơn đã có nhiều chất dinh dưỡng sẵn rồi).
Mỗi ngày, tôi không phải chui ra hàng rào kẽm gai, tháo mìn hoặc cuốc đất trồng rẫy như các anh em khác, nhưng ngược lại, phải làm việc nhiều giờ hơn vì bên này không có chỉ tiêu. Cứ leo lên leo xuống, mỗi hàng chữ như thế mà mãi vẫn chưa xong!
Tôi cũng cầu công việc lâu xong mà anh em tôi bên trại cũng cầu công việc của tôi còn mãi, chỉ vì ngày nào tôi cũng mang nửa miếng lương khô về cho anh em. Nhưng cũng phải nói thêm là không biết các cán bộ và vệ binh bên trại của họ đã uống hết sữa Quân Tiếp Vụ rồi – hay là ông thủ trưởng muốn giữ khoảng cách với tôi. Ông chỉ cho anh bếp đưa tôi phong bánh mà không còn chén sữa nóng nữa.
Lại nói về loại muối mà họ phát cho chúng tôi. Đó là loại muối hột, lẫn đầy đất cát trong đó, rất bẩn. Chúng tôi phải pha với nước, quậy đều xong, đợi cho đất cát lóng xuống đáy, chỉ lấy phần nước trong bên trên, nấu lại, cho đến khi nước bốc hơi hết, lấy phần muối bên dưới phơi lại mà dùng. Nhờ bánh lương khô của tôi mà trong hũ muối mè, các bạn tôi từ từ bớt lượng muối đi, tăng lượng dinh dưỡng lên. Nhờ thế mà ăn “cơm” ngon miệng hơn nhiều.
Khi dự định viết hồi ký này, tôi luôn tâm niệm là tôi sẽ kể tất cả những sự thật đau đớn mà tôi phải trải qua trong suốt chuỗi ngày định mệnh của tôi. Sự thực đau đớn đầu tiên của tôi (và của hàng ngàn người khác) mà tôi muốn nói đến, chính là sự Tự Do của tôi ngang nhiên bị tước đoạt. Thảo nào, ngày xưa đã có câu: “Nhất nhật tại tù, thiên thu tại ngoại”.
(Còn tiếp)
